Số 17

Ngày 1 tháng 9 năm 2003

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

GiaoMua2002@aol.com


Thư Ngỏ



Tháng Chín, mùa tựu trường…

Khác với những ngày chớm thu như trong những ngày tôi đi học của Thanh Tịnh, muà Hè của Ðông Bắc Hoa Kỳ vẫn còn đổ lửa với những sáng nắng chiều mưa. Không gian lắng đọng mỗi trưa hè vắng gió mát, vắng tiếng ve kêu như thuở ngày còn cắp sách đến trường ở quê xưa. Những giây phút ngày xưa, thấm thoát mà đã mấy chục năm trường…

Muà Hè năm nay, nước biển ở Ocean City (Maryland) vẫn còn lạnh mặc dù đã bắt đầu qua tháng 9. Không ai hiểu tại sao ? Những thay đổi của trời đất, cũng như tâm trạng con người, vẫn còn là những bí mật mà biết bao giờ mới tìm thấy được những câu trả lời ?

Những tờ báo liên mạng Việt Nam dễ thương cũng dần dần khuất bóng với những trách nhiệm thưc tế mà các bạn trong nhóm chủ trương phải đương đầu như : cuộc sống, gia đình, v.v. Trong thời gian qua, Giao Muà đã nhận được nhiều thư độc giả lo lắng khi thấy tình cảnh những tờ báo khác đình bản, đã khuyến khích và mong mỏi Giao Muà tiếp tục nhiệm vụ của mình. Những thịnh tình đó, BBT Giao Muà xin ghi nhớ và sẽ cố gắng để khỏi phụ lòng bạn đọc.

Thân mời các bạn ghé thăm Giao Muà tháng 9.

Ðinh Ðặng Trường Như (Trung Kỳ)
BBT Nguyệt San Giao Mùa


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Vụn Vặt Vẩn Vơ ...! ______nttn
2. Men Tình ______Việt Dương Nhân
3. Ðường Xưa Cho Em ______Việt Hải
4. Nửa Vầng Trăng Của Tôi Riêng ______l.t. quỳnh hương
5. Nguyệt Khúc ______Hoàng Mai Phi
6. Nỗi Buồn Vu Lan ______Ngọc An
7. Bờ Kỷ Niệm ______Phạm Vũ Anh Nam
8. Niềm Riêng ______Mạc Phương Ðình
9. Lửa Hận ______Uyên Thi
10. Vạt Nắng ______Thu Hằng
11. Anh Sẽ Về Ðâu ______Trường Ðinh
12. Xin Chút Tình Lành ______Trần Thị Hà Thân
13. Linh Hồn Ðánh Rơi Nơi Nao ______Tử Nhi
14. Phố Chiều Cuối Năm ______Linh Vũ
15. Gửi Lại Santa Ana ______Sương Mai
16. Lời Thương Kính Gởi Mẹ ______Viễn Phương
17. Lục Bát Mùa Xuân. ______Võ Ðình Tuyết
18. Những Dòng Sông Quê Hương ______Trần Hoan Trinh
19. Nỗi Niềm ______Gia Phong
20. Cung Ðàn Rơi ______Ðặng Xuân Mai
21. Huyền Thoại ______Hoa Cỏ
22. je t'ai attrapé ______Việt Dương Nhân (Paris)
23. Cô Nhân Tình Nhỏ ______Khánh Học
24. Chôn Dấu Thiên Ðàng ______Nguyên Khoa
25. Bên Giòng Lục Bát Lạc loàị.. ______Võ Thị Xuân Ðào
26. Nhớ Chị Giữa Muà Thu Lá Vàng ______Thu Minh
27. I Miss You In The Yellow Fall ______Thanh Thanh
28. Vẫn Còn Nhớ Bậu ______Châu Thái Lê
29. Say Nắng ….. ______CC
30. Ðêm ______Phan Thái Yên

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Hành Trình Của Phở _______ Trần Viết Minh-Thanh
2. Ngôi Nhà Kỷ Niệm ___________ Vành Khuyên
3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 15) ___________ Trần Công Nhung
4.Về...(tiếp) ___________ Thanh Sơn
5.Số Phận ___________ Bích Hà
6.Ơn Ðền, Oán Xả ___________ Việt Dương Nhân (Paris)
7.Cung Phu ___________ Nguyên Cương Andy
8.Không Còn Nhật Nguyệt Trong Bước Về Của Em ___________ Nguyễn Ðăng Tuấn

III . Ngàn Lời Ca (kỳ 7)________________________________________________________________

1. TÌNH CẢM THIÊN NHIÊN _______________________________ NS Phạm Duy

IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

V. Nghiên Cứu________________________________________________________________

1. Bịnh Ðậu Khỉ _______ BS Nguyễn Văn Ðức
2. Khai Trường Và Chích Ngừa _______ BS Nguyễn Ý Ðức
3. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng _______ Việt Hải

VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Tuyển Tập Thơ Giao Muà 2003 _______ Giao Muà
2. Ca khúc Cánh Chiều _______ Giao Muà
3. Giải Thưởng Văn Học _______ Giao Muà
4. Website Nhân Ðạo _______ Giao Muà
5. Thơ Võ Ðình Tuyết: Ðến Từ Phương Ðông _______ Giao Muà

VII . Nhạc __________________________________

1. Nhạc : Ðể Tình Theo Gió Cuốn _______ Bích Hà

VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Vụn Vặt Vẩn Vơ ...!

có những bóng hình em sẽ mãi ấp ủ
mãi giữ cho mình những kỷ niệm thân thương
để rồi mai kia lỡ hai đứa hai đường
em sẽ không tiếc và sẽ không thèm nhớ ...

                 ooOoo

có những ước mơ mãi không là sự thật
chỉ là mơ ước
chỉ để mơ ước thôi ...!

                 ooOoo

có những phút giây màu nhiệm thật ngắn ngủi
vài giây thôi cho dù chỉ vài giây thôi
thoáng tin yêu đem chôn lấp những tủi hờn
trong khoảng khắc con tim như chợt tỉnh dậy

                 ooOoo

nếu ... nếu mai này ... ta có duyên hội ngộ
nếu có một lần cho tay quyện lấy tay
một lần thôi ... cho hết nhớ nhung vơi đầy
cho môi tìm môi ... cho thịt da bốc cháy ...

                 ooOoo

có những ước mơ mãi không là sự thật
chỉ là mơ ước
chỉ để mơ ước thôi ...!

                 ooOoo

có những bóng hình sao em hoài ấp ủ ...!


18 June 2003
http://www.umich.edu/~nga/nttn.html
	
nttn  
Mục Lục


2. Men Tình Chiều hè giọt nắng buông lơi Nghe tim rung đng bên Người vừa quen Rượu chưa cạn chén, say mèm Vì cơn tình đng bốc men nồng nàn Ngất ngây điệu nhạc, cung đàn, Tim yêu rạo rực ngập tràn thế gian Thôi rồi, khúc hát tình tan ! Ðưa ai vào cõi mênh mang ái tình. Kia kìa ánh mắt lung linh Ngàn sao, trăng sáng chỉ mình đôi ta Mng mơ tơ vướng Ngân-Hà Vĩnh-hằng trong cõi trăng-hoa tuyệt vời. Tim nào có tuổi Tim nào có tuổi, hỡi người ơi ! Khi yêu ôm ắp bóng hình người. Hồn tươi trẻ nhìn hoa cười mỉm, Và ánh nắng vàng tỏa nơi nơi... Việt Dương Nhân
Mục Lục


3. Ðường Xưa Cho Em Ðường nào ta đã đi qua, Xin anh nhớ giữ em là ưu tiên, Cho em một thoáng hồn nhiên, Ðừng đưa ai khác vào miền ta qua, Khi nào em có vắng xa, Xin anh hãy giữ cho ta thật gần, Ðường về ngày ấy còn thân? Xin anh hãy hiểu em cần tim anh, Ðường xưa ru giấc mộng lành, Ðừng trao ai khác em đành lẻ loi, Lời em mong mỏi thế thôi, Em mong đường cũ chung đôi lối về. Việt Hải

Mục Lục


4. Nửa Vầng Trăng Của Tôi Riêng tôi ngồi ôm nửa tình riêng nhìn trăng soi bóng bên hiên sáng ngời mông lung ẩn hiện dáng người xa vời một bóng của đời năm xưa vòng tay ủ ấp đêm mưa nụ hôn dâng hiến đong đưa tình về tôi ngồi mơ giấc nửa khuya tiếng mưa rơi nhịp như nghe gõ chào nhịp chân ai bước lao xao giật mình nhỏm dậy nao nao cõi lòng ai về hay chỉ mình không ? chờ người trắng tóc - vẫn trông ngóng người ! tôi ngồi chải bạc tóc đời đếm bao hoa trắng anh thời xa tôi nắng chiều vướng lá bên đồi cánh chim mòn mỏi cuối trời xa xôi thôi về ru giấc ngủ vời xa lìa trần thế - xa đời phù vân ! tôi riêng với nửa vầng trăng ...

l.t. quỳnh hương

Mục Lục


5. Nguyệt Khúc Ðêm về mưa gió Một thoáng suy tư Có hay khong có Trăng khuyết, trăng tròn Ðêm càng quạnh quẽ Trời vẫn khắc khe Gió mưa, mưa nắng Chân tình xóa vết Ta ngồi, tinh tú Ðời vẫn luân lưu Có như không có Ai nhớ ai buồn Ta còn gì nữa Tuổi đã thênh thang Có như không có Sương tóc phai tàn Em giờ đâu đó Vụt thóang mưa qua Có như không có Khuất bóng mây giăng Em còn ngồi đó Hay cành lá khô Gió mưa, mưa gió Ðêm hết trăng tàn Sao trời mưa gió Nguyệt khuất trăng tan Có như không có Tinh tú vẫn còn Mai đời lặng gió Trời có trong xanh Có như không có Thôi khóc nguyệt cầm Như thuyền xuôi gió Nguyệt bóng trung trinh Có như không có Trăng đến trăng tàn Mai dù mưa gió Bao nỗi âu lo Có như không có Sầu vui mơ màng (tháng 6 mưa sầu -2003)

Hoàng Mai Phi

Mục Lục


6. Nỗi buồn Vu Lan Ðêm nay gió chuyển mùa thương Nhớ ơn phụ mẫu vấn vương cõi lòng Cha về giá lạnh bao đông Mẹ đi bỏ lại giòng sông đợi chờ Biệt ly từ đó ai ngờ Con theo định mệnh chia bờ ngân giang Mỗi mùa báo hiếu Vu Lan Sao nghe tâm não bàng hoàng từng cơn Nắng hạ nồng thêm héo hon Trông vời quê mẹ lòng son nghẹn ngào Biết bao giờ gặp lại nhau ? Họa chăng…trong giấc chiêm bao muộn màng Một kiếp tằm, kiếp đa đoan Cầu xin cha mẹ suối vàng thảnh thơi Hồn linh về với Phật Trời Cho ngày Ðại Lễ sáng ngời gương soi Nhớ ơn phụ mẫu đời đời Nhớ ơn Tiên tổ sánh vời non cao Trần gian con cháu lao đao Anh hùng nghĩa sĩ ra vào tử sinh Gian nan xứ lạ mưu sinh Chỉ mong một buổi bình minh quay về Mùa báo hiếu, dạ tái tê Ðàn con nước Việt nguyện thề sắt son Dù cho thân phải mất còn Chữ trung, chữ hiếu vẹn tròn trước sau … Vu Lan 2002 Ngọc An
Mục Lục


7. BỜ KỶ NIỆM ta thả thơ bay về miền phiến gió lạc lõng chiều qua đây dế kêu hè . tà áo trắng tự vẫn hàng phượng vỹ chênh vênh bức tường lở loang màu mực đỏ ngệch ngoạc xóa tan bờ kỷ niệm nơi chốn ta về chỉ còn gọi tên: thành phố . ta đi bên đời như thế chiều tắt vạt nắng hanh vàng vọt đôi tay ngắn tầm mơ ước bờ kỷ niệm . bập bùng hơi thở trong trí nhớ chuyến xe ngược gió tiếng ca vời xa từ vực cát: …. against the wind về thuở run run cánh tay víu bờ vai người tình đầu tiên . single tear drop cold sweat giữa đêm dài thẳm lặng gã trung niên 40 vun bờ kỷ niệm . sáng thức giấc trả lại cho nhau đôi tay hoàng hôn sợi tóc ai quên trên áo gối . em khóc nhạt nhòa tiếng ca mưa phố Oregan sương dưng ngọn cỏ triền phẳng con dốc Seattle . trả cho em dòng sông Vancouver chưa đủ một cuộc tình ta tìm em nơi nao chỉ còn lại tornado trong lòng phố vắng rừng bắp Omaha . và mùa đông gió bão cũng qua ta chờ em như chuyến xe lửa điện lăn qua đời góc phố Cleveland . tất cả chỉ còn trong ta một bờ kỷ niệm . 08-2003 phamvuanhnam@yahoọcom PHẠM VŨ ANH NAM

Mục Lục


8. Niềm Riêng hôm xưa buồn bực ra quầy rượu mới uống vài ly bỗng nhớ nhà đất mẹ ngàn trùng chừ cách biệt bạn bè năm cũ mãi chia xa về đâu khi cánh chim đà mỏi đối bóng từng đêm với tuổi già khắc khoải niềm riêng sầu cố quốc một mình ngơ ngác giữa phong ba tưởng đem hồ rượu vơi niềm hận cay đáng buồng tim chợt khóc oà ly rượu bỗng đầy lên nước mắt khóc người hay lại khóc cho ta súng gươm một thuở thành hư ảo lỗi đạo đành cam với mẹ cha vận nước thêm đau người mất nước đêm nghe tiếng dế gọi trăng tà con đường phía trước sương mù mịt đau đớn trùm lên nỗi thiết tha chia với ai đây đường viễn xứ quay lui lòng thẹn với sơn hà. (trong tập LỜI RU ÐỜI) mạc phương đình
Mục Lục


9. Lửa Hận Trong bóng đêm dìu dặt Nhớ về chuyện xa xăm Thắm thoát gần ba mươi năm Nửa kiếp người nơi dương thế… Làm sao quên những nỗi đau Làm sao quên được vũng sầu năm xưa Quê hương sớm nắng chiều mưa Vẫn bình yên với rau dưa tháng ngày Bỗng đâu chinh chiến đọa đày Con dân nước Việt vùi thây chất chồng Tháng tư đen lửa ngập đồng Tháng tư đen ấy máu hồng đổ tuôn Anh hùng tự sát vì dân vì nước Chiến sĩ hiên ngang nhuộm máu quân thù Cũng dòng máu Việt thiên thu Mà sao nỡ để cơ đồ đảo điên Xác người tràn ngập biển Máu tuôn dòng thành suối Xương người cao như núi Lệ người tràn biển đông… Lao tù thân cùm gông ! Tù ải đời trai với xích xiềng Ðau thương thảm họa mãi triền miên Ngồi đây nhớ chuyện ngày xưa ấy Lửa hận bùng lên muốn phát điên Ta muốn đập tan bạo quyền Ta muốn trở về quê cũ Ta muốn sống thật bình yên Cuối đời ta hằng ấp ủ Mái tranh mà chẳng lụy phiền Dòng sông dịu hiền xưa cũ Ru ta giấc ngủ êm đềm… Uyên Thi Mục Lục


10. Vạt Nắng Nghiêng nghiêng, vạt nắng trên ngàn Quyện vào đáy khảm, muôn vàn nhói đau Nhuộm nâu, đôi mắt cung sầu Hòa cùng vạt nắng, đượm màu úa thương Chiều về, vạt nắng bên đường Loang loang vết đổ, như dường tìm ai Tháng ngày, tìm bóng miệt mài Ðơn côi góp lại, nét ngài còn chi Hoàng hôn, vạt nắng ôm ghì Xanh xao tàn nắng, ngắt lìa làn hơi Lưng trời, mưa tỏa trắng ngời Hạt vương trên áo, nghe lời lạnh thêm Ðêm qua, vạt nắng rũ mềm Ðìu hiu nắng tắt, trên miền khát khao Giữa khuya, tiếng lòng thì thào Chảy theo dòng lệ, cõi nào nắng lên -TH (August 2003) Thu Hằng

Mục Lục


11. Anh Sẽ Về Ðâu anh sẽ về đâu trong đêm nay cho tóc hẹn thề phủ kín vai cho môi em ngát lời mộng ước cho dỗi hờn nhau trong mắt nai trăng hỡi, trăng khuya chiu chắt lòng hai bờ thương nhớ chuyện giòng sông kìa gió len trong làn mưa mỏng xin gởi trao về chút cảm thông trời cao thao thức, em có hay niềm nhớ riêng ai trong gió lay trên chuyến mong manh nghiêng màu nắng em có ưu tư với tháng ngày tình ơi theo nuớc chảy cuộn giòng bao nỗi niềm xưa mãi chờ mong chiếc hôn bi lụy trong chiều ướt sóng lả đôi bờ… trắng mênh mông em có mơ làm cánh chim bay cho mưa xa vắng nhòa trên tay chốn nao sẽ có hoa đào nở ai nhớ về ai trong nắng mai
Trường Ðinh





Mục Lục


12. Xin Chút Tình Lành em chỉ là em - em thương anh em hỏi xinh anh - chút tình lành đời bôn ba, lộc lừa - canh cánh chút tình lành - đây đó em - anh
Trần Thị Hà Thân


Mục Lục


13. Linh Hồn Ðánh Rơi Nơi Nao đưa tay vén vạn nỗi phiền muộn níu lòng đêm âm thầm tự hỏi linh hồn ơi giữa vùng tăm tối đã lạc mất nơi nao ? ngọn nến giữa khuya nhỏ dòng máu mình buông rơi lời tạ từ thống thiết với chính mình và với chính tim đau đốt cháy tim màn đêm mở ra từng phiến rời loang mỏng đìu hiu góc phố nằm chờ mưa róc rách vắng bình yên góc vắng tâm hồn gãy vụn rạn nứt như hơi thở mình chẳng thể sống lại chuỗi ngây ngô giọt cô đơn nằm gọn trong gió lộng đêm đen giấc ngủ vật vờ còn sót lại quê hương xa, em, tôi, và người ! lời kinh trầm đến từ hướng gió vỡ thành nghìn phím lệ trắng muốt nỗi bơ vơ sự cần thiết kiếm tìm đã ngập vỡ sóng lòng hoang mang linh hồn đêm gục đầu ẩn nấp ta tìm kiếm điều gì ? nơi nao !? đánh rơi mất chốn nào ? có trở về kịp đón mùa xuân tới ? riêng mang !!!
Tử Nhi



Mục Lục


14. Phố Chiều Cuối Năm Mặt trời nào đi qua Phố chiều loang vết nắng Con đường dài trước mặt Như có bóng tình nhân Băn khoăn cành lá rụng Tiếng guốc gõ mơ hồ Xoáy ngang vùng biển nhớ Ta biết mình đang mơ Ði về con đường cũ Vàng nắng một mùa thu Tìm em bên quán nhỏ Hoang phế phủ sương mù Chiều nay ai qua phố Mang xác lá vàng khô Phủ lên hồn băng giá Ðốt lửa ấm tình ta Cuộc đời qua quá vội Lòng ta như trăn trối Trên từng sợi tóc đời Ngày mai ai còn đợi Thời gian vừa mới chết Tháng ngày héo trên tay Chiều cuối năm nghe lạnh Nước mắt buồn chảy quanh Em phương trời xa xăm Nhớ em chiều vương nắng Phố dài thêm bước chân Anh dài thêm xa vắng
Linh Vũ

Mục Lục


15. Gửi Lại Santa Ana Cụm mây phía dưới chân em Một vùng mây trắng như quên lối về Em đi nắng có ai che? Em về gửi lại góc hè phố quen 08/26/2001 Sương Mai

Mục Lục


16. Lời Thương Kính Gởi Mẹ ( Nhân ngày của mẹ ) Ngày của mẹ người người vui hạnh phúc Chỉ hoài mong đem đến chút niềm vui Mang yêu thương về mẹ dẫu xa xôi Tôn kính mẹ tuổi đời nghiêng bóng xế Mẹ một thuở hy sinh khôn xiết kể Nặng cưu mang con trẻ cả đời người Nuốt tủi hờn cay đắng giữ đầu môi Dù khốn khó mẹ không lời than thở Con khôn lớn vào đời bao bở ngỡ Mẹ dắt dìu từng bước để con đi Thương yêu con gian khổ chẳng sờn chi Lấy thân mẹ che con trời giông bão Con thương mẹ,nguyện lòng con hiếu thảo Kính mẹ hiền nghĩa nặng với ân sâu Cả đời con và mãi mãi đến ngàn sau Trong tiềm thức không phai hình bóng mẹ Viễn Phương

Mục Lục


17. Lục Bát Mùa Xuân. 1. Trời mưa sợi tóc bay ngang Tháng giêng thay áo ai vàng cỏ hoa Chiều nây chú bướm thật thà Bay về đêm vỡ mộng ngà hiên xưa. 2. Nghiêng hồn vai xõa tóc hương Mắt ai trời tối vô thường trăng lên Bàn tay chạm khẽ không quên Sớm mai thức dậy chăn mền nhớ nhau. 3. Quơ tay đụng bóng thời gian Biết rằng son trẻ đi hoang chẳng về Xuân thì- Cố Quận- Bên Tê Bên Ni- Sợi Tóc- Bạc kề thiên thu. Cánh Ðồng Nón. Mùa Xuân Năm 2001.

Võ Ðình Tuyết
Mục Lục


18. NHỮNG DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG Có những dòng sông đổ ầm ầm ra biển Bọt tung mù qua ghềnh đá hung hăng Có những dòng sông hiền hoà thánh thiện Chảy êm đềm qua nội cỏ đồng trăng Bạch Ðằng Giang một thời dậy sóng Nơi chôn thây vạn quân Hán quân Mông Bóng Ngô Quyền cỡi thuyền xung trận Chỉ gươm thiêng Trần Hưng Ðạo oai hùng Dòng Hát Giang đi vào huyền thoại Nơi Trưng Vương nhảy xuống trầm mình Người liệt nữ nặng thù chồng nợ nước Giục trống đồng vang động cõi Mê Linh Hồng Hà ơi ! Bao triều đại phế hưng Vẫn cuồn cuộn giữa Thăng Long lịch sử Vẫn lớp lớp sóng xô về châu thổ Ðỏ phù sa và đỏ máu tiền nhân Con sông Gianh thuở Trịnh Nguyễn phân tranh Là anh em mà nồi da xáo thịt Cùng một Tổ mà điên cuồng chém giết Bao thây phơi bao xương trắng chất đồng Sông Bến Hải chia cắt non sông Cùng nước Việt mà hai miền Nam Bắc Bên ni chông mìn , bên kia kẽm sắt Cho đau thương cứ rên siết hai bờ ! Con sông Hương đẹp như một bài thơ Nước như ngọc giữa hai bờ lau lách Sớm sương toả đêm phủ trăng cổ tích Bên hoàng thành lưu luyến đế vương xưa Sông Thu Bồn trôi lãng đãng như mơ Chảy len lỏi giữa đồng khô đất đá Trơ bãi cát những ngày hè nắng hạ Tràn lan bờ khi nguồn lũ triều dâng Sông Trà Khúc một dòng uốn quanh Bên núi Bút bên cô thôn Cổ Luỹ Cầu chênh vênh đẹp như tranh sơn thuỷ Hai bên bờ dừa đổ bóng nghiêng nghiêng Sông Ðà rằng chảy qua tỉnh Phú Yên Bỗng hung dữ trong những ngày mưa bão Nước phá đê cuốn phăng đi tất cả Nhà cửa trôi súc vật cũng theo dòng ! Con sông Cái xa xa bóng Hòn Chồng Chảy ra biển bên Tháp Bà cổ kính Những Chiêm nữ nhớ một thời cung điện Dưới trăng vàng múa vũ điệu Champa Cửu Long Giang giữa Lục tỉnh bao la Từ dòng Mê Kông ào ào đổ sóng Qua những cánh đồng cò bay thẳng cánh Chín con rồng ngậm nước đổ về Ðông Mỹ Tho , Bến tre, Sa đéc, Vĩnh long Con sông Tiền hai bờ xa thăm thẳm Mùa nước nổi như bức tranh thuỷ tận Chỉ thấy trời bên con nước mênh mông Con sông Hậu thẳng tắp một dòng Rừng đước rừng tràm rừng lau rừng sác Gió thổi bạt ngàn nhấp nhô sóng bạc Ðắp phù sa cho màu mỡ miền Nam Oâi những dòng sông! Những dòng sông Việt Nam Những dòng sông đi vào lịch sử Những dòng sông như những dòng mật sữa Nuôi máu hồng cho đất đá trỗ hoa Cho quê hương nắng ấm chan hoà . (trong QUÊ HƯƠNG THƠ VÀ EM )

Trần Hoan Trinh


Mục Lục


19. Nỗi Niềm Mưỡu: Chiều chiều gió thoảng mây trôi Hoàng hôn nhạt nắng lá rơi bên thềm Tâm Thư ấp ủ từng đêm Ngậm ngùi thương cảm gợi niềm nhớ nhung. Nói: Mượn nét bút dìu em đi tới Theo gió lùa nắng nhạt với mây trôi Hé nụ cười hờ hững trên môi Em đã khiến trái tim tôi quặn thắt. Kể từ lúc Tâm Thư góp nhặt Thương nhớ về nén chặt buồng tim Lắng nghe thổn thức bao nỗi niềm... Nỗi Niềm Riêng mà từng đêm... ai bày tỏ? Hồn mơ hoang vỗ về nhung nhớ Giọt thương thầm rụng vỡ từ khi... Ðêm đêm nghe tiếng thầm thì Trằn trọc không ngủ biết si người rồi Chìm trong nỗi nhớ xa xôi Theo con sóng vỗ dần trôi vào bờ. Thương người chung thủy... đợi chờ !

Gia Phong

Mục Lục


20. CUNG ÐÀN RƠI Biết giữ làm sao được phút giây Dư âm vang vọng những cung say Sóng triều xô động làn khóe mắt Bước nhỏ tình thân tay trong tay Suối nhạc đưa ta vào bến mê Ngỡ trong tiền kiếp gọi ta về Ðắm say mộng ảo đời hư thực Kề má môi hôn dấu vụng về Một chút tình xuân trên má duyên Dẫu xa nghìn dặm nhớ không quên Người đi xa lắc muôn trùng cách Giữ lại trong nhau một nỗi niềm 9-26-96

ÐẶNG XUÂN MAI

Mục Lục


21. Huyền Thoại Ta lột xác thời gian Tìm mình trong con chữ Tờ tâm can cứng ứ Vết tích nằm ngổn ngang Ta bước sang huyền thoại Thấy anh. Ðàn bà xưa Ôm đồi trăng hương lụa Gọi mời phút say sưa Ta soi đêm nguyền rủa Xát vào vết bầm sưng Những ngôn từ thối rữa Nở bừng giữa hai chân Ta vắt hồn phiêu bạc Rơi giọt nước mắt xanh Vun đời qua, kiếp khác Trổ trăm giấc mộng lành . Aug.10.03

Hoa Cỏ

Mục Lục


22. je t'ai attrapé Je t'ai attapé Tu es sous mon aile Où que tu sois Où tu iras Je serai là Avec toi Ici bas Au-delà Je te suivrais Je t'accompagnerais Tu ne seras plus seul Mon atmosphère Est la tienne Ton atmosphère La mienne Nous volons Nous planons Au-dessus des terres et océans Nous nous moquons De la mort Et du temps Nous nous aimons C'est la seule loi A laquelle nous obéissons Et nous sommes libres De notre choix Toi et moi, Unis pour la vie !

Việt Dương Nhân (Paris)

Mục Lục


23. Cho Em Cho em một mảnh trăng vàng Anh vừa mới vớt trên dòng sông xưa Trăng nào yêu chuyện gió mưa Nên trăng chỉ đẹp khi chưa giận hờn Anh đi rong ruổi ngày buồn Mắt hiền không biết em còn suy tư Gọi chi gió, mời chi mưa Ðể cho ngày ấy tình xa âm thầm ? Cho em giấc ngủ thăng trầm Nửa đêm nàng mộng về tìm qua thơ Này vu vơ, lại vu vơ Anh như loài bướm giăng tơ ngục tù Cánh vàng thưở ấy lãng du Cánh nay đã xếp, tạ từ gió mây Cho em một khoảng trời này Khi mùa đông chẳng ra ngày, ra đêm Chỉ từ trong bóng tối, tim... Lẻ loi ánh lửa yêu em rạng ngờị

Khải Nguyễn

Mục Lục


23.Cô Nhân Tình Nhỏ Này cô nhân tình nhỏ Tuổi đôi mươi ngọt ngào Thơm như là trái táo Nắng hạ về xôn xaọ Cô nhân tình kia ơi Tôi muốn nói vạn lời Rằng thương cô nhiều lắm Giữ lặng thầm trong tim. Cô nhân tình tôi thương Mỗi lần ngang qua phố Tóc daì bay trong gió Suốt cả ngày vấn vương. Cô nhân tình mắt nai Nụ cười xinh duyên dáng Âm thầm, cô đâu biết Có một người thương cộ Này cô nhân tình nhỏ Tặng cô một cánh hồng Của tình yêu tôi đó Cô bằng lòng nhận không ?

Khánh Học.

