Số 7
Ngày 1 tháng 11 năm 2002
Nguyệt San Giao Mùa
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116-0378
USA
Thư Ngỏ
Tháng 11.
Mùa Thu ở vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ đã bắt đầu lặng lẽ ra đi khi những chiếc lá vàng lià cành, lảo đảo theo chiều gió để cuốn hút vào không gian mờ xám ảm đạm của một ngày cuối Thu. Những hàng cây bên đường, những thảm cỏ xanh non đã chuyển mình đón nhận thay đổi của đất trời qua vóc áo
uá tan` cho một giao muà. Những làn gió lạnh, mỗi sáng, mỗi chiều, với bầu trời mây xám đã mang lại cảm giác buồn bã, bâng khuâng như chúng ta đang ở trong một cuộc giã từ....
Tháng 11 cũng là ngày Giao Muà ra mắt đến các bạn bốn phương được nửa năm trường. Với số độc giả hàng tháng trên 4,000 người, Ban Biên Tập Giao Muà đã hết sức cố gắng để chọn lọc bài vở và gửi đến các bạn đều đặn vào mỗi đầu tháng, nhưng cũng có lúc có những sai sót như về chính tả, v.v. đều được các bạn gửi thư đến góp ý phê bình. Cũng rất nhiều bạn đã gửi thư đến đặt mua báo Giao Muà vì tưởng lầm báo được in ra trên giấỵ..
Sáu tháng trôi qua, ngoài những thân hữu của thành viên trong Ban Biên Tập, đã có rất nhiều nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ đã gửi thư đến khích lệ Giao Muà tiếp tục truyền thống duy trì và phát huy văn hoá, văn chương Việt nam tại hải ngoạị Ðối với những tấm thịnh tình đó, BBT xin chân thành cám ơn và sẽ tiếp tục cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình.
Tháng 11, nhà tướng số Thiên Ðức, là cây viết trụ cột của Giao Muà, người giữ mục Tử Vi Hàng Tháng và Giải Ðáp Tử Vi, sẽ tạm nghỉ vì lý do gia đình. Trong hơn hai năm qua, từ những ngày cũ với Tập San Thi Văn và bây giờ với Giao Muà, anh Thiên Ðức đã tận tình đều đặn chăm sóc mục Tử Vi hàng tháng. Có một đôi lúc khi chuyển bài qua dạng Unicode, Ban Biên Tập bỏ sót một vài tuổi trong mục Tử Vi, thế là có những bạn viết thư đến hỏị Ðiều đó chứng tỏ mục Tử Vi đã được nhiều bạn đọc yêu mến theo dõi. Xin cám ơn anh Thiên Ðức và hy vọng sẽ tiếp tục nhận được những đóng góp của anh trong tương lai khi điều kiện cho phép.
Và bây giờ, thân mời bạn đọc ghé thăm Giao Muà số 7.
Trung Kỳ
Ban Biên Tập Giao Mùa
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Giao Khúc Tháng Sáu | ______Du Tử Lê | |
| 2. Tình Lữ Khách | ______Viễn Phương | |
| 3. Tuấn Mã Và Kỵ Sĩ | ______Nguyên Ðỗ | |
| 4. Dáng Cổ Tích | ______Nguyễn Thanh Trúc | |
| 5. Tham Mộ Cha | ______Nguyễn Vạn Thắng | |
| 6. Ðêm Không Ngủ 2 | ______Vành Khuyên | |
| 7. Hững Hờ | ______TTDung | |
| 8. Hai Tiếng Quê Hương | ______nttn | |
| 9. Ðợi Vang Ca Lời Hát Vang Rền | ______Nguyễn Ðăng Tuấn | |
| 10. 4 Muà Thu | ______Lạc Duyên | |
| 11. Gửi Cho Một Dòng Sông | ______Tình Buồn | |
| 12. Góc Trái Cành Mai | ______Phan Cát Linh | |
| 13. Gửi Lại Hết Những Thương Yêu | ______Tử Nhi | |
| 14. Muà Thu | ______Võ Thị Xuân Ðào | |
| 15. Hoa Mưa | ______Tuệ Nga | |
| 16. Chiều Thu | ______Bích Hà | |
| 17. Mưa Nguồn Lá Cội | ______Sông Kiên | |
| 18. Ảo Tình Thu | ______DHH | |
| 19. Ðèn Không Hát Bóng | ______Ðình Nguyên | |
| 20. Em Tháng Mười | ______Phạm Vũ Anh Nam | |
| 21. Ðêm Mất Ngủ | ______Hoa Cỏ | |
| 22. Thơ Ðỗ Thành | ______Ðỗ Thành | |
| 23. Vu Vơ | ______Nhược Thu | |
| 24. Tóc Mây | ______Nhật Khánh | |
| 25. Có Anh Mưa Cũng Vui | ______Hoài Bảo Anh Thư | |
| 26. Bóng Thu | ______Việt Dương Nhân | |
| 27. Trả Lại Em, Trả Lại Tôi | ______Hoa Ðộ | |
| 28. Thu Cảm | ______Tân Văn | |
| 29. Hững Hờ | ______Nguyên Khoa | |
| 30. Tộị.. | ______Sương Mai | |
| 31. Trả Lại Người | ______Mạc Phương Ðình |
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Muà Nước Lũ (truyện dài- kỳ 7) _______ Trần Công Nhung |
| 2. Một Giọng Ca Hay _______ Nguyên Bích |
| 3. Nếp Cũ ___________ Võ Thị Xuân Ðào |
| 4.Tia Nắng Hoàng Hôn ___________ Việt Dương Nhân |
| 5. Về (kỳ 13) ___________ Thanh Sơn |
| 6.Những Tháng Ngày Trôi Qua ___________ nttn |
| 7.Bóng Mình ___________ Hương Kiều Loan |
| 8.Ca Dao Xứ Huế ___________ Nguyễn Qúy Ðại |
| 9.Trở Về Huế ___________ Phan Thái Yên |
| 10.Mẹ Và Thơ Văn ___________ Vành Khuyên |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Tháng Mười Một _______________________________ DHH |
IV . Nghiên Cứu________________________________________________________________
| 1. Mấy Sông Cũng Lộị.. _______ BS Nguyễn Tường Vân |
| 2. Chiều Thơ Nhạc Tưởng Niệm Thi Sĩ Yên Bình _______ Ngọc An |
| 3. Sống Trong Từng Thát Na (kỳ 4) ___________ Trường Ðinh |
| 4. Phỏng Vấn: Thi Sĩ Phạm Ngọc ___________ Hương Kiều Loan |
V. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| Phân Ưu cùng bạn Vương Huyền _______ Giao Muà |
| 1. Nhạc: "Xưa Em Là" _______ Giao Muà |
| 2. Âm Nhạc của Võ Tá Hân _______ Trường Ðinh/Hương Kiều Loan |
| 3. Trang Nhà Phong Nguyễn _______ Trường Ðinh |
| 4. Mừng Ý Vân Ðầy Tháng _______ Ngô Thy Vân |
| 5. Thi Viết Hôi Ký Vượt Biển _______ Du Tử Lê - Ngụy Vũ |
| 6. Nhạc Phạm Duy: 60 Năm Dòng Nhạc Dòng Ðời _______ Giao Muà |
| 7. Sách Mới: Yên Bình - Ngọc An _______ Giao Muà |
| 8. Thi Tập: Dường Như Tôi Ngại Thốt Lời Yêu Em _______ Nguyễn Ðăng Tuấn |
| 9. Sách Mới: Khoảng Cách Không Màu" _______ Giao Muà |
| 10. CD Nhạc: Ta Gọi Tên Người _______ Ngọc An |
VỊ Giải Ðáp Tử Vi __________________________________
| 1. Tử Vi Tháng Này _______ Tướng Số Thiên Ðức |
| 2. Giải Ðáp Tử Vi _______ Tướng Số Thiên Ðức |
VII . Nhạc __________________________________
| 1. Xưa Em Là _______ Hoài Bảo Anh Thư |
| 1. Sydney Buồn _______ Bích Hà |
VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
II . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Trần Công Nhung
Nguyên Bích
Võ Thi Xuân Ðào
Võ Thị Xuân Ðào Việt Dương Nhân
Thanh Sơn
Thanh Sơn
6. Những Tháng Ngày Trôi Qua ...!
nttn
nttn
Hương Kiều Loan
Hương Kiều Loan
Nguyễn Quý Ðại
Nguyễn Quý Ðại
Phan Thái Yên
Phan thái Yên
Vành Khuyên
Vành Khuyên
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
Anh yêu dấu, DHH
~~~/~~((@
IV . Nghiên
Cứu_____________________________________________ BS Nguyễn Tường Vân
Quí vị, qúi bạn thân mến, BS Nguyễn Tường Vân
2. Chiều Thơ Nhạc Tưởng Niệm Yên Bình - Lê Xuân Hàm Ngọc An
San Jose ( TVNs)- Trong không khí thân mật, đượm một chút gì trang nghiêm và đầy cảm động, khoảng gần 300 quan khách đã tham dự một chương trình thơ nhạc ra mắt tập thơ Ngàn Năm Mây Trắng và CD Ta Gọi Tên Người với chủ đề : Chiều Thu Tưởng Niệm nhà thơ quá cố Yên Bình - Lê Xuân Hàm được tổ chức vào lúc 2:00 Pm chiều chủ nhật 29/09/02 tại Le Petit Trianon. Ngọc An 3. Sống Trong Từng Thát Na (kỳ 4) Trường Ðinh
Trường Ðinh
4. Phỏng Vấn Nhà Thơ Phạm Ngọc Hương Kiều Loan
V. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________ Phân Ưu cùng bạn Vương Huyền
1. Nhạc: Xưa Em Là
2. Tác Phẩm của Nhạc Sĩ Võ Tá Hân
3. Trang Nhà Phong Nguyên
4. Mừng Ngày Ý Vân Ðầy Tháng
5. Thi Viết Hồi Ký " Chuyện Kể Hành Trình Biển Ðông"
6. Phạm Duy - 60 Năm Dòng Nhạc - Dòng Ðời
7. Thi Văn Tập: Yên Bình - Ngọc An
8. Thi Tập: Dường Như Tôi Ngại Thốt Lời Yêu Em
9. Tuyển Tập Thơ: Khoảng Cách Không Màu
10. CD Nhạc " Ta Gọi Tên Người"
VỊ Tử Vi - Tướng Số
2. Giải Ðáp Tử Vi
Tướng Số Thiên Ðức
VIII . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Trần Công Nhung
(Trước khi vào truyện: Ðây là câu chuyện hư cấu, nhưng lại dựa trên những địa danh có thật, một vài nhân vật có đời sống y như ở ngoài đờị Nó là câu chuyện tâm tình của những người tôi quen. Sự trùng hợp tên tuổi hoàn toàn ngoài ý muốn của người viết.)
......
Ngồi dưới hầm tàu Thảo không thấy cảnh tàu rời bến như hôm Nam ra đi, nhưng tiếng còi thì chẳng khác, khiến Thảo sống lại cảm giác lúc tiễn đưa anh em Nam. Thảo nghĩ đến Nam, không biết giờ này Nam đang ở đâụ Thảo thấy người ray rứt nôn naọ Một mối cảm xúc mơ hồ, làm cho Thảo mệt mỏi thêm.
Mấy đứa nhỏ đã nằm dài thoải máị Tàu chạy một đỗi thì có ông Tây râu ria xồm xoàm, mặc đồ Hải Quân đến nói gì đó, một người Việt thông dịch:
- Ðây là tàu của nước Pháp giúp bà con di cự Tàu sẽ vào Ðà Nẵng ngày maị Bà con yên tâm, nếu ai cần gì, có nhân viên trên tàu giúp đỡ.
Ông Tây nói xong bỏ đi, người thông ngôn tiếp :
- Trên tàu có phòng vệ sinh, chỗ uống nước. Yêu cầu đồng bào tuyệt đối giữ vệ sinh chung. Nếu cần gì xin hỏi các anh em quân nhân giữ trật tự.
Mọi người ngồi êm răm rắp. Ai cũng băn khoăn không biết ngày mai mình sẽ ra saọ Nhà cửa đang ấm êm, bây giờ lại lênh đênh, rồi về bờ bến nàọ Bà Nhiêu bảo Thảo: "Con ăn bánh đi, sáng giờ chưa thấy con ăn chi hết". Vừa nói bà vừa kéo cái giỏ, rứt chiếc bánh ú đưa cho Thảọ Thảo cảm động cầm chiếc bánh mà lòng muốn rưng rưng. Thảo nghĩ bà Nhiêu thương mình như con, chắc bà biết hết chuyện rồị Tự nhiên Thảo đỏ mặt lên. Thảo vội bóc chiếc bánh và ăn như đói thật sự.
Con tàu chạy khá êm, tiếng máy nổ đều đều như rụ Trong hầm tàu, giờ chỉ còn mấy anh lính gác thỉnh thoảng qua lạị Mọi người đều chìm vào giấc ngủ. Chốc chốc có người mớ ú ớ hoặc một đứa bé giật mình khóc thét lên. Bà Ðàm, bà Nhiêu cũng duỗi chân nằm nghỉ. Còn lại một mình, Thảo biết trời đã tốị Người thấm đã mệt, lát sau Thảo cũng nằm xuống bên Má. Thảo ngủ một giấc ngon lành cho tới lúc nghe tiếng động đánh thức mình dậỵ Nhiều người đã tĩnh ngủ. Thảo ngồi yên, giữ giấc ngủ cho Má và Bác. Thảo biết mấy hôm nay hai bà mệt lắm. Thảo lẩm nhẩm : "May mà đi được. Vĩnh biệt miền đất của tuổi thơ".
Tiếng loa trên tàu vang lên :
- Ðồng bào chuẩn bị xuống tàụ Yêu cầu tuần tự, không chen lấn. Ðàn bà trẻ nhỏ xuống trước. Khi xuống sẽ có nhân viên hướng dẫn làm thủ tục.
Cả khoang tàu lại nhao nhao, hoạt động trở lạị Một nhân viên lên tiếng:
- Cứ ngôi yên, tàu chưa cập bến. Ai cần rửa mặt hay vệ sinh cứ tự nhiên.
Nhóm bà Nhiêu lại thay phiên nhau, Thảo phụ bác lo cho mấy đứa nhỏ. Hình như Tàu đã dừng vì tiếng máy nghe rất yếụ Ðã có lệnh cho lên, không ai chen lấn, từ từ kẻ trước người saụ Ðúng là lo sợ khi xuống chứ lên ai cũng từ tốn. Trước sau rồi cũng lên bờ, tội gì giành lấn nhau, lỡ rơi xuống biển thêm rắc rốị Lúc nhân viên đến giục, bà Nhiêu mới đứng dậỵ Gióng gánh kềnh càng đã có mấy người lính trẻ giúp: "Hai thím cầm gióng gánh, tụi cháu vác vali cho".
Thảo lo ẳm thằng Cu và dẫn ba đứa nhỏ. Lên boong tàu Thảo mới thấy cảnh trí vĩ đại làm saọ Một vùng biển, tàu bè tấp nập, một thành phố mãi tít trong xạ Mấy người chỉ chỏ : "Thành phố Ðà Nẵng". Ngay chỗ tàu neo, nhìn vào bờ có một trại, đồng bào di cư lố nhố. Ðấy là đồn Sơn Chà, Tây trả lại cho chính phủ Việt Nam, nay làm trại tiếp cự Sau khi làm thủ tục nhập trại, nhóm bà Nhiêu được phân cho một lều lớn bên ngoài ở tạm vì số người đến trước đã chiếm hết các khu nhà. Nhân viên phụ trách hứa sẽ tìm các trung tâm tiếp cư để chuyển họ tớị Ðồ đạc xếp vào lều xong xuôi, hai bà đi một vòng thăm dò tình hình. Không ngờ gặp được nhiều người quen ở Phù Ninh Tam Tòa, họ đi trước, đang ở đây rất đông. Hai bà yên tâm. Lúc trở về lều, Thảo hỏi bà Nhiêu:
- Có gặp ai quen không Bác.
- Người ngoài mình nhiều lắm.
Nghe vậy Thảo cũng vui, Thảo định hỏi "Bác có hỏi thăm anh Nam ở đâu không", nhưng kịp nghĩ ra, Thảo chuyển qua chuyện khác:
- Rồi mình còn đi đâu nữa không Bác ?
- Ở tạm đây, chừng nào có trại đàng hoàng mình xin chuyển. Giờ cháu coi nhà, Bác và Má đi mua nồi soong để nấu ăn. Mỗi ngày mình được cấp gạọ
Thảo thu dọn đồ đạc rồi lấy bánh cho các em ăn.
Một đứa hỏi Thảo :
- Chị Thảo ơi, răng mình bỏ nhà tới ở chỗ ni rứa chị ?
- À, mình ở tạm đây thôị
- Rứa răng không ở nhà mình.
- Tại người ta đuổi, mà nhiều người khác cũng rứạ Người ta đi cả tàu đó.
Mấy đứa nhỏ không hỏi nữạ Thảo cứ sợ chúng hỏi dồn thì cũng khó trả lờị Bà Nhiêu trở về với soong nồi rổ rá, bà Ðàm ôm hai bó củị Bây giờ họ bàn tính công việc cho một đời sống mới, hoàn toàn xa lạ.
- Từ nay, mỗi khi đi nhận gạo hoặc cần liên lạc với nhân viên trại thì cháu Thảo lọ Bác và Má lo việc buôn bán phụ thêm.
- Trong này thì mình buôn chi Bác ?
- Ðể dò xem một hai bữa thử ra răng rồi tính.
Ngày hôm sau, những gia đình mới đến được gọi lên lãnh gạọ Gạo phát một tuần lễ một lần. Thảo mang sổ và bao lên văn phòng. Lúc vào ký lấy phiếu, mấy anh thư ký cứ nhìn Thảo chăm chăm. Thảo quay qua chỗ khác. Một chàng trẻ tuổi hỏi Thảo :
- Gia đình ni toàn "đèng bòa", sao không có "đèng ông" hử ? Lần đầu nghe giọng Ðà Nẵng Thảo rất buồn cười, nhưng phải làm nghiêm vì mấy ông này có ý muốn chọc Thảọ
- "Sô" em không trả lời ?
- Dạ có một ngườị
- Anh có thấy mô, toàn "thị" hết mà.
- Dạ có thằng Cu Phúc đó .
Mấy người quay ra cười làm cho Thảo càng ngượng thêm.
Lãnh được gạo, Thảo cũng mừng, nhưng tưng tức mấy ông làm việc. Với số gạo được cấp cả nhà ăn một tuần thong thả. Mấy ngày sau, hai bà đã tìm ra việc làm. Bà Nhiêu nấu bánh đúc. Sáng sớm trong trại có bán đồ ăn nhưng chỉ xôi, bánh ú, chưa có bánh đúc. Bánh đúc phải mệt công đánh gạo cho nhừ chứ vốn không bao nhiêụ Một vốn mười lời, cả nhà lại ăn ké vào đó. Bà Nhiêu đã sòng phẳng, vốn bỏ chung lời chia đềụ Bà Ðàm hồi giờ không rành chuyện buôn bán, nay có dịp ở cạnh bà Nhiêu, học được nhiều điều, bà rất vuị
Ngày đầu, bánh bán sạch. Ai cũng khen ngon. Bánh dòn và mềm, mùi thơm rất đặc biệt không đắng hơi vôi như bánh người khác làm. Nước mắm nêm dằm ớt xanh cay vừa phải làm cho hương vị bánh tăng bội phần. Chẳng mấy chốc, ai cũng biết tiếng bánh đúc bà Nhiêụ Từ một nồi phải tăng lên hai nồi mới đủ bán. Thảo thấy Má và Bác vất vả quá muốn can bớt nhưng hai bà không nghẹ Công việc chạy đều, gạo ngâm hôm trước, hôm sau nấụ Ðầu hôm một nồi, khuya một nồị Tính ra, mỗi người, ngày cũng được vài chục. Bà Nhiêu còn bày bán thêm các thứ thuốc lá, bánh kẹo, chuối mía ... Một thời gian, lều của hai bà thành cái quán. Bây giờ ngoài việc giữ em, lãnh hàng, Thảo còn phụ trách thêm việc bán quán. Công việc vừa mệt vừa vui làm cho Thảo không còn thì giờ nghĩ vẩn vợ
Sáng nay, bánh bán hết sớm, Má và Bác đi chợ Hàn, Thảo trông quán. Mấy đứa nhỏ, sau một thời gian đã quen, kéo nhau đi chơị Thảo đang ngồi xếp lại rổ trái cây thì có một ông khách ăn mặc lịch sự, đến hỏi mua thuốc lá :
- Em có Cáp tăng (Capstan) không em ?
Thảo nhìn lên vừa trả lời :
- Dạ thưa có. Chú mua mấy điếu ?
- Cho anh nguyên góị
Trong khi Thảo mở tủ lấy thuốc thì ông khách đã ngồi xuống cát theo lối cầu thủ đá banh. Khách nói lơ lửng :
- Một mình em bán thôi saỏ
Thảo không trả lời, đưa gói thuốc cho khách và hỏi :
- Chú cần chi nữa không ?
Ông khách cười cười, cầm gói thuốc xé rút một điếu cắm lên môị Hộp quẹt Zippo bật nghe "tách", lửa cháy bung, anh hơi nghiêng đầu đốt thuốc. Hít một hơi dài rồi quay nhả khói ra ngoàị Thảo ngờ ngợ thấy ông này ở văn phòng trại mấy lần.
- Em nhập trại đã lâu chưa mà còn phải ở lều ?
- Dạ được một tháng. Hình như chú làm việc ở văn phòng trạỉ
- Phải, nhưng sao gọi anh bằng chú ? Bộ anh già lắm sao ?
Thảo nghĩ ông này ít ra cũng ba chục. Tuổi đó thì phải gọi bằng chú chớ gì nữạ
- Hôm nay anh đến thăm là muốn giúp em. Em muốn ra ở nhà riêng có đủ tiện nghi không ?
Thảo không hiểu ông khách nói gì, Thảo trả lời đại :
- Dạ cháu không biết, để hỏi Má và Bác cháụ
Khách thấy câu chuyện không có hứng, đành đứng dậy trả tiền thuốc:
- Bao nhiêu gói thuốc ?
- Dạ thưa chú 3 đồng.
Ông khách đưa cho Thảo tờ 5 đồng rồi bỏ đị
Thảo gọi vói theo :
- Chú, chú còn 2 đồng.
Thảo bỏ tiền vào hộc và ra điều suy nghĩ. Thảo không dám nghĩ xa xôi, chỉ biết "chú ni kỳ lạ".
(còn tiếp)
Nguyên Bích
Ðêm trung thu, tôi cùng một số bạn bè họp mặt ăn bánh thưởng trăng. Câu chuyện lan man từ trăng thanh gió mát đi dần vào chuyện văn nghệ, ca hát. Một anh bạn hỏi tôi:
- Anh thích ca sĩ nào nhất ?
- Tuấn Ngọc !
- Anh có vẻ nghiêm trang quá !
- Không, tôi chỉ thích sự lãng mạn trong quý phái thôi.
- Nếu gạt bỏ sự quý phái qua một bên, tiếng hát nào được anh chọn ?
- Vũ Khanh ! Nơi Vũ Khanh, tôi nghe được sự ngọt ngào, tình tứ, giọng hát dầy và mạnh mà chúng tôi vẫn mệnh danh là giọng "fat".
- Thấy anh chỉ kể đến giọng nam, anh không thấy một giọng nữ nào xuất sắc hay sao ?
- Có chứ, Thanh Hà !
- Ồ, có thế chứ, một giọng ca trẻ. Thanh Hà được mô tả là một giọng hát hao hao giống Khánh Hà, anh có thích Khánh Hà không ?
- Có chứ. Khánh Hà hát rất chuẩn. Mỗi bài hát Khánh Hà thâu đĩa đều đã được tập luyện thật kỹ lưỡng trước khi thâu. Từng chỗ ngắt câu, từng chỗ láy, từng đoạn hát nhẹ cho đến khúc lên cao, hát mạnh, tất cả đều đã được nghiên cứu kỹ càng nên mỗi bài hát của Khánh Hà là một tuyệt phẩm, không có chỗ sai sót. Chỉ có điều vì kỹ quá nên Khánh Hà không có nhiều bài, nghe đi nghe lại mãi, thuộc lòng luôn nên mất đi cái hay. Thanh Hà có lối hát phóng khoáng hơn, nhiều bài hơn, nghe sướng hơn.
- Anh có thích giọng ca trẻ nào không ?
- Có chứ, Khắc Khoa.
- Khắc Khoa là ai vậy ? Có phải là ca sĩ trong nước không ?
- Không phải, Khắc Khoa là ca sĩ trẻ ở Âu Châu, đúng hơn là ở Ðức Quốc. Tôi biết đến tiếng hát này nhờ nghe nhạc nơi VanNghẹnet, một website do anh Vũ Thành An thành lập (http://VanNghẹnet). VanNghẹnet giới thiệu những bài hát mới, giọng ca mới, và cũng là một diễn đàn chung cho văn, thơ, họa, nói chung là cho các mục Văn Nghệ Việt Nam. Lần đầu tiên tôi đươc nghe Khắc Khoa hát là bài "Chuyện người đàn bà 2000 năm trước" của Nhạc Sĩ Song Ngọc. Bài này đã được nhiều ca sĩ thâu CD và thâu Video, nhưng ở Khắc Khoa, bài nhạc được trình bầy tận tình hơn, "sống" hơn, và tôi nghĩ diễn tả được ý của tác giả hơn.
- Khắc Khoa là mầm non văn nghệ hay sao hả anh ?
- Không, Khắc Khoa hát đã lâu. Nếu anh ở Ðức Quốc, anh sẽ biết đến Khắc Khoa nhiều. Anh ca sĩ trẻ này được thính giả Việt Nam ở Ðức yêu mến như mình yêu Vũ Khanh, Tuấn Ngọc ở đây vậy. Chỉ tiếc là anh chưa được giới thiệu đến một trung tâm băng nhạc nào để anh có dịp phô diễn tài năng của anh thôi.
- Thấy anh là người "khó tính" lắm lắm mà anh "chấm" Khắc Khoa thì chắc ca sĩ này phải có nhiều ưu điểm lắm ?
- Khắc Khoa có nhiều điểm mà tôi thấy có triển vọng sẽ là một tiếng hát được yêu mến nhiều nếu anh ta có dịp phô diễn tài năng. Giọng hát Khắc Khoa ấm và truyền cảm. Có những giọng hát vừa cất lên đã lấy được cảm tình của người nghe ngay; Khắc Khoa là một trong lớp người này. Nghe Khắc Khoa hát "Mẹ tôi" của Nhạc Sĩ Nhị Hà, tôi thấy xúc động hơn là nghe Mai Hương, Elvis Phương hát trước đây. Cách ngắt câu, cách luyến láy của Khắc Khoa như trong bài số 9, Liên Khúc, trong CD "Tạ ơn đời", CD đầu tay của Khắc Khoa, cho thấy Khắc Khoa có một good taste mỗi khi trình bầy một bản nhạc. Ca sĩ mà không "cảm" được bài nhạc thì đừng hát. Cái khiếu để sống thực với bài nhạc của mỗi ca sĩ định giá trị thang bậc của ca sĩ đó. Hát vô hồn chỉ để dành cho các ca sĩ Karaoke thôi. Khắc Khoa có điểm nổi bật khi lên đến những nốt cao. Làn hơi anh phong phú, dầy, và dài hơi, nhưng tuy lên cao mà vẫn ấm, ngân dài mà vẫn không đổi âm và không mất đi sự đậm đà. Nghe "Lời chúc cho Quê Hương" của Nhạc Sĩ Nguyệt Ánh mới thấy anh phô diễn làn hơi thiên phú của anh một cách nghệ thuật đến tột đỉnh. Nghe Khắc Khoa hát, nhiều người nói rằng đây là "tiếng hát gọi đời", hoặc "một Elvis Phương thứ hai". Nghe thì đúng là như vậy nhưng với tôi, giọng Khắc Khoa có giống Elvis Phương thật, nhưng chỉ là chất giọng, còn kỹ thuật và năng khiếu diễn tả bài nhạc thì cũng như trường hợp Thanh Hà giống với Khánh Hà như nói hồi nãy vậy thôi.
Câu chuyện hát hỏng cứ thế kéo dài đến qua đêm, bao nhiêu giọng ca khác, nhạc sĩ khác, rồi chuyện hòa âm, chuyện trình diễn trên sân khấu được lôi ra bàn luận say mê. Buổi tiệc tàn khi trăng đã biến mất đâu đó, để lại trong tôi những cảm tình dạt dào với tiếng hát Khắc Khoa vẫn còn in đậm trong tôi, trong óc tôi, và trong tim tôi.
Nguyên Bích
Mời nghe (RealPlayer):
- Chuyện Người Ðàn Bà 2000 Năm Trước (NS Song Ngọc)
http://vietcatholic.net/vuthanhan/ChuyenNguoiDanBa.rm
- Mẹ Tôi (NS Nhị Hà)
http://vietcatholic.net/vuthanhan/MeToi.rm
- Liên Khúc
http://vietcatholic.net/vuthanhan/LienKhuc.rm
- Lời Chúc Cho Quê Hương (NS Nguyệt Ánh)
http://vietcatholic.net/vuthanhan/LoiChucChoQueHuong.rm
- Ðường Tình Hai Lối (NS Tùng Châu & Lê Hựu Hà)
http://vietcatholic.net/vuthanhan/DuongTinhHaiLoi.rm
LINK: Thiệu Lương - "Tạ ơn đời" và tiếng hát Khắc Khoa
http://vietcatholic.net/vuthanhan/KhacKhoa.htm
-Tay trái giữ ngay chính giữa , tay phải cuộn lại cho tròn, cho thật khít, bằng không thì bột chảy ra , nhân bánh sẽ bể.
Ngoại ngồi trên cánh phản trong nhà bếp,chung quanh là một bầy con gái, trước mặt mỗi cô bé là hai chồng lá chuối xanh mượt , nửa hình bán nguyệt ,nửa hình lục giác dàịMợ ngồi bên trái với thau bột nếp nhồi bằng nước đường và mâm nhân đậu xanh bóc võ viên tròn như trái quất .Dì ngồi bên phải với thau bột nhồi bằng nước ấm và mâm nhân dừa xào đường trộn đậu phọng rang giã nhỏ. Ngoại đang dạy cả bầy cháu gái gói bánh ích .Chúng tôi là một lũ trẻ nhỏ ham chơi đùa ,Ngoại vẩn thường nhắc nhở tất cả:
- Con gái ,nếp nhà ,phải lo học làm các thứ bánh trái ,nấu nướng thức ăn,thêu thùa may vá ,dù trong nhà có kẻ ăn ngươì làm ,mình cũng phải biết cách ăn ở để dạy dỗ kẻo chúng khinh nhờn.
Ngoạị goá chồng từ thơì xuân sắc . Một đời tần tảo nuôi bầy con thơ daị . Từ công việc đồng áng bên ngoài cho đến việc chăm sóc nhà cửa bên trong ,tính toán chi thu ,trả công người làm…Mỗi năm, cần bao nhiêu giạ lúa thóc để ăn hàng ngày cho đến chi dùng trong các lần giỗ Tết, bao nhiêu lít đậu ,lít mè,con heo,lứa cá, mỗi thứ đều tính toán thật chính xác, chi ly .
