Số 18

Ngày 1 tháng 10 năm 2003

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

GiaoMua2002@aol.com


Thư Ngỏ



Tháng Mười, không cười cũng tới ….
hay
Tháng Mười, không chờ cũng tới

Không hiểu sao tôi lại nhớ một câu vớ vẩn như thế, một câu có lẽ từ một bài đồng dao cho con nít (tựa như bài rồng rắn lên mây, một trò chơi ngày bé). Bây giờ thoạt nhớ lại, tự nhiên tôi chợt hiểu ý nghĩa đơn giản của nó. Những mùa hè chờ đợi rồi cũng qua, thu đến, mùa tựu trường lại trở về, và rồi tháng mười không đợi cũng đến. Những gì ta khắc khoải chờ mong, những ngày vui rồi cũng tàn, những gì ta chẳng đợi, chúng cũng đến, đến bất ngờ hay lững thững đi vào đời của chúng ta …

Ðời Paris hay đời Cali
Ðời thì vẫn thế
Có những hân hoan có những u buồn có đời hợp tan …

...
Với những đêm vui tàn dần trước mặt
Và những ngày buồn níu mãi sau lưng
(Chợt nghĩ về hai nơi - Trầm Tử Thiêng)


Bản tình ca nói đến hai người thương nhau, ở hai nơi chốn mà sau năm 75 trở thành thân quen với người Việt, vì đó là hai nơi có nhiều người Việt định cư nhất. Paris và Calị Châu Âu và Châu Mỹ, con người tìm đến nhau cho những cuộc vui, rồi phải xa nhau, để rồi buồn mãi khôn nguôi . Nhưng dù không có người thương ở ngàn dặm, người Việt hải ngoại nào cũng có ít nhất hai nơi, sống ở một chốn ổn định để mà trông ngóng vào một chốn ở bên kia bờ đại dương .

Trông ngóng, chờ đợi làm cho con người khắc khoải ... Cứ như tháng Mười không đợi cũng tới, một tháng chẳng có người chờ đợi, mong mỏi, hay ta chẳng mong mỏi chờ đợi cái chi cả, rồi thì theo thời gian tính cũng đến, cũng đi quạ

"Chốn ta đang ở chính là nơi hiện hữu của chúng ta (Wherever you go, there you are). Ta cứ như tháng Mười, một trong những tháng trong năm, không có chi đặc biệt cả, thế mà lại thong dong, thanh nhàn trong sự bình tĩnh, lắng đọng của tâm trí .

Trần Viết Minh-Thanh
BBT Nguyệt San Giao Mùa


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Phượng Ðỏ Sân Trường... ______Nhược Thu
2. Khúc Ðộc Hành ______HTyCG
3. Mẹ Việt Nam ______Việt Dương Nhân
4. Ta Tìm Em ______Phạm Vũ Anh Nam
5. Duyên Kỳ Ngộ ______Ngô Thy Vân
6. Câu Ca Dao Cũ ______Sương Mai
7. Ngày Ba Về ______Châu Thái Lê
8. Thoảng Nhớ ______nttn
9. Trăng Thu ______Hoàng Mai Phi
10. Biết Ðâu ______Nguyên Khoa
11. Những Muà Ðông Xưa ______CC
12. Cây Muà Thu Với Người ______Huỳnh Mai Hoa
13. Autumn Trees and Humans ______Thanh Thanh
14. Giật Mình ______Hoa Cỏ
15. Nốt K Trầm ______Phạm Chung
16. Bài Ca Hơn Thiệt ______Song Tưởng Nhất Nguyên
17. Nắng Hạ Quê Người ______Mạc Phương Ðình
18. Nhớ Trăng Xưa ______Ngọc An
19. Trên Chuyến Tàu Sài Gòn Hà Nội ______Trần Hoan Trinh
20. Kẹt Mưa Hẹn Hò ______Việt Hải
21. Mộng Du ______Sóc Sơn
22. Gối Mộng Ðêm Xuân ______Ðặng Xuân Mai
23. Nhớ Thương Mẹ ______Viễn Phương
24. Cảm Tạ Tình Anh ______Ý Nga / Thy Lan Thảo
25. Tình Thu Trên Lối ______Thu Hằng

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Nỗi Chết Chưa Rời _______ Phan Thái Yên
2. Hoá Bướm ___________ Ða Sự Lang Y
3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 16) ___________ Trần Công Nhung
4.Về...(tiếp) ___________ Thanh Sơn
5.Nhất Nghệ Tinh ___________ Vũ Thị Thiên Thư
6.Trăng Nước Tầm Dương ___________ Hạt Cát
7.Người Tình Muôn Thuở ___________ Nguyên Cương Andy

III . Ngàn Lời Ca (kỳ 7)________________________________________________________________

1. Tiếp Tục Lữ Hành _______________________________ NS Phạm Duy

IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

V. Nghiên Cứu________________________________________________________________

1. Viết Và Ðọc chữ Việt _______ BS Nguyễn Văn Ðức
2. Sống Lâu Trăm Tuổi _______ BS Nguyễn Ý Ðức
3. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng (tiếp) _______ Việt Hải

VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Thư Kết Ðoàn _______ Giao Muà
2. Trong Bàn Viết - Ngoài Cuộc Ðời _______ Giao Muà
3. Tuyển Tập Thơ Văn Hoa Vàng _______ Giao Muà
4. Thắm Ðượm Tình Và Nghĩa ... _______ Mai Ðức Vinh

VII . Nhạc __________________________________

1. Nhạc : Quê Hương Là Người Ðó _______ Bích Hà/Du Tử Lê

VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Phượng Ðỏ Sân Trường
 Em Ðỏ Môi



 Mến tặng T.Tiên ,
 cựu Hoakhôi/... đã làm sống lại
 một thời đi học ..
 ---------

 Những cái đuôi ôi những cái đuôi
 Theo em lẽo đẽo ngược rồi xuôi
 Ðạp xe theo dưới hàng hoa phượng
 Phượng đỏ sân trường em đỏ môi

 Những cái đuôi ôi những cái đuôi
 Con đường sao ngắn quá đi thôi
 Trời chang chang nắng mà nghe .. mát
 Vì miệng em cười tươi rất tươi ..

 Những cái đuôi ôi những cái đuôi
 Con đường Lục Tỉnh Phú Lâm ơi
 Lòng tôi là cả trời thương nhớ
 Xa cách rồi em có ngậm ngùi ..?

 Những cái đuôi ôi những cái đuôi
 Sau giờ tan học túa muôn nơi
 Cái đuôi xe đạp như đàn bướm
 Vờn áo dài bay trắng rợp trời ...

 Những cái ..nôi ôi những cái nôi
 Bao giờ trở lại được làm đuôi
 Súng gươm tôi sẽ rèn xe đạp
 Ðể đạp theo em ngắm nụ cười ...

 Jul/23/03

 Nhược Thu 
Mục Lục


2. Khúc Ðộc Hành Chợt nhớ 1 miền chân bước qua An Lộc rừng thiêng bên suối mát Gò Dầu Hoa gạo đỏ Tha La Bom đạn vô tình chẳng xót xa Nhớ miền đất lạ, trong ký ức Chàng trai bỏ xác trên đất Miên (Kampuchia) Vợ anh chưa cưới ... mồ ai khóc Hay giọt lệ khô cuả mẹ hiền Nhớ trưa nắng gắt trời " nung khói" Ðêm về gió rét nhóm củi hong Lum khum bên lửa mặt ửng hồng Giọt mưa lất phất nhẹ qua song Những người trai ấy đã bao năm " Nước bào trơ đá " vẫn hiên ngang Tóc ngã mầu sương bụi mờ mắt Trơ vơ tuyết phủ những mồ hoang Những người trai ấy còn đi mãi Quên trong ký ức cuả bao người Bao chàng trai " kỷ nhân hồi " Làm thân đầu gió cho người an vui .. HTyCG
Mục Lục


3. Mẹ Việt Nam Mẹ tôi là Mẹ Việt Nam Ngàn năm ghi nhớ muôn đời kính yêu Ngày nay tóc Mẹ bạc nhiều Vì thương con cháu trăm chiều khổ đau Ðứa thì biền biệt tâm hao Ðứa thì nhứt quyết đi vào chiến khu Mẹ đà chờ đợi mấy thu Ngày qua tháng lại năm thu đã tàn Mẹ tôi đau xót vô vàn Núi xương sông máu ngập tràn quê hương Dân lành đày đọa thảm thương Biết bao thù hận vấn vương ngập lòng Mẹ tôi là Mẹ Việt Nam Thương con thương cháu thương nòi Rồng-Tiên Nước non của Mẹ thiên nhiên Mấy đời giòng giống trung kiên giữ bờ Bổng đâu sóng gió bất ngờ Làm cho quê Mẹ ngọn cờ rã tan Mẹ đành nhận chịu gian nan Chờ ngày quật khởi bình an quê nhà Mẹ ơi ! Hởi Mẹ Việt Nam Ðàn con của Mẹ sẽ về ngày mai Ðem nhiều hứa hẹn tương lai Dựng non dựng nước chẳng ai sờn lòng Không còn cho Mẹ đợi trông Sẽ về với Mẹ bên dòng sông xưạ.. (Paris 15, ngày 10-12-1979. Viết trong những ngày tranh đãu cho quê hương Việt Nam nơi hải ngoạị Ðăng Việt Nam Tự Do Hải Ngoại 1979 và rất nhiều báo) Việt Dương Nhân

Mục Lục


4. TA TÌM EM ta tìm em một ánh mắt ấm nồng hạt sương trên mí mắt hình như em cảm động ta tìm nụ hôn em trong gió lộng và tất cả những gì ta chưa từng đón nhận trong đời . ta tìm em từng đốt ngón tay cong thon mềm trên lưng dài đếm từng nụ tham,muốn điều muốn nói-nhưng chưa nói lên lời điều ta trân quý nâng niu . ta tìm em bốn mùa đời mình tưởng héo úa sau lưng em của nỗi choáng ngập dại cuồng đôi tay si mê thèm muốn trên da rợn rùng . ta tìm em mùa xuân hoa vàng trốn vào khe đá mùa hạ đi qua lười đổ cơn mưa mùa thu đến lá xanh về nguồn cội loài gấu đi hoang khi đông lạnh vừa sang ta tìm em buổi tối rã rời mỏi gối chùn chân ta tìm em bình minh rực sáng khi tiếng em thì thầm qua giòng điện thoại dụ dỗ vô cùng mỗi ngày một gần hơn để ngày nào ta gặp mặt chúng ta cùng chết trong nhau nỗi điên mê dại cuồng . vì ta đã tìm thấy em . 09-2003

PHẠM VŨ ANH NAM

Mục Lục


5. Duyên Kỳ Ngộ ( Kính tặng cựu giáo sư: Nguyễn Văn Nguyện, tức nhà thơ, nhà văn lão thành Ðào Nguyên) bởi đâu vân được phúc nầy công cha nghĩa mẹ, ơn thầy ban cho chúa trời mưa móc ấm no thơ văn chữ nghĩa mt kho đủ dùng thy vân rất đổi vui mừng cảm ơn trời đất cho từng dòng thơ đào nguyên róch rách suối mơ hai chàng ưu nguyễn chơi cờ dưới trăng có nàng tiên nữ thy vân hầu lưu cốc rượu, tay dâng nguyễn đào duyên kỳ ngộ đã đổi trao lưu về xứ việt, nguyễn vào cung tiên

Ngô Thy Vân

Mục Lục


6. CÂU CA DAO CŨ Tình ơi đã bỏ đi đâu Người tôi yêu lại cơ cầu thế sao Xa nhau còn ngại tiếng chào Phụ nhau còn có lời nào đẩy đưa Dối thêm câu nữa cũng thừa Quên nhau nghe nặng giọt mưa cuối ngày Qua cầu, tình đã gió bay Câu ca dao cũ còn hoài vấn vương Thực hư đâu biết mà lường Cầu tre lắt lẻo ai mường tượng đâu Quay lưng từng bước nghẹn ngào Trường đời tôi học câu chào làm ngơ Sông dài cá lội bơ vơ Trường tình tôi học chữ ngờ từ đây 02182003 Sương Mai
Mục Lục


7. Ngày Ba Về Ngày ba về nắng trời quê trôi nổi nhìn Sài Gòn giờ đổi chủ thay tên con đường xưa hàng cây đứng buồn tênh ba bỡ ngỡ tưởng lạc trên đất lạ ngày ba về thân che manh áo vá túi hành trang , quà lần má thăm nuôi ngày ba về nghe mặn đắng bờ môi vàng son cũ nổi trôi trong ký ức ngày ba về xóm nhà mình nô nức tình láng giềng dâng rạo rực cảm thương bao nhiêu năm đày ải giữa quê hương nỗi cay đắng qua dường cơn ác mộng ngày ba về tóc mẹ hiền gió lộng bay phất phơ từng cọng một bạc màu ba cắn răng cố che dấu niềm đau thương thân mẹ cánh cò vào sương gió ngày ba về vuốt tóc đàn con nhỏ mười ba năm phụ tử bỏ trên rừng lệ anh hùng vành mắt chợt rưng rưng cơn uất nghẹn trào dâng từng nhịp thở ngày ba về nhìn mái nhà loang lổ cảnh dột xiêu mình mẹ cố đảm đang bàn tay ba xưa bảo vệ giang san thân bại tướng ba ngỡ ngàng tủi hận mười ba năm ba trải bao lận đận mười ba năm oán hận thấu đất trời con ôm ba mà thốt chẳng nên lời thương ba bỏ một đời vì đất nước không đâu ba, bởi trong con hiểu được ba không thua chạy trước họng súng thù phút cuối cùng ba quyết giữ chiến khu để ở lại chịu đòn thù hằn học nay ba về sương rừng pha màu tóc trán hằn in bao khó nhọc đoạ đày con lần tìm những vết sẹo đã chai mà có chỗ miểng đạn hoài còn đó đau nhức không ba khi trời trở gió ? quà con đây ! ba lần tay trong giỏ chú ngựa đen bằng mẩu vỏ cây rừng con nhận quà nước mắt bỗng rưng rưng anh hai được con trâu mừng rơi lệ trâu đất, ngựa cây ! Ba ơi sầu nhân thế !! nay ba về muộn màng câu hiếu để nội tuổi già bóng xế đã qua đời phút lâm chung nội gọi mãi "con ơi !" mắt không nhắm trút tàn hơi thê thiết khói lửa quê hương sinh ly tử biệt mấy mươi năm còn da diết lòng ba giờ về đây nhìn cuộc thế xót xa đêm hàng xóm ai ngâm nga thơ Thế Lữ ! Hổ Nhớ Rừng ! Ba ơi buồn nào hơn chứ ! 16.7.2003 Châu Thái Lê

Mục Lục


8. Thoảng Nhớ trời buồn trời đổ cơn mưa tôi buồn tôi biết đổ thừa ai đây ? oOo tại sao tôi lại như vầy ? tại sao tôi mải ngóng ngày ngóng đêm ? oOo đêm qua ngồi ngắm trăng lên buồn đâu trở lại ... tưởng quên lâu rồi oOo lẽ nào chỉ nhìn trăng thôi đủ cho cái nhớ lại lôi nhau về oOo ô kìa lạ chửa?? cơn mê ... mắt chưa kịp nhắm đã về với tôi ... oOo ngẩn ngơ ngơ ngẩn từng hồi để rồi lại đứng lại ngồi chẳng yên ... oOo cái nhớ nào có đợi phiên mặc ai ai nhớ ai phiền mặc ai ... oOo đêm này dưới ánh trắng say oOo thoảng thương thoảng nhớ mai này lại quên ...! 06 September 2003 http://www.umich.edu/~nga/nttn.html nttn
Mục Lục


9. Trăng Thu Lẳng lặng trăng lên đầu ngỏ Cây phong đứng lặng từ thưở ban mai Hoa đâu hương ngát đêm dài Thu sang chớm đượm nét ngày phong sương Xa rồi phương ấy dậm trường Tóc ai lơi lả bên đường me bay Gió thu khoan đến nơi này Ðể hương xưa đọng đừng bay xa vời Ngọc lan chưa nói tạ từ Thu ơi có đếm nguyệt trời mênh mông Nguyệt tan đếm chuyện của lòng Ðể ta thui thủi bên giòng luân lưu Ðêm nay nguyệt đến xin ở mãi Ðể bên đời ai ngắm trăng lên Sáng trăng soi bóng trên nền Nghe như ai đó bước về bên ta Ðẫu trăng phơi bóng nụ hoa Vẫn nghe như đã hay là bóng ai (Rằm tháng 8 /2003) Hoàng Mai Phi Mục Lục


10. Biết Ðâu - mùa Thu em về đây chưa ? trời giăng heo may nhiều quá! hàng cây nghiêng bờ vai thưa nụ hôn uớt đầm cánh lá từ môi em về nơi xa có khi hoa cuời rất lạnh từ thôi em ở cùng ta dĩ vãng mưa dầm ảo ảnh bàn tay em hồng ái ân tóc xanh mấy mùa nguyên thủy mùa Thu em về bâng khuâng biết đâu áo vàng tinh túy dòng sông trôi, đời mãi trôi thời gian bao giờ trở nguợc ? tình yêu em về với tôi có khi chỉ là mơ uớc mùa Thu em về bên tôi biết đâu chỉ là lá rơi ... Sep.10.03 Nguyên Khoa

Mục Lục


11. Những Muà Ðông Xưa Muà đông năm ấy muà rất đẹp Mặt hồ trắng luạ trãi đêm trăng Áp má nghe thơm bờ vai ngủ Phẵng lặng bên đời êm tiếng ru …. Muà đông xưa đó muà rất đẹp … ! Muà đông xưa đó muà rất em Cái lạnh bên ngoài không che nổi con tim bồng bốc lưả Ðôi môi hồng nóng wá Muà dại có tàn tro Muà đông và gió Melbourne Tay ôm lòng ngực tưởng mình vỡ tim Muà đông có áng mây chìm Long lanh đáy nước mượt niềm riêng soi Muà đông xưa đó muà rất lạ Hạt mưa đá no tròn trên vai thon oằn oại Bầm tím lên da suốt mấy ngày Anh đau khổ vì em ngồi khóc mãi Muà đông năm ấy … muà nước mắt thật say 20/08/03
CC





Mục Lục


12. CÂY MUÀ THU VỚI NGƯỜI Cây đã sống qua mùa đông rét mướt Hứng tuyết sương nuôi cành mới đâm chồi Trong âm thầm nắn nót nụ hoa tươi chờ dâng hiến cho đời bao sắc thắm Cây đã sống qua muà xuân êm ấm Ðón nắng hồng tô màu lá thêm xanh Ðón gió đưa nhè nhẹ lá ru cành Cành với lá nâng niu chùm hoa nở Cây đã sống qua muà hè nắng đổ Chở hạ vàng trên thân nám da khô Vẫn hoài mong cho trái chín ai chờ Trái ngọt mát dù thân cây cằn cỗi Cây đã sống qua mấy muà thay đổi Xuân có vui và Ðông có lạnh lùng Giữa hạ nồng cây có khát hay không? Khi đã vắt cho đời bao giọt nước Cây có mỏi, nên khi hè vừa bước Thu vội về để nhận lá vàng rơi Thu ru cây ngủ giấc chết bên đời Tìm nhựa sống mong ngày hồi sinh mới Người nhìn cây có bao giờ tự hỏi Cây với người ai gian khổ hơn aỉ Lá trên cây còn có những lần thay Người trọn kiếp được mấy lần ngơi nghỉ Nếu người được muà thu ru giấc ngủ Rũ nhọc nhằn năm tháng bám trên vai Người sẽ đi không ngại quãng đường dài Ðể làm lại những gì còn đổ vỡ.
HUỲNH MAI HOA


Mục Lục


13. AUTUMN TREES AND HUMANS Trees have passed through the cold winter, To nourish buđing branches, receiving mist and snow. In silence they create fresh flowers To offer life so many beautiful colors to glow. Trees have experienced the warm spring, Welcoming rosy sunlight greener leaves to render, Hosting the wind to softly lull the boughs As twigs and blades cossett the blooms' splendor. Trees have subsisted through the sand season, Bearing summer on trunks tanned and barks dry, Still waiting for ripe fruits so long longed for, The fresh sweet produce, being stunted to defỵ Trees have survived so many changing periods, Feeling merry in spring and numbed in cold. Do trees suffer thirst in sultry summer After dripping for life so many drops of water gold? Do trees sense fatigue so when summer just left Autumn hurries back to accept falling yellow leaves? Autumn lulls trees to a deadly sleep on the sidelines, Awaited resuscitation, to seek for sap that achieves. Have humans, looking at trees, ever wondered: Trees or humans are to endure more displeasurẻ Leaves on trees can be changed many times; How many times may humans all life rest at leisurẻ If humans were lulled by autumn to sleep To cast off their shoulders what has been downbeat, They would advance up in spite of long distances To perfect everything that is still incompletẹ members.aol.com/ThiNhanVietNam
THANH-THANH



Mục Lục


14. Giật Mình (tặng: CP, AK) Ở chỗ nhân gian chưa tìm đến tôi tự hoá cùng em Khép trái tim đa tình Em ưỡn ngực van xin Tôi níu bờ khát vọng Nguyền rủa cõi tâm linh Trên bờ môi nóng rát nụ cươi em, vang thành khúc nhạc trầm Tôi say ly rượu đỏ Em lạc bước hôn mê Ðêm bỏ quên từ khước Lỡ đánh mất lối về Ở chỗ hương yêu đang bừng cháy tiếng thở bỗng nhiên rơi, giật mình . Aug.12.03
Hoa Cỏ

Mục Lục


15. Nốt K trầm ở chỗ nhân gian không thể hiểu tôi xin người sớm phục sinh tôi (*) tôi xin người sớm phục sinh tôi mở tung cánh cửa đêm, đêm dài nguyệt thực. trăng-hạ-huyền thắp nến trong mắt em (ngôi sao băng chao nghiêng ) mặt trời hồng thắp nến đôi môi trần nụ cười em, vang thành khúc nhạc trầm (+) . giữa đêm em hát gọi mùa xuân. em hát gọi hạ hồng . em nổi lửa-thu đốt tôi- mùa-đông . giữa tro tàn với nốt K trầm em đã phục sinh tôị ở một chỗ nhân gian không thể hiểu nốt K trầm, Em, ngã xuống đời tôi . nốt K trầm, Em, ru mãi đời tôi . (K. khúc) (*) thơ du tử lê (+) thơ Hoa Cỏ Phạm Chung

Mục Lục


16. Bài Ca Hơn Thiệt Mon men biên giới sắc không Biển đời thanh, tục, khi trong ,khi mờ Trong tôi có khoảng dại khờ Không màng hơn thiệt hững hờ đúng sai Ðời này ai đã hơn ai Ðời này tôi chỉ hơn tôi Ai giàu hơn tôi nghèo hơn Ai giỏi hơn tôi dốt hơn Ai cao hơn tôi lùn hơn Ai ác hơn tôi hiền hơn Ai đúng hơn tôi sai hơn... Thế thì tôi cũng hơn thôi Hì hì tôi khoái hơn tôi. Song Tưởng Nhất Nguyên

Mục Lục


17. Nắng Hạ Quê Người Vẫn buổi sáng nắng về khoe rực rỡ nắng lung linh trên những khóm cây xa những hạt nắng chạy dài theo cơn gió sao chẳng thơm như hương nắng quê nhà Ðâu phải lòng mình cứ hoài phân biệt đâu phải hồn mình hoài niệm quê hương nhưng ở đó có chút gì thao thiết với làng xưa vàng nắng những con đường Những con đường làng lanh quanh đất đỏ dấu chân trâu lồi lõm bước đi về sương buổi sớm pha chút nồng hoa cỏ nắng lên đầy lan toả những hương quê Những búp sen hạ vàng phơi mặt nước nắng đi qua mang theo gió dịu dàng hương sen ngọt như tách trà Tiên Phước vẫn tháng ngày đeo đẳng kẻ lang thang

Mạc Phương Ðình.
Mục Lục


18. Nhớ Trăng Xưa Ðêm nay ta đứng ngoài hiên lạnh Chợt thấy vầng trăng…trăng mới lên Trăng rọi phương người sao lạnh lẽo Mang mang một nỗi nhớ…không tên ! Trăng trải mười phương, ta đứng đây Quê hương nỗi nhớ vẫn vơi đầy Bao giờ tìm lại trăng phương cũ ? Rũ hết phong trần…với đắng cay… Thuở ấy người đem thơ tặng ta Trong thơ ướt đẫm ánh trăng ngà Thơ người trong sáng như vầng nguyệt Nhưng có ngờ đâu…lại cách xa Mảnh tình xin gửi lại trăng xưa Chẳng trách tình, sao quá hững hờ Dẫm gót sương khuya mòn lối nhỏ Tháng ngày còn lại…mấy vần thơ…

Ngọc An


Mục Lục


19. TRÊN CHUYẾN TÀU SÀI GÒN - HÀ NỘI Ta lên chuyến tàu Sài Gòn Hà Nội Túi đàn trên tay ba lô khoác vai Thôi xin chào phố phường đô hội Ðêm Sài Gòn như có mưa bay Bên cửa tàu nhìn non nuớc Ðồng Nai Qua Xuân Lộc những vườn sum sê trái Rừng cao su rộng bạt ngàn trống trãi Cây song song đứng thẳng tắp hai hàng Phan Thiết, Phan Rang thoáng bóng tháp Chàm Ga Mường Mán khuya tiếng gà xao xác Bến Ninh Chữ một vầng trăng bát ngát Thoảng bên rừng một điệp khúc Champa Vịnh Cam Ranh từ góc biển xa xa Tàu đi vào miền Nha Trang cát trắng Ta mê mãi ngắm bao la Ðại Lãnh Nước mênh mông con sóng vỗ xô bờ Ðường đi lên Ðèo Cả uốn quanh co Dưới xa tít bóng sông Cầu lấp lánh Mẹ bồng Con trên đỉnh non thầm lặng Ðã nghìn năm chờ đợi bóng ai về Ðèo Cù Mông rồi đến đèo An Khê Giữa Bình Ðịnh nhớ Quang Trung Nguyễn Huệ Núi Tây Sơn vẫn ngút trời hào khí Ai phất cờ quyết dựng một giang sơn Ga Tam Quan tiếp sau ga Bồng Sơn Những ruộng muối Sa Huỳnh nằm phơi nắng Sông Trà Khúc một dòng phẳng lặng Những hàng dừa đổ bóng lá lay lay Qua Núi Thành đường bụi cuốn cát bay Xa xanh biếc rừng Trà Mi Khâm Ðức Ðường lên Mỹ Sơn gập ghềnh khe vực Sông Thu Bồn con nước chẳng buồn trôi Ðỉnh Hải Vân hùng vĩ chắn mây trời Núi tiếp tiếp , biển ôm ghềnh vỗ sóng Mấy chiếc tàu neo đợi hàng bến Cảng Cuối chân trời 6 ngọn Ngũ Hành Sơn Huế thanh bình bên cạnh một dòng sông Những lăng tẩm những đền xưa tháp cổ Nắng chênh chếch mấy nhịp cầu Bạch Hổ Chiều Kim Long tre lả ngọn mơ màng Bên cổ thành Quảng trị nắng chang chang Qua Cửa Việt qua Ðông Hà Cam lộ Mưa quái Gio Linh gió lào Lao Bảo Ôâi dòng sông Bến Hải thuở chia phôi Ðộng Phong Nha một thắng cảnh tuyệt vời Núi hôn biển sông chảy ngầm qua đá Những thạch nhủ giống " cái răng của gió" Tạo âm thanh như một bản nhạc tình Ðất Hà Tỉnh nhân kiệt địa linh Có Ðèo Ngang chiều tà mây rủ bóng Núi Hồng Lĩnh điệp trùng 99 ngọn Có Tiên Ðiền quê thi bá Nguyễn Du Vào Nghệ An có sông Cả sông Chu Có sông Hiếu và sông Con tráng lệ Biển Cửa Lò một cảnh tiên trần thế Nước như sương và phẳng lặng như gương Tỉnh Thanh Hoá có linh khí Lam Sơn Cầu Hàm Rồng nối hai bờ sông Mã Biển Sầm Sơn có Hòn Trống Mái Nơi Nguyễn Hoàng mở cõi tiến về Nam Rồi Ninh Bình, Nam Ðịnh, Phủ Lý, Nho Quan Tàu chạy vào ga cuối cùng Hà Nội Ta bỗng thấy lòng nôn nao nguồn cội Ðứng soi mình bên bến nuớc Hồ Gươm Ði lang thang khắp 36 phố phường Hàng Bông, hàng Ðào, hàng Ngang, hàng Cót Quán Sứ, Ðồng Nhân, Ngọc Sơn, Trấn Quốc Nhìn phù sa cuộn cuộn sóng sông Hồng Vào Văn Miếu thắp một nén hương lòng Gặp tiền nhân trên từng dòng bia cổ Ôâi một đời xa quê cha đất Tổ Hôm nay về ngây ngất giữa Thăng Long ! Ngóng phương Bắc sông Thương chảy hai dòng Trường giang lạnh sương mù trôi lãng đãng Bỗng mong ước có ai về xứ Lạng Cho ta về thăm lại phố Ðồng Ðăng Nằm ngủ say bên bến nước Kỳ Cùng…..