Mục Lục


24.Chôn Dấu Thiên Ðàng - tiếng ve thảng thốt trong khu rừng rậm từng cơn sốt dẻo kéo dềnh không gian đi đâu ? về đâu ? nỗi lòng tháng tám - Một bảo tàng em chôn dấu thiên đàng những con đuờng - vắng - nắng lên tất tả hoa dại bốn mùa vàng đóa thùy nhiên ngày tình yêu cất cánh bay vội vã Một bản đồ em nghiệt ngã đôi miền gió lên! gió lên! ai ghì tay gió trả áo về trời ngần đó mây bay em trôi mênh mông trên vòng tuổi nhỏ bên anh, trong anh, ngày tháng dông dài chạy suốt mùa yêu ra chiều vô tận vuốt ngấn tay mong nâng sầu buông lơi tiếng ve cuối cùng vút âm đứt đoạn Một thuở nào em tròn kiếp rong chơi .. Aug.14.03

Nguyên Khoa

Mục Lục


25. Bên giòng lục bát Lạc loài... Bóng nằm chết dí thềm trăng Nghe cây cỏ thở ngàn năm hửng hờ Mặt gương còn mỗi dáng thơ Chán chường trút gánh xuống bờ vực sâu Nghe trăng bỗng trở gót sầu Úa vàng rắc ánh bên cầu giao duyên Thơ tiên bỗng luỵ bên thềm Dốc đời đổ ngược bao phiền luỵ sa Treo trên nhánh ngọc cành ngà Thấm thân trần thế nhuộm tà huy xưa Duyên tiên là chút mây mưa Ðọng trong đáy cốc chưa vừa men say

Võ Thị Xuân Ðào

Mục Lục


26.NHỚ CHỊ GIỮA MUÀ THU LÁ VÀNG Chiếc lá vàng rơi -- hay cánh bướm -- Ðến đậu vai em một sớm Thu Mình em trở lại con đường cũ Kỷ niệm xua đi lớp sương mù Thương em cách trở miền quê ấm Chẳng quản đường xa chị đến thăm Quê hương là chị, là Hà Nội -- Trà sen, hương cốm -- thắm ân tình Chị chải suối tóc thời con gái Nhẹ bay trong chiều nắng lung linh Em ngồi ngắm chị qua khung cửa Ấm lòng ngỡ tưởng... giữa quê mình Chị đến ngày Thu mới chớm vàng Giờ đây Thu đổ lá mênh mang Dòng sông nhớ chị đìu hiu chảy Mới đấy ... đã xa -- thật ngỡ ngàng Thời gian xếp lá vàng muôn lối Nhớ chị lòng em lại bồi hồi Những ngày bên chị -- trăng Thu tỏ Hỡi người chị gái mến thương ơi La Rochelle le 30-12-2001

THU MINH

Mục Lục


27. I MISS YOU IN THE YELLOW FALL A yellow leaf - or, is it a butterflỷ - Has alighted on my shoulder this autumn morn. I am going back, by myself, to the old path And my remembrance dispels the haze lorn. Pitying me, separated from the cosy abode, You passed long distances to visit me here: Our mother country is you, Ha Noi City - Lotus tea, green rice flavor - loves so dear. In the shimmering afternoon sun, you combed Your hair that fluttered - the light girlish strand. Thru the doorframe, I sat contemplating you, So heart-warming as back in our homeland. You came - those days just grew yellowish; Now, fall has dropped dead leaves all around. Missing you, even the river flow is desolate: Then there, now far-away - just to confound. Time spreads yellow leaves on every side; Thinking of you I feel by sadness seared. How I remember - in the clear moonlight Being beside you, sister, my very endeared! members.aol.com/POETfromVIETNAM

THANH-THANH

Mục Lục


28. Vẫn Còn Nhớ Bậu Anh nhổ đám mạ non nghe tình còn đâm rễ Bậu , quên không dễ ! đành để vậy mà thương ví dầu cá lội trong mương ầu ơ nước cạn tìm đường ra sông Anh trách phận long đong nước bên trong bên đục tình còn thúc giục nên lúc tủi lúc buồn bên bồi nước đục xuôi nguồn muốn qua bên lở không xuồng đành thôi Nhìn cánh lục bình trôi lòng bồi hồi nhớ Bậu thương con sáo sậu giờ phải đậu cành xa anh nào đâu trách người ta lòng anh sầu tím như hoa lục bình Biết em chẳng phụ tình giữ phận mình trọn hiếu thân em liễu yếu cha mẹ biểu phải vâng gần nhau ta chẳng được gần trách em không trách mười phần còn thương Hoa cau rụng bên mương thoảng mùi hương trong gió nhìn con sáo nhỏ ngậm cọng cỏ trên cây ví dầu tổ sáo còn xây mà sao chim sáo anh bay phương nào ! Anh chặt xuống buồng cau hái dây trầu xanh lá chiều qua dâng má dù duyên đã lỡ làng ầu ơ con nước chảy ngang thân anh rể hụt ... thay nàng báo ơn .... http://www.ctl-thọcom/music/vanconnhobaụhtml 7/22/2003

Châu Thái Lê

Mục Lục


29. Say nắng ….. Những tia nắng mới ở tàn đông tuy chưa đủ ấm lòng nhưng sao mà thương lạ ? Những tia nắng sớm hiền hoà chưa đủ nóng để bỏng da như tình yêu mới nhẹ nhàn nghe thương wá ….. Kià …. ! Hàng cây trụi lá im lìm suốt muà đông thèm nắng như thèm môi cuả người tình nóng hổi Cành khô hớp vội ngụm nắng đầu thành ma lực tin xuân mướm chôì no rực lưả …..! Thương lắm …… những tàn đông say sưa nắng chao lòng men diụ đến miên man Vàng hoe đắm cả cung đàn Ðê mê đoản khúc muà sang ngát lòng Tia nắng mới xé màn sương tinh khiết Những hạt kim cương lắp lánh trên cành lá Những giọt tình lơi lã gọi dư âm …. Kià …….! Búp non đầu muà ngưã mình uống nắng mai mềm lá mỏng ôm mặt trời ngây ngất Nhưạ sống tràng không gian se se nhè nhẹ ………….. gió raọ thềm sang chờ hoa nở Ồ …… nắng mới! Cuối đông về lắp lay làng sóng má(t lẵng lặng thầm môi khẽ lén hôn xuân 16th Aug 03

CC

Mục Lục


30. Ðêm Nến hồng lay lắt canh thâu Trầm đêm vời vợi cho sầu dậy men Ngõ tâm tư khép cài then Nhốt cơn đau xót huyền mê mấy tầng Chiêm bao rớt hột âm thầm Lên đôi mắt nhớ buồn dâng cuối trời Nghe hồn cất tiếng thương ơi Xót hương ngày cũ tơi bời lòng đau Thôi em còn chút mộng nhàu Theo nhau về với quên sầu viễn phương

Phan thái Yên
8/2003
(khi nghe P.I. Tchaikovsky)

Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Hành Trình Của Phở

Trần Viết Minh-Thanh





Từ gánh phở bình dân của người Bắc di cư vào Nam năm 54, phở lan tràn khắp thành phố hoa lệ Sài Gòn qua những quán lớn nhỏ, những dĩa rau, dĩa giá tăng thêm màu sắc của tô phở nguyên thủy. Sau cuộc đổi dời năm 75, người Việt lại ra đi tìm nơi đất lành chim đậu, và cũng đã mang phở tới khắp thế giới. Trong thời gian hai mươi năm ngắn ngủi, phở nghiễm nhiên trở thành một món dân tộc, gắn liền với người Việt tỵ nạn.

Thật thế chưa một món ăn Việt Nam nào lại được chú ý nhiều như phở, mà các món quốc hồn quốc túy của Việt Nam ta không phải ít: nào là bánh cuốn, chả giò, các thứ bún, các loại bánh vvvv, thế mà phở - ra đời chỉ vào đầu thế kỷ 19, đã đánh bại tất cả các món đã có từ ngàn xưa để đương nhiên đứng hàng đầu tại hải ngoại.

Vào thời kỳ người Việt mới định cư tại các nước năm 1975, mà đông nhất là tại Hoa Kỳ, mấy ai tiên đoán trở nên phổ biến đối với người ngoại quốc đến thế? Nếu phải đặt tiền cá độ vào một món, nói theo kiểu dân Las Vegas, (mà người Việt ta thì ai cũng có máu cờ bạc chút chút - đó là lời tuyên bố của ông bô tôi) thì chẳng ai dám đặt tiền xuống cá anh phở cả. Có tiên đoán thì chắc ai cũng bỏ tiền vào bác chả giò hay chú bánh mì thịt. Các món này có nhiều hy vọng địch lại các món ăn của các chủng tộc khác. Này nhé, phở là một món nước, tất nhiên được liệt vào hàng soup, làm sao có thể cạnh tranh với egg roll của người Hoa, burrito của người Mễ Tây Cơ, spaghetti của Ý, sushi của Nhật, cà ri của Ấn Ðộ, sausage của Ðức, gyros của Hy Lạp vvv …. Tất cả những món vừa nêu ra không có món nào là món nước hết! Món nước trong thực đơn Tây phương là món "soup", được xếp ngang hàng các món khai vị, có thì tốt, không có thì cũng không sao! Thế nên trong tâm người Việt phở khó có thể là món lôi cuốn đối với khách hàng ngoại quốc.

Chả giò là món đa số nghĩ người ngoại quốc sẽ chuộng. Thật thế, cắn một miếng chả giò dòn tan trong miệng, với hỗn hợp mọi thứ xắt nhỏ, cuộn với rau, chấm nước mắm pha, là một món dễ ăn cho cả người lớn và con nít. Chả giò có từ lâu đời, nhà nào cũng biết làm chả giò, dù rằng trước kia, chỉ có ngày Tết và giỗ, hay lúc có khách, các bà nội trợ mới ra công làm chả giò. Thịt băm, cua ráy, bóc tôm, cà rốt và các thứ phải xắt nhỏ, trộn lẫn, cuộn bằng bánh tráng và chiên dòn. Làm chả giò thật là một công trình! Tuy vậy, sau này với những dụng cụ tân tiến trong nhà bếp, làm chả giò không còn đến nỗi phiền phức như thời ông bà, cha mẹ ta. Băm thịt không phải là một vấn đề. Tôm có thể mua loại bóc vỏ rồi. Xắt cà rốt nhỏ, thì đã có máy! Thế nên chả giò là món rất tiện để mời khách, vừa bắt mắt lại dễ hạp khẩu vị của khách ngoại quốc! Thế nhưng không ai học được chữ ngờ. Tuy rằng ai cũng chuộng chả giò, từ trẻ con cũng như người lớn, Mỹ hay Việt Nam, nhưng chả giò vẫn phải cùng các thức ăn quốc hồn quốc tuý khác đứng lấp ló đàng sau anh phở.

Từ tiệm phở nhỏ mở phục vụ đồng bào thèm hương vị quê nhà, với ba bốn bàn ghế sơ sài, bỗng dưng tại các góc đường, các khu phố người Việt mọi nơi đều có tiệm phở, thậm chí có tiệm còn để biển "Phở Thanh Hương", thay vì "Nhà Hàng Thanh Hương", tuy rằng tiệm bán đủ các loại thức ăn, với thực đơn dài thòng 5, 6 trang, mà phở chỉ là một phần trong các món mà thôi. Trong trường hợp này "phở" bị đồng hoá với chữ "nhà hàng", như là một cách câu khách. "Các bác cứ vào đây đi nhé, chúng tôi bảo đảm có phở. Còn những ai chán phở, chúng tôi có các thức khác ...."

Làm sao người viết bài này dám nghĩ phở trở thành một món người ngoại quốc gắn liền với người Việt Nam? Trong vòng năm năm trở về, cứ độ vài tháng người viết lại được đọc một bài về phở. Từ bài giới thiệu phở trong mục Gia Chánh hàng tuần của tờ báo tỉnh, đến bài giới thiệu tiệm phở trên trang nhất như là tiệm ăn mới mở đáng lưu ý đến, cho tới bài viết về phở trên mạn lưới, trên diễn đàn, trong trang Thương Mại như là một đường lối làm ăn, thế mới biết phở đã nhanh chân chiếm cảm tình khách ăn, và từ đó len vào thị trường ẩm thực của quê hương thứ hai. Trên đài Foodnetwoork, trong chương trình của anh đầu bếp nổi tiếng Emeril Lagasse, đã giới thiệu phở cho số đông khách yêu chương trình của anh, một con số không phải là nhỏ. Hôm ấy Emeril đã mời một thiếu phụ Việt Nam ở New Orleans phụ anh, cũng nước dùng, bánh phở, thịt bò xắt lát, rau, nước mắm ... À xin mở một ngoặc đơn ở đây: món nước mắm của VN ta đã được Emeril đem ra sử dụng nhiều lần, là gia vị cho các món ăn khác. Một anh đầu bếp khác, Ming Tsai của chương trình "Ming Tsai East meet West" cũng sử dụng nước mắm và tương ớt, sản xuất tại Rosemead, California.

Tại quận Cam, nơi tiểu Sài Gòn đóng đô, tháng vừa qua tờ báo lớn trong quận đã có hai bài viết về phở! Tất nhiên mỗi bài viết về phở, phải kiếm một cái gì là lạ, mới mới về phở mà nói đến. Những bài viết đầu tiên, mục đích giới thiệu phở với người ngoại quốc phải tả phở là cái món chi chi. Một tô phở tự-nó-là-một-món-ăn-đầy-đủ (a meal by itself), có nghĩa ăn một tô phở là đủ no, như ăn một cái bánh mì hamburger, ăn burritos vậy! Ðó cũng là một cách nhiều người Việt thuyết phục bạn bè ăn phở lần đầu tiên. Bánh phở là những sợi dài, dẹp, làm bằng bột gạo, nước trong, thịt bò tái, chín, xắt lát, và những dĩa rau xanh, tươi xuất xứ từ miền nhiệt đới, các thứ nước tương đi kèm, chanh, giá, nước mắm gừng cho phở gà, hành dấm, hành chần vvv … Phở ăn vào ngày nóng cũng ngon, mà ăn vào ngày lạnh giá càng tuyệt hơn. Kỷ niệm nhớ đời của người viết là được ăn một bát phở nóng tại tiệm Hòa, khu Chợ Tàu, tỉnh Boston, ngoài trời tuyết rơi lả tả từng bông lớn, một màu trắng xóa phủ xuống khu phố, bên trong giọng của Tuấn Ngọc thật ấm, thật nồng, làm mình cứ ước ao được ngồi mãi trong tiệm! Lúc khỏe ăn phở rất tốt, mà khi người yếu thì không gì bằng tô phở gà, chất gừng trong phở, nước lèo nóng làm cơ thể đang mệt lã như có sinh khí trở lại. Người viết đã giới thiệu món phở gà cho anh bạn Mỹ lúc anh đang ốm và ho cả tuần. Sau tô phở gà lần đó, lúc nào ốm anh cũng trở lại tiệm ăn cho bằng được món thuốc kỳ diệu này! Chẳng thế mà tác giả của "Hiến Chương Tình Yêu", dáng người mảnh khảnh, một tuần đóng đô tại tiệm phở yêu thích cũng mất năm buổi!

Trở lại bài báo giới thiệu phở, nữ ký mục gia đã cùng hai người bạn, một người Việt Nam, và một người Mỹ chưa-hề-ăn-phở-bao-giờ, lựa ba tiệm phở trong vùng Tiểu Sài Gòn để cùng thử và so sánh mùi vị phở. Qua ba tiệm họ đã thưởng thức phở bò, phở gà và phở ... tôm. Thật tình người viết chưa bao giờ ăn và nghĩ đến chuyện thử phở tôm . Nhưng người ngoại quốc thích, thì tội gì mà mình chê gà nhà nhỉ? Cả ba tiệm đều được những lời phê bình tốt đẹp, từ tiệm bé nhỏ chỉ có vài bàn, đến tiệm có tô phở xe lửa - mà họ cho là tô lớn nhất họ được thấy từ trước đến nay! Không hiểu họ nghĩ thế nào nếu được diện kiến tô hàng không mẫu hạm, mà người viết có lần trông thấy một anh thanh niên Việt chiếu cố tại tiệm Phở Hòa, Boston, lớn cỡ cái thau, chắc hẳn sinh ra để phục vụ cái bao tử của các thanh niên đang tuổi "bẽ gẫy sừng trâu", bên xứ đất cờ Huê này, người ta gọi là tuổi choai choai, đang hăng chơi football.

Giới thiệu phở trong mục Gia Chánh vì phở, một món ăn dân tộc, trở thành thân quen trong cộng đồng bản xứ, thì là một điều hiển nhiên thôi, không có chi là lạ! Ðiểm đặc biệt là có một bài báo của tờ LA Weekly giới thiệu phở như là một hiện tượng giữa nhóm kỹ thuật gia tân tiến, qua bài viết, tựa đề "Âm Nhạc của Phở - đi vào khối", của Chuck Mindenhall. Bài báo viết năm 2000, nói đến Phở 87, Los Angeles, một tiệm bình dân nhỏ là nơi hội họp hàng tuần của các nhóm trẻ thuộc giới kỹ thuật tân tiến, các nhạc sĩ, các thiết kế gia mạn lưới. Họ, nhóm Jim Griffin, đã cùng nhau tụ họp tại quán phở mỗi chiều chủ nhật để bàn cãi những kỹ thuật mới nhất về Âm nhạc, mp3, digital music, về các bản nhạc sẽ được phát hành, và các nhà thiết kế mạn lưới thì trình bày những thiết kế tân tiến nhất để thu hút khách hàng, giữa mùi hương của hồi, quế và thịt bò hầm .

Ðiều lý thú là Mindelhall, một ký giả tự do, đã chế ra các từ Anh ngữ phoundation và phoster, viết trại ra từ foundation và foster, phoundation - nền tảng phở, và phoster culture, nơi hội họp và dung nạp văn hoá phở! Anh nhà báo này không dấu được sự ngạc nhiên, một quán bình dân, một món ăn lạ, lại là nơi tụ họp của những đầu óc tiên phong về kỹ thuật, của các doanh thương có tính mạo hiểm! Văn hoá phở đang trên đường phát triển!

Phở leo lên núi, tràn qua mạn lưới và tới biển. Dù Little Sài Gòn toạ lạc không xa chi biển, vì California chạy dài ven biển, cũng tựa như xứ ta vậy, nhưng khu phố VN vẫn nằm trong khu riêng biệt, xa nơi chốn du lịch mà dân Cờ Huê thường viếng. Tiệm được báo giới thiệu vì mở tại khu phố downtown, phố biển của thành phố du lịch, Huntington Beach, mệnh danh là "cỡi sống" (surf city), nơi có một số lượng đông du khách vào mùa hè, chung quanh toàn là các tiệm Mỹ hay Mễ. Thế nhé, từ đây các thanh niên tóc vàng, tóc nâu, tóc xoắn, da rám nắng, sau khi cỡi sóng, chơi bóng cầu và ngắm nhau ngoài bãi thay vìø dùng bánh mì thịt bò băm, bánh taco, burritos Mễ, gà chiên Ðại Tá, thì các chàng và nàng có thể đổi món ghé tiệm phở, có cái tên rất là mặn mòi: Phở Biển. Tôi đã được thấy Phở Biển, trước khi ký giả Nguyễn giới thiệu trên báo. Nằm khuất sau dãy phố rộn rịp, dưới tầng lầu một rạp chiếu bóng và tiệm ăn lớn, Phở Biển trông hiền hòa và vắng người! Không biết Phở Biển sống nỗi không, mình phải vào thử và ủng hộ mới được! Ðến khi ký giả Nguyễn biết đến phở Biển thì tên tiệm đã được đổi thành Mỹ Mãn. Chà khéo lựa nhỉ! Mỹ Mãn, đối với người hiểu tiếng Việt, là hoàn toàn, ăn xong tô phở sẽ bằng lòng, hết ý! Còn đối với người chỉ biết tiếng Anh, không đọc dấu, thì là phở "My Man", nghe rất chì, rất cool! Theo bài viết, phở My Man, có một số khách tới đều đặn, đủ sống. Chủ nhân trước đây đã mở tiệm phở tại một xứ biển khác, Florida! Tôi tin tưởng rằng Phở biển sẽ sống dài lâu với số lượng đông du khách càng ngày càng lớn tại khu phố mới được tân trang này.

Một năm trước đây, phở đã được giới thiệu trong mục Thương Mại của tờ Register tại quận Cam. Bài viết của Laura Loh, đã viết về phở, như là một món ăn dân tộc mới từ khi người Việt tỵ nạn Cộng Sản đến Hoa Kỳ, và mấy năm gần đây, phở đã có mặt trên thực đơn của cầu lạc bộ sinh viên, không chỉ tại các thành phố đông sinh viên Á Châu, như các vùng miền Tây nước Mỹ (Nam, Bắc, California, Seattle, Oregon), mà ngay tại một đại học miền Ðông, tỉnh Amherst, tiểu bang Massachussetts. Có lẽ vì giá bình dân của phở, mà sinh viên chuộng phở vì vừa túi tiền khiêm nhường của họ. Tính cách phổ biến của phở đã được các nhà kinh doanh ngửi thấy ngay! Các hãng làm soup như Campbell Soup đã thuê đầu bếp VN để giúp họ sản xuất món phở đông lạnh. Hãng Viet Wah, một hãng chuyên về thực phẩm Á Châu đã giới thiệu món phở tại Hội Chợ Fancy Foods (Thực Phẩm Kiểu Cách) tại San Francisco. Hãng Viet Wah cũng đã nói chuyện với hãng sản xuất và phân phối thực phẩm Kroger Co. về món phở. So sánh với món mì Udon của Nhật, phở bán chạy hơn rất nhiều!

Góp nhặt về phở, người Việt không khỏi nhớ đến một bài báo bàn về nguồn góc Phở. Tác giả Nguyễn Dư, một du học sinh miền Bắc qua Pháp thời còn cuộc chiến Việt Nam, đã tỏ vẻ hậm hực với lý thuyết cho rằng phở từ chữ pot-au feu của Pháp, nghĩa là chúng ta bắt chước dân Gô Loa, hầm thịt bò ra phở. Phở theo tác giả phải từ người Hoa đưa vào, và từ chữ phấn, của món ngưu nhục phấn. Nguyễn Dư đã đưa ra hai bức tranh của Henri Olger, một anh lính Pháp, với ý định giới thiệu sinh hoạt nước Việt Nam, đã lưu lại nhiều hình ảnh sinh hoạt xã hội thời đó qua những bức tranh dân gian.

Tấm tranh thứ nhất vẽ một hàng quà, mà ai cũng dễ dàng nhận ra là một hàng phở gánh. Theo tác giả "Tấm tranh này xác nhận rằng vào những năm đầu thế kỷ 20, ở ngoài Bắc, đặc biệt là ở Hà Nội, phở gánh còn do người Tàu (và có thể cả người Việt Nam?) đứng bán."'

Tấm tranh thứ nhì Nguyễn Dư đưa ra, có tên là hàng nhục phấn, món ngưu nhục phấn của người Tàu. Theo tác giả chữ ngưu sang đầu thế kỷ 20 bắt đầu bị rơi rụng. Tên món ăn trở thành nhục phấn. Rồi tác giả lại dựa vào bài "Ðánh bạc" của Tản Ðà được viết vào khoảng 1915-1917, để cho rằng Tản Ðà không mong được bạc, mà chỉ muốn thức đêm ăn nhục phở, tuy rằng trong đoạn tác giả trích ra, Tản Ðà không nói gì về nỗi mong ước ấy. Vẫn theo Nguyễn Dư, Tản Ðà gọi nhục phấn là nhục phơ. Chữ phấn chuyển qua phơ trước khi thành phở. Phở của nhục phơ (chứ không phải feu của pot-au-feu) mới là tiền thân của phở.

Nguyễn Dư hậm hực cho rằng người Việt ta bị Tây đô hộ nên cứ nghĩ phở phải từ pot-au-feu . Ý nghĩ này bị bóp méo theo chiều hướng bi quan! Marco Polo sang Tàu, được ăn mì Tàu, thích quá nên đem món sợi dài đó về làm thành spaghetti. Mì của người Hoa làm bằng bột mì trứng, mì của Ý cũng sợi dài, nhưng làm bằng bột mì lúa. Mì của người Hoa thường ăn với nước hầm xương heo, với hoành thánh, xá xíu, hoặc thịt vịt quay. Người Ý ăn mì khô trên dĩa với sốt cà chua, lại có phó mách bột rắc lên. Ai bảo món mì Ý không phải quốc hồn quốc túy của Ý, dù mì spaghetti Ý có xuất xứ từ Trung Hoa chăng nữa! Cũng thế, dù chữ phở có từ pot-au-feu, chắc chắn phở là món ăn thuần tuý VN, mà bất cứ người ngoại quốc nào khi ăn cũng công nhận phở rất đặc biệt của Việt Nam. Tôi không nghĩ phở là từ chữ Phấn mà ra, vì người Trung Hoa cũng như người Việt tận dụng anh trư triệt để. Ngày giỗ, Tết, người Việt ta đã mỗ xẻ anh trư tận tình, từ đầu heo nấu cháo, cho đến lòng lợn, chả giò, thịt giã làm giò chả, chả thủ, thịt heo kho, đùi heo hầm vvv … Còn với người Hoa thì khỏi nói, thịt làm hoành thánh, xá xíu, heo quay … hàng chục món quanh anh heo, và xương heo thì hầm làm nước lèo cho chục món mì nước, cũng như dùng là sốt cho các món xào. Chứ con bò, thì mỗi nhà chỉ có một, hai con để làm ruộng, làm sao dám đem bò ra hầm làm nước lèo! Dân Âu châu, Tây phương trái lại nuôi bò, và đã xử dụng con vật gậm cỏ này rất tận tình, từ bơ, sữa, phó mách đến thịt bò nướng, hầm rượu, nấu đậu ... chẳng khác gì bên trời Á đối với con lợn cả.

Ngày xưa ta không sử dụng con bò để làm thức ăn, mà từ thế kỷ 20 trở về, VN ta đã chế biến ra một món ăn gọi là phở, không những thế từ anh bò người Việt còn chế biến ra nhiều món khác, ngoài món boeuf fillet của Tây/Anh được ưa chuộng, ta có đủ món bò để thành "Bò Bảy món" và hơn nữa: nào là bó nướng lá lốt, chả đùm, gỏi bò, bò nướng lủi, bò lúc lắc, cháo bò, bò tái chanh, bò nhúng dấm, bún bò, bò xào vvv (Người Hoa cũng chế các món bò của họ, nhưng có lẽ trên phương diện thịt bò, không phong phú và hấp dẫn như bò của xứ An Nam). Vậy thì, dù ta có lấy ý từ món thịt bò hầm của Tây để rồi chế biến ra một thức ăn là phở, đúng hương vị người Việt ta, thì cũng là một điều nên hãnh diện, chứ cớ gì phải đau xót, bực dọc như ông Nguyễn Dư đã có cảm giác.

Nhìn lại, phở đã làm một cuộc hành trình thật dài. Từ một hàng phở gánh tại Hà Nội, phở phát triễn mạnh mẽ tại miền Nam. Từ tô phở Bắc hành lá, rau thơm, đến tô xe lửa, tương đen, giá chần, húng quế, ngò gai, bao nhiêu quán hàng phở đã đua nhau mọc trên đường phố Sài Thành, từ Duy Tân, Tự Do hay Hai Bà Trưng, Công Lý, phở mang tên số nhà, tên đường: Phở 79, Phở Lý Thái Tổ, phở Pasteur, Phở Hiền Vương, Phở Thăng Long, Phở Quỳnh Tín, Phở Nguyễn Huệ, mỗi tiệm mang một hương vị riêng .... Hai mươi năm sau người Việt di cư đến khắp bốn bể bẩy châu, và phở hiện diện tại mỗi thành phố có người tỵ nạn da vàng, từ Tiểu Sài Gòn đến Paris, từ một lâu đài lạnh lẽo chơ vơ bên Thuỵ Sĩ đến thành phố Boston - một chi nhánh của Phở Pasteur tọa lạc ngay Harvard Square, rộng rãi, mát mắt - mà khách ăn là hầu hết là các sinh viên tóc vàng, mắt xanh, cùng các vị giáo sư cổ kính ngồi xùm xụp húp phở. Người Việt mang phở theo để đỡ nhớ quê hương, và người bản xứ đã đón nhận tô phở nồng nàn vì hương vị của phở, nhẹ nhàng nhưng thấm dậm lâu dài.

Con người vẫn gần nhau qua ẩm thực, với Việt Nam là PHỞ!

Trần Viết Minh-Thanh


Mục Lục


2. Ngôi Nhà Kỷ Niệm

Vành Khuyên



Tôi sống lang bạc hơn mười năm . Chưa một lần thứ hai trong đời tôi thấy tự hào về mình có một chỗ ở nhất định .

Cái lần duy nhất tự bàn tay tôi tạo dựng được một ngôi nhà là với anh . Bao nhiêu là khổ đau đổ dồn xuống sau khi mua được ngôi nhà ấy , con mất , việc làm bấp bênh, điên dại vì những được thua và những ghen tuông đời thường một người đàn bà làm tôi mất hết .

Tôi vẫn còn nhớ rất rõ cái câu cuối cùng anh nói và bước đi trong cơn mưa nặng hạt " Muốn làm gì làm đi, gửi giấy tờ bán nhà cho tôi , tôi ký , cái giấy ly dị "

Tôi làm thật . Giờ thì tôi tiếc . Anh ở đâu ? Cho tôi một lần gặp lại .