Tháng tư ,đầu muà mưa,cũng là ngày giỗ ông . Ngoại hay kể chuyện ông thuở sinh tiền,ông thích mặc quần áo bà ba lụa trắng,đi guốc dông,sáng lập hội tài tử,vào những tối sáng trăng,cùng chúng bạn bè xuống nhà thuỷ tạ hoà đàn,ngón độc huyền của ông như " nước chảy mây trôi "… Ðến năm đầu thời kháng chiến Ông bị quân giặc mang ra bắn trước sân nhà ,không bản án ,không cáo trạng ,chỉ vì ông để tóc dài búi tó như tín đồ Ðạo Hòa Hảo và trong nhà thờ trần nâu . Ngoại ôm con đỏ ra xin xác chồng về chôn cất .Từ đó ,mang hết aó luạ ngà nhuộm nâu ,tập ăn trầu , thu xếp nhà cưả lui về cạnh nhà bố mẹ chồng dựng mái lá nuôi con . Tuổi chưa đầy năm cậu mất cha ,mẹ tôi vưà tròn mười sáụNgoại còn giữ lại đôi guốc mộc,cái gối kê đấu bằng gỗ mun,mấy trang giấy lụa bút tích của ông mối mọt ăn thâm thủng nhưng Ngoại không nở rờị Mấy bà cô dì trong họ thường bảo chúng tôi:
- Ngoại con lúc đương thơì là hoa khôi trong làng đó,bao nhiêu người đi hỏi cưới, nhưng Ngoaị chỉ ưng lấy Ông con.
Ngày Ngoại theo chồng, để lại bao nhiêu chàng si tình ngơ ngẩn .Ðến khi mất chồng, cũng đã bao nhiêu người đến ngấm nghé , Ngoại nhất quyết thờ chồng , chỉ mặc aó nâu ,đầu quấn khăn rằn đen , lo chăm sóc ruộng vườn, nuôi dạy bầy con .
Quê Ngoaị là thiên đường tuổi thơ diệu vợi, hàng năm vào những ngày giỗ Tết chúng tôi xôn xao đợi chờ . Từ tỉnh lộ đi bộ vào nhà chừng ba cây số ,nhưng tuổi nhỏ xa xôi tưởng như nghin dặm.Mỗi lần về thăm, Ngoaị bảo Dì mang xuồng ra đón tận bến sông . Ngày nước ròng , con rạch thu nhỏ lại, phơi hai bờ bùn đen ,bọn trẻ con thường mang mảnh ván ra sông chạy chùi, chúng tôi nhìn thấy thật thèm thuồng, nhưng Mẹ và Ngoaị cấm không cho xuống bờ cùng chơi vì sợ miểng chai ,gai nhọn nằm lẩn lộn trong bùn cắt thịt đứt dạ
Nắng tháng hai, mưa tháng tư , mỗi năm tháng chất đầy kỷ niệm .Những ngày tung tăng theo Dì ra vườn cắt lá chuối về gói bánh tét,bánh ích đám giỗ , Dì lấy cho cái áo bà ba cũ rách mặc vào,vì sợ mũ chuối dính áo mới sẽ biến thành màu nâu, không tẩy được . Môĩ buội chuối chỉ dùng liềm cắt hai tàu lá , mang ra phơi nắng cho dẽo , dùng dao rọc lấy sống lá phơi cho héo lại để dành chẻ dây cột bánh tét , thân lá xếp laị từng xấp mười tấm , môĩ tấm mang về xé nhỏ thành từng manh dài chừng ba tấc , manh lớn hình chử nhật thì gói bánh Tét ,manh nhở dài chừng hai tấc thì danh theo hình lục lăng dài dùng làm lá bao bánh ích ,nhỏ thì danh theo hình bán nguyệt để làm lớp gói bên trong của bánh ích . Thuở nhỏ , công việc chính của chúng tôi là ngồi lau từng manh lá ,chờ Dì danh góc cho tròn,mang lá vụn ra góc hè chơi trò nấu cơm ,bán hàng, cùng mấy anh chị em con Dì con Cậu . Ðến tuổi lớn hơn thì được Ngoaị dạy và cho thực tập gói bánh .
Bánh ích gói bằng hai lớp lá chuối ,lớp bên trong dùng lá hình bán nguyệt , cuộn lại hình quặng , Mợ Hai nhồi bột nếp trong thau thật to ,ngắt một ít bột, đặt nhân bánh vào giưã viên lại cho tròn ,cho vào quặng lá chúng tôi đang chờ,tay Mợ thật nhanh ,thật đều , Ngoại dạy chúng tôi dùng tay xếp một bên lá nằm xuống ,ngón cái giữ laị , sau đó xếp cạnh đôí diện , phải giữ cho bốn cạnh thật đều hình tháp,bốn góc cân đôí ,đỉnh cao vừa vặn , đặt bánh vào lớp lá bao bên ngoài hình lục giác ,cạnh trên phủ xuống nằm bên trong ,cạnh dưới xếp lên bọc bên ngoài ,chận ngón tay và xếp hai bên lá lại thành hình tam giác cho đều, bẻ lên hai bên . Bánh sau khi gói xong ,hấp chín chờ cho nguội, mang xếp vào thúng theo từng loaị bánh ngọt hay bánh trắng và làm dấu để khi mang ra đãi họ hàng không phải phân vân bơí tìm .Cái hạnh phúc rộn ràng của chúng tôi bấy giờ là tranh nhau lời khen cuả NgoạI:" con gái tinh ý ,khéo tay học nhanh và làm gọn gàng ."
Bên cạnh bánh ích,bánh tét là thứ không thể vắng trong các lễ giỗ , Ngoại thường gói nhiều loại bánh tét , bánh tét nhân đậu mỡ ,nhân đậu ngọt ,nhân dừa xào đường ,và nhân chuối là món chùng tôi ưa thích nhất …Trước khi học gói bánh tét ,Ngoaị dạy cho cách cột bánh . Bánh cột bằng dây chuối, lúc cắt lá, rọc lấy sống mang ra phơi nắng cho dẻo , chẻ thành sợị ,thật mịn , thật đều , nhỏ quá dây sẽ đứt ,to quá cột vào đòn bánh không đẹp,trông thô kệch . Lúc cột dây không được xiết quá chặt ,bánh không chín dều , nhưng xiết không chặt thì bánh sẽ nong nước ,nhảo nhè nhảo nhét. Bánh nấu chín mang vào treo trên sào tre trong nhà bếp,chờ đến lúc mang ra cúng kiến và đãi họ hàng, Ngoại lại dạy thêm cho cách cắt bánh tét, cắt bằng dao khoanh bánh sẽ méo mó , phải bóc hết lá ra, dùng chính lá gói bánh lót xuống dĩa, bằng không khi đặt vào bánh sẽ dính, dây cột bánh gỡ ra một sợi dài, dùng dây nầy để cắt, khoanh bánh sẽ tròn trịa ,nếp và nhân thật cân đối, không trộn lẫn nhau, bánh chín đều ,đó là con gái nhà, khéo léo ,thành công .
Nếp dùng gói bánh tét Ngoại cẩn thận nhặt từng hạt thóc , ngâm nước qua đêm , dậu trắng phải chọn loại hạt nở đều , dừa khô không được khô quá . Tuỳ theo loại nhân, nhân đậu ngọt ,nhân đậu mỡ hay các loại nhân khác mà dùng nếp xào vơí nước cốt dừa , hay dùng nếp ngâm trộn vơí dừa khô nạo nhỏ. Mỗi đòn bánh dài gần hai tấc , dùng một chén nếp đầy vun ,đã xào hay ngâm sẳn trộn với muối ,dừa ,đậu trắng , lá chuối xếp chồng lên nhau ,nếp trải mỏng, nhân xếp vào giữa ,hai tay phải thật nhanh lúc cuộn nếp lại thành hình ống, bẻ hai đầu bánh cho vuông vắn, dùng dây cột bánh ,mỗi nuột dây cách nhau chừng hơn một phân tây , bánh cột xong cho vào thùng lớn ,bánh nhân đậu mỡ xếp bên dưới,đậu ngọt kế tiếp, bánh nhân chuối là lớp trên cùng . Bánh tét thường phải nấu cả ngày, củi đun là loại xấu, gốc mắc,cành to quăn queo, không thể chẻ được, nhưng củi nầy lại cho ra than thật hồng ,thật nóng, thuở nhỏ ,chúng tôi hay quanh quẩn bên cạnh khều than ra nướng khoai , nướng bắp … đôi khi, Ngoại nướng bánh phồng nếp,bánh tráng dừa , mang cả mạch nha trộn mè ra kéo thành kẹo bánh tráng làm quà vặt cho trẻ con .
Bên cạnh bánh tét ,bánh ích còn có bánh nước tro,là thứ gói bằng lá trẹ Nếp dùng để gói loại bánh nầy Ngoại mang ra ngâm trong nước tro đốt từ cây đước ( là một thứ cây tạp sau khi đốt thành tro ,cho vào hủ nhỏ ,đổ nước vào , sau đó lọc lấy phần nước trong ,chỉ có nước tro nầy mơí có đủ độ mặn để ngâm nếp).Thường phải ngâm mấy ngày, xả laị nước lạnh cho nếp thật sạch và thật mềm.Dùng lá tre tàu để gói bánh, hình ống như bánh tét , hình vuông như bánh chưng , hình tháp như bánh ích hay bánh ú . Khi nấu bánh, Ngoại dùng một loại măng của cây tre gai thả vào nước làm màu nhuộm.Bánh nước tro là một thách thức cho chúng tôi, lá tre rất dòn, lúc gói phải nhẹ tay, cột bánh phải nâng niu, lá rách, nếp trộn nhân, bánh vỡ,măng tre phải đúng lứa không đốn măng quá già ,bánh đen,quá non bánh trắng…Ngoại thường nhắc nhở lúc gói cũng như khi ngồi canh bánh, lửa đều,thêm nước nóng ,không để nếp sượng, bánh thành công khi mở ra phải trong như hổ phách, ăn vào miệng vừa dẽo vừa dòn,nếp quyện vào nhau không nhìn thấy hột,nhân bánh nhìn thấy nằm ngay ngắn,vừa vặn bên trong …
Bao nhiêu là kinh nghiệm ,Ngoại mang ra dặn dò cùng bầy cháu ăn chưa biết no, lo chưa tới .Bao nhiêu là thứ bánh trái mộc mạc của quê Ngoại xa xôi trong trí nhớ, bao nhiêu lời cân nhắc chi ly ,như mực in ,như dao khắc…Hình ảnh Ngoại ngồi bên khai trầu, ngọn đèn dầu lung linh, hay đứng bên cây cầu dừa cạnh bờ sông lúc đưa con cháu xuống xuồng về tỉnh lỵ. Bóng Ngoại gầy gò đứng thắp nhang trước bàn thông thiên bên cội mai vàng nở rộ mỗi dịp Tết về .Hình ảnh nối liền với nếp cũ với thiên đàng tuổi thơ ,với quê hương chắt chiu thương nhớ …
Chúng tôi, bầy cháu Ngoại ở xa , mỗi lần về thăm như ngày là hội hè , bao nhiêu thứ bánh trái làm sẳn, bao nhiêu tình thân yêu . Sống bên Nội,chúng tôi quen với chợ buá hàng ngày, dù có được rong chơi thì cũng chỉ quanh quẩn dăm ba nhà lân cận.Về quê Ngoaị, thuở nhỏ là cả môt thiên đường nở hoa, nhà Ngoại cách liên tỉnh lộ Long Xuyên Cần Thơ có mấy cây số đường mòn, dăm ba cây câù tre, những ngày đầu mùa mưa,đất sét lầy lội,mỗi lần đi qua cầu là một lần sợ hãi, hai bên đầu cầu mỗi nhịp là một thân cây gòn trơn bóng, nhịp giữa nối nhau bằng hai cây tre nhỏ đong đưa kẻo kẹt theo từng bước chân qua,hai chị em cứ đứng nhìn nước chảy xiết dưới chân cầu, không chịu đi ngang ,Mẹ phãi bế từng đứa một sang bờ .
Lúc Dì chưa theo chồng , cứ mỗi lần giỗ tết về thăm, Ngoại thường bảo Dì bơi xuồng đưa Mẹ con ra tỉnh lộ, con rạch nhỏ, tháng nước ròng ,bông Tra rụng theo dòng trôi mênh mang ,Mẹ dạy hai chị em đếm bông cho quên đường dài
- Bông màu vàng cho Ba ,bông màu hồng cam cho Mẹ , một bông nho nhỏ ,hai bông to to , ba bông dật dờ ,bốn bông bay bỗng …tuổi thơ lồng lộng ...
Ngoại chuốc cho mâý chiếc dầm con con , hai đứa tranh nhau bơi theo Dì và Mẹ , vừa bơi vừa vớt lá rong xanh , vớt được trái mã đề tranh nhau cắn vỡ ra lấy hột,hột nhỏ như trái sung , nhơn nhớt như trái bông sún,bao nhiêu là kho tàng tuổi thơ trôi theo dòng sông nhỏ, mãi chơi quên mất cả chuyện bơi theo mái dầm, Dì và Mẹ phải bơi nhanh cho kịp con nước , lúc Dì trở về ngược nước và vắng Mẹ con sẽ buồn nhớ biết baọ
Mỗi lần được về thăm quê Ngoại là một lần xôn xao ,nắm níu, dù chỉ cách nhau có mười cây số đường dài ,nhưng thuở xưa chưa có phương tiện giao thông , khoảng đường dài như quan san cách trở. Thuở ban đầu Ba Mẹ còn thường bơi xuồng vê thăm,đến lúc sinh các con, thêm bận bịu bán buôn,Mẹ ngoài những ngày giỗ chính và ngày mùng hai Tết, rất ít khi về .Cho đến lúc các con lớn lên,lúc nào cũng thèm thuồng ,hình ảnh quê Ngoại gắn liền với những trò chơi thơ ấu, hái lá ,bán hàng, cút bắt ,nhảy dây … con đường trước sân nhà lót một hàng tán đá xanh vuông vắn ,từ thềm nhà xuống mãi tận bến sông,thuở nhỏ chân chim , con đường nầy như một trò chơi chạy nhảy,với đôi bàn chân bước ngắn ,mỗi viên gạch lót dài là mỗi bước phiêu du,một chân trời mới lạ, mê mãi ,một hai …
Bên hông nhà, vườn trầu xanh mượt lá,mỗi chiều theo cậu mang gàu ra múc nước sông lên tưới mấy nọc trầu ,Ngoại căn dặn mỗi gốc trầu phải đếm bao nhiêu gàu nước ,và mỗi dây trầu chỉ được hái hai lá vàng mợ Trầu hái xong, mang ra rưã sạch, giũ cho hết nước và xếp vào khay .Tôi vừa tưới nước,hái trầu vừa thắc mắc :
- Ngoại à,tại sao chỉ hái trầu buổi chiều vậy ?
Ngoại nhặt lá trầu vàng tươi , ngắt bỏ đuôi nhọn,chẻ một lát cau dầy ruột trắng tinh,têm trầu với ít vôi màu đỏ thắm , cho vào miệng nhai,nhổ nước vào ống ,nhả bã trầu,từ tốn trả lời:
-Chuyện kể lại ,có cô dâu mới về nhà chồng ,buổi sáng tinh mơ ra vườn hái trầu vào mời chào, chẳng may, khi phu quân ăn vào ngã lăn ra chết, làng bắt tội giết chồng, thị kêu oan,lúc quan Huyện xét tìm tội trạng ,hỏi chuyện ,thị kể lại đầu đuôi, quan bèn ra vườn trầu tìm kiếm mới thấy dưới nọc trầu có dấu rắn bò ngang , theo dấu nhìn vào lá trầu vàng còn đọng sương mai, quan nghiệm rằng :
-Ðúng như Quan nghĩ,thị không cố ý thuốc chồng ,đêm qua rắn độc bò ngang vườn trầu uống sương đọng trên lá ,nhả nọc lại ,thị vô tình hái nhầm lá có nọc rắn ,chồng ăn phải, trúng độc mà chết .
Nhờ Quan sáng suốt ,thị được minh oan .Quan dạy dân sau nầy không nên hái trầu đọng sương, và nhất là phải rữa cho sạch trước khi ăn.Lâu ngày thành thói quen, dân làng hái trầu vào buổi chiều, rưã và giũ cho sạch,sớm mai mang ra nhúng nước trầu sẽ tươi tắn lại như lúc mới hái thôị
Câu chuyện hái trầu chỉ là một trong kho tàng cổ tích Ngoại thường kể , những tối chong đèn quay quần bên bộ ván gõ, Ngoại kể chuyện anh hùng thuở xưa, chuyện bà Triệu cởi voi đánh giặc,chuyện Nữ tướng Bùi thị Xuân quấn vải quanh mình để lúc chết thân thể không phơi bày,chuyện Ðinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau, hay gương hiếu đạo Mục Liên cõng Mẹ vượt chín tầng điạ ngục,thành tích rằm tháng bảy là ngày xoá tội vong nhân…Nhưng thật gần và thật luyến lưu,chuyện ông tôi thuở sinh tiền và hội bạn tài tử, những cuộc hoà đàn đêm thanh,hay hát hò đối đáp, những câu hò tình tứ ,những bản vắn điệu ngũ cung ai hoài, hay bài vọng cổ mênh mang. Thỉng thoảng, chúng tôi lại xin Ngoaị hát ru,ngững câu ca dao ngọt ngào, những câu tục ngữ thân quen, tiếng võng đưa nhịp nhàng ,trong trí nhớ nhỏ nhoi cuả tôi ,Ngoại như quyển sách chứa bao nhiêu điều huyền diệu…
Những ngày lớn hơn, mùa hè về thăm ,nằn nì đòi Cậu dẩn ra chòm mã đá xem trâu ,con trâu già của bà Năm cột gần bụi tre , cặp sừng cong vút, hơi thở phì phò, tôi chỉ dám thập thò đứng từ xa len lén nhìn, chuyện ngồi lưng trâu thổi sáo,chuyện mục đồng cờ lau, chuyện giết giặc cứu nước chỉ nằm trong sách vỡ học trò,Làm sao có can đảm leo lên lưng con trâu cổ bóng ngời mà học đòi làm mục đồng ngồi trâu thổi sáỏ ngay cả lúc nhất định đòi Cậu dạy cho thổi sáo,học bao nhiêu lần ,nhưng thổi lên như… thổi lửạChả bù với tiếng sáo của Cậu , những đêm sáng trăng thanh âm bay thật cao,thật xa, bên kia sông nước,trên ngọn trúc lao xao,dưới bóng dừa thì thào…
Ngôi miếu cổ xây bằng đá xanh nằm bên vàm sông , trong miếu thờ lủ khủ mấy ông Tà bằng đá ,thân hình như quả trứng tròn trơn bóng , trước miếu lau lách um tùm,bên cạnh cây gừa già,tàng lá che ra tận nưã bờ sông, rễ mọc thòng xuống bùn đen , lê thê như tóc thiếu nử ngồi hong trong sân nhà ngày nắng hanh.Con sông nhỏ,nước chảy dật dờ, cây gừa tuổi già hơn tuổi Mẹ, gốc to đến mấy người ôm, chúng tôi thường rũ nhau trốn ngũ trưa, dùng cành lá che nhà trên nhánh ba , dùng rễ gừa làm màn, mỗi nhánh cây theo tháng năm lớn lên là một lần tuổi thơ vụt thoát. Chán trò trên cây,lại cút bắt dưới nước, tập bơi bằng hai trái dừa điếc đóng hai đầu cành tre , cái miễu ông Tà cũng được chúng tôi thăm viếng thường xuyên. Huyền thoại linh ứng cuả ông Tà không đủ ngăn sự tinh nghịch cuả trẻ con, chúng tôi chẳng biết ông Tà thường bắt trẻ con nóng đầu, hay hành hạ mấy đứa con trai nghịch ngợm vì tội đái bậy vào thân ông ,chỉ thấy mấy cục trứng đá trơn nhẳn nhụi lây lất nằm trong miếu rong rêu, thế là mấy chị em rũ nhau mang hết xuống sông dùng xơ dừa kỳ cọ cho đến sạch bóng, còn bảo ông Tà ở dơ quá, người đầy đất bùn. Mấy anh chị con Cậu sợ hãi chạy vào mách Mẹ ,Ngoại lại lễ mễ mang bánh trái ,đèn nhang ra cúng tạ lỗi và xin cho trẻ con nhỏ dạ non lòng .
Những năm lớn lên, về Ngoại không còn những trò chơi thơ ấụ Con gái nếp nhà, phải chăm lo công việc may vá, thêu thùa,bánh trái, nấu ăn .Những ngày giỗ chạp, những ngày cưới hỏi, Ngoại mang bầy cháu gái ra truyền lại kinh nghiệm chăm chút trong ngoài, bánh mứt mỗi thức mỗi mùạDù là con gái thị thành nhưng không thể quên được nề nếp,dù không chính tay làm cũng phải biết cách tổ chức xếp đặt để chỉ bảo cho kẻ ở ngườI ăn .Mỗi lần trong họ hàng có đám tiệc, Ngoại lại mang bầy cháu trai gái đến phụ giúp,các anh thì lo việc dọn bàn ghế , các cô thì lo bếp núc trong nhà. Ðám cưới ở nhà quê là nơi hẹn hò gặp gỡ, nơi trai thanh gái lịch có dịp làm quen, cũng là nơi mấy bà mẹ chồng tương lai thường vào tuần tra trong đội ngũ con gái, nhìn quanh chọn lựa, xem từ hình dung đến cung cách, giã vờ chuyện nọ trò kia ..,bao nhiêu mánh khoé Ngoại thường nhắc chúng tôi coi chừng,dù không có ý định lấy chồng cũng không nên có lý do cho người khác chê cười dòng dõi tông môn.
Ngày người chị họ theo chồng, đứa cháu đầu tiên sang nhà khác ,Ngoaị dặn đôi câu, đêm lạy chào xuất giá, Ngoại cẩn thận xếp một hộp kim chỉ để vá may,một hộp bánh phòng khi đói lòng, những gì cận kề học hỏi …vượt cạn,biển đông …
Tết ,năm Ngoại bảy mươi,họ hàng đến chúc mừng, mỗi người một câu , nào phúc lộc, nào sức khoẻ,con đông, cháu đầỵNgoaị ngồi lặng lẽ, con cháu về ,nhưng chưa đủ, còn một nửa bầy,thật xa, cách một biển khơi ,nửa vòng địa cầu … Quê hương tuổi nhỏ gói theo bầy cháu Ngoại tha phương ,những lần giỗ Tết hiu hắt, khoanh bánh tét gói bằng giấy nhôm tuy không có mùi lá mới, nhưng gói thật tròn cái nếp cũ bấy lâụ
10/01
''Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài !''
(''Kiềú' Nguyễn Du)
Kim Chi và Ngọc Diệp là đôi bạn rất thân thương với nhau, tính đến nay đã gần bốn chục năm qua. Hiện tại hai bà sắp vào tuổi lục tuần. Tuy cả hai không cùng mẹ cha, cũng không cùng quê quán. Mà số phận lại tương tựa như nhau. Thật là một sự trùng hợp hiếm có trên cõi đời !
Kim Chi sanh ra trong một gia đình Ðiền-Chủ khá giả, vùng Gia-Ðịnh ngoại ô Sàigòn. Còn Ngọc Diệp thì sanh trong một gia đình Phú-Hộ ở miệt Long-Xuyên thời còn Pháp thuộc.
Vào khoảng đầu thập niên một ngàn chín trăm năm mươi. Lúc đó Ngọc Diệp và Kim Chi mới lên sáu bảy tuổi mà đã chịu cảnh mồ côi. Hai bé sống với các anh chị trong nhà. Nhưng đau đớn thay ! Hai đứa nhỏ lại không được tình thương yêu trìu mến của anh chị cũng như giòng họ. Bao nhiêu cảnh vô phước cùng cực nhứt đời. Nó luôn luôn phủ lên đầu của hai đứa bé còn thơ dại. Cả hai từng ăn những chén cơm chan bằng máu và nước mắt. Quần áo thì chẳng được ấm áp mà lại còn bị mắng nhiếc, roi đòn bủa xuống và đày ải vô cùng cực nhọc.
Thân xác bé nhỏ mà phải gánh chịu bao nỗi nhọc nhằn. Mặc dù khổ cực như vậy. Hai đứa bé bắt buộc phải ở lại sống nương nhờ trong gia đình các anh chị. Vì tuổi còn thơ và còn nhỏ quá, biết phải đi đâu bây giờ ?
Ngày tháng năm trôi hơn mười năm sống lây lất và cam chịu nỗi nhọc nhằn. Nhưng rồi cả hai đều thoát ly lên Sàigòn sống kiếp bụi đời sương gió.
Ngọc Diệp và Kim Chi quen nhau, là sự ngẫu nhiên. Bởi hai cô mướn phòng gần nhau và chung một Building... trên đường Tự-Do quận nhứt Sàigòn. Từ dạo ấy họ kết tình bạn với nhau.
Suốt mười mấy năm sống kiếp phong trần gió bụi trên đất Sàigòn. Ngọc Diệp và Kim Chi nếm đủ mùi vị của đời. Ðến lúc lớn khôn, làm ra tiền. Hai cô trở về thăm lại gia đình và cung phụng cho đám cháu, con của các anh chị hai cô.
Thời gian trôi chảy, Ngọc Diệp đi theo tiếng gọi ái tình. Nàng qua Pháp với người yêu. Nhưng chẳng may, không đầy một năm thì người tình của nàng bị cơn bạo bệnh mà qua đời. Ngọc Diệp phải sống bơ vơ giữa thủ đô Ba-Lê.
Cả năm sau miền Nam Việt Nam thất thủ vào tay Cộng-Sản Bắc Việt. Kim Chi đu được một người đàn ông Việt dân Pháp giúp nàng thoát khỏi Sàigòn.
Thật là thương đau ! Ðịnh mệnh không chịu buông tha cho kiếp Hồng Nhan Bạc Phận ! Sóng gió lại nổi lên và đưa đẩy Kim Chi với vị ân nhân ấy phải chia tay.
Ngọc Diệp và Kim Chi tình cờ gặp lại nhau trong buổi văn nghệ do những người Việt Tị-Nan tổ chức tại rạp Maubert quận 5 Paris. Hai cô gặp lại nhau lòng mừng vô hạng. Kim Chi rủ Ngọc Diệp về ở chung, và cùng đi xin việc làm mấy tiệm của người Việt. Nhưng chẳng được việc. Cuối cùng hai cô phải bước chân vào Rừng Ðêm đầy chim muông, thú dữ của thù đô ánh sáng Ba-Lê để tranh thủ mà tìm sự sống.
Bấy giờ tuổi đời của hai nàng gần kề tứ tuần. May thay, vào một đêm trời xanh mây biếc, trăng sao lóng lánh sáng ngời, Ngọc Diệp gặp người đàn ông Ðức hết dạ thương yêu và đem nàng về cưới làm vợ. Hơn một năm sau đó, Kim Chi cũng được một chàng Quân tử người Pháp động tâm và yêu thương nàng hết mực. Tuy ... già nhân ngải, non vợ chồng... Nhưng chàng lo lắng cho Kim Chi một cuộc sống tương đối đầy đủ.
* * *
Gần hai mươi năm, Kim Chi và Ngọc Diệp sống an phận với những sợi tơ tình muộn màng ấy. Bấy giờ hai bà đã chán ngán sự đời, bởi sống quá nhiều và cũng nếm biết bao điều đau khổ phũ phàng cũng như những vị ngọt bùi, cay đắng. Nên không còn ham muốn gì thêm nữa, ngoài cái việc : ngày qua ngày, chờ qua đời mà thôi.
Nhưng... trời chiều, bóng xế... Trong lòng của hai bà ngập tràn nổi lên tình thương nhớ quê hương. Chắc chắn là đồng tâm trạng của hằng triệu đồng bào Việt Nam đã ly quốc từ bấy lâu nay.
Ôi quê hương Việt Nam ! Việt Nam là nơi chôn nhau cắt rún là mảnh đất quê nghèo, là nơi chúng ta từng nếm bao mùi vị vui buồn trong những năm tháng của ngày xa xưa. Dù chúng ta sống trong hoàn cảnh nào đi nữa, thì không ai có thể quên hẳn được quê hương của mình...
* * *
Vào những năm đầu thập niên một ngàn chín trăm chín mươi. Có hằng loạt người Việt trở về thăm quê hương và gia đình. Trong đó có Ngọc Diệp. Bà về Sàigòn được mấy tuần, thì vội đi tìm mua một căn appartement nho nhỏ gần khu chợ Tân-Ðịnh, nhờ người bà con đứng tên dùm. Mua xong, Ngọc Diệp sửa sang trang hoàng lại căn nhà cho đầy đủ tiện nghi để khi nào bà về mà có chỗ ở. Còn những tháng bỏ trống thì cho ngoại kiều mướn ngắn hạng.
Lo căn nhà xong, Ngọc Diệp trở lại Ðức. Bà luôn nghĩ đến Kim Chi.
Buổi sáng cuối mùa thu, thời tiết lành lạnh, bên ngoài mưa rơi lác đác, lá rụng đầy đường, thân cây trơ cành trọi lá. Trông thật là buồn hiu hắt !
Kim Chi đang nhìn trời qua cửa sổ, lòng nghĩ ngợi xa xăm. Chợt tiếng chuông điện thoại reo vang, bà đến bắt lên :
- A-lô ! Xin lỗi, ai vậy ?
- Hì hì ... Tao đây nè !
- Cái gì vậy... Mụ Ðức ?
- Ê, về Việt Nam ăn Tết với tao không... Mụ Tây ?
Hai bà đều cười ngất trong điện thoại. Kim Chi nói :
- Tao muốn về thăm gia đình tao lắm... Nhưng...
- Nhưng nhụy cái gì ? Mầy còn các anh chị và một đám cháu đông như là vạn cấy. Theo tao thấy, là mầy nên về một lần đó Kim Chi à ! Về nghe Mụ... !
- Ờ, để tao tính lại. Tao sẽ hỏi mượn nhà băng và xin chàng Quân Tử coi có chút gì không nha !
- Thế nào cũng được mà !
- Ờ, có gì thì tao sẽ cho mầy hay sau.
- Ðể tao sẽ về trước, rồi mầy bay về sau nha !
- À, nếu tao đi, thì đi cỡ vài tuần là tao phải trở lại đây.
- Sao mầy không ở một vài tháng ?
- Trời ơi ! Không được đâu Mụ Ðức ơi !
- Ờ, thôi ráng thu xếp đi nha. Bye bye nghe ... Mụ Tây !
- O.K. Mụ Ðức nó !
Sau khi Kim Chi nói chuyện điện thoại cùng Ngọc Ðiệp. Bà suy nghĩ suốt ngày. Qua hôm sau Kim Chi lo đi mượn nhà băng. Mượn được ba chục ngàn quan. Chàng Quân Tử tặng thêm một chút và nàng gom góp tiền dành dụm cọng chung tất cả được cỡ năm chục ngàn quan Pháp. Nàng đi xin visa và mua vé máy bay xong xuôi cùng lo mua thuốc men đem hờ về rủi bị bệnh hoạn bất tử.
Ngọc Diệp đi trước Kim Chi vài tuần. Sau đó Kim Chi cũng lấy Air-France bay về.
Ngồi trong máy bay mà lòng của Kim Chi vô cùng hồi họp, xúc cảm lạ thường. Sau gần hai mươi năm mới được trở về quê hương yêu dấu.
Khi nghe cô chiêu đãi viên nói : máy bay đang vào không phận Việt Nam và thời tiết bên ngoài nóng ba chục độ. Tim Kim Chi đập mạnh, và khắp cả thân người toát mồ hôi lạnh, nước mắt rưng rưng. Một xúc động chưa từng có trong lòng nàng.
Kim Chi đứng dậy lấy bộ đồ mát trong xách tay nhỏ đi vào toilette thay. Rồi trở lại ngồi ghế gài dậy nịch đàng hoàng, nàng cố trấn an tinh thần.
Chiếc máy bay Boeing-747 đáp xuống phi-trường Tân-Sơn-Nhứt vào khoảng năm sáu giờ chiều. Cửa mở, hành khách lần lượt đi xuống. Còn Kim Chi thì chần chờ đi sau chót. Nàng vừa đạp chân dưới đất, liền ngồi và khum xuống hôn trên mặt đất mà nước mắt bà tuông rơi. Bà tự nhũ : Mình sự thật về tới nơi chôn nhau cắt rún rồi. Trời ơi ! Việt Nam quê hương tôi !