Trần Hoan Trinh

Mục Lục


20. Kẹt Mưa.. Hẹn Hò Trời buồn giăng lối đổ mưa, Mưa rào khắp nẻo trời đưa hẹn hò, Ðôi ta gặp gỡ trời cho, Hiên xưa quán vắng trời lo chúng mình, Cà phê hâm nóng chuyện tình, Hong bờ môi ướt bóng hình hôm nao, Mưa rơi mưa mãi mưa rào, Rào mưa, rào gió tình trào bên trong, Miên man thủ thỉ đôi lòng, Trời mưa hò hẹn như không duyên mình, Bên ngoài mưa tạnh bình minh, Bình mình chia cắt chuyện tình xa xôi.

Việt Hải

Mục Lục


21. Mộng Du Tự nhiên em đư’ng thật gần Buông câu ân a’i làm sân si đời Hồn nhiên xe’ luạ ra chơi Thịt da fơi fơ’i gọi mời sân si Rừng sâu suô’i ngọt thầm thì Ma’t dòng đong giọt tròn ghi lô’i mời Hương trời rộ thă‘m muôn nơi Hoàng hôn u’p mạt quằn rơi tra’i tình Ðiềm nhiên đêm xuô’ng lung linh Một ven bờ ẩm thầm in cỏ mềm Khe say mời uô’ng dịu êm Nai tơ dừng bươ’c mường đêm la’ bơì Ðêm về tă‘m suô’i sương rơi Vang trong vă‘t luạ đua mời thịt da Trăng ngà ửng nui’ xa xa Gò cao lũng thâ’p lập là a’ng xuân Hồn nhiên đê’n tận dửng dưng Mặc cho con gio’ thơm lừng to’c bay Môi ngoan tàn khu’c tiêu say Mềm nhung mă‘t dại mi nhoài ti’ch sương Ðêm tìm dô’c đa’ hoa cương Dừng yên trãm mã hoa nhường dươ’i chân Mộng du mù gio’ ngập ngừng Bâ’p bênh tiềm thư’c bên từng thực mơ Sơn nương bâ’t chợt làm ngơ Giật mình tỉnh giâ’t vật vờ nưã say Em về nhễ nhaị hương bay Rừng hoang khe’p lại tiê’c hoài mộng du socson@hotmail.com

So’c Sơn

Mục Lục


22. Gối Mộng Ðêm Xuân Mưa xuân nhỏ giọt đầu cành Hư không tĩnh lặng nghe tình về đâu Quê hương cách nửa địa cầu Tâm tư trĩu nặng nỗi sầu mang mang Thương em ngọc giát tim vàng Ru ta giấc ngủ quan san rối bời Tâm kinh gõ nhịp đầm hơi Áo em ủ ngát vai đời phong sương Tay tiên đón gió mười phương Cho ta gối giấc mộng thường Kinh Kha Thương em môi thắm thật thà Ngâm câu Kinh khổ ru ta miệt mài Thương em vóc hạc mình mai Cho ta bóng mát dòng đời tâm linh Dọc ngang nửa kiếp phong trần Mảnh đời dâu bể, khúc quanh Hồ Trường Mạch sầu như suối trào tuôn Trong ta thác đổ, mưa nguồn cuộn dâng Ngày 10 tháng Hai, 2001

Ðặng Xuân Mai

Mục Lục


23. Nhớ Thương Mẹ ( Ngày của mẹ ) Hôm nay ngày của mẹ Mọi người vui thắm tươi Ðem quà dâng kính mẹ Mang đến mẹ niềm vui Người người sao hớn hở Lòng tôi thấy quạnh hiu Thiếu tình thương mẫu tử Ðời vắng lạnh cô liêu Mẹ tôi người nay đã Yên ngũ giấc nghìn thu Bên trời xa thăm thẳm Sau những áng mây mù Vì tôi không còn mẹ Ðơn lẻ suốt cuộc đời Sầu đau trong nỗi nhớ Nhìn mẹ cõi xa xôi Tâm hồn hoang trống vắng Qua những tháng năm dài Ðêm đêm buồn thao thức Nhớ mẹ mắt mờ cay Mẹ đi không lời tiễn Tôi nức nở âm thầm Âm dương sầu ly biệt Chia cách một tình thâm Hôm nay ngày của mẹ Gói trọn lòng thương yêu Làm quà con dâng kính Ðến mẹ cõi thiên thu

Viễn Phương

Mục Lục


24. Cảm Tạ Tình Anh Cảm ơn anh vòng tay âu yếm quá, Với nụ hôn nồng cháy lịm tim em. Tình anh trao vẫn giữ mãi trong tim, Em vẫn nhớ tháng ngày xưa ân ái . Trời vào Thu tiết thu buồn nhuốm lạnh, Mây hững hờ trôi mãi tận phương xa. Anh hỡi anh có phải anh là gió, Ðem hương tình ướp ngọt bờ môi em, Hay anh là kiếm khách tận trời Nam, Ðâm thấu lòng em đam mê chất ngất. Gió thu ơi mau luồn qua khe cửa, Ðể loan phòng khỏi trống trãi cô đơn. Ðêm từng đêm khao khát nỗi nhớ thương, Dâng hiến tim em và từng hơi thở . Nếu như đời có cõi hằng vĩnh cửu, Thì đó là tình em mãi mãi cho anh. Ý Nga Bài thơ trả lời Hỡi em yêu nơi phương trời Bắc Mỹ, Gởi đến em bao nhung nhớ thương xa . Phải! đúng anh là gió thoảng ướp hương đêm, Là kiếm khách soi lòng em sâu thẳm. Ngất hồn anh, theo nhịp tim em đập, Sau những lần mây gió quyện thâu đêm, Lòng anh sao ngây ngất cả từng đêm … Rồi thi họa cho thỏa lòng em ấp ủ . Phải không em hồn thơ ra lai láng, Ý lẫn tình đều đậm nét yêu đương. Ðất tạm dung anh không ngờ lại gặp, Một hồn thơ tên đẹpÝ hằng Nga. Bởi tháng Tư đen, ngược hướng đôỉ cờ, Anh lao tù tận phương Bắc xa xôi. Nhớ về em người em yêu bé nhỏ, Ðang bên chồng mà bạc phước không duyên, Em bây giờ chịu gối chiếc chăn đơn, Nơi xứ lạnh buồn hiu em đang khóc. Nước mắt em trẩy đầy cho nuối tiếc, Giọt lệ nhòa tuôn chảy ướt làn mi . Thôi nhé em hãy ngăn dòng nước mắt, Cho nụ hôn đừng đắng mặn môi anh. Anh sẽ đền em và dâng hiến cả tim anh, Từng hơi thở từng nhịp tim anh đập. Tình ngàn thu – hay là tình vĩnh biệt, Cõi vĩnh hằng-vẫn mãi là-tình của đôi ta . Thy Lan Thảo

Ý Nga / Thy Lan Thảo

Mục Lục


25.Tình Thu Trên Lô’i Này anh, Thu đã đê’n ngoài hiên Vẫy gọi tình Thu về đâ’t hiền Ðổi la’ vàng … pha màu dâ’u a’i Gọi tên anh, vọng giữa thiên nhiên La’ Thu về rơ’t mă‘c bên song Lưu luyê’n hoài trông, chẳng dâ’u lòng Quay lại, Thu về rơi xa’c la’ Khô tình đỏ thẫm của chờ mong Ðêm Thu gio’ thoảng ươm tình thơ Giăng khă‘p khoảng trời bao mộng mơ Hòa tiê’ng la’ rơi Thu tâ’u khu’c Bản tình ca dạo ngẩn ngơ chờ Khung trời vàng, nghe tình vào Thu Từng chiê’c la’ rơi, là ca’nh thư Vê’t la’ in vào thay ne’t chữ Của lời Thu ngỏ thay ngôn từ (chơ’m Thu 2003)

Thu Hằng

Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Nỗi Chết Chưa Rời

Phan Thái Yên





1.
Nhóm lính tù ngồi bó gối trên đòn gổ quanh chiếc thùng đạn pháo binh kê dùng làm bàn trên nền đất rít ẩm. Hai chiếc thau nhôm úp vào nhau, nằm lỏng chỏng trên mặt bàn. Bên trong là khẩu phần bo bo cho buổi ăn tối của nhóm. Họ ngồi trấn an nhau chuyện vẫn chưa thấy con gà trống về ngủ bên góc bếp quen thuộc dành riêng cho nó. Từ một lúc nào đó, câu chuyện trở chiều xoay quanh cơn mưa chuyển mùa đã làm đoàn tù cải tạo ướt đầm lúc lếch thếch kéo nhau về từ trong rừng cao su sau ngày dài lao động. Nước mưa sót lại trên trần lá giàn dưa tây đã qua mùa trái, thỉnh thoảng nhỏ từng giọt đọng muộn màng xuống mặt bàn thô nhám hoen ố thời gian. Vài giọt rơi trên chiếc thau nhôm gây nên chút âm thanh chợt vỡ, nhỏ nhặt rồi lụn tàn không chút vướng vất. Họ lách mắt qua màn lá dưa, chăm chú nhìn về phía khu nhà quản giáo lẩn khuất sau rào bên kia dải đất trống. Tiếng quát tháo, rượt đuổi, lẫn trong tiếng reo hò của bầy vệ binh đánh bóng chuyền khiến họ nhìn nhau, ngờ ngợ nỗi lo. Một người lính bỏ chổ ngồi cạnh bàn, kéo chiếc đòn gổ ra trước bếp đang âm ỉ nồi lá rau lang luộc trộn với đọt lá sắn. Anh khêu bùng ngọn lửa, châm thuốc vào chiếc điếu cày làm bằng vỏ nhôm trái sáng, rồi rít một hơi thuốc lào dài đến rúng sâu lồng phổi. Anh sốt ruột lắng nghe tiếng gà vùng vẫy kêu đau, âm thanh thoắt nghẹn cố vượt thoát khỏi hơi giọng lềnh nặng tục tằn của người vệ binh nào đó đang hồi ganh giận.
- Tiên sư con gà Ngụy lếu láo này, cái phao câu vễnh lên thế kia mà mày cứ bơ ra như không có gì xảy ra thì có chán không cơ chứ !?

Một giọng nói khác vang lên châm chọc.
- Tớ thấy sáng nào anh chàng cũng làm liên thanh con gà mái dầu đi cặp... Chắc nó chê phao câu quê-em-miền-trung-du của cậu rồi đó. Thiến mẹ nó đi là hòa cả làng!...

Người lính tù lo lắng đứng vói chồm lên rào trại, rảo mắt tìm bóng dáng con gà trống trong nhá nhem màn đêm đang xuống.
Anh khum tay làm loa, nói lớn về phía khu nhà vệ binh.
- Báo cáo cán bộ, làm ơn cho tôi xin lại con gà đi lạc.

Tiếng gào xin rơi tuột đâu đó xuống vùng bóng tối giữa bãi đất trống. Chỉ còn tiếng quằn oại của con gà trống chìm dần trong tiếng người nhạo báng trêu chọc, hổn độn và vô lương. Tiếng rơi huỵch của thân xác con gà bị quăng vào nền đất, theo sau là chuỗi im lặng xé lòng. Bầy người vừa thỏa chút lòng ganh ghét có lẽ đã bỏ đi. Cơn im lặng kéo dài. Những cặp mắt căng luồn bóng tối dừng lại bên xác con gà nằm sóng soài trên mặt đất. Một lúc sau, có lẽ hơi đất ướt đã giúp con gà trống lấy lại được hơi thở. Nó ngóc đầu nhìn quanh, gượng đứng lên nhưng chỉ chập choạng được vài bước lại ngã soài xuống vì quá yếu.

Không đành lòng nhìn đôi chân con gà trống mệt mỏi cày chống trong đất lết từng chút một về phía mình, người lính tù dùng sức kéo rộng khoảng rào bằng dây thép gai, lách mình dợm chui qua. Một bạn tù lo lắng kéo tay anh lại.
- Mày cố gắng chờ thêm chút nữa đi, thế nào nó cũng lết về được. Chui rào, vệ binh bắt được bị cùm làm kiểm điểm không đáng.
- Ở đó mà đáng với không đáng. Nếu nó lết về không tới nơi, nằm chết bên đó thì mày tính sao?
Người bạn tù khác cố gắng phân giải.
- Thằng nào cũng có lý hết. Thằng Hổ chết gần tròn một năm rồi. Gia đình nó cạy cục xin ban quản trại mãi mới được phép sau dịp lể tháng Chín lên làm giổ đầu và dời mộ về Sài Gòn. Cặp gà thằng Hổ trối lại nhờ nuôi. Tuần tới vợ con nó lên, nếu con gà trống bị chết tối nay thì lại thêm chuyện đau lòng. Tao nghĩ...
- Nghĩ mẹ gì...mầy thì lúc nào cũng bận rộn suy-tư-cuộc-chiến ...

Anh lính trẻ tuổi nhất trong nhóm trách đùa bạn trong lúc hối hả đặt cái thau rau luộc lên bàn. Anh bước đến sát hàng rào, miệng la lớn vào bóng tối “Báo cáo cán bộ, cho thằng bạn tui đi tìm con gà bị lạc”, tay thì đẩy bạn qua rào.
- Tao xin phép cho mày rồi đó. Êm thì thôi, nếu không, tao theo vô hộp cho có bạn...
Rồi anh quay qua ra dấu cho bạn tù đứng quanh.
- Tụi bây vào ngồi khuất trong bếp, để mình tao chờ ngoài này thôi.

Người lính tù khom người chạy về phía con gà trống bị nạn. Anh qùy xuống ôm con gà bê bết máu vào lòng. Lúc anh đứng lên, dợm bước về phía rào trại, thì tiếng quát tháo chừng như đang chờ sẵn từ trong cuống họng đắc chí nào đó lanh lảnh vang lên cùng lúc với tia sáng ngọn đèn bấm nhọn lểu, le dài, liếm láp không sót khoảng sân nhão nhẹt đất đỏ.
- Anh kia đứng lại! Láo nhể! Dám vi phạm nội qui trại đi vào đất cấm. Người lính tù vẫn đứng chờ bạn bên bờ rào, vói người dang cao hai tay quơ vẫy, biến mình thành mục tiêu để phân tâm sự chú ý của gã vệ binh. Anh nói nhỏ cho bạn vừa đủ nghe “Ð. mẹ! Không êm rồi! Mày cứ tiếp tục bước, đưa con gà cho tao lẹ lên!” rồi ồn ào lớn tiếng với gã vệ binh đứng khuất lấp đâu đó trong bóng tối.
- Báo cáo cán bộ, tui bự con không chui qua rào được nên nhờ người bạn tìm giùm con gà.

Anh kéo bạn về phía mình, đón ôm vào lòng con gà trống đau đớn rũ lông ngoẹo đầu trong cơn đại nạn. Vệt sáng ngọn đèn bấm dừng lại xoi bói trên mặt hai người lính tù rồi lắt lay theo bước chân gã vệ binh loắt choắt đi về phía nhà quản giáo.
- Cho chúng mày lếu láo, lần này thì ông cùm cả hai.

Hai người lính ngồi nuốt vội bát rau luộc trộn bo bo dưới bóng ngọn đèn dầu khói tỏa nhiều hơn ánh sáng. Họ bước về phía cái chái sau của gian nhà cuối dãy trại, lố nhố bạn tù im lặng đứng ngồi. Từng ánh mắt lo âu chăm chú nhìn người tù bác sĩ đang khâu lại vết thương bết máu dưới bụng gà. Nhóm lính tù xuýt xoa vui mừng khi người bác sĩ nhẹ đặt con gà xuống tấm áo lính trải trên nền đất, vuốt ve lên đôi cánh màu sặc sở. Con gà trống chậm chạp run rẩy đứng lên, chiếc cổ từ từ vươn cao, kiêu bạc cất lên tiếng gáy dù hơi sức còn khàn vướng cơn đau. Tiếng gáy trùng chất lời trần tình trống mái thủy chung được xúc động đáp lời bằng tiếng chắt chiu vẹn nghĩa thương yêu. Vòng người dãn ra, mở lối cho cuộc đoàn viên. Con gà trống chậm chạp lê từng bước chân về phiá góc bếp. Hắn đang trở về. Trong cái thùng cạc-tông cũ lót đầy rơm, con gà mái nằm xù lông, ấp ủ bầy con tương lai của mẹ. Nàng nghểnh cổ nhìn vòng người vây quanh, nghi nan nhìn cơn mơ đang hiện thực. Cho dù mất mát tang thương, hắn cũng đã trở về...

Nhóm lính tù đứng im sửng trong xúc động không ngờ. Và như một nhiệm mầu, từ bên dưới chiếc cánh ấm nồng ấp ủ, chú gà con mịn như nắm tơ vàng và mong manh như một điều không thực đang chiêm chiếp khởi sinh một cuộc bắt đầu.

Ngoài kia tiếng còi tập họp bất thường chợt ré lên từng hồi khẩn cấp. Họ nghe mà hình như không ai để ý tới.
2.
Ðất trời sắp sửa bước vào tháng Chín. Những bài ca về một mùa Thu sắt máu, hùng hồn trong quân nhịp gươm đao vang lên từng chặp từ máy phóng thanh. Có thể mùa Thu đang về ở một nơi nào khác, nhưng nắng ở đây vẫn hừng hực dây dưa cơn sốt hạn. Buổi sáng trong rừng cao su, cây lá uể oải không muốn thức giấc để phải chịu đựng thêm một ngày đổ lửa. Từng hàng cây thẳng tắp, thân già nua chồng chất những vết cạo dài, hằn sâu, mủ đọng lâu ngày ngả màu nâu đặc, như thể xác người mẹ cơ cực đã khô cạn giòng sửa nuôi con. Xa lắm cuối mỗi hàng cây, đuối tầm mắt nhìn ngái ngủ là những ô ánh sáng mông lung như khung cửa mở ngập màu mây trắng xám trong một cơn mơ rất cũ. Cỏ hoang mọc tràn lối đi giữa mỗi hàng cây, ngọn lá se sắt cúi đầu cầm giữ chút hơi sương chực thoắt bay theo cơn ngày đang tới.

Thời gian gần đây, hàng ngày, tù binh từ các trại cải tạo được lệnh xâu kéo nhau đi lao động ngoài, ở những khu rừng cao su thiếu người chăm sóc quanh vùng. Dù sao thì cũng đở hơn gồng gánh phân người lên dốc đồi quanh trại chăm tưới từng luống rau vùng canh tác. Một chu kỳ sinh dưởng héo hon. Một trăm lá rau lang luộc trong lon gi-gô ăn độn với bo bo. Dãy nhà cầu và thùng phân chưa kịp biến thể. Những luống rau lang tốt màu lục diệp... Trên khoảng đường hơn ba cây số từ trại đến rừng cao su, đoàn người đi qua khu chợ nhỏ và một quãng ngắn quốc lộ. Những đôi mắt đoái nhìn nhau, ái ngại xót thương. Những mái đầu cúi xuống, quay đi, ngăn che giòng lệ. Ðoàn người như xâu chuổi dài lê thê, im lìm bước theo nhau đi vào trong màu xanh mờ đục của lá rừng. Bước chân tiếp bước chân, hửng hờ, vô tưởng, như từng hạt tràng đen lần đi khôn tận trên ngón tay vị sư già chìm sâu trong cơn thiền định. Họ được chia thành từng nhóm nhỏ đi vào giữa hai hàng cây cao su cỏ lan khuất lối mòn. Chiếc nón cối màu xanh bạc của vài người vệ binh loắt choắt nhấp nhô trên tầng ngọn cỏ, súng vươn cao hơn đầu. Mấy chục năm trước có lẽ là chiếc nón cối màu vàng đất sét của gã mộ phu lêu khêu bên đoàn công nhân cạo mủ. Cánh rừng cao su bạt ngàn, giống nhau từng thân cây oằn nặng tang thương giọt nhựa. Thực dân. Cọng sãn. Ở giữa, bên dưới, là thân phận con người Việt oan nghiệt truân chuyên.

Nhóm lính tù cuối cùng đứng lại ở bìa rừng. Họ cười rộ lên khi một người cất giọng xuống xề câu hát cải lương có lá rừng đan kín đường về phồn hoa. Hát xong anh đảo mắt nhìn quanh đám cỏ hoang, tìm kiếm.
- Tao chỉ ngại lá rừng che kín không cho thấy xà lách xon thôi. Mẹ! Vạt rừng ngày hôm qua đã thiệt.

Một người lính tù cao lớn, râu vểnh ngang tàng, ngồi tựa lưng gốc cao su. Anh lấy chiếc điếu cày làm bằng ống nhôm đạn trái sáng, châm thuốc, rít sâu rồi phả một hơi dài, làn khói thơm vướng quyện lên ngọn cỏ. Anh nhìn quanh, nói nhỏ.
- Khỏi lo. Tao sắp có tiếp tế rồi. Bà xã tao ở Sài Gòn lên, ở lại nhà người bà con gần chợ mấy ngày. Lúc nãy, vừa thoạt thấy bả, tao mừng quá suýt nhảy ra ôm đại. Tao dặn nhờ người nhà đi theo cho biết chổ rồi chờ đến trưa lén vào. Hắn nháy mắt, cười đểu. Tụi mày ráng canh me vệ binh cho kỷ, bà xã tao cám ơn.

Anh bạn tù hát cải lương ngẩng mặt nhìn trời, lớn giọng than thở, chọc bạn.
- Than ôị..Cô bé choàng khăn đỏ sắp bị...trùm poncho... bởi con qủy râu xanh rồi mà nàng vẫn hí hửng bước chân vào cánh rừng cạm bẫy...

Họ cùng cười với nhau rồi bắt đầu làm việc thật nhanh. Nắng bắt đầu lên. Tia nắng len lỏi qua trần lá xanh kín, cắm xiên lên mặt đất những luồng sáng bừng lên kỳ ảo.

(còn tiếp một kỳ)

Phan thái Yên


Mục Lục


2. Hóa Bướm

Ða Sự Lang Y



Truyện Ngắn

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗ i lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ . Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học .
(Tôi đi học -- Thanh Tịnh)

Hắn yên lặng lái xe từ trường Ðại Học chính của tiểu bang về nhà, trong đầu cứ vương vấn về bài tập đọc nổi tiếng "Tôi đi học " của Thanh Tịnh từ cuốn "Quốc Văn Toàn Thư" các lớp tiểu học mà ai trong thế hệ hắn cũng thuộc nằm lòng. Hôm nay hắn và vợ hắn đem đứa con trai đầu lòng đi học Ðại Học. Trời hôm nay không phải cuối thu mà là cuối hạ, không đầy sương thu và gío lạnh mà đầy khí nóng và độ ẩm. Cái nóng giết người của vùng Mid-West ở Hoa Kỳ. Chuyến đi vềnhà hắn lái xe trong yên lặng, phần vì mệt nhọc sau một ngày nóng nực mà phải khuân đồ đạc của con hắn vào nhà trường nội trú (dormitory), phần vì hắn đang bực mình với vợ hắn, không muốn tiếp tục câu chuyện mà hắn biê’t sẽ không đi về đâu.

Vợ hắn, như những bà mẹ khác, cứ lo lắng cho thằng con đầu lòng đi học xa. Hết lo xa, lại lo gần. Nào là không biết nó có giặt quần áo đúng không. Nào là ai sẽ đánh thức nó dậy buổi sáng. Nào là không biết đồ ăn trong trường có hợp khẩu nó không. Thấy mà bực mình.
- Tôi nói cho bà hay là đời nó bây giờ còn sướng chán. Hồi xưa tôi và bà có ai đem vô trường đâu mà vẫn học ra ông này bà nọ như ai vậỷ Chưa kể hồi đó còn phải đi làm thêm và lo chuyện mượn tiền để trả học phí và bao nhiêu phí tổn khác nữa.

Vợ hắn chanh chua:
- Hồi xưa khác, bây giờ khác. Hồi đó mình là dân tị nạn nghèo đói đã quen, được đi học đã là may. Còn tụi nó từ nhỏ đến lớn có khi nào xa nhà bao giờ đâu, làm sao mà ông bảo "Ðời cua cua máy, đời cáy cáy đào" được. Mình là cha mẹ thì phải lo cho chúng chứ. Con tôi, mang nặng đẻ đau thì tôi thương, có chết ai.

Hắn biết cái lý luận này thì không bao giờ có hòa đàm. Cũng như hôm nọ hắn và vợ hắn đi chợ. Ði ra khỏi Siêu Thị vợ hắn bảo hắn:
- Chỉ có một hai bao đồ mà ông cũng dùng xe (shopping cart) à? Sao không xách tay để mấy thằng bé khỏi phải cực nhọc đem xe trở lạị Trời nắng nôi. Tuị nó cũng như con mình,đi học về đi làm kiếm được có mấy đồng mà phải khổ sở.
- Trời đất ơi! Còn tôi thân gìa phải cực nhọc xách đồ cho bà thì bà không nghĩ tới à!