Những ngày tháng sau đó tôi nghĩ mình sống , nhưng không . Thật sự tôi đã chết nhưng cái xác của tôi vẫn ăn , ngủ , nghĩ , thở và vẫn còn vật vờ trên cõi đời này .

Ai nhìn thấy tôi chắc hẳn đã từng tự hỏi trong lòng có phải tôi chỉ là một bóng ma . Tôi đi chẳng nhìn aị Tôi nhốt mình trong cái căn hộ thuê hai phòng , ở một phòng . Chiều tối đi làm về tôi vào thẳng phòng , bật ti vi để đó cho có tiếng người để đỡ cô độc . Mệt quá , tôi thiếp đi lúc nào không hay . Có lúc ngủ luôn đến sáng , có lúc dậy được ra ngoài tìm cơm nguội ăn . Ăn lấy ăn để , ăn mà không cần nhìn sao thức ăn và vào miệng lại có vị đắng . Qua ngày sau ,khi tôi về sớm hơn , mở đại nồi cơm hôm qua ra thì thấy những vệt mốc xanh đã nhan nhản .

Tôi vẫn mở mắt nhìn đây , chưa sao , thôi thì cái dại nào cũng chỉ một lần .

Tôi nhớ anh vô cùng , nhất là những bữa cơm nóng anh nấu cho và cõng tôi ra ngoài cùng ăn ...

Tôi gần như trở nên điên dại trong tâm tưởng . Tôi chuẩn bị tinh thần cho một lần ngã quỵ khác . Tại sao ? Lúc bấy giờ , chung quanh tôi chẳng còn ai , chẳng phải anh là tất cả trong cuộc đời , mà chính anh , anh là niềm tin cuối cùng tôi có được mà không biết giữ .

Tiền bạc tôi sẳn lắm . Mua gì cũng có . Tôi nghe bạn bè mách nói chuyện trên nét với người chưa quen cũng có thể san xẻ tâm sự vui buồn . Tôi đi mua một cái máy về nhà làm bạn .

Mỗi tối vào đó , nỗi chán chường dâng lên chứ không có vơi đi . Tôi còn nghe tận đáy lòng một nỗi khắc khoải không nguôi . Tôi bắt đầu viết . Viết cho chính tôi , cho những gì tôi đã trải qua . Vậy mà vơi đi nhiều lắm . Trong các câu chuyện của tôi , các nhân vật tôi có toàn là bóng dáng anh , hình ảnh anh , cá tính của anh . Nỗi buồn vơi đi , nỗi nhớ thương có chỗ để đong đầy . Vậy mà đã 10 năm trôi qua , dù trong tâm tưởng tôi mọi chuyện như mới vừa hôm qua đây .

Tôi dạn dĩ hơn với cuộc đời nhờ những bài viết . Tôi hiểu mình hơn , hiểu anh và hiểu tại sao những rạn nứt trong tình cám vợ chồng sứt mẻ tới vậy . Tôi cười chua chát vì sự ngu si của mình , qua đổ vỡ rồi mới hiểu .

Tôi nhớ căn nhà cũ vô cùng . Tôi muốn một lần trở lại nhưng chưa tìm được lý do . Bao lần tôi bước qua , căn nhà vẫn im lìm nằm đó . Bao lần tôi thử đánh bạo bấm chuông , nhưng chuông cửa chưa kịp reo thì tôi đã vội chạy ra xe trở về cái chốn nhỏ của mình .

Lần chót , tôi nghe tiếng đàn ông gọi giật . " Này chị , chị tìm ai thế " Người đàn ông tiếp theo " Tôi thấy chị quanh quẩn bao lần mà không tiện hỏi "

Tôi xấu hổ vì bị bắt quả tang, lúng túng " Xin lỗi ông , căn nhà này trước kia của tôi ? " Người đàn ông tròn mắt " Chị là chị Nhan phải không ? " Tôi ngớ người , tiếng người đàn ông giục " Chị vào nhà đã , đợi tí "

Tôi chỉ chờ có thế . Tôi bước vào trong , nghĩ mình sẽ tìm lại được gì đó cho riêng mình , chút xíu thôi tôi cũng an lòng mà đi mãi và sẽ không bao giờ trở lại .

Ngạc nhiên vô cùng , tôi nhận ra cách bày trí sao mà quen thuộc qúa . Tôi bắt đầu nghi vấn , linh tính và tim trong lồng ngực nhảy loạn xạ cả lên . Tiếng garage đóng xuống , bước vào một người đàn ông khác , sao mà quen thuộc , như hình dáng ngày nào tôi có trong vòng tay .

Lẽ ra tôi lắc đầu quầy quậy và nghĩ mình đang mơ . Tiếng anh thức tỉnh tôi " Nhan , em đến lâu chưa ? " Tôi ú ớ " Ơ sao lại là ... "

" Có lẽ còn quá sớm để nói với em căn nhà này vẫn là của em !"

Tôi vẫn còn anh , là điều tôi đã không ngờ nỗi , nay còn biết tôi vần còn ngôi nhà vì anh vẫn gìn giữ chốn kỷ niệm duy nhất tôi quý trọng ... đã vượt ra hẳn khỏi sức tưởng tượng của tôi ..

Tôi không dám chạy lại anh mà ôm chầm lấy anh , với chiếc ghế gần đó tôi gieo mình xuống , lòng tràn ngập một cảm giác thật vô cùng thú vị dù trên cánh tay tôi mới rơi xuống hai giọt nước nóng hổi và trên môi tôi một nụ cười dù chưa thật trọn vẹn .

Vành Khuyên 7/03

Mục Lục


3. Mùa Nước Lũ ( kỳ 15)

Trần Công Nhung



Sau lần thứ hai đi tìm không gặp Mẹ, Nam đã nhập học lớp Sư Phạm. Một niên học mới bắt đầu, mỗi người lại lo con đường của mình. Càng ngày càng thấy bận rộn, nhưng Nam vẫn thường xuyên tìm hỏi tin tức bà Nhiêu. Nam có linh tính trước sau gì cũng tìm được Mẹ, chỉ kẹt là xa xôi cách trở, mỗi lần đi tìm không đơn giản. Thỉnh thoảng có thì giờ Nam hay ra chỗ bến xe Nguyễn Hoàng, hỏi thăm những người quen ở Ðà Nẵng ra. Lần nào cũng chỉ gặp những cái lắc đầu. Nam lo, không biết mẹ có được bình yên, cuộc sống nay ra sao. Thà biết tin, rồi ở đâu cũng được. Hiện thì Nam cũng chưa có khả năng gì. Phải chờ ít ra một năm nữa. Nam yên chí về tương lai của mình. Thi khó chứ học thì khỏe re. Hai em Nam sang năm đứa vào Ðệ Thất đứa lên lớp Nhì.

Ngày 7-7-54 ông Ngô Ðình Diệm về nước lãnh đạo chánh phủ. Cuối năm 55 có cuộc Trưng Cầu Dân Ý để người dân chọn, giữa Quốc Trưởng Bảo Ðại hay Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm. Lúc này mọi quyền hành nằm trong tay Thủ Tướng, Quốc Trưởng ở tuốt bên Tây cho nên đây chỉ là một hình thức dân chủ thôi. Mỗi phòng bỏ phiếu đều có câu : "Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì". Công an kè kè, ai dại gì làm trái ý họ. Kết quả Quốc Trưởng bị truất phế. Thủ Tướng lên làm Tổng Thống. Nam thấy đời sống tươi vui hơn, sinh động hơn. Các sinh hoạt văn hóa xã hội phát triển rầm rộ. Nam vừa học Sư Phạm vừa học thêm lớp vẽ với một Họa Sĩ trong Thành Nội. Nam không chắc sau này có thành công gì về văn chương nghệ thuật, song từ nhỏ Nam ham đọc sách, mê xem tranh. Nam nghĩ nghề nghiệp là để kiếm cơm, nhưng chẳng lẽ sống chỉ để ăn no thôi sao. Những giá trị không mua bằng tiền mới tuyệt vời. Nam thử tìm cho mình một hướng đi song song với chuyện cơm áo.

Khóa học của Nam chỉ còn ba tháng nữa là mãn. Nam thấy ngày thảnh thơi gần kề. Thỉnh thoảng Nam rủ Thùy đi về các vùng ngoại ô chơi, may ra có tin của Mẹ. Thùy học khóa trước đã ra trường, được về dạy trường Tiểu học Vĩ Dạ. Nói là đi tìm nhưng cũng chẳng biết nơi nào rõ rệt. Có người bảo Nam đến mấy khu quanh nhà thờ hoặc các xóm Ðạo, vì dân di cư theo Ðạo nhiều lắm. Hôm đó nhân ngày lễ, Nam mượn xe đạp qua khu Phú Cam, lò dò hỏi thăm. Ðến trưa chẳng có tin gì, Nam đạp xe lòng vòng về những con đường sau khu nhà thương Huế. Khu này thật yên tĩnh, mỗi nhà mỗi vườn. Ðường không lớn nhưng rợp bóng cây rất tình tứ. Lúc chạy xe ngang con đường Ngô Quyền sau Viện Bài Lao, Nam thấy có hai người con gái tóc xỏa, mặc áo ngắn, dáng vẻ rất học sinh. Nam nhìn theo thói quen của trai gái gặp nhau chứ cũng chẳng có ý gì. Nhưng đạp xe quá một đoạn, Nam giật mình, ngờ ngợ, hình như một trong hai người có nét giống Thảo. Tự nhiên Nam hồi hộp tim đập liên hồi. Nam dừng xe suy nghĩ rồi tự cười mình vớ vẩn. "Hay là mình vòng xe lại giả vờ hỏi đường để nhìn cho rõ là biết ngay". Nam quay xe lại, cố đạp quá một đoạn rồi lui. Nam rề rề xe sát lề, chờ hai người thiếu nữ đến gần để hỏi đường. Lúc hai người con gái ngước nhìn Nam thì Nam tái xanh mặt mày, la lên: " Thảo". Một trong hai thiếu nữ cũng kêu to : "Anh Nam" rồi cả hai chạy ào đến ôm nhau khóc nức nở, cho đến lúc xúc động đã vơi, Nam bỏ Thảo ra, Thảo quay lại nói với bạn :
- Anh Nam mà mình có lần đã nói với chị Hiền.
Hiền cũng cảm động cho tình cảnh hai người. Nam khựng đi một lúc mới hỏi:
- Sao vầy em. Má, Mẹ giờ đâu ? Em sao lạc đến xứ này ?
Thảo lấy vạt áo lau nước mắt. Thảo vừa định nói thì nước mắt lại trào ra.
Bạn Thảo ái ngại cho hai người nên đề nghị :
- Thôi anh với Thảo đến chỗ vườn hoa đằng này mà tâm sự, đứng đây rồi khóc hoài sao.
Thảo cười mếu máo, Nam dẫn xe đạp theo hai người. Vừa đi Thảo cho Nam biết sơ qua tình hình sau ngày anh em Nam ra đi. Ðến vườn hoa, Hiền nói :
- Thảo ngồi đây với anh Nam, Hiền về phòng. Cứ đi chơi cho thoải mái, mai còn nghỉ.
Nói xong người con gái quay đi, Thảo Nam cùng ngồi xuống chiếc ghế đá. Nam cầm đôi bàn tay nhỏ nhắn của Thảo úp lên ngực mình. Thảo nghe rõ tiếng tim Nam đập mạnh. Thảo lại khóc. Nam xúc động không kém song phải cố bình tĩnh. Nam hỏi :
- Rồi em học hành làm sao mà thi đậu giỏi vậy. Thật anh không thể tưởng trong đời lại có chuyện ba chìm bảy nổi như tụi mình.
Thảo kể lại những trôi nổi suốt đoạn đường di cư, nhưng nàng dấu chuyện ở Sơn Chà. Nam ngồi nghe mà lòng cứ thắt lại. Thảo như sực tĩnh hỏi Nam :
- Còn anh ? Mẹ ra Huế tìm anh mấy lần mà không biết anh ở mô.

Lần đầu Nam nghe Thảo gọi bà Nhiêu bằng Mẹ, chàng cảm động vân vê những ngón tay mềm thon thon của Thảo rồi kể chuyện tù tội cho Thảo nghe. Thảo gục đầu vào vai Nam lòng cứ thổn thức từng chặp. Kết chuyện, Nam nói vào khoảng không :
- Kể cũng lạ, chỉ cách một giòng sông mà suốt nửa năm trời không hề biết nhau, lại cứ đi tìm nhau ...
Thảo nhìn vào mắt Nam :
- Anh nói cách dòng sông nào, mà ai ?
- Dòng Hương Giang, em và anh.
Thảo lại trách yêu :
- Anh khi mô cũng xa xôi bóng bẩy làm em muốn mệt.

Nam nghe mà thương, Nam ôm Thảo một cái rõ mạnh. Nam thích những cảm giác lơ lửng, những ý nghĩ rời rạc mông lung. Nam muốn thả tâm hồn mình tự do bay lượn trong những trường hợp như vầy. Thảo cũng chợt nhận ra điều đó khi so sánh Nam với những người khác. Nam lúc nào cũng trân quí Thảo, nâng niu Thảo, xem Thảo như một bông hoa mỏng manh nhỏ dại. Tự nhiên Thảo gọi :
- Anh Nam..
- Gì em ...
- Em muốn thử xem có thật là Nam của Thảo không.
Nam lại kéo sát Thảo thêm một chút:
- Anh không ngờ em có ý nghĩ tuyệt vời như vậy.
- Này, anh chưa nói rõ về dòng sông ...
- À, anh muốn nói, em bên này sông, anh bên kia sông ...Em học trường Tá Viên Ðiều Dưỡng, anh học Sư Phạm, có xa xôi gì đâu mà phải chịu bao nhiêu ngày thương nhớ.
- Nay thì tìm thấy nhau rồi.
- Thảo ơi ...
- Dạ ...
- Anh muốn xin em....
- Thảo đảo mắt nhìn quanh xem có ai không. Trời đã tắt nắng, đường đã lên đèn. Thảo ngước nhìn Nam rồi lim dim mắt...Nam lắng nghe hương vị ngọt ngào qua đôi môi của Thảo... Một lát Nam nói nho nhỏ:
- Trái "sim" của anh nay mới thật là chín..Nhưng anh vẫn thương những sợi tóc mai, những sợi lông măng sau ót của em đã làm anh mê sửng khi mới thấy lần đầu...
Mặc dù đã biết, Thảo cũng giả vờ hỏi :
- Lần đầu là hồi nào anh ?
- Là lần anh tặng em trái ổi đó..
Thảo yên lặng nghe tình yêu đang dâng lên trong lòng.
- Thôi bây giờ anh đưa em đi ra phố kiếm gì ăn.
- Anh để em thay cái áo dài, chứ ai mặc vầy.
Nam chở Thảo về phòng. Thảo nói với Hiền:
- Thảo đi với anh Nam một lát tối về, chị Hiền cứ ăn cơm đi.
Nàng thay chiếc áo trắng rồi đi ngay. Dọc đường Nam đề nghị:
- Giờ mình đi ăn cơm, sau đó anh đưa em về chỗ anh trọ để báo tin mừng cho bác Ðiền và mấy em.
- Phải đó anh.
Nam chở Thảo đến một quán cơm đầu đường Gia Long, quán bình dân vừa kín đáo lại có nhiều món ngon.

Trần Công Nhung



Mục Lục


4. Về (kỳ 21)

Thanh Sơn



Nỗi lưu luyến quê hương trải dài theo những bước chân ba chị em mà mỗi người đều mang mang một tâm sự riêng tư, tưởng rằng không bao giờ có dịp bộc bạch với nhau. Hôm nay nhờ chuyến trở về, có lẽ sau nhiều tháng ngày dài dằng dặc xa nhau, có lúc nghĩ là sẽ ngàn trùng xa vắng, vậy rồi lại được. Nhưng trở về, dù tình thương gia đình vẫn là trên hết, vậy mà vẫn có những lấn cấn khó phân bua. Nỗi dè dặt vẫn đè nặng trong mỗi người, có một ranh giới âm thầm nào đó vẫn ngăn cách chị em. Bài học tâm tình chỉ thoáng hiện lên trong chốc lát khi nói về những nỗi khổ của nhau, những thăng trầm mà cuộc đời có khi đã dìm lên nhận xuống theo thời thế, để rồi sau đó lại chìm vào sự riêng tư suy nghĩ của mình. Ðiều gì đã làm nên khoảng trống vắng đó, phải chăng là 30 năm đối đầu nhau vì hoàn cảnh, vì sự sắp đặt của những thế lực ngoài tầm tay, nên bây giờ mỗi gia đình Việt Nam đều mang một bi kịch không bao giờ giải toả hết. Giải lụa phân cách này, dù nhẹ và dìu dặt, tưởng chỉ cần một ngọn gió thổi qua cũng làm cho tan rã, vậy mà không; nó cứ quấn riết lấy từng người, ám ảnh nhau thành một thói quen khó gạt bỏ. Chị em có thể tâm sự với nhau hết mọi khía cạnh, nhưng đến khi cần vận động nhau giữ vững tinh thần là y như mắc nghẹn với nhau. Những tiếng gọi dù tuy cùng chung trong một xứ mà nghe ra vẫn lạ hoắc lạ huơ. Người ta đã dựa vào lý trí nhiều quá, rộng quá, đến nỗi người nghe cũng như người nói cảm thấy mình lạc lõng, khó hiểu. Thế mới biết chiến tranh nó tàn nhẫn đến vậy, thời gian gần bằng lúc đối mặt nhau, vậy mà hoà bình rồi mà từng gia đình vẫn còn chưa hỉ xả được cho nhau sự phân biệt. Người bên này lằn ranh vẫn còn dè dặt với người ở bên kia lằn ranh, dù cái lằn ranh đó chỉ là một ý tưởng, một quan niệm hay một chọn lựa. Giá như nếu ông bà chưa có dịp đi ra ngoài để hôm nay trở về ít nhiều cũng không thua sút chi với những người ở lại thì có lẽ cái mặc cảm yếu thua vẫn khiến cho chị em còn phải mãi xa nhau. Hôm nay về, sau nhiều đêm nằm ngủ trong căn nhà thời thơ ấu, nhắc với nhau về một bà mẹ đã mất, bàn với nhau về một ông cha cũng sắp hạc nội mây ngàn, tiếng kĩu kịt của lùm tre, tiếng khoan thai của dòng nước trong ao cá, nhìn lại những nơi chốn ngày bé đã cùng chia xẻ với nhau, chị em đã nới được lằn ranh xa cách ra xa hơn. Nhưng xin chỉ dừng ở tình cảm vậy nhé, đừng cố đưa nhau vào lý luận mà bỗng dưng sự vui vẻ sẽ bị nhận chìm.

Thời gian là con dao rất bén, nó cứa vào tâm tưởng mỗi người và để lại một vết đau ngầm ngấm. Chỉ có đêm đến, khi mọi tranh chấp đã bỏ lại bên ngoài xã hội, bên ngoài cửa nhà thì nỗi đau mới dịu lại cùng với màn đêm. Bàn tay nhung của bóng đêm xoá đi những khác biệt, xoá đi những giận hờn để chỉ còn những giấc mơ lãng đãng trôi qua, nơi đó có hình bóng của một gia đình xúm xít bên nhau, san sẻ cho nhau từng miếng cơm manh áo, không có ngại ngùng, không có sợ sệt, không có mưu toan. Bà mẹ hiền đã cầm cân nẩy mực để giữ cho hoà khí luôn ngự trị trong vòng nhà. Bà mẹ đã chia từng củ khoai, viên kẹo cho khắp từ đứa lớn đến đứa bé. Bà mẹ đã từng ngày đông giá rét dầm chân trong nước ruộng để nuôi đàn con khôn lớn dần dần, sự hi sinh của bà là tấm gương lớn quá, chói quá nên con nào cũng sợ, cháu nào cũng nể. Bây giờ bà đã xa rồi, hình bóng bà còn lại là tấm ảnh che màn vải đỏ, chỉ dở lên trong ngày giỗ chạp mỗi năm, vậy mà uy lực đó vẫn khiến con cháu bà ngồi lại với nhau, cho dù bên ni hay bên tê. Cái gia đình đông con đó vì cũng đã từng bị dồn lên quật xuống vì thời thế nên gia phong vẫn còn giữ được, sự nghĩ suy dù có khác nhau vẫn được nén xuống vì hình ảnh bà mẹ. Ðiều lạ lùng là chính gia đình mẹ bà cũng đã không thoát khỏi những lần lận đận. Chính ông cụ thân sinh ra bà cũng đã từng bị ngọn roi chủ nghĩa quật xuống nhiều phen, ấy vậy mà ít nhiều vẫn bị nhuộm bởi nếp suy tư cùng hành xử của thế thời. Phải chăng cái chính thể vốn sắt đá đã biến con người cũng trở thành sắt đá. Ðể rồi ngày nay vì trong gia đình đã có nhiều bước tiến đi lên nên cũng rập khuôn theo.

Ngày xưa, vào năm Ất Dậu mọi người bị nạn đói. Bao nhiêu gia đình quanh làng đã nhờ vả bố mẹ bà mà thoát cảnh đau thương. Vậy mà đến khi phong trào dấy lên suýt tí nữa cụ ông phải vòng oan nghiệt vì sự hùng hổ tố cáo của vài người chịu ơn ngày trước. Bà không thể quên được bà cô của bà chỉ vì không chồng con có mảnh ruộng phải thuê người làm lụng, đến lúc phong trào lên bà bị tố là loại bóc lột làm giàu. Ðể rồi bà cô ấy đã bị cách ly ra sống ở chuồng trâu, không ai ngó ngàng đến. Cũng may còn có người thương xót, lén đêm khuya đem vứt cho mẩu bánh, chút cơm nên sống sót được thân. Ðến khi phong trào xẹp xuống, chẳng có ai lên một lời xin lỗi, chẳng có ai nói đến danh dự phục hồi. Thế nên biết là bị oan khiên mà bà cô đến khi nhắm mắt vẫn là người có tội. Mãi đến khi bà cô mất đi vẫn cứ phải âm thầm mang theo bản án xuống mồ. Bao nhiêu năm qua rồi, người chết thì đã chết, kẻ còn đôi khi nhắc lại với nhau cũng bị biết xót thầm cho ruột thịt thân yêu.

Quê hương đó khi ra đi bà đã mang theo trong trí nhớ. Nơi đất người thỉnh thoảng vẫn cộm lên nỗi nhức nhối xót xa, ước mong một lần về gặp lại. Song vẫn khiếp khi nhớ đến bà cô, liệu quá khứ của vợ chồng bà có lại một lần nào cũng chịu cảnh như bà cô ngày xưa. Hôm nay về, mồ bà cô đã xanh cỏ, vậy mà mỗi lần đi qua nỗi khiếp vẫn lảng vảng theo bên.

Truyện dài Về chỉ còn vài đoạn sẽ chấm dứt, Thanh Sơn sẽ viết tiếp một truyện với tựa đề Cây đa bến cũ... Xin mời đón xem.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Số Phận

Bích Hà

Nhân vật và câu chuyện đều có tính cách hư cấu, nếu có sự trùng hợp, không phải là sự cố ý của tác giả<


Quân bảo Trâm:
_ Em thật là dại, sao không đi lấy chồng khác cho rồi, sống bên một người tàn tật như anh để làm gì?

Chàng nói xong thì ngồi xoay người, trở mặt về phía cửa sổ để tránh khỏi phải nhìn Trâm. Chàng hay nói những câu đại loại như vậy, không biết chàng có chút nào buồn phiền đau đớn không, khi nói đến những lời cay đắng ấy, hay Quân chỉ nói cho xuông miệng, hờn mát thế thôi, để dò phản ứng của vợ. Trâm cúi xuống sửa lại tấm khăn trải giường rồi nhìn Quân dịu dàng trả lời:
_ Anh đừng nói nhảm, bộ điên hả?
Trâm nghĩ:

Chàng thốt lời như muốn xua đuổi nàng chỉ vì chàng quá yêu mến vợ, thật sự quan tâm và cảm động bởi sự vất vả tận tuỵ cô đã dành cho chồng suốt những ngày dài săn sóc chàng trên giường bệnh hay đơn thuần chỉ vì tánh tự ái cao ngất trời mây của chàng mà thôi? Chàng nói, dường như mặc kệ sự đau đớn đang âm ỉ giết lần hồi, rút cạn khô tình cảm yêu thương gắn bó giữa hai ngườịTrâm cảm thấy rất phiền và tự nhủ:
_" Trời ơi! Cuộc đời này đã có quá nhiều bất hạnh và phiền muộn. Chẳng lẽ Quân cố ý muốn hành hạ cho mình thêm tang thương khổ sở, đau đớn thì anh mới vừa lòng hay saỏ"

Cô thừ người ngẫm nghĩ nhưng không nói cho Quân biết, những nỗi niềm dày vò dằn vặt trái tim cô, những thứ phiền muộn mỗi ngày chất chồng lắng đọng nặng trĩu trên đôi vai gầy guộc yếu ớt như không còn đủ khả năng để chịu đựng hơn nữa, khiến đôi khi nàng chỉ muốn bỗng dưng mình đừng hiện hữu trên cõi đời này nữa_ thế là yên chuyện! Chẳng phải vấn đề tài chánh làm nàng phải bận tâm, vì cuộc sống ở Úc rất dễ chịu, tiền bác sĩ và bệnh viện đã có hệ thống tài trợ của chính phủ. Người bệnh không đi làm để kiếm tiền được, cũng có trợ cấp của chính phủ cung cấp tương đối khá đầy đủ, nên chẳng có gì, để nàng phải lo nghĩ. Chỉ vì tánh tình của Quân dạo này thay đổi hẳn, chàng bị shock vì tai nạn xe cộ? Bị khủng hoảng tinh thần vì vết thương? Thương trường xáo động hay vì lý do nào khác? Chàng muốn giữ riêng sự khó khăn này để cho mình chàng tự đương đầu, tự giải quyết? Chàng không tỏ bày, yên lặng lầm lì suốt ngày mày mò với chiếc computer và những chương trình điện toán giúp chàng nối kết với thế giới và cuộc sống luân chuyển bên ngoài căn phòng nhỏ. Nàng hỏi Quân:

_Anh có muốn ra ngoài vườn hóng mát chút không?
Quân lắc đầu tỏ vẻ không muốn. Trâm lại muốn cho Quân vui, nên cố gắng năn nỉ khuyến khích chàng:

_Ở ngoài trời thoáng mát, anh ra ngồi một lát sẽ thấy khỏe người hơn. Suốt ngày anh cứ ở mãi trong nhà, ôm khư khư cái computer và hít thở mãi mùi thảm cũ không tốt chút nào. Ði ra vườn ngồi một lát nghe anh?

Quân lầu bầu:
_Cứ để mặc kệ anh, em lo việc khác của em đi

Tuy thực sự Trâm cũng rất bận, còn một đống giấy tờ hồ sơ của khách hàng chưa kiểm soạn, nhà cửa bề bộn đang chờ tay nàng dọn dẹp, mặc dù trong tuần thỉnh thoảng Trâm cũng thuê người đến dọn dẹp chăm sóc Quân vì nàng bận đi làm, nhưng dù bận thế nào, cô cũng muốn dành thời giờ chăm sóc cho Quân, y như những ngày tháng cũ.
Trâm dịu dàng bảo Quân:
_ Không sao đâu, tối em làm cũng được, em muốn ra vườn ngồi chơi với anh.

Quân hài lòng gật đầu, và loay hoay chống nạng, khập khễnh cùng nàng ra ngồi ngoài hiên sau. Chàng thoải mái hít thở không khí trong lành, mát mẻ của buổi chiều xuân nắng nhạt và thấy ngây ngất choáng ngập, bởi mùi hương dịu dàng của cây cỏ và màu sắc tươi đẹp của vạn vật đất trời, làm chàng phút chốc hầu như quên bẵng, tâm hồn đầy rẫy ưu tư đau buồn của mình, sau một tai nạn xe hơi đột ngột, đã gò bó chàng suốt ngày trong phòng. Chàng lặng ngắm những đám mây vần vũ, nhuộm ánh hoàng hôn lừ lừ đỏ ối của một ngày sắp tàn. Phía góc trời xa, hàng đàn chim tung cánh vui vẻ lượn quanh bầu trời bao la, như muốn khoe cùng chàng sự tự do khoáng đạt của chúng. Quân bất giác thở dài, chàng cố gắng hết sức để chống chọi với sự giận dữ tiềm tàng trong tư tưởng, lẫn nỗi bất bình chán ghét trước tai nạn chẳng may đang trói buộc khống chế, không để cho chàng vùng vẫy ngang dọc như ý chàng mong muốn. Chàng giận bệnh tật, giận ông trời đã khiến xui chàng bị tai nạn, giận cả chính mình vì chàng bất mãn với thực tại mà chàng đang phải đương đầu, chàng tự nghĩ:

_ Thà là mình chết phứt, chứ chàng không bao giờ muốn, mình là gánh nặng hành hạ liên lụy bất cứ ai, nhất là Trâm?