Bà từ từ nối đuôi như mọi người, rồi đi lấy hành lý, điền giấy khai thuế, trình giấy thông hành... đi ra.
Kim Chi ngơ ngác tìm kiếm Ngọc Ðiệp. Ðàng kia, Ngọc Diệp đưa tay quơ quơ và kêu lên :
- Kim Chi ! Tao đây nè !
Ði chung với Ngọc Diệp, có Gấm, cô bạn hàng xóm, và Cương, ông luật sư mà Kim Chi được quen biết trong lúc ông đi công tác tại Ba-Lê. Khi ông trở về Sàigòn, sẵn dịp đó Kim Chi gián tiếp giới thiệu cho Ngọc Diệp, cho bà có người quen ở Sàigòn, vì bà ít quen ai ở bên nhà. Họ tươi cười chào đón nhau.
Bốn người ra chiếc xe hơi hiệu Toyota màu trắng còn mới toanh của Cương. Cương lái xe trực chỉ chạy thẳng về nhà của Ngọc Ðiệp.
(...)
Qua ngày sau, Kim Chi nhờ Gấm đổi tiền quan Pháp qua tiền đồng. Nàng vội lấy xích-lô và ôm tiền về Gia-Ðịnh thăm các gia đình anh chị.
Kim Chi không mua gì cả, mà bà chỉ đem tiền về gọi là quà cáp. Phân phát một số người trong gia đình. Sau đó nàng được biết có cô cháu đang bị ở tù về tội lừa gạt tiền bạc của người ta. Kim Chi liền bắt tay lo liệu, đền tiền lại để cho cô cháu được ra khỏi tù.
Nhưng buồn thay ! Người chị dâu tham tiền. Chị ta muốn Kim Chi đưa tiền cho bà để bà trả góp từ từ mà phó mặc cho con mình ở tù. Nhưng Kim Chi không bằng lòng, bà cương quyết chuộc cô cháu ra.
Bao nhiêu năm Kim Chi xa cách gia đình. Ngày nay trở về lại vẫn bị bất đồng ý kiến trong gia đình.
Tiền bạc Kim Chi cho tặng các gia đình anh chị và lòng vòng những bà con và bỏ tiền chuộc cô cháu ra khỏi tù, mà còn bị người chị dâu thù ghét.
Thật lạ ! Con người thật là mâu thuẫn. Như Cộng Sản Việt Nam nói thù Tây, ghét Mỹ mà tiền của Tây-Mỹ thì xè tay nhận.
Ðến khi Tổng Thống Mỹ viếng thăm Việt Nam dân chúng từ Bắc chí Nam đều ra đường tưng bừng đón chào Tổng Thống Mỹ... như một vị Thiên Thần. Quái đảng ! Buồn cười cho những người Việt Nam có đầu óc theo chính sách Cộng Sản !
Thật buồn cho thân phận Kim Chi. Một đời người vô phước. Bà chẳng được một chút tình yêu thương trìu mến nào của gia đình quyến thuộc.
Sau một tuần Kim Chi cho tặng hết tiền bạc. Bà nằm nhà của Ngọc Diệp mà chờ đến ngày lấy máy bay trở lại Ba-Lê. Và trong lòng bà nói : nếu còn Cộng Sản cầm quyền, thì bà cương quyết không trở về Sàigòn nữa !
Còn Ngọc Diệp, thì gia đình anh chị và các cháu đều vượt biển thoát khỏi Việt Nam từ lâu. Vài người sinh sống trên đất Mỹ. Và vài người sống trên đất Pháp. Nên nàng không bận lòng mà cho tặng ai bên Việt Nam.
*
(còn tiếp 1 kỳ)
Việt Dương Nhân
Tàu càng về gần ga Hàng Cỏ, lòng ông càng thêm xôn xaọ Nỗi xôn xao tự hỏi không biết những gì ngày xưa nay còn giữ lại đến mức nàọ Cái ga Hàng Cỏ nơi ngày xưa mỗi lần từ Từ Sơn về hai bố con thường ngồi ăn bát cháo khuya với các bác xe tay rồi mới lên xe về ngủ. Cái góc ga Hàng Cỏ mỗi lần theo bố lên xóm Khâm Thiên nghe hát ả đào về thường ghé lại làm bát chè tươi, miếng bỏng rồi mới về nhà trọ. Hà Nội tít mù tắp của những năm tuổi thơ dìu dịu liệu bây giờ còn sót lại được bao nhiêụ
Ông cúi nhìn mặt đồng hồ taỵ Như vậy là tàu lại trễ thêm hơn 1 tiếng. Lúc khởi hành ở Nha Trang đã chậm cũng 1 tiếng, dọc đường lại gặp vài trục trặc nên đã trễ lại trễ thêm. Ông phân vân không biết liệu người nhà có sốt ruột bỏ về, rồi với đám con cháu và hành lý lỉnh kỉnh, liệu ông bà có tha được mọi thứ ra khỏi ga chăng. Tất cả cái gì cũng làm cho ông ngại vì đã có sự đổi thay nhiều quá, nhất là dấu gì thì dấu chứ nhất định cái thái độ từ tốn khác hẳn cái ồ ạt tranh dành chắc không thể dấu che được xuất thân của ông bà.
Tàu chậm dần. Ðã thấy tiếng người gọi nhau ơi ớị Sân ga náo nhiệt hẳn lên, người đi lên, kẻ đi ngược xuống, lăng xăng, tíu tít. Ông bà bảo lũ trẻ cứ thư thả để mọi người xuống trước : ga cuối rồi không sợ tàu chạy vội mà phải tranh nhau bị lạc hay ngã đaụ Ðang khi còn đang lo không biết làm sao thì đã nghe có tiếng gọi tên ông bà từ dưới sân ga đưa đến. Thế là không nói không rằng, nước mắt ông tuôn rạ Ông không biết tại sao ông khóc. Có thể vì bất chợt nhận ra không có khoảng xa cách giữa ông bà với người nhà. Ðó là một tín hiệu vui vì ít ra nó cũng khiến cho ông khỏi ngỡ ngàng khi thấy có sự xen lần giữa yêu thương và chính kiến. Dù gì tấn bi kịch của hơn 1/4 thế kỷ chiến tranh cũng đã tự đào sâu trong lòng ngay cả anh chị em những hố hầm ngăn cách.
Một cậu em nào đó ùa lên toa tàu đón ông bà. Cũng chỉ kịp nói được một câu " anh chị để tụi em lọ Anh chị tập trung giữ các cháu kẻo bị lạc ", rồi mắt cũng đỏ hoe ràn rụạ
Ông bà cầm tay mấy đứa cháu, bố mẹ chúng lo cho những đứa khác, cả bọn lũ lượt kéo nhau xuống toạ Pooc tơ, tắc xi ùa đến mời chào, xe đậu sẵn ngay trong sân ga, cửa mở rộng. Một vài xe như xe bò lộc cộc chở hành lý đi quạ Cậu em khác cám ơn tài xế mời vì nhà đã chuẩn bị phương tiện đón gia đình. Một rắc rối nho nhỏ xảy ra do số vé mua không khớp với số người đi, đứa con cả của ông bà giải thích là do ga xuất phát bán và suốt thời gian trên tàu không ai hỏi han gì, nhưng nhân viên ga đến nhất định không chịụ Cuối cùng đành phải bấm bụng trả thêm nửa vé trẻ em mới được giải quyết cho rạ
Lên chiếc xe 16 chỗ ngồi, ra khỏi khu vực ga chạy trên con đường lớn. Phố xá chen chúc người, xe Honda lạng qua lạng lại, người chạy xe bịt mặt, trông như trong phim. Hà Nội ồn ào quá. Sự bung vỡ của kinh tế thị trường làm cho Hà Nội quay cuồng trong hối hả. Cửa hàng nở rộ khắp nơi, người bán xem chừng đông hơn người muạ Thoáng trông qua đã thấy không còn riêng biệt như ngày trước. Những cái tên xưa vẫn giữ lại, nhưng phương cách làm ăn đã đổi thay nhiềụ Ði nơi phố Hàng Ðào không còn rặt những cửa hàng buôn bán vải mà thấy chỗ này thì hàng điện toán, chỗ kia thì hàng thực phẩm, y dược. Ðâu đâu cũng giăng đầy biểu ngữ, bảng khẩu hiện, ca tụng chiến công hay kêu gọi mọi người sản xuất.
Về đến nhà, cơm đã dọn sẵn. Thịnh soạn như bữa tiệc. Ðúng là cung cách đãi khách của miền Bắc. Ông bà có cảm tưởng như tiệc đãi đến mấy chục người, trong khi gia đình ông vỏn vẹn chỉ chừng hơn 10 ngườị Ông bà ngỏ ý thì các anh chị em đều xua tay bảo " lâu lâu khách nước ngoài về, phải tỏ ra quí khách kẻo bị chê trách ". Nói thì nói thế, song ai cũng hiểu là câu nói cho vuị Bọn trẻ đang đói được ăn ngon, lo đánh mạnh, đánh mau, không nói năng gì cả. Riêng ông bà và đám người lớn thì lại không ăn được mấy mà chỉ hỏi han nhau chuyện. Một ông anh từ Phú Thọ về, trông quá lụm khụm so với ngày hai ông bà lên chào để đi ra khỏi nước. Ông anh hỏi han về cuộc sống xứ người rồi bao giờ cũng khuyên răn " cô chú đi để được thảnh thơi tâm hồn, song đừng bao giờ quên đất tổ ". Vì nghĩ anh chị em lâu mới có dịp gần nhau nên ông bà cung ừ ào cho xong vì tranh luận với nhau về thế nào là đúng, là sai xem ra rất là khó.
Cơm nước xong, ông xin phép được đi thăm ngay Hà Nộị Ông bảo thằng cháu đèo ông sau xe Dream đưa ông len vào phố phường Hà Nộị Ông ghé lại Hồ Gươm, liễu la đà trong gió. Trông qua Tháp Rùa, hình bóng toà bưu điện mới cao vút lên rõ rệt. Ông nhớ lại ngày bé ra đây trọ học, những buổi chiều vẫn ghé lại mua phá sa của ông tàu già nhai nhóp nhép. Bưu điện ngày xưa tuy bé nhưng hoà hợp với cảnh quang xung quanh. Bây giờ to lớn hơn, nhưng giống như một người sang tự dưng lọt vào giữa đám bần hàn túng thiếu, làm cho chính người ấy cũng thấy rụt rè. Ông và đứa cháu vào Thuỷ Tạ gọi ly cà phệ Những giọt cà phê đen như đem chất đắng sâu vào cuống họng.
Ra khỏi Thuỷ Tạ, mấy ông thợ ảnh theo mời chụp mấy pộ Ông cảm ơn. Ông vào đền Ngọc Sơn, đi lại trên nhịp cầu Thê Húc, nhịp cầu mùa xuân năm 1953 ông đã đứng tần ngần trong đêm trừ tịch để nhìn người đi ra đi vào hái lộc đầu xuân. Một xác rùa phơi khô đặt trong lồng kính, ông tự hỏi phải chăng đây là con rùa đã nhận lại thanh kiếm của vua Lê Lợi ngày xưạ Ðột nhiên tiếng hát " Bước quanh bên hồ Hoàn Kiếm giữa thu chiều úa " của nhạc sĩ Trần Văn Nhơn khiến ông cảm thấy bâng khuâng.
Quanh bờ Hồ, nhà cửa hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Phú Gia vẫn khép nép cạnh bên góc Hàng Ðào, nhưng rạp chiếu bóng Philarmonique thì đã mất hẳn. Cửa hàng của ca sĩ Ngọc Bảo nay tên đã bị tẩy bỏ, chỉ còn lờ mờ dấu vết thời xưạ Trông lên trên cao, ngọn tháp ăng ten của viễn thông như chiếc mũi nhọn chọc vào vũ tru,ï vừa dềnh dàng, vừa đơn độc, lẻ loị
Thằng cháu lại đưa ông qua hàng Da, hàng Trống. Quành Hàng Bông đến Ðường Thành. Những kỷ niệm xưa ào ạt kéo về không kịp vuốt mặt. Con đường tàu điện với tiếng chuông lanh lảnh leng keng, những buổi sáng thức dậy mua nắm xôi ăn đi học, tối mùa đông trông gánh rươi bán rao mà sợ đến rùng mình. Nhớ hôm nào nghỉ học, ra đứng nhìn sang nhà thương Phủ Doãn, thấy xe tang đỗ chờ chuyển di quan mà lòng nhớ nhà, nhớ mẹ tha thiết. Hà Nội lúc ấy sao thanh bình lạ. Dạo ấy có ai nghĩ rằng chỉ cần một vài thập niên sau Hà Nội sẽ đổi thay, hẳn là bị riếu cười trơ trẽn. Vậy mà chỉ cần một cuộc đổi quyền, Hà Nội đã không còn gì nữạ Ðã mất đi những đêm nằm một mình trên gian gác nhỏ nghe tiếng xực tắc gõ nhịp xênh xang. Hà Nội của mùa đông với hàng dẫy dài gái Trưng Vương đạp xe đi học. Mảnh khăn san phất phới như bướm bay theọ Hà Nội của phố Phan Chu Trinh, Lý Thường Kiệt êm đềm biệt thự. Hà Nội của phố Mã Mây, Cầu Gỗ mưa phùn. Hà Nội của cà phê Nhân và bánh pa tê sô ăn vào ấm bụng. Hà Nội của phở Tư Lùn nghịch ngợm tuổi thư sinh. Hà Nội của năm Nguyễn Văn Tâm ra làm Thủ Hiến, oai như cọp, mà học sinh Nguyễn Trãi vẫn dám bê hình ra đốt ăn mừng Tết về. Hà Nội của Cổ Ngư phơi đầy lưới cá. Hà Nội của Hồ Tây, Trúc Bạch với lầu chuông Quan Thánh ngân ngạ Hà Nội của hoa Phượng rung rinh trong nắng hạ. Hà Nội của hẹn hò Quảng Bá, Nghi Tàm. Lên thi đua nhau bơi và yêu đương thề thốt. Hà Nội của những buổi sáng tay trong tay bước nhẹ nhàng trên đường toà án. Trao cho nhau nụ hôn mà mắt nhắm không dám nhìn. Hà Nội của mà hồng, môi đỏ xinh tươị Lạy Phật mà chỉ xin được cưới người bên cạnh. Hà Nội của ngoe nguẩy làm duyên, của nguýt dài e ấp.
Hai bác cháu chạy về Phó Ðức Chính. Cột đồng hồ ngày xưa nay đã mất dáng đi đâụ Nhà in IDEO vẫn âm thầm trên dốc. Ngôi nhà của cậu mợ nhỏ lại vô cùng. Nhớ cỗ phà trăng đêm Trung Thu bà bày cho hưởng. Nhớ chiếc cân con con bà đong à phiện bán ngày xưạ Nhớ đêm tiễn bà về từ ga Saigon mà níu chặt không cho bà lên tàụ Bà thương mẹ bao nhiêu thì lòng mình cũng thương bà bấy nhiêụ Sau này lưng bà gù đi, nhưng tình thương của bà với mẹ con ông vẫn đầy ăm ắp. Bây giờ về căn nhà Blocklaus Nord buồn thỉu, buồn thiụ Bà mất đã mấy chục năm qua mà sao như bà vẫn còn đâu đây, lẩn khuất. Về tạt qua nhà Dì ở Phan Chu Trinh. Một tấm bảng cơ quan treo im lìm ở đó. Nhớ ngày Chú rơi phi cơ mất mà ngỡ như mới hôm qua sự việc còn rành rành. Hà Nội như vô tâm, vô tính mà sao càng buộc ràng chặt chẽ.
Bác cháu lại đưa nhau về Yên Phụ, cửa ộ Cái bốt ngày xưa giờ chỉ còn rêu xanh phủ kín. Petit Ðồ Sơn thành Thắng Lợi to đùng, nhưng Hồ Tây bị lấp dần để chiếm đất. Ghé xuống Nghi Tàm, giọt lệ chợt tuôn rạ Nhớ bóng mẹ trên đất ông bà ngoạị Mẹ vẫn nuôi giấc mộng về trồng hoa, nghỉ lão tại Nghi Tàm. Song ước mộng của mẹ tan tành theo thời thế. Mẹ nằm xuống một ngày đầy mưa gió. Thân mẹ vùi nơi dất lạ xa xăm. Mẹ ôm ước mơ vào lòng đất. Thỉnh thoảng vẫn gặp mẹ về trong mơ mà cứ nghĩ mẹ còn. Vườn của mẹ đã bị bán xới đi mất bóng. Nhìn vào đâu cũng chỉ thấy cốt sắt bê tông. Khu vườn hoa ngày xưa và cây bưởi giờ chỉ còn trong ký ức. Mùi hương hoa nghe ngọt mà cắt nát tim mình. Cất tiếng lên gọi " Mẹ ơi " như ngày còn bé mà chỉ nghe tiếng gió xào xạc đâu đâỵ Nhớ đêm nằm trên lầu Nghênh Phong mà tưởng như được mẹ về ru ngủ. Ông gục xuống, nước mắt thấm dầỵ Mất mát lớn quá, từ bản thân đến sự nghiệp. Nghĩ thân lạc loài thấy tủi, nhưng còn gì đâu để nhớ, để về.
(còn tiếp)
Chiều nay tôi đi lang thang ... lang thang về đến campus của
MSỤ Trời vào Thu nên lá đã đổi màu thật nhiều. Có
những cây đã trụi gần hết lá ..
Cũng cái campus này ngày xưa tôi đã từng lang thang từ Music
Building qua đến thư viện bên kia đường. Ði ngang qua thư
viện ... bỗng nhớ đến anh CP để rồi lại mỉm cười ...
Uổng ghê đi! Hôm nay đi lang thang lại bỏ quên mất cái máy
hình ở nhà rồi. Nếu không thì tôi đã chụp hình cái thư
viện và cái tháp đồng hồ gửi cho anh CP xem ké ... để cho
anh ấy lại thêm một lần ngơ ngẩn, ngẩn ngơ nhỉ?
Cuộc sống của tôi trong 14 năm qua dính liền với hai cái
campus của MSU và UM. Lúc thì tôi sống nơi này, lúc thì nơi
kia. Và có lần lại đi đi về về cả hai nơi trong suốt
thời gian 7 năm trời. Có lúc mệt đến nỗi ngủ gục trong
khi lái xe ... nhưng rồi cái gì thì cũng quen đi ... nếu cần!
Cuộc sống ở những "student town" có nhiều cái thật thi vị.
Dân số hình như lúc nào cũng trẻ trung mãi ... không thấy
già đi tí nào. Những sinh viên đến rồi đi ... nhưng rồi
lại thêm những khuôn mặt mới trẻ hơn lại đến. Sống quanh
những nơi như thế, tôi cũng quên mất là mình bắt đầu
già từ lúc nào. Cho đến khi một ngày kia ... đang đứng
nói chuyện với một tên sinh viên mới vào năm đầu, tôi
ngỡ ngàng khi nhận ra rằng tên sinh viên này chỉ đáng tuổi
con, tuổi cháu của mình mà thôi ...
Bao năm sống ở MSU, tôi quá bận rộn đến độ tôi chẳng
có nhiều thời giờ để mà để ý đến những cảnh vật
chung quanh mình. Thời kỳ đó đi đi về về, tôi vẫn cảm
thấy gần gũi hơn với cái campus của UM. Dù sao đi nữa, bạn
bè người quen của tôi phần đông đều ở AA cả.
Chiều nay trở lại campus MSU ... nhìn đám sinh viên vẫn lũ
lượt đi bộ đầy đường, nhìn bao hàng cây lá vàng lá đỏ
lá cam trải dài hai bên đường và dọc bờ sông Red Cedar, bây
giờ tôi mới cảm thấy nhơ nhớ cái nơi này làm sao đó...
Ði ngang qua tiệm kem của trường ... lại nhớ đến những
buổi chiều đưa bọn nhóc đi học nhạc xong, cả gia đình đã
kéo ra tiệm kem ngồi ăn kem trước ... xong rồi mới đi ăn
tối sau. Lúc đó cu Bùm chưa ra đời ... chỉ có TS và ML mà
thôi. TS thì lúc nào cũng thích kem "Chocolate Mint". Còn con
bé ML thì lúc nào cũng chỉ ăn có kem dâu.
Tự nhiên tôi muốn đi ngang lại căn nhà cũ sống trong chung
cư cùng với gia đình những sinh viên khác ... muốn trở lại
thăm cái apartment nho nhỏ trên lầu mà tôi đã sống trong 7
năm. Cái apartment chỉ có hai phòng ngủ. Còn nhà bếp, phòng
ăn và phòng khách chỉ là một căn phòng rộng lớn. Có bao
chiều tôi vừa nấu ăn vừa trông chừng hai đứa nhóc trong
lúc chúng ngồi xem truyền hình gần đấy. Có những lúc
vừa làm bếp vừa hò TS đi học bài hoặc tập đàn. Căn
apartment thật nhỏ cho nên mấy Mẹ con không lúc nào là không
nhìn thấy nhau. Ngày ấy, tôi sung sướng sống trong cái
apartment chật hẹp đó ... vì tôi không bao giờ phải lo cái vụ
một mình một thân chơ vơ trong một cái phòng rộng lớn
lạnh vắng ... Ngày ấy, tôi và các con như bóng với hình ...
quấn qua quấn quít bên nhau suốt ngày suốt đêm ...
Tôi bỗng thèm được sống lại những ngày tháng đó ...
những ngày tháng bất đầu bước vào một cuộc sống mới
... tập làm vợ và làm một người mẹ. Thật mới mẻ và
cũng có lúc thật bỡ ngỡ. Nhưng đó cũng là thời gian
thật nhiều hạnh phúc ... hạnh phúc nhìn ngắm các con lúc
chào đời ... lúc các con mới biết nhoẻn miệng cười ...
lúc các con mới bập bẹ nói Mẹ Mẹ, Ba Ba ... Ngày các con mới
tập tững biết đi, để rồi có những lúc khóc oà lên vì
bị té đau. Bao nước mắt ... bao dỗ dành ... bao nâng niu
chiều chuộng.
Rồi ngày đầu tiên đưa con vào trường, nắm tay con mà bồi
hồi xúc động thật nhiều. Nửa muốn bỏ tay con ra để con
tự do bay nhẩy vào đời. Nửa thương tiếc xót xa muốn
nắm tay con níu lại ... mong được bảo bọc các con suốt
đời. Nhưng rồi đến một giây phút nào đó, tôi đành
buông tay để cho các con tự đo đi ra khỏi vòng tay của mình
... để các con ra đời với người ta ... và để các con có
được một cuộc sống khác ngoài phạm vi gia đình.
Từng đứa từng đứa một ... TS rồi đến ML. Và rồi năm
nay cu Bùm cũng đã vào mẫu giáo. Từng đứa con một từ
từ rời khỏi tổ ấm gia đình, bước vào đời để học
cách ăn, cách nói, cách xử sự với đời ..
Tôi vui mừng reo hò nhìn ngắm những kết quả mà các con đã
gặt hái được. Nhưng tôi cũng đã bao lần đau xót quặn
ruột khi phải chấp nhận đứng nhìn các con khổ nhọc vấp
ngã dọc đường đời ...
Và rồi tôi biết sẽ còn rất nhiều giây phút reo vui hoặc
đau xót trong nhiều năm tới đây nữa ...
ooOoo
Cu Bùm đã ngủ gục trong xe trên đường đi dến EL. Nhìn cu
Bùm ngủ quá say, tôi không nỡ đánh thức thằng bé dậy nên
đành đậu xe vào parking lot rồi ngồi chờ cho cu Bùm thức
dậy.
Ước gì?
Ước gì cu Bùm thức dậy bây giờ nhỉ?
Ðể tôi có dịp được tay nắm tay với cu Bùm ...
Ðể rồi hai Mẹ con sẽ cùng nhau đi dọc bờ sông ...
Ðể cu Bùm có dịp tung tăng đi nhặt lá vàng ... hoặc cho vịt
ăn như là tôi và TS đã từng làm với nhau 10 năm về trước
nhỉ?
11 October 2002
Con bé chờ mãi, cuối cùng niềm mong đợi cũng đã đến: Bữa nay con bé được ở nhà một mình, vì ông chú và bà cô có việc cần đi xa trong hai tuần, giao nhà nhờ con bé trông nom dùm. Thế là con bé tha hồ mọc đuôi tôm, chả sợ ai kiểm soát dòm ngó. Con bé tha hồ nằm khóc tỷ tê mà không cần che dấu, không cần chặn tiếng nấc sợ bị hỏi han. Không cần phải chùi nước mắt cho nhanh khi nghe bước chân người đến phòng.
Mấy tuần nay con bé buồn lắm vì vắng bóng gã, cả gần tháng không thấy tăm hơi một chữ nghĩa nào của gã. Con bé đoán gã đang giận con bé lắm lắm vì lâu lâu cái tính đành hanh của con bé lại nổi chướng. Con bé bắt chước tính bà chị họ, cái bà chị mà có lần gã đã nói là gã không thích bà ta một tý nào bới cái tính khách sáo và kiêu kỳ. Gã không thích thì "thư kệ" gã, bà ấy đâu care, và không mắc mớ gì tới con bé. Nhưng gã giận lây sang con bé là không có được. Con bé ấm ức suốt cả mấy tuần nay về sự im lặng của gã. Con bé tức lắm, Con bé thấy gã thatä khôn, bởi gã biết nếu cãi nhau, gã sẽ không ăn nổi con bé, cái gì chứ bắt nạt gã thì con bé rành lắm. Nhưng khi nào thấy sắp bị thua thì con bé lại dùng chiêu khác', dùng nước mắt. Là gã mềm ngay thôị Gã dữ dằn ở đâu thì không biết, nhưng làm con bé khóc thì gã không thể. Có lần gã đã thú vậỵ
Một lần con bé nức nở phôn gã, kể chuyện bị bố la mắng vì cái tội bắt đầu biếng học, và mơ mộng nhiều hơn.. Gã biết con bé đã khóc nhiều lắm, bởi được chiều quen rồi, nay bị bố mắng chửi là điều làm con bé đau đớn cùng tận. Ðể làm con bé nín , gã đã dọa con bé: " Bé đừng khóc nhiều nghe, khóc vừa đủ cho mắt đẹp thôi, bé mà khóc nhiều là sẽ bị xệ hai khóe mắt đó,sẽ bị già đi coi ghê lắm....bé mà làm mất đôi mắt đẹp của anh là không được...."
Mấy năm trước, con bé thấy gần bố, thấy gần chú, những ngày đó con bé còn nhỏ, chỉ biết lấp dưới cái bóng của bố, chỉ biết ỷ lại vào bố mọi chuyện. Bố cũng đã quen làm boss cô con gái ruợu của mình, Bố cũng đã quen sự phục tùng tối đa của con bé, cái gì bố nói, con bé cũng gật, cái gì bố chê con bé cũng ừ. Nhưng rồi con bé thấy mình thay đổi dần dần khi con bé bắt đầu bứớc vào caí tuổi hồng. Từ ngày con bé lớn hơn, con bé thấy cần được bày tỏ cái quan niệm riêng của mình, con bé muốn người khác nghe ý kiến của mình....nhưng hầu như không ai thích điều đó'. Mọi người cứ cho là con bé chả biết gì, chỉ cần lo cho con bé đầy đủ vật chất là được. Con bé không phải thắc mắc về những chuyện không đâu, điều đó để bố lọ Con bé chỉ cần biết một điều giản dị: đi học, biết làm bữa cơm ngon, và muốn mua sắm gì bố không bao giờ tiếc con bé. Nhưng con bé không được có những tư tưởng chống đối lại tư tưởng của bố, dù bất cứ vấn đề gì, dù bố sai đi nưã. Bố quan niệm, bố là chủ gia đình, bố nhiều kinh nghiệm hơn, chuyện gì bố quyết định cũng sẽ đúng mà thôị
Con bé thấy mình bước vào khúc ngặt, không suy nghĩ thì thôi, càng suy nghĩ, con bé lại càng thấy những cái quan niệm xưa rích của lớp bạn bố áp dụng vào bày con cái bây giờ, chả có cái phương pháp nào là perfect cả. Con bé thấy cần phải thay đổi, cần phải bỏ những cái xấu cũ, để đổi lấy những cái mới, cái hay của thời đại, của cái xã hội văn minh mà gia đình con bé đang tạm trú, như bao nhiêu gia đình người dân Việt khác.
Không nói chuyện với bố được, và với mẹ cũng chả hơn gì. Mẹ thì cứ bận lo cho mấy thằng em. Với mẹ, con trai vẫn là những đứa con cao giá hơn con gáị Vẫn cái quan niệm trọng nam khinh nữ cổ hủ cuả những người lớn tuổị Con bé bực lắm lắm, con bé đã chứng minh cho mẹ thấy những course học nào ông anh học được, con bé cũng học được, và đã mang điểm A về cho mẹ thấỵ Nhưng hình như mẹ không care, mẹ vẫn cưng con trai hơn. Càng lớn, con bé lại thấy mình cô đơn. Không còn hồn nhiên như lúc nhỏ nưã, đôi lúc con bé đã buồn rầu trong ý nghĩ : "Sao mình không bé mãi mãị.., sao mình đừng lớn, để khỏi phải suy nghĩ buồn phiền?"
Con bé đã thật happy khi mấy hè qua bố mẹ cho con bé đến chơi nhà bà cô ông chú. Hai ông bà chiều và cưng cô cháu nhỏ lắm. Họ chiều con bé lắm lắm. Hai ông bà đã về huu, không con cái, họ có đời sống giản dị nhưng thật hạnh phúc, có lẽ vì họ có cùng một sở thích. Ông chú cũng chiều bà cô lắm, ông không độc tài như bố ở nhà, ông biết nịnh bà khi được ăn bữa cơm ngon, ông cũng biết nói những lời dịu dàng dễ nghe với vợ. Nhưng những tính khác, thì con bé thấy ông có rất nhiều cái giống bố,nhưng bù lại ông được cái ưu điểm là biết phục thiện khi ông biết ông saị Nên bà cô không bị phiền muộn như mẹ ở nhà. Ông chú lại là người có tâm hồn văn nghệ rất lớn, ông làm thơ, ông viết truyện, tên tuổi ông lẫy lừng. Ông quảng giao, ông quen nhiều , nhà ông bao giờ cũng đầy tiếng cười , tiếng nói cuả bạn bè. Lúc nào cũng vui như tết. Nhưng ông cũng là người thật dữ trên thương trường, và văn trường, ai cũng ngán ông cả. Thế nhưng với con bé, ông chú lại "ngán" con bé ghê lắm, ông cũng thường chiụ thua khi con bé gây chuyện với ông . Ông đã dành thật nhiều quý mến cho cô cháu nhỏ, nhưng ông cũng muốn kiểm soát, và bảo vệ con bé theo ý ông.
Con bé tuy được chiều, nhưng cũng ngại ông chú lắm. Con bé sợ ông biết con bé quen với gã.. Vì ông có linh tính bén nhậy, mọi chuyện đều không qua khỏi mắt ông. Có lần ông đã đùa bảo: " Chú nhìn con ruồi bay qua, cũng đoán được con nào là con đực, con nào là con cáí" Bà cô đã cười và nguýt dài ông khi nghe vậỵ
Mấy năm truớc con bé thân với ông chú lắm, con bé lại rất mê bà cô, vì bà có nhiêù cá tính giống con bé hơn là mẹ. Bà hiểu con bé hơn, bà thường dành những tư tưởng bao dung cho con bé về mọi chuyện. Còn Ông chú thì chịu khó nghe con bé kể chuyện, ông rất thích nghe con bé nói, ông vẫn khen con bé có tiếng nói hay như tiếng dương cầm. Con bé thường lí lắc nói với ông tất cả về bạn bè của con bé, con bé thường kể ông nghe mầu áo nào con bé mới mua, con bé cũng kể ông nghe cả những lần bị bố la mắng khi con bé tập tành viết lách, và dành nhiều thì giờ cho những việc vô bổ này, bố vẫn mắng vậỵ Bố ghét văn nghệ nên ghét lây tất cả những gì liên hệ đến . Và khi bố biết con bé bị ảnh hưởng cái đam mê văn nghệ cuả ông chú, thì bố ghét ông lắm lắm, và ghét lây cả bà cộ Bố cho là hai người đã ảnh hưởng xâú đến tâm hồn con bé. Cái nhìn của bố thật khắt khe ở lãnh vực này, có lẽ vì một số người làm tai tiếng. Bố và ông chú có nhiều cái giống nhau, nhưng có một điểm khác nhất là chính cái điểm ....mà bố ghét nhất.
