Số 15
Ngày 1 tháng 7 năm 2003
Nguyệt San Giao Mùa
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116-0378
USA
Thư Ngỏ
Mùa hè...
Cây liễu cuối vườn Mẹ trồng hai năm trước, dịp bà từ quê xa qua thăm con cháu, giờ đã cao quá đầu người. Giòng lá rũ phất phơ trong nắng hè như tóc Mẹ chiều hôm. Từ ngày về lại quê, mỗi lần con cháu điện thoại thăm, Mẹ vẫn không quên hỏi thăm cây liễu đã lớn tới mô rồi?. Mùa đông trước, khi nhận tấm hình cây liễu chỉ trơ trọi vài nhánh khẳng khiu đọng tuyết trắng, Mẹ lo mãi cho đến khi nhận được tấm hình mới với thân cành xanh tươi lá cuối xuân. Như Mẹ vẫn một đời lo lắng cho bầy con tám người mà đứa út tóc đã chớm hai màu. Mẹ dẫn con đến trường. Mẹ tiễn con đi lính. Mẹ thăm con trong quân y viện. Mẹ tiếp tế cho con tháng ngày cải tạo. Mẹ băng đại dương để được nhìn tận mặt con cháu ăn ở “ra răng” nơi đất khách quê người.
Những ngày này Mẹ đang bệnh nặng. Việc trị liệu kéo dài và đớn đau. Có thể là cơn bệnh cuối cùng của đời Mẹ...Thế mà Mẹ vẫn vui, hăng hái ra tận phi trường đón cháu về thăm. Mẹ cười trong điện thoại. Mẹ dẫn cháu đi thăm mộ Ông Nội. Thằng Bờm lắc đầu le lưởi nhìn sinh phần của Mẹ đã xây xong cạnh mộ phần của Nội.
Mẹ sẵn lòng theo Cha về nơi vĩnh cửu như từ một thuở đầu đời Mẹ đã về với Cha son sắt. Và Mẹ vẫn sống vui từng ngày, như một hằng sống tận tụy thiết tha...
Nhìn cành liễu khẳng khiu oằn giọt tai ương sau cơn giông đêm trước đang run rẩy đong đưa trong gió sớm mà lòng con thương xót Mẹ khôn cùng.
Bạn mến,
Giữa những ngày của mùa hoa đang kết trái vu lan, từ nơi xa nhớ về Mẹ xin nguyện cầu cho Mẹ tôi, Mẹ bạn, cho những người Mẹ của chúng ta có thêm năm tháng sống an lành.
Thân ái,
Phan thái Yên
BBT Nguyệt San Giao Mùa
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Không Ai Biết?Ngày Mai Sẽ Ra Sao! | ______Võ Ðình Tuyết. | |
| 2. Anh Ðâu Em Ðó | ______Ngô Thy Vân | |
| 3. Chiều Xuống Paris | ______Trường Ðinh | |
| 4. Có Bao Giờ | ______l.t. quỳnh hương | |
| 5. Những Dòng Sông Quê Hương | ______Trần Hoan Trinh | |
| 6. Cô Bé, Tình Yêu, Và Ta | ______Tử Nhi | |
| 7. Chuốc Chén Rượu Mời | ______Sương Mai | |
| 8. Mưa Tháng Sáu | ______Viễn Phương | |
| 9. Trong Tay Người Thú Tội | ______Nguyễn Ðăng Tuấn | |
| 10. Áo Mơ Hoa | ______Khánh Học | |
| 11. Cám Ơn | ______Tân Văn | |
| 12. Chuyện Tình Phạm Thái Quỳnh Như | ______Ðặng Xuân Mai | |
| 13. Nhớ Muà Phượng Vĩ | ______Uyên Thi | |
| 14. Nỗi Nhớ Không Tên | ______Ngọc An | |
| 15. Về Bên Em | ______Trần Thị Hà Thân | |
| 16. Một Thoáng Thôi | ______nttn | |
| 17. Mẹ | ______Bích Hà | |
| 18. Ðếm Mưa | ______Hoàng Mai Phi | |
| 19. Muà Thu Sydney | ______CC | |
| 20. Ngày 47 | ______Phạm Vũ Anh Nam | |
| 21. Gió Ngang Sợi Tóc | ______Linh Vũ | |
| 22. Lời Nguyện Cầu Em | ______Hoa Cỏ | |
| 23. Tâm Sự Trái Banh | ______Song Tưởng Nhất Nguyên | |
| 24. Trả Anh Nỗi Nhớ | ______Nhược Thu | |
| 25. Lông Nhông | ______Nguyên Khoa | |
| 26. Lời Dặn Dò | ______Mạc Phương Ðình |
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Những Hạt Lạc Rang _______ Hoang Vắng |
| 2. Ðêm Trên Dòng Biên Giới (kỳ 2) ___________ Phan thái Yên | 3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 15) ___________ Trần Công Nhung |
| 4.Về...(tiếp) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Chị Khôi (chuyện 2 kỳ) ___________ Phạm Vũ Anh Nam |
| 6.Con Thuyền Ðịnh Mệnh ( 2 ) ___________ Viễn Phương |
| 7.Ðoản Khúc Tháng Năm Năm 2003 ___________ Võ Ðình Tuyết |
| 8.Ngày Của Mẹ ___________ Nguyễn Ðăng Tuấn |
| 9.Mưa Muà (chuyện 2 kỳ) ___________ Vũ Thị Thiên Thư |
| 10.Lấy Chồng ___________ Bích Hà |
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 7)________________________________________________________________
| 1. Dân Ca Phát Triển _______________________________ NS Phạm Duy |
IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
V. Nghiên Cứu________________________________________________________________
| 1. Cây Thông _______ Phan Lạc Tiếp |
| 2. Tiền Mất Tật Mang _______ BS Nguyễn Ý Ðức |
| 3. Mệt ! Mệt! Mệt _______ BS. Nguyễn Văn Ðức |
VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Thi Tập Mạc Phương Ðình _______ Giao Muà |
| 2. Website cho Tìm Việc _______ Vũ Thư Nguyên |
| 3. Website Theresa Charities _______ Giao Muà |
| 4. Ðài Phát Thanh Bolsa _______ Giao Muà |
| 5. CD " Gọi Từng Yêu Thương _______ Giao Muà |
VII . Nhạc __________________________________
| 1. Nhạc : Em Mãi Là Nhớ Thương _______ Bích Hà - Trường Ðinh |
VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Hoang Vắng
2. Ðêm Trên Dòng Biên Giới (2 kỳ)
Phan thái Yên
Phan thái Yên
Trần Công Nhung Thanh Sơn
Thanh Sơn
Phạm Vũ Anh Nam
Phạm Vũ Anh Nam
Viễn Phương
Viễn Phương
7. Ðoản Khúc Tháng Năm
Năm 2003. Võ Ðình Tuyết.
Võ Ðình Tuyết.
Nguyễn Ðăng Tuấn
Nguyễn Ðăng Tuấn
Vũ Thị Thiên Thư
Vũ Thị Thiên Thư
Bích Hà
Bích Hà
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 4)__________________________________________ Nhạc Sĩ Phạm Duy
Phạm Duy
IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
DHH
~~~/~~((@
V . Nghiên
Cứu_____________________________________________ Phan lạc Tiếp
Phan lạc Tiếp Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
BS Nguyễn Ý Ðức BS Nguyễn Văn Ðức
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. Thi Tập Mạc Phương Ðình
2. Websites cho Tìm Việc
3. Chương Trình Teresa Charities
4. Ðài Phát Thanh Radio Bolsa
Chương Trình Nhạc Chủ Ðề
5. CD " Gọi Từng Yêu Thương"
TNS Music Productions xin giới thiệu vơí các bạn CD " Gọi Từng Yêu Thương" vơí những tình khúc mơí cuả Trịnh Nam Son sẽ đuoc phát hành vaò đâù tháng 7. Các bạn có thể download file để xem hình bià và lyrics . VIII . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Hoang Vắng
Trời đã vào xuân nhưng khí trời vẫn còn lành lạnh vào những buổi sáng sớm và lúc hoàng hôn vừa xuống nơi miền cao nguyên với cái tên gọi êm như sự giao mùa, Colorado Springs. Tôi yêu cái "lành lạnh" đó vô cùng, không quá lạnh để phải co ro, chỉ vừa đủ để khoác cái áo lạnh mỏng làm dáng, chỉ vừa đủ để thèm một vòng tay ấm... Những buổi chiều sau giờ làm việc tôi thường một mình lang thang ra cái công viên gần khách sạn, hít thở cái không khí thật trong lành hiếm hoi mà tôi chẳng bao giờ cảm nhận được tại thành phố nơi tôi ở, nhìn thiên hạ dập dìu qua lại mà nhớ nhà. Không hiểu tại sao nơi đây cũng là thành phố lớn nhưng không xô bồ bận rộn như mọi thành phố khác. Nhịp sống thật thanh thản và bình dị. Bình dị như những buổi chiều sau giờ làm việc người ta đưa gia đình ra công viên vui đùa với thiên nhiên, một niềm vui tưởng như xa xỉ phẩm và lỗi thời ở cái đất nước văn minh vội vã này. Tôi đến cái ghế đá quen thuộc, mở cuốn truyện đang đọc dở vừa ngấu nghiến đọc vừa nhâm nhi ly mocha. Một trái banh sặc sỡ đủ màu từ nơi đâu lăn nhẹ đến chân tôi. Tôi ngẩng đầu lên vừa vặn nhìn thấy cô bé khoảng chừng năm, sáu tuổi với hai cái bím tóc hai bên cúi xuống lượm trái banh nghiêng đầu mỉm cười với tôi. Cô bé chạy vội về chỗ những cái xích đu, cầu tuột, bãi cát...và một chú bé đang đứng đợi. Chú bé cao hơn cô bé kia cả một cái đầu, đưa tay đỡ lấy trái banh, rồi lắng nghe cô bé ngúng nguẩy nói câu gì, vội vàng cho bàn tay còn đẩt cát vô túi áo lôi ra mấy viên kẹo (mà tôi đoán là những cái gummi bear đủ màu sắc). Cô bé con đưa tay giật những viên kẹo cho nhanh vào miệng và hết vùng vằng. Tôi ngẩn người nhìn hai đứa bé, trong một thoáng quên mất nơi mình đang ngồi, quên mất cái không gian và thời gian chung quanh, thả hồn về với những ngày tháng thơ ấu cũ, những kỷ niệm êm đềm xa xôi ...
Không biết từ lúc nào anh đã có mặt trong đời sống hàng ngày của tôi. Chỉ biết khi tôi vừa đủ lớn để có thể nhận biết ai là "người lạ", ai là "người quen" (theo lời Mẹ vẫn dặn "người lạ" cho gì không được nhận) thì anh đã ở bên cạnh tôi rồi. Tôi cũng không còn nhớ rõ tên anh, chỉ thấy mọi người trong nhà anh gọi anh là " Chút Chít" thì tôi cũng gọi anh như vậy. Còn anh thì thản nhiên gọi tôi là "Nhỏ Tí", mặc dầu tôi đã phụng phịu đính chánh bao nhiêu lần hai chữ NT thêu trên a’o tôi có nghĩa là Như Thảo, không phải Nhỏ Tí. Thực ra so với anh thì tôi "nhỏ tí" thật, bởi vì lúc đó tôi còn đang học mẫu giáo thì anh đã là cậu học sinh trung học, chững chạc trong cái áo chemise ngắn tay màu trắng và cái quần short xanh. Lần đầu tiên thấy anh trong bộ đồng phục đó, tôi tròn mắt ngạc nhiên tí nữa thì không nhận ra anh. Nhà anh ở bên cạnh nhà tôi, mỗi buổi chiều anh thường qua dắt tôi đi chơi. Cũng chẳng ai hiểu tại sao anh lại thích đưa tôi đi chơi như vậy, anh đâu phải không có em gái, chị ấy còn lớn hơn cả tôi và chắc chắn là không làm anh khổ sở như tôi. Tôi nhõng nhẽo vòi vĩnh đủ thứ, xị mặt rất dễ dàng để được anh chiều chuộng ...đã vậy còn hay giận dỗi vùng vằng. Các anh chị tôi thường chọc chắc anh "mắc nợ" tôi hay sao đó. Anh mê chơi dế kinh khủng, những chú dế đen nhủi bé xíu mà gáy to ơi là to. Tôi vẫn còn nhớ những buổi chiều khi trời vừa chập choạng tối anh rủ tôi ra cái rừng nhỏ sau lưng trường học coi anh bắt dế. Tôi thì chẳng biết con nào là dế đực, con nào là dế cái, cũng như chẳng thích gì cái thú đam mê "thấy ghê" của anh, nhưng chưa bao giờ từ chối lời rủ rê của anh. Chỉ vì một lý do thật đơn giản, anh có cả một cái túi áo lúc nào cũng đầy ắp những hạt lạc rang. Trời Ðà Lạt cũng lành lạnh vừa đủ để những hạt lạc rang nóng hổi dòn dòn trở nên vô cùng hấp dẫn. Anh kể cho tôi nghe cái áo nào của anh Mẹ anh cũng may một cái túi trên ngực để bỏ những hạt lạc rang còn nóng hổi vô, anh nói chắc tại anh hay đau cổ nên Mẹ anh làm vậy để hơi nóng xuyên qua làn áo giữ ấm ngực cho anh. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy anh sao "khờ" chi lạ, Mẹ anh mà biết anh hay đau cổ đời nào cho anh ăn đậu phộng rang. Vả lại, nó có ở trong túi áo anh lâu đủ để sưởi ấm ngực cho anh đâu, vì vừa gặp anh là tôi đã chìa tay xin:
- Cho em lạc rang đi...
Anh cho tay vô túi lấy ra mấy hạt đậu phộng rang, cẩn thận thổi hết những cái vỏ trước khi đưa cho tôi. Tôi vừa nhâm nhi vừa hỏi anh những câu vớ vẩn:
- Tại sao có hạt có hai chấm đen, có hạt có ba chấm đen còn có hạt lại không có chấm đen nào hở anh ?
Anh nhún vai:
- Mẹ anh rang chung với cát đó, hạt nào có nhiều chấm đen thì chắc tại nó cháy nhiều . Em thích ăn cái nào ?
Tôi cười rúc rích vì câu hỏi lãng nhách của anh:
- Cái nào em cũng thích ăn hết .
Rồi lại xoè bàn tay trước mặt anh, và anh lại cho tay vô túi lấy cho tôi . Nhiều lúc thấy tôi nhai ngon lành quá, anh " dại dột" bỏ vô miệng mình một hạt là tôi lại xịu mặt xuống:
- A, ai cho anh ăn của em hở ?
Tôi ngang ngược như vậy mà không hiểu sao anh vẫn không chán chơi với tôi . Vẫn im lặng dỗ dành và chịu đựng . Có lần anh mải mê giảng giải cho tôi nghe về mấy con dế của anh quên cả lấy đậu phộng rang cho tôi, tôi tỉnh bơ cho tay vô túi áo anh tự lấy cho mình anh cũng chẳng hay:
- Dế có nhiều loại khác nhau lắm Nhỏ tí biết không ? Nhưng chỉ có những con dế đực có cánh vân vân như vầy mới biết đá thôi, vừa đá hay vừa gáy to nữa ...
Tôi vừa nhai đậu phộng vừa nói:
- Dế của anh đó nha, gáy to làm nhiều khi em ở bên nhà em cũng nghe được đó, điếc tai không ngủ được luôn . Dế gì dỏm òm, gáy chẳng có giờ giấc gì hết trơn à .
Anh cười:
- - Nhỏ Tí ơi, em sạo quá đi, dế chứ bộ gà hay sao mà gáy to như vậy chứ ? Mà em tưởng kiếm được con dế gáy to là dễ lắm sao ? Có khi anh phải rình mấy ngày đó.Bộ em tưởng kiếm được con dế gáy to dễ lắm sao ? Có khi anh phải rình mấy ngày đó.
- Anh Hai em nói ở chợ cũng bán dế mà, sao anh không ra chợ mua ?
- Anh không thích mua dế ở chợ, phải tự mình bắt được mới thích chứ.
Tôi phụng phịu:
- Nhưng mà lâu quá à, em chán rồi, em đi về đây ...
Anh dỗ dành:
- Một tí nữa thôi, anh lấy lạc rang cho em ăn nữa nha ...
Tôi lắc đầu:
- Có còn đâu mà lấy...
Anh ngạc nhiên cho tay vô túi áo mình, thì ra là...hết thật. Anh hỏi:
- Ủa, em lấy lúc nào vậy Nhỏ Tí ?
Tôi nhún vai đứng dậy xoa xoa hai tay vô với nhau phủi những hạt cát:
- Lấy từ nãy giờ rồi, em muốn đi về, anh đưa em về đi.
Anh lắc đầu tiếc rẻ, cho tay vô túi áo mần mò một hồi rồi reo lên:
- A, còn mấy hạt nữa em à.
Tôi bán tín bán nghi, cho tay vô túi áo anh kiếm rồi lôi ra ba hạt đậu phộng cuối cùng thích chí bỏ gọn vô miệng:
- Rồi, em ăn xong luôn rồi, em muốn đi về.
Chợt ánh mắt anh dừng trên mặt tôi, reo lên nho nhỏ:
- Nhỏ Tí ơi, anh mới khám phá ra một điều là lúc tay em để trong túi áo anh, ngực anh ấm hơn là những hạt lạc rang của Mẹ đó...
Trí nhớ con người là một trong những tế bào thật lạ lùng. Có những việc mới xảy ra ngày hôm qua, hôm kia mà tôi đã quên mất tiêu. Có những câu nói của mấy chục năm trước mà tôi vẫn nhớ như in. Sau đó gia đình tôi dọn đi nơi khác, và tôi lạc mất anh trong cái biển người dầy đặc trước mặt... Bao năm qua rồi, anh bây giờ ở đâu nhỉ? Có còn nhớ đến Nhỏ tí ngày nào? Nơi bãi cát đằng kia, hai đứa trẻ đã chấm dứt buổi chơi và đang đi dần xa khu công viên. Cô bé con tung tăng chạy trước, cậu bé thơ thẩn đi theo sau, tay ôm một đống đồ chơi của cả hai đứa...
Ở một phương trời nào đó, tôi mong anh luôn hạnh phúc...để anh không cần mượn hơi ấm từ những hạt lạc rang (hay những ngón tay bé xíu của Nhỏ Tí ngày xưa) sưởi ấm lồng ngực của mình. Anh có biết được rằng những hạt lạc rang vàng của anh sẽ mãi hoài theo tôị..và những câu nói thật bâng quơ của anh đã làm ấm ấm lồng ngực của tôi khi những cơn gió lạnh cuộc đời thổi tớị..Cám ơn Anh đã cho tôi những kỷ niệm vui, những tháng ngày đẹp...
Chợt thèm nghe quá câu hát của nhạc sĩ Vũ Thành An "...một lần nào cho tôi gặp lại anh..."...
05/22/03
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Nguyễn Du
2.
Tàu giang đoàn Xung Phong lố nhố đậu kín khoảng sông rộng trước chi khụ Tiếng máy tàu chạy rầm rì, bóng người qua lại, đèn pha nhộn nhịp quét từng vệt dài trên mặt sông đã phá tan sự yên lặng cố hữu của đêm quận lỵ. Tôi tìm gặp ông Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn để nhận tiêu lệnh hành quân và chỉ thị về việc dẫn đầu đoàn công voạ Ông càu nhàu về sự chậm chạp của mấy chiếc tàu Quân Vận chở vật liệu cho căn cứ hỏa lực. Mở rộng tấm bản đồ, nhìn giòng sông uốn quanh co, ông chỉ tay vào vị trí đổ quân rồi quay lại bảo người sĩ quan hành quân liên lạc với Biệt Ðộng Quân để bắt đầu điều động việc chuyển quân lên tàụ Giọng ông Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng từ máy truyền tin vang lên tự tin và kiêu hãnh. Tôi nghĩ tới những sôi động của đêm dài sắp tới, mắt ráo hoảnh vì ly cà phê phin đậm.
Trời lại đổ mưạ Dòng mưa nhẹ bay nghiêng nghiêng nhạt nhòa trong vùng ánh sáng của hàng đèn đường chạy dọc theo con lộ dẫn xuống bến sông. Ngoại trừ trung đội khinh binh đang đội mưa đi xuống tàu, phần lớn lính tiểu đoàn đã chạy ngược về núp mưa trong nhà lồng chợ hoặc dưới hàng hiên của dãy phố cửa đóng im lìm. Bóng người sĩ quan trung đội trưởng và anh lính truyền tin đổ dài trên bãi sông rồi nhòa lẫn vào bờ nước đen thẳm.
Chiếc tàu đầu tiên của giang đoàn Xung Phong vừa qua khỏi khúc quanh cuối vàm sông. Tôi gọi máy cho các giang đĩnh rời bến. Nhóm khinh binh cuối cùng đã xuống tàụ Họ đứng ngồi lố nhố trước mũị Người thuyền trưởng lùi tàu nối đuôi đoàn giang đĩnh đang lầm lũi chạy ra giữa sông làm thành vòng đai bảo vệ cho tiểu đoàn Biệt Ðộng và đoàn tàu Xung Phong đang chuyển đội hình dàn hàng ngang ủi vào bãi sông.
Túa ra từ trong bóng tối của nhà lồng chợ và mấy dãy hiên phố, từng trung đội lính Biệt Ðộng với ba lô và súng trên vai, rảo bước về phía bến sông. Màng sương mưa pha nét chấm phá hiền hòa lên khung cảnh chuyển quân hào hùng mà cô đơn. Từ tần số hành quân những lệnh truyền qua lại, đích thân, đại bàng, alpha, zulu, thẩm quyền, Xray, papạ.. sang sảng hỗn độn.
Dãy hiên phố và con lộ dẫn xuống bến sông giờ đây vắng lặng không còn một bóng ngườị Cột ăng-ten truyền hình giăng mắc chằng chịt trên nóc khu phố chợ, trong quầng sáng mờ mờ mưa bụi trông như một rừng cây mùa đông khúc khuỷu cành khộ Toán lính cuối cùng của tiểu đoàn đã lên tàụ Từng chiếc một, đoàn tàu sắt rời bến theo đội hình hàng dọc từ từ tiến về phía chúng tôị Ðoàn tàu lầm lũi chạy sâu vào dòng sông biên giới, bỏ lại sau lưng bến sông khuya khoắc buồn thiụ Hồng Ngự khuất chìm, xa lắc chân trờị
Trên bản đồ, giòng sông biên giới dài gần hai mươi cây số chỉ là đường chỉ xanh quanh co như rắn. Trong đêm mông lung giòng sông lan rộng, mặt nước lặng lờ chút ánh vàng từ nửa vầng trăng ướt trên caọ Bờ sông thấp. Những lùm cây nhỏ san sát ven sông chìm lẫn vào bóng đen của từng dãy rừng đước mọc sâu vào nội địa ngút ngàn. Mỗi lần chạy qua một khúc sông uốn ngặt, nhìn ngang thấy bóng những khối sắt đen lớn nhỏ lầm lũi trôi, tôi nghĩ đến đàn trâu khổng lồ đang bơi về chuồng trong bóng chiềụ Sự liên tưởng làm tôi bất giác cười một mình. Nếu đoàn tàu chiến trở thành đàn trâu, tôi sẽ vui biết bao được làm chú mục đồng. Tôi sẽ thổi sáo và hát nghêu ngao, mắt no cánh diều bọc gió bay cao trong trời mợ Chú mục đồng, mặc cho ai chế diễu, sẽ từ chối tham dự trò chơi cờ lau tập chuyện chiến chinh... Chỉ là một phiếm mợ Giòng sông biên giới vẫn quanh co trước mặt. Ðoàn tàu chiến vẫn lầm lũi đị Tôi vẫn có nhiệm vụ đưa đoàn tàu đến đúng nơi đã được lựa chọn. Sau đêm nay bãi sông vô danh sẽ trở thành một cứ điểm quân sự. Sự lựa chọn đơn thuần mà chính đáng - hay ít ra đã theo đúng bài bản chiến thuật của những con mắt lính nhà nghề. Cũng như tôi đã bằng lòng với sự lựa chọn của mình như một chấp nhận không thời thượng.
Tuổi trẻ trong sáng, nhìn đời bằng đôi mắt ngây thợ Mùa hè năm sáu sáu, tôi cùng với bốn thằng bạn học trường Phan Châu Trinh khăn gói đón xe đò từ Ðà Nẵng đi Lăng Cô ở lại mấy ngày để tìm hiểu chiến tranh, Việt Cọng và ...tắm biển. Không gặp Việt Cọng, chỉ bị Cảnh Sát bắt vì tội cắm trại ngủ ngoài bãi biển vi phạm giờ giới nghiêm. Ngủ bót một đêm sáng ra ông Cảnh Sát gởi năm đứa lên xe đò về lại Ðà Nẵng. Chuyến đi như một tiền đề cho những lựa chọn và ngăn chia sau nàỵ Ðứa đi Thủ Ðức chết trận, đứa đi Tây du học, đứa tốt nghiệp Võ Bị, đứa vô bưng.
Có người cho rằng giống nòi ta đã quen sống chia lìa từ những ngày đầu mở nước. Trong khói sóng mông lung của thời hoang sử Tiên Rồng, tiền nhân đã phải bịn rịn kẻ đầu non người cuối biển để sống còn mà gầy dựng cơ ngơi cho cả một giống nòị
Biên giới hôm nay ngoài những dòng sông dãy núi đường mòn quan ải còn có sự ly tán trong mỗi con ngườị Lòng nghi kỵ, mặc cảm, chủ thuyết, đã đào hào đắp lũy chôn chặt tâm hồn vào những hung ác, hẹp hòị Biên giới không là chút hờn sót lại bên bờ sông Gianh vì hai Chúa phân tranh ngôi xã tắc. Biên giới không còn hình ảnh rõ ràng cách biệt như vùng giới tuyến ngang giòng sông Bến Hải chia cắt đôi bờ. Một dòng sông. Một cây cầu với cái tên Hiền Lương tội nghiệp. Bờ Bắc, bờ Nam. Cờ đỏ, cờ vàng. Từ bờ Bắc giọng nói cao chát chúa ...xe cải tiến chạy trên mọi địa hình...giọng hát nghe như nhạc Tàụ Từ bờ Nam giọng nói trầm hiền và tiếng hát thì buồn... Ðêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc phai màụ Biên giới hôm nay hoang mang những chọn lựa bên này bên kia, tàn khốc như định mệnh. Quay cuồng trong đó có lũ người trẻ tuổi tay cùng vấy binh đao mà hồn nghĩ suy thì đôi bờ cách biệt.
