Số 14

Ngày 1 tháng 6 năm 2003

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

GiaoMua2002@aol.com


Thư Ngỏ



Thế mà đã tháng Sáu rồi! Xuân hôm nào mới đến ngập ngừng trên các cành cây với những lá xanh non, với hoa hé nụ khắp nẻo đường, và các áo màu tươi mát thay cho những tấm áo khoác dày cộm sậm màu, mà chưa chi đã vội ra đi như cơn mưa giông đầu mùa nhường bước cho Hạ .

Hạ, ngày dài, nắng rực rỡ, chim muông, sâu bọ thi đua cùng cỏ cây chen chúc nhau vươn lên, trẻ em đùa nghịch trên bãi biển . Ðêm Hạ mênh mông ngàn sao, sóng trườn vào bờ lấp liếm bước chân của những cặp tình nhân! Nhạc chập chùng trên phố biển, tiếng cười rộn ràng, quán ăn nửa khuya . Hạ vui! Hạ, mùa của du khách, của những tháng ngày rong chơi tuổi mới lớn ... để rồi tất cả sẽ thành những dấu ấn cho mai sau .

Thế nhưng ai bảo Hạ về không đem nỗi bâng khuâng ? Bắt đầu vào tháng Sáu, tháng của mùa thi thuở nào trên quê hương yêu dấu, của một thời thanh xuân, của tương lai mờ mờ ảo ảo ... Phượng nở đỏ rực sân trường, bài vở lẫn lộn với những chiều thả bộ nơi công viên, những đêm đàn ca như cố làm mờ nhạt tiếng hỏa châu từ xa vọng về! Bãi biển cát trắng phau, hàng dừa nghiêng mình trong gió, trẻ con đùa chảy đuổi theo các chú còng bé tí ti! Chỉ là những hình ảnh xa xăm, vời vợi . Bên bờ này đại dương, phượng cũng đã nở rộ ... nhưng là một màu tím bàng bạc, man man trầm tư như lòng người Việt tha hương . Bãi biển chẳng có chú còng nhưng trẻ em vẫn thích xây lâu đài trên cát! Rồi thì sóng cũng cuốn đi hết mọi thăng trầm! Người lớn thả hồn về phía chân trời, mơ gì hay chỉ nhàn nhã tìm một hình ảnh thân quen nơi quê người ?

Cơn nóng như đồng lõa với Hạ, nhắc nhở con người dịp nhàn rỗi: Hãy ngừng tay! Hãy nghỉ ngơi đôi chút . Chớ vật lộn quá đỗi với cuộc sống . Hãy lên núi, ra biển, đi thăm bà con, bạn bè hay chỉ nhàn cư bắt ghế nhìn chiều rơi . Và tưởng nhớ, và ngẫm nghĩ . Ngày nào tóc còn xanh, còn đạp xe lên con dốc nhà nàng, còn chép thơ Nguyên Sa, Nguyễn Bính tới khuya, còn tắm sông, tắm mưa, tắm biển, chân không đá bóng với lũ trẻ con hàng xóm, nghiền ngẫm thư tình trong đêm ve sầu rỉ rả, thế mà nay đuôi mắt đã có chân chim, tóc đã ngả màu với thời gian . Chần chừ gì nữa . Hạ rồi đó . Nửa năm rồi đó, như nửa đời người qua rồi đó !

Trần Viết Minh-Thanh
BBT Nguyệt San Giao Mùa

Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Nhớ Tháng Năm Mẹ ______Phạm Vũ Anh Nam
2. Yêu Mẹ ______Trần Thị Hà Thân
3. Chuyện Dòng Sông ______Ðặng Xuân Mai
4. Con Sáo ______Bích Hà
5. Trong Mắt Em Là Biển Nhớ ______Trường Ðinh
6. Có Lần Hạnh Phúc Trở Về ______Linh Vũ
7. Thương Hoài Ngàn Năm ______Trần Hoan Trinh
8. Mưa... ______nttn
9. Ðôi Chân Biết Mỏi ______Tử Nhi
10. Con Diều, Em ______Sương Mai
11. Tiếc ______Vành Khuyên
12. Mưa Chiều ______Quên
13. Dòng Thơ Kỷ Niệm ______Ngô Thy Vân
14. Bến Xưa ______CC
15. Mưa Phùn ______Trần Văn Lương
16. Hoa Tháng Năm ______Khánh Học
17. Buồn Viễn Xứ ______Viễn Phương
18. Thơ Chiều ______Ðỗ Thành
19. Huyệt Mộ ______Hoa Cỏ
20. Lại Phải Nhớ Nhung ______Trần T T Trang
21. Em Vẫn Mãi... ______Nguyễn Vạn Thắng
22. Lửa Hận ______Uyên Thi
23. Niềm Ðau Không Quên ______Ngọc An
24. Hỏi Xuân Bao Giờ Tới ______Hoàng Trúc Giang
25. Ngủ Ngoan ______Song Châu Diễm Ngọc Nhân
26. Khơi Sóng, Khơi Tình Sắc Không Ta ______Nguyễn Ðăng Tuấn
27. Chỉ Mình Em Thôi ______Lâm Huân
28. Ý Xuân ______Nguyên Khoa
29. Hoa Tháng Tư ______Nhược Thu
30. April Flowers ______Bình Nhung
31. Về Cha ______Bảo Trân

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Người Bạn Mỹ _______ Quang Ngọc
2. Ðêm Trên Dòng Biên Giới (2 kỳ) ___________ Phan thái Yên
3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 14) ___________ Trần Công Nhung
4.Về...(tiếp) ___________ Thanh Sơn
5.Giọt Nắng Ban Trưa ___________ Vũ Thị Thiên Thư
6.Con Thuyền Ðịnh Mệnh ( 1 ) ___________ Viễn Phương
7.Vực Ðá ___________ Nguyễn Ðăng Tuấn

III . Ngàn Lời Ca (kỳ 6)________________________________________________________________

1. Vĩnh Biệt Hà Nội, Sài Gòn Chào Em _______________________________ NS Phạm Duy

IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

V. Nghiên Cứu________________________________________________________________

1. NHẬN ÐỊNH Về Hội Chứng Hô Hấp Cấp Tính Nặng _______ BS Trần Duy Tôn
2. Một cuộc xướng hoạ thơ Ðường kỳ thú _______ Trần Quốc Sỹ
3. Gỏi cá sống và bịnh sán gan tại Việt Nam _______ BS. Ðào Hữu Anh

VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Website của nhạc sĩ Phạm Duy _______ Giao Muà
2. Website Nhân Ái _______ Giao Muà

VII . Nhạc __________________________________

1. Nhạc : Em Còn Ðó Không _______ Bích Hà - Du Tử Lê

VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Nhớ Tháng Năm Mẹ

tháng Năm nhớ khung trời của Mẹ 
những buổi sớm tinh sương
mặt trời còn ngủ muộn
đánh thức con vọng tiếng khua xưa
vo gạo rợn mặt ao
nguyệt gọi trăng khuya về nhăn nét mặt
sóng sánh bóng hình người khòm lưng khổ
con lạc đà nhẫn nhục theo lộ trình thời cuộc
tiếng bom nổ giữa thinh không 
những đêm Mẹ ngủ giật mình .

nỗi nhớ đóng vảy
vết chàm khô 
dấu răng trên môi phiến buồn nghiến chặt
gò má thâm hoẵng 
rãnh trống chát mặn men đời
mười hai tháng Năm
sinh nhật mẹ ở một thiên đường khác
mười hai tháng Năm
ghi mộ bia Mẹ trong thế giới này .

con cúi đầu 
cho nỗi đau chao nghiêng  tiếng gọi: Mẹ ơi!!!!!!!!! 
tháng Năm con nhớ Mẹ vô cùng
xanh mướt lá rừng dĩ vãng
dòng sữa ngọt môi thời nít nhỏ 
thời gian trôi sao quá nhanh
giòng sông đục đưa con đi về biển
chợt thương mình cùm mây lắm Mẹ ơi
30 năm luân lạc  
cho tháng Năm về vỡ òa
giọt máu bỗng dưng nghẹn van tim
hơi thở dồn lên chân tóc .

gió từ ngàn thổi bạc phếch
ngọn cỏ tranh mỏng manh
êm du qua trời từng cơn phiền muộn
lời Mẹ ru con dấu trong trí nhớ
loài cỏ dại mọc từ đêm mưa
góc vườn khuya vẳng tiếng dế than buồn
lời mặc niệm cho linh hồn của Mẹ
con đứng giữa trời không
khan tiếng gọi :Mẹ ơi !!!!!!!!!

05-2002
	
Phạm Vũ Anh Nam 
Mục Lục


2. Yêu Mẹ Con yêu mẹ nơi khoảng trời tang tóc Yêu vô cùng thân mẹ gánh đớn đau Con biết mẹ thương con vô bờ bến Cắn lấy gian nan khốn đốn nhọc nhằn Con yêu mẹ nơi khoảng trời nhung nhớ Con nhỏ dại chưa thấu chi mọi sự Phải ra đi giữa biển đời lớn rộng Ðể mẹ chiều mắt ngóng mắt trông Con yêu mẹ nơi khoảng trời xa vắng Chiều nhớ thương mẹ bật tiếng khóc hờn Ðêm khuya khoắt mẹ giật mình trở giấc Thao thức nhìn đêm tối đếm thời gian Con yêu mẹ nơi khoảng trời ao ước Vẫn mong con ngày được rạng tương lai Cho mẹ bớt nghe lòng đau tức tưởi Nở nụ cười ngọt lịm những thương yêu Con yêu mẹ nơi khoảng trời kỷ niệm Mẹ của con không son phấn kiêu sa Mẹ thiết tha như suối mát ngọt ngào Con yêu mẹ chữ hiếu nào cho đủ ? Con yêu mẹ nơi khoảng trời diệu vợi Hằng đêm về con cầu xin Thượng Ðế Cho mẹ yêu bớt những nỗi nhọc nhằn Cho đêm xuống mẹ yên bình giấc ngủ ... Trần Thị Hà Thân
Mục Lục


3. Chuyện Dòng Sông Cho những cuộc tình dang dở Nước mắt rơi, tâm hồn rã rời Nước mắt rơi, em về cuối trời lệ ướt đầm vai Nước mắt rơi, ân tình đã tan rồi Thôi đành xa người, mộng ước tàn phai như mây trôị Dòng lệ nào u buồn nhỏ xuống đời em Như những giọt mưa đêm trên con sông nhỏ Cuốn mãi triền miên cho tình mình dang dở Chuyện tình buồn muôn thuở như chuyện dòng sông Hôm nào thu xưa, anh vào gõ cửa, bước vào đời em Gảy những cung tơ, mang tình yêu đến Mang bình yên đến như hạnh phúc thần tiên (Anh mang em hạnh phúc, cho em nhựa sống bừng lên) Nhớ những đêm trăng, bên bờ thanh vắng Lấp loáng bóng trăng soi, anh tỏ tình say đắm Tâm hồn em bâng khuâng, dạt dào xa vắng Em mơ một khung trời xanh thắm Ánh nắng mai rực rỡ chan hòa – chim muông hát ca Chúc tụng tình ta bao la thiết thạ Có những đêm mù sương, ngọn đèn đường loang lổ Ta ngồi bên nhau, ân cần cho nhau Ðầu sát bên đầu, nghe từng hơi thở Rạng rỡ môi thơm trên mắt mi ngoan Tay ngà mơn man nâng niu vạt áo Nghe tình xôn xao . . . dâng caọ Em mơ ngàn vì sao. Ðôi ta là tinh tú Muôn đời như Trăng Sao, miên viễn yêu nhau. Một buổi sáng mùa Ðông, tình buồn như là Phong Anh theo mây biền biệt. Em cách xa muôn trùng Dòng đời như những nhánh sông mênh mông. Nhớ những đêm trăng Thu xa xôi Em một mình trở lại, nhìn vực nước chơi vơi Nhìn dòng đời trôi nổi, thương cuộc tình rong ruổi Dòng sông vẫn êm trôi, vẫn mãi êm trôị (Em nhìn con nước trong, những mảng đời long đong Những linh hồn cứu rỗi, những hạnh phúc tả tơi Trong dòng đời bão nổi. Dòng sông vẫn êm trôi.) Nước mắt rơi, ân tình xa rồi Nước mắt rơi, xin cầu cho người hạnh phúc đầy vơi Như dòng sông trôi – mãi mãi êm trôi Ngày đầu năm khai bút 1997 Ðặng Xuân Mai

Mục Lục


4. Con Sáo Lời ru hắt hiu buồn xóm nhỏ Tội sáo chờ vàng võ bên sông Biết người xưa có nhớ mong Lặng lờ sóng nước mãi trông đôi bờ ? Ðăng đẳng bóng người giờ xa khuất Ngọn bầu già quay quắt gió lay Xuồng ơi chở nắng về đây Chớ mang đi hết chuỗi ngày nhớ thương Tủi thân sáo dặm trường cánh mỏng Ngẩn ngơ sầu, bạt sóng chân mây Con kênh ngàn dặm chẳng khuây Dắt dìu con nước về đầy biển khơi Ngần ngừ sáo đứng nơi sông vắng Ngậm ngùi buồn trách nắng xa xăm Áo bà ba vạt ướt đầm Tiễn người bến nước ngàn năm sóng sầu Ðứng ủ rũ hàng cau tơi tả Xiêu xiêu gầy bóng ngả vườn quê Hương chanh gọi tiếng chim về Xót duyên phai nhạt não nề lòng đau Lời thề mãi bên nhau muôn kiếp Ủ ê sầu chàng thiếp cách đôi Cuộc đời đen bạc như vôi Lá trầu, chỉ thắm, đưa người sang sông

Bích Hà

Mục Lục


5. Trong Mắt Em Là Biển Nhớ từng đêm em về như môi sương từng lời em ru như gió trên mùa thương anh đan giấc mơ trên mây trời xa trên sóng tay em, anh là nhẫn cỏ em trong anh là màu hoa em trong anh là sóng ngà người ơi, những cánh diều bay trên đồng xanh giấc mơ anh cho em long lanh mình gọi tên nhau trong nắng hanh mình gọi quê hương trong mong manh tình ơi, dĩ vãng miền thật trắng kỷ niệm chiều xin mãi vẫn xanh từng làn thu êm như hương hoa từng mùa thơ trao như nắng trên quê nhà em thêu nhánh hồng bên giòng sông xưa trong mắt môi nồng, em là biển nhớ anh trong em là cơn mưa anh trong em là gió mùa người ơi, những lá me rơi bên sân trường đóa hoa gầy bay ngàn tha phương mình gọi tên nhau trong nhớ thương mình gọi xuân về trên quê hương bao giờ nắng nở trên nhụy trắng lượng tháng ngày xin mãi vấn vương

Trường Ðinh

Mục Lục


6. Có Lần Hạnh Phúc Trở Về Có một lần bỏ cao nguyên đi mãi Lòng chợt buồn nhớ lại mái trường xưa Thấy trên tay đã nhầu trang sách cũ Tưởng thư tình đọc vội dưới trời mưa Chuyện ngày xưa em làm con chim nhỏ Ðứng ngập ngừng sân nắng hát ngu ngơ Tưởng môi em như gọi lời hạnh phúc Bỏ cuộc đời mực tím tuổi làm thơ Em bé bỏng quên nắng vàng trên tóc Mang cuộc đời ngó xuống cõi phù vân Bởi vì em mang buồn qua ngọn cỏ Nên sân trường ướt mắt khóc dòng sông Từ núi rừng như có lời đau đớn Biển xa về lạc giọng nỗi cô đơn Thì nơi em cõi nào mình ở lại Xin nắng về qua ngõ hẹp tương lai Có một lần gọi nhau nghe ái ngại Chợt thấy em về tình xưa nhỏ dại Xin chút thật thà hạnh phúc có nhau Xin gọi tiếng cười bao dung ngày cũ Xóa vết trời buồn tháng bảy mưa ngâu Linh Vũ
Mục Lục


7. Thương Hoài Ngàn Năm Ðã cho nhau hết cuộc đời Thôi em ! Ðừng nói những lời bẻ bai Ðêm nằm se sợi tóc mai Sợi ngắn cũng nhớ sợi dài cũng thương Trần Hoan Trinh

Mục Lục


8. Mưa ... cơn mưa chiều bỗng từ đâu kéo đến ngọn gió thoảng làm dịu mát lòng ai cho con tim đang say ngủ miệt mài bổng thức giấc nhoẻn miệng cười với gió gió ơi gió cho hỏi thăm ai đó chỉ là ai của mộng ảo hư vô đem mơ tưởng trong một phút điên rồ để rồi cũng chỉ là mộng với ảo mưa vẫn rơi trên cành lá xào xạc gió lành lạnh làm rờn rợn buốt da có tiếng sấm dội lại từ phương xa chợt rùng mình ... như e gì sắp tới .. 20 April 2003 http://www.umich.edu/~nga/nttn.html nttn
Mục Lục


9.Ðôi Chân Biết Mỏi Thế rồi đôi chân biết mỏi Xuyên qua những chuỗi ngày thơ Ðường đời như dài hơn thế Ta như đá cuội ơ thờ Thế rồi bao điều tha thiết Tái tê như sớm mùa đông Dừng chân, thấy mình mỏi mệt Nhìn quanh chỉ thấy lạnh lùng Thế rồi một thời dĩ vãng Lặng trôi tưởng chỉ cợt đùa Âm thầm thấy mình ngơ ngác Soi lòng tìm lại ngày xưa Sóng đời cuộn ngàn cơn bão Cuốn tan, rũ sạch yên tình Hồn nhiên hóa thành ảo não Tim chừng hóa đá - lặng thinh Ngày qua không trở về nữa Sỏi đá đếm tuổi dưới chân Xuân về , thấy mình vướng nợ Quẩn quanh là những ân cần Ừ thì đôi chân biết mỏi Từ bao nghiệt ngã quanh mình Tìm đâu một bờ bến nghỉ Giữ lòng khỏi những điêu linh ?! Tử Nhi Mục Lục


10. Con Diều, Em Kể từ khi yêu anh, Em trở thành con diều non tội nghiệp. Có khi bay cao chót vót trời xanh, Có khi la đà trên ngọn, trên cành, Khi rơi bẹp xuống vùng cỏ dại. Cũng có khi ngang tàng trên đỉnh núi, Rồi có khi cao ngạo chốn biển xanh... Và cũng kể từ lúc yêu anh, Con diều bay hân hoan, phơi phới Con diều bay chưa bao giờ biết mỏi, Mà sợi dây, Anh còn nắm giữ không? Gió, gió lên... Gió mạnh đến bão bùng. Sợi dây đứt, Con diều rơi thảng thốt Anh, anh hỡi! Con diều đang chết ngộp Giữa biển khơi, trong vực thẳm mù xa... Mà sao anh Chỉ là người khách lạ đi qua ? 04/04/02 Sương Mai

Mục Lục


11. Tiếc Tiếc chi cho lắm mối tình đầu Sao xa lắm rồi , chẳng quên mau Ðêm đêm vẫn thấy lòng man mác Như vẫn còn đây , tình đậm sâu Yêu gì ngày ấy chỉ mộng mơ Mộng mối tình đầu thật nên thơ Bàn tay anh nắm sao nồng ấm Môi chạm môi nhau , như đã chờ .. Thế thôi mà sao chẳng nhạt phai Nụ cười kẻ lạ gặp sớm mai Làm tim xao xuyến khi chiều xuống Anh ,đúng là anh , chẳng còn ai ! Ðêm buông sao thấy lòng nhớ nhung Những chiều vui bước, nhịp tim chung Vui sao ngày ấy , giờ tê tái Sao vẫn yêu đây , đường chẳng cùng ? 4/03
Vành Khuyên





Mục Lục


12. Mưa Chiều Lại một chiều mưa Ướt nhoà khung cửa Giọt mưa lần nữa thấm mãi chưa vừa Lại một chiều mưa Ướt thềm thư viện Loang hồn miên viễn Cõi nhớ đong đưa Lại một chiều mưa Ướt lục bình nhấp nhô theo sóng chập chùng mái chèo đưa Lại một chiều mưa Hải âu ướt cánh Lướt vòng cô quạnh Mộng thoáng bay chưa ? Lại một chiều mưa Ướt thư viện nhỏ Hoen gót sen đỏ Một thuở đón đưa Lại một chiều mưa Mưa rơi trên tóc Mưa sa mắt ngọc Ươn ướt mi xưa [tặng c5sg]
Quên


Mục Lục


13. Dòng Thơ Kỷ Niệm Giao Mùa giăng lụa họa thơ Có nàng trinh nữ đang chờ đề tên Dòng Thơ Kỷ Niệm êm đềm Mà ai kia đó từng đêm tự tình!!!
Ngô Thy Vân



Mục Lục


14. Bến Xưa Mặc chuyến thời gian chở đi ngàn mộng mị Mùa ngả bên lề một ghế đá lạnh tanh Tay xoa gió quạnh sông dài xao sóng sánh Môi nếm bờ men bừng nguyên vẹn màu đê Từ em chở giá băng về Buồng tim hóa thạnh xanh thề em ơi! Bàn tay níu thời gian vết lăng trên lòng ngực Những nỗi buồn ho hen những mõi dài xuôi vai ngày lá rụng .. .. ơ hay! một ngày lá rụng không hay .. .. Vẫn bến thời gian đẩy đưa đò trôi dại " Vẫn lần tóc gội mát sông em " Heo may hoài gió co thềm Ngòi non giấy mực chừng hoen cuộc chờ Ngày xanh chuốc chải dài mơ Rối đêm dòng gở buồng thơ vọng về 21st April 2003 Bến xưa con sóng mộng chài Thời gian xuôi mái về phai bạc đầu
CC

Mục Lục


15. Mưa Phùn Hoàng Liên Sơn mây phủ, Ðêm lấn ngày, trời ngái ngủ âm u, Chốn rừng sâu nước độc hoang vu, Nơi đày ải những tù binh thất trận. Người lính miền Nam nuốt hận, Ðội mưa phùn, chầm chậm lết đôi chân, Vai trơ xương, vết đòn gánh tím bầm, Hai thùng nước nặng dần theo nhịp bước. Mưa lắc rắc trên dốc mòn trơn trượt, Giọt li ti thấm ướt mắt quầng thâm, Giọt lách luồn trong mái tóc hoa râm, Giọt len lỏi xuyên qua lần áo rách. Gió bấc lạnh tẩy da người trắng bệch, Hàm răng long lách cách vỗ liên hồi, Như nóng lòng cắn đứt chuỗi mồ hôi, Ðang bươn bả vượt bờ môi tê cóng. Mờ mờ màn mưa mỏng, Lối đi về dợn sóng mấp mô . Tiếng dế vọng mơ hồ, Từ kẽ nứt của nấm mồ đắp vội . Ðôi mắt đã nhạt màu theo cơn đói, Hững hờ nhìn bầy lang sói vây quanh, Xót xa thương cho đất nước tan tành, Dưới nanh vuốt của hung tàn bạo ngược. Trên vai nặng, chất chồng thêm nợ nước, Sức kiệt dần, chưa trả được thù chung. Thân nam nhi hơn nửa kiếp vẫy vùng, Ðành ôm hận giữa gông cùm xiềng xích. Ngày núi rừng tịch mịch, Ðêm côn trùng rả rích nhặt khoan. Chốn lao lung, trăm thống khổ nhọc nhằn, Biết bao kẻ đã vùi thân đất Bắc. Mưa gió ướp làn môi tím ngắt, Hờn căm nung tròng mắt đỏ au . Người lính ngẩng cao đầu, Khối sầu đau bốc lửa . Trong thân xác như cành khô hết nhựa, Dòng máu cuồn cuộn tựa sóng Trường giang, Chở về tim ngày tháng cũ huy hoàng, Ðầy nắng ấm của miền Nam thuở trước. Mắt long lanh sáng rực, Người tù háo hức vọng phương xa, Mộng thấy con thơ , từ chốn quê nhà, Cưỡi nắng đến tìm cha nơi đất trại . Cười vang vang điên dại, Gánh trên vai, vất bỏ đại bên đàng, Chân luýnh quýnh vội vàng, Liều nhắm hướng miền Nam lao thẳng tới . Tiếng người la ơi ới, Tiếng lang sói thét gầm, Tiếng súng nổ thật gần, Tiếng xác thân rơi rụng. Người tù chết, cánh tay gầy dang rộng, Trên môi thâm còn thoáng đọng nụ cười, Còn lung linh trong ánh mắt cuối đời, Màu nắng ấm của phương trời xa lắc. Gió vẫn rít trên rừng sâu đất Bắc, Giọt mưa phùn vuốt mắt kẻ sa cơ . Ai xuôi Nam, nhắn hộ với con thơ, Người cha đó chẳng bao giờ về nữa . Cali, Quốc hận 2003 Trần Văn Lương

Mục Lục


16. Hoa Tháng Năm Nơi anh ở, đã nở đầy hoa màu tím Anh thường gọi đuà, hoa phượng của trời Tây Nhìn hoa tím rơi mà lòng sao ngơ ngẩn Như buổi hôm nào hò hẹn chợt bâng khuâng. Trời Cali, những áng mây lững lờ, trôi thật nhẹ Thấy nắng ươm vàng màu nắng giống quê tôi Chợt biết tháng năm vừa đi vào mùa Hạ Thương nhớ nào đang oà vỡ trái tim côi. Em còn nhớ không? Những ngày hè phượng nở Hay bắt vòi anh hái nhành hoa đầu mùa Ðể đem về,em ép vào từng trang vở Bên cạnh những bài thơ vụng dại buổi đầu tiên. Thời con gái dịu dàng sao qúa đổi Áo trắng học trò mười bảy thơ ngây Em thường hay ngượng ngùng và mắc cỡ Buổi tan trường đứng đợi em về chung. Anh gởi cho em , cành hoa màu tím Bài thơ tình dìu dịu nắng tháng năm Em có biết, ở nơi đây vạn dặm Ðường mơ xa vẫn có dáng em hiền. Anh đón lấy, một cánh hoa màu tím Chợt thấy lòng chùng xuống nỗi buồn thiu Cô đơn chiều nay,đến tìm chi nỗi nhớ Tháng năm ngọt ngào có phải là giấc mơ. Khánh Học

Mục Lục


17. Buồn Viễn Xứ ( Kính dâng mẹ trong muôn ngàn nỗi nhớ thương ) Ðêm thanh vắng âm thầm con đếm bước Lặn lội đường sình nước lạnh chân đơn Lệ tuôn rơi , rơi rải suốt canh trường Trên bến vắng lên thuyền con vượt biển Thuyền viễn xứ bềnh bồng trong nguy biến Sóng nộ cuồng kinh khiếp cả thuyền nhân Loài dã man hải tặc lắm hung tàn Người đói khát dật dờ cơn sinh tử Rồi từ đó bước phong trần lữ thứ Nợ giang hồ lãng tử vội cưu mang Thương quê hương mòn mỏi phía trời Nam Dòng dư lệ tuôn tràn , ôi !-mặn đắng Thường những buổi hoàng hôn trên đảo vắng Con ngồi buồn lặng ngắm áng mây trôi Thả hồn đơn theo gió cuối chân trời Tìm quê mẹ !- Ðâu rồi quê của mẹ ? Chợt đâu đó những lời than khe khẻ Mẹ yêu ơi con trẻ quá bơ vơ . . . Con xa xôi trong kiếp sống mong chờ Ngày mai sẽ thanh bình vui tương hội Pulau Bidong , Kuala Trengganu , Malaysia Ngày 22 tháng 2 năm 1985

Viễn Phương
Mục Lục


18. Thơ Chiều Chiều rơi lặng lẽ trong sương Chuông thu không thoảng vấn vương trong chiều Lời công phu vọng êm êm Hồn lâng lâng đọng nỗi niềm không dưng Chiều rơi chiếc lá ngập ngừng Cơn mưa đe doạ ngấm ngầm lạnh run Chiều rơi bóng hạc bay nhanh Chùa cao bóng đợi một mình ngẩn ngơ Thơ chiều từng giọt hững hờ Gõ không gian một lời mơ chợt về.