Từ ngaỳ con bé quen biết gã, thì con bé không còn gần với ông chú như trước, con bé thường né ông bởi sợ ông nhận ra sự thay đổi trong tâm hồn con bé. Bởi ông tinh lắm, ông có linh tính thật bén nhậỵ Ông có thể cảm được những gì ông nghi ngờ. Ông lại bắt đầu giống bố, muốn độc quyền yêu thương con bé mà thôị Ông sẽ bực lắm lắm nếu biết có tên thanh niên nào dám tán tỉnh cháu ông.
Ba mùa hè trước con bé vui vẻ tung tăng những ngày trẻ thơ bên gia đình và người thân, và những ngày thật vui với gia đình ông chú bà cộ Thế rồi từ khi con bé lớn hơn, con bé bắt đầu trổ mã...thì sự canh giữ của bố, càng chặt chẽ hơn, bố không muốn con bé ra khỏi nhà mà không có bố đi kèm. Bố kiểm soát những bài làm, những giấy tờ của con bé.....Con bé bắt đầu thấy ngộp, Con bé bắt đầu thấy khó thở, ngày xưa gia đình ông chú là nơi con bé trú ẩn khi than thở vềbố, trút những phiền muộn về lớp học, về cuộc sống, về những gì …con bé bực mình....Thế nhưng bây giờ…. Ông cũng chả khác gì bố, ông bắt đầu kiểm soát, con bé kỹ như bố.
Con bé không còn vui đuà như mấy năm trước, con bé đã biế tư lự, con bé đã có những thắc mắc..… Nhiều ngày con bé cứ rút ở trong phòng, làm bạn với cáí máy computer nhiều hơn là làm bạn với ông và bà cộ Những điện thư cuả gã tới tấp đến với con bé. Và hình như con bé vui hơn ở những ngày nhận được thư như thế. Con bé đã dùng thật nhiều giờ cho gã mỗi ngày sau bưã cơm chiêù. Con bé noí chuyện với gã qua máỵ Nhiều lần gã kêu lên: Bé lém thì thôi!
Hè này con bé đã vô tình nghe được một lần ông nói với bà cô phải để ý đến con bé nhiều hơn, con bé đang ở tuổi lớn, con bé đang ở cái lứa tuổi bắt đầu biết mộng mơ, bắt đầu biết buồn xa vắng và nghĩ ngợi lôi thôị Ông đã bắt mạch được điều đó...,ông chỉ sợ cô cháu gái xinh đẹp sẽ bị thằng thằng lưu manh nào dụ dỗ thì khổ. Bà cô cười trấn an: Ông khỏi lo, con bé không dễ bị dụ đâu, tính cháu ông cũng kiêu kỳ lắm, ông đã thấy đó, bạn bè , người quen biết nó có người nào cà chớn đâu, toàn là những con nhà danh giá, học giỏi, có bằng cấp, có công ăn việc làm...Chưa biết anh chị sẽ lựa đám nào để gả nó đâỵ..."
Nghe đến vụ bố mẹ chọn "bạn" cho con bé là con bé rụng rời! Ừ, mà điều đó cũng dám lắm, hai ông bà vẫn theo cái truyền thống ngày xưa của Việt nam. Muốn đặt con bé ngồì đâu là con bé phải nghe theọ Có thể vì thế, nên từ ngày con bé lớn, bố càng gay gắt, chặt chẽ kiểm soát con bé hơn, để tập cho con bé vào khuôn vào phép, hầu sau này bố đạt đâu thì phải ngồi cho yên, thì phải toe miệng cười!
Con bé thấy mọi người không "fair" tý nàọ Không ai nghĩ đến con bé saỏ Con bé cũng là một sinh vật, con bé cũng biết vui buồn, con bé biết lựa mầu áo nào mình thích, lựa loại hoa nào mình ưạ Mọi người cũng như vậy mà? Phải thế không? Sao mọi người không cho con bé cái quyền lựa chọn đó? Chỉ có gã, chỉ có gã hiểu con bé hơn tất cả. Gã đã nhìn được bản chất thật nơi con bé. Gã đã nghe và hiểu những gì con bé tâm sự với gã. Gã không bao giờ muốn biến con bé thành một người nào khác, con bé phải là con bé, là cái mà gã yêu mến với đủ cả những cái ngang bướng mà gã thích thú. Quen gã, con bé thấy lòng đầy niềm vuị Quen gã, con bé thấy mình là con bé của chính mình, mà không là con bé do bố hay ông chú nhào nặn theo ý muốn của họ. Quen gã, con bé thấy lòng thanh thản ,nhẹ tênh. Gã chấp nhận bản chất thực sự của con bé, gã chấp nhận cái xấu lẫn cái tốt của con bé mà không là sự gò ép bắt giữ thứ này, bỏ thứ kiạ
Quen gã, con bé nhìn được cái bóng của chính mình, mà không bị đè lấp bởi những cái bóng to lớn khác. Con bé cũng nhìn thấy cái bóng của gã cao ngông nghênh như một cây tùng to lớn trên núị Cây tùng đứng thẳng trong gió mạnh, cây tùng đứng thẳng trong mưa, cây tùng cũng đúng thẳng trong bão lớn. Quen gã, con bé đã thấy được cái bóng nhỏ của mình mà từ xưa con bé chưa bao giờ được nhìn thấỵ Con bé thấy cái bóng nhỏ của con bé dưạ vaò thân cây tùng, như cần một che chở nào đó. Và con bé vẫn còn nhìn thấy được cái bóng của chính mình.
(Aug 12/00)
Ai về Xứ Huế cho ta nhắn
Thăm lại sông Hương núi Ngự Bình
Từ lúc tha hương nơi Ðất Hứa
Nghìn năm thương nhớ chốn Thần Kinh
( Tâm Ðạo)
Huế kiêu sa và quyền lực một thời vang bóng, nhưng Huế đã lùi vào dĩ vãng chỉ còn lại di tích lịch sử và thi ca lãng mạn. Viết về thi ca, lễ, nhạc xứ Huế quá rộng và bất tận. Tôi chỉ tham khảo những nét chính qua thi ca bình dân. Ca dao truyền tụng từ đời nầy sang đời khác được phổ biến sâu rộng trong dân gian, mãi mãi trường tồn trong lâu đài văn hóa dân tộc
Xong trung học ra Ðại học Huế, tôi có cơ hội tiếp xúc với phong tục đời sống, cảm nhận thi ca bình dân của Huế vào hồn. Kỷ niệm còn vướng đọng dư âm hơn 28 năm qua, nhớ về Huế mùa hè lắm ve sầu hót véo von, sông Hương nước trong xanh, lững lờ chảy về Thuận An, các đàn cá đối ung dung bơi lội tìm mồi. Hai bên bờ phượng vĩ nở đỏ rực, lộ hẳn trên nền trời trong xanh. Có lẽ đúng đất Thần kinh thơ mộng, nên thi ca bình dân phong phú, lãng mạn . Các điệu hò trên sông Hương trong những đêm trăng đẹp, đã làm rung động lòng người lữ khách.
Ðến Huế để nhìn lại những cung điện, đền đài, lăng tẩm, ăn các món ăn đặc sản .. chưa đủ , nhưng nếu nghe tiếng hát ru con qua ca dao, các giọng hò trên sông Hương, như vậy mới gọi là thưởng thức trọn vẹn được cái hay, thơ mộng của Huế.
Thi ca bình dân gợi lại dư âm, cái uy nghi của Kinh đô, Từ cửa Ngọ Môn cao vời vợi có lầu Ngũ phụng uy quyền qua các triều đại đến Ðiêïn Thái Hòa nơi thiết-đại-triều giờ đây vắng bóng người.. Thời xa xưa người Việt dùng loại đèn chai đốt sáng, đã biến mất theo sự phát triễn khoa học, đèn điện sáng tiện lợi, nhưng không tạo được nét huyền ảo trong những đêm trăng non ở Huế .
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Cột cờ ba cấp, Phu Văn Lâu hai tầng
Ai ơi chớ phụ đèn chai
Thắp trong Cần Chánh rạng ngoài Ngọ Môn
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Người xưa tạo lập để công hầu vô ra.
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh,
Ba cửa thẳng, hai cửa quanh
Sinh em ra phận gái, không hỏi chốn kinh thành làm chi !
Huế đất không rộng nhưng có chợ Ðông Ba trước có tên là Ðông Phước thay đổi vài lần , năm 1899 dời ra phố Tràng Tiền cho đến ngày nay, chùa Diệu Ðế ở đông ngạn sông Ðông Ba, Thiên Mụ..... các di tích dù bị tàn phá bởi chiến tranh, thiên tai được trùng tu, những địa danh gắn liền với lịch sử, và phong tục.
Văn Thánh trồng thông
Võ Thánh trồng bàng
Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u. (1)
Ðông Ba , Gia Hội hai Cầu
Ngó lên Diệu Ðế trống lầu gác chuông
Bến chợ Ðông Ba, tiếng gà eo óc
Bến chùa Thọ Lộc, tiếng trống sang canh
Giữa sông Hương giợn sóng khuynh thành
Theo tương truyền năm 1601 chúa Nguyễn Hoàng đến đây thấy phần đất thiên, cảnh đẹp, trước có sông sau là hồ, dựng nên chùa Thiên Mụ, mãi đến năm 1710 chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc chuông nặng 3285 cân ta, tiếng chuông ngân vọng ra xa, bên kia sông là làng Long Thọ Xương , có tiếng gà gáy ó o
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
Huế đẹp thơ mộng, từ Ðà nẳng ra trước khi đến Huế thấy núi Ngự Bình nhìn phía trước tròn nhưng sau hơi méo, cây cối không cao nhưng có nơi chim cu đứng gáy. Bến đò nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng, dưới cầu Gia Hội những chiếc đò nhỏ có mái cong.. Nếu khách bộ hành đi ngang qua đó sẽ được mời gọi. Muốn thưởng thức vẽ đẹp Hương giang, thuê thuyền đi trên sông, với gió mát, vẽ đẹp của thiên nhiên mây nước..đi vào thế giới yên tĩnh, tâm hồn thỏa mái nghe vọng lại tiếng hát cung đàn của ai đó ?
Thuyền ai lơ lửng trên sông,
Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền?
Ðể ta kết ngãi nối duyên
Trai anh hào gặp được thuyền quyên còn gì ?
Thuyền ai trôi trước cho em lướt tới cùng ,
Chiều đã về, trời đất mông lung,
Phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng đêm sương.
Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió
Niềm tâm sự ai thấu rõ cho mình
Ðoái nhìn sông Hương nước chảy thanh thanh
Sông bao nhiêu nước, dạ sầu bấy nhiêu !
Biến cố của Kinh thành Huế sau khi vua Tự Ðức(1829-1883) băng hà, để lại những rối ren trong nội bộ triều chính, (2) được nhắc lại qua cao dao :
Một nhà sinh được ba vuă3)
Vua còn, vua mất , vua thua chạy dài
Gẫm xem thế sự mà rầu
Ở giữa Ðồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi
Nhất giang lưỡng quốc nam phân thuyết
Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường (4)
Thực dân Pháp đô hộ, Triều đình Việt Nam mất hết uy quyền chỉ làm vì, thực quyền do thực dân và bọn tay sai cai trị, bóc lột tận xương tủy dân tộc. Các vua quan Việt Nam đều phẩn uất. Thành Thái bị phế, vua Hàm Nghi và Duy tân đều muốn khởi nghĩa dành lại độc lập, nhưng đều thất bại. (5)
Chiều chiều trên (trước) bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu , ai sầu, ai thảm ?
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông ?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông ?
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non!
Sông Hương chảy đến chợ Ðông Ba chia làm ba nhánh, không kể sông Ðông Ba chảy dọc theo phía Ðông hoàng thành về Bao Vinh, một nhánh chảy về Gia Hội chợ Dinh, Bãi Dâu , một nhánh chảy dọc theo thôn Vĩ Dạ xuống ngã Ba Sình. Ở giữa hai nhánh nầy là Cồn Hến. Một nhánh khác chảy về Chợ Cống có Ðập Ðá ngăn lại.
Thuyền từ Ðông Ba, thuyền qua Ðập Ðá
Thuyền về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình
Lờ đờ bóng ngả chênh chênh
Giọng hò xa vọng, nhắn tình nước non
Thời thế ngửa nghiêng, Huế đôi lúc trỡ nên u buồn trầm mặc, sầu muộn trong thời tao loạn. những biến đổi của cuộc đời, chỉ để lại cho con người giọt nước mắt thương đau !
Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự
Sầu vơi giọt lệ nước sông Hương
Nơi bến Trường Tiền có cây đa bóng mát,
Gần bến Bồ Ðề có bãi phẳng lì
Trời ơi ! sang giặc làm chi ?
Ðể quân Trấn Vũ phải ra đi cơ hàn !
Ðêm khuya một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng
Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ,
Tiếng kêu đàn nhạn trên áng Hoành Sơn
Một mình em ngồi giữa sông Hương,
Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe !
Nhiều sĩ phu không cộng tác với chính quyền thuộc địa, một lòng chống lại thực dân, nhưng không thiếu những người vì quyền lợi cá nhân làm tay sai cho giặc, để vinh thân phì gia
Ðất Thừa Thiên trai thanh gái lịch
Non xanh nước biếc, điện ngọc, đền rồng
Tháp bảy tầng, thánh miếu, chùa Ông
Trách ai hai dạ một lòng
Tham đồng bạc trắng phụ lòng dân đen !
Tình yêu với tổ quốc cũng như gia đình được truyền tụng, cao dao chứa đựng được lòng hiếu thảo của con cái đối cha mẹ ông bà.
Ðêm đêm khấn vái Phật ,Trời
Cầu xin cha mẹ sống đời với con
Vô chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành
Con gái lúc trưởng thành lập gia đình, theo chồng đi về một vùng trời nào xa xăm tận Quảng Nam... không quên nhìn mái nhà xưa thân yêu luyến tiếc tuổi thơ , xa gia đình theo quan niệm xưa" xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử"
Ra đi ngó trước ngó sau ,
Ngó nhà mấy cột , ngó cau mấy buồng.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều
Mỗi địa phương đều có những lời hát ru con, từ thành thị cho tới thôn quê có những nét giống nhau, nhưng âm hưởng tùy theo lời ru à ời ..kéo dài thanh thoát . Chúng ta đã được mẹ hiền, hát ru ngủ lúc còn bé nằm trong nôi, Những trưa hè thanh vắng trong thành nội, vọng lại tiếng hát ru con à ời kéo dài âm thanh như lời dặn dò
Mạ ơi ! chớ đánh con đau
Ðể con bắt ốc hái rau mẹ nhờ!
Ru con con thét cho muồi
Ðể mạ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam phổ, mua trầu chợ Dinh
Cá tôm mua tại chợ Sình
Triều Sơn bán nón, Bao Vinh bán đường
Con chim xanh xanh ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát đậu ngành dâu da
Cực lòng em chẳng nói ra,
Chờ trăng trăng lặng chờ hoa hoa tàn...
Nguồn an ủi của tuổi già được sống bên con cháu có lòng hiếu thảo. Chữ hiếu là căn bản đạo đức của văn hóa lâu đời. Người Việt rất thiết tha với mái ấm gia đình. Các món ăn ngon, dâng ba mẹ dùng như gạo vùng An Cựu nổi tiếng thơm ngon. Cha mẹ phải từ giả cõi đời nầy, theo định luật sinh tồn của tạo hóa. Phong tục thờ cúng tổ tiên tưởng nhớ ông bà. Trông lên bàn thờ nhang tàn đèn tắt, cảm thấy nỗi buồn lắng đọng
Ngó lên nhang tắt đèn lờ
Mẫu thân đâu vắng bàn thờ lạnh tanh !
Mẹ Già như chuối ba hương
Như xôi nếp luột (một), như đường mía lau
Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi
Gạo lúa de An Cựu mà nuôi mẹ già
Tình yêu là những rung động của hai tầng số tâm hồn gặp nhau, ca dao Huế cho tình ca đó len lỏi vào lòng, vượt thời gian tâm lý cũng như vật lý, tìm đến với tình yêu những phút giây đợi chờ, thương nhơ, hay giận hờn
Ðường vô xứ Huế loanh quanh,
Non sông nước biếc như tranh họa đồ
Thương anh, em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang (6)
Phá Tam giang ngày rày đã cạn,
Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm
Lời nguyện ước một lòng thủy chung, đá mòn theo thời gian xâm thực nhưng lòng người, tình yêu phải một lòng một dạ. Hạnh phúc không đánh đổi bằng tiền, không phải ở địa vị cao sang, hạnh phúc chính là ở chổ sống bên nhau, trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Khi nào cạn nước Ðồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai lời nguyền !
Tay bưng dĩa nuối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau !
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo,
Sông An Cựu nắng đục mưa trong,
Ðôi ta nguyện kết chữ đồng,
Ðá mòn sông cạn mà lòng thủy chung!
Dãy dọc tòa ngang, giàu sang có số,
Kim Long, Nam Phổ, nước đổ về Sình
Hai đứa mình gá nghĩa ba sinh,
Dẫu có mần răng đi nữa, hai đứa mình không thể bỏ nhau
Ðôi ta kết nghĩa vợ chồng
Ðá mòn, sông cạn mà lòng thủy chung !
Sông nước thiên nhiên, cô gái chèo đò duyên dáng mái tóc thề dưới chiếc nón bài thơ. Phong cảnh nhân tình như một bức tranh, đủ màu sắc, có sông hồ, có vườn, chùạ.trái cây ngọt ngào ..
Thuyền về Ðại Lược
Duyên ngược Kim Long
Ðây là chỗ rẽ của lòng
Mai kia rồi biết trên sông bến nào?
Hồ Tĩnh Tâm giàu sen bạch diệp
Ðất Hương Cần ngọt quít thơm cam
Ai về Cầu ngói Thanh Toàn
Cho anh về với một đòan cho vui.
Ai về Cầu ngói Dạ Lê,
Cho em về với thăm quê bên chồng.
Ðố ai biết rít mấy chân
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
Ðông Ba, Gia Hội hai cầu
Có chùa Diệu Ðế bốn lầu hai chuông.
Nhớ nhung nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, những ước mơ thầm kín thuyền tình cập bến yêu đương
Kim Long có gái mỹ miều,
Ta thương ta nhớ, ta liều ta đi!
Nước đầu cầu, khúc sâu khúc cạn,
Chèo qua Ngọc Trản, đến vạn Kim Long ;
Sương sa gió thổi lạnh lùng ;
Sóng xao trăng lặn , gợi lòng nhớ thương !
Nỗi xót xa khi tình yêu bị chia ly, buồn cuộc đời dâu bể, cảnh vật đổi thay mỗi người một phương trời vô định
Nước chảy xuôi , con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang
Thuyền em xuống bến Thuận An
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi !
Sen xa hồ, sen khô hồ cạn
Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng
Vàng trên tay rớt xuống không phiền,
Phiền người bội nghĩa biết mấy niên cho hết sầu!
Em nói với anh như rìu chém xuống đá,
Như rựa chém, xuống đất, như mật rót vào tai.
Răng chừ em lại nghe ai
Qua cầu nghiêng nón chạm vai không chào ?
Anh nói với em như rìu chém xuống đá
Như rạ chém, xuống đất, như mật rót vào tai.
Bây chừ anh lại nghe ai.
Bỏ em ở chốn non đoài thảm chưa ?
Chia tay nhưng vẫn mơ ngày hội ngộ, với số phận đẩy đưa trong bi thương và gợi cảm
Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp
Anh qua rồi xin kịp về sau
Kẻo mai tê bóng xế ngang cầu
Bạn còn thương bạn biết gửi sầu nơi mô mà tìm ?
Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi
Thà rằng không biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn
Tập tục ngàn xưa dựng sẳn bức từng "môn đăng hộ đối" một chướng ngại lớn lao viễn ảnh đen tối của ái tình !!. Quan niệm hôn nhân, cha mẹ đặt đâu còn ngồi đó, hôn nhân gượng ép, tình yêu đôi khi phải phó mặt cho định mệnh an bài.
Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong.
Ðôi ta như chỉ lộn vồng,
Nợ thì có nợ, vợ chồng không duyên !
Bởi vì mẹ thầy lánh đục tìm trong
Cho nên duyên chàng, phận thiếp cứ long đong mãi hoài !
Sự kỳ diệu của tạo hóa, màu nhiệm của định luật ràng buộc ái tình đưa đến hôn nhân , đàn bà cần các đức tính "công dung ngôn hạnh" nhưng không thể thiếu lòng chung thủy.
Ðôi ta kết nghĩa vợ chồng
Ðá mòn, sông cạn mà lòng thủy chung !
Ði đâu cho thiếp đi cùng
Ðói no thiếp chịu lạnh lùng có đôi !
Lên non em cũng lên theo
Xuống thuyền em cũng đắp đeo mạn thuyền !
Ca dao là kho tàng văn chương bình dân vô giá, đi vào chiều sâu tâm tình vừa như nhớ nhung, nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, gợi lại hình ảnh xa xưa thời thơ ấu, kỷ niệm khó quên. Bài tham khảo không tránh những thiếu sót nhưng nhắc lại ca dao, mong sưởi ấm tâm hồn trong những ngày xa quê hương!
Chim bay lưng trời mà còn có tổ
Cá lội giữa dòng vẫn có hố hang
Người đời đã có tổ-quốc giang-san
Tình thần ý chí phải nhịp nhàng với non sông
Munich cuối Hạ 2002
(1) Dưới thời vua Tự Ðức để lại chiến công hiển hách, quân Pháp từ Thuận An tiến về Kinh thành Huế, bị quân triều đình mai phục bất thình lình đổ trái mù u ra mặt đường,giặc Pháp bị bất ngờ đạp trên trái mù u té, phục quân đổ ra đánh chém, giặc Pháp thua chạy dài, các hàng cây mù u xanh tươi của Xã Tắc còn đó, gợi lại niềm tự hào dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược.
(2) Các đại thần như Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và Tôn Thất Thuyết (1835-1913) đã chuyên quyền, cách chức ngự sử Phan Ðình Phùng (1844-18959, và Ông Ích Khiêm. Trong bốn tháng kể từ ngày Tự Ðức mất triều đình phế lập ba vua. Vua Hàm Nghi trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp ngày 23.4.1885 thất bại bỏ Kinh thành và thảo hịch Cần Vương, bị bắt ngày 26.9.1888 đày sang Algérie
(3) (Kiên Thái Vương con thứ 26 vua Thiệu Trị có 5 trai hai gái, con đầu là vua Ðồng Khánh(1863-1888), con thứ ba là Kiến Phúc(1872-1943) mất, con thứ năm là Hàm Nghi (1872-1943)
(4) Ông Ích Khiêm (1840-1890) khảng khái ở trong ngục đã ngâm hai câu thơ trên, Sông Hương chia hai giòng nước, thì khó nói chuyện, một bên trong bên đục. Ngụ ý bờ bên kia là tòa Khâm xứ Pháp, bên nấy nầy thuộc Nam triều
Trong bốn tháng phế lập ba vua Dục Ðức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc
Hai chữ cuối của hai câu trên ám chỉ Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường
(5) Cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân (1900-1945) năm 1916 thất bại vua Duy Tân bị bắt ngày 6-5-1916 bị đày san đảo Réunion. Trần Cao Vân (1866-1916) và Thái Phiên(1882-1916) cùng nhiều người yêu nước tham gia phong trào đều bị tử hình tại pháp trường An Hòa gần Huế. trong dân gian còn ghi nhớ, bến Văn Lâu nơi gặp gỡ của vua Duy Tân giả đi câu che sự theo dỏi của mật thám Pháp, bàn việc đại sự khởi nghĩa chống Tây
(6) Truông là đồi cát có nhiều cây cối gọi là truông nhà Hồ địa danh Hồ Xá, Vĩnh Linh Quảng Trị thưở xa xưa nhiều toán cướp, cướp hành lý khách qua truông. Phá Tam Giang phá là hồ rộng lớn ở huyện Quảng Ðiền có 3 sông hợp lại Tả Giang,Trung giang, Hữu giang
Chú thích thêm về các thổ ngữ của người Huế Mẹ = mạ; ngó = nhìn ; ngủ muồi = ngủ cho ngon; đi mô = đi đâu; mai tê = mai kia , răng chừ = sao giờ; con rít = con rết; mần răng = làm sao; cái rạ = cái rựa..
Tài liệu Tham Khảo
Cố Ðô Huế Tác giả Thái Văn Kiểm
Việt Nam Sử lược T.giả Trần Trọng Kim
Kinh Thi Việt Nam
Cao dao www.cadaovn.eụtc
Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa.
Ai đứng trông vời mây nước đó,
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.
Tô Thùy Yên
Tôi trở về thăm Huế để làm lành với những trách cứ vẫn nặng lòng mình bao năm qua. Từ phố về, sông Hương trên mạn Kim Luông vẫn mượt mà dáng nguyên sơ như dòng sông chảy trong chiêm bao những đêm xa xứ. Chiếc đàn dương cầm trong ngôi nhà cổ kính duyên dáng như chiếc vòng đá xanh trên tay đứa cháu gái nhỏ. Tiếng đàn non nớt vọng ra đến cuối vườn im mát bóng dâu. Dòng nhạc cũ như giọt mưa đầu mùa hạ hắt lên cằn cỗi lòng tôi mùi hương nồng đất mẹ. Tôi nâng niu tập nhạc kẽ tay dày cộm mà tưởng nâng niu dòng kỷ niệm đời người. Phần đầu tập nhạc tôi chép vào những năm trung học. Cô em họ đã thu góp lại đóng thành tập và tiếp tục chép bài hát mới trong gần ba mươi năm qua. Phần việc đó giờ đây mẹ giao lại cho con gái mình. Nét chữ ở phần cuối tập nhạc cũng non nớt dễ thương như tiếng đàn vọng nhẹ trong gió thoảng.
Tôi đã ngồi lại trong chiều bên dòng sông tuổi nhỏ. Nghĩ về những thành phố, dòng sông đã đi qua. Mai một bể dâu. Giữa gió trời và dòng nhạc bàng bạc kỷ niệm có tiếng ve rang bên dòng sông lan xa lóng lánh vô thường. Có tiếng ru bên vườn ầu ơ cơn ngái ngủ. Có tôi nhỏ nhoi sâu lắng trong cõi ban sơ. Thời gian và không gian quyện vào nhau thành nỗi cô đơn kỳ diệu. Một hạnh phúc ứa lệ. Trong cơn thảng thốt vĩnh cửu, sự ra đi và quay về đã trở nên vô nghĩa. Chỉ còn lại dòng sông trôi qua đời. Tắm mát. Lớn lên. Ứa máu. Mệt nhoài. Những dòng sông nối liền nhau bởi số phận. Và tôi mãi loay hoay trên đó. Khóc cười.
Ngồi trên con đò dọc dõi mắt nhìn về phố, vai cầu cong như một khung sầu. Ở cuối tầm ngoái nhìn hụt hẫng dòng đời hơn ba mươi năm, tôi thấy tôi chậm bước qua cầu buổi chiều cuối cùng ở Huế. Hình ảnh người đi xiêu đổ trên triền dốc, cô đơn như một nét chấm phá oan khiên. Sự đứt đoạn của thân cầu là khoảng cách ray rứt, nỗi dự cảm lìa xa làm buồn cả một trời sông nước.
Ba mươi năm. Con đò tôi vừa qua khỏi Thương Bạc. Có đò ai vừa tách bến qua sông. Ðò dọc. Ðò ngang. Mây. Nước. Thấy nhau đó mà đã ba mươi năm sông dài. Ðầu sông. Cuối sông. Bao nhiêu con nước, mấy buổi triều dâng cho vừa đủ một tiêu tương? Có ai còn ai trong từng nỗi nhớ? Có mấy cuộc đời trôi cho vừa dòng chảy một thời gian? Tà áo em bay hồn nhiên buổi chiều qua phố, đắm say ánh mắt thuyền nâu. Bao nhiêu dòng sông bến nước lạ quen chúng ta đã đi qua, trôi nổi đắm chìm. Hỡi người bao năm cũ, hồn có còn nhuốm chút sầu riêng.
Tôi vẫn thường mơ về đôi cánh hạc vàng những đêm nằm mộng mị từ bên kia biển. Mơ về những ngày thật xưa trong ký ức. Hình như có một dòng sông chảy qua tuổi nhỏ, bờ nước lao xao ngờ ngợ chiêm bao. Dòng nước xanh Bến Ngự và mấy chiếc cầu trắng vắt qua sông. Chiều theo mẹ đi bộ ngược lên Phủ Cam. Trái thị vàng thơm mùi cổ tích dịu dàng. Nhìn những con đò nhỏ chèo ngược xuôi trên sông, tần ngần hỏi mẹ ngả nào thì ra tới biển. Ngã nớ về An Cựu, ngã ni thì về Ga rồi ra sông lớn, đi ngược lên Kim Long Thiên Mụ, xuôi về Ðập Ðá, Vỹ Dạ hay Bao Vinh rồi đi nữa đi nữa thì tới cửa Thuận... Tôi đã lặn hụp trên giòng sông đời, trôi xa khỏi vùng cửa biển êm đềm, lênh đênh trên từng vùng sông biển khắp cùng quê hương mà lòng thì mãi u hoài về một dòng sông nhỏ êm đềm dáng mẹ.
Tôi có nhiều kỷ niệm với Huế. Vui nhiều hơn buồn. Mấy năm cuối trung học gia đình trở về sinh sống ở Huế. Tôi ở lại Ðà Nẵng trọ học, thích thú nôn nao từng chuyến xe đi về qua ngọn Hải Vân vào những dịp nghỉ hè tết lễ. Nhà tôi ở gần Tòa Ðại Biểu, đầu đường Nguyễn Huệ, số ba. Nhà số một của một bà Tây khùng khùng điên điên thỉnh thoảng uống rượu say để ngực trần hát nghêu ngao. Johnny, mon amour... Phía bên tê đường là nơi kín cổng cao tường của một tiểu thư cổ cao như con gái trong tranh Trịnh Cung.
Tôi lớn lên theo mùa hè xứ Huế. Con gái đi tắm sông theo bầy, Bến Ngự áo đỏ Phủ Cam áo xanh, da trắng bến nước xanh, xôn xao bóng tre. Huế với những dòng họ vang bóng một thời. Kim Long, Nguyễn Cửu. Vỹ Dạ, Nguyễn Khoa. Cô bé Tôn Nữ đảm đang giúp mẹ trong quán nhỏ sân Ga. Ly chè đậu ngự ngọt lịm như môi.
Sau ngày thi Tú Tài, đạp xe qua Vạn Xuân nhờ người quen coi kết quả giùm. Ngôi nhà xưa kín đáo nằm giữa khu vườn trưa thiếu gió im cứng bóng lá dâu đồng lõa với sự khát khao ăm ắp mà âm thầm của người đàn bà lỡ thì. Cơn giật động bùng vỡ từ những phiếm mơ thân xác lâu đời đã chuyền qua tôi cơn sốt lạ lẫm ngờ nghệch thời mới lớn. May mà còn những đêm thanh thoát đi thuyền trên sông Hương. Tiếng hò Nam Ai từ phía thôn Nguyệt Biều quyện lẫn vào tiếng chuông Thiên Mụ rồi lan xa theo con sóng vàng hoang đường bóng trăng. May mà dọc bến sông đời tôi còn có những trang đài.