Bạn bè thân mỗi đứa một nơị Nghĩa ra trường Võ Bị, đóng quân ở Quảng Nam trên vùng rừng núi Quế Sơn. Trong thư hắn vẫn bực tức khi nhắc tới ông bố của Hạnh. Tao không thể tưởng tượng tới một cuộc sống không có bóng dáng Hạnh trong đó nhưng mỗi lần về Ðà Nẵng thấy Hạnh phải lén Bố đi chơi làm tao tức điên lên. Ð. mẹ, ổng theo Mặt Trận Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, phe thứ ba thứ tư gì đó, mà không hòa được với con gái còn cấm không cho Hạnh để "thằng lính" đó vào nhà thì còn giải được gì, với aị Giọng thư Nghĩa dịu lại khi nhắc tới Tạọ Lâu lắm tao mới tình cờ gặp lại nó ở cà phê Ngọc Anh. Mấy ngày sau tiểu đoàn tao bị bao vây ở Trà Kiệụ Ðang chới với gọi máy xin không trợ thì Tạo với ba chiếc F5 từ Ðà Nẵng lên oanh tạc giải vây kịp thờị Không có nó, tiểu đoàn tao có lẽ đã bị tan hàng rồị Trước khi rời vùng Tạo còn gọi máy xuống bỡn cợt. Mầy với tao vậy là huề không nợ nần gì nhau nữa nghẹ.. Tao suy nghĩ cả đêm mới hiểu rạ Mầy còn nhớ năm Ðệ Nhị, một buổi tối thằng Tạo và thằng Tiến bị tụi trường Tây rượt đánh hội đồng, tụi mình đùng đùng bỏ lớp Anh Văn ở Hội Việt Mỹ chạy ra giải cứụ Ðám đánh lộn làm huyên náo cả khu đường Quang Trung. Cảnh sát tới rượt bắt làm cả hai phe trường Ta trường Tây chạy trốn như vịt.
Ðã xa rồi trò chơi chiến tranh vô hại của những ngày mới lớn. Cuộc chiến thật sự thảm khốc như lửa tràn đã đẩy bạn bè đến những chiến trường xa trên từng góc quê hương điêu tàn. Và đôi khi đến tận bên kia chiến tuyến oái oăm. Thằng bạn với trái tim trong sáng nhiệt thành đã vì ảo tưởng nhất thời mà tự nguyện đồng hóa hoài bão mình với chiêu bài ngắn hạn, lén lút chủ thuyết giáo điềụ Tiến đi Thủ Ðức, chết trận ở A Lướị Tôi đi tuần dương về Ðà Nẵng nghĩ bến, được tin bạn thì đã quá trễ. Hậu cũng chẳng may mắn gì hơn. Từ Hải Lăng bôn ba về cũng chỉ kịp cùng tôi đứng im lìm cúi đầu nghe mẹ Tiến than khóc kể lể. Buổi tối hôm đó, ngồi mãi ở quán Cuội cũng chán, hai đứa đi bộ dọc theo bãi biển Thanh Bình nói chuyện bạn bè. Hậu cho tôi biết chuyện Xuân bỏ vô bưng và cô gái ngày xưa hắn vẫn lẽo đẽo theo sau những chiều tan lớp vừa trở thành qủa phụ. Trong đêm, ánh đèn xe chạy trên đèo Hải Vân nhỏ nhoi như sao xạ Như thân phận những người đang sống.
Mưa tan nhưng trăng khi mờ khi tỏ bởi những đám mây đen vần vũ đầy trờị Từng bầy ô rô lục bình trôi ngược chiều làm thành vệt đen dài giữa sông chập chờn chút ánh nguyệt tà. Tiếng hát từ chiếc máy cassette vang ra nhè nhẹ ... Ðưa người ta không đưa qua sông. Sao có tiếng sáo ở trong lòng. Nắng chiều không thắm không vàng vọt. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong...
Giòng sông trước mặt uốn gấp về phía tráị Trên bản đồ đây là khúc quanh cuối đoàn tàu phải chạy quạ Giòng sông tiếp tục chảy sâu về phía Tây khoảng hai cây số rồi uốn ngược về lại hướng Ðông. Ở đó, bờ sông phía Việt Nam như dáng mũi tên thọc sâu về phía nội địa Miên. Ðịa thế rất thuận lợi cho một căn cứ hỏa lực tiền phương. Tôi gọi máy báo cáo vị trí và xin chỉ thị bắn dọn bãị
Hằng ngàn vạn đường lửa chằng chịt lao vút vào bãi sông chi chít những lùm cây nhỏ. Tiếng súng đủ loại gầm thét khiến vùng sông yên tĩnh chợt trở thành bãi chiến trường hung hãn. Hỏa châu treo lơ lửng trong trời đêm, nối tiếp soi sáng vùng tác xạ nằm im lìm thở khóị Cánh dù trắng của những trái hỏa châu lịm tắt lao đao bay trong không gian mơ hồ. Toán khinh binh ba lô trên vai, súng cầm tay, sẵn sàng đổ bộ. Người sĩ quan Trung Ðội Trưởng ra thủ hiệu cho toán lính tản rộng, dàn hàng ngang từ từ tiến vào mục tiêụ Dưới ánh hỏa châu, bóng những người lính bộ binh cao ngạo và cô đơn như bức tượng trong thành phố.
Ðoàn giang đĩnh lùi xa ra để bảo vệ mặt hông cho đoàn tàu chở quân đang chầm chậm tiến vào bãi sông. Lệnh truyền hành quân đổ bộ, sang sảng đích thân đại bàng lại vang lên hỗn độn trên máy truyền tin. Tiểu đoàn Biệt Ðộng rời tàụ Họ nhanh chóng mở đội hình theo từng đại đội di chuyển về các vị trí đã định bên bờ vàm lạ hoắc nghi nan.
Từ tàu chỉ huy từng trái hỏa châu rời rạc bắn cầm canh. Như những mặt trời đêm quày quã đến rồi đi, ánh hỏa châu lung linh vài phút ngắn ngủi rồi vội vàng tắt ngấm. Giữa hai thời điểm đó là bóng đen phủ chụp và sự im lặng đầy đe dọạ Trên nóc phòng lái ngửa mặt nhìn trời, tôi nằm chờ từng ánh hỏa châu mồ côi như nỗi khát khao đã làm đôi mắt mình ráo hoảnh. Trời đã quá nửa đêm về sáng. Chẳng bao lâu nữa ánh bình minh sẽ rọi lên khắp vùng sông biên giớị Rồi bóng hỏa châu sẽ không còn cần thiết nữạ Có giọng hát mơ hồ như tiếng sóng xạ Giọt sầu rơi ướt hồn phiêu dụ.. Tôi ngủ thiếp đi một lúc nào đó.
Trần Công Nhung
Vì lý do tác gỉa đi xa nên mục Muà Nước Lũ tạm đình bản tháng 7 nàỵ Xin cáo lỗi cùng bạn đọc
10/01
Buổi sáng ở quê đến rất sớm, dù tối qua anh chị em đã thức thật khuya với nhau trò chuyện. Bao nhiêu kỷ niệm cũ từ mãi tận đâu đâu, từ những ngày bé tí bé teo, vậy mà ôn lại với nhau đều như thấy hiển hiện ở hôm nay. Bà chị cả lúc nào cũng củ mỉ cù mì, ăn nói chậm rãi, nhưng hễ nói ra câu nào là câu ấy thật chắc, như đinh đóng cột. Bây giờ chị cũng lớn tuổi rồi, tay chân đã run, tóc bạc, lại thêm cái chứng đau thấp khớp, rước về từ những ngày đi xây dựng kinh tế trên miền ngược. Bây giờ căn bệnh luôn đeo đẳng, như nhắc nhở những ngày buốt sương dãi nắng, những ngày ôm lấy đất gục mặt làm lụng, mà cái thiếu vẫn cứ không buông tha cho cả nhà. Bây giờ nghĩ lại mà sợ. Mỗi khi có ai chợt nhắc lại sợi thời gian ngày đó thì bỗng dưng như thấy cơn sốt rét lại ầm ầm đến quật mình muốn đổ. Di chứng đó không những chỉ ám ảnh những người lớn tuổi mà cả thanh niên, thiếu nữ cũng bị ảnh hưởng lây. Hai anh trai con của ba,ø tuy xác có lớn mà những vặt vãnh bệnh tật có luôn bên cạnh, cứ như cái hàn thử biểu, báo động xác thực những đổi thay của thời tiết. Tiền công ngang với tiền thuốc, lúc nào trong nhà cũng sẵn thuốc cảm ho, nhức đầu, thuốc chặn suyễn, thuốc xông. Ông anh thứ giá đi với ông cụ sinh ra, người ta nghĩ là hai anh em chứ không là cha con. Chưa chừng râu con bạc hơn râu bố. Khi ông đứng chúc thọ cụ, có người đã tưởng là bạn bè đến dự tỏ bày lời mừng. Ðến khi nghe rõ ngọn ngành, ai cũng thấy ngùi ngùi vì thời gian đã ghi đậm nét hình lên con người sâu đến vậy. Suốt đời ông chủ yếu ở nhừng vùng hẻo lánh, ước mơ có một lần về sống nơi đô thị, nhưng mỏi mong đó vẫn chỉ là mong mỏi. Người ta đã đưa ra hết chiêu bài này đến chiêu bài khác để cầm chân ông với đất mới mở ra. Mồ hôi ông đã đổ xuống để làm giàu đất mẹ mà đất mẹ vẫn cứ ù lì, không giàu mạnh được chút nào. Phân cách vẫn triền miên diễn ra giữa thị thành và thôn giã. Thản hoặc ông có lên Hà Nội thăm chú em dạy học ở đó thì vẫn thấy cái vẻ e lệ, ngơ ngác của ông trước cơ ngơi của em và phố phường đô thị. Ông như người ở đâu đến với chính quê hương mình, rụt rè như sợ người ta chê cổ hủ. Nỗi ước ao lớn nhất đời ông là mong gửi được một đứa con của ông đi lao động nước ngoài. Ông nghĩ rằng bề dày hoạt động tích cực của ông sẽ là lời bảo đảm tăng thêm cho sự chấp nhận ra đi, song sự thực là vẫn chưa đủ. Sức nặng của những đồng tiền đi kèm cho sự lo lắng, cũng như những gửi gấm theo kiểu bạn bè phe cánh vẫn làm cho cán cân bị nghiêng lệch để mãi mãi ông vẫn chỉ là một khán giả đứng ngoài nhìn mà tủi cho nỗi bất lực lớn lao. Ðứa con ấy bây giờ lại cũng như ông vào miền cao nguyên đất đỏ, sung vào đội cơ giới khai hoang. Lại thêm một đời chúi đầu vào đất, như con đà điểu dấu mặt đạp cát văng tứ tung. Ở nhà, ông vẫn chưa nhàn hạ được nào. Ông đông con, đứa nào cũng trầm trầy trầm trật, nghèo mà con cái lúc nhúc sinh ra. Cả ông lẫn vợ thay nhau đi nuôi cháu, đỡ đần cho bố mẹ chúng. Có đứa gửi hẳn cháu bên ông bà, nên ông lúc nào cũng bận. Ðem trâu ra đồng cũng phải ôm cháu theo từ khi còn ẵm ngửa. Bây giờ lớn lớn được một chút vẫn đeo ông như mật. Nó quấy như ruồi, u u suốt ngày, ông bày lắm trò mà cháu vẫn không chịu. Ông cõng trên vai, ông cho cưỡi lưng, nó vẫn nhèo nhẹo khóc. Còm cõi nuôi cho chóng lớn, chẳng biết đến thế hệ cháu rồi ra có sướng hơn được chút nào. Hay lại đến là công nhân viên một nông trường nào đó, để lại thêm một đời lộn lăn với đất ruộng. Bà chị thứ ba cũng thế, chưa bao tuổi mà răng móm mém đi nhiều. Trông bà nhai miếng cơm mà như cắn vào mảnh sứ, trệu trạo, lổn nhổn. Ðến miếng ăn cũng để cốt cho qua. Bây giờ anh chị em quây quần lại bên nhau để cùng chở che, tựa nương nhau mà sống. Ngày trước đi kéo nhau đi, bây giờ về rủ nhau về, lướt mướp vẫn cứ là lướt mướp. Nhà nào trồng được cái gì thì san sẻ cho nhau, quả mướp cắt làm ba làm tư, chia nhau ăn cái hương cái hoa, chờ một ngày mai giàu có nào đó. Có những sự thực mà nghe như huyền thoại. Ai đời có tin rằng giữa cuối thế kỷ 20 rồi mà bà chị vẫn còn ngày vun quét đám lá rơi, chất vào góc bếp. Hỏi thì biết dành dụm để sang đông có cái đun thay củi, thay rơm. Cứ nghĩ đến cái công ngồi đận đận từng cái lá để giữ cho vung cơm chín được, đủ thấy sự nhẫn nhục của thiếu thốn nó đầy ải vàgiết mất đi thời gian của người sống biết chừng nào. Vậy mà những con người đó vẫn còm cõi chịu đựng được, vẫn cứ tin là rồi ra sẽ có ngày máy sẽ cày thay trâu. Bà chị kể cái ngày lần đầu tiên trên ngược nghe nói máy gặt liên hợp của Nga viện trợ về, cả làng đã ngưng mọi công việc rủ nhau kéo đi xem cho biết. Bây giờ có đến nửa thế kỷ qua rồi, cơ hồ cái máy liên hợp ấy có khi cũng đã rệu rã vứt xó đâu đó mà lối làm ăn cày cuốc vẫn cứ là con trâu đi trước, hoặc tệ hơn có nơi còn chồng trước thay trâu, vợ đi sau giữ cầy và thằng con đứng dậm thêm cho đường cầy đủ nặng. Bây giờ con trai bà lại cũng đang ở một nông trường trên cao nguyên miền Nam, lại cũng cái cảnh anh em rủ rỉ nhau đi như ngày trước. Anh con đã có lúc làm đến trại trưởng, nhưng vì chân chất không biết ăn nên chẳng bao lâu bị hất chỗ để nhường cho người khác tài ba. Cũng may dạo ấy bị điều tra lên điểu tra xuống, chẳng thấy vết tích gì nên cho về nghỉ, tự lo lấy việc nhà. Bài học đắt giá đó anh con ôm ghì trong lòng như một vết sẹo không bao giờ gột sạch được.
Cả một đêm hai ông bà chỉ biết ngồi nghe. Ðầu óc như phiêu du về một miền thần thoại nào đó. Giá mang sang làm quà kể lại e có người nghi ngờ. Bởi vì ở cái nơi xa lơ xa lắc mà hai ông bà đang sống làm gì đến nỗi có những cảnh đời bi thảm như vậy. Người ta được nuôi ăn, chỉ bảo nhau cách moi đồng tiền cứu trợ , vậy mà vẫn chê lên chê xuống. Ai cũng muốn chứng minh sự khôn khéo, nhanh nhạy và tài ba luồn lách của mình để tránh cái nhọc, hưởng thụ an nhàn. Ðể rồi có dịp về thì lại huênh hoang chê đủ mọi thứ ở quê xưa. Quá khứ là những nét vẽ chưa hoàn chỉnh, nên mọi người chỉ muốn nó vĩnh viễn là nét mơ hồ, để đừng phải soi lại chính cái bóng của mình đã từng có lần cũng là nạn nhân bất đắc dĩ của guồng sống tăm tối đó. Nghe để mà con tim như bị bóp nghiến đau tức, để nước mắt cứ chảy hoài như những sợi mưa. Cả một đêm, đầu oang oang choáng váng, nhìn cái đêm kéo dài như quê mẹ khổ đau. Trách gì ai cũng nao nức muốn đi, và chỉ vì chưa đi được mà khóc thầm chờ đợi. Chuyến này về, có nhìn tận mắt, có nghe tận tai mới thấy càng xót xa, càng buồn cho nước mình. Ðừng nói chuyện cô tiên nào đó năm 2000 sẽ làm cho quê nhà thôi cơ cực vì mọi người ai cũng sẽ có nhà mát ở, bệnh tật sẽ trốn xa. Chỉ xin cho mỗi người đủ hai bữa ăn thôi mà đã vô vàn khó nhọc. Cho đến lúc nằm ngủ rồi mà con mắt vẫn thao láo nhìn vào bóng đêm như kiếm tìm một ủi an bất chợt. Mơ và tỉnh thi nhau đổ ập về, xào xáo đánh bùn lên, vung vẩy những nhát chổi oan khiên văng đầy chất dơ bẩn. Ðể rồi thiếp đi mà vẫn thấy bị trói chặt trong vòng sống u buồn.
Buổi sáng lên, trời đẹp quá. Ráng mây cao soi cái nắng nhàn nhạt khắp nơi. Mùa hè đến rồi. Cành phượng nơi góc sân trổ đầy bông rực đỏ. Ai một lần đến thăm đều khen quê này đẹp vô vàn. Vì thời gian ngắn ngủi của ngưỡi ngồi ngựa xem hoa làm sao thấy hết những lo toan, sâu sắc của cuộc đời. Lại nữa phải là người Việt, cótâm hồn Hồng Lạc thì mới thấu hiểu nhau như nhìn kỹ bàn taỵ
(còn tiếp)
Tôi biết chị Khôi lúc tôi mới vừa 8 tuổi,đó là vào năm 1963. Nhà chị ở cạnh nhà tôi . Dân chúng miền Nam sống ở các tỉnh lỵ xa xôi thời đó phải dọn vào ấp Chiến lược. Làng tôi ở tên là ấp Nam Hà,cách tỉnh Long Khánh khoảng 9 cây số .Về sau,khi đã lớn khôn và xa quê xưa làng cũ,mỗi lần viết thư thăm nhà,tôi đặt tên cho vùng đất quê tôi ở là"VÙNG ÐẤT ÐỎ". Mỗi gia đình được chia 5 sào đất,có nghĩa là nửa mẫu .Khoảnh đất này chỉ là nơi để xây nhà ỏ . Ruộng rẫy để trồng trọt và sinh nhai thì ở xa bên ngoài ấp chiến lược
Ngoài những người có nghề tay trái như buôn bán,thợ nề,thợ mộc .Phần đông dân chúng ở đây sống bằng nghề trồng rẫy .Vùng đất này là vùng đất khai hoang .Dân chúng phải phá rừng,cưa cây,đốt rừng,chờ qua một mùa mưa rồi năm sau mới trồng trọt được .Bắp,lúa,khoai mì,đậu phộng,đậu xanh,đậu đen,đậu nành là những sản phẩm nông nghiệp mà vùng đất này cung cấp .Phải nói đây là vùng đất phì nhiêu và trù phú .Vùng đất người ta có thể trồng bất cứ loại cây ăn trái nào,miễn là biết cách chăm sóc.
Làng tôi ở là một tập thể hỗn tạp đến từ mọi vùng đất khắp nơi trên quê hương .Họ như những cánh bèo trôi giạt,mà sóng gió chiến tranh đã đùa họ về cùng một bến bờ .Họ tựa nương nhau mà sống,nhưng cũng có khi họ kèn cựa cạnh tranh nhau mà sống.Ða số họ chưa hề làm nghề ruộng rẫy bao giờ,nhưng cũng chỉ vìø chiến tranh bắt họ phải tự học hỏi để sinh tồn .
Chỉ sau 3 năm,dân chúng ở đây bắt đầu xây nhà mới,nền xi-măng hay gạch hoa và mái ngóịTất cả mọi người đều bắt đầu bằng những căn nhà lợp mái tranh,vách lá,cùng lớn dậy bằng những kinh nghiệm trao đổi với nhau hằng ngày vào buổi tối sau bữa cơm .Những người già thì nói chuyện quây quần quanh ấm trà xanh.hay có người còn uống một loại nước nấu với lá cây ngoài rừng hoang mà dân địa phương gọi là lá vối Những người trẻ thì tụ tập với bình rượu nếp,đồ mồi là những dĩa thịt rừng như thỏ,nai,heo rừng,nhím,chim cu rừng,chim cút,và gà rừng:Ðôi khi còn có những món lạ như thịt trăn và thit rắn.
Những người đàn bà thì tụ tập và học hỏi nhau cách may vá quần áo,cách làm bánh,cách nấu đồ ăn,đồ nhậu khắp các miền.Chỉ cần nhìn một miếng đất trồng rau thơm ở sau nhà cũng thấy được sự hội nhập hài hòa giữa những sắc dân ở đây:rau Ngổ miền Bắc,rau Dấp Cá miền Nam,ngọn Tía Tô miền Trung,cây thuốc Dấu miền Thượng(một loại cây lá cầm máu đặc biệt rất cần thiết cho mọi người,vì làm nghề phá rừng trồng rẫy,thì việc gẫy tay chảy máu xảy ra hằng ngày).Tôi lớn lên giữa những trộn lẫn về cách nói chuyện,ăn mặc,cư xử,nên khi lớn lên trong tôi không còn biên giới sắc tộc và giống dân đối với mọi người chung quanh.
Nhà tôi rất đông anh em,mà lại toàn con trai .Nhà chị Khôi thì lại chỉ có hai mẹ con;mãi về sau này tôi mới biết chị chỉ là con dâu .Chị Khôi đã có chồng .Chồng chị là một thiếu úy Biệt động Quân,chỉ ở với chị được 2 tuần sau đám cưới;sau đó 3 tháng thì chết trận .Cha Mẹ của chị Khôi cũng đã chết từ lâu,nên chị ở lại với mẹ chồng,và hiếu thảo như mẹ ruột của mình . Tôi gọi mẹ chị Khôi là bác hay Thầy Thi,bác dạy học cho một trường Tiểu học ở làng bên là âp Bảo Bình .Dân ở Làng này phần đông là người Việt gốc Hoa .
Hai mẹ con chị Khôi là mẫu người sống khép kín,trí thức và sang trọng . Ngay từ lúc còn nhỏ tôi đã biết họ là những người rất xinh đẹp .Ði ra đường họ nói tiếng Bắc, nhưng ở trong nhà họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Huế .
Mỗi nhà ở đây, đều cách nhau bằng hàng dậu Dâm Bụt vây quanh nhà .Cổng vào nhà ai cũng là hai cây Bông Goòn .Nước uống được lấy lên từ giếng .Giếng nước phải đào sâu từ 15 đến 20 mét mới có nước .Lấy nước từ giếng người ta không gọi là kín nước mà là quay nước,vì phải dùng một thùng nước cột vào giây thừng rồi quay lên bằng trục gỗ vì giếng quá sâu .
Ðào giếng nước không phải là công việc gia đình nào cũng tự làm lấy được,đã vậy không phải giếng nước nào cũng trong và uống được .Có nhà đào trúng vùng đất có khóang nên lại phải lấp đi không xài được,nước vị chua chát chất phèn.Co ù nhà đào trúng vùng đất xốp,đất đổ xuống đè chết người .Nhà tôi vì có nhiều anh em trai nên tự làm lấy. Nhà chị Khôi đã thuê các anh tôi làm công việc đào giếng cho nhà chị,nhưng Bố tôi nhất định không cho các anh tôi lấy tiền,nên vì thế giếng nhà chị Khôi đã chẳng bao giờ đào .Bờ dậu Dâm bụt bên hiên nhà tôi đã mở ngõ,để mẹ con chị Khôi hằng ngày qua kín nước bất cứ lúc nào .
Hai gia đình chúng tôi đã quen và thân nhau rất mau vì nhiều nguyên do; nhưng bắt đầu phải kể là do Bố tôi, vì ông là người tánh tình bặt thiệp và hiếu khách .Ôâng anh thứ hai trong nhà tôi cũng là thày giáo dạy cùng trường với bác Thi.
Bố Mẹ tôi lớn hơn bác Thi 15 tuổi .Bác Thi hơn anh Cả tôi 10 tuổi .Chị Khôi thì lớn hơn tôi 13 tuổi .Bác Thi gọi Bố mẹ tôi là anh chị,chúng tôi gọi bác là "bác" theo thói quen,dù bác chỉ đáng tuổi cô chú của chúng tôi mà thôi .Chị Khôi thì được anh em chúng tôi gọi là "chị" dù chị chỉ bàêng tuổi anh thứ tư trong nhà của tôi .Với chúng tôi,ai đã có chồng đều được gọi bằng chị .Ðối với các anh lớn của tôi,đã bị gọi bằng chị thì có nghĩa dù có đẹp cách mấy cũng ngoài "vòng tù tội"
Bố tôi là người thích ca hát, chèo cổ và ngâm thơ .Bác Thi thì biết đàn violon và piano .Các anh tôi lại chơi đàn guitar .Không có cái gì trên đời này giúp người ta mau hiểu nhau và cảm thông nhau dễ dàng cho bằng nhịp cầu văn học nghệ thuật .
Những đêm trăng vào mùa bắp non vừa được hái xuống từ những cây bắp xanh cao ngất so với tôi là đứa trẻ mới 11,12 tuổi; nòâi báêp luộc bốc khói, chén chè bắp thơm lừng… hương vị đó cơ hồÀ sau này tôi chẳng còn bao giờ được nếm lại một lần nào nữa trong đời giống như xưa. Chén chè bắp non tôi nếm lần đầu trong đời do bàn tay cô gái Huế là chị Khôi nấu,còn hằn in mãi trong trí nhớ của tôi.
Ðêm huyền hoặc hơn và hoang đường hơn từ giọng kể chuyện cổ tích của Bố .Bố dẫn chúng tôi về vùng khói lam chiều hiu hắt của miền Thượng Du Bắc Việt.
Có một chàng thanh niên từ tỉnh về thành (Hà Nội) thi bơi lội . Chàng đã giật cúp vô địch toàn quốc khi chàng chỉ mới 16 tuổi; chàng có giòng máu lai Tây trong người,nên rất đẹp trai và vi thế lắm cô gái liếc mắt đưa tình .Và chàng đã yêu một cô gái đẹp kia,đang trọ học tại thành phố.Cô gái là con gái độc nhất của tù trưởng một buôn thượng miền thượng du Bắc Việt .Vì yêu,chàng đã theo nàng về buôn.Con gái buôn thuợng này được tự do chọn chồng;chỉ có một điều khó khăn,là con trai phải ở rể 3 năm. Nhưng chỉ sau 6 tháng, chàng trai đã nhớ nhà,nhớ cha nhớ mẹ,nhớ đời trai tang bồng và cát bụi đừờng xa . Chàng muốn về thăm nhà.Chàng hỏi ý cô gái,và cô gái đã khóc lóc. Vì theo tục lệ, nếu làm như thế,có nghĩa là chàng trai đã không có lòng chung thủỵNhung vì yêu chàng,cô gái đành để chàng ra đi về thăm nhà.
Buổi sáng,hôm tiễn chàng đi,cô gái mời chàng ăn sáng bằng 9 trái trứng vịt sơn đỏ.Cô nói rằng đó cũng là tục lệ vợ tiễn chồng đi xa .Chàng đã cố gắng ăn hết cho vừa lòng cô gái .
Rồi những giòng lệ tiễn đưa, những lời tức tưởi nghẹn ngào cũng quạChàng trai lên đường về thăm nhà .Trên đường về quê đến một quán nước chè xanh bên bến sông,chàng dừng lại nghỉ .Chủ quán là hai bố con .Cô con gái bán nước và ông bố câu cá giúp con gái mình khi có những người khách đói lòng cần có một bữa ăn độ đường.Tuy có tính tiền nhưng giá cả rất phải chăng.Chàng trai trên con đường phiêu bạt giang hồ đã nhiều lần quă đây .
Buổi chàng đến trời đã xế chiều .Sau chén chè xanh thật mát bụng,chàng mon men đến bên ông bố đang ngồi chú tâm câu cá .Chàng lặng im quan sát và kiên nhẫn chú nhìn vào khuân mặt ông câu và vào dòng sông sâụ Khuôn mặt đó đã cho chàng thấy sự bình an và tĩnh lặng.Dòng sông kia giúp chàng cảm nghiệm đời sống là thời gian luôn luôn trôi chảy,không dừng lại bao giờ .