Ðỗ Thành


Mục Lục


19. Huyệt Mộ Khi chiếc khăn tang cuối cùng thả xuống huyệt mộ để tiễn đưa một cuộc tình mới lớn tôi thấy em ôm mặt níu lại những giọt nước mắt vô tội cùng một trái tim rỉ máụ Tôi không biết nói gì hơn chỉ khuyên em bằng những lời thừa thãi hãy can đảm để đối diện với chính mình đối diện với sự sống qúa khứ rồi sẽ qua Em lao đầu vào tim tôi vùng vẫy như con cá thèm đuợc tung tăng duới mặt nuớc dù chỉ một lần truớc khi chết. Tôi tự rủa chính mình khốn nạn ! khi thấy em đang trút hơi thở cuối để kéo dài thêm hạnh phúc Chính bàn tay đẫm máu của tôi đã xô đẩy em vào huyệt mộ trong một vĩnh cửu tàn nhẫn. Maỵ09.03

Hoa Cỏ

Mục Lục


20. Lại Phải Nhớ Nhung Ðêm khuya trăng rạng một vùng non Gió reo lá vẫy ru mềm hồn Có người lữ khách ngang sông vắng Trót ngước nhìn trăng, dạ trót vương Bên này lữ khách đâu có hay Chùa xưa nay đã đóng then cài Cửa thiền vướng bụi không người dọn Màu hoa đã nhạt chẳng ai thay Cứ trách giai nhân bên dậu thưa Sao từng buông nắng thả đong đưa Làm tan tâm kẻ quên mùi tục Lại phải nhớ nhung, phải thẫn thờ Nhưng người đừng trách, vì có hay Ðã tỏ cùng người duyên phận này Mỹ nhân là mấy, trăng là mấy Rồi cũng như hoa héo có ngày Ðã có lòng yêu là có duyên Chữ Tâm hai nét mảnh tiếng huyền Ai ngang Cung vắng đừng chạnh nữa Lệ sẽ rơi đầy má thuyền quyên Là duyên cũng là nợ người xưa Nợ tình biết trả sao cho vừa Thân gái dặm dài không qua nổi Một ngả đường hồng pháo tiễn đưa Có hiểu cho rằng không thể quên Nhưng không dám nhớ sợ đau thêm Thôi thì rẽ bước sang bến khác Khách nữ nào đang vẳng tiếng huyền Ðêm nào cung Quảng cùng ngắm Trăng Một bên chú Cuội, bên Sói đồng Nào hay tiệc vui tàn nhanh quá Hằng Nga đã khuất mỏi lòng trông Ðừng trách ông Trời gây biệt ly Một kiếp nhân duyên có sá gì Tài tử giai nhân còn lỡ hẹn Ðứng lặng bên trời trăng tàn đi Collogne

Trần T T Trang

Mục Lục


21. Em Vẫn Mãi... Em vẫn mãi ...cho ta niềm thương nhớ Buổi ban đầu lưu luyến cuộc tình ta Tình mong sao như một dãy Ngân hà Ngàn lóng lánh như vì sao chiếu rọi Em vẫn mãi ...cho ta niềm mong đợi Bao tháng ngày tình mãi đẹp bên nhau Nụ hôn trao, lời yêu nói ban đầu Em sẽ thấy tình yêu thật nồng ấm Em vẫn mãi ...cho ta tình sâu đậm Lời ngọt ngào bằng tất cả thương yêu Nụ tình si anh ôm ấp thật nhiều Ðem trao hết cho người tình yêu đấu Anh đâu muốn con thuyền rời bến đậu Ðể lòng anh như bến vắng đợi chờ Thuyền trôi xa để về bến vu vơ Cho tình mãi ...màu tang buồn ảm đạm Hãy yêu nhau chuyền tay bằng hơi ấm Bằng tình thơ, bằng lời nói dịu dàng Ðể tình ta đừng như giọt sương tan Em vẫn mãi ...người tình anh yêu dấu

Nguyễn Vạn Thắng

Mục Lục


22. Lửa Hận Trong bóng đêm dìu dặt Nhớ về chuyện xa xăm Thắm thoát gần ba mươi năm Nửa kiếp người nơi dương thế… Làm sao quên những nỗi đau Làm sao quên được vũng sầu năm xưa Quê hương sớm nắng chiều mưa Vẫn bình yên với rau dưa tháng ngày Bỗng đâu chinh chiến đọa đày Con dân nước Việt vùi thây chất chồng Tháng tư đen lửa ngập đồng Tháng tư đen ấy máu hồng đổ tuôn Anh hùng tự sát vì dân vì nước Chiến sĩ hiên ngang nhuộm máu quân thù Cũng dòng máu Việt thiên thu Mà sao nỡ để cơ đồ đảo điên Xác người tràn ngập biển Máu tuôn dòng thành suối Xương người cao như núi Lệ người tràn biển đông… Lao tù thân cùm gông ! Tù ải đời trai với xích xiềng Ðau thương thảm họa mãi triền miên Ngồi đây nhớ chuyện ngày xưa ấy Lửa hận bùng lên muốn phát điên Ta muốn đập tan bạo quyền Ta muốn trở về quê cũ Ta muốn sống thật bình yên Cuối đời ta hằng ấp ủ Mái tranh mà chẳng lụy phiền Dòng sông dịu hiền xưa cũ Ru ta giấc ngủ êm đềm…

Uyên Thi

Mục Lục


23. Niềm Ðau Không Quên Nhiều năm lưu lạc quê người Niềm đau mất nước đầy vơi lòng này Tháng tư như vẫn đâu đây Chiến tranh thảm họa gieo đầy miền Nam Anh hùng mạt lộ lầm than Tìm nơi giải thoát suối vàng ngàn năm Kẻ bôn ba bước thăng trầm Tìm đường vượt biển bão ngầm chôn thây Kẻ vào tù tội lưu dày Xác thân khô héo những ngày lao đao Thiếu ăn, tủi nhục, gian lao Anh hùng một kiếp sa vào tử sinh Lan tràn đói rách điêu linh Con xa mẹ, vợ xa chồng từ đây Biết bao giờ, cuộc xum vầy Ai gieo tang tóc đổi ngày thành đêm Hăm tám năm chẳng thể quên Sài Gòn nay đã đổi tên mất rồi ! Tha hương vất vả quê người Ðành thôi ôm hận một đời lưu vong Máu xương ngày ấy chất chồng Chừng nào mới thấy non sông thanh bình ?…

Ngọc An

Mục Lục


24. Hỏi Xuân Bao Giờ Tới Hỏi Xuân bao giờ tới Gió xôn xao gọi mời Bao giờ cây nhú lộc Bao giờ em sang chơi? Hỏi Xuân bao giờ tới Nắng trinh trong tuyệt vời Chim trời như ngóng đợi Bao giờ em yêu tôi? Hỏi Xuân bao giờ tới Rộn ràng lời thơ tôi Bao giờ hoa sẽ nở Làm đẹp cho cuộc đời? Một ngày đẹp trời 11/3/2003

Hoàng Trúc Giang

Mục Lục


25. Ngủ Ngoan Ngủ ngoan, anh bảo "ngủ ngoan" Ðừng thao thức nữa mà làm khổ anh Cũng đừng ngáy nhé, Ái Khanh ! Kẻo không, Trẫm lại giật mình nhớ thương Hồn chùng thêm nữa tơ vưong Và lòng say nữa mùi hương của lòng Ðêm nay sáng qúa, trăng trong Trăng thì sáng thế, sao lòng âm u ...??? Nếu như...anh nhỉ....nếu như..... Tay anh làm gối thì mơ em tròn Ngủ ngon, em sẽ ngủ ngon Nhưng em...ngáy nhẹ để còn... thức anh Giật mình giữa giấc đêm thanh Có em trong cõi mộng xanh dịu dàng Ghé môi, hôn rất nhẹ nhàng Hôn bờ mi lụa, hôn làn tóc trăng Anh dìu em đến cung Hằng Môi thơm, ngọt lịm đường răng em cười ... Ngủ ngoan, em ngủ... anh ơi...

Song Châu Diễm Ngọc Nhân

Mục Lục


26. Khơi Sóng, Khơi Tình Sắc Không Ta ta đốt bộ kinh trong ta bà để em chứng độ khỏi thành ma ba la mật ba la mật đá sắc không cùng hủy/dựng a ha ta đốt tình em trong giang hà để em thuyền sóng khỏi phong ba tu lị tu lị a tu lị sóng khơi thuyền, sóng chở lan qua ta đốt hồn ta trong tay ngà a ha tu lị mật tông la tịnh độ tung hê muôn thiền tịnh khơi sóng, khơi tình sắc không ta 7 tháng 5 năm 2003

Nguyễn Ðăng Tuấn

Mục Lục


27. Chỉ Mình Em Thôi Anh biết anh thật hào hoa phong nhã Có nhiều người hối hả lại làm quen Nhưng em ơi, lòng anh vẫn không thèm Vì trong anh, một mình em đã đủ Em xinh tươi như hoa hồng chớm nụ Chiếm tim anh quyến rũ cả tâm hôn Chỉ mình em không cần có ai hơn Vậy là đủ xóa đi cơn giông bão Anh vẫn biết có nhiều người điên đảo Vì anh mà.....họ mộng ảo niềm riêng Nhưng lòng anh vẫn không động, lây, nghiên Vì chỉ em mới nối liền duyên mộng Chỉ mình em cho anh niềm hy vọng Bao người kia không quan trọng gì đâu Anh chỉ biết chỉ yêu đến bạc đầu Riêng mình em dài lâu anh yêu mãi.

Lâm Huân

Mục Lục


28. Ý Xuân Nắng nhạt - Chắc lòng nguời kéo mây ? Mùa Xuân cỏ biếc treo suơng gầy Chim bay nâng bóng cây tìm gió Ðời có bao lần mộng rối tay (!) Trời bỗng cao vời, ta nhỏ nhoi Lưng khum cúi xuống tựa lưng đời Mới hay bốn phía từ truờng vắng Hấp dẫn muôn loài đã nghỉ chơi . Cuộc sống lạ lùng sao rất quen Thân ta là bến cũng là thuyền Có khi an chở tình em vẹn Cũng có khi chìm sông lãng quên . Nắng nhạt như màu son phấn tan Bài thơ trắng muốt chạy thêm hàng Ta phơi ký ức buồn trên giấy Em tắm uớt mình ta quấn khăn ... May.07.03

Nguyên Khoa

Mục Lục


29. Hoa Tháng Tư Em hỏi làm chi chuyện nắng mưa Tháng Tư buồn lắm , nắng quên mùa Gió mưa là lệ người thiên cổ Nhỏ xuống thay người vận nước thua Mộng cũ biết rằng đã ngã nghiêng Thân trai đâu để chí trai hèn Mười năm nếm mật đầy cay đắng Có sá gì đâu chút nỗi riêng ... Em hoa đời nở mùa xuân ngát Chưa thắm hương yêu đã nhuốm phiền Tay súng anh buông giờ phút cuối Hoa lòng lịm chết tháng Tư điên Em xa quê mẹ từ hôm đó Mắt ngọc còn điêu khắc bóng xưa Ròng rả hơn phần tư thế kỷ Bỗng dưng gặp lại , lạ không ngờ .. Mưa nắng cũng còn thay đổi thôi Chúng mình là những giọt mưa rơi Mưa vương trên má em ngày cũ Ðã hóa thành mây mất kiếp rồi ...

Nhược-Thu

Mục Lục


30. April Flowers Why do you ask about the sun and rain? April is very sad, the sun forgets the time of the year Wind and rain are tears of the deceased Dropping in place of bodies in the debacle. Although the old dream has fallen, The warrior still braves all obstacles. Through ten years of labor full of bitterness A personal feeling is rekindled… You, blooming in the beautiful spring, Who have not tasted love, are touched with sorrow, I, dropping the gun during the last minute, Have extinguished our love that April month. You left the motherland since that day, The lover's image encrusted in your eyes, For more than a quarter century, Sudenly we meet again, in disbelief. Rain and shine are still changing You and I are falling drops of rain, Teardrops collecting on your cheeks in yesteryears Have become clouds with no destiny… Translated by Binh Nhung 04-29-03

Bình Nhung

Mục Lục


30. Về Cha con mở mắt vào thời gian hỗn loạn hiểu chi đâu lá cờ đỏ sao vàng rồi bôn ba vô Sài Gòn, di tản để cha đi, đi về cõi gian nan vào thăm cha khi con còn thơ ấu giữa trưa hè, nắng cào xé làng da đất khô cằn với danh từ "cải tạo" con khóc nhè khi bụng đói, gọi "cha" giữa giòng đời mẹ bôn ba phiêu bạt dưới mái trường con học chữ A Bê rồi một ngày thấy gương mặt hóc hác đứng trước cửa... kìa cha đã trở về thêm một lần cha trôi theo sóng biển vượt trùng dương đến đất khách quê người con thơ dại chưa kịp lời đưa tiễn khi được tin thì cha đã xa vời và bao năm cha con mừng đoàn tụ dăm ba lời, sao diễn đạt niềm vui trên nước Mỹ được bao ngày ấp ủ thời gian trôi và lặng lẽ cứ trôi thằng thực tế ghé ngang nhà gõ cửa bắt con đi, bôn ba giữa chợ đời tình cha con bị cách ngăn lần nữa trời đông tây, đường xa quá cha ơi... con xin quỳ trước linh hồn thơ dại chút nghẹn ngào trôi theo hạt lệ tuông tạ lỗi cha, bao năm rồi trang trãi được gì đây, hay chỉ những nỗi buồn

Bảo Trân

Mục Lục

II . Văn___________________________________________________________

1. Người Bạn Mỹ

Quang Ngọc





Jeff đẹp trai , cao , to , hoạt bát như một diễn viên . Từ ngày có anh ta vào sở , phụ nữ trong văn phòng mặt mày tươi tỉnh hẳn ra , chả là anh ta say hi và cười thân thiện với tất cả mọi người mà .

Vài người đã khẳng định ngay Jeff mang một luồng sinh khí mới vào cái văn phòng này , cái văn phòng suốt ngày không một tiếng cười , không một âm vang của sự sống , chỉ có tiếng máy copy , tiếng xoèn xoẹt của giấy bị xé , tiếng phone reo và tiếng trả lời ngắn gọn, nghiêm túc cho khách hàng .

Ðúng , Jeff thật đã thổi một luồng khí mới vào sở . Tôi từ từ nhận ra mình bắt đầu sống lại , bắt đầu cười ,bắt đầu thấy xung quanh là con người thay vì chỉ có điều luật , computer và cãi nhau với khách .

Tôi là phụ nữ da màu duy nhất của nhóm Jeff vưà được bổ nhiệm tới . Ai cũng nhanh chóng thích hợp với sự nhanh nhẹn của Jeff . Tôi không sang , không đẹp , không có việc gì mà vỡn vơ bên anh ta làm chi . Tôi vẫn có quan niệm ai sao thì có bạn vậy .

Ngày nhóm tổ chức cuộc họp ngoài trời . Jeff lãng vãng gần chỗ tôi ngồi mãi . Tôi hơi khó chịu . Tôi mong là anh ta đừng nói năng gì tới tôi vì tôi không thích giao thiệp , nhất là với những anh chàng đẹp trai và hoạt bát như Jeff . Bạn có thể cho tôi không còn là phụ nữ . Không , tôi thà cô độc , không thích con mắt ai nhìn tôi như ganh đua . Jeff thích giao thiệp là chuyện của anh ta , đâu phải anh ta thích là tôi phải làm theo .

Tôi say hi với Jeff mỗi ngày , cười mĩm chi đủ cho Jeff thấy tôi không phải giống da màu cục cằn , thô lỗ . Jeff cao hơn tôi cả cái đầu , có lúc đi ngang tôi , mãi suy nghĩ không nhìn thấy tôi nên không đáp lại lời tôi , tôi cũng không buồn . Tôi cho đó là cái dĩ nhiên vì thước tấc tôi khiêm nhường quá .

Một ngày , một người khách nói năng kỳ thị giọng Anh không chuẩn của tôi . Tôi bực tức giọng cái phone xuống bàn rồi ra ngoài . Ai cũng nhìn chưa biết phản ứng sao . Jeff là người đầu tiên lên tiếng . " I support you , I can guess what they said to you to make you mad that much "

Tôi dịu xuống , còn đủ tỉnh táo để đùa " Don't report to our manager , ok "

Jeff hiểu ngay " Sure ! " Một lần khác , tôi bị bịnh cúm hành hạ . Chưa đầy năm phút tôi đã ho đến chục lần . Sau tiếng ho của tôi là bao nhiêu tiếng ho kéo theo , cả văn phòng rộn ràng đến lạ .

Nhiều lúc tiếng ho theo chuổi dài của tôi hóa ghê rợn vì nó kéo theo tất cả sinh lực tôi hiện có .

Jeff ngồi cách tôi cả một hành lang , lò dò tới , quỳ ngay xuống bên cạnh tôi , đưa một gói trà , dịu dàng nói " Hey , it is not medication , but it will help your cough , use it " Tôi không màng gói trà to hay nhỏ , sau đó tôi uống hay không .

Một điều tôi vừa mới nhận ra , Jeff là một con người theo đúng nghĩa của nó . Bề ngoài của Jeff không còn là cái tôi lấy đó để đánh giá Jeff theo quan niệm cố hữu của riêng mình .

Tiếng Anh tôi nói còn ngọng . Jeff lúc nào cũng hiểu thật rõ từng ý .

" How your son doing ? " " fine , Jeff " tôi thành thật " Your daughter better today , Jeff ? Jeff vẻ bối rối " Not really , but yoú re right , she will be better Tram "

Dù màu da nào , bề ngoài ra sao , nếu bạn đã là con người đúng nghĩa , bạn luôn là vậy ....

4/03

Quang Ngọc


Mục Lục


2. Ðêm Trên Dòng Biên Giới (2 kỳ)

Phan thái Yên



Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Nguyễn Du

1. Ðoàn giang đĩnh vội vã rời căn cứ nổi An Long chạy về phía Hồng Ngự lúc xế chiềụ Cơn mưa mùa hè trút vội bóng hoàng hôn xuống mặt sông xám. Bãi bờ xa mất hút trong màn mưa làm dòng sông lan xa mênh mông như biển. Hơn tháng nay quanh quẩn vùng bắc Cao Lãnh và Bến Ðá khiến cả lính lẫn quan bắt đầu thấy cuồng chân. Lui tới mãi cũng chỉ khúc đại lộ buồn thiu trước tòa Tỉnh và mấy quán cà phê vắng khách. Khúc nhạc trưa rời rạc nhàm chán như cô chủ quán quá thì ráng làm ra vẽ ngây thợ Cũng may cách Bến Ðá không xa là cù lao Mỹ Hiệp xanh mát bóng cây giữa vàm sông rộng.

Từ bến bắc Cao Lãnh lên tàu theo con nước xuôi về Chợ Mới, chưa hết phiền hà vì sự chật chội nóng nực của hơn nửa ngày xe đò, lòng chợt mát rượi như vừa được uống miếng nước mưa giữa buổi trưa hè. Cái cù lao nhỏ nhoi mà ân cần như một ốc đảo giữa sa mạc. Rừng cây xanh bao kín cù lao chỉ chừa khoảng trống vừa đủ cho con kinh nhỏ theo vào. Dòng nước trong và êm tưởng chừng như chỉ những giọt nước hiền mới được phép quây quần. Ngay khoảng trống đó là cánh cửa vô hình, ranh giới giữa cuồng nộ và yên bình. Bên trong, khung cảnh mở ra đẹp như một vùng chiêm bao. Hàng cây hai bên con đường nước châu đầu trò chuyện, cành lá đan vào nhau làm những miếng nắng phải len lỏi mãi mới sa xuống được mặt nước mát. Tàu trôi dưới vòm câỵ Tâm hồn nhẹ nhàng, tưởng đang chậm bước trong một giáo đường thênh thang. Những ngôi nhà nền đắp cao, mái ngói đài các, ẩn hiện sau rặng điên điển lấm tấm hoa vàng. Nối liền mỗi nhà với con kinh là mương nước rộng, xuồng lớn có thể chèo vào tận đến đầu hiên nhà.

Từ sông lớn đi vào, ngôi nhà đầu tiên phía bên trái là của cô thợ may đồng thời cũng là chủ tiệm tạp hóa nhỏ có bán cà phê. Mỗi buổi sáng tôi và vài người lính đến quán ngồi lơ đãng uống cà phê nghe nhạc. Trong cõi thiên đường lặng lẽ đó tôi muốn quên hết những phiền toái và giòng sông bất trắc ngoài kia. Thỉnh thoảng tiếng chim cu gáy từ một bụi cây nào đó vang lên gọi mái. Ông già tóc búi củ hành ngồi đan lợp trước sân nhà bỏ việc nghiêng đầu nghe ngóng, miệng móm mém điếu thuốc vấn, chòm râu trắng rung rung.

Tia nắng mai nghiêng xuống chỗ tôi ngồi ở đầu hiên nhà làm màu tím trên trang thư của Thy tươi hẳn lên. Ðã hơn nửa năm tôi chưa về thăm nàng. Tôi nghĩ đến ngôi trường ven thành phố và Thy mảnh mai trên những chuyến xe lam đi về mỗi ngàỵ Thy phân trần đôi khi cũng muốn xin về phố cho gần nhưng nghĩ lại tội mấy đứa học trò nên thôi. Tết rồi, sáng mồng hai, bầy học trò tìm đến nhà chúc Tết cô giáo. Khi bị hỏi làm răng biết được nhà cô mà tới, đứa học trò lớn nhất thú thật là đã đi xe lam theo cô về phố rồi đi lén theo sau để biết nhà. Gần đây đứa học trò hiếu học đã khóc chào cô, bỏ trường, bỏ dở bài toán phương trình bậc nhất đầu tiên trong đời mà đi. Người cha đã trở về bắt đứa con đi theo vào trong núi. Những bài toán đố, chính tả, đã không ích lợi gì cho cách mạng. Họ cần thêm một tay súng, một viên gạch lót đường. Viên gạch cha. Viên gạch con. Mười lăm năm trước người cha đã trở về trong một canh khuya nào đó rồi đi. Tội nghiệp bà mẹ giờ đây có thêm một người đàn ông nữa trong đời để khắc khoải ngóng trông.