Hắn còn muốn nói thêm nữa,nhưng biết nói lắm thì cũng bằng thừạ

Cái chuyện con hắn đi học này cũng cam go lắm. Lúc đầu con hắn định đi học đại học tư nổi tiếng gần nhà. Vợ hắn rất là đắc ý. Nhưng sau con hắn đổi ý bỏ đi đại học tiểu bang. Phần vì nó có nhiều bạn bè cùng ghi danh, nhưng chắc phần chính là nó muốn đi xa nhà một chút. Bả cũng giận dỗi mấy ngàỵ Hắn thì chẳng có ý kiến. Hai đại học này, cái nào nào hắn cũng học rồị Chỗ nào cũng có người quen. Chỗ nào cũng nổi tiếng cả. Ăn thua là thằng con nó có chịu khó học hành hay lại ham chơi mà thôi. Càng thấy vợ hắn quá cưng con, hắn càng đồng ý với câu ca dao:
" Ði cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn"

Hắn cứ nghĩ đến câu:
" Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà"
thật không phải là không có cái lý lẽ của nó.

Vợ hắn quan niệm mình cực khổ là cho con cái nó nhờ chứ chúng nó cũng phải cực khổ như mình thì có nghiã lý gì. Hắn với kinh nghiệm nhà binh luôn theo chính sách: "Quân trường đổ mồ hôi; Chiến trường bớt đổ máu".

Mình có sống cho đời chúng nó mãi được đâu. Cuộc đời có khổ thì mới có cái hay, cái vui và cái thú vị của nó. Cuộc chiến mà không đổ máu thì chiến thắng nào có vinh quang như người ta thường nóị

Vợ hắn cứ lo thằng con thiếu tiền tiêụ Vừa viết cho ngân phiếu vừa dí tiền mặt vào túi nó. Hắn nghĩ sinh viên thì cần tiền làm gì mà lắm thế. Học phí, sách vở, đồ lặt vặt , tiền ăn cũng như tiền phòng đã có hắn trả hết rồị Thời đại này chúng còn có máy vi tính di dộng, phôn di động, phiếu tín chỉ (credit cards) , cần gì thì cứ "charge" trước rồi gọi về nhà tính sau. Trong phòng thì đầy máy móc , tủ lạnh, máy hát, máy truyền hình mà con hắn còn than thiếu thốn. Chẳng bù cho sinh viên, học trò hồi xưa:

Ðôi guốc năm hiên kéo bốn mùa.
Tiền nhà ít gửi, biết chi mua !
Áo nhà cọ mãi đôi tay rách,
Gương lược thăm hoài tóc ngắn thưa.
.......
(Học Sinh - Huy Cận)

Hết chuyện tiền bạc rồi tới chuyện phòng ốc. Vợ hắn lo cái phòng ngủ quá nhỏ, chật chội, nóng nảỵ Mượn cớ trời nóng nực hôm nay Bả cứ trách hắn là không chịu viết giấy để cho con nó có máy lạnh, loại nho nhỏ để cửa sổ, sợ tối nóng quá nó ngủ không được.

- Con người ta còn bỏ tiền ra đi thăm Bác Sĩ mà lấy giấy chứng thực, còn ông thì chỉ ngoặc vài chữ mà cũng không chịu làm. Tôi thật cũng hết ý kiến với ông.

- Ði học mà bà làm như đi nghỉ mát không bằng! Trời nóng thì vô thư viện mà học có phải là một công hai chuyện không chứ. Ðêm về, nóng thì mở cửa , bỏ quạt trần mà ngủ.

Hắn còn thêm:
- Nóng thì cũng chỉ có mấy tuần rồi trời lại lạnh cóng.
Máy lạnh chỉ tổ cồng kềnh, choán mất cả cửa sổ không thấy cảnh đẹp của sân trường.
Thật ! Thời của chúng nó bây giờ chẳng biết thơ mộng như thời của bọn hắn:

Lên gác yên tâm nghĩ sự đời,
Hương nồng quanh gối vẩn vơ chơi.
Giường bên cửa sổ, cây đưa mát,
Không chịu mùng che để ngó trời.
........
(Học Sinh - Huy Cận)

Về đến nhà, hắn bỏ ra sau vườn cắt cỏ, chăm sóc vườn tược. Có thằng con cắt cỏ phụ cũng đỡ mệt và ít mất nhiều thời gi+ờ. Hắn cũng bắt đầu thấy nhớ thằng bé. Bên hông nhà, mấy cây sồi (oak) mới trồng thiếu nước, cành lá khô héo quăn queo dưới cơn nắng nung ngườị Hắn lại bực mình vì vợ hắn trồng hai cây đầu vườn quá gần nhau nên chúng không lớn lên được. Chả bù cho mấy cây trồng xa nhau ở cuối vườn. Hắn lẩm bẩm :
- Cây cối cũng như người, phải có chỗ rộng, có đất dung thân mới hy vọng lớn lên được!

Vợ hắn cũng theo hắn ra vườn chăm nom mấy cây hồng. Bất chợt bả kêu lên:
- Ông ơi! Lại đây coị Sao con bướm này kỳ vậỷ

Thì ra khi thấy con nhộng đang khổ sở cắn tổ chui ra, vợ hắn vì lòng nhân đạo đã cắt cái kén để con nhộng chui ra nhanh hơn. Ðâu biết rằng con nhộng chui từ từ qua lổ hẹp để ép hết nước trên cặp cánh. Con bướm này ra tổ với cặp cánh dầy, mập ú vì ứ đọng đầy nước. Lòng nhân đạo của vợ hắn đã làm con bướm này cả đời bò sát đất, không bay lượn vờn hoa như bao con bướm khác . Cái giai đoạn khổ nhọc từ từ chui qua lỗ hẹp của cái kén cũng là giai đoạn cần thiết, bắt buộc của luật tự nhiên cho nhộng hóa bướm.

Cuối vườn chợt vang lên tiếng ve ca. Khởi sự bằng một vài tiếng ca lẻ loi rồi chợt rền lên như tất cả mọi con ve cùng đồng ý hòa điệụ Hồi nhỏ hắn đọc sách hay nghe nhạc thấy ai cũng nói là ve kêu báo hiệu mùa hè sắp tới, như khóc than cho cảnh xa thầy xa bạn. Mấy đứa con của hắn lại nghĩ khác. Chúng bảo ve kêu vào cuối hạ thì đúng hơn. Như khóc than cho một mùa hè vui vẻ đã qua mất. Con gái út của hắn còn văn chương hơn bảo: " Ba không thấy ngày tháng hè trôi nhanh như nước chảy qua chân con à?" Hắn lơ đãng nhìn về cuối vườn, hướng tiếng ve kêu, bất chợt hắn cũng đồng ý là tiếng ve kêu to hơn vào cuối hạ, nhất lànăm nay. Hắn lập lại : "Gớm, ngày tháng qua mau thật!!" rồi lững thững bỏ vào nhà, quên hẳn vợ hắn ngoài vườn vẫn đang còn ái ngại nhìn con nhộng không bao giờ hóa bướm.

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!
.....
(Học Sinh - Huy Cận)

Cuối hè 2003

Ða Sự Lang Y
7/03

Mục Lục


3. Mùa Nước Lũ ( kỳ 16)

Trần Công Nhung



Cơm dọn ra, Nam cầm đũa ăn chiếu lệ, chàng ngồi nhìn Thảo, gắp đồ ăn cho Thảo. Thảo bỏ đũa hỏi Nam :
- Anh ăn đi, bộ em lạ lắm sao mà nhìn hoài vậy .
- Anh đang ăn nè.
- Ăn mô ? Anh ngồi nhìn chớ ăn gì ?
- Ăn đôi mắt em ...Anh không ngờ em đẹp như vầy. Nếu không tìm được em thì sao hả Thảo ?

Thảo nguýt Nam một cái thật dài :
- Anh chuyên môn "viễn vông". Thôi ăn đi, không thì em bỏ đũa bây giờ.

Nói vậy nhưng Thảo lại rất thích lối "viễn vông" của Nam. Thảo nhớ đêm ngồi với Nam bên chân cầu Mụ Kề, Nam cũng "viễn vông " bay giữa trời đầy trăng sao. Chưa bao giờ Thảo thấy mình tràn trề hạnh phúc như hôm nay. Khi lòng ngập tràn hạnh phúc thì còn thiết gì chuyện ăn uống. Nhưng Nam lại muốn Thảo ăn thật nhiều để mình có dịp ngắm khuôn mặt của Thảo. Hai nhúm tóc mai rủ dài là nét đặc biệt của khuôn mặt Thảo. Mới hơn một năm mà Nam thấy Thảo khá trưởng thành.

Ra khỏi tiệm ăn, Nam chở Thảo lên cửa Thượng Tứ rồi đưa Thảo đi quanh co qua các lối ngõ sau bờ hồ để về nhà bác Ðiền. Thảo lấy làm lạ hỏi Nam :
- Anh ở chỗ khó ri thì làm sao mà tìm được.
- Em cẩn thận, đường gập ghềnh hang lỗ dễ té lắm.

Lúc Nam dừng lại dưới một mái lều, Thảo chưa kịp nhận ra đây là đâu thì hai em Nam đã reo lên:
- Chị Thảo, chị Thảo.

Cả nhà túa ra. Mừng mừng tủi tủi Nam giới thiệu hết mọi người với nhau. Thảo cảm động và thương Nam đã trải qua những ngày quá nhiều cay đắng. Tâm tình một lúc, Nam xin phép bác Ðiền đưa Thảo về, hai em Nam theo Thảo ra đến đường cái.
Thảo quay lại nói :
- Thôi hai em vô đi, bữa mô nghỉ chị qua .
Ði được một đoạn, Nam nói với Thảo:
- Giờ còn sớm, mình ra đây ngồi chơi rồi anh đưa em về.

Thảo theo Nam ra chỗ vườn hoa Thương Bạc. Chọn một ghế đá khuất ánh đèn, hai người ngồi tâm sự tiếp những chuyện còn dở dang. Thảo hơi chột dạ khi nhớ lại những lần ngồi với Hòa, với Tuấn.. Tiếng Nam hỏi đã lôi Thảo ra khỏi những u ám trong đầu:
- Ai chỉ cho em thi vào trường Tá Viên Ðiều Dưỡng, đây là lớp đầu tiên.
- Em hỏi thăm ở văn phòng nhà trường, em cũng có mấy con bạn tốt lắm, tụi nó giúp em rất nhiều việc. Anh có thích em học ngành này không?
- Giáo Dục và Y Tế là hai ngành chính để xây dựng hạnh phúc cho con người, em đã làm một việc rất khôn ngoan.

Thảo nắm hai tay của Nam bóp bóp như bày tỏ sự cảm ơn. Nam kéo Thảo qua thật sát để nói nhỏ vào tai :
- Anh thương em quá chừng đi.
- Em cũng rứa chớ bộ.

Hai người lại thản nhiên bày tỏ tình cảm qua đôi môi, đôi tay. Gió về đêm mát lạnh mà cả hai đều thấy ấm như uống phải rượu. Thảo kể cho Nam nghe chuyện đi mua áo ngực rồi cười :
- Hồi đó em quê ơi là quê.
- Anh thích cái quê đó lắm Thảo ơi.

Nói xong Nam đọc ngay hai câu thơ của Nguyễn Bính:
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Thảo lại cười chống đỡ :
- Nhưng mà em có mất chi mô.
Nói xong Thảo chợt đượm buồn, Nam vội xoa dịu :
- Không, anh nói cho vui vậy thôi. Em vẫn còn đây mà.

Thực tình Thảo lặng người vì nhớ chuyện ở Sơn Chà. Thảo không hiểu sao "nó" cứ ám ảnh Thảo hoài, hễ có cơ hội là "nó" nhảy ra. Trời về khuya, gió đã lạnh nhiều, một câu hò văng vẳng từ bờ sông bên kia, điệu buồn buồn... Nam bỏ tay Thảo ra:
- Anh đưa Thảo về. Mai anh qua đón em đi chơi.
- Qua sớm nghe anh. Qua đi ăn Cơm Hến. Phía trước chỗ em ở có bà bán Cơm Hến nổi tiếng.

Về đến chỗ Thảo, hai người nấn níu thêm một lúc nữa. Như chợt nhớ điều gì, Thảo nói:
- Anh tìm cách gì báo cho Mẹ biết đi.
- Cảm ơn em đã nhắc, gặp em, mừng quá anh quên hết. Ðể xem...
Nam nghĩ chưa ra thì Thảo đã có cách :
- Ðược rồi, thứ hai mình điện tín về Thúy Anh, nhờ nó báo cho Mẹ.
Nam cười :
- Em sao cái gì cũng hay hết trọi.
- Thôi, ông đừng có nịnh.

Nói xong Thảo đánh Nam một cái rồi quay đi. Mỗi người lại trở về với khung trời quá khứ của mình. ...

Lúc chiều, Nam và Thảo dẫn nhau đi rồi, trong nhà bà Ðiền ai cũng xúm vào hỏi hai em Nam :
- Này Cu Anh, cô nãy bà con sao, nói Bác nghe.
- Cu anh, chị nớ bồ anh Nam phải không ?
- Em thấy rõ là bồ, lâu ni anh Nam kín dễ sợ.

Mỗi người một câu, em Nam không biết sao trả lời. Mà thực tình hai em Nam cũng không biết nên nói gì. Chuyện của Nam gây nhiều nghi vấn. Chỉ mỗi mình Loan là làm thinh, thoang thoáng buồn. Khi thấy Nam về ai nấy reo lên:
- Ðây rồi. Hỏi anh Nam là chắc ăn.

Nam không hiểu chuyện gì mà cả nhà có vẻ sôi nổi. Sao lại hỏi mình mới chắc ăn ?

Nam cười cười dò xem chuyện gì. Ðăng khai hỏa trước :
- Rồi anh Nam nói đi.
Nam không hiểu hỏi lại :
- Ðăng biểu anh nói cái gì ? - Cái cô hồi nãy đó.
Bà Ðiền cũng lên tiếng:
- Ừ cháu nói rõ bác nghe. Hồi chiều lu bu Bác nghe không kịp.

Nam hiểu rồi, chắc mọi người muốn biết lý lịch liên hệ chứ gì. Nam ngồi xuống giường, làm ra vẻ tự nhiên :
- Dạ đó là Thảo con bác Ðàm bạn của Mẹ cháu. Ngoài quê, hai nhà ở sát vách nhau (Nam thêm vô cho thân mật, chứ vách đâu mà sát). Trong chuyến di cư vừa rồi bác Ðàm và Thảo đã giúp đỡ mẹ cháu rất nhiều.
- Mà chị Thảo có phải bồ anh Nam không ?

Bà Ðiền gạt Ðăng ra : - Mi đừng có phá ngang để tau hỏi cậu Nam. Chừ chị ở mô ?
- Dạ Mẹ cháu và bác Ðàm ở trong khu nhà thờ Tam Tòa trong Ðà Nẵng.
- Còn cô gái làm sao mà ra đây ?
- Dạ Thảo thi đậu Tá Viên Ðiều Dưỡng nên ra Huế học.
- Giỏi rứa.

Thấy bà Ðiền ngưng nói, mấy người kia lại nhao nhao hỏi cung Nam. Tất nhiên Nam giải đáp xuôi mọi chuyện, có điều không mấy ai tin, nhất là Loan. Loan là con gái đầu của bà Ðàm, vì nhà nghèo nên Loan chỉ học hết tiểu học rồi ở nhà phụ má. Loan không đẹp song có cái duyên của một người chất phác hiền lành. Loan cũng trạc tuổi Thảo, nhưng Thảo rõ ràng là người bén nhạy, lịch lãm mà vẫn giữ được nét ngây thơ. Nam linh cảm sợ nay mai thế nào cũng có chuyện khó xử trong lòng chứ không phải đùa. Nam định tâm là luôn luôn tỏ ra đàng hoàng, không làm bất cứ gì để tạo sự nghi ngờ nơi mọi người. Ðiều cần là không cho ai biết thêm về chuyện của chàng và Thảo.

Ðêm đó Nam cũng như Thảo, không sao chợp mắt được. Trằn trọc mãi mà cứ phải giả vờ ngủ, sợ người khác biết lòng mình. Nam chỉ mong mau sáng. Tuy hôm qua ngủ không bao nhiêu nhưng sáng ra Nam rất tỉnh táo. Tập thể dục xong, Nam lấy xe đạp đi ngay. Nam nói lớn với hai em cốt cho mọi người nghe :
- Anh đi tìm người quen để gửi thư cho Mẹ, ở nhà nhớ làm bài nghe.
Bà Ðiền hỏi vói ra :
- Cậu Nam trưa có về không ?
- Dạ xin lỗi Bác cháu quên, chắc cháu không về kịp. Bác đừng để cơm cháu.

Bà Ðiền hỏi dò thôi chứ chẳng phải chuyện cơm nước. Ra đến đường cái, Nam đạp một mạch qua Thảo. Nam tự cười mình, "chuyện gì mà cứ hồi hộp" nhỉ. Người vui thì cảnh cũng vui, Nam nhìn ai thấy cũng quen, cảnh vật trở nên đẹp và thân thiết hơn mọi ngày.

Thảo đã sẵn sàng đợi Nam, bạn Thảo muốn mời Nam vào ngồi chơi một lúc, Nam cũng có ý muốn biết nơi ăn chốn ở của người yêu. Thảo Hiền được cấp một phòng vừa đủ kê hai cái giường một cái bàn dài, một tủ áo một kệ sách. Trông gọn gàng xinh xắn. Hiền lên tiếng hỏi :
- Nghe Thảo nói anh Nam đang học lớp Sư Phạm Cấp Tốc ?
- Ðúng vậy, hoàn cảnh khó khăn mình chọn thứ mau mau một chút.
- Chừng nào mãn khóa ?
- Ba tháng nữa thôi.
- Tụi này cũng khoảng đó. Vậy là anh chị ra trường một lượt, mỗi người một nghề tha hồ làm giàu.
Thảo đấm vào lưng Hiền vừa cười :
- Bà đừng có chọc tui nghe. Thôi đi anh, ngồi đây chị Hiền ăn hiếp quá chịu không nổi.
Hai người chào Hiền rồi lên xe chạy về hướng An Cượu. Ngồi phía sau, Thảo hỏi :
- Chương trình hôm nay răng anh.
- Giờ mình đi ăn sáng rồi đi chơi đồi Thiên An. Em lên Thiên An chưa ?
- Biết mô mà đi. Học cả tuần, đến chủ nhật đi lanh quanh với chị Hiền..
- Em nói Cơm Hến chỗ nào ?
- Chết, may thôi em quên, anh quành trở lại. Ðằng kia, con đường trước chỗ em ở.

Quán cơm hẹp tí, mà có đến chục người khách. Chỉ có cái bàn nhỏ, còn thì ngồi đòn như ở vĩa hè. Lúc Nam Thảo tới, mấy người ngồi bàn trong vừa đứng dậy. Thảo nói nhỏ :
- Mình hên nghe anh.
- Có em là mọi sự đều hên.
Thảo nhéo vào cánh tay Nam :
- Anh răng mà giỏi nịnh rứa hỉ.
Thảo gọi :
- Cho hai tô bác ơi .
Người đàn bà không nói gì, một lát đã có hai tô bưng lên. Cơm hến là món đặc biệt của Huế. Cái đặc biệt là mọi thứ đều nguội : Cơm nguội thật rời, Hến con nhỏ luộc lấy thịt để riêng, nước riêng. Mắm ruốc tươi, phải là loại ngon không được nặng mùi, rau xắt nhỏ, ớt xanh thái mỏng...Tất cả tạo thành một hương vị đặc biệt mà trước giờ chưa có nơi nào làm theo.
Trong lúc ăn, Nam khen Thảo :
- Phải công nhận em giỏi.
- Giỏi chi anh ?
- Biết thưởng thức và chịu khó tìm tòi.
Thảo biết Nam chọc nên vùng vằng :
- Anh chọc em phải không, em đứng dậy cho anh ăn một mình...

Nam cười giảng hòa:
- Anh xin lỗi, Thảo biết không, anh ở Huế đã mấy năm mà chưa biết ăn cơm hến.
Không ngờ món ăn có vẻ tầm thường mà ngon ơi là ngon.
- Thiệt không đó ?
- Cái gì em cũng nghi ngờ anh.
- Ai biểu ông lanh cho cố, còn hay chọc người ta.
- Từ nay anh xin chừa, đồng ý chưa ?

Thảo cúi cúi ra điều thích chí. Ra khỏi quán hai người chạy xe lên hướng Nam Giao. Khi băng qua đường xe lửa, xe từ từ thấy nặng. Nam đã phải còng lưng xuống mỗi lần đạp.
- Thôi xuống đi bộ, anh. Lên dốc rồi, đạp không nổi mô. Anh à, mình mua cái gì lát có đói bụng ăn đỡ.
- Em lúc nào cũng có ý kiến hay. Nhưng mà có em anh chẳng bao giờ đói.
- Lại nói xa nói gần rồi ...

Cả hai cùng cười và kéo nhau vào một quán bên đường, mua một xâu bánh ú, một mớ trái cây. Nam tìm mua thêm miếng nylon. Thảo hỏi :
- Chi vậy anh ?
- Chút nữa trải ngồi, chớ không dơ quần áo hết.

Thảo cười thầm trong bụng "Nam thật chu đáo". Qua Ðàn Nam Giao thì đường tương đối bằng. Nam bảo Thảo :
- Em ngồi lên.
Thảo đề nghị :
- Mình đi bộ vui hơn, lại khỏe.
Trong thâm tâm Thảo không muốn "hành hạ" Nam. Lên đồi Thiên An, hai người đi tuốt vào trong, cách xa đường, chọn một chỗ thật yên tĩnh. Tiếng thông reo vù vù, nắng rơi lốm đốm một vài chỗ, còn thì bóng râm mát rợi.

Trần Công Nhung



Mục Lục


4. Về (kỳ 21)

Thanh Sơn



Ðược tin hai ông bà cùng các con cháu từ nước ngoài về thăm gia đình bên ngoại và còn đang ở chơi tại đó, người em dâu của bà cũng tạm ngưng công việc mấy hôm để đến gặp ông bà. Gọi là em dâu là thể theo chút tình cảm còn vương sót lại, chứ nếu đằng rằng người em dâu có giả lơ không đến thăm ông bà thì cũng chẳng ai trách cứ gì được. Bởi vì mối dây ràng buộc giữa hai người trong gia đình đã dứt đứt từ lâu, kể từ ngày người em trai của bà được tin đã tử trận và nguồn tin báo mãi đến cả năm sau mới tới tay gia đình thì coi như liên hệ thân nhân đã chấm dứt. Ấy vậy mà người phụ nữ đáng thương kia vẫn giữ vẹn tình nghĩa, vẫn xin gia đình bà cho được lui tới với phận dâu, em. Ông cụ thân sinh ra bà cảm động lắm. Trong lòng cụ tuy phục nghĩa cử của dâu, song thỉnh thoảng thấy tình cảnh đơn chiếc của cô, cụ cũng đã khuyên răn " lễ nghi con giữ thế cũng đã trọn vẹn lắm rồi. Ðời người, tuổi son cũng chỉ có một lần, thầy thấy con đã có thể tính đi thêm một bước nữa. Nếu con còn có ý ấy, gia đình và thày cũng khoan dung để con thực hiện theo ý định ". Nhưng cô con con dâu đã van vỉ cụ để cho cô được giữ tang chồng thêm ít lâu nữa. Dạo ấy cái chết của chồng cô còn mới quá, đau thương còn như ngọn cước vẫn cứa sâu trong tâm khảm cô. Ðồng thời chiến tranh vẫn còn hiện diện đó, ngày càng thêm khốc liệt thảm thương hơn, liệu đi tới bước nữa, người chồng có thoát khỏi phải ra đi vì nước. Ðã bao nhiêu người đi mãi không về, làng xóm quanh đi quẩn lại chỉ rặt còn người già, trẻ con và phụ nữ. Lâu lâu lại có tin bay về phía làng trên hoặc xóm dưới, rồi tiếng khóc chợt cất lên râm ran uất nghẹn. Cũng dạo đó đứa con gái của cô mới lên 6 tuổi đầu, ngày ngày trông thấy con, cô không quên được gương mặt chồng xưa và những kỷ niệm hai người đã có. Lần lữa mãi, đã bao nhiêu thời gian qua đi, cây đã thay bao lần lá, mưa đã rơi biết mấy nước khắp trời, lòng chinh phụ lụi tàn theo đơn độc mà bóng chiến tranh vẫn che khuất khắp nơi. Ðến nay đứa con gái ngày xưa cũng đã thành thiếu nữ, hoà bình về thì người phụ nữ cũng đã rơi mất tuổi xuân. Cô em nhân dịp cũng cho con cùng theo về bên gia đình chồng cũ để ông cháu gặp lại nhau, dì cháu trông thấy nhau và nhất là để ông được gặp người em dâu của bà một lần.

Gặp nhau chị em nửa mừng nửa tủi. Không nói ra mà chị em nhìn nhau cùng mắt lệ rưng rưng. Ngày xưa, từ ruột thịt mà đã có lúc những người thân yêu bỗng dưng đứng vào hai đầu giới tuyến. Từng gia đình đã có những vết đau khi biết rằng có thể lần nào đó vô tình anh em sẽ giết hoặc gây ra thương tích cho nhau. Bây giờ tiếng súng đã dứt, người nào chết đi thì đã mất hẳn rồi, nhưng người còn lại nhìn nhau mà vẫn còn ngỡ ngàng, lúng túng. Từng nơi, từng lúc, con người vẫn nhân danh mỗi tiếng nói để đối xử với nhau, có khi là tiếng nói của thế nhân, có khi là tiếng nói của xã hội, có khi là tiếng nói của gia đình. Câu chuyện thản hoặc chợt đang vui bỗng vấp vào một tranh luận là y như lại có một biên cương chen vào trấn áp nhau. Rồi khuyên răn, rồi an ủi, nhưng xem ra lời nào cũng giả tạo hoặc lên giọng dạy nhau. Ðến lúc đó, không khí bỗng dưng đọng lại, nghẹt thở và ai cũng như đang bị tảng đá đè nặng ngực, im re.