Bến Ngự những ngày cuối thu sáu chín. Căn phòng trọ cuối đường Trần thúc Nhẫn. Trăng sáng quá. Khu vườn đêm thơm lừng hương ngọc lan. Tôi nghe mình ngồi hát vu vơ.
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ.
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ.
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó.
Ðể hái cho người một đóa đẫm tương tư.
(Vũ Ðức Sao Biển)
Cám ơn bài hát của Hợi đã níu lại bước chân ai cuống quít... Chỉ để rồi tôi bỏ đó mà đi. Bỏ Huế mà đi. Ðành đoạn.
Từ lâu, tôi tưởng đã yên tâm làm người ra đi và bằng lòng giữ lại nỗi hồ nghi của những ngày tháng cũ trong lòng. Sự giãi bày tưởng đã không cần thiết. Và như thế, khoảng cách đã như một nung nấu làm ấm mãi những kỷ niệm đẹp. Có lẽ để được nhớ được nuối tiếc. Mãi mãi. Ðêm ngọc lan huyền diệu. Mắt thuyền ngời ánh trăng... Một buổi chiều mùa đông tàu neo trốn gió gần Thuận An. Phiên trực và chút phiền hà trong lòng đã khiến con đường mười mấy cây số về Huế trở thành truông phá quá xa. Nhìn bóng hàng dương rũ đầu phiền muộn che tầm mắt nhìn về phía Tam Giang, tôi mường tượng tới căn nhà nhỏ trong Thành Nội và bóng dáng ai đó mảnh mai.
Sóng biển và số phận đã xô giạt bèo bọt đời người vào kiếp sống lưu vong. Từ lâu lắm, bên trời luân lạc, bó thân trên đầu cõi tuyết vùng Trung Tây, tôi sống yên lặng chẳng muốn đi đâu. Bạn bè thì chỉ biết tin, thỉnh thoảng nghe tiếng mà chưa hề thấy mặt. Những đêm xa xứ, gã trung niên với mái đầu sương điểm vẫn thường dỗ dành giấc ngủ bằng ước ao được sống lại ngày vui buồn trên quê hương.
Những ngày mùa đông đi về trên chiếc cầu bắc qua sông lạnh cứng tuyết băng, tôi vẫn thường nhớ về dòng sông quê nhà. Dòng sông lưu lạc phù sa nặng nỗi niềm riêng của đá sỏi ngìn xưa. Con người nổi trôi trên dòng số phận với giấc mơ của đá. Dòng sông trôi đi cuốn theo cơn mơ bất tận kiếp người. Phải chăng chỉ có dòng sông mới hiểu thấu được sự trở mình của đất đá trong buổi hóa thân. Phải chăng chỉ có dòng sông mới nghe được tiếng khóc lặng lẽ, thấy được giọt lệ đã khô vì nắng gió đợi chờ. Và có lẽ cũng chỉ dòng sông mới thấu hiểu được nỗi buồn riêng của từng giọt nước mắt mặn xát hồn người.
Mặt trời đã lặn về phía đầu sông mơ hồ dáng núi. Tiếng đàn im bặt tự lúc nào mà tôi vẫn cơ hồ nghe đâu đó tiếng mình, tiếng bạn bè, từ những năm xưa. Con đường dẫn xuống bờ sông đầy xác lá khô. Tôi nghĩ tới sân cỏ mát, bước chân trần và tiếng hát lãng đãng sương khói trần gian. Nhìn đứa cháu gái nhỏ với tập nhạc trên tay, chân sáo tung tăng, tôi nghe lòng thật bình yên .
Chiếc đò nhỏ vừa cập bến bên tê sông. Hàng cau cao vút trong bóng chiều, mảnh mai mà cao ngạo. Tôi đang trở về với dòng sông của riêng mình.
(từ Mùa Trăng Ướt)
Tôi đâu có viết bài thơ nào nữa từ ngày ấy , cái ngày đã
qua tháng thứ 9 , đi đứng nặng nề , làm gì cũng phải thở
chút mới làm tiếp được . Hồi đó mỗi bài thơ đã có , ý
nghĩ cứ như suối mà trào ra , làm như tôi đã ấp ủ lâu lắm
rồi , đến lúc làm chữ nghĩa mới có dịp đứng thành hàng và
vào vần theo từng bài . Nên cái lúc làm không được nữa ,
buồn lắm , đôi lúc còn bực , tự hỏi mình hoài đến khi nào
mới viết lách lại được đây .
Bực hoài được gì đâu , tôi chỉ còn biết chấp nhận cái
giới hạn vì mệt mỏi quá mà chữ nghĩa đi đâu mất tiêu cho dù
buồn vẫn còn buồn .
Ngày vừa sinh xong, tôi vẫn tin là sẽ mau chóng trở lại với sở
thích của mình sau những giờ khắc chăm sóc cho con . Nhưng tôi
có ngờ đâu , tôi còn bận hơn lúc chưa sinh con nữa . Nhớ thơ
vô cùng , những lúc giữa đêm cho cháu ăn , tôi nghĩ đến thơ
và ráng nhào nặn bằng được vài dòng , vừa để tiêu khiển
cho mình , vừa là để dỗ cháụ
Mẹ ơi mẹ
Ði đâu đây
Ði ăn sữa
Sao mà nữa
Hả mẹ ơi ...
Tôi bật cười, trong khó khăn thơ ra đại vậy dó . Nghe mấy
câu đó mặt cháu cũng thư giãn hẳn , chắc là chỉ hiểu mỗi
chữ sữa vì nó là cái chính yếu của cháu lúc này , còn tôi tin
cháu chẳng hiểu mẹ muốn nói gì khi tới giờ ăn , cháu không
chịu dậy tôi phải đánh thức .
Tình yêu và những nỗi nhớ vụn vặt đời thường luôn là dề
tài muôn thuở của thơ văn . Lúc này tôi đang thầm cám ơn cuộc
đời đã cho tôi có cảm hứng cho một đề tài mới - tình mẹ
con . Tôi nhìn cháu , lòng hạnh phúc vô cùng .
Tôi vẫn nghĩ
những nụ cười bao giờ cũng giống nhau . Nhưng không , lúc này ,
lúc này đây , tôi đang cười những nụ cười chưa bao giờ tôi
có trong đời , những nụ cười chứa đựng hạnh phúc trọn vẹn
tôi chưa từng biết , nhưng thơ vẫn ở đẩu ở đâu , dù tôi
muốn lắm ....
Thôi thì không cần làm thơ cứ ráng nuôi cháu lớn lên rồi thì
thơ văn sẽ trở lại . Tôi đã tự an ủi mình như vậy .
Nhiều khi quá suy nghĩ đến văn thơ sau những giờ khắc chăm
sóc cho cháu , rồi trở lại chăm sóc , đôi khi tôi mang cảm giác
của người có lỗi vô cùng vì nếu toàn tâm vào cháu hơn có lẽ
cháu đã không bị như thế này hay thế nọ như ộc sữa , bị rash
... Vậy mà văn thơ cứ như cuốn tôi đi, nếu không có một
chút ghi lại cho mình trong một ngày hay vài câu thơ cho những kỷ
niệm giữa tôi và cháu thật đáng nhớ hôm nay , cuộc đời
ngày mai chắc sẽ tẻ lắm
Hôm nay con khoẻ lại rồi
Hết đau , hết sốt , mừng ôi là mừng
Nhìn con nước mắt mẹ rưng
Cười với mẹ nhé và đừng khóc , con ...
Có lẽ đó là những lúc vui , còn những lúc mêt. quá , trong
đầu tôi chỉ muốn làm sao chạy ra khỏi nhà mình . Tôi không dám
nói là bỏ nhà và bỏ cháu mà đi , nhưng nếu được vậy , có
lẽ tôi sẽ không cần ngăn mình hét lớn và bình tâm lại khi chưa
biết xử trí ra sao với bao nhiêu là kiểu khóc của cháu ...
Mấy bà chị tôi mách nước " Vỗ vào tả nó đó, nó chẳng đau
đâu mày sợ , có cái gì làm nó chú ý , nó hết khóc ngay " Ha ha
thay vì nói là đánh con , mấy bà chị tôi hay thiệt ...
Con đừng khóc nữa con ơi
Ðừng la , đừng hét , nghe lời mẹ ru
Trời thì chưa tới mùa Thu
Mùa Ðông xa lắm , mây mù chẳng qua
Mùa Hạ cũng kiếm đâu ra
Ðang mùa Xuân đẹp , ơi à ngủ ngoan ( nha con ) ....
Cũng cùng là tôi, nhưng trong một thiên chức mới , trong một
cuộc sống tôi chưa từng qua , thơ văn dang làm cho tôi lớn lên
và cuộc sống , cuộc sống như cũng đang dung dưỡng cho thơ văn
trong lòng tôi dạn dĩ hơn nhiều ...
Cuộc đời ơi , cảm ơn nhé .
Và từng ngày qua đi , dù bận rộn , tôi , dù không viết nhiều
như trước , tôi vẫn thấy mình giàu có vô cùng , trong suy nghĩ
, trong cảm giác và trong tâm tư với thơ văn và với cuộc dời
tôi đang có ...
5/02
Những chiếc lá thu vàng đã ngủ mê theo từng điệu nhạc của những tiếng mưa rơi ngoài hiên, làm em nhớ anh, nhớ anh quay quắt.
Cho một lần, em nhớ đến anh, cho một lần kỷ niệm của một tối nào, lần đầu tiên chúng ta đã tìm đến nhau, đêm ấy cũng là đêm mưa rơi, từng hạt mưa thấm ướt áo em và áo anh, cơn mưa tình ái ấy đã biến em thành chú mèo nhỏ thật ngoan ngoãn nằm gọn trong vòng tay của anh. Những nụ hôn ngọt ngào, thật nồng nàn đã làm toàn thân em run rẩy đến thẫn thờ để thấy rằng tình yêu đang lên ngôi ....Ôi !! thật tuyệt vời
Những bài tình ca thật êm đềm, cho em lãng quên trong vòng tay yêu thương và cũng để em cảm thấy mình thật hạnh phúc .... Ôi tình yêu ... một thứ tình chứa đựng một sức hút thật mãnh liệt mà loài người không ai có thể chối từ nó được ....và cũng để cho mọi người nhận thấy rằng, tình yêu là một thứ tình cần được sự yêu thương, chăm sóc, chia xẻ, tha thứ, hy sinh, nhẫn nhục và nhường nhịn nhau ...-Dã có biết bao nhiêu người, yêu nhiều ...và đau khổ cũng nhiều cũng chỉ vì 2 chữ " Tình Yêu " ...
Ngày lễ Tạ Ơn sắp đến, một lần nữa giao mùa cũng sắp tiễn đưa nàng thu về với bóng thời gian, em xin được một lần nói lời tạ ơn anh, tạ ơn tình yêu của anh đã dành cho em, đã tạo và mang lại những nhịp đập rộn rã , những u sầu nhung nhớ trong trái tim bé nhỏ rất tội nghiệp nàỵ
Giọt mưa rơi bên thềm,
Gợi nhớ kỷ niệm xưa
Em tìm bờ bến cũ,
Tình ơị...nói sao vừa
Chiều nay khi mưa về,
Ðếm bước giữa ngàn mây
Không lời tình nguyện ước ,
Tình ngủ mãi đêm nay
Em ngại ngùng lần bước,
Chở mộng theo ngàn mây
Hãy cùng em mơ lại ,
Chung bước đường hôm nay
Viết cho Tình Nhân
Cuối Thu 2002
Sức Khoẻ Là Vàng thân gửi đến quí vị, quí bạn bài viết
của BS Nguyễn Tường Vân, Canada, về siêu vi trùng West Nile
.
Bài được
viết với giọng văn đối thoại miền Nam rất vuị
BS Nguyễn Tường Vân là tác giả của sách y học "Chị Hai
ơi", xuất bản năm 1999.
BS Nguyễn Văn Ðức
Ban Sức Khỏe Cộng Ðồng
Hội Y Sĩ VN Tại Hoa Kỳ
www.vmausa.org
_____
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua
(Truyện Kiều)
Thôi chị Hai ơi, cái nóng oi bức của tháng Tám đã qua rồi,
sắp sửa vào Thu, thời tiết mát mẻ hơn, chị Hai hãy cất
nỗi sợ hãi con siêu-vi-trùng West Nile virus (WNV) đó đi cho
đến Hè sang năm... rồi tính tiếp!
Em hiểu, em hiểu chị Hai mà, chị Hai không sợ sao
được khi báo chí báo động về trận dịch viêm não do WNV
đã xảy ra ở New York City, rất gần Ontario, trong đó 62
người mắc bịnh, 59 người phải nằm bịnh viện và 7
người đã chết. Năm nay 2002, dịch WNV đã lan đến Louisiana
và Missouri, đã có 251 người bịnh và 11 người chết.
Rồi chị Hai lại nghe WNV đã vượt sông, vượt núi, vượt
biên sang đến Canadạ Năm 2001, WMV được tìm thấy trong xác
các con chim chết và trong con muỗi ở Ontario, Manitoba và
Quebec. Hè năm nay 2002, ở Ontario có 10 trường hợp nghi ngờ
WNV đang chờ xác định bởi phòng thí nghiệm, trong đó 5
trường hợp ở Nam Mississauga, 3 ở Halton, 1 ở Toronto và 1
ở Windsor. Ðầu tháng Tám năm 2002, một ông tài xế lái xe
hàng 51 tuổi, ở Burlington, gần Toronto, là người đầu
tiên ở Ontario được xác nhận mắc bịnh nhiễm WNV.
Bịnh nhiễm siêu-vi-trùng West Nile virus (WNV)
· Chị Hai à, chỉ có 1% những người nhiễm WNV có
thể bị dạng nặng nhứt là viêm não (encephalitis) với tử
vong cao 3-15%. Người bịnh bị sốt rất cao, nhức đầu kinh
khủng, cứng cổ, lơ mơ, lẫn lộn, hôn mệ Ðôi khi buồn
nôn, ói mửa, đau bụng, tiêu chảỵ Bịnh nặng thường xảy ra
ở người già, hoặc người bị giảm sức đề kháng như
người bị ung thư, liệt kháng (AIDS), tiểu đường, hoặc
mắc bịnh trầm kha, giống như trong bịnh cúm (flu) vậỵ
· Phần lớn, người bị nhiễm WNV không thấy triệu
chứng gì.
· 20% số người bị nhiễm có các triệu chứng như
sốt, nhức đầu, đau cổ, đau mình. Một số có thể nổi
các mẩn đỏ trong mình như nổi ban, hay có thể có sưng
hạch.
· Triệu chứng phát khởi 3 đến 15 ngày sau khi bị
muỗi có mang WNV cắn.
Bịnh dịch siêu-vi-trùng West Nile virus
Chị Hai à, năm 1937 là năm đầu tiên con siêu-vi-trùng WNV
được khám phá ra ở một phụ nữ Phi Châu bị sốt ở khu
vực phía Tây sông Nile, miền Tây Bắc xứ Ugandạ WNV có
nhiều ổ (endemic) tại Phi Châu, vùng sông Nile ở Ai Cập, Á
châu, Aán Ðộ, Nam Dương, Trung Ðông, Ðông Aâu, Nga Sô lâu
lâu làm bùng lên những trận dịch lẻ tẻ. Trận dịch viêm
não do WNV lần đầu tiên xảy ra ở Do Thái năm 1950. Các
trận dịch khác xảy ra ở Lỗ Ma Ni năm 1996 và Nga 1999.
Năm 1999, WNV vượt Ðại Tây Dương "di dân" vào Hoa kỳ và
gây trận dịch viêm não đầu tiên ở Bắc Mỹ tháng Tám năm
1999.
Cách truyền nhiễm siêu-vi-trùng WNV
Muỗi:
Loại muỗi sống bằng hút máu loài chim là thủ phạm chánh
trong việc truyền WNV. Muỗi Culex là nhiều nhứt, ngoài ra
còn có muỗi Aedes và Anopheles.
Ở xứ ôn đới, bịnh nhiễm WNV xảy ra vào cuối mùa Hè,
đầu mùa Thu, vì lúc ấy muỗi sinh hoạt mạnh nhứt. Kinh
nghiệm ở Hoa Kỳ trong ba năm qua cho thấy WNV chịu đựng
nổi mùa Ðông để sống còn và bành trướng vào mùa Hè.
Cho nên vùng địa lý có WNV đã lan ra khỏi New York City đến
Florida, Connecticut, Maryland, New Jersy, Pennsylvania và Georgia,
v.v... tăng lên từ 4 tiểu bang năm 1999 đến 26 tiểu bang
năm 2001.
Ở Canada, Ontario, Manitoba, Quebec đã tìm thấy WNV trong xác
chim chết. Người ta chưa chắc ông tài xế xe hàng 51 tuổi
ở Burlington, Ontario em nói ở trên bị nhiễm WNV lúc ông lái
xe qua Hoa Kỳ hay ở Ontariọ Ông chỉ bị cảm nhẹ và đã hoàn
toàn bình phục.
Ở các xứ nóng, bịnh xảy ra quanh năm.
Chim:
Có đến hơn 70 loại chim là nguồn dự trữ (reservoir) của
WNV. Ở Hoa Kỳ, con quạ là chánh. Năm 1999, trước khi dịch
viêm não do WNV xảy ra, ở New York City có 5,000 con quạ chết.
Nhân viên sở thú Bronx Zoo gần New York City cũng để ý
thấy số chim chết gia tăng.
Dựa vào cách chim bay về Nam trốn lạnh mùa Ðông, người ta
tiên đoán WNV sẽ lan tràn về vùng Mễ Tây Cơ, Trung Mỹ và
Nam Mỹ nữa đó chị Hai ơị
Người và thú vật:
Con muỗi cắn con chim có dự trữ WNV, WNV sẽ sinh sôi trong
máu con muỗi chừng 4 hôm, rồi tụ vào tuyến nước miếng
của con muỗị Khi con muỗi hút máu một nạn nhân khác, WNV
sẽ tràn vào cơ thể của nạn nhân đó, lần nầy thường là
người ta hay thú vật hơn là một loại chim khác. Thú vật
thường bị cắn là con ngựạ Các thú vật hoang khác như
sóc, skunks, racoon ít bị hơn, và thú vật nhà rất hiếm khi
bị.
Bịnh không thể truyền nhiễm thẳng giữa người và
người, nên người bịnh không cần cách ly, cũng như không
thể truyền thăúng từ chim có WNV vào người hay thú vật.
Phải có con muỗi ở giữa làm trung gian mới được chị Hai
à, giống như trong sự lan truyền của bịnh sốt rét, mà
Việt Nam mình là một ổ sốt rét quanh năm, phải có con
muổi Anopheles cắn.
Trị bịnh và phòng ngừa
KHÔNG CÓ THUỐC GÌ ÐỂ ÐẶC TRỊ WNV chị Hai à, không giống
như bịnh sốt rét chị Hai còn có Quinine, Chloroquine,
Mefloquine, v.v... để trị con ký sinh trùng Plasmodium đâu chị
Haị Như em nói ở trên, chỉ có chừng 1% người bị nhiễm
WNV là bị bịnh nặng viêm não, và đó là những người già
và người bị giảm sức đề kháng hoặc bị bịnh trầm khạ
Những người khác sẽ bị bịnh nhẹ như bị cảm, chỉ cần
điều trị nâng đỡ sức khỏe thôị
CHƯA CÓ THUỐC CHÍCH NGỪA WNV. Cho nên, cách đối phó tốt
nhứt đối với WNV LÀ TRÁNH MUỖI CẮN:
· Vô nhà khi trời sụp tối lúc muỗi hoạt động mạnh
nhứt.
· Bảo đảm các cửa lưới hữu hiệụ
· Tát khô hết các vũng nước ứ đọng quanh nhà,
trong hũ, chậu, bánh xe cũ, v.v... phế bỏ ngoài sân.
· Mặc quần áo dài tay, che phủ thân thể khi đi ra
ngoài trờị (Việc nầy chắc sẽ làm quí vị trẻ trung yêu
đời, thích ăn mặc "mát mẻ, tối thiểu" vào mùa Hè oi
bức thất vọng lắm há chị Hai).
· Xịt thuốc xịt muỗi vào người, phần để lộ ra
ngoài và cả trên quần áọ (Thuốc xịt muỗi loại permethrin
hoặc DEET 35%. DEET không nên dùng cho trẻ con dưới 2 tuổi,
và không nên xịt vào tay trẻ em vì sợ chúng dụi mắt).
· Báo động với y tế công cộng nếu thấy chim
chết bất thường hay gia tăng. Không nên tự mình bốc chim
chết, mặc dù nguy cơ bị nhiễm WNV trực tiếp từ xác chim
rất hiếm.
Chị Hai à, qua kinh nghiệm của các chiến dịch xịt muỗi
diệt trừ sốt rét của Cơ Quan Y Tế Thế Giới, giới thẩm
quyêàn đang lo ngại rằng đối phó với các bịnh do muỗi
truyền không giản dị như người ta tính lúc đầụ Hi vọng,
người ta sẽ thành công hơn vói WNV ở Bắc Mỹ, nơi có xứ
Hoa Kỳ giàu có há chị Haị
Chị Hai à, trời đã vào Thu, muỗi nó cũng đang lo trốn
lạnh. Mùa lạnh dài lê thê của Canada thiệt có lý quá cho WNV
đình chiến vói con ngườị Chị Hai hãy yên tâm mà... lo
bịnh mùa Ðông!
Tài liệu tham khảo:
1. Senay, Hélène: West Nile Virus: A global problem. The
Canadian Journal of CMẸ Jul. 2002. Vol.14, N.7
2. Chanda, Eva: West Nile Virus. What to watch for and how to
prevent infection. Parkhurst Exchang. Sept. 20002, Vol.10, N.9
3. Victor, Gary: West Nile Encephalitis. The Canadian Journal of
Diagnosis. Jun. 2002, Vol.19, N.6
(15 tháng 9, 20002)
Chương trình chiều thơ nhạc do nữ thi sĩ Ngọc An, một nhà thơ và là một người tình của cố thi sĩ Yên Bình Lê Xuân Hàm, đầu tàu cho việc tổ chức với một thành phần yểm trợ tinh thần là những khuôn mặt khá tên tuổi trong vườn hoa văn nghệ tại miền Bắc Cali như Nữ sĩ Trùng Quang- nhà thơ lão thành Hà Thượng Nhân- nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh Hội trưởng hội thơ Tài Tử Việt nam hải ngoại, nhà văn Diệu Tần và bà Lê Văn Cao hội trưởng hội Ái Hữu tương trợ Ðông Dương.
Chương trình còn được Ngọc An chuẩn bị khá chu đáo, với một thành phần bảo trợ tài chánh hùng hậu mà danh sách do chính Ngọc An công bố ở phần khai mạc lên đến 37 bảo trợ tài chánh. Chương trình được điều khiển bởi 2 MC "Song Ngọc"là Trần Ngọc và nữ ca sĩ Bích Ngọc. Bích Ngọc, một ca sĩ và là xướng ngôn viên khá quen thuộc trong cộng đồng mà ba năm trở lại đây người nữ ca sĩ này đã " phong đao quy ẩn" tuyệt tích giang hồ và việc xuất hiện trong chương trình lần nầy được xem là kỳ công của Ngọc An đã " bê" cô ca sĩ vốn là cựu nữ sinh trường Gia Long năm nào " xuống núi".
Sau phần nghi thưc khai mạc, chào cờ Mỹ, Việt và một phút mặc niệm, trong phần khai mạc nhà thơ Ngọc An đã trình bày :
" Kính thưa quý quan khách và quý thân hào nhân sĩ hiện diện trong buổi chiều thơ nhạc tưởng niệm cố thi sĩ Yên Bình- Lê xuân Hàm hôm nay :
Tôi xin thay mặt ban tổ choc kính gửi đến tất cả quý vị lời tri ân chân thành nhất của tôị Ban tổ chức chúng tôi rất cảm động đã được hân hạnh đón tiếp quý vị trong không khí thân tình và trang trọng này, đây là một vinh hạnh cho chúng tôi và là niềm an ủi vô cùng cho linh hồn người thi sĩ đã khuất…
Ban tổ chức chúng tôi rất đau lòng khi một người bạn tốt, chân tình và trung thực đã ra đi, chúng tôi không muốn mất hẵn anh trong cuộc sống nầy, chúng tôi không thể để tên tuổi và hình ảnh anh mai một với thời gian, chúng tôi đã thực hiện thi phẩm Ngàn Năm Mây Trắng trong đó gồm thơ của anh, hình ảnh của anh cùng CD Ta Gọi Tên Người như một kỷ vật quý báu mà anh đã để lại trần gian, lưu lại cùng nhân thế để chúng ta cùng nghĩ rằng anh không bao giờ mất, anh vẫn sống mãi với thi ca và sống mãi trong lòng chúng tạ Xin thay mặt ban tổ chức chân thành cảm ơn sự hiện diện quý báu của quý vị và xin cảm ơn tất cả những ân nhân đã bảo trợ đã ủng hộ chương trình được thành công hôm naỵ Trong buổi tổ chức này không thể tránh khỏi những sơ sót , kính mong quý vị lượng tình tha thứ chọ
Xin trân trọng kính chào quý vị…
" Yên Bình- một người có tâm hồn thi sĩ "
Trong phần cảm nghĩ, cây đa cổ thụ của vườn hoa văn học Thung Lũng Hoa Vàng, thi sĩ Hà Thượng Nhân trong giới hạn 5 phút mà ban tổ chức dành cho mình đã phát biểu :
" Theo ông, thì ông cùng một số nhà thơ khác được Ngọc An để tên trong thành phần ban tổ chức là một vinh dự. Thật ra, việc tổ chức hôm nay hoàn toàn do một mình Ngọc An đảm đương, ông chỉ đứng tên cho có tiếng vì tuổi già, sức yếu, không lái xe được nên cũng chẳng làm được gì cho xứng với cương vị ban tổ chức".
Kế tiếp nhà thơ nói cảm nghĩ cuả mình về nhân vật chính của chương trình, đó là nhà thơ quá cố Yên Bình- Lê Xuân Hàm . Theo thi sĩ lão thành Hà Thượng Nhân nhận xét thì" Người quá cố , thi sĩ Yên Bình là một người rất thích thơ văn, một người có tâm hồn thi sĩ" Thi sĩ người làng Hà Thượng kể lại trước khi lìa đời một ngày, một hôm Yên Bình mời ông và bác sĩ Ðặng Phương Trạch đi ăn. Hôm ấy Yên Bình có hỏi bác sĩ Trạch: " Tôi đang bệnh như thế này, anh là bác sĩ xem tôi có thể uống rượu được không?"Bác sĩ Trạch trả lời : "Uống được, nhưng uống ít thôi"
Thi sĩ Hà Thượng Nhân kể tiếp: Yên Bình không cho thế nào là ít hay nhiều cả và cho rằng cuộc sống này sống chết đều có số dù rằng vài trăm năm, 70 năm hay vài chục năm cũng có thế thôi…theo Yên Bình cuộc sống có lúc đến rồi cũng có lúc đi cho nên Yên Bình cho mọi chuyện trên đời đều là thường tình. Yên Bình có tâm tình với nhà thơ :" Em nghĩ, sống bao nhiêu cũng đủ cả, sống 100 tuổi vẫn chưa là đủ, ngược lại sống bốn mươi mấy tuổi cũng chưa hẵn là thiếu", Yên Bình theo nhà thơ Hà Thượng Nhân đã đề cập đến một nhân vật mà ông thường nhắc đến khi trò chuyện với anh em văn nghệ sĩ…Ðó là Vương Bột ở bên Tầu, mới 28 tuổi đã lìa đời, nhưng tiếng tăm Vương Bột mấy nghìn năm sau vẫn còn, bởi vì cái cuộc sống trên đời dài hay ngắn không là chuyện đáng kể…Có đáng kể chăng là trong cuộc sống đó chúng ta đã làm được gì cho chính bản thân ta, cho nhân quần, cho xã hội, cho dân tộc, cho đất nước…
Cựu chủ nhiệm nhật báo Tiền Tuyến cuả VNCH trước 1975 nói tiếp: Hôm nay, Ngọc An vì cái tình của hai người, tình giữa hai nhà thơ với nhau, tình giữa hai người khác phái yêu nhau đã tổ chức buổi ra mắt sách hôm nay mà theo nhà thơ đó là một việc làm rất có ý nghĩa và thành công, theo nhà thơ lão thành thì người ta thường nói ở cái thời đại này chỉ có " tiền" mà thôi chẳng có "tình"…nếu cuộc sống không có "tình"thì cuộc sống chẳng có gì đáng sống hết ! Cái tình ở Ngọc An, Thi sĩ Hà Thượng Nhân nói : đã sống vì tình, hứa với nhau, nghĩ về nhau, thương nhau thì phải có "tình". Theo ông sỡ dĩ Ngọc An thương Yên Bình ngoài tình cảm của một người nữ và người nam còn có cái tình giữa hai người làm thơ nữa…và cái tình ấy ông không biết diễn tả thế nào, nhưng người xưa nói rằng:" cả một đời có được một người tri kỷ thì chết cũng vui, như Bá Nha và Tử Kỳ…chẳng biết Ngọc An có xứng đáng là tri kỷ của Yên Bình không ?hay Yên Bình có xứng đáng là tri kỷ của Ngọc An không ? Nhưng cái tình đối với nhau như thế, như Ngọc An đối với Yên Bình, cũng đủ nói rằng chúng ta đang có một người thật sự sống trong cõi đời này đã xem chữ "tình" nặng hơn chữ "tiền".
Sau phần cảm tưởng của nhà thơ Hà Thượng Nhân, những người tham dự được nghe chính Yên Bình lúc còn sinh tiền đã ngâm một bài thơ của Tố Nguyên sáng tác mang tựa đề: " Chỉ là tro bụi" là bài số 1 trong CD Ta Gọi Tên Người bài thơ này do Ngọc An sưu tầm để đưa vào CD.
* Vài nét về Yên Bình
Tiếp tục, nhà văn Diệu Tần trong phần giới thiệu tác giả Yên Bình đã cho biết : nhà văn với nhà thơ quá cố trước năm 1975 ở cùng một binh chủng Công Binh và chung một đơn vị.Lúc bấy giờ nhà thơ quá cố là Trưởng Ban 4, nhà văn là Tiểu Ðoàn Phó và Tiểu Ðoàn Trưởng là Trung Tá Lê Văn Tâm cũng có mặt trong hội trường đã được nhà văn Diệu Tần giới thiệu, theo nhà văn Diệu Tần, nhà thơ sinh năm 1945 tại Hà Ðông, tên thật Lê Xuân Hàm, bút hiệu : Yên Bình - H. Xuân Lệ Viết văn làm thơ từ năm 17 tuổi, có thơ và truyện ngắn đăng trên các báo ở Sài Gòn từ năm 1962, tốt ngiệp khóa 19 Trừ Bị Thủ Ðức cùng một khóa với em ruột của nhà văn. Sau 1975 Yên Bình đi tù 6 năm. Tại hải ngoại có thơ đăng trên một số báo ở Hoa Kỳ, Công nhân hãng điện tử Solectron. Ðến Mỹ bằng diện HỌ Ðịnh cư tại San Jose từ năm 1994. Sở trường làm thơ tình cảm, yêu thích thi ca và biên khảọ Có thơ in chung :
- Một Phía Trời Thơ ( 3và 4)
- Cụm Hoa Tình Yêu ( 4,5,6,7,8)
- Tuyển tập Xuân Thu
Hội viên Thi Ðàn Lạc Việt San Jose
Hội viên Hội thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại
Mất ngày 17/09/2001 tại bệnh việ Óconnor sau cuộc mổ tim.