Thy viết, lần đầu tiên trong đời nàng đã cảm thấy một nỗi sợ hãi thật gần. Sợ đến không ngủ được, khi nghĩ đến tôi đến đứa học trò mười bốn tuổi trong cuộc chiến tranh nàỵ

Ðoàn tàu ngóc cao đầu phóng như bay trên mặt nước bỏ lại sau lưng những đợt sóng bọt tung trắng xóa. Từ xa, trong mưa chiều, vùng sông rộng giữa Tân Châu và Hồng Ngự cuồn cuộn từng vầng nước lai láng phù sa. Trong một giây phút tôi chợt nghĩ tới vùng cửa biển Vũng Tàu ngày đầu theo chiến hạm ra khơi. Ngoái nhìn bóng chim bay về phía Gò Công, bờ lau bãi sậy xao xác trong nắng chiềụ Lòng nửa rộn ràng về những ngày biển rộng sắp tới, nửa lòng kia đã vun ngập tiếc nhớ ngày vui phố xá... Bờ sông cao. Con lộ tráng nhựa ôm vòng theo nhánh sông uốn quanh rồi mất hút sau dãy nhà nằm dọc theo bờ sông phía phố chợ. Bên kia con lộ là bộ chỉ huy chi khu Hồng Ngự. Lính gác cổng đứng co ro vì mưa sau hàng bao cát đắp cao ngang ngực. Người sĩ quan hành quân từ bên trong chi khu bước ra hướng dẫn tôi vào phòng họp. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra vài khuôn mặt quen trong phòng. Gần một năm trước tôi đã có dịp yểm trợ tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân này trong cuộc hành quân ở Tuyên Nhơn. Ông Tiểu Ðoàn Trưởng chưa đến để bắt đầu buổi họp nên trong phòng có không khí của một câu lạc bộ dã chiến hơn là một phòng họp hành quân. Tôi ngồi xuống cạnh Nhân, một trong những Ðại Ðội Trưởng của tiểu đoàn. Chúng tôi quen nhau khá thân trong thời gian Liên Ðoàn của Nhân đóng quân ở Phước Xuyên. Ông Ðại Ðội Trưởng Biệt Ðộng Quân có khuôn mặt hiền như con gái kể chuyện mấy tháng hành quân ở Chương Thiện và cái chết của ông Liên Ðoàn Trưởng.

Ông Ðại Tá nổi tiếng về việc đi hành quân bất cứ ở đâu cũng có bà vợ đi theo. Hồi đó tôi hay cười một mình khi liên tưởng tới hình ảnh ông Ðại Tá, râu vểnh trau chuốt, trong phim Ngày Dài Nhất. Quân đội Ðồng Minh đổ bộ lên bãi biển Normandie, đạn bắn như mưa mà ông Ðại Tá kiêu ngạo vẫn tỉnh táo với điếu xì gà trên miệng tay ôm con chó lông xù.

Khi tôi ra khỏi phòng họp hành quân, trời đã tạnh mưa nhưng trần mây thấp vẫn sủng màu hơi nước. Còn vài tiếng đống hồ nữa mới tới giờ chuyển quân. Tôi cần một ly cà phê thật đậm để thức suốt đêm naỵ
Chợ đã tan từ lâụ Những tiệm buôn e dè đóng cửa sớm vì lính tráng qua lại đông đúc. Co ro trong bóng tối nhá nhem, khu phố chợ vẫn không dấu được vẽ trù phú của một quận lỵ giàu có ở cực Tây tỉnh Kiến Phong. Lính Biệt Ðộng nằm ngồi ngổn ngang trong nhà lồng chợ, dọc theo mái hiên của dãy tiệm buôn hay ngồi đầy nghẹt trong những quán ăn. Tôi gặp Nhân và vài sĩ quan bạn khác cũng đang đi tìm quán cà phê có nhạc. Chúng tôi đi mãi về phía cuối phố mới tìm ra được một quán vắng khách. Nhìn lũ người gươm đao, cô hàng cà phê cuống quít mở lớn băng nhạc thật lính. Tôi ở miền xạ Trời cao đất lạ. Nhiều đông lắm hạ. Nuối tiếc đi quạ Thiếu bóng đàn bà... Tôi lấy trong túi áo mấy cuộn băng nhạc cassette trao cho cô gái có đôi mắt trang điểm vụng về dưới lớp chì than đen đậm như bóng tối.
Chúng tôi ngồi uống cà phê nghe nhạc và nghe Nhân kể chuyện năm đầu ở Võ Bị. Phép cuối tuần, ra phố thèm được ngồi cà phê Tùng mà quán thì lúc nào cũng chật ních niên trưởng. Sau vài tuần tức quá xâm mình vào đại. Nhân cười. Mẹ nó, chỉ một ly cà phê Tùng mà phải chào niên trưởng đến mỏi tay, tối về Trường còn bị quay dã chiến phờ phạc.

Từ quán Tùng, câu chuyện nổ giòn về những quán cà phê ở những vùng đất chúng tôi đã đi qua, thành phố chúng tôi đã sống những ngày trước lính. Tiếng hát Lệ Thu lướt thướt giọng sầu vương theo gió đưa chúng tôi vào nỗi yên lặng tuyệt vời. Nhắm mắt lại để thấy lòng bay theo tiếng hát... Người đi chưa hết hương sầu lữ thứ. Hồn theo cánh gió quên tình xa xưạ Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa. Mộng về đêm đêm khát vầng trán ngây thơ...Nhắm mắt lại để nghe lòng ước muốn bay xa, bay cao khỏi biên giới con người đã áp đặt cho nhau. Và chỉ để mở mắt ra buồn phiền biết được lòng mình đã từ lâu dừng lại bên lằn ranh của tục lụy tầm thường. Cũng như dòng sông biên giới ngoài kia, quanh co và chẳng có một nhịp cầu.

(Còn tiếp một kỳ)


Phan thái Yên

Mục Lục


3. Mùa Nước Lũ ( kỳ 14)

Trần Công Nhung



(Trước khi vào truyện: Ðây là câu chuyện hư cấu, nhưng lại dựa trên những địa danh có thật, một vài nhân vật có đời sống y như ở ngoài đờị Nó là câu chuyện tâm tình của những người tôi quen. Sự trùng hợp tên tuổi hoàn toàn ngoài ý muốn của người viết.)

......
Bổng nhiên có người cho Nam hay bà Nhiêu đã di cư vào Ðà Nẵng. Nam mừng cuống lên, xin phép nghỉ học để đi tìm Mẹ. Người cho tin là chỗ quen biết, cứ theo cách mô tả thì không saị Cái khó là lời chỉ dẫn rất mơ hồ : "Bên Sơn Chà". Nam gởi các em cho bà Ðiền rồi đi Ðà Nẵng.

Ngày đầu Nam tìm khắp Sơn Chà không một ai biết bà Nhiêu bán bánh đúc. Ðến chỗ ngày trước, nơi tàu cập bến, trại di cư giải tán lâu rồị Nay là đồn binh. Vào các chùa, trường học, bất cứ trung tâm tiếp cư nào, Nam cũng lùng sục mà chẳng thấy tung tích Mẹ đâụ Cuối ngày người mệt muốn đuối, hỏi thăm còn một vài chỗ, nhưng trời đã chiều, lại mưa, Nam đành vào một trường Tiểu Học ngồi trước hàng hiên nghĩ tạm qua đêm. Thu mình trong một góc tường, Nam đang thiu thiu, bổng có người đến hỏi :
- Em đi tìm ai mà ngồi đây ?
Mừng quá kể hết chuyện của mình, Nam được mọi người thông cảm :
- Trong này cũng có một số gia đình di cư đang tá túc nhưng không có ai là bà Nhiêu bán bánh. Em cứ tạm ở đây rồi mai đi tìm.
Bà con cho Nam một ly sữa, Nam vô cùng cảm kích. Nam vừa uống xong ly sữa thì có mấy người lạ mặt, đến hỏi giấy tờ. Nam đưa thẻ học sinh và thành thật trình bày cảnh ngộ của mình. Họ chỉ hỏi qua loa rồi dẫn Nam đị Nam đã hiểu, trong khi cho Nam uống sữa, đã có người đi báo công an. Nam bị đưa về ty công an cách đó không xạ Sau khi hỏi cung, Nam bị đẩy vào phòng giam chung với nhiều tù khác. Nghe tiếng mở cửa, vài người tù đã vội ngồi dậỵ Nam sửng sốt trước cảnh tượng lạ lùng chưa từng thấỵ Dưới ánh sáng vàng của bóng đèn chừng 40 watt, căn phòng giam không rộng bao nhiêu mà người nằm sắp lớp, lại có cả đàn bà. Nam đứng như trời trồng, không biết phải làm sao, một người lớn tuổi lên tiếng:
- Vô trong này mà nằm.
Nói xong ông ta chỉ cho Nam một chỗ trong góc. Thực tình Nam chẳng thấy có chỗ nào trống, nhưng lúc Nam bước tới thì người ta nhích ra dành cho Nam một khoảnh vừa đặt cái lưng. Mọi người không ai thắc mắc gì về Nam, họ tiếp tục giấc ngủ hoặc nghĩ về chuyện riêng tư của mình. Nam thấy ê ẩm mệt mỏi, không còn muốn suy nghĩ gì nữạ Thần kinh Nam căng như một sợi giây đàn. Nam không tài nào nhắm mắt, Nam thấm thía về sự bất công của xã hội mà hàng ngàn năm nay con người cố tìm cách để xóa bỏ. Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng tốt đẹp, Nam nhớ trong một bài ngụ ngôn của La Fontain câu nói đó. Người cô thế không có lẽ phảị Sau lần dại dột suýt bị tù, Nam tưởng không bao giờ mình làm gì để mang họa, không ngờ hôm nay tự dưng vào tù.
Sáng ra, ai nấy được gọi tên phân công đi làm. Họ làm đủ thứ việc trong phạm vi cơ quan. Chẻ củi, làm vệ sinh, gánh nước, thợ hồ ..vv..Còn lại trong phòng, mình Nam và người đàn bà duy nhất, chị Sang. Chị vào trước Nam ba hôm. Chị hỏi Nam cớ sự sao bị tù. Nghe Nam kể tự sự, chị thở dài ngao ngán. Chị bảo: "Họ nghi em là cộng sản đi do thám", chị tìm cách an ủi Nam. Chị kể chuyện về quê chị, vùng Duy Xuyên. Ðây là vùng "xôi đậu" nên luôn luôn bất ổn. Thấy áo Nam rách chị bảo cởi ra chị khâu chọ Chị săn sóc Nam như em. Nam thấy lòng mình ấm đôi chút nhưng nỗi oan ức thì cứ dằng dặc khôn nguôị
Nam không được làm gì cả, không ai nhắc đến Nam. Ðiểm danh cũng không có tên Nam, Nam không có tên trong sổ tù nên không được phát cơm. Chuyện hết sức phi lý nhưng không biết hỏi aị Ðến bữa, bạn tù nhín cho Nam mỗi người một muỗng cơm. Nam không thể hiểu nỗi, người ta vứt Nam vào đây rồi quên luôn. Tù toàn người lớn, phần đông do tội biểu tình.
Ðã mười ngày rồi mà tình trạng Nam vẫn thế, vẫn là người tù không cơm. Nam lo quá, gần ngày thi Trung Học rồi ....
Vào một buổi chiều, trước khi tù về phòng, ông Trưởng Ty đến nói chuyện gì đó với mấy người sẽ được tha ngày mai, ở chỗ gần nhà bếp. Chị Sang hối Nam:
- Em chạy đến trình bày với ông Trưởng Ty đi, không sao đâụ
Nam nghe lời, ù chạy lại nhà bếp, lúc ông Trưởng Ty vừa dứt lời với mấy người tù, Nam nhảy ra phân trần trường hợp mình. Nghe xong ông bảo:
- Ðược rồi mai lên văn phòng gặp tôi.
Nam mừng hết lớn, Nam báo cho chị Sang biết và cảm ơn chị rối rít :
- May mà nhờ chị bày, không thì em ở đây mút mùa quá.
Hôm sau, tù đi làm rồi có người xuống dẫn Nam lên văn phòng. Chị Sang mừng cho Nam:
- Em được tha rồi đó.
Nam vội vàng nói mấy câu:
- Em cảm ơn chị, cho em gởi lời chào các anh các chú. Chị ở lại mạnh giỏi và cũng sớm....được.. về.
Nam nghẹn ngào đi theo người công an. Vào văn phòng, một nhân viên kiểm tra Nam về lý lịch rồi trả giấy tờ lại Nam :
- Về thẳng Huế đừng đi lang thang nữạ

Ra khỏi ty công an, Nam ngồi xe xích lô thẳng ra ga, lấy vé về Huế. Thấy Nam về, cả nhà bà Ðiền mừng rơn, nhất là hai em Nam. Ai cũng tưởng Nam đã bị tai nạn. Nghĩ vậy nhưng không biết đâu tìm, mà cũng chẳng ai có thì giờ để lo, em Nam còn quá nhỏ. Mọi người lại quây quanh nghe Nam thuật tất cả những gì xẩy ra cho mình suốt mười mấy ngày qua.

Thời gian đó bà Nhiêu đã hai lần đi Huế tìm Nam mà không biết Nam ở đâụ Bà đã làm một công hai việc. Bà về Huế nhờ người làm giấy lãnh tiền tử tuất của ông Nhiêụ Một năm lương gần cả trăm ngàn. Với số vốn như vậy bà sẽ xây dựng lại tất cả và thừa khả năng lo cho tương lai các con. Bà không biết trước đây Nam ở khu nào nên cứ lang thang gặp ai cũng hỏị Huế chỉ có một trại di cư ở Bãi Dâu bà đã thăm dò không ai biết tăm tích anh em Nam. Bà Nhiêu đành về lại Ðà Nẵng.

Trở lại trường, Nam mới hay mình đã bị đuổị Lệ thường, ai nghỉ quá một tuần không phép là bị gạch sổ. Tuy nhiên trường hợp đặc biệt của Nam được cụ Tổng Giám Thị thông cảm, Cụ thuộc Hoàng Tộc nên có biệt danh Mệ, Mệ Quế. Ðượ đi học lại Nam mừng hết lớn. Một phen hú víạ Nam như con thuyền độc mộc lên thác xuống ghềnh...Nam dốc lòng đèn sách để khỏi mất đà và bù đắp lại quãng thời gian vừa qua.

Kết quả kỳ thi Trung Học Nam đậu Bình. Ðiều đó Nam cho là hiển nhiên. Sau mùa thi Trung Học và Tú Tài là đến mùa thi chuyên ngành, Sư Phạm, Cán Sự Y Tế, Y Khoa ..vv

Những ngày sắp tới Nam chuẩn bị chen vào lớp Sư Phạm. Ðây mới là cuộc đua khá gay go, vì là Concours chứ không phải tính theo điểm ấn định. Kết quả chọn từ người có điểm cao nhất trở xuống cho đến định mức cần thiết. Trong những cuộc thi như vầy thường không ai giúp aị Tranh nhau từng phần tư điểm. Nam gạt tất cả mọi chuyện qua một bên để dồn hết nổ lực cho trận nàỵ Danh sách thí sinh gần năm trăm mà chỉ tuyển năm chục. Như vậy có nghĩa là 1 chọi 5. Nam hơi khớp song vẫn tin là mình không đến nỗi, những đề thi của mấy năm trước, Nam đã thử, thấy vượt qua dễ dàng. Kỳ thi đã đến, suốt một ngày trời quần thảo với bao nhiêu điều hóc búa trong các đề thi, Nam đã làm bài không mấy khó khăn. Nam chắc thế nào cũng lọt được vào cái tỉ lệ 1 trên 5. Bác Ðiền cũng lo cho Nam, bác bảo :
- Vái Trời cho cậu Nam đậụ Nam đậu là Bác đãị
Nam rất an tâm và đã nói niềm hy vọng của mình cho Bác biết. Sau hai tuần đợi chờ, chiều nay Nam đến trung tâm thi để nghe xướng danh. Người đi nghe kết quả còn đông hơn đi thị Cùng lớp với Nam có Khai, Thùy, Hải đều là những thí sinh nhà nghèo, muốn sớm có một nghề tự nuôi thân. Những bạn gia đình khá giả thì mộng thành Bác sĩ hay Luật sự Khai và Hải có hơi yếu nên tỏ vẻ không hăm hở lắm. Nam và Thùy tin tưởng hơn. Lúc thấy hai ba vị cầm giấy tờ ra trước máy vi âm, mọi người đang cười nói bổng im phăng phắc. Một vị gõ vào micro mấy cái cộp cộp rồi dõng dạc tuyên bố :
- Ðây là kết quả kỳ thi tuyển giáo sinh sư phạm một năm của niên khóa 55-56. Tổng số thi sinh 534, số trúng tuyển 50 :
15- Nguyễn văn Bình., 22-Nguyễn thị Lan, 30- Lê đình Tạ, .....81- Phạm quang Huy, ....217- Lâm thái Hòa,....
Nam vẫn chưa nghe tên mình, chàng toát mồ hôi hột, bóp chặt tay Thùy vừa hít hà :
- Chà gần ba chục rồị
Vừa than thở xong thì nghe: 315- Lê Thùy ...
Thùy reo lên làm cho mấy bạn chung quanh hơi khó chịụ Nhất là Khai và Hảị
Nam rầu rầu biết là mình khó dính kỳ nàỵ Thùy trấn an Nam:
- Danh sách còn dài, đừng lọ
Cuối cùng vẫn không nghe tên Nam. Ðám sĩ tử đã tản ra mỗi người một ngã, bên buồn bên vuị Thi cử là vậỵ Thùy đi bên Nam mà không biết nên nói gì. Nam buồn chia tay Thùy :
- Chúc mừng cậụ
- Cậu cũng vui lên, học một năm Ðệ Tam rồi sang năm thi lạị

Nam đi lang thang đến chiều tối mới về. Cả nhà bà Ðiền thấy vẻ mặt của Nam là biết kết quả rồị Ðể chia xẻ với Nam, bà Ðiền nói :
- Năm nay thi đông quá trời, bài lại khó. Con nhỏ bà Hai phía trên ni, đứng nhất suốt năm mà cũng rớt.
Nam biết Bác an ủi mình nên cũng gượng vui :
- Cháu đành chờ thêm một năm nữạ
- Nói một năm thì lâu chớ sắp nhập học rồị Học mấy tháng ra Tết là coi như tới ngày thị
Nam tự an ủi : "Có dịp được lên học một năm trường Quốc Học cũng oai". Năm Ðệ Tam, Nam học hai chương trình, phải thường xuyên ôn bài Ðệ Tứ, nhất là môn Sử Ðịa, Vạn Vật. Lơ vài bữa là quên. Chẳng mấy chốc đã đến Hè. Nam quyết phen này phải vào cho được lớp Sư Phạm. Gần ngày thi, Nam bỏ hết mọi việc, dồn tất cả nổ lực cho "trận quyết định". Hôm đi thi mọi người trong nhà chúc Nam may mắn. Loan ít nói nhất cũng lên tiếng : - Em chúc anh Nam đậu kỳ nàỵ
Nam chợt nhìn Loan và nhận ra trong nhà có một người con gái mà lâu nay Nam không hề biết.
Sở dĩ ai cũng cầu mong cho Nam thi đậu vào lớp Sư Phạm là vì hiểu hoàn cảnh Nam. Sau ba ngày thi, Nam phờ cả ngườị Nam cũng nhận thấy chưa có cuộc thi nào làm Nam vất vả như vầỵ So với lần trước Nam làm bài khá hơn nhiều, tuy nhiên Nam không tỏ ra vui quá đáng, sợ lại "học tài thi phận".
Kết quả Nam được xếp hạng 15 trong số 50 giáo sinh trúng tuyển. Nhà bác Ðiền vui tưng bừng. Bác rất hãnh diện trong việc giúp anh em Nam. Ngày hôm sau, nhằm chủ nhật, bác thết cả nhà một bữa thịnh soạn. Bác biểu Loan đi chợ sớm, mua các thứ về nấu một nồi bún bò, mua thêm một rỗ bánh nậm bánh bột lọc, lại thêm nồi chè đậu đen. Vào tiệc Bác nói:
- Hôm nay mừng cậu Nam thi đậu, Bác đãi cậu Nam, chúc cậu còn nhiều may mắn nữạ
Ðám nhỏ vỗ tay bôm bốp và hăm he cầm đũa nhưng Nam kịp ngăn lại :
- Thưa Bác, đúng ra là cháu phải chịu bữa tiệc nàỵ Cháu vô cùng cảm ơn Bác, nếu không có Bác thương mà cho anh em cháu tá túc thì chắc chắn cháu không thể nào có ngày vui hôm naỵ
Ðăng nghe vậy nhảy ngay vào :
- Anh Nam nói đúng đó Má, anh sẽ làm một bữa để đãi cả nhà.
Bà Ðiền cười vui vẻ :
- Mi đừng có nói tầm bậỵ
Nam quay qua Loan :
- Anh cũng cảm ơn Loan rất nhiều, nhất là bữa tiệc hôm naỵ
Loan hơi bẽn lẽn không nói gì. Bà Ðiền cầm đũa mời cả nhà :
- Thôi mừng cậu Nam.
Mười cánh tay a cái rào vào rổ bánh. Loan nhỏ nhẹ nói: - Ăn bánh trước, bún bò saụ Ai ăn thì kêu múc.
Nam vừa cười bảo Loan:
- Loan mà nói vậy rồi ngồi múc suốt buổi sao ?
- Ðăng pha trò :
- Anh Nam đừng lo, chị Loan có cất phần riêng dưới bếp rồị
Mọi người cười ồ, bữa tiệc đạm bạc mà đậm tình. Trong khi đang vui tự nhiên Nam buồn hẳn xuống. Nam vừa nghĩ đến Mẹ, vừa nhớ Thảọ Phải giờ này mà có Thảo thì vui biết chừng nào!

Còn một tháng nữa mới khai giảng, Nam cố thu xếp để đi tìm Mẹ lần nữạ Phần nhớ Mẹ phần thương nhớ Thảo, Nam thấy người không yên. Nhưng chuyện cũ, làm Nam do dự. Lỡ bị tù một lần nữa mà không ra được thì tiêu cả cuộc đờị Cuối cùng Nam đã có cách, ban ngày đi tìm, chiều ra ga ngủ. Người ta vẫn ngủ chờ tàu thiếu gì, và không ở lại lâụ Nam thu xếp đi Ðà Nẵng. Chuyện di cư đã một năm qua, không còn ai nhắc đến nữạ Các trung tâm tiếp cư như trường học, chùa, nay đã giải tán. Ðồng bào được chuyển đi định cư hoặc tự động về các địa phương. Suốt một ngày trời không tin tức, Nam lại ra ga nghỉ đêm. Sáng hôm sau đi chuyến tàu sớm về Huế.

(Còn tiếp)
Trần Công Nhung, Tel.(310) 978-8978,
email: trancongnhung@yahoọcom,
homepage:www.ltcn.net



Trần Công Nhung
10/01


Mục Lục


4. Về (kỳ 20)

Thanh Sơn



Lễ chúc thọ chấm dứt lúc quá trưa một chút. Ðại gia đình dự bữa ăn thanh đạm để chia mừng tuổi thọ của cụ. Sau đó mạnh ai nấy ra về lo công việc của mình. Chỉ còn lại ở bên cụ là gia đình ông anh trưởng, bà chị kế và gia đình ông bà. Lũ cháu tản ra vườn săm soi cây trái hoặc ra ao đùa với nhau. Trong nhà là cánh người lớn chuyện trò. Trời mùa hè nóng bức, quạt máy chạy liên tục vẫn không thổi được sức oi giảm đi. Cụ vẫn thức với đám con, nỗi vui gặp lại nhau khiến cụ không thấy mỏi. Cụ ngồi yên trên tràng kỷ, thỉnh thoảng hít một hơi thuốc lào, thả khói bay lan man và hãm bằng một ngụm trà xanh. Cụ nhìn mung lung vào khoảng không trước mặt như đang tìm một dĩ vãng nào trong đó. Các con cụ trân trọng nét suy tư của cụ nên chẳng ai cất lời nào. Cụ cũng thấy vẻ u trầm của con cái làm cho sinh hoạt như trở nặng lên, cho nên cụ phải tìm cách xoá tan đi khối băng đó. Cụ dịu dàng đưa tay vuốt chòm râu trắng như cước rồi nhìn lần lượt các con. Cụ nói : cuối cùng rồi những dòng nước đã trở về với bể cả gia đình, mặc dù không tránh khỏi có một vài mất mát. Nhưng chiến tranh nào chẳng xảy ra thua thiệt, phương chi quê hương mình có lúc nào thực sự được sống trong hoà bình. Ðánh nhau với người ngoài dễ hơn anh em trong nhà tranh chấp nhau. Có lẽ vì chúng ta hiểu rõ nhau quá, biết hết những mánh khoé cử động của nhau nên đã ra tay là ra tay tàn nhẫn. 30 năm thù hận, bao nhiêu thế hệ bị chôn vùi khắp núi sông đường đất quê mình để rồi dường như chẳng còn gia đình nào không có chết chóc, tù đày, hận bực nhau. Trong mỗi cuộc đời người dân Việt cứ mỗi sợi tóc là như có một oan khiên buộc vào đó. Bây giờ hoà bình đã đến, nhưng sự ngỡ ngàng và e ngại vẫn chưa xoá bỏ đi. Chiến tranh để tìm ra một cái gì mới, vậy mà suốt đời người dân quê vẫn con trâu, cái cày đi trước và người nhẫn nhục theo sau. Tệ hại hơn là có nơi lại thiếu cả trâu để thay vào bằng sức người. Có thấy cái cảnh chồng kéo cày, vợ lái sau và thằng con lũn cũn theo chân dưới ruộng mới thấy hết nỗi chua cay mà chỉ có người dân Việt mình mới chịu nổi. Chúng ta đã nuốt thiếu thốn để chờ, mười năm rồi hai mươi năm, và thế kỷ 20 gần dứt, người ta đã bay trên mây trong khi mình vẫn còn bò lê bò lết sát đất. Vậy mà ta cứ hãnh diện là bước ra ngõ đã gặp anh hùng, anh em nhìn nhau thù hơn nhìn người lạ. Cụ ngưng lại, sức quạt máy thổi tung những sợi râu nhè nhẹ như một chút lãng đãng nào đó bồng bềnh, bồng bềnh trôi mãi mãi. Ông im lặng nuốt lời cụ. Ông biết rằng lo toan trong lòng cụ là dành cho ông. Trong cụ là một chấp tranh nội tâm giữa gia đình và xã hội. Nhiều khi chứng kiến sự rụt rè đối xử giữa các con, cụ thấy đau vì những người trong gia đình vẫn còn có một cái gì đó lấn cấn. Trước mắt cụ đứa con gái lưu lạc từ khi mới 9 tuổi bây giờ trở về đầu bạc rồi, đến khi nào thì oan khiên mới hoàn toàn rũ bỏ. Ngày còn đạn bom nổ, nhiều đêm cụ đã nghĩ thương con gái chả rõ phiêu dạt ra sao. Những tin tức loáng thoáng như những lửng lơ, cái rõ cái không, chỉ làm cho lòng già của cụ thêm nặng điều đau xót. Vào những lần bị bầm dập của cuộc đời cụ đã thấy, ấy may mà cụ đã có những mất mát với xã hội vậy mà vẫn không được buông tha. Liệu một mai khi dứt tiếng súng rồi, dù ai là người được thì sẽ đối xử với nhau như thế nào cho những tang thương vì nhau mà đã có.