Hôm gặp nhau, chị em chỉ biết cầm tay, người kêu " chị ", kẻ gọi " cô ", rồi nước mắt ở đâu trào ra mãi. Bà nhớ lại hình dáng của cậu em ngày xưa vẫn nhìn chị ít nói. Lần đưa chị ra đầu làng, cậu em đã nắm lấy bàn tay chị dặn dò " chị đi rồi sớm quay về, kẻo mẹ mong ". Không ngờ lẫn biệt ly đó lại là lẫn vĩnh biệt. Bây giờ người chị về thì tóc đã trắng trên đầu, còn cậu em chỉ là bức ảnh bán thân nằm một mình trên kệ gỗ. Cô em dâu hỏi nhỏ chị " em nghe nói ngày hoà bình anh chị và các cháu cực lắm, chị nhỉ ". Bà gật gật đầu không đáp, bà sợ làm cho cô em dâu phải đau xót nhiều hơn. Vả có hay chi để nhắc lại một thời bi thảm, sự thực là những gì người ta đối xử với nhau ngày hoà bình lập lại chẳng qua chỉ là một lối thực hành như vẹt với nhau thôi. Kể cả người thua lẫn kẻ thắng đều thấy mình bị đánh lừa. Người ta cố nhét vào đầu nhau những gì ghê rợn nhất để mà dẫu có hành hạ nhau cũng cảm thấy yên tâm. Ông còn nhớ ngày cậu em rể của bà vào thăm ông khi vừa tha trại, người em rể đã khẳng định với ông rằng " vì đé quốc đã mua chuộc anh, ban cho anh ít nhiều quyền lợi nên anh quên cả tổ quốc, đồng bào. Cả cái miền Nam đều là CIA của đế quốc ". Rồi người em rể của bà còn đại ngôn thêm " hồ sơ cá nhân của anh em đều đọc hết và thấy bộ máy của các anh đều là mạng nhện tinh vi của địch ". Dạo ấy ông đã chán ngán, nhưng nghĩ mình đã thất thế, có nói gì ra thì cũng chẳng ai nghe. Nên im lặng để còn vớt giữ được gia đình hàng họ. Chỉ thời gian ngắn thôi thì bao nhiêu lời kết án trước kia dành cho ông bây giờ những người chiến thắng đều tự quàng vào người họ cả. Cho nên ông chỉ buồn buồn trong lòng. Ngày xưa, bên cạnh cái chết rình rập, bên cạnh thiếu thốn khổ đau, mà nào có ai nghĩ đến chuyện xa lìa đất mẹ. Bây giờ hoà bình rồi thì ai cũng cố tìm cách bỏ nước mà đi. Không nói chi người thất trận, ngay cả người đầy ân sủng, nghe ở đâu có một chút dịp may là lăn nhau vào dành cho mình một chỗ. Cả nước thập thò lấn chen nhau đi lao động nước ngoài, của thật của giả nhao nhao lên chia phần hưởng lợi. Những người ra đi nghĩ mong tìm chút gì gửi về giúp dỡ gia đình, nên bao cảnh cười ra nước mắt ngày ngày làm cho người có lương tâm phải đau lòng, xấu hổ.

Bài học chua cay đó còn lâu mới được phanh phui tận mặt. Bởi vì nếu như thế đã chẳng có cái gọi là bi kịch cuộc đời. Cho nên không nói ra thì cả người em dâu và cả ông bà đều thấy mình cũng đã là con quay trên bàn cờ thế sự. Có lần ông tự hỏi rằng giá như ngày trước người ta đừng nại cớ phải đuổi Mỹ thì có phải đỡ tốn hao biết bao nhiêu thế hệ thanh niên. Ðánh nhau 30 năm để rồi cố đuổi ra lại phải mời vào, phí biết bao thời gian và thiệt biết bao tài nguyên đất nước. Bây giờ ai cũng ngậm tăm để thấy mình bị mắc lừa, chợt một lúc nào đó chỉ có gia đình ai bị mất mát người cha, người con, người anh, người chị, mới thấy mình chịu thiệt nhiều hơn hết. Rồi dòng đời cứ đẩy đưa, rồi bao nhiêu phen nước trôi đi nước lại trở về, mà nỗi đau vẫn cứ đành phải ngậm ngùi câm nín.

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Nhất Nghệ Tinh

Vũ Thị Thiên Thư
1
- Cô rữa dùm tấm ảnh nầy cho tôi có được không?
- Dạ chừng vài hôm nữa cháu làm xong thì bác đến lấy nhé.
- Ngày mai có được không?
- Sao gấp quá vậy bác .
- Ngày mốt là đám tang cháu rồi cô ơi !

Người đàn bà đội cái nón lá rách lên đầu,lom khom ra cửa, đôi mắt lạc thần, lặng lẽ bước đi .Nắng sớm chói chang, cơn mưa tối qua rữa sạch bụi đỏ trên lá câỵTôi nhìn xuống tấm ảnh còn cầm trên tay mình . Cô gái trẻ đôi mắt vô ưu, nụ cười rạng rỡ. Tôi nhớ như hôm qua, lúc chụp bức ảnh nầy, ngày cô hân hoan đến báo tin tốt nghiệp đại học .
- Cháu học xong rồi, may mắn xin được việc làm cho một công ty nước ngoài , họ còn hứa sẽ gởi cho cháu đi học thêm nữa đó .
- Cháu thật may mắn quá, bao giờ nhận việc ?
- Dạ đầu tháng saụ

Cô chẳng còn cái cơ hội tốt lành, chiếc xe tải nặng tối qua tung cả chiếc xe gắn máy và cô lên như con búp bê gẫy vụn.Người mẹ thất thiểu đã không còn nước mắt nữa để khóc con .Trời cao quá,sao lá vàng đã phải khóc lá xanh ?
2
Cô gái bước vào,màu da nâu mặn mà ,và đôi bàn tay của người quen với công việc đồng áng hàng ngày, thân thể căng tròn sức sống tuổi thanh xuân. nụ,cười thật tươi, thật rạng rỡ:
- Cô chụp cho cháu mấy cuộn phim đị cháu muốn chụp mấy kiều hình thật đẹp để dành treo chơi, tháng sau cháu đám cưới rồị

Tôi đưa cô gái vào trong, hai hàng tủ áo bày đầy các kiểu áo dài cũng như dạ phục, cô thơ thẩn vuốt cái nầy, sờ cái khác , tần ngần cầm lên rồi lại để xuống
- Cái màu đồng nầy coi cũng ngộ quá,hay cháu lấy cái màu hồng kia cô coi có được không? ừ ,cái màu vàng anh cũng sáng quá chứ.

Tôi mang hết mấy cái áo màu cho cô ướm thử. Cô thay hết cái nầy, sang cái khác, Lớp nhôm mỏng cách nhiệt trên trần nhà không đủ ngăn chận sức nóng buổi trưa, cái khăn tay ướt đẫm , tôi lại đưa lên lau giọt mồ hôi chảy dài , nóng thế nầy thì dù có tắm bao nhiêu lần cũng không đủ mát. Nhìn xuống mấy cái áo đầm dài nằm vắt vẻo trên ghế, nghĩ đến lúc phải kéo nước giếng lên giặt giũ, xã phơị. .con Bé lại lầu bầu vì phải giặt thêm mấy cái nữa tối naỵ Chong chóng quạt diện quay cuống cuồng xua hơi nóng chạy vòng quanh.Lớp phấn bột vừa tô lên mặt lại lăn dài theo giọt mồ hôi, cô gái luôn miệng nhắc nhở
- Cô đánh phấn cho mặt cháu thật trắng nhé.

Tôi thay cuộn phim mới ,nhìn vào khung, cố tìm góc cạnh, tôi ao ước mình có chiếc đủa thần của bà tiên huyền diệu để biến dạng cô gái ngây thơ thành nàng công chúa lộng lẫy, dù chỉ dược đến nửa đêm thôi…

3
- Cô ơi ! tôi muốn chụp hình thẻ lấy gấp
- Ngày mai tới lấy nhé
- Sáng mai phải có hình mới xuống huyện kịp
- Ðược rồi, sáng sớm ngày mai vậỵ.

Lại khốn khổ với mấy tấm ảnh chứng minh nhân dân, cũng may mắn là mùa chụp hình làm thẻ của học sinh đã quạTội nghiệp cho bố mẹ vừa lo chạy tiền trường, mua sách vở cho con còn phải lo tiền chụp hình làm thẻ học sinh.Có nhiều người chạy cơm hàng ngày đã bửa no bửa đói thì nói chi đến chuyện lo học với hành?

Tôi đi học nghề chụp ảnh từ một cửa hàng trên chợ tỉnh lỵ .Cậu tôi giúp ít vốn mua dụng cụ và đóng học phí.Lần đầu tiên, khi Cậu về thăm gia đình sau mấy chục năm xa cách , nhìn cả bầy con gái lam lũ gánh từng thùng nước tưới rau, hái từng gương sen bó lại mang ra chợ, cậu xót xa đến rơi nước mắt, cầm mấy đôi bàn tay chai nám. Anh tôi đi dạy học trên thị trấn, tiền lương giáo viên thật khiêm nhượng, nhưng công việc tương đối nhạ nhàng hơn, không phải một nắng hai sương. Mẹ và chị tôi ngồi may còm cõi thâu đêm cho kịp lúc giao hàng.Cậu vào ra nhìn cả nhà thở dài
- Mấy đứa phải chọn công việc gì làm cho nhẹ nhàng, con gái lớn lên mà hàng ngày lam lũ gánh gồng, trồng rau thật là cực nhọc, bán chẳng được bao nhiêu tiền. Chị Hai,sao chị không cho tụi nó đi học nghề gì khác hơn, đứa nào muốn đi học thêm thì Cậu cho tiền, xuống thành phố hay đi về tỉnh lỵ, nghề may vá hay nghề gì khác miễn không phải dãi nắng dầm mưa..

Anh tôi sau giờ dạy học lại chạy xuống tận thành phố lảnh hàng về cho mẹ và chị may, xong rồi lại tất tả đi giao hàng, đôi khi gặp những lúc không có hàng để mang về, chủ hẹn lại hôm sau, khi có khi không. những tháng mưa dầm dội mưa về người ướt loi ngoi, giọt vắn giọt dài, Cũng chính anh là người quyết đinh gởi tôi đi học nghề hình dưới tỉnh lỵ
- Em phải cố gắng học, phải chuyên tâm chú ý, người ta sẽ không truyền hết ngón nghề cho người khác đâu, học được càng nhiều càng tốt.

Lúc đầu, chưa quen việc, có lần chụp cả cuộn phim về không rữa lấy được tấm nào, tôi cầm cuộn phim mà lòng chết điếng . Nhưng nghĩ đến cả nhà đang chờ đợi, tôi cố gắng học hỏi thêm, mấy tháng mài miệt cũng giúp cho tôi một ít khái niệm cơ bản. Tôi chán cảnh đi học nghề mà bị đối xử như người làm, như con ở không công, chủ sai làm đủ thứ công việc , quần quật suốt ngày , mà công việc cần thiết là học nghề thì chỉ được phụ qua loa khi chủ quá bận , nên cuối cùng tôi xin thôị Anh lại an ủi và tốn thêm một mớ phim cho tôi thực tập. Những gì học được tôi cố gắng nhớ lại để mang ra thực hành, tìm được cách thức rồi truyền lại cho cả nhà .Mỗi người cùng đóng góp, cuối cùng chúng tôi cũng có một tay nghề kha khá để can đảm đứng ra mở hẳn một cửa hiệu
4
Cửa hiệu ảnh Quang Minh những ngày đầu thật khốn khó. Mấy chị em thay phiên nhau, một tên ở nhà trông cưả hiêu, một tên vác máy đi chụp cho đám tiệc ở xa .Có ngày phải theo khách hàng về những thôn cùng xóm tận, theo họ nhà trai sang nhà gái đón dâu, rồi lại trở về nhà trai đãi đằng hai họ,đi về mất cả ngàỵ

Ðám cưới ỡ thôn quê, mấy mái nhà tranh lụp xụp, đôi mâm rượu thịt, chén anh chén tôi, chén cha chén chú, cuối cùng thì ghế anh xuôi trai đập vỡ đầu anh xuôi gái, lỏ dở, tôi bỏ chạy mất cả công lẩn lời…Mấy năm sau gặp lại, con đàn cháu đống hể hả cười vui..

Chưa kể mừng đầy tháng thôi nôi, xuôi gia hai bên đều muốn chụp mấy tấm hình lưu niệm. Hoặc khi bà con thân nhân từ xa đến thăm, cũng là dịp để chụp hình. Cái khổ nhất là không thể giải thích, giá cả đã thương lượng, vẩn muốn chụp thật nhiều tấm theo ý khách hàng, tôi làm mà trong lòng tật đắn đo, chụp bấy nhiêu tấm? Nhiều quá, như vậy họ có đủ tiền để trả công ?Trong cửa hiệu của tôi vẩn còn một xấp hình, đám cưới, tiệc tùng đã vãn từ lâu, mấy cuộn phim hình đã làm xong, nhắn đã đôi lần, nhưng vẩn chưa thấy người đến nhận, như vậy lại cầm vốn, và không có lời.

Lần theo một đám Việt Kiều áo gấm về tận trong quê mới là khốn khổ, chỉ mới vài năm trước đây tiếng Việt là tiếng mà còn phát âm sai, bây giờ đã lên mặt ê a chen vào câu dăm ba tiếng Mỹ, Không biết nước nôi ở xứ văn minh mầu nhiệm thế nào mà lột lưỡi người ta nhanh hơn nhồng, chưa kểcon cái thì tên tuổi , mặt mũi da vàng ngày cất bước ra đi, khi trở về thì thằng Nam con Nguyệt … đã biến đi thay vào những tên Ðê dịch , Mơ li xa….lạ hoắc lạ quơ, tên con cháu mà mà ông bà trệu trạo mãi không phát âm dược, thật là trớ trêu.

Nhưng nghề của mình là làm công kiếm tiền, người thuê sao làm vậy, nhắm mắt, bịt tai, kiếm chén cơm hàng ngày đã khó, nói gì đến những chuyên buồn vui cười ra nước mắt …
5
Trong chợ huyện chỉ có hai cửa hiệu chụp hình, cửa hiệu của chúng tôi sinh sau đẻ muộn, gặp nhiều khó khăn. Vì cần thiết trong việc giao dịch để kiếm ăn, cũng như mặt trời rọi phía nào thì che phía đó, đôi khi cũng phải vác máy đi chụp chùa , theo công an Huyện đi chụp tang chứng hay hình cá nhân làm hồ sơ tội phạm. Sợ nhất là những tai nạn xe cộ. Ðến nơi nhìn thấy cái áo mưa bằng nylon phủ lên là biết nạn nhân không còn sống nữạ Ðôi khi cố không dám nhìn vào đôi mắt trắng trừng oan ức, thân thể ngoặt nghẹo, tay chân lặt lìa hay cái đầu không còn hình thể tròn trịa bình thường. Hầu hết những tai nạn do xe cộ lấn nhau, đường lộ quá nhỏ hẹp, xe tranh nhau chạy nhanh, nhất là từ ngày xe gắn máy Trung quốc ào ạt đổ vào, giá xe hạ xuống, chỉ cần vài triệu đồng là có thể mua một chiếc về chạỵ Chưa có luật cho xe gắn máy, lái xe không cần hạn tuổi, đôi khi chưa dựng nổi chiếc xe là đã nhào lên chạy bán mạng, đường đá, đường đất, tháng nắng bụi mù, mùa mưa lầy lội…chuyện tai nạn như cơm nước hàng ngàỵ

Bên cạnh những quán xá mọc lên như nấm hai bên đường quốc lộ, những tà áo màu thấp thoáng và tiếng nhạc ồn ào như đinh đóng vào taị Ngay cả những con đường hương lộ xa khuất trong rừng cao su bóng tối dày đặc, vẩn vang lên những âm thanh, tiếng nhạc và bóng hồng ẩn hiện cười đùa.
- A lô! Quang Minh đó hả, mang máy đến văn phòng huyện nhé, chúng tôi cần.

Khi Công an gọi bất ngờ như vậy, thường là những chuyện không tốt lành. Anh tôi nhận hết những khó khăn, như theo khách hàng đi xa, hay theo công an chụp xác chết…những cảnh mà bọn chúng tôi không can đảm cầm máy nhắm. Mỗi lần đi như vậy, về nhà cơm nước không nuốt nổi, nhiều khi thấy anh nằm thở dài, nhưng cuối cùng, vì công việc cần thiết, lại phải thân hành đi .

Anh tôi mang máy ảnh lên trụ sở huyện, công an vừa đi ruồng bắt một loạt, những cô gái mãi dâm trá hình trong các hàng quán karaoke, quán nước…chụp biên bản để giải xuống tỉnh, công việc không thích thú chút nàọ Anh lặng lẽ cho phim vào máy, chụp từng người, nhìn thẳng, xoay nghiêng, xong một người, người kế tiếp…trong ống kính, những khuôn mặt chưa chùi sạch phấn son, những nét mệt mõi in hằn, đôi mắt vô hồn, bên cạnh những khuôn mặt chưa hết nét thơ ngây, anh như cái máy tự động, bấm, lên phim…tưởng là mình đã chai đá, đã đóng kín những cảm giác, những xót xa, cái nghề bán phấn buôn hương, có từ bao giờ, và bao giờ mới dứt ? nghiệp chướng gì phải đi làm nghề mua vui cho thiên hạ.
- Cô ơi! Ngước mặt lên
Cô gái từ từ nâng cái càm nhỏ như cố đở lấy khuôn mặt, đôi mắt đỏ oe
- Thưa thầy …
Anh thẩn thờ, cái máy ảnh như khối đá nghìn cân



Vũ Thị Thiên Thư
10/01


Mục Lục


6. Trăng nước Tầm Dương

Hạt Cát



Dạ thâm giang thủy tâm vu hoang
Ðãng đãng vân thiên quyển điệu đàn
Lãng phách thiết tha hàm thán tứ
Nguyệt minh u uất yểm sầu nhan
Thiên thu hiểu vãn đa tồn thất
Chích ảnh hôn triêu kỷ hợp phân
Tịch chử linh đinh hồn viễn xứ
Bạc chu hàn dạ sầu mang mang
*****
Sông nước chèo khuya dạ ngổn ngang,
Trời mây lồng lộng quyện cung đàn.
Nỉ non sóng vỗ niềm than thở,
Ray rứt trăng soi mặt héo hon.
Nghìn thu sớm tối bao còn mất,
Một bóng mai chiều mấy hợp tan.
Bến vắng chơi vơi hồn viễn xứ,
Ðò neo đêm lạnh sầu mang mang.
*********
Trăng đêm nay đẹp quá.
Trăng dằng dặc mênh mông trời nước .
Trăng nhỏ từng giọt,từng giọt lung linh mặt sóng lao xao,trăng lấp lánh ngân nhũ đong đưa hàng liễu rũ.
Trăng huyễn hoặc mông lung.Trăng ảo mờ sương khói.
Trăng kết ngọc,dát vàng bãi sậy bờ lau.

Chân trời thăm thẳm,ngàn sao nhấp nháy trường không .
Ðom đóm lập lòe bóng ma trơi thấp thoáng lùm cây bụi cỏ,côn trùng rỉ rả tiếng vọng âm cung văng vẳng xa xôi.
Gió phất phơ ngọn cỏ hiu hiu mang theo chút hơi hướm rong rêu lãng đãng mạn thuyền,gió vỗ về lượn sóng nhấp nhô xô dạt chân cầu xào xạc v.v...

Chao ôi ! Ðất trời hạo đãng như thế đó, ánh trăng diễm lệ như thế đó,mà nàng,Cầm Nương,một mình,ngồi cạnh mạn thuyền buông neo bên dòng nước bồng bềnh sóng bạc. Hỡi ơi !

Nhất phiến nguyệt hàn lạc sấu nhan
Dạ thâm khuê đẩu trụy trường giang
Mặc mặc tinh cầu luân chuyển lão
Man man cô tịch dữ thùy phân ?

Dữ thùy phân ! Dữ thùy phân !
****
Lạnh lẽo viền trăng soi má nhạt,
Ðằng đẵng sông dài sao rớt khuya.
Lặng lẽ tinh cầu xoay chuyển mãi
Cô đơn vời vợi biết ai chia ???

Biết ai chia ! Biết ai chia !
Không có ai cả !
Trước sau chỉ một mình nàng đối nguyệt trầm tư !

Cầm Nương ngắm bóng,ngắm trăng nghĩ ngợi miên man.
Trời trăng mây nước bao la bát ngát diễm lệ vô cùng, nó khiến lòng thế nhân chìm đắm vào một cõi hư hư huyễn huyễn.Ánh trăng kia đã chiếu xuống trần gian từ bao đời bao kiếp, đã chứng kiến biết bao thịnh suy của cõi nhân gian ,của một đời người. Ôi ! Ánh trăng nào soi mặt chinh phu quạnh hiu gió cát,còn ánh trăng nào ngậm ngùi phòng khuê lạnh lẽo canh khuya ? Ánh trăng nào theo dấu Minh phi Hán Hồ lưu lạc,còn ánh trăng nào rơi rụng chuông ngân trên bến Phong Kiều ? Từ thủa khai thiên lập địa thăm thẳm hoang sơ,nguyệt cầu kia đã là niềm cảm hứng vô tận cho nhân thế.Con người đã tốn biết bao bút mực,tim óc để ngợi ca cái ánh sáng huyền hoặc này,thậm chí đã có người nhảy xuống nước ôm trăng mà chết,thử hỏi nếu trăng không quyến rũ thì sao có thể như vậy. Tưởng tượng rằng một ngày nào đó nguyệt cầu kia tự dưng vắng bóng thì thế gian này sẽ ảm đạm ra sao .Chao ôi,một kiếp người ngắn ngủi biết bao so với ánh trăng chiếu ngời trong vạn đại.
Vạn đại ! Vạn đại !
Vạn đại bắt đầu từ bao giờ và bao giờ sẽ chấm dứt, sau ta rồi sẽ là ai cho vầng trăng ấy sáng soịChỗ ta ngồi hôm nay,nghìn xưa ai đã từng ngồi ? Một câu hỏi không có câu trả lời .Nhất định là như thế,ai có đủ thẩm quyền để trả lời câu hỏi kia,nàng chẳng biết,chỉ thấy dòng sông cứ miên man trôi chảy,trôi chảy không ngừng.Bấc giác mấy câu thơ đời trước hiện về,nàng ngậm ngùi cảm ngộ,người xưa đã chẳng từng than thở thế ư ???
…………
……………..
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt,
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân.
Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
Ðản kiến trường giang tống lưu thủy
(XGHND-Trương Nhược Hư )
…………………..
Người bên sông ai nhìn trăng trước,
Trăng soi người buổi trước năm nao
Ðời đời kiếp sống nối nhau
Tháng năm sông nước trăng sao vẫn cùng
Chẳng biết trăng soi chung ai đấy
Chỉ thấy dòng nước chảy miên man …
---------------------
Chao ôi !
Nguyệt thủy nhất phương !
Trăng nước một vùng !
Tịch mịch ! Thậm tịch mịch !

Cái không gian tịch mịch này,Cầm Nương đã đối diện với nó không biết từ bao giờ.Tuy vậy,nó vẫn không đáng sợ bằng nỗi tịch mịch trong lòng của nàng. Người ta nói đáng sợ nhất là cái tịch mịch trong lòng người đàn bà khi về chiềụKhông phải chính là nàng bây giờ hay sao?
Tâm tư Cầm Nương chùng xuống, chùng xuống thật sâu.
Nàng ngồi đó,ngồi bên mạn thuyền, rất lâu,rất lặng lẽ,lòng nàng chìm theo tiếng nước trôi sóng vỗ,tiếng vạc kêu sương.Mắt nàng ngắm những tảng mây bay qua tầng không trong vắt ánh trăng nhưng lòng nàng trôi theo làn nước miên man xuôi tận cuối dòng.Không thấy gì cả,không một bóng con thuyền nào thấp thoáng cho nàng khởi lên niềm hy vọng,hy vọng trông thấy một hình ảnh quen thuộc đang trở về,dù chỉ là hy vọng thoáng qua rồi tan biến.

Sương xuống hơi nhiều,không gian chớm thu chừng như giăng thêm tơ mới,mông lung hơn,huyền ảo hơn.Nàng nghe lành lạnh bờ vai,bất giác,nàng đưa đôi tay gầy guộc ôm choàng bờ vai nhỏ bé của mình.Ðã lâu,đã lâu,bờ vai của nàng dường như quên mất cái thói quen tựa vào vai của người khác,nó trống trải,nó lẽ loi quá .

Bấc giác,nàng nhìn lại đôi tay của mình.Dưới ánh trăng diễm ảo,đôi tay nàng vẫn nổi bật lên một màu trắng muốt. Ôi ! Ðôi bàn tay của nàng. Ðôi bàn tay một thời khoấy động chốn Ngũ Lăng, đôi bàn tay một thời khiến lòng người điên đảo.

Nàng nhớ quá những trận cười hào sảng,nàng nhớ quá những lụa đỏ khăn hồng .Nàng nhớ chung Lục Nghị sóng sánh màu hổ phách,nhớ chung Bồ Ðào phơn phớt sắc ráng pha…Lâng lâng,lâng lâng men rượu ngọt. Nao nao, nao nao sóng hồ thu…Tất cả những hình ảnh ấy đã chìm sâu vào dĩ vãng xa lắc xa lợThu ba đào kiểm Má phấn môi hồng! Chao ôi ! Còn nhắc làm chi nữa . Ðã là dĩ vãng ! Ðã là dĩ vãng ! Giờ này còn gần gũi với nàng nhất, còn trung thành với nàng nhất,họa chăng là chiếc tỳ bà cũ kỹ thiết thân.Nàng thở dài thán tức, không dừng được cảm hoài,nàng đứng lên khom lưng đi vào khoang thuyền,nàng khêu ngọn bạch lạp,vói tay lên vách đỡ nhẹ cây tỳ bà xuống .Ôm đàn vào lòng,nàng nhẹ nhàng vuốt ve những phím tơ như đang vuốt ve một đứa trẻ thợNàng mường tượng nàng đang sờ vào đầu nó,sờ vào má nó, đôi má thơm lừng hơi sữa ngọt ngàọNàng áp mặt lên bụng đàn thon thả bóng nhẵn hít vào phế nang mùi hương quen thuộc của chất gỗ thấm đẫm hơi tay nàng. Nàng đã sờ vào đó,chạm vào đó không biết bao nhiêu lần mà nói,mấy chục năm qua có đêm nào nàng không ít nhất một lần nâng niu nó,dù nàng có nhã hứng hay không có nhã hứng khảy nên cung bậc, nàng vẫn săm soi nó như săm soi một món cổ ngoạn quý giá.Ðã từ bao năm nay nó là vật bất ly thân của nàng .

Ðêm nay trăng đẹp quá,lòng nàng mênh mông quá,tâm sự trùng trùng của nàng chỉ có thể gửi gấm cùng mây cùng gió, cùng tiếng đàn dặt dìu khoan nhặt .Nước trời lồng lộng bao la,một thuyền một lái bỏ neo đêm vắng lạnh lùng,nàng biết tỏ bày mối cảm hoài với ai ngoài tiếng đàn của nàng .