* Yên Bình - bí ẩn cần che dấu
Nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh đến từ Sacramento giới thiệu phần tác phẩm đã phát biểu :
" Tiểu sử nhà thơ Yên Bình được trình bày ngay trang đầu tập sách, tên thật Lê Xuân Hàm , và anh có thêm một bút hiệu khác : H. Xuân Lê, tôi nghĩ đây là tên thật của anh viết theo thứ tự đảo ngược, Lê Xuân Hàm thành Hàm Xuân Lê, nhưng chữ Hàm lại viết tắt H. hình như có một điều gì bí ẩn anh muốn che dấu người đời khi anh chọn một bút hiệu thứ hai, hay nói cách khác có thể vì một lý do nào đó, anh không muốn dùng bút hiệu cũ nữa và đã ký bút hiệu mới khi in những tác phẩm của anh trong các thi tập CHTY kể từ năm 2000. Có thể điều nầy đã mở một bước ngoặc trong khúc quanh đời sống tình cảm của anh. Anh muốn có một cuộc sống yên lành, bình thản…nhưng có lẽ sóng gió tình yêu đã làm anh chao đảo…tiếv thay, anh đã ra đi vào lứa tuổi 50 đang dạt dào sức sống !
Và tiếp : "Trời ơi…thật tình tôi muốn thay Yên Bình cất lên một tiếng than thấu tận trời cao…vào thơ với bài : " Xin Một Nụ Cười" rõ ràng Yên Bình đã nói lên cái thực trạng khao khát hạnh phúc của mình đến mức độ anh không còn dấu diếm được nữa, phải nghẹn ngào nói lên nỗi bức xúc trong lòng để tỉm một lối thoát cho sự tắt nghẽn tình cảm dìm anh đến chỗ tận cùng !"
* Tình yêu trong thơ Yên Bình
Theo nhà thơ Như Hoa, sống mà hông được yêu thì còn gì gọi là hạnh phúc và lạc thú trên đờị Một nụ hôn không tìm được, một nụ cười không ai cho, ước ao mà không được mãn nguyện ! Thôi thì…" kiếp này không được xin dành kiếp sau"tác giả đành ôm khối tình đơn phương nghìn thu đi vào cõi mộng…
Thơ Yên Bình phần lớn viết về tình yêu, tình yêu đơn phương, tình yêu ngang trái, yêu mà không được yêu, yêu mà không dám tỏ, đôi khi anh như kẻ hành khất cần được ban cho một chút ân sũng tình yêu của người đẹp để mà sống với đời…
* Xông xáo - mạnh dạn
Cuối cùng, theo nhà thơ Lê Quang Sinh: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu, đối với Yên Bình, tình yêu là sự chờ đợi, là sự khát khao khắc khoải, là ngang trái, là thất vọng, và là một cái gì đó anh không nắm bắt được trong tầm tay dù chỉ là một nụ hôn vội vã…hay một nụ cười thoáng qua, phải chăng vì anh rụt rè non dại lênh đênh mãi trên thuyền tình bể ái ? Không, rõ ràng Yên Bình rất xông xáo, mạnh dạn trong việc chinh phục người đẹp mà anh hết lòng yêu mến, Yên Bình khác Văn Cao yêu mà không dám tỏ, hay nói cách khác Văn Cao được yêu mà không dám nói rằng : " anh cũng yêu em". Có lẽ Văn Cao bản tính rụt rè e thẹn mang mặc cảm yếu kém trước nhan sắc kiều diễm của người đẹp nên không mở được lời đành âm thầm cất dấu mối tình kín đáo thơ mộng trong lòng…Trên tình trường dù có hăng say chiến đấu mâý đi nữa, ruốt cuộc Yên Bình cũng chẳng hơn gì Văn Cao, cũng chỉ là giấc mơ và chờ đợi…
Ðối với Yên Bình phải chăng tình yêu là một thú đau thương làm đẹp cuộc đời, nếu không có đau thương, Yên Bình đã không làm thơ, đau thương là chất xúc tác khiến anh sáng tạo nên những vần thơ cho anh và cho đời…bao nhiêu cuộc tình là bao nhiêu vết hằn để lại trong tim anh, đã nửa đời người với mái tóc điểm sương anh vẫn còn hăng say đi hành khất tình yêu, vẫn đợi chờ, vẫn ước mơ trong sự im lặng nghiệt ngã của tình đời…
* Ngọc An và Yên Bình
Là một người tình, dù tình cảm chỉ mới nhen nhúm chưa đầy bốn năm, và là một bạn thơ, nhà thơ nữ Ngọc An trong phần phát biểu với tư cách là tác giả của thi tập " Ngàn Năm Mây Trắng " nói :
- Ngọc An trân trọng kính chào quý vị trưởng thượng, quý quan khách, quý thân hào nhân sĩ, quý đoàn thể, quý truyền thông báo chí, quý văn thi hữu, thân hữu từ xa cũng như gần… Ngọc An xin thay mặt Yên Bình chào đón quý vị và chân thành cảm ơn quý vị đã nhín chút thì giờ quý báu đến với Yên Bình và Ngọc An hôm nay .
Ngọc An thật xúc động trước sự hiện diện đông đủ của quý vị, đó là niềm hân hạnh cho Ngọc An và an ủi vô cùng cho Yên Bình - Lê Xuân Hàm người đã nằm yên một giấc ngủ ngàn thu, bỏ lại Ngọc An, bỏ lại tất cả những chân tình xung quanh anh, giờ này hẵn anh đang ở nơi đây và đang mĩm cười mãn nguyện với tấm lòng của tất cả mọi người hướng về anh, dành cho anh và cầu nguyện cho anh…Xin cảm ơn nữ sĩ Trùng Quang, Cảm ơn thi sĩ Hà Thượng Nhân, thi sĩ Như Hoa Lê Quang Sinh, nhà văn Diệu Tần và chị Lê Văn Cao, chị Ngọc Bích, anh chị Nguyễn Hữu Nhân và Nguyễn Hữu Aùi cùng bạn thân Phương Thư đã yểm trợ tinh thần cho Ngọc An thật nhiềụxin cảm ơn quý mạnh thường quân, quý ân nhân và thi văn hữu, bạn hữu, đã bảo trợ đã ủng hộ và giúp đỡ Ngọc An mọi mặt, xin cảm ơn các đài truyền thông và báo chí đã phổ biến thiệp mời, cảm ơn các ca sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ đã đóng góp tích cực hoàn thành CD và chương trình hôm nay, xin cảm ơn quý thầy cô anh chị trường Châu Văn Tiếp, trường Ngô Quyền, quý vị cựu sĩ quan Công Binh, cựu sĩ quan trừ bị Thủ Ðức, quý quan khách, thân hữu từ xa xôi cũng như tại thung lũng hoa vàng đã nhiệt tình ủng hộ và đến với chương trình tưởng niệm nàỵ Ngọc An cũng không quên cảm ơn thật nồng nàn 2 MC anh Trần Ngọc và chị Bích Ngọc , nghệ sĩ đàn tranh Phương Thư, cảm ơn gia đình anh Lê Xuân Hàm đã đến tham dự và mong chiều nay là một chiều không quên trong lòng chúng ta…
Bây giờ, Ngọc An xin gửi tặng đến quý vị bài thơ vô cùng xúc cảm của thi sĩ Hà Thượng Nhân đã viết tặng Yên Bình - Lê Xuân Hàm trong thi phẩm : Ngàn Năm Mây Trắng, kính mời quý vị thưởng thức :
"Bỗng dưng lọt sổ đoạn trường
Ghé chơi trong cõi văn chương gọi là
Chẳng qua bởi lụy tài hoa
Ngọc An còn đó, vẫn là tri âm
Trăm năm cát bụi đã lầm
Ðọc thơ ai có đầm đầm lệ sa
Gửi đời một chút thi ca
Góp văn nhân thế cái ta Yên Bình
Gì hơn mấy chữ ân tình
Hồn ai xin hãy hiển linh chứng dùm…"
Phần chủ đề được diễn ra với Huyền Trân ngâm bài : Ta Gọi Tên Người , thơ của Ngọc An - Tuấn Thịnh với bản nhạc : Ngàn Năm Mây Trắng thơ Yên Bình - nhạc Lynh Phương, Ngọc Hiếu với bản nhạc Hồn Mộng, thơ Ngọc An - nhạc Hoàng Cầm , Lệ hằng với nhạc phẩm : Dĩ Vãng Chưa Phai Mờ thơ Ngọc An nhạc Hoàng Gia Thành, Mạnh Hùng người bạn thân của Yên Bình lúc còn sinh tiền trình bày bản nhạc : Tình Khúc Tiễn Biệt Nhạc và Lời Lynh Phương, Xướng ngôn viên Phương Thư với bài thơ : Ðối bóng Tình Nhân thơ Ngọc An , Nguyên Nhu với bản nhạc : Chung Ðời Trong Lạc Loài thơ Ngọc An nhạc Nguyên Nhu, Hạ Vân với nhạc phẩm : Giọt Nước Mắt Em thơ Ngọc An nhạc Lynh Phương và Ngô Sĩ Hùng với bài thơ : Ngàn Năm Mây Trắng thơ Yên Bình…
Trong phần nhạc tự do được đôi MC " Song Ngọc"Trần Ngọc và Bích Ngọc trình bày qua nhạc phẩm : Mùa Thu Mây Ngàn Bay, Thu Tâm với nhạc phẩm : Chiều Rơi Ðó Em , Andrew Hữu Ái với nhạc phẩm : Không Thể và Có Thể em trai của Ngọc An, Lệ Thu với nhạc phẩm : Cho Một Người Nằm Xuống, Duy Phong với nhạc phẩm : Tưởng Niệm, Diệu Linh với nhạc phẩm : Nửa Hồn Thương Ðau, Bạch Yến Thương Hà với nhạc phẩm : Chiếc Lá Cuối Cùng, Lệ Hằng với nhạc phẩm : Lời Tình Băng Giá và Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Tân kết thúc phần văn nghệ tự do với một bản nhạc do anh sáng tác…
Trong chương trình chúng tôi thấy có ông bà Lê Minh Nguyên đại diện Việt Nam Nhật Báo mang đến tặng thi sĩ Ngọc An một bình Hoa thật lớn và thật đẹp, Cô Kim Oanh văn phòng bảo hiểm Insurance lên sân khấu tặng Ngọc An bó hoa tươi thắm và cô Phụng Thiên đài phát thanh gửi đến tặng Ngọc An cũng một bình hoa thật rự rỡ…
Chương trình thơ nhạc Chiều Thu Tưởng Niệm được chấm dứt lúc 5:00 pm trong ngày, nhìn chung về tinh thần cũng như tài chánh, Chiều Thu Tưởng Niệm do Ngọc An tổ chức được xem như là thành công tốt đẹp. Phần văn nghệ khá dồi dào và phần đông mọi người đều ở lại đến phút chót. Phần văn nghệ tự do, mới nghe qua thì tưởng đi ngoài chủ đề Chiều Thu Tưởng Niệm , nhưng không, Ngọc An đã khéo sắp xếp ca sĩ và chọn những bài hát có nội dung sát với chủ đề qua các tác phẩm buồn, tiếc thương…Với một Nguyên Nhu khá quen thuộc, giọng ấm và trầm trầm trong bài : Chung Ðời Trong Lạc Loài gợi người nghe nghĩ tới Yên Bình, phải chăng cuộc đời 57 tuồi phù du kia cũng chỉ là Chung Ðời Trong lạc Loài…và lúc mọi người đang lặng im xúc động thì giọng ca dù rằng không phải là ca sĩ chuyên nghiệp của Andrew Hữu Ái cất lên với bản nhạc: Không Thể Và Có Thể, vang vọng trầm buồn gây tiếp xúc động lòng người nghe, không khí trong hội trường chùng hẵn xuống trong lặng im, bởi vì đâu có ai biết được kiếp người ra sao như trường hợp bất ngờ của nhà thơ quá cố Yên Bình, thật đúng là Không Thể Và Có Thể…
Còn nói về tình, như nhà thơ người làng Hà Thượng đã phát biểu về Ngọc An thì Ngọc An xứng đáng với những lời phát biểu này, xin hãy đọc những lời tâm sự của Ngọc An khi cô xuất bản tác phẩm Ngàn Năm Mây Trằng : " Cuộc đời là phù du, nhưng tâm linh là bất diệt, em vẫn ghi nhớ ngày chúng mình quen nhau ( 2/8/97) Hơn bốn năm rồi còn gì ? buồn vui trong tình cảm là chuyện thường tình, chúng ta vẫn giữ được trong tư duy niềm trân trọng thương yêu…Bây giờ, anh đã đi quá xa, anh đã về vùng cổ tích xưa, nhưng chắc chắn đã để lại bao thương tiếc ngậm ngùi trong lòng thân tộc, trong lòng bạn hữu và trong lòng em nỗi xót xa luyến tiếc khôn nguôi…"
Tính đến Chiều Thu Tưởng Niệm nhà thơ Yên Bình- Lê Xuân Hàm đã ra đi đúng 1 năm 12 ngàỵ Cả cuộc đời 57 tuổi và cả giờ phút đang đi vào cõi vô tận " chân không lấm đất, áo không đẫm mồ hôi" Yên Bình có thể không biết con đường viễn du của bản thân mình, của những bài thơ mình sáng tác ? Nhưng một điều chắc chắn, Yên Bình và các sáng tác của nhà thơ mãi mãi ở trong tim Ngọc An và sẽ ở trong tâm tư mọi người qua thi phẩm : "Ngàn Năm Mây Trắng" và CD : "Ta Gọi Tên Người "…
Chân thành cảm tạ
Ngọc An xin cóđôi lời kính gửi đến quý ân nhân, quý quan khách, quý thân hữu đã tham dự đông đảo đã bảo trợ và ủng hộ chương trình thơ nhạc chiều thu tưởng niệm Yên Bình - Lê Xuân Hàm.chiều 29/09/02 tại hí viện Le Petit Trianon .
Kính thưa quý vị : Một chiều đầu thu khí trời mát mẻ, vương màu sắc thơ văn, quý quan khách, quý ân nhân, bạn hữu đã bỏ thì giờ quý báu đến với Yên Bình và Ngọc An, phái đoàn xa xôi cùa nhà thơ Lê Quang Sinh, ký giả Tô Ngọc, anh chị Tống Diên, anh chị Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Tân, nhà thơ Huỳnh Mai Hoa đến từ Sacramento, phái đoàn Cựu Sĩ quan Thủ Ðức của anh Nguyễn Hào đến từ San Francisco, phái đoàn đại diện Công Binh Trung tá Lê văn Tâm nhà văn Diệu Tần, Ðại diện Văn thơ Bắc Cali Thi sĩ Hà Thượng Nhân , Thi sĩ Ngô Ðình Chương, ÔB nhà văn Thanh Thương Hoàng, Thi sĩ Hải Bằng - Thi Sĩ Dương huệ Anh -Thi sĩ Ðông Anh …, đại diện trường Ngô Quyền Ông Phan Phẩm , cô Hảo Bùi, đại diện trường Châu Văn Tiếp thầy Josef Viện Nguyễn và ông bà Hội trưởng Nguyễn Hữu Nhân Ðại diện hội đồng đại biểu ông Nguyễn Vạn Lý, ông Hoàng Uông Lễ,Ôâng Lại Ðức Hùng Ðại diện Liên Hội Bắc Cali, Hiền tài Nguyễn Thanh Liêm đại diện tòa thánh Tây Ninh, thiếu tướng Bùi Ðình Ðạm giám đốc Nha Ðộng Viên thời đệ nhị Cộng hoà, ông Lê Văn Bá chủ nhân Leé Sandwiches và đại diện Giáo Hôi Trung Ương Phật giáo Hòa Hảo , Ðại diện liên minh VNTự Do ông Nguyễn Hữu Lục , Ðại diện Cảnh sát Bắc Cali ông Lê Kiểu, ông Ðỗ Hữu Ích, đại diện thi văn Cội Nguồn thi sĩ Nguyên Phương, đại diện Hội Ái hữu tương trợ Ðông Dương bà Lê Văn Cao và rất nhiều thân hào nhân sĩ văn thi sĩ tại Bắc Cali cũng như các vùng lân cận …
Phần đông các cơ sở báo chí, truyền thông đã phổ biến và đã đến tham dự chiều thơ nhạc như : Việt nam Nhật báo, Việt Mercury, Tin Việt news, Cali Today, Sài gòn USA, VN tự Do, Ý Dân, Chánh Ðạo, Sống Mới, Tiếng Vang .., Ðài phát thanh Bolsa Radio nam Cali, đài Sài Gòn Radio 1500 Phương Thư, Ðài 1430 Mai Hân, Ðài 1430 Bảo Tố, đài tiếng nước tôi Mây Lan Thanh Tùng, Ðài phát thanh cộng đồng Huỳnh Hớn , Ðài phát thanh Hạ Vân, Chương trình phát thanh Hoàng Chương, Phụng Thiên và tất cả quý ân nhân bảo trợ, quý hội đoàn quý quan khách thân hữu tham dự đã ủng hộ nồng nhiệt …Ngọc An còn nhận được ba bình hoa tươi thắm từ ông bà Lê Minh Nguyên Ðại diện VNNB , Cô Kim Oanh và cô Phụng Thiên …tất cả những ân tình này Ngọc An xin nguyện khắc ghi .
Những thân hữu đã vì Yên Bình vì Ngọc An bỏ bao thời gian và vất vả cho chiều thơ nhạc thành công tốt đẹp
Những người bạn mà NA mang nặng ân tình nhất đó là nữ xướng ngôn viên truyền hình Viên Thao, nghệ sĩ Phương Thư, chị đã bỏ rất nhiều công phu trong chương trình của NA vừa qua, xin chân thành cảm ơn hệ thống truyền hình Viên Thao đã giúp cho chương trình chiều thơ nhạc phổ biến trên Tivi vào đêm thứ tư lúc 8:00- 8:30 Pm Cable 23A và lúc 9 giờ - 10Pm cùng đêm 2/10/02 . Xin cảm ơn ban nhạc The Loves của anh chị Công Thuận- Lệ Hằng - Duy Phong và MC Trần Ngọc, MC Bích Ngọc và còn nhiều lắm những ân tình của các vị trưởng thượng, ca sĩ, nghệ sĩ cùng thân hữu quay phim, chụp ảnh……
Nhân hôm nay mượn vài dòng trên báo ………………
Ngọc An xin gửi tấm lòng chân thành ghi ơn đến tất cả quý vị đã dành riêng cho Yên Bình - Ngọc An và cho chương trình thơ nhạc tưởng niệm chiều 29/09 vừa qua được mọi điều mãn nguyện.
Chân thành đa tạ và kính chúc tất cả quý vị cùng quý quyến một cuộc đời an lành và thịnh vượng.
Trân trọng kính chào quý vị
_____
Quán về tứ diệu đế
Bước kế tiếp, thực tập quán niệm về bốn sự thật cao quý.
- Khổ đế
Sự thật cao quý thứ nhất là khổ đế, tức sự khổ đau của con người: "khi sự kiện là đau khổ, hành giả quán niệm đây là đau khổ".
Tất cả những gì trên thế gian vô thường nầy đều là khổ. Mọi sự việc luôn biến dịch đổi dời - "sinh sinh chi vị dịch" (sinh ra sinh ra mãi nên gọi là biến dịch - kinh dịch). Không một hình tướng nào, một tưởng suy nào nằm nguyên một trạng thái ("vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản" là vậy - vạn vật đến chỗ cùng sẽ biến đổi, mọi vật đến điểm cuối sẽ quay lại). Ðó là chân lý biến dịch vô thường của vạn vật. Và bởi sự vô thường biến đổi luôn có mặt trên cuộc đời đã gây tạo biết bao đổi thay, từ sinh khởi, rồi biến thể, rồi hư hoại, do đó nên có sự đau khổ. Khi đã biến thể, đã hư hoại, tất phải tan biến với thời gian nên cuối cùng tất cả đều là không. Tất cả mọi sự thể đều không có tự tánh riêng biệt.
Khi nhìn sự việc, quán chiếu sự việc và cảm nhận sự việc là đau khổ, ta ý thức rõ ràng "đây là đau khổ". Sự đau khổ của con người kể cả tinh thần lẫn thể xác có tới 84.000 thứ phiền não, không thể nào nói hết cùng tận được. Từ lúc mới sinh ra, ngây dại cất tiếng khóc chào đời thì đó đã là khổ rồị Lớn lên, già yếu, bệnh tật, chết đi… tất cả đều là khổ. Người mình thương mà phải xa lìa cũng là khổ. Những mong cầu mơ ước không đạt được cũng là khổ. Kẻ oán thù mà phải sống chung cũng là khổ. Những khống chế buộc ràng gắn liền với thân xác ngũ uẩn đây cũng đều là khổ.
Những khi mắt chứng kiến sự kiện xảy ra trong cuộc đời, cảm nhận sự khổ của chính mình, ta tỉnh biết ghi nhận về điều đó và tập trung quán chiếu về sự khổ. Biết rằng "đây là đau khổ". Cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức. Thở vào, ta biết ta đang thở vàọ Thở ra, ta biết ta đang thở rạ Dùng hơi thở làm nền tảng để nuôi giữ sự tỉnh thức, để nhìn sâu vào sự kiện, để thấy rõ sự đau khổ và gốc nguồn của đau khổ.
- Tập đế
Chân lý cao cả thứ hai là tập đế, tức nguyên nhân của sự đau khổ: "khi sự kiện là nguyên nhân đưa đến đau khổ, hành giả quán niệm đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ".
Khi quán chiếu về sự khổ, ta nhìn thấy được nguyên nhân đưa đến sự đau khổ cho con ngườị Những ái dục tham mê, những oán hờn ganh ghét, những si mờ chấp ngã, những nghi oan ngờ vực, những ngã mạn cao ngạo, những ác kiến tà ý… Tất cả vậy đều là những nguyên nhân gây tạo nên sự đau khổ cho con ngườị
Ngay cả sự chấp dính buộc ràng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng cũng đều là những khổ đau dày xé tâm linh con ngườị Trong kinh phú lâu na, Phật đã thuyết: "mắt thấy sắc đuổi theo chấp chặt là đau khổ, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên pháp, tất cả chấp chặt đuổi theo đều là đau khổ".
Cũng như thân xác do tứ đại hợp thành, do duyên mà sinh khởi, hết duyên lại hoại tàn. Nhưng nếu ta cứ chấp chặt vào đó và cho thân xác là mãi của ta thì đó là u mê khổ ảị Cũng như cố chấp mà nhận lầm vọng tưởng là tâm ta, mãi sống với những nghĩ suy tham cuồng, gây tạo biết bao nghiệp chướng ưu phiền. Ðau khổ cũng bởi từ sự chấp chặt cuồng mê nơi thân tâm mãi mãi không thôi ("ấm giới sáu trần dậy, ách nạn nghiệp theo kề" - thiếu thất lục môn).
Khi cảm nhận sự khổ, hãy quán chiếu để nhìn thấy rõ nguyên nhân đã đưa đến sự đau khổ cho con ngườị Duy trì sự quán niệm trong hơi thở ý thức. Ta biết ta đang thở vàọ Ta biết ta đang thở rạ Ta chú tâm quán sát mọi gốc nguồn của sự kiện, để thấy rõ bản chất của đau khổ và nguyên nhân đã đưa đến đau khổ. Ta quán niệm "đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ".
- Diệt đế
Chân lý cao cả thứ ba là diệt đế, tức sự chấm dứt của đau khổ: "khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ, hành giả quán niệm đây là sự chấm dứt đau khổ".
Do bởi quán chiếu về đau khổ, ta nhận hiểu và thấy rõ gốc nguồn của đau khổ, nguyên nhân đã đưa đến sự đau khổ cho con ngườị Ngay đây, nếu bản thân nỗ lực tiêu trừ những tà kiến của sự chấp ngã thì tâm trí cũng sẽ vơi đi ít nhiều thống khổ.
Khi đau khổ đã thật sự chấm dứt thì con đường giải thoát là trước mắt. Ðiều đó được hiểu như một chân lý niết bàn tuyệt đối của tâm linh con ngườị Ðó là sự bình an và tự tại vô ngại của tâm thức.
Chúng ta, nếu như cứ mãi chấp chặt xác thân là của ta chơn thật, mãi đắm mê thân xác, mãi bám víu và tiếc thương thì ta vẫn mãi khổ đau phiền nãọ Sự bám víu vào thân xác cũng là gốc nguồn của sự sợ hãị Như trong đạo đức kinh - "ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân, cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn!" (ta sở dĩ có lo lớn là vì ta có thân, nếu ta không có thân, ta nào có lo). Hãy nhận thức rằng: Sống là sống trong cuộc đời, là sống với xác thân đây, nhưng tâm trí không bám chặt vào tham đắm, không quay cuồng trong bão gió lòng đờị Sống là để sống trong đờị Không nhàm chán sự sống. Không mê lụy sắc thân. Ðó là sống đúng với ý nghĩa của cuộc sống làm ngườị
Thân xác đây, theo duyên mà hình thành, hết duyên mà hư hủỵ Có đó rồi mất nó. Biết vậy, nên tâm đừng quá nuối tiếc khi phải mất thân. Ðây không những với cái nhìn về thân ta mà ngay cả cái nhìn của ta đối với người thân ta cũng thế. Kẻ sinh ra, kẻ mất đi, tất cả là đau khổ, diệt diệt sinh sinh vô cùng tận ("sanh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ" - sinh diệt biến thay đổi dời, hư giả cũng không có chủ thể - kinh bát đại nhân giác).
Do bởi nhận thức như vậy nên khi thân nầy sắp mất đi, ta không mấy não phiền hối tiếc. Hãy dửng dưng mà ra đị Hãy an nhiên mà trở về. Hãy thực tập quán niệm về sự sống và sự chết như thiền sư Mumon: "đời sống như cụm mây bay ngang đỉnh núi, sự chết như mặt trăng vượt biển khơi".
Khi người thân ta mất đi, ta biết ta đã mất thể xác người, đã mất tiếng nói và hành động của ngườị Và, bởi tình luyến ái, ta sầu bi, ta khổ ảị Ðó có sinh, đó có mất, cũng theo duyên mà tạo dựng, cũng tùy duyên mà hư hoạị Tất cả đều vô thường. Cuộc đời người khác nào như mộng ảo ("xử thế nhược đại mộng" - Lý Bạch).
Hãy nhìn cuộc đời bằng ánh mắt vô thường. Hãy vui với đời như hoa nở. Hãy đi vào cuộc đời như đang đi trong giấc mộng ("gá thân mộng, dạo cảnh mộng, mộng tan rồi, cười vỡ mộng" - thiền sư Thích Thanh Từ). Hãy nhận biết sự việc như vậỵ Những người thân ta rồi cũng sẽ ra đị Ta thản nhiên nhìn sự việc với con mắt hiểu và biết, không quá khổ đau sầu muộn. Trong kinh bát đại nhân giác, Phật đã thuyết - "thế gian vô thường, ngũ ấm vô ngã" (cuộc đời là vô thường, thân năm ấm cũng không có tự ngã riêng biệt). Hãy hằng luôn nhắn nhủ với chính mình: "người có đến và người sẽ ra đi, ta đã đến và rồi ta sẽ đi, há luống bận tâm chi những vô thường!"
Do bởi ý thức được sự vô thường của cuộc đời, khi những người thân của ta còn sống thì ta nên biết quý trọng những giây phút còn có mặt của người bên tạ Nếu lỡ ngày mai, khi người đã ra đi, thâm tình đã vỡ, thì hối tiếc chi chữ hiếu chưa kịp báo đền, chữ ân chưa kịp trả, tất cả còn lại là suối lệ sầu vương trong thương tiếc muộn màng.
Trong giai đoạn đầu tu tập, chúng ta đây vẫn là con người đầy ắp những ray rứt sầu tự Nếu như, những người thân của ta một mai ra đi, thân ta chắc cũng phải úa sầu hoen lệ. Nhưng bởi hiểu và biết gốc nguồn của ái dục si mê, rễ nguồn của đau khổ muôn đời, chúng ta có thể giảm bớt được ít nhiều mức độ sầu bị Ðược vậy thì mục đích hành thiền đây cũng đã gặt hái được ít nhiều lợi ích lắm thay! Hãy cố gắng tinh chuyên hành trì cho đến giây phút cuối cùng của cuộc sống thì định lực đã được tu bồi vững mạnh. Và rồi, khi sự việc đến, cứ thanh thản ra đi, cứ an nhiên trở về, như gió bay xa, như mây trở lạị
- Ðạo đế
Chân lý cuối cùng là đạo đế, tức con đường diệt khổ để giải thoát tâm linh: "khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, hành giả quán niệm đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ".
Khi nhìn thấy sự đau khổ, cảm nhận được sự đau khổ, ta nhận biết "đây là đau khổ". Quán chiếu về sự kiện để thấy rõ đâu là gốc nguồn của đau khổ. An trú tâm trong sự quán niệm "đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ". Và khi sự kiện là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, ta quán niệm và ghi nhận "đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ".
Ta an trú trong sự quán niệm "có bốn sự thật cao quý", như vậy đủ để giúp ta quán chiếu và ý thức được sự có mặt của các đối tượng của tâm thức.
Hãy nỗ lực tinh chuyên hành trì sống tỉnh thức trong từng mỗi phút giâỵ Cố gắng tinh tấn thọ trì kinh điển, thực tập thiền định, để chiếu soi bước đường trí tuệ, đem giới luật và yếu nghĩa kinh pháp áp dụng vào con đường tu tập cho bản thân.
Hãy thực tập sống tỉnh thức và sống với tâm nguyện: "nâng cao ngọn lửa hồng trí tuệ, để giải thoát cho tâm linh chính mình, và để cùng chiếu soi đến tất cả những ai đang cùng trên con thuyền trôi dạt hữu duyên".
Ðể khử trừ những chướng ngại của ái dục, sân, si, ngã mạn, ngông tàn… tất phải dùng đến phương tiện. Cho nên Ðức Phật đã đưa ra con đường bát chánh đạo, tức con đường trung đạo, với tám phạm trù cần yếu và chân chánh để giúp người hành giả nương dựa vào đó mà tu trì:
- chánh kiến (thấy biết chân chánh)
- chánh tư duy (nghĩ suy chân chánh)
- chánh ngữ (lời nói chân chánh)
- chánh nghiệp (hành động chân chánh)
- chánh mạng (sinh sống chân chánh)
- chánh tinh tiến (cố gắng chân chánh)
- chánh niệm (ý thức chân chánh)
- chánh định (tập trung chân chánh)
Tám phạm trù trên được chia thành ba nhóm là giới, định và huệ:
- giới (đạo đức) gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng
- định (tâm linh) gồm chánh tinh tiến, chánh niệm và chánh định
- huệ (tri thức) gồm chánh tư duy và chánh kiến
Nền tảng của bát chánh đạo là giới với 3 phạm trù căn bản về đạo đức (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng). Con đường nương dựa để tu tập chánh niệm và để thành tựu về chánh định là con đường tứ niệm xứ, tức bốn lãnh vực quán niệm.
Trên bước đường tu tập, yếu tố chánh tinh tiến là để trợ lực cho ta có một ý chí mạnh mẽ trong quá trình tu tập chánh niệm, từ đó mở rộng 2 phạm trù tri thức là chánh kiến và chánh tư duy, giúp ta ý thức được vai trò quan trọng của con đường giải thoát tâm linh. Khi yếu tố chánh niệm thành tựu, đưa đến sự phát sinh và thành tựu yếu tố chánh định, giúp ta vượt thắng những phiền não và đạt đến sự giải thoát cho tâm linh.
5. quả vị
Phần cuối của bài kinh, Ðức Phật đề cập đến quả vị chánh trí mà người hành giả có thể chứng đạt được ngay trong kiếp đời hiện tạị Thành quả đưa đến một cách tự nhiên không mong cầu từ công phu tu trì tinh tấn. Ðức Phật cũng nhấn mạnh về quả vị bất lai có thể chứng đạt được cho kiếp mai sau từ những dư báo của công phu tu tập thiền tứ niệm xứ.