Chú cá Chép trắng thật lớn đã được câu lên .Khuôn mặt ông câu cũng dãn ra một nụ cười,quay qua chào hỏi chàng trai .Nhưng đột nhiên ông như sững sờ chăm chú nhìn vào khuôn mặt chàng .Ông yêu cầu chàng cởi quần áo và trầm minh xuống sông. Tuy không hiểu lý do, nhưng chàng cũng nghe lời, vì nhìn thấy nét nghiêm trọng trong ánh mắt ông.
Ông lấy một chiếc khăn bịt mắt chàng . Ông ra lệnh cho chàng há miệng ra ở dưới nước. Sau một hồi tiếng hô hoán và thét gọi của ông câu, chàng thanh niên đã ói mửa ra và thoáng té xỉu trên tay ông .
Khi chiếc khăn được mở ra khỏi đôi mắt chàng trai , chàng thấy đúng 9 con vịt con đang bơi lội trong đống ụa mửa của mình và trôi theo dòng nước .Ông nói:
-Thật may mắn anh đã gặp tôi vừa đúng lúc, không thì những con vịt kia sẽ lớn lên trong bụng anh và anh sẽ chết oan trên đường về nhà . . . . . . . .
Mẹ tôi cười lên tiếng hỏi mọi người:
-Có ai biết "Chàng Trai" đó là ai không?
Chúng tôi lao nhao hỏi Mẹ:
-Ai vậy Mẹ ?
-Các con hỏi Bố ,chứ Mẹ làm sao mà biết!
Chúng tôi nói thế, nhưng đều biết rằng:câu chuyện đêm đó không phải là chuyện cổ tích mà là chuyện đời thật của Bố .Bố trả lời mọi người bằng nụ cười im lặng hiền hòa của Bố .
(còn tiếp)
10/01
Mưa Bidong
Hồi ký
Bidong đang bước vào mùa xuân , mùa xuân của những tâm hồn viễn khách tha hương , của những người Việt Nam tị nạn cộng sản , đang ở rải rác đó đây cũng như hàng chục ngàn người trên đảo Pulau Bidong nầy , đang hướng về quê hương cố quốc , để hồi tưởng những ấm êm hạnh phúc trong mái ấm gia đình và đắng cay với những khốn khổ đau thương ngoài xã hội , hồi tưởng những làn khói la đà hương ngát trong giờ phút giao mùa , của cuối đông lạnh giá và chào đón bóng dáng rạng rỡ của nàng xuân đang mang đến những ấm êm và tươi vui cho muôn người , nhưng cái ấm êm tươi vui ấy đã không còn nữa , kể từ lúc đảng cộng đã giết chết đi nàng xuân thuở nọ .
Ngày tết sắp đến , tôi không được thấy gì ngoài những dòng nước mắt , những thao thức suy tư của hầu hết mọi người , nhưng bên cạnh đó củng có một số người có vẻ như hớn hở vui tươi như không có chút gì để vấn vương vương vấn , có lẻ họ đã quen rồi cái kiếp sống của cuộc đời lữ thứ tha phương , họ tìm đủ mọi cách để sinh nhai , như câu cá đưa ra chợ bán , đi hái củi bán cho mọi người hay làm công cho những cửa hàng mua bán trên đảo . Tôi đến Pulau Bidong đã hơn tháng rồi mà vẫn chưa gặp được phái đoàn nào của đệ tam quốc gia vào phỏng vấn , hình như mệnh số của những người vượt thoát tị nạn cộng sản là thế đó , chỉ biết sống trong chờ đợi lo âu và buồn tủi , những ngày đầu vừa mới đến Bidong , tôi được biết có những thuyền nhân đến và ở đây trên đảo Pulau Bidong nầy hằng những bốn,năm năm trời , nhưng vẫn chưa được quốc gia nào chịu cưu mang họ , vì thế cuộc sống của những người ấy có vẻ như đã bất cần , và họ cũng không màng nghĩ đến tương lai , cuộc đời đôi lúc cũng có lắm những bất công . Tôi lần bước xuống khu A , nơi đây cũng được có một chợ xổm do một số người sống trên đảo khá lâu tổ chức , đại khái những hàng bún rêu , bánh khọt ăn sáng , rau cải thịt cá và những gian hàng buôn bán quần áo cùng một số vật dụng khác do người Malaysia làm chủ .
Song song với những sinh hoạt nầy cũng không thiếu những cảnh trộm cướp , ấu đả hà hiếp nhau , những cảnh làm tiền trắng trợn từ những người đến trước đang làm việc đâu đó và có một chút hơi hám thế lực , họ tạo ra nhửng cớ nầy cớ kia để bắt người mới đến đưa vàng cho họ trong lúc tâm hồn những người nầy còn đang trong khủng hoảng sau cuộc hành trình trên biển đông cũng như còn bỡ ngỡ chưa biết một chút gì trên đảo Pulau Bidong nầy, cay đắng thay cho những thuyền nhân vừa vượt thoát được cộng sản , vừa bước qua được đôi tay tử thần giữa biển khơi , vừa thoát được bọn hung tàn hải tặc Thái Lan thì lại gặp ngay những tên cáo già vô nhân tính nầy , nhưng nơi đây nào có pháp luật gì đâu mà thưa gởi , chỉ là một sự lặng thinh để mang thêm một những uất hận trong lòng.
Pulau Bidong được chia ra làm sáu khu bắt đầu là khu A đến khu F , nơi đây cũng có một ngôi chùa khá lớn , có một gia đình phật tử thường xuyên tổ chức sinh hoạt , một
giáo đường khang trang cũng như một đội thiếu nhi thánh thể , trong hoàn cảnh nầy , người người có thể đến nhà giáo đường hay chùa để thờ phượng cúng bái theo sự tín ngưỡng của riêng mình , ngoài xã hội thì cũng có một liên đoàn hướng đạo Vượt Sóng , trước kia nơi quê nhà tôi cũng là một hướng đạo cho nên tôi cũng tham gia sinh hoạt trong liên đoàn Vượt Sống để cùng siết chặt tay nhau , trao cho nhau những yêu thương của con người và con người .
Rải rác đó đây vòng quanh đảo tôi còn thấy được những chiếc thuyền con nhỏ bé nằm lưa thưa trên bãi biển bị bỏ lại đó chơ vơ trong hoang tàn bể nát , cạnh cầu Jetty có một chiếc tàu lớn mà theo người đi trước kể lại cho tôi nghe hình như trên tàu có khoảng bốn năm trăm người , chiếc tàu nầy do cộng sản tổ chức để thâu góp vàng của nhân dân rồi cho đi tự do , không biết vì sao vào đến gần đảo Pulau Bidong thì bị chìm , hình như không còn ai sống sót . Chiếc tàu nầy được chính quyền Malaysia cho kéo vào đặt trước khu vực cửa ra vào đảo Pulau Bidong , bên cạnh Cầu Jetty , coi như là một di tích của những thuyền nhân bỏ nước ra đi tìm tự do trên vùng biển đông xa thẳm .
Hàng tuần có những chiếc sà lan đưa thực phẩm từ đất liền ra để cấp phát cho người tị nạn , như trứng , thịt , cá , mì gói , rau cải cũng như nước uống và tắm nhưng rất hạn chế , chúng tôi phải dùng thêm nước giếng mới đủ cho việc tắm giặc , quần áo thì do những cơ quan thiện nguyện cung cấp , những bộ quần áo tuy không được mới nhưng đã ấp ủ chúng tôi những nồng ấm trong tình người .
Thường những buổi trưa buồn trên đảo vắng , tôi hay đong đưa trên chiếc võng cũ rích từ những người đi trước để lại , chiếc võng đã từng ru tôi những giấc ngủ cô đơn với nhiều mộng mị , bầu trời Bidong thay đổi rất bất thường , khi mưa , khi nắng , những cơn nắng dịu dàng êm ả những cơn nắng chói chang , gay gắt , những cơn mưa mây nhẹ nhàng rải rác đó đây , những cơn mưa tầm tả đến vài ngày , như để trút xuống đầu những người thuyền nhân tị nạn một nỗi hờn câm mà ai đó đã gây ra , đang thả hồn vào những suy tư không dứt tôi bổng nghe thoang thoảng trong làn gió
" Ngày mai em đi , biển nhớ tên em gọi về
Gọi hồn liễu rũ lê thê gọi bờ cát trắng .. .. .."
Ðúng vậy , đó là bản nhạc "Ngày mai em đi" được ban phát thanh của khối thông tin phát , tôi vội xuống võng và đi ra ngoài hướng về phía bãi biển của khu A , bà con cũng tấp nập tuông ra , nơi đây không ai còn xa lạ gì khi nghe bản nhạc đó , thật vậy , vì cứ mỗi lần có thuyền nhân tị nạn đến đảo hay được cao ủy tị nạn chuyển đến từ những nơi khác , thì ban phát thanh phát ngay bài hát nầy và rồi nó đã trở thành quen thuộc . Cũng như mỗi khi có người được rời đảo vào đất liền để đi định cư ở đệ tam quốc gia nào đó hay được vào trại Sugei Besi để chờ tuyên thệ với bàn 4 ( nếu đi Mỹ )
Thì ban phát thanh cho đồng bào nơi đây nghe ngay bài hát
"Nghìn trùng xa cách"
" Nghìn trùng xa cách , người đã đi rồi
Còn gì đâu nữa mà khóc với cười . . . ."
Bài nhạc nào cũng làm tôi rướm lệ , như có gì đó đau nhói trong tim , như có gì đó làm cho nức nở nghẹn ngào mà không làm sao diễn đạt.
Tôi đến nơi , thì khoảng gần hai mươi người dưới một chiếc thuyền mong manh đã được đưa lên khối R.B ( Record Branch ) , những thân hình gầy đét , đầu cổ phất phơ , quần áo xốc xếch , có vài người phải đưa ngay vào bệnh viện để cấp cứu trong đó có một thiếu nữ đang quằn quại chóng đỡ với tử thần sau bao ngày đói khát và những lần bị hải tặc hãm hiếp giữa trời biển mênh mông , nhìn cô , nhìn mọi người hốc hác tiều tụy đôi mắt bơ phờ , lòng tôi bổng ngập tràn những đắng cay đau xót , trong tôi như có một niềm uất hận dâng lên , tôi nghe man mác hình như đang có những giọt lệ thương đau đang lăn tròn trên má , thù hận ai đây ? oán trách ai đây ? Cộng sản ? Hay loài quỷ dữ hải tặc thái lan ? , đang hoành hành dã man hung bạo với những thuyền nhân khốn khổ đang dun rủi cho cuộc hành trình đi tìm tự do trên biển đông . Tôi mường tượng đến một bức tượng " Tình Thương" mà ai đó trong những người đi trước đã dựng lên trước bãi biển khu C , một bức tượng với một người đàn bà tay yếu chân mềm , một tay đang bồng em bé ,một tay đang níu kéo một người đàn ông già cả yếu đuối trên bãi biển , tôi nghĩ tôi sẽ không thể hình dung được cảnh tượng nầy nếu tôi không là một thuyền nhân đang đứng bên lề đường viễn xứ sau cuộc hành trình với nhiều rủi ít may , nhưng dù sao thì thuyền của tôi đi cũng có nhiêu may mắn hơn những thuyền vượt biển khác , chúng tôi không bị đói khát , không bị cướp biển và chỉ có bốn ngày lên đênh trên biển đông cho cuộc hành trình vượt thoát .
Tôi được vào bên trong , vì tôi làm việc cho khối an ninh trại , nên không bị ai cản trở , những người khác không có trách nhiệm thì không được vào vì để cho có trật tự , với lại để cho bên khối " R.B " làm việc sơ khởi trước , xem có ai là cộng sản tổ chức đến đây để hội nhập hầu phà rối người tị nạn đi tìm tự do không , trước khi cho ổn định nơi ăn ở , sau đó phải trở lại khối anh ninh để chúng tôi làm hồ sơ sưu tra rồi bắt đầu cho những sinh hoạt kế tiếp , như đi ghi tên lớp học anh ngữ , ghi tên học nghề , ghi tên làm việc xã hội ,. .v. v. . . . , để cho mọi người nơi đây có những giờ giấc bận bịu với việc làm việc học , để bớt đi giờ phút rỗi rảnh , để đầu óc không bị cuống cuồng trong những suy tư cũng là điều rất nên với mọi người .
Tôi trở về , ngang qua một nghĩa địa thuộc khu F , những ngôi mồ lớn nhỏ nằm san sát bên nhau , có những nấm mồ đã sụp đổ hoang tàn theo bóng thời gian và chủ nhân của những ngôi mồ nầy có lẻ đã rời đảo đi định cư và cũng có thể là những ngôi mồ vô chủ , thật cay đắng thay khi vượt thoát được bàn tay nanh vuốt của cộng sản , vượt thoát được đôi tay tử thần giữa trời biển mênh mông , vượt thoát được bàn tay hung hãn của loài quỷ hải tặc Thái Lan , để rồi phải trút hơi thở cuối cùng và được chôn vùi trên vùng đảo xa xôi hoang vắng nầy . Nhưng dù có bị chôn vùi trên vùng đảo hoang vắng có lẻ họ cũng được vui cười nhắm mắt , vì dù sao đi nữa thì cũng được chôn vùi trên vùng đất của tự do , nơi đây mỗi năm đến mùa lể thanh minh có những tổ chức như hướng đạo , gia đình phật tử hay thiếu nhi thánh thể tổ chức đi tảo mộ cũng an ủi phần nào cho những cho những hồn đơn hoang lạnh nầy , rồi ai cũng một lần nhắm mắt ra đi về cõi hư vô , nhưng nhắm mắt ra đi khi đã được hoàn thành một ý nguyện nào đó của riêng mình thì có lẻ cũng không còn gì để mà nuối tiếc .
Tôi vào đến căn nhà dài (Long house) thì trời chiều vừa phủ xuống , bóng hoàng hôn còn vương víu đâu đó từ tận cuối chân trời , những đám mây đen lần lần kéo đến , rồi bỗng dưng một cơn mưa mây vội vàng đổ xuống , trong cơn đảo lộn của tâm hồn tôi , mưa ngoài trời,mưa trên đảo Pulau Bidong, hay trong lòng những thuyền nhân khốn khổ đang sùi sụt một cơn bão , một cơn mưa sẻ triền miên ray rức , bắt đầu từ lúc khởi sự cuộc hành trình vượt biển đông và có lẻ lòng người sẻ còn mưa mãi cho đến hết quãng đường còn lại trong kiếp sống tha hương viễn xứ nầy .
Buồn viễn xứ
( Kính dâng mẹ trong muôn ngàn nỗi nhớ thương )
Ðêm thanh vắng âm thầm con đếm bước
Lặn lội đường sình nước lạnh chân đơn
Lệ tuông rơi , rơi rải suốt canh trường
Trên bến vắng lên thuyền con vượt biển
Thuyền viễn xứ bềnh bồng trong nguy biến
Sóng nộ cuồng kinh khiếp cả thuyền nhân
Loài dã man hải tặc lắm hung tàn
Người đói khát dật dờ cơn sinh tử
Rồi từ đó bước phong trần lữ thứ
Nợ giang hồ lãng tử vội cưu mang
Thương quê hương mòn mỏi phía trời Nam
Dòng dư lệ tuông tràn , ôi !-mặn đắng
Thường những buổi hoàng hôn trên đảo vắng
Con ngồi buồn lặng ngắm áng mây trôi
Thả hồn đơn theo gió cuối chân trời
Tìm quê mẹ !- Ðâu rồi quê của mẹ ?
Chợt đâu đó những lời than khe khẻ
Mẹ yêu ơi con trẻ quá bơ vơ . . .
Con xa xôi trong kiếp sống mong chờ
Ngày mai sẻ thanh bình vui tương hội
Pulau Bidong , Kuala Trengganu , Malaysia
Ngày 22 tháng 2 năm 1985
Thuyền DN 1071/TS Bà Rịa , Phước Tuy , Việt Nam
Thuyền MB 268/Pulau Bidong,Kuala Trengganu , Malaysia
“ một lần chợt nghe quê quán tôi xưa.
Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì...
............
“Rồi một lần kia khăn gói đi xa.
Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà.
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế.
Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ...
(Bên Ðời Hiu Quạnh.,nhạc Trịnh Công Sơn)
Thì cũng một lần nào ai không khóc bên cõi đời quạnh hiu nầỵ Ðôi mắt người đầy những thoáng mơ hồ xa xôi như chiều xuống. Hay những giọt lệ tàn như mắt người từ buổi lá thu phaị Tôi yêu người như người chẳng bao giờ yêu ai,như một sớm nào phai tàn theo lá thu cuối mùa hiu quạnh.. Mùa xuân theo năm tháng ,sẽ là cõi quạnh hiu đi hoài trong hoang đảo sa mù mịt của tháng năm khốn cùng trời đất.
“Gọi nắng trên vai trên vai em gầy đường xa áo bay.
Nắng qua mắt buồn lòng hoa bướm say.
Lối em đi về trời không có mây.
Bước chân em về nào anh có hay.
Ðường đi suốt mùa nắng lên thắp đầy....
(Hạ Trắng. Nhạc Trịnh Công Sơn)
Ðường đi dù có nắng lên thì cũng có một ngày tàn. Rồi cũng sẽ có một ngày ta nhìn nhau ngờ vực,như em sẽ nhìn anh ở cùng mọi quạnh hiu nầỵ Có thể như một ngày những con sông sẽ về chung một mối,và những hàng phi lao sẽ phải nghe mọi lời tang tóc của trùng khơi.
Khởi đi tư 28 năm xa nước,khi những bước chân rừng rú thô bạo điên cuồng của đôi dép râu dẫm lên mọi phố phường thơ mộng của phố xá Miền Nam Việt Nam,thì ngôn ngữ tình yêu được vô sản hóa, bản chất loài người trở thành những tên cai ngục miệt thị bỏ tù chính con người trần tục của mình,và chữ tình yêu của người vô sản đồng nghĩa với sự dữ ,ba chữ “em yêu anh”sẽ để gió cuốn đi về nơi vô tận.
Khi một phóng viên của người Pháp Jean Rounault, bị tù tại Nga Sô năm 1945 trở về nước viết rằng: “Khi giao tiếp với người Nga, ta đừng ngạc nhiên vì một điều gì hết. Vì mọi sự trái ngược đều có thể xẩy rạ Tâm hồn họ là thế: Họ có thể buổi sáng ôm một người hôn hít, nhưng tới buổi trưa họ có thể giết người ấỵ Rồi buổi tối,họ sẽ hối hận ôm thây người chết khóc lóc và cầu cho người chết được sống lạị Và mỗi mọi việc làm kể trên của họ dều thành thực cả.
( trích Cánh Mạng Và Hành Ðộng của Nghiêm Xuân Hồng)
Và những người vô sản Việt Nam thích trở thành một người Nga cuồng tín chủ nghĩa?
Có thể như một ngày mặt trời sẽ lên,như một ngày các bạn trẻ tìm lại nguyên thủy gốc gác cha ông,như một ngày những buổi sớm mai em không còn kêu gọi hờn căm tàn phá quê hương.Và những người tư xưng mình là vô sản, sẽ chẳng còn nơi nào dựa lưng vào những tình ngườịBởi lý do đơn giản là cuộc cách mạng vô sản thành công năm 1917 tại nước Nga,đã đêm nhân loại vào nơi mịt mù tối tăm khuất lấp.
Mùa Xuân 2003 nơi tôi có thể vỗ về lên những bài ca của anh Thiện lý:
“Giữ cho em chút hồng của nắng.
Dẫu xa nhau ngày chiến chinh về
Yêu dấu lắm hởi người thương cách biệt
Vẫn miệt mài biển khơi dấu chân mây...
(Tình Ðất nhạc và lời Thiện Lý)
Nơi những dấu bụi mờ của tấm tàn y buồn trong trí nhớ,những dấu bụi mờ một thời lên đường bạt ngàn tuổi trẻ chẳng hoài nghi,nơi buổi sáng có người thiếu nữ tiễn chàng ra đi biền biệt nghìn dặm sơn khê,và trên vai chàng tuổi trẻ chất chồng bao đam mê cuồng nhiệt ngoài những hành trang chiến trường, chàng còn mang theo tình yêu trong trái tim nguyên vẹn hình bóng mái tóc dài trong chiều thu mưa ướt...
“ Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi
Nàng có đôi người em,những em thơ chưa lớn...
Tóc nàng hãy còn xanh...
Tóc nàng hãy còn xanh...!
Tôi người chiến binh
Xa gia đình
yêu nàng như tình yêu em gái...
(thơ Hữu Loan Phạm Duy phổ nhạc)
Khi trái tim biết mở ra vì đời người như mây,hai mươi tám năm bóng câu qua cửa sổ, trái tim già nua mỗi chiều nào nhìn thu qua bao lần,nơi những lằn ranh định mệnh sống chết cận kề,nơi lòng người biết tử tế với nhau,và một nơi nào đó trong trái tim anh vẫn chứa nguồn tình tự bao la dân tộc, hy vọng sẽ có một ngày: Con người vứt cùm vứt cờ vứt đãng,trở về với ngôi mộ Gia tiên.Sẽ có một ngày,một ngày bên kia bờ Thái Bình Dương mảnh đất hình cong như chữ S, trẻ thơ được đến trường học hai tiếng thương yêu,và lòng người mở ra bao nguồn tha thứ,và phố sẽ vui rộn rã tiếng cười ra tuốt đồng quê để đón trăng lên.
“Chiều trên quê hương tôi
có khi đây một trời mưa bay,
có nơi kia đồi thông nắng đầy,
có trên bờ xa sương khói...
Chiều trên quê hương tôi
nắng phơi trên màu ngói non tươi
Gió mang tin một ngày sẽ tới
Sẽ mưa lâu hoặc cơn nắng dài...
Chiều trên quê hương tôi,
có những chốn riêng cho mọi người
những con đường lứa đôi
những góc hè phố vui
giọt chiều trên lá
như mắt người
cười giữa chiều phaị/.
(Chiều Trên Quê Hương,nhạc và lời Trịnh Công Sơn)
Cánh Ðồng Nón
Tháng Tư năm 2003.
Tôi hỗn mang. Tôi trân khóc ngày xa quê mẹ. Ngọn cờ tím lặng con tầu gục đầu sóng tủi hờn định mệnh Việt Nam. Ðâu cuộc đời êm ấm, êm ả nơi căn nhà có mẹ có cha. Tình chung nghẹn hờn. Tình riêng khập xuống. Ðổ gập gẫy ròn rướm máu tim hờn oán. Ở đâu còn có lời mẹ dặn. Ở đâu còn có lời cha nhủ ân cần. Bầy qủy dữ đuổi người ra biển. Ðịa ngục bày ra. Mẹ đã co ro bên giòng lửa bùng. Cha đã bôn ba núi dựng ngăn đường về.
Tôi tủi phận. Tôi đơm tay lạc lõng hụt hẫng. Ngôi nhà có sân giếng không còn bóng đàn con trẻ chạy quanh vườn. Mẹ trân trân đôi mắt lệ hoang mang. Cha khắc khoải vai quằn kéo tre rừng đươm sàn dựng mái. Nhọc nhằn, cay đắng trại giam núi rừng u ám Hoàng Liên Sơn. Ðã gẫy từng đốt xương cóng lạnh. Khêu thêm leo lét ánh đèn bản tăm tối đời kẻ vong thân.
Em nghe không? Mẹ khóc khô giòng nước mắt. Mắt đã lòa. Tâm máu chảy điêu linh. Ngày tủi hờn đất nước thống nhất. Mẹ còn hờn. Ðàn con đã bị lôi theo cha lên núi rừng ải độc tay còng xác xơ. Ngày Việt Nam lũ qủy múa loạn cuồng. Mặt trơ, răng mã tấu. Cười AK lựu đạn răng rắc.
Em nghe không? Ðịa ngục lũ qủy phán. Ðịa ngục đày mẹ còng thêm vai nặng xác xơ vai tả tơi. Từ ngôi nhà vôi đã tróc long hình đàn con hun hút theo cha núi rừng thiêng độc ải. Từ ngôi nhà trơ mẹ mắt quầng miệng méo hô khẩu hiệu độc lập tự do hạnh phúc.
Em biết không? Mẹ gục đầu chết giữa tiếng hô. Tắc nghẹn.
Ðôi chân bé nhỏ chạy lúp xúp theo Dì, đôi mắt sợ hãi ngước lên trời, trông theo đám mây đen kéo nhau bay vội vã, phút chốc như tấm màn che kín một góc trờị Dì bước chân nhanh thoăn thoắt, hai tay gom những tàu lá chuối xanh mượt đang trải ra phơi bên bờ ruộng đậu, Trân vừa cúi xuống nhặt một tàu lá lên, từng cơn giông gió quay quắt điên cuồng, rung chuyển những cành cây, tiếng sấm đầu mùa mưa tháng tư như tiếng bom đạn nổ ngang đầu, thân cây tre nhỏ gác ngang hai bờ mương lạn cũng run rẫy từng hồi dưới chân vội vã, Trân bịt kín hai tai, níu chân dì sướt mướt
- Con không đi, con không đi nữa đâụ
- Ðừng sợ, có Dì bên cạnh, con ngồi xuống đây, chỉ còn một ôm nữa thôi, mình vào trại bà Tám trú mưạ
Mưa như trút nước, sấm chớp liên hồi, Dì ôm Trân vào lòng, mở khăn cột tóc ra lau mấy giọt nước mắt còn đọng quanh mi, tiếng mưa như điên cuồng quật vào mái lá, mấy cái cột tre lắc lư, bụi chuối phía sau hè trại oằn oại , hàng cây sua đũa bên bờ mương cúi rạp mình , Trân nhìn Dì
- Có khi nào giông cuốn luôn mái lá không Dì?
- Giông đầu mùa một tí nữa thôi, sẽ qua cơn, con ăn mạch nha nhé, Dì mang theo cho con nè.
Trân an tâm chui vào ngồi trong lòng Dì, miệng mút ngon lành viên kẹo mạch nha ngọt ngào
Giỗ Ngoại đầu mùa mưa, hàng năm phải vào tận vườn bà Tám Hiện để đốn lá chuốị Trân nhất định xin theo, trong lúc Dì còn bận cắt lá và đem phơi thì Trân lang thang thọc mấy hang cua, hay vớt mấy con ốc bưu to tướng cho vào thùng, chiều nay về Trân sẽ xin Dì cho vào bếp lửa than nướng lên ăn. Khu vườn chuối còn bao nhiêu là bí mật Trân chưa kịp khám phá. Cây ổi sai oằn nằm cạnh bờ ao, trái nhỏ ruột hồng, Dì bảo là ổi lộn kiếp
- Dì ơi, sao lại gọi là ổi lộn kiếp ?
- Tức là ổi mọc lên từ phân chim, sau khi chim ăn trái ổi chín cây, hột ổi không tiêu hóa rơi xuống đất mọc trở lại thành câỵ
- Ghê quá, thôi không ăn nữa đâụ
Trân lớn lên bên quê Nội, mỗi năm chỉ được về Ngoại đôi lần giỗ Tết. Quê Ngoại là thiên đường của tuổi thơ, của thương vội yêu vàng.