Khoác thêm chiếc áo, ôm cây đàn trong tay,nàng lại khom lưng bước ra đầu thuyền .Nàng chẫm rãi khơi một đỉnh trầm,khói hương thoang thoảng quyện vào không gian tịch mặc khiến nàng không dám chuyển động mạnh,nàng nhẹ nhàng ngồi xuống khoanh chân,thẳng lưng,hít thở mấy hơi dài,chiếc đàn đã đứng gọn nghiêng nghiêng trong lòng,nàng bắt đầu nắn phím,so tơ, đôi tay nàng nhẹ nhàng lướt qua hàng phím, những âm thanh trầm trầm bổng bổng run rẫy vang lên.Nàng khép hai hàng mi lại,thôi không nhìn, không ngắm trời mây nữạTrong bóng đêm mờ ảo ánh trăng, nàng có mở mắt cũng không thấy được gì nhưng cho dù nàng có nhắm mắt đi nữa thì nàng vẫn thấy rõ mồn một từng phím,từng phím tơ của nàng ,từng vị trí cung bậc của thang âm,nàng đã quá quen thuộc với nó. Ðôi tay của nàng có gầy guộc xanh xao hơn nhưng vẫn còn nhanh nhẹn,vẫn còn nhạy bén trong việc thay đổi vị trí cung bậc .Làm sao nàng có thể quên được chứ,làm sao nàng có thể chậm được chứ,nàng và đàn đã hòa làm một từ lâu,máu thịt,hơi thở của nàng được tiếp tục sinh tồn là nhờ âm thanh dìu dặt réo rắt của tiếng đàn kia mà .Nàng nhắm nghiền đôi mắt nhưng đôi tai của nàng vẫn tinh nhạy vô cùng,tiếng đàn réo rắt nhặt khoan hòa lẫn tiếng gió vi vu xào xạc,tiếng sóng vỗ rì rào,tiếng côn trùng rỉ rả. Ôi !Còn có bản hợp tấu nào vượt qua nổi bản hợp tấu đặc biệt này,nàng đắm chìm trong tiếng đàn của mình, đôi tay nàng lướt trên phím đàn một cách vô tâm vô thức,nàng quên hết phiền muộn,quên hết chờ đợi nhớ nhung,quên hết trời rộng đất dàỵKìa là hình ảnh chập chờn thủa trước,xuân thắm má đào, chúc quang rực rỡ,tử y hồng quần thướt tha quấn quít theo cung đàn tiếng nhạc,kìa là những khuôn mặt thẫn thờ ,những đôi mắt đam mê dõi theo dải lụa quay tít của nàng .Leng keng ngọc bội kim hoàn,lách cách cung thương sênh phách,những âm thanh ma mị ru hồn người văng vẳng bên tai. Ðắm chìm ! Ðắm chìm !Mê man !Mê man !!!Nàng không nhớ,không biết mình là ai nữa .

@@@@@@@@@

Tiếng đàn réo rắt quá như gió lướt rừng thông,tiếng đàn nỉ non quá như ve sầu khóc hạ,tiếng đàn miên man như nước cuốn Trường Giang,tiếng đàn thánh thót như mưa rơi phiến đá.Cung bậc ấy,thanh âm ấy hẳn là phải do một bàn tay ngà ngọc chuốt trau .Chao ôi ,ở chỗ đất thô lậu này sao lại có thể sản sinh một dìệu thủ như vậy .Tư Mã Giang Châu ghìm cương ngựa lại lắng nghe . Ðêm thu quạnh quẽ, lác đác lá phong,hơi may se sắt lướt qua .Chàng chợt nhớ đến tấm áo choàng hãy còn nằm vắt vẻo trên yên ngựa,tấm áo choàng màu xanh của chàng đã cũ kỹ,bông đã sờn đôi chỗ nhưng Tư Mã chẳng màng thay đổi,thân phận trích thần như chàng có vui gì,có thích gì mà xênh xang áo mũ .Quanh năm đối mặt với đám dân đen chơn chất nghèo nàn ở chốn sơn lam chướng khí này,chàng có ăn mặc đẹp cũng chẳng lấy làm hãnh diện với aịLúc còn bé ở Từ Châu,chàng đã sống qua những tháng năm loạn lạc,mắt thấy dân tình điêu đứng khổ sở bởi họa binh đao và bị nhũng nhiễu bóc lột bởi đám quan lại tham ô nên chàng thấu hiểu những nỗi thống khổ của người dân quê,rồi khi trưởng thành, được cơ hội lên kinh đô Trường An,thi cử đỗ đạt,bắt đầu lui tới trong chốn quan trường, căm ghét bọn triều thần hủ bại thối nát, dùng ngòi bút lời thơ của mình mà đả kích khiến chàng trở thành cái gai trong mắt những kẻ nắm trọng quyền, và cũng vì thế mà chàng hết bị đày biếm chốn này đến trích giáng xứ kia,toàn là những chốn mà bọn quan lại sâu mọt chán chê vì chẳng có gì để gặm nhắm, thì hỏi sao dân tình không cơ cực điêu linh. Người dân quê chất phát tay lấm chân bùn chưa dám nghĩ đến việc ăn no mặc ấm,huống hồ là ăn ngon mặc đẹp.Chàng đành lòng nào áo mão xun xoẹTư Mã kéo tấm áo khoác lên mình rồi nhìn sang bạn,cả hai không nói lời nào nhưng cả hai đều hiểu,tiếng đàn kia đã làm cho buổi đưa tiễn hôm nay bị đình trệ mất rồi .Men rượu vừa nâng toan uống đã không đủ làm ấm lòng hai kẻ sắp chia tay,sông nước mênh mông bàng bạc một màu trăng,buồn biết mấy,không đàn không sáọVậy mà,vó ngựa chàng vừa dợm bước đi thì bỗng đâu trỗi lên tiếng đàn dìu dặt khoan thai này, bảo sao chàng không ghìm cương ngựa được.Người bằng hữu của chàng dường như cũng đã dừng chèo,cũng đang lắng nghe như chàng.Tiếng đàn tuyệt vời mang theo âm hưởng kinh thành từ đâu mà vang vọng tới đây? Ðã hai năm qua kể từ ngày giã biệt đế khuyết phụng hành trích giáng ,chàng không được nghe những tiết điệu nhã nhạc của chốn phồn hoa đô hội nữạDường như tiếng đàn lãng đãng trôi theo dòng nước quanh đây,vậy là đâu đó trên sông khuya có một con người đang mang mang tâm sự.Tư Mã quày quả xuống ngựa,chàng dắt ngựa cột vào gốc cây phong đứng trơ vơ bên cạnh thủy đình rồi ra dấu cho thuyền ghé sát độ kiều để chàng bước xuống,chàng khoát tay với bạn "Ta hãy đi tìm tông tích tiếng đàn kia".

(còn tiếp một kỳ)

Hạt Cát




Mục Lục


7. NGƯỜI TÌNH MUÔN THUỞ

Nguyên Cương Andy



Năm tôi học lớp đệ nhị, một hôm thầy giáo giảng văn Nguyễn Ðăng Dị nổi hứng cho đề luận: "Hãy diễn tả người bạn trăm năm trong tương lai của trò và phân tích vì sao trò chọn người hôn phối có những đặc tính đó" . Học sinh đọc đề rồi nhìn nhau ngơ ngác . Câu hỏi thật bất ngờ, thật táo bạo đối với một trường trung học vốn rất bảo thủ như ngôi trường công giáo của tôi do linh mục Vũ Ngọc Tấn làm hiệu trưởng . Ðề tài ấy chưa bao giờ được đưa ra bàn cãi trong hay ngoài lớp, vì dưới mắt các thầy cô và phụ huynh, chúng tôi chỉ là lũ con nít, không nên để tâm đến chuyện lứa đôi vì sẽ làm xao nhãng việc học . Việc chọn người bạn đời là việc của người lớn, trẻ con thì biết cái gì ? Bằng cái mắt muỗi mà đã tấp tểnh trai gái! là câu mắng quen thuộc cha mẹ hay dành cho con cái nếu thấy chúng bắt đầu bước vào tuổi lãng mạn . Ngay cả giữa bạn bè con trai với nhau, chúng tôi cũng không bao giờ bàn luận về vấn đề mẫu người lý tưởng vì cảm thấy thiếu tự nhiên .

Nhưng với riêng tôi, bài luận ấy mở ra một cánh cửa đầy thú vị . Tôi không hề bị đề tài cấp tiến đó làm mình ngại ngùng phơi bầy ý tưởng; mà trái lại còn thấy đó là một cơ hội tốt để viết ra những gì mình đã nhiều lần nghĩ đến nhưng không dám nói ra . Vợ mình sẽ ra sao ư ? Dễ lắm . Nàng sẽ phải là người nhan sắc nguyệt thẹn hoa nhường, giọng nói dịu dàng với một tâm hồn đôn hậu nhưng mơ mộng, tài sắc vẹn toàn, công dung ngôn hạnh v .v . . . Tôi hùng hục gom lại tất cả những mỹ từ để nói về các nhân vật nữ trong những tiểu thuyết mà tôi đã đọc được, từ Loan của Nhất Linh, Mai của Khái Hưng đến Vương Ngọc Yến và Doanh Doanh của Kim Dung rồi đúc kết thành một người mẫu tả trong bài bình giảng rồi nộp lên, những tưởng như thế là đúng ý nhà mô phạm, chắc chắn thế nào cũng kiếm điểm cao . Nhưng thày tôi, nhà văn Nguyễn Ðăng Dị quả thật là . . . dị . Sau khi xem xong bài luận của tôi ông phê: "Tư tưởng quá tầm thường và ước lệ, thiếu phong phú, thiếu óc sáng tạo!" và cho tôi mười một điểm trên hai mươi . Hôm nhận lại bài nhìn số điểm tôi bàng hoàng tự hỏi đáng lẽ ra phải viết thế nào thì mới là có óc sáng tạo ? Khi phê bình bài của tôi trong lớp thầøy Dị giải thích điều này như sau :

- Viết như anh Trường thì trẻ con lớp nhất nó cũng viết được . Anh dùng toàn sáo ngữ, lập lại những lời đã đọc được trong các sách tiểu thuyết . Ðó là lối văn từ chương ngày xưa . Văn mới bây giờ nhân vật không cần phải hoàn toàn mà cần phải có bản sắc, tiếng tây gọi là ca-rắc-te . Không có ca-rắc-te thì nhân vật chỉ là một bức tranh đẹp nhưng vô hồn, gây nhàm chán cho người đọc .

Ngừng một chút thầy tiếp :

- Tranh cổ xưa của người họa sĩ từ thời phục hưng trở về trước chỉ lấy những đề tài cao sang hoặc mỹ lệ . Nhưng sau khi trường phái ấn tượng ra đời rồi đến các khuynh hướng sau này sản xuất ra biết bao nhiêu họa phẩm tuyệt tác, các đề tài chỉ là những vật tầm thường đầy những khuyết điểm, nhưng chỉ cần có bản sắc .

Tôi nghiền ngẫm lời thầy, và cảm thấy thật chí lý . Những lời khuôn vàng thước ngọc ấy từ từ thấm vào vô thức tôi trong nhiều năm sau với một mãnh lực âm thầm thế nào mà đến lúc hai mươi ba tuổi tôi đã gặp Ly - người vợ yêu của tôi sau này - người hội đủ những tính chất mà thầy Dị cho là cần thiết để làm nhân vật chính cho một bài luận văn có giá trị và không ước lệ . Quả thật, nếu thầy Dị còn ở lại Việt Nam sau bảy lăm ắt sẽ hãnh diện vì thằng học trò ruột của mình đã thực hiện đúng lời thầy dạy . Chỉ hơi khác một điều là thay vì lời thày dạy chỉ để áp dụng trong văn chương, tôi lại đem vào để áp dụng cho chính cuộc đời của mình . Thế mới là chết dở !

Nàng tên là Bùi thị Cao Ly . Nghe nội cái tên không, cũng đủ ngộ . Tương truyền nàng được sinh ra ở Ðà Lạt gần thác Cam Ly, nên bố nàng định lấy tên giòng thác nên thơ đặt cho con gái, nhưng mẹ nàng không thích chữ Cam vì nó vừa mang âm hưởng một loại trái cây vừa có nghĩa là cam chịu, nên bắt phải đổi đi đôi chút . Riêng tôi, một chiều đẹp trời mùa hạ năm xưa ở Sài Gòn, khi được biết tên nàng lần đầu tiên liền rất đỗi là ngạc nhiên . Tôi buột miệng hỏi :

- Bộ ba cô người Ðại Hàn ?

Ðây chỉ là một trong những thí dụ về những câu nói lãng nhách không đúng lúc của tôi . Tuy vẫn biết rằng mình vốn cực kỳ vô duyên, nhưng thông thường tôi không bao giờ hãm phanh kịp khi gặp sự gì có vẻ interesting . Như mọi lần khác, mới há miệng hỏi xong là tôi biết mình vừa phun ra something stupid . Hỏi như thế có khác nào bảo mẹ nàng là me Mỹ ?

Nhưng đã quá muộn . Ly lừ mắt nhìn tôi :
- Anh chắc hay nói nhảm lắm phải không ?

Nói xong nàng nguýt tôi thêm một cái nữa rồi quày quả bỏ đi sang nhóm bạn gái .

Ngày hôm đó là ngày định mệnh của đời tôi . Trường Ðại Học Tổng Hợp, khoa Sinh Vật vừa trở về từ nông trường Nhị Xuân sau hai tuần lễ lao động . Buổi văn nghệ hôm đó được chi đoàn tổ chức để đón mừng chúng tôi, các nhà trí thức trẻ của thế hệ mai sau đã thấm nhuần tình yêu lao động để đào tạo thành một đội ngũ vừa hồng vừa chuyên . Các tiết mục tham gia gồm có một màn vũ dân tộc ít người, ba bốn bản đơn ca và hai bản hợp ca . Văn nghệ vốn là nghề của tôi . Ngoài phần tham dự vào hai bản hợp ca là Sông Lô và Anh Em Ơi Tấc Ðất Tấc Vàng, tôi còn phục vụ thêm một bài đơn ca Ðời Gọi Em Biết Bao Lần, một sáng tác đang ăn khách của Trịnh Công Sơn . Nhạc cụ chỉ có hai cây đàn ghi ta, hệ thống ăm-pli khi thì ọc ạch phều phào như giọng ông lão tám mươi, khi thì ré lên như trẻ con thiếu sữa . Nhưng như thế cũng chẳng sao, vì những trái tim non đầy nhiệt huyết của chúng tôi rất dễ tìm thấy nguồn vui . Dưới ánh đèn lòe loẹt chiếu qua từ cái carrousel quay hì hục bằng tay có dán những miếng giấy bóng kính tròn đủ màu, chúng tôi gân cổ hát . Ðám khán giả sinh viên, đã quá quen với các tiết mục nghèo nàn và trình độ yếu kém của các buổi văn nghệ đại học, tỏ ra rất khoan hồng trong sự thưởng ngoạn . Họ không bao giờ la ó khi màn trình diễn có dở đến đâu chăng nữa . Ví dụ điển hình là màn đơn ca của tôi, Lê Trường, ca sĩ chính của lớp C ban sinh vật . Bản nhạc đó tôi thuộc nằm lòng từng gam một . Khổ nỗi cây ghi ta của ban văn nghệ lớp mà tôi phải sử dụng hôm nay tên nào đã vặn cao lên cả hai ba tông so với cây đàn của tôi ở nhà . Do đó khi hát tới những nốt cao của bản nhạc, giọng ca ngày thường rất trầm ấm của tôi đã trở thành the thé như âm thanh của Nhạc Bất Quần sau khi luyện xong Tịch Tà Kiếm Phổ, tiếng chuyên nghiệp gọi là bể dĩa . Nhưng cử tọa không hề phàn nàn và vẫn dành cho người hát những tràng pháo tay dòn dã khi tôi cúi đầu chào để chấm dứt phần trình diễn .

Xuống sân khấu, tôi bước nhanh về dãy bàn của đám bạn con trai . Khi đi ngang mấy bàn đầu của giảng đường bỗng tôi nghe có một giọng nữ :
- Lê Trường hát hay qua !

Nghe tiếng quen tôi quay lại, nhìn ra người gọi . Ðó là Bùi thị Báu, cô bạn cùng tổ học tập với tôi, sắp thôi học để lập gia đình vào tháng tới . Báu vẫy tôi lại gần, vỗ tay khích lệ màn đơn ca của tôi rồi nói tiếp:
- Bữa đám cưới mình tháng tới, Trường hát dùm vài bản được không ?

Tôi mỉm cười gật đầu, hãnh diện nhìn các bạn cùng lớp ngồi gần đó, nhưng mọi người đang chăm chú nghe xướng ngôn viên giới thiệu tiết mục kế tiếp chẳng ai thèm để ý tới chàng ca sĩ đầy triển vọng . Ðang định quay bước bỗng mắt tôi ngừng lại ở bên cạnh Báu . Một người con gái mặc chiếc áo xanh lam viền ren trắng, tóc thề xõa ngang vai, hao hao giống Báu cũng đang nhìn tôi với đôi mắt ngây thơ đen huyền thật đẹp . Người con gái còn quá trẻ, chắc chắn không học lớp tôi vì tôi chưa gặp bao giờ . Thấy tôi đứng nhìn không chớp mắt Báu vội vàng xua tay :

- Thôi đi đi ông tướng, đừng có lộn xộn . Ðây là em gái của mình đó, còn nhỏ lắm, mới học lớp mười hai .

Tôi vẫn còn nhớ mãi cái phút ban đầu lưu luyến ấy . Nếu ngày xưa một thi nhân đã nói vì yêu em anh trở thành thi sĩ thì thật đúng với trường hợp của tôi bây giờ biết bao, vì khi trở về chỗ ngồi tôi đã hí hoáy sáng tác được một bài thơ bốn câu :
Gặp em một chiều khuôn viên rợp mát
Tuổi em hồng tựa từng phiến mây trôi
Ta ngỡ mình như cánh nhạn lưng trời
Xin em giữ hộ ta niềm xao xuyến

Sau này mỗi lần đọc lại bốn câu thơ đó tôi vẫn còn phục cho tuyệt kỹ Thiết Diện Bì của mình . Rõ thơ con cóc đến thế mà vẫn can đảm mang đi tán gái thì lì thật !

Nhưng cuối cùng thì bài thơ đó đã làm nên lịch sử . Cao Ly đọc xong cảm động vì những lời thơ ướt át, và sau đó, nàng đã chịu liếc mắt ngó qua tờ đơn xin "một chỗ ngồi trong trái tim" của nhà thi sĩ mầm non . Từ đó, tôi đến chơi nhà chị Báu luôn, mối tình chúng tôi ngày một nở hoa và tôi định năm sau ra trường sẽ xin phép gia đình cưới nàng . Nhưng một trở ngại khiến cho cuộc nhân duyên của chúng tôi suýt nữa tan theo bọt nước: một ông thầy bói, tên là Tổng Dần, cựu chánh tổng quen thân với gia đình nàng từ ngoài Hải Dương sau khi biết tôi tuổi Dậu nàng tuổi Mẹo đã phán rằng Tý Ngọ Mẹo Dậu bất khả phối ngẫu . Nghe qua thì có lý, nhưng theo tiếng Tàu thì con giáp mẹo thực ra là con thỏ, chứ không phải là con mèo . Tôi đem lý luận này để cãi với ông thầy bói, thì ông ta đâm tức và nói xấu tôi với mẹ nàng :
- Tôi xem cậu này chẳng những số không hạp với cô Ly mà lại còn mang tánh hay lý sự . Gả hay không là tùy ý bà, tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm . Ở đây chỗ đồng hương tôi chỉ nói theo sách vở thánh hiền để lại . Vả lại, cô Ly là con mèo, cậu đó con gà . Bà có nghe người ta bảo “mèo mả gà đồng” hay không ?

Lời phán thâm độc này từ miệng một tiên tri thử hỏi làm sao mà mẹ Ly dám mạo hiểm gả ái nữ cho tôi ? Sau này tôi còn được biết là ông thầy bói đó có một thằng con trai tuổi Sửu, thấy Cao Ly xinh đẹp muốn ngấm nghé nên ông ngoài việc phá đám tôi còn ra sức ca ngợi sự tương hợp giữa tuổi con ông ta và Ly :
- Con trâu dương cương mạnh khỏe, con mèo âm nhu yếu ớt, như thế là bổ túc cho nhau, hợp với nhau hết chỗ chê !

Mẹ nàng tuy tin lý luận ông thầy bói nhưng khi nghe đến con trai ông ta, thì bà quyết định rằng thà để con gái mình ở vậy còn hơn . Thằng con ông lêu lổng từ nhỏ, lớn lên theo bọn cách mạng ba mươi chẳng chịu học hành gì cả, hằng ngày vác AK47 ngồi ở trụ sở phường hoặc ra chợ An Ðông để đuổi các hàng quà bánh họp bán dọc theo các lối vào chợ . Tuy nhiên ông rất hãnh diện vì nhờ có thằng con này mà ông ta không bị đi cải tạo về tội hành nghề thầy bói . Mẹ Ly lo lắng ra về và phân vân cho đường chồng con của đứa con gái yêu, không biết làm thế nào để cung phu của nàng được toàn vẹn đôi đường . Hôm gia đình tôi đến để đánh tiếng, bà trả lời :
- Cậu Trường thì chúng tôi không có điều gì chê bai . Nhưng mà các cụ thường nói, Tý Ngọ Mẹo Dậu . . .

Tôi đã chuẩn bị từ trước nên chõ miệng đáp ngay : - Bác đừng lo, cháu quen một ông thầy Tàu chuyên môn cải tuổi . Ổng chỉ cần lập đàn cúng là cháu biến thành tuổi khác ngay lập tức .
Nghe vậy mẹ Ly mừng lắm . Bà hỏi dồn :
- Vậy hả ? Ông ấy cải số được hay sao ? Tên là ông gì ?

Tình hình thuận lợi thấy rõ, tôi nói tiếp :
- Thày Gia Cát Phương đường Khổng Tử chuyên cứu nhân độ thế, đã từng cải số cho bao nhiêu cặp vợ chồng ở Sài Gòn Chợ Lớn đó bác .

Thực ra cái thằng pháp sư ba tầu đó đã nhận mấy trăm bạc để đổi tuổi của tôi, chứ chẳng cứu nhân độ thế gì ráo . Ðể tiết kiệm thời giờ và tiền bạc, hắn lập đàn tập thể cho mười mấy thân chủ cùng một lúc, nên chỉ phải mua có một lần heo quay và tiền vàng mã . Chuyện đó không sao, miễn có lập đàn là được . Tôi xem trong mười hai con giáp, chỉ có con rồng là oai phong lẫm liệt hơn cả, nên tỏ ý được biến ra tuổi thìn . Ðược đổi cầm tinh, mất tiền dại gì mà không lựa ? Nhưng không biết quyển bí kíp thằng cha này tham khảo là loại gì mà hắn nằng nặc bắt tôi phải đổi thành tuổi tuất . Hắn bảo :
- Chó mèo đều là giống vật nuôi trong nhà . Chó giữ nhà, mèo bắt chuột, nghĩa là vợ chồng cùng có một chí hướng . Cung thê rất quan trọng, nếu trắc trở cần phải được bổ túc bằng phép hoán vị ( ? ) mới được toàn vẹn .

Ðúng là bói ra ma quét nhà ra rác, tôi nghĩ thầm . Mèo với chó thì hợp nhau cái . . . chó gì ? Thế còn câu nói dân gian “cắn nhau như chó với mèo” đâu sao không nhắc tới ? Nhưng cãi làm sao đặng, lạng quạng hắn không thèm nhận lễ để mặc tôi ở tuổi gà thì khốn, đừng hòng mà lấy được Ly . Thế là sau hôm đó, tôi bỗng mang cầm tinh của loài người ta gọi là "chẳng phải voi mà chẳng phải trâu". Âu cũng là số mệnh cả !

Lấy nhau xong được vài năm chúng tôi từ giã quê hương xuống ghe lên đường ra biển . Sau khi nằm ở các trại tỵ nạn hơn một năm, chúng tôi đến định cư trong một tỉnh nhỏ ở Arkansas . Tôi xin được chân chạy bàn cho Kentucky Fried Chicken, lương ít nhưng cũng tạm đủ sống . Ly làm phụ giảng cho những người Việt Nam mới đến học lớp ESL của YMCA . Thành phố nhỏ bé này quá hiu quạnh chỉ chạy xe chừng mươi phút đã hết phố nên chỉ ở đó có hơn hai năm tôi đã muốn dọn đi . Những người cùng xóm đều đã move xuống Houston, thỉnh thoảng trở lại thăm tôi để khoe về những cái vĩ đại của thành phố văn minh tráng lệ đó, y như sau 75 bộ đội miền Bắc về quê kể cho làng xóm nghe những sự lạ của Sài Gòn . Tôi bàn với Cao Ly ý định về Houston nhưng nàng bảo :
- Anh nhớ là bây giờ anh mang tuổi tuất . Con chó phải giữ nhà, phải ở một chỗ cố định . Nếu hay di chuyển, hay đi thì không tốt, thành ra chó chạy rông rồi còn gì ?

Nghe nhắc tới chuyện bị đổi thành tuổi chó năm xưa, nỗi uất ức cả hai cái thằng cha thầy bói Tổng Dần lẫn Gia Cát Phương tưởng đã quên bỗng chút xíu nữa bừng bừng quay lại . Vì vụ này mà hôm sinh nhật năm trước, tôi tức cảnh sinh tình sáng tác bài thơ lấy tựa là Hóa Thân :
Xưa ta mang đời kim kê oai dũng
Tuổi trời cho đã được định rành đây
Nhưng yêu em nên đành phải lưu đầy
Ðành giam mãi số phần trong mạng cẩu
Tuổi thât ta chính ra là tuổi dậu
Sao thế gian bày lắm chuyện ngu ngơ
Làm tao nhân luống hận tới bây giờ
Hờn ôm trọn trong nỗi buồn tuổi chó
p Tôi cố gắng bắt chước vẻ hào khí trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ, nhưng không thành công lắm vì giọng khuyển làm sao oai được như giọng hùm ? Cao Ly đọc thơ tôi, cười hinh hích rất là đắc chí . Với nàng, chuyện đổi tuổi của tôi là một chiến tích hào hùng mà nàng thường hãnh diện khoe với bạn bè rằng tôi đã yêu vợ đến nỗi đành đoạn hoán vị số mạng . Nhưng tôi không để nỗi buồn năm xưa nung nấu phá hỏng mưu đồ vĩ đại trong việc thoát ra khỏi cái thành phố buồn tênh này . Tôi bèn đổi chiến thuật, đánh đúng yếu điểm kẻ địch :
- Trên này phố xá nhỏ xíu . Ở dưới Houston có shopping nhiều lắm, tha hồ cho em đi mua sắm . Anh nghe nói nguyên cái Sharptown Mall không đã bự bằng năm lần cái mall lớn nhất trên này . Lại còn phố Việt phố Tầu đầy tiệm vàng của người Việt, vô số tiệm ăn ngon . Món bánh canh Trảng Bàng trên đó nghe nói còn ngon hơn tiệm bánh canh đường Lý Thái Tổ nữa !

Vừa nói tôi vừa liếc nhìn Ly dò phản ứng . Quả nhiên đôi mắt đẹp của nàng trông mơ màng hẳn ra, cơ hồ như đang hình dung nàng đứng trước những khung cửa kính sáng rực bên trong đầy những trang phục lộng lẫy; hoặc dán mũi vào những quầy nữ trang trong các tiệm vàng để ngắm nghía các đôi bông tai vàng chóe nằm lẫn lộn giữa những chiếc vòng cẩm thạch màu xanh biếc . Nhưng sau cùng, có lẽ bốn chữ bánh canh Trảng Bàng đã có mãnh lực lôi cuốn hơn cả vì nàng nuốt nước bọt rồi cãi lại một cách yếu ớt :
- Em đang làm át xít tăng ở đây, lên đó biết tìm việc được không mà đòi có tiền đi phố ăn tiệm . . .

Tôi hơi tự ái vì xem chừng nàng chẳng coi khả năng kiếm tiền của tôi ra ký lô nào . Cái nghề busboy của tôi tuy ít lương nhưng dễ kiếm việc, chẳng lẽ không tìm nổi một chỗ trên Houston thì còn giời đất nào nữa ? Ông bà phò hộ mà cho tôi cầy hai job rửa chén tuần xỉu xỉu sáu bảy chục tiếng, thì Ly có môn tha hồ sắm vàng mệt nghỉ chứ đừng nói tới ba cái vụ ăn tiệm lẻ tẻ! Tôi hùng hồn tuyên bố:
- Anh hứa danh dự lên đó mỗi tuần anh sẽ đưa em đi ăn một lần . Chịu chưa !