Quả vị chánh trí (còn gọi là vô sinh hay bất sinh) là quả vị cao nhất trong tứ quả thanh văn, tức sự chứng đắc a la hán (viên mãn tuệ). Chữ a la hán có thể được hiểu là một bậc đạo sư xứng đáng được mọi người cúng dường và kính nể. Ðây là người đã thật sự trừ diệt được tất cả mọi não phiền trên cõi thế gian ta bà nầỵ
Quả vị "không còn trở lại" (bất lai) là quả vị thứ ba trong tứ quả thanh văn, còn được gọi là quả vị a na hàm (viên mãn định). Hành giả có thể đạt được quả vị nầy do từ những dư báo gặt hái được từ công phu hành trì tinh tấn. Ðạt được quả vị tu chứng a na hàm sẽ không còn phải trở lại nơi chốn trần gian nầy nữạ
Ðức Phật còn nhấn mạnh thêm rằng, không cần phải tu trì cho đến bảy năm mới có thể chứng đắc được quả vị bất sinh. Có thể chứng đạt được quả vị chánh trí a la hán trong thời gian tu luyện một hay hai năm, hay có thể ngắn hơn như hai tháng, một tháng, nửa tháng, một tuần.
Kết thúc buổi thuyết giảng về bốn lãnh vực quán niệm, Ðức Phật một lần nữa nhấn mạnh về mục đích và thành quả của công phu tu trì pháp quán tứ niệm xứ:
- thanh tịnh hoá thân tâm trước cuộc sống náo động
- vượt thắng những phiền não tâm linh
- diệt trừ những ưu tư sầu khổ trước cuộc đời
- đạt đến con đường chánh pháp của sự hiểu biết
- thể nhập niết bàn tâm linh ngay trên cõi đời nầy
Những thành quả đây được coi là những hoa trái đã gặt hái được do kết quả tu trì tinh tấn. Ðó là những gì thực hữu nhiệm mầu có thể chứng nghiệm được ngay trong giờ phút hiện tạị
Hãy tinh chuyên bền chí và vững tâm hành trì trong mọi phút giây của cuộc sống. Hãy tin tưởng vững mạnh sự hành trì bốn lãnh vực quán niệm sẽ đưa con người đến bến bờ giải thoát ngay trong kiếp đời nầy, chứng nghiệm được sự vô thường, khổ và vô ngã của năm uẩn, từ đó soi thấu rõ bản chất thật của cuộc đời, của con người, của vũ trụ.
Hãy ghi nhớ rằng, phương thức tu tập bốn lãnh vực quán niệm có thể được thực tập trong bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâụ Không nhất thiết chỉ phải thực tập trong những lúc tọa thiền. Cách thức tu trì dựa trên con đường giải thoát trung đạo, không tham đắm dục thú, không nhàm chán sự đời, không sợ hãi cuộc sống. Sống để sống. Sống và ý thức về sự sống trong từng mỗi phút giây thực tạị
Hãy nhất tâm tinh chuyên hành trì pháp quán niệm xứ một cách đúng đắn. Soi thấu bản chất vô thường của tất cả mọi sự vật. Trực nghiệm bản chất khổ của cuộc đời người, tánh vô ngã của ngũ uẩn tự thân. Chú tâm quán sát và ghi nhận mọi quá trình sinh khởi, tăng trưởng, suy giảm và hủy diệt của tất cả mọi hiện tượng liên hệ đến thân, thọ, tâm, pháp trong từng mỗi phút giâỵ
Cố gắng thực tập sống trong hành động hiện tại, ý thức tỉnh giác trong từng mỗi sát na của cuộc sống. Cảm nghiệm sự mầu nhiệm của phút giây tỉnh thức. Cố gắng tu dưỡng định lực và sự tỉnh thức, vượt thoát phần nào những phiền não tâm linh những chấp cứ buộc ràng của ngũ uẩn. Thực tập sống và sống an nhiên với đờị Hãy nhìn thẳng vào thực tại, đón chào thực tại với tất cả từ bi và khiêm tốn. Sống và thực tập sống với đời bằng nghệ thuật thức tỉnh của thiền học. Sống để sống và sống đúng ý nghĩa của cuộc sống làm ngườị
Hãy thực tập an nhiên thanh thoát sống. Sống cứ sống. Sống để mà sống. Tinh tấn tu tập và thường xuyên quán niệm về vô thường và buông xả. Thực tập sống tỉnh thức và thản nhiên đón chào cuộc đờị Với ý thức chánh niệm, nhìn cuộc trần đời như một bình minh sáng, như mây trắng nhìn trăng, như gió lặng nhìn trờị
Và, khi sự việc đến, hãy an nhiên ra đi, hãy thanh thản trở về - một sự trở về với miền xưa a lan nhã.
6. kinh bốn lãnh vực quán niệm
Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, Ðức Phật đang cư trú ở Kammasadamma, một khu phố của dân Kurụ Một hôm, Ngài gọi các vị chư tăng: "Nầy các thầy". Chư tăng đáp: "Thưa Ðức Thế Tôn". Ðức Phật nói: "Nầy các vị, đây là con đường duy nhất để thanh tịnh thân tâm, vượt thắng phiền não, diệt trừ ưu khổ, đạt tới chánh đạo và chứng nhập niết bàn - đó là con đường của bốn lãnh vực quán niệm".
Bốn lãnh vực quán niệm là những lãnh vực gì?
Nầy các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về thân thể, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đờị
Người ấy an trú trong sự quán niệm về cảm thọ nơi cảm thọ, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về cảm thọ, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đờị
Người ấy an trú trong sự quán niệm về tâm thức nơi tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đờị
Người ấy an trú trong sự quán niệm về đối tượng của tâm thức nơi đối tượng của tâm thức, tinh cần, ý thức rõ ràng và sáng suốt về đối tượng của tâm thức, xa lìa mọi tham đắm và ưu tư đối với cuộc đờị
Nầy các vị, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể như thế nàỏ
Người ấy tìm đến một khu rừng, tới một gốc cây, hay một nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ thân hình ngay thẳng và thiết lập sự quán niệm trên đối tượng thiền định. Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở vàọ Với ý thức rõ ràng và sáng suốt, người ấy thở rạ
Thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở vào một hơi thở dài". Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở ra một hơi thở dài".
Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở vào một hơi thở ngắn". Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở ra một hơi thở ngắn".
Người hành giả tự mình thực tập như sau:
Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vàọ Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở rạ
Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vàọ Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở rạ
Như người thợ tiện khéo tay hay người thợ học nghề, khi xoay một vòng dài, người ấy ý thức rằng: "ta đang xoay một vòng dài". Hay xoay một vòng ngắn, người ấy ý thức rằng: "ta đang xoay một vòng ngắn".
Cũng như người hành giả thở vào một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở vào một hơi thở dài". Thở ra một hơi thở dài, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở ra một hơi thở dài".
Thở vào một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở vào một hơi thở ngắn". Thở ra một hơi thở ngắn, người ấy ý thức rằng: "ta đang thở ra một hơi thở ngắn".
Người hành giả tự mình thực tập như sau:
Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở vàọ Với ý thức rõ ràng về toàn hơi thở, ta thở rạ
Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở vàọ Với ý thức rõ ràng về sự lắng dịu nơi hơi thở, ta thở rạ
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: "có thân thể đây", như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đờị Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Khi đi, người hành giả ý thức rằng: "ta đang đi". Khi đứng, người hành giả ý thức rằng: "ta đang đứng". Khi ngồi, người hành giả ý thức rằng: "ta đang ngồi". Khi nằm, người hành giả ý thức rằng: "ta đang nằm". Bất cứ thân thể đang ở trong tư thế nào, người hành giả cũng ý thức về tư thế đó.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: "có thân thể đây", như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đờị Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Khi đi tới hay đi lui, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi nhìn trước hay nhìn sau, cúi xuống hay đứng lên, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi mặc áo cà sa hay mang bình bát, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi ăn hay uống, nhai hay nếm, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi đại tiện hay tiểu tiện, người hành giả ý thức rõ ràng về việc đó. Khi đi hay đứng, nằm hay ngồi, ngủ hay thức, nói hay im lặng, người hành giả cũng ý thức rõ ràng về việc đó.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: "có thân thể đây", như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đờị Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Người hành giả quán niệm về chính thân thể nầy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể nầy: "tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước mủ, nước khớp xương, nước tiểu".
Nầy các vị, thí dụ có một cái bao đựng các loại ngũ cốc như gạo lức, gạo hẻo rằng, lúa, đậu xanh, đậu ngự, mè, gạo trắng. Hai đầu bao có thể mở ra được. Một người có mắt tốt khi mở bao ra, thấy rõ mọi loại hạt chứa đựng trong đó. Ðây là gạo lức, gạo hẻo rằng, lúa, đậu xanh, đậu ngự, mè, gạo trắng.
Cũng như thế, khi quán niệm về thân thể nầy, người hành giả thấy được mọi thứ, từ gót chân đến đỉnh đầu và từ đỉnh đầu xuống gót chân, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy các loại bất tịnh. Thuộc về thân thể nầy: "tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước bọt, nước mủ, nước khớp xương, nước tiểu".
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: "có thân thể đây", như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đờị Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Lại nữa, nầy các vị. Trong bất cứ tư thế nào của thân thể, người hành giả cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể nầy, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió. Như người đồ tể rành nghề hay người thợ học nghề, khi giết một con bò, ngồi giữa ngả tư và xẻ con bò ra thành nhiều phần. Người hành giả cũng vậy, trong bất cứ tư thế nào của thân thể, cũng quán niệm về những yếu tố cấu tạo thành thân thể. Trong thân thể nầy, có yếu tố đất, có yếu tố nước, có yếu tố lửa, có yếu tố gió.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: "có thân thể đây", như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đờị Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Lại nữa, nầy các vị. Như khi thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, đã được một ngày, hai ngày, hoặc ba ngày, sình trương, thâm tím và thối rữạ Người hành giả quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: "có thân thể đây", như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đờị Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Rồi như thấy một xác chết bị bỏ nơi bãi tha ma, bị quạ rỉa, bị diều hâu, kên kên và chó sói rừng gặm xé, bị dòi bọ rúc rỉạ Người hành giả quán niệm về thân thể đây cũng vậy, cũng sẽ trở thành như thế, không có cách nào tránh thoát.
Và như thế, người hành giả an trú trong sự quán niệm về thân thể nơi thân thể, hoặc bên trong, hoặc bên ngoài, hoặc bên trong và bên ngoài thân thể. Người ấy an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi, hoặc quá trình hủy diệt, hoặc quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt nơi thân thể. Hoặc người ấy quán niệm rằng: "có thân thể đây", như thế đủ để phát khởi sự quán chiếu và ý thức về thân thể. Người ấy không lệ thuộc vào bất cứ gì nơi tham đắm, cũng không bám víu vào bất cứ gì trong cuộc đờị Người hành giả quán niệm về thân thể nơi thân thể là như vậy, thưa các vị.
Tôi phải đợi một ngày có mưa, và phải là cơn mưa thật nhẹ, cơn mưa thật mỏng, mưa không đủ ướt áo, nhưng đủ uớt cho những hàng mi cong của đôi mắt đẹp, để bắt đầu cuộc phỏng vấn naỳ. Phạm Ngoc., một thi sĩ đã có những baì thơ trữ tình, óng muợt, một hồn thơ phong phú…Thơ Pham Ngọc đã đuợc nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc. Thơ và nhạc đã bay bổng, bay cao trong vòm trời của âm thanh cùng thi tứ. Ðã gây sự xúc động lớn nơi thính, độc giả
Nhiều bạn bè khi nghe CD "Nắng ngày xưa" đã tel hỏi tôi về Phạm Ngọc và xin gửi lời khen tặng tới anh. Hôm nay nhân buổi nói chuyện với nhà thơ, xin để Phạm Ngọc trả Lời những thắc mắc cuả thính , độc giả dùm tôi nhé.
HKL :.- Trước tiên xin anh sơ lược cho độc giả HQ biết chút ít về anh, như thân thế, việc làm, gia cảnh, thời gian định cư tại US
PN: -Tôi quê quán ở Thái Bình, Bắc Việt. Gia đình vào Nam năm 1954 và đến Hoa Kỳ từ năm 1975 sau một thời gian tạm cư tại Hồng Kông. Hiện tôi làm kỹ sư nghiên cứu cho một công ty sản xuất tia Laser và dụng cụ Y khoa tại Californiạ
HKL. Anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ, và do đâu anh bước vào lãnh vực này?
PN-:-Những ngày còn học trung học Nguyễn Trãi ở Sàigòn. Tôi có 2 người bạn thân học cùng lớp rất mê thơ, những lúc la cà ở các quán cà phê thường ngồi nói chuyện về thơ từ Nguyễn Ðình Thi đến Nguyễn Tất Nhiên, Nguyên Sạ.. Tôi nghĩ hai người bạn này ( đã mất tích trên đường vượt biên ) là 2 người đã đưa đẩy tôi đến với thơ. Cũng trong khoảng thời gian đó (năm học đệ Nhất ) tôi làm bài thơ đầu tiên đăng trên đặc san Xuân của trường. Thật ra lúc đó tôi mê Triết hơn thơ, thầy Triết của tôi là Nhà văn Huỳnh Phan Anh, tác giả rất nhiều truyện dịch cũng như sách Triết học và một tập khảo luận rất nổi tiếng : "Văn Chương, Khoảnh Khắc và Thời Gian". Ông thường đưa những sách Triết cho tôi đọc. Khi làm tờ báo cho trường, ông là Giáo sư cố vấn cho BBT. Ðọc qua bài thơ của tôi trên báo, ông khuyến khích tôi rất nhiều trong việc sáng tác
HKL:- Như đã biết , văn nghệ là thú chơi, hay nghề tay trái cuả anh, vậy anh có thể cho biết anh sáng tác thơ trong trường hợp nào ( vì bận rộn sinh kế) nguyên nhân? cảm hứng từ đâu? hư cấu hay dựa vào sự thật?
PN:--Ðúng như chị nói, tôi nghĩ chẳng có ai làm thơ professional cả, hầu hết là nghề tay trái Thơ chỉ là một môi trường cho tôi trang trải tâm sự, không phải chỉ tâm sự của riêng mình mà tâm sự của những người chung quanh mình. Thực cũng có, mà hư cấu cũng có. Theo tôi thơ viết từ những cảm xúc chân tình vẫn lôi cuốn người đọc hơn. Còn chị hỏi sáng tác lúc nào thì khó mà trả lời, vì thơ cũng như cảm xúc đến rất bất ngờ. Ðôi khi nhìn một bức tranh, nhìn một người thiếu nữ đẹp, duyên dáng, nhìn những bối cảnh chung quanh cũng có thể gợi ý cho tôi sáng tác.
HKL-Trong những cuốn thơ đã xuất bản, cuốn nào anh ưng ý nhất, và xin anh nói chút ít về cuốn thơ đó .
PN:--Tôi góp mặt trong vài Tuyển tập thơ tại hải ngoại, cùng in chung 2 tập thơ với những người bạn rất thân. Tập thơ "Vùng Ký Ức" tôi in chung với nhà thơ Nam Giao, "Nơi Tình Yêu Ẩn Náu" cùng Nguyễn Thị Khánh Minh, Mỹ Ngọc và Nguyễn Ðức Cường, đây là những người bạn cũ quen biết nhau từ những ngày còn học đại học in chung với nhau tập thơ làm kỷ niệm sau khi gặp lại nhau tại hải ngoạị
Tập thơ "Nỗi Ðam Mê Muộm Màng" (HAT 1997) và "Tình Cờ" (Văn Tuyển 2000) là 2 tập thơ riêng của tôi . Chị hỏi ưng ý với tập thơ nào thì thật ra khó trả lời vì mỗi tập thơ dù in chung hay in riêng đều đánh dấu một giai đoạn trong cuộc đời mình, và tôi chưa bao giờ ưng ý với thơ của mình, ngay cả những bài thơ tôi vừa viết hôm quạ
HKL:-. Anh đã có bao nhiêu tác phẩm trình làng? và dự tính gì trong tương laỉ xuất bản thêm sách hay nghiêng về CD nhac.?
PN:--Như đã trả lời cùng chị ở trên về những tác phẩm mà Văn Tuyển đã xuất bản và Tuyển tập thơ "Lục Bát Tình" cùng nhiều tác gỉa còn trong thời kỳ sơ khaị. Hiện tại tôi chưa có một ý định gì, hy vọng trong tương lai khi thời gian cho phép tôi sẽ tái bản Văn Tuyển. Về CD nhạc thì ngoài 2 CD tôi đã hoàn thành tôi đang thực hiện CD thứ 3 mang tựa đề "Tự Tình", sẽ hoàn thành vào mùa Xuân 2002.
HKL: . Ở những cuốn đã xuất bản, lời thơ thật nhẹ nhàng, thật đẹp, nhưng qua mấy bài dạ khúc, tôi thấy lời thơ đã khác lạ hẳn, bạo hơn,...anh đang chuyển hướng đi?
PN:--Cảm tạ lời khen của chị. Tôi nghĩ thơ mỗi người viết một sắc thái và người đọc có một nét cảm nhận riêng, những gì đọc nhẹ nhàng đối với một người có thể ngược lại đối với người đọc khác. Với tôi khi làm thơ được độc giả cảm nhận là một niềm vui riêng, đó là điều khuyến khích mình trong việc sáng tác.
Những bài Dạ Khúc hay Ðiệp Khúc tôi viết sau này nếu có thay đổi cũng chỉ là những thay đổi tự nhiên, cùng lúc tôi vẫn muốn đi tìm cho mình những gì mới lạ trong thợ Tôi vẫn thích đọc thơ của hai người bạn thân là nhà thơ Quan Dương và Nguyễn Thị Khánh Minh, có thể tôi thiên vị về bạn mình nhưng theo tôi thơ của họ dù dùng những ngôn rất thường nhưng ý tứ rất mới .
HKL: . Theo anh một nhà thơ phải đủ những điều kiện nào để có thể được gọi là thi sĩ, hay tự nhận mình là thi sĩ?
PN: -Thưa chị tôi không phải là thi sĩ nên không dám có những nhận xét về việc nàỵ. Tôi nghĩ người VN mình giầu tình cảm ai cũng là một nhà thơ cả, vì quê hương mình quá thơ mộng, bối cảnh chung quanh tạo nên thơ.
HKL: . Tôi đã nghe có người nói: " PN thở ra thơ" anh là người thứ hai được ban bè tặng cho cái biệt tài độc đáo đó. Có phải tại vì anh nhìn đâu, khiá cạnh naò cũng ra thơ ???
PN: -Chị đừng nói vậy tội chết. Ðó chỉ là những lời đùa giỡn của bạn bè. Chắc tại tính tôi nhạy cảm nên khi chạm phải những cảm xúc nhẹ nhàng cũng nghĩ ra thơ, mà đâu phải ý nghĩ nào cũng hay đâu chị.
HKL: . Ðược biết anh có nhà xuất bản Văn Tuyển truớc đây, và vẫn hoạt động?
PN: -Thưa chị cách đây 3 năm tôi cùng vài thân hữu và Họa sĩ Huỳnh Ngọc Ðiệp thành lập nhà xuất bản và tạp chí Văn Tuyển. Tôi có cơ may quen biết nhiều bạn bè trong giới văn nghệ nên cũng muốn tạo ra một môi trường cho họ có dịp đăng tải bài vở cũng như in ấn sách báo của mình. Ðây là một việc làm bất vụ lợi vì khi còn ở Việt Nam gia đình tôi có nhà xuất bản Nhật Tân in ấn sách giáo khoa nên tôi cũng biết chút ít về việc nàỵ. Quá bận rộn với cơm áo hàng ngày nên sau hơn hai năm phát hành Tạp chí Văn Tuyển tạm đình bản. Trong thời gian này Văn Tuyển cũng đã xuất bản được một vài tập truyện và thơ như "Về Dưới Hiên Xưa" (thơ Song Vinh), "Khoảng Trời Riêng" (thơ Tường Vi), "Giữa Hai Mùa Gió" (truyện Nguyễn Thị Phong Dinh), "Mùa Ðông Hò Hẹn" (truyện Lê Thị Nhị) , "Thơ Nguyễn Ðức Bạt N gàn 1975-2000", "Viên Ðạn Cuối Cùng" (truyện Hoàng Ngọc Liên), "Tiếng Gọi" (thơ Phạm Ngọc Vinh), "Tình Cờ" (thơ PN), "Tuyển Tập Truyện Ngắn 14 Tác Giả", còn vài tác phẩm nữa mà tôi dự định sẽ xuất bản trong ngày gần đây khi thời gian cho phép, đặc biệt là Thi tập "Lục Bát Tình" mà tôi đã hoàn thành bản thảọ Những tác phẩm này đóng góp rất nhỏ nhoi nhưng là một kỷ niệm giữa tôi và thân tình bằng hữụ
HKL: . Thơ là tinh túy của chữ nghiã, nên kén độc giả, vì thế thơ khó bán hơn truyện, anh có ý kiến gì về điều này không? Nhất là khi mạng lưới hoàn cầu xuất hiện, người ta được đọc thơ trên mạng lưới, thích bài nào có thể in bài nấy . Ðiều này có ảnh huởng tai hại cho sự in thi phẩm cuả các thi sĩ ?
PN: -Thưa chị kỹ thuật vi tính tân tiến có những ưu điểm và khuyết điểm. Sống ở cái xã hội máy móc này, mọi người đều vội vã, thời gian giới hạn nên đôi khi đọc được một bài thơ hay một truyện ngắn trên NET là một điều tiện lợi . Nhưng có một điều đáng buồn là với những phương tiện hiện đại này sẽ mất đi cái thú ngồi đọc một tập thơ hay một tập truyện khi có thời gian và tủ sách tiếng Việt trong gia đình sẽ mỗi ngày một thưa thớt đi . Còn về việc xuất bản thơ cũng như tập truyện, tôi nghĩ ít có ai khi xuất bản sách của mình tại hải ngoại mong mình sẽ lấy lại được vốn, chỉ mong có dịp phổ biến những sáng tác của mình rộng rãi hơn mà thôị. Ngay cả điều này cũng khó khăn vì thơ rất khó tiêu thụ. Hầu hết các nhà thơ khi phát hành một thi tập cần phải tổ chức ra mắt sách của mình ở vài nơi để phổ biến. Việc này cũng tốn kém rất nhiều nếu không có sự ủng hộ và bảo trợ của các tư nhân cũng như hội đoàn. Cũng vì lý do này mà nhiều tập thơ không ai biết đến .
HKL: . Anh Ðàm Trung Phán, một giáo sư đại học bên Canada, có phê bình rằng: baì thơ "Ta" của Phạm Ngọc không còn là thơ nữa, mà là một triết lý về đời, xin anh cho biết ý kiến nhận xét đó có đúng và trong trường hợp nào ? tình cảnh nào ? để anh có thể viết lên tâm sự, ý tưởng tuyệt vời như thế ?
PN: -Như đã nói cùng chị mỗi người đọc có một nét cảm nhận về thơ khác nhau - Bài thơ "Ta" của tôi là một bài thơ rất tầm thường, có thể anh Ðàm Trung Phán nhìn thấy chút gì triết lý cũng chỉ là nhận xét riêng của anh mà thôi . Khi tôi viết bài này chị đọc kỹ sẽ thấy chẳng có gì là quan trọng hay triết lý cả. Chỉ là những nhận xét của tôi về chính bản thân mình mà thôị. Khi người đọc hay người nghe cảm nhận, nhìn thấy được chính mình trong đó là đã chia sẻ được chút tâm sự của tác giả.
HKL: . Nhiều thính giả đã tel nói chuyện rằng họ thâu bản "Ta", "Tình Bỗng Khói Sương", "Phiến Ðá", làm nhiều lần, lập đi lập lại để nghe cho đã, và càng nghe càng thấy thấm cái buồn của tư tưởng, và ý nghĩa . Thơ tình anh quả thật rất đẹp, và cũng thật buồn, hẳn " chuyện tình của thơ cũng phảng phất những nét đó chăng ?
PN: --Thưa chị, những bản nhạc phổ từ thơ của tôi, đặc biệt là những bài chị vừa nhắc qua mà nhiều người thích nghe đi nghe lại, chắc cũng chỉ tại vì họ lạ tai, vì chưa nghe nhiều lần mà thôi. Bài thơ , hay bản nhạc, có còn tồn tại hay không chỉ có thời gian mới trả lời được về vấn đề nàỵ
Còn chị nói thơ tình đẹp, thật ra có thơ tình nào "xấu" đâu chị. Nhìn lại những bài thơ tình đã được phổ nhạc như "Ngày Xưa Hoàng Thị", "Thà Như Giọt Mưa", "Tuổi Mười Ba"...và hàng ngàn bài khác nữa tôi thấy bài nào cũng đẹp cả. Và thơ tình "buồn" tôi nghĩ dễ đụng tim hơn thơ tình "vui" dù có nhiều bài thơ tình "vui" cũng rất hay
HKL: . Có nhạc sĩ đã nói là thơ anh rất dễ phổ nhạc, vì chính trong thơ đã đầy nhạc tính,lời thơ thật mượt và óng chuốt, hòa với nốt nhạc thật dễ dàng tự nhiên, mà không cần phải thay đổi chữ nghĩa khi phổ thành bản nhạc. Anh chủ ý viết như thế hay là một tình cờ?
PN: --Tôi không phải là nhạc sĩ, cùng chẳng biết một nốt nhạc nào nên xin dành câu trả lời này cho các nhạc sĩ. Chỉ qua thính giác của người nghe thì tôi nghĩ bản nhạc nào lời hát dễ nhớ, điệu nhạc dễ nghe thì dễ ngấm vào người thưởng thức hơn.
HKL: . Vâng, tôi cũng được biết, có những chữ hay câu, ở một bài thơ thì rất tuyệt, chữ bung phá, sôi mạnh trong ý tưởng diễn đạt, nhưng khi qua nhạc thì lại không ổn, không hợp nữa, bởi cấn lưỡi ca sĩ. Anh thấy điều đó có đúng ? vì ca sĩ khó hát?
PN: -Câu hỏi này cũng xin dành cho các nhạc sĩ cũng như người hòa âm và ca sĩ. Ngôn ngữ VN mình phong phú lắm tôi nghĩ những chữ "bung phá" như chị nói cũng có thể thay bằng chữ đồng nghĩa khi viết thành nhạc.
HKL:- Cơ duyên naò để thơ và nhạc đã thành hình và gửi đến thính giả anh có thể cho biết được không?
PN: -Chuyện này thì hơi dài dòng một chút, bài thơ đầu tiên của tôi được phổ nhạc là bài "Thương Nhớ Cố Ðô" (1976), nhạc sĩ Võ Tá Hân người viết bản nhạc này và thu thanh trong CD thứ 12 của anh là đàn anh của tôi tại trường Trung học Nguyễn Trãi . Anh tình cờ đọc về tôi trong thi tập Cụm Hoa Tình Yêu và cảm hứng viết bản nhạc này vì 2 lý do là bài thơ viết về Huế (anh Hân
sinh quán ở Vỹ Dạ, Huế) và vì tôi cùng học Nguyễn Trãi với anh.
Cũng từ bản nhạc và CD này mà nhiều nhạc sĩ khác biết đến tôi như anh Lê Mộng Nguyên (tác giả Trăng Mờ Bên Suối), Trịnh Hưng (tác giả Tình Thắm Duyên Quê), Anh Việt Thanh (Tác giả Ðời Con Gái), cũng như các anh Phạm Anh Dũng, Hoàng Khai Nhan, Nguyễn Ðức Cường, Minh Sơn, Ðặng Tống, Nguyễn Hữu Tân, Cao Mặc Niệm, Hồ Hoàng Hạ, Mai Ðức Vinh, Ngọc Linh Trang, Lê Vũ, Nguyễn Linh Quang...và đa số các nhạc sĩ mà tôi có dịp quen biết sau này đều qua sự giới thiệu cũng như họ đã được thưởng thức giòng nhạc Võ Tá Hân.
Ngay cả nhạc sĩ Quốc Dũng (tác giả bài Mai) người phổ nhạc hai bài thơ "Ta" và "Thu Về Nơi Ðâu " của tôi, là bạn học cũ của anh Hân tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn. Anh Quốc Dũng cũng là người giúp tôi trong việc hòa âm 2 CD "Nắng Ngày Xưa" và "Thu Khúc Cho Người".
Với các nhạc sĩ này hai anh Phạm Anh Dũng và Mai Ðức Vinh là hai người cảm nhận được giòng nhạc trong thơ của tôi nhiều nhất, hình như bài nào tôi viết hai anh cũng có thể viết thành nhạc được, sau đó là đến nhạc sĩ Anh Việt Thanh ở Pháp. Tôi nghĩ 3 người nhạc sĩ này cùng mang một chút gì u ẩn trong tâm sự như tôi nên họ cảm nhận thơ của tôi rất dễ dàng, dù những bài thơ của tôi rất tầm thường.
HKL:- . Anh có bao giờ sáng tác trong cơn say hoặc sáng tác trong giấc mơ không?
PN: --Thưa chị cái này cao siêu quá, tôi lại chỉ uống rượu xã giao nên chưa bao giờ được diễm phúc làm thơ trong cơn say
HKL: . Baì thơ nào anh thấy rằng có thể diễn tả hay tiêu biểu đuợc về chính tác giả?
PN: -Nếu "thơ là người" như nhận định của mọi người, thì tôi nghĩ trong thơ của tôi đã ẩn hiện chính mình trong đó .
HKL: . Anh nghĩ sao về thế hệ trẻ với nền văn chương chữ Việt ở hải ngoaị ? PN có nghĩ rằng sau thế hệ cuả chúng ta mất đi, văn chương Việt sẽ phôi pha dần, vì lớp trẻ ở hải ngoạị nghiêng về ngôn ngữ nước người nhiều hơn, ngay cả lớp tuổi trẻ dưới 30 tuổi, họ cũng viết văn, làm thơ tiếng Mỹ nhiều hơn là làm thơ tiếng Việt....đợt nhỏ nữa, thì các em đọc được, hay nói được tiếng Việt thông thạo đã là một điều mừng lắm rồi , không thể ao ước xa hơn là họ viết đuợc văn xuôi, văn vần của lứa tuổi ngoài 20 hay dưới 20, như ở trong nuớc, anh thấy điều đó có đúng không ?
PN:--Nhìn lại văn học VN tại hải ngoại 25 năm qua tôi thấy những người viết trước 75, ít hay nhiều họ vẫn tiếp tục sáng tác và phát hành tác phẩm của họ tại hải ngoại . Ðó là một điều đáng qúy . Và không thiếu những ngòi bút trẻ sáng tác tại hải ngoại mặc dù trong khuôn khổ liên mạng, và một số đã bắt đầu xuất hiện trên các tạp chí văn học nghệ thuật tại hải ngoại đó cũng là một niềm vui và hy vọng sẽ còn nhiều ngòi bút khác cũng sẽ xuất hiện trên cả hai môi trường.
Còn vềâ việc sách báo tại hải ngoại theo nhận xét riêng của tôi thì ngoài những nhật báo xuất hiện khắp nơi trên các cộng đồng VN, các tạp chí văn học cũng không thiếu trong hơn ¼ thế kỷ qua, mặc dù việc phát hành một tạp chí rất tốn kém và mất nhiều thì giờ và hầu hết người viết chính là người nuôi sống tờ báo hơn là độc giả, dù sao đi nữa đó là một điều đáng khích lệ trong việc duy trì nền văn hóa VN tại hải ngoạị
HKL: . Anh có thể cho biết nguyên nhân nào, hay kỷ niệm nào, khiến PN đặt tên sách là : " Nắng Ngày Xưa" và cả CD nữa ?
PN: -Thưa chị, người bạn tôi là Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh có viết một bài thơ mang tên "Theo Mãi Bên Ðời " trong thi tập "Trăm Năm" của chị xuất bản năm 1991. Bài thơ này vẫn ám ảnh tôi từ lần đầu tiên chị KM đưa cho tôi đọc, xin phép chị đọc lại hai đoạn thật ngắn như sau:
"Vẫn theo mãi bên đời.
Chiều hạ vàng rực rỡ
Vẫn chìm trong hơi thở
Nét thơ buồn không nguôi
Vẫn vương mãi bên đời
Lời ca thơm sông núi
Vẫn về trong đêm tối
Nắng Ngày xưa yên vui ..."