" Cháu bà Nội, tội bà Ngoại "
Mẹ lớn nhất trong mấy chị em, Trân là cháu Ngoại đầu đàn, bao nhiêu thương yêu đổ dồn lại, lúc lên ba Ngoại còn ôm vào võng ru ngũ, lên năm Dì, Cậu còn thi nhau cõng qua cầụ Mùa mưa theo cậu ra vườn nhặt ốc, bắt cua đồng, tháng chạp theo ra ruộng ngũ giữ lúa, tát đìa, bắt mấy chú rùa con mang về bỏ vào nia, chọc cho chúng thi nhau bò, tháng tư giở đất cày bắt dế mèn, dế cơm…
Không còn nhớ bắt đầu từ bao giờ, quê Ngoại luôn thiết tha quyến luyến. Ngôi nhà ba gian lợp la,ù vách gỗ xoài, nằm bên cạnh con sông nhỏ, nước mùa khô chỉ còn lại hơn thước chiều ngang. bờ sông bày hai bãi bùn đen, Trân thường thơ thẩn đếm mấy con thòi lòi trơ mắt ngó láo liên, mấy con còng già giơ cao đôi càng đỏ chạy tung tăng. Từ thềm nha øhai hàng tán đá xanh vuông vắn lót dọc theo dường xuống bến sông, nơi cây cầu ván bắt lơ lững, một nửa cuối cùng nối vào bằng một thân cây dừa già, Ngoại đẽo thành những nấc để làm chổ bám chân, thân cây luôn chìm sâu trong nước, chỉ bày ra vào mùa khô, khi nước sông rút gần cạn đáỵ Cây cầu dừa mỗi khi bước xuống xuống phải lột dép ra cầm trên tay , hai bàn chân từng bước một, bám chặt xuống mắc khất, chỉ cần sẩy chân là rơi bệt xuống, bùn đen rất mềm, không đau , nhưng cũng đủ ngượng chín ngườị
Mùa gió bấc, Dì dậy nhóm bếp từ khi tiếng gà chưa gáy sáng, nhặt một ít lá dừa khô, xếp làm đôi, kê vào ngọn dèn dầu leo lét, chờ cho ngọn lửa vừa bén, cho vào lò, đổ lên một máng trấu, tiếng lách tách kêu vui từ ngọn lửa hồng vừa bén , mặt Dì dưới ánh lửa chập chờn sáng như ánh mặt trời mới mọc.Hàng năm, Dì bắt đầu tráng bánh từ đầu tháng chạp, bánh tráng đơn giản chỉ là thứ quà Tết đặc biệt của quê ngoại, sau nầy Trân mới hiểu nhiều hơn , với Dì , đó là chi phí tiêu dùng cho ngày Tết, làm quà cáp kiến biếu hai bên họ hàng…
Tháng chạp, năm nào được theo Mẹ về Ngoại là cả một niềm hân hoan, hạnh phúc. Sáng sớm dậy, gió bấc gay lạnh, múc vội gáo nước trong lu, Dì với tay lấy ấm nước nóng phía sau lò tráng bánh pha thêm vào cho Trân rửa mặt. Lạnh thì đã có ống khói xây gạch tô đất bùn làm thành lò sưởi, hay đến đứng tựa bên miệng lò, giã vờ canh lửa, chờ cho viền trấu vòng quanh cháy đỏ, dùng thanh sắt dài và mỏng thọc vào khều ngang nhẹ nhàng, xúc một máng trấu khô cho vào, rồi mang cái thúng con chạy vào bồ xúc thêm một thúng nữa đổ cho đầy cái cần xé bên cạnh. Dì chỉ khen một tiếng giỏi giắn là không cần chờ nhắc nhở Trân đã lăng xoăng chạy đi ngaỵ Bao giờ đói bụng, chỉ giã vờ hỏi
- Ngoại ơi! Bánh nầy rách rồi, con xếp lại thành bánh ướt nhé .
Bánh tráng quê Ngoại nổi tiếng, vừa mỏng vừa daị Ngoại chọn lúa từ vụ mùa trong năm, đến tháng chạp mang di xay thành gạo, nhặt hết thóc lúa lẫn lộn trong gạo rồi cho vào chậu ngâm qua hai đêm ,xã nước cho thật sạch nhiều lần ,rồi mới xay thành bột, lại tẻ nước và pha lại cho đúng lượng trước khi mang ra tráng bánh.Lò dùng để tráng bánh xây bằng gạch nung, có ống khói cao, miệng lò lót những thanh sắt mỏng nằm ngang như từng nấc thang dể lấy không khí cũng như chặn không cho trấu đổ ào ạt xuống làm ngột lữa . Trên mặt lò khoét hai lỗ trống làm bếp, bếp trước đặt một cái chảo đụng thật to, bên vành chảo là một khung tròn bằng đất nung, trên miệng giăng một mảnh vải làm khuôn, bốn góc và bên cạnh khuôn vải vuông căng những sợi dây dài cột lại bằng gạch nung, nặng nhẹ tùy theo góc độ, vì khung vải phải căng thật thẳng mới có thể tráng bánh được. Phía sau là một bếp nhỏ hơn, thường để giải nhiệt hay đun nước sôi, nấu nướng thức ăn trong ngày cho đở tốn thêm củi lửạ vì sau khi đã đốt lò thì thường phải thay phiên nhau tráng bánh liên tục để phơi cho kịp nắng.Dì ngồi bên lò từ khi trời chưa rạng, bánh chín mang ra trải lên trên vĩ đan bằng lá dừa , chồng lại thành từng cao, chờ cho đến lúc mặt trời lên, màn sương sớm tan đi thì mang vĩ ra phơị Thường, nắng tốt, chỉ mất chừng nửa ngày thì bánh khô, mang vào gở từng cái, đếm thành chục rồi cột lại, công việc nhẹ nhàng nhưng bận rộn suốt ngàỵ Lò tráng bánh xây trên khoảng sân vuông, cạnh con rạch nhỏ bên hông nhà, một hàng khạp da bò lớn kê dọc theo cho tiện việc mang nước lên, hàng năm sắp đến tháng chạp, chỉ cần tu bổ lại, đốn thêm lá dừa đan vĩ mới .Sau mỗi mùa tráng bánh Ngoại phải tháo mấy thanh sắt mỏng ở miệng lò ra , mang cất kỷ tránh nắng mưa chóng rĩ sét , chờ đến mùa sang năm, và trước khi mở lò Ngoại thường cúng kiến rất cẩn thận, mỗi mùng ba là ngày Tết nhà, Ngoại luôn nhắc bầy con cháu mang giấy vàng dán vào ống khói để mừng Tết, không được quên, ông lò nổi giận sẽ cho lửa cháy không đều, bánh tráng hỏng, thất mùa ….
Mỗi năm Dì tráng ba thứ bánh khác nhau, loại bánh tráng trắng, mỏng như lụa, dùng để nhúng nước cuốn gỏi, cá lóc nướng trui, dưa cải chua xào ... Gần Tết, sau khi lúa mùa đã gặt phơi xong, cũng là muà tát đìa, cá lóc, cá trê, cá rô, cá sặc…Ngoại mang về xẻ khô, làm mắm hay chứa lại trong lu chờ con cháu về ăn Tết. Cứ mỗi lần giỗ Tết không thể thiếu món cá lóc nướng truị Ngoại đốn sẳn tre già, chẻ thành que, một đầu chuốc nhọn, khi mang cá lóc đi nướng thì xiên từ miệng cá xuống đuôi, cắm xuống đất cạnh bờ sông, đầu cá nằm dưới, phủ lên một ôm rơm khô và đốt lửa, canh cho đến lúc tàn lửa, khều tro than và lấy nguyên xiên cá ra, cạo bỏ lớp vẫy đã cháy đen, mang vào cuốn bánh tráng với rau húng quế, xà lách non, chấm vào nước mắm pha với me chua ngọt. Chỉ nghĩ đến đã thấy cồn cào nhung nhớ.
Bánh tráng dừa là loại bánh dầy hơn, có lẫn mè, dùng để nướng và cùng ăn với bánh phồng nếp. Ngoại thường ngâm mộng nếp mới nấu thành mạch nha để dành ăn trong năm, Trân mê lắm mạch nha kéo thành sợi trên bánh tráng dừa mới nướng nóng hổi, mấy chục năm sau, những ngày lớn khôn, tha phương, bánh kẹo đầy dẫy trong ngày đầu năm, vẫn không thể quên món ăn mộc mạc do chính bàn tay Ngoạị
Bánh tráng ngọt mỏng hơn, dùng đường cát, nước cốt dừa,và mè trộn lẩn trong bột sau khi bánh khô rất dẻo, mấy chị em mang ra cuộn lại thành từng ống như điếu thuốc giả làm ngưới lớn phì phà . Bánh ướt ngọt là món không thể quên được, Trân bao giờ cũng nhắc Dì ngâm đậu xanh bóc vỏ làm nhân bánh ướt, đậu nấu chín trộn với dừa rám võ bào sợi, bánh vừa tráng xong, cho nhân vào, xếp lại thành từng mảnh dẹp dài hơn gang tay, khi ăn thường cuốn tròn lại, chấm muối mè rang vàng giã nhỏ ,thật là đơn giản, thật thà nhưng mấy chục năm qua vẩn nhớ.
Dì như cái bóng thân quen, mỗi mùa mỗi thứ, bao giờ về quê cũng sắp sẳn những thức ăn Trân ưa thích. Những trò chơi hàng ngày, tập bơi trên chiếc xuồng ba lá trong con rạch nhỏ đầy bóng cây xanh, cây dầm con Ngoại chuốc bằng thanh gỗ thật mỏng, bảng dẹp gần bằng nửa gang tay người lớn, tay cầm nhỏ lại cho vừa bàn tay , cầm cây dầm xinh xắn , ngồi trước mũi xuồng khua nước, vọc nước nhiều hơn bơi, cây dầm nhỏ như bàn tay thì sức nào mà đưa đẩỷ Dì luôn nhắc Trân cẩn thận, sợ lao chao rồi rơi xuống nước.
Sang mùa nước nổi, trời nước bát ngát mênh mông, sóng lúa xạ lao xao, nước trắng xoá đến tận chân trời, từng chòm cây xanh trên gò cao như vết chấm phá điểm trên nền tranh lụa trắng, ngồi trên chiếc xuồng con con, đi từ liên tỉnh lộ về, Dì thường chống tắt ngang ruộng luá, dọc theo bờ ven, ranh giới cho nhửng thủa ruộng xanh là hai hàng điên điển, thân cây nhỏ mong manh, nhánh trĩu nặng từng chùm hoa vàng rực rỡ.
- Dì ơi! Hái cho Trân chùm hoa vàng kia đi
- Ngồi yên đó, Dì sẽ dừng lại, coi chừng nghiêng xuồng rơi xuống uống một bụng nước đồng bây giờ, chổ ruộng nầy sâu lắm .
(còn tiếp)
Nhân vật và câu chuyện đều có tính
cách hư cấu, nếu có sự trùng hợp,
không phải là sự cố ý của tác giả
Quyên nhận lời lấy ông chồng lớn hơn cô mười bảy tuổi, tuy hai người chỉ quen nhau có vài tuần lễ. Quyên dáng người dỏng cao, da trắng, mi cong mắt phượng, đôi má tố nữ hây hây ửng hồng, nàng cười bẽn lẽn e thẹn trông duyên dáng lắm, khiến Trung, chỉ nhìn lần đầu là đồng ý ngay việc mai mối của dì Ba. Gia đình chàng còn nôn nả hối chàng cưới gấp. Lý do: vì chàng ở xa ngàn dặm tận xứ Úc châu, chỉ xin nghỉ phép về Việt Nam chơi đươc 4 tuần, để thăm gia đình sau mười mấy năm xa cách. Và vì: chàng cũng khá lớn tuổi, nên gia đình càng hối thúc, họ dẫn chàng đi chơi lân la khắp vùng, đặng ngắm nghé cưới cho được một cô vợ cho chàng mang về bển. Trung ba mươi tám tuổi, dáng dấp mặt mũi cũng khá, chàng chắc quá kén vợ, hoặc giả ở xứ Úc hiếm đàn bà con gái, chắc vậy nên tới tuổi này Trung vẫn còn độc thân.
Quyên đang có bạn trai, hơn nàng vài tuổi, hai đứa quen biết nhau bấy lâu, đang dự định khi nào Mẫn đi làm, dành dụm được chút đỉnh tiền, sẽ xin ba má Quyên cho hai đứa làm đám cưới. Mẫn là sinh viên mới tốt nghiệp, đi làm chưa được bao lâu, vì vẫn còn ở chung nhờ vả bố mẹ, nên chàng trù trừ chưa dám tính chuyện hôn nhân vội.
Bạn bè nhiều người thấy Quyên duyên dáng nên cứ dọa Mẫn :
_Ê Mẫn, bộ mày tính để Quyên nó đợi mày suốt đời hả? "Cưới vợ phải cưới liền tay " nghen mày!
_Biết bạn dỡn, nên Mẫn cười xuề xòa, trả lời bạn:
_Ôi! hơi sức đâu mà lo, cái gì ông trời cho mình, là nó của mình hà! lo làm gì cho mệt. Hổng phải của mình thì có muốn cũng hổng được.
Chàng đơn giản, thật sự tin vào sự kỳ lạ của một thứ quyền năng to lớn vô song đã sắp sẵn, đặt để và trói buộc con người không sao cưỡng lại được của phận số. Nếu số mệnh an bày, sắp đặt Quyên là vợ chàng, thì tất nhiên, trước sau gì Quyên cũng là vợ chàng. Y như thể chuyện:" tránh trời không khỏi nắng", hay giản đơn thuần khiết như kết quả dễ dàng hẳn nhiên của bài toán cộng: 1 + 1 = 2 . Ấy vậy, nên câu trả lời của chàng rất thật thà, biểu lộ rõ tính xuề xòa dễ chịu của loại người ít khi phải bỏ sức suy nghĩ, hay cố gắng bương bả vận dụng hết sức mình, trong học đường hoặc ngoài đời, để thu hoạnh bất cứ thứ gì cho cuộc sống_ vì chàng quan niệm, tất cả mọi thứ chàng hiện có, hoặc sẽ có, đều do bàn tay tối thượng của định mệnh quyết định cả.
Và định mệnh đã làm Quyên xa chàng, vì bỗng đâu trên trời, tự dưng rơi xuống
một chàng Việt kiều bảnh bao học thức, bà con xa lắc với chồng dì Ba, em họ của mẹ Quyên. Nghe nói dì Ba có đứa cháu gái mặt mày xinh đẹp dễ coi, bèn tới lui coi mặt, rồi xin cưới cho bằng được.
Gia đình Quyên nghèo, ba má Quyên làm lụng vất vả cực nhọc lắm, mới nuôi nổi các con ăn học. Vả lại chuyện xuất cảnh đi nước ngoài, luôn luôn rực rỡ ám ảnh mọi người, như một giấc mơ huy hoàng về một thiên đàng hạ giới, trong đó người nước ngoài, ai cũng đẹp đẽ, lấp lánh ánh hào quang y như những thiên thần biết làm phép lạ. Mà thật ra, cây đũa thần kỳ bí, huyền ảo của họ, là xấp đô la nhiệm mầu vạn năng, dường như có thể hóa phép, làm biến đổi hết thảy mọi chuyện.
Cả nhà Quyên vui vẻ, hãnh diện khi dì Ba dẫn Trung tới chơi. Cả con hẻm nhỏ xôn xao, thì thào với những cặp mắt tò mò hiếu kỳ, theo dõi nghe ngóng đầu đuôi câu chuyện. Trung vui vẻ lịch sự, mang đến rất nhiều quà, lại còn đưa thêm tiền chợ hậu hĩ cho dì Ba, để chàng được ở lại, ăn cơm chung với gia đình. Cả nhà, dường như ai cũng mặc nhiên chấp nhận chuyện hôn nhân của hai người, kể cả Quyên cũng đôi khi, mơ màng như đang bước những bước hư ảo cao thấp, hẫng lên khỏi mặt đất, khiến nàng lâng lâng, chìm đắm rối loạn trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, chưa biết phải tính toán, xoay sở như thế nào.
Cô cũng đã quá chán cảnh chạy vạy khốn khó, thiếu trước hụt sau của cha mẹ, và cũng không nỡ làm các em thất vọng, khi bé Minh em út của cô, hân hoan nắm tay nàng lay lay, nũng nịu dặn dò vòi vĩnh cô:
_Khi nào qua bên bển, chị Hai nhớ mua cho em nhiều đồ chơi nghen
Khuôn mặt nhỏ xíu, ánh mắt rạng rỡ ngây thơ của nó, nhìn cô đầy hy vọng và không hề chờ đợi câu ừ hử trả lời của cô, nó lăng xăng chạy mất.
Mẹ Quyên mấy tuần nay cũng xiết bao tràn trề sung sướng, bà thầm mong những điều tốt đẹp may mắn xảy ra cho con. Cuộc sống của cả nhà nhờ Quyên, sau này sẽ dễ dàng biết bao, bữa cơm manh áo không còn là gánh nặng thường xuyên đè chĩu, quẩn quanh trên tâm trí của bà nữa. Chồng bà chỉ là công nhân tầm thường trong xí nghiệp, bao nhiêu năm nay, bà buôn bán ở chợ, cực khổ vất vả lắm, mới nuôi nổi bầy con 6 đứa. Giờ đây, phải chăng ông trời đã thương xót ngó lại cho gia đình bà? Tự nhiên khi không, lại có được sự may mắn bất ngờ, mà bà chưa bao giờ có thể mơ mộng, tưởng tượng đến.
Thỉnh thoảng ngồi bán ngoài chợ, cũng có vài người Việt Kiều rảo quanh chợ mua sắm, xem hàng. Cứ ngó mặt mày tươi tắn và làn da trắng hồng của họ, cũng biết họ là người ở nước ngoài mới về. Không biết tiền ở đâu mà nhiều thế, họ mua hết thứ này đến thứ khác, dễ dàng không kỳ nèo giá cả gì nhiều, người bán kẻ mua đều lẹ làng phấn khởi, thiệt vui vẻ sung sướng quá. Bà tự dưng có hảo cảm với họ, tuy bà chẳng quen biết và họ cũng chẳng có mua hàng gì giúp cho bà. Thế mà, hình ảnh đẹp đẽ nhưng xa xôi của những người Việt kiều này, giờ đây lại hào hứng, trở thành điều gần gũi thân thuộc, trìu mến đối với bà xiết bao. Bà không khỏi hãnh diện xúc động, chờ ngày con gái yêu dấu của mình, biến thân từ một cô gái nghèo, sống ở một ngõ hẻm lao động tầm thường, trở thành hình ảnh rực rỡ ngập tràn hy vọng, như những người Việt kiều hạnh phúc tốt phước hơn người kia, mà bà từng trông thấy và hằng tưởng tượng. Bà âu yếm hỏi con:
_ Úc là nước nào vậy con? Ði máy bay hết bao lâu mới tới vậy con?
Quyên thiệt tình cũng không rành, nên trả lời mẹ:
_Má hỏi anh Trung á, chớ con cũng hổng biết, con thấy tiền Úc cũng đổi được mà có giá lắm má, 1 đô Úc mua được 2 tô phở lận.
Nghe con nói vậy, bà sung sướng cười hỏi:
_Hổng biết ở bển, nó làm được bao nhiêu một tháng, kêu nó tới nhà mình ăn cơm, dặn nó tiêu pha có chừng mực, đừng phung phí tiền bạc nghen con.
Quyên nghĩ thầm:Người ta về Việt Nam chơi mà không cho đi đâu hết, đâu có được! Thiệt tình Quyên cũng ngại đi chơi nhiều với Trung, lỡ gặp Mẫn thì cũng phiền vì không biết làm sao để ăn nói với Mẫn cho phải, nhưng nàng cũng trả lời cho mẹ vui:
_Con có nói, nhưng ảnh kêu:" nhiêu đó, hổng có đáng bao nhiêu so với bển".
Nghĩ đến mẹ, đến các em và những bữa cơm gia đình đạm bạc, Quyên buồn bã, rưng rưng nước mắt. Mẹ cô vất vả bao nhiêu năm dãi dầu mưa nắng, buôn tảo bán tần, chắt bóp để nuôi các con. Cô có thể từ chối được sao những kỳ vọng mà mọi người đang đặt trên người cô? Cả cuộc đời và tương lai của họ, dường như đang đặt để vào quyết định của Quyên, làm nàng thấy lòng mình nặng nề quá đỗi. Quyên tự hỏi, phải chăng, đây là sự may mắn mọi người đang mong ước? hay một ràng buộc nghiệt ngã dành cho thân phận cô, phải lấy một người cô không hề yêu thương? Quyên biết tương lai của gia đình cô, mịt mờ khốn khó. Cho dù ba má cô, có nuôi được các em khôn lớn, có lo cho chúng lấy chồng cưới vợ, cứ mãi luẩn quẩn sống eo sèo khốn khó, đầu tắt mặt tối lo cơm ngày hai bữa, lao động vất vả, con cái nheo nhóc. Suốt đời, họ sẽ không bao giờ có thể ngóc đầu lên nổi, trong cái thành phố đang đổi mới, quay cuồng tấp nập, hào nhoáng đủ mọi thứ tiện nghi, xa rời thực tế và tầm tay với của mọi người dân lao động bình thường . Những khu phố đổi mới, lộng lẫy tráng lệ, bày biện những món đồ đắt tiền sang trọng, chỉ dành cho người ngoại quốc và Việt kiều mua bán, mà Quyên chưa bao giờ dám bước vào, giờ đây hình như gần gũi cô hơn một chút. Hình ảnh khuôn viên đại học thân thuộc, và những con đường đông đúc rộn rịp, nắng gắt đầy bụi và hàng quán thân quen, nơi có những kỷ niệm đôi lứa, mộc mạc dễ thương của Quyên và Mẫn, lảng vảng day dứt lướt nhanh trong tâm trí cô, như so đo nài nỉ níu kéo cô, hãy trở về với cội nguồn dấu yêu của hạnh phúc lứa đôi. Cô thơ thẩn nhớ giọng nói ấm áp hiền lành quen thuộc, đôi khi đầy diễu cợt vô tư của Mẫn và tình cảm yêu thương săn sóc của chàng dành cho Quyên, giờ đây càng làm cô thêm buồn bã phiền muộn. Nhưng rồi hình ảnh gầy guộc và khuôn mặt vất vả, cằn cỗi già nua trước tuổi vì cuộc đời lam lũ nghèo khổ của mẹ, cả làn da của bà cũng xạm nắng khô héo theo năm tháng buôn bán dãi dầu nắng gió ngoài chợ, càng làm cô tức tưởi thương xót mẹ và cảm thấy quyết định hy sinh tình cảm riêng tư của nàng, để lấy chồng ngoại quốc, hầu có thể nhanh chóng có tiền giúp đỡ, báo hiếu đền ơn sinh dưỡng cho cha mẹ, là điều hiếu thảo rất nên làm. Nghĩ vậy, nên Quyên đành lòng lặng lẽ đau đớn, rớt nước mắt cố quên Mẫn. Trái tim dịu dàng hiền lành của cô, tranh chấp mãnh liệt với lý trí để tự biện minh phân giải với chính lương tâm mình. Và thứ tình cảm nội tại này, đang tận tình hành hạ cô khốn đốn, làm cho cô dật dờ khó thở và phiền não quá sức chịu đựng, khiến cô đôi khi thờ thẩn suy nghĩ đâu đâu như đang xuất hồn đi nơi khác. Nhưng cuối cùng, trái tim cô đã lừ đừ mệt mỏi, vận dụng hết sức khả năng còn lại của chính nó, gắng gổ đào bới từng nhát cuốc một, chôn vùi thật kỹ, nhỏ to lớn bé, hết thảy những dấu yêu kỷ niệm, hết thảy những hò hẹn mặn nồng, để bảo Quyên chuẩn bị theo chồng. Nàng thở dài, xót xa nghĩ đến thân gái dặm trường mười hai bến nước, bơ vơ lạc lõng nơi xứ lạ quê người, bên cạnh một ông chồng già nua, mà không chừng còn khó tính, vì cô thấy Trung thường nói chuyện vắn tắt và không mấy cởi mở, mặc dù tỏ ra lịch thiệp với mọi người và chìu chuộng nàng. Nàng đau lòng nghĩ, chắc Mẫn sẽ giận và khinh miệt nàng lắm, nhưng biết làm sao được! Quyên đành phải vì mẹ, vì gia đình mà quyết định ra đi.
Năm sau, Quyên được bảo lãnh qua Úc. Từ phi trường được đón về đến nhà, Quyên vui mừng nhận thấy thành phố Sydney sạch sẽ đẹp đẽ quá. Nhà nào đằng trước cũng có một khoảng vườn nhỏ, trồng nhiều loại cây cảnh, lá cành tươi tốt, những đám hoa màu sắc rực rỡ nở đầy sân, khiến Quyên say mê, ngắm nhìn hết nhà này đến nhà khác, không hề chán mắt. Khí hậu lành lạnh, tia nắng mùa xuân mang theo không khí ấm áp, chan hòa bao phủ hết cả trời đất vạn vật, làm lòng Quyên dịu dàng nhẹ hẫng. Nhà cửa, cảnh vật yên bình, đẹp đẽ mơ hồ như tranh vẽ, khiến Quyên thấy lòng mình đầy ngập nỗi hân hoan, như một con chim nhỏ vừa xổ lồng, choáng mắt khi nhìn thấy trước mặt, một bình nguyên xanh ngát an lành, đầy thóc lúa, hoa thơm và trái lạ.
Trung là một kỹ sư điện toán, chàng mua được căn nhà nhỏ rất dễ thương có hai phòng ngủ và một khoảng vườn nhỏ nằm phía Tây thành phố, cách phi trường chừng 50 phút lái xe. Ðến nơi, Trung cất xe vào garage, và khiêng hành lý của vợ vào nhà. Sau khi để Quyên rửa mặt thay quần áo, chàng để yên cho nàng ngủ một giấc đến chiều mới gọi nàng dậy chuẩn bị ăn cơm tối. Quyên hân hoan xuống bếp nhìn thấy trên bàn ăn, bày biện mấy món ăn Việt Nam trông rất tươm tất khéo léo, không kém gì các đầu bếp của các nhà hàng tàu ở Việt Nam. Quyên lạ lẫm hỏi Trung:
_Ủa! Anh nấu hay mua hồi nào vậy? Em ngủ say không hay biết gì cả!
Ðằng sau lưng nàng, chợt có tiếng trả lời của một người lạ:
_Dạ em nấu đó chị!
Ðó là giọng nói êm và rất nhẹ của một thanh niên, Quyên ngạc nhiên quay lại và nhìn thấy người nầy chừng 30 tuổi, mặt mày sáng sủa bảnh trai, tóc cắt ngắn nhuộm vài sợi vàng nâu trông rất mode. Anh mặc áo thun trắng, trên cổ đeo một cọng dây nhỏ màu đen lòng thòng, cột lủng lẳng 2 hay 3 chiếc chìa khóa trước ngực. Anh nhìn cô cười cười. Trung vội vàng giới thiệu:
_Quyên! Ðây là Khoa, bạn ở chung nhà với mình đó em.