Ðã mấy lần tấm thân già của cụ tiễn chân các con trai đi làm việc nước. Ðứa nào đi mặt trận thì đi, người còn lại phải lếch thếch dắt nhau lên miền ngược. Người ta bảo kẻ đi chiến đấu thì gia đình phải yểm trợ nêu gương bằng đi xây dựng kinh tế mới. Chả gia đình cụ có mắc mứu, dù cái mắc mứu đó là do chính họ bày vẽ. Ðể rồi thân già ngã lên ngã xuống vì những cơn sốt rét vỡ da, có lúc đã tưởng ngày về với cỏ cây trước mặt. Niềm đau xót vì thương lo cho con hoà với bức xúc vì chính thân phận mình đã làm cho tuổi già càng chóng già và những nếp nhăn càng hằn sâu trên trán, má. Mãi đến khi hai cái chết của hai người con bên ngoài nước mới gỡ giảm đi mắc mứu của cụ. Lần hồi cha con lại dắt díu nhau về chốn làng mình. Ngày đi ngổn ngang trăm mối, ngày về càng trăm mối ngổn ngang. Nỗi lấm lét nhìn nhau sợ lây vạ làm cho cháu chắt cụ vẫn chẳng dám vồ vập mừng cụ trở về. Những ngày tháng đó cụ đau cắt ruột, chỉ mong thôi thì chết đi cho rảnh để con cháu khỏi phải lĩnh nợ thay. Nhưng chết đâu phải dễ, dù mắt nhắm mà hơi thở đâu có trút ra ngoài. Cho nên mắt vẫn cứ phải nhìn, tai vẫn cứ phải nghe, miệng vẫn cứ phải ngậm mà lệ trào ướt gối. Bây giờ những bóng đen đó đã tan rã, vậy mà chợt nghĩ về, chợt nằm mơ vẫn còn thấy run chân run tay. Cuộc đời cụ đầy sóng gió, phương chi thời thế lại hất lật tan tành. Cụ như cây khô thiếu nước, bao nhiêu tình thương của cháu con vẫn không xoá đi nhọc nhằn cụ đã chịu. Năm nay cụ ngoài 90 rồi, suốt cả tháng năm dài chờ đợi một dáng hình hạnh phúc mà sao hạnh phúc vẫn cứ lơ lửng nơi đâu. Mười năm trước hẹn nhau mười năm tới đất nước mình sẽ giàu mạnh, thế mà đã bao nhiêu lượt mười năm rồi vẫn cứ cơm thiếu, áo co. Ðến khi nào thì mới nhà nhà có cơm ăn, áo mặc. Trẻ con làng này còn nhiều cháu thất học rong chơi, có nhà vẫn còn phải ăn ngày một bữa. Giữa những người có hi sinh cũng như những người tay trắng giống hệt nhau về tình cảnh, chỉ có thiểu số giàu lên, nhưng thiểu số đó chẳng thể đến lượt mình. Cụ chẳng còn tiếc gì nữa, chỉ ước ao được sớm trở về với đất, được chôn cạnh bên cụ bà để đêm đêm ru mình trong gió mà ngẫm chuyện đời trong đục nổi trôi.

Ngày hoà bình cụ nao nức vào thăm ngay đứa con gái lưu lạc. Nhìn tận mắt con chạy ăn từng bữa, luồn lách bủa vây, nuôi chồng tù tội, các cháu ngác ngơ, cụ thấy như cả bể muối đã xát xa, xát sâu vào ruột cụ. Thương con, thương cháu và nhận lấy nỗi bất lực của mình, cụ khóc lên khóc xuống. Cho nên định là ở với con với cháu ít ra là 6 tháng, đùng cái cụ bỏ đi ngay như người chạy trốn. Cụ chạy trốn sự phân biệt tàn nhẫn của người đời, chạy trốn cái ám ảnh không gỡ gì cho con cháu. Từ đó cụ không bao giờ có ý trở vào với con cháu nữa, dù con cháu khẩn khoản mời. Vậy rồi con rể cụ ra tù, lại đưa được con gái cụ đi biệt xứ, nay về với cụ một lần không biết còn hi vọng về lần nào nữa. Vì tuổi già như bóng nắng ngoài hiên, chợt bùng lên chợt lịm tắt. Lỡ khi con không về thì liệu cụ có đành lòng nhắm mắt xuôi tay khi phút cuối lâm chung ?

Chợt cụ thở dài. Các bà chị vội quơ ngay tấm quạt nan phe phẩy quanh cụ. Các bà chị muốn xua đuổi đi trào lòng của cụ, dù biết rằng chẳng có quạt tiên nào cất đi nổi lòng thương của cụ với con. Bà là em nhỏ nhất trong nhà nên được chiều không phải quạt hầu cụ. Nhưng sự nặng nề như còn đè nặng bóp nghiến trái tim bà. Bà lấm lét nhìn lên bố đợi chờ một cử động nơi cụ. Chỉ thấy cụ lần dò đưa bàn tay khô đét tìm nắm lấy tay bà và không dưng chẳng ai bảo ai tất cả cùng oà lên khóc. Ông cũng không giữ nổi giọt lệ. Nắng nghiêng dần, chiều tím thẫm trong sân. Nghe lao xao trên cành cây tìm về tổ. Không biết chim hót kia mà lòng có thực sự vui chăng ?

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Giọt Nắng Ban Trưa

Vũ Thị Thiên Thư

- Gẫy ,gẫy ,cô sáu ơi ,cái nhánh nhỏ xíu ghê quá
- Quắn ơi,mầy tuột xuống dùm tao,tối ngày cứ thượng trên đọt cây .
Cô Sáu bước ra từ sau bếp hỏi vọng lại
- Tui ở trên ngọn cây hồi nào,sao má không nhìn vậỷ
- Tại mầy cũng ít leo trèo quá đỗi, tao không la chừng chừng thì có ngày cũng hốt xác mầy cho coi. Cái nhánh cây trứng cá có bằng ngón tay mà cái thân ba tạ của mầy thì giống gì chịu nổi.

Cái góc vườn nhỏ với cây trái xanh mượt,tàng cây ô môi lá mỏng lưa thưa ,hoa nở hồng mỗi tháng hai,gốc trứng cá già nua nghiêng tàng rộng che một bên sàn nước, mấy rổ chén nằm lặng lẽ trên giàn phơi nắng trưa. Cô Sáu đặt cái nồi cháo gạo lức xuống sàn, lấy hai cái thau nhỏ bằng nhôm,múc ra mỗi thau một giá chia đều ,chan thêm vào một ít cá kho ,mang mỗi thau đặt vào một góc bếp ,rồi gọi hai con chó đang chầu chực vào ,cô ngồi chầm chầm nhánh cây làm roi,hai con chó thi nhau ăn phần của mình, con Vàng gìa hơn,ăn chậm,thường bị con Vện ăn mất phần,cô chờ cho đến lúc con Vàng ăn xong thì mới cầm cây roi giắt lên vách bếp, nhặt hai cái thau đã hết thức ăn ,múc nước xối và tráng lại cho thật sạch rồi úp xuống gầm bếp.

Nắng trưa nhảy múa trên mấy trái trứng cá chín đỏ, cây mãng cầu có một trái vừa đổi màu da ửng vàng, chỉ một hôm nữa là chín cây, phải canh chừng bầy chim lai vãng cùng mấy đứa trẻ con hay nghịch ngợm . Cây đu đủ bên góc nhà có mấy trái vừa trổ màu mỏ vịt,cô Sáu bước tới ,nhìn vào màu da xanh đậm vừa ửng sang vàng cam rực rỡ, vói tay lên đở lấy phần bụng rồi xoay ngang, trái đu đủ rơi xuống ,mũ trắng đục như sữa từ cuống và thân cây chảy dài từng giọt . Bước xuống cầu ao,cẩn thận nhúng cả trái vào nước trong xanh biếc,gọt bỏ lớp vỏ bên ngoài, xả cho sạch mũ,bổ ra làm đôi ,gợt hết hột non, hột gìa khoát nước cho trôi ra xa làm mồi cho mấy cái miệng cá dồ háu đóịCô mang trái đu đủ đã rữa sạch vào bào thành những lát dầy chùng nửa phân. Cái khạp muối to hột chỉ còn lưng nửa, cô hốt một nhụm, cho vào chén,xối nước rửa bớt bùn đất đen rồi mở nắp keo đựng dấm bằng thuỷ tinh trong tủ chén ,khỏa mấy con dấm vừa tượng hình trên mặt, mùi dấm nuôi bằng chuối xiêm trắng thơm ngát , vừa chua vừa ngọt ,hai dòng nước miếng bắt đầu ứa ra trong miệng, dấm mới nuôi ,vừa tan mùi rượu, hòa với muối cục ăn đu dủ mỏ vịt thì không còn chổ nào chê được…

Trong nhà ,buổi trưa thật im lặng, tiếng máy may cọt két nhịp nhàng đã ngưng hẳn từ lâu, chỉ có tiếng mái nhà tôn trở mình lắc rắc trong nắng trưa. Cô Tư cầm cây quạt mo phe phẩy, nóng ghê người,trời nầy chỉ có nhào xuống sông ngâm mới mát được, nghĩ đến con sông là đã thấy trạo trực cả người. Cô tiếc cái thời tuổi nhỏ hồn nhiên , muốn tắm sông chỉ cần nhào xuống nước ,bơi cho đến lúc rong rêu bám đầy trên khoé môi như hàm ria mép của ông Cả sáu, bơi chán chê hai hàm răng đánh bồ cạp khua nhau lập cập mới chạy lên bờ. Cô lại nghĩ đến trời mưa, những cơn mưa đầu mùa xối xã, mưa như trút nước ,dứng kê đầu vào vòi nước phun ra như thác lũ dưới lòng máng xối,nước chảy mạnh không kịp vuốt mặt, cả người ướt loi ngoi nhưng mát tận đáy lòng.

Bây giờ suốt ngày cô ngồi với cái máy may, năm nầy sang tháng nọ,chỉ còn lại những ngày đầu năm, khi chưa đến ngày cúng tổ để ra nghề thì được nghĩ ngơi dăm bửa,năm nào ngày tốt,phải chọn vải ,cắt một bộ quần áo lấy ngày từ mùng một Tết rồi mới lại thu xếp công việc để dược nghỉ ngơi dăm ngàỵThuở nhỏ trông ngóng từng ngày, từ tháng chạp đã chờ cho đến rằm, đến ngày hai mươi ba đưa ông táo về trời, chiều hăm chín vào thay áo mớị Làm người lớn thật là phiền, mỗi năm Tết đến là bận tối tăm mặt mũi , phải may ròng rã cho kịp ngày hẹn để giao cho khách hàng ,nhiều khi phải ngồi may đến quá nữa đêm,đúng là gắp như gắp Tết .Chưa kể mỗi lần ra khỏi cửa phải xin phép, muốn xuống sông tắm phải chờ những đêm sáng trăng thật khuya ,khi cả hai dẫy phố chợ im lìm, vậy mà Dì vẩn còn ngăn cản:

- Con gái con đứa,lớn chồng ngồng rồi,lặn lội như ông nược,bộ xuống sông bắt bà thuỷ hả,coi chừng có ngày ma da lôi tuột xuống Long vương bây giờ.

Công việc trong nhà từ giặt giũ nấu ăn, quét nhà rữa chén, cô đã quen làm từ khi tóc còn kẹp lơ lững sau lưng.Dì bao giờ cũng chỉ ngồi trên bộ ván gõ bên chén nước trà, khách hàng vào cũng không buồn tiếp. Cũng may mắn là mấy năm trước đây Cô Tám thợ may nhìn thấy hoàn cảnh của cô Tư nên thương hại xin với Ba
- Anh Tư, Con Vấn năm nay mười sáu rồi,rằm tháng giêng tui cúng ,anh cho nó sang bái tổ,tui dạy cho nó cái nghề,mai mốt anh có gã nó đi lấy chồng thì cũng không phải ra đồng chan chát nắng mưa
- Cô tính vậy cũng được,để anh bảo Dì nó mua bông hoa và nãi chuối cau sang cúng,cô cũng ráng chỉ biểu cho nó thành tài.

Hai năm học nghề với bà thầy ,những ngày đầu tiên lại tiếp tục làm việc như con ở trong nhà, sáng đi chợ mua thức ăn,nấu nướng và dọn dẹp xong, bà thầy mới gọi vào chỉ cho chồng vải mới, bảo mang nhúng nước rồi căng lên dây hong gió ,chờ đến lúc vải vừa khô, mang vào gấp cẩn thận, bao giờ cắt thì mang ra dùng bàn ủi bằng thau để than nóng ủi lại cho thẳng nếp . Buổi trưa ,lúc bà thầy nghĩ ngơi thì cô ngồi tháo từng mũi lượt,đếm từng canh chỉ luôn , ủi từng vạt áo bà ba, hay làm từng khuy áọ Buổi chiều, tiếp tục lo cơm nước , mang củi vào gầm và lau chùi nồi niu ,bếp núc cho sạch bóng . Nhửng khi cần giao áo cấp bách ,mùa áo cưới hay sắp Tết,lại chong đèn luôn áo đến đêm khuya.

- Một ,hai,một hai
Nhịp đếm đều đặn theo từng bước chân đi,đội Thanh nử cộng hoà trong đồng phục xanh rêu và nón lưỡi trai , hầu hết là những cô gái quê trong xã ấp , nhà nào có con gái trong hạn tuổi đều phải chọn ra một cộ Họ ngồi chụm năm chụm ba trong nhà lồng chợ,chờ cho đến lúc chợ tan,mặt trời vừa lên khỏi ngọn cây, cô huấn luyện viên sẽ tập họp tất cả lại, điểm danh ,sau đó là phần luyện tập thao diễn cơ bản,Bước đầu chỉ tập so hàng, tập bước đi cho đều đặn theo tiếng đếm nhịp hay tiếng còi, sau đó đến những động tác thao diễn bằng súng gỗ, loại báng dài như súng trường … từ những bước căn bản sang phần di chuyển theo đội hình, chia ra thành từng toán nhỏ, đi cùng chiều hay nghịch chiều như cánh quạt, xen kẻ nhau, lập nên nhiều đội hình thật là đẹp mắt,

Buổi trưa khi mặt trời đứng bóng cũng là lúc tan hàng,những bộ đồng phục ướt đẫm mồ hôi,những cái khăn tay thêu mỏng manh sáng ngày trắng nuốt đã chuyển thành màu vàng đất nâu .Cô Sáu vừa đi vừa cầm cái mũ lưỡi trai phe phẩy, mấy cái vụ tập đi đứng nầy thật là tốn mồ hôi, nhưng được cái là không phải bận quần lảnh đen và áo bà ba .Cô vuốt lại cái quần tây dài ,cái áo sơ mi cụt tay, ít nhất nhìn cũng dễ coi hơn là bộ quần áo hàng ngàỵCái ông trưởng ấp thật tức cười,nghĩ đến chị Tư mặc cái thứ quần áo nầy đi giữa chợ cho thuốc liều cũng chưa dám nữa là.Chị nằn nì xin miễn,nhưng đã có lệnh,cuối cùng thì cô thương hại nên tình nguyện đi thaỵ Cũng may là có mấy đứa bà con cùng đi nên cũng đỡ quê, nhất là không phải lo chuyện làm cá nấu cơm. Mỗi sáng chờ tụi nó đến , chuẩn bị , luân phiên nhau chải đầu ,rẽ đường ngôi ,chẻ ngọn , thắt thành hai sợi bính dài, cột ngọn lại hai bên tai,xong xuôi mới đi thay quần áo . Tất cả thường hẹn nhau ở nhà cô,vì cô ở gần chợ,mấy cô khác nhà ở tận trong ngọn cùng ,hay ngoài vàm sông cái .Có cô cùng tuổi,có cô lớn hơn, nhưng là con duy nhất trong nhà, lện ban hành cần một người cho mỗi nóc gia nên dù không muốn cũng phải vào nhập bọn. Các cô hầu hết lớn lên bên cạnh ruộng vườn,sông nước,quen mặc áo bà ba quần lảnh đen ,áo dài và quần saten chỉ trong ngày Tết hay cưới xin, các cô không quen mặc quần tây bó sát chân nên rất ngượng ngùng bối rốị Cô nào cũng mang bộ đồng phục lảnh được gói lại cẩn thận ,chờ đến tận nhà cô Sáu mới rũ nhau thay ra, nhìn quanh ai cũng như mình thì tay chân cũng đở vụng về thừa thãi.

Cuộc sống ở làng quê sau ngày đất nước chia đôi cũng dần dà thay đổi, Nhà lồng chợ cạnh Ðình làng bị đốt cháy thuở xưa được thu dọn sạch sẽ, lấy chổ xây thành khu trường học với hai dẫy lớp học vách bằng gỗ, mái lợp tôn.sáng tinh sương đã nghe hai tiếng trống tụ buổi đầu ,sau đó là hồi trống nhập học ngân dài thúc dục , đã có tiếng trẻ ê a,nhịp thước kẻ đều đều . Toàn thể khu chợ được dời về bên kia dòng sông, thành lập một khu phố chợ mới ,gồm hai dãy nhà đối diện nhau, một dãy trên bờ và một dãy nằm tựa bờ sông , lác đác những căn phố chợ hai tầng , tường xây gạch,vách tô xi măng láng và sơn màu ,mái nhà lợp bằng ngói đỏ miếng dẹp hay bằng tôn xi măng. Con đường chính giữa được,cán cho bằng mặt bằng đá xanh, trên lại trải thêm một lớp sỏi nhỏ cho mịn màng ,nhờ vậy sang mùa mưa cũng bớt lầy lội.

Trường tiểu học sơ cấp chỉ có từ lớp năm đến lớp nhất, sau đó học trò phải xuống tận trường trung học ở chợ quận cách đó chín cây số để tiếp tục học đến hết năm đệ tứ và thi bằng Thành chung ,tức là xong Trung học Ðệ nhất cấp . Chỉ có một số ít con cháu của Hương chức,hội tề hay gia đình giàu có trong làng mới có đủ khả năng cho con cái tiếp tục học hành.Hầu hết học trò sau khi học đến lớp nhất,dù thi đậu hay rớt Tiểu học cũng chỉ trở về nhà,nhất là con gái, càng không được đi xạvì quan niệm con gái chỉ cần biết tính toán cộng trừ, biết đọc, biết viết chử quốc ngữ là đủ rồị Chiến dịch cưỡng bách giáo dục giúp cho trường học thêm một số học sinh tuổi đã lớn, nhưng vì ở xa làng xã, thiếu phương tiện di chuyển và không có cơ sở giáo dục. Ngoài trường công lập ,còn lại một ít trường tư thục do các thầy giáo về hưu mở tại tư gia ,họ cũng có một số học trò vì những lý do khác nhau không kịp đến trường trong hạn tuổi, chỉ đi học cho biết đọc, biết viết …

Oâng Tư thợ bạc về lập nghiệp ở quê vợ, được ít lâu ,không may bà vắn số, ông tục huyền, người vợ thứ nhì quê tận rạch Tầm du , nhưng ông Tư vẩn tiếp tục ở lại đây sinh sống , ông đã tạo được một cơ sở làm ăn vững vàng, ngoài ba đứa con với người vợ lớn ,bà vợ sau nầy sinh thêm được hai cô con gáị.Cô Ba ,đứa con gái lớn nhất đã gã theo chồng về làng bên cạnh, cô Tư bây giờ cũng học xong nghề may, cô mở một gian hàng trong góc nhà, bên cạnh cái tủ chưng bày bông tai,vòng xuyến ,chuổi hột ,dây chuyền ,hàng làm mẫu của ông.Chú Năm hiện nay Oâng đã gởi đi Sài Gòn trọ học cùng đám con ông Cả Ba ,ông Hương hào và ông chủ Lữ, cô Sáu cũng vừa học xong lớp nhất ,thôi học chử ,đang chờ học một nghề , cô Bảy cũng là cô gái út thì hãy còn bé,vẩn hàng ngày cắp sách đến trường.

Trong sổ hộ tịch xã cũng như trong giấy khai sinh của mỗi người đều có tên riêng, nhưng thói quen ở làng quê vẩn gọi con cái bằng thứ tự trong gia đình .Ðến lúc lớn lên ,vào trường học thì mới được thầy giáo gọi chính danh , khi có tuổi tác thì lại gọi bằng danh phận hay nghề nghiệp,Oâng Hà Hữu Tâm trở thành ông Tám thiếc vì ông có cửa hàng buôn bán dây kẽm ,thùng nhôm,đinh ốc,những thứ kim loại…Oâng tư trong căn cước ghi tên là Lê Chánh Thi,nhưng tên ông đã thành ông Tư thợ bạc từ ngày mở gian hàng buôn bán ,sữa chữa vàng bạc ,làm nử trang trong chợ, cũng như cô Lê thị Minh Trang, thuở nhỏ cô rất tinh nghịch ,leo trèo , chổ nào đám đông ,lên đồng thầy pháp trừ tà bắt ma, tụ tập thi bắn giàn thung, súng giã, đánh nhau ,bơi đua,cô đều có mặt như bọn con trai,cô có mái tóc ngắn quăn queo trước trán lúc nào cũng cháy vàng vì chan chát nắng trưa ,tên cô biến thành Sáu quắn,mọi người quen gọi thành biệt danh,không ai buồn nhớ đến cái tên thận sự đẹp đẽ ông Tư đặt cho cô vào lúc mới lọt lòng.

Trong bốn cô con gái,Cô ba Tâm đã yên bề gia thất, Oâng Tư gã cô cho người học trò sau ba năm theo học nghề thợ bạc với ông,hai vợ chồng trẻ đưa nhau về chợ ở làng bên mở một cưả hàng nhỏ cần cù lập nghiệp. Cô tư Vấn tuổi đã qúa hai mươi, tính tình hiền hòa ,điềm đạm, cô làm nghề thợ may, rất chăm chỉ ,suốt ngày với chiếc máy Singer và tiếng kọt két của bàn đạp , chắt chiu tiện tặn , tiền kiếm được cô mua vàng lá để dành hậu thân , mai kia mốt nọ theo chồng làm của hồi môn, có chút vốn liếng ban đầu cùng chồng mở cơ lập nghiệp .

Cô Sáu là người thật hồn nhiên tinh nghịch, học hết lớp nhất trường tiểu hoc,bà Tư bảo thôi học về nhà lo làm lụng kiếm ăn. Cô vâng lời ,có lẻ vì đã chán cảnh ngồi hàng ngày làm những bài toán khô khan ,viết những bài luận văn ngớ ngẩn , trong lúc cả một vườn cây xanh bóng mát, bao nhiêu hoa trái ngon lành , bao nhiêu là sách vở hấp dẩn ,cô say mê theo dõi những nhân vật thần kỳ như thám tử Kỳ Phong, hay truyện tình tiết éo le như Ngọn cỏ gió đùa của Hồ biểu Chánh ,chưa kể bao nhiêu chuyện hoang đường ,chuyện Liêu trai chí dị … Cô Sáu vốn đã không chú tâm học hành cô Tư dạy cho học may vá thì cứ trốn ra vườn trèo cây, hay lấy trộm cuốn tiểu thuyết mang ra góc hè ngồi ngấu nghiến.Cô không có tính kiên nhẩn,và nhất là chỉ thích rong chơi .Bảo cô ngồi luôn từng mũi kim hay lượt từng nếp vải còn khổ sở hơn là ngồi tù ,cuối cùng chỉ có ông Tư ,là người có đủ quyền uy sai khiến ,bảo cô di nấu nước me chùi cho sáng mấy món nử trang, dùng pin tạo dòng điện âm dương để mạ vàng vào các món nử trang bằng đồng pha hay vàng thấp nước tuổi ,ít nhất thì cô không dám trốn đi trước khi công việc hoàn thành.