Nghe tới đó thì kẻ địch chịu hết nổi sự cám dỗ của hình ảnh tô bánh canh giò heo thơm mỡ hành nổi trên mặt nước lèo vàng óng . Biết tính Ly tham ăn nên tôi thường mang các món khoái khẩu để dụ dỗ cho nàng đồng ý với những hoạch định của tôi . Như thường lệ, tôi thành công một cách dễ dàng sau khi tung ngón đòn bánh canh sát thủ . Thế là chỉ hơn tháng sau, chúng tôi đã khăn gói quả mướp thuê một chiếc U-Haul chạy lên Houston, thuê một căn apartment ở vùng southwest . Quả nhiên trong hai tuần tôi tìm được một chân chạy bàn ở quán phở Việt Hương . Vốn chăm chỉ nên tôi nhận làm nguyên ngày mười tiếng, chỉ nghỉ có ngày chủ nhật . Còn Ly tìm mãi không ra một chân teacher assistant vì nơi nào cũng đòi ít nhất mười hai credit hours của sophomore English . Thế là Ly phải ghi danh ở Texas Southern University để lấy đủ số credit cần thiết . Nàng học rất chăm, có khi chong đèn thức đến hai ba giờ sáng để học bài, những bài học cao siêu trong những quyển sách dày cộm mà hễ mỗi lần tôi nhìn vào lại thấy nhức đầu vì không hiểu gì cả . Tra tự điển năm lần bẩy lượt, tôi mới biết rằng cái tựa của quyển sách có tên là Văn Chương Mỹ Thế Kỷ Thứ Mười Chín . Chao ôi ! Chỉ nội nghe cái tựa đó không, tôi cũng đủ nể nang cho trình độ học vấn uyên bác của người vợ yêu dấu . Càng nghĩ tôi càng phục tài nàng . Sao Ly lại giỏi đến thế ? Không bao giờ tôi mơ là có ngày mình được diễm phúc là phu quân một nhà nữ học giả, dám nghiên cứu cả đến nền văn chương của một quốc gia văn minh nhất trên thế giới . Do đó, tôi càng chăm chỉ rửa chén bát ở tiệm phở để Ly yên tâm trong công cuộc vĩ đại đó . Những chồng bát cao có ngọn, cái góc buồng rửa chén tối tăm ẩm thấp nhiều gián chạy tứ tung sớm muộn gì cũng lãnh giấy phạt thiếu vệ sinh của city và được lên TV trong chương trình Marvin Zindler cũng chẳng làm cho tôi nản chí . Ly cũng thông cảm với anh chồng ít lương và không đòi thực hiện lời hứa ăn tiệm hằng tuần, mặc dù tôi biết trong thâm tâm nàng hình ảnh những tô bún riêu ốc, bún bò huế và nhất là tô bánh canh Trảng Bàng vẫn chưa phai nhạt . Ðể bù lại thỉnh thoảng tôi mang từ tiệm phở về nhà một cà-mèn nước xí quách, hai vợ chồng trộn vào cơm nguội ăn ngon lành, nhìn nhau âu yếm và nghĩ tới cái ngày huy hoàng nàng lấy đủ số credit và đi làm át xít tăng trở lại, sáu đồng một giờ gấp đôi lương tôi hiện nay mà thấy lòng rộn rã khôn tả .

Tối thứ bảy tuần trước nhân kỷ niệm tám năm từ ngày hai đứa quen nhau, tôi xem báo thấy chợ Fiesta quảng cáo roses on sale - half price, bèn mua về nửa chục tặng vợ, và long trọng mời Ly đi ăn món favorite của nàng ở quán Trảng Bàng . Ly cảm động ra mặt, tung tăng ôm bó hồng ngắm nghía mãi rồi nói thầm vào tai tôi :
- Ly thương anh .

Rồi nàng phá lệ, cắm điện ủi dùm tôi một bộ quần áo, thêm chiếc cà-vạt mà tôi chưa dùng bao giờ từ ngày sắm . Có bao giờ tôi cần dùng tới nó đâu ? Loay hoay mãi tôi mới thắt xong, tuy vẫn hơi lệch . Tôi cẩn thận xin Ly tí nước hoa bôi lên người, để quyết đánh tan mùi báng bò cố hữu còn phảng phất trên thân thể . Còn nàng mặc áo nhung vàng đậm với chiếc jupe đen, bộ đồ tôi thích nhất . Xuống xe trước quán, Ly ôm chiếc sắc trông thật sang trọng khoác tay tôi yểu điệu bước vào . Tôi cũng nghiêm trang sửa lại cà-vạt khuỳnh tay ra cho nàng như một người điệu nghệ thứ thiệt, mặc dù mắt vẫn dáo dác nhìn quanh lo ngại gặp người quen nhận ra sẽ ngạc nhiên thấy tôi không giống anh Lê văn Trường đầu bù tóc rối quần áo luộm thuộm như hàng ngày . Cũng may trong quán chẳng ai để ý đến tôi . Quán Trảng Bàng này đông khách vào bậc nhất khu southwest, nhưng rồi chúng tôi cũng tìm được một bàn gần cửa, và gọi đồ ăn . Hai tô bánh canh giò heo tỏa khói thật hấp dẫn được bưng ra . Ly vắt chanh, bỏ ớt rồi tấn công mục tiêu ngay . Nhìn nàng say sưa thưởng thức tô bánh canh với chóp mũi lấm tấm mồ hôi vì ớt cay, cái miệng thoa son đỏ chót bóng nhẫy vì mỡ hành thỉnh thoảng ngừng nhai ngẩng lên mỉm cười với tôi, mấy sợi tóc mai được vén lên qua tai để khỏi chấm vào bát súp, tôi cảm thương người thiếu nữ có nhan sắc mặn mòi kia lại vớ phải anh chồng ví lép nên đành phải nhịn bớt thú ăn quà . Tôi tự nhủ sẽ cố gắng rửa bát overtime để dắt nàng đi ăn tiệm thường xuyên hơn .

Bỗng nhiên, nỗi lo gặp người quen bỗng biến thành sự thực . Cánh cửa mở ra, một người bạn xuất hiện với giọng cười oang oang khi vừa trông thấy tôi :
- Bữa nay tao được nghỉ bếp . Còn mày Trường bộ không phải rửa chén ngoài tiệm hay sao mà ngồi đây ? Tôi quay lại trông thấy Ðôn, thằng bạn thân đã giới thiệu tôi vào làm trong quán phở . Hắn bây giờ đã lên chức phụ bếp, bổn phận mới gồm có nhặt rau và rửa xương . Ðôn vui tính hay nghịch phá, chúng tôi thường lẻn ra sau tiệm phở để hút thuốc lá và tán gẫu . Nhưng hôm nay sao hắn thật vô duyên . Cái miệng bô bô của hắn khai rõ lý lịch tôi giữa công chúng là một điều không thể tha thứ được . Bộ đui hay sao mà hắn không thấy tôi đang ăn mặc chỉnh tề ngồi bên người đẹp ? Không thấy hai bàn tay tôi đã cắt sạch mười móng tay đầy cáu ghét hàng ngày ? Thật là bực với những tên phát ngôn bừa bãi nơi công cộng! Tôi lờ quay đi như không trông thấy hắn . Nhưng Ðôn vốn máu đùa dai, cố tình làm như chưa nhận ra điều đó, hắn tiến sát trước mặt tôi ngắm nghía :
- Sao hôm nay mày mượn đâu ra bộ đồ trông bảnh quá vậy ? Bộ đi ăn cưới hả ? Máy rửa chén hư thì rửa tay chớ ai cho mày nghỉ ?

Tôi đẩy vào vai hắn nói nhỏ :
- Có im ngay cái miệng tươm tướp không thì bảo !

Ðôn khoái trá, giả vờ le lưỡi sợ hãi, đưa tay chào Ly rồi đi vào phía trong . Ly trông theo rồi nhìn tôi, thấy chồng không vui nàng an ủi :
- Anh Ðôn chỉ hay giỡn . Rửa bát thì đã sao . Nhưng nếu anh chán nghề này, chờ mai mốt em có việc, anh thử đi học làm móng tay lương khá hơn, bây giờ lại đang dễ kiếm việc . Anh khéo tay thế nào cũng học được .

Tôi nghe vậy lấy làm quan tâm lắm . Nghề làm móng tay, tôi đã nghe từ lâu mà không hiểu sao chưa bao giờ nghĩ đến ? Người có hoa tay như tôi sẽ thành công là cái chắc ! Kế hoạch tương lai của nàng như ánh nắng rọi vào trí óc hạn hẹp của tôi . Cơn giận thằng bạn hồi nãy từ từ tan biến . Tôi thấy mở ra trước mắt một con đường móng tay đầy hy vọng . Vợ mình thông minh thật !

Hôm qua, sau khi đi hỏi dùm tôi về chương trình tháng rưỡi khóa học manicurist ở đường Fannin, Ly dắt về nhà một con chó mà không biết của ai đi lạc lang thang ở parking lot . Nàng bảo nó cứ lẽo đẽo theo nàng suốt buổi sáng, không nỡ bỏ rơi nên vừa mở cửa xe, nó nhẩy tót ngay vào và quấn quít Ly một cách lạ lùng như chủ thật của nó . Tôi thấy con chó này chẳng có gì đẹp, bộ lông xơ xác, cặp mắt láo liên, bộ dạng ốm yếu . Tôi đem ý nghĩ này nói cho Ly nghe . Nàng im lặng một giây nhìn tôi rồi ngập ngừng khẽ bảo :
- Nó xấu mã nhưng mà tốt nết, giống như anh vậy . Anh còn nhớ ông Gia Cát Phương nói không ? Số em nuôi chó rất hợp . . .

Nguyên Cương Andy




Mục Lục


III . Ngàn Lời Ca (kỳ 7)__________________________________________

5 . Tiếp Tục Lữ Hành

Nhạc Sĩ Phạm Duy



Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội.
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...

Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứu.

Tác phẩm chọn lọc:

Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)

TIẾP TỤC LỮ HÀNH
Trong thời gian soạn nhạc tình, không phải chỉ có tình yêu và sự đau khổ được thể hiện trong ca khúc, cái chết cũng được nói tới. Nhưng tôi vẫn còn nhớ tới con đường trong tâm tưởng mà tôi đã đi theo trong những năm đầu của thập niên 50. Lúc này tôi chưa bỏ được người tình nhưng tôi cũng không bỏ được con đường của mình. Vả lại bài MỘT BÀN TAY cũng đã vừa được viết ra và nói về cuộc đời nhiều hơn là nói về cuộc tình. Bên cạnh những bài nói về Tình Yêu, Sự Ðau Khổ và Cái Chết, tôi soạn thêm những bài hát tâm linh.

Bài LỮ HÀNH trước đây là một tuyên ngôn : ta đi trên dương gian, trong thanh xuân, thiên nhiên và nhân gian, đi cả trong thời gian... bao giờ ta cũng phải bước nhanh vượt chân đời. Bây giờ tôi soạn bài XUÂN HÀNH. Ðây là sự trả lời câu hỏi muôn đời : qui es tu? d'où viens-tu? où vas-tu? Tôi cho rằng : Người từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là người, vừa là thần thánh và ma quỷ, biết thương yêu dai và cũng biết hận thù dài, rất là đắm say... Nhưng trong khoảnh sống ngắn ngủi này, người phải biết nhìn toàn đời trong từng chớp mắt, phải biết vui biết buồn ngay trong một cơn tim đập, tim ngưng...

XUÂN HÀNH
(Saigon-1959)
Người là ai ? Từ đâu đến ?
Và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao ?
Người vì sao mà chớm nở ?
Rồi sớm tối, cánh hoa tươi tơi bời theo với những lá úa ?
Người là chi ? Là cơn gió ?
Là cát trắng hay bụi xanh lơ ?
Người từ xưa, thuyền theo lái về bến cũ ?
Người lên xe đi từ hư vô qua hư vô ?
Ta ra đi từ lòng người, với tiếng khóc và nụ cười
Thương yêu dai, hận thù dài, nuôi đắm say
Trưa hôm qua còn là người
Ðêm hôm nay thành vị thần hay lũ ma lẻ loi
Mỗi chớp mắt nhìn toàn đời, nuốt thế giới vào lòng rồi
Muôn năm vui ở nửa vời câu hát đôi
Nghe con tim chạy miệt mài, khi tim ngơi nhịp từng hồi
Buồn nghìn đời len giữa cơn đập vui.
Người là TA, một mùa Xuân toả ánh nắng mai
Bước lên đời mang một duyên tình duyên mới
Người là TA, đường nhân ái còn đi mãi mãi
Hết bước Xuân, TA gọi nhau về trong NGƯỜI.

Sau đó, bài NHỮNG BÀN CHÂN là sự tiếp tục của bài MỘT BÀN TAY và là sự phát triển ý niệm lên đường tôi từng nuôi dưỡng. Tôi xưng tụng những bước chân đi khai phá đất hoang, đi phá trại giam, đi nối liền hai cõi tử sinh.

NHỮNG BÀN CHÂN
(Saigon-1961)
Những bàn chân, trên ruộng cằn
Dưới nắng hè lửa thiêu đất khan
Vỡ đồi nương, cho máu đào rơi thắm cỏ hoang
Dù chông gai không sờn chân
Về biển khô hay lên rừng thiêng
Ôi bước chân, những bước chân khai phá triền miên
Những bàn chân trên đồng lầy
Trong nước lạnh mùa Ðông đắng cay
Ấm lòng thay, những lúa gầy đứng giữa trời mây
Bàn chân đi trong chiều nay, bàn chân mai chưa nghỉ ngơi
Ôi bước chân, những bước chân xây đắp ngày mai.
Bước, bước, bước chân nghìn trùng
Ði, đi, đi chân người hùng
Ðường mịt mùng, bàn chân còn giong ruổi, ruổi giong.

Những bàn chân trên sa trường
Những bước buồn đạp trên máu xương
Vẫn hoài mong cho đất vàng hoa nở nhiều hơn
Vì tự do chân còn vươn, đời còn mang bao lầm than
Ôi những bước chân, những bước chân đi phá trại giam.
Những bước chân trong hoà bình
Mang những lời yêu, trong gió xanh
Bước hiền minh đi nối liền hai cõi tử sinh.
Bàn chân êm trên đường quen, từ sông Mê qua bụi quên
Ôi bước chân, những bước chân đi tới đường tiên.
Bước, bước, bước chân nghìn trùng
Ði, đi, đi chân người hùng
Ðường mịt mùng, bàn chân còn giong ruổi, ruổi giong.

Cũng trong dòng nhạc soạn cho cuộc đời trong đó tôi có người tình, tôi soạn bài XUÂN CA, lần này không phải là hành khúc hay âu ca mà là dân ca phát triển. Trong bài này, tôi muốn nói mùa Xuân của tôi đã có ngay trong đêm tân hôn của cha mẹ tôi, Xuân như mặt trời nổ trong lòng mẹ, rồi từ đó, tôi ra đời, góp chung câu gào thiết tha cho mùa Xuân vĩnh cửu. Nếu tôi chết đi, xin cho tôi được tái sinh nhiều lần để tôi tiếp tục đi mãi trong mùa Xuân. Bài XUÂN CA được soạn theo ngũ cung Việt Nam.

XUÂN CA
(Saigon-1961)
Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về
Xuân âm u, lắt leo trong nguồn suối mơ
Bừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)

Xuân tôi ra, góp chung câu gào thiết tha
Là xinh, là tươi có Xuân thuở xưa ước mơ hiền hoà.
Xuân xanh lơ, hắt hiu trong trời nắng mưa
Vườn Xuân là Xuân có hoa ngày mai hát Xuân thật dài.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)

Xuân tôi sang bến yêu tôi tìm gió trăng
Tình Xuân là Xuân có khi mừng vơi, có khi sầu đầy
Xuân yêu đương, muốn căng lên nhựa sống ngon
Tìm em, gập em đón Xuân nghìn năm bão Xuân ngập lòng.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)

Xuân lên cao, chót Xuân buông nhìn xuống sâu
Hồn Xuân, hồn thiêng ngút lên từ lâu cõi Xuân còn dài
Xuân trong ta đã muôn ngàn lần đã qua
Mặc cho, mặc bao những cơn buồn thương những cơn giận hờn.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần).

Xuân tôi ơi ! Sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hơi Xuân
Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)

Tiếp tục bài XUÂN CA là BÀI CA SAO, rút ra từ câu ca dao :
Sao tua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha...

Người Việt Nam khi xưa đã cho cả thời gian xa lắc lẫn không gian vô tận vào trong một câu thơ tình lục bát. Tình yêu thật là vô tận bởi vì nhìn vào tinh tú vô biên để thương yêu một người từ thuở chưa có người đó. Tôi thêm lời vào câu ca dao để soạn thành BÀI CA SAO, nói lên tình yêu đối với đối tượng của tôi lúc bấy giờ. Bài này mang âm hưởng dân ca.

BÀI CA SAO
(Saigon-1961)
Sao tua chín cái ối a nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về là về với cha
Sao vua sáu cái nằm xa
Thương em từ thuở người ra ối a người vào
Sao mơ sáu cái ối a nằm chầu
Sao Khuê mấy cái ối a nằm đâu ?

Sao Khuê chín cái ối a nằm dài
Thương em từ thuở tình ngoài, tình ngoài nghĩa trong
Sao măng năm cái ối a nằm ngang
Thương em từ thuở mẹ mang ối a đầy lòng
Sao vươn dăm cái ối a nằm tròn
Sao tư bốn cái ối a nằm vuông.

Sao đôi hai cái ối a nằm chồng
Thương em từ thuở mẹ bồng là bồng mát tay
Sao hoa ba cái ối a nằm soay
Thương em từ thuở được vay ối a nụ cười
Sao băng bay vút ối a vào đời
Sao sa rơi xuống ối a lòng vui.

Sao băng ngã xuống ối a gầm trời
Thương em từ thuở mẹ ngồi, mẹ ngồi nghĩ xa
Sao sa, sa xuống ối a vườn hoa
Thương em từ thuở người ta ối a lại gần
Sao hôm lấp lánh ối a đầu làng
Sao mai lấp lánh ối a đầu thôn.

Sao hôm le lói ối a đầu hè
Thương em từ thuở em về là về với ai
Sao mai le lói ối a ngọn cây
Thương em từ thuở về xây ối a tình người
Sao Vân xa tít ối a đầu trời
Sao quanh cao ngất ối a ngoài khơi.
Sao Vân muôn cái ối a mịt mùng
Thương em từ thuở nghìn trùng, nghìn trùng cách chia
Sao quanh theo gót ối a người đi
Thương em chỉ có trời khuya ối a nhìn về
Sao ơi, sao hỡi ối a buồn gì ?
Sao ơi, sao hỡi ối a buồn chi ?

Có BÀI CA SAO rồi thì phải có BÀI CA TRĂNG. Bài này cũng muốn là một bài ca tình tứ. Tôi muốn nói rằng khi trăng còn non nớt thì cho trăng đi chơi ngoài đồng vắng. Khi trăng lớn dần sẽ cho vào vườn chanh. Tới lúc trăng tròn trĩnh thì cho trăng vào giường ngủ với tôi. Rồi khi trăng già thì trăng sẽ khuất bóng. Một cuộc ra đi của trăng, chẳng khác gì cuộc lên đường của khách lữ hành vậy.

BÀI CA TRĂNG
(Saigon-1961)
Trăng ơi, trăng ới kìa là trăng ơi !
Trăng lá trai trong chiều vơi (láy)
Lưỡi trăng treo đầu trời, đầu trời
Ngoài đồng hoang vắng rơi (láy)
Trăng ơi, trăng ới tình còn nhỏ nhoi
Theo gió đưa trăng về khơi (láy)

Trăng ơi, trăng ới kìa là trăng xanh !
Trăng sáng soi trong vườn chanh (láy)
Sáng luôn trong vườn đào, vườn đào
Kìa là soi trắng đêm (láy)
Trăng ơi, trăng ới mặn nồng tình duyên
Trăng thức lâu trên giường êm (láy)

Trăng ơi, trăng ới kìa là trăng đêm !
Trăng đến khuya thăm người quen (láy)
Gối chăn đã lạnh mềm, lạnh mềm
Người về trong cõi duyên (láy)
Trăng ơi, trăng ới tình già bình yên
Trăng khuất mau sau màn đêm (láy)


Từ 1956 cho tới 1962, tuy vẫn soạn nhạc tình, nhưng không bao giờ tôi có đủ lời ca và tấm lòng để nói lên tất cả những hoan lạc, khổ đau của những cuộc tình. Cho nên tôi phải vay mượn tiếng lòng của những người khác, bằng cách phổ nhạc rất nhiều bài thơ tình bất hủ, lúc trước là của Lưu Trọng Lư (HOA RỤNG VEN SÔNG, VẦN THƠ SẦU RỤNG, THÚU ÐAU THƯƠNG...), Huy Cận (NGẬM NGÙI), Xuân Diệu (CHIỀU), Hàn Mặc Tử (TÌNH QUÊ), Bích Khê (TỲ BÀ), Ðỗ Qúy Toàn (MUÀ XUÂN YÊU EM), Cung Trầm Tưởng (MUÀ THU PARIS, TIỄN EM, CHIỀU ÐÔNG, BÊN NI BÊN N, lúc sau là của Phạm Thiên Thư (NGÀY XƯA HOÀNG THỊ, EM LỄ CHÙA NÀỴ..), Phạm Văn Bình (CHUYỆN TÌNH BUỒN) v.v...

Trước và sau đợt tình khúc tìm nhau, dìu nhau, kiếp nào có yêu nhau, đừng xa nhau... tôi còn soạn thêm dăm ba bài hát trước khi chúng tôi xa nhau. Trước hết là bài CHO NHAU. Trong bài này tôi muốn được dâng cho người yêu tất cả, không thiếu một thứ gì, chỉ xin giữ lại một điều : đó là sự tự do cho nhau.

CHO NHAU
(Saigon-1957)
Cho nhau chẳng tiếc gì nhau
Cho nhau gửi đã từ lâu
Cho nhau cho lúc sơ sinh ngày đầu
Cho những hoa niên nhịp cầu
Ðưa tuổi thơ đến về đâu ?
Cho nhau nào có gì đâu !
Cho nhau dù có là bao
Cho nhau cho phút yêu đương lần đầu
Cho rất luôn luôn cuộc sầu
Cho tình cho cả niềm đau.
Cho nhau làn tóc làn tơ
Cho nhau cả mắt trời cho
Cho nhau tiếng khóc hay câu vui đùa
Cho chiếc nôi cho nấm mồ
Cho rồi xin lại tự do.

Cho nhau ngòi bút cùn trơ
Cho nhau đàn đứt đường tơ
Cho nhau cho những câu thơ tàn mùa
Cho nốt đêm mơ về già
Cho cả nhan sắc Nàng Thơ.
Cho nhau tình nghĩa đỏ đen
Cho nhau thù oán hờn ghen
Cho nhau, xin nhớ cho nhau bạc tiền
Cho cõi âm ty một miền
Cho rồi cho cả đời tiên.
Cho nhau này dãy Trường Sơn
Cho nhau cả bốn trùng dương
Quê hương xin vẫn cho nhau như thường
Cho dứt tay chia đôi đường
Cho rồi, xin chẳng còn vương !

Ðây là một bài hát nữa trong loại nhạc tình của tôi thời đó, bài NGÀY EM HAI MƯƠI TUỔI. Về sau, bài này trở thành bài nữ ca số 10.

NGÀY EM HAI MƯƠI TUỔI
(Saigon-1961)
Ngày em hai mươi tuổi
Tay cắt mái tóc thề
Giã từ niềm vui nhé
Buồn ơi ! Hãy chào mi !
Ngày em hai mươi tuổi
Chưa biết nhớ nhung gì
Trên nụ cười mới hé
Niềm thương đã tràn mi.
Ôi ! Ðã thoáng qua tuổi thơ
Khi suốt đêm hồn ngơ
Nghe trái tim ngủ mơ.
Ôi ! Khi ánh trăng thẩn thơ
Ru giấc mơ hiền khô
Môi tiết trinh nở hoa.
Ôi ! Bỗng sáng nay đàn chim
Bay tới thương dùm em
Thương sót hoa tàn đêm
Ôi ! Nghe gió reo ngoài hiên
Mưa sẽ rơi triền miên
Sẽ hết chuyện thần tiên.
Ngày em hai mươi tuổi
Tay níu chân cuộc đời
Cho ngừng lời giăng giối
Thời gian cũng đừng trôi.
Ngày em hai mươi tuổi
Mới chớm biết yêu người
Ðã buồn vì duyên mới
Rồi đây sẽ nhạt phai.

Nhạc tình của tôi trong thời gian này còn có thêm bài TÔI ÐANG MƠ GIẤC MỘNG DÀI, phỏng theo lời thơ của người bạn gái, soạn ra để riêng tặng tôi.

TÔI ÐANG MƠ GIẤC MỘNG DÀI
(Saigon-1967)
Tôi đang mơ giấc mộng dài.
Ðừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh.
Tôi đang nhìn thấy mầu xanh
— trên cây cành trôi xuống thân mình.
Tôi đang nhìn thấy mầu hồng
— khắp nẻo đường nhẹ thấm vào hồn.
Từ bình minh tươi mát
Về hoàng hôn thơm ngát
Làn gió đưa hương trời
Vào chứa chan lòng tôi.
Tôi nghe từ cõi đời vui
Vượt qua đêm dài lên tới sao trời.
Tôi nghe từ cõi lòng người
Lời nói bồi hồi tìm kiếm ngọt bùi.
Và nhìn thấy trong tim
Tình yêu, nở những con chim tuyệt vời.
Ðừng lay tôi nhé cuộc đời
Tôi còn trẻ dại cho tôi mơ mòng !
* * *

Phạm Duy

Mục Lục


IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu,

Anh có thấy nàng thu đang trở giấc bên hiên, những sắc lá đua nhau che đậy những loang lổ của cuộc đời,. Có thể nói ngày tháng có sự tàn phá mảnh liệt, nhưng trong tim em, hình ảnh của anh, vẫn mãi luôn tồn tạị cho dù sự trống vắng, buồn tênh, mãi luôn xâm chiếm tâm hồn .