Trong lúc Quyên đang bối rối lúng túng vì sự xuất hiện đột ngột của Khoa thì chàng đã bước tới chào nàng, giọng rất thân thiện:
_ Hi! Chị Quyên khỏe không, chuyến bay dài chắc chị mệt lắm phải không?
Quyên đáp:
_Dạ, được ngủ một giấc dài, thành thử bây giờ không còn thấy mệt gì nữa cả, anh Khoa học nấu ăn ở đâu mà nấu khéo quá vậy?
Khoa cười đáp:
_Chị chưa ăn mà đã khen rồi, mời chị dùng cơm kẻo đói.
Khoa nói xong thì ngồi ngay xuống ghế ở góc bàn và phân trần:
_Tụi này sống độc thân bao nhiêu năm, ăn đồ Úc hoài cũng chán lắm, nếu không biết nấu nướng chút đỉnh, chắc là ngán chết.
_Vậy mà Quyên tưởng qua Úc, sẽ không có cơm và thức ăn Việt Nam để ăn nữa
chớ! Không ngờ được ăn ngon như vầy.
Trung vui vẻ bảo nàng:
_Rồi em sẽ thấy, ở đây không thiếu món gì đâu em, mọi thứ đều được nhập cảng từ nhiều nước Á châu khác như: Thái lan, Mã lai, Việt Nam, Trung hoa, Nhật ....cái gì cũng có hết.
Nghe Trung nói, Quyên thấy sung sướng quá vì cảm thấy mình thật may mắn, mới bước chân đến đây, đã có sẵn ngôi nhà khang trang đẹp đẽ, TV, tủ lạnh, máy giặt, xe cộ, thức ăn, và cả bạn bè nữa... quả tình như lời Trung nói, hình như ở đây không thiếu thứ gì cả!
Ăn cơm dọn dẹp xong, cả bọn ra hiên nhà sau, ngồi ngắm trời mây bao la với muôn ngàn vì sao lấp lánh của bầu trời Nam bán cầu. Phong cảnh chìm khuất trong bóng đêm của những ngôi nhà dưới ngọn đồi, ẩn sau những bóng cây đứng im lìm trong ngôi vườn tĩnh mịch lặng lẽ, lờ mờ thấp thoáng ánh điện. Xa xa, hàng đèn đường chống sương mù vàng vọt, giăng mắc thoai thoải dọc theo hai bên đường, lẫn ánh đèn pha của hàng dẫy xe hơi, nối đuôi nhau, từ từ di động lên xuống trên những con dốc, trông rất ngoạn mục. Khung cảnh yên tĩnh trầm mặc, không khí lành lạnh thoáng mùi hương đêm thơm dìu dịu của lá bạc hà khô và cỏ dại. Vẻ um tùm rậm rạp cây lá của khu ngoại ô, lại khiến nàng nhớ gia đình và con hẻm cũ thân quen trơ trụi không một bóng cây. Con hẻm thường xuyên ồn ào tiếng cười nói và âm thanh của đủ các loại nhạc, tranh nhau phát ra cùng một lúc, từ những máy hát, ti vi của nhiều nhà trong xóm, lẫn tiếng động cơ của xe gắn máy rồ ga bình bịch bấm còi inh ỏi, chạy ra vào vang động cả xóm, làm cho con hẻm nhỏ nhộn nhịp sinh động với cuộc sống vội vàng, tất bật. Quyên thầm nghĩ: mọi thứ ở đây đều xa lạ, kể cả Trung và thứ ngôn ngữ mà chàng và Khoa đang thân mật, bận rộn nói chuyện rất nhanh với nhau, làm cô bỡ ngỡ vì chỉ nghe lõm bõm loáng thoáng được một vài chữ. Cô bỗng dưng nhận thấy mình_ chính là người khách lạ cô đơn, thừa thãi, đến từ một hành tinh khác, không biết đến bao giờ hoặc bao lâu nữa, mới được nhận và tự nhận nơi này là quê hương!
Mấy tháng sau thì Khoa dọn đi chỗ khác, không biết vì lý do gì? Khoa tìm được việc làm ở địa phương khác? hay đã chán cảnh phải ở chung với vợ chồng nàng, muốn tìm chỗ ở riêng? Lúc đầu, Quyên cứ tưởng Trung và nàng sẽ có nhiều thì giờ riêng với nhau hơn, do đó tình cảm vợ chồng sẽ mặn nồng thắm thiết hơn trước, nhưng nàng đã lầm.
Càng ngày, Trung như càng xa cách hơn với nàng. Chàng trở nên buồn bã lầm lì ít nói và thường đi làm về trễ vì nại cớ phải tham dự những cuộc hôi họp hay thuyết trình bất thường sau giờ làm việc, làm những bữa ăn nguội lạnh chỉ lẻ loi đơn độc có mình Quyên. Những khi có nhà, chàng cũng thường cặm cụi soạn chương trình bài vở, lui cui ôm chiếc máy điện toán đến nửa khuya, làm Quyên không đợi chồng được, phải đi ngủ trước một mình.
Nửa đêm thức giấc, không thấy Trung bên cạnh, nàng lồm cồm thức dậy đi tìm Trung, thì thấy chàng đã ngủ say vùi trong căn phòng trống mà dạo trước Khoa ở. Cũng có hôm cuối tuần, anh trở về nhà say khướt, nồng nặc mùi rượu, mắt đỏ hoe bơ thờ như đã khóc lóc với ai rất lâu trước đó, anh không buồn nhìn mặt nàng và chẳng nói năng lời nào với Quyên khi nàng sửng sốt ra mở cửa. Tuy không yêu Trung nhưng nàng rất đau lòng, thắc mắc không hiểu chuyện gì đã
xảy ra? Trung đang có người yêu khác, nên muốn bỏ nàng? Hay chuyện gì rắc rối đã xảy ra trong sở, khiến Trung phiền não khổ sở như thế? Dáng dấp thiểu não thảm hại của Trung, có vẻ như chàng đang đau đớn khổ sở vì bị người yêu phụ bạc bỏ rơi, hơn là vẻ đau buồn, thất vọng của kẻ sắp bị mất việc. Cô hối hận ngao ngán vì đã không biết gì nhiều về tánh tình và đời tư của Trung. Cô nhận thấy mình vẫn duyên dáng trẻ trung, tràn đầy sức sống, nhưng hình như vẻ tươi đẹp của nàng, chỉ khiến Trung lạnh lùng tránh né, như đang muốn ruồng rẫy trốn chạy nàng, khiến cô buồn phiền tủi thân muốn rơi nước mắt, nhưng cố gắng nhẫn nại chịu đựng vì chung quanh cô, trơ trọi không người thân thiết, chẳng thể hó hé bày tỏ cùng ai. Trước khi lấy Trung, nàng đã dọn sẵn lòng để chấp nhận sống một cuộc sống hôn nhân chỉ vì bổn phận, thế nên cô không vì lý do này, mà muốn chia tay với Trung. Cũng chẳng phải cô sợ Trung bỏ cô, thì cô sẽ không được phép để ở lại Úc, nhưng Quyên biết Trung là người rất nhân hậu và đối xử với cô rất tốt. Trong thời gian đang đợi qua Úc, anh đã gởi nhiều tiền về Việt Nam để giúp đỡ cô và gia đình, lại cố gắng hết sức để bảo lãnh cô sang đây, không lẽ nào, bây giờ anh lại muốn cô, lâm vào cảnh nửa khóc nửa cười, sống không được mà chết cũng không xong hay sao? Nghĩ vậy, nên cô cứ lủi thủi sống hờ hững bên cạnh Trung, hằng ngày lặng lẽ săn sóc, cơm nước, giặt giũ, làm đầy đủ bổn phận của người vợ hiền, ngắm nhìn chàng đi đi về về, bần thần xa cách bên cạnh cuộc đời buồn tẻ cô quạnh của nàng. Ấy vậy mà trớ trêu thay, giữa lúc tình hình gia đình nàng rối ren bất ổn như vầy, Quyên lại khám phá dường như nàng đã có thai với Trung.
Một buổi sáng đầu tuần lễ Trung đã đi làm, Quyên đón xe Bus đi xuống phố để khám bác sĩ vì dạo này cô không được khỏe và để thử thai luôn thể. Ngồi cạnh nàng là vài người Việt, nghe cách họ nói chuyện, nàng biết chắc họ đã định cư lâu lắm ở Úc. Thôi thì chuyện ông này bà nọ, con cái của ai hư hỏng, hay đỗ đạt trong thành phố, đều được họ xầm xì nhắc đến, làm Quyên ngồi cạnh, cũng phải bị bắt buộc lắng nghe. Ðến khi xe bus dừng lại ở trước dãy phố nhỏ để đón thêm khách, cô sững sờ giật mình, khi nhìn thấy gương mặt khả ái cùng mái tóc nhuộm vàng nâu và thân hình dong dỏng cao của Khoa, người bạn chung nhà với Trung dạo nào, đang thân mật ôm eo của môt người thanh niên khác, âu yếm sánh vai nhau rảo bước trên phố. Cô cảm thấy nghẹt thở, tối tăm mặt mũi và hình như đã rơi xuống sàn xe, lăn tòm, bềnh bồng trong khoảng không của một vực sâu không rõ đáy.
Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội.
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...
Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứu.
Tác phẩm chọn lọc:
Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)
DÂN CA PHÁT TRIỂN
Cũng trong dòng nhạc tình ca quê hương, nhạc tình tự dân tộc soạn theo nhạc thuật dân ca phát triển, sau khi đưa ra bộ ba BÀ MẸ QUÊ-VỢ CHỒNG QUÊ-EM BÉ QUÊ... tôi phát triển một câu ca dao cổ thành một bài dân ca mới.
ÐỐ AI
(Saigon-1954)
Ðố ai biết lúa, lúa mấy cây
Biết sông, biết sông mấy khúc
Ới biết mây, biết mây mấy từng
Biết mây mấy từng (ư ừ ư ư)
Ðố ai quét sạch ơi lá rừng
Ðể, để tôi
Ðể tôi khuyên gió ơi gió đừng
Gió đừng rung cây
Gió đừng rung cây.
Ðố ai biết gió, gió ở đâu
Gió hay, gió hay đi vắng ới lúc nao
Lúc nao có nhà
Lúc nao có nhà (a à a a)
Ðố trăng mấy tuổi ơi trăng già
Ðể, để tôi
Ðể tôi lên tiếng ơi mặn mà
Mặn mà yêu em
Mặn mà yêu em (á a a à)
Ðố ai nằm ngủ không mơ
Biết em nằm ngủ hay mơ
Nửa đêm trăng xuống
Ðứng chờ ngoài hiên
Nửa đêm anh đến
Bến bờ yêu đương
Ðố ai tìm được tim ai
Biết em tìm được tim tôi
Ðể tôi ca hát cho đời nên thơ.
Ðể tôi âu yếm dâng người trong mơ...
Với bài ÐỐ AI, tôi cải biến điệu hát du trong Hát Ả Ðào thành bài tình ca có tính chất dân ca. Kế tiếp, tôi dùng nhạc ngũ cung giọng Huế để kể một câu chuyện tình buồn, giống như chuyện Ngưu Lang Chức Nữ.
HẸN HÒ
(1954)
Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chẩy về đâu
Một người ngồi đây trông hoa trôi theo nước chẩy phương nào
Trời thì mưa rơi mưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đau
Người thì hẹn nhau sang sông mong cho chóng tạnh mùa Ngâu.
Cuộc đời làm cho đôi bên yêu nhau cách một biển sâu
Hẹn hò tàn Thu sang Xuân bên nhau biết thuở ban đầu
Dù tình không nguôi, đôi ta xin cho hứa vui về sau
Trời còn làm cho mưa rơi mưa rơi cách biệt dài lâu.
Nước vẫn trôi mau ! Mắt vẫn hoen mầu
Ðành để hồn theo nước trôi không mầu
Số kiếp hay sao? Không cho bắc cầu
Thì xin sông nước sẽ cho gần nhau.
Một người bèn ra ven sông buông theo nước cuồn cuộn mau
Một người chìm sâu trong khi mưa Ngâu bỗng ngừng ngang đầu
Cuộc tình thương đau êm êm trôi theo nước suôi về đâu
Hẹn hò gặp nhau Thiên Thu cho phong phú đời người sau.
Nhưng phải đợi khi có ký kết tại Hoà Hội Geneve thì thể tài dân ca phát triển của tôi mới có chỗ đắc dụng. Hai bài NGÀY TRỞ VỀ và NGƯỜI VỀ được viết ra trong thời gian tôi qua Pháp để học thêm về âm nhạc.
NGÀY TRỞ VỀ
(Ấn Ðộ Dương-1954)
Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về
Mẹ lần mò, ra trước ao
Nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ
Tiếc rẵng ta đôi mắt đã loà vì quá đợi chờ
Ngày trở về, trong bếp vui
Anh nói chuyện nghe: chuyện đời chiến sĩ
Sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê
Chiều lặn tà, anh bước ra
Vườn khuya sáng mờ, ruộng đất hoang vu
Luống nghẹn ngào, hẹn sớm tinh mơ anh về đồng lúa.
Ngày trở về, có anh nông phu chống nạng cầy bừa
Vì thương yêu anh nên ngày trở về
Có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ
Ngày trở về, lúa ngô thi nhau hát đùa trước ngõ
Gió mát trăng thanh, ôi ngày trở về
Có anh thương binh sống đời hoà bình.
Ngày trở về, những đoá hoa
Thấm thoát mười năm nhớ anh vắng xa
Có nhiều khi đời hoa chóng già vì thiếu mặn mà
Ðàn trẻ đùa bên lũ trâu
Tiếng hát bình minh thoáng trên bãi dâu
Gió về đâu, còn thương tiếc người giọng hát rầu rầu.
Người kể rằng : Ai hỡi ai
Ai nhớ chuyện ai, chuyện người con gái
Chiến binh ơi, vì sao nát tan gia đình yên vui
Ðừng giận hờ, thôi tiếc thương
Vì Xuân đã về trên khắp quê hương
Chớ thẹn thuồng vì nếu tôi quen em ngoài đồng vắng.
Ngày trở về, có anh thương binh lấy vợ hiền lành
Người đẹp bên anh, ta cùng học hành
Những khi tan công, hết việc, xếp gánh
Ngày lại ngày có em vui tươi xách gạo bếp nước
Có nắm cơm ngon, ôi trời lạnh lùng
Có đôi uyên ương sống đời mặn nồng.
Với bài NGÀY TRỞ VỀ đây là lần thứ hai tôi nói tới nhân vật thương binh. Vào năm 1947, người Việt Nam nào đã từng là "chàng ra lính, nơi biên khu tung hoành" thì khi trở về "nay đã cụt tay" ắt phải được toàn dân kính phục và biết ơn. Một thập niên sau, khi hoà bình tới với hoà hội Geneve, sau cuộc chiến, lại có anh thương binh trong ngày trở về quê cũ. Phải "chống nạng cầy bừa" và bây giờ anh chỉ còn "con trâu xanh hết lòng giúp đỡ" mà thôi. Nhưng trong nước ta, có lúc nào chiến tranh chấm dứt đâu? Mười lăm năm sau, ta vẫn còn thấy hình ảnh nổi bật của người thương phế binh, lần này thì hoặc là anh "trở về trên đôi nạng gỗ" hoặc là anh "trở về hòm gỗ cài hoa". Tôi luôn luôn thích làm những bộ ba như vậy.
Tôi soạn bài NGƯỜI VỀ trong một đêm đi lang thang trên vỉa hè của thành phố Paris. Ðây là sự vui mừng của những nhân vật người mẹ, người vợ và đàn con trong bài NHỚ NGƯỜI RA ÐI mà tôi đã soạn ra trong thời kháng chiến.
NGƯỜI VỀ
(Paris-1954)
Me có hay chăng con về
Chiều nay thời gian đứng im để nghe
Nghe gió trong tim chàn chề
Nụ cười nhăn nheo bỗng rưng lệ nhoè
Con thấy me yêu đã già
Hẳn là miền quê những năm vừa qua
Chiếc bóng in trên vách nhà
Một ngày một đêm tóc sương phai mờ.
Me ơi, me ơi, chuông chùa nào la đà
Nhớ tới, nhớ tới những linh hồn vắng nhà
Một vòng hương trắng xoá
Tình nồng trong thương nhớ
Gửi người chiến sĩ chết trong xa mờ.
Thoạt nhìn người yêu ngỡ trong mộng mê
Ai dám mong chi Xuân về
Nào ngờ vườn đêm có bông hoa kề
Anh nhớ những khi não nề
Sầu trên nẻo xa chắn ngang đường đi
Nhưng nước non chưa yên bề
Thì đành tình riêng gác bên lời thề.
Em ơi, em ơi, xích lại gần đây nào
Nhớ tới, nhớ tới những duyên và số nghèo
Trời làm cơn mưa bão
Tình người như tơ liễu
Buồn vì ai đó khóc ai trong chiều.
Con có hay chăng cha về
Lời ca hồn nhiên líu lo ngoài kia
Chinh chiến đã qua một thì
Tu-oi thơ nở trên biết bao ê chề
Thôi đã hết cơn chia lìa
Từ nay mầm non lớn trong tình quê
Như gió Thu sau tháng Hè
Thổi về ruộng nâu lúa tươi xanh rì.
Con ơi, con ơi, tiếng cười nở chan hoà
Nhớ tới, nhớ tới biết bao trẻ thiếu nhà
Ngoài đường trời Ðông giá
Một đàn chim nhỏ bé
Gọi về chia sớt miếng cơm khoanh cà.
Ngay từ khi tôi còn ở Paris vào năm 54-55, tôi đã khởi soạn Trường Ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN để phản đối sự chia cắt đất nước do Hoà Hội Genève gây ra.
PHẦN I, gồm những đoản khúc như Hỡi Anh Ði Ðường Cái Quan, Tôi Ði Từ Lúc Trăng Tơ, Ðồng Ðăng Có Phố Kỳ Lừa... đã soạn xong, nhưng tôi chỉ hoàn tất trường ca này sau bốn năm thai nghén. Trường ca, theo tôi là bước tiến của dân ca. Nhưng bài dân ca mới TIẾNG HÒ MIỀN NAM được soạn ra ngay từ khi có làn sóng người miền Bắc di cư vào miền Nam mang hơi hướng của những bài sẽ nằm trong PHẦN III của trường ca kể trên.
TIẾNG HÒ MIỀN NAM
(Saigon-1956)
Nhà Bè nước chẩy chia hai
Ai về Gia Ðịnh Ðồng Nai thì về
Ai li hò lờ ! Ai li hò lờ !
Ðường về xứ bạn không xa
Qua vùng Ðất Ðỏ rồi ra Biên Hoà
Ai li hò lờ ! Ai li hò lớ !
Ai nghe chăng tiếng hò bao la
Những tiếng lòng di cư vẫy vùng theo gió
Ai nghe chăng tiếng người công phu
Biết tìm tự do tránh xa ngục tù
Ðường chiều gió thổi vi vu
Tình nghèo vẫn nở như hoa
Ai nghe chăng tiếng hò bao la
Những tiếng cười đôi ta, Nam Bắc một nhà.
Chiều chiều ngọn gió đẩy đưa
Mẹ hiền nựng bé ngủ mơ
Yêu con thơ mỹ miều
Yêu non sông rất nhiều
Vẳng lời hò mến yêu.
Nhà Bè nước chẩy chia đôi
Ai về dưới ruộng cùng tôi thì về
Ai li hò lờ ! Ai li hò lờ !
Ðường về nước chẩy trôi mau
Ðưa thuyền tới mũi Cà Mâu ta truyện trò
Ai li hò lờ ! Ai li hò lớ !
Quê em mãi tận Hà Tiên
Có hạt tiêu cay, có tình quyến luyến
Theo em tới miền Cần Thơ
Dưới hàng dừa cao trái thơm ngọt ngào
Ruộng đồng lúa trổ bông mau
Lạch nguồn cá lội xôn xao
Ðêm hôm nao gió về biển khơi
Cuốn mối tình muôn nơi, xe kết đôi người.
Ngày nào cạn nước Ðồng Nai
Ngày nào cạn nước ngoài khơi
Non sông ta xoá mờ
Không ai nghe tiếng hò
Thì lời nguyền mới phai...
Trong thời kỳ phát triển dân ca này, tôi còn cải tiến bài dân ca cổ truyền CÁI TRỐNG QUÂN thành bài TÌNH TỰ TIN dùng làm nhạc đệm cho một màn vũ của ban Hoàng Thư, và hiện đại hoá bài TRẤN THỦ LƯU ÐỒN cho ban AVT hát. Ðồng thời tôi cũng dùng lại một số điệu của những bài dân ca kháng chiến cũ để soạn những bài hát cho thiếu nhi như BÌNH DÂN ÐI HỌC, THI NHAU CHĂM HỌC.
Bài THI NHAU CHĂM HỌC nguyên là bài THI ÐUA ÁI QUỐC tôi soạn tại Thanh Hoá khi còn làm việc với Tướng Nguyễn Sơn. Lời ca nguyên thủy :
Cùng nhau thi đua ái quốc
Trên đường tự do đều bước
. . . . .
Anh có cây súng kia
Thì tôi có bàn tay thợ
Anh có cây cuốc này
Thì tôi có một cây đàn
Anh giết bao thực dân
Thì tôi cướp bao súng đạn
Anh có bông lúa vàng
Thì tôi có ngàn lời ca !
THI NHAU CHĂM HỌC
(Saigon-1955)
Học sinh đua nhau tiến tới
Ra trường học chăm học mãi
Trẻ thơ siêng năng hăng hái
Nhớn lên đắp xây cuộc đời.
Anh lớn hay làm thơ
Thì em biết đọc i, tờ
Me mến yêu đứng chờ
Nhìn em với bạn vui đùa
Anh biết chăm ruộng nương
Thì em biết chăm đến trường
Cơn gió lên cuối đường
Mừng em sống đời trẻ măng.
*
* *
BÀI CA XÃ HỘI
Sau khi có dân ca kháng chiến, dân ca hậu kháng chiến và dân ca tình ca rồi, bây giờ tôi soạn dân ca xã hội.
Vì tôi thích làm những "bộ ba" cho nên sau khi đã soạn bài dân ca nói tới mối tình của đôi VỢ CHỒNG QUÊ sống đời lam lũ ở miền ngoài với những nét nhạc ngũ cung xứ Bắc, tôi soạn thêm một bài dân ca khác mang âm hưởng hơi điệu Huế là TÌNH NGHÈO (theo thơ của Hồng Nam tức Hồ Hán Sơn), nói tới mối tình vợ chồng của những người lao động ở nơi miền Trung sỏi đá.
TÌNH NGHÈO
(theo thơ Hồng Nam)
(Saigon-1954)
Hò là hò lơ ! Hò là hò lờ !
Hò là hò lơ ! Hò là hò lờ !
Hò là hò lơ ! Hò là hò lơ !
Nhớ nhớ thuở nào
Anh (lơ) cầy thuê
Em (lơ) dắt trâu
Ðôi ta cùng (lờ) gặp nhau dưới cầu
Bóng mát dưới cầu.
Nhớ nhớ thuở nào
Anh (đây) làm công
Em (lơ) gánh rong
Miếng trầu cau (lơ) nên đôi vợ chồng
Ðôi vợ (à) chồng.
Cuối cuối nẻo làng
Túp (lơ) lều hoang
Che (lờ) gió sương
Ơn hai mùa (là) lúa chín ngô vàng.
Suốt suốt một đêm
Anh (đơ) cùng em
Dưới (lơ) bóng trăng
Tiếng chầy tre (lơ) cối đất nhịp vui.
Nhịp nhàng vui
Hô ! Nước từ ngàn trùng xa
Nước tràn về làng ta
Nước hờn cuộc tình quê
Hô là hò lơ !
Ruộng mầu tan vỡ
Vườn nghèo (lờ) xơ rơ
Cửa nhà (lờ) ngơ ngác
Ðôi (lờ) trẻ thơ
Ði (lờ) về mô
Hô ! Khói lửa ngụt trời mê
Bốc về ngàn nẻo quê
Kéo cuộc tình nghèo đi
Hô là hò lơ.
Giặc về (lờ) ta đánh
Giặc tràn (lờ) ruộng xanh
Tình nghèo (lờ) mỏng manh
Ðừng chia rẽ đôi lứa mình.
Lúc, lúc trở về
Quãng (lơ) đường xa
Anh (lơ) bước lê
Không may dù (là) mời anh cứ về
Anh hỡi anh cứ về
Cánh, cánh đồng quê
Vẫn (lơ) còn kia
Vẫn (lơ) lũy tre
Tiếng chầy tre đang mong người về
Mong đợi (ư) người về
Mái, mái nhà xiêu
Ánh (lơ) đèn khêu
Ðôi (lơ) lứa yêu
Mơ hai mùa (là) lúa chín ngô nhiều
Lúa chín ngô (ý) nhiều
Sớm, sớm ngày mai
Nắng (lơ) hồng soi
Nghe (là) khắp nơi
Tiếng cầy xe (lơ) cối máy nhịp vui
Nhịp nhàng vui...
Rồi tôi soạn một bài dân ca ngũ cung hơi Oán là bài HÒ LƠ nói tới đôi uyên ương nghèo của miền Nam. Cả ba bài VỢ CHỒNG QUÊ, TÌNH NGHÈO, HÒ LƠ đều có thể gọi là dân ca xã hội.
HÒ LƠ
(Saigon-1957)
Hò lơ ! Hớ lơ !
Lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ !
Hò lơ ! Hớ lơ !
Miền Nam nước Việt mến yêu
Có một miền quê rất nhiều đất sống
Tình quê như chín con sông
Nước trôi vào lòng đất cầy thơm nồng
Ðợi mùa lúa tốt trổ bông
Ðợi chàng, em đến làm công.
Miền Nam nắng từ sớm mai
Nắng xạm mặt ai, nắng về đêm tối
Trời xinh em trắng như bông
Cũng bởi em làm vất vả trên đồng
Ðược mùa lúa tốt hạt cơm
Gặt về cho bõ nhọc công.
Hò lơ ! Hớ lơ !
Lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ !
Hò lơ ! Hớ lơ !
Yêu em đôi mắt hạt huyền
Yêu làn tóc rối yêu liền nước da
Yêu em tấm áo thô sơ
Dãi dầu nắng mưa
Vẫn chưa phai mối tình.
Miền Nam đất giầu nước sang
Có một miền quê xóm làng thơm ngát
Ðời ta tuy thiếu xa hoa
Ðức Tin vẫn là mối tình trong lòng
Tình là ánh sáng tự do
Ðời là áo ấm miệng no
Yêu em đôi mắt hạt huyền
Yêu làn tóc rối yêu liền nước da
Yêu tấm áo thô sơ
Dãi dầu nắng mưa,
Vẫn chưa phai mối tình.
Hò lơ ! Hớ lơ !
Lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ !
Hò lơ ! Hớ lơ !
Bài ca xã hội lúc đó còn là bài PHỐ BUỒN, nói tới người lao động ở những khu nhà lá trong thành phố hoa lệ Saigon :
PHỐ BUỒN
(Saigon-1954)
Ðường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên
Qua mấy gian không đèn
Những mái tranh im lìm
Ðường về nhà em tối đen.
Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen
Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm
Em bước chân qua thềm
Mưa vẫn rơi êm đềm
Và chỉ làm phố buồn thêm.