Xóm chợ quen với những trò tinh nghịch,cô trêu cả gìa trẻ,bé lớn.Bà Tư còm gánh bánh chuối đi bán, bà mang chứng bệnh liệu , chỉ cần đến gần làm bà giật mình thì bảo gì bà sẽ làm theo , cô chờ bà gánh đến gần rồi nắm tay bà ,hét vào tai mệnh lệnh mệâng đếm nhịp,thế là bà vừa đi theo nhịp đếm,đôi gánh nhịp nhàng đong dưa, thân hình nhún nhẩy ,nước trong quang gánh đổ ra tung toé… Chán , Cô cầm đầu bọn trẻ mang hộp lon sữa bò chất thành hàng ,núp sau cánh cửa rồi giăng dây kéo ngang hàng hiên , chờ nạn nhân nào xấu số ,vô tình đi ngang thì kéo cho vướng dây vào chân ,bao nhiêu lon hộp đổ lổn cổn…cả bọn kéo nhau cười bò lăn .Cô mà ghét ai thì sẽ bày trò cho bọn trẻ tinh nghịch ,trêu ghẹo cho đến xin tha mới chịu thôi.

Khu chợ quê cũng trôi theo ngày tháng,những biến chuyển thời cuộc, những cuộc bầu cử thay đổi chính thể … chỉ khuấy động đôi chút rồi lại trở về với cuộc sống thầm lặng,người dân quê còn phải lo lắng ngăn chặn nước nổi hàng năm, mùa màng từng vụ, đã thưa đi những cơn bắn sẽ,những tiếng kèn tây bên kia sông, tuy nhiên đồn nghĩa quân và mấy vòng kẽm gai vẩn còn để nhắc nhở sự hiện diện của cuộc chiến chưa tàn ,những thông điệp hàng năm ,những đoàn cán bộ xây dựng nông thôn những buổi chiếu bóng hàng tuần, tờ bích chương dán đầy mấy gốc cây …

Mỗi ngày chỉ có hai chuyến xe đò về tỉnh lỵ, bến xe nằm cạnh đình làng.Những chiếc xe lôi thùng kéo bằng xe mô tô Harley đã thay cho xe đạp bằng chân ,từ đầu làng ra tỉnh lộ chỉ có hơn ba cây số đường trải đá xanh . Ðể sang chợ, phải qua một cây cầu bằng ván gỗ, sau nầy nhờ chương trình viện trợ của Hoa Kỳ ,cây cầu đã được đúc bằng xi măng ,móng sắt ,có lan can cẩn thận.

Người khách lạ vừa xuống bến xe lôi qua cầu làm xôn xao xóm chợ, người đàn ông trung niên,đội nón nỉ đen ,mặc bộ bà ba lụa mềm,chân đi guốc dông. Cùng đi với bà Tám thợ may, người trở về sau mấy năm đóng cửa tiệm, nghe nói bà đi Sài Gòn ở với cô con gái duy nhất và chàng rễ làm nhà báo ,viết tin tức cho tờ Tia sáng.Căn nhà cũ bà cho vợ chồng người em họ thuê lại để buôn bán. Bà Tám vừa đi vừa chào hai bên xóm chợ,dừng lại một chút với Bà Hai bán trầu, bà Tư hàng xén , ông Tàu bán bánh kẹọ Sau khi đi thăm một vòng người quen trong chợ,Bà giới thiệu người cùng đi là đứa cháu họ xa,bà định mang về làm mối cho cô học trò .Cuối cùng thì ai cũng biết Bà định mai mối cho cô Vấn,con gái ông Tư thợ bạc .

Nhà ông Tư thợ bạc không dọn hàng sáng nay , cửa hàng của cô Vấn cũng không bày ra vải lụa như mọi ngày, bộ ván gõ nơi bà Tư thường ngồi được trãi một lớp chiếu hoa, thứ chỉ dùng trong ngày giỗ Tết, cái bàn chứa đủ thứ dồ nghề lỉnh kỉnh , kềm,khoan, ống thổi của ông Tư cũng phủ lên một lớp khăn.Oâng Tư bình thường chỉ mặc cái quần đáy nem lưng vận, mình trần,hôm nay khoát lên bộ bà ba trắng ngà , tóc bạc lơ thơ dăm sợi cũng chải dầu óng mượt.Cả nhà có cái không khí rộn ràng, Bà Tư vào tận bếp để lo nấu nướng thức ăn . mấy cái bình trà và mâm bánh sắp sẳn trên tấm phản sau nhà.Lủ trẻ con đánh hơi lạ đứng thập thò ngoài cửa,thường khi bà Tư đã đuổi chúng đi, nhưng hôm nay bà chẳng buồn để ý,ngay cả cô Sáu cũng không liếng thoắng như mọi khịcô bảo bọn nhỏ hôm nay nhà có việc quan trọng,hôm khác sẽ đến chơịNhưng cái tính tò mò cố hữụchúng vẩn lân la chờ, cô Sáu phải mang một gói bánh men ra hối lộ và hứa sẽ phân phát thêm nếu bọn trẻ không quấy rầỵ
Chợ vừa tan thì bà Tám dẩn người cháu mang lễ vật sang thăm ông bà Tư, chỉ bước qua có mấy bước,từ xóm nhà dưới bờ sông ,vậy mà bà Tám hôm nay cũng mặc áo dài lụa màu cặn rượu,chân mang dép thêu cườm, theo sau là người cháu cũng mặc bà ba lụa ngà , nón nỉ đọâi đầu, tay bưng mâm chứa hộp bánh tây gói giấy đỏ và mấy gói trà tàụVào đến nhà,ngã nón ra chào ôngTư cẩn thận, đứng lui lại chờ bà Tám trình lễ rồi mới theo lời mời ngồi vào bộ ghế dài bằng cây cẩm lai kê chính giữa nhà. Sau hai tuần trà,bà Tám xin phép cho cô Tư Vấn ra chào khách.

Cô Tư mặc áo dài màu hồng phấn, mái tóc kẹp ngang lưng hàng ngày, hôm nay bới lại gọn gàng sau ót, đuôi tóc thả dài , uốn cong vút như một mồng gà ,bôi dầu óng mượt,trên búi dính thêm một cây trâm vàng rực rỡ.Cô là con nhà thợ bạc,không thể thiếu các món trang sức như bông tai, dây chuyền vàng…, cô vén tấm màng the mỏng giăng ở cửa buồng ,từ nhà sau bước ra, cúi dầu chào bà Tám, người thầy dạy cô ngón nghề ngày nay, dừng lại một chút chào người khách lạ, rồi lặng lẽ trở vào nhà saụ Bà Tư và bà Tám ngồi trên bộ ngựa gõ chuyện trò , Cô Sáu được giao trọng trách nấu nước, cô đứng trong bếp lắng tai nghe mấy người lớn chuyện trò trên nhà. Cô vừa quạt lửa vừa lầm bầm
- Chán thật, mấy người lớn bày điều, coi mắt coi mũi ,ai cũng biết bà Tám sang dây làm gì rồi,còn bắt mình canh cái ấm nước sôi nầy ,có ai uống đâu.
- Quắn ơi,mang mấy bình trà châm thêm nước

Cô Sáu mang mấy bình trà vẩn chưa kịp nguội vào châm thêm nước sôi, lần nầy chính cô Tư là người mang bình trở ra ,hai tay bưng bình nước trà rót vào từng chung mời mọi người, cố gắng giử cho cho tim đập bớt rộn ràng, bàn tay không run rẩy, đôi má hồng e thẹn , cô cúi chào rồi lui vào buồng trong, như vậy là xong lễ coi mắt .
Thật ra thì hai bên người lớn đã bàn tính và ưng thuận với nhau,lễ coi mắt chỉ là một hình thức, chờ lên hỏi ý kiến ông thầy chọn ngày giờ tốt để chuẩn bị cho đôi trẻ nên duyên.Bà Tám đúng là một người mai dong khéo léo, viện cớ đường xá xa xôi,xin được miển hầu hết lễ lộc rườm rà, miễn cả lễ phản hồi ba bữa cho nhà trai ,chỉ có một lễ cưới là quan trọng nhất, không thể xin được thế là cô Tư Vấn theo chồng về mãi tận quận Trung Lương xa lơ xa lắt.

- Quắn ơi, mầy lại thượng lên ngọn cây nào rồi ?
- Tui có lên ngọn nào đâu,má sao cứ la hoảng hoài vậỵ
Sau khi cô Tư theo chồng về xa ,trong nhà càng vắng vẻ hơn ,không còn tiếng máy may cọt kẹt,thiếu bóng người vào ra,cô Sáu luôn bận bịu tíu tít với công việc, nấu nướng chỉ có bốn người ăn mà sao phải làm bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh,nào rau, nào đậu, cá lóc, cá rô,mấy thứ nầy ngồi làm cũng mất mấy tiềng mỗi ngày, nước vừa gánh đầy lu hôm qua,hôm nay đã lưng nửạCô thật chán mứa mấy thứ việc nhà nhìn nhánh chùm ruột sai trái nặng trĩu, màu đã ửng vàng mà không có thời gian ra hái, cái thứ đó mà dầm với nước mắm pha chút đường mật mía thì còn gì hơn,chỉ nghĩ đến đã thèm nhiểu nước miếng rồịCô vừa cầm cái lồng bằng mo cau định ra hái một ít thì đã có tiếng bà Tư gọi vào.
- Quắn ơi!
Nắng ban trưa lấp lánh trên ngọn cây .Tiếng võng đưa, tiếng hát ru rì rào
- " gió dưa cây cải về tròi ,
rau răm ở lại chịu đời đắng cay .."

Cô nhớ chị Tư, dù hai chị em tuổi không gần nhau nhưng bao giờ cũng có nhau,cô vẩn trốn ra chái hè đọc tiểu thuyết hay vào vườn ông Rẫy trộm mận xanh, có khi bị dây kẽm gai cào xướt thịt da,cô Tư chỉ lặng lẽ đi mua thuốc đỏ sát trùng về bôi, luôn che chở cho những lần cô bị hàng xóm thọt mét, giải vây cho những trận đòn bằng cách sai cô đi giao quần áo cho khách hàng.Ngày theo chồng cô Tư còn cẩn thận dúi cho em ít tiền ,dặn dò ráng dè xẻn,chờ đến Tết chị mới về thăm nhà.

Cô Tư lấy chồng chỉ có một tháng tưởng chừng cả năm, sao mà dài lê thê, còn lại mình cô để cáng đáng mọi việc trong nhà, con Bảy hãy còn bé quá,chỉ biết long tong chờ sai vặt.Mẹ cô lúc nào cũng có một loạt công việc chờ sẳn.Cái góc vườn từ lâu không thăm viếng, cặp vợ chồng chim sáo trên nhánh cây và hai con chim non chắc đã bay mất từ lâụ Ừ ,con sáo lớn, con sáo bay,cô nhìn lên mảng trời xanh biếc ,cô nhớ anh Năm lúc về đám cưới có hứa rằng mai mốt sẽ mang cô về Sài Gòn tìm việc. Cô hình dung những con đường đầy xe cộ, những phố lầu thênh thang, thủ đô, hai tiếng đơn giản chứa một sức hút kỳ lạ.

Nắng ban trưa lấp lánh, nắng hào quang rực rỡ trong mắt cộ Ù,mình phải nhắc nhở anh Năm . Thủ đô …Sài Gòn…

Vũ Thị Thiên Thư
10/01


Mục Lục


6. Con Thuyền Ðịnh Mệnh ( 1 )

Viễn Phương



Những ngày lênh đênh Trên biển đông
Hồi ký

Sáng nay bầu trời bỗng dưng có vẻ như buồn bã ủ rũ không vui , khí trời lành lạnh , mặt trời như còn rã rượi say ngủ sau những hàng mây xám dăng dăng từng lớp mỏng , đã hơn 9 giờ sáng rồi mà ánh bình minh vẫn chưa lố dạng , tôi thì cũng đã quá mệt mỏi suốt bao ngày mong đợi, nhất là tối qua , tôi không thể nào chợp mắt vì cứ mãi hồi hộp âu lo , chỉ cầu mong cho đêm chóng qua và mau đến giờ tôi đang mỏi đợi .

Theo sự ước hẹn thì sáng hôm nay ngày 18 tháng 11 năm 1984 , khoảng 11 giờ sẽ có người đến nhà để đưa tôi đi vượt biên được phát xuất từ Bà Rịa Vũng Tàu , mọi thứ tôi đã chuẩn bị xong , nói thế chứ thật ra chỉ có vài gói thuốc lá , vài viên thuốc say sóng và khoảng hơn mười ngàn đồng để phòng hờ khi có rủi ro gì đó thì có chút tiền để lo lắng và đi xe về nhà , đã có hơn một lần đi vượt biên không thành , nên tôi cũng có chút ít kinh nghiệm để đối đầu với sự việc không may , nếu có xẩy ra .

Còn hơn mười phút nữa là 11 giờ thì Quân người dẫn đường đến , tôi và Quân không còn xa lạ gì vì chúng tôi đã quen biết nhau qua những lần trước , tôi đón Quân vào nhà rồi cẩn thận đóng cửa
-Chuẩn bị xong chưa (Quân hỏi)
-Chỉ có vầy thôi,có gì nữa đâu mà chuẩn bị
-Bận thêm áo khoát đi ,nếu không sẻ bị lạnh đó
-Tôi có mặc áo lót bên trong rồi,xóm nầy họ tai mắt
lắm,đánh mùi cũng hay nữa,cẩn thận là hơn
-Vậy mình lên đường nha
-Ừ

Tôi cùng Quân bước ra ngoài , Quân có vào nhà tôi vài lần nên cũng không làm cho hàng xóm chú ý lắm , dân Sài Gòn lúc nầy là thế đó cứ thấy có người lạï vào thì hay nhìn một cách soi mói rồi bàn tán , chẳng qua chỉ vì họ không có việc chi để làm , ra tới ngã ba đường Quân gọi một chiếc Honda ôm vừa chạy trờ tới
-Ra bến xe Văn Thánh , chở hai người được không ?
-Ðược , ba ngàn nghe ( người xe ôm nói)
-Gì dử vậy cha nội, ngàn rưởi đi không ? (Quân nói)
-Rồi lên đi
Từ Bến Chương Dương ra đến bến xe Văn Thánh cũng không lâu lắm , nhưng tôi phải ở đây hơn nửa tiếng nữa vì phải chờ thêm vài người khác , đến khi Quân kêu lên xe , tuy rằng không ngồi chung nhau nhưng tôi đoán có khoảng 6 người đi cùng chuyến . Tới chợ mới BàRịa khoảng hơn 3 giờ chiều Quân đưa chúng tôi vào quán ăn cơm , nhưng chia ra ngồi hai bàn và xem như là không quen biết nhau , quán ăn gần đồn công an số 1 Bà Rịa nên bọn công an cứ đi tới lui làm tôi cũng chói mắt , ăn uống xong Quân đưa bọn tôi vòng qua rạp hát Bà Rịa rồi vào một xóm nhỏ , nhà cửa san sát cây cối um tùm (sau nầy tôi hỏi thì người ta cho biết đó là xóm đình chợ mới Bà Rịa) . Khi đồng ý giá cả phải trả cho chuyến đi vượt biển nầy , tôi được Quân cho biết là có mua bãi bến hết rồi , chỉ là cẩn thận thôi cho nên tôi cũng an tâm , Quân đưa bọn tôi vào một căn nhà lá thấp lè tè phía sau căn nhà lớn ( hình như là nhà của Quân tôi nghĩ) nhà có vẻ vắng và yên tịnh , Quân nói giọng nho nhỏ
-Bây giờ ở đây nghĩ , khoảng 8 giờ tối mình xuống bến ghe
Sáu người chúng tôi không ai trả lời chỉ im lặng đưa mắt nhìn nhau , rồi mỗi người một nơi tìm chỗ nghỉ lưng , tôi đến một lu nước bằng đất cạnh gốc nhà , lấy cái lon sữa bò để bên trên múc chút nước uống , cho thắm cái cuống họng của tôi đang bị khô cháy , người nhắm mắt để đó , kẻ mỏi mắt trông chờ, mỗi người như đang thả dòng tư tưởng vào một cõi xa mơ nào đó , thời gian thấp thỏm trôi qua , bầu trời đà sụp tối , được thay bằng những bóng đèn đường vàng ói , leo lét , ánh sáng chỉ đủ để soi những bóng đời mờ mịt trong một xã hội đầy đen tối nầy , có tiếng chân bước vào , tôi nghe tiếng nói của Quân giọng xù xì nho nhỏ
-Chuẩn bị đi nghe bà con
Sau Quân còn có hai người khác theo vào , họ im lặng không nói gì , Quân mang cho mỗi người chúng tôi mỗi ổ bánh mì rồi bảo
-Ăn bánh mì đi rồi xuống bến , nếu không thì bị đói đó

Tôi không thấy đói bụng chỉ thấy tâm hồn cứ lâng lâng lo lắng sợ sệt , tim thì cứ đập thình thịch , tôi cũng ráng nuốt ổ bánh mì khô khan mà không có một chút cảm giác ngon hay dở , ăn uống xong đâu đấy sáu người chúng tôi được chia ra làm hai đi theo hai người Quân vừa dẫn đến , đường đi khá xa , sáu người chúng tôi sau cùng cũng được đưa vào một điểm . Vẫn lại là khu nhà lá nghèo nàn ẩm thấp (sau nầy tôi được biết đó là xóm lò than Bà Rịa) trời tối đen mù mịt nơi đây không có đèn đường vì là khu vực rừng sác , có chăng chỉ là những ngọn đèn dầu leo lét , trong những căn nhà lá thấp lè tè thưa thớt cạnh bờ sông và có thêm một loại ánh sáng bàn bạc nhấp nhô từ những lọn sóng nhỏ lăn tăn trên mặt nước của con sông , tạo nên một vẻ mờ mờ ảo ảo giữa đêm trường tịch mịch đầy đen tối . Căn nhà lá chúng tôi vào , nằm cạnh bờ sông , cho nên tôi nghe được tiếng nước đập lách tách bên bờ , trong số sáu người chúng tôi , được kêu bốn người trong đó có tôi , ra sau nhà rồi xuống một chiếc ghe nhỏ nhắn nằm sát cạnh bờ sông , chúng tôi phải nằm sát trên ghe và được phủ lên người bằng những tấm lưới tanh hôi mùi tôm cá , hòa lẫn mùi bùn sình nước mặn , hăng hăng đến độ muốn buồn nôn , rồi có người chèo thuyền đưa chúng tôi ra khu rừng sác phía ngoài cầu mới Bà Rịa .
Ði một khoảng lâu , sau đó người chèo thuyền dừng lại ở một gốc của con sông nhỏ có vài gốc cây đước già nua bên cạnh một cây bần to lớn rồi nói với chúng tôi
-Nằm im nghe ,chờ tới giờ thì qua tàu lớn
Tôi nằm im chờ đợi , mình mẩy như có con gì đó đâm chích vào , làm ngứa ngáy cảm giác thật khó chịu nhưng không làm cách nào khác hơn là cứ nằm im chịu đựng,tôi vạch nhẹ tấm lưới trên mặt , nhìn lên vòm trời cao thanh thỏa với lưa thưa vài chiếc sao đơn trong vòm trời vắng , chiếc ghe thì cứ lắc lư nhè nhẹ , tiếng nước vỗ vào mạn ghe nghe lách tách ,vài tiếng côn trùng hòa lẫn tiếng tim đập thình thịch trong lòng ngực tôi , tạo nên một loại âm thanh kỳ lạ nào đó văng vẳng vang vang mà cả đời tôi chưa một lần nào nghe được . Thời gian thoi đưa , tôi chợt nghe có một tiếng là lạ như là để báo hiệu gì đó , thì chợt tiếng động lụp cụp trên ghe vang động và tiếng chèo khua nước một cách mạnh mẽ , tôi có cảm giác chiếc ghe nhỏ tôi đang nằm , được lướt trên sông với một tốc độ thật nhanh , rồi những tiếng rì rào của nhiều người to dần to dần , thì ra chúng tôi đã đến thuyền lớn , tiếng la ó ồn ào , tiếng kêu réo gọi nhau , tiếng thét gào rên rỉ , gây ra một âm vang hỗn độn trên giữa dòng sông vắng , tôi được lên thuyền lớn sau khi đưa ra một tín hiệu riêng mà người ta đã trao cho tôi lúc tôi giao vàng để đi vượt biển, càng lúc càng đông người hơn , nhiều tiếng kêu la hơn
-Mấy thằng canh me , dm/ tụi bây đi xuống
-Anh là khách của ai ?
-Ai đưa anh tới ?
-Mầy canh me hả ?
-Leo xuống
-Anh ba ơi
-Anh Bẩy ơi
-dm/tao đập bể đầu tụi bây bây giờ
-Nhổ neo đi,khẩm quá rồi
-Tàu chìm bây giờ
-. . v . v . . . .tiếng la hét ,chưởi bới vẫn tiếp tục vang vang ,tiếng của người trên thuyền xua đuổi những người canh me đi hôi và đang gây hỗn loạn .

Tôi bị nhét dưới hầm thuyền áo quần đã bị thấm ướt , chẳng những không lạnh mà còn ngộp thở bởi hơi người bốc ra nồng nực , thuyền lớn rồi cũng từ từ lướt sóng , tôi nhìn đồng hồ lúc nầy là 0 giờ 16 phút ngày 19 tháng 11 năm 1984 , tôi nghe tiếng nổ ròn tan của máy tàu ,tiếng nổ như để tạo một sức mạnh phi thường , để đưa con thuyền viễn xứ từ từ lướt sóng ra khơi . Bỏ lại tất cả yêu thương của cuộc đời , bỏ lại một quê hương đang quằn quại trong sầu đau khổ hận , bỏ lại người cha kính mến, anh chị em những tình thân ruột thịt và người mẹ vô cùng thương yêu , người mẹ đã từng gánh chịu biết bao gian khổ , cưu mang sinh dưỡng để tạo nên hình hài vốc thể nầy . Tôi không khóc nhưng hình như những giọt lệ thương yêu đang tức tưởi lăn tròn trên má , lúc nầy tôi không còn nghe tiếng động nào ngoài tiếng máy nổ của con thuyền , hòa với nhịp đập của tim tôi , mọi vật đều im lặng , im lặng một cách tự nhiên không cần ai nhắc nhỡ , sau một thời gian ngắn lắng dịu ,con thuyền bềnh bồng mỗi lúc mỗi mạnh hơn
-Chắc là thuyền đã ra cửa biển Vũng Tàu cho nên bị sóng biển nhồi khá mạnh (tôi nghĩ)
và đúng vậy , con thuyền đang bắt đầu cho cuộc hành trình mà chắc rằng sẻ gian nan vất vả và những sự đau thương , sống chết đang chực chờ trên vùng biển đông xa thẳm để áp đổ xuống đầu những thuyền nhân khốn khổ trên đường vượt biển , sau khi trải qua một cuộc dun rủi dưới những đoạn đường lo âu hồi hộp trên mặt đất .