Anh có nhớ những con đường ngập lá vàng, chúng ta đã đi qua, những hàng cây bơ vơ đứng chờ những cơn gió lạnh cuốn đi những chiếc lá vàng óng ả, để rồi, có lẻ sau đó sẽ trơ nhánh đứng chờ nàng đông đến bám lấỵ Một nỗi buồn man mác thoáng qua, khiến em cảm thấy bùi ngùi xót xa, và mong rằng tình mình không phải như mùa thu lá baỵ Và rồi, em nủn nịu, bắt anh phả i hứa, cho dù mai sau có sao đi nữa, anh cũng sẽ mãi yêu em, bên em mãi thôi…..Anh gật đầu và ôm em vào lòng, chúng ta tiếp tục dạo quanh khu rừng lá thu, anh đã chụp cho em rất nhiều tấm hình với nét đẹp muôn màu của nàng thu….Em yêu anh, cũng như em đã yêu thụ Anh mỉm cười : " Cô bé của anh tham quá đi thôi, yêu chi lắm thế " . Thật đúng vậy, con gái chúng em, dễ yêu, dễ hờn, dễ xúc động quá anh nhỉ Em đã ngồi lặng hàng giờ bên khung cửa để ngắm thu, viết cho thu , cho anh, và cho cả tình tạ

" Thu đi cho lá vàng bay " và anh đi cho buồn hiu hắt, những cơn mưa phùn tỉ tê khóc ướt cả trời thu, như thầm chia sẻ nỗi nhớ miên man. Có phải rằng : " Em cũng là thu, và thu cũng là em ? "

Em với mưa thu khóc nhớ anh
Vàng hoe, chiếc lá dỗi xa cành
Mang theo vương vấn tình hoài vọng
Biết đến bao giờ lá đậm xanh

Em cũng là thu, Thu có em
Anh đi, thu chết với sương mềm
Ðọng trên môi, mắt sầu vô tận
Khép kín tâm hồn để nhớ thêm

Yêu mãi tình thu, yêu mãi anh
Tình như chiếc lá, quá mong manh
Làm sao anh hỡi, giữ nguyên vẹn
Nét đẹp, tình ta với lá cành


DHH
~~~/~~((@

Mục Lục


V . Nghiên Cứu_____________________________________________

1. Viết, đọc chữ Việt trên computer và Internet

BS Nguyễn Văn Ðức



Quí vị, qúi bạn thân mến,
Chữ Việt Unicode ngày càng trở thành phương tiện truyền thông hữu hiệu giữa người Việt chúng ta trên khắp thế giới.

Xin trân trọng giới thiệu với quí vị, quí bạn sách "Viết, đọc chữ Việt trên computer và Internet" do Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do ấn hành. [Sách giá US$12.00, cộng cước phí trong nước Mỹ: US$3.00, ngoài nước Mỹ: US$5.00. Xin gửi bưu phiếu (money order) về: YTE Distributors, Inc., P.Ọ Box 2043, Westminster, CA 92684-2043, USẠ Tel: (562) 436-2566; E-mail: Ytedis@yahoọcom .]

Kính mời quí vị, quí bạn đọc bài giới thiệu sách của Giáo sư Ðinh Xuân Anh Tuấn (phía dưới, Unicode và VietNet).
BS Nguyễn Văn Ðức

Chữ viết còn, tiếng Việt còn

BS Ðinh Xuân Anh Tuấn

(Bài giới thiệu sách: "Viết, Ðọc chữ Việt trên computer và Internet")
Theo ký sử ghi lại những việc làm phi phàm của nhân loại trong bán thế kỷ vừa qua, cách đây tròn nửa thế kỷ, ông Tenzing Norgay, người Tây Tạng, sau một cuộc hành trình đầy gian nan và nguy hiểm, đã sóng vai với ông Edmund Hillary, người bạn đồng hành người Tân Tây Lan, cùng dắt tay nhau bước lên ngọn Everest, tụ điểm cao nhất của dãy Hy Mã Lạp Sơn.

Nơi đó, trên đỉnh cao chót vót của địa cầu, với mây phủ dưới chân và khoảng không gian vô tận gần như nằm trong tầm tay với, ông Tenzing Norgay, sinh ra và lớn lên trong một thung lũng nghèo nàn hẻo lánh dưới chân dãy núi Hy Mã, lừng lững đi vào lịch sử của nhân loại vì là người đầu tiên chinh phục được đỉnh Everest, đã làm một hành động khác thường vào lúc 11 giờ rưỡi trưa ngày 29 tháng 5 năm 1953. Ðánh dấu việc làm phi thường của mình, ông Tenzing Norgay để lại trên đỉnh Everest một gói kẹo và cây bút chì hai đầu xanh đỏ của cô con gái Nima, vừa mới tập đọc và viết, với chính cây bút chì mà Tenzing đã gửi lại làm kỷ vật trên đỉnh cao chót vót của địa cầu. Leo lên tận đỉnh Everest và tạo điều kiện cho con gái mình đi học, để biết đọc và viết, là hai niềm hãnh diện lớn nhất đời ông Tenzing, người cả thế giới biết đến tên, nhưng lại không biết viết tên của chính mình vì từ bé đến lớn chưa hề được cắp sách đến trường.

Chữ viết, đối với Tenzing Norgay, người hùng ngọn Everest, là một phần ngôn ngữ mà ông ta đã không có trong suốt quãng đời thanh thiếu niên, cả cho đến khi ông già và chết. Vì thế nên cây bút chì đã trở thành một biểu tượng cao quý của cuộc sống được ông gửi lại để vinh danh trên đỉnh Everest cách đây đúng 50 năm.

Chữ viết của chúng ta, vốn dĩ gắn liền với ngôn ngữ từ tấm bé, đã đương nhiên trở thành gần gũi và cần thiết như tiếng nói, quan trọng và hữu dụng như đôi mắt. Không có chữ viết, hay nói cách khác, không đọc được chữ người khác viết ra, chúng ta sẽ cảm thấy thiếu thốn và hụt hẫng như kẻ tật nguyền; chẳng thế, một người không biết viết, không biết đọc thường bị cho là mang tật mù chữ.

Chúng ta nối liền chữ viết với giác quan, dùng chữ viết để tìm về quá khứ hay ân cần gửi gấm hiện tại cho tương lai. Không có chữ viết, việc truyền bá những kiến thức văn hoá, khoa học, kỹ thuật, là những đặc tính của nhân loại, tự nhiên sẽ bị giới hạn, cô lập trong những khoảng không gian và thời gian rất nhỏ hay quá ngắn. Không có chữ viết, bao nhiêu nền văn minh đã qua đi mà không để lại một ký ức thực sự nào, ngoài những di vật lạ kỳ và bí hiểm như những pho tượng đầu người to lớn và quái dị nằm rải rác trên cù lao Pâques, hay những hành lang bằng đá menhir vùng Bretagne miền tây nước Pháp. Chúng ta hãy cám ơn Champollion đã khơi dậy nền văn minh Ai Cập khi ông ta khám phá ra được những hình vẽ tạc trên đá trong Kim tự tháp, và đã hệ thống hoá những hình vẽ đó thành một thứ ngôn ngữ mạch lạc, khúc chiết.

Ngôn ngữ dân tộc Việt Nam, như tất cả các ngôn ngữ khác, dính liền với chữ viết. Một cách khắng khít, gần như bất tuyệt. Chúng ta đều biết những đặc thù của chữ viết tiếng Việt, với những dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, những âm ư, ơ, â, ă. Viết sai một dấu có thể hoàn toàn biến đổi ý nghĩa của một chữ. Chúng ta hãy thử viết 3 chữ “t”, “o” và “i”, thêm hoặc bớt dấu mũ “^” hay dấu “ơ” trên chữ “o”, rồi lại thêm hoặc bớt 5 dấu thông thường sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Tổng cộng là 18 chữ (toi, tôi, tơi, vân vân), trong đó ít nhất phân nửa mang một ý nghĩa chính xác và riêng biệt. Tùy theo cách bỏ dấu, chúng ta sẽ có những chữ: “toi, tói, tỏi, tôi, tối, tồi, tội, tơi, tới, v.v.”. Một chữ, bỏ không đúng dấu, đã rắc rối như thế. Hãy tưởng tượng nguyên một câu dài, hay một đoạn văn, hay cả quyển sách, mà quên bỏ dấu. Lúc đó, chắc sẽ không có ai còn đủ kiên nhẫn để ngồi mà đoán ý của tác giả.

Chúng ta đọc chữ Việt không bỏ dấu, có khác gì đang mò mẫm trong một căn nhà giữa cảnh tranh tối tranh sáng. Mò mẫm ư? Phải chăng đó là hành động của những người mắt kém? Thì ra thế, đọc chữ Việt không dấu sẽ biến chúng ta tuy chưa hẳn mù (chữ) nhưng đã bắt đầu trở thành loạn thị. Râu ông Từ nọ cắm cằm bà Ngữ kia. Ý nghĩa của đoạn văn sẽ loạn đả, trở thành rối beng, nếu không muốn nói là hỏng bét...

Thế mà chung ta đã phải mò mẫm như thế trong bao nhiêu năm tháng của cuối thập niên vừa qua và đầu thế kỷ 21 này. Từ ngày mạng lưới vi tính được tung ra khắp hoàn cầu, nối liền bàn viết, sổ tay, máy tính, hồ sơ (và ngay cả phím đàn) của chúng ta với các đồng nghiệp, với mọi người khắp nơi trên thế giới, ba chữ “www” (viết tắt của World Wide Web) tự nhiên trở thành một ký hiệu thông dụng. Chữ “a còng” (@) an nhiên tự tại chễm chệ bước vào ngồi ngay hàng đầu mẫu âm của tất cả các thứ tiếng trên thế giới. Hàng ngày, chúng ta mở hộp thư điện tử thường xuyên hơn là rọc bì thư bưu điện. Tuy nhiên, vì chữ viết, và cách bỏ dấu rất đặc biệt của tiếng Việt, mà việc sử dụng các hộp thư điện tử vẫn còn mang lại cho nhiều người Việt Nam chúng ta một cảm giác bất toại, đến từ một niềm vui bất toàn, vì người gửi, tuy viết mà vẫn không thành chữ, và người nhận, có đọc mà vẫn chưa hiểu ý. Rồi lại phải mò mẫm, với những mẫu tự sắp xếp một cách loạn đả. Thế là chúng ta lại cảm thấy rối beng, hỏng bét...

Cho đến ngày UNICODE (thống nhất mã) ra đời. Trong những chương sách kế tiếp, các đồng nghiệp trong Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, với sự điều hợp của Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức (Hoa Kỳ) và Bác sĩ Nguyễn-Phước Bảo-Quý (Úc Ðại Lợi), cùng sự cộng tác của Dược sĩ Trần Bình Nhung (Hoa Kỳ) và Dược sĩ Mai Tâm (Gia Nã Ðại), sẽ giúp chúng ta khám phá, học hỏi và thấu triệt cách sử dụng chữ Việt UNICODE.

Lúc đó, viết chữ Việt trên máy vi tính sẽ trở thành dễ dàng như viết một lá thư với cây bút máy và tờ giấy trắng; gửi thư bằng chữ Việt qua mạng lưới vi tính sẽ trở thành một động tác tự nhiên; chưa kể đến việc chúng ta sẽ có thể ghé thăm những trang nhà (Home Page) viết bằng chữ Việt, và có thể ở lại những nơi đó mà tùy nghi đọc truyện, chép thơ hay tham gia vào những diễn đàn thi văn, chính trị.

Cách viết chữ tiếng Việt đã gặp không ít khó khăn để tìm được một chỗ đứng trong hệ thống mạng lưới vi tính toàn cầu. Chúng ta hãy cám ơn phương pháp UNICODE đã thống nhất hóa cách viết chữ Việt, và hãy hoan nghênh các đồng nghiệp đã bỏ ra rất nhiều công sức thực hiện quyển sách này. Mong sao nó sẽ giúp chúng ta nắm vững một phương tiện truyền thông mới có thể nối liền người Việt, bằng chữ Việt, trên khắp năm châu.

3 tháng 6/2003
(Paris, Pháp)

BS Ðinh Xuân Anh Tuấn

Mục Lục


1. SỐNG LÂU TRĂM TUỔI

BS. Nguyễn Ý Ðức





Kỳ này, để "thay đổi không khí", mời quí độc giả đọc bài phiếm luận lý thú của BS. Nguyễn Ý Ðức.

BS Nguyễn Văn Ðức

Hoa Kỳ mới mất đi một cây cổ thụ quý giá có một trăm năm với hai ngày lẻ tuổi thọ. Trước sự ra đi này, đích thân vị nguyên thủ quốc gia cũng phải lên tiếng tỏ ý nuối tiếc là người Mỹ mới mất một bảo vật hiếm có. Ðó là nhà tài tử nổi danh Bob Hope.

Vâng, Bob Hope mới mãn phần vào ngày Chủ Nhật 27 tháng Bẩy năm 2003 sau khi bị bệnh sưng phổi. Mới cách đây một tháng, "con người toàn hảo" Gregory Peck, một tài tử màn bạc nổi tiếng cũng đã nhẹ nhàng buông bàn tay nắm chặt của người vợ hiền để ra đi ở tuổi 87.

Riêng với người Việt chúng ta, nhất là các chiến sĩ quân cán chánh mình chắc là vẫn còn nhớ Bob Hope. Bob đã hướng dẫn phái đoàn các nghệ sĩ sân khấu, màn ảnh tới Việt Nam vào Giáng Sinh năm 1966 để khích lệ cũng như giải trí cho quân đội đồng minh và các chiến sĩ quốc gia khi họ chung lưng chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở Á châu. Ðể rồi bây giờ chúng ta có cả trên một triệu người hiện diện nơi chôn rau cắt rốn của Bob mà chia sẻ cái mất mát của nhân dân Hoa Kỳ. Cũng như thêm lời cầu nguyện cho linh hồn con người đa tài này được An Vui chốn Vĩnh Hằng.

Bob luôn luôn có một nụ cười rất tươi trên làn môi hơi méo sệch kèm theo cặp mắt nheo góc chân chim đầy tình cảm hướng về người đối diện. Ông ta bao giờ cũng có thái độ tích cực, lạc quan. Nhìn thấy gương mặt ông ta là ai cũng cười theo và thấy yêu đời hơn. Phải chăng một nụ cười có công hiệu như mười thang thuốc bổ mà các cụ ta vẫn hằng ví von.

Một trăm tuổi mới ra đồng, ngửa mình trên thảm cỏ xanh, nghe nhạc vàng giun dế, gửi nụ cười tình tán chị Hằng Nga, kể cũng thọ đấy nhỉ.

Nhớ lại vào đầu thế kỷ trước, sống tới ngoài tứ tuần đã đủ mừng, đã vội vàng mời bà con lối xóm tới ăn khao "tứ tuần đại khánh". Rồi trâu bò, gà vịt được hy sinh để các " cụ non" chén chú chén anh, say sưa với nhau. Vui Xuân kẻo hết Xuân đi.

Sống tới tuổi cao hơn, dăm bẩy chục là điều ít thấy, huống chi là trăm tuổi. Vì thế mới có câu nói truyền đời "Nhân sinh thất thập cổ lai hy". Sống bẩy mươi hiếm ơi là hiếm. Tuổi thọ trung bình khi đó chỉ lởn vởn ở con số 45. Tại chốn đình chung, các cụ non này đã trịnh trọng được chễm chệ rung đùi mâm trên, chiếu cạp điều; đã được mõ làng một điều thưa, hai điều trình, "nhà cháu xin chào các cụ, rước các cụ sơi rượu ạ". Nghe cũng sướng con ráy.

Nhiều cụ non còn hành động như... các cụ non: lún phún vuốt vài sợi ria mép, đi đứng khệnh khạng, nói năng lè nhè, lâu lâu lại giả vờ ôm ngực ho khan vài tiếng, tỏ ra là mình già rồi. Ðể được trong ngõ ngoài làng chú ý thêm. Các cụ non cũng được miễn nhiều tạp dịch, tuần đinh trong làng xã. Thực là làm cụ non cũng có nhiều điều lý thú. Tại gia thì tha hồ được bà xã chiều chuộng, nâng niu. Ðôi khi còn được bả kiếm thêm cho vài dì hai, dì ba, dăm ả hầu tơ để lo cơm nước, tắm rửa cũng như đấm bóp, xoa lưng, cùng vui vầy giấc ngủ đêm trường.

Mà các bậc đế vương kim cổ, các nhà độc quyền cai trị đều muốn sống lâu. Ðể lần tới khố dân đen. Cho nên mới có "Thánh thọ vô cương", "Vạn tuế! Vạn vạn tuế!", "Vive le Roi!", hoặc " Quan Tổng Thống, Quan Tổng Thống muôn năm!!" trước khi coi một phim giải trí cuối tuần.

Ðể hưởng hết lộc trời, để trị vì thiên hạ, đã có những tìm kiếm thuốc trường sinh, những thuật sống lâu trăm tuổi, những luyện kim đan, những tên bán vịt trời giữa chợ, ..., quảng rao thuốc tiên, thuốc thánh.

Nào Lư Sinh, Từ Phước vượt Biển Ðông kiếm thuốc trường sinh bất tử cho Tần Thủy Hoàng Ðế. Không tìm ra thuốc, sợ tận sinh khi về, họ chốn biệt, lập nghiệp ở đất Phù Tang. Nào nàng Eos cầu xin bề trên cho người yêu Tithonus được trường thọ mà quên không xin cho chàng khỏi suy nhược loạn cương dương. (Nên nàng đành gạt lệ, hồ hởi bước đi bước nữa, kiếm người tình trẻ trung, nhiều sinh lực.) Lại còn những suối nước Vĩnh Cửu ở rừng già Jupiter, bờ biển Venezuala, đảo Trinitad, những lời khuyên nằm giữa trinh nữ để thu lượm sinh khí như Vua Cha David. Rồi cấy tế bào ngọc hành để tăng cường sinh khí của nhà khoa học Charles B Sequard, linh dược gia truyền chế từ sừng tê giác, mật gấu, sữa voi của thầy tu Roger Bacon. Và gần đây, những KH–3, Gerovital, những Q-10, Glutathione, Sod, DHEA, Omega-3, Omega-6, antioxidants, nấm Cổ Linh Chi, ... Riêng cái món nấm Cổ Linh Chi này đang rất được nhiều đồng hương ta muốn sống lâu tin tưởng: bỏ ra cả ngàn đô xanh mua được một kí nấm rổm về dùng rồi than trời như bọng, uổng tiền.

Sao chẳng ta về ta tắm ao ta, học cách sống lâu, sống khỏe trong TÚI KHÔN Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Ðồng Ấu của Trần Trọng Kim, của Ðỗ Thận:

"Một ông thầy thuốc già, chữa bệnh giỏi có tiếng. Phải khi ông ốm nặng, các học trò đến chầu chực thuốc thang bên cạnh. Ông cố gượng nói rằng: "Lão biết mình đã đến ngày tận số rồi nhưng lão có nhắm mắt cũng yên lòng vì lão có để lại cho đời được ba thầy thuốc rất hay". Ông nói tới đây, nhọc quá phải nghỉ. Các thầy thuốc học trò thấy ông nói thế , đều lắng tai nghe, ai cũng nghĩ bụng trong ba người ấy thế nào chả có tên mình. Ông nghỉ một lúc rồi lại nói: "Trong ba thầy thuốc ấy thì hay nhất là thầy SẠCH SẼ, thứ nhì là thầy ÐIỀU ÐỘ, thứ ba là thầy THỂ THAO. Sau khi lão mất rồi, nếu các anh biết theo ba thầy ấy mà chữa bệnh cho người ta, thì thiên hạ khỏi được bao nhiêu là bệnh tật".

Cách đây cả trên nửa thế kỷ mà các học giả khả kính của ta đã nói tới những điều mà y khoa học hiện đại mới đề cập và khuyên nhủ bá tính áp dụng. Phải chăng đó là y khoa phòng ngừa, là vệ sinh công cộng, là sống đời sống lành mạnh, là ăn uống cân bằng, dinh dưỡng, là vận động cơ thể, là giữ cho tâm thân an lạc, tiết kiệm sinh khí.

Bằng cách nào để sống lâu, sống mạnh là những đề tài ta nên suy tư, khai triển từ cái TÚI KHÔN vừa kể.

Hoặc nếu không muốn mất công thì ta đành len lén đi theo Ngộ Không Tôn Lão, vào lò luyện kim đan của Tây Vương Mẫu nuốt hết bình thuốc bất tử, bước ra vườn tiên, nằm gác chân chữ ngũ, nhâm nhi vài trái đào trường sinh mọng chín thơm tho. Có khi lại sống lâu ngang với Ông Trời.

Rồi cùng An Hưởng Tuổi Vàng với gia đình, thân thuộc. Và chậm rãi sửa soạn cho ngày rửa sạch chân cẳng, thơ thới bước lên bàn thờ, ngồi hầu cờ tướng tổ tiên.

Chẳng cũng thú vị lắm sao!!

Texas, tháng 7-03

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức

Mục Lục


4. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng

Việt Hải



Phần Giới Thiệu Dẫn Nhập:

Tôi gặp nhạc sĩ Mai Ðức Vinh (MDV) trong chuyến anh đưa gia đình về thăm mẹ tại Nam Cali, anh cho tôi biết anh vừa thực hiên xong diã CD mới nhất, CD mang tên "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng", được anh phổ theo thơ của thi sĩ Hải Ðà Vương Ngọc Long (VNL). Tôi cũng quen biết anh VNL qua vài tác phẩm thi tập và vài CD do nhiều nhạc sĩ phổ thơ anh. Anh VNL ngoài việc làm thơ Việt Ngữ, anh còn phóng tác thơ Hán, thơ Pháp, thơ Anh sang Việt ngữ. Giờ đây tôi xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm văn hóa nghệ thuật chung của hai anh VNL và MDV.

2. Nhạc điệu câu thơ hài hòa, tiết tấu nhịp nhàng ngân nga, âm hưởng sâu sắc nồng nàn, tạo nên những cảm giác nhẹ nhàng êm ái dễ đi vào tâm hồn người đọc. Cái phong cách của Ðường Thi là một tổng hợp tinh vi của một nghệ thuật xử dụng ngôn ngữ phong phú điêu luyện qua thi pháp, thể loại, từ điệu, âm nhạc … đồng thời đã phản ảnh những quan điểm tích cực và tiêu cực, những tư tưởng triết lý của nhà thơ, được ăn sâu như gốc rễ qua các triều đại lịch sử… Khi nhà thơ đã đắm chìm phong tỏa trước một thế giới vật chất chung quanh, của một khung cảnh thiên nhiên bao la vô hạn, con người thơ chỉ cảm thấy mình là một sinh vật nhỏ nhoi bất lực, đành mang một tư tưởng yếm thế thụ động "Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong"… Có những nhà thơ suốt đời mang hoài bão "trí quân trạch dân", "kinh bang tế thế " đến khi gặp cảnh không may, gian khổ, cảnh ngộ éo le, thì chán nản buông xuôi thích tìm đến thiên nhiên với cuộc đời "bán quan bán ẩn"… Họ đã tìm thú tiêu khiển bằng cách điền viên ẩn dật, phỏng đạo cầu tiện... Nội dung thơ miêu tả thú điền viên, sơn thủy, lối sống ẩn dật thanh nhàn chịu ảnh hưởng đạo lý vô-vi đã chiếm một vị trí quan trọng trong thơ Ðường.

Tĩnh Dạ Tứ: là một kiệt tác của Lý Bạch. Lý bạch thuở nhỏ thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng, lớn lên ông ngao du sơn thủy, nơi đất khách quê người. Trong một đêm thanh tĩnh, ánh trăng sáng vời vợi trên đầu giường của nhà thơ cũng chính là trăng sáng trên núi Nga Mi của quê hương ông. Chỉ còn trăng sáng và thi nhân, và nỗi nhớ quê hương biền biệt đã xao động lòng người thi sĩ để viết nên bài thơ Tĩnh Dạ Tứ. Trong một đêm trăng vắng vẻ nhà thơ Lý Bạch nằm trong thư phòng, bóng trăng khe khẽ len qua khung cửa sổ rọi sáng đầu giường, giữa một không gian tịch mịch nửa đêm, hồn thơ đã nhập vào hồn trăng bay lâng lâng vào một cõi mộng ảo vô cùng… đã đi từ trạng thái mơ hồ đến tỉnh thức. Ánh trăng sáng vời vợi trên bầu trời cao kia, tỏa những tia sáng lặng lẽ, êm ái huyền diệu trên chiếc giường ngủ, rất gần gũi và thân thiết với là thơ làm sao, và đó cũng chính là vầng trăng mà Lý Bạch đã mải mê ngắm trên núi Nga My trong những ngày niên thiếu ở quê nhà. Bức tranh thu đã được tô đẹp bằng một vầng trăng thu huyền ảo… Trăng soi lồng lộng trên sóng nước bập bềnh biến dòng sông thành một giải lụa vàng óng ả… Những tia sáng của trăng chập chờn mờ ảo đã làm nhà thơ ngỡ ngàng như sương khói bao phủ đầu giường, nhìn trăng mà lòng buồn vời vợi, ngỗn ngang trăm mối tơ lòng… Có nỗi buồn nào ray rức, da diết ngấm tận tâm hồn bằng nỗi sầu nhớ cố hương, quê cha đất tổ:

Giường khuya trăng chiếu bời bời
Sương rơi phủ đất ngỡ đời chiêm bao
Ngẩng đầu trăng sáng trên cao
Cúi đầu ngấn lệ nghẹn ngào... cố hương
(Tĩnh Dạ Tứ – Lý Bạch)

Thiên nhiên của thơ Ðường bàng bạc tình Xuân, Hạ, Thu, Ðông… Bốn mùa hoa lá thay màu, đâm chồi nẩy lộc sẽ tuần tự biến thiên theo định luật vô thường của vũ trụ… nhưng Tiết Thu, Tình Thu, Ý Thu mãi mãi là sức hút lôi cuốn mãnh liệt muôn chiều của thi ca nghệ thuật trong nền văn hóa Ðông Tây kim cổ… Những đại thụ sừng sững trên thi đàn Trung Quốc như Ðỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Trương Kế, Vương Duy, Giả Ðảo, Lưu Vũ Tích… là những ngôi sao lấp lánh trên thi đàn đời Ðường Tống đã xử dụng bút pháp tinh vi và mẫn tuệ tuyệt vời để ca ngợi một mùa Thu mênh mang, một tình Thu dịu vợi, một ý Thu bàng bạc, một hồn Thu lâng lâng, trầm lặng đến nao lòng của trăng sương, gió núi, với những phút giây thanh thản hồn nhiên, trong nỗi bâng khuâng cánh nhạn bay về, hòa lòng xao xuyến theo nhịp chày đập vải may áo, nỗi niềm ray rứt đón gió heo may the thắt lạnh lùng, nỗi lòng ảm đạm nhìn ánh lửa bập bùng đom đóm trong đêm, những tiếng tơ lòng khao khát ngân vang trầm mình trên những phím đàn thánh thót dưới ánh trăng ngà, với lá ngô đồng rơi lả tả đầy ắp thềm trăng…

Những khung cảnh thiên nhiên chan chứa khí vị Ðạo học, phù hợp với tâm trạng nhàn dật, tư tưởng Nho gia, cái triết lý về cuộc đời, nhân sinh quan của tác giả, đôi khi mang những tư tưởng bi quan yếm thế, quan điểm cuộc đời chỉ là một giấc hoàng lương mộng, kiếp sống tạm bợ, phù du. Và trong cái nỗi khắc khoải suy tư đó, nhà thơ chỉ ước ao thầm mong có một kẻ tri âm, một tâm hồn đồng điệu, và có những đêm dài nhà thơ đã trăn trở, trằn trọc, dằn vặt, đay nghiến, cấu xé với hồn thơ và từng con chữ như Giả Ðảo, một nhà sư nổi tiếng “thôi xao”, “ba năm làm được hai câu” , sự lựa chọn từ ngữ rất kỹ càng công phu, có chiều sâu của cảm nghĩ thâm thúy... Bài thơ Dạ Bạc Ngưu Chử Hoài Cổ man mác tình hoài cổ, trong một đêm thu giữa cảnh trời đất mênh mông bát ngát, người thơ bỗng cảm thấy lòng trống trải cô đơn, nghĩ đến chuyện xưa tích cũ mà ngao ngán ngậm ngùi nghĩ chuyện đời nay, tìm đâu ra người tri âm tri kỷ… Nhà thơ đã dùng quá khứ để làm lăng kính chiếu vào hiện tại bằng những tia sáng triết lý muôn màu nói lên sự biến đổi của nhân thường thế thái khi thời gian như một con nước chảy qua cầu và vũ trụ biến đổi không ngừng…

Thu Phố Ca được tác giả phóng tác từ 4 bài thơ theo ý thơ của Lý Bạch (Thu Phố Ca, Dạ Bạc Ngưu Chử Hoài Cổ), của Giả Ðảo (Tuyệt Cú) và Tiền Khởi (Giang Hành)

Thuyền trôi ru nhẹ giấc nồng
Gió hây hây thổi, sóng bồng bềnh chao
Ðôi bờ lau sậy lao xao
Tiếng thu trầm bổng xạc xào giữa đêm
Bến Ngưu thuyền đậu sông Tây
Trời im trong vắt chẳng mây nhuốm màu
Thuyền thu ngắm cảnh trăng thâu
Muốn quên chuyện cũ lại sầu nhớ ai
Cất cao vút… giọng ngâm dài
Người xưa nào biết lòng này hay chăng?
Mai thuyền bỏ bến buồm căng
Lá phong rơi rụng bẽ bàng người đi ……
Buồn ơi tóc trắng phau phau
Dài ba nghìn trượng sầu đau nghẹn ngào
Hỏi rằng gương sáng nơi nao
Sương thu có biết lối vào hay không?

Hai câu ròng rã ba năm

Rưng rưng ngấn lệ... sầu ngâm, tủi thầm
Ngậm ngùi vắng bóng tri âm
Thu về góc núi đêm nằm suy tư…

Nhạc phẩm Xuân Vọng, phóng tác theo ý thơ Ðỗ Phủ gồm 3 bài Xuân Vọng, Giang Mai, Tuyệt Cú 12. Nói đến tình yêu quê hương thiết tha mỗi độ xuân về phải nhắc đến nhà thơ Ðỗ Phủ, một ngôi sao sáng chói trên Thi đàn Trung Quốc vào thời Thịnh Ðường . Ông là nhà nho tiến bộ, hấp thu được những tư tưởng Khổng Mạnh thâm thúy sâu sắc, có một nhận thức rất đứng đắn về nhiệm vụ, bổn phận, và vai trò của kẻ sĩ thanh liêm, nghiêm túc đối với vua, với nước và với dân... Thơ ông rất thành thực, phát xuất tự đáy lòng, tự nhiên, đượm đà tình yêu nước thương dân nồng nàn thắm thiết, tình nhân-đạo vị tha bao dung… Thơ ông đã phản ảnh trung thựïc đời sống của những người dân bị áp bức bóc lột dưới chế độ phong kiến tàn bạo của giai cấp quan liêu thống trị … Thơ Ðỗ Phủ là tiếng nói nhân nghĩa đậm đà của chính lòng ông, gây lại một ấn tượng mãnh liệt làm xúc động người đọc... Nỗi nhớ quê nhà của ông thấm thiết vô cùng khi mỗi độ xuân về khi thấy những cây mai vàng đã bắt đầu hé nụ:

Tháng chạp mai hé nụ
Sang năm nở đầy hoa
Biết rằng ý xuân đẹp
Sao khách vẫn sầu a
Cây chung màu tuyết trắng
Gió vờn sóng sông xa
Vườn cũ tìm đâu thấy
Núi Vu cây rườm rà
(Giang Mai- Ðỗ Phủ)

Cố quận quê hương ruột thịt thì mịt mùng xa cách, nỗi nhớ nhung nơi chôn rau cắt rún khi phải sống cuộc đời lữ thứ tha phương... một nỗi buồn mênh mông sâu lắng và dằng dặc vô cùng để nhà thơ phải khắc khoải tựï hỏi "hôm nao mới được về nhà thăm quể"… Bài thơ u hoài vương vấn một nỗi buồn riêng mang khắc khoải và kín đáo:

Sông xanh càng trắng chim trời
Núi cao biếc thắm rạng ngời đỏ hoa
Thấy rằng năm hết xuân qua
Hôm nao mới được về nhà thăm quê?
(Tuyệt Cú 12 – Ðỗ Phủ)

Thơ Ðỗ Phủ đã biểu lộ tính cách hiện thực vì ông là nhân chứng của thời đại đã tai nghe mắt thấy được những thảm họa chiến tranh, những nỗi bi thương trầm thống của xã hội phong kiến bất công suy đồi, sựï xa hoa trụy lạc của giai cấp thống trị quan liêu, và chính bản thân ông, đời sống ông cũng đã trải qua những thăng trầm tang thương qua cuộc sống cơ hàn, vất vả, và khốn khổ... Cuộc đời ông hầu như bôn ba tứ xứ nơi đất khách quê người, nên ông đã chứng kiến thường xuyên những cảnh chiến tranh chết chóc, những nhiễu nhương của xã hội và cuộc sống bần cùng, không những của chính bản thân ông mà còn của những kẻ tha nhân không quen biết …Ông đã không được may mắn, thành công trên con đường thăng quan tiến chức như bao kẻ quyền sang biết luồn cúi và nịnh bợ triều đình … Tính tình ông quá ngay thẳng. Ngay khi ông mất nơi đất khách quê người, gia đình ông cũng không đủ tiền đem được linh cửu của ông về quê vì quá nghèo... Có những bài thơ được sáng tác để ghi nhớ, hồi tưởng lại một giai đoạn lịch sử nào đó, nhớ lại một thời vàng son nhung gấm, khi nhà thơ đã nhập thế, làm quan, lo việc triều cung, nhưng đôi khi gặp hoàn cảnh không may, không được thăng quan tiến chức, mà thất vọng chán nản, đành thúc thủ an phận, chấp nhận số mệnh một cách tiêu cực theo đạo lý Trung Dung: "Thượng oán bất thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh" (Trên không oán trời, dưới không trách người, sống bình dị đợi mệnh)

Thơ của ông tràn đầy tình nhân đạo sâu sắc, yêu nước thương dân… Chính thơ đã phản ảnh được cái chức năng "Thi ngôn chí", tức thơ đã nói lên cái chí khí kẽ sĩ trong một giai đoạn lịch sử nào đó... qua bài thơ Xuân Vọng

Mất nước, còn sông núi
Cây cỏ mọc thành xuân
Thương tình hoa tủi lệ
Biệt ly chim bần thần
Ba tháng tràn khói lửa
Thư nhà giá vô vàn
Tóc bạc ngày thêm ngắn
Cài trâm ắt phân vân
(Xuân Vọng – Ðỗ Phủ)

Có những nhà thơ còn chút may mắn hơn Ðỗ Phủ là đến cuối cuộc đời già, đã đạt được cái hoài bão về thăm quê hương … HạTri Chương đi làm quan xa nhà mãi đến năm 86 tuổi vì già ốm xin từ quan về quê. Sau hơn năm mươi năm xa cách, ông mới về quê vào dịp xuân về, và ông đã cảm khái viết nên bài Hồi Hương Ngẫu Thư (2 bài). Khi ra đi chỉ mang theo kỷ niệm dạt dào và tình cảm gắn bó với quê nhà, mà sau bao nhiêu năm mải mê đeo đuổi sự nghiệp công danh, vẫn cảm thấy tình quê hương là tình cảm thiêng liêng cao quí chẳng hề đổi thay trong lòng dạ người thơ. Nhưng lúc về đến nhà thì bao nhiêu cảnh vật, sự kiện đã đổi thay, đám trẻ quê nhao nhao vì nghĩ rằng nhà thơ cũng chỉ là kẻ lạ lẫm từ phương trời nào xa lạ tạm ghé qua đây. Cha mẹ thì đã qua đời từ lâu, còn bạn bè thì kẻ mất người còn, tạo nên nỗi chán chường ảo não tuyệt vọng của nhà thơ trước cảnh biến thiên của muôn sự, cuộc đời dâu bể tang điền thương hải mong manh vô cùng, nên nhà thơ chỉ còn biết bám víu vào một hình ảnh bất biến đó là sóng nước mặt hồ Gương vẫn còn nguyên vẹn với gió xuân phe phẩy, làm dịu mát lòng người…
Trẻ ra đi, lão mới về
Tóc bông thưa thớt, tiếng quê dạt dào
Trẻ con lạ lẫm nhao nhao
Hỏi cười "Khách ở phương nào đến đâỷ”
Quê nhà xa cách tháng năm
Bạn bè thưa thớt biệt tăm phương trời
Mặt Hồ Gương trước ngõ soi
Gió xuân chắc chẳng đổi dời sóng xưa
(Hồi Hương Ngẫu Thư – Hạ Tri Chương)

Bài Tống Xuân Từ, phóng tác theo ý thơ Vương Duy gồm 4 bài : Tống Xuân Từ, Ðiểu Minh Giản, Chung Nam Biệt Nghiệp, Võng Xuyên Nhàn Cư. Mùa xuân trong Ðường Thi là bức tranh thủy mạc màu sắc hài hòa, có những nhà thơ tả cảnh thiên nhiên núi sông cây cỏ hoa bướm bằng những nét chấm phá đơn sơ, mộc mạc, nhưng đó là những gam màu pha trộn của một nghệ thuật hội họa tinh vi và sâu sắc... Bằng những tầm mắt xa rộng, họ đã cho chúng ta thấy cái huyền diệu của thiên nhiên vũ trụ bao la, của hương vị Thiền và Ðạo man mác, của sựï thư thái và an nhàn để mà suy tư về sự vô thường và hữu hạn của cuộc đời . Những hình ảnh linh động và âm thanh dạt dào trong ngôn từ tinh vi cô động đã biểu hiệu cảm xúc chân thành, và gợi lên những liên tưởng thâm thúy và tư duy mẫn cảm... Hãy lắng nghe tiếng chim kêu lanh lảnh bên khe suối mùa xuân của thi sĩ Vương Du:

Người nhàn hoa quế rụng
Ðêm xuân núi đìu hiu
Trăng lên chim thảng thốt
Khe xuân vọng tiếng kêu
(Ðiểu Minh Giản – Vương Duy)

Thi sĩ Vương Duy được gọi là Thi Phật và Họa sư, Tô Ðông Pha đã nói về thơ Vương Duy: "Trong thơ có họa, và trong họa có thơ " (Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi). Thơ của Vương Duy phản ảnh cái quan niệm của Ông đã chịu ảnh hưởng Ðạo Học và Phật Học, xem cuộc đời là ngắn ngủi phù du vô thường như bóng câu bên cửa sổ, thoáng mây bay cuối trời, xem sự nghiệp công danh như một tuồng vân cẩu, đã lấy tư tưởng vô vi xuất thế để làm phương châm cho thực tại nhân sinh, khinh ghét thói đời đua chen danh lợi, chối bỏ nếp sống quan liêu phong kiến áo mũ xêng xang… Vương Duy đã chịu ảnh hưởng bởi cái quan niệm của Lão tử, đã dùng hình tượng Ðạo Lý để chi phối cái qui luật tự nhiên: “Người noi theo Ðất, Ðất noi theo Trời. Trời noi theo Ðạo. Ðạo noi theo tự nhiên". Cái chế độ phong-kiến của Trung Quốc đôi khi chỉ là một lớp son phô trương lòe loẹt, một phồn vinh giả tạo, một tập đoàn bè phái vương tộc, những nhà nho nhập cuộc với quan điểm "nhập thế hành đạo", nhưng đôi khi họ cảm thấy chán nản vì không thực hiện được cái hoài bão to lớn của họ mà họ ngán ngẩm thời thế, đành phải từ bỏ quyền cao chức trọng, để lui về ẩn dật, vui thú điền viên, bỏ hết tục lụy trần ai, dùng ngòi bút ca ngợi sự thanh nhàn theo quan điểm đạo Phật "xuất thế vô vi", hoặc cầu cứu đến phép vô sinh, thuốc tiên huyễn hoặc phù phiếm… Thiên nhiên qua bốn mùa hoa lá đổi thay là đề tài bất tận cho thi nhân.

Xuân đến và xuân đi như gió thoảng mây trôi… Xuân đến cho muôn hoa đua nở, mạch sống tuôn tràn… Xuân đi cho hoa lá héo tàn, lòng người cô quạnh, cảnh trời hiu hắt...Tuổi xuân cũng chỉ ngắn ngủi tấc gang, chẳng sống được dài lâu... Xuân đã đi rồi đi đem lại nỗi sầu tàn phai, thương tiếc, nhớ nhung như nhà thơ Vương Duy đã bộc bạch trong bài thơ Tống Xuân Từ:

Già theo ngày tháng trôi nhanh
Năm quanh quẩn hết, xuân xanh đến hoài
Vui cùng cốc rượu mà say
Cần chi thương tiếc hoa bay ngoài trời

Tuy thế-giới Ðường-Thi lớn lao và đồ sộ như vậy nhưng chỉ có một số ít ỏi những bài thơ Ðường ca tụng nghĩa Mẹ ơn Cha. Với một ý-thức-hệ nho-gia phong-kiến, lấy "trung-hiếu" làm đầu, dựa trên nền tảng triết-lý nhân sinh đại chúng và đạo-lý cương thường xã hội, trong một chế-độ quân-chủ về chính trị và phụ quyền về xã-hội, mà chúng ta rất ngạc nhiên khi thấy hiếm hoi những bài thơ ca tụng Tình Mẹ.

Bài thơ Du Tử Ngâm là một bông hoa hiếm hoi đã vươn mình khoe sắc rực rỡ trong khu rừng Ðường-Thi trùng trùng điệp điệp... Bài thơ có tính cách nội dung giáo dục đề cao về chữ Trung Hiếu nầy, đầy trắc ẩn lòng nhân là do sự ảnh hưởng của Ðạo Nho , lấy Nho Học làm kim chỉ nam cho đời sống tâm linh, đề cao cái tính Thiện: “Cái trời sinh ra cái Tính, noi theo Tính gọi là Ðạo, sửa mình theo Ðạo gọi là Giác" hay theo quan niệm Khổng Mạnh: "Nhân chi sơ tính bản thiện". Bài thơ Du Tử Ngâm (Khúc Ngâm Cho Người Con Ði Xa) kết hợp bằng những giai-điệu rất hài hòa, âm thanh tình mật thiết quyện vào nhau, đã diễn tả được những gì khăng khít nhất, những khắc khoải lo lắng bồi hồi của người mẹ, sợ con đi xa lâu trở về, trên bước đường viễn du không một bàn tay săn sóc, Mẹ chỉ mong sao cho manh áo được dầy kín, để đủ sưởi ấm thân con trẻ trên bước đường tha phương lưu lạc. Bài thơ với từ ngữ mộc mạc, giản dị, nhưng đã diễn đạt được cái tận cùng của một bản sắc dân-tộc, một cội nguồn của nhân-bản: Tình Mẹ, của một đời dầm mưa dãi nắng, của những chuỗi ngày triền miên, cay đắng, chịu đựng, và đợi chờ…

Mẹ ngồi xe chỉ trên tay
Chắt chiu áo mỏng, đợi ngày con đi
Ðường khâu mũi vá chi li
Băn khoăn lo lắng con đi lâu về
Hỏi rằng tấc cỏ lòng quê
Ba Xuân nắng ấm đền bù được chăng?

Phải chăng những nhà thơ Ðường, trong cái sĩ-khí của nhà Nho, ngày đêm dùi mài kinh sử để mong đến ngày thi đỗ ra làm quan, thực hiện cái hoài bão "kinh bang tế thế, trị quốc an-dân...", hoặc nếu không thành đạt như ý, họ bất lực chán nản buông xuôi và tự ẩn dật chìm mình trong tư tưởng vô vi, hướng về những đề tài thiên nhiên, sơn thủy điền viên, với tư tưởng "lạc thiên tri mệnh" (vui trời biết mệnh). Phải chăng họ đã mang mặc cảm ngại phơi bầy những tình cảm gia đình mật thiết riêng tư, những xúc động chân thành như tình Mẹ, vì bị ràng buộc bởi quan niệm nghiệt ngã "trọng nam khinh nữ", "tam tòng tứ đức" đè nặng trong xã hội hủ tục phong kiến, sợ người đời gán cho là kẻ yếu đuối, hèn nhác không phải là bậc đại-trượng-phu trong thiên hạ ? Hình ảnh người phụ nữ trong xã hội đó phải chăng chỉ là những chiếc bóng âm thầm, tủi nhục, mang cái thân phận bèo bọt "chồng chúa vợ tôi", có nhiệm vụ tôi mọi nô bộc, chỉ biết đầu tắt mặt tối làm việc và không được chia sẻ cái chân-lý căn bản của lẽ sống gia-đình: hạnh phúc và tình yêu. Thật là thảm thương khi ta mường tượng đến hình ảnh của người phụ nữ, một người Mẹ, một người vợ trong cái xã hội quan-liêu bất công đó.

(còn tiếp nhiều kỳ)

Việt Hải

Mục Lục


VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________





1.Hội Kết Ðoàn

Hội Kết Ðoàn-Vietnamese Americans United
Thư Mời Tham Gia Viết Bài, Ủng Hộ Tạp Chí Kết Ðoàn

Nhằm góp phần phát triển sinh hoạt, bảo tồn, và phát huy văn hóa trong Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại, Hội Kết Ðoàn-Vietnamamese Americans United đang khởi sự tiến hành đặc san Xuân với chủ đề "Xuân Mớị" Nội dung phong phú và đa dạng của đặc san Kết Ðoàn đều do sự cộng tác nhiệt tình của tất cả quý vị trưởng thượng, quý vị phụ huynh, và các bạn trẻ.

Ðể duy trì một truyền thống tốt đẹp trong cộng đồng của chúng ta, xin mời quý vị tham gia viết bài và ủng hộ phương tiện cho tuổi trẻ ngày nay trong những sinh hoạt cộng đồng.

Mời tất cả quý vị hưởng ứng việc thực hiện đặc san Kết Ðoàn Mùa Xuân.

Ðể giúp cho Ban Biên Tập dễ dàng làm việc, và tránh trễ nãi trong việc phân phối đặc san đến tay quý vị trong dịp đầu năm, xin tất cả gởi bài vở và đính kèm đầy đủ các chi tiết yêu cầu về địa chỉ tòa soạn của Hội Kết Ðoàn, hoặc qua email đúng thời hạn quy định.

Sau đây là thể lệ và thời hạn gởi bài và ủng hộ. Mong quý vị sẽ tiếp tay quảng bá thư này đến các bạn bè và người quen để chúng ta có thể góp phần phát triển, bảo tồn, văn hóa Việt.

Hội Kết Ðoàn trân trọng kính chào,
Hội Kết Ðoàn - Vietnamese Americans United
============*****============
Thể Lệ và Thời Hạn Gởi Bài

Bài vở được bắt đầu nhận từ hôm nay đến hết ngày 15 tháng 11 năm 2003. Các thể loại như thơ, truyện ngắn, truyện phiếm, tùy bút, bình luận, nghiên cứụ..đều được đón nhận.
Bài có thể viết bằng tiếng Việt hay tiếng Anh.
Bài viết xin giới hạn trong khoảng 4 hay 5 trang đánh máỵ
Bài vở gởi bằng diskette xin lưu trữ ở dạng VIQR (plain text) và có đính kèm bản in (hard copy). Nếu viết tay, xin viết rõ ràng (đánh máy càng tốt) trên một mặt giấy và gửi về địa chỉ hộp thư sau đây:

Ket Doan Association
P.Ọ BOX 4944
Silver Spring, MD 20914-4944

Bài viết bằng email xin ghi trong dạng VIQR (VietNet/SCV). Ðịa chỉ email của Ban Biên Tập:
magazine@ketdoan.org

Bài vở gởi về, ngoài bút hiệu, xin ghi rõ thêm tên thật, địa chỉ, và số phone hoặc email của tác giả, nếu không sẽ không được xét duyệt. Khi có sự thay đổi về các chi tiết nêu trên, xin thông báo ngay về đia chỉ tòa soạn hoặc qua email .

Bài gởi về sẽ được Ban Biên Tập duyệt xét, chọn lọc, và sửa lỗi chính tả. Với các bài có thể chọn đăng nhưng có yêu cầu sửa chữa, Ban Biên Tập sẽ hội ý với tác giả trong việc hiệu đính.

============================

Phu H Vo
Editor-In-Chief
Ket Doan Association-Vietnamese Americans United
http://www.ketdoan.org
magazine@ketdoan.org

Mục Lục




2. TRONG BÀN VIẾT – NGOÀI CUỘC ÐỜI

Thiệp Mời

Kính gởi Quý : Hội Ðoàn , Quan Khách ,Truyền Thông , Thi văn Hữu, thân hữu cùng đồng hương miền Bắc California.

Chúng tôi nhóm Thi Văn Hoa Vàng và thân hữu Ðại Diện Ban Tổ Chức kính mời quý Hội Ðoàn , quý Quan Khách, quý Ban Ngành Truyền Thông , Thi văn Hữu, thân hữu cùng đồng hương vui lòng bớt chút thì giờ quý báu đến tham dự buổi ra mắt sách và triễn lãm tranh : TRONG BÀN VIẾT – NGOÀI CUỘC ÐỜI của hai nhà văn tên tuổi đến từ OSLO, NA-UY và là Chủ Nhiệm Chủ Bút Nguyệt San Hương Xa tại NA-UY Châu Âu

- Nhà Văn Nguyễn Thị Vinh ( Nhóm Tự Lực Văn Ðoàn trước 75)
Với những tác phẩm đã xuất bản :
- NAUY và Tôi ( Truyện ngắn viết tại hải ngoại)
- Nổi Sóng ( Truyện dài viết tại quê hương )
- Cõi Tạm ( Thơ)
Ðề Tài : - Vì Sao Dân Mình Mãi Khổ ?
- Tại Trời Hay Tại Người ?
- Nhà văn kiêm họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật với những tác phẩm đã xuất bản :
- Ðã Một Ðời Thơ ( Thơ)
- Bờ Bên Kia ( Tiểu thuyết Thiền – Tập 1&2)
- Chí Tôn Ca ( Les Chants Diving – Thơ)
- Cuộc Chiến Người Lính Miền Nam ( Thơ)
- Cỏ Bồng – Phận Người Cầm Bút ( Thơ)

Triễn Lãm tranh vẽ của Họa Sĩ Nguyễn Hữu Nhật :
- Cuộc Chơi Chưa Chán ( Nhà Xuất Bản ANH EM)
Buổi ra mắt được tổ chức vào lúc 1 :00 Pm Chủ nhật 19/10/2003
Tại Thánh Ðường Tự Do số 2296 Quimby Road San Jose CA 95122
Tel : (408) 223-2378 Fax : (408) 223-2379

Trân Trọng kính mời quý vị đến tham dự thật đông đảo để thưởng lãm tranh, sách cũng như gặp gỡ và có dịp tâm tình cùng hai nhà văn tên tuổi từ trước 75 lần đầu tiên đến Hoa Kỳ.

Sự hiện diện của quý vị là niềm vinh dự cho Ban Tổ Chức và nhất là hai nhà văn Nguyễn Hữu Nhật và Nguyễn Thị Vinh đến từ OSLO, NA-UY .

Chương Trình được sự Bảo Trợ của :
- Tuần Báo Ðời
- Nhật Báo Việt Nam Tự Do
- Bán Tuần Báo Sài Gòn USA
- Tuần Báo Việt Mercury
- Việt Báo USA
- Ðài phát thanh Bolsa Radio
- Ðài Phát thanh Little Sài Gòn
- Ðài Phát thanh Sài Gòn Radio
- Liên Trường miền Bắc California
- Anh chị Nguyễn Quốc Vũ & Lê Ni
( Lee’s Sandwiches Mc Kee ) - Ông Tony Ðinh Century 21
- Ông Steven Ninh Thân Real State
- Nhạc Sĩ Phạm Ðức Huyến
- Luật Sư Nguyễn Ðức Vinh
- Bác Sĩ Bùi Ngọc Tô
- Bác Sĩ Ðặng Phương Trạch
- Ông Hồ Quang Nhựt State Farm Insurance
- Ông bà chủ Phở Bằng
- Thuốc bắc Dương lai Cảnh
- Nhà thơ Tuệ Ðàm Tử
- Nhà thơ Song Linh
- Cô Thu Nguyễn Farmer Insurance

MC : B/S Lê Phương Thuý
Phần văn nghệ phụ diễn do Ca, nghệ sĩ vùng Bay đảm trách với những tiết mục đặc sắc …

Thay Mặt Ban Tổ Chức :
Diệu Tần 258-6637 – Ðông Anh 888-4973 – Ðào Ðức Chương 238-5900 – Hà Ly Mạc 926-0965 - Huệ Thu 238- 9312 & Ngọc An 930-2108

Trân Trọng Kính Mời

Mục Lục




3. Tuyển Tập Thơ Văn Hoa Vàng

Giao Muà vừa nhận được Tuyển Tập Thơ Văn Hoa Vàng do nhà thơ Ngọc An, một cây bút quen thuộc của Giao Muà gửi tặng. Tuyển tập gồm những thơ văn của 50 tác giả hải ngoại, lời giới thiệu của nhà văn Thanh Thương Hoàng, lời tâm sự của Ngọc An. Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Muà

Mọi chi tiết xin liên lạc:

Ngọc An
NgocAn06@yahoo.com


Mục Lục









4. Thắm Ðượm Tình Và Nghĩa ...



Thân mời ca’c bạn nghe Câu Chuyện Thơ Nhạc do chị Bi’ch Huyền thực hiện ,đã pha’t thanh trên đài VOA .

Thắm Ðượm Tình Và Nghĩa Của Người Xưa Qua Ca Dao

http://saigonline.com/mdv/BichHuyen/CaDao2.wma
Mai Ðức Vinh

Mục Lục





VIỊ Nhạc : 1. Quê Hương Là Người Ðó

Mục Lục


VIII . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, Châu Thái Lê, CC, TS Du Tử Lê, Ða Sự Lang Y, Ðặng Xuân Mai, DHH, Hạt Cát, Hoàng Mai Phi, Hoa Cỏ, Huỳnh Mai Hoa, HTyCG, Ngọc An, Nguyên Khoa, Nguyên Cương Andy, BS Nguyễn Văn Ðức, BS Nguyễn Ý Ðức, nttn, Nhược Thu , NS Phạm Duy, Phạm Chung, Phạm Vũ Anh Nam, Song Tưởng Nhất Nguyên, Sóc Sơn, Sương Mai, Thanh Thanh, Thu Hằng, Thy Lan Thảo, Trần Công Nhung, Trần Hoan Trinh, Viễn Phương, Việt Hải, Việt Dương Nhân, Vũ Thị Xuân Ðào và Ý Nga, đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 18 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua2002@aol.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua2002@aol.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

Trang Nhà