Nhưng khi chàng thấy ánh mắt Trâm nhìn mình điềm tĩnh, long lanh hiền thục, phảng phất những nét buồn ẩn dấu đâu đó trên gương mặt khả ái xinh xắn, anh thấy lòng mình se lại, thương xót ái ngại cho Trâm, phải vất vả phục dịch cho một người chồng bệnh tật như anh. Nhưng dù vậy, đôi khi ý tưởng sợ mất Trâm cũng làm chàng khốn khổ điên cuồng đau đớn tột độ. Tuy biết Trâm là người có nghĩa, nàng sẽ không bao giờ rời bỏ chàng, nhất là vào lúc nầy khi anh bệnh tật, mặc dù nhiều lần chàng bất thần trở cơn, cư xử lạnh nhạt cộc lốc với nàng. Chàng luôn nghĩ: một người trẻ đẹp như Trâm, nếu mình không khỏi bệnh, trước sau gì nàng cũng sẽ đổi thay. Ai muốn đi cạnh một người đàn ông lớn tuổi, chân đi cà nhắc, kinh doanh đang xuống dốc, tánh tình khó chịu bẳn gắt, lại thất thường như mình đây...?? Nghĩ thế nên lắm lúc Quân trở cơn cạu cọ, la mắng hắt hủi Trâm. Cái bệnh tự ti mặc cảm hay chỉ là tính tự trọng quá độ, ngự trị kín dấu trong tâm thức chàng, bỗng dưng bùng dậy, áp đảo tinh thần chàng mãnh liệt, làm chàng không còn kiểm soát kềm chế chính chàng được nữa. Nhưng rồi cơn khủng hoảng của chàng nguôi dần đi, khi chàng nhìn thấy nước mắt của Trâm rơi tầm tã và khuôn mặt đầy đau khổ ê chề của cô, dường như còn nặng nề mang theo bao nỗi tuyệt vọng đớn đau khôn cùng. Cô khóc lóc một hồi, chắc là tủi thân và trách móc chàng ghê lắm, nhưng rồi vẫn lặng lẽ thản nhiên săn sóc chồng, nấu nướng dọn dẹp nhà cửa, một mực giữ tròn bổn phận của một người vợ đảm đang chung thủy, y như chẳng hề có chuyện gì xảy ra. Anh đâm ra càng thương Trâm hơn và cảm thấy nàng quả là người dại dột khờ khạo hết sức, trái tim hiền hòa nhân ái của cô và tình yêu thương thành thực cô dành cho chồng, càng làm anh khó chịu, tự trách mình đang làm cho vợ phải khổ

Trâm thấy Quân nhìn mình hồi lâu, tư lự không nói năng, nàng nhẹ nhàng với lấy bàn tay to lớn của chàng, để gọn bàn tay nhỏ nhắn của mình trong đó, khẽ cảm giác những nồng nàn bao bọc ấm áp, và cả những nương tựa mà trái tim và cuộc sống buồn tẻ của nàng hiện giờ rất cần. Cô âu yếm hỏi chồng:

_Anh đã uống thuốc chưa, khi nào đói nhắc em đi nấu cơm nhé?

Bỗng nàng sực nhớ, hôm nay là ngày cuối tuần, nên nói tiếp:
_Bác sĩ Minh hôm nay chắc sẽ đến.
Quân ầm ừ, tỏ vẻ không bằng lòng:
_Tuần nào cũng vậy, ông ta lúc nào cũng chờ tối mới đến.
Trâm bảo chồng:
_Bác sĩ phải chờ sau khi phòng mạch của họ đóng cửa, mới ghé nhà mình, thì mới tiện việc cho họ.
Nghe giọng Trâm như chống chế bênh vực cho bác sĩ Minh, Quân bực mình, đột ngột hỏi:
_Em đang đợi ông ta đến à?
Nghe chồng hỏi vậy, Trâm giật mình vội vàng trả lời:
_ Không, em hỏi vậy thôi.
Quân nói:
_ Ông ta hồi chiều có phone, bảo là hôm nay không đến được.

Trâm thấy chồng khó chịu, vẻ mặt chàng trầm xuống, tỏ vẻ không thích. Trâm có cảm giác, hình như chàng đang kín đáo nhìn nàng dò xét. Trâm biết dạo này, chàng thường khó chịu khi nghe Trâm nhắc đến tên của bất kỳ người đàn ông nào, dù là tên phát thơ, người bán sữa, cho tới ông hàng xóm, hay bạn bè quen biết của cả hai vợ chồng. Có hôm vì xã giao hay có chuyện gì cần phải tiếp xúc, nàng kể lại cho Quân biết:
_Anh à! Hôm nay em gặp anh Lân ngoài siêu thị, vợ chồng ảnh mời mình hai tuần sau tới ăn tân gia.

Quân lạnh lùng trả lời nhát gừng với giọng gay gắt: _Em thích, thì cứ việc tới dự một mình, anh không muốn đi.

_Trâm buồn thiu, nàng biết Quân không muốn đến dự tiệc, không muốn đi đâu hết, chỉ vì chàng không muốn bị mọi người bêu rêu hỏi han tới cặp chân khập khiễng và soi mói vào đời tư của chàng. Chàng không muốn hình ảnh lý tưởng của chàng phút chốc bỗng phai mờ trong trí tưởng tượng của mọi người, nhưng nàng chỉ kể lại chuyện được mời ăn tân gia, với mục đích báo cho chồng biết về việc được mời. Ðế nếu quyết định không đi dự, thì ít ra, cũng phải gởi quà biếu hoặc phone tới hỏi han chúc mừng bạn dăm ba câu mới phải lẽ. Ðằng này, chưa gì Quân đã bực bội, ý chàng dường như muốn hằm hè ra vẻ trách cứ, gán cho Trâm cái tội muốn đi chơi một mình.Trâm ngán ngẩm thở dài! Cái câu: "Chồng già vợ trẻ là tiên "chắc chắn không áp dụng vào tình cảnh hiện tại của nàng! Nhiều lúc buồn quá, cô mong ước được sống lùi lại thưở mười năm về trước, khi cô còn là một thiếu nữ ngây thơ chưa lập gia đình. Lúc đó, cô thường có ý định đi tu. Sự phiền não trong lòng cô dường như biến mất, vì cô thấy trong ảo giác nhiệm mầu, hình ảnh hiện thân của cô, xuống tóc, mặc áo dài lam, nhẹ nhàng thanh thoát cầm chổi từ tốn đứng quét sân chùa. Từng nhát chổi linh hiển khôn cùng, quét sạch hết mọi phiền não ưu tư của thế tục, quét cả hiện hữu đất trời hay vô thường càn khôn vũ trụ. Cuộc đời tục lụy, nặng chĩu gánh sân si ái ố hỉ nộ, bỗng phút chốc như tan biến nhẹ hẫng trong hư không. Cô chợt như nhận ra cái hư ảo phù du của kiếp sống nhân sinh, chẳng biết đâu là bờ bến của hạnh phúc thực sự.

Rồi vì không muốn cho Quân buồn, nên sau đó, nàng thường tránh kể chuyện gì nàng đã gặp phải, vì không muốn trong câu chuyện kể, lại vô tình nhắc đến tên một người đàn ông nào đó, để lại phải bị chồng dằn vặt xét nét. Nhưng rõ khổ, Quân nhìn vẻ tránh né của cô mà đôi khi, sự bối rối càng làm cho cô lúng túng đáng nghi hơn, đối với sự tưởng tưởng của Quân. Và hình như với trí tưởng tượng càng giàu có phong phú, ý thức và cảm nhận của chàng trước con người và sự việc, càng lúc càng lệch lạc méo mó hẳn đi, vì được vẽ vời thêm thắt nhiều vẻ khác thường. Chàng vẩn vơ nghĩ ngợi:Tại sao Trâm lại hốt hoảng khi anh hỏi nàng " em đang đợi bác sĩ Minh à"? Nàng thích Bác sĩ Minh chăng? Anh nhớ rằng Trâm thường vui vẻ niềm nở chào đón và tiếp đãi bác sĩ Minh rất ân cần. Ngày nào có bác sĩ Minh đến thăm bệnh, hình như cô cũng ăn mặc đẹp đẽ, trang điểm chăm chút hơn. Ðây phải chăng là một dấu hiệu rất đáng ngờ vực? Nghĩ tới đây, thì máu nóng đã dồn lên mặt, khiến chàng thở rất mệt nhọc, cho dù thâm tâm chàng, nhiều khi cũng thích vợ mình dung mạo áo quần tươm tất đẹp đẽ, ăn nói niềm nở lịch thiệp, để giữ thể diện cho chính chàng.Bỗng có tiếng điện thoại rung nhẹ từ chiếc cordless phone, chàng vội mở phone lên nghe.
_ A lô !
Ðầu dây bên kia vội vã cúp, khiến chàng la lên:
_ Ai lại phone nữa vậy kìa?
Rồi chàng lằm bằm:
_ Lạ thiệt, ngày nào cũng kêu tới hai ba lần, nghe giọng mình là cúp liền

Sự nghi ngờ huyễn hoặc, càng tha hồ cấu xé hành hạ trái tim tối tăm, đầy thương tổn của chàng, khiến chàng gầm gừ giận dữ, đôi khi muốn đập nát tất cả mọi thứ chung quanh chàng, kể cả vũ trụ đang quay cuồng thản nhiên như giễu cợt chàng ngày từng ngày kia, nếu chàng có thể làm được! Chàng điên lên, tự trách tại sao lại yêu Trâm đến thế, cô không phải đang hành hạ anh hay sao? Những cú phone kia, có thể chẳng liên hệ gì đến Trâm, cũng có thể do những kẻ thù trên thương trường ra sức đối phó với gia đình anh, nhưng anh thảng thốt nhận thấy mình, phải lập tức, tự triệt hạ ngôi vị quan trọng của Trâm trong lòng chàng, trước khi để sức mạnh khủng khiếp của tình yêu ghen tuông mù lòa kia, như cơn bão hung bạo mãnh liệt, tàn phá càn quét tất cả mọi thứ, kể cả cuộc đời của chàng_ xưa nay vẫn cao ngạo độc lập, từng giúp đỡ nhiều người khác, mà không muốn nhờ vả đến bất kỳ aịTrâm lên tiếng hỏi chàng:
_ Ai gọi vậy anh?

Quân không trả lời nàng, chàng đang bận rộn bấm phone gọi cho người nào đó.

Trâm nghe chàng chào người đầu dây bên kia, và biết là Ngọc Minh, cô thư ký riêng của chàng. Quân kêu cô ta book vé máy bay đi Singapore và dặn cô ta thu xếp những giấy tờ liên hệ đến công việc kinh doanh của chàng. Chờ họ nói điện thoại xong, Trâm la hoảng lên:
_ Chuyện gì quan trọng đã xảy ra? Tại sao chưa khỏe hẳn mà đã vội đi? Tại sao không hỏi ý kiến của nàng?

Quân bước vào nhà không trả lời những câu Trâm hỏi, chỉ lạnh lùng bảo nàng:
_Tôi muốn đi đâu thì đi, việc gì phải hỏi lôi thôi!

Câu trả lời phũ phàng của Quân khiến Trâm thấy mình như con cá mắc câu, lâu nay ngất ngư lội mãi theo sau sợi dây cột ở cuối lưỡi câu, sức đã mòn mỏi kiệt quệ, thân xác rã rời, trái tim tan nát, chỉ còn lừ đừ thoi thóp thở, vậy mà vẫn cứ mãi phải nhịn chịu, cứ phải chờ đến tận khi, người ngư phủ giật mạnh cú giật ân huệ cuối cùng, để được văng lên bờ, kết thúc cuộc đời của một con cá.

Nhưng số phận Trâm, theo lối suy tư và quyết định của nàng đã chọn, còn tệ hơn con cá kia, vì sẽ chẳng có người nào, giựt mạnh cú giật cuối cùng để ban cho nàng một ân huệ cần thiết cuối cùng vì bản thân nàng, thực sự chỉ là một con cá kiểng Gold fish xinh đẹp an phận, được Quân nuôi sống ngóp ngép, trong một chậu kiếng rất đỗi chật hẹp.

Bích Hà
10/01


Mục Lục


6. Ơn Ðền, Oán Xả

Việt Dương Nhân (Paris)



Ðầu thập niên 1970, Sài-Gòn sắp vào lễ Giáng-Sinh và Tết Dương-Lịch, thời tiết mát dịu, trong những thương-xá Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Tự Do... mỗi tiệm người ta sửa sang trang hoàng trưng bày quần áo và tặng phẩm rất sang trọng. Về đêm, các nhà thờ và những đại lộ đèn đuốc sáng chang, rực rỡ đủ màu trông thật vui mắt...

Chiều thứ Bảy biết bao trai thanh, gái lịch, tay đan tay cùng nhau thả bộ tà tà ngắm cảnh rộn rịp... Trong số đó có Ðặng Anh Phong và Trần Thị Thanh Vân, đôi nhân tình vào tuổi đôi mươi, sống theo thời đại mới, đang tươi cười hớn hở đèo nhau trên chiếc Vespas-Italie chạy lòng vòng trung tâm thủ-đô. Sau đó họ chạy thẳng xuống quán Nhà-Bè ăn cơm tây-cầm và gỏi tôm càng ngó sen... Hai cô cậu ngồi giao đầu ăn uống... Phong đưa ánh mắt đa tình như soi thấu tâm hồn lãng mạn yêu đương của Vân...

Sau những lần hẹn hò... ngắn ngủi, Phong và Vân vượt qua vòng lễ-giáo. Rồi Phong từ giã Vân đi du học bên Hoa-Kỳ. Nào ngờ Vân lại mang thai. Bởi nàng quá ỷ y cho là Phong yêu nàng chân thật nên không hỏi địa chỉ. Nghĩ Phong sẽ gởi thư về cho nàng sau khi đến nơi. Nhưng Vân chờ đợi mỏi mòn ngày tháng trôi qua mà vẫn bặt tin của Phong... Khi cái bụng càng ngày càng to, Vân bị gia đình ruồng bỏ, nàng đành xách gói đến nương nhờ nhà Tuyết, đứa bạn gái trang lứa cũng đang có bầu, lấy chồng người Pháp đứng tuổi, tên Michel. Ông có nhà hàng ‘’Thái Dương’’ (Le Soleil) ở Thủ-Ðức.

Bốn tháng sau, Vân sanh đứa con trai kháu khỉnh đặt tên Anh Toàn. Vài tháng sau, Tuyết sanh đứa con gái đặt tên Chantal...
(...)
Ðầu tháng Tư năm 1975, tình hình chiến cuộc đang sôi nổi, các tỉnh miền Trung liên tiếp thất thủ. Tuyết cùng chồng và con hồi hương về Pháp. Họ giao quyền cho Vân trông coi nhà hàng. Bé Anh Toàn được hơn một tuổi. Rồi Sài-Gòn bị cưỡng chiếm, những ngày sau 30 tháng Tư, một cuộc đổi đời khắt nghiệt do Cộng Sản Bắc Việt độc trị... Vân dẫn con tìm đường vượt biển (...). Hai mẹ con Vân được sang Pháp tị-nạn. Sau vài tuần ở trong trại tạm cư để khám sức khỏe. Vợ chồng Tuyết và Michel vào bảo lãnh Vân và bé Toàn về cư ngụ chung tại số... đường Lecourbe quận 15 Paris.

Năm sau, vào dịp học trò được nghĩ hai tuần lễ mùa đông. Vợ chồng Tuyết dắt con đi trượt tuyết. Michel bất cẩn bị lạc tay lái, xẩy ra tai nạn. Tuyết chết liền tại chỗ, Michel bị thương nhẹ, còn bé Chantal bị gãy chân mặt.

Lúc bấy giờ, Vân cảm thấy ngại ngùng ở lại, sợ ‘’lửa gần rơm’’ có ngày sẽ phựt cháy bất tử... Vì người bạn thân đã khuất bóng. Bởi nàng có quan niệm sống là, không thể lấy chồng bạn, hoặc bạn chồng. Nên nàng xin phép Michel ra ở riêng. Trong hoàn cảnh gà trống nuôi con của Michel. Hơn nữa, ông đang làm quản lý cho nhà hàng ‘’Hoa Tím’’ (Fleur Violette) rất sang trọng tại trung tâm Paris. Ông năn nỉ Vân :
- Cô Vân à ! Cô và bé Toàn cứ ở lại đây đi. Tôi rất cần cô để trông nôm nhà cửa và săn sóc bé Chantal. Tôi sẽ khai báo và trả lương bổng đàng hoàng cho cô. Vân gật đầu và nghĩ :‘’Mình mang ơn Tuyết và Michel lớn rộng như trời biển. Nay vì ái ngại mà mình bỏ cha con ông ấy đi, thì mình thật là kẻ vô ơn bạc nghĩạ..Chắc Michel không phải là loại người sàm bậỵ..’’. Nàng ngẩng mặt nhìn Michel :
- Vâng ! Tôi sẽ ở lại đây để tỏ lòng biết ơn của ông và Tuyết đã cưu mang hai mẹ con tôi bao nhiêu năm nay. Ánh mắt Michel sáng lên :
- Tôi thành thật cảm ơn cô nhiều.
*
Năm tháng trôi nhanh, đã hơn hai năm mẹ con Vân sống êm đềm trong căn nhà tiện nghi và rộng rải. Rồi hè tới, học sinh nghĩ học, Michel đề nghị với Vân cho hai đứa nhỏ đi nghĩ mát do nhà trường tổ chức. Vân bằng lòng, rồi nàng lo đi đặt người ta thêu tên của hai đứa nhỏ để may vào những quần áo, khăn khiếu. Hai đứa nhỏ đã đi, nhà vắng. Bỗng một đêm, Michel nhà về thật khuya. Ông tắm rửa thay đồ xong, ông gõ cửa phòng của Vân. Vân đang ngủ, giật mình ngồi dậy ra mở cửa... Michel nhào vô ôm chầm lấy Vân. Vân không làm sao cưởng lại và không dám la làng, sợ Michel giết chết. Nàng đành nhắm mắt cho Michel mặc tình thỏa mãn ‘’con lợn lòng’’...

Sau khi Vân bị Michel làm nhục, nàng đau khổ tận cùng và ôm mối căm thù chất ngất trong lòng. Nàng chờ hai đứa nhỏ đi nghĩ hè trở về. Nàng hâm dọa với Michel là sẽ đi ra cớ bót. Michel thức tỉnh sợ ở tù. Ông năn nỉ Vân cho ông bồi thường một trăm ngàn quan. Nước đường cùng, Vân đành phải nhận tiền và cuốn gói ra đi. Vân dắt bé Toàn ra bộ Xã-hội xin chỗ ở tạm. một tháng sau, nàng tìm cách mướn một căn phòng nhỏ và lo cho bé Toàn vô trường. Nàng đi tìm việc lòng vòng những nhà hàng, quán rượu trong Paris. Nàng được việc; rửa ly, lau chùi trong quán rượu ‘’Bướm Say’’ (Papillon Ivre) thật sang trọng trên đại l Champs-Élysées. May mắn, Vân gặp được bà chủ còn trẻ đẹp, tên Corine, tuổi vừa ngoài ba mươi, tánh tình rất rộng rải và dễ thương. Giữa chủ tớ, sau giờ làm việc hai người thường tâm sự, có lẽ đồng hoàn cảnh ‘’hồng nhan bạc phận’’ nên họ hạp nhau.
Vân làm việc một thời gian ngắn, thì trong quán có người muốn lấy phần hùn ra. Corine hỏi Vân :
- Vân à ! Em biết nói chút đỉnh Anh-Pháp. Em có muốn hùn với chị quán này không ?
Vân ngạc nhiên :
- Trời ơi ! Em đâu có tiền nhiều !
- Thì bữa hôm, em nói với chị là em được thằng cha già Michel gì đó, ổng đền em cả trăm ngàn quan. Nay, số tiền ấy, em còn để dành không ?
- Em xài thâm gần mười ngàn rồi.
- Hùn với chị một phần tư, rồi từ từ sau này em có tiền chị sẽ nhường thêm một phần tư nữa. Nếu em muốn, em chỉ bỏ ra bảy mươi lăm ngàn quan là đủ rồi.
- Vậy hả chị ? Thôi, để em về suy nghĩ lại. Vì, nếu em hùn với chị, em phải lo gởi con em vô trường nội trú.
- Ðược rồi. Nè, có gì để chị giới thiệu bé Toàn vào trường ‘’Saint-Thomas’’, trường mà Jean-Marc, con trai của chị hiện đang học trong đó. Trường này tốt lắm, học hết bậc tiểu học là họ tự động chuyển trường khác lên đến đại học luôn. Em khỏi phải lo.
- Thật, chị tử tế quá. Em thành thật cảm ơn chị.
- Chị thấy em có tâm hồn chân thật. Ðồng phận gái giúp đỡ nhau chớ có gì đâu mà lắm ơn nghĩa em !
Mọi việc xuôi chiều. Corine giúp cho mẹ con Vân vô dân Tây và đổi tên Trần Anh Toàn ra thành Antoin Trần ...
* * *
Hai mươi lăm năm sau...
Antoin Trần, con trai của Vân, học hành rất giỏi và trở thành một vị bác sĩ trẻ nổi tiếng về chuyên khoa giải phẫu chân tay, xương chậu. Cậu làm trong nhà thương ‘’Sport’’ ở quận 5 Paris. Cậu thấy mẹ mình đã lớn tuổi mà vẫn còn lo làm việc. Cậu hay khuyên mẹ nên bán lại phần hùn...
một hôm Vân tâm sự với Corine :
- Chị Corine ơi ! Con em khuyên em nên giải nghệ nghề bán rượu. Em cũng thấy mệt mỏi rồi.
Corine đưa ánh mắt dịu dàng nhìn Vân :
- Con trai của chị cũng khuyên chị như vậy. Chị chưa kịp nói với em, nay em nói ra trước. Chị cũng muốn đi hưu trí cho rồi. Vậy, hôm nào rảnh rang, tụi mình đi đăng báo bán luôn nha Vân !
Vân nhào lại ôm vai Corine :
- Thật hả chị ? ... Jean-Marc, con chị trở thành ông kỹ sư, Toàn, con em là bác sĩ, mà hai bà mẹ tóc đã chen sương mà còn đứng bán rượu. Thật, tội nghiệp cho các con mình !
Corine cười đắc chí :
- Nhờ hai đứa nhỏ học trường Ðạo từ thuở bé, nên tánh tình hiền từ không dám ngăn cản tụi mình. Chứ gặp con người khác thì hổng biết chuyện gì đã xẩy ra rồi !... Mấy chục năm, hai chị em mình tích tụ nhiều kỷ niệm với biết bao khách quen thuộc. Bao nhiêu ông đã qua đời, bao nhiêu cậu sinh viên nay đã làm Ông-lớn ! Nay, tụi mình giải nghệ, chắc họ sẽ buồn !
Vân mỉm cười :
- Họ không buồn đâu. Em nghĩ, chắc họ sẽ ăn mừng đấy chị à !
Corine gật đầu :
- Có thể, có thể lắm em à... !
- Chỗ này thế nào cũng có một cánh hoa hồng tươi thắm. một nàng trẻ đẹp nhào vô thay chị em mình. Vì tụi mình, bây giờ thuc loại hoa tàn-tạ rồi !
Ánh mắt Corine bỗng dưng buồn, nàng gượng cười :
- Chị mong như vậy ! Cho mấy cánh ‘’Bướm Say’’ tiếp...
*
một ông Tây, ăn mặc chỉnh tề, đầu tóc bạc trắng, bước vào nhà thương ‘’Sport’’. Ông nhìn dáo dác, đi đến cô tiếp viên và hỏi :
- Chào cô ! Thưa cô ! Xin cô cho tôi gặp bác sĩ Trần.
Cô tiếp viên tươi cười :
- Chào ông ! Thưa ông ! Ông tên chi ? Ông có hẹn với bác sĩ Trần à ?
- Không ! Xin cô cho tôi cái hẹn.
- Hiện bác sĩ Trần đang có mặt. Ðể tôi hỏi thử nha ! Cô tiếp viên, bấm điện thoại và hỏi :
- Thưa, bác sĩ, có ông khách muốn gặp bác sĩ.
- Ðược, cô mời ông vào.

Ông Tây, tức là ông Michel. Ông nghe tiếng bác sĩ Trần rất giỏi về mổ chân. Ông tìm đến để lo chữa cái chân của Chantal, con gái ông hiện vẫn còn đi khập khểnh. Ông bước vào phòng, bác sĩ Trần đứng lên bắt tay chào và mời ngồi. Ông Michel kể lể thân phận, cắt nghĩa, phân trần về cái chân của đứa con gái bị tai nạn xe hơi hơn hai mươi năm về trước. Ông Michel không nhìn ra Toàn, và Toàn cũng không một mải mai nào nhớ ông được. Nhưng khi nghe ông Michel nói, trong ký ức của Toàn mang mán nhơ nhớ... Rồi Toàn cũng không lấy làm quan trọng. Mà cậu chỉ nghĩ đến lương tâm nghề nghiệp của mình thôi. Ông Michel lấy hẹn, rồi đưa Chantal đến khám bệnh và định ngày giải phẫu lại.
Cuc giải phẫu kết quả tốt đẹp.
*
Ba tháng sau, Chantal đi đứng như người bình thưòng. Lúc bấy giờ ông Michel rất mực giàu có, ông làm chủ chánh thức nhà hàng ‘’Fleur Violette’’ mà ngày xưa ông làm quản lý. Ông nổi tiếng có ‘’máu mặt’’ trong Paris. Ông bỏ tiền đăng rất nhiều báo chí để tạ ơn bác sĩ Antoin Trần, và nhã ý gả con gái mình...

Trong mấy tháng, Toàn và Chatal có mấy cuộc hẹn hò nhau đi ăn, đi xem xi-nê. Tình cảm của cô cậu bắt đầu vào cuc tình gần gũi hơn...

một đêm đẹp trời, ông Michel mời Toàn đi dùng cơm ngoài nhà hàng ông. Ông và Chatal đến rước Toàn. Sau khi dùng bữa cơm Tây thượng thặng tại nhà hàng ‘’Pré C.’’ xong. Trên đường về, ông Michel mời Toàn đi uống ‘’dégestif’’, ông nói :
- Xin mời bác sĩ đi tiếp với chúng tôi. Vì có một quán rượu rất sang trọng giữa trung tâm đang đăng báo bán. Tôi nghe tiếng mà chưa bao giờ đến. Sẵn dịp, mình đến uống và xem coi. Có gì tôi sẽ mua lại cho Chatal trông nôm...

Chiếc xe Mercedes màu xám bạc dừng ngay cửa quán rượu ‘’Papillon Ivre’’, Toàn giựt mình, nhưng làm b làm tĩnh. Cậu nghe vui vui trong lòng và nghĩ : ‘’Kể như mẹ mình sẽ nghĩ làm việc rồi !’’. Quán khuya, đèn muộn, khách vắng... Ba người bước vào... Toàn lại chào ông nhạc sĩ dương-cầm, ôm hun Corine, hun mẹ và giới thiệu :
- Thưa ông Michel, đây là mẹ tôi...
Ông Michel rất đổi ngạc nhiên. Ông gật đầu và bắt tay Vân :
- Dạ, chào bà !
Toàn nói tiếp :
- Ông là chủ nhà hàng ‘’Fleur Violette’’ đó má. Còn đây là cô Chatal, con gái của ông, là bệnh nhân, con vừa chữa khỏi cái chân của cô, mà con có kể cho má nghe hôm trước đó. Vân gật đầu chào, mà ánh mắt nàng phừng phừng lửa hận... Nàng nén lòng, đi vòng vào sau ‘’comptoir’’, đứng nhìn Corine. Corine hiểu ý, nàng đem carte rượu đưa cho khách. Toàn vào trong đứng gần mẹ và hỏi nhỏ :
- Má không được khỏe hả má ?
Vân im lặng lắc đầu. Toàn hỏi tiếp :
- Sao mặt má đỏ quá vậy ? Coi chừng áp huyết cao đó má à !

Ðằng này, ông Michel cũng lặng im. Hơn một giờ khuya, sắp đóng cửa. Ông nhạc sĩ dương-cầm tuổi quá lục-tuần, dáng người ốm yếu đang ngồi nhăm nhi ly rượu đỏ. Ông liền đệm bài ‘’Ðừng Xa Tôi’’ (Ne me quitte pas) của Jacques Brel.
Ông Michel nói với Corine :
- Bà cho tôi ba ly ‘’Cognac - Napoléon’’.

Toàn lịch sự, đi ra cụng ly với ông Michel và Chantal. Họ không nói gì, mà chỉ lặng thinh như đang lắng nghe đệm dương-cầm. Khoảng mười lăm phút sau, Toàn nói :
- Dạ, thưa ông ! Ðã khuya quá rồi. Chút nữa, tôi về chung với mẹ tôi, ông khỏi mất công.

Ông Michel gật đầu. Ông móc trong bóp ra tờ giấy năm trăm quan để trên bàn, rồi cùng Chatal đứng dậy chào tất cả, ông và con ra về.