Mệt mỏi vì có chút say sóng , tôi ngồi vùi dưới khoang thuyền mãi đến xế chiều tôi mới được lên trên khoang thuyền để nhìn trời mây nước , thuyền đang lướt sóng bỗng đâu biển trời giận dữ , những cơn gió hung bạo , những đợt sóng to cuồng nộ nổi lên , thuyền không còn lướt sóng được nữa và cứ bấp bênh , bềnh bồng xoay vòng một chỗ , mọi người phải vào bên trong và xuống dưới khoang thuyền để tránh cơn sóng dữ cũng như để cho con thuyền đừng bị chao đảo với những con sóng to hung bạo , cuốn chồm lên và sẵn sàng nhận chìm con thuyền ở bất cứ lúc nào , tiếng la sợ , tiếng nguyện cầu , tiếng lạy phật , tiếng lạy chúa và những câu kinh cầu nguyện nho nhỏ chứa đựng một niềm tin hy vọng bao la của con người trước một cảnh tình cực kỳ nguy hiểm cho mạng sống . Bây giờ thì con thuyền có ra thế nào và mạng sống của bao nhiêu người chỉ còn trông nhờ vào sự kinh nghiệm lèo lái con thuyền trước cơn bão dử của người tài công , cứ như thế con thuyền phải chịu đựng cho đến ngày thứ hai thì biển trời lắng dịu và con thuyền mới tiếp tục được cuộc hành trình như đã định . Nhưng thuyền phải trả giá hết một mạng người lúc giữa đêm bão ngày thứ nhất , bão đã đánh rớt một người xuống biển và cuốn trôi mất trong lòng biển sâu mà không ai làm sao cứu kịp dưới trời đêm bão nổi

Trời êm gió lặng tôi lên mũi thuyền hướng mắt về bốn chân trời xa thẳm chỉ thấy toàn mây nước, và chợt thấy con thuyền thật mong manh trên biển cả , từ dòng nước xanh lơ rồi đậm dần, đậm dần cho đến khi thuyền đến một đường nước xanh đen thăm thẳm thì một số người trên khoang thuyền reo lên
-Ra tới hải phận rồi , ra tới hải phận rồi bà con ơi

Mọi người như quên đi cảnh tượng hãi hùng của cơn bão vừa qua , niềm vui rộn rã hiện lên từng nét mặt xanh xao mòn mỏi , tôi cũng rất vui mừng trong lòng nhưng lúc nào cũng cầu nguyện cho thuyền đừng gặp hải tặc , đó là một bọn cướp biển hung hăng tàn bạo hơn cơn bão táp , thế là thuyền vui lướt sóng , trên thuyền thức ăn thức uống cũng như dầu để chạy máy vẫn còn đầy đủ , đến chiều ngày thứ 3 của cuộc hành trình thuyền chúng tôi đến được một giàn khoan dầu của Malaysia , sau khi bàn tính thì có người tình nguyện lội vào giàn khoan để nói chuyện và xin họ cứu vớt , nhưng những người nhân viên nầy nói họ không có phương tiện để cứu vớt trong lúc nầy , sau đó họ cho thêm dầu chạy máy , bánh để ăn và sửa để uống , cuối cùng họ chỉ cho hướng đi vào đất liền và nói
-Chạy khoảng hơn mười tiếng đồng hồ nữa là đến nơi Và kèm theo một câu để trấn an mọi người
-Nơi đây đã thuộc lãnh hải của Malaysia rồi không bị cộng sản bắt lại đâu

Theo hướng chỉ của người chuyên gia dầu hỏa , thuyền chạy đến xế trưa hôm sau (tức ngày thứ tư của cuộc hành trình) khoảng 1:15 ngày 23 tháng 11 năm 1984 thì thuyền đến được bờ biển của Kuala Trengganu , Malaysia , tôi thấy có hai chiếc ca nô của cảnh sát biên phòng Malaysia chạy ra cập hai bên hong chiếc thuyền và ra dấu bảo tài công chạy đâm thẳng lên bờ , tài công nghe lời và kéo hết ga , thuyền rướn lên bờ biển một phần ba con thuyền , chúng tôi người bò, người lết, người đi quờ quạng lảo đảo , kẻ cười người khóc , quần áo sốc sếch dơ bẩn , chúng tôi dìu dắt , đỡ đần nhau trong tình yêu thương của người đồng cảnh ngộ , từ từ rời bỏ con thuyền nằm bơ vơ một mình trên bãi vắng , rồi gôm lại lanh quanh trên bãi cát vàng tươi thắm mọi người như có chút an bình trong tâm hồn và đang được hít thở một thứ không khí có hai chữ tự do , nhưng dù khóc hay cười , trong từng khuôn mặt của mọi người vẫn hiện lên rõ ràng những nét rạng rỡ , tươi vui trên vùng đất tự do nầy , tất cả lần lượt đến khu vực được qui định của cảnh sát và được cấp phát ngay những gói mì gói thơm tho cũng như bánh và sửa để uống , khoảng hai tiếng đồng hồ sau tôi thấy họ làm hai bàn giấy ngoài trời và hai phòng khám xét dã chiến với bốn tấm vải bao quanh , rồi họ kêu mọi người ra đứng xếp hàng và nói
-Ai là quân nhân , công chức làm việc trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thì qua đây
-Tất cả còn lại thì qua bên kia
-Có ai là cộng sản không ?

Mọi người đều im lặng , vì là cựu quân nhân tôi đi qua hướng người ta chỉ đến phòng khám xét trước , sau đó qua bàn giấy khai sơ qua tên họ ,tuổi , số quân ,đơn vị ,nơi đóng quân ,. .v.v.. rồi trở lại điểm qui định để tiếp tục chờ đợi , khoảng 5:50 chiều cùng ngày chúng tôi được xe chở khách của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thuê , đến đón và đưa về một trại chuyển tiếp Marrang thuộc Kuala Trengganu , nhìn lại con thuyền lần cuối trước khi bỏ lại sau lưng , lòng tôi thật có nhiều lưu luyến và thương mến vì nó đã mang chúng tôi ra khỏi bàn tay của tử thần trên vùng biển xa xôi , đã gồng gánh chúng tôi trong suốt cuộc hành trình gian khổ trên biển đông , cũng như trước đây bốn ngày tôi đã bỏ lại sau lưng một quê hương đầy thương yêu của cuộc đời , để bắt đầu cho những bước chân đơn học đòi làm viễn khách trên những đoạn đường tha phương cầu thực

Ðến trại chuyển tiếp Marrang , sau khi ổn định chỗ nấu ăn , chỗ ngủ , nơi tắm giặc ..vv., tôi đi một vòng và biết được có một số người từ ngoài đảo Pulau Bidong được chuyển vào trại Sungei Besi để lên bàn bốn tuyên thệ đi hoa kỳ và một vài quốc gia khác , nghe người ta nói gởi thư bên nầy nhanh hơn ngoài đảo , tôi cũng vội xin giấy mượn bút của người đi trước viết vội vàng lá thư gởi về cho mẹ tôi , chính là để báo tin cho gia đình tôi rằng tôi đã đến được Malaysia và đang hít thở một mùi không khí tự do mà tôi đã đánh mất tự hôm nào , những người được chuyển qua trại Sungei Besi rất nhiệt tình , người nào cũng giành lấy thư gởi giùm , tôi cảm thấy thật an ủi trong tâm hồn và thấy được tình người cho nhau trên bước đường tị nạn thật nồng thắm , chuyện đâu vào đó thì đã nửa đêm , chợt cơn mưa bão lại ồ ạt tới và kéo dài suốt bốn ngày , trong những ngày nầy nhân viên cao ủy tị nạn liên hiệp quốc cấp phát cho chúng tôi quần áo, thức ăn, thức uống thuốc men cho người yếu bệnh và có nói cho chúng tôi biết
-Các bạn may mắn lắm đó, nếu các bạn đến trễ một ngày thôi là thuyền của các bạn có thể bị chìm với con bão cấp sáu nầy rồi

Thật hú hồn cho tất cả mọi người , nhưng dù thế nào tôi cũng không quên cảm ơn thượng đế đã ban đến cho chúng tôi những tột cùng may mắn cũng như đã ban đến cho chúng tôi thật nhiều hồng ân trong cuộc hành trình vượt biển đông nầy , sau cơn bão dử , trời biển trở lại êm đềm chúng tôi được chuyển ra đảo Pulau Bidong , cũng thuộc Kuala Trengganu , để ổn định nơi tạm trú , thiết lập hồ sơ và chờ gặp phái đoàn của các đệ tam quốc gia vào phỏng vấn để được đi định cư nếu quốc gia đó nhận .

Những ngày lênh đênh trên biển đã qua, giờ chúng tôi lại bắt đầu cho cuộc hành trình mới , những đoạn đường đang chờ đợi kế tiếp nầy có lẻ cũng không kém phần vất vả , tôi chỉ mong sao cho cá nhân tôi cũng như tất cả những thuyền nhân khác , đang gánh chịu những tột cùng khốn khổ còn có được nhiều may mắn hơn nữa trên bước đường đi tìm tự do cho cuộc sống , cũng như được đến một đệ tam quốc gia thật bình yên trong tâm hồn , riêng cá nhân tôi thì trên đoạn đường còn lại của cuộc đời , dù trong bất cứ hoàn cảnh nào chăng nữa , thì những cảnh tượng hãi hùng đã đưa đến cho tôi cũng như muôn ngàn thuyền nhân khác trên biển đông vẫn luôn mãi là một bức tranh kinh hoàng của cuộc đời và trong tâm hồn tôi mãi mãi khắc ghi hình bóng con thuyền viễn xứ mang tên DN-1071/TS đã cưu mang 84 người chúng tôi vượt thoát đến bến bờ tự do , sau khi giành được chúng tôi từ đôi tay của tử thần trên vùng biển đông xa vắng , nhưng cũng đã bỏ lại trong lòng biển sâu một người dưới cơn giông bão và được chính thức trở thành con thuyền mang số MB 268 thuộc đảo Pulau Bidong , Kuala Trengganu , Malaysia ngày 23 tháng 11 năm 1984 .

Thuyền DN 1071/TS - Bà Rịa , Phước-Tuy , Việt Nam
Thuyền MB 268 - Pulau Bidong , Kuala Trengganu , Malaysia


Viễn Phương




Mục Lục


7. Vực Ðá

Nguyễn Ðăng Tuấn



Trong phiến đá cắc kè lên tiếng. Tiếng của sông chia ngã ra đời. Tiếng của rừng trồi cây xẻ núi. Tiếng ngàn thông gọi giữa muôn trùng. Tràn sóng lượn đời rong ốc mượn. Phà hơi sương của sáng mù sương. Của tối mịt mùng biển tối. Của tiếng em gọi chập chùng yêu dấu. Rầm rì tiếng sóng lan đi. Ðèn khuya cài nốt bóng hình in sâu.

Ngôi nhà mái đã rêu phong. Có con đường nhỏ dập dìu em qua. Ngày đó, sóng đã bọt bèo. Ngày đó, tắt dần nhịp sống. Vườn cải ong bướm bỏ hết, bay về vô định ốc đảo nào hút tiếng gọi. Cánh cửa sổ mở ra ngày, khép lại đêm, tìm lại bóng, lấy hương nồng.

Chuyến xe sóc nhảy bò càng. Chuyến đi còn gọi não nề chốn xưa. Trong ta, cây lá phận mùa. Trong em, nhang khói tan dần biệt ly. Ðỉnh hú vọng mờ thân cổ thụ. Ðá phiến xưa hằn vết phong du. Em ở đó, đã qua mùa sương muộn. Ðã cuối trời trăng soi. Ðã vàng hút hồn dã tượng, reo nốt âm vang nốt nhạc rã rời.

Tiếng kinh. Chào cuối. Tiếng trầm. Nhạc khúc bồng. Nhạc lạc tiễn điều quay quắt. Chào tiếng sóng, chào bình minh sáng nở. Chào nụ cười hiu hắt trong tiếng cắc kè trong kẽ đã vỡ ra mảnh vỡ sau cùng. Hong giòng tóc xỏa cuối cùng Chiêm bao.

Nguyễn Ðăng Tuấn




Mục Lục


III . Ngàn Lời Ca (kỳ 4)__________________________________________

5 . Nhạc Tình Giữa Muà Kháng Chiến

Nhạc Sĩ Phạm Duy



Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội.
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...

Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứu.

Tác phẩm chọn lọc:

Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)

VĨNH BIỆT, HÀ NỘI
SAIGON, CHÀO EM

TÌNH CA QUÊ HƯƠNG


Phải mất ngót nghét gần hai năm để tính chuyện "zinh tê" và để tổ chức đời sống gia đình tại Saigon cho nên tôi không sáng tác gì cả, ngoài sự phổ một câu ca dao thành một bài dân ca là NỤ TẦM XUÂN, và phổ bài thơ TIẾNG SÁO THIÊN THAI của Thế Lữ thành một bản tango, hai bài này được soạn ra để đáp ứng nhu cầu hát đôi (duo) của chị em Thái Thanh Thái Hằng. Tôi cũng còn bận bịu trong việc tổ chức cho ban Thăng Long đi hát tại các Ðài Phát Thanh, thu thanh tại các hãng dĩa, phụ diễn tại các rạp chiếu bóng và trình diễn tại những buổi Ðại Nhạc Hội đầu tiên của miền Nam.

Lúc đó chưa phải là lúc gần một triệu người rời bỏ miền Bắc vào Nam sau Hội Nghị Genève, nhưng đối với một nghệ sĩ vừa phải xa miền quê "Bắc Kỳ" và đang nhớ cảnh quê cũ là tôi thì khi bắt đầu sáng tác lại, tôi soạn bài TÌNH HOÀI HƯƠNG. Tôi cũng không phải là người độc nhất soạn những bài hát nhớ quê hương khi vẫn đang sống ở quê hương. Cuộc di cư vào Nam trong năm 1954 của một triệu người khiến cho lũ nhạc sĩ chúng tôi lúc đó soạn nhiều bài hát về quê hương miền Bắc, ví dụ GIẤC MƠ HỒI HƯƠNG (Vũ Thành), HƯỚNG VỀ HÀ NỘI (Hoàng Dương) v.v... Trong Tân Nhạc đã khởi sự loạt bài về sau được gọi là "tình ca quê hương". Bài TÌNH HOÀI HƯƠNG có thể coi như là một trong những bài khởi xướng lên xu hướng nàỵ..

TÌNH HOÀI HƯƠNG
(Saigon-1952)
Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.
Quê hương tôi có con đê dài ngây ngất
Lúc tan chợ chiều xa tắp
Bóng nâu trên đường bước dồn
Lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn.
Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng
Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười ơ ơ ớ
Ai về mua lấy miệng cười
Ð-e riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ ơ ớ ơ ơ ờ
Quê hương ơi ! Bóng đa ôm đàn em bé
Nắng trưa im lìm trong lá
Những con trâu lành trên đồi
Nằm mộng gì ? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi.
Quê hương ơi ! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu
Cánh tay êm tựa mái đầu
Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu.
Tình hoài hương
Khói lam vương tâm hồn chìm xuống
Chiều soay hướng
Sống vui trong mối tình muôn đường.
Tình ngàn phương
Biết yêu nhau như lòng đại dương
Người phiêu lãng
Nước mắt có về miền quê lai láng
Xa quê hương ! Yêu quê hương !

Trong bài phỏng vấn của báo ÐỜI MỚI do Trần Văn Ân, Nguyễn Ðức Quỳnh chủ trương vào đầu thập niên 50 này, tôi tuyên bố : Sau khi nói lên vinh quang và nhọc nhằn của dân tộc với nhạc kháng chiến, bây giờ tôi đi vào tình tự quê hương...

... Do đó, tôi cho đăng trên báo này một tác phẩm mới là bài TÌNH CA, nói lên bản sắc quốc gia (identité nationale) nghĩa là những gì thuộc vào một quốc gia thống nhất như: tiếng nói, cảnh vật và con người. Cùng với bài TÌNH HOÀI HƯƠNG, trong phạm vi nhạc thuật, bài TÌNH CA là sự tiếp tục dòng nhạc dân ca kháng chiến, với mức độ nghệ thuật cao hơn.

TÌNH CA
(Saigon-1953)
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi ! Tiếng ru muôn đời.
Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi ! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi.
Tôi yêu tiếng ngang trời
Những câu hò giận hờn không nguôi
Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi
Vững tin vào mộng đẹp ngày mai.
Một yêu câu hát Truyện Kiều
Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta
Và yêu cô gái bên nhà
Miệng xinh ăn nói thật thà (à à) có duyên.

Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành.
Ðất nước tôi ! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn
Ðất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơi
Ðất nước tôi ! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng
Lúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơi.
Tôi yêu những sông trường
Biết ái tình ở dòng sông Hương
Sống no đầy là nhờ Cửu Long
Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong.
Người yêu thế giới mịt mùng (*)
Cùng tôi xây đắp ruộng đồng (ừ đồng) Việt Nam
Làm sao chắp cánh chim ngàn
Nhìn Trung Nam Bắc kết hàng (à hàng) mến nhaụ

Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu,
Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo
Mình đồng da sắt không phai mầu.
Tấm áo nâu ! Những mẹ quê chỉ biết cần lao
Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi
Tấm áo nâu ! Rướn mình đi từ cõi rừng cao
Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi
Tôi yêu biết bao người
Lý, Lê, Trần... và còn ai nữa
Những anh hùng của thời xa xưa
Những anh hùng của một ngày mai.
Vì yêu, yêu nước, yêu nòi
Ngày Xuân tôi hát nên bài (ư bài) tình ca
Ruộng xanh tươi tốt quê nhà
Lòng tôi đã nở như là (ừ là) đoá hoa.
------------------------------------------------
(*) Ðúng ra là "đại đồng", nhưng ý niệm về Thế Giới Ðại Ðồng bị nghi ngờ là tuyên truyền cho Cộng Sản cho nên Sở Kiểm Duyệt khuyến cáo tác giả đổi chữ. Ðây cũng là trường hợp của bài VIỄN DỤ
* * *
TÌNH TỰ DÂN TỘC

Những bài hát "tình ca quê hương" rất dễ dàng dẫn tới những bài hát "tình tự dân tộc". Lúc đó, trong lòng tôi còn mang nhiều hình ảnh khó quên của thời kháng chiến cho nên tôi dùng bài BÀ MẸ CHIẾN SĨ đã soạn tại Vinh năm 1949 để làm thành bài BÀ MẸ QUÊ, một bài trong "bộ ba" về con người Việt Nam, tôi gọi là những bài hát "quê hương-dân tộc".

Trong ấn phẩm do nhà xuất bản TINH HOA phát hành vào năm 1954, tôi có đề tựa như sau:
1.- BÀ MẸ QUÊ tượng trưng cho lòng hi sinh, chí kiên nhẫn, tình thương yêu và biểu tượng cho dĩ vãng;
2.- VỢ CHỒNG QUÊ tượng trưng cho tình yêu trong sạch, sức làm việc, niềm hạnh phúc chỉ dành cho những kiếp người lành mạnh, biểu tượng hiện tại;
3.- EM BÉ QUÊ là mầm non lớn mạnh, kiến thiết xã hội, biểu tượng tương lai.

BÀ MẸ QUÊ
(Bà Mẹ Chiến Sĩ)
Vườn rau, vườn rau xanh ngắt một mầu
Có đàn, có đàn gà con nương náu
Mẹ quê, mẹ quê vất vất vả trăm chiều
Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu.
Bà bà mẹ quê !
Gà gáy trên đầu ngọn tre
Bà bà mẹ quê !
Chợ sớm đi chưa thấy về
Chờ nụ cười son, và đồng quà ngon.

Trời mưa, trời mưa ướt áo mẹ già
Mưa nhiều, mưa nhiều càng tươi bông lúa
Trời soi, trời soi bốc khói sân nhà
Nắng nhiều thì phơi lúa ra
Bà bà mẹ quê ! Ðêm sớm không nề hà chi
Bà bà mẹ quê ! Ngày tháng không ao ước gì
Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui.

Miệng khô, miệng khô nhớ bát nước đầy
Nhớ bà, nhớ bà mẹ quê xưa ấy
Mùa đông, mùa đông manh chiếu thân gầy
Cháu bà, cháu bà ngủ thiu giấc say.
Bà bà mẹ quê !
Chân bước ra đời rồi xa
Bà bà mẹ quê !
Từ lúc quê hương xoá nhoà
Nhìn về miền quê, mà giọt lệ xa.

VỢ CHỒNG QUÊ
Chàng là thanh niên mạch sống khơi trên luống cầy
Nói năng hiền lành như thóc với khoai
Nàng là con gái nết na trong xóm
Nước da đen ròn với nụ cười son.
Hỡi anh gánh gạo ư ứ trên đường, chàng ơi
Gạo Nam, gạo Bắc ứ ư
Ðòn miền Trung, gánh đừng để rơi
Chàng chàng ơi, gánh đừng để rơi.
Hỡi em tát ruộng ư ứ bên ngòi, nàng ơi
Biển Ðông ta tát cạn ừ ư ư
Nàng nàng ơi, cho đời thuận nhaụ
Nàng nàng ơi, chàng chàng ơi (2 lần)
Chàng nhìn đàn chim rồi ước như chim ngang trời
Sống chia miếng mồi, như đũa có đôi
Nàng cười không nói, ngước ra sông núi
Má em hây hồng như áng mây trờị
Một ngày sang Thu
Một buồng cau tơ
Quanh co lối xóm những tà áo mớị
Mẹ già yên lòng
Thiếu nữ mơ mòng
Các em nhi đồng trống ếch khua vang.

Chàng vừa cầy sâu vừa hứng mưa trên đất mầu
Hái bông ngô vàng hay bới khoai nâu
Nàng vừa cuốc bẫm, tắm trong sương sớm
Tát xong nước rồi, sẽ về thổi cơm.
Chữ i móc ngược, o o ó o tròn, người ơi
Còn trong một nước ứ ư
Người người ơi, ta còn yêu nhau
Người người ơi, ta đừng bỏ nhau
Á ơi, con ngủ u ú cho muồi
À ơi, cười vui trong giấc mộng
À à ơi ! Yêu đời tự do
À à ơi, À à ơi ! À à ơi, à ơi.

Thuở nào vườn cau vừa mới cao ngang mái đầu
Lúa dăm ba sào, nay đã hai trâu
Nhìn thằng cu bé đẫm mưa trong ngõ
Nước mưa chan hoà cho tốt lúa nhà.
Mùa màng năm nay
Gạo tròn tay say
Ðêm đêm thức giấc lúc gà chưa gáy
Vì đời yên lành
Nên lúa đa tình
Hứa cho đôi mình kiếp sống thanh bình.

EM BÉ QUÊ
Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ
Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao
Vui thú không quên học đâu
Nẵm đồi non gió mát
Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo
Em đánh vần thật mau.
Chiều vương tiếng diều

Trên bờ đê vắng (ứ ư ư) xa.
Ðường về xóm nhà
Chữ i, chữ (ư ư ư) tờ.
Lùa trâu nhốt chuồng
Gánh nước nữa là (a à a) xong
Khoai lùi bếp nóng
Ngon hơn là (a à a) vàng.

Em mới lên năm, lên mười
Nhưng em không yếu đuối.
Thầy mẹ yêu cũng vì trẻ thơ
Làm việc rất say sưa
Em biết yêu thương đời trai
Ðời hùng anh chiến sĩ
Ước mong sao em nhớn lên mau
Vươn sức mạnh cần lao.
Kìa trăng sáng ngời
Ðêm rằm Trung, Trung (ứ ư ư) Thu.
Ðời vui trống ròn
Tiếng ca lẫy (ý y y) lừng
Từ ngõ ngách làng
Ðèn đuốc rước triền miên
Bao người đóng góp
Vui chung một (ư ừ ư) miền.

Trâu hỡi trâu ơi đi cầy
Trâu ơi đi cấy nhé
Ðồng ruộng kia, với đồi cỏ kia
Là của những dân quê
Em bé dân quê Việt Nam
Là mầm non tươi thắm
Sức mai sau xây đắp quê hương
Cho nước giầu mạnh hơn.
Vàng lên cánh đồng
Khi trời vươn ánh (ứ ư ư) dương
Trẻ thơ nhớn dậy
Giữ quê, giữ (ứ ư ư) vườn
Ðời vui thái bình, cây lúa sớm tr-o bông
Cỏ ngàn thơm phức, trâu ăn đầy (y ỳ y) đồng.

Những bài tình tự dân tộc này được xây dựng bằng nhạc thuật soạn dân ca của tôi trước đây. Sau khi nó được phổ biến tại các thành phố ở miền Nam thì nó được các lớp nhạc sĩ trẻ như Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh tức Nhật Trường... hưởng ứng để soạn ra những bài mà họ gọi là dân ca mambo bolero v.v...

* * *

TỪ VIỄN XỨ TỚI VIỄN DU
VIỄN MƠ MÀ LÀ VIỄN THỰC

Lúc đó có khá nhiều người nhớ tới cảnh vật, sự việc và con người của thôn quê miền Bắc. Huyền Chi, một cô em bán vải ở Chợ Bến Thành, soạn bài thơ nhan đề THUYỀN VIỄN XỨ và đưa cho tôi phổ nhạc. Bài thơ này nói tới chuyện phải rời bỏ bến Ðà Giang ở miền Bắc để đi vào miền Nam, nói lên sự hoài hương, nhớ miền viễn xứ. Không ai có thể ngờ rằng tới năm 1975, người Việt còn phải leo lên phi cơ để vượt trời hay leo lên thuyền, lên tầu để vượt biên, sống tha hương và hát lên tiếng hát biệt xứ.

Có lẽ tôi cũng linh cảm có ngày phải lên đường rất xa, hoặc là trong tôi nổi dậy sự viễn mơ của bài BÊN CẦU BIÊN GIỚI năm nào, cho nên vào lúc này (1953) sau khi phổ nhạc bài THUYỀN VIỄN XỨ tôi soạn bài VIỄN DU, một bài cách đây mấy chục năm đã tiên đoán cảnh người Việt Nam lũ lượt ra sông, ra khơi vào năm 1975.

VIỄN DU
(Saigon-1953)
Ra sông
Biết mặt trùng dương, biết trời mênh mông
Biết đời viễn vông, biết ta hãi hùng
Ra khơi
Thấy lòng phơi phới, thấy tình thế giới
Thấy mộng ngày mai, thấy niềm tin mới
Chơi vơi, con thuyền trên sóng không nguôi
Bão bùng xô tới xô lui, vững tay chèo lái
Xa xôi
Hỡi người trong viễn phương ơi
Hẹn hò nhau viễn du thôi, lên đường mãi mãi
Ra đi
Nước trời bao la, hết cuộc phong ba
Ðất liền Âu Á cũng không xa gì
Phiêu du
Khắp nẻo đây đó, bỗng người say sưa
Thấy hoàn cầu mơ khúc Ðại Tình Ca (*).
Hãy ghé bến bờ
Có những xóm dừa
Chiều nhuộm vàng làn tóc ngây thơ
Có những núi mờ
Ðứng mãi ngóng chờ
Chờ người về đầu non trắng xoá
Ánh sáng chói loà
Hương say kinh kỳ
Ai quay cuồng nhịp đời dương thế
Viễn xứ ước thề
Xoá hết lối về
Ðể đẹp lòng người bước ra đị
----------------------------------------------------------------------
(*) phải là ''khúc Ðại Ðồng Cá' thì mới đúng ý của tôị * * *

LÊN ÐƯỜNG TRONG TÂM TƯỞNG
Qua 1954-55 đời sống di cư của chúng tôi đã ổn định. Tôi có thì giờ và phương tiện để học hỏi thêm, nhất là sau chuyến đi du học gần hai năm tại Pháp, để đưa ra những thử thách mới. Trong khuynh hướng, tôi tránh đưa ra những bài bản chạy theo trường phái nhạc cổ điển Âu Tây hoặc có tính chất hiểm quái, hay duy mỹ nghĩa là chỉ theo đường lối nghệ-thuật-vị-nghệ-thuật. Thể tài dân ca phát triển được tôi ôn luyện thêm về nhạc thuật, nhưng nội dung vẫn không ra ngoài tính chất hiện-thực-xã-hội và cố giữ được tự-nhiên-tính, bình-dị-tính của nghệ thuật cổ truyền. Tư tưởng luôn luôn muốn giữ tinh thần trật tự của Khổng, tình yêu thiên nhiên của Lão, tính siêu thoát của Phật. Và trên hết tất cả là tình tự quê hương.