Hạt mưa, mưa rơi tí tách
Mưa tuôn dưới vách
Mưa xuyên qua mành
Hạt mưa, mưa qua mái rách
Mưa như muốn trách
Sao ta chạy quanh.
Hạt mưa, mưa yêu áo rách
Yêu đôi sát nách
Mưa ngưng không đành
Hạt mưa, mưa gieo tí tách
Mưa lên tiếng hát
Ru cơn mộng lành.
Ðường về trong mơ đêm đêm phố lớn thênh thang
Ánh sáng kinh kỳ tràn lan
Ðời nghèo không riêng thương yêu bóng dáng Xuân sang
Yêu phố vui, nhà gạch ngon
Ðèn đêm không soi bóng vắng
Kinh đô thắc mắc
Im nghe phố buồn
Người đi trong đêm tối ám
Nghe mưa thức giấc
Khuyên nhau chờ mong.
*
* *
(còn tiếp nhiều kỳ)
Anh Yêu Dấu,
Hạ lại đến với chúng ta, những cơn nắng gắt khiến đôi má em
ửng hồng, đôi môi em thêm đỏ mộng, và em thèm có được một ly nước dừa
ngọt mát uống một hơi cho đã khát. Anh có còn nhớ, mùa hè năm xưa, hai đứa
cùng nhau rong chơi trên con đường có đầy lá me xanh và hàng phượng đỏ, em
ngơ ngác trước bức tranh đẹp của thiên nhiên.
Anh cười tình và hỏi : " Cô bé yêu anh hay yêu Phượng nè "
Em thẹn thùng trả lời: " Em yêu cả hai "
và anh lại chọc: " Cô bé tham lam quá đi, trái tim sao có nhiều lỗ đến thế
"Em phũng phịu trả lời: " Nhưng, cô bé yêu anh nhất cơ "
Anh cười đắc chí, và chở cô bé dừng trước một xe bán dừa, thưởng cho
cô bé 1 trái dừa tươi, ngon, ngọt, mát lạnh.
Vừa uống nước dừa, vừa được anh chở đi hóng gió, những cơn
gió Hạ, làm tóc em quyện vào vai anh, tưởng như trong vũ trụ này chỉ có 2 ta
với niềm hạnh phúc chan chứa nhất. Cho cô bé có cảm giác tình yêu trở nên
sôi động và nồng nàn hơn vì nhờ có những cơn nắng Hạ đun sôi, hấp nóng
tình chúng tạ
Cô bé đã uống hết một hơi trái dừa tươi, không biết làm sao vứt bỏ
phần vỏ còn lại, thế là anh đề nghị, anh sẽ chạy xe đến 1 thùng rác bên
đường kế tiếp, ( vì dài theo lề đường, có để những vỏ rác) sau khi anh
đếm 1, 2, 3 cô bé sẽ vứt nó vào, cô bé cười khúc khích, và bắt đầu lấy
làm thú vị vì sắp được tham gia vào một trò chơi bóng chuyền, thẩy banh vào
rổ.
Thế là tim cô bé bắt đầu trở nên hồi hộp và chờ mệnh lệnh của anh.
chúng ta chạy ngang qua 1 thùng rác, 2 thùng rác và đến thùng rác thứ 3 anh bảo:
" vứt nó vào mau lên " chuẩn bị tinh thần và chẳng may thay vì vỏ dừa rơi vào
thùng rác, nó lại rơi toạt ra ngoài và nằm lăn lóc trên mặt đường, thế là
anh lắc đầu, và cả hai cười ầm lên.
Chúng ta tiếp tục rong chơi như chú bướm vàng, dạo quanh khắp phố phường,
dừng chân nơi các quán hàng, quán cơm bà Cả làm ấm lòng hai đứa, gánh mít
thơm, hàng trái cây, hàng mực nướng, hàng hột vịt lộn, gánh chè xanh ven
đường tất cả đều là những thú vui, tạo nên một kỷ niệm ăn sâu vào tiềm
thức của hai đứạ
Tình yêu chúng ta hồn nhiên và giản dị như thế đấy, " Bên nhau ngày vui ",
tưởng chừng như mới hôm qua, như chú ve sầu, chờ anh trở về, để cùng cô
bé thăm lại hàng cây rũ bóng, đếm những cánh phượng hồng... Nhớ anh, và
nhớ anh vô vàn, cảm ơn anh đã cho bé một mùa hè khó quên...
Hạ say màu mắt môi em
Tình yêu thắm thiết êm đềm rũ chân
Phượng rơi ru giấc tình gần
Người ơi, xin hãy chia phần đến bên
-Dừng theo mây gió lênh đênh
-Dể Ve vang tiếng bắt đền tình nhân
Viết Cho Giao Mùa
July, 2003
Tôi xa đất Bắc gần nửa thế kỷ. Nhớ quê hương khôn tả. Càng lâu, càng xa, nỗi nhớ càng thêm mạnh mẽ. Do đó khi có thể về lại quê nhà được, tôi đã về ngay. Giữa sự lo âu và nỗi bất an, còn đầy những rung động vì những điều nhớ lại. Nhớ vô cùng, nhớ từ những cái chẳng đáng nhớ nhớ đi. Trước khi đi mấy hôm tôi có gọi cho nhà văn Võ Phiến. Ông ngỡ ngàng thấy tôi về Việt Nam thăm quê cũ. Ông nói rất thong thả như vừa nói vừa nghĩ, sợ có điều gì vội vã chăng. Ông bảo :” Ờ anh về...về thật à...”. Dừng lại khá lâu ông mới tiếp :” Ờ, anh chị còn trẻ, anh chị...Tôi, chà! chắc tôi không có cơ hội về thăm lại quê nhà quá...”. Câu chuyện đưa đẩy nói về một vài điều khác, bỗng chốc ông trở lại chuyện quê nhà:” Tụi nhỏ mới qua được đây. Trước khi đi chúng có về lại nơi quê nhà tôi Bình Ðịnh, thăm lại làng xóm cũ. Chà, thay đổi hết trơn. Cái nền nhà cũ nay có một gia đình nào đó cất một túp lều tranh... Chả nhận ra đưọc anh à...”
Nỗi nhớ thương quê cũ của nhà văn Võ Phiến đã lưu lại một góc kín trong lòng tôi. Tôi nhớ từng lời nói, từng đoạn ngập ngừng nơi ông. Trong cái không nói còn “ nói “ lên bao nhiêu điều xốn xang nhớ tiếc. Vì thế cũng thật tình cờ, ở Hà Nội, tôi có tiếp xúc được với một vài người bạn, những người am tường sinh hoạt văn học nghệ thuật trong mấy thập niên qua. Tôi hỏi:” Liệu ông Võ Phiến về thăm quê nhà lúc này được chưả” Người ấy cười, thật từ tốn, cúi đầu nói :” Chưa. Chưa được đâu “. Không đợi tôi hỏi thêm, người đó tiếp :” Ở đây người ta đánh giá Võ Phiến rất “nặng “. Họ coi ông ta như một vài tay lãnh đạo văn học Miền Nam trước đây và cả ngay bây giờ nơi hải ngoại”. Tôi lặng đi rất lâu, vì không ngờ một người viết văn như ông Võ Phiến lại được “ nhìn “ kỹ như thế và “ nhìn “ lâu như thế. Ðịnh hỏi thêm, nhưng thôi, thế cũng là quá đủ. Suốt mấy tuần lễ lưu lại Việt Nam, tôi cứ bị mấy lời nhận định trên đeo đuổi.
Tôi từ lâu vẫn đọc Võ Phiến. Hầu như tôi đã đọc hết các tác phẩm của ông từ trong nước cũng như tại hải ngoại. Ðiều trước hết là tôi gặp được ở ông một tâm hồn rất đỗi yêu mến quê nhà, nơi ông được sinh ra và lớn lên. Tôi theo vết chân chị Lê từ miền quê hương miền trung loạn lạc. Chị lấy chồng, bỏ chồng, vào nam... Tôi thấy ông tú Từ Lâm, một người từ thế hệ xưa cũ, đại diện cho cửa Khổng, sân Trình, coi lời của Khổng Tử như khuôn vàng, thước ngọc. Ông tú rồi cũng lưu lạc vào Sài Gòn, rồi gặp lại chị Lê... Câu chuyện của hai người xa quê gặp lại nhau, rồi là câu chuyện của đàn ông và đàn bà... Câu chuyện như thế tưởng như rời rạc, nhưng theo tôi, là những câu chuyện thực, những nhân vật thực ở xung quanh tác giả Võ Phiến. Ông đã liên tục kể lại suốt mấy chục năm như thế, gắn liền với vận mệnh nổi trôi của đất nước. Ông đã phả vào đó, qua những dòng chữ, nỗi xót xa của chính ông về số phận của quê nhà. Nay các người ấy là những ai, như chúng ta đã tan tác, đã tan tác tại quê nhà, tan tác tại khắp các nơi trên mặt địa cầu. Họ, như Võ Phiến, đã bồi hồi xúc động mỗi khi nhớ lại những ngày tháng cũ.
Võ Phiến, qua ngòi bút, ông đâu có dừng lại đơn sơ như thế.Ông thấy cái sai trái, cái bất nhân, tàn bạo của những người làm nên nỗi bất hạnh, chia lià. Ông còn thấy cả, thấy trước cái dụng ý thâm sâu và ác độc của những người chủ trương cuộc chiến. Ý tình ấy bao phủ qua bao nhiêu tác phẩm của ông. Nhưng cụ thể nhất, rõ ràng nhất lại là một bài viết ngắn lấy tên là Bắt Trẻ Ðồng Xanh. Bài viết đâu như được phổ biến vào năm 1968, nói về các cán bộ Việt Cộng, trước đó nhiều năm đã tìm mọi cách bắt đi các trẻ nhỏ tại miền quê Miềøn Nam, đưa ra Bắc. Các đứa trẻ ấy được tôi luyện, được hướng dẫn để trở thành những cán bộ trở về xâm nghập Miền Nam, tham gia cuộc chiến. Bài viết âý của ông Võ Phiến in thành sách, được thi sỹ Hà thượng Nhân dịch ra Pháp ngữ, phổ biến rộng rãi tại hội đàm Paris, sau đó được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác, gây sự chấn động sâu rộng trước diễn đàn quốc tế về sự hiện diện đầy gian trá của Cộng Sản Bắc Việt tại Miền Nam. Ông Võ Phiến, bằng tất cả lòng xót xa, nhân hậu, nhưng đã làm cho Hà Nội căm tức. Ông quả là qúa xá tinh tế. Họ sợ cái tinh tế ấy của ông. Và sợ là phải chứ.
oOo
Sau hai tuần lưu lại Hà Nội và về thăm lại quê cũ Sơn Tây, tôi đã trở lại Sài Gòn để nhìn lại nơi mà tôi đã có hơn 20 năm sinh sống. Tôi không đi bằng máy bay, tôi đã đi bằng xe hỏa, để có thể nhìn tận mắt quê hương dọc theo con đường số 1 từ Hà Nội vào Sài Gòn. Rời Hà Nội với bao nỗi xót xa. Anh tôi, các em tôi, các cháu tôi đưa tiễn. Tôi cầm tay từng người mà lòng phải tự trấn an “ cố, đừng khóc nhé”. Xe hỏa chuyển bánh. Ðây là con đưòng Thống Nhất, con đường chạy qua làng Hà Hồi, nơi trận đánh khởi đầu của quân Nam tiến ra, đại phá quân Thanh năm 1789. Con đường mà có lúc tôi đã vẽ ra trong đầu là mình sẽ từ Nam ra Bắc bằng con đường đó. Xe hỏa cứ chạy, quê hương, đất nước hiện ra tiêu điềụ..Các địa danh lần lượt trôi qua. Ðây là Thanh Hóa, quê hương của vua Lê, mở đầu một thời lẫy lừng, oanh liệt.Vinh, nơi nhận những quả bom đầu tiên của Không Lực Việt Nam Công Hòa, tưởng đã là tín hiệu mừng vui mở đầu cho cuộc Bắc tiến. Rồi Hà Tĩnh, Ðồng Hới. Hết điạ danh của phía trên vỹ tuyến 17. Bến Hải rồi Ðông Hà, những trận đánh tàn bạo, khốc liệt giữa quân hai bên Nam, Bắc. Nơi đâu là khúc đường oan nghiệt, Ðại Lộ Kinh Hoàng hồi Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972. Huế với những mồ chôn tập thể, ngập những tang thương, tàn bạo, chất ngất bao nỗi đớn đau, thù hận trong dịp Tết Mậu Thân, 1968.
Tàu hoả qua đèo Hải Vân. Từ đỉnh đèo nhìn xuống, những giải núi nhấp nhô ôm ấp Vịnh Hàn. Mặt nước êm xanh, thấp thoáng những con thuyền nâu nhỏ, những cánh lưới trắng căng ra mỏng manh như những màng tơ nhện, hiện lên trên một mặt gương. Hòn Tiên Sa và hải đăng quen thuộc trơ vơ. Gềnh đá sóng vỗ trắng xoá. Ở đó trước đây là Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải. Bây giờ mấy cầu tàu thẳng tắp, trống không, không một con tàu. Chính nơi này, bãi biển này, đúng một tháng trưóc khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 30 tháng 3 năm 1975, lớp lớp sóng ngươi trùng trùng tràn tới, xô bung ra biển. Những con tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà, rất đông bè bạn tôi làm Hạm Trưởng, ủi bãi, mở cửa đổ bộ, há miệng đón quân, đón dân. Một biển người trên bờ cát trào ra mé nước. Người tràn kín khắp lòng tàu thật mau, bu đặc cả những pháo tháp, những lối đi. Bỗng những qủa đạn trái phá từ đâu câu tới, nổ bùng ngay trước bãi, và quanh thân tàu. Những xác người tung lên cao, rơi xuống lả tả. Bãi biển bê bết thịt xương, nhòe nhoẹt máu. Tiếng kêu khóc, tiếng súng nhỏ, những tràng liên thanh, tiếng lựu đạn nổ bừa bãi đó đây. Cửa đổ bộ đưọc lệnh kéo lên, người vẫn bám vào như sung, rơi lã chã quanh tàu. Tàu không còn chỗ trống, đặc kịt những người. Tàu lùi, lùi mạnh để cố lết ra. Những qủa trái phá vẫn không ngưng, ào ạt câu tới, nổ tung giũa một biển người. Khói, cát mờ mịt. Chân vịt quay. Hai máy lùi, lùi hết. Nước xoáy cuộn ngược về phía trước ào ạt. Những thân người, những cánh tay, những đầu người, những mớ tóc bị cuốn hút trong xoáy nước chan hoà máu đỏ... Người bạn cùng khoá của tôi, sau này kể lại, đứng trên đài chỉ huy cao, vừa ra lệnh cho tàu lùi, tay nắm chặt vào thành ghế, cắn chặt môi mà nước mắt tràn ra đầy mặt...Một làn gió như từ mặt biển êm thoáng thổi về, đưa tôi trở lại với giây phút hiện tại của một người xa nước trở về thăm lại quê hương. Con tàu hoả xuống thấp dần, men theo Vịnh Hàn. Những hàng phi lao chắn ngang tầm mắt. Biển nhoà đi trong nắng vàng mênh mang, mệt mỏi. Ngực tôi nặng, và nước mắt ứ lên đầy mắt. Chợ Cồn và những tiếng người rộn rã gợi nhớ một thửa nào xa.
Tàu hỏa rời Ðà Nẵng xuôi nam. Tôi ngồi thu mình trong toa tàu, nhắm mắt để dằn những xúc động đang đột ngột tràn về. Trơì đã chiều. Quy Nhơn, là đất đai Bình Ðịnh, quê cũ của Quang Trung Ðại Ðế, cũng là nơi mà nhà văn Võ Phiến đã đước sinh ra, lớn lên và đã có bao nhiêu kỷ niệm ở nơi này. Ông đã đem bao nhiêu cảnh trí, con người của quê ông vào tác phẩm. Trời chưa tắt nắng, những rừng dừa bát ngát chạy qua, chạy qua. Tôi lấy máy ảnh chụp, nhưng chỉ ghi được một vài mái nhà nhỏ, leo lét mấy ngọn đèn buồn bã. Không biết nơi nào đích xác là quê hương của ông Võ Phiến. Nhưng chắc chắn là cảnh trí này, con đường này ông Võ Phiến đã từng đi qua và ông đã dùng làm bối cảnh cho bao nhiêu là truyện.
Ðặc biệt, với con người yêu quê hương tha thiết ấy, sau khi đã tung hoành mải miết bằng văn xuôi, Võ Phiến đã làm thơ. Lúc đầu Võ Phiến không cho in thơ, chỉ gưỉ biếu một số bạn bè. Ðọc thơ ông, ta thấy được những xúc động bồi hồi từ văn xuôi, như được tóm gọn vào thơ. Ðộ 40 bài thơ, viết từ năm 1943 ở quê nhà Bình Ðịnh, cho đến bài cuối, bài Hôm Qua, viết năm 1994, tất nhiên là viết tại Hoa Kỳ.
Năm 1975, khi rơi bỏ đất nước, trong nỗi bàng hoàng, ông đã viết :
Ra đi tuổi chẵn năm mươi
Năm mươi tuổi nữa nào nơi ta về
Ngàn năm mây trắng lê thê.
Bài thơ chỉ có ba câu. Câu cuối sáu chữ bỏ lửng như thế, như một sự bất toàn. Bất toàn cho cuộc sống, cho nỗi khắc khoải nhớ về quê cũ. Võ Phiến chưa về, chưa về được. Nhưng bây giờ tôi đi qua những rừng dừa, quê hương Bình Ðịnh của ông. Ðêm đang xuống. Ðồng xanh đã tím. Dừa bát ngát, âm u. Làng mạc nào xa. Nơi nào “ cách đây chừng một kiếp người”, người con trai tên Ðoàn thế Nhơn, tức Võ Phiến đã nói về mảnh “ vườn xưa “ vơí người bạn đời bằng những lời thật mềm, thật lạ và thật khéo :
...Một ngôi nhà
Hôm bắt đầu cuộc sống chúng ta
Em nhớ chứ ! cái đêm dài kỳ lạ.
Gió định đến, chợt ngập ngừng, rút lui êm ả ?
Suốt một đêm cây lá nén hơi.
Tàu chuối toan trở mình, nghĩ lại, bèn thôi
Trời gần sáng mới có mưa rón rén
Những sợi nhỏ li ti vừa rơi vừa thẹn.
Mảnh vườn xưa của ông nơi nào, tôi không biết. Qua bao dâu bể, giờ cảnh vật đã khác xưa. Võ Phiến biết thế, nhưng không biết nó thay đổi đến thế nào :
Trên mảnh vuờn xưa, giờ tan tác mây bay
Giờ nơi đó là gò hoang ? là ruộng lúa ?
Là hang cáo? Ngách chồn? lơ thơ cỏ úa
Giờ đêm đêm vò võ thâu canh
Trăng thẩn thơ gương con mắt lạnh tìm kiếm một mình
Từ cái “ hôm bắt đầu cuộc sống “ đến nay trải bao nhiêu mùa xuân nồng nàn, ân nghĩa, Võ Phiến nhớ lại, với tất cả bồi hồi :
Có ai ngửa cổ cười sung sướng
Cổ trắng ngần, ôi... muốn chết luôn
Có ai hất tóc qua vai âý
Mà đây xao xuyến cả tâm hồn...
Mê mệt nhường ấy, đắm say nhường ấy được nói lên ở cái tuổi “ cổ lai hy “, phải kể là đẹp lắm. Một cuộc tình chan chứa ân nghĩa. Cuộc sống âý đã tạo ra bao nhiêu tác phẩm quý báu cho nền văn học Việt Nam của Võ Phiến. Ðiều ấy bao nhiêu người đã biết, đã nói, đã viết . Bên cạnh những tác phẩm trên, ông bà Võ Phiến đã sinh ra, đã nuôi nấng một đàn con bốn người. Tất cả đều đã thành đạt. Sau biến cố 1975, những người con lớn kẹt lại, với rất nhiều khó khăn, tất cả bốn người con của ông bà Võ Phiến hiện nay đều đã đòan tụ quanh ông bà ở Cali, và đều đã hòan tất bằng cấp, nghề nghiệp tại Hoa Kỳ. Trước sự thành công này, tôi có hỏi ông Võ Phiến :” Anh là công chức, lương ba cọc, ba đồng, chắc chị phải làm gì thêm mới nuôi nổị..” Oâng Võ Phiến đáp :” Chúng tôi nhà nghèo, bà xã tôi hồi còn ở Việt Nam chỉ lo nội trợ. Các cháu học trung học ở Quy Nhơn. Khi tôi đổi về Sài Gòn, nhờ anh Doãn quốc Sỹ chuyển trường hộ. Thì cứ cơm rau, cốt no bụng là được, cố mà học, chứ còn cách nào tiến thân nữạ..”
Tôi muốn nói kỹ hơn về những cố gắng, những thành công này, nhưng ông Võ Phiến noí :” Việc nuôi con là trách nhiệm của những người làm cha mẹ. Nói ra có khi như là cách kể công... có lẽ không nên...” Chính những điều ấy càng làm cho tôi thấy được sự bình dị, khiêm cung nơi ông. Một người chồng rất mực yêu thương vợ. Cụ thể là cái bút hiệu Võ Phiến, nghe lạ chứ, nhưng đó chính là khuê danh của bà Võ Phiến được nói ngược lại mà thành. Cho nên bút hiệu của ông gắn liền với những tác phẩm lại chính là tên của bà ở một thời con gái. Thật không có sự yêu thương nào bền chặt như thế, ý nghĩa như thế. Lòng yêu mến ấy toả rộng là tình yêu người, yêu đất nước dàn trải trong hàng ngàn trang sách, thấm đẫm vào bao nhiêu tâm hồn người đọc, miệt mài trong mấy thập niên. Nghĩ thế, tôi phải dùng chữ của chính ông mà kêu lên rằng :” Ồ đằng anh, quá xá”.
Ở Miền Nam tự do, ông Võ Phiến còn là người được mời làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật, giải văn chương cao quý nhất của quốc gia, do Tổng Thống trao tặng. Ông đảm nhiệm công tác này nhiều năm, mặc nhiên được công nhận như một vị đàn anh, vừa có tài năng về văn học, vừa có tư cách và vô tư trong việc tuyển chọn. Ðiều này ông Võ Phiến đã rất khiêm tốn mà nói rằng:”Những người chọn giải, tiếng gọi phổ thông trên báo chí là những người giám khảo. Cụ Vy huyền Ðắc đề nghị dùng một danh từ chính xác là Hội Ðồng Tuyển Trạch Giải Thưởng. Như thế nghe vừa khiêm tốn vừa đúng nghĩa hơn. Vì có thi cử, có khảo thí đâu mà làm giám khảọ”
oOo
Một cách tổng quát, nhắc đến Võ Phiến là nhắc đến tiểu thuyết. Vì ông viết loại này nhiều nhất và tất nhiên rất đạt. Mấy chục tác phẩm đã được xuất bản. Nhưng với tôi, tôi nghĩ khác. Nét đặc thù nhất của Võ Phiến là Tuỳ Bút. Tuỳ Bút là một loại văn phóng túng, không cần viết dài, nhưng không phải là dễ viết. Vậy mà Võ Phiến đã viết tuỳ bút khá nhiều. Vào thế giới của Võ Phiến, với tôi là lạc vào một vùng trời của những điều tưởng là đơn giản, tầm thường, lại hoá ra thật là kỳ thú. Qua tuỳ bút, Võ Phiến đưa ta lang thang từ vùng này qua vùng khác. Ta vừa ở trên vùng cao nguyên, với núi cao, cây cối bạt ngàn, bỡ ngỡ với những thổ âm xa lạ, ông lại đưa ta về một vùng “ đồng không mông quạnh... Những đám khói đốt ở chân trời trong nắng trưa, sao mà xúc động cảm hoài... những đám khói ấy ùa lên trong giấc mơ. Và giấc mơ, không gian mênh mông lại càng vắng lặng, khói tỏa càng chậm, càng bát ngát...” Thật chẳng có gì, thật đơn sơ, nếu không nói là nghèo nàn cô quạnh, nhưng ta thấy như khói cay đầy mắt và thương quá quê hương, đất nước mình.
Ở một chỗ khác, Võ Phiến như cười cợt, nhưng lại rất chi tiết cho ta biết các cụ, ông cha ta ở cuối thế kỷ trước đã ăn mặc ra sao :” Người nghèo khổ chỉ có manh áo cánh và thường thì đóng cái khố... Người sung túc thì mới có vài cái áo nâu đen và vài cái quần hoặc nhuộm nâu, hoặc để trắng.” Ông trích dẫn lời của Lệ Thần, Trần trọng Kim và đã nêu lên như thế. Ở một chỗ khác, ông lại nói về vẻ đẹp của cái áo dài của phụ nữ Việt Nam một cách thật tinh vi và cũng thật là dí dỏm :” Nhìn vào một người nữ mặc áo dài, sau khi bị khích động vì cái phần trên, mắt lần dò xuống, thì ở phần dưới lại chỉ thấỵ..gió.” Thật thế, cái duyên dáng của tà áo dài là lúc người mặc nó đi lại, tà áo lúc khép lúc mở, lúc cuống quýt, lúc lả lơi bay, để phần thân yêu kín đáo như mời, như giữ, như vui, như thẹn và chính là gió đã lay động tài tình, tinh quái tạo nên.
Võ Phiến đã viết về cái mặc mà không quên cái ăn, cái uống. Ðiều nào dưới bút pháp của ông cũng trở nên duyên dáng, quyến rũ lạ lùng. Mà biết ăn là biết dùng gia vị, nên “ăn” ở Võ Phiến bắt đầu từ “ ăn mùi”. Ông đã “ Theo Chân Món Ăên “từ Bắc vô Nam, ra Huế. Ông nói đến nhiều thứ lắm, nhưng ông không quên cái bánh tráng nhỏ mà dân Bình Ðịnh quê hương ông ăn thay cơm. Cái bánh tráng đơn sơ ấy còn được coi như một thứ lương khô mà đoàn quân dũng mãnh cuả Quang Trung Ðại Ðế đã sử dụng trên đường tiến quân ra Bắc, đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm 1789. Cứ mỗi món ăn ông tả, tôi lại phải gấp sách lại để cười một mình. Món ăn tầm thường của người Việt mình sao mà ngon thế, và ngon hơn hết là bút pháp của ông. Xin quý vị hãy cùng vơí Võ Phiến ghé quê hương ông để cùng thưởng thức một thứ chè ( trà ) rất lạ :” Anh Ba Càng Cua mỗi sáng nhất định phải điểm tâm một bát thật đậm rồi mơí ra đồng cày bừa được, mà hễ đã uống nước rồi là khỏi cần ăn ; ông Tư và ông Tam Khoang vẫn cầm cự nhau suốt ba mươi năm nay: Ông này mỗi lần hai bát thì ông kia cũng vẫn cũng giữ vững đủ hai bát mỗi lần ; ở làng kia có người uống một lượt đến ba bát Bài Thơ; thôn kia có ông lão hai bát gặp được chàng trai hai bát rưỡi, lấy làm khoái, gả ngay con gái cưng chọ..”. Gớm thứ trà gì mà lạ lùng, quyến rũ thế. Phải mở ngay Tuỳ Bút cuả Võ Phiến ra mà đọc lại bài “Hạt Bọt Trà “ mới thâý được sự sảng khoái của người dân Bình Ðịnh uống trà, “ uống một hơi bảy chén, đến nỗi gió dậy dưới nách ào àọ..” Khiếp quá ! uống trà đến lúc “ gió dậy dưới nách ào ào “, tôi chưa thấy ở đâu như thế. Quê tôi, Sơn Tây, cũng có thói uống nước chè tươi, cũng uống cả bát lớn. Uống rồi mồ hôi vã ra như tắm thì có, chứ chưa thấy ai uống nước chè mà gió lên ào ào từ nách. ( Thực ra Võ Phiến muốn nhắc đến câu thơ danh tiếng của Lư Ðồng, bài Thất Uyển Trà: Thất uyển khiết bất. Duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh. )
Còn bao nhiêu điều nữa mà ông Võ Phiến đã liên lỉ viết lại qua thể tuỳ bút. Nhiều lắm. Lúc còn ở quê nhà, tôi có nhiều khi lênh đênh trên biển, thơì gian thừa như vô hạn. Sau những phiên hải hành, không ngủ được, lật tờ Bách Khoa ra, theo chân Võ Phiến, thật là thích. Mình không có cơ hội lân la nơi này, nơi khác, chỉ đọc Võ Phiến, Tuỳ Bút mà như được thấy tất cả, thật tỉ mỉ và cũng thật là hữu ích. Bây giờ xa đất nước quá, những cái tưởng như chẳng đáng nhớ âý, đọc lại Tuỳ Bút cuả Võ Phiến, còn thích thú hơn nhiều. Từ thói quen ghi nhận, ông đã để cho chúng ta một kho tàng. Ông quả là một người yêu người và yêu quê hương lắm lắm.