Thật vậy trong mỗi chúng ta ai cũng mang một tâm sự như thế , "Nắng Ngày Xưa" bắt nguồn từ đó.
HKL: . Những nhà văn, nhà thơ trước 75, kể cả tiền chiến, anh thấy người nào ảnh hưởng đến đường lối sáng tác của PN nhiều nhất, và anh thích ai nhất? Tác giả ngoại quốc, Pham Ngọc thích đọc ai nhất, và tác phẩm nào Phạm Ngọc thích nhất.?
PN: -Như đã nói cùng chị trước 75 tôi đọc sách triết và truyện nhiều hơn đọc thơ, hầu hết những thơ đọc qua là từ sách giáo khoa những ngày còn đi học, và cũng như mọi người cùng lứa tuổi của tôi, ai cũng đọc Du Tử Lê, Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên...sau này tôi đặc biết rất thích thơ của Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Ðức Bạt Ngàn và Hải Phương.
Còn chị hỏi ảnh hưởng đường lối sáng tác của ai? thì thật ra người đã làm thơ nên tránh bị ảnh hưởng của người khác và phải đi tìm một hướng đi một sắc thái riêng cho mình. Nếu có, thì chắc tôi bị ảnh hưởng của bạn bè nhiều hơn.
Về sách ngoại quốc thì tôi chỉ thích đọc truyện của John Le Carre và John Grisham. Lúc này bận rộn quá cũng chẳng có thì giờ đọc, nhà văn Nguyễn Trung Hối có gửi tặng tôi vài tập thơ của tác giả Anh và Pháp nhưng chưa có dịp đọc quạ
HKL: . Ngoài bút hiệu Phạm Ngọc , anh còn có những bút hiệu naò khác? Và viết về thể loại gì?
PN: --Trước 75 tôi viết vài bài thơ dưới tên Từ Dung, sau này biết có người tên Từ Dung ở Pháp nên tôi không dùng tên này nữa và viết dưới tên Hà Anh Tú. Bây giờ thì chỉ dùng tên tộc của mình là Phạm Ngọc mà thôi, mà tôi nghĩ cái tên chẳng có gì quan trọng về vấn đề này cả .
HKL:.. Nghe nhiều người nói anh dịch nhiều thơ ra tiếng Anh, hay ngược laị, và đã có xuất bản một tập thơ song ngữ, xin anh cho biết thêm về tập thơ này ?
PN: -Thưa chị, ai đó tôi không nhớ đã nói "dịch là phản", việc này rất khó khăn. Tôi đọc nhiều bài thơ của bằng hữu rất hay nên dịch ra Anh ngữ để giới thiệu đến độïc giả người Mỹ đọc. Bài thơ tôi dịch qua Anh ngữ mà cho đến bây giờ tôi vẫn hài lòng là bài "Tặng Vật" (A Gift) của Nhà thơ Nguyễn Ðức Bạt Ngàn.
Tôi đã góp mặt và giúp edit hai tập thơ song ngữ là tập "The Silence of Yesterday" (Sự Im Lặng Của Ngày Hôm Qua) do Cội Nguồn xuất bản và thi tập "Flowers of Love" (Cụm Hoa Tình Yêu) do Hội Thơ Tài Tử xuất bản
HKL:- . Anh có muốn bày tỏ chút tâm tình riêng tư với các độc giả
PN: -Tôi xin phép chị cho tôi chép lại một đoạn "lời ngỏ" trong thi tập Tình Cờ của tôi:
" Thơ là một cuộc hành trình, tôi vẫn đi miệt mài dù biết có thể mình sẽ không bao giờ đến. Xin cảm ơn người cùng bằng hữu chân tình đã khơi nguồn cho thơ và đi cùng tôi trong cuộc hành trình ..."
Dứt điện thoại với nhà thơ xong, thì bên ngoaì trời cũng đang có những cơn mưa nhỏ. Tự dưng tôi có ý định muốn đi dầm mưa.. Không biết từ bao giờ tôi lây cái ý thích đi dầm duới mưa của một nguời thân quý ở xa, xa ghê lắm. Tôi muốn đuợc huởng cái lạnh se se nhẹ nhàng của những giây mưa bụi, những tơ nuớc trời thật nhẹ, thật mỏng, chỉ đủ làm tuơi thêm mầu sắc cuả vạn vật. Mùa này những hàng phuợng tím, hoa còn chưa búp nụ, nhưng mầu hoa nhung nhớ vẫn tím cả khung trời . Lời thơ và giòng nhạc trữ tình còn vẳng bên tai, mang tôi về với kỷ niệm chiều nao đi dưới những hàng cây Gum xanh bóng mát, bên con suối nhỏ nước nguồn…
"….Ta phiến đá buồn
Em cơn mưa nhỏ
Rơi từng giọt nhẹ
Gõ đời ta đau…"
Mưa vẫn còn giăng bụi nước ngoài không gian khi tôi đã khép cửa nhà. Ừ sao mà đúng:
" Em cơn mưa nhỏ
Gõ đời ta đau…"
Hương Kiều Loan
Nhận được tin thân phụ của bạn Vương Huyền, chủ nhiệm báo Hồn Quê đã thất lộc tại Việt Nam ngày 30 tháng 10 năm 2002 dương lịch.
Ban Biên Tập Giao Muà và thân hữu xin thành thật chia buồn cùng bạn Vương Huyền và gia đình. Xin kính chúc hương hồn bác sớm tiêu diêu miền cực lạc
Xin mời các bạn nghe nhạc: Xưa Em Là
Xưa Em Là
Thơ: Hoài Bảo Anh Thư
NHạc : Mai Ðức Vinh
Tiếng hát : Ngọc Tâm
Hoà âm và hát lại .
http://members.shaw.ca/dtang/xuaemla.mp3
Xin mời bạn đọc nghe nhạc
Thiền Ca Võ Tá Hân
http://honque.com/HQ018/ThienCaVTH.htm
Tình Khúc Võ Tá Hân
http://honque.com/HQ018/TinhKhucVTH.htm
Trường Ðinh
Cũng xin mời các bạn vào nghe băng Real Audio:
http://vota.com/nhac/web/motcoiriengmang-ra.htm
Nghe băng mp3:
http://vota.com/nhac/web/motcoiriengmang.htm
Bấm vào một trong 2 địa chỉ này là có thể xem và nghe bài nhạc cùng một lúc
Hương Kiều Loan
Xin mời bạn đọc ghé thăm trang nhà Phong Nguyễn (VNI-Times) :
Musician & Ethnomusicologist
http://phong-nguyen.com
Phong Nguyễn là Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên và duy nhất được Tổng Thống Bill Clinton (The White House) trao tặng giải thưởng danh dự "âm nhạc dân tộc Vietnam" (National Heritage Award).
Trường Ðinh
PS. set up VNI: Internet Explorer / Tools / Internet Options / Fonts / VNI-Times
Nhà thơ Ngô Thy Vân, cảm tác bài thơ nhân dịp cháu ngoại đầy tháng.
Ý Vân khoẻ mạnh sống lâu
Học hành khoa bảng, đứng đầu lớp nha !
Giúp đời, thảo kính mẹ cha
Tình duyên hạnh phúc, cả nhà yêu thương.
Dallas 15 - 10 - 02
Ngô Thy Vân
Xin mời bạn đọc tham dự cuộc thi viết hồi ký" Chuyện Kể Hành Trình Biển Ðông" với giải thưởng $ 3,000 do nghệ sĩ Ngụy Vũ khởi xướng. Ban Giám Khảo gồm các nhà văn, thơ như Du Tử Lê, v..v
Ngày chót nhận bài là 14 tháng 2 năm 2003
http://www.vietcatholic.net/vuthanhan/thihoiky.htm
truong dinh
http://VanNghe.net
Giao Mùa đdã nhận được tập thơ: "Ngàn Năm Mây Trắng" của nhà thơ Yên Bình và Ngọc An
và tuyển tập Thơ Văn: "Rừng Thu Xưa Vẫn Nhớ" của nhà thơ Ngọc An gửi tặng.
Sách do Hội Thơ tài tử Việt Nam xuất bản, không đề giá bán.
Xin trân trọng giới thiệu đến các bạn đọc của Giao Muà.
Giao Mùa đdã nhận được tập thơ "Dường Như Tôi Ngại Thốt Lời Yêu Em" do tác giả, nhà thơ Nguyễn Ðăng Tuấn gửi tặng.
Sách phát hành do nhà xuất bản Làng Văn năm 1999 và không đề giá bán.
Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả của Giao Mùạ
Mọi chi tiết xin liên lạc:
Nguyễn Ðăng Tuấn
TNguyen205@aol.com
Giao Mùa đdã nhận được tuyển tập thơ "Khoảng Cách Không Màu" do nhà thơ Nguyễn Ðăng Tuấn. gửi tặng.
Thi tập bao gồm thơ của 12 tác giả: Nguyễn Nam An, Tường Vi, Quan Dương, Phạm Chung, Tràm Cà Mau, Trần Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Tư Phương, Hoàng Vi Kha, Nam Giao, Thảo Chi, Nguyễn Ðăng Tuấn và Phạm Ngọc.
Sách phát hành do nhà xuất bản Văn Tuyển năm 2002 và không đề giá bán.
Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả của Giao Mùạ
Mọi chi tiết xin liên lạc:
Nguyễn Ðăng Tuấn
TNguyen205@aol.com
Giao Mùa đdã nhận được CD Nhạc " Ta Gọi Tên Người" của nhà thơ Yên Bình và Ngọc An do nhà thơ Ngọc An gửi tặng.
Xin trân trọng giới thiệu đến các bạn đọc của Giao Muà.
Thư tạm biệt bạn đọc xa gần,
Thưa các bạn đọc gần xa,
Trước đây trong dịp tình cờ, muốn tìm một hướng đi riêng biệt trong
giải đoán tử vi và cũng muốn phong phú hóa trong dường hướng giải
đoán tử vi, Thiên Ðức đã may mắn đến với các bạn trong mục giải
đáp tâm tình tử vi kể từ bài viết đầu tiên giải đoán "Vận mệnh
chế độ Cọng Sản hiện nay" trên báo Người Việt, sau đó lần lượt
đến Thời Luận, Rạng Ðông, Trẻ Magazin, Saigon Post, Việt Báo, Tập
San Thi Văn nay là Giao Mùa như là cái duyên trong tình yêu vậỵ
Trong suốt thời gian dài hàn huyên với bạn đọc, Thiên Ðức đã học
hỏi được nhiều điều ở các bạn và cũng có rất nhiều kỷ niệm với
bạn đọc khắp mọi miền của trái đất nhưng có chung niềm tin đó là
VẬN SỐ. Có bạn ở quê nhà ưu tư đến vận nước đặt câu hỏi hóa
giải phong thủy lăng Hồ Chí Minh. Có bạn ở Úc chấp nhận cảnh mẹ
góa con côi khó khăn lắm mới tìm được định hướng cuộc đời cho con.
Có bạn vùng bắc mỹ lạnh lẽo qua cái số sát phu thê có nên sưởi
ấm lại cuộc đời mình hay không. Có bạn vùng băng giá Bắc âu cũng
không ngại ngùng đến với Thiên Ðức để tìm một nghề nghiệp sinh
tồn trên vùng đấât thiếu ánh sáng mặt trời trong nhiều tháng. Và
cũng có bạn đã nén đau thương qua giòng nước mắt với vấn đề có
nên chia tay với kỷ niêm đau thương rứt ruột qua mấy chục năm hay
không? Và bạn đọc gần xa đủ mọi giai tầng trong xã hội nhưng cùng
niềm tin vận số đã tìm đến Thiên Ðức như là người bạn vong niên
với nhiều kỷ niệm của kẽ giả từ bụi phấn giang hồ đến trả lể
thầy bằng trái quít cúng cô hồn tháng bảy, hay là lời cảm ơn
chân thành của một vị giáo sư ở Nhật chẳng đặng đừng đi tìm
quyết định lập gia đình bằng lá bài định mệnh. Ôi! làm sao kể hết
những kỷ niệm thân thương này, và cũng khó diễn tả hết bằng lời
qua khả năng có hạn của người viết.
Thiên Ðức cũng ước mong giữ bền tình cảm này qua nghiệp giải đoán
tâm tình tử vi bạn đọc. Nói về Tâm thì nhiều thế nhưng lực đưa
đến ngoài ý muốn, vì công việc gia đình quá bận rộn, Thiên Ðức
không còn thời gian chăm sóc mục giải đoán tử vi nữa, đành phải
nói câu giả từ các bạn.
Thiên Ðức hy vọng ngày nào đó, cơ duyên
đến, Thiên Ðức trở lại với bạn đọc với nhiều gắn bó hơn nữạ
Trong thời gian phục vụ bạn đọc nếu có gì sai sót, hay va chạm
ngoài ý muốn với bạn đọc, cũng mong bạn đọc cho một lời hoan hỷ
tha thứ. Ðó chính là niềm hạnh phúc của Thiên Ðức vậỵ Lành thay!
Lành thay!
Thân chào tạm biệt bạn đọc với lời chúc vạn điều may mắn đến
với các bạn. Thiên Ðức
Giải Ðoán Tử Vi tháng 11 từ 1-11 đến 30-11-2001 tức là ngày 27-9 đến 26-10 năm Nhâm Ngọ
Tuổi TÝ:
Giáp Tý, 19t: Nam: Ðừng quá chạy theo tình cảm, hao tốn nhiều đấỵ Nữ: có cơ hội trau dồi năng khiếu của mình, tình cảm nhẹ nhàng.
Nhâm Tý, 31t: Nam: Biết nhường một bước thì thắng lợi tất cả tình và tiền. Nữ: có cơ hội phát triển tài năng như ý muốn.
Canh Tý, 43t: Nam: Cẩn thận lái xe, đừng quá lo âu trong công việc ảnh hưởng dn sức khỏẹ Nữ: Ði lại cẩn thận, coi chừng bị ticket.
Mậu Tý, 55t: Nam: Việc ấy dễ dàng thành công, có khách lạ đến thăm. Nữ: Gia đình có hỉ sự, đừng qua lo âu dễ sinh bịnh.
Bính Tý, 67t: Nam: Gặp lại bạn củ vui vẻ, cẩn thận dao kéọ Nữ: Hơi rối loạn tiêu hóa, tiệc vui cuối tuần.
Tuổi SỬU:
Ất Sửu, 18t: Nam: May mắn trong việc học, tin vui về thi cử. Nữ: Cơ hội đến rồi, nhưng nhớ đừng ăn hiếp người ta quá.
Quý Sửu, 30t: Nam: Cẩn thận lái xe tránh thưa kiện, tình cảm vui đến rồị Nữ: tin vui đến chậm, công việc thuận lợi lắm.
Tân Sửu, 42t: Nam: Việc ấy thành công rồi, mừng cho bạn. Nữ: Cẩn thận dao kéo, tiền bạc hơi kẹt trong tuần.
Kỷ Sửu, 54t: Nam: Tránh đi du lịch lúc này bất lợi, có bạn mang tin buồn tớị Nữ: Sum họp con cháu nhiều may mắn, đừng bận lòng về việc ấy nữạ
Ðinh Sửu, 66t: Nam: Còn nhiều khó khăn trong gia đình, nên từ từ giải quyết tránh nôn nóng thay đổi bất lợị Nữ: Chuẩn bị quà cho cháu, cẩn thận khi dùng dao kéo
Tuổi DẦN:
Giáp Dần, 29t: Nam: Ðừng sầu cô đơn nữa, chuẩn bị đón tin vui của bạn gáị Nữ: Cải vả bất lợi, bạn là người thắng cuộc tình rồi đấỵ
Nhâm Dần, 41t: Nam: Tài năng phát triển chậm, đành chờ cơ hội vậỵ Nữ: Ðừng quá tin người, để gánh sự âu lọ
Canh Dần, 53t: Nam: Chịu đấm ăn xôi, sẽ nắm được thế chủ động trong công việc. Nữ: Ðừng nóng vội, công việc hơi chậm.
Mậu Dần, 65t: Nam: Nhiều sáng kiến giải quyết công việc qua được khó khăn, có chuyện tình cảm bất ngờ. Nữ: Có cơ hội đi xa nhiều thuận lợi, dạ hội cuối tuần nhiều bất ngờ.
Tuổi MÃO:
Ất Mão, 28t: Nam: Công việc thuận lợi lắm có cơ hội phát triển công việc hay đi xạ Nữ: Tình yêu đến rồi, chúc mừng, nhưng nhớ gìn giử sức khỏe, chớ thức khuyạ
Quý Mão, 40t: Nam: phải dứt khoát trong công việc mới có được thắng lợị Nữ: Tình cảm tiến xa hơn được, chuyện buồn thoáng quạ
Tân Mão, 52t: Nam: Cần phòng bị kẻ xấu gây chuyện bực mình. Nữ: tránh đi xa một mình, bất lợi, có ai đó đang đợi chờ.
Kỷ Mão, 64t: Nam: Nhiều thuận lợi trong tính toán làm ăn. Chuyện riêng tư chưa giải quyết được. Nữ: Ðề phòng trộm cướp, có tin vui trể về giấy tờ thi cử.
Tuổi THÌN:
Bính Thìn, 27t: Nam: Tình cảm hơi trắc trở bước đầu, đừng vội chán nản. Nữ: Cẩn thận lái xe, dễ gây thương tích tay chân, tin vui cuối tuần.
Giáp Thìn, 39t: Nam: Ðào hoa là số nhưng khó tránh cảnh ghen tuông, coi chừng đụng độ. Nữ: Bớt ăn hiếp người ta một chút , vui vẻ tới liền.
Nhâm Thìn, 51t: Nam: Chuyện vui đến nhanh chóng, thuận lợi lắm. Nữ: trở ngại trong thi cử, hơi cảm sốt nhẹ cuối tuần.
Canh Thìn, 63t: Nam: Có tin vui về giấy tờ thi cử, may mắn về tài lộc. Nữ: Mọi sự khoan dung trong lúc này, đem lại nhiều êm ấm hạnh phúc gia đình.
Tuổi TỴ:
Ðinh Tỵ, 26t: Nam: Cẩn thận lái xe, thời cơ tới rồi nên tiến hành công việc. Nữ: Hơi hao tài, việc ấy thuận lợi lắm.
Ất Tỵ, 38t: Nam: Giữ gìn lời nói kẻo mất lòng bạn gây nhiều phiền hà. Nữ: Có cơ hội phát triển công việc, đừng đua giai nữạ
Quý Tỵ, 50t: Nam: Nhiều sáng kiến trong công việc, thuận lợi về tình cảm. Nữ: Có cơ hội vui chơi với bạn bè, nhưng cẩn thận bị ticket.
Tân Tỵ, 62t: Nam: Cẩn thận lái xe, vẩn còn phông độ lắm, tình yêu chưa nguội đâụ Nữ: Tin vui dồn đập, hết cô đơn rồị
Kỷ Tỵ, 74t: Nam: Con cháu có tin vui, cẩn thận về các chứng bệnh máu huyết. Nữ: Tin vui cuối tuần của con cháu, sức khỏe tốt.
Tuổi NGỌ:
Mậu Ngọ, 25t: Nam: May mắn trong tình yêu và học hành, có tin vuị Nữ: tình yêu phát triển nhanh chóng và may mắn.
Bính Ngọ, 37t: Nam: Tiền bạc vô dễ dàng, tuy có hao tài chút đỉnh. Nữ: Gia đình có chuyện buồn, công việc vẫn thuận lợị
Giáp Ngọ, 49t: Nam: nhẫn nại hơn nữa trong công việc, tiền bạc hơi chậm. Nữ: Cẩn thận trong ăn uống, khó tiêu, công việc thuận lợị
Nhâm Ngọ, 61t: Nam: nhận thư mời party, có cơ hội phát triển niềm vuị Nữ: chuẩn bị quà cho cháu, hơi bị nhứt đầu chóng mặt.
Canh Ngọ, 73t: Nam: các cháu đến quấy rầy ông nội rồi đó, đừng lo âu thái quá. Nữ: cháu tặng quà cho bà vui không?, đi chơi xa với các cháu cho vuị
Tuổi MÙI:
Kỷ Mùi, 24t: Nam: Cẩn nhẫn nại chờ thơi cơ thì hay hơn, có chuyện không vui trong tình cảm. Nữ: Hơi có chuyện hiểu lầm, đừng giận giai nữạ
Ðinh Mùi, 36t: Nam: Tình cảm trở ngại nhỏ, nhưng thành công. Nữ: Ðừng buồn lẻ loi nữa, chưa giải quyết dược, có tin vui về tiền bạc.
Ất Mùi, 48t: Nam: Việc giấy tờ tốt đẹp, có chuyện lo buồn trong gia đình. Nữ: Con cái đổ đạt, nhưng có thư nhà không vuị
Quý Mùi, 60t: Nam: Cẩn thận lời nói, có chuyện lôi thôi đấỵ Nữ: Con cháu quấy rầy, nên khoan dung hơn nữạ
Tân Mùi, 72t: Nam: con cháu báo tin vui, không còn cô độc nữạ Nữ: đừng giận hờn con cháu nữa, chuẩn bị nhận quà của cháu cưng của bà.
Tuổi THÂN:
Canh Thân, 23t: Nam: Công việc tiến triển hơi chậm, hao tài, coi chừng bị ticket. Nữ: Có chuyện hiểu lầm rồi đấy, đừng hờn mát nửạ
Mậu Thân, 35t: Nam: Càng đa tình lắm càng khổ đau nhiều, hơi buồn lẻ loị Nữ: Tiền bạc thoải mái, tình muộn chính là tình cuối vậỵ Bính Thân,
47t: Nam: Cẩn thận lời nói gây tranh chấp hao tốn. Nữ: Lái xe cẩn thận, hơi bị nhứt đầu chóng mặt.
Giáp Thân, 59t: Nam: Tiền bạc hơi chậm trể, thành công cuối tuần. Nữ: Cẩn thận bệnh máu huyết, gặp may đầu tuần.
Nhâm Thân, 71t: Nam: Nhận quà cuối tuần, họp may bạn bè có chuyện không maỵ Nữ: Cẩn thận đi lại, coi chừng trơn trợt, cháu đem tin vui cho bà.
Tuổi DẬU:
Tân Dậu, 22t: Nam: Ðụng độ rồi, cẩn thận tình cảm tan vở cả hai khó huề lắm. Nữ: Tránh đi chơi biển, hồ, chuyện tình cảm đến chậm.
Kỷ Dậu, 34t: Nam: Công việc hơi bị trở ngại nhỏ, dễ vượt quạ Nữ: Hảy thận trọng trong việc trả giá của tình yêụ
Ðinh Dậu, 46t: Nam: Ðừng quá ham vui với bạn bè mà bỏ lở công việc đang lên. Nữ: tránh nơi sông nước, tiền bạc thong thả nhưng hơi chậm.
Ất Dậu, 58t: Nam: Gia đình có hỉ sự, đừng tính toán nhiều bất lợị Nữ: Có tiền vô, may mắn lắm.
Quý Dậu, 70t: Nam: Công việc tiến hành tốt tuy hơi chậm. Nữ: Cơ may đến rồi, có người đang quan tâm đến mình.
Tuổi TUẤT:
Nhâm Tuất, 21t: Nam: Ăn uống cẩn thận tránh ngộ độc, tình cảm đến dễ dàng. Nữ: Nhẫn nại trong tình yêu sẽ nắm phần thắng lợị
Canh Tuất, 33t: Nam: Lời nói không mất tiền mua, nóng nảy làm chi để hư việc. Nữ: Tiền bạc thong thả vào cuối tuần, tránh đi sông, biển.
Mậu Tuất, 45t: Nam: Ðừng sầu cô đơn nữa, chuẩn bị đón tin vuị Nữ: Ðừng tính toán quá nhiều trong tình cảm mà bất lợị
BÍnh Tuất, 57t: Nam: Chưa có cơ hội thực hiện tài năng, nên chờ đợi thì hơn. Nữ: Cẩn thận khi dùng dao kéo, chuyện tình nhẹ nhàng.
Giáp Tuất, 69t: Nam: Cẩn thận về bệnh máu cao, việc làm thuận lợi có dính đàn bà. Nữ: Có thể tiến xa hơn nữa trong công việc, gặp bạn mới vui vẻ.
Tuổi HỢI:
Quý Hợi, 20t: Nam: Nỗi lo buồn qua rồi, không bao lâu nữa nhận được tin mừng. Nữ: Chớ vội đi xa, việc học thuận lợi mặc dù có chuyện buồn hao tốn.
Tân Hợi, 32t: Nam: Hào hao là số của mình nhưng tiền bạc dễ đội nón ra đị Nữ: Hãy chủ động công việc, có người giúp bạn thành công.
Kỷ Hợi, 44t: Nam: Công việc thất bại trong bước đầu, dừng vội nản chí. Nữ: Cờ tới tay rồi sao không phất, chúc may mắn.
Ðinh Hợi, 56t: Nam: Tình yêu của tuổi hoa râm cũng sôi nổi lắm, hạnh phúc thay! Nữ: Con cái có tin vui về thi cử, gặp may trong việc chửa bệnh.
Ất Hợi, 68t: Nam: Coi chừng bị ticket, công việc thuận lợi theo tính toán. Nữ: Việc giấy tờ chưa xong có trở ngại nhỏ, may mắn cuối tuần.
www.thienduc.com
Tử Vi THIÊN ÐỨC
www.thienduc.com
714-638-1866
Anh Thiên Ðức mến,
Em có một thắc mắc mà chưa giải tỏa được, là khi em đi xem tử vi
có người nói cung phu của em xấu, nên lập gia đình trể, mới có thể
tránh được xung khắc và đổ vở, thế nhưng hiện nay tình yêu đến
trước tuổi hy vọng nói trên, như vậy em có nên lập gia đình theo
tiểu hạn đào hoa của mình hay là phải chờ đợi qua vận hạn xấu của
mình?
Trả lời cô Lý Phúc Anh ở thành phố La Palma và các bạn ở diễn
đàn thienduc.com
Câu hỏi của các bạn đặt ra có hai phần để trả lờị Ðó là thời
gian lập gia đình theo lá số, duyên nợ theo tình yêu đến.
1)- Hạn lập gia đình: Theo khoa tử vi, việc lập gia đình là một biến
cố nhất thời làm đổi thay cả cuộc đời, vì thế để xét và giải
đoán về biến cố này, thường xét cung đại vận và tiểu vận, xác
tín nhất là các cung này tọa thủ trực chiếu hay hội chiếu cung phu
thê, và cung nhập hạn lập gia đình thông thường sẽ hiện diện các
sao Thiên Hỷ, Hỷ Thần, Ðào Hoa, Hồng Loan, Tứ Linh (Long, Phượng, Hổ
Cái), Nhật Nguyệt, Thanh Long, Song Haọ Nếu hôn nhân do mai mối bạn
bè giới thiệu thường có thêm Tả Hữu, Thai Tọạ Lập gia đình xa xứ
hay vợ chồng khác chủng tộc lại đi kèm theo Thiên Mã, Khốc Khách,
Tràng Sinh. Riêng vợ chồng đã chung sống với nhau rồi mới đi đến
hôn nhân thì hiếm khi không có sự hiện diện của các sao tình dục
như Thiên Riêu, Thai, Mộc Dục, Liêm Trinh, Tham Lang, Hoa Cáị Ngoài
ra hôn nhân xuất phát từ tai nạn ái tình như cưỡng hiếp hay người
hôn phối bất chính thường có thêm Phục binh, Thiên Không, Thiên
Tướng. Tóm lại khi giải đoán thời gian lập vợ chồng thì tính theo
cung tiểu hạn, nhưng xét nội dung của cuộc hôn nhân thì rất đa dạng
tiềm ẩn qua các sao phối hợp lạị Ðặc biệt trong trường hợp cung
phu thê quá xấu và cung tiểu hạn cũng hiện diện nhiều hung sát
tinh nhưng lại rơi vào trong hạn lập gia đình thường được giải đoán
kết quả hôn nhân khó bền vững, nếu xảy ra đúng trong thời gian
nàỵ Và thông thường theo kinh nghiệm của các bậc tiền bối tử vi
đã để lại lời khuyên nên lập gia đình theo sau đó từng chu kỳ 4
năm nếu tiểu hạn hội chiếu, trực chiếu sáu năm hay là từ 9 năm
đến một giáp nếu rơi vào trường hợp tọa thủ với hy vọng hóa giải
được vận hạn xấu của cung phu thệ Về phương diện lý thuyết là như
vậy thế nhưng cuộc đời không đơn thuần theo vận số ước mong, và con
tim thường có lý lẽ riêng mình, vì thế khi tình yêu đến màu hồng
hiện tại đẩy lùi màu sắc ảm đạm của lá số thì đương số có nên
vì tương lai mà bỏ đi hạnh phúc hiện tại trong tầm tay hay không? Ðó
chính là vấn đề duyên và nợ.
2)- Duyên nợ và tình yêu: Thật vậy, một người có số đào hoa
thường may mắn có nhiều cơ hội đưa đến để xây dựng tình yêu, và
tình yêu này có đưa đến hôn nhân vợ chồng hay không đó chính là
cái nợ. Một người có số đào hoa có nhiều tình yêu chưa hẳn đã là
điều may mắn, vì nếu người này không tỉnh táo trong vận số đào hoa
có thể đưa đến hậu quả xấu ảnh hưởng đến sự nghiệp và gia đình
đó chính là HỌA Ðào Hoạ Thế nhưng người không có số đào hoa chưa
hẳn là điều bất hạnh, thường khó khăn lắm mới tìm kiếm được một
mảnh tình vắt vai, và nếu có nợ với nhau lại thường có hạnh phúc
lâu dài ít khi xãy ra cảnh dĩa bay chén bay vì tình cảm ngoại lai đưa
vàọ Vì vậy một người có vận số đào hoa mà rơi phải cung phu thê
quá xấu thì không lo gì không có cơ hội để tìm kiếm tình yêu tốt
đẹp theo vận thời khả dỉ tránh được hậu quả xấu của cung phu thệ
Thế nhưng đối với người không có số đào hoa, cơ hội thường không
đến sớm trước vận hạn hôn nhân vì vậy phải khôn khéo, nắm bắt
cơ hội của mình đó chính là yếu tố nhân mệnh trong hôn nhân vậỵ
Tóm lại, để trả lời câu hỏi của bạn đọc có nên lập gia đình theo
tiểu hạn đào hoa của mình hay là phải chờ đợi qua vận hạn xấủ Và
câu trả lời là của chính bạn có số đào hoa hay không và có khả
năng nuôi dưỡng tình yêu và HẠNH PHÚC hay không ? Nếu bạn trả
lời được câu hỏi này cũng chính là lời đáp nên nắm lấy tình yêu
trái mộng hiện tại vậỵ Và bạn cũng đã chuẩn bị tâm lý sau hôn
nhân như một văn nhân nào đó đã từng nói: "Trong tình yêu và hạnh
phúc không phải là hai người nhìn lại mình hay người đối diện, mà
chính hai người nhìn về một hướng" Phải không các bạn?
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, DHH, Ðình Nguyên, Ðỗ Thành, Du Tử Lê, Gia Phong, Hoa Cỏ, Hoa Ðộ, Hoài Bảo Anh Thư, Lạc Duyên, Lam Ðiền, Hương Kiều Loan, Ngọc An, Nguyên Bích, Nguyễn Vạn Thắng, Nguyên Ðỗ, Nguyên Khoa, Nguyễn Thanh Trúc, BS Nguyễn Tường Vân, Nguyễn Qúy Ðại, Nguyễn Ðăng Tuấn, , Nhật Khánh, Nhược Thu, nttn, Phạm Vũ Anh Nam, Phan Cát Linh, Sương Mai, Sông Kiên, Tân Văn, Tình Buồn, Trần Công Nhung, Trường Ðinh, TTDung, Tuệ Nga, Tử Nhi, Viễn Phương, Việt Dương Nhân, Võ Thi Xuân Ðào đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 7 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào sốtới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
TrungKy@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua2002@aol.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMuạcom
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua2002@aol.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: TrungKy@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116-0378
USA
Trang Nhà