Tuy nhiên, lúc này tôi không muốn bị trói buộc vào dân tộc hay vào quê hương, do đó mà có "viễn mơ", mà có bài hát "viễn xứ", bài hát "viễn du". Nhưng trong khi chưa làm được cuộc hành trình xa như rong ruổi trên "đường cái quan" hay vượt biên giới ba nước Ðông Dương để "ôm ấp nhân tình trên ngọn Tháp Effel"... thì tôi làm cuộc lên đường trong tâm tưởng vậy. Với một bài có tính chất siêu hình, tôi mở cuộc lữ hành.

LỮ HÀNH
(Saigon-1953)
Người đi trên dương gian
Thở hơi gió từ ngàn năm
Gió lung lay Hoành Sơn
Gió dâng cao Biển Ðông
Người đi trong thanh xuân
Sưởi hương nắng như lửa sống
Máu sôi như sắc trời
Bước nhanh vượt chân đời.
Ði, đi đâu mà tới nơi
Thấy lòng lên phơi phới
Ði phương nao mà tới đây
Chỉ thấy lòng còn say
Hôm nay tình đầy
Thương yêu tràn đầy
Thiên thu trong lòng này
Tương lai trong bàn taỵ
Người đi trong không gian
Nhịp xe uốn vòng tử sinh
Bánh xe tang ngoại ô
Chiếc nôi trong vòng hoa
Người đi trong nhân gian
Tà áo rách cô hàng quán
Sức tuôn trên cánh đồng
Lúa thương vạt nâu sồng.

Người đi nghe xa xăm
Mà chưa thấy bồn chồn chân
Bước đi trong thời gian
Vướng bao nhiêu lòng thương
Người đi trong thiên nhiên
Từ khi biết nhen lửa chiến
Máu xương chôn lấp rồi
Cỏ hoa mọc kín đồi.
Ði, đi mau rồi tới nơi
Ðất trời còn đen tối
Theo tâm tư tìm gió khơi
Ðã thấy mặt trời soi
Anh ơi ! Chuyện này
Ðây câu ruộng cầy
Anh em trong một ngày
Chung vai vơi thù ai.
Người đi sâu muôn nơi
Tình trinh tiết làm thành đôi
Áo chăn che tổ uyên
Miếng cơm vui tình duyên
Người đi, đi không thôi
Ngày thế giới lên nguồn vui
Ngát như hương lúa mùa
Sẽ lên đường trở về
Ðường trở về...
Bài này trở thành một thứ tín điều (credo) của tôi trên con đường sáng tác. Nó được tiếp tục với những bài như XUÂN HÀNH, DẠ HÀNH mà tôi soạn ra về saụ

(còn tiếp nhiều kỳ)

Phạm Duy

Mục Lục


IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh yêu dấu,

Bất chợt trong trái tim nhỏ bé của em dâng lên một niềm nhớ vô biên. Nhớ về những ngày tháng quen nhau, những vần thơ thật lãng mạn anh đã viết cho em, những hạt mưa tí tách rơi bên thềm, như cái thuở ban đầu, đã vô tình rớt nhẹ trên môi em, trên áo anh, cho nụ hôn đầu đã làm em cảm thấy bối rối, e thẹn và bỡ ngỡ, để rồi tự hỏi, trái ngọt tình yêu là thế ư ? Nó nồng nàn, và say đắm quá, em như người say rượu bỡi nụ hôn ấỵ -Dể từ đó, em không quên anh, và biết được thế nào là hương vị của tình yêụ

Hôm nay em đi phố, chọn món quà cho ngày lễ của Cha ( Father's Day), và chợt mỉm cười hỏi anh, khi nào anh sẽ làm cha ? Em thấy anh lúng túng, nhưng rồi lại qua sang trêu em: " Thì khi nào em cưới anh, em sinh cho anh một cậu bé kháu khỉnh " Em nguýt dài và nói " Anh này, ai thèm cưới anh, em sẽ cho anh ngồi đấy chờ cho đến ế cho mà xem " Rồi hai đứa bật cười thật vui vẻ .

Em nhận thấy rằng, trong một gia đình, giai trò của người Cha thật là quan trọng. Như cây cột trụ của gia đình, người Cha phải phấn đấu giữa cuộc sống để kiếm từng miếng ăn, manh áo về cho vợ, con, chưa kể những việc nặng nhọc bằng tay, chân, người Cha đều vươn vai nhận lấỵ Vì thế ca dao Viet Nam chúng ta ví " công Cha như núi Thái Bình " ....Và rồi, anh lại gật đầu, đồng ý với em, anh cao giọng nói : " Thế thì từ nay, em phải cố gắng yêu anh thêm tí nữa nhé, vì mai đây, anh sẽ là người Cha mang nhiều trọng trách trong gia đình lắm đấy, rất gian nan và khổ cực " Em lắc đầu, vội bảo: " Xí, anh nói thế, không thấy ngượng miệng hay sao vậy, khi nào anh làm Cha thì hãy tính, bây giờ anh chưa làm Cha thì anh hãy ráng chìu chuộng và thương người yêu trước đi, để anh mới được làm Cha chứ " có như thế mới gọi là công bằng ... Với khuôn mặt khổ sở, người gật đầu, bèn nói : " Em lanh quá đi thôi, anh xin thua, thôi thì anh sẽ đền cho cô bé thêm 1 nụ hôn nữa nhé, chịu không ? Em run lên, và rồi .....cảm thấy niềm hạnh phúc dâng lên, từ trong trái tim anh ...tràn qua trái tim em .....

Tình ta như núi keo sơn
Như mây với gió chẳng sờn chi nhau
Tình ta muôn kiếp đời sau
Vẫn như hình, bóng sông sâu gắn liền
Tình ta như sóng triền miên
Vui cùng biển, cát ưu phiền chẳng mang
Tình ta như những cung đàn
Khảy chung nhịp bước nhẹ nhàng du dương

Viết cho Giao Mùa Tháng 6, 2003



DHH ~~~/~~((@

Mục Lục


V . Nghiên Cứu_____________________________________________

1. NHẬN ÐỊNH Về “Hội Chứng Hô Hấp Cấp Tính Nặng”

HỘI Y SĨ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ



VIETNAMESE MEDICAL ASSOCIATION OF THE USA
6255 University Ave. Suite A2, San Diego, CA 92115
Ph: 619-583-0553; Fax: 619-583-5702;
Website: http://vmausạorg

Toàn thế giới đang đặc biệt chú tâm theo dõi “Hội Chứng Hô Hấp Cấp Tính Nặng” (Severe Acute Respiratory Syndrome, viết tắt “SARS”), căn bệnh phát xuất từ Quảng Ðông, Trung Quốc, nay đã lây lan tổng cộng 25 quốc gia, với 4649 trường hợp bệnh và 274 trường hợp tử vong. Tại Hoa Kỳ hiện có 39 trường hợp bệnh. Những con số này mỗi ngày mỗi tăng.

Căn bệnh gây các triệu chứng giống cúm: nóng sốt, mệt mỏi, nhức đầu, đau mỏi bắp thịt, rát cổ, nghẹt mũi, ho. Một ít Nhiều trường hợp sau đó mau chóng trở nặng: phổi viêm không điển hình (atypical pneumonia) gây khó thở, lượng dưỡng khí trong máu xuống thấp, suy hô hấp cần máy giúp thở, và có thể chết. Bệnh nghi gây do siêu vi “coronavirus”, cách lây truyền chưa được hiểu rõ và cho đến nay, chưa có thuốc chữa cũng như ngừa. Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization) cùng Cơ Quan Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh Hoa Kỳ (CDC) đang theo dõi sát và nghiên cứu căn bệnh.

Cơ Quan Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh hiện khuyên mọi người chúng ta, nếu không có việc khẩn cấp, không nên đi Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore và Hà Nội (Việt Nam), những vùng đang có dịch “SARS” nặng. Ðồng thời, chính phủ Hoa Kỳ cũng cảnh báo các công dân Hoa Kỳ, trong thời gian này, nếu không có việc khẩn cấp, nên tránh đi Việt Nam. (Chính phủ Hoa Kỳ nêu rõ lý do: vì tại Việt Nam chưa có đầy đủ phương tiện chữa trị căn bệnh, cũng như không có những phương tiện cần thiết để di chuyển người mắc bệnh đến những nơi có khả năng chữa trị tốt hơn).

Hội Y Sĩ Việt Nam Tại Hoa Kỳ nhận định, cùng với thế giới, “Hội Chứng Hô Hấp Cấp Tính Nặng” (“SARS”) cũng đang là mối quan tâm của cộng đồng người Việt chúng ta ở Hoa Kỳ.

Hội Y Sĩ Việt Nam Tại Hoa Kỳ trân trọng đề nghị: để tránh bị căn bệnh lây truyền và có thể đưa đến tử vong đáng tiếc, cho bản thân, cho gia đình, cho những người chung quanh trong cộng đồng, mọi người chúng ta nên thường xuyên theo dõi các tin tức về căn bệnh trên báo chí, truyền thanh, truyền hình, trên Internet (Website http://www.cdc.gov của CDC), và nếu có thắc mắc, tham khảo ý kiến bác sĩ của mình. Ðồng thời, chúng ta nên tuân theo lời khuyên của Cơ Quan Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh cũng như của chính phủ Hoa Kỳ, trong thời gian này, nếu không có việc khẩn cấp, tạm hoãn du lịch Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore và Việt Nam, những vùng đang có dịch “SARS” nặng.

Ngày 25 tháng 4, năm 2003
Chủ Tịch Ban Chấp Hành

Bác sĩ Trần Duy Tôn

Mục Lục


2. Một cuộc xướng hoạ thơ Ðường kỳ thú

Trần Quốc Sỹ



Thơ Ðường là một thể loại được đặt ra từ đời nhà Ðường (618-907) bên Tàụ Chúng ta ai cũng biết thơ Ðường rất khó làm vì chỉ trong 28 chữ (tứ tuyệt, 4 câu ) hay 56 chữ (bát cú, 8 câu) thi sĩ phải diễn tả được hết ý của mình, vừa cảnh vừa tình. Cái khó nhất của thơ Ðường là nó bị bó buộc rất khắt khe, người làm thơ phải theo một quy luật nhất định, vừa phải hợp vần, không được thất niêm, và phải đúng luật bằng trắc. Thêm vào đó, hai câu ba-bốn và năm-sáu buộc phải đối nhau cả về luật lẫn ý. Vì bị bó buộc như vậy nên muốn làm một bài thơ Ðường hay không phải là chuyện dễ.

Làm thơ Ðường đã khó, hoạ thơ Ðường còn khó hơn. Trong khi người xướng có toàn quyền chọn chữ để gieo vần thì người hoạ buộc phải dùng những chữ đã được gieo bởi người xướng để tạo vần cho bài thơ của mình. Nhiều khi người xướng gieo những chữ quá “độc” khiến người hoạ đôi khi phải mất nhiều thời gian để tìm chữ hoạ. Nhưng nếu bài xướng càng khó thì bài hoạ lại càng giá trị.

Xướng hoạ thơ Ðường là một thú vui tao nhã, vừa giải trí lại vừa là một cách học hỏi, huấn luyện tinh thần vì thi sĩ phải vận dụng trí óc của mình để tìm chữ, tìm vần. Ngày xưa còn ở Việt Nam, ông cụ thân sinh của tác giả cũng có một nhóm bạn thơ xướng hoạ thơ Ðường. Nhưng ngày đó, vì không có máy điện toán, không có internet như ngày nay, nên người xướng, người hoạ phải dùng đường bưu điện, đôi khi phải mất đến hai ba tuần cho một bài thợ Nhờ vào sự tiến bộ kỹ thuật ngày nay, đặc biệt với hệ thống internet và email, những thi sĩ làm thơ Ðường đã có thể cùng nhau xướng hoạ, thời gian đôi khi chưa đến một giờ.

Mới đây, trong lúc tác giả đang lang thang trên “phố rùm” của Việt Báo, tình cờ đi lạc vào vườn hoa của các chị nữ sinh Gia Long và thân hữụ Tại đây, tác giả đã được chứng kiến một cuộc xướng hoạ thơ Ðường kỳ thú , độc đáo, có thể xem như độc nhất vô nhị, mà có lẽ rất ít khi xảy ra, nhất là nó đã xảy ra trên đất Hoa Kỳ, nơi tiếng bản xứ là Anh ngữ.

Tác giả đã xin phép các tác giả để xin được ghi lại đây cho bạn đọc thưởng thức cuộc xướng họa thơ Ðường độc đáo này, với mục đích trước là đem một vài phút tiêu khiển đến cho độc giả, kế đến để chúng ta thấy sự kỳ tài của các thi sĩ, và sau cùng để nhận thức rằng ngôn ngữ Việt Nam sâu sắc, thâm tuý đến chừng nàọ Nhờ vào những diễn đàn và những phương tiện truyền thông hiện đại, chúng ta mong rằng tinh hoa của tiếng Việt muôn đời sẽ được các con cháu Việt lưu giữ .

Ðề tài xướng hoạ là “con voi”. Qua những bài thơ xướng hoạ, độc giả theo dõi sẽ thấy sự biến hoá tài tình của các thi sĩ, đem lại cho chúng ta nhiều thích thú, ngạc nhiên. Nào chúng ta cùng bắt đầu …. Khởi đầu là bài xướng “Trói voi” của chị Ngọc Anh. Bài này chị Ngọc Anh đã ví làm thơ Ðường khó như trói một con voi . Trói làm thế nào cho voi được chặt, được gọn, không để lòi, cũng giống như làm một bài thơ Ðường, sao cho hợp vần, hợp vận, đúng luật, đúng niêm.

Trói voi
Sao chàng nỡ ép thiếp trói voi
Bốn vó gom chung với cái vòi
Lượm thượm trên đầu đôi ngà ló
Loay hoay dưới cuối cọng đuôi lòi
Tơ hồng đan lưới bung toang toác
Chỉ thắm bện dây đứt tả tơi
Tháo quách cho xong đời đỡ khổ
Chàng ơi thiếp muốn cưỡi coi chơi
Ngọc Anh

Trong bài thơ này, chị Ngọc Anh gieo vần với năm chữ voi, vòi, lòi, tơi và chơi . Tìm chữ hoạ cho voi, vòi, và chơi không khó lắm, nhưng hai chữ lòi và tơi không dễ đâụ Nhưng tài tình thay, các thi sĩ dường như không e ngại về vấn đề này, xuất khẩu thành thơ , nghe phát sướng. Chúng ta hãy xem các thi sĩ trổ tài, hạ bút hoạ bài thơ “Trói Voi” .
Trước tiên là bài hoạ của anh Sơn Khê:
Chiều nàng
Nàng rằng chỉ thích cưỡi con voi
Nếu thế ta đây chẳng dám vòi
Khúm núm khoanh tay e gươm tuốt
Lom khom chấp gối sợ giáo lòi
Thiên hương diệu võ dần xương nát
Quốc sắc dương oai xẻo thịt tơi
Kế nghiệp hai bà nghìn năm trứớc
Ta nào dám lấy đó làm chơi
Sơn Khê

Kế đến, anh TVB đồng tình bày tỏ đức “thờ bà” của anh:
Hãi vợ,
Hiền thê nhà tớ tướng như voi
Tính nết hung hăng lại thích vòi
Quát mắng chồng nghe tai thành điếc
Hăm he vợ quắc mắt muốn lòi
Ðảm đang việc bếp thân mền rách
Xốc vác chuyện nhà xác áo tơi
Số kiếp long đong không kịp thở
Thờ bà, hãi vợ để mà chơi
TVB
Anh Sơn Khê cũng xin được hai chữ bình an:
Sợ vợ
Vợ tôi tướng chẳng bự như voi
Vậy đó mà tôi cũng cụp vòi
Gót ngọc xoay ngang, vèo ! hàm méo
Tay ngà móc ngược, hự ! ruột lòi
Nghe hơi đằng hắng: lòng hồi hộp
Thấy bóng lờn vờn: dạ rối tơi
Miệng ngậm tăm thôi, nào dám hé
Nát xương chứ phải chuyện vui chơi
Sơn Khê
Anh TVB thủ thế:
Vợ giỏi
Thì ra phái nữ khoẻ hơn voi
Võ giỏi nên ta phải kéo vòi
Cước tấn trung khu toang rốn hở
Chưởng công thượng đỉnh giập tai lòi
Người tay bụm chặt che vành rách
Kẻ gối co cao giấu chỗ tơi
Ðã thế từ nay mình phải luyện Tịch tà kiếm pháp trả thù chơi
TVB
Một anh bạn không nêu tên anh dũng tuyên bố không sợ vợ:
Không sợ
Ừ cho bà xã khoẻ ngang voi
Có thế sợ chi phải co vòi
Vài ba thế võ, gan không thụt
Sáu bảy thước gươm, ruột chẳng lòi
Nhất chỉ dương cương công chính điện
Hàm mô áp đảo địch mê tơi
Tịch tà kiếm phổ khi mà luyện
Khốn khổ thân mình chứ chẳng chơi
Dấu tên
Nhưng anh TVB vẫn một mực thờ bà, em chả…vì bà xã của anh sinh ra ở Hà Ðông:
Chả dám đâu
Thôi đi! Lỡ chuyện tới tai voi
Vỡ mặt bầm môi ấm sứt vòi
Bu nó hăm he tay đang xắn
“Bố mày lấm lét mắt sẽ lòi
Dương công nhất chỉ bà bằm nát
Bạch cốt tam chiêu tớ xé tơi
Bảo điển Quỳ Hoa mang nhát hả?
Ðứa nào khốn khổ thử xem chơi”
TVB
Anh Nhân Sâm, nãy giờ ngồi im, bỗng lên tiếng: “Sợ gì chứ ?”:
Sợ gì?
Sợ gì ? Dẫu chuyện tới tai voi
Chẳng lẽ thân trai lại sợ vòi ?
Quắc mắt, một lời, im miệng toác
Giơ tay, chỉ mặt, cụp đuôi lòi
Nam nhi, chí lớn, không cho nhụt
Mãnh hổ, lông vằn, chẳng để tơi
Bạch tượng dù to còn phải phục
Lôi thôi, ông tước hết đồ chơi
Nhân Sâm
Nhưng anh TVB vẫn run lên cầm cập:
Sợ chứ !
Sợ lắm ông ơi! số hãi voi
Ngồi xa để ngó nó vung vòi
To như trâu mộng sừng còn gẫy
Dữ giống cọp khoang ruột vẫn lòi
Ngà sắc song đao đâm bụng thủng
Chân to tứ trụ đạp xác tơi
Hiền thê của tớ kinh hơn thế
Vớ vẩn rồi đời nát kiếp chơi
TVB
Anh Sơn Khê cũng bắt chước anh Nhân Sâm ra oai, nhưng chỉ dám làm trong giấc mơ :
Chỉ có mơ
Phải rồi cứ quát thẳng tai voi
Hùng hổ như ta há sợ vòi ?
Lạng quạng đè đầu cho khỏi ngóc
Lôi thôi cưỡi cổ để đừng lòi
Cung tay đấm thẳng xông lên tấp
Xoạc cẳng đạp ngay xục đến tơi
Mộng mị trong đêm ôm ước muốn
Tỉnh cơn lại tiếc mỉm cười chơi
Sơn Khê
Anh Nhân Sâm vẫn cương quyết làm thật, phen này anh nhất định chém rơi vòi:
Chẳng mơ
Chẳng mộng, chẳng mơ, chẳng ngán voi
Phen này ta quyết chém rơi vòi
Ðè lên, trói chặt không cho giẫy
Lôi xuống, bó tròn, chẳng để lòi
Vung kiếm khoe đường "Long Vẩy Bạc”
Múa quyền, trổ ngón "Hổ Da Tơi”
Chỉ cần một nhát lìa ba đoạn
Nhặt lấy, đem hầm thuốc, nhậu chơi
Nhân Sâm
Anh Sơn Khê vội lên tiếng can ngăn:
Hãy khoan!
Chết chửa ai kia dám giết voi
Hươi gươm loang loáng đứt lìa vòi
Còn đâu vắt vẻo người vui thấy
Hết cả ngo ngoe kẻ thích lòi
Thế giới im lìm, tình chán ngắt
Thời gian hờ hững, cảnh buồn tơi
Xin lòng độ lượng khoan tay chém
Cứ để vòi kia ngúng nguẩy chơi
Sơn Khê
Anh Nhân Sâm nể lời bạn tạm tha cho voi :
Tạm tha
Nể bạn dừng tay hoãn giết voi
Khôn hồn mau hãy tự co vòi
“Gươm này không nể phường đầu rối
Kiếm nọ chẳng tha kẻ móng lòi”
Lớn xác, tai dầy nhưng bụng rỗng
To thân, miệng rộng lại da tơi
“Ừ thôi, ta tạm tha cho đấy
Nhớ nhé, coi chừng mất chỗ chơi”
Nhân Sâm
Chợt anh Sơn Khê chuyển đề sang sờ voi:
Sờ voi
Chuyện rằng lắm kẻ thích sờ voi
Khổ cái là không nắm cái vòi
Chổi lúa quân sư làm đuôi điếc
Quạt mo cố vấn khiến tai lòi
Cưỡi lưng dựa thế con trâu ngốc!
Luồn bụng ôm chân cái cột tơi
Voi hỡi ! mong mi đừng tủi phận
Thế gian trăn quấn chuyện vui chơi !
Sơn Khê
Và sau đó anh lại…vẽ voi:
Vẽ voi
Thừa giấy nên ta lại vẽ voi
Xong ngay trước hết với cái vòi
Vờn cong hai nét cho mình ưỡn
Vẻ thẳng tám đường để cẳng lòi
Vạch miệng cong lên đôi ngà cứng
Khoanh đuôi cụp xuống cọng lông tơi
Tô thêm vài nét lên đôi mắt
Hình dáng xem ra rất chịu chơi
Sơn Khê
Anh Nhân Sâm gật gù khen bạn và xin tranh voi đem về đóng khung:
Khen họa sĩ đại tài
Kìa xem ai khéo vẽ chàng voi
Hai mắt, hai tai với một vòi
Mình ưỡn, lưng bồ đuôi phẩy phẩy
Ngà cong chân thép móng lòi lòi
Nhìn ngang trông nó, oai nghi quá
Ngó lại thấy ta, dạ nát tơi
Hoạ sĩ đại tài vung mấy nét
Xin về nhất định đóng khung chơi
Nhân Sâm
Anh Sơn Khê thấy thế đổi nghề mộc:
Ðóng khung
Thử ra nghề mộc đóng khung voi
Khổi nỗi bày sao rõ cả vòi!
Kẽo lại người lầm con hải tượng
E rằng kẻ lộn chú heo lòi
Bào ngàm ráp khít, lay không lỏng
Ðục mộng tra vừa, lắc chẳng tơi
Ðóng chặt vài đinh, cho chắc cú
Trét keo gắn dính giữ lâu chơi
Sơn Khê
Anh Nhân Sâm khen anh Sơn Khê đa tài:
Ða tài
A! nay anh lại đóng khung voi
Gọn ghẽ, thân, chân, lẫn cả vòi
Nhát búa, đường đinh, ôi ! sắc sảo
Màu sơn, nét vẽ, tuyệt ! không lòi
Hiền huynh chỉ ướm đà ngay chóc
Tiểu đệ tuy gò vẫn thấy tơi
Nhất quyết phen này em phải học
Vừa văn, vừa võ, bớt rong chơi
Nhân Sâm
Tiện thể, anh Nhân Sâm cũng bày cách trói voi cho chị Ngọc Anh:
Cách trói chân voi
Ngồi đây anh dạy trói chân voi
Giữ chặt không cho nó cuốn vòi
Thắt nút, luồn qua đừng để vuột
Căng dây, rút mạnh chẳng cho lòi
Xoa xoa, tay phủi vui khoan khoái
Ngắm nghía, miệng cười sướng mê tơi
Cứ bảo trói voi là chuyện khó
Xem ra thật dễ chỉ như chơi!
Nhân Sâm

Anh Sơn Khê nói “Anh Nhân Sâm ơi, chỉ mỗi con voi mà chúng ta vất vả, vật vã với nó quá, hết trói lại cưỡi, hết cưỡi lại vẽ, rồi đóng khung mà bây giờ anh lại muốn trói nữa! Thật là rõ khổ!” . Anh nói, “chính danh thủ phạm chính là ….