Vậy mà đã hết đâu. Từ 1975 đến nay, chúng ta lạc loài ra xứ lạ, không thiếu những người vì không thích ứng với hoàn cảnh mới, đã trở nên hỗn loạn. Hỗn loạn tinh thần và hỗn loạn gia cảnh. Trong hoàn cảnh ấy, ai giữ được gia đình êm ấm đã là quý lắm. Cũng từ hoàn cảnh này, trong cộng đồng người Việt chúng ta, bỗng bùng lên một nhu cầu bày tỏ tâm tư mà hiện tượng rừng báo nổ ra ở khắp mọi nơi có đông đảo người Việt cư ngụ. Ông Võ Phiến, với một tâm hồn nhạy cảm, với khả năng sử dụng ngòi bút tinh tế như thế, mà ông không làm báo. Ông lại làm công chức cho sở thuế, một việc chẳng liên hệ gì đến văn chương. Bà Võ Phiến, vốn là một người nội trợ, như ông tiết lộ, lại làm việc trong văn phòng luật sư đằng đẵng trên 20 năm. Thật lạ. Nhưng sau những giờ cặm cụi vơí hồ sơ, vơí công việc để chu toàn cuộc sống, ông Võ Phiến vẫn không quên cái nghiệp, hay trách vụ cuả một nhà văn. Ông vẫn viết đều : Thư Gưỉ Bạn, rồi Lại Thư gửi Bạn. Trong những lá thư gửi bạn ấy, đã chất chứa những nỗi niềm của người Việt trên đất tạm dung. Những bàng hoàng, xa lạ. Những u uất nhớ nhung. Nỗi đắng cay lồng trong sự tủi mừng được sống trong môi trường tự do, dân chủ và no ấm cùng bao nhiêu điều bỡ ngỡ, khó khăn. Khó khăn từ lời ăn tiếng nói, từ cách cư xử với người xung quanh. Với những thế hệ sau, lớn lên ở đất nước người, chúng như những con cá bơi trong hồ nước rộng. Nhưng sẽ có lúc chúng soi gương để biết chúng, dù thế nào, cũng khác với những người dân bản xứ. Chúng sẽ tự hỏi : Ta là ai. Ông cha ta đã đến đây khi nào, ra sao... Lúc ấy, những ghi nhận tưởng như đơn sơ trong Những Lá Thư Gửi Bạn, sẽ là chìa khoá cho con cháu chúng ta tìm về với cội nguồn, nếu chúng còn có chút quan hoài, băn khoăn tìm hiểu. Những lá thư đơn sơ ấy sẽ quý báu biết là bao nhiêu.
Viết lách như thế dù thế nào cũng chỉ tuỳ thuộc vào cái nhìn, cái thấy rất đỗi chủ quan của tác giả, có thể đúng, có thể sai, có thể thiếu sót, mặc “ Ấy tôi thấy thế nào thì viết thế ấy”. Rồi đùng một cái ông Võ Phiến cho Nhà Văn Nghệ in cuốn Tổng Quan 20 Năm Văn Học Miền Nam. Ðiều này phải nói là rất đỗi ngạc nhiên. Thời gian đâu, tài liệu nào khiến ông làm được công việc ấy. Ðây đâu phải chuyện chơi. Phải nói có sách, mách có chứng. Vậy mà nó đã thành. Cuốn sách ấy đã được một người bạn văn kiêm hoạ sỹ, Võ Ðình dịch ra Anh ngữ. Nhờ đó, cuốn sách như có cánh bay xa, nhiều thư viện Mỹ, Úc, Pháp mua, lưu trữ và nghiên cứu. Và tất nhiên nó cũng theo chân người Việt về đến quê nhà, gây nên những xốn sang, tìm hiểu của rất nhiều ngườịRiêng Ðại Học Úc đã dùng cuốn sách này làm tài liệu giảng huấn về Văn Học Miền Nam. Nhân buổi họp mặt cuối năm tại nhà thi sĩ Trúc Chi, hôm 29 tháng 1 năm 1995, tôi có nêu thắc mắc này, ông nói :” Tiếng nói của cả Miền Nam thể hiện qua hơn 20 năm văn học phải đưọc giữ lại chứ. Lúc này họ ( Cộng Sản Hà Nội ) cả vú lấp miệng em. Nhưng tài liệu mình cụ thể, mình chịu khó sưu tầm, lưu giữ, sau này sự thực sẽ có ngày sáng tỏ.”Tôi vẫn băn khoăn, hỏi :” Anh làm việc này khi nào, ông tiếp :” Tôi có biết uống rượu đâu, già rồi, đi lại cũng ngại, nên chỉ còn cái thú đọc sách, nhờ đó tôi cũng đọc được nhiềụ.” Ôi, công tác to lớn như thế, cụ thể như thế, ông đã lặng lẽ làm việc một mình. Thật là kiên trì, nhưng cũng đầy can đảm. Can đảm vì ông đã không ngần ngại đưa ra những nhận định rất đanh thép đối với một số tác giả, tác phẩm. Những người ấy là những người từng sinh hoạt với ông, quanh ông, là những bè bạn thân quen từ nhiều năm trước cũng như sau này ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Năm 1986, cuốn “ Tổng Quan “ trong bộ “ Văn Học Miền Nam” ra đời.
Sau khi tác phẩm này được phát hành, ông Võ Phiến phải liên tiếp mấy lần vào nhà thương giải phẫu tim. Phải chăng qua những lần kề cận với nguy nan, giáp mặt vơí tử thần, khiến ông có những tư tưởng xa lià cuộc sống :
Ta nằm trong đất cười ra
Tan hoang nhân thế những ta cùng người
Ta nằm lòng đất ta cười.
Ghê quá. Lời thơ ông như vẳng lên từ trong phầøn mộ.Nhưng nghĩ cho cùng, chính những câu thơ buồn bã này, ở một góc cạnh khác lại là cách yêu đời quá đỗi. Vì yêu đời nên lo cho đời quá. Không phải ông lo riêng cho thân phận người Việt mình, có lúc ông lo cho cả loài người, cho cả nhân loại ở thế kỷ 21 tới đây và hàng ngàn năm sau đó. Ông đã thổ lộ :
Chính phen này, chính thiên niên kỷ tới đây
Sẽ quyết định sự mất còn của loài người và quả đất
Ôi quả đất cứ mỗi ngày mỗi chật
Mỗi xác xơ, bẩn thỉu, mỗi bơ phờ
…
Nghìn năm nữa, người bao nhiêu trăm tỷ
Muôn vật không còn, năm châu bốn bể
Quờ tay ra người toàn chạm phải người
Biết lấy gì ăn, biết lấy gì nuôi
Ông lo như thế có quá đáng lắm không. Có lẽ ông đã lo xa quá thật. Nhưng dù thế nào đó cũng chỉ là những dự phóng để lo âu.
Suốt cả mâý chục bài thơ hoàn tất ở cái tuổi tưởng chẳng ai có quyền đòi hỏi ở ông gì nữa, nhưng chúng ta vẫn gặp được nhiều bài thật hay, thật tha thiết, chan chứa những mặn nồng, những lo toan cho người bạn đơì, khi nghĩ về nỗi cô quạnh cuả nhau. Ông viết thật ngậm ngùi :
Ta nằm thừa thãi giữa đời
Nghĩ em thừa thãi đứng ngồi nơi nao.
Ðến đây ta thấy tấm lòng của nhà văn Võ Phiến mở ra thật đôn hậu, với người thân, kẻ sơ và với cả mọi người. Việc đời với ông có thể coi như một làn gió thoảng. Do đó tôi đã kết thúc bài viết với những lời sau:
Thưa anh Võ Phiến,
Xin anh hãy thảnh thơi an hưởng tuổi già. Sự hiện diện của anh trong cuộc sống là một tấm gương trong sáng. Ðược nhìn anh đi lại, nói cười, được nắm bàn tay ấm áp của anh, với tôi, và tôi nghĩ, nhiều bằng hữu và độc giả bốn phương, đều rất lấy làm vui sướng . Anh như một cây thông mọc trên đỉnh núi, gió thổi trùng trùng, nhưng thân cây vẫn thẳng, cành lá lúc nào cũng rất xanh tươi, tỏa bóng mát rộng lớn cả một vùng .
Tôi xin dừng bài viết ở đây với cả một tấm lòng quý trọng.
(Tôi cũng đã ghi ngày hoàn tất bài viết này: 24 tháng 4 năm 1995.).
oOo
Nhưng không, trong lặng lẽ của tuổi già, Võ Phiến vẫn không ngưng nghỉ, ông vẫn làm việc miệt mài. Cuốn Tổng Quan Văn Học Miền Nam mới chỉ là cái sườn, những điều tổng quát mà thôi. Như chạy thi với ngày tàn của thế kỷ, một thế kỷ chất chứa những tang thương, cuối năm 1999, ông cho nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành bộ sách khổng lồ 3232 trang : Văn Học Miền Nam. Riêng về Truyện có 3 tập, đề cập đến 50 tác giả. Ký, 22 tác giả. Các cuốn khác gồm Kịch, Tuỳ Bút và Thơ đề cập đến 58 tác giả. Trong tổng số 3232 trang có 1667 trang do Võ Phiến viết và 1561 trang trích của 118 tác giả.Tất cả những điều ấy, phải công bằng mà nói, Võ Phiến đã vì danh dự của Miền Nam mà thực hiện. Công trình đó là một đóng góp rất lớn lao, vô giá mà theo tôi, chúng ta có quyền hãnh diện và mang ơn tác giả.
Nói như thế không phải đây là một công trình toàn bích. Vì làm gì có sự toàn bích trong địa hạt nhân văn, vì chính những định luật của nhân văn đã không tất yếu. Do đó công trình của Võ Phiến không sao tránh khỏi những thiếu sót, càng không thế làm vừa lòng được tất cả mọi người. Nhưng ít nhất, trong hoàn cảnh tan hoang, chia lìa, thất thế của Miền Nam, công trình của Võ Phiến đã là một thông điệp cụ thể phản ảnh nếp sống đẹp đẽ, sung túc và chứa chan nhân phẩm của Miền Nam, vượt xa xã hội của kẻ thắng trận là Miền Bắc. Công trình ấy đã để lại cho hậu thế, cho những ai muốn tìm hiểu về 20 năm sinh hoạt rất phong phú của Miền Nam.
Sự mong đợi của Võ Phiến, hay cũng là sự mong đợi của những ai hằng có chút quan hoài như ông, may thay đã không phải đặt vào một khoảng thời gian xa tắp ở tương lai. Nó đã xẩy ra một cách đột ngột và cũng thật là đẹp đẽ. Một số sách của Võ Phiến đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tiệp và do những nhà xuất bản lớn phát hành. Nhưng đó mới chỉ là những thử nghiệm, một thứ “ quà mới lạ “ trước thị hiếu của Tây Phương. Những biến cố sau đây, theo tôi, mới là những đánh giá trân trọng trước những công trình trước tác của Võ Phiến : đó là những luận án trình tại các đại học Paris, Pháp quốc. Cho đến nay, theo chỗ chúng tôi được biết, có hai luận án cao học ( mémoire de maitrise ) :
- một của bà Anne-Marie Aniel, năm 1986, tại Ðại Học Paris III.
- Một nữa của bà Phan thị Minh Lê, năm 1990, cũng tại Ðại Học Paris III
Và một luận án tiến sĩ của bà Trương thị Liễu, trình ngày 9-10-2001 tại Ðại Học Sorbonne, Paris III. Luận án này viết về đề tài “ Võ Phiến, culture nationale, lectures occidentales “, dày ngót 600 trang, được Hội Ðồng Giám Khảo đồng thanh cấp danh vị Tiến sĩ tối ưu với lời khen ( Mention très honorable avec Félicitations du Jury ). Luận án này sẽ được xuất bản trong loại sách Tương Lai của Quá Khứ ( Avenir du Passé ), của nhà xuất bản Harmattan, Paris.
Từ trước tới nay, nếu tôi không lầm, thì chúng ta mới chỉ nghe thấp thoáng một vài học giả tại các đại học Tây phương, tìm hiểu và viết luận án về một vài danh nhân trong lịch sử Việt Nam, những người đã được thời gian gạn lọc, danh vị đã được xác định chắc chắn và vượt ra ngoài những ảnh hưởng của chính trị.
Ở trường hợp của nhà văn Võ Phiến thì khác. Khác hẳn. Phải chăng, đây là trường hợp đầu tiên một tác giả Việt Nam còn sống mà công trình trước tác của mình đã được biết đến và vinh danh như thế. Với tôi, vinh dự này không chỉ dành cho người làm luận án, càng không phải chỉ là cho nhà văn Võ Phiến, mà đó là một vinh hạnh cho nền văn học của Miền Nam, cũng như cho cả Việt Nam. Nhưng dù thế nào, thành quả ấy do hàng ngàn trang sách của Võ Phiến, phản ảnh cảnh huống ,sinh hoạt của Miền Nam mà có, trong đó tất nhiên đậm nét nhất phải là hình ảnh quê hương Bình Ðịnh thân thương của Võ Phiến. Một nét son trong sinh hoạt văn học thế giới có lóng lánh hình ảnh của của đất nước chúng ta, trong đó không thiếu những nét bi hùng của quân dân Miền Nam chống lại cuộc xâm lăng quỷ quyệt, đầy man trá đến từ Phương Bắc. Trong ngắn hạn Miền Nam đã thua. Nhưng trong đường dài của tình tự dân tộc, của nhân phẩm, người Miền Nam nhân hậu bắt đầu được vinh danh, mà phải chăng, Võ Phiến chỉ là điểm khởi đầụMột cánh cửa đẹp đẽ đã rộng mở, mời đón những thế hệ tương lai. Tương Lai khởi đi từ Quá Khứ (Avenir du Passé ).
Thưa anh Võ Phiến, anh có thể hoàn toàn yên tâm được rồi.
Ðược hỏi về niềm vui này, ông Võ Phiến đã cười đùa mà nói : “ . . . những luận án ấy là công trình của người soạn thảo, nghiên cứu đề tài, chứ đâu phải công trình thành tích của tôi. Ví dụ Giáo Sư Phạm hoàng Hộ ra sách nghiên cứu về cây rau muống, thì đó là công trình của Giáo Sư Phạm chứ đâu phải của cây rau muống. Rau muống khoe khoang e lộn chăng.” Một lời nói bông đùa, ý nhị, tự tại, đầy khiêm cung va øcũng thật vô cầu.
Với tôi, Võ Phiến đúng là một cây thông già mọc trên đỉnh núi, bốn mùa cây lá lúc nào cũng rất xanh tươi.
Viết thêm và sửa chữa xong ngày 1 tháng 9 năm 2002.
Kỳ này, mời quí độc giả đọc bài viết của BS. Nguyễn Ý Ðức. Những bịp bợm trong Y khoa diễn ra hàng ngày, không cẩn thận, chúng ta rất dễ mắc lừa.
BS. Nguyễn Văn Ðức
Còn nhớ ngày trước, ngay sau khi công chúng Mỹ đang xôn xao lo ngại về sự xuất hiện của bệnh Than ở một vài nơi thì đã có một nhóm người lợi dụng cơ hội chào bán những thứ mà họ bảo đảm là có thể ngăn ngừa và chữa khỏi bệnh này. Những kỳ hoa, dị thảo, tiên dược hiếm có mà chỉ mươi ngày sau tai biến đã được Tiên biến hóa và kịp thời tung ra thị trường bán rồi.
Sự bịp bợm quá lộ liễu và vô lý đến nỗi chính quyền liên hệ phải can thiệp ngay. Ngày 7 tháng 11.2001, Cơ quan Food and Drug Administration cho hay là: “Cho tới bây giờ, không có một dẫn chứng khoa học đáng tin cậy nào cho là những thực phẩm phụ thêm (dietary supplement) trên thị trường có thể ngăn ngừa hay chữa khỏi bệnh Than, ngoại trừ mấy thuốc kháng sinh đã và đang được công nhận cho dùng”. Cơ quan Federal Trade Commission nhắc nhở dân chúng là đám gian lận con buôn thường theo dõi thời cuộc và khéo léo giăng bẫy tới sự lo âu sợ hãi của giới tiêu thụ. Ngay vị Giám đốc của National Center for Complimentary and Alternative Medecine, Bác Sĩ Stephen Straus, hôm 14 tháng 11, 2001 cũng phải lên tiếng lưu ý công chúng khỏi bị mắc bẫy bởi quảng cáo là có những phương thức khác để chống lại bệnh Than. Ông ta nói: “Không có một bằng chứng nào về sự hữu hiệu của “alternative medecine” trong việc trị một cách thỏa đáng bệnh Than và các tác nhân sinh học khác”. Complimentary và Alternatice Medecine được coi là những phương thức không chính thống nhằm làm giảm triệu chứng khó khăn của cơ thể.
Việc gian lận, mập mờ đánh lận con đen này thì thời gian nào cũng thấy xuất hiện, ngay từ thuở xa xưa. Có người đã nhận xét là cứ mỗi phút lại có một tên gian lận ra đời, và sẽ có hai người sẵn sàng tin theo, rơi vào cạm bẫy. Chúng lợi dụng sự lo âu, tuyệt vọng của người gặp nạn để làm tiền. Hàng năm, dân chúng tổn phí rất nhiều để mua những thứ mà đám “bán vịt trời giữa đồng” này tung ra.
Trong phạm vi sức khỏe, đã có những anh lang vườn, những chú bán thuốc dạo không có căn bản chữa bệnh, làm thuốc nhưng vẫn hành nghề, lường gạt dân chúng. Họ giới thiệu, bán những thứ mà họ quảng cáo là cải lão hoàn đồng, bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu sầu, là thần dược, là có thể giúp mình “nhất dạ lục giao” hoặc “ra bẩy vào ba”... Họ nhắm vào những người có một số vấn đề thông thường như sau.
Viêm khớp
Viêm khớp là chứng rất thường thấy và có thể do cả trăm loại bệnh gây ra. Bất cứ bệnh nào có ảnh hưởng tới màng hoạt dịch (synovial membrane) hay gây thoái hóa sụn đều có thể làm khớp bị viêm. Vì thế điều trị khớp là tùy theo việc tìm ra và điều trị nguyên nhân chính gây viêm. Trong đa số các trường hợp, aspirin và các thuốc chống đau nhức khác đều rất công hiệu làm giảm viêm, bớt sưng và đau. Không có dược phẩm hay phương thức trị liệu nào có thể trị dứt viêm khớp. Mà số người đau đớn vì chứng này rất đông. Họ tuyệt vọng, mong mỏi có thuốc chữa lành.
Thế là các vị lang băm bèn chụp lấy cơ hội, tung ra hàng loạt những phương thức, dụng cụ, quảng cáo rùm beng là “chữa khỏi đau nhức khớp, không hết trả lại tiền”, “hết đau nhức trong mười ngày”... Ngoài tiệm, ta thấy những vòng từ trường, vòng bằng đồng, bao tay hở ngón có chứa “uranium”, những dụng cụ điện tử bí mật để trị bá bệnh. Ta cũng thấy nhiều thuốc bôi, thuốc uống, thuốc chích, những món ăn đặc biệt với nhiều sinh tố để “trị dứt” viêm khớp. Theo các chuyên gia khoa học thì uranium vô ích đối với viêm khớp; vòng đồng chỉ làm dơ cổ tay; sinh tố thì thiếu gì trong thực phẩm, chẳng những không có công dụng gì để chữa phong thấp mà uống nhiều quá lại có hại. Nhiều người còn quảng bá dùng nọc độc rắn, tắm trong dầu hỏa kerosene, hoặc xịt khớp với WD-40.
Nhiều đồng hương về thăm quê đã mua những vòng từ trường, nệm từ trường, chăn từ trường do một quốc gia láng giềng Việt Nam sản xuất và mang sang Mỹ dùng. Có khi cả trăm bạc Mỹ một chiếc vòng đeo cổ tay, vài trăm đô xanh một chiếc chăn. Về dùng mãi mà đau vẫn hoàn đau. Rõ thật là dại: tiền mất, tật mang. Nhiều tên còn quảng cáo một cách có khoa học là đã chế ra một thứ aspirin đặc biệt để trị lành viêm khớp. Thưa quý vị, aspirin là aspirin, chẳng có gì “đặc biệt” cả mà nếu uống phân lượng cao quá thì lại có nhiều khó khăn, sự cố hiểm nghèo đấy.
Chống già
Già là một diễn biến bình thường của con người trong chu kỳ “sinh, lão, bệnh, tử”. Ðã vào chu kỳ thì sớm muộn gì nó cũng đến. Mà cái lẽ “sớm, muộn” này nó tùy thuộc vào nhiều thứ. Gene di truyền ông bà cha mẹ có tốt không? Dinh dưỡng có đầy đủ? Nếp sống cá nhân có sa đọa, bê tha? Môi trường chung quanh có ô nhiễm? Có vận động cơ thể, có an vi hòa hợp, có thuận vợ thuận chồng?... Thuận lợi ở những điểm này thì chắc là sự già nó cũng chậm tới hơn. Vả lại, già đâu có phải là bất hạnh. Già mà “vui như Tết”, “khỏe như voi” thì già nó cũng có cái thú của già. “Càng già càng dẻo càng dai, càng gẫy chân chõng, càng sai chân giường”. Hoặc già mà còn chơi (được) trống bỏi thì với nhiều vị chẳng là một cái thú hay saỏ!
Ấy vậy mà nhiều người vẫn sợ già. Họ đi tìm thuốc trường sinh, cải lão hoãn đồng. Thế là bọn lang băm chụp lấy cơ hội làm giầu. Họ tung ra những thứ gọi là có thể ngăn chặn hoặc lật ngược diễn tiến lão hóa. Nào là mật ong chúa, sừng non tê giác, vây cá mập, kích thích tố ngựa vằn, ngọc hành lợn rừng... Lại còn “tân trang da mặt không cần giải phẫu” với máy điện làm rung da, tăng vòng ngực với iso-tensor, bust-developpers, thuốc bôi làm biến nhăn da cổ, da mặt. Vết nhăn thẳng thấy biến mà chỉ thấy đồng tiền biến dần khỏi trương mục ngân hàng.
Ung thư
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ của y khoa học trong việc tìm hiểu căn nguyên, diễn tiến cũng như trị liệu, ung thư vẫn còn là một nan giải, không đáp số cho loài người. Nhiều nạn nhân ung thư sống trong đau đớn thể xác, tâm hồn với sự ưu tư chăm sóc của bà con, họ hàng.
Vì y khoa học chưa có giải đáp cho mọi vấn đề ung thư nên những tay chuyên bịp đã đưa ra đáp số. “Chúng tôi có thuốc chữa tuyệt ung thư ruột trong ba tháng, ung thư tử cung trong sáu tháng, ung thư gan trong một năm”. Những môn thuốc “gia truyền” được quảng cáo. Những lọ thuốc trình bày hấp dẫn được tung ra thị trường. Những phòng mạch kín đáo được truyền tai, giới thiệu, ca tụng. Lại còn món ăn đặc biệt ít chất đạm, dược phẩm đặc chế Laetrile, nước chiết lá đu đủ xanh, đu đủ đỏ. Phí tiền và thì giờ cho những món hàng này đã làm bệnh trầm trọng hơn vì tác dụng phụ của “thuốc” cũng như quá trễ để dùng các phương thức trị liệu được công nhận giá trị.
Mập phì
Mập phì có thể do di truyền, có thể là biến chứng một vài bệnh kinh niên. Nhưng trong đa số các trường hợp, mập phì là hậu quả của sự “thu nhập” năng lượng nhiều hơn sự xuất dùng.
Một người bình thường chỉ cần khoảng 2200 calories mỗi ngày để đủ sức làm mọi việc, mà nhét vào một lượng thực phẩm đủ loại có gấp đôi số năng lượng kể trên, thì năng lượng đó đi đâu? Nó sẽ được tích trữ trong cơ thể dưới dạng những tảng mỡ ở vòng mông, vòng bụng, bao quanh trái tim, xen lẫn trong tế bào gan, đóng bựa vào lòng mạch máu. Thế là béo mập, lên cân, bệnh tật.
Mà lên cân là nhiều người sợ hãi. Ðâu còn đường cong tuyệt mỹ, đâu còn vẻ đẹp thanh tú. Phải đi mua mấy loại thuốc giảm cân. Phải dùng những thực phẩm đặc chế. Thuốc làm giảm ước muốn ăn uống. Thuốc làm mau no bụng. Thuốc làm tiêu mỡ béo. Dầu thoa nắn. Khăn bó cơ thể. Giảm mỡ dễ dàng, chẳng mất tý sức lực nào. Ðánh trúng tâm lý người muốn có “co” thon đẹp, đám lang băm nâng cao giá sản phẩm, và người tiêu thụ vẫn phải ngửa cổ cho họ chém. Nhưng, chỉ tiền mất tật mang, nếu không áp dụng phương thức sẵn có, không mất tiền mua nhưng công hiệu là “ăn ba phần đói bẩy phần no”, và “con người cần vận động cơ thể” mà cổ nhân ta vẫn nhắc nhở. Khỏi phải thuốc uống, thuốc thoa, khăn bó bụng. Chẳng thấy đốt mỡ mà chỉ thấy cháy túi.
Mái tóc
Cái tóc là góc con người. Mái tóc thề ngang lưng tăng thêm vẻ ngây thơ cho cô gái mười bẩy. Lọn tóc đuôi gà thêm vẻ đoan chính cho cô gái quê. Công tử Hà Thành trai lơ mà có thêm mái tóc chải đuôi vịt bóng lộn bi ăng tin thì khối cô mê. Vậy mà một sớm một chiều nó rụng đi từng đám thì “chết tôi rồi, các cụ ơi”. Một lão bà trên bẩy mươi tuổi kêu hỏi thăm, mỗi ngày tôi rụng mất mấy chục sợi tóc, làm sao bây giờ hở bác sĩ?!