Toàn lái xe, mẹ cậu ngồi bên, lòng cậu vui lắm. Còn bà Vân thì đầu óc đang quay cuồng những kỷ niệm buồn đau khi xưa... Bất chợt, Toàn hỏi :
- Má thấy cô Chantal đẹp không ? Mẹ cô ấy là Việt Nam đó má !
Vân thở ra :
- Má biết mẹ cô và mang ơn mẹ cô ấy nhiều lắm... Toàn giật mình làm chiếc xe hơi chao đảo, cậu liền hỏi : - Má ! Má nói gì ? Má biết mẹ của Chantal hả ?
- Ðể về nhà, hoặc hôm nào rảnh má sẽ kể cho con nghe.
- Con nóng ruột muốn biết liền...
- Vậy là con và cô Chantal có gì rồi phải không ?
- ... ... ! ! !
Hai mẹ con Vân về đến nhà, thay đồ xong, Toàn ra salon ngồi nghe mẹ kể...
(......)
Ðã hơn ba giờ sáng... Toàn thở ra và nắm tay mẹ :
- Nghĩa tình cao chất ngất, mà oán hận cũng thẳm sâu... Má ơi ! Ở đời, ai cũng có khi lầm lỗi... Má à ! Ơn đền, oán xả nghe má !
Vân nhích lại gần và đưa tay vuốt tóc con :
- Má không xả bỏ, thì má làm gì bây giờ ? Má đâu có bao giờ muốn ai khổ, nhứt là con của má... Thật, sống một kiếp người, nếu gặp tai họa khổ sỡ tận cùng. Rồi sau đó, ông trời cũng đền bù lại phước lành. Phước-họa thường hay đi đôi con à ! Nhờ gặp những tai họa dồn dập, nay má mới được có thằng con làm ông bác sĩ hiền từ như vầy nè...

Toàn ngả đầu vào mẹ :
- Con cảm ơn Trời-Phật, và cảm ơn người mẹ tuyệt vời của con đây...
*
Tà áo trắng, ban mai thuở ấy,
Chiều hoàng hôn, chợt thấy nắng hồng
Ai nào hiểu, ánh mắt trong,
Có bao nổi khổ chất chồng tuổi xuân ?

(Ngoại ô Paris, hoàng hôn 17-05-2003)

Việt Dương Nhân




Mục Lục


7. Cung Phu

Nguyên Cương Andy



Chị Quỳnh Như,

Lúc còn ở Tennessee tôi đã bao lần cạn lời khuyên giải rằng cuộc tình duyên gia đạo xui xẻo của chị chẳng có tình tiết gì thú vị để viết thành tiểu truyện, nhưng chị không nghe vẫn một mực yêu cầu, lại còn hăm dọa không bao giờ thết tôi món bún măng vịt độc đáo của chị nữa . Ðã thế thì here it is, you asked for it .

Nguyên Cương Andy

Sửa soạn xong, Quỳnh Như bước ra phòng patio lợp mái, nơi yên tĩnh nhất của căn nhà, để lặng ngắm chậu bonsai để trước hòn giả sơn ở vườn sau trong lúc chờ chồng về để cùng đi dự buổi họp mặt . Chậu bonsai xinh xắn này từ đâu đến, tới ngày hôm nay Như cũng vẫn không rõ . Một buổi sáng cuối tuần cách nay đã mười mấy năm, có tiếng gõ cửa trước nhà nàng . Quỳnh Như mở hé cửa, một nhân viên giao hàng bê từ chiếc xe vận tải xuống một thùng gỗ đóng đai cẩn thận, không thấy đề tên người gửi, chỉ thấy gắn nhãn "hàng dễ vỡ" . Quỳnh Như mở ra, một chậu bonsai con con với chồi lá li ti nhiều gai, chùm rễ dầy dặc quấn quanh một thỏi đá nham thạch màu nâu đậm trồng trong chậu sứ trắng nom hay hay mắt . Xưa nay Quỳnh Như ít để ý đến phép trồng hoa, chứ đừng nói chi tới nghệ thuật cầu kỳ của bonsai, và không bao giờ nghĩ đến việc sắm kiểng . Nàng cau mày, suy nghĩ mãi . Người gửi chắc chắn phải là người Việt, vì chữ tên nàng trên thùng hàng có dấu hẳn hoi, nét viết rõ ràng, rất đẹp, rất cứng tay của người học thức . Nhưng người ấy là ai ? Sao lại gửi tặng chậu cây mà không nói tên ? Hay là một trong những secret admirers yêu thầm lặng đem tặng hoa cho người đẹp như trong tiểu thuyết và phim ảnh ?

Từ đó, cây bonsai nằm yên sau patio bên hồ cá vàng là nguồn vui nho nhỏ của Quỳnh Như . Nàng đặt mua một hòn giả sơn để giữa hồ cá, với những tượng nhỏ gắn trên từng ven núi vách đồi . Nào là tượng ông Lã Vọng ngồi câu cá, hoặc tượng Trương Lão gánh củi . Lại có cả gã mục đồng tí teo chăn trâu thổi sáo với chàng thư sinh ngồi bên chiếc cầu đá, và Lã Ðồng Tân nằm uống rượu bên gốc cây đại thụ . Những pho tượng ấy Quỳnh Như đem về để nhớ lại những hòn non bộ nàng đã xem thời thơ ấu . Nàng thường ngồi bên hồ ném vụn cho cá ăn, những con cá màu da cam lốm đốm trắng bơi ngoe nguẩy trồi lên đớp mồi văng bọt nước trong những buổi chiều buồn như hôm nay . Nàng nghĩ về đời mình, nghĩ đến một thuở xuân xanh mộng mơ với bao nhiêu hy vọng . Ước mơ cứ như bọt nước trong hồ cá kia nồi lên trong chốc lát rồi vỡ tan ngay trước mắt, không ngập ngừng, không luyến tiếc . Người chồng, mối tình đầu của Như dạo trước, bây giờ sao quá đỗi tầm thường nhỏ nhoi, sao quá đỗi phàm phu tục tử . Ðốc làm nghề bán bất động sản, lúc nào cũng kè kè chiếc cellular phone trên tai kể cả lúc ăn uống, lái xe và nói chuyện với vợ . Hai vợ chồng rất ít hàn huyên, chỉ trao đổi vài câu cần thiết vắn tắt vào buổi tối . Ðốc đi nguyên ngày, về đến nhà lại miệt mài nằm ôm chiếc truyền hình hoặc ông ổng với dàn karaoke với những bản nhạc cải lương mà vừa nghe qua nàng đã lên cơn nhức đầu . Ngược lại, Ðốc lại rất khó chịu mỗi khi Như ngồi hàng giờ bên hồ giả sơn ngắm hoa, ngắm cây ngắm cá - một sự phí phạm thì giờ . Bữa chiều dọn ra, Ðốc ăn xong rất nhanh, ban phát hiệu lệnh cho vợ con rồi lập tức leo lên giường ôm chiếc TV như thể cái máy truyền hình đã thay được cho vai trò người vợ .

Mấy lúc gần đây, Ðốc thường đi luôn mãi đến nửa đêm mới về . Quỳnh Như hỏi, Ðốc chỉ mập mờ nói là có khách mua nhà mời ăn tân gia . Có điều, Ðốc đi khuya cả những ngày thường, chứ không chỉ riêng cuối tuần . Như cũng không bận tâm lắm . Có lẽ Ðốc nhiều bạn, các ông hay co kéo anh em ngồi quán cho đến khuya với nhau để bàn chuyện bù khú, chuyện thế giới, hoặc để hồi tưởng thời oanh liệt ngày xưa . . . Nàng chẳng bao giờ nghi ngờ Ðốc có mèo mỡ với ai . Phải chi chàng hào hoa duyên dáng gì cho cam - anh chồng với cái bụng phệ kém mồm miệng lại nom không bắt mắt, có thả đi đâu thì cũng an toàn .

Cuộc sống của nàng cứ thế trôi qua tẻ nhạt . Ðôi khi Quỳnh Như mong vơ vẩn một ngày nào đó nhân vật đã tặng nàng chậu bonsai đột nhiên xuất hiện ở ngưỡng cửa . Người đàn ông ấy chắc là phải handsome với dáng dấp của một kẻ lịch lãm phong sương . Chàng sẽ nói giọng thì thầm quyến rũ :"Tôi hy vọng món quà mọn là chậu cây đã làm bà không phật ý" . Quỳnh Như mỉm cười một mình khi nghĩ đền đấy . Nhưng rồi nàng lại ngần ngại không muốn giấc mơ thành sự thực . Vì mộng và thực thường có đi đôi với nhau bao giờ ? Biết đâu người tặng chẳng là một kẻ lùn tịt hay mập ú, hoặc vô sỉ hạ lưu như hầu hết đám bạn của Ðốc thì sao ? Thôi thì đừng biết còn hơn . . .

Mỗi khi có khách viếng nhà, nàng đều khoe chậu cây đẹp và đem vụ secret admirer ra kể cho bạn bè nghe . Kẻ tin người ngờ, có người nghe xong cho là câu truyện lý thú, nhưng cũng có bà về nhà bĩu môi bảo chồng :
- Gớm . . . Ðã kềnh càng ba mặt con rồi mà còn cứ bịa chuyện có người theo đuổi . Chó dại nó theo chứ ai theo !
*
Buổi họp có phụ diễn văn nghệ kéo dài đã gần hai tiếng đồng hồ mỗi lúc một ồn ào . Ở thành phố Memphis tiểu bang Tennessee này, cứ cuối tuần bất kể lũ lụt, mưa tuyết hay hạn hán người di tản buồn thế nào cũng có vài cuộc hội họp ăn nhậu, ca hát hoặc tranh đấu để chống đối hay ủng hộ một cái gì đó, làm như nếu không ủng hộ hay chống đối, là một tập quán văn hóa mang tính truyền thống sẽ không còn được duy trì đúng mức ! Có tiếng vỗ micrô nghe thình thịch, Như ngẩng nhìn lên sân khấu . Ðứng đằng trước mấy chậu hoa, mấy khẩu hiệu vẽ trên cái phông vải nham nhở, bác sĩ Kính Nguyễn, bạn tennis của Ðốc chồng nàng, đang hùng hồn bắt đầu kêu gọi mọi người ký vào bản kiến nghị yêu cầu nhà cầm quyền Bắc Kinh lập tức ngưng giam giữ các tù nhân lương tâm gốc Trung Hoa từ Mỹ về nước tranh đấu . Tiếng ông Kính sang sảng :
- Người Hoa Kỳ có quyền đi bất cứ nơi đâu để vận động cho nhân quyền . Là công dân Hoa Kỳ, chúng ta phải có bổn phận gióng lên tiếng nói của cộng đồng người Việt Memphis cho thế giới biết đến .

Hai ba gã trung niên mặt mũi đỏ gay say khướt ngồi bên dưới giơ tay lên xuống mấy bận để tỏ ý quyết tâm đồng ý với ông Kính . Trên những chiếc bàn tròn, la liệt những tàn thuốc lá, vỏ bia và chén đĩa đồ ăn bỏ dở . Bồi bàn bắt đầu đi dọn dẹp, mấy bàn trong góc các tay lưu linh đang thi đua tửu lượng, khung cảnh hỗn loạn . Tiếng ồn ào của những người mải nói chuyện không để ý đến bài diễn văn cũa bác sĩ Kính mỗi lúc một tăng . Ðầu Như trở nên nhức như búa bổ . Nàng mở bóp, lấy hộp Advil uống một viên và soi lại bóng mình trong mảnh gương nhỏ . Ngũ thập tri thiên mệnh, nàng lẩm bẩm và bất giác đưa ngón tay vuốt mấy nếp nhăn trên gò má . Mình đã vĩnh biệt với tuổi thanh tân từ bao giờ ? Cả một quãng đời xuân xanh đầy ắp hy vọng, vừa lớn lên đã trao cho Ðốc . Nàng đưa mắt nhìn quanh tìm dáng chồng . Ðốc vẫn chạy lăng xăng từ bàn này sang bàn khác, gặp ai cũng đưa tay bắt vỗ vai xã giao như sắp ra ứng cử nghị viên hội đồng tỉnh, khuôn mặt lộ vẻ quan trọng vì được ông Kính giao cho chân trưởng ban tiếp tân, trong lòng vui như mở hội vì lát nữa đây sẽ được lên phát biểu vài câu cảm tưởng và nhất là đã được bác sĩ Kính ưng thuận cho chàng hát vài bản nhạc trứ danh mùi mẫn mà chàng đã luyện tập nhuần nhuyễn, với sự phụ họa của chiếc dĩa Laser Karaoke mà chàng bao giờ cũng mang theo bên mình mổi lần có party ca nhạc .

Sự ca hát của Ðốc đã từ lâu là một nỗi đau khổ, ngượng ngùng và xấu hổ cho Như . Biết chồng thích văn nghệ, nàng cố gắng đi theo Ðốc để tham dự những buổi party dù hiểu rằng giọng hát của Ðốc luôn luôn là một ám ảnh lo sợ của những người có mặt . Mỗi khi màn văn nghệ bắt đầu, Ðốc trở nên rất tự nhiên như một nghệ sĩ thứ thiệt . Không chờ ai mời, chàng cứ cầm micrô luôn một mạch, với giọng ca cứu hỏa nhả ra hết bản nhạc mùi này sang bản nhạc mùi khác, đôi khi không cần đếm xỉa đến ban nhạc . Có lúc, Ðốc còn đi xuống hàng ghế khán giả, chiếc bụng bự đong đưa qua từng bàn, vừa đi vừa hát vừa làm duyên dáng với quan khách, nhất là khách phái nữ . Những lần như thế, Như chỉ muốn độn thổ . Nàng co người lại, xõa mái tóc xuống và kéo cao cổ áo như thể muốn dấu kín nhân dạng, liên tiếp vén cổ tay xem giờ và mong cho buổi party chóng xong để nàng thoát ra khỏi tấn bi hài kịch mà chồng nàng cứ đem tái diễn với sự cổ võ của mấy tên vô lại .

Bỗng bên cạnh Như có tiếng người lao xao . Nàng quay lại, một tờ giấy đưa ra, một khuôn mặt quen cười cười với hàm râu mép đen run rẩy trên cặp môi thâm phàm phũ :
- Quỳnh Như ký vào đi .
Như nhìn gã . Nàng nhíu mày :
- Ký cái gì ?
- Kiến nghị gửi tòa lãnh sự Trung Cộng đòi thả Jimmy Ho .
Chiều mai đi giăng biểu ngữ ở tòa lãnh sự, chị có đi không ?

Như không đáp lời gã đàn ông dáng người bé choắt như cây bonsai vườn sau nhà nàng, đầu hói có bộ râu mép trên chiếc miệng cười khả ố tên Phillip Tạo . Ở xứ người, Như đã gặp không biết bao nhiêu kẻ đại ngôn, thô tục, háo danh và trơ tráo . Nhưng từ khi biết Phillip Tạo, thì bao nhiêu người trước kia nàng thường phải lắc đầu ngán ngẩm mỗi khi nghĩ đến bỗng đều trở nên khá tử tế . Trước kia, Tạo dạy tiểu học ở Lăng Cha Cả, nhà bán gỗ - loại gỗ thu mua lại của bọn ăn cắp từ những kho hàng kiểm lâm hoặc kho xây cất của lính Mỹ - và bố của Tạo khi mới vào Nam làm thợ sắp chữ cho báo Tiếng Chuông để nuôi Tạo học hết trung học . Nhưng khi chạy sang bên Mỹ, tất cả những chi tiết trong lý lịch xưa kia của gã đều được gã đồng loạt cho gia tăng lên vài bực . Phillip Tạo tự động biến thành cựu giáo sư dạy lớp luyện thi tú tài; gia đình Tạo biến thành nhà xuất nhập cảng gỗ quý ở Sài Gòn; và bố Tạo bỗng biến thành giám đốc tòa soạn báo Tiếng Chuông, có chân trong hội nhà báo quốc tế và suýt nữa ra tranh cử Hạ Nghị Viện miền Nam nếu đã không có vấn đề về sức khỏe .

Tạo vốn là bạn thân của Ðốc từ mười mấy năm nay, người khuyến khích cổ võ Ðốc trong lãnh vực ca hát bằng cách vỗ tay to và lâu nhất mỗi khi Ðốc buông tha cho khán giả và chấm dứt một bản nhạc . Gã còn hay đến nhà Quỳnh Như để đàm đạo về tình hình chính trị quốc tế với chồng nàng ở ngoài phòng khách . Hai ông thức đến nửa đêm, chai Henessy vơi dần, tàn thuốc vun đầy cho khói sương nhà Như mù mịt như hang Tam Cốc, ngồi gật gù cao đàm hùng luận cơ hồ cả hai là những national security advisers hay policy makers của Hiệp Chủng Quốc, và phanh phui những điều tối mật trên thế giới mà cả đến cơ quan CIA cũng không hề hay biết .

Hai người hợp gu trên nhiều phương diện cho nên có mặt bên nhau từ hội họp đến các buổi karaoke, từ những hôm biểu tình chống bọn giúp đỡ cho cộng sản vì đã cứu trợ lũ lụt miền Tây cho đến các đêm không ngủ cờ quạt biểu ngữ chờ đón ngài Thống Ðốc tiểu bang xuống viếng khu thương mại Việt Nam niềm tự hào của người di tản . Hai người còn là double partners khi chơi tennis . Hình ảnh Ðốc vác chiếc bụng phệ lặc lè ôm vợt chạy trên sân cùng với Phillip Tạo dáng dấp bé choắt lon ton với cái đầu nhẵn bóng và bộ ria mép gian hùng, là một hình ảnh quen thuộc ngoài sân bóng . Ở Memphis này, trong giới quần vợt lão tướng khi nói đến Phillip Tạo ai cũng phải nhếch một nụ cười nhăn nhó . Vì khi chơi game, hội chứng gian lận kinh niên của gã đã vượt lên đến trình độ thượng thừa . Hễ bất cứ quả bóng nào bên kia đánh sang gã không đỡ được, gã liền mím môi, ngón tay giơ lên trời một cách quả quyết, quát lên một tiếng "Out !" thật chắc nịch . Nếu đối phương phản đối, gã sẽ sửng cồ lên tuôn ra hàng tràng chửi thề tục tĩu, khuôn mặt xanh xám kia lập tức trở thành đỏ gay như muốn ăn thua đủ với người ta, như thể danh dự gã bị xúc phạm nặng nề vì người khác đã dám thắc mắc về cú gọi ăn gian của gã .

Lâu nay có một điều về gã Phillip Tạo mà Quỳnh Như mới nhận ra, và nàng vẫn cố xua đi trong trí không muốn cho là sự thực . Nàng bắt gặp Phillip Tạo thỉnh thoảng liếc trộm nàng, ánh mắt thiếu lương thiện bốc lửa của gã hau háu lướt qua khuôn mặt và thân hình nàng mỗi lúc gã đến nhà nàng để gặp Ðốc . Thông thường, nữ giới được khác phái ngắm nghía phải lấy làm một sự hãnh diện, nhưng cái nhìn thèm khát của Tạo chỉ khiến cho Như cảm thấy buồn nôn . Nàng nhiều lúc muốn kể với Ðốc về cử chỉ gã bạn thân của chồng, nhưng biết chắc thế nào Ðốc cũng gạt đi, cho rằng nàng tưởng tượng chuyện hoang đường : "Thôi đi bà ! Cho người ta sống với . Lúc nào cũng chỉ mơ thấy đàn ông tán tỉnh mình . . ." . cho nên nàng lại thôi . Nghĩ ngợi mãi không ra cách gì để đối phó, Như lại đâm ra xót thương cho đời hoa nào đi lạc vào vòng hôn nhân với những kẻ như Phillip Tạo . Tẩn mẩn nàng lại nghĩ đến mình . Ðời hoa lọt vào tay anh chồng Ðốc như mình thì ra sao ? Thì tả tơi có kém gì ai . . .
*
Ngày nàng còn là một đứa bé gái mười bốn tuổi học đệ ngũ, Quỳnh Như cũng đã đủ trí khôn để tự nhủ rằng đối với người con gái, điều quan trọng nhất trong cuộc đời là hạt mưa của số mạng được sa vào nơi êm ấm .

Thật vậy, nỗi ám ảnh thời thơ ấu về người cha còm cõi suốt ngày ngồi đọc sách, làm thơ, viết văn, uống rượu và đánh chắn của gia đình nàng đã đeo đẳng trong tâm trí qua bao nhiêu năm đã làm cho Quỳnh Như khi vừa lớn để nghĩ đến chuyện yêu đương, đã cương quyết sẽ không đi vào vết xe đổ mà người mẹ thân yêu của nàng mắc phải mấy mươi năm trước hồi còn ở ngoài bắc . Ngày ấy, bố nàng là cậu Cả Ðiềm con trai cụ chánh tổng xã Xuân Tịnh, học trường Tây ở Hà Nội, mỗi khi về làng Phạm Xá cỡi chiếc xe đạp pờ-giô bóng nhoáng bấm chuông kính coong vang lừng đầu xóm, với gọng kiếng đeo trễ mũi và chiếc cặp da đeo trên vai đã làm say lòng bao nhiêu người thôn nữ trên khúc đường làng năm ấy . Trong số những người thôn nữ gánh lúa đôi mắt mở to như muốn thu hết hình ảnh thư sinh hồi đó của bố Như, có một người con gái tên Mơ, tuổi vừa đôi tám, tóc vấn khăn san, khuôn mặt trái soan và dáng người mình dây cá chắm dịu dàng, người đã một thời nổi tiếng hoa khôi của ba làng Phạm, làng Ðăng và làng Ngũ của xã Xuân Tịnh với những cánh đồng chiêm bát ngát . Cô Mơ ấy, sau này là mẹ Quỳnh Như, ngày ngày gánh lúa trên đê ôm ấp mối tình đầu ngây thơ, đâu biết rồi đây sẽ bước vào một kiếp người nhiều gian truân hệ lụy .

Mẹ của Như sau này thường hay bảo chị em nàng rằng mỗi chi tiết trong cuộc đời, dù to nhỏ, tầm thường hay quan trọng cũng đều đã tiệt nhiên định phận tại thiên thư . Không có việc gì ra ngoài hai chữ số mệnh . Tương truyền, một năm Tết mẹ Như mười tám tuổi được ông ngoại nàng dắt đi xem hậu vận ở cổng Văn Miếu trên Hà Nội . Lão bốc sư người Nùng lai Tàu có khuôn mặt hung dữ, chỉ nói viết trọ trẹ được dăm ba câu chữ Việt, ngồi xếp bằng sau cái chiếu con ở trên để lổm ngổm nào những thẻ quẻ, mu rùa, với vô số chai rượu ngâm rắt rết bọ cạp, cố gắng giảng giải cho ông ngoại Như biết về quẻ bài thánh ban cho vào một buổi trưa mùa xuân ít lâu trước ngày toàn quốc kháng chiến . Lão bảo :"Số con gái lị làm giàu nhờ cung Phu, nên lấy người con chai ở khu luôi cá thì mai sau sung sướng một lời" . Ông ngoại Như hỏi :"Khu đuôi cá là khu nào ?", lão bốc sư đưa ra thẻ bài chỉ vào tám chữ "Ngư Vĩ Hưng Gia Nhất Thân Chi Ðịa", trả lời: "Khu luôi cá là khu có hình cái luôi con cá" . Ông ngoại gặng hỏi mãi, lão Tàu đâm bực văng tục :"Tỉu hà ma . . . Quẻ ló lói vậy thì ngộ lói vậy chứ ngộ lói không cho lị chắc ? Lưa tiền lây không ngộ chù cho pây giờ !" . Sợ hãi, ông ngoại Như chìa ra hai hào rưỡi, tất tả trở về Phạm Xá gặp ai cũng hỏi xem làng mình có khu nào là khu đuôi cá không . Cả làng chẳng ai biết . Khi hỏi đến cụ Thông Loan, người nhiều chữ nghĩa nhất trong làng, thì cụ ngồi suy nghĩ một lúc rồi rung đùi lim dim nói rằng :
- Lời thánh bảo phải suy diễn mới xong, chứ thánh nhân không bao giờ nói huỵch toẹt ra đâu . Tôi xem các thế đất trong làng, chỉ có mười mấy mẫu ruộng nhà ông Tổng Bạ là nằm xoai xoải về hướng bờ sông, xòe tán ra như hình cái đuôi con cá . Ngoài ra làng ta chẳng có khu nào như thế cả .

Ngừng một giây cho những khuôn vàng thước ngọc lọt hết vào cái miệng há hốc của ông ngoại Như, cụ Thông Loan nói tiếp :
- Quẻ bảo cái Mơ lấy người con trai ở khu đuôi cá thì mới hợp số cung Phu, thì còn ai vào đây . Ấy là cậu Cả Ðiềm con ông Tổng Bạ chứ còn cái gì nữa ! Ông ngoại Như run run hỏi :
- Cái thằng Ðiềm vô tích sự suốt ngày vác cây đàn băng giô với cái lồng chim đi lang thang ghẹo gái khắp làng ấy à ? Con tôi xinh thế lấy đâu chả được chồng . Tôi không gả cái Mơ cho nó đâu .

Thế nhưng lấp ló ở ngoài cửa nhà ông Thông Loan, cô Mơ - mẹ của Quỳnh Như - đã nghe lỏm được câu nói của ông đồ nho hay chữ, trống ngực đập liên hồi và lòng yêu cuồng nhiệt trong lòng người gái quê đang xuân càng tăng lên gấp bội . Trước mắt cô Mơ, cây đàn băng giô của anh Cả Ðiềm tượng trưng cho người nghệ sĩ, cái lồng chim là hình ảnh kẻ phong lưu và chiếc xe đạp bóng loáng là chân dung người văn minh lãng tử mà cô hy vọng sẽ có một ngày mình được ngồi yên sau, hai bàn tay vịn hông người yêu, xe lăn bánh bon bon trên những con đường tráng nhựa phẳng phiu của tỉnh Nam Ðịnh .

Mẹ Như từ đó rắp tâm giăng bẫy đặt mồi . Từ sự xuất hiện đột ngột đúng lúc ở đầu làng nơi bố Như hay ngừng xe đạp lại để ngắm những cánh diều vi vu trong làn gió đồng nội, hay những lúc gánh thóc về mẹ Như hay cố ý nghỉ chân ở gốc cây muỗm trước cổng nhà ông nội Như, ngả nón phe phẩy quạt và mắt thỉnh thoảng kín đáo liếc vào cổng xem có bóng dáng cậu Cả Ðiềm - bố Như - ở bên trong, hoặc những buổi hội làng có đình đám thể nào mẹ Như cũng trang điểm bằng thứ nước lựu vắt để tô môi, than xốp để vẽ mắt sau khi đã đun một nồi nước nóng thả vào mấy chục cánh hoa bưởi để gội đầu cho mùi hương tóc được tăng phần thơm dịu . Phàm trên đời, hễ cố công là có ngày toại chí . Cô Ngọc bên họ nội Quỳnh Như xấu như ma rỗ huê chân đi chữ bát mà cũng còn ve được chú Chương ở Nam Ðịnh, huống gì mẹ nàng, cô Mơ, cựu đệ nhất mỹ nhân xã Xuân Tịnh huyện Thanh Liêm ? Cho nên chỉ trong hai năm, bố Như đã vui vẻ ngã khụy trước những ngón đòn êm ái của nàng Mơ xinh đẹp, bèn nhờ người đem giầu cau đến nhà ông ngoại Như, lúc bấy giờ đã bệnh nặng . Trước khi lâm chung, ông bảo mẹ Như rằng :
- Con ơi ! Thày sắp phải lìa con . Thàyï chỉ giối giăng một điều này thôi, con phải nghe lời . Lão chánh Bạ là hạng cường hào ác bá, cho vay nặng lãi, bóc lột tá điền ở làng này đã mấy đời nay . Hạng ấy đẻ con giai có bao giờ giời cho quý tử ! Thằng Ðiềm vô tinh bất tướng, ruộng cả ao liền đấy rồi nhà nó ăn mãi cũng có ngày ra rươi . . . Con mà lấy nó suối vàng thày không nhắm mắt . . .

Nhưng mặc cho lời trối trăn của ông ngoại Như có bi thiết thế nào chăng nữa, xem chừng ý mẹ Như đã quyết tuân theo ý thánh hiền ở Văn Miếu qua lời truyền của ông thầy Tầu năm trước . Ông ngoaị nàng mất, đám cưới chạy tang vừa xong là kháng chiến bùng lên, tây đen gạch mặt kéo về xã, cả làng tản cư chạy lên Nam Ðịnh, những cánh ruộng nương hình đuôi cá của bên nội Như không người coi sóc cỏ mọc tràn lan, số tiền bán trâu bò được một ít ăn dần trên Nam Ðịnh cũng gần hết . Ðẻ Như xong, mẹ nàng ở lại trên tỉnh, giúp bố Như trông nom cửa hàng bán đồ phụ tùng xe đạp, thỉnh thoảng nghe tình hình yên ổn mới ẵm Như trở về làng để khói hương cho mộ ông ngoại . Cửa tiệm xe đạp ngày càng lụn bại dần, một phần vì bố mẹ Như vốn sống ở vùng quê nay ra thành thị buôn bán kinh nghiệm làm ăn kém cỏi, một phần ông cả Ðiềm bắt đầu học thói cô đầu và ngả bàn đèn của dân ăn chơi Hà Nội . Tuy thời cuộc đã làm phố Khâm Thiên gần rã đám, nhưng ở những gác nhỏ, những địa điểm lẻ tẻ nơi các ả đào túng quẫn không biết xoay ra nghề gì khác vẫn tiếp tục tiếng chập choeng, tiếng trống lục tục và những tiếng hát ư ử chua hơn dấm ta vẫn vang lên đều đặn . Và những tiệm hút, nơi tụ họp của giới nghệ sĩ, vẫn lén lút hoạt động . Ông cả Ðiềm chẳng mấy khi ở Nam Ðịnh, cứ la cà trên Hà Nội hàng mấy tuần liền, lại vốn tính người nghệ sĩ, kết giao rộng rãi với nhiều thi nhân, thường đi "bốc mả" - tức là đi ăn tủy xương bò vào buổi tối trước khi tiệm phở đóng cửa - rồi đi đốt nhựa với Ðinh Hùng, và ghé nhiều cửa ngõ Bình Khang với thi đế Hoàng Chương họ Vũ . Do đó, kết quả của cuộc sống phong lưu không ngày mai ấy của bố Như là sự sạt nghiệp xảy đến cho tiệm phụ tùng xe đạp, một việc dĩ nhiên, tất nhiên, đương nhiên, tự nhiên và hẳn nhiên không cần suy diễn .