Cái vòi
Thật là rõ chán với con voi
Rắc rối là đây với cái vòi
Lủng lẳng trên đầu làm mắt ngứa
Ðong đưa dưới bụng khiến tai lòi
Bờ rau rậm rạp bằm cho nát
Bụi mía lưa thưa dập đến tơi
Xẻo quách cho xong là hết khổ
Bởi vì nó chỉ biết ăn chơi
Sơn Khê

Rồi anh lại muốn thắt nó để chơi :
Thắt vòi
Thế thì ta lại vật con voi
Lấy thúng úp lên để thắt vòi
Tránh thịt sùng lên đâm mắt lõ
Phòng gân nổi dậy chọc gan lòi
Thừa hơi hút nước sông hồ cạn
Dư sức đùn non đá sỏi tơi
Lồng chỉ thòng vòi cho khỏi lắc
Buộc vào cột cái để vần chơi
Sơn Khê

Nhưng anh Nhân Sâm vẫn nhất định đổ tội cho voi:
Tại voi
Chẳng phải tại “vòi” ấy tại voi
Có ai mũi lại hoá thành vòi
Ðít to, đầu bé cùng tai cụp
Mắt hí, chân lùn với móng lòi
Ðể khổ cho ai tìm cách trói
Mang sầu đến kẻ đóng khung tơi
Thôi thì ta cất mày vào xó
Lúc rảnh đem ra ngắm chút chơi
Nhân Sâm

Lúc này chị Ngọc Anh mới lên tiếng nói là “chẳng phải tại vòi hay tại voi” mà chính là tại anh chàng hậu đậu:

Tại chàng
Người nói tại “vòi”, kẻ bảo “voi”
Bởi ai không khéo, tội voi, vòi
Túm chân, bó chặt, tròn vừa khít
Cưa gỗ, làm khung, gọn hết lòi
Pha mực, tô màu khoe nét đẹp
Thêm hoa, vẽ lá, giấu nơi tơi
Khuyên chàng quân tử gây nên nỗi
Chăm chỉ chuyên cần bớt ăn chơi
Nhân Sâm (viết thay cho Ngọc Anh)

Và sau cùng, voi chịu hết nổi phải xin làm dê:
Xin được làm dê
Kiếp sau thôi tớ chẳng làm voi
Xin được làm dê dẫu cụt vòi
Mất cả tai to cùng mắt hí
Không còn ngà ló với đuôi lòi
Be he thong thả tìm vui thú
Há há tà tà kiếm hoa tơi
Sướng quá cuộc đời dê sướng quá
Suốt ngày ăn, ngủ, úm, rồi… chơi
Nhân Sâm

Chị Giáng Hương không đồng ý với anh Nhân Sâm, chị cho là voi sướng hơn dê:
Voi sướng hơn dê
Làm dê chẳng có sướng hơn voi
Kẹt nhất là không được phép vòi
Một nắng mài sừng kiêng ngủ nướng
Hai sương dũa móng tránh ăn lòi
Âm dương hỗn loạn vì ngọc pín
Nhật nguyệt thăng trầm bởi râu tơi
Bảnh mắt tinh sương ra đứng cổng
Chuyên làm tôi mọi kẻ cười chơi
Giáng Hương

Riêng anh TVB thì không muốn giống voi, cũng chẳng muốn làm dê:
Tớ đây cóc muốn giống như voi
Cũng chẳng làm con bị mất vòi
Ngọc giống tranh phong thua lợn nọc
Ngà ròng thử lửa kém heo lòi
Lang thang húc sảng đâm hành nát
Ðủng đỉnh đi quàng nghiền tỏi tơi
Bởi thế làm thân dê mệt lắm
Sự đời mất tiệt lấy gì chơi
TVB

Khi tác giả viết đến đây thì cuộc xướng hoạ “thơ voi” vẫn còn tiếp tục, hứa hẹn nhiều sôi nổị Nhưng tác giả buộc phải kết thúc ở đây để còn kịp gởi bài đăng báo . Các đọc giả yêu thơ Ðường có thể theo cuộc xướng hoạ độc nhất vô nhị này trên “phố rùm” Việt Báo, trong vườn hoa Gia Long. Nơi đây các độc giải còn được thưởng thức gần trăm bài xướng hoạ thơ Ðường rất điêu luyện của các thi sĩ dưới nhiều đề tài khác nhaụ

Sau cùng, tác giả xin ghi lại hai bài thơ rất độc đáo của anh Sơn Khê, cũng về con voi, nhưng với một bút pháp tuyệt hảo, hiếm có:

Chát chơi
Vung vít vờ về việc vẽ voi
Vào vây vớ vẩn vụ vờn voi
Lơ là lắc lẻo làm lừa ló
Lì lợm lê la lại lợn lòi
Tình tụ tưng tưng toan tính tả
Tiết tan toang toác tại tình tơi
Chụm chia chua chát chan chằng chịt
Chung chọc chính chuyên chẳng chịu chơi
Sơn Khê

Và bài thứ hai:
Con vê
Vì vợ ví von với vóc voi
Vớ va vớ vẩn vẽ vờn vòi
Vái van vút vút vào vòi vĩnh
Vênh váo vèo vèo vụ vác vôi
Ve vãn vờ vin vào vương vấn
Vội vàng vít …vế vục vẽ vời
Vẻ vang vô vác vui vần vũ
Vi vút vu vi vụ vạ vơi
Sơn Khê

Viết tặng tất cả trong vườn hoa Gia Long


Trần Quốc Sỹ

Mục Lục


2. Gỏi cá sống và bịnh sán gan tại Việt Nam

BS. Ðào Hữu Anh


Kỳ này, mời quí độc giả đọc một bài viết lý thú của BS. Ðào Hữu Anh, về bệnh sán gan tại Việt Nam.
BS. Nguyễn Văn Ðức

Trong khoảng thập niên gần đây, guồng máy Y tế Việt Nam đã tiếp tục phát động nhiều chiến dịch cảnh cáo quần chúng trong những tỉnh Nam Ðịnh, Thái Bình, Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá về việc ăn cá sống và bịnh sán gan. Triệu chứng thông thường của các bịnh nhân là mệt mỏi, vàng da, vàng mắt, đau bụng, và trong những trường hợp nặng, xơ gan, cổ trướng. Gần đây hơn nữa, trong một buổi hội thảo quốc tế về Ký sinh trùng được tổ chức tại thành phố Saigon trong 3 ngày 26, 27 và 28 tháng 11, 2002, bộ trưởng Y tế Việt Nam đã tuyên bố là có tới 500.000 người dân bị mắc chứng bịnh sán gan vì ăn cá sống. Những điều này chứng tỏ là bịnh sán gan đã gia tăng mạnh mẽ trong nhiều vùng tại Việt Nam, làm cho nhà cầm quyền phải quan tâm.

Theo một bài trong báo Lao Ðộng (được trích đăng trên báo Người Việt số ngày 28/11/2002) thì tỉnh Ninh Bình là một tỉnh có rất đông người bị sán gan chỉ vì hay ăn món "đặc sản" gỏi cá sống Kim Sơn (một huyện trong tỉnh Ninh Bình). Kết quả là nhiều hộ đã phải mướn cả chuyến xe đò chuyên chở cả gia đình làng xóm lên viện Ký sinh trùng để chữa chạy.

Bịnh sán gan không phải là một bịnh mới. Bịnh này đã được biết từ năm 1875 khi ông Cobbold tìm được con sán trong một bịnh nhân và đặt tên cho nó là Distomum sinense. Bịnh lan tràn trên nhiều quốc gia Âu Á, kể đầu là Nhật Bản, Cao Ly, Trung Hoa, rồi tới Việt Nam, Miên, Lào, Thái Lan, v.v... Nga Sô (Siberia) và nhiều nước Ðông Âu cũng có bịnh này. Sán gan của người ta thuộc về ba loại chính: Nhật Bản, Cao Ly, Trung Hoa và Việt Nam có sán Clonorchis sinensis. Thái Lan và Miên Lào có sán Opisthorchis viverrini. Còn Nga Sô và các nước Ðông Âu thì có sán Opisthorchis felineus. Ðể cho chúng ta, những khách du lịch, tìm hiểu thêm về bịnh sán gan, ngõ hầu có thể tránh được bịnh trong khi thăm viếng quê nhà, chúng tôi xin lần lượt trình bầy sau đây những dữ kiện về sán gan, chu kỳ sinh sản của sán, triệu chứng bịnh sán gan và sau cùng là cách chữa bịnh.

Hình thể và sinh kỳ sán gan
Sán gan (douve de foie, liver fluke), bất kể là loại Clonorchis hay Opisthorchis, đều có một thân hình thon và dẹp, giống như một chiếc lá, chiều dài từ 1 tới 1.5 cm và chiều ngang chừng 2-3 mm. Ðầu nhỏ và dài, có miệng hình tròn. Phần giữa thân hình và đuôi là nơi chứa các cơ quan sinh dục và tiêu hoá. Vì sán gan thuộc loại lưỡng tính (hermaphrodite) nên con sán có cả hai bộ phận sinh dục nam và nữ. Noãn sào và tử cung nằm tại phần giữa, còn hai tinh hoàn thì nằm về phía đuôi.

Sán gan sống trong các ống dẫn mật, trong và ngoài lá gan của cả người ta lẫn các thú vật như chó, mèo, chồn cáo (những động vật ăn cá sống). Trứng đẻ ra theo với phân ra ngoài, rồi nở ra trong nước thành một ấu trùng (miracidium). Ấu trùng theo giòng nước tìm tới những con ốc sên sống trong các ao hồ, xâm nhập vào cơ thể ốc để sinh sôi nẩy nở trong gan ốc. Cứ mỗi ấu trùng đi vào trong gan ốc thì có thể sinh ra tới 5000 ấu trùng khác (cercaria). Những ấu trùng này từ gan ốc đi ra, bám vào lớp vẩy của các loài cá mè, cá chép nhỏ sống trong ao. Chúng ăn sâu xuống lớp da cá, đóng cục tròn lại và biến thành ấu trùng cấp 2 (metacercaria). Người ta, cũng như các thú vật khác, mắc bịnh sán gan khi ăn phải cá sống có chứa những ấu trùng cấp 2 này.

Sự liên hệ giữa ăn cá sống và bịnh sán gan
Như trên ta đã thấy là sinh kỳ của sán gan bị tạm ngưng khi ấu trùng đã tìm được cá mè, cá chép để đóng cục trên các lớp da, lớp vẩy. Nếu cá cứ tiếp tục sống thì ấu trùng sẽ theo thời gian mà chết. Muốn cho sinh kỳ được tiếp tục, ấu trùng phải tìm cách xâm nhập cơ thể một động vật như người hoặc súc vật. Sự xâm nhập này bắt buộc phải đi qua miệng và ống thực quản vì ấu trùng đã đóng cục liền trên da cá, không còn đủ khả năng để xâm nhập trực tiếp qua lớp da của người ta nữa. Và cách duy nhất để ấu trùng có thể tiếp tục sinh kỳ là các con cá chép, cá mè tội nghiệp kia bị bắt và bị ăn sống. Nếu ta nấu chín kỹ cá trước khi ăn thì sẽ không có bịnh sán gan vì các ấu trùng đã bị sức nóng hủy diệt.

Nói về ăn cá sống thì có rất nhiều cách. Trong thời đại đồ đá, loài người hãy còn ăn lông ở lỗ thì việc ăn cá sống, cũng như ăn thịt sống, là sự dĩ nhiên rồi. Có lẽ bịnh sán gan bắt đầu phát triển từ thời đại này, khi sinh kỳ của sán được phát triển rập theo thói quen ăn sổi ở thì của loài người hồi đó. Sau này, khi xã hội loài người đã văn minh hóa thì việc ăn cá sống cũng thay đổi. Tùy theo tập tục mỗi quốc gia, ta có thể ăn cá muối, cá ngâm giấm, cá phơi khô hay cá hun khói. Tất cả những phương pháp kể trên đều có thể giữ cho cá khỏi hư, nhưng không đủ hiệu nghiệm để trừ khử ấu trùng sán. Vì vậy, ta rất có thể bị bịnh sán gan khi thưởng thức những món ăn này. Người Nhật có tục ăn cá sống gọi là sushi. Món này nếu biết cách làm thì ngon hết nói. Và điều quan trọng đáng ghi nhớ là sushi được làm bằng cá biển, nên khi ăn sushi ta có thể bị các bịnh khác, nhưng chắc chắn là không có bịnh sán gan. Tới đây, kẻ viết bài này xin thú nhận là trước kia, tôi không có ưa món cá sống mấy. Nhưng từ khi, qua sự hướng dẫn của một ông bạn sành điệu, được thưởng thức món sushi do chính người Nhật làm, điểm thêm một vài chén sake, tại nơi nghỉ mát Yamaha Resort miền trung nước Nhật, thì tôi phải công nhận là ít có món ăn nào ngon hơn được.

Trở lại việc ăn cá sống, hai sắc dân Nhật và Cao Ly, và tại một vài nơi ở Việt Nam còn có tục ăn cá sống gọi là "sinh cầm". Cá nhỏ bằng lòng bàn tay, còn sống bơi trong một chậu nước, được bắt ra, quấn thêm ít bánh tráng hay một loại bánh tương tự, rau sống, gia vị, hành tỏi cho bớt mùi tanh, rồi cắn ăn khi cá còn đang quẫy. Lẽ tất nhiên là phải có ít nhiều rượu bia hay sake để đưa cay. Ta phải công nhận là cách ăn này đòi hỏi nhiều can đảm nơi những người tham dự.

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, gỏi cá sống được phổ biến rộng rãi, nhiều người ưa thích, và gỏi đã trở thành "đặc sản" tại một vài nơi như huyện Kim Sơn chẳng hạn. Ta có thể làm gỏi với nhiều thứ cá, nhưng tựu trung chỉ có cá nhệch và cá mè là được ưa chuộng nhất. Cá được nuôi dưới ao, và trong vùng những tỉnh Nam Ðịnh, Ninh Bình thì ở thôn quê hầu như nhà nào cũng có đào ao nuôi cá. Nuôi cá không những đem thêm dinh dưỡng cho gia chủ mà còn là một nguồn lợi tức không nhỏ cho những người dân nông nghiệp cần cù. Thức ăn cho cá là phân người (còn gọi là phân bắc) xuất phát từ những cầu tiêu được xây cất chung quanh ao cá. Phân người rất rẻ, hầu như là không mất tiền mua, mà cá lại rất thích, ăn vào mau lớn. Mới nghe thì ghê tởm, nhưng nghĩ cho kỹ thì đây chỉ là một dịch vụ tái dụng (recycle) cũng như ta tái dụng các vật liệu khác như giấy báo, plastic và sắt vụn. Nếu không có bịnh sán gan thì việc dùng phân người để nuôi cá có thể được coi là một dịch vụ tái dụng lý tưởng nhất. Nhiều người không dám ăn cá được nuôi bằng phân bắc, nhưng nghĩ cho cùng thì việc ăn cá hay không không thành vấn đề nữa vì trong thức ăn và nước uống hàng ngày của chúng ta đều có nhiễm ít nhiều vi trùng loại coliform, một loại vi trùng xuất phát từ các chất phế thải của bộ máy tiêu hoá.

Theo báo Lao Ðộng, cách sửa soạn gỏi cá cũng đòi hỏi nhiều công phu: cá được bắt lên, rửa sạch rồi thái chỉ. Thịt cá được tẩm muối, mì chính, tiêu, riềng, nghệ và thính (gạo rang). Các thứ rau đệm cũng rất nhiều: 5 hay 6 loại húng, lá mơ, sung, đinh lăng, lá ổi, hẹ, mùi tầu, tía tô, v..v.. kể ra không hết. Thịt cá được bày ra mâm, nhiều đến nỗi cắm ngập chiếc đũa. Thêm chút rượu đế là ta có một mâm thịnh soạn. Trong những vùng kể trên, ăn gỏi cá là sự việc thường xuyên, xẩy ra hàng ngày. Kết quả là có đến 40% dân chúng trong vùng bị sán gan theo như điều tra của các cơ quan hữu trách.

Triệu chứng bịnh sán gan
Khi ta ăn phải miếng cá có chứa các ấu trùng, ấu trùng này sẽ nở ra và lớn dần lên trong ruột non. Sau đó, chúng sẽ theo ống dẫn mật chính lên gan rồi định cư và trưởng thành trong hệ thống ống dẫn mật của gan. Từ khi ấu trùng được ăn vô bụng cho tới khi sán trưởng thành phải cần một khoảng thời gian từ 4 tới 5 tuần lễ. Khi sán trưởng thành, chúng bắt đầu đẻ trứng. Trứng sán hình tròn, có vỏ cứng nên không bị tiêu hoá khi ở trong ruột. Trứng theo với phân ra ngoài và nếu gặp nước thì sẽ nở thành ấu trùng. Sán gan có thể sống lâu tới 30 năm. Vì vậy bịnh sán gan, nếu không chữa, có thể kéo dài nhiều năm và gây những biến chứng bất ngờ. Trường hợp bịnh nhẹ, với số sán trong bụng từ vài con tới 100 con, thì bịnh nhân thường không có triệu chứng nào cả. Bịnh nhân cảm thấy bình thường, không biết là mình đã có bịnh. Trường hợp bịnh nặng, khi bịnh nhân ăn phải nhiều ấu trùng một lúc, ta thấy có những triệu chứng cấp tính như: nóng lạnh, đau bụng, ỉa chẩy và gan hơi lớn. Trong máu số lượng bạch huyết cầu eosinophil lên cao. Những triệu chứng cấp tính này xẩy ra chừng 1-2 tuần sau khi bịnh nhân ăn phải cá sống có độc và có thể kéo dài cả tháng. Nếu bịnh nhân ngưng ăn cá sống vào thời điểm này thì sẽ không có triệu chứng nào khác nữa, tuy rằng có sán trong gan.

Nếu bịnh nhân cứ tiếp tục ăn cá sống và không chữa chạy gì cả thì sau ít năm, tùy theo số sán trong bụng, ta bắt đầu thấy có triệu chứng bị tắc ống mật. Da và mắt bị vàng, gan hơi lớn và đau, phân trở thành mầu trắng bệch. Trong máu, số lượng bilirubin gia tăng. Các ống mật bị tắc là vì số lượng khá lớn của sán trong bụng bịnh nhân làm bế tắc lưu thông của mật xuống ruột. Hơn nữa, khi có sán trong gan, các chất cặn bã dinh dưỡng của sán cũng làm cho các ống mật bị sưng, thành ống mật dầy lên và cứng lại, làm cho sự bế tắc mật càng gia tăng. Kết quả là số lượng mật trong máu tăng lên theo, và da bịnh nhân ngả màu vàng. Nếu có vi trùng xâm nhập, gan có thể mưng mủ (abscess), đôi khi kéo theo cả sưng lá mía (pancreatitis). Nếu để lâu năm không chữa, gan có thể bị chai. Ung thư gan là một biến chứng đáng sợ, nhưng ít thấy.

Ðịnh bịnh sán gan
Ta có thể định bịnh sán gan một cách dễ dàng và đỡ tốn kém bằng phương pháp thử phân. Chừng 1-2 tháng sau khi ấu trùng xâm nhập cơ thể thì bịnh nhân bắt đầu có trứng sán trong phân. Trứng nhỏ, hình bầu dục, mầu vàng óng, một đầu có nắp đậy. Trong trứng có ấu trùng. Vì trứng khá nhỏ nên ta cần phải xài kính hiển vi với độ phóng đại lớn mới thấy được trứng. Ngoài việc thử phân, ta có thể thử máu để thấy số lượng bạch cầu eosinophil gia tăng. Những thử nghiệm khác như chiếu điện gan và siêu âm gan thường không có kết quả nhiều, trừ khi bịnh đã nặng.
Ðiều trị bịnh sán gan
Trước kia, không có thuốc nào trị được bịnh sán gan. Bịnh nhân đành phải chịu trận, kéo dài thời gian chờ cho ký sinh trùng trong gan tiêu dần. Kể từ đầu thập niên 90, ta có một loại thuốc mới rất hiệu nghiệm để trị bịnh này: đó là thuốc Praziquantel, một dược phẩm bắt nguồn từ chất isoquinolinepyrazine. Ðây là thuốc uống, với lượng thuốc là 25mg cho mỗi Kg sức nặng. Thuốc được chia làm 3 lần mỗi ngày, uống trong 2 ngày liền là đủ. Thí nghiệm cho thấy là thuốc có sức mạnh làm cho da sán bị hư hại, chất calcium có cơ hội xâm nhập cơ thể sán làm cho chúng bị co giật cứng người lại. Sau đó, các bạch cầu có cơ hội tấn công và hủy diệt sán. Thuốc praziquantel có độ hiệu nghiệm tới gần 100% và ít gây ra phản ứng tai hại. Các phụ nữ mang thai và trẻ em đều có thể xài thuốc này được. Sau Praziquantel, ta còn một thuốc khác để trị sán gan: đó là Albendazole, một thứ thuốc đã được dùng nhiều trong việc điều trị các sán lãi thuộc loại Taenia. Ðộ lượng thuốc là 10mg cho mỗi Kg sức nặng, uống làm 2 lần trong một ngày, và phải uống 7 ngày liền mới đủ. Thuốc này cũng rất hiệu nghiệm và có ít phản ứng.

Kết luận
Ðể kết luận, ta có hai nhận xét:
1. Muốn diệt trừ bịnh sán gan, ta chỉ cần phá vỡ chu kỳ sinh sản của sán bằng cách không dùng phân người làm thức ăn cho cá nữa. Như vậy sẽ không có trứng sán nẩy nở trong nước và không có những ấu trùng đi tấn công các loài ốc sên nữa. Nói thì dễ nhưng làm thì không dễ vì có một lý do là lý do kinh tế. Phân bắc có nhiều mà không phải mua. Các thức ăn cho cá khác phải mua mất tiền, làm giảm lợi tức cho công cuộc nuôi cá. Cá trở nên mắc tiền, khó mua bán hơn trước. Lý do chính làm cho món gỏi cá sống được thịnh hành là gỏi "vừa rẻ vừa ngon".
2. Muốn tránh bịnh sán gan, ta không nên ăn gỏi cá sống. Ðối với những người như chúng ta chưa ăn gỏi cá bao giờ, điều này thực dễ làm. Nhưng đối với những người đã ăn gỏi cá, điều này rất khó thực hiện. Ta biết là rượu và thuốc lá rất có hại cho sức khoẻ, có thể đưa tới bịnh ung thư phổi và chai gan, nhưng vẫn có nhiều người hút thuốc và uống rượu. Ăn gỏi cá cũng vậy. Có nhiều bịnh nhân phải lên viện Ký sinh trùng để tẩy sán. Một khi sức khoẻ khá hơn, trở về nhà là lại tiếp tục ăn gỏi cá.
Như vậy, ta thấy bịnh sán gan có nhiều triển vọng phát triển như thường trong những vùng có bịnh. Những con ấu trùng vẫn sẽ tiếp tục đóng cục trên các cá nhệch, cá mè và người dân trong vùng cũng vẫn tiếp tục bắt những cá này để làm một mâm gỏi cá sống ngon lành và hấp dẫn. Và những người ngoại cuộc như chúng ta cũng sẽ còn nhiều cơ hội để bàn tán về những hậu quả của bịnh sán gan, cũng như chúng ta đã bàn tán nhiều về những hậu quả tai hại của rượu và thuốc lá. Chỉ trừ khi có một phép lạ xẩy ra.

Tài liệu tham khảo:
1. Précis de Parasitologie. E. Brumpt, 6è Ed., 1949. Masson & Cie, Paris.
2. Pathology of Infectious Diseases. W M Meyers, 2000. AFIP, Washington DC.
3. Medical Parasitology. EK Markell, 1999. WB Saunders, Philadelphia.
4. Manson's Tropical Diseases. GE Cook, 20th Ed., WB Saunders, Philadelphia.


BS. Ðào Hữu Anh

Mục Lục


VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________





1. Website của nhạc sĩ Phạm Duy



Giao Muà vừa nhận được tin nhạc sĩ Phạm Duy đã hoàn tất websites của mình tại:
www.phamduỵcom

www.http://phamduỵcom
www.http://phamduymusic.com
www.http://hstrial-cphamduỵhomestead.com
www.http://kicon.com/phamduy

Một website nữa đang trong thời kỳthiết lập:
www.phamduỵorg

Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Muà


Mục Lục




2. Website Nhân Ái



Website Nhân Ái vừa cập nhựt toàn bộ bài vở và tư liệu mới, kính mời quý vị thăm viếng :

http://perso.wanadoo.fr/charite

Thân chào và chúc sức khoẻ .
TM/BBT Nhân Ái
Huỳnh Tâm

Mục Lục


VIỊ Nhạc : 1. Em Còn Ðó Không ?

Mục Lục


VIII . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bảo Trân, Bích Hà, Bình Nhung, CC, Du Tử Lê, BS Ðào Hữu Anh, Ðặng Xuân Mai, Ðỗ Thành, DHH, Gia Phong, Hoàng Mai Phi, Hoa Cỏ, Hoàng Trúc Giang, Khánh Học, Lâm Huân, Linh Vũ, Ngô Thy Vân, Ngọc An, Nguyên Khoa, Nguyễn Ðăng Tuấn, Nguyễn Vạn Thắng, nttn, Nhược Thu , Quang Ngọc, Quên, NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Song Châu Diễm Ngọc Nhân, Sương Mai, Tân Văn, Trần TT Trang, Trần Công Nhung, Trần Quốc Sỹ, BS Trần Duy Tôn, Trần Văn Lương, Trần Hoan Trinh, Trần Thị Hà Thân, Trường Ðinh, Tử Nhi, Uyên Thi, Viễn Phương, và Vũ Thị Thiên Thư, đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 14 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua2002@aol.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua2002@aol.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

Trang Nhà