Rụng tóc là hiện tượng tự nhiên, cũng như tre già, măng mọc. Mỗi ngày trung bình tóc rụng khoảng trên dưới một trăm sợi, đồng thời lại một số sợi khác mọc ra. Mỗi sợi tóc có tuổi thọ trung bình là một vài tháng. Ðến kỳ thì nó rụng, nhường chỗ cho bầy trẻ khác ngoi lên chứ. Nó cũng rụng khi ta đau ốm hoặc do ảnh hưởng vài hóa chất, dược phẩm.
Hiện nay, mới có một loại âu dược được chấp nhận cho dùng để giúp mọc tóc. Tìm ra thuốc này cũng chỉ là một tình cờ: Minoxidil, một thuốc chữa cao huyết áp. Một số người khi uống thấy mọc lông mọc tóc tùm lum, ngay cả những nơi không muốn. Thế là nhà bào chế bèn chế biến thành thuốc mọc tóc. Cũng được đi, nhưng cũng tốn tiền và phải dùng lâu. Ngoài ra, phương pháp cấy tóc cũng tốt nhưng cần được thực hiện bởi các phẫu thuật gia khéo tay, kinh nghiệm.
Các vị lang băm thêm một môi trường mầu mỡ để làm tiền. So sánh các quảng cáo về các loại “làm đẹp” cho con người thì thuốc mọc tóc mọc lông đứng hàng thứ nhì, chỉ thua món hàng làm tiêu mỡ. Các thần dược làm tóc mọc trong vòng 48 giờ đồng hồ được bán với giá mà mới nghe đã làm tóc người yếu bóng vía dựng đứng lên, nếu họ có tóc. Các nhà chuyên môn cho hay các phương thức đó chưa được chứng minh là an toàn, công hiệu để ngăn rụng tóc cũng như làm tóc mọc lại.
Rồi lại tới cái lo loại bỏ bớt lông tóc mọc ở chỗ không muốn. Lại tốn tiền cho thuốc bôi rụng lông, máy điện nhổ lông, vừa đau vừa hư da mà lông vẫn mọc lại. Theo các nhà thẩm mỹ chân chính thì phương pháp đốt điện (electrolysis), thực hiện bởi người có kinh nghiệm, là đáng tin cậy hơn cả.
Cũng ở phạm vi cái tóc, có người còn quảng cáo là: “Xin cứ gửi cho chúng tôi vài sợi tóc, kèm theo vài ông Hoa Thịnh Ðốn cho phí tổn. Chúng tôi sẽ phân chất và cho biết quý vị thiếu những sinh tố gì, dinh dưỡng nào. Nếu cần mua những chất thiếu chúng tôi sẽ chỉ chỗ cho mà chỗ mua. Rẻ òm à, chỉ có 199 mỹ-kim 99 cents là đủ dùng cho cả tháng 31 ngày”.
Các khoa học gia cho hay, phân chất tóc có thể cho biết người đó có tiếp cận với một hóa chất nào không, như arsenic, chì, thủy ngân chứ chẳng thể nói cho ta biết cơ thể cần gì, thiếu gì. Lại một chuyện bịp có vóc dáng khoa học.
Các vị Thầy Cúng
Trong bất cứ xã hội nào, niềm tin con người trước quyền uy của Ðấng Tối Cao vẫn là một hướng dẫn, một chỗ tựa cho cuộc sống. Nhưng đã có nhiều kẻ khai thác lòng tin này của người khác, nhất là khi họ ở trong tình trạng tuyệt vọng, bệnh hoạn. Ðó là những ông thầy, bà cốt chuyên nghề cúng vái, chữa bệnh bằng tàn nhang, nước thải, những tay phù thủy bắt quyết trừ tà. Thời buổi văn minh, tin học thì có những người lợi dụng truyền thông để nhận của cho của dân chúng rồi hứa hẹn cầu nguyện thần linh giải trừ bệnh hoạn.
Kết quả một điều tra của nhóm học giả khoa học, triết lý và tôn giáo tại Nữu Ước đã đưa ra kết luận: “Một số khá đông quần chúng đã bị lợi dụng bởi những nhà trị bệnh trên màn ảnh truyền hình; họ đã xâm nhập nhiều gia đình, giới thiệu những phương thức không có căn bản khoa học. Họ nhận được nhiều tiền ủng hộ của dân chúng mà không đền đáp một phương thức trị liệu giá trị nào cho những người kinh niên bệnh hoạn.”
Tôn giáo đã bị thương mại hóa, mà một số người vẫn tin theo.
Các mánh lới thuyết phục
Những ma giáo nhân có cả trăm phương ngàn kế để thuyết phục giới tiêu thụ đang trong tuyệt vọng, cần có một cái phao để bám.
Tâm trạng của con bệnh trầm kha là “có bệnh thì vái tứ phương”. Họ tìm tới bất cứ phương tiện nào hứa hẹn có thể giảm thiểu nỗi bất hạnh của họ. Lang băm sẵn sàng đáp ứng. Với người đau đớn, có hứa hẹn giảm đau. Với bệnh bất khả trị thì cho hy vọng hão huyền. Người bệnh mà đi mua cái hy vọng không đâu, chẳng những phí tiền mà còn phí thời gian quá ngắn ngủi còn lại. Với người lo sợ ô nhiễm thực phẩm, họ nói chúng tôi có sẵn món ăn hoàn toàn thiên nhiên và gán cho thực phẩm thường bán là chất độc. Họ quên rằng, với kỹ nghệ thực phẩm tiến bộ hiện nay, các chất độc hại đều bị loại bỏ trước khi món ăn được tung ra thị trường. Với vài bệnh nan y, đang là mối lo chung của nhân loại, như bệnh Liệt kháng HIV-AIDS, họ cũng khoe khoang là có tiên dược trị dứt.
Họ dùng những từ ngữ hoặc câu nói rất khoa học để giới thiệu món hàng cũng như gợi tính tò mò, thuyết phục dùng thử không mất tiền trong một thời gian. Họ dùng những nhân chứng khoe đã dùng sản phẩm và thấy công hiệu. Ðôi khi họ biếu lợi tức để người tiêu thụ trở thành người bán hàng cho họ. Họ giới thiệu thuốc có thể tẩy độc đường tiêu hóa, lọc máu, mang cơ thể trở lại tình trạng sinh hóa cân bằng, hòa hợp với thiên nhiên. Con người ai chả có lúc đau chỗ này, khó chịu chỗ kia. Thế là họ bịa ra một bệnh rồi giới thiệu món thần dược mà họ mới phát minh.
Hoàn lại tiền nếu không công hiệu là thủ đoạn mà các lang băm thường dùng nhất. Vì họ biết rằng đa số không gửi trả lại món hàng tào lao mà kẻ bán cũng chẳng bao giờ bồi hoàn tiền. Có thì giờ thì xin cứ thuê trạng sư mà kiện củ khoai.
Yếu điểm của nạn nhân
Nạn nhân của lang băm thường có vài yếu điểm như quá ngây thơ, dễ tin.
Nhiều người cứ tin rằng, món hàng đó đã được công bố trên giấy trắng, mực đen, trên đài, trên sóng thì phải là đúng. Nếu không đúng thì ai cho phép quảng bá. Họ đâu có để ý là không ai mất công, mất thì giờ kiểm chứng lời quảng cáo. Nhiều khi lại chỉ nghe bạn bè lối xóm khoe là tôi dùng thứ này hết đau nhức ngay, thứ kia hết hẳn ung thư. Thế là dùng theo để hy vọng hết bệnh. Có người tin ở những ma thuật, những kỳ diệu của món hàng, dễ dàng chấp nhận một giải pháp có sẵn cho bất hạnh của mình. Ða số thì quá thất vọng vì tình trạng của mình mà đành tìm tới bất cứ cái gì cho một tia hy vọng, dù mong manh. Có còn hơn không. Một số không nhỏ lại hay đa nghi, dị ứng với những tiến bộ khoa học, nên tìm tới các phương thức được khoe là tự nhiên.
Tránh tiền mất tật mang
Ðồng ý là có bệnh thì vái tứ phương, nhưng cũng cần cảnh giác với ông thần bịp bợm quanh quẩn đâu đó.
Cần tìm hiểu rõ ràng những lời quảng cáo, những giới thiệu của mọi người. Tìm hiểu về món hàng mình sắp bỏ tiền ra mua, coi có giá trị hay không. Hãy đề phòng những tiểu xảo như thuốc tôi chữa lành bệnh tức thì, dễ dàng; thuốc tôi là thuốc gia truyền, là đặc chế, chỉ bán qua bưu điện. Cảnh giác với những thuốc trị bá bệnh hoặc thần dược. Cảnh giác với những nhân chứng cò mồi được chia hoa hồng lợi nhuận.
Kết luận
Vấn đề gian bịp trong lãnh vực sức khỏe con người là chuyện xưa như trái đất mà mọi chính quyền đều để tâm ngăn chặn. Nhưng dân bịp họ cũng có nhiều mánh lới để qua mặt luật lệ quốc gia. Phương thức bảo vệ hữu hiệu nhất cho người tiêu thụ là sự thông minh, sáng suốt của chính mình. Ðặt nghi vấn trước một khoác lác quá đáng. Tham khảo các cơ quan được tín nhiệm trước khi mở hầu bao.
Ðể khỏi vướng vào cảnh “Tiền mất mà Tật vẫn mang trên người”
Rất nhiều người than mệt, vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Có người mệt, không do nguyên nhân rõ rệt nào cả, khiến bác sĩ... cũng mệt theo. Nhiều vị than mệt đến độ không còn đủ sức làm những công việc hàng ngày.
Bạn mệt mới vài ngày, không có thêm triệu chứng nào khác, ồ, chưa sao, chắc rồi đâu sẽ lại vào đó, ta cứ chờ thêm ít thời gian nữa xem sao. Mệt kéo dài (prolonged fatigue, từ 1 tháng trở nên), và mệt kinh niên (chronic fatigue, từ 6 tháng trở nên) mới là những cái mệt ta cần tìm hiểu nguyên nhân.
Những nguyên nhân gây mệt
Rất nhiều nguyên nhân có thể khiến ta mệt kéo dài hoặc mệt kinh niên:
- Bệnh thiếu máu: do thiếu chất sắt, chất folate, sinh tố B12, ...
- Bệnh nội tiết: như bệnh cường tuyến giáp trạng, suy tuyến giáp trạng, bệnh tiểu đường, tắt kinh, ...
- Bệnh nhiễm trùng: như bệnh lao, bệnh AIDS, ...
- Các bệnh ung thư.
- Bệnh đau nhức toàn thân (fibromyalgia, gây đau nhức khắp người, khó ngủ, mệt mỏi).
- Các bệnh thần kinh bắp thịt (neuromuscular disorders).
- Các bệnh của mô liên kết (connective tissue diseases).
- Bệnh tâm thần: như các bệnh căng thẳng tâm thần, bệnh sầu buồn, ...
- Các bệnh mất ngủ (sleep disorders).
- Hội chứng mệt mỏi kinh niên (chronic fatigue syndrome).
- Nghiện rượu hay các thuốc nha phiến.
- Các thuốc dùng: chẳng hạn như các thuốc chữa chảy mũi, nghẹt mũi, ...
Trong đa số những trường hợp mệt kéo dài và kinh niên, nguyên nhân gây mệt tìm thấy là một bệnh thể xác kinh niên, hoặc một bệnh tâm thần. Nhiều người mệt vì cả hai nguyên nhân thể xác lẫn tâm thần, thí dụ một người bị lao, lo nghĩ, buồn rầu đến mất ăn, mất ngủ. Cũng có người mệt hoài, chỉ vì... uống rượu, chích choác tối ngày, hoặc vô tình cứ dùng liên tục nhiều loại thuốc có thể gây mệt, chẳng hạn những thuốc chữa chảy mũi, nghẹt mũi, dị ứng như Dimetapp, Actifed, Benadryl, ...
Song đến một phần ba (1/3) những trường hợp mệt kéo dài và kinh niên không có nguyên nhân rõ rệt. Người mệt cứ than mệt, bác sĩ, sau bao những tìm hiểu, vẫn không biết rõ tại sao vị này cứ than mệt (idiopathic fatigue).
Truy tìm nguyên nhân gây mệt
“Ôi cha, bác sĩ, hơn 1 tháng nay, tôi mệt ơi là mệt, chả thiết làm ăn gì. Bác sĩ thử máu tổng quát cho tôi, xem tôi có bệnh gì không?”
Rất tiếc, thưa bạn, không có thử máu nào có thể giúp ta khám phá tất cả các tật bệnh của cõi nhân gian này. Chẳng hạn, thử máu không thể cho biết ta có bị ung thư da, bướu óc, ung thư phổi, bao tử, ruột già và nhiều loại ung thư khác. Thử máu cũng không thể giúp ta tìm nhiều bệnh nhiễm trùng nguy hiểm, như bệnh lao. Rồi, bệnh đau nhức toàn thân (fibromyalgia, gây đau nhức đủ mọi chỗ trong người, mệt mỏi, khó ngủ), cũng như tất cả các bệnh tâm thần đều không thể định ra bằng thử máu. Rất nhiều bệnh không thể tìm thấy bằng thử máu.
Nên, bạn ơi, không có một thử máu nào có thể được gọi là “thử máu tổng quát” cả. Ta nên thử những gì, hoàn toàn tùy vào sự suy luận của bác sĩ, sau khi đã hỏi bệnh bạn tỉ mỉ, thăm khám bạn kỹ lưỡng. Bác sĩ nghĩ đến những bệnh gì có thể đang gây triệu chứng cho bạn, sẽ cho thử máu, thử nước tiểu, hoặc chụp phim để đi tìm những bệnh ấy.
Vậy, hỏi bệnh tỉ mỉ, và thăm khám kỹ lưỡng bao giờ cũng quan trọng hơn thử máu. Có nhiều khi, sau khi hỏi bệnh và thăm khám, bác sĩ đã có thể đoán ngay bạn đang bị bệnh gì.
Nào, bây giờ trở lại với vấn đề mệt mỏi của bạn, ta khoan hãy bàn đến chuyện thử máu, bạn nhé. Xin bạn kể cho nghe đầu đuôi câu chuyện trước đã.
Bạn mệt đã hơn một tháng? Cái mệt của bạn xảy ra vào lúc nào trong ngày, trong trường hợp nào, nó ra sao, có làm giảm năng suất... lao động của bạn không? À, mà bạn làm việc bao nhiêu tiếng một ngày, tuần mấy ngày? (làm hai “jobs”, mười mấy tiếng mỗi ngày, 7 ngày một tuần, chưa kể lái xe đến sở 1 tiếng đi, một tiếng về?). Bạn ngủ đêm mấy tiếng, có ngon không? (hay làm ngày chưa đủ, làm thêm luôn đêm?). Bạn ăn uống thế nào? (sáng chút cà-phê, trưa lát bánh mỏng, tối qua loa chút cơm, còn toàn thuốc lá?)
Ngoài chuyện mệt mỏi, bạn có triệu chứng gì khác: lên hoặc xuống cân, ho hắng, tiêu tiểu bất thường, nhức đau các khớp, nổi mẩn trên da, v.v.?
Và, tinh thần bạn thế nào, có gì lo âu, buồn bực? Chuyện gia đình, chuyện trong sở, có ấm êm, xuôi chảy, hay xào xáo, lung tung? Từ trước, có bác sĩ nào từng bảo rằng bạn bị xáo trộn tâm thần (psychiatric disorders)? Bạn biết, ba bệnh tâm thần hay gây mệt nhất là sầu buồn (depression), căng thẳng tâm thần (anxiety), và bệnh chính là tâm thần song lại cảm thấy đau, mệt thể xác (somatoform disorder).
Nếu bạn là phụ nữ, kinh nguyệt bạn còn đều không, hay bạn sắp hoặc vừa mãn kinh, và đâm khó ngủ, buồn rầu, âu lo, mệt mỏi vì những xáo trộn gây do mãn kinh?
Sau cùng, bạn có đang dùng bất cứ loại thuốc nào không, kể cả các thuốc mua không cần toa bác sĩ? Bạn có uống rượu, và xin lỗi bạn, nếu không phải, xin bạn bỏ qua, bạn có... xài xì-ke ma túy?
Nắm vững tất cả những điều bạn vừa kể, bác sĩ bắt đầu thăm khám cho bạn. Việc thăm khám sẽ tỉ mỉ, từ đầu đến chân, chú trọng vào việc tìm dấu chứng của những bệnh có thể khiến bạn mệt mỏi.
Sau khi thăm khám tỉ mỉ như vậy, thường trong đầu, bác sĩ đã nghĩ đến một vài vấn đề có thể là nguyên nhân gây cái mệt của bạn. Bác sĩ sẽ thử máu, hoặc chụp phim tùy theo những định bệnh sơ khởi mới vẽ ra trong đầu. Chẳng hạn, bạn mệt mỏi hơn tháng nay, lại ho hắng, thỉnh thoảng khạc ra chút máu sau khi đi Việt Nam thăm cụ ông đang đau nặng vì lao, thì bước đầu trong việc tìm hiểu chứng mệt mỏi của bạn, bạn cũng hiểu, tất phải là một “phim ngực” (chest X-ray, ta hay quen miệng gọi nhầm “phim phổi”) xem bạn có lao phổi, do cụ ông lây cho bạn, hơn là những thử máu lăng nhăng, xa vời.
Trường hợp chứng mệt kéo dài (đã hơn 1 tháng) hoặc kinh niên (đã hơn 6 tháng) của bạn bí hiểm hơn thế, sau khi chăm chú nghe bạn kể bệnh, và thăm khám kỹ lưỡng cho bạn, bác sĩ vẫn gãi đầu gãi tai, chưa có ngay một định bệnh sơ khởi rõ rệt trong đầu, để tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân gây chứng mệt mỏi của bạn, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Tật bệnh (Centers for Disease Control and Prevention) đề nghị ta làm những thử máu tối thiểu sau:
- Complete blood count with differential: đếm máu toàn diện, tìm xem bạn có thiếu máu, ung thư máu chăng.
- Glucose: thử đường máu, xem bạn có bị tiểu đường.
- Alanine aminotransferase, Alkaline phosphatase: xem bạn có bị bệnh gan (viêm gan, ung thư gan...).
- BUN, Creatinine, Electrolytes: xem bạn có thiếu nước trong cơ thể, bị suy thận, hoặc xáo trộn những chất điện giải.
- Erythrocyte sedimentation rate: do tốc độ lắng đọng của hồng cầu, tìm xem bạn có bị các bệnh nhiễm trùng, bệnh của mô liên kết (connective tissue diseases), ...
- Total protein, Albumin, Globulin: xem bạn có suy dinh dưỡng, ...
- Calcium, Phosphorus: xem hai chất Calcium, Phosphorus có cao hoặc thấp bất thường.
- Thyroid-stimulating hormone: xem tuyến giáp trạng bạn có bị cường (hyperthyroidism) hoặc suy (hypothyroidism).
- Urinalysis: phân tích nước tiểu, xem có máu, chất đạm (protein, albumin) trong nước tiểu, ...
Những thử máu lăng nhăng, xa vời khác thường không cần thiết (chỉ thêm tốn tiền, dù tiền của MediCal), trừ phi trong lúc thăm khám, bác sĩ tìm thấy những dấu chứng đặc biệt của một bệnh nào đó, nghĩ cần làm thêm thử nghiệm để xác định đúng là bệnh này (chẳng hạn, thấy người bạn nổi đầy hạch, bạn thú nhận mấy tháng trước có về Việt Nam thăm các “em gái”, chết chửa, không khéo bạn dính AIDS, bác sĩ sẽ làm thêm thử nghiệm tìm bệnh AIDS cho bạn), hoặc khi những thử nghiệm kể trên cho kết quả bất thường, bác sĩ nghĩ cần tiến hành làm thêm những thử nghiệm khác nữa để đi đến một định bệnh chính xác.
Chữa trị
“Tôi mệt lắm, mệt lắm, cần phải vô nước biển gấp gấp, và bác sĩ nhớ bỏ thêm thuốc bổ vào nước biển nữa đấy, cái thứ thuốc vàng vàng họ vẫn cho vào chai nước biển lúc truyền cho tôi ngày tôi còn ở Việt Nam.”
Thưa bạn, chữa mệt không giản dị như vậy. Chữa mệt là cố tìm và chữa nguyên nhân gây ra chứng mệt của bạn. Thuốc bổ, không thể giúp bạn bớt mệt. À, còn chuyện truyền nước biển? Nếu thử máu cho thấy bạn không hề thiếu nước trong cơ thể, nước biển truyền vào, bạn lại tiểu ra, phỏng ích gì, tỉ như một cái bình đã đầy nước sẵn, nào có vơi, đổ thêm nước vào, nó tràn ra, đâu ích chi.
Ta cố tìm và chữa nguyên nhân gây chứng mệt của bạn. Bạn làm việc nhiều quá chăng, hay bạn bớt đi chút, sức khỏe mới là vàng, tiền của là... bạc, vẫn sau sức khỏe. Bạn ăn uống thất thường quá, bữa ăn bữa không, thế thì nên tập thói quen ăn uống đúng giờ giấc, ngày đủ ba bữa. Nhớ vận động thường xuyên để ngủ cho ngon (vận động cũng cho ta cảm giác khỏe mạnh, yêu đời). Còn trên đường tìm hiểu những nguyên nhân gây mệt của bạn, không may ta tìm thấy những bệnh quan trọng, chắc chắn rồi, ta phải tận lực chữa trị những bệnh này. Hoặc bạn đang dùng một thuốc nghi có thể là thủ phạm gây mệt, ta thử bỏ nó đi, hay đổi qua một thuốc khác xem sao.
Cùng lúc với sự chữa trị những nguyên nhân gây mệt ta tìm thấy, nếu cần, ta dùng thêm một vài thứ thuốc để chữa những triệu chứng đang khiến bạn mất vui. Nếu bạn nhức đầu, đau các bắp thịt, ta có thể dùng các thuốc Aspirin, Tylenol, thuốc “chống viêm không có chất steroid” như Advil, Motrin, Aleve, v.v., giúp bạn dễ chịu. Bạn khó ngủ ư, ta dùng các thuốc thuộc nhóm chống sầu buồn (antidepressants), chẳng hạn như Elavil, Pamelor, Imipramine, v.v., với lượng thấp, để giúp giấc ngủ của bạn được đầy hơn.
Những trường hợp mệt không rõ nguyên nhân (idiopathic fatigue) khó chữa hơn, tuy ta vẫn có thể dùng các thuốc để chữa những triệu chứng khiến họ khó chịu nhất, như thuốc chống đau nhức, hoặc thuốc thuộc nhóm chống sầu buồn giúp họ dễ ngủ, nếu họ khó ngủ. Một điểm quan trọng trong việc chữa mệt là mối thâm tình giữa bác sĩ và bệnh nhân. Bác sĩ thông cảm triệu chứng của người bệnh, tìm cách nâng đỡ tinh thần họ, và ngược lại, người bệnh tin tưởng bác sĩ. Cũng may, rất nhiều trường hợp mệt không rõ nguyên nhân, một thời gian sau, sẽ bớt dần.
Như vậy, những thói quen xấu (ăn uống thất thường, thức khuya nên thiếu ngủ, rượu chè chích choác, v.v.) hoặc tật bệnh khiến ta mệt. Cũng có vị mệt cứ mệt, chẳng biết tại sao.
Chưa kể đến những chuyện ấy, riêng chuyện làm người ở cõi nhân gian này đã là cái mệt. Trách nhiệm nhỏ mệt ít, trách nhiệm lớn mệt nhiều. Như ông Bush nhà ta, ái chà, thiệt là mệt; cuộc chiến Iraq đã xong, nhưng còn biết bao việc nhiêu khê nhức óc!
Giao Muà vừa nhận được hai thi tập " Lời Ru Của Mẹ" và "Những Dòng Kỷ Niệm" do nhà thơ Mạc Phương Ðình trong BBT Giao Muà gửi tặng.
Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Muà
Mọi chi tiết xin liên lạc:
Mạc Phương Ðình
macpdinh@yahoo.com
Giao Muà vừa nhận được các Websites sau đây về tìm việc làm do bạn Vũ Thư Nguyên sưu tầm.
http://www.usajobs.opm.gov/
http://www.fedworld.gov/jobs/jobsearch.html
http://www.govtjob.net/
http://federaljobs.net/
http://www.govjobs.com/
http://www.careersingovernment.com/
http://www.governmentjobs.com/
http://www.jobsfed.com/
http://www.federaljobsearch.com/
Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Muà
Giao Muà vừa nhận được Website sau đây do bạn Trường Ðinh giới thiệu:
Chương Trình Teresa Charities
http://vietcatholic.net/vuthanhan/teresacharities.htm
điều hành: Phó Tế Vũ Thành An
Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Muà
Ðài Phát Thanh Radio Bolsa
Trên Ngàn Mây Là Nỗi Nhớ
-- tùy bút Trường D-inh, viết tặng Quỳnh Thi --
[RealPlayer, fast loading, streaming file 4.2 Mb]
http://saigonline.com/truongdinh/tnmlnn.ra
hay streaming file:
http://saigonline.com/truongdinh/tnmlnn.ram
Uyển Diễm thực hiện, cùng với Hoàng Trúc
với nhạc Từ Công Phụng, Vũ Tấn Ðức, Ngô Thụy Miên
Các bạn có thể tìm mua CD " Gọi Từng Yêu Thương " ở các đaị lý hoặc có thể đặt mua bằng cách gơỉ check, money order hay cashier check, 10 US dollars/cd về điạ chỉ sau đây:
TNS Music Productions
12860 Beach Blvd, suite H-353
Stanton, CA 90680.
Xin lưu ý :
+ Vơí personal check xin cho từ 2 đến 3 tuần để nhận CD
+ Ngoaì USA xin gơỉ 12 USD cho 1 CD
Xin các bạn haỹ đón nghe CD Gọi Từng Yêu Thương.
TNS Music Productions
Phone : ( 714) 537-3402
VIỊ Nhạc : 1. Em Mãi Là Nhớ Thương
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, CC, Ðặng Xuân Mai, Ðỗ Thành, DHH, Gia Phong, Hoang Vắng, Hoàng Mai Phi, Hoa Cỏ, Khánh Học, l.t. quỳnh hương, Linh Vũ, Ngô Thy Vân, Ngọc An, Nguyên Khoa, Nguyễn Ðăng Tuấn, BS Nguyễn Văn Ðức, BS Nguyễn Ý Ðức, nttn, Nhược Thu , NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Phan Lạc Tiếp, Song Tưởng Nhất Nguyên, Sương Mai, Tân Văn, Trần Hoan Trinh, Trần Thị Hà Thân, Trường Ðinh, Tử Nhi, Uyên Thi, Viễn Phương, Võ Ðình Tuyết, và Vũ Thị Thiên Thư, đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 15 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
TrungKy@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua2002@aol.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua2002@aol.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: TrungKy@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116-0378
USA
Trang Nhà