Di cư vào Nam, những ngày tháng nghèo túng và lận đận của gia đình Như mới thực sự bắt đầu . Ông cả Ðiềm đi đánh chắn thường xuyên, ở nhà chai rượu đế trên bàn lúc nào mẹ nàng cũng lo cho đầy ăm ắp . Thơ phú thĩnh thoảng trong những cơn say cũng được ngâm ra, những vần thơ đôi khi cũng có gửi đăng trên báo với số tiền nhuận bút ít ỏi được vội vã quăng ngay vào đĩa cửu vạn bát sách chi chi ở các chiếu bạc . Mẹ Như hàng ngày ra chợ bán cua đồng độ nhật, những con cua to bằng nửa bàn tay với cái mai màu tím than và hai càng nhọn hoắt hễ cắp vào đâu đố ai mà làm cho nó nhả, bị trẻ con miền quê bắt được trong các hang ruộng ban đêm bỏ vào bao bố bỏ mối cho con buôn mỗi buổi sáng sớm ở chợ Thông Tây, mẹ Như chất bao bố đèo xe đạp mang về bán lại ở cuối chợ Xóm Mới . Như thường trông thấy ngón tay mẹ chảy máu, những vết thương chưa lành đã bị đứt lại, lúc nào cũng băng bó . Mỗi khi ra đến chợ để trông hàng hộï mẹ, Như phải nhịn thở vì mùi cua chết bốc lên sặc sụa từ những chiếc mai khô, những chiếc càng gẫy, những con nhặng xanh bay vi vu quanh những xác cua hòa điệu với những tiếng rao hàng, trả giá và chửi bới nghe thật đinh tai nhức óc .

Như còn nhớ năm nàng mười lăm tuổi, có một bữa ế hàng, trời mưa bong bóng sụt sùi, nước mưa làm trôi bớt đi những rác rưởi dơ bẩn của phố chợ, mẹ Như đậy lồng cua lại, hai mẹ con ngồi náu mưa trong cửa tiệm gạo chờ giời dứt hạt . Mẹ Như nhìn ra màn mưa, đôi mắt quầng thâm thoáng hiện nét lo âu khi nghĩ đến người chồng say rượu tuần trước ngã dúi bên đường lọt xuống cống nhà thờ Thái Bình gãy chân phải bó gà tre ngâm thuốc bắc :
- Nãy con ở nhà bố tỉnh rượu chưa ?
Như lắc đầu đáp khẽ :
- Chưa . Lúc con đi bố vẫn còn nằm trên giường .
- Thế buổi trưa ông lang Bình Cách có đến nhà bó chân thêm cho bố không ?
- Con vừa thổi xong nồi cơm thì ông lang đến . Ông ấy bảo tuần trước mẹ chưa giả tiền, lần này ông không chữa, chỉ xoa chân cho bố mấy cái rồi đi về . Ông ấy còn bảo gà tre mua đắt ông ấy không bó chịu, mẹ không giả tiền, là cái chân bố ra sâu quảng, chỉ còn mang lên Sài Gòn cho người ta cưa .

Mẹ Như ứa nước mắt, đưa bàn tay sứt sẹo lên vuốt tóc Như và ôm nàng vào lòng . Một lúc sau Như nghe tiếng thì thào ấm áp của mẹ thoảng qua tai :
- Con nhớ nhé . Việc chọn chồng là việc hệ trọng, đừng dại dột như mẹ . Chớ lấy chồng dài lưng tốn vải, đừng lấy chồng nhà giầu chỉ biết ăn chơi . Mẹ bảo con phải ghi lòng . Sống để dạ, chết mang theo, con nhớ, con nhé . . .

Thời gian cứ mãi trôi qua, cả hai cha mẹ Như cũng dần theo nhau khuất núi . Như lớn lên, thôi học và lập gia đình khá dễ dàng dù trong hoàn cảnh đất nước thời chinh chiến, có lẽ một phần cũng vì được một nửa nhan sắc của mẹ nàng - cô Mơ hoa khôi Xuân Tịnh - để lại . Như lấy Ðốc, ngày ấy là một chàng trai hiền lành dễ mến nhà ở vùng ông Tạ, bố làm trùm xứ, gia đình đạo đức và "có căn bản" . Lấy nhau xong, đến khi có hai mặt con nàng mới chợt nhớ tới lời dặn của mẹ khi sinh tiền . Nhưng Ðốc xem ra không có mầm mống triển vọng gì là sẽ đưa Như vào con đường đau khổ như mẹ nàng ngày trước cả . Chàng không làm thơ, không uống rượu, cũng không đánh bạc, không nghiện ngập . Như thở ra khoan khoái khi kiềm chứng và so sánh những thói tật của bố nàng với Ðốc, và hân hoan nhận thấy hai người chẳng có lấy một điểm tương đồng . Cung Phu của nàng tưởng chừng sẽ sáng lạn và êm ấm, chứ không như của mẹ nàng .
*
Lặng người đi một lúc để hồi tưởng chuyện cũ, Như không lưu tâm đến câu hỏi của Phillip Tạo . Gã thấy nàng để thần trí đâu đâu, bèn dúi cây bút vào tay nàng :
- Ký đi chị Quỳnh Như . Vợ tôi ngồi đàng kia kìa, nãy giờ hỏi tôi chị ở đâu để sang ngồi chung cho có bạn . Như thoáng rùng mình . Nàng liếc sang chiếc bàn gần sân khấu, trông thấy vợ Phillip Tạo trong chiếc jupe cũn cỡn hở cổ đang giơ tay vẫy vẫy . Một người đàn bà đặc biệt, đúng người đúng của, nồi vung liền lạc, chắc hẳn khi Nguyệt Lão soạn sổ Thiên Tào trên thượng giới để sắp xếp lứa đôi, đã cho quan ôn hà bá ra công lục lọi khắp hang cùng ngõ hẻm trên toàn cõi Ðông Dương để tìm cho Phillip Tạo một phối ngẫu tương đồng về mọi mặt . Mụ trạc tuổi Như, nhưng lại trang điểm và ăn mặc nửa giống lứa tuổi mới lớn, nửa theo mốt ca-ve thời thực dân . Chiếc áo tay phồng có mấy chùm dây lủng lẳng dát đầy kim tuyến bạc với chiếc hoa hồng to tướng gắn trên ngực, chiếc jupe với kích thước mà thời đệ nhất cộng hòa mặc ra đường có thể bị đi tù vài tháng, cùng với những layers của các hóa chất đủ màu trát lên để che đi lớp biểu bì nhiều nếp đã làm cho vợ Phillip Tạo có một dung nhan của một mụ Tú về vườn nhưng vẫn chưa biết mình đáng lẽ giờ này đang phải nằm yên trong nhà hưu dưỡng .

Mụ lại luyện được dáng đi uyển chuyển có một không hai . Khi bước bên cạnh Phillip Tạo trong những lần xuất hiện công chúng, Lucy Băng Tuyết - vợ Tạo - bao giờ cũng làm cho lối đi của mụ biến thành catwalk của những buổi trình diễn thời trang, với tay trái khuỳnh ra, hàm hất lên và đôi mắt thẫn thờ nhắm hờ hững lại đúng khuôn người mẫu .

Ðiều khó chịu cho Quỳnh Như về Lucy Băng Tuyết là mụ chuyên môn hát song ca với Ðốc . Hầu như lần nào mụ có mặt khi Ðốc lên trình diễn, là cũng có một màn duet với những bản nhạc đối đáp, loại nhạc thường được Giáng Thu và Giang Tử hát chung trên sân khấu Sài Gòn ngày xưa . Ðứng cạnh Ðốc, mụ vừa hát vừa ra bộ với Ðốc theo đúng tinh thần của bản nhạc, khi giận dỗi lúc lả lơi, khi say đắm lúc thẹn thùng . Ở bên dưới bàn khán giả, Như chỉ ước muốn được nhảy lên túm ngay lấy cái cổ khẳng kheo của Lucyï và dùng cái khăn mùi xoa ướt chà thật sạch mấy tầng hóa chất trên mặt mụ .
Băng Tuyết uyển chuyển bước về phía bàn của Như .
Vẫn dáng kiêu sa kiểu cách mụ ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh Như, hai tay áo phất lên tỏ ý bất bình :
- Chờ mãi chưa thấy đến phần khiêu vũ . Nghe cái ông bác sĩ Kính nói mãi chán bỏ xừ .

Trên sân khấu, vừa lúc đó ông Kính cũng đã cạn lời, cảm ơn cử tọa và nhường chỗ cho ban nhạc . Mọi người thở phào nhẹ nhõm, cơn buồn ngủ tan biến vì tiếng ru đều đều của ông Kính đã chấm dứt và tiếng nhạc đã bắt đầu trổi lên . Trên sàn nhẩy bắt đầu tiến ra từng cặp . Ở vùng Memphis Tennessee, cái nôi của nhạc pop miền nam quê quán Elvis Presley nơi mà hàng năm người ta tổ chức diễn hành tưởng niệm The King of Rock and Roll, thì nhạc khiêu vũ Việt Nam cũng theo khí thế đó mà thăng hoa . Dân ta sính nhẩy lắm . Cộng đồng Memphis chỉ vào khoảng mươi lăm ngàn người nhưng ta có đến chục cái phòng trà khiêu vũ . Hầu hết các sinh hoạt giải trí ở đây đều xoay quanh ván nhót cuối tuần . Nhẩy tiệm mãi cũng chán, thiên hạ xoay ra nhẩy nhà, vừa dễ tổ chức vừa kinh tế . Bạn bè Ðốc không ít người đã cho xây dựng trang trí phòng khách thành một khiêu vũ trường thu nhỏ ngay trong tư thất, và cứ mỗi weekend party khách khứa, xe cộ và âm thanh stereo làm náo động những khu đông dân bốn ngàn năm văn hiến cư ngụ .

Xong bản nhạc thứ nhất với chồng, vừa bước về ghế ngồi Quỳnh Như đã thấy Phillip Tạo xà đến với nụ cười phàm phũ cố hữu :
- Bản thứ hai cho phép tôi mời chị .

Khẽ cau mày, Quỳnh Như định từ chối nhưng Ðốc đã lên tiếng :
- Nhẩy đi em . Anh hơi mệt ngồi nghỉ tí đã . Em cứ yên trí, điệu này là anh Tạo sở trường .

Chẳng đặng đừng, Quỳnh Như miễn cưỡng đứng lên bước ra sàn gỗ . Ðiệu slow ban nhạc chơi khá hay nhưng bên cạnh gã Phillip Tạo, nàng chỉ nghe thấy những âm thanh chát chúa dội vào hai màng tai, tiếng dùi nện trống và tiếng đàn bass tần số thấp nghe như tiếng sấm gầm gừ khi trời nổi giông và ánh sáng chớp lia lịa từ góc phòng làm nàng chói mắt . Hơi thở nóng hổi của Tạo hắt vào vai nàng, chiếc đỉnh đầu nhẵn thín của gã ở ngay dưới tầm mắt, nhìn qua đó Như thấy ở bàn nàng ngôi Ðốc đang nhỏ to với Lucy Băng Tuyết, hai người cười vui vẻ một chuyện gì đó, không chú tâm đến xung quanh . Bỗng nàng thấy Phillip Tạo ngước lên, gương mặt thoáng tươi giọng đầy vẻ run run trịnh trọng :
- Hôm nay anh nói cho Quỳnh Như điều bí mật này . . .Quỳnh Như có muốn nghe không ?

Không biết phải trả lời như thế nào, nàng đứng yên một lúc rồi lắc đầu :
- Bí mật gì ?

Vẫn vẻ tinh quái trên bộ ria mép gian giảo, Tạo hạ thấp giọng :
- Ðã từ lâu, anh biết Quỳnh Như dành cho anh một cảm tình đặc biệt . . . . Chúng ta là hai kẻ gặp nhau quá muộn, nhưng muộn còn hơn không . . . Hơn mười năm trước, chính anh là người gửi cho Quỳnh Như chậu bonsai đấy . Ðến chơi nhà em, anh thấy chậu bonsai được em yêu thương để bên hồ cá kiểng, có khi còn thấy em tâm sự với nó, anh cảm động lắm . Thằng Ðốc làm sao hiểu em bằng anh ? Nó là một thằng . . .

Quỳnh Như há hốc miệng tưởng như đang mơ ngủ, tay chân nàng cứng đơ, quên cả việc đẩy hai bàn tay đặt bên hông của Phillip Tạo ra . Hay là nàng vừa uống nhầm phải thuốc an thần nên đang nghe phải những âm thanh ảo giác của miền âm ty mà chỉ có thể vọng về được từ những cơn ác mộng ? Giọng gã Phillip vẫn thủ thỉ xen trong tiếng nhạc rì rào của một liên khúc điệu slow ban nhạc đang say sưa trên sân khấu :

- Quỳnh Như biết không, anh còn cho em hay một chuyện nữa . . . Ðây mới thật là một tin vui . . . Thằng Ðốc chồng em đã ngoại tình với con Lucy vợ anh từ cả năm nay . Em đừng làm toáng lên, cứ vờ như không biết, em nhé . Anh nắm hết bằng cớ, có video thám tử tư quay phim những nơi chúng nó đi chơi với nhau, có cassette tape thâu những cú phone của chúng nó . . . Luật sư ở thành phố này nằm trong tay anh . Chỉ cần ít thủ tục tòa án là chúng nó a lê văng, anh và em hết còn bị hai cái gánh nặng trói chặt cuộc đời chúng ta . Em thấy không, trên đời khổ nhất là hai kẻ yêu nhau mà bị vướng bận không lấy được nhau, như câu hát "Anh ước gì mình gặp nhau lúc anh chưa ràng buộc và em chưa thuộc về ai" . Anh long trọng hứa sẽ hồi phục cho cung Phu của em được vẹn bề . . .

Nguyên Cương Andy




Mục Lục


8. Không Còn Nhật Nguyệt Trong Bước Về Của Em

Nguyễn Ðăng Tuấn



Dấu cát nóng có làn ca khúc. Bởi khi xưa hồn vỡ mảnh tròn. Em, thương nhớ, tìm sao lấp láy. Ở bên trời, khung cửa sao hay. Tự vết xưa làm nên dung tích. Hóa mây vòng ngũ sắc nên mưa. Em, còn nhớ, dấu xưa hồn cổ. Ở chỗ nào, cũng có dung nhan.

Ðêm nguyệt khúc lời đưa nguyệt thực. Trăng vàng ta, trăng xóa quê nhà. Cũng như lòng tích xưa huyền nhiễm. Gọi từng cơn, cửa bể mưa nguồn. Gọi trong nhau, điều không khác lạ. Vẫn là đời, ở đó chiêm bao. Ta, tình khúc, nghìn sau còn hát.

Về nơi đâu, quê quán đã già. Một hôm xưa, sóng trào vĩnh quyết. (Ðàn con đi, chạy nhảy rất hiền). Nuôi tích cổ thêm lòng riêng mở.

Ddiều hôm kia, nguyện hát chiêu bài. Như còn nữa, bước chân nhật nguyệt. Chở từng hôm, ta hoá mây mù. (Riêng còn đó, bước chân nào đó. Phải không em, nguyệt dấu trăng nằm. Phải không em hồn thu, nhật thực. Và ta, đây, còn dấu chân về). Ðem tự khúc tìm nhau tiếng hát. Ðám hội xưa, có chỗ reo hò. Khoan hò khoan, hò khoan hò khoan.

Ði, đi nữa, hồ như khuất nẻo. Lời kinh đêm, tụng chốn u hoài.

(ngày 11 tháng 8 năm 2003)

Nguyễn Ðăng Tuấn




Mục Lục


III . Ngàn Lời Ca (kỳ 7)__________________________________________

5 . TÌNH CẢM THIÊN NHIÊN

Nhạc Sĩ Phạm Duy



Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội.
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...

Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứu.

Tác phẩm chọn lọc:

Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)

TÌNH CẢM THIÊN NHIÊN
CA HÁT BỐN MÙA
Trong khi ràng buộc mình vào với hiện thực xã hội như vậy, tôi cũng đi vào thiên nhiên với những bài như XUÂN THÌ, XUÂN NỒNG... tiếp tục hơi thở của bài HOA XUÂN tôi soạn ra từ năm 1953.

HOA XUÂN
(Saigon-1953)
Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió xuân đưa lá vàng suôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung ròn.
Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cầy trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ nghìn nơi
Thấy hoa tươi cười bỗng thương đời.
Xuân ! Hoa còn tươi mãi
Hoa vì nhân thế biết xum vầy cuộc vui.
Xuân ! Hoa nở vì ai
Tay nhịp bàn tay cùng đắp xây ngày mai.
Có một chàng thi sĩ miền quê
Ngắt bông hoa biếu người xuân thì
Có một đàn em bé ngoài đê
Hát câu i, tờ đón xuân về.

Những đoàn người trên luống cầy nâu
Thấy hoa xuân phép lạ ra mầu
Bỗng nhủ lòng ra sức cầy sâu
Tiếng ca như thể tiếng kinh cầu.
Hoa bèn yêu bóng dáng cần lao
Bắt tay nhau tránh cuộc cơ cầu
Người cùng mùa đã thoát vực sâu
Sức reo hoa nở lúc Xuân đầu.
Xuân ! Hoa toả hương mới
Nhân quần ân ái đã kêu đòi niềm vui
Xuân ! Hoa là tình tôi
Ðua nở cùng ai, cùng luyến yêu mọi nơi.
Có một bầy thôn nữ nhìn hoa
Chúc cho Xuân vui vẻ thái hoà
Có một vài tóc trắng thầm mơ
Ước cho hoa nở mãi không già.

Bài XUÂN THÌ là sự phát triển đề tài và cảm hứng về một mùa Xuân Thái Hoà đã có trong bài HOA XUÂN.
XUÂN THÌ
(Saigon-1953)
Tình Xuân chớm nở đêm qua
Khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời
Ngày Xuân con én đưa thoi
Có người nhớ tới những lời yêu mến nhau.
Xa xa có tiếng kinh cầu
Chiều trên dương thế mang sầu mênh mông
Người đi giữa độ Xuân nồng
Nhìn nhau bỡ ngỡ rưng rưng lòng nhớ thương.
Tình thương nhân thế bao la
Yêu người năm trước đã khiến cho ta giận hờn
Và thương cây súng cô đơn
Hoa đào đã nở trên vết mòn chiến xa.
Ðường đi êm quá
Có phải giấc mơ đã thành tiếng thơ
Trời không mưa gió
Mẹ bế con thơ, con bú say sưa.
Tình ra núi Bắc, non Ðông
Duyên về tới chốn Nam sông, Tây rừng
Gọi đàn chim trắng như bông
Tin lành đưa xuống khắp vùng trên nước ta
Êm êm tiếng hát trăng tà
Tình soi trên phím tay ngà gái trinh
Người ôm nhân loại trong mình
Cười tuôn nước mắt cho Xuân tình dấy men.

Bài XUÂN NỒNG là mùa Xuân ở miền Nam, không có mưa phùn, chỉ có bụi, chỉ có nắng. Vậy mà vẫn nên thơ.
XUÂN NỒNG
(Saigon-1956)
Trời xanh xanh quá, sáng soi bên nhà
Hương xuân la đà lọt cánh cửa qua
Ngoài trời tự do, lũ bướm quanh co
Theo đường tơ, ra ngoài nẻo mơ.
Có tiếng guốc kéo vang trên phố vắng
Ðưa tôi ra gặp ngay ánh nắng
Có tiếng hát giáo đường trong gió sớm
Ðưa tôi về cuộc đời đầm ấm.
Một mùa Xuân nóng giữa nơi kinh kỳ
Mưa bay không về, chỉ có bụi xe
Mặt trời phương Nam trong lúc Xuân sang
Yêu người dân, Xuân nồng tình doan.
Nắng khắp phố phường
Và Xuân ngay trông vườn
Hoa cười lên hương
Dừa cao nghe ngóng
Máu Xuân trong lòng
Tràn lan trong gió cong
Yêu một dòng
Dòng nước cuốn mênh mông
Xuân vờn trên sóng
Có cô nàng giặt áo cho chàng
Mặt phơi ngoài nắng...
Trời xanh xanh quá, sáng soi bên nhà
Hương xuân la đà lọt cánh cửa qua
Ngoài trời tự do, lũ bướm quanh co
Theo đường tơ, ra ngoài nẻo mơ.
Có tiếng guốc kéo vang trên phố vắng
Ðưa tôi ra gặp ngay ánh nắng
Có tiếng hát giáo đường trong gió sớm
Ðưa tôi về cuộc đời đầm ấm.
Một mùa Xuân nóng giữa nơi kinh kỳ
Mưa bay không về, chỉ có bụi xe
Mặt trời phương Nam trong lúc Xuân sang
Yêu người dân, Xuân nồng tình doan.

Cũng trong xu hướng ca hát bốn mùa và hoà mình vào với thiên nhiên, tôi soạn một bài hát mùa Thu, có phần đàn tranh phụ hoạ.
TƠ TÌNH
(TÌNH CA MÙA THU)
(Saigon-1956)
Ðêm nay sương mờ bao phủ u ú
Như lòng thương nữ
Nhớ mấy cung đàn
Thương đường tơ
Mơ hiền hoà
Ðêm nay sương mờ bay toả a á
Như hồn câu thơ
Ngát khúc tình ca
Trong mùa Thu.
Có hương gây mùi nhớ
Ngỡ hương là tình duyên trong cõi bao la
Có trăng treo tình gió
Mây quên đường xưa
Hoa Thu nở trong tiếng tơ.
Ðêm Thu yêu kiều, hớn hở ơ ớ
Như lòng trinh nữ
Ðón gió muôn phương
Bay về đây
Hương ngọc ngà
Ðêm Thu mơ màng ru ngủ u ú
Những người yêu Thu
Có những tình tơ trong bài thơ.

Loại ca trữ tình và rất lãng mạn vì có sự tiếp súc với thiên nhiên như thế đó cũng được viết ra luôn luôn trong thời gian này. Từ bài DẠ LAI HƯƠNG cho tới bài CHIỀU VỀ TRÊN SÔNG, cảnh sắc của đêm thơm xứ Huế hay của sông nước miền Nam đều cho tôi những cảm xúc sâu đậm khiến cho tôi yêu cuộc đời này quá, khiến cho tôi yêu loài người hơn lên. Cả hai bài đều có tính cách mộ khúc hay dạ khúc (serenade) cho nên cũng không còn bị tôi trói vào hình thức dân ca Việt Nam nữa. Nó có thể giống như loại nhạc không lời của Âu Châu vậy

DẠ LAI HƯƠNG
(tặng Thu Vân, Dạ Thảo)
(Huế-1953)
Ðêm thơm như một dòng sữa
Lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà.
Hiu hiu hương tự ngàn xa, bỗng quay về
Dạt dào trên hè, ngoài trời khuya
Ðường đêm sao yên vui, người đi quen lối
Tình trai nở bốn phương trời.
Ðàn em trong cơ ngơi
Nhờ đêm đưa tới những ai làm ngát hoa đời
Nhẹ bàn chân, hương đêm ơi !
Nhẹ bàn chân, hương đêm ơi !
Lung linh trăng lại về nữa
Cánh gió đưa hương ngả đầu mây phất phơ
Ðêm thơm không phải từ hoa
Mà bởi vì ta thiết tha tình yêu Thái Hoà
Ðời ngon như men say tình lên phơi phới
Ðẹp duyên người sống cho người.
Ðời vui như ong bay, ngọt lên cây trái
Góp chung mật sống lâu dài
Nhịp bàn tay nhân gian ơi !
Nhịp bàn tay nhân gian ơi !
Ðêm đêm trước khi ngủ kỹ
Lũ chúng em ân cần cầu hương lúc tân kỳ
Ðêm thơm thêm một lần nữa
Rồi hẹn nhau thương nhớ...

Bài hát có nhiều tình cảm thiên nhiên nhất là bài : CHIỀU VỀ TRÊN SÔNG
(Saigon-1956)
Chiều buông trên dòng sông Cửu Long
Như một cơn ước mong ơi chiều
Về đâu, ơi hàng cây gỗ rong
Nghiêng mình trên sóng sông yêu kiều
Buồn tôi không vì sao bỗng dưng
Theo đò ngang quá giang, thương chiều
Bởi vì thương nhiều, nên nhớ Tình Yêu.
Bởi vì đời còn nhiều khi là mơ
Bởi vì đời còn nhiều khi thành thơ
Có khi vui lửng lơ, có khi tuôn sầu u
Bởi vì chiều buồn, chiều về dòng sông
Bởi vì tình đời nào chỉ thù oán
Hãy cất tiếng ca cho đời thêm buồn
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo.
Chiều buông trên dòng sông cuốn mau
Thương đời thương lẫn nhau trong chiều.
Về đây bọt bèo muôn khắp nơi
Vui buồn cho có đôi, không nhiều
Ngày mai sông về quê mến yêu
Cho trùng dương cũng theo hương chiều
Bể sầu không nhiều, nhưng cũng đủ yêu.
* * *
BỔN PHẬN CÔNG DÂN

Trong thời kỳ đầu của Cộng Hòa Ðệ Nhất, khi tổ chức Văn Hoá Vụ được thành lập để đi tìm một đường lối văn nghệ cho miền Nam, tôi tích cực tham gia. Khi Quốc Hội tổ chức cuộc thi soạn bản quốc ca thì với bổn phận của một công dân, tôi soạn một bài có tính chất âu ca để dự thi. Ðó là bài :
CHÀO MỪNG VIỆT NAM
(Saigon-1956)
Chào mừng nền Cộng Hoà Việt Nam
Chào Dân Chủ Mới chiếu nguồn ánh sáng mọi nơi
Chào muôn năm bao anh hùng chiến sĩ
Chào bao thanh niên anh dũng hi sinh.
Chào mừng anh em, chào mừng Ðoàn Kết
Lấy ý chí quốc gia xây đời văn minh
Chào mừng nhân dân, chào mừng thế giới
Quyết chiến đấu xây đời tự do đẹp tươi.
Hoan hô Ðộc Lập, hoan hô Hoà Bình
Bông hoa Á Châu, đây dân Việt Nam
Hoan hô nụ cười, hoan hô cuộc đời
Vui tranh đấu không quên bao tình người.

Văn Hoá Vụ tổ chức tuần lễ Văn Hoá trong đó có nhiều giải thưởng cho các bộ môn văn nghệ. Tôi đoạt một giải với một vở ca kịch Tôi chỉ còn nhớ đoản khúc đầu :

CHIM LỒNG
(Saigon-1955)
Câu dạo :
Lơ thơ tơ liễu ý y y buông mành
Ngày hôm qua mày còn đang học nói ý y y
Trên cành, cành mỉa mai
Chim ơi, chim ơi !
Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Cất tiếng líu lo trên đầu cành
Cất tiếng véo von trên đầu gềnh.
Về nhà này đẹp, về nhà này xinh
Và một bàn tay luôn quý mến
Chờ một giọng hát rất nên duyên
Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Hãy cất tiếng ca êm đềm !
Ớ ớ chim ơi ! Ớ ớ chim ơi !

Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Cớ, cớ cớ sao mầy buồn rầu
Cớ, cớ cớ sao mầy nặng sầu
Này là hạt gạo, này là hạt kê
Này là lồng son xinh xắn nhé
Này là bình nước rất ngon kia
Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Cớ, cớ sao mày ngậm ngùi
Ớ ớ chim ơi ! Ớ ớ chim ơi !

Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Thấy, thấy thấy chim không một lời
Biết, biết biết chim yêu cuộc đời
Ðời, đời độc lập. Ðời, đời tự do
Một vùng trời xanh mây trắng xoá
Và một ngọn gió rất nên thơ
Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Hãy cất cánh bay tung trời !
Ớ ớ chim ơi ! Ớ ớ chim ơi !

Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Hãy cất cánh bay tung đầy trời
Hãy cất cánh bay theo bụi đời
Ðời là nụ cười. Ðời là nguồn vui
Vì một đàn chim bay giữa gió
Và miệng thì líu líu lo lo
Chim, chim chim ơi ! Chim, chim chim ơi !
Hãy cất tiếng ca yêu đời
Ớ ớ chim ơi ! Ớ ớ chim ơi !
Ớ ớ chim ơi ! Ớ ớ chim ơi !
* * *
MỘT BÀI BÉ CA

Sau khi nói đến "con chim lồng", tôi nói tới "con chim trời" qua một bài bé ca nhan đề MỘT ÐÀN CHIM NHỎ. Những lời nói mò của tôi trong bài hát không ngờ lại đúng với sự thực. Mười năm sau, quả nhiên hỏa tiễn của Hoa Kỳ chỉ mất đúng có ba ngày lên tới mặt trăng và quả nhiên phi-hành-gia Amstrong không tìm thấy Chú Cuội và Cô Hẵng đâu cả! Bài MỘT ÐÀN CHIM NHỎ này còn là sự liên tục của bài CHÚ CUỘI năm xưa nữa.
MỘT ÐÀN CHIM NHỎ
(Saigon-1957)
Thằng Cuội yêu chị Hằng Nga
Nói dối ông bà lên tới mặt trăng
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Kể từ khi Cuội ra đi
Làng xóm không ngờ cũng nhớ Cuội ghê
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Cuội thì sau cuộc phiêu du
Cuội ngồi thương nhớ quê nhà xa xôi
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Cuội ngồi dưới ngọn cây đa
Ð-e trâu ăn lúa kêu cha ời ời
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Chị Hẵng thương Cuội chưa nguôi
Dù sống trên Trời chưa thoát tình quê
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Chị Hằng cho một trần gian
Một tháng một lần trăng chiếu tròn cao
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !

Một trời Nam tròn trăng Thu
Em bé ra chờ xem Chú Cuội đâu ?
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Một đàn chim nhỏ bay đêm
Bay suốt năm liền tới cõi trần gian
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Bầy trẻ thăm hỏi : Cung trăng
Chú Cuội đâu vắng ? Cô Hằng đâu xa ?
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Ðộng lòng thương trẻ ngây thơ
Bầy chim nhỏ bé bay vô trả lời
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Từ ngày có hỏa tinh bay
Bay có ba ngày lên tới mặt trăng
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
Cuội đành đem Chị Hằng Nga
Tìm xứ xây nhà không biết ở đâu ?
Ố tang tình tang ! Ố tang tình tình !
(còn tiếp nhiều kỳ)

Phạm Duy

Mục Lục


IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu,

Trăng trung thu hình như đang thấp thỏm, chờ đợi đem tia sáng về với các em thiếu nhi, thế nhưng, em không biết, người có kịp về đưa em đi dạo khắp phố phường hay không ?

Trung Thu năm trước, khi cùng anh thả bộ trên hè phố, nhìn các em thiếu nhi đón ánh trăng rằm với những chiếc lồng đèn xinh xắn, đầy những màu sắc trong tay, thật dễ thương, thật ngây ngô, và nó đã dẫn đưa cô bé về với tuổi thơ ngây xa xưạ

Cô bé cảm thấy mình rất sung sướng, reo vui khi được bố yêu trao tặng chiếc lồng đèn con cá do chính tay bố làm. Con bé hảnh diện đem khoe với chúng bạn, và sau đó, tung tăng nhập đoàn, khi quanh các phố phường, cùng nhau tấu khúc những bài hát ngợi ca ánh trăng, chị Hằng và Chú Cuội, và rồi, trở về nhà, được Mẹ chia những miếng bánh trung thu ngon ngọt, nào là bánh thập cẩm, bánh dẻo, bánh đậụ Hương thơm ngào ngạt, vừa ăn vừa quay quần bên bà Ngoại để cùng lắng nghe các câu chuyện thần thoại về chị Hằng, về chú cuội, về con dế mèn, và để ao ước một ngày nào đó sẽ được viếng thăm cung hằng

Ánh trăng thanh to tròn vàng chiếu, thật đáng yêu, kiến vạn vật trở nên nhỏ bé, cần sự soi sáng của trăng. Trăng thanh bình, trăng yêu thương làm em say đắm trong tình yêu anh traọ -Dã có lần, anh nói : " Cô bé nhắm mắt lại đi, để anh bắt ông Trăng cho cô bé ", cô bé ngoan ngoãn làm theo lời anh nóị -Dể rồi một nụ hôn nồng nàn, yêu dấu ngọt trên môi bé. Cô bé nũng nịu, bảo rằng: " Anh ăn gian quá đi thôi " Anh cười nói : " Cô bé không chịu thì mau trả lại cho anh đi " …. Và cả 2 cùng cười, cùng đón trung thu với bầu trời trong sáng yêu thương.

Em là trăng,
Và trăng là em
Tình ta trong sáng như trăng đêm
Tình yêu ngọt mật thật êm đềm
Trăng vàng chiếu sáng
Ru êm
****
Em là thơ,
Và thơ là em
Tình ta đẹp như trăng mơ
Tình yêu hạnh phúc vô bờ
Trăng ngà say giấc
Cung tơ
Viết Cho Giao Mùa Trung Thu 2003



DHH ~~~/~~((@

Mục Lục


V . Nghiên Cứu_____________________________________________

1. BỆNH ÐẬU KHỈ

BS Nguyễn Văn Ðức



Quí vị, qúi bạn thân mến,
Sức Khoẻ Là Vàng thân gửi đến quí vị, quí bạn bài viết BỆNH ÐẬU KHỈ (Unicode, VietNet, và trong attachment là VNI).

(Kính mời quí đồng nghiệp Y Nha Dược tham dự Ðại Hội Thường Niên Hội Y Sĩ Việt Nam Tại Hoa Kỳ, 25, 26 & 27 tháng 7/2003, Orlando, Florida. Phiếu ghi danh có ở Website: http://vma2003.org ).

BS Nguyễn Văn Ðức
Ban Sức Khỏe Cộng Ðồng
Hội Y Sĩ VN Tại Hoa Kỳ

BỆNH ÐẬU KHỈ
(Monkeypox)
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức

Trời đất, nỗi lo "SARS" của ta vừa vơi, giờ lại nghe nói đến bệnh đậu khỉ. Cõi nhân gian chúng ta lắm chuyện thật!

Theo tài liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), tính đến ngày 12 tháng 6 vừa qua, có tất cả 62 trường hợp nghi bị bệnh đậu khỉ ở các tiểu bang Wisconsin (21 người), Illinois (12 người), Indiana (28 người), và New Jersey (1 người). Trong số đó, 9 trường hợp được xác định đúng là mắc bệnh đậu khỉ. Ít nhất có 14 người nghi mắc bệnh đã phải vào nhà thương để chữa trị. Hiện chưa có trường hợp tử vong nào.

"Ðậu khỉ" là cái "khỉ" gì thế?
Ðậu khỉ là một bệnh hiếm, gây do siêu vi (virus), xảy ra chính ở vùng trung và tây Phi châu. Nó được gọi "bệnh đậu khỉ" vì đầu tiên người ta tìm ra nó ở những con khỉ trong phòng thí nghiệm vào năm 1958. ("Smallpox" ta quen gọi "bệnh đậu mùa", nên xin dịch "monkeypox" là "bệnh đậu khỉ" cho tiện việc sổ sách.)

Những thử máu trên nhiều giống vật khác ở Phi châu cho biết chúng có lẽ cũng có đậu khỉ. Rồi các nhà khoa học lại tìm thấy siêu vi gây bệnh trên một loài sóc Phi châu. Có thể, chính loài sóc này mang siêu vi đậu khỉ nhiều nhất. Sau đó, người ta thấy chuột và thỏ cũng bị bệnh đậu khỉ. Bệnh tìm thấy trên người vào năm 1970. Mới đầu tháng 6 này, có báo cáo cho hay nhiều người ở Mỹ bị đậu khỉ. Ða số họ lây bệnh từ những con "chó đồng nuôi chơi" mang bệnh. (Pet prairie dog, loại chó nhỏ, có thể bỏ trong túi. Báo Time số mới nhất tuần này chụp bức ảnh em bé Schyan Kantzer, 3 tuổi, ở Wisconsin, tay ôm con chó đồng nuôi chơi, sau bị chó cắn rồi mắc bệnh đậu khỉ. Em may mắn khỏi bệnh, nhưng con chó thì chết.) Ðây là lần đầu tiên có bệnh đậu khỉ ở Mỹ.

Người ta chưa rõ, siêu vi đậu khỉ, tận trời Phi châu xa xăm, bằng cách nào lại bò sang đến Mỹ quốc. Một giả thuyết: các con chó đồng nuôi chơi lây bệnh từ các chú chuột "Gambian giant rats", nhập cảng từ Phi châu, khi chúng cùng ở chung trong một nhà bán thú vật nuôi chơi nào đó. Các khảo cứu cho thấy loài chuột "Gambian giant rats" Phi châu có mang siêu vi đậu khỉ.

Nguyên nhân
Bệnh gây do siêu vi "Monkeypox" (Monkeypox virus), thuộc nhóm các siêu vi gây bệnh đậu mùa (smallpox), siêu vi dùng làm thuốc chủng đậu mùa, và siêu vi gây bệnh đậu bò (cowpox).

Loại siêu vi này có thể nhận diện được bằng kính hiển vi điện tử, cũng như nhiều phương pháp trắc nghiệm khác. (Các nhà khoa học ở bệnh viện Marshfield, Wisconsin, đã khám phá thấy cùng loại siêu vi đậu khỉ ở một người bệnh và một con chó đồng bằng hiển vi điện tử. Những phương pháp trắc nghiệm tại Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật đã xác định lại, và cho biết đây đúng là siêu vi đậu khỉ Monkeypox virus.) Ta lây bệnh từ các thú vật nhiễm bệnh khi bị chúng cắn, hoặc sờ phải máu, chất tiết cơ thể, vết thương trên da của chúng. Bệnh cũng có thể truyền từ người nọ sang người kia qua những giọt nước mũi, nước miếng lớn có chứa siêu vi, bắn ra từ người bệnh trong lúc chuyện trò lâu, thân mật, mặt đối mặt; hoặc khi người lành sờ phải chất tiết cơ thể của người bệnh, sờ phải những vật dụng như khăn trải giường, quần áo dính siêu vi.

Triệu chứng
Ở loài người chúng ta, bệnh đậu khỉ gây các triệu chứng và dấu chứng giống bệnh đậu mùa, song nhẹ hơn. Một khác biệt nữa, không giống bệnh đậu mùa, khi bị bệnh đậu khỉ, ta có thể nổi hạch trên người. (Ở Mỹ, từ lâu không còn bệnh đậu mùa, trừ phi quân khủng bố tìm cách reo rắc bệnh này trong tương lai.)

Khoảng 12 ngày sau khi nhiễm siêu vi, người bệnh nóng sốt, nhức đầu, đau các bắp thịt, đau lưng, nổi hạch, và thấy mệt mỏi. Nóng sốt độ 1 đến 3 ngày, họ bắt đầu nổi những mụn trong chứa nước trên da. Các mụn thường nổi trên mặt trước rồi lan ra, nhưng cũng có thể xuất hiện từ các nơi khác của cơ thể trước. Các mụn này dần dần đóng vẩy, rồi rụng đi. (Các mụn của bệnh đậu mùa khi lành, để lại những nốt rỗ trên mặt rất xấu, không thấy nói các mụn bệnh đậu khỉ có để lại sẹo hay không.)

Bệnh kéo dài thường từ 2 tới 4 tuần.

Tại Phi châu, cứ 100 người mắc bệnh, 1 đến 10 người chết, tức tỉ lệ tử vong 1-10%. Ở Mỹ ta, tỉ lệ tử vong chắc thấp hơn, vì ở đây chúng ta ăn uống đầy đủ, có nền y tế tốt hơn nhiều, bác sĩ, nhà thương khắp nơi.

Chữa trị và phòng ngừa

Như nhiều bệnh siêu vi khác, bệnh đậu khỉ chưa có thuốc chữa đặc biệt, chỉ có cách chờ căn bệnh tấn công mãi, chán thì lui. [Các bệnh do vi trùng (bacteria), thường ta có thể dùng trụ sinh để trị, song với các bệnh siêu vi, đem trụ sinh ra dọa vô ích. Khi nhiễm cảm hoặc cúm, cũng do siêu vi, ta đừng đem trụ sinh ra uống, chẳng ăn thua gì đâu.] Bệnh nặng quá, ăn uống không được, ta vào bệnh viện để bác sĩ truyền nước cầm hơi, và theo dõi, khi nào có hiện tượng nhiễm vi trùng thêm, sẽ dùng đến trụ sinh. (Các vi trùng, cũng hay thừa cơ hội cơ thể ta đang suy yếu vì siêu vi, tấn công, gây bệnh do chúng tạo ra, như nhiễm trùng da, viêm phổi, ... Lúc ấy, ta dùng trụ sinh để diệt vi trùng.)

Tại Phi châu, người ta nhận thấy những người đã chủng ngừa đậu mùa trong quá khứ, ít bị bệnh đậu khỉ hơn người chưa chủng đậu mùa. Dựa vào điều này, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC) đã đưa ra những chỉ dẫn giải thích cách dùng thuốc chủng đậu mùa để ngừa bệnh đậu khỉ; chẳng hạn như cho những vị đang phải chăm sóc người mắc bệnh đậu khỉ. Ngoài ra, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật cũng đang áp dụng những biện pháp phòng ngừa chặt chẽ khác để căn bệnh khỏi lan tràn.

Thú vật nuôi chơi trong nhà lắm khi cũng phiền nhỉ! "Prairie dog" dịch là chó đồng quê. Chó đồng quê ở Việt Nam ta hay gọi là "nai đồng quê", bỏ vào nồi làm rựa mận tuyệt cú mèo. Người viết chưa tận mắt thấy loại chó đồng quê "prairie dog" Mỹ này, nhưng xem hình trong báo Time thấy nó nhỏ lắm, bỏ vào nồi chẳng bõ bèn gì. Thế thì loại "nai đồng quê" này hiện thời ta tránh tốt hơn, mua về bỏ vào nồi chả dính miệng, nuôi chơi sợ mang họa. (May không chết vì bệnh, nằm dưỡng bệnh 2-4 tuần, cũng chết vì... buồn!).



Nguyễn Quý Ðại

Mục Lục


2. KHAI TRƯỜNG và CHÍCH NGỪA

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức



Kỳ này, mời quí độc giả đọc bài viết của BS. Nguyễn Ý Ðức, về vấn đề chích ngừa trước khi các em trở lại nhập học.

BS. Nguyễn Văn Ðức

Thế là các em học sinh lại sắp trở về với trường ốc, sau mấy tháng nghỉ trong một mùa hè nóng bức.

Cha mẹ bận rộn lo sắm sửa quần áo đồng phục, sách vở cho con em. Ðồng thời cũng không quên đưa con em tới phòng mạch bác sĩ để khám sức khỏe tổng quát, nhất là cập nhật hóa sổ chích ngừa các bệnh có thể ngừa được. Nói tới chích là các em sợ, sợ đaụ Mà các bậc cha mẹ đôi khi cũng e dè không tin tưởng ở công hiệu của chích ngừa hoặc ngại có phản ứng của thuốc chủng.

Nhà chức trách quan tâm tới vấn đề sức khỏe của dân chúng thì chặt chẽ hơn: hầu hết các tiểu bang tại Mỹ đòi hỏi một số chích ngừa trước khi các em có thể đi học. Trường học ở nhiều tiểu bang áp dụng luật một cách khắt khe, đòi hỏi trẻ em bất luận lớp nào phải xuất trình giấy chứng nhận chích ngừa một số bệnh cần thiết trước khi vào học.

Câu chuyện ngừa bệnh này dường như cũng nêu ra nhiều khúc mắc, nên xin cùng tìm hiểu thêm.

Tính miễn dịch của cơ thể

Ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, thai nhi đã được thiên nhiên trang bị cho một hệ thống phòng thủ, bảo vệ để chống lại bệnh tật, đó là "tính miễn dịch".

Ðây là một hiện tượng di truyền được tạo ra do một số tế bào đặc biệt trong máu và hạch bạch huyết sản xuất chất kháng thể để tìm diệt mầm gây bệnh. Ban đầu nó còn kém phát triển, nhưng trong thời gian mà cơ thể lớn lên, nó được tăng cường bằng những yếu tố phòng bệnh từ máu và sữa mẹ. Nhờ đó con người tự nhiên tránh được một số bệnh mà các động vật khác thường mắc phảị

Khi mạnh, cơ thể có thể ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh, nhưng nếu vì lý do nào đó mà cơ thể yếu đi, mầm độc sẽ lấn át, gây ra bệnh. Có điều hay đáng lưu ý là thường thường khi đã bị bệnh một lần thì lần sau sẽ được miễn khi chẳng may nhiễm độc vì cơ thể đã được kích thích để hệ thống miễn dịch tạo ra kháng thể chống lại bệnh đó. Ðây cũng là nguyên tắc của việc tạo ra miễn dịch bằng sự tiêm chủng: gây ra một bệnh rất nhẹ để tạo ra sức đề kháng với tác nhân của bệnh đó.

Ngoài sự miễn dịch, lớp da bao bọc cơ thể cũng là thành trì chống mầm độc ngoại xâm từ môi trường chung quanh; chất acid chua trong bao tử có công dụng tiêu diệt vi trùng tình cờ còn lẫn trong thực phẩm; chất nhờn ở cơ quan hô hấp và tiểu tiện đưa đẩy chất có hại ra khỏi cơ thể.

Nguồn gốc sự chủng ngừa bệnh

Sự chủng ngừa đã được dùng ở Trung Hoa, Ấn Ðộ, Hy Lạp từ ngàn năm trước, khi họ tìm cách ngừa bệnh đậu mùa bằng chất liệu lấy từ người bệnh gắn vào người lành. Sau đó, nhiều y khoa học gia cũng lưu tâm khảo cứu thêm về vấn đề nàỵ

Nhưng phải đợi tới năm 1796, sự việc mới được cụ thể hóạ Một y sĩ người Anh, Edward Jenner, nhận thấy là người vắt sữa ở những con bò có bệnh đậu mùa bị lây bệnh nhưng đồng thời họ cũng đã tạo ra được tính miễn dịch với bệnh nàỵ Ông bèn chủng đậu bò (cowpox) cho con người với hy vọng bảo vệ không bị bệnh đậu mùa (smallpox) trong những dịp tiếp cận với mầm bệnh sau nàỵ Ðể chinh phục y giới về kết quả việc khảo cứu, ông ta chủng cho chính con trai của mình và đứa bé không bao giờ mắc bệnh. Bác sĩ Jenner đã thành công và đặt nền móng cho việc chế biến thuốc chủng an toàn chống bệnh nhiễm khuẩn ở các quốc gia Tây Âụ

Từ Anh, thuốc ngừa đậu mùa nhập cảng Mỹ quốc. Ðược thông báo sự công hiệu của thuốc chủng, Tổng Thống Thomas Jefferson bèn áp dụng cho thân nhân, gia đình, và cả bà con lối xóm nữạ

Cách bào chế thuốc chủng ngừa

Nhắc lại là để có thể gây ra bệnh truyền nhiễm, vi khuẩn cần được tăng gia sinh sản và gây tổn thương cho các cơ quan, bộ phận của cơ thể.

Trong thuốc chủng, mầm gây bệnh được chế biến để không có khả năng sinh sản hoặc sinh sản rất ít, không đủ mạnh để gây ra bệnh nhưng có khả năng tạo ra kháng thể chống lại mầm bệnh về sau nàỵ

Thuốc chủng được chế tạo với những cách khác nhau, trong đó:
a- Gene của mầm độc đã được thay đổi khiến sự sinh sản tuy còn nhưng rất yếu (bệnh sởi, quai bị, trái dạ, tê liệt loại uống).
b- Gene bị tiêu diệt hoàn toàn không còn sinh sản (thuốc chủng tê liệt loại chích).
c- Thuốc chủng chỉ dùng một phần của mầm độc, không có gene nên vô sinh (chủng ngừa viêm gan B, ho gà).
đ- Thuốc chủng mà độc tố của mầm độc đã bị vô hiệu hóa (bệnh yết hầu, phong đòn gánh).
Ở bên Mỹ, sau khi các viện bào chế sản xuất, thuốc được đưa cho cơ quan Thực và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) kiểm tra coi có an toàn và công hiệu không.

Rồi một ủy ban khác gồm các chuyên viên có trình độ cao về dịch học và bệnh trẻ em sẽ thảo luận về ích lợi, phí tổn của thuốc, đưa ra lời khuyến cáo nên dùng thuốc chủng như thế nàọ

Giai đoạn cuối là các trường học thường đòi hỏi trẻ em muốn nhập học phải có giấy chứng nhận đã chích ngừa một số bệnh. Tất nhiên, riêng tại Hoa Kỳ, cha mẹ có thể từ chối sự chủng ngừa vì lý do tôn giáo, đạo đức, quan niệm sống hay chủng tộc.

Nhiều người không chấp nhận, ngần ngại chích ngừa vì một vài hiểu lầm cho là chủng ngừa không công hiệu, không an toàn, có thể gây ra tác dụng phụ hoặc gây ra bệnh. Có người lý luận là cứ để tự nhiên có tính miễn dịch sau khi mắc bệnh hơn là chủng ngừa, vì chủng ngừa đôi khi làm suy yếu tính miễn dịch tự nhiên của trẻ em.

Thực tế cho hay không có thuốc ngừa nào an toàn 100%. Tuy nhiên, trông vào kết quả sự chủng ngừa với các bệnh trên thế giới, ta thấy sự ích lợi quá to lớn so sánh với một số tác dụng phụ thường nhẹ nhàng, không nguy hiểm. Thuốc chủng ngừa bệnh đã là một trong mười kỳ công trong phạm vi y tế công cộng của thế kỷ 20.
Hữu hiệu của chủng ngừa
Giáo sư Nhi khoa Samuel Katz của Duke University Medical Center, người có nhiều kinh nghiệm về chủng ngừa, đã quả quyết: "Sự tạo ra tính miễn dịch là phương tiện hữu hiệu duy nhất để làm giảm số bệnh tật và số tử vong ở trẻ em".

Ðể thấy sự công hiệu của thuốc chủng, xin hãy coi qua vài thống kê sau đây về một số bệnh:

a- Bệnh tê liệt: trước khi có thuốc chủng bệnh này vào thập niên 50, cả ngàn trẻ em bị bệnh, làm tê liệt hạ chi phải mang nạng, ngồi xe lăn; nhiều bệnh nhân bị liệt hô hấp phải nằm trong lồng phổi sắt để thở.
Từ năm 1997, không còn trường hợp tê liệt nào được báo cáo ở nước Mỹ và các nước Tây bán cầụ Năm 1994, một trận dịch tê liệt từ Ấn Ðộ xâm nhập Gia Nã Ðại nhưng nhờ chích ngừa ráo riết nên đã chặn đứng được dịch nàỵ

b- Bệnh sởi: còn nhớ khi xưa ở bên nhà hầu hết trẻ con bị ban sởi với số tử vong cao vì các biến chứng như sưng phổi, viêm não, tổn thương não bộ. Ðó là do không có chích ngừa đầy đủ. Cho nên các cụ ta khi đó thường nói là đừng tính có bao nhiêu con cho tới khi chúng sống sót sau bệnh ban sởị

Ngày nay con cháu ta bên Mỹ này năm thì mười họa mới có em mắc bệnh sởi, nhờ chương trình chủng ngừa sởi ở đây rất chu đáo, hầu như bắt buộc ngay từ khi các em vào học lớp mẫu giáọ Năm 1941, chưa có chủng ngừa, có gần 900.000 trường hợp bệnh sởị Thuốc chủng được bào chế năm 1962, và năm 1997, chỉ còn trên 100 trường hợp.

c- Bệnh đậu mùa một thời làm thiệt mạng nhiều người trên thế giới, nay coi như đã bị xóa sổ; các bệnh ho gà, yết hầu, phong chẩn đã giảm rất nhiều nhờ chủng ngừạ Nếu ngưng chương trình chủng các bệnh có thể ngừa được thì chắc ta sẽ thấy bột phát trở lại những trận dịch chết người kinh khủng như vào đầu thế kỷ vừa quạ

Các bệnh nên chích ngừa

Hiện nay 10 loại chủng ngừa sau đây được khuyến cáo nên áp dụng vì công hiệu miễn dịch cao: yết hầu (Diphteria), uốn ván (Tetanus), ho gà (Pertussis), tê liệt (Polio), ban sởi (Measles), quai bị (Mumps), phong ban (Rubella), viêm gan B (Hepatitis B), viêm não B (H. influenza B), thủy đậu (Varicella).

Việc chủng ngừa thường bắt đầu thực hiện khi các em mới sanh hoặc được 2 tháng. Tới khi chúng lên 2 tuổi thì hầu như 80% việc chủng ngừa đã được hoàn tất.

Thuốc chủng có thể gom chung với nhau cho tiện, chẳng hạn ngừa quai bị, sởi, phong ban với nhau, yết hầu, uốn ván, ho gà cùng một lúc.

Lịch trình chích ngừa:
a- Mới sanh: chích viêm gan B (Hep B) lần đầu;
b- Hai tháng: ho gà, uốn ván, yết hầu (DTaP), tê liệt (Polio), H. influenza (Hib) lần đầu + Hep B lần thứ nhì; c- 4 và 6 tháng: DTaP lần thứ nhì + Hib lần thứ nhì rồi thứ ba;
đ-12 tháng: thủy đậu, ban sởi, quai bị, phong ban (MMR) lần đầu + Hib lần thứ tư;
e- 15 tháng: Hep B lần ba + DTaP lần thứ tư;
g- 4 tới 6 tuổi: MMR lần thứ nhì + Polio lần thứ tự

Thường thường tất cả các chích ngừa này được hoàn tất sau năm sáu lần tới phòng mạch bác sĩ.

Một câu hỏi hay được đặt ra là nếu mình quên một lần chủng ngừa theo lịch trình thì phải làm saỏ Xin thưa là không bao giờ quá trễ để chích ngừạ Khi lịch trình bị gián đoạn vì quên, ta không phải chích lại từ đầu mà chỉ cần chích từ lần đã ngưng.

Phụ huynh nhiều khi cũng bối rối không biết phải chích bao nhiêu lần để có miễn dịch hoàn toàn hoặc bao giờ phải chích bồi dưỡng, bổ sung. Ðặc biệt là các em hay nghịch ngợm chạy nhẩy dễ té ngã trầy da, nguy cơ nhiễm bệnh phong đòn gánh gia tăng nên cần chích tăng cường thuốc ngừa này mỗi mười năm.

Do đó, cần giữ sổ chích ngừa cẩn thận để ghi nhớ, theo dõi lịch trình chích ngừa đã được chuyên gia y tế ấn định, nhất là khi di chuyển sang địa phương khác, hoặc khi thay đổi bác sĩ gia đình.

Ở Hoa Kỳ, đa số các chương trình chích ngừa đều miễn phí hoặc lệ phí rất thấp, qua các trung tâm y tế địa phương hay tại phòng mạch bác sĩ.

Phản ứng phụ và trường hợp không chích ngừa

Tác dụng phụ của thuốc chủng cũng thường xẩy ra nhưng rất nhẹ: chỗ chích hơi sưng, hơi đau, ngưa ngứa, nhiệt độ hơi lên caọ Trong các trường hợp này, ta có thể cho con em uống một liều thuốc giảm sốt acetaminophen (Tylenol). Nhớ là không nên cho thuốc Aspirin. Cho con em uống nhiều nước để hạ nhiệt; mặc quần áo thoáng nhẹ; chườm khăm tẩm nước ấm.

Hạn hữu lắm mới có phản ứng mạnh như khó thở, hạ huyết áp, nổi ngứa cùng mình, ngất xỉu ngay sau khi chủng. Khi bị phản ứng mạnh như vậy thì không được chủng ngừa với thuốc chủng đó nữạ

Khi các em có các dấu hiệu sau đây thì nên cho bác sĩ hay ngay:
- Nhiệt độ đo ở hậu môn lên trên 105 F;
- Nếu da xanh rờn và con em đi cà nhắc;
- Con em khóc liên tục cả mấy giờ sau khi chích ngừa;
- Con em kêu thét lên;
- Cơ thể con em run giựt.

Các em bị bệnh ung thư, bệnh liệt kháng (AIDS) cũng không nên chủng loại thuốc trong đó mầm bệnh chỉ bị làm suy yếu, như thuốc chủng bệnh sởi, quai bị, phong ban, thủy đậu, tê liệt.

Trẻ em đang đau ốm thì tùy theo trường hợp: nặng với nóng sốt cao vì nhiễm trùng thì hoãn chủng ngừa chờ tới khi bình phục; còn các em chỉ bị đau nhẹ như viêm tai, ho, sổ mũi, tiêu chẩy thì đều có thể chủng ngừa được. Bác sĩ gia đình sẽ cho ta lời khuyên quyết định.

Kết luận

Bệnh tật không phải tự nhiên tan biến đị Mặc dù con người đã ý thức được những nguyên nhân gây bệnh, đã sống điều độ, vệ sinh hơn, y học đã cống hiến nhiều phương tiện trừ bệnh tật, nhưng bệnh tật vẫn còn luẩn quẩn đó đây chỉ chờ cơ hội thuận tiện là xâm nhập cơ thể tạ

Cho nên sự phòng ngừa bệnh, mà chủng ngừa là một, vẫn còn rất quan trọng. Vả lại, "An ounce of prevention is worth a pound of cure" hoặc, "Phòng bệnh hơn chữa bệnh".

Chỉ cần một sự quan tâm, dành ra một chút thì giờ để thực hiện sự phòng ngừa này là ta có thể tránh được những dịch bệnh gây tử vong cao như dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918 giết gần 20 triệu người trên thế giới; giúp cả ngàn trẻ em tránh được khuyết tật bẩm sinh về tim, mắt, điếc và chậm trí do Rubella từ mẹ truyền cho con; cứu sống cả triệu trẻ em trên thế giới khỏi thiệt mạng vì bệnh sởị

Ðấy là phần thưởng của mũi thuốc chích mang lại sức khỏe tốt cho con ngườị Chẳng lẽ ta lại bỏ qua những cơ hội phúc lợi mà xã hội đã ân cần cung ứng, hiến dâng.
TX, 6-03


BS Nguyễn Ý Ðức

Mục Lục


3. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng

Việt Hải



Phần Giới Thiệu Dẫn Nhập:

Tôi gặp nhạc sĩ Mai Ðức Vinh (MDV) trong chuyến anh đưa gia đình về thăm mẹ tại Nam Cali, anh cho tôi biết anh vừa thực hiên xong diã CD mới nhất, CD mang tên "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng", được anh phổ theo thơ của thi sĩ Hải Ðà Vương Ngọc Long (VNL). Tôi cũng quen biết anh VNL qua vài tác phẩm thi tập và vài CD do nhiều nhạc sĩ phổ thơ anh. Anh VNL ngoài việc làm thơ Việt Ngữ, anh còn phóng tác thơ Hán, thơ Pháp, thơ Anh sang Việt ngữ. Giờ đây tôi xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm văn hóa nghệ thuật chung của hai anh VNL và MDV.

Ðây có thể là CD đầu tiên, từ xưa đến nay tạo nét hỗn hợp độc đáo vô tiền khoáng hậu một tác phẩm thi ca đông phương giữa cái cổ điển và cái tân thời, giữa thi ca và âm nhạc giao duyên, giữa cái thanh tao và cái chân chất mà hai tác giả cố đóng góp vào kho tàng nghệ thuật âm nhạc văn hóa Việt Nam. CD gồm 15 ca khúc từ bài đầu "Hoàng Hạc Lâu" đến bài cuối "Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang". Tôi nghe miên man, nghe mê mãi sự thâm thúy truyền cảm của thi ca, nét mới lạ của những dòng nhạc độc đáo, phong phú và trữ tình của nhạc sĩ MDV. Sau đây là bài chi tiết về nội dung các bài thơ được phỏng tác hay sáng tác bởi thi nhân VNL. Phần chi Tiết của "LẦU THƠ VÚT CÁNH HẠC VÀNG": Thế giới của Ðường Thi là một thế-giới siêu thoát, không bến bờ, bát ngát, triền miên và vô tận. Thời Ðường đã đưa Ðường-Thi lên đến tuyệt đỉnh, cực thịnh của nền thi-ca nhân loại, diệu vợi, có một không hai. Ðó là tinh-hoa của nền văn hóa Trung Quốc... Với một di-sản đồ sộ, thơ Ðường rất phong phú và đa dạng, tả tình, tả cảnh, nói lên cái khí hạo nhiên của con người, cái đạo Trung-Hiếu-Nhân-Nghĩa làm đầụThơ Ðường chia ra nhiều thể loại, nội dung khác nhau: những bài thơ thời chinh-chiến tả cảnh biên thùy, nỗi lòng người lính thú xa nhà, những bài thơ tả cảnh đồng quê dân dã, bốn mùa xuân hạ thu đông, những thú tiêu khiển thiên nhiên, hưởng nhàn, đọc sách, ngâm vịnh, câu cá, du thuyền, những bài thơ phơi bày thảm trạng chua xót của xã hội, những bài siêu trần thoát tục, hệ lụy nhân sinh v.v... không sao kể xiết. Ðọc thơ Ðường để cảm nhận tiếng lòng xao xuyến của người xưa vọng lại, của hồn xưa trăn trở còn phảng phất đâu đây... Những bài thơ với những từ diệu điêu luyện, ý tưởng phong phú, cảnh tình thắm thiết… đậm đà tình cảm sâu sắc, nồng nàn, với những ngôn ngữ thâm thúy, tự nhiên hàm súc, ý tưởng chân thật thanh đạm, luật thi rất tinh mật, hoặc có những bài thơ giàu chất trí tuệ hơn cảm xúc… có đặc trưng, phong cách và vẻ đẹp riêng biêt. Mỗi một bài thơ Ðường là một bức tranh sống động với các màu sắc hài hòa, có âm vang kỳ diệu và sức truyền cảm tuyệt vời, gợi mở, quyến rũ và đi thẳng vào lòng người đọc, để lại những suy tư trầm lắng và rung động không nguôi… Ðường Thi là sự kết tụ mỹ thuật, tinh hoa văn học nghệ thuật... Mỗi một bài thơ Ðường nổi tiếng xứng đáng là viên ngọc quí vô giá lung linh sáng chói, chẳng bao giờ phai nhạt qua cơn bụi lốc mịt mù và gió bão của thời gian và không gian vô tận… Bộ Toàn Ðường Thi ấn hành vào năm 1707 chia làm 30 tập, gồm 900 quyển, với hơn 49.000 bài của ngót hơn 2200 thi sĩ. Thơ Ðường có thể nói đã trải qua gần 300 năm (618-907). Dựa vào sự biến chuyển của các triều đại nhà Ðường, có thể chia ra làm 3 thời kỳ tóm tắt như sau với những sắc thái riêng biệt, đặc trưng của thi ca, và phong cách, trường phái của các nhà thơ: thời Sơ Ðường, thời Thịnh Ðường và thời Vãn Ðường, trong đó phải đáng kể Thời Thịnh Ðường là thời kỳ vàng son rực rỡ của Ðường Thi. Thời Thịnh Ðường (713-846): Với sự lên ngôi của Lý Long Cơ (tức Ðường Minh Hoàng) đã đề ra sự "phục bích" (dựng lại bức tường cũ), nhắc lại sự việc lật đổ Võ Tắc Thiên (705) và Lý Long Cơ diệt Vi Hậu (713) để khôi phục nhà Ðường. Ðường Minh Hoàng là nhà vua có nhiều tài năng, là một nghệ sĩ (tự nhuận sắc khúc Nghê Thường), say mê ca múa thi văn, quí trọng văn nhân thi sĩ, đã lập ra Văn Học quán, nơi chốn để đàm đạo thảo luận thơ văn...Văn họcTrung Quốc vào thời kỳ nầy đã có cơ hội phát triễn rực rỡ muôn màu, muôn sắc... Ðây là thời kỳ đã đưa thơ Ðường lên đỉnh cao chói lọi… Ðại diện cho thời Thịnh Ðạt nầy có thể nói có bà nhà thơ rất nổi tiếng, đó là Lý Bạch, Vương Duy và Ðỗ Phủ. Lý Bạch với phong cách hào phóng đại diện cho dòng thơ lãng mạn bay bổng tự nhiên, đôi khi siêu thoát ra ngoài thựïc tế. Thơ Vương Duy (thi sĩ còn là một họa sĩ có tài) man mác hương vị thiền, thanh đạm hồn nhiên, chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Thiền Tông... Ðỗ Phủ đại diện cho dòng thơ hiện thực trữ tình, mang những tư tưởng Khổng Mạnh của một kẻ sĩ đứng đắn nhận thức được trách nhiệm đối với vua, nước và dân. Hơn nữa bản thân của Ðỗ Phủ cũng sống trong cảnh cơ hàn nghèo khó. Thời kỳ thi ca của Ðỗ Phủ cũng là giai đoạn cảnh thái bình thịnh trị trôi qua, khi Ðường Minh Hoàng say mê nhan sắc Dương Quý Phi, bỏ bê công việc triều chính và chiến tranh nhiễu nhương xẫy ra, và chính Ðỗ Phủ đã dùng ngọn bút tài ba của mình để miêu tả những hoàn cảnh xã hội tang thương trong giai đoạn nầy… Trong khi Vương Duy có những dòng thơ chịu ảnh hưởng Phật Giáo, thơ Lý Bạch man mác màu sắc Ðạo Tiên, thì thơ Ðỗ Phủ tiêu biểu tinh thần Nho Giáo, mang tính chất hiện thực của thời đại... Cho nên người ta thường gọi Vương Duy là Thi Phật, Lý Bạch là Thi Tiên và Ðỗ Phủ là Thi Thánh... Thơ Ðường rất phong phú vừa nội dung lẫn hình thức, kỹ thuật và nghệ thuật, phản ảnh rộng rãi cái hiện thực thời đại, các sinh hoạt xã hội, quan niệm nhân sinh, thiên nhiên, lịch sử cá nhân, cung đình… Quan niệm "Thi Ngôn Chí" (Thơ nói lên cái Chí ) rất thịnh hành trong thi ca Trung Quốc, thơ phản ảnh chí hướng, tình cảnh , cảm xúc, cuộc đời của con người. Các thi sĩ Ðường Thi đã ôm hoài bảo "kinh bang tế thế", "trí quân trạch dân", quan niệm thơ là một phương tiện để bảo tồn phong hóa, là công cụ để giáo hóa nhân tâm, là hình thức để di dưỡng tinh thần con người… Thơ chính là những tâm tình bộc bạch, là tiếng lòng thổn thức, là tâm hồn của người thơ đã dàn trải … là thế giới tiềm thức của con người, là những phẩm chất tinh hoa xuất phát từ trái tim nhân ái, từ trí tuệ tinh khôi, giàu yêu thương và tình cảm. Thơ gắn liền với cuộc đời, là những sợi dây tình cảm dạt dào lãng mạn và tư duy ràng buộc con người với ngoại cảnh và tha nhân. Thơ là những cảm xúc nội tâm và nét thẩm mỹ tiềm ẩn kết hợp bởi những yếu tố: Ý Tứ, Hình Tượng, Nhạc Ðiệu, Tình Cảm, Từ Ngữ, ngẫu nhiên đem lại những hấp lực vô hình làm rung động lòng người... nhờ những âm thanh và ngữ điệu... mời gọi những thưởng thức đam mê và cảm thụ say đắm… Nhạc và Thơ đã phối hợp hài hòa, để từ đó không phải chỉ là những dòng chữ nghĩa đơn thuần, mà đã tạo nên những dòng âm thanh hài hòa gây ra ấn tượng thích thú, rung động cho người đọc và người nghe… sẽ không còn hàm ẩn nữa, mà lôi cuốn, gây sự gợi mở rất phong phú , ấn tượng cụ thể cho sự cảm thụ đồng tình giữa tác giả và thính giả... Những bài thơ dịch phóng tác đã tạo nên những sự liên kết đặc biệt của những ý từ, biến hóa linh hoạt của câu thơ, tạo ra những âm thanh từ điệu, những hình ảnh biểu tượng cái cảm xúc của thơ, những sắc thái tình cảm tinh tế… tỏa bùng ra những sắc màu, âm vang, và nhịp điệu… Ở đó ta đã tìm thấy cái rung động xao xuyến của âm điệu réo rắt trong thơ, tìm thấy những hình ảnh sinh động qua những ý từ tha thiết mà thi nhân muốn trút hết nỗi niềm tâm tư thầm kín của mình vào đó. Những bài thơ Ðường có một cấu trúc cô đọng, ngôn ngữ đặc trưng, đầy những ẩn dụ, nhân hóa… ngắn gọn, nhưng qua sự phóng tác tài tình, đã đem thêm nhiều hình tượng và hình ảnh để tạo nên những dòng nhạc trữ tình… mà vẫn không đi xa ý chính của bài thơ nguyên tác… để giải bày những tâm trạng tha thiết, những cảm xúc dạt dào, những quằn quại của nội tâm, tạo nên những tính nhạc âm vang . Nhà thơ Paul Verlaine (1844-1896) đã đề cao vai trò âm nhạc trong thơ " Nhạc phải là đầu tiên, cần phải có nhạc, có hoài và có mãi " Thơ đã được cải biến qua nhạc, đã được đem vào nhạc thì người đọc không cần phải sử dụng siêu giác quan để cảm thơ và hiểu thơ, mà họ chỉ cần nghe những lời ca, tiếng hát, tiếng đàn, âm điệu nhạc, nghĩa là dễ cảm thông với xuất xứ tác phẩm, cuộc đời tác giả, và đi xa hơn là cái hồn của bài thơ, đã đem những cái hình tượng sinh động đập vào mắt và rung động trái tim con người… Cũng vào thời Thịnh Ðường, từ khúc là một thể điệu mà nhiều nhà thơ rất ưa thích, vì dạt dào thanh điệu của nhạc và ý tứ của lời , với tiết điệu du dương, ngôn từ tươi sáng. Nhiều nhà thơ đã đựa theo giai điệu có sẵn mà đặt ra lời ca. Từ khúc chan chứa nhạc điệu sinh động và ý thơ trong sáng đẹp đẻ. Cảm xúc bất chợt bắt nguồn từ thiên nhiên ngoại cảnh, và từ đó làm rung động và chi phối lòng người, những cảm xúc đó qua dòng thơ trữ tình và điệu nhạc trầm bổng đã trở nên dạt dào, lai láng biến thành những con suối chuyên chở những đồng cảm, tâm tư đến các người đọc và người nghe, tạo ra những khung trời tri âm, tri kỷ... Thật ra âm nhạc và thơ phú đã đi đôi với nhau từ đầu đời Ðường qua các thể điệu gọi là nhạc phủ, thi nhân đã dựa vào nhạc phủ để làm thơ, hoặc những bài thơ nổi tiếng đã được phổ nhạc để trở thành ca khúc phổ thông lưu truyền trong nhân gian. Có những thể loại nhạc phủ chỉ có giá trị âm nhạc mà không có giá trị văn chương như Nghê Thường Vũ Y của Ðường Minh Hoàng hoặc ngược lại những bài như Trương Tiến Tửu, Thái Liên Khúc, Vọng Xuân Từ, Du Tử Ngâm v.v... là những bài nhạc phủ có giá trị văn chương hơn là âm nhạc. Theo Tạp Chí Giao Lưu Văn Hóa (số 6): Thơ Ðường đã được dịch sang Châu Âu khá sớm, bài Tống Xuân Từ là bài Ðường Thi đầu tiên đã được giáo sĩ người Pháp Saint Demain phiên dịch vào khoảng năm 1750. Sang thế kỷ 20, các nước Âu Mỹ giới thiệu thơ Ðường càng ngày càng nhiều, trong đó nhiều bài thơ Ðường được soạn thành ca khúc và phổ nhạc . Năm 1905 nhà văn Ðức Bêcher xuất bản tập thơ cổ Trung Quốc với tên "Tiếng Sáo Trung Quốc" (Trung Quốc Chi Ðịch), mà nhà soạn nhạc Thụy Ðiển Sweikensel và nhà soạn nhạc Australia Wylphe Sthehow đã lấy những bài thơ trong "Tiếng Sáo Trung Quốc" ra phổ nhạc. Các bài thơ của Lý Bạch như "Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí " (Ngày Xuân Uống Rượu say, ngủ dậy, nói chí mình) và bài " Tĩnh Dạ Tứ " (Xúc cảm đêm trăng) đã được nhiều nhạc sĩ Âu Châu soạn thành nhạc . Bài Tống Biệt, Tạp Thi của Vương Duy, bài Hướng Lưu thập cửu của Bạch Cư Dị đã được nhà soạn nhạc Tiệp Khắc phổ nhạc. Nhạc sĩ Pháp Lasailler cũng đã phổ bài thơ Tiết Phụ Ngâm, trong đó có 2 câu "Trả ngọc sáng, lệ như mưa . Tiếc không gặp gỡ khi chưa lấy chồng" thành một ca khúc nổi tiếng. Trải qua gần hai nghìn năm, qua bao nhiêu thế cuộc thăng trầm, biến thiên theo cát bụi mờ của thời gian, mỗi một bài thơ Ðường được gọi là xuất sắc, nổi tiếng là một đóa hoa phong nhụy kiều diễm tràn đầy hương sắc vẫn tỏa hương thơm ngào ngạt trong khung trời nghệ thuật, mà mỗi người yêu thích thơ Ðường khi đọc lại vẫn tưởng chừng như một cái gì thật mới mẻ, sống mãi trong lòng người… Do sự gắn bó hài hòa giữa Thi, Họa và Nhạc, mỗi bài thơ Ðuờng hay đều tạo nên những âm vang sâu lắng rung động lòng người… Những bài thơ Ðường được VNL lựa chọn, tuyển dịch trong CD "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc vàng " là những bài thơ nổi tiếng trên thi văn đàn Trung Quốc. Học giả Trần Trọng San, trong bài bạt "Tôi bước vào cảnh giới Ðường Thi từ bến Phong Kiều qua lầu Hoàng Hạc" đã tâm sự rằng "Phong Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong số những bài thơ Ðường mà gia-nghiêm dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc ấu thời ..." (TTS) Như đã biết, Phong Kiều Dạ Bạc là một trong những bài thơ Ðường nổi tiếng của Trung-Quốc và chính vì nhờ bài thơ nầy đã được dịch ra nhiều thứ tiếng mà chùa Hàn Sơn đã trở nên một danh lam thắng cảnh thu hút rất nhiều du-khách ngoại quốc đến viếng thăm hằng năm. Một câu hỏi được đặt ra là, tại sao một bài thơ "tả cảnh thiên nhiên" với những cảnh sắc bình thường như cây cầu , bến nước, hàng phong, trăng tà, sương đầy trời, tiếng quạ kêu, khách thuyền thơ v.v... mà lại nổi tiếng và được lưu-truyền vượt thời gian và không gian? Cái khung-cảnh "thiên nhiên" trong bài thơ này không lãnh đạm, vô tình , mà là một cảnh sắc trữ tình sống động, trầm lặng tịch liêu, bàng bạc cái tâm bao la của thiên nhiên vạn vật, làm người nhìn phải xao xuyến, đăm chiêu, rồi đắm chìm trong nỗi sầu nhớ triền miên, trong cái buồn bát ngát hư không, quay cuồng với muôn vàn nỗi nhớ thương: nhớ quê, nhớ nhà, nhớ gia-đình. Con người với một tâm thức lãng mạn, chỉ còn là một sinh-vật bé nhỏ , hữu hạn, cảm thấy cô đơn và lạc lõng, và bị bao trùm phong tỏa trong cái vũ trụ vô chung vô thủy, chìm ngập trong cái vô tận của màn đêm, cái bát ngát mênh mang của sương khói vô hình, không bến bờ. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng thi-sĩ Trương Kế, trong một đêm trăng mùa thu, neo thuyền tại bến nước Phong Kiều, lặng thầm nhìn trời đất chung quanh... Một đêm cô liêu quạnh quẽ chỉ người và cảnh vật gợi cảm, gợi tình ... nhìn lên màn trời đen là hình ảnh của một một mảnh trăng vàng vọt đang từ từ lặn vào cõi vô cùng, và mờ mờ gần xa là một màn sương khói dầy dặt quanh thuyền mà ông tưởng chừng hàng hàng lớp lớp sương mờ ảo hư vô đó đang tỏa dâng đầy ắp khung trời. Những làn sương khói hư ảo đó đã đem lại cảm giác liêu trai lành lạnh thấm dần vào cơ thể, cảm xúc và tâm hồn của nhà thơ. Khung cảnh đêm huyền ảo, mông lung, tịch mịch, và tiếng quạ kêu lanh lảnh như chọc thủng màn đêm cô quạnh... Ở gần đó là cây cầu cong bắc ngang sông, chia cách kẻ bên này, người bên kia, và những lá phong đỏ ối, phơ phất trong gió, và chiếc thuyền nan neo trên sóng nước bập bềnh đã gợi lại nỗi nhớ nhà da diết, đem lại niềm sầu cảm vô biên... Lá phong chuyển màu đỏ ối, như trong một câu thơ Kiều". Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san", và cũng như một chiếc lá ngô đồng rơi xuống, cơn gió heo may tha thướt... là những báo hiệu cho một mùa thu đã trở về trên bến sông đất khách quê người... "Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu " (Một chiếc lá ngô đồng rơi xuống, cả thiên hạ biết mùa thu đã trở về...). Hãy tưởng tượng khi nhà thơ một mình nằm trên thuyền trong một đêm thu, nhìn những hàng cây lá phong đỏ ối, lả tả rơi rụng trên giòng sông cuốn trôi, đóm lửa chài bập bùng, tiếng quạ kêu, và văng vẳng trong đêm thanh vắng là tiếng chuông chùa ngân vang, ai mà chẳng chùng lòng não nuột... Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ Cầu phong đốm lửa giấc sầu mơ Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng Ðêm điểm hồi chuông khách sững sờ... (Phong Kiều Dạ Bạc – Trương Kế) Hoàng Hạc Lâu cũng là một bài thơ tả cảnh, bàng bạc tình yêu quê hương da diết và man mác hương vị Thiền, ẩn hiện cái lý chân không, vô thường và vô ngã, mạch thơ tự nhiên uyển chuyển và biến hóa, không gò bó câu nệ trong khuôn khổ đối ngẫu niêm luật của thể thơ Ðường, lời thơ siêu thoát rung động tâm hồn người đọc. Mặc dầu biết rằng một bài thơ là do ngôn ngữ tạo thành, "dùng từ để biểu đạt cái nội dung là điều ắt có và phải cần… nhưng còn có điều quan trọng hơn nữa đó là phương thức và phong cách để hình tạo nội dung đó…" Cái phương thức mà thi-sĩ Thôi Hiệu dùng trong bài Hoàng Hạc Lâu là tất cả một kỹ thuật hàm xúc, tinh vi, độc đáo, một thế giới đặc thù riêng biệt và mới lạ của thứ ngôn ngữ hiền triết, đã kết nối được tất cả hình ảnh, ý niệm, tâm thức, cảm nhận, và giác quan một cách tài tình và hài hòa trong vũ trụ, con người, thời gian và không gian. Ngôn ngữ thi ca đã bay bổng tự nhiên một cách phóng khoáng, không dụng công đẽo gọt. Thôi Hiệu đã thành công chuyển đạt được nghệ thuật tinh vi, thâm thúy, đầy hình tượng sáng sủa và âm thanh đãi lọc, có sức thuyết phục lôi cuốn được sự chú ý và tạo được cảm xúc mạnh mẽ nơi người đọc. Hoàng Hạc Lâu đúng là một bông hoa diễm tuyệt, một viên ngọc vô giá trong rừng thơ Ðường, là bài thơ tuyệt tác bất hủ, sống mãi mãi muôn đời… Có thể nói những bài thơ Thiên Nhiên Sơn Thủy, miêu tả cảnh núi sông cây cỏ cũng đã là những đề tài phong phú vô tận cho các thi nhân cầm bút bằng những nét chấm phá cô đọng, những đã gợi rất nhiều liên tưởng sâu sắc, qua những vần thơ đó tác giả đã muốn gửi gấm tất cả những tâm tình u uẩn, cũng như cảm xúc dạt dào của mình vào trong đó. Ngôn ngữ thơ Ðường rất giàu hình ảnh và cảm xúc. Người ta thường nói "ý tại ngôn ngoại" (ý tại ngoài lời), những bài thơ Ðường ngắn gọn như bát cú, tứ tuyệt, chỉ giới hạn trong một số từ ngữ nhất định, mà đã diễn đạt tất cả những suy tư cảm xúc của tác giả , mặc dầu cô động hạn chế, nhưng rất hàm súc, toàn bài thơ như đôi mắt… cửa sổ của linh hồn đã giải bày được đời sống nội tâm, trạng thái tư duy, dung hòa giữa mẫn cảm của con tim và nhận thức của khối óc.

(còn tiếp nhiều kỳ)

Việt Hải

Mục Lục


VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________





1. Tuyển Tập Thơ Giao Muà 2003



Tuyển tập Thơ Giao Muà 2003 vừa được phát hành trong tháng 7 vưà qua. Tuyển tập gồm những baì thơ của 25 cây bút thường trực của Giao Muà: Bích Hà, CC, Ðặng Xuân Mai, Ðỗ Thành, Gia Phong, Hoa Cỏ, hoađộ, Hoàng Mai Phi, Linh Vũ, Lưu Nguyễn Từ Thức. Mạc Phương Ðình, Ngân Phi Thư, Ngô Thy Vân, Ngọc An, Nguyên Khoa, Nhật Khánh, Phạm Chung, Sông Kiên, Tân Văn, Trần Thị Hà Thân, Trần Viết Minh Thanh, Trung Kỳ, Vành Khuyên, Viễn Phương, Võ Thị Xuân Ðào.

Tuyển tập dày 206 trang, bià do họa sĩ Mai Phương, phụ bản do Trường Ðinh và hoađộ, trình bày bởi Nguyệt Trinh và lời ngỏ do Trung Kỳ.

Giá ủng hộ là $10.00 (kể cả cước phí trong Hoa Kỳ)

Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Muà

Mọi chi tiết xin liên lạc:

Trung Kỳ
TrungKy@aol.com
P.Ọ Box 378
Merrifield, VA 22116
USA

Mục Lục




2. Ca khúc Cánh Chiều

Thân mời bạn đọc Giao Muà đón nghe:
Ca khúc Cánh Chiều
thơ: Phạm Ngọc
nhạc Nguyễn đăng Tuấn

tiếng hát Quỳnh Lan
hoà âm Quang Ðạt
ban nhạc Quang Ðạt và tiếng kèn Vĩnh Tâm
download tại
http://saigonline.com/phamngoc/Music/CanhChieuNDT.mp3
hay tại
http://www.vannghe.net

Mục Lục




3. Giải Thưởng Văn Học

HỘI QUỐC TẾ Y SĨ VIỆT NAM TỰ DO
6338 Victoria Avenue Suite 6, Montréal, Québec, CANADA H3W2S5

Thông Cáo
Mời Tham Dự Giải Thưởng Văn Học

Nhằm góp phần phát triển sinh hoạt văn hóa trong Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do dự định vào năm 2004 sẽ trao tặng hai (2) giải thưởng vinh danh hai tác giả có công trình sáng tác hoặc biên khảo giá trị.

Mỗi giải thưởng trị giá US$4,000 (bốn ngàn Mỹ-kim): một cho tác phẩm trúng Giải Sáng Tác, một cho tác phẩm trúng Giải Biên Khảo. Ngày công bố và trao giải là ngày Ðại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do Kỳ V, 28 tháng 12 năm 2004, tại thành phố Sydney, tiểu bang NSW, Úc Ðại Lợi. (Tác giả trúng giải vẫn giữ bản quyền tác phẩm của mình.)

Hội Ðồng Tuyển Lựa gồm những vị dưới đây, hiện cư ngụ tại các quốc gia tự do:
- Nhà văn Võ Phiến (Hoa-kỳ)
- Nhà văn Phan Lạc Phúc (Úc-châu)
- Nhà khảo sử Trần Gia Phụng (Gia-nã-đại)
- Nhà văn Nguyễn Hưng Quốc (Úc-châu)
- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (Hoa-kỳ)
- Bác sĩ Trần Văn Tích (Ðức quốc)

Các tác phẩm gửi dự tranh cần hội đủ những điều kiện sau:

1. Tác Giả: không can dự vào các chế độ từng hạn chế quyền sống hay đàn áp Con Người. Tác giả tự ghi danh tham dự. Ngoài ra, những người thuộc y-giới hay ngoài y-giới cũng có thể đề nghị tác giả và tác phẩm dự tranh.

2. Tác Phẩm: chủ yếu Việt ngữ, thực hiện từ năm 1975 đến nay, đã hoặc sắp xuất bản.

3. Thời Hạn: tác phẩm gửi dự tranh trong thời hạn kể từ ngày thông cáo này được phổ biến tới hết ngày 31 tháng 5 năm 2004.

Chúng tôi trân trọng kính mời quý vị ghi danh tham dự, hoặc giới thiệu tác phẩm dự tranh với Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, gửi sáu (6) bản tác phẩm đến một trong các địa chỉ liên lạc sau đây:

Quí vị ở Á và Úc-châu:
Vietnamese Medical Association of the Free World
17 Cumberland Rd, Greystanes NSW 2145, AUSTRALIA

Quí vị ở Âu và Phi-châu:
Association Internationale des Médecins du Viêt Nam libre
81, avenue de l'Epargne, 91390 Morsang-sur-Orge, FRANCE

Quí vị ở Canada:
Association Internationale des Médecins du Viêt Nam libre
C. P. 101 Succ. "Jean-Talon", St Leonard, H1S-2Z1, CANADA

Quí vị ở Hoa-kỳ:
Vietnamese Medical Association of the Free World
P.O. BOX 29528, Atlanta, GA 30359, USA

Ngày 15 tháng 08, 2003

Bác sĩ Trần Ðình Thủy
Chủ-tịch Ban Chấp Hành

Mục Lục




4. Website Nhân Ðạo

Thân mời bạn đọc Giao Muà ghé thăm:

Website Nhân Ðạo
www.association-compassion.org
có tiếng Việt, Mỹ và Pháp
B.S. Phan Minh-Hiền

Mục Lục




5. Thơ Võ Ðình Tuyết

Giao Muà vừa nhận được thi tập " Ðến Từ Phương Ðông" do nhà thơ Võ Ðình Tuyết gửi tặng. Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Muà

Mọi chi tiết xin liên lạc:

Võ Ðình Tuyết
dvv0104@aol.com


Mục Lục





VIỊ Nhạc : 1. Ðể Tình Theo Gió Cuốn

Mục Lục


VIII . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, Châu Thái Lê, CC, Ðặng Xuân Mai, DHH, Gia Phong, Hoàng Mai Phi, Hoa Cỏ, Khánh Học, l.t. Quỳnh Hương, Linh Vũ, Ngọc An, Nguyên Khoa, Nguyễn Ðăng Tuấn, Nguyên Cương Andy, BS Nguyễn Văn Ðức, BS Nguyễn Ý Ðức, nttn, Nhược Thu , Quang Ngọc, NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Sương Mai, Thu Minh, Thanh Thanh, Thu Hằng, Trần Công Nhung, Trần Hoan Trinh, Trần Thị Hà Thân, Trường Ðinh, Tử Nhi, Uyên Thi, Viễn Phương, Việt Hải, Võ Ðình Tuyết, Việt Dương Nhân, và Vũ Thị Xuân Ðào, đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 17 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua2002@aol.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua2002@aol.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

Trang Nhà