Số 19
Ngày 1 tháng 11 năm 2003
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116-0378
USA
Thư Ngỏ
Mới đó, lay hoay mà đã gần hết mùa Thu, mùa Thu ở Mỹ chỉ bắt đầu vừa hơn một tháng và mùa Thu nơi quê nhà cũng vừa chấm dứt, trong khi ở đất Úc xa xôi lại giữa mùa Xuân.
Người Việt chúng ta sau ngày đổi đời năm 75, như nhũng cánh chim tìm khoảng trời Tự Do đã tung bay đến khắp mọi miền trên thế giới. So với không gian thì rất xa, nhưng với những phương tiện truyền thông hiện đại, thì chỉ cần một tích tắc gọi nhau, tiếng gọi của yêu thương, tiếng gọi của bạn bè, của niềm cảm thông chia xẻ chung, sẽ tức khắc được hồi âm dạt dào, như sóng triều dâng đầy nơi bốn biển.
Giao Mùa cũng là một trong những tiếng gọi, tiếng gọi đàn của đàn chim lạc xứ, tìm về với nhau. Gần hai năm qua bằng những đóng góp thầm lặng của những kỹ thuật viên, bằng những bày tỏ riêng tư của nhũng người làm thơ, viết văn, bằng những chia xẻ kiến thức vô vị lợi của những chuyên gia : bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, hoạ sĩ … Giao Mùa đã mang đến cho rất nhiều độc giả trên toàn thế giới, những món ăn tinh thần vô cùng thoải mái, sự thoải mái thênh thang như dòng đời thênh thang, trong không khí đầy Tự Do và Nhân Bản.
Tháng Mười Một cũng là tháng có ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving)của nước Mỹ, xin được thay mặt cho Nhóm Chủ Trương, Ban biên tập, kính gởi đến toàn thể mọi người lời cám ơn chân tình nhất, về những đóng góp vô giá của quý vị, cho sự tồn tại và phát triển của Giao Mùa, trong dòng chi lưu văn học, nhằm gìn giữ tiếng Việt, phát huy văn hoá, văn nghệ Việt Nam tại hải ngoại.
Cũng trong tinh thần tri ân đó, xin mỗi người hãy gởi lời cám ơn đến tất cả các quốc gia, xứ sở và con người đã mở lòng tiếp đón, cưu mang chúng ta trong vòng tay tay đầy tình thân ái, không có dấu vết của hận thù. Chúng ta cũng không thể quên ơn những người đã nằm xuống cho Tự Do và Hạnh Phúc của con người.
Tại Hoa-Kỳ, thu sắp qua, đông sắp tới, rồi mùa Xuân sẽ trở lại, hy vọng những câu văn, lời thơ, tiếng hát, sự chia xẻ kiến thức từ những đóng góp của quý vị và các bạn sẽ làm cho Giao Mùa ngày thêm phong phú, bổ ích hơn cho mọi người…
Thân ái,
Mạc Phương Ðình
BBT Nguyệt San Giao Mùa
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Dẫu Lỡ Phôi Pha ... | ______Tâm Thư | |
| 2. Một Vì Sao Vỡ | ______Ngô Minh Hằng | |
| 3. A Falling Star | ______Thanh Thanh | |
| 4. Kiêu Hãnh | ______Lạc Duyên | |
| 5. Ði Hoang | ______CC | |
| 6. Giọt Ðắng | ______Mạc Phương Ðình | |
| 7. Hoang Lộ Mùa Thu | ______Ngọc An | |
| 8. Ánh Sáng Và Niềm Tin | ______Việt Dương Nhân | |
| 9. La Lumière De L'espoir | ______Bạch Thị Ngọc Sương | |
| 10. Anh Yêu Em | ______Việt Hải | |
| 11. Mãi Mãi Một Dòng Sông | ______Trần Hoan Trinh | |
| 12. Tuổi Ðời Bỏ Quên | ______nttn | |
| 13. Tình Trăng | ______Sương Mai | |
| 14. Ơn Nghĩa Cha | ______Viễn Phương | |
| 15. Tiên Nữ | ______Ngô Thy Vân | |
| 16. Ta Ðã Hư Hao | ______Châu Thái Lê | |
| 17. Nỗi Khát Vọng | ______Phạm Vũ Anh Nam | |
| 18. Nguyên Chất | ______Nguyên Khoa | |
| 19. Muà Thu Ðến | ______Khánh Học | |
| 20. Hoa Muộn | ______Nhược Thu | |
| 21. Hỏi, Cứ Hỏi, Trái Tim Cứ Lặng Thinh | ______Nngương | |
| 22. Tình Tri Ngộ | ______Nhất Tâm | |
| 23. Hương Thu | ______TH | |
| 24. Muà Thu Này | ______Lâm Huân | |
| 25. Vô Thường | ______Uyên Thi | |
| 26. Sao Không Nhớ | ______Trần Văn Lương | |
| 27. Khúc Rối | ______Trần thị Hà Thân |
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Nỗi Chết Chưa Rời (kỳ 2 và hết) _______ Phan Thái Yên |
| 2. Thiên Ðường Bỏ Lại ___________ Vũ Thị Thiên Thư | 3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 16) ___________ Trần Công Nhung |
| 4.Về...(tiếp) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Thoáng Tình Cuối Ðông ___________ Hoàng Mai Phi |
| 6.Trăng Nước Tầm Dương (tiếp) ___________ Hạt Cát |
| 7.Truyện Tình ___________ Ðỗ Thành |
| 7.Thư Gửi Con ___________ Kim Phương Oanh |
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 8)________________________________________________________________
| 1. Trường Ca _______________________________ NS Phạm Duy |
IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
V. Nghiên Cứu________________________________________________________________
| 1. Tình Nghĩa Thầy Trò _______ Phạm Ngọc Hài |
| 2. Ngưà Cúm Năm Naỵ.. _______ BS Nguyễn Văn |
| 3. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng (tiếp) _______ Việt Hải |
| 4. Bài giới thiệu ... _______ Phóng Viên VB |
VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Sinh Nhật 82 của Nhạc Sĩ Phạm Duy _______ Giao Muà |
| 2. Mạng Lưới Nhân Quyền VN _______ Giao Muà |
| 3. Nguyệt San VietHome Magazine _______ Giao Muà |
| 4. CD của NS Phạm Duy _______ Giao Muà |
VII . Nhạc __________________________________
| 1. Nhạc : Hoa Muộn _______ Nhược Thu/ Trần huy Minh |
VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
1. Nỗi Chết Chưa Rời (tiếp theo và hết)
Phan thái Yên
Vũ Thị Thiên Thư
Vũ Thị Thiên Thư
Trần Công Nhung Thanh Sơn
Thanh Sơn
Hoàng Mai Phi Hoàng Mai Phi Hạt Cát
Hạt Cát
Ðỗ Thành
Ðỗ Thành
Kim Phương Oanh
Kim Phương Oanh
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 7)__________________________________________ Nhạc Sĩ Phạm Duy
Phạm Duy
IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
DHH V . Nghiên
Cứu_____________________________________________ Phạm ngọc Hài
Phạm ngọc Hài 2. NGỪA CÚM NĂM NAY, CÓ GÌ MỚI?
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức 3. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng Việt Hải
Việ Hải 4. Bài giới thiệu hai Văn hữu
Nguyễn Thị Vinh và Nguyễn Hữu Nhật Phóng Viên VB
Phóng viên V.B. VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1.Sinh Nhật 82 của Nhạc Sĩ Phạm Duy
2. Mạng Lưới Nhân Quyền VN Gây Quỹ Cho Nhân Quyền...
Thiệp Mời
3. Nguyệt san VietHome
Giao Muà vừa nhận được Nguyệt san VietHome do chị Ðỗ Mùi gửi tặng. Báo hiện nay đã ra đến số 4, in mầu giấy láng từ trong ra ngoaì, baì vở nhiều tiết mục: khoa hoc, van học, nhiếp anh? y tế, gia chánh.....có baì viết bằng tiếng Mỹ, do một nhóm trẻ đảm nhận. Người chủ trương là chị Ðỗ Mùi, một khuôn mặt quen thuộc trong lĩnh vực báo chí.
4. CD của NS Phạm Duy
VIII . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Phan Thái Yên
Trong nhóm bạn tù bốn người, chỉ mình Hổ có gia đình ở Sài Gòn. Hai bạn độc thân quê ở nơi xa nhất của vùng Lục Tỉnh. Người lính tù có gia đình tận ngoài Trung vẫn thường kể cho bạn nghe về thành phố quê hương bên bờ vịnh biển. Thành phố anh và cô học trò chung lớp đã lớn lên theo từng mùa phượng rực rỡ bến nước Hàn giang. Họ thành đôi vợ chồng, long đong theo vận nước điêu linh. Ðứa con đầu lòng ra đời trong cha con đành đoạn chia lìa. Con gái sắp sửa thôi nôi thế mà bố chỉ mới thấy mặt qua vài tấm hình mẹ gởi vào. Anh vẫn thường chăm chú nhìn theo mỗi bóng dáng mẹ bồng con thơ trên những chiếc xe đò tốc hành chạy trên quốc lộ để rồi luyến tiếc ngẩn ngơ... Hổ là phi công chiến đấu. Anh cưới vợ vào tuần cuối tháng Tư . Ðể chính thức mà đưa nhau đi. Số phận đã dành cho cô gái vừa tròn đôi mươi sớm biết nỗi buồn cô phụ.
Cơn nắng trưa rực rỡ xuyên qua tàng lá, chạm trổ lên lối đất bụi đỏ từng miếng nắng vàng tươi nôn nao mời đón từng bước chân người vợ xao xuyến tìm chồng. Người đàn bà trẻ còn nét thẹn thùng con gái. Khuôn mặt nàng hồng lên, chẳng biết vì nắng đường xa hay vì cơn sóng hạnh phúc đang rợn ngợp lòng nàng.
Nhóm lính tù chia nhau cất giấu quà tiếp tế cho bạn. Họ mừng rỡ nâng niu cặp gà trống mái vừa lớn bằng nắm tay đang chiêm chiếp gọi nhau.
Rừng trưa im vắng, thì thào cơn gió nhẹ luồn bay trong lá, rời rợt tiếng chim. Xa xa lính canh tù nằm biếng lười trên những chiếc võng treo dưới tàng cây, đong đưa giấc ngủ trưa hấp háy bụi nắng chao rụng theo nhịp võng. Vùng cỏ tình son cũng động lòng chăn chiếu, cuống quýt rạp mình cho thèm khát mở toang. Bao trằn trọc nhớ nhung ấp ủ trong mường tượng bơ vơ của một suốt thời gian xa cách đang chìm níu sâu ngập vào nhau. Mắt ríu lại cho trưa hè chợt buông đêm nguyệt tận. Ðêm chật ních không gian, đêm trói chặt đôi thân ghì xiết cho tiếng đam mê chợt thảng thốt môi gào...
Thời gian người đàn bà ở lại lén thăm chồng, mỗi buổi rừng trưa là mỗi đợt sóng hừng hực cơn hạnh phúc trào dâng. Những vạt cỏ bồng nghiêng ngả và đôi mắt nhắm rạng rỡ níu ghì giòng cảm giác thống lộng, nhấp nhô theo từng con sóng xúc động vỡ bờ.
Ngày Hổ nhận thư vợ báo tin mừng hắn vui sướng hả hê. Hổ ôm chầm lấy cặp gà nựng nịu khiến hai con gà đang trổ mã hoảng sợ gáy la inh ỏi. Nhìn cặp gà lúc thúc theo nhau tìm ăn trong dãi đất trống ranh giới giữa trại tù và khu nhà quản giáo, Hổ mơ màng chuyện tương lai. Hắn hi vọng không lâu sau ngày đứa bé ra đời, Hổ sẽ được trả tự do. Cặp gà lúc đó đã lủ khủ một bầy con và Hổ sẽ mang về làm qùa cho đứa con đầu lòng của mình.
Giấc mơ không hề thành sự thật. Tai họa đổ ụp xuống kiếp người vắn số. Trong buổi lao động dọn dẹp khai quang cái đầm nước trước khu nhà quản giáo cho dịp lễ đầu tháng Chín, Hổ đạp nhằm trái lựu đạn còn sót lại từ thời chiến tranh. Ba người bạn tù trong nhóm tình cờ đứng cách một mô đất nên chỉ bị xây xát nhẹ. Khuôn mặt Hổ bị cắm nhiều miểng đạn và phần bụng bị miểng cày nát toang. Nhìn vết thương quá trầm trọng, viên y sĩ bộ đội với lòng tự trọng tối thiểu đã trao dao kéo cho người tù bác sĩ giải phẩu của Quân Y Viện Cộng Hòa trước 75. Sau hai ngày cố gắng hết lòng, người thầy thuốc đành gạt lệ vuốt mắt cho bạn tù. Ông ngao ngán nhìn căn phòng trống, vải trắng giăng quanh, được dùng làm phòng giải phẩu. Hổ nằm đó yên lặng muôn đời trên chiếc bàn ping-pong phủ khăn trắng. Chai nước biển bạn tù quyên góp nằm chúc đầu khô cạn, ống chuyền cao su treo hờ hửng buông lơi. Giấc mơ nhỏ nhoi mang bầy gà cho đứa con ngày trở về chỉ còn lại lời trăn trối rời rạc. Ngón tay lơi thả xuôi vĩnh cửu lúc môi khô mấp máy tên gọi người thân trước hơi thở cuối cùng.
Người lính tù đã qua đời vào buổi sớm một ngày cuối tháng Tám. Ban quản giáo trại không muốn bị bận rộn phiền phức, đã cho chôn cất Hổ ngay buổi chiều hôm đó. Quan tài đóng vội bằng gổ vỏ thùng đạn đại bác. Tấm hình Hổ trong quân phục bay được lén đặt lên quan tài, nhỏ nhoi sau vòng hoa khoai màu tím kết chung với nhiều dây hoa súng trắng hái lên từ đầm nước oan khiên. Ðám tang thì buồn. Toàn trại tù đứng lặng yên, nuốt ngược giòng nước mắt thương hận. Họ nhìn Hổ giây phút cuối. Giọng nói đều đều bài bản của viên quản giáo như những tiếng động vô nghĩa, lả tả rụng rơi không một âm vọng. Còn lại nụ cười tươi của người lính tỏa rạng, lan xa, tiếp chuyền với tiếng cười hạnh phúc trong khu rừng trưa dòn tan bóng nắng. Còn lại giấc mơ đời người mà sao cuộc trở về đã chợt vĩnh chung.
Nhóm lính gánh bạn đi theo người tù tuyên úy về phía ngọn đồi bên trên khu canh tác phía ngoài rào trại. Tay ôm tấm hình người lính có nụ cười tươi và ngọn đèn dầu chai thay nến leo lét cháy, ông cúi đầu chậm rãi bước trong chiều hôm. Cơn mưa thay mùa đêm trước làm lối dốc đất đỏ nhảo mềm. Từng bước chân khổ ải bấm vào đất đỏ như máu rịn tươm đi về phiá huyệt mộ. Lời kinh cầu khản nghẹn cơn đau thương trầm thống như heo may về đan kín ngày tháng muộn phiền. Người lính tù đứng lặng nhìn ánh đèn chuyến xe tốc hành trên quốc lộ chạy về phía quê hương. Ngọn đèn xa xăm như vì sao băng trễ nải muộn màng. Giấc mơ anh nơi đó. Gia đình vợ con, chắt chiu trong hồn anh đằm thắm thiết tha, sao chợt xa xôi như tận cuối một tinh cầu.
Cặp gà lớn nhanh trong sự săn sóc của nhóm lính tù. Dãi đất trống phía ngoài rào trại vui mắt hơn với hình ảnh cô cậu gà trổ mã dẩn nhau đi tìm ăn. Chiếc đuôi sặc sỡ của chú gà trống cong dài, láng mượt, lôi cuốn cô gà mái lông màu vàng mơ bươn bả theo sau như bóng với hình. Chú gà thường đắc chí vỗ xành xạch đôi cánh vũ óng ánh màu đỏ tiá rồi cất tiếng gáy rồ rồ cụt ngủn như cậu con trai vừa bể giọng. Chú chăm chỉ luyện giọng nên chẳng mấy chốc mà tiếng gáy đã sắc sảo uy nghi. Mỗi sáng sớm, chú nhảy ra khỏi góc bếp, bay qua rào rồi bươn chạy ra dải đất trống phía cổng trại, cất tiếng gáy chào đón bình minh. Một buổi sáng, đoàn tù cuốc xẻng trên vai theo nhau bước qua cổng trại ra vùng canh tác lao động. Không hẹn mà họ cùng dừng chân, xúc động nhìn con gà trống đứng hùng dũng trên nóc pháo tháp xác chiếc T54 hoen rỉ, cháy nám, loang lổ vết đạn. Chú oai vệ vỗ cánh, cổ vươn cao cất tiếng gáy sang cả uy nghi. Cảm giác bồi hồi nghe chân mình dỏng dạc bước đi trong tiếng gáy uy vũ vang vọng chiến thắng đã mang lại cho người lính tù chút giây phút ấm lòng mỗi sáng bước qua cổng trại tù.
Buổi sáng, lần đầu tiên nhóm lính tù chứng kiến cảnh con gà trống đạp mái là một ngày vui trọng đại. Những lời phê phán, đùa bỡn qua lại, ồn sặc trong khói thuốc lào gắt nồng. Ðây là lần chúng nó bị bắt quả tang đang “dỉnh” phao câu, còn bao nhiêu lần chùng lén trước mình không biết thì sao? Như vậy là tiền dâm hậu thú, không được. Lo mà cưới hỏi cho tụi nó gấp đi. Không thấy thằng Tía mặc áo mưa gì cả, sớn sác mà con Mơ chình ình cái bụng lên thì mang tiếng với xóm giềng chết...
Thế là nhóm lính tù chia hai, làm sui. Ðàng trai đàng gái xúm lại làm đám cưới cho thằng Tía, con Mơ. Tiệc cưới cũng rình rang lắm. Chè bí đường tán, chè long tu, cà phê gạo rang, nước rể tranh, thuốc lào, thuốc điếu... Mọi người vui vẽ suốt buổi sáng cuối tuần hôm đó.
Cuộc hôn nhân cũng trải qua những thử thách gay go. Không lâu sau ngày cưới, một con gà mái lạ thỉnh thoảng mon men vào trong sân tìm trống. Chỉ sau vài chạng vạng kín đáo theo dõi gã vệ binh hối hả nuôi con gà mái vừa sở hửu, nhóm lính tù đã dò biết được lý lịch của o gà bộ đội. O được người vệ binh có giọng nói sệt nặng miền ngoài bồng theo về sau lần thăm quê mới đây. Khoảng đất trống màu mở có lắm cái ăn, mà o gà bộ đội lại lắm từng trải bon chen nên o mập ra và láng lẩy nhanh đến trông thấy. Gã vệ binh rất nóng lòng trong việc tăng gia cải thiện. Hắn chong chuốc nghĩ tới bầy gà con, rồi bầy gà lớn lên, tiếp tục sanh sôi, làm lòng hắn cứ bấn lên khoan khoái. Mỗi lần nhác thấy bóng chú gà trống đi thơ thẩn trong sân là hắn vội vàng xua gà chui qua rào, miệng hăm hở thúc giục răn đe. Con gà mái của gã vệ binh lật đật bước quanh sân, lông sù ra, từ chiếc mỏ phát ra tiếng rù rúc gọi tình. O tiến tới trước mặt con Tía, rùn người xuống, lông đuôi xừng dựng lên chờ đợi.
- Ðây là thế “bành kê dụ địch”, rất là gay cấn. Ðể coi thằng Tía xử sự ra sao.
Ðang hồi hộp theo dõi từng diễn biến trên khoảng sân trống, nhóm lính nghe người bạn tù trẻ dí dỏm diễn nghĩa, không nén được tiếng cười. Con Tía nghểnh cổ nhìn vội o gà mái quá thì, lang chạ, cất tiếng gáy gọn lảy chê bai rồi chạy theo con Mơ đang kiêu sa bước về phía rào trại. Có tiếng gã vệ binh bực dọc gọi gà về chuồng. Tiếng quát tháo phát ra từ phía bụi chuối bên kia khoảng sân trống đang chìm dần trong bóng tối cuối ngày.
3.
Hai người lính tù bước ra khỏi nơi kiên giam. Họ được thả sớm một ngày nhờ gia đình Hổ lên dời mộ, ban quản trại cho phép đến thăm đểø nhận di vật của chồng. Lối vào trại nắng chói chang, có lẽ vì suốt tuần lễ qua họ mãi nằm trong bóng tối. Mẹ Mơ đã bỏ ổ, theo bố Tía, dẫn con đi ăn trong khoảng sân quen thuộc. Họ đứng lặng người nhìn cảnh gia đình đầm ấm của đàn gà. Con gà trống tuy chậm chạp vì vết thương chưa lành, đôi chân vẫn bận rộn bươi xới tìm mồi. Bầy gà con như những nắm tơ vàng óng, ríu rít quẩn quanh dưới đôi cánh mẹ sù lên bảo bọc. Con gà mái tơ hôm nào, bây giờ là bà mẹ hiền thảo, sẳn lòng liều chết vì con. Một lát nữa đây đàn gà sẽ được trao lại cho gia đình người bạn tù. Ðiều nhỏ nhoi sót lại từ giấc mơ của một đời người. Còn niềm hạnh phúc lớn lao của cuộc trở về thì đã ngàn thu.
Anh nghĩ tới người đàn bà trẻ sống trọn vẹn với chồng những buổi rừng trưa năm trước, bây giờ là một người mẹ. Anh tự nhủ sẽ không quên hỏi tên đứa con nàng ẳm theo trong ngày dời mộ cha. Anh đã biết, anh vẫn nhớ, bởi đó là tên giấc mơ của người cha đã sống động trong từng hơi thở, tiếng gọi mỗi ngày. Anh muốn được một lần nghe lại âm thanh trìu mến đó, từ người mẹ, như sự an ủi cuối cùng cho người lính tù tuẫn nạn. Cho anh. Ðể nhủ lòng màsống qua cơn mộng dử.
10, 2003
- Cậu Thuần ơi, ông ấy đi rồi.
- Bà nói gì vậy ? Ông ấy đi đâu?
Giọng nói ngập ngừng qua tiếng nấc nghẹn.
- Ông Bích chết rồi.
Tôi rất sợ những cú điện thoại bất ngờ trong đêm khuya, vì hầu như chỉ mang đến những tin báo bất thường.Cú điện thoại nữa đêm nầy không ngoại lệ, tôi gác máy vẩn bàng hoàng. Không nghĩ rằng Oâng Bích lại ra đi bất ngờ như vậy. Cách đây không lâu, anh Phan có đến thăm chúng tôi, kể lại chuyện đến thăm gia đình ông Bích trên một thành phố nhỏ thuộc tiểu bang Wisconsin, anh bảo ông rất vui mừng gặp lại anh, nhìn ông hãy còn khỏe mạnh và yêu đời lắm. Lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau cũng đã mấy năm qua, ông vẩn mừng rỡ tíu tít, đi tìm cho bằng được con ngỗng trắng về đánh tiết canh đãi tôi và Phan. Sáng ngày trước khi về ông còn tần ngần nhắn qua khung cửa xe dặn dò cẩn thận đôi lần, phải cố gắng sang thăm một lần nữa, trước khi mùa đông đến, lúc đường xá hãy còn thuận tiện, và nhất là sắp đến lễ Tạ Ơn, cũng là mùa săn nai
- Nầy các cậu nhớ nhé, sang khoảng cuối mùa thu, trước khi trời đổ tuyết, đường đi khó khăn, tớ sẽ cố tìm cho được một đùi, nai tơ đấy, tuyệt hảo các cậu ạ !
Mùa đông ở Wisconsin vì nằm về phía bắc cho nên lạnh hơn Whiting. Cái thành phố nhỏ xíu, nơi ông cư ngụ nằm sát bờ hồ, rất lạnh, lại thêm triền miên bão tuyết, dân cư thưa thớt, hầu hết là dân cao niên, đã về hưu, tuổi quá lục tuần, không bận bịu công việc nên mấy người bạn già kéo nhau đánh chắn, xoa mạt chược, hay binh xập xám hàng ngày . Oâng nhắc mãi, lần nào chúng tôi điện thoại sang thăm cũng nói năng ríu rít, cứ bảo cố gắng sang thăm ông một cuối tuần, khó nổi tôi và Phan không nghĩ cùng ngày, công việc và sở làm khác nhau, chỉ trừ khi lấy ngày nghĩ phép thì mới có hy vọng. Mãi rồi chúng tôi cũng chọn được ngày, thế là bầu đoàn thê tử lặn lội đến thăm .Khi từ giã ra về, ông Ngọc tiển đưa chúng tôi ra tận cửa xe, còn ân cần dúi thêm mấy gói thịt sóc đông lạnh vào tay Phan
- Nầy, mang về mà đánh chén, hiếm lắm đấỵ
Nhớ lại thuở chân ướt chân ráo về định cư ở Whiting,về những ngày tháng sống chung nhau trong căn nhà nhỏ, những bữa chén ông, chén tôi, chén cậu, chén tớ.Oâng bao giờ cũng lạc quan, có tí tiền còm, thì rượu tây, rượu Mỹ, Cognac, Voska, không thì một xách bia Hams cũng qua ngàỵ
Khi buớc xuống phi trường O’Hare, nhìn một gia đình lóc nhóc con thơ, họ cũng chờ đợi như chúng tôịNgười đàn ông tuổi độ trung niên, chưa quá tứ tuần, vóc người nhỏ nhắn nhưng trông điệu bộ thì có vẻ tinh anh nhanh nhẹn, ba đứa trẻ nhỏ, hai chú nhóc dính mũi vào cửa kính nhìn máy bay lên xuống tấp nập, người đi rộn ràng. Người đàn bà trông dáng dấp mộc mạc hiền lành, dáng người mảnh khảnh, ôm một dứa bé gái trên taỵOâng ta tiến lại niềm nở chào và hỏi thăm
- Các cậu về đâu vậỷ
- Chúng tôi về Whiting, còn ông?
- Thế à! Gia đình tôi cũng về Whiting , Tốt quá, vậy là chúng ta cùng về một nơị
Thì ra chúng tôi có chung một nhà thờ bảo trợ.Về đến Whiting, được biết nhà thờ mướn cho chúng tôi một căn nhà để làm chổ tạm cư. Nhà có ba phòng ngũ, mấy thằng tôi còn độc thân nên nhường lại cả tầng trên cho gia đình ông, chúng tôi dọn xuống tầng hầm, đã từng ngũ trong trại binh, lang thang trong trại tị nạn, ngũ trong nhà tập thể với mấy cái giường hai tầng thì ở căn hầm nầy cũng đã là thiên dường.
Quen nhau mới biết rõ tình cảnh dở khóc dở cười, ông trên đường di tản sau khi tan hàng rã ngũ, vợ con chẳng được đi cùng, bà mang con cái theo thuyền đánh cá ra khơi chạy loạn và để tránhï đạn Cộng sản pháo kích vào thành phố, tưởng chỉ tạm thời, qua ngày yên ổn lại trở vào, không ngờ nước mất nhà tan, tàu bơ vơ lênh đênh không nơi cập bến, gặp hạm dội Mỹ đang chờ sẳn ở ngoài khơi, họ ngỡ là dân bỏ nước chạy nên vớt cả tàu rồi mang tuốt sang trại tỵ nạn Phi Luật Tân. Ở đấy, rồi lại lang thang theo đoàn người tị nạn Cộng sản lũ lượt vào đất Mỹ, giữa lúc hoang mang, ông chỉ có một thân, nhìn mấy đứa bé lại thêm nhớ bầy trẻ lưu lạc quê nhà, bà thân nhân không có, một nách ba đứa con, tay yếu chân mềm, hai ông bà gặp nhau, cám cảnh nương nhờ, gá nghĩa vợ chồng nên duyên bèo nước.
Chưa quen với cái gay lạnh mùa thu, tháng mười chưa chiều đã tối, Bắc Mỹ cuối mùa thu với ngày ngắn đêm dài. Sau những thủ tục cần thiết để bắt đầu cho cuộc sống , ngày ngày vác đơn đi xin việc làm, chiều về chia nhau cái bếp nhỏ nấu cơm. Ba đứa trẻ con được gởi vào trường tiểu học của nhà thờ bảo trợ Sacred Heart, thực phẩm từ lòng hảo tâm của nhà thờ mang tặng, không một tên nào nuốt nổi. Thank Giving, được gia đình ông bảo trợ trong nhà thờ mời đến chung vui, mấy thằng độc thân lần đầu tiên nếm thử thịt gà tây nhồi bánh mì nướng thật vàng, thơm ngát, trên bàn ê hề bao nhiêu là thức ăn, bánh trái, cà phê, vẩn thèm thuồng tô phở nóng với dăm miếng thịc bò tái và cọng hành xanh vắt ngang, hay chỉ cần miếng cơm cháy những lần đi chơi về trể giờ cơm, tưới lên một chút mở hành, chỉ nghĩ đến bấy nhiêu đó cũng đủ làm xao xuyến tấm lòng mấy thằng tha hương ngơ ngác.
Nhà thờ có người mang tặng cho chiếc xe Chevrolet cũ, trong đời chưa bao giờ được làm chủ một chiếc xe hơi, chưa kịp hỏi cách bảo trì, ông Bích rũ tôi tìm đường đi chợ tàu mua thực phẩm, thế là hai người chở nhau lên xa lộ, cứ nhắm hướng mà chạy, lang thang mãi, cuối cùng cũng tìm được chợ Tàu, mua được bao gạo và chai nước mắm, lúc trở về mới thật nhiêu khê, đi qua khu South side Chicago nổi tiếng trộm cướp, chiếc xe dở chứng nằm ỳ bốc khói, loay hoay mãi cũng không sao chạy , cuối cùng phải kéo về nhà, vị chi giá của bao gạo,chai nước mắm và chuyến phiêu lưu làm hai chúng tôi cạn túi, bù lại cho cả nhà có được bửa cơm đậm đà hương vị quê hương.
Cha Xứ cho ông Bích vào nhà thờ giúp việc dọn dẹp hàng ngày, còn thằng tôi xin được công việc rưã chén, lau chùi, phụ bếp ở nhà hàng Tàu, nằm ở cuối con đường xa lộ, cái ngõ rẽ đầu tiên vào thành phố, cách nhà hơn một dặm đường. Bấy giờ thì không còn phải thèm thuồng cơm rau và thức ăn quen thuộc nữa, chưa kể thỉnh thoảng được bà chủ thương hại hoàn cảnh tị nạn, lại biếu thêm chút đỉnh thực phẩm để mang về. Mặc dù công việc trong nhà bếp cực nhọc, lương bổng thật tồi tệ, nhưng nghề lính đã bao năm, có chút khả năng bay bỗng, khi xuống ca thì chỉ tụ họp dăm ba, ngồi binh xập xám hay đánh đàn, sang mãi cái xứ đạo đìu hiu nầy, biết lấy gì làm hành trang sưã soạn cho cuộc đổi đờỉ
Trong lúc đó thì ông bảo trợ cũng khuyên ráng chờ đợi ít lâu, hy vọng sẽ tìm được công việc khá hơn. Chúng tôi tạm sống chung dưới một mái nhà Tôi chỉ đi làm vào cuối tuần, lương ba cọc, nhưng cũng có ngày chén chú chén anh, nhờ vào nhà hàng Tàu nên chuyện ăn uống cũng không đến nổi kham khổ, có khi thịt quay, khi cá hấp…Một hôm ông Bích hỏi tôi :
- Cậu làm trong nhà bếp, thế ở đấy có thịt vịt tươi không?
- Thứ đó thì thiếu giống gì , bao nhiêu chẳng có.
- Tớ thèm cháo vịt tươi quá, hay là cậu cố xin bà chủ chia lại cho một con mang về, tớ sẽ chung tiền mua bia, chúng ta cùng đánh chén vậỵ
Tôi lại lễ mễ xin với chủ nhà hàng, khi thì con vịt tươi, lúc thì con cá chẻm, cũng chung nhau được một bữa chén ông ly tôi, cuộc sống tạm bình yên qua ngày tháng.
Thật là buồn cười tình cảnh của hai vợ chồng, suốt ngày, bao giờ cũng cải nhau như trâu trắng trâu đen, như bầm bầu. xong lại làm lành đó. Tạm cư chưa đầy năm đã có thêm một đứa bé gái trong nhà. Ðứa bé đầy năm , chưa kịp nói năng thì đã thấy bà cưu mang đứa khác. Tình huống thật là cười ra nước mắt, cái vốn Anh ngữ của tôi chỉ đủ để làm thông dịch viên trong trại, vì trong đám người mù thì thằng chột làm vua, không ngờ lại theo đuổi tôi mãi đến chốn nầy. Trở ngại bây giờ là tôi chưa gặp trường hợp phải thông ngôn cho phụ nử sinh sản bao giờ. Ở quê nhà, chuyện nầy các bà thì thầm với nhau, người phụ nữ gần gũi nhất với tôi thời thơ ấu là chị Hai, lớn hơn tôi muời hai tuổi, chị tôi cũng bao nhiêu lần cưu mang sinh nở, theo gót chân chinh chiến của Anh, mỗi đứa cháu khai sanh một thị trấn xa lạ, nhưng cho đến khi tôi bế đứa cháu đầu tiên trên tay thì con bé đã gần đầy năm.
Tôi đi làm về đến nhà, thường đọc sách báo xong là lăn ra ngũ, thằng bé Tân lớn nhất chưa lên mười, chạy rầm rập xuống nhà dựng dậy
- Cậu ơi!, cứu Mẹ cháu kẻo chết.
- Chuyện gì vậy ?
- Mẹ cháu ngã bệnh, bà nói máu ra nhiều quá
Tôi chỉ kịp khoát cái áo lên người và chạy lên nhà theo sau thằng bé, trông thấy bà nằm trên giường mệt lã người, không còn sức lực để rên rĩ, ông Bích lăng xăng lo đi nấu nước, rồi đứng ngẩn người không biết phải làm gì.Tôi quay số điện thoại khẩn cấp gọi xe cứu thương, chỉ mấy phút sau là đã đến, họ hỏi có thân nhân nào muốn di theo, và cho một người cùng lên xe thôi, ông Bích thì bấy giờ như lạc hồn, ngơ ngác, bà nhìn sang tôi cầu cứu, muốn nhờ tôi đi theo làm thông ngôn, thôi thì cứu được người là quan trọng, tôi cố moi óc những từ ngữ chuyên môn còn nhớ được, giải thích cho những nhân viên y tế tình trạng bệnh hoạn của bà. Họ đưa bà vào bệnh viện cấp cứu, tiếp máu và mổ bụng mang thai nhi ra, con bé thiếu tháng, nhỏ như con búp bê, nhưng mẹ tròn con vuông, tôi cũng thấy mừng vui, an lòng. Bà đặt tên con bé là Mai ( bà nghĩ thật đơn giản “ nó may mắn lắm, ở bên nhà chắc nó không sống sót ) Sau khi sanh con bé nầy, bác sĩ khuyên bà không nên cưu mang nữa, tuồi bà đã cao, tử cung đã mất sức chịu đựng, nếu còn mang thai lần nữa, bác sỉ ngại sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng, sau khi về nhà và hồi phục lại sức khỏe, bà cấm cửa ông Bích từ đâỵ
Riêng tôi dần dà cũng quen những cuộc cải vã, tiếng ồn ào của lũ trẽ con không còn phiền nhiểu như những ngày đầu tiên .Cuộc sống tất bật , đôn đáo tìm việc, mầy mò các nơi, cố gắng tìm một con đường tiến tới. Làm nhà hàng thì chỉ nghỉ ngày thường trong tuần, cuối tuần là lúc bận rộn, có khi dọn dẹp về đến nhà là đã mệt nhoài. Cũng may là bọn trẻ con đi học, nhà vắng tiếng chúng chạy giởn vui đùa, tôi có muốn học hành hay nghĩ ngơi cũng không có ai làm bận rộn, chỉ có ông Bích buồn buồn lại hay rũ ren, đôi khi ngồi chén rượu mềm môi, những ngày tháng lê thê mùa đông thêm lạnh lùng hiu hắt, lại càng nhớ thương cha mẹ già, em daị ở mãi tận chốn quê hương mù khơi.
Oâng Bích có cái am tường, lịch lãm của một người cao tuổi và đã đi qua nhiều nơi. Tuy nhiên, chuyện kể của ông mười phần chỉ nên tin vào ba phần sự thật, dù sao cũng cố gắng nghe cho phôi pha, cho qua ngày dài, đoạn tháng. Thật ra tôi cũng chẳng tò mò hỏi han trước đây ông làm công việc gì, những chuyện kể rời rạc lúc trà dư tửu hậu, những thêu dệt của một quá khứ huy hoàng tất cả không còn cần thiết, ông cũng như tôi, lạc loài trên xứ lạ, ngôn ngữ dị biệt, bước đầu, hoàn cảnh khó khăn, cố gắng tìm công việc mưu sinh hàng ngày, với mớ vốn Anh Ngữ trong quân đội, sang đến trại tị nạn, hoang mang trước đới sống mới, nhìn quanh, thấy sự thua thiệt đối với di dân đã cư trú lâu đời hơn, tôi cố gắng học hỏi thêm, biết mình phải tự tìm lấy con đường đi lên chứ không thể ngồi chờ cơ hội.
Tháng tư, sáu tháng sau khi rời trại Fort Chaffee về định cư ở Whiting , nhờ ông bảo trợ nộp đơn dùm, tôi trúng tuyển vào vừa làm vừa học nghề trong công xưởng kỷ nghệ nặng (chuyên viên sửa chửa và bảo trì ngành kỷ nghệ nặng) cho US Steel, là hảng lọc và biến chế sắt thép từ quặng mõ. Hàng ngày, ngoài tám tiếng vừa làm vừa học, tối về lại cắp sách tiếp tục vào mài ghế đại học Purdue, nghiền ngẫm, gậm nhấm thêm chút ít chử nghiã, những tưởng đã không còn cơ hội trở lại thời học trò, sách vở quăng đi từ ngày mặc áo quân đôị lên đường. Bây giờ cuộc đời tôi lại bước sang một ngõ quanh, qua thêm một chương mới.
Ông Bích rồi cũng tìm được việc làm trong thành phố, chăm sóc cây cỏ bồn hoa trong các công viên. Công việc mưu sinh tạm ổn, Tôi đi học, đi làm, giờ giấc xoay dần, thời khoá biểu không nhất định, vì công xưởng chạy không ngừng, suốt hai muơi bốn tiếng mỗi ngày. Mổi tuần làm bốn mươi tiếng, nhưng ngày nghỉ cũng bất thường, không như giờ hành chánh, khi nào làm hơn số giờ đã ấn định thì được trả lương phụ trội, công nhân làm việc có nghiệp đoàn giúp đở,, giờ giấc chia làm ba thời sáng, trưa, chiều. Làm giờ nào thì được trả lương theo giờ nấỵ
Thành phố Whiting rất nhỏ, nằm bên cạnh hồ Michigan, phía đông nam cuả Chicago, dân cư thưa thớt, chỉ có vài ngàn nhân khẩu , hầu hết làm việc cho các công xưởng chung quanh, lớn nhất là xưởng lọc dầu Amoco, bên cạnh dó là xưởng xà bông Lever Brother và xưởng dầu bắp Mayzo. Con dường xa lộ liên bang rộng thênh thang, xây thật cao, ngang qua khu vực South side cuả thành phố Chicago, còn gọi là Skyway, hay là I -90 nối liền Chicago và tây bắc tiểu bang Indiana, vòng xuống phía nam hồ Michigan và sang mãi tiểu bang Michigan. Từ trêân skyway I-90 nhìn xuống thấy từng cụm khói trắng nhả ra từ những ống khói chọc trời , quanh năm nhở nhơ bay lượn. như một màn sương mù lãng đãng …Thuở ban đầu, nghe gọi tên tỉnh lỵ là Whiting, khi xe sắp đến nơi, đã nhìn thấy những làn khói trắng, tôi liên tưởng đến đám mây trắng quê nhà , nhưng thật ra đó là tên của người di dân da trắng đến định cư thuở đầu tiên và lập ra thành phố nhỏ nằm giữa vùng hồ thơ mộng nầy .Whiting bao bọc bằng hai hồ nhỏ ,Wolf lake và George lake, phía bắc là Michigan hồ lớn thứ nhì trong Ngũ Ðại Hồ. Phố chính chỉ là con dường ngắn, le hoe vài cửa hàng, trước đây đường phố đều lót bằng loại gạch nung màu đỏ, hiện nay hầu hết đường phố tráng nhựa, chỉ còn lại hai con đường Cleveland và Pennsylvania được giữ nguyên , trùng tu, thành phố có một rạp hát duy nhất, vẩn còn hoạt động, đi quanh một vòng, chỉ mất vài phút thôi, nhưng đếm lại, nhiều nhất là nhà thờ, ở mỗi con đường chính, mỗi góc phố đều có những gác chuông. Chúa nhật, các cửa hàng, tiệm rượu, đều đóng cửa, chỉ có chuông nhà thờ ngân nga từ sáng sớm, Những ngày hè nắng ấm, bên bãi cát của hai bờ hồ, từng nhóm gia đình, già trẻ tung tăng, khói lò than và thịt nướng thơm lừng.
Trọn một năm, tôi từ giã gia đình ông Bích, dọn về một phòng trọ khác, chỉ cách nhau một con đường. Cuộc sống thay đổi, giờ giấc làm việc cũng như học hành bận rộn cuả tôi, hàng ngày đi về bất thường, và không muốn làm phiền moị người. Căn phòng trọ nhỏ chỉ đủ chổ nghĩ chân, bếp nước khiêm nhượng.Thỉnh thoảng, ngày nghĩ, chúng tôi gặp nhau, cũng chén tớ chén cậu khề khà.Tôi vẩn vùi đầu vào sách vở, trong lúc đồng bào đang ồ ạt tìm đường thoát thân, thuyền nhân tràn ngập các trại tị nạn trong vùng Ðông nam á, từ Thailand đến Malaysia, Indonesia . Với luồng sóng tị nạn đổ vào phi trường O’Hare, tôi lại một lần nữa lang thang khăn gói về Chicago, đi làm công tác thiện nguyện, mang dấu hiệu ICEM của cơ quan hướng dẩn người tị nạn, chỉ dẩn cách điền các mẫu đơn nhập cảnh, dẩn dắt đưa đón qua các ngã rẽ trong phi trường để đồng bào tị nạn mới đến có thể bắt kịp chuyến bay chuyển tiếpï về nơi tạm cư. Kế đến, các hội bảo trợ của các nhà thờ, cơ quan xả hội cũng cần những người thiện nguyện đến làm công tác xã hội , thông dịch, giúp đở, đưa đón hướng dẩn đồng hương trong bước đầu thích nghi vào cuộc sống mới. Cũng trong những đợt sóng đời nhấp nhô xô đẩy nầy, thuyền tôi tìm được bến đỗ, nhưng đây là chuyện sau nầỵ
Trở lại chuyện gia đình ông Bích, hai chú bé con Tân và Phương lớn như cỏ dại, cô nhỏ khóc oe oe chào đời trong cái thành phố nhỏ như bàn tay nầy cũng lớn nhanh như thổi. Nào lễ rửa tội, rồi thêm sức, chuyển trường, rồi tốt nghiệp trung học. Ngày tháng qua nhanh, mỗi lần gặp nhau như cơn gió, thoáng rồi qua đi.
Bản thân tôi rồi cũng đại tiểu đăng khoa, thê nhi yên ấm, tay bế tay bồng. Phần Oâng Bích đã bao nhiêu lần thay đổi công việc, xếp hàng chờ lảnh trợ cấp thất nghiệp, làm đơn xin việc khác, tuổi tác càng ngày càng cao, lại không có khả năng chuyên môn,rất khó tìm công việc thích hợp, vững chắc, ông trôi nổi theo những công việc bán thời gian, khi làm khi nghỉ. Cuối cùng cũng đến tuổi hưu non, ông đến thăm và từ giã chúng tôi dể dọn sang tiểu bang khác, tôi tưởng ông về Mississippi hay Louisiana, vùng biển ấm áp để an hưởng tuổi già, không ngờ ông lại dọn về phía bắc của hồ Michigan thuộc tiểu bang Wisconsin. Thành phố rất nhỏ, cách Milwaukee hơn tiếng lái xe, nằm sát hồ, dân cư lại càng thưa thớt hơn Whiting, lý do duy nhất là nơi đó ưu đãi người già, tiền trợ cấp cao, cho nên đã có nhiều người cao niên về đây cư ngụ, mùa đông dù có khắc nghiệt, nhưng không phải đi làm, dậy sớm thức khuya, họ chỉ tụ họp nhau đánh chắn, tổ tôm, tứ sắc…mùa hè thì đi câu cá, trồng rau, cuộc sống cũng bình an.
Ông Bích mang bầu đoàn thê tử rời đi, hai chú bé Tân và Phương đã vào đại học, hai cô bé con tóc đã cột đuôi gà, chúng tôi vẩn tin đi, tin về thường xuyên thăm hỏi, ông vẩn ân cần nhắc tôi mùa hè mang vợ con sang thăm ông một chuyến, nhưng ngày tháng qua nhanh, mỗi lần bọn trẻ nghĩ hè, chúng tôi lại mang các con đi thăm các tiểu bang nắng ấm mà chưa có dịp về thăm ông. Phan đã đến thăm gia đình ông nhiều lần, lần nào ông cũng lể mể gởi quà về biếu chúng tôi, khi thì quả bầu xanh, khi thì khô cá miền nam gỏi về. Hẹn lần hẹn lựa, cuối cùng thì cũng lôi được Phan tháp tùng chúng tôi sang thăm. Ðến nơi, ông mừng rỡ rối rít, miệng hối bà , rồi lăng xăng lo làm cơm trưa, còn hẹn chiều nay sẽ đánh chén tiết canh ngỗng trắng…
Sau chuyến đi thăm, lại bận bịu tất bật với nợ áo cơm, chúng tôi chỉ gọi thăm nhau, mỗi năm lễ Tết, Giáng sinh, vẩn thiệp chúc mừng. Cho đến khi nhận cú điện thọai bất ngờ, tôi bàng hoàng, nghĩ rằng mình không nghe kịp nên hỏi đi hỏi lại đôi lần. Khi biết chắc là không nằm mơ, tôi quay sang nhà tôi
- Sáng ngày. Anh phải gọi Phan, ông bà Jerry, chắc cũng phải gọi vào sở xin phép nghỉ đôi ngàỵ
- Có lẽ chưa chôn cất hay ma chay gì ngay lúc nầy, còn phải liên lạc với bà con , họ hàng nữa chứ.
- Oâng chẳng có bao nhiêu người thân, quen lâu nhất thì chỉ có mấy thằng bọn anh thôi, họ hàng ông chẳng biết trôi dạt nơi nàọ
- Mình cũng chưa biết ngày nào sẽ cử hành tang lể, nghĩa tử là nghĩa tận, anh phải đến thăm thôi, dù gì cũng hai mươi năm quen biết nhaụ
Khi Phan và tôi đến nơi, bà Bích bảo Mai đưa chúng tôi đến khu chung cư, nơi ông dọn ra ở riêng từ mấy năm nay, phía trước căn nhà còn vương vãi dây băng màu vàng của sở cảnh sát, sau khi thi hài của ông đã được mang đi, nhân viên cảnh sát điều tra đến thu thập tang chứng cùng dữ kiện, họ cho người đến thu dọn sơ sài, và sau đó thì báo tin cho gia đình có thể vào dọn dẹp, lau chùi, tuy vậy, chưa có ai dám đặt chân vào, chúng tôi là người đầu tiên. Căn nhà nhỏ, ngăn nắp, ông Bích là người lúc nào cũng cẩn thận, dù đồ đạc trong nhà hơi cũ kỷ, tôi nhìn chung quanh, cố hình dung lại ông Bích, những sinh hoạt hàng ngày của một người già sống một mình, người mà tôi quen biết hơn hai mươi năm qua, không phải cái thân thể cứng đờ nằm trên bàn mổ chờ bác sĩ giảo nghiệm và giám định cái chết.
Cái ghế dựa, nơi ông ngồi, dù đã lau chùi, vẩn còn vương lại những vết máu trên sàn nhà, vết máu pha lẩn với chất nhầy nhụa màu trắng đục của khối óc bắn lên tung tóe trên trần nhà, mùi hóa chất trộn lẫn với mùi tử khí, những mảnh thịt da còn sót lại đâu đây. Cái mùi không thể quên được, Dù căn nhà không có cái hơi hám như những ngày hành quân tiếp vận, chở người sống vào bụi mù lửa đạn, rồi lại chở thương binh cùng xác chết trở ra, trong lòng tàu, bên cạnh những băng ca người chưa chết, người đã chết nằm trong túi nylon, áp xuất không khí thay dổi đột ngột lúc tàu cất cánh, tiếng rên rĩ hòa với mùi tử khí vẩn bàng bạc, vẩn nặng nề, bầu không khí ngột ngạt như bị nhốt kín trong hầm chứa. Cái chết thì dù bất cứ nơi nào cũng không khác nhau. Tôi tần ngần nhìn một lần nữa căn nhà, nơi sinh sống cuối cùng của ông. Rời phòng khách, nhà bếp phía sau, tôi cố hình dung cho mình, tưởng tượng vóc dáng loắt choắt, cử chỉ nhậm lẹ, ông như vẩn cười nói quanh đây. Tôi soạn các thứ cần thiết ra, chuẩn bị dọn dẹp căn nhà, lòng thầm nghĩ … “Ai sẽ là người vào mướn căn nhà nầy ..” Dù sao thì cũng giúp một tay, bà Bích và hai đứa nhỏ chắc chắn không dám bước vào đây, còn nói gì đến việc dọn dẹp và chùi rữa cho sạch dấu vết. Nhà quàn đến, xin người thân chọn một bộ quần áo để cho người chết mặc trong lúc đặt vào áo quan, ít ra thì cũng phải làm ma chay cho tươm tất, Oâng dù sao cũng sống qua một kiếp người, tôi nhìn vào tủ quần áo, chọn bộ âu phục sẫm màu và cái sơ mi màu trắng, hỏi ý kiến bà thì như hỏi người bù nhìn, hỏi hai con bé gái thì chúng ngơ ngác nhìn nhau, thôi vong hồn ông có thiêng thì về mà chứng, tôi chọn bộ cho ông bộ quần áo để mặc vào lần cuối đâỵ
Dọn dẹp lau chùi xong các thứ thì trời cũng sụp tối, bà Bích mời chúng tôi đến nhà dùng cơm .Dù trong lòng không nghĩ đến chuyện ăn uống, nhưng nể lời bà cẩn trọng mời mọc, chúng tôi ghé ngang qua. Câu chuyện kể lể, xoay quanh về người quá cố, về những năm tháng cuối cùng, sau khi ông dọn sang khu chung cư, đã được hơn hai năm. Càng cao tuổi, hai người càng cải nhau, chuyện nhỏ trong nhà đến chuyện bên ngoài, cuối cùng không chịu nổi nên bà đã quyết định nhà ai nấy ở, bà được quyền nuôi con theo luật pháp, hai người dù chỉ cách nhau một khoảng đường, ông vẩn thường đến đưa đón chúng đi học, đi chơi…dù sao thì chúng cũng là con của ông .
Cô đơn, bài bạc hàng ngày cũng có khi thua khi thắng, thua thì ông càng uống rượu nhiều hơn, lái xe về say quá nằm ngũ gục trong xe, cảnh sát tìm thấy lại mất công đưa ông về nhà. Cũng may mắn là ở thành phố nhỏ như bàn tay nầy, tuổi ông lại già, nói năng tiếng được tiếng không, dù có bắt ông lại phải đưa về quận làm thủ tục giấy tờ, rồi phải tìm người thông dịch lôi thôi, đưa về nhà cho ông ngũ hết cơn say là tiện nhất. Cuối tháng hết tiền đi vào các sòng bạc để đỏ đen, Oâng lại mua rượu về ngất ngưỡng say. Trẻ con trong chung cư quen với cảnh chiều chiều ông ngồi khề khà trước cửa nhà. Chúng đến làm bạn và chơi đùa với hai con bé, bỏ mặc ông ngồi như gốc cây khúc cũi, mớ vốn liếng tiếng Anh bập bẹ của ông không đủ để chuyện trò, không đủ để giải thích, mà cũng chẳng ai cần ông, bao giờ trong nhà ông cũng dự trử các thứ bánh kẹo cho lũ trẻ. Chúng đến chơi đùa tự nhiên, nhà ông không khóa cửa, đôi khi ông ngũ quên cả đóng cửa, cũng không ai bận tâm, phần lớn những người sống trong khu chung cư hầu hết là những gia đình nghèo có con nhỏ do chánh phủ trợ cấp, hay người già chỉ sống vào tiền hưu trí ít oi. Mùa hè, trẻ con chơi đùa ồn ào khắp nơi, trong hành lang, ngoài sân cỏ…
Những ngày tháng trà dư tửu hậu ngày xưa, ông vẩn thích kể chuyện, còn bảo sẽ viết hồi ký, kể lại những trò chơi thanh tao của xứ Hà thành nghìn năm văn vật, của Cố đô Huế ngậm ngùi, của những nẻo đường đất nước mà dấu chân phiêu bạt kỳ hồ của ông từng qua đi, để lại. Nhưng rồi ông chỉ viết lại được một chuyện kể duy nhất đã được báo Văn nghệ Tiền phong đăng tải, câu chuyện kể lại theo trí nhớ thú nuôi chim, giống Hoàng anh, Hoàng yến…còn những chuyện khác chúng tôi vẩn chờ đợi, chẳng biết đến bao giờ, tai sao ông không dành chút thời gian của khoảng đời còn lại để viết?Tại sao lại đi tìm một con đường hèn nhát để tận tuyệt một kiếp người ?
Tôi không hình dung dược cuộc sống cô đơn của ông, bạn bè chẳng có một ai, hầu hết những người sống chung quanh là người già, họ có họ hàng với bà, đôi khi bạn với rượu là phương tiện giải thoát, nhưng cuối cùng chỉ là ngõ cụt mà thôi. Căn nhà nhỏ và những gì còn để lại, chúng chỉ là đồ vật vô tri, chút hơi hám tình cảm vấn vương nào, những dấu vết của một đời sống đã qua đi, bàng hoàng vô nghĩa, tất cả sẽ được thu dọn, chia cắt, những gì còn có thể dùng được sẽ lần lượt vào tay người khác, những gì không ai muốn dùng sẽ đào thải, ngay cả tấm thân nhỏ nhoi của ông cũng sẽ trở thành những hạt tro bụi nhỏ li ti, chưa đủ bám vào sợi tóc mong manh trên hai mái đầu trẻ thơ, sản phẩm còn lưu lại của ông .Cuộc sống phù du, bên cạnh cái thiên đường mơ ước của mọi người, ông lại lạnh lùng chối bỏ. Chẳng lẻ không còn hy vọng gì cho những ngày tháng tới? Tôi nhìn lại một lần nữa, cố tìm cái bóng thiên đường mơ ước, trong tôi chỉ thấy hình ảnh hắt hiu của một con người cô đơn giữa đám đông .
7/03
Trần Công Nhung
Thảo lôi trong giỏ xách tấm nhựa xanh, hai người trải tấm nylon sát vào một gốc thông lớn. Vừa ngồi xuống, Nam nói sang Thảo :
- Em thay áo chớ không lúc về áo dài em sẽ nhăn hết.
- Có áo mô mà thay, hồi sáng không nói.
- Có đây.
Thảo ngạc nhiên nhìn Nam:
- Mô mà có đây ?
Nam cởi áo sơ mi đưa cho Thảo :
- Anh có mai-ô được rồi , em mặc tạm đi.
Thảo vừa sững sờ vừa mắc cỡ :
- Kỳ quá, chỗ nào mà thay?
- Chỗ này chớ chỗ nào.
- Mà anh không được nhìn nghe chưa ?
- Thưa cô vâng ạ.
Thảo đấm vào lưng Nam:
- Ông là tinh lắm. Anh coi quanh mình có ai không ?
Nam đứng dậy nhòm chừng :
- Không có ai hết, em thay áo đi.
Thảo do dự rồi mở nút áo. Kéo áo ra khỏi tay, Thảo thấy lành lạnh. Nhìn xuống ngực, bất giác Thảo rùng mình, hình ảnh Sơn Chà lại hiện ra. Thảo chậm chậm khoác cái áo của Nam, hơi ấm làm Thảo dễ chịu.
- Xong chưa ?
- Xong rồi, anh ngồi xuống đi. Em hỏi thiệt lúc nãy anh có nhìn em không ?
- Em không cho phép anh đâu dám.
- Thảo nói một cách không vui:
- Anh mà không nhìn, khó tin.
Nam ngồi xuống, ôm qua eo Thảo nói nhỏ vào tai nàng:
- Xin lỗi, anh có nhìn, đẹp quá đi.
- Thiệt không, mà cái gì đẹp ?
Nam dí một ngón tay vào ngực Thảo :
- Cái này chớ cái gì.
Hai người lại rúc đầu vào nhau. Nam thì thầm:
- Anh thì hồi hộp còn em thì mặc áo mau cho cố. Mới thấy là hết liền.
- Anh, em thấy làm cây Thông thì có gì thích thú mà cụ Nguyễn Công Trứ lại bảo :
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây Thông dứng giữa trời mà reo.
- Làm sao mà hiểu thâm ý các cụ, anh thì anh chỉ ước được làm cái kẹp tóc của em, suốt ngày được hôn tóc em.
- Em hỏi thiệt mà khi mô anh cũng cứ chọc em.
- Anh không chọc đâu. Nếu em là anh, em cũng ước ao vậy thôi. Tóc em thả cũng đẹp, kẹp cũng đẹp, ngay cũng đẹp, rối lại càng đẹp hơn.
Thảo không ngờ Nam lém dữ vậy, vừa thích lối nịnh của Nam vừa tức vì nói không lại.
- Sao mà anh khéo vậy ?
- Khéo cái gì em ?
- Khéo nịnh...
- Nếu em cho anh nịnh chắc anh nịnh suốt ngày. Ai mà không thích nịnh đàn bà. Mỗi lần chọc em bí anh thấy vui ghê.
- Thấy chưa, ác vừa thôi nghe. Anh nè...Ra trường rồi lỡ mỗi đứa một nơi thì răng anh ?
- Em đừng lo, từ từ rồi thu xếp. Mọi chuyện do nơi mình. Giờ có ngồi bên nhau như hôm nay mà em không thật tình với anh thì cũng bằng xa vạn dặm.
Thảo nhéo vào tai Nam :
- Nói chi lạ rứa. Anh thích dạy ở mô ?
- Nơi nào có Thảo là anh thích, dù biển cả hay rừng sâu.
Thảo dựa hẳn vào Nam, Nam choàng tay qua người Thảo.
Lắng đi mấy giây, Thảo nói như thật :
- Anh dạy cho em đi.
- Dạy cái gì ?
- Lối tán hươu tán vượn của anh.
Nam ôm chặt người Thảo vừa nói :
- Dạy nè..
Hai người lại cười rúc rích. Nắng đã gần đứng bóng. Giữa rừng mà ít tiếng chim. Một vài chú chim sâu chách chách kiếm mồi. Thảo ngồi ngay dậy :
- Anh đói bụng chưa ?
- Em đói chưa ?
- Hơi đói.
- Anh đói rồi, mình ăn đi.
Thảo cười chúm chím, lấy đồ ăn ra. Trong khi ăn Nam hỏi :
- Em có thích màu tím không ?
- Sao anh ?
- Anh thấy em hai áo dài trắng mà chưa có cái màu để thỉnh thoảng đi chơi.
Thấy Thảo làm thinh, Nam tiếp :
- Em đã nghe bản nhạc Tà Áo Tím chưa ?
- Dạ chưa, hay không anh ?
- Tuyệt, tác giả bản nhạc là thầy dạy anh môn Văn lớp Ðệ Tứ.
- Ai rứa anh ?
- Nhạc Sĩ Hoàng Nguyên, thầy Hoàng Cự Phúc.
- Bây giờ Thầy ở mô anh ?
- Ở đây, thầy còn trẻ lắm.
- Rồi sao nữa anh ?
- Anh sẽ dành tiền may cho em một "Tà Áo Tím"
Thảo lặng người, cảm động. Hai tay bóp chặt tay Nam. Một lúc lâu Nam nhắc:
- Em thích không ?
- Anh thích là em thích. Em học được anh rồi đó.
Nói xong Thảo cười nhè nhẹ. Nam cất tiếng hát thì thầm :
Ước mong sao áo màu khép kín tim nhau,
để rồi chiều chiều tôi đi bên dòng Hương
Giang, mong tìm lại tà áo ấy.
Màu áo tím nay thấy đâu, người áo tím nay thấy đâu,
Dòng nước vẫn trôi cuốn mau.
Rồi chợt nghe tin qua lời gió nhắn, người áo tím qua
cầu và áo tím phai màu.
Ðể dòng Hương Giang
hờ hững cũng nao nao .....
Lời nhạc êm như ru , Thảo có cảm giác lênh đênh bềnh bồng . Thảo ép người vào Nam. Nam như chìm vào khoảng không trầm lắng. Tâm tư như trôi dạt về một nơi nào. Bổng Thảo ngồi xoay lại hỏi Nam:
- Em thấy lúc nào anh cũng thích những hình ảnh lững lờ chắp vá, sao vậy anh?
- Anh không hiểu ý em.
Thực ra Nam không ngờ Thảo có nhận xét sâu sắc như vậy. Thảo cũng lúng túng:
- Em hỏi bất chợt vậy thôi chứ em cũng không rõ nữa. Áo tím của em chỉ mặc khi đi với anh, chỉ qua cầu với anh...và chẳng bao giờ phai màu như tà áo của thầy Cự Phúc…
Nam siết Thảo vào lòng và nói như mơ:
- Em thật kỳ diệu Thảo ơi.
Trời đã đổ bóng, Thảo quơ các thứ cho vào giỏ rồi nói :
- Thôi mình về anh. Còn coi lại bài vở cho ngày mai.
- Ờ, em thay áo đi. Lần này em có cho phép anh ...?
- Anh đứng dậy coi có ai đi về phía mình không ?
- Không ai hết.
- Rồi, ngồi xuống, coi bằng mắt thôi nghe ...
Nam ngồi xuống, hai tay khoanh gối, Thảo hồi hộp cởi áo từ từ, không phải sợ Nam, tự nhiên tim đập mạnh vậy thôi. Nam thì muốn nhìn cho rõ, ngắm cho no mắt. Một hình ảnh tuyệt trần đối với người con trai. Thảo mặt đỏ như xông lửa, đưa trả áo Nam, Nam cầm áo rồi ôm Thảo vào mình, Nam cúi xuống bờ vai muợt mà của Thảo, một mùi hương thoang thoảng từ một cỏi xa xăm. Thảo dành cho Nam mấy giây rồi sửa người :
- Thôi, để em mặc áo ...
Một đám mây lửng thửng cuối trời. Một con thuyền vừa đỗ bến, một đôi chim vỗ cánh về phương xa. Một bản nhạc tình như vừa nghe đâu đây...
Những ngày ở quê ngoại rồi cũng phải chấm dứt. Tình cảm vẫn còn đầy ắp, nhưng thời gian lại chẳng còn nhiều, cho nên lúc chia tay thật buồn và bịn rịn. Cụ ông ngồi đó bên khay trà, những sợi râu rung rinh theo cơn gió sáng. Tấm lòng già lại một lần sắp phải xa con, đứa con đã bỏ đi ngày lên 9, giờ về thăm chẳng mấy chốc lại sắp ra đi. Cụ im lặng, mắt nhìn mãi đâu đâu, nhưng chẳng nói ra ai cũng thấy có ngân ngấn bóng giọt lệ. Ông bà đưa con cháu vào chào cụ. Cụ nắm tay từng người, truyền hơi ấm, rồi dùng bàn tay còn lại vỗ vỗ vào từng con cháu như muốn dặn dò một lời thầm kín. Bà nghẹn ngào thưa với cụ " con lại xin phép thày, con đi. Chuyến này không biết đến bao giờ mới về lại, con chỉ sợ..." Cụ hiểu ngay, chặn lời con " dào, chị chỉ vẽ chuyện, thày có xuôi tay lúc này cũng chẳng còn sớm sủa gì, chị cứ đi lo cho bản thân và các cháu. Thày có theo mẹ chị thì thày vẫn nhớ tấm lòng của chị và của anh. Thày cầu chúc anh chị ở đất người đừng bao giờ để mất đi tâm hồn người Việt mình. " Rồi như để xoá đi nỗi nghẹn ngào lan ra, cụ pha trò :
" ai chẳng một lần chết, thày cũng phải lo liệu về nằm cạnh mẹ chị, chứ để bà chờ mãi sao ". Thế là xong, cái đám hát lại dọn dẹp ra đi về bên quê nội.
Quê nội của bọn nhỏ là vùng quan họ, nơi những tiếng hát " ai ơi ở lại đừng về, câu thơ quan họ dật dờ níu chân ". Khi xe còn ở xa đã thấy cây đa ở sân đình hiện lên rõ nét. Cái đình mà ngày bé ông đã có lần lén vào xem con ngựa gỗ to dềnh dàng, tục truyền là ngựa của ông Gióng. Những hình ảnh xưa cũ ồ ạt kéo về. Con đường lát gạch tàu suốt từ cổng vào khắp làng. Khu họp phiên chợ và ngôi nhà hai tầng ngay đầu cổng. Dạo Pháp về chiếm lại làng đã lấy làm nơi đóng bốt, đó là căn nhà của ông chú, rồi sau này đánh nhau đã bị san thành bình địa. Bây giờ những cây hoang mọc um tùm với những đám rêu xanh bám đầy chân tường. Ông chú của ông cũng đã mất ở Saigon nên con cháu cũng chẳng ai còn nghĩ trở về làng xây dựng lại. Ông nhớ lại những ngày chợ họp với những mái phên che tạm làm chỗ che mưa che nắng cho kẻ bán người mua. Ngày ấy ông hay ngồi trong nhà nhìn ra cảnh chợ. Những hôm mưa phùn lắc rắc, nhìn cảnh người đi lại co ro trong chiếc áo tơi lá lùng bùng như cái thùng, ông đã thấy nét đáng yêu và dản dị của đời sống nông thôn. Dạo ấy chẳng có sự thù oán, chẳng có sự đấu tranh và con người sông nhã nhặn, thương yêu chứ có đâu nhìn nhau toé lửa như bây giờ. Những người cũ cũng đã theo nhau về với tổ, cũng nhiều người đã trả nợ núi sông. Chiến tranh làm cho chẳng còn nơi nào không có người chết vì hòn tên, mũi đạn. Chị dâu của ông cũng là một người chịu cảnh goá bụa từ khi còn rất trẻ. Dứa cháu duy nhất nay giữ ngôi từ đường của gia đình. Khi ông bước vào người cháu nhìn gia đình ông lạ lẫm. Ðến khi ông hỏi đến tên bà chị dâu, người cháu vẫn chưa rõ ông là ai, nhưng cũng xin để đi gọi mẹ về. Ðến bấy giờ ông mới nhận ra đây là núm ruột của ông anh. Chỉ thoáng lát một người đàn bà lưng gù lũn cũn chạy vào. Ông xưng danh và chị em nhận ra nhau. Căn nhà cũ quá, tường đã mủn, vách sứt lở, mái lỗ chỗ có bóng nắng soi vào. Bức ảnh ông bác chiếm một góc ngay trước nhà. Vẻ mặt vẫn nghiêm nghị như ngày còn sống. Ông chợt nhớ lại những ngày ông bác vào Saigon với gia đình bố mẹ ông. Những tối ông đã theo bác, theo bố lên xóm cô đầu Phú Nhuận được ăn ngon, được vỗ về và được nghe tiếng trống, tiếng đàn, tiếng phách và cả tiếng hát của cô dào tốt giọng. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nét tài hoa của ông bác âm thầm truyền sang cho ông để bây giờ mỗi khi nhớ lại vẫn còn rõ mồn một. Ông nói với bà chị " chúng em và các cháu đưa nhau về thăm bác, thăm chị. Chúng em chẳng ở được lâu rồi lại phải ra đi. " Bà chị giới thiệu về người thanh niên lúc nãy đã gặp lúc vừa vào nhà để chú cháu nhận nhau. Song chị lăng xăng lo đi lấy nước đãi khách. Tự dưng ông thấy mặc cảm, người miền quê chân chất lúc nào cũng khép na khép nép trước mọi việc, mọi người. Vai trò dù lớn vẫn cứ khiêm nhường xem như mình ở vào bậc thứ. Ông hỏi han về họ mạc người thân, tất cả chỉ còn lại một ông chú khác duy nhất vẫn ở lại làng. Ông bà xin bà chị đưa đi thăm. Ông chú là một hoạ sĩ, trong nhà treo đầy tranh do chính tay ông vẽ. Những nét vẽ bay bướm, với những hình dáng phụ nữ, bông hoa, chim chóc đầy màu sắc. Thấy các cháu chắt vào, ông chú gọi bà thím lên. Tình già như thắm đượm quanh quất đâu đây trong cảnh nhà. Ông chú nói với ông : " dạo này chú nghỉ việc, không còn thích ở Hà Nội nữa. Về đây xa hẳn chốn phồn hoa đua đòi, thấy lòng mình thanh thản hơn. Không còn phải lo toan, sợ sệt vì những tiếng hờn, tiếng oán, vả chăng bây giờ các ông ấy có chức có phận cả, nên cũng chẳng mấy khi còn rảnh rang để nghĩ đến tình bạn ngày nào. Chú cũng chán cảnh quan trường rồi nên yên phận mà lo cho ngày về với đất. " Rồi như để gián tiếp tuyên công cho vợ, ông chú nói : " đến lúc có tuổi rồi mới thấy không có đâu chân thật bằng tình yêu vợ chồng. Nếu lúc này chú không có thím chắc là chú không sống nổi. Nhiều khi vợ chồng ngồi kể lại với nhau chuyện ngày xửa ngày xưa, thấy như một giấc mơ huyễn hoặc. Bon chen, tranh dành rồi cuối cùng cũng chỉ là tay không. Ðến nghệ thuật cũng là đà như cánh diều thiếu gió. Ngày xưa ở trong rừng, cái chết cận bên rình rập, ai cũng sẵn lòng yêu thương, nhường nhịn nhau. Bây giờ hoà bình, ai cũng thấy mình là công thần nên ai cũng coi mình là chân lý. Chú chán sự đua chen vì đôi khi trở thành rất tàn nhẫn. Thản hoặc vẫn có bạn bè còn nhớ đến, muốn vời chú ra thêm một thời gian, song chú thấy lòng dạ con người không còn chân chất như dạo nao nên tìm cách từ khước cho xong." Bà thím nãy giờ vẫn giữ im đến lúc này cũng chen vào : " ấy chú anh thì vẫn thế. Ruột lúc nào cũng thẳng băng như ruột ngựa, có gì bực bội là phun ra hết nên người ta thấy không vui. Về đây thím cứ phải chiều như chiều trẻ, vậy mà ông ấy vẫn còn hờn, còn giận. Lắm khi thím cũng muốn làm nư, song nghĩ lại vợ chồng đến ngần này tuổi chẳng lẽ còn chưa hiểu cạn nhau để mà bao dung, chịu đựng nhau cho đến ngày nhắm mắt hay sao. Thím vẫn khuyến khích chú cầm lấy cái cọ, típ dầu để vẽ cho đời, nhưng chú bảo tay chân giờ chậm lụt cả rồi nên vứt bỏ hết. Ðôi khi buồn, thấy chú nhìn vào những công trình kia mà mắt cứ rưng rưng. Thím yêu quí chú hết sức. "
Không dưng mà ông bà về quê lại được dự một khúc tâm tình đặc biệt. Còn bọn nhỏ thì cứ ngây ra chẳng hiểu gì hết. Chúng như thấy ở những người lớn có sự trúc trắc về sinh hoạt tâm linh. Chúng nhìn nhau tròn xoe hai mắt. Chúng thấy dường như giữa hai miền Nam Bắc như chưa có sự đồng nhất với nhau. Miền Nam mở toang như nắng gió, trong khi miền Bắc cứ đóng kín như bưng. Người ta cũng đã bước đi theo nhau, nhưng bước chân vẫn còn ngượng ngùng, chưa nhuần nhuyễn. Người Saigon với người Hà Nội vẫn còn như kẻ đứng bên này, kẻ đứng bên kia bức tường, tuy đang cùng nói với nhau mà như vẫn xa lạ với nhau. Cái tâm lý một bên coi như mình là người dạy dỗ, còn một bên thì cho bên kia vẫn chẳng hơn gì mình nên tuy là cho con một nguồn mà vẫn thấy cách chia nhau.
Ðột nhiên những lời nói, dặn dò ngày ông được thả trại lại vang vang trong trí. Người ta đã dặn ông : " anh về cố tu tỉnh sinh hoạt với gia đình, noi theo gương của cán bộ sống cạnh ông để mà học điều tốt. " Ông nghe vội vã cho xong để còn mong chóng thoát ra sợ lại bị giữ lại. Rồi về, ông đã học được rất nhiều điều mới lạ. Ðiều mới lạ đầu tiên là lúc nào ông cũng bị dòm chừng, chẳng mấy tối lại được gọi lên hỏi han ai đến thăm, ai hỏi han gì. Rồi điều học hỏi được khác là gia đình nhà cán bộ ở trên không ngày nào là không thải hắt nước dơ từ trên đó xuống. Rồi đi đâu cũng bị nhìn theo như người có bịnh hủi. Rồi xin việc ở đâu cũng được từ chối thẳng thừng. Rồi một hai người ta cứ muốn gia đình dọn đi kinh tế mới. Rồi, rồi, ông mỏi mệt không muốn nghĩ tiếp. Gần mười năm sống với lời khuyên, ông thấy mình càng ngơ ngáo đi, càng lơ mơ làng màng như người mất hồn. Có lúc ông đã tưởng mình trở thành điên dại. Dạo đó thành phố lại lắm người điên. Ðàn ông, đàn bà đi lang thang trần truồng, nói lảm nhảm. Ông nghĩ đến một ngày nào ông cũng sẽ thành như họ cũng nên. Nếu không được đi ra khỏi nước mình thì nay chắc trong danh sách người điên chắc chắn tên ông sẽ không thoát khỏi.
Ông lần tìm bàn tay ông chú. Ông thưa : " cháu tưởng chỉ có chúng cháu bị thua mới phải chịu đời đau khổ. Không ngờ chú cũng chẳng kém thua. Vậy thì đâu là chân lý vậy chú ? " Ông chú nhìn ông một lúc lâu rồi bảo : " Chẳng có ai được trong trận giặc vừa rồi, tất cả dù ở bên nào thì cũng đều thua như nhau. Có điều cháu còn biết chắc là cháu thua để liệu xoay chiều mà sống cho khỏi bị xoá bỏ. Chứ còn chú thua mà chẳng biết có thật là thua chăng nữa. Vì mình vẫn sống ở trong cái xã hội chiến thắng mà vẫn cứ thấy như mình thuộc bên lề. Ðau là biết mình lầm mà vẫn cứ phải làm như mình không lầm. Chú không dám nhìn thật lại chính mình vì e những điều trông thấy nó đau lòng quá lắm.
(còn tiếp)
1
Tiếng kêu tít tè của máy báo động vô tuyến, đánh thức Minh trong cơn ngủ chập chờn vào xế chiềụ Vươn vai dụi mắt tìm chiếc máy báo động cạnh đầu giường, nhìn số điện thoại hiện trên máy , nhìn đồng hồ trên tường, và hằn học khi nhận ra số điện thoại của công ty .
- Trời ! Giờ này mà kêu réo chi đây ? Tớ đang nghỉ phép mà !!
Tuy vậy chàng vẫn xuống giường nhấc điện thoại và quay số gọi vào công ty . Bên đầu giây giọng người thư ký đều đặn như một cái máy , cô giới thiệu công ty cùng tên của cô .
- Hello Diane, tôi đây có chuyện gì vậy ?
Minh nóng lòng cắt ngang.
Nhận ra giọng chàng trong điện thoại Diane hối thúc.
- Anh vào gấp được không ? Họ đang chờ !!
- Tôi đang nghỉ phép đến hết tuần tới mà ! Jean không thay tôi được sao ?
Diane chậm rãi giải thích
- Tôi không biết, nhưng tôi thấy có phó giám đốc công ty vừa đến phòng họp, John bảo tôi làm sao liên lạc và gọi anh vào họp ngay .
- Uhmm Uhmm.. Thôi được, cô bảo họ rằng, tôi sẽ có mặt trong vòng một tiếng nữa .
- OK .!
Diane thở phào trúc được nỗi lo âụ
Minh vội vã rữa mặt, thay quần áo phóng xuống lầu, vào bếp mở tủ lạnh hớp một ngụm nước cam.
- Mẹ ơi ! Chiều nay chắc con về trễ , mẹ đừng chờ cơm ! Không biết tụi nó gọi con vô họp hành chi đây ?
Mẹ chàng đang bận bịu trong bếp , nói vọng theo
- Con đang nghỉ mà.! Làm việc gì mà ngày nghỉ cũng không yên ?
- Hihi ! Làm kỹ sư điện tử mà mẹ . Ðụng vào điện là tử liền !! hihi
- Lái xe cẩn thận nhe con . Ðừng có hấp tấp mà sanh chuyện đó.
- Dạ
---o0o----
Cách phòng họp chừng vài thước, Minh nghe rỏ tiếng mọi người xôn xao, cuộc tranh luận đang bước đến giai đoạn gây cấn. Bước vào phòng họp, Minh nhận ra một cảnh tượng hỗn độn, giấy tờ, bản vẽ , một máy điện toán không vỏ bọc đang nằm hớ hên giữa bàn . Cuối phòng, trên bảng trắng , ngệch ngoạc, chi chít nhiều tuồng chữ khác nhaụ Quan sát một vòng, Minh đoán chắc tầm quan trọng của buổi họp không phải nhỏ.
- Hi Alex.
Minh chào ngươi phó giám đốc trong khi ông ta đang hội thảo cùng vài nhân viên khác, tay áo sơ mi xắn lên đến khuỷu tay, chiếc cà vạt nới rộng, Alex đang duyệ t mộ t số hồ sơ trước mặt .
- Hey ! Khỏe không ?. Ngồi xuống đó đi !
Giọng người phó giám đốc công ty gần như ra lệnh.
Minh được một đồng nghiệp tóm lược vấn đề cùng một vài giải pháp mà mọi người đang phân tách hơn thiệt .
- Ðược rồị Minh ! Anh tóm lược cho tôi biết ý của anh như thế nào .
Giọng người phó giám đốc gốc Ái Nhỉ Lan hơi khó nghe nhưng chàng đã quen thuộc vì đã làm việc cạnh ông ta hơn hai năm. Tuy rằng chức sắc của chàng trong cong ty không là có gì to lớn, nhưng nhờ tính thẳng thắng và khả năng kỹ thuật của chàng khiến người phó giám đốc công ty đặc trách kỹ thuật vẫn thường thăm dò ý kiến của chàng trước khi đi đến quyết định sau cùng. Cách đây hai năm cũng trong một cuộc họp khẩn về một vấn đề trục trặc kỹ thuật của một bộ phân trong máy điện toán, Minh đã nhất quyết không chấp nhận giải pháp của nhóm kỹ sư thuộc khối phát triển nhu liệu và lời điều trần của chàng đã lọt vào mắt Alex, từ đó Alex thường hay gọi chàng vào phòng họp để góp ý . Biết trước ý định của Alex và tầm quan trọng của vấn đề , Minh chậm rãi giải thích quan điểm của mình, chàng cố tránh né những điều kiện có thể gây khó khăn cho các văn phòng khác để tránh xung đột . Tốt nghiệp kỹ sư điện tử, cộng thêm vài năm kinh nghiệm trong nghành điện toán, công ty đã thâu nhận chàng trong chức vụ kiểm phẩm, công việc tuy không quá nặng nhọc nhưng nhiều lúc làm chàng phải nhức óc suy nghĩ hầu tránh né những tỵ hiềm từ nhiều phe phái, hơn nữa chàng là giòng giống Lạc Hồng con Rồng cháu Tiên nên công việc nhiều lúc thêm phức tạp vì vấn đề dị chủng .
Buổi họp kéo dài đến chiều tối, dây chuyền sản xuất đang đình trệ , cơ xưởng đang cần một giải đáp thích đáng và thời giờ là tiền bạc nên không khí càng căng thẳng . Sau vài phút im lặng Alex bỗng cất tiếng.
- Anh em nào còn ý kiến gì nữa không ?
Một sự im lặng bao trùm trên các khuôn mặt hiện diện trong phòng họp . Giây phút quyết định khởi điểm khi Alex bắt đầu tóm lược giải pháp . Vài gương mặt thoáng nhìn nhau ra hiệu , tiếp theo mọi người bắt đầu nhận lảnh trách nhiệm thi hành. Riêng Minh vì đang nghỉ phép thường niên nên tạm thời được thảnh thơi, chương trình hoạt động được đặt dưới quyền chỉ huy của Jean đến khi chàng hết phép sẽ được bàn giao trở lại .
Bước ra khỏi phòng họp khi phố đãlên đèn, vươn vai rảo bước về văn phòng và trò chuyện cùng Jean. Bất chợt chàng dừng bước khi Jean đang kể lể về tiến trình của kế hoạch cũ mà chàng đã trao lại cho Jean trước khi đi nghỉ phép.
- Thôi chết ! Không xong rồi !
Minh nói trong hốt hoảng
- Cái gi nữa đây ?
Giọng Jean chán nản
- Làm sao tụi mình làm cho kịp ?
Tiếp theo chàng giải thích cho người đồng nghiệp về những khó khăn mà trong buổi họp chàng và Jean đã quên không bàn đến . Cả hai nhanh bước, trở gót tiến về văn phòng người phó giám đốc . Vừa đến cửa văn phòng thì Alex vừa ném chồng hồ sơ lên bàn và ngã người trên ghế , người trưởng phòng kiểm phẩm chưa kịp uống ly cà phê phải trợn mắt .
- Có chuyện gì nữa vậy ?
Minh và Reajean chậm rãi giải thích những khó khăn về nhân lực của phòng kiểm phẩm . Quay sang Alex, John vỗ trán .
- May quá, tôi cũng quên mất .
Sau một lúc suy nghĩ Alex cười nhẹ vừa nói vừa lục một số hồ sơ trên bàn.
- Không sao ! ... Ðể xem ....! Ah đây rồi .
Sau một lúc đọc qua vài hồ sơ, Alex ngẩn lên và chậm rãi .
- Tôi vừa nhận được thư mời dự buổi nói chuyện của viện đại học đây . Tôi sẽ nói chuyện với khoa trưởng và yêu cầu họ tuyển giùm vài sinh viên ưu tú về làm việc cho mình . Nếu họ làm được việc thì mình sẽ giữ lại sau khi tốt nghiệp, còn trong thời gian này thì mình có người phụ việc mà không bị ràng buộc nhiều về vấn đề hành chánh .
- Hay lắm, vậy là tạm ổn .
Jean đáp nhanh va quay gót khỏi phòng trong khi Minh còn lưu lại văn phòng để nhận tiếp vài chỉ thị nhỏ khác .
-o0o-
Trở lại làm việc sau hai tuần nghỉ phép Minh cảm thấy mới lạ , tất cả như đã đổi thay, đầu óc chàng vẫn còn quay cuồng qua buổi gặp gỡ trên phố mấy hôm trước . Thời gian chỉ làm cho người ta nguôi ngoai những biến động của tâm hồn, những ưu tư chỉ tạm lắng đọng trong đáy lòng. Thời gian không thể xóa những kỷ niệm xưa , lòng người chẳng qua vì bận tâm trong công việc hiện tại , nhưng thật sự không thể nào quên hẳn những gì thuộc về dĩ vãng . Một chiều cách ngày đi làm vài hôm, chàng bất ngờ chạm mặt người xưa bên giòng người xuôi ngược trong trung tâm thương mại . Nụ cười héo hon trên môi người thiếu phụ trẻ đã đưa chàng vào ngỡ ngàng, nếu như người thiếu phụ quay mặt làm ngơ có lẽ chàng sẽ thấy dể chịu hơn . Biết nói gi đây khi đường đời đã chia cách , gượng cười nhẹ , thốt vài câu thăm hỏi thông thường lấy lệ rồi quay gót . Gặp lại nhau chi cho thêm vấn vương.
Tiến đến bàn làm việc như thường lệ Minh nhìn chồng hồ sơ ứ đọng sau hai tuần lễ mà ngao ngán, người thư ký văn phòng vừa đến nơi đã không ngớt hỏi thăm, nhưng chàng chỉ trả lời cho qua chuyện, chàng nhủ thầm " mấy bà đầm này nhiều chuyện" . Ðang chăm chú đọc và phê chuẩn từng hồ sơ , Diane tiến đến trao cho chàng vài hồ sơ mới trong ngày , Minh trao đổi với người thư ký nhưng mắt vẫn không rời xấp hồ sơ .
Diane nói với chàng bằng một giọng bí mật và đùa cợt .
- Chín giờ hôm nay anh phải ra đón người ta nha , đó là lệnh !
- Oh! Tôi phải đón ai ?
Minh thắc mắc ngẩn nhìn Diane
Diane kể lể .
- Một cô tóc vàng, mắt xanh, tuổi còn xuân, có cái tên dễ thương. .!
Minh ngạc nhiên
- Trời ! Tôi đâu có quen ai tóc vàng mắt xanh mà hẹn vào đây . Mà hẹn vào đây làm gì ?
Diane cười tinh nghịch , quay gót sau khi đưa cho chàng một văn thư gửi từ phòng nhân lực .
- Anh đọc đi sẽ rỏ .. Tôi gặp cô ấy hôm tuần trước , dễ thương lắm .
Lướt nhanh trên văn thư, Minh chợt nhớ ra cuộc họp hôm trước và lời hứa của Alex. Nhìn đồng hồ tay, còn sớm nên chàng quay sang máy điện toán , duyệt cùng trả lời điện thư . Lần lượt các đồng nghiệp bắt đầu một ngày làm việc, chàng mệt mỏi trả lời từng người một , vẫn bao nhiêu câu hỏi được lập đi lập lại trên môi mỗi người .
Chuông điện thoại bắt đầu kêu vang từng hồi khắp nơi , văn phòng bắt đầu một ngày sôi động như thường lệ . Chiếc máy báo động vô tuyến đeo trên người kêu vang khi chàng đang chỉ dẫn nhân viên đưới quyền làm việc qua điện thoại . Ðưa tay ra dấu làm hiệu , Diane lắc đầu đón lấy đọc số điện thoại trên máy và quay số trả lời thay chàng . Gác điện thoại , khoác chiếc áo blouse vội vả xuống cầu thang Minh nói vọng lại
- Diane ơi , cô ra đón cô ấy giùm tôi . Dưới xưởng có chuyện, tôi phải xuống thanh tra xem sao .
Mất hơn nửa giờ để xắp xếp công việc, Minh quay trở lại văn phòng, dửng dưng trước sự hiện diện của người con gái tóc dài xỏa ngang vai, đang ngồi yên đọc sách ngay bàn giấy đã giành sẵn cho nàng . Diane lên tiếng trước và giới thiệu Elizabeth . Bắt tay thân mật và chào hỏi thường lệ Minh bắt đầu tìm hiểu về khả năng kỹ thuật của nàng .
- Tôi đang làm luận án tài chánh để ra trường .
Elizabeth trả lời chàng .
- Cái gì ? Cô không đùa nha !. Không lẽ cô học về kinh tế tài chánh ?
Minh ngạc nhiên , và tỏ vẽ không bằng lòng.
- Ðúng vậy ! Nhưng có chuyện gì vậy, cho tôi biết được không ?
Elizabeth ngẩn ngơ .
- Tại sao ? cái gì kỳ vậy !
Minh bực dọc bỏ đi về bàn giấy của mình và gọi ngay đến trưởng phòng nhân lực. Chàng bực dọc cải vã cùng bà trưởng phòng . Khi thấy không có kết quả Minh hằn học gác ống nghe xuống bàn, tiếng động do sự va chạm làm Elizabeth lo sợ . Diane tròn xoe đôi mắt không hiểu chuyện gì nên nín thinh , đưa mắt nhìn Elizabeth dò hỏi . Bỏ lại sau lưng mọi người chàng gọi ngay đến Alex . Bực dọc vào đề ngay không chào hỏi lịch sự
- Hi Alex, thế này là thế nào ? ......
Sau một vài giây Minh tiếp
- Tôi lên gặp anh ngay, mình dễ nói chuyện hơn .
Sau cuộc họp nhỏ trong phòng người phó giám đốc , Minh chậm rãi bước khỏi văn phòng của Alex, thong thả tiến về văn phòng kiểm phẩm cùng Jean, với gương mặt bí xị , anh bạn đồng nghiệp vừa nói vừa cười .
- Tao chưa kịp nói thì mày gọi điện thoại cự nự tùm lum .
Minh khẩn khoản giãi thích
- Nhưng mày nghĩ coi . Chuyện như vậy mà làm lộn thì không thể nào tưởng tượng nổi . Tụi mình ký giấy tìm sinh viên trường kỹ thuật, mà họ đưa mình một cô học về kinh tế tài chánh thì làm ăn cái nỗi gì ?
Jean cười lớn và biện hộ
- Cô ta coi cũng dễ thương . Lâu lâu thay đổi không khí vậy mà .... haha
-Trời đất, nói như mày , thì thôi để tao làm hết cho rồi !
Ðôi bạn cười lớn khi tiến đến trước cửa văn phòng, Minh đưa tay ngăn bước Jean và năn nỉ
- Thôi ! Nhờ cậu tìm cái gì đó cho cô ta làm qua ngày . Tớ thì chịu thua .
(còn tiếp 2 kỳ)
10/01
@@@@@@@@@@@@@@
Cầm Nương chưa rời được nỗi niềm xúc cảm tự tâm tư vừa được nàng khơi dậy qua đôi tay tuyệt vời với tiếng đàn réo rắt của nàng thì lạ chưa,dường như có tiếng người văng vẳng đâu đây .Nàng có nghe lầm chăng?Bến vắng tha phương này đã bao đêm âm thầm lặng lẽ giống như đời sống của nàng,sao hôm nay,khuya khoắt dường này,có điều gì bất ổn chăng ?…Tiếng chèo khua nước ngày càng gần hơn và hình như…,hình như …họ đang cao giọng hỏi nàng thì phải…Té ra họ đang đi tìm xuất xứ của tiếng đàn nàng .Cầm Nương ngập ngừng,có nên cho họ biết là mình vừa đàn hay không?Là quen hay lạ,là dữ hay lành ?Cầm Nương hắng giọng,toan lên tiếng rồi lại thôi. Ích gì đâu,một tiếng đàn lạc lõng cô đơn đã trải bao sông nước đìu hiu rồi cũng sẽ lại trải thêm những đìu hiu sông nước cho đến lúc nào đó không còn tinh diệu nữa thì thôi,chẳng có gì thay đổi nữa đâu,là lạ hay quen ,nào có gì trọng đại !
Nhưng kìa,tiếng chèo khua sóng dường như đang ở đâu đó quanh thuyền nàng,và tiếng người hỏi han vẫn cao giọng,chân thành.Cầm Nương tần ngần một đỗi. Chao ôi ! Tâm hồn mẫn cảm như nàng sao có thể làm ngơ cho được.Cầm Nương cất giọng hồi đáp :
- Là dân phụ,là tiếng đàn của dân phụ,xin hỏi quý quan nhân có điều chi chỉ dạy".
- Chúng tôi,hai khách nhàn du,nhân lạc bước qua đây,nghe được khúc đàn tuyệt vời của tôn nương,muốn thỉnh tôn nương tương kiến.
Chao ôi ! Tương kiến nữa à ? Thật khó cho nàng quá,nàng đâu phải là một ca kỹ đàn ca múa hát để mua vui cho khách hào hoa như ngày nào nữa chứ.Nàng bây giờ đã là Nương tử của trượng phu nàng,tương kiến cùng kẻ xa lạ,e là nàng sẽ lỗi đạo chăng?Huống nữa,ngày xưa dù còn là một ca kỹ nhưng đâu phải ai cũng có thể tương kiến cùng nàng,cũng đâu phải hễ ai bỏ ra nghìn vàng là có thể nghe được tiếng đàn của nàng(1),lui tới với nàng thường chẳng phải là hạng tục khách. Nàng cất giọng thưa trình:
- Xin quý quan nhân rộng tình lượng thứ,thật là thất lễ, dân phụ thiếp không thể đáp ứng thỉnh cầụDân phụ vốn là hữu chủ chi hoa nên không thể tùy tiện tương kiến người xa lạ.
Im lặng một lúc,Cầm Nương nghe một giọng nói chân thành trịnh trọng cất lên.
- Xin tôn nương hãy yên tâm,chúng ta đây thật ra cũng không phải người xa lạ.Ta, Hương Sơn Cư Sĩ,tính Bạch danh gọi Lạc Thiên,cũng chính là quan Tư Mã Giang Châu sở tại,từ đế kinh bị trích giáng đến đây. Ðã hai năm qua,Bạch ta chưa từng nghe được những điệu nhã nhạc thánh thót du dương tựa như ở chốn tiên cung này,ngưỡng mộ người đồng điệu nên mới tìm đến mong thỉnh kiến tôn nương,quyết không dám làm điều chi mạo phạm tôn giá.
Cầm Nương ngẩn người khi nghe khách lạ xưng hô danh tánh .Phải chăng đó là thi nhân nức tiếng đương thời Bạch Cư Dị (2)ở đế đổLàm sao mà người lại
lưu lạc tha phương mãi tận chốn nàỷNếu thực đúng là người ấy thì chắc chắn không phải là kẻ phàm phu tục tử rồịTuy rày đây mai đó theo thuyền buôn của trượng phu trên khắp Ðại Giang nam bắc(3) nhưng nàng vẫn có dịp được nghe phong thanh lời ca ngợi tài đức của vị danh sĩ họ Bạch nàỵNàng từng nghe rằng người đối với chị em giới kỹ nữ tuyệt không có lòng rẻ rúng khinh khi như hầu hết khách mua vui chức trọng quyền cao nhiều tiền lắm bạc khác.Không biết hư thực thế nào, âu là,hôm nay nàng mạo muội diện kiến một phen cho biết giả chân.
@@@@@@@@@@@@
Hàn lộ dạ quân quy
Cầm nguyệt lạc kiều bi
Thủy miên thâm dạ trạo
Phù vân quyển thanh y
***********
Người về sương lạnh canh thâu
Ðàn tôi nhỏ giọt bên cầu rụng trăng
Chèo khuya sông nước miên man
Áo xanh một phiến bàng hoàng mây trôi
*********
Tiếng chèo khua nước xa dần rồi mất hẳn.
Mặt sông trở lại nỗi mênh mang tịch lặng ban đầu,cái mênh mang tịch lặng trước khi có hai con người đến đây khoấy động những ngày đêm âm thầm một bóng của nàng.Cầm Nương thở dài thán tức.Họ đã đi rồi !Và chắc có lẽ không bao giờ trở lại nữa đâụÐó là tính chất của cuộc đời,nàng vẫn thường biết vậy,có gặp gỡ nào mà không kết thúc bằng chia xa,có hợp nào mà không tan .Cuộc đời nàng đã chứng kiến biết bao tương ngộ phân ly,biết bao hợp tán.Nhưng mà ,tương ngộ phân ly lần này chắc chắn sẽ để lại cho nàng những tháng ngày còn lại khó nguôi ngoaịTừ nay, đêm đêm nàng sẽ cưu mang thêm một nỗi đợi chờ khắc khoải khác dù nàng biết là vô vọng. Nàng và họ …bình thủy tương phùng…bèo nước gặp nhau …rồi…nước trôi dòng nước,bèo trôi đời bèo,trong muôn một dễ đâu mà có cơ hội tương ngộ lần thứ haịVã lại,hãy còn một khoảng cách lễ nghi,cho dù người ấy có trở lại để nghe tiếng đàn của nàng thì mọi việc cũng sẽ diễn ra trong âm thầm lặng lẽ mà thôịChao ôi ! Nếu được như vậy thì cũng không uổng phí cho tiếng đàn của nàng,nàng nào mong muốn gì hơn.Hỡi ơi ! Lão thương thiên trớ trêu chi bấy ! Sao lại khơi dậy trong lòng nàng những hồi ức xa xăm tưởng chừng như đã chìm lắng mất hút dưới tận đáy sông sâu vực thẳm kiạNhững đêm dài trở trăn mộng mị cùng ký ức đầy hình ảnh một thời huy hoắc đã xâu xé tâm tư nàng quá đủ rồi,huống hồ,đêm nay,một bậc đương thời danh sĩ đã rơi lệ đầm đìa vì cảm khái tiếng đàn của nàng,một thiên trường thi vì nàng mà tác xuất.Nàng tự biết rằng mình sẽ lại phải trải qua lắm đêm dài mộng mị từ đâỵNgười lữ khách không mời mà đến,thân thế phi thường kia đã chẳng nề hà đẳng cấp hạ cố đến nàng mà thốt nên câu "Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân" há không đáng để cho nàng cảm kích muôn phần saọHuống nữa,nàng,một đóa hoa phấn nhạt hương phai,chút cầm nghệ riêng tư của nàng so với bọn đương thời danh kỹ ở chốn đế đô cũng đã trở thành lỗi điệu mất rồịVậy mà,người ấy,một người đã từng lai vãng biết bao nhiêu là trà đình tửu quán,giao kết biết bao nhiêu là hào môn vọng tộc,xuất nhập đế khuyết biết bao nhiêu triêu mộ,lại có thể vì thân phận của nàng mà nhỏ lệ rơi châu ướt đầm tấm áọLòng nàng ngập tràn nỗi cảm kích .Tri âm trong trời đất thực hiếm hoi,khó gặp khó tìm.Tâm sự trùng trùng của nàng không ai hay biết,vậy mà người chỉ nghe vài tiếng đàn của nàng là đã lập tức thấu suốt.Nàng có nói muôn lời nghìn chữ cũng không nói hết được lòng cảm kích chân thành.Chỉ ân ân cần cần nghiền ngẫm cái câu "Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân -Cùng một lứa bên trời lận đận" là đã đủ khiến nỗi tịch mịch trong lòng nàng vơi đi,là đã đủ cho nàng tâm trung mãn nguyện,mai sau bèo dạt hoa trôi chung cuộc thế nào cũng mặc,một lần gặp gỡ trong đời như thế là đã quá xứng đáng để bù đấp cho chuyện mất còn nhân thế.Nàng cảm kích,cảm kích muôn vàn …
*********
Tạ tri âm khách
Ta hồ !
Thiên địa tri âm dĩ thậm hi
Tâm sự mang mang nhân bất tri
Chỉ thính cầm thanh quân triệt ngộ
Hựu năng vị ngã tác trường thi
Ða tạ quân ân đối ngã trân
Thiên ngôn vạn ngữ bất trần chân
Chỉ nãi ân cần tham nhất cú
"Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân"(TBH)
Dĩ năng thỏa ngã vọng tâm trung
Lưu thủy phù bình nhiệm sở chung
Nhất sinh trần thế nhất tương hội
Khả thích nhân gian bổ tồn vong
***********
Tạ khách tri âm
Than ôi !
Tri âm trời đất hiếm hoi,
Nao nao tâm sự ai người biết cho
Người nghe suốt một tiếng tơ
Lại vì ta phổ thành thơ vắn dài
Tạ ơn tấc dạ quan hoài
Ngàn lời vạn chữ khó bày lòng chân
Một câu nghiền ngẫm ân cần
"Bên trời lận đận đôi đàng khác đâu"
Ðủ ta thỏa nguyện thâm sâu
Bèo trôi nước chảy mai sau mặc lòng
Kiếp người một buổi tương phùng
Thế gian san lấp tồn vong cũng vừa.
@@@@@@@@@
Chao ôi !
Có ai biết được rằng buổi hội ngộ trăng nước Tầm Dương kia đã để lại cho hậu thế cả ngàn năm sau một áng văn chương tuyệt tác mãi làm rung động lòng người. Nhưng mà có thực là đã xảy ra buổi tương ngộ ấy chăng?Hay chỉ vì muốn ký thác tâm sự thầm kín khó nói trước những thế lực của cung đình và sự hàm hồ của một đấng quân vương mà tác giả đành phải mượn lời kỹ nữ để ví với thân phận của mình ??? Ai mà biết được !
Chú thích
(1)Nghề kỹ nữ :
Khái niệm "nghề", theo nhà kinh tế học Thomas Robert Malthus, người Anh, là một cái gì có lợi cho bản thân, vừa có ích cho xã hội. Và nếu hiểu theo cái nghĩa nghiêm túc đó thì kỹ nữ không thể là một nghề. Kỹ nữ, người con gái làm nghề bán phấn buôn hương, còn có nghĩa là ả đào, con hát. Nếu người ta có thể chấp nhận ả đào con hát là một nghề thì người ta khó có thể chấp nhận được chữ nghề trong cái người ta gọi là bán phấn buôn hương. Trong thơ của Ðỗ Mục, kỹ nữ còn được gọi là "thương nữ":
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng hậu hoa đình
(Ðỗ Mục - Bạc Tần Hoài)
Nói thì nói thế nhưng trong xã hội Trung Hoa ngày xưa, một xã hội vốn coi người phụ nữ là đồ chơi của đàn ông, có thể dễ dàng mua, bán, bắt cóc, sang nhượng hoặc đem làm quà tặng giữa những người đàn ông với nhau thì sự xuất hiện của nghề kỹ nữ cũng là điều rất bình thường, thậm chí được coi là hợp lý.
Nghề ký nữ có từ thời nào? Người ta khó mà xác định được thời điểm xuất hiện của nghề này, tuy nhiên cũng có thể khẳng định được nghề này gắn liền với chén rượu câu khách, mời khách đàn ca làm vui và bán dâm cho khách. Theo tư liệu của ông Nguyễn Tôn Nhan đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay, ông tổ của nghề kỹ nữ là Bạch mi thần. Thần mày trắng có thể là Hồng Nhai tiên sinh, tên gọi Linh Luân, bầy tôi dưới thời vua Hoàng Ðế, người làm ra âm luật đã được ghi trong Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi thời Tần. Thần mày trắng cũng có thể là Liễu Ðạo Chích, thời Xuân Thu; Quản Trọng (Quản Di Ngô), thời Xuân Thu, người có công lập ra 700 nhà chứa gái để đàn ông đến mua vui, thu tiền lời để lo tiền quân quốc cho Tề Hoàn Công; cũng có thể là Lã Ðộng Tân trong nhóm Bát tiên, nhân vật chuyên dạy hát kiêm trị bệnh hoa liễu cho phụ nữ làng chơi. Trong bất kỳ thời đại vua chúa nào ở Trung Hoa, nghề kỹ nữ cũng vẫn được hoạt động, các "viện" chứa gái vẫn mọc lên ở khắp nơi.
………… Kim Dung cũng cho biết các cấp bậc trong các kỹ viện ở Dương Châu. Má má là chủ viện, người bỏ tiền ra mua gái về, có toàn quyền sinh sát đối với các cô gái. Mụ đầu là những người đàn bà lớn tuổi, chuyên môi giới giới thiệu, làm môi giới mại dâm. Kỹ nữ là người trực tiếp bán dâm trong các kỹ viện, lại kiêm nhiệm vụ mời khách uống rượu và kêu đồ nhậu. Công việc của họ là khuyên khích bọn khách chơi xài tiền càng nhiều càng tốt. Hoa nô là những chàng trai cô gái có nhiệm vụ phục vụ các công việc vặt trong kỹ viện: nấu nướng thức ăn, pha rượu, dọn bàn ghế, mua đồ ăn cho kỹ nữ và... đánh đập những cô gái nhà lành, dằn mặt họ nếu họ không chịu bán trinh, không chịu tiếp khách.
Nhưng thật ra, kỹ viện không chỉ là nơi mại dâm. Nếu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, bọn hào sĩ giang hồ bị bọn quan binh truy nã; người bị thương lánh vào kỹ viện trị thương, thì trong thực tế, các danh sĩ thường tìm đến kỹ viện để nghe hát làm thơ, rồi dạy các kỹ nữ hát những bài thơ của mình thành nhạc phổ. Kỹ viện trở thành nơi nương náu của những tâm hồn cô độc, của những người bị vua chúa lưu đày. Trong những trường hợp đó thì kỹ nữ trở thành người bạn tri âm. Chúng ta đã từng biết Bạch Cư Dị bị giáng làm Tư Mã Cửu Giang, đã từng làm bài Tỳ bà hành ca ngợi tiếng đàn của một kỹ nữ dài 622 câu. Triong phần đề tựa, Bạch Cư Dị đã viết: "Năm Nguyên Hoà thứ mười (816), ta bị giáng làm Tư mã huyện Cửu Giang ... tiễn khách ở bến Bồn, giữa đêm nghe tiếng tỳ bà ở trên thuyền ... hỏi ra thì đó là ca nữ ở Trường An" Tác giả ngồi nghe tâm sự của người ca nữ đó. Bản thân người ca nữ đó là một nhân vật có học, có lòng tự trọng, không phải khách nào mời cũng ra.
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiên tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thi xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện(TBH)
(Ghé thuyền đến cạnh chào mời
Khêu đèn thêm rượu lại bày tiệc hoa
Nằn nì mời mãi mới ra
Ôm đàn che nửa mặt hoa thẫn thờ)
(Trân Trọng Kim dịch)
( Theo Vũ Ðức Sao Biển trong "Kim Dung giữa đời tôi" )
(2) Bạch Cư Dị ( 772 - 848) đại thi hào đời Ðường,tác giả bài thơ Tỳ Bà Hành,nguyên uỷ của câu truyện ngắn này.
(3)Tầm Dương: Khúc sông Trường Giang chảy qua tỉnh Giang Tây, thị trấn Cửu Giang.
Viết tại Khán Vân Hiên
08/29/03
Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay
Nguyễn Du
Mùa hè qua rất nhanh đến nỗi tôi chưa kịp nhận ra thì đã hết. Tôi trở về với mẹ sau mấy tháng ở với ba. Ðối với tôi, thời gian qua chẳng ra vui, chẳng ra buồn. Ở với ba một ít, ở với mẹ một ít, chẳng qua cũng chỉ là bổn phận, khi mà vì lý do chẳng đặng đừng ba và mẹ không thể sống chung bên nhau. Ðáng lẽ thì tôi vẫn chưa đi thăm ba, mặc dù đã bao lần ba viết cho tôi " hè nghỉ, con sang ở với ba ít lâu, cha con lâu ngày không gặp, ba rất nhớ...", nhưng chẳng hè nào tôi đến. Ðối với tôi sự ở gần bên mẹ cần hơn vì mẹ vẫn chỉ sống một mình, trong khi ba thì đã có dì khác. Chuyện ba lấy vợ nữa, đối với tôi chẳng có quyền phán xét, vì người lớn có những quyết định riêng rẽ. Phương chi chuyện gãy đổ thì ai cũng có quyền chọn lựa một cuộc sống khác cho riêng mình. Tôi đã bao lần ngỏ ý nếu mẹ chọn sống một cảnh gia đình khác hơn thì tôi cũng vui thôi. Nhưng mẹ không chịu. Mẹ bảo " đàn ông năm thê bảy thiếp là chuyện thường tình. Còn đàn bà mà đi thêm bước nữa là chuyện xã hội ta vẫn khe khắt không dung ". Tôi thương mẹ mà từ chối lời ba.
Nhưng lần này chính tôi lại viết cho ba " Ba ơi, con sắp nghỉ hè. Con có thể đến thăm ba không ?" Ngay hôm sau tôi được ba gọi sang " trời ơi con gái. Ba mong việc này lâu rồi, con đến là mừng quá đi chứ, sao lại còn hỏi ".
Sở dĩ tôi muốn gặp ba là vì bịnh tình của mẹ. Gần đây mẹ đi khám, người ta phát hiện ra có bướu lạ trong người. Bác sĩ đề nghị mẹ làm một biopsy để biết lành dữ ra sao. Nhưng mẹ chần chừ chưa chịu. Thâm tâm me nghĩï nếu là bướu lành thì không nói làm gì, nhưng lỡ là dữ lại thêm lo. Mẹ không muốn đón nhận một sự thật mà mẹ chưa muốn biết đến. Có lẽ mẹ sợ tôi sẽ lo toan, sẽ bơ vơ, sẽ vv... khi mẹ chẳng may không còn nữa, nên thà là mẹ không biết gì hết lại hơn. Tôi thì tôi nghĩ khác, chuyện gì càng sớm tìm ra nguyên nhân thì càng dễ chữa trị. Nhược bằng số mẹ không được sống dài thêm thì chuyện mẹ kéo dài việc khán nghiệm cũng có giúp ích được gì đâu. Tôi đã năn nỉ mẹ như thế, nhưng mẹ vẫn lắc đầu nguầy nguậy. Mẹ bảo " chả sao đâu, cứ để ít lâu theo dõi, xem sao ".
Tôi đến ba bằng chuyến xe Grayhound xuyên bang. Ba đón tôi ở trạm khi trời đã tối mịt. Gặp ba, tôi khóc ngon lành. Ba ôm tôi dỗ dành như ngày nhỏ. Tôi nói với ba về bịnh của mẹ. Ba lịm đi một lúc. Sau cùng ba bảo " về nhà cái đã, rồi mọi chuyện sẽ tính sau ". Ba nhận lại hành lý cho tôi và hai cha con ra xe. Ba lái chậm rãi trong bóng đêm, mắt ba nhìn vào khoảng không im lặng. Tôi cũng miên man nghĩ không biết giờ này mẹ đang làm gì. Về nhà, dì vẫn thức chờ, nấu sẵn một nồi cháo cho tôi ăn ấm dạ. Dì bảo " con mau lớn quá. " Tôi lĩ nh nhận ý của dì, không phản ứng gì. Dì hỏi thăm về mẹ, tôi nói tránh mẹ vẫn thường nên chấp nhận cho tôi đi thăm ba. Dì lại bảo " tội nghiệp bà chị lúc nào cũng chẳng nghĩ đến mình, hi sinh hết cho người thân ". Ba nghe cũng thấy hả hê, song cũng không nói với dì về bịnh tình của mẹ. Tôi húp từng muỗng cháo nóng, mùi hành thơm làm nồng mũi tôi. Ăn xong, tôi xin phép đi nghỉ, sự mệt mỏi dặm đường làm cho mắt tôi díp lại, tôi thèm được ngả mình trong nệm ấm, chăn êm. Ba đưa tôi vào gian phòng đã được dì dọn sẵn. Tôi nằm xuống là đánh thẳng một giấc.
Những tia nắng đầu mai đánh thức tôi dậy. Ba đã đi làm, chỉ còn dì ở nhà. Dì sẽ đi làm buổi chiều, khi ba về. Dì vừa dọn điểm tâm vừa nói với tôi : " ba đã cho dì biết về bịnh của mẹ. Sao con dấu dì, hay là con vẫn còn giận dì " . Tôi nói không, nhưng dì có vẻ không tin. Dì an ủi tôi, nói là khoa học ngày nay đã tiến xa, hi vọng mẹ không sao đâu để còn sống lâu với tôi. Tôi cám ơn dì, dù trong thâm tâm tôi vẫn thấy ghen tị thay mẹ về cái hạnh phúc dì đang hưởng bên cạnh ba, trong khi mẹ còm cõi một mình. Tôi nhìn dì, dì tránh không nhìn thẳng lại tôi. Dì nói bâng quơ : sự đời có nhiều việc xảy đến không sao tránh được. Dù sao dì cũng có lỗi với mẹ, dì chắc con lớn con hiểu cho dì ". Có lẽ dì muốn phân bua về sự kết hợp với ba, nhưng tôi trấn an dì " việc người lớn làm sao con đủ khả năng phán xét cho công bằng, có điềụ.." Tôi bỏ lửng câu nói, dì chờ đợi, nhưng rồi thấy tôi lặng im, dì cũng không hỏi thêm. Rồi giữa dì và tôi dường như vẫn có một sự ngăn cách nào đó nên chẳng ai muốn khơi sâu thêm vào suy nghĩ của mình. Dì lo dọn dẹp các thứ trong bếp, còn tôi ra khu vườn cỏ sau nhà. Tôi bước những bước thong thả trên thảm nhung xanh, nghe cái êm êm len nhẹ từ gót bàn chân lên khắp thân. Những con sóc chạy tìm ăn khắp chốn mang theo vẻ nhí nhảnh gieo vào buổi sáng xinh tươi. Tôi nghĩ giá như đừng có mối lo toan về bịnh tình của mẹ thì có lẽ buổi sáng như thế này thật ý nghĩa biết bao.
Dì theo tôi ra vườn. Dì bảo : ba thích trồng hoa, nhưng cả dì lẫn ba bận đi làm nên chẳng còn ngày giờ tính đến chuyện vườn tược. Tôi hỏi lại : sao ba và dì không thuê mấy người Mễ đến làm cho. Con nghe nói người Mễ ở đây đông, làm bất cứ việc gì ai cần. Tiền công lại rẻ, người nào thuê, chiều xong việc tặng thêm cho họ vài xách bia lon nữa là họ ái mộ lắm. Nghe đâu họ tựu thành cả một chợ người để sáng ai cần là có thể đến chọn lựa. Dì lại bảo : con nói đúng, người Mễ nào cũng chịu khó. Họ từ quê sang, mục đích là cố làm lụng để lấy tiền gửi về giúp bên nhà. So với người Việt ta, họ cũng lăn lưng vào làm bất cứ việc gì dù nặng nhọc. Cảnh sát cũng biết, song có lẽ vì đất này trước kia là của Mễ bán lại thành nước Mỹ bây giờ, nên cũng làm lơ đi, miễn là đừng vi phạm vào những tội hình.
Hai dì cháu nói lăng nhăng dăm ba câu chuyện, rồi dì hỏi thẳng tôi : nếu chẳng may mẹ ra đi, liệu Niên có chịu về sống cạnh ba chăng ? Tôi bất thần vấp vào một quyết định mà chưa bao giờ tôi nghĩ đến nên tôi lúng túng không biết trả lời sao. Dì im lặng nhìn tôi, như muốn đốc thúc tôi nói ra ý nghĩ. Tôi vơ vẩn nhìn lên trời. Có thể nào mẹ vắn số như vậy sao. Mà cho dù mẹ có mất đi, chuyện về với ba thực tình là tôi không muốn. Tôi không thích phải nhìn cảnh hạnh phúc của ba với dì, trong khi đáng lẽ ra phần sung sướng đó phải là do mẹ được hưởng. Nhưng tôi đồng thời lại cũng sợ làm dì buồn nên tôi lơ lửng nói cho qua : thì chừng đó sẽ tính cũng không muộn mà dì.
Buổi chiều dì đi làm. Tôi ở nhà một mình, càng thấy thương mẹ. Lúc này mẹ làm gì, chắc là đang trông chờ tôi. Mẹ vốn đã héo hon vì bệnh, giờ lại thêm ngong ngóng đợi chờ, e bệnh mẹ lại trở nên trầm trọng hơn. Thế là tôi tự thấy trách mình hơn. Ðến sau 5 giờ ba mới về tới nhà, người ba có vẻ mệt mỏi. Ba than chiều cuối tuần, ai cũng dành về trước nên xa lộ kẹt, ba sốt ruột đến giờ mới về được. Tôi chạy đi rót nước mời ba rồi giục ba đi tắm. Sau đó hai cha con ngồi ra bàn trò chuyện với nhau. Ba như trách tôi : tại sao bệnh mẹ đau mà đến giờ con mới cho ba biết. Tôi bỗng muốn sửng cồ. Tôi nghiêng về phía mẹ mà hỏi khó ba : con tưởng bây giờ ba ít còn để ý gì mẹ và con nữa chứ. Câu nói như một nhát búa khỏ vào người ba. Mắt ba trông thảm hại hẳn đi. Ba đưa tay cào cào lên mái tóc : trời ơi, đến con mà cũng hận ba đến vậy. Rồi như ba thấy lỗi mình cũng đáng, ba lẩm bẩm nói như phân bua : phải rồi, ba vô tâm, vô tính, vô tình nên Niên buồn ba là phải. Song cả mẹ, cả ba đã cố giữ gìn cho đừng sứt mẻ, nhưng rồi cũng không giữ được. Tan vỡ nào xảy ra, người ta cũng lên án tại người đàn ông ham vui, song ba nghĩ nếu không dung hợp được với nhau thì cũng nên sống xa nhau để cả hai cùng thấy thoải mái. Ba sai là vừa xa mẹ thì ba lại có ngay dì. Thế nhưng đàn ông không can đảm được như phụ nữ, ba vừa đánh rơi vật quí thì ba thấy bơ vơ kinh khủng. Cho nên khi có người muốn an ủi mình là ba ngã liền. Niên có thể trách ba, nhưng con cũng phải hiểu cho ba là thực sự ba còn nghĩ về mẹ nhiều lắm. Tự dưng tôi càng ấm ức hơn. Tôi hỏi ba : ba nói ba nghĩ đến mẹ mà sao hè nào ba cũng chỉ muốn mình con đến với ba. Tiếc gì ba không mời cả mẹ đi nữa. Ðó là lý do vì sao con đã từ chối lời ba suốt mấy năm liền. Kỳ này nếu đừng vì mẹ bệnh, chắc con còn chưa muốn đến thăm ba đâu. Con muốn đến để nhắc ba nên về thăm mẹ một lần, đừng để đến khi muộn quá thì ba sẽ ân hận. Nói ra rồi, tôi mới thấy mình hỗn. Tôi xà vào lòng ba cầu xin một sự thứ tha. Ba cũng nhận ra ý của tôi, nên ba vỗ vỗ vào vai tôi mà nói : con nói phải, ba sẽ xin ngay phép về thăm mẹ. Con cứ ở đây qua hè, để ba về một mình. Ba sẽ nói với mẹ ý ba giữ con ở chỗ ba ít lâu. Rồi qua kỳ hè, con hãy về.
Tôi không hứa gì với ba. Sự ở lại hay trở về sớm còn tuỳ thuộc vào ba, vào dì có vui vẻ vì sự hiện diện của tôi hay không. Nếu dì và ba cứ cắn dắn nhau thì tôi ở lại liệu có vui vẻ gì. Rồi ba về thăm mẹ khoảng một tuần. Dì tỏ ra vui vì có tôi quanh quẩn một bên. Lúc nào đi làm thì thôi, về đến nhà là dì cháu bày ra nấu hết món này đến món khác. Khi ba về, ba khen : dì cháu hợp nhau nên trông ai cũng khoẻ ra. Ba kể chuyện gặp mẹ và đưa mẹ đi khám. Mẹ khăng khăng không đi, nhưng ba thuyết phục miết, mẹ nghe theo. Bệnh viện làm biopsy, thấy bướu kết tụ là do sự buồn phiền, chứ không phải thuộc loại dữ. Ba mừng và mẹ càng mừng hơn vì biết rằng mẹ con sẽ còn được ở cạnh nhau lâu. Mẹ không còn lo tôi phải cảnh bơ vơ khi mất mẹ. Do đó mẹ thuận cho tôi ở lại với ba đến hết hè.
Suốt mùa hè tôi sống trong vô tư và được sự chiều chuộng. Dì lo cho tôi ăn uống đầy đủ, dì nói nửa đùa nửa thực : lâu lâu Niên mới đến đây dì phải lo chu đáo, kẻo về sút cân mẹ lại trách dì. Nỗi vui vì biết bệnh tình mẹ đã qua sự âu lo và cũng nghĩ thà không đến thì thôi, đã đến với ba thì cũng cố vui một lần vì chắc gì còn có dịp trở lại nữa. Có những buổi chiều đột nhiên tôi cũng thấy nhớ mẹ, song thư mẹ đến đều đều cho thấy mẹ vui và dặn tôi cứ ở chơi với ba nên tôi cũng nghe theo.
Rồi mùa hè trôi qua. Ngày chia tay cả ba lẫn dì cùng đưa tôi ra trạm. Dì lo lỉnh kỉnh mọi thứ cho tôi ăn dọc đường, lại dặn dò các điều. Xe rời bến rồi, tôi mới thấy buồn mênh mang. Bóng dáng cả ba lẫn dì vẫy tay làm cho tôi thấy mắt cay cay. Tôi cám ơn ba, cám ơn dì về những ngày sống bên nhau ngắn ngủi.
Về đến nhà, mẹ dơ hai tay đón tôi. Mẹ đẩy tôi ra và nhìn. Xong mẹ khen tôi đẫy đà và nói đùa : bao giờ thì Niên cho mẹ uông rượu mừng đây. Tôi nghe như có một luồng máu nóng từ đâu dâng lên khuôn mặt tôi, như người vừa nhấp xong chút rượu. Tôi nũng nịu dụi người vào lòng mẹ : con chưa có rượu mời mẹ đâu. Con còn muốn ở gần mẹ, mẹ ạ. Hay là mẹ không còn cần con nữa. Mẹ cằn nhằn : con nhỏ nói tào lao, mẹ không cần Niên thì mẹ cần ai. Rồi cả hai mẹ con cùng đắm đuối vỗ về nhau trong trời chiều nhẹ gió.
Ngàỵ..tháng...
Con yêu,
Sáng nay khi nhìn xe con lăn bánh rời xa bố mẹ và em Huy, cùng với chồng con lái xe qua N. Carolina lập nghiệp, lòng mẹ đau như cắt vì xa con, mà không dám khóc trước mặt con. Biết rằng con đi lập nghiệp, tạo hạnh phúc gia đình của riêng con, nhưng sao mẹ vẫn thấy không đành lòng xa con gái yêu của mẹ.. nên đã nén cố gắng không khóc lúc tiễn con ra xe... Mẹ muốn con có hạnh phúc bên chồng và không bịn rịn vì nhớ nhà, lo lắng cho bố mẹ nữa.
Con gái rượu của mẹ ơi, con đi xa rồi , từ nay tối tối đâu còn cảnh bố mẹ ngồi xem T.V. và chờ con đi làm về nữa. Nhớ mỗi lần về tới nhà là con đã ồn ào, cười nói vui vẻ rồi, chưa thấy người đã nghe tiếng con vọng từ nhà dưới lên, ??Ế ô!!! thưa bố mẹ con đã dzề!?? Khi lên tới nhà trên, thì con tíu tít chạy đến bên bố mẹ, ôm mẹ và hỏi thăm ??Hôm nay bố mẹ đi làm có mệt lắm không? nhà mình có thư hay có phone của ai không ạ? Bố mẹ và Huy ăn cơm với món ăn gì...v ..v...??. Con cứ hỏi tíu tít và cười vui như ngày Tết, không để mẹ kịp trả lời con nữa.
Còn đâu những buổi chiều, khi mẹ vừa đi làm về tới nhà là con đã canh giờ giấc, gọi cho mẹ, hỏi thăm mẹ có cần mua bán gì không để lúc tan sở con sẽ mua mang về, hoặc là con hỏi mẹ có cần mua thuốc chưa, con sẽ đi fill cho mẹ.?? Và mỗi ngày như một ngày, con đều có ??đề tàỉ? mới để gọi phone từ chỗ làm về cho mẹ. Nay, khi mẹ đi làm về tới nhà, quen với giờ giấc nói phone của con rồi, bây giờ không còn nữa, mẹ nhớ nhiều và buồn lắm con ơi.
Bây giờ nhiều lúc mẹ đi ra, đi vào phòng ngủ của con, mà ngẩn ngơ như rớt mất vật gì quý giá mà tìm kiếm hoaì chưa thấy. Bố cũng vậy, bố buồn và vốn tính ít nói, nay lại càng ít nói hơn nữa. Mẹ đã bắt gặp bố đứng trước cửa phòng của con tư lự, nét mặt thẫn thờ đăm chiêu, bố thuờng đứng như thế rất lâu và nhiều lần như vậy trong một ngày!
Mẹ nhớ lại 12 năm trước, lúc ba mẹ con mình mới được bố bảo lãnh qua Mỹ sinh sống, khi đó, bố đi làm, hai chị em con đi học ở trường trung học gần nhà, mẹ đi làm về, mỗi tối mẹ cùng hai chị em con tra tự điển để hiểu thêm nghĩa của bài vở... Sự học hành rất vất vả đối với hai con lúc đó, nhưng với nghị lực và tinh thần cầu tiến của các con cũng như vì tình thương bố mẹ là những người đã khuyến khích các con phải cần cố gắng học để tạo một nghề để lo cho tương lai. Sau 9 năm miệt mài học hành, các con đã vượt qua mọi trở ngại về ngôn ngữ, hai chị em con đã đạt được những gì mà các con muốn. Bố mẹ và những người thân đã rất vui mừng, hãnh diện, góp vui với chị em các con ở ngaỳ các con tốt nghiệp đại học, thế là hai các con đã trưởng thành nơi xứ người. Sau naỳ phải lăn vaò đời sống làm việc trong xã hội của xứ người, bố mẹ đã yên trí các con cũng sẽ có đuợc chỗ đứng kha khá trong xã hội nuớc ngườI, mà không sợ bị thua kém, hay mặc cảm với họ. Ðiều mẹ vui lòng nhất mà hai chị em con đã mang tới cho Bố Mẹ là các con rất ngoan, hiếu thảo, biết giữ gìn phong tục, tập quán của ông cha ta từ ngàn xưa để lại. Các con không bị nếp sống mới tiêm nhiễm, các con vẫn là những đứa con, đứa cháu ngoan của cha mẹ, ông bà, cô bác.
Mẹ nhìn xung quanh đâu đâu cũng thấy hình ảnh của con. Và những kỷ niệm của con cùng gia đình đã cùng chung sống. Khi còn ở nhà, con thu xếp nhà cửa gọn gang, sạch sẽ và nếu hôm nào được nghỉ làm hoặc đi làm về sớm, con thường ghé sở đón mẹ. Rồi con dành cả phần nấu nướng vì muốn mẹ đuợc nghỉ ngơi. Con còn dành phần giặt giũ, lau chùi bếp, buồng tắm... Con không muốn mẹ phải làm việc vất vả đó, con nói mẹ đã lớn tuổi rồi, đi làm đã là qúa vất vả, việc nhà hãy để con lo phụ mẹ, chỉ khi nào con dọn đi xa, mẹ mới phải nhúng tay dọn dẹp... Con là mùa xuân của bố mẹ, của em Huy và của cả đại gia đình nữa. Với người bề trên hoặc với người ngang lứa, con đều ứng xử một cách rất khéo léo, tế nhị và đầy tình cảm, khiến mọi người đều vui khi tiếp xúc với con. Con rất ngoan, nhạy cảm và chan chứa tình người, hiếu thảo với cha mẹ... Con là gái mà chu đáo trước sau, lo cho cả bố nữa, việc quét lá, thu dọn ngoài vườn là phần của Huy và bố, nhưng nếu con ở nhà, con cũng làm vườn sạch sẽ, gọn gàng, không để bố và em Huy phải làm nữa. Biết bao nhiêu việc khác nữa mà con đã làm cho bố mẹ. Nay con lập gia đình , theo chồng nên phải đi xa, mẹ biết con cũng rất áy náy trong lòng, vì sợ bố mẹ buồn, cô đơn, khi các con rời xa ,nhưng làm sao đuợc, phận gaí phaỉ theo chồng...cũng như mẹ ngaỳ xưa mà thôi.
Con yêu, sau cơn xúc động vì con dọn đi xa, mẹ đã tạm thời quen với cảnh thiếu vắng bóng con rồi, mẹ cứ tự an ủi cho mình là chắc con còn đang học xa ở trường mà thôi. Hơn nữa, mẹ cũng ??ngộ?? ra rằng tất cả mọi vật ở thế gian này đều là vay mượn, tạm bợ mà thôi. Ngay cả thân này của mẹ cũng là mẹ mượn mà có, không có gì là vĩnh cửu cả!! Hiểu ra như vậy, mẹ đã hết buồn rồi và cầu mong con có cuộc sống lứa đôi thật hạnh phúc.
Tuy con ở xa, nhưng mỗi tối con đều phone về thăm hỏi Bố Mẹ và em Huy, nên mẹ chấp nhận sự thật là con đã về nhà chồng rồi và không nên buồn nữa nhưng nhớ con mẹ vẫn nhớ. Thôi mẹ để con yên tâm sống cuộc sống mới đày mơ mộng, hạnh phúc của cuộc sống lứa đôi...
Chúc con nhiều hạnh phúc và các con luôn gìn giữ tình yêu đẹp mãi mãi trong tương lai nhé.
Mẹ của con.
(Mùa thu 2002)
(Trần thị Kim Oanh, TV 65)
Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội.
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...
Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứu.
Tác phẩm chọn lọc:
Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)
TRƯỜNG CA
Tôi đã chủ trương những cuộc lên đường trong âm nhạc. Còn cuộc lên đường nào thú vị hơn là đường đi vào quê hương với những trường cả Trường Ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN được thai nghén từ 1954, vào lúc các cường quốc vừa chia đôi nước Việt Nam ra thành hai miền Quốc-Cộng với bản Hiệp Ðịnh Geneve. Tôi đang đi học nhạc tại Paris và bằng trường ca này, tôi phản đối sự chia cắt đó. Vào năm 1960, tôi hoàn tất phần còn lại của Trường Ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN.
Trường ca gồm 19 đoản khúc, đại đa số bài nằm trong âm giai ngũ cung và có thêm nhạc thuật chuyển hệ. Nhưng tôi cũng không ngần ngại pha trộn vào trường ca một số bài nằm trong âm giai thất cung Tây Phương.
Trường Ca
CON ÐƯỜNG CÁI QUAN
(tặng người bạn đường)
Trường ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN đưa ra một lữ khách đi trên con đường xuyên Việt, đi từ Ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mâu, đi từ ngày mới lập quốc cho tới khi đã hoàn thành xứ xở, đi trong lịch sử và lòng dân, đi tới đâu cũng có tiếng dân chúng địa phương ca hát chúc tụng lữ khách đi nối lền được lòng người và đất nước.
Trường ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN gồm có ba phần :
Phần Thứ Nhất : Từ Miền Bắc, mang tính chất hào hùng của miền quê cha đất tổ.
Phần Thứ Hai : Qua Miền Trung, với tình thương yêu chan chứa niềm xót xạ
Phần Thứ Ba : Vào Miền Nam, tỏ sự vui mừng của con người đã cả thắng thiên nhiên để hoàn thành nước Việt.
Trường ca là sự tổng hợp của nhiều đoản ca mang những tên riêng biệt và có thể trình bày lẻ loi. Toàn bài còn là một nhạc cảnh, trình diễn với đầy đủ nhân vật mang sắc phục ba miền và cảnh trí phù hợp.
Phần Thứ Nhất
TỪ MIỀN BẮC
Mở đầu là tiếng hát vu vơ của một thôn nữ miền Bắc...
1. ANH ÐI TRÊN ÐƯỜNG CÁI QUAN
Cô Cắt Cỏ :
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại
Dừng chân đứng lại
Cho em đây than đôi lời
Ði đâu vội mấy anh ơi.
Lữ khách trả lờị..
2. TÔI ÐI TỪ ẢI NAM QUAN
Lữ Khách :
Tôi đi từ ải Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ
Chia đôi một họ trăm con đã lên đường
Năm mươi người ngược núi rừng
Ðã dựng vòng biên ải
Năm mươi người trẩy theo sông tới khơi chừng
Tôi theo người vượt quan san
Ơi người ơi Ơi người ơi
Vẽ lối mòn gìn giữ quê hương ngăn dường giặc Hán
Tôi chưa về Ải Chi Lăng
Ơi người ơi Ơi người ơi
Dưới chiến bào người thấy băn khoăn thương ai đầu nguồn...
Người còn nhớ thương ai hơn là nàng Tô Thị lúc này đang đứng đợi người ở đầu nguồn. Nhưng người vọng phu lại khuyên người đi đừng có trở về, vì nếu người về thì nàng chẳng thành đá và chẳng còn được người đời thương mến nữa.
3. ÐỒNG ÐĂNG CÓ PHỐ KỲ LỪA
Tô Thị :
Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị (ý y a) đứng (a) chờ... đợi (ỳ) ai
Và khuyên người chẳng tái hồi
Cho ngàn năm được (ý y a) sống đời... vọng (a à) phụ
Người lữ khách đi trong miền thượng du. Có dân chúng vùng núi rừng hát tiễn đưạ..
4. NGƯỜI VỀ MIỀN SUÔI
Dân thượng du :
Người về miền suôi đem theo tình người miền núi
Nhà sàn lả lơi đứng bên đường hoang vắng soi
Ðưa chân anh qua đồi
Cơm lam đem theo người
Lên cao anh ôm trời
Ðể dòng suối lẻ loị..
Lữ Khách :
Ðường về ruộng dưới ngát hương củi rừng gạo núi
Vượt tầm đèo khơi thấy con đường lúa tươi cười
Ðường về miền suôi biết bao đò bao quán mới
Ðường dài mà vui hỡi người bạn đường nặng vai
Rồi một ngày mai có qua nhịp cầu tả tơi
Nhìn bọt bèo trôi nhớ chăng mầu tóc xanh ngời...
Hát chung :
Ðường ngược đường suôi
Nhớ nhau vì chuyện đầu môi
Tạm biệt một nơi
Thấy nhau ở cuối chân trời.
Người lữ khách về tới vùng trung du. Qua đò ngang, gặp cô lái đò...
5. NÀY NGƯỜI ƠI
Cô lái đò miền trung du :
Này người ơi ghé bến (y) sang sông
Lên đường đi tới bõ công em chèo thuyền
Mừng người đi tìm thấy tình duyên
Con đường đất nước nối liền lòng dân.
Lữ khách :
Sông Thương ơi nước chẩy đôi ba dòng
Anh về Hà Nội một lòng, lòng yêu em
Sông Thương ơi nước đục người đen
Anh về thành phố không quên cô mình.
Lữ khách đã về tới Thủ Ðô miền Bắc...
6. TÔI ÐI TỪ LÚC TRĂNG TƠ
Lữ Khách :
Ra đi từ lúc trăng tơ, trăng một miền hoa cỏ
Trăng lên đầu của ô xa vẫn chưa mờ
Im nghe lời Thủ Ðô chào, ôi lời mừng đông đảo
Ði trong lịch sử dân ta, luống nghẹn ngàọ
Lữ khách và dân chúng thủ đô :
Hai bên nhà cửa thân yêu
Ơi người ơi Ơi người ơi
Ðã mấy lần để đám rêu xanh thay mầu gạch ngói
Thăng Long buồn tủi chia phôi
Tháp, Tháp Rùa ơi Tháp, Tháp Rùa ơi
Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hờị
Phần Thứ Hai
QUA MIỀN TRUNG
Vào tới Miền Trung, thấy một lũ bé chạy ra đón lữ khách...
7. AI ÐI TRONG GIÓ TRONG SƯƠNG
Lũ trẻ :
Ai đi trong gió trong sương ơ
Phải mau ơ phải mau để mà tới người ơi
Kẻo đường ơi, người ơi còn xa
Kẻo đường ơi, người ơi còn xa
Và một bà mẹ đang ru con...
8. AI VÔ XỨ HUẾ THÌ VÔ
Bà mẹ :
À á ơ a a à á ơi
Ai vô xứ Huế thì vô
Chớ sợ Truông nhà Hồ, chớ sợ Phá Tam Giang à ơi
À á ơ a a à á ơi
Ngó ra quê cha đường xa sông rộng
Ngó về quê mẹ núi lộng đèo cao
À á ơ a a à á ơi
Nhưng con ơi, con ngú ngủ sâu
Chứ nối lại nhịp cầu
Chứ đã có o ó ư... người đi
À á ơ a a à á ơị
Qua thôn xóm, gặp lúc ngày mùa, lữ khách nghe thấy tiếng hò giã gạọ
9. AI ÐI TRÊN DẶM ÐƯỜNG TRƯỜNG
Dân làng :
Hò hô hò hò ơi hò
Ai đi trên đường là dặm đường
Ði mô mà vội vã à, cùng là hò khoan
Hố hô hò khoan
Hò hô hò hò ơi hò
Khoan khoan tôi mời là mời bạn
Vui là họp đoàn đêm nay chừ là à nay
Hố hô hò khoan.
Lữ khách :
Năm tê trong lúc sang Xuân
Tôi theo Công Chúa Huyền Trân tôi lên đường
Ðường máu xương đã lắm oán thương
Ðổi sắc hương lấy cõi giang san
Tôi đi theo bước ái tình
Ði cho trăm họ được hòa bình ấm no
Ðèo núi cao nghe gió vi vu
Thổi phấn son bay tới kinh độ
Dân miền Trung :
Hò hô hò hò ơi hò
Anh đi trên đường là gập ghềnh
Mau mau đi kẻo lỡ a truyện tình nước non
Hố hô hò khoan.
Hò hô hò hò ơi hò
Mau mau đi kẻo là kẻo lỡ
Câu chuyện tình năm xưa là tình à xưa
Hố hô hò khoan.
Lữ khách muốn được như nàng Huyền Trân khi xưa, đi vào phía Nam bằng một tấm lòng, Lữ khách nghe thấy tiếng hát của Công Chúa vẳng lên từ những Tháp Hờị..
... Công chúa Huyền Trân muốn nói rẵng con đường thiên lý dù sao cũng không dài bằng con đường đi vào lòng người. Nàng mong lữ khách nối tiếp công việc đi vào đất nước và lòng người của nàng khi xưa.
10. NƯỚC NON NGÀN DẶM RA ÐI
Huyền Trân Công Chúa :
Nước non ngàn dặm (à a a) ra đi
Nước non ngàn dặm (à a a ra) đi
Dù đường thiên lý xa vời
Dù tình cố lý chơi vơi
Cũng không dài bằng lòng thương mến người
Bước đi vào lòng (ừ ư ư) muôn dân
Bước đi vào lòng (ừ ư ư) muôn dân
Bằng hồn trinh nữ mơ màng
Bằng tình say đắm ơi chàng
Ước nuôi dần hòa bình trong ái ân
Nhưng ánh Tháp vàng
Cây quế giữa rừng
Chỉ một mùa tang là hương là sắc (ứ) tan
Tàn cả tình yêu
Vì hận còn gieo
Ðất nước cháy theo với ngọn lửa thiêu
Mới hay tình nhẹ (è e e) như tơ
Mới hay tình nhẹ (è e e) như tơ
Mộng ngoài biên giới mơ hồ
Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
Với đêm mờ hồn về trên Tháp mạ
Lữ khách vội vã ra đi, và trong sớm tinh mơ nghe thấy giọng hò của cô gái Huế vẳng lên từ ngôi chùa Thiên Mụ bên sông Hương...
11. GIÓ ÐƯA CÀNH TRÚC LA ÐÀ
Cô gái Huế :
Ớ ơi hò ! Ớ hò ơi
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà điểm sương
Người về chưa ghé sông Hương
Ðã nghe tiếng gọi đôi đường đắng cay
Anh đi mau ơ để nối lại duyên may
Tình xưa là nghĩa cũ anh đắp xây cho thiệt bền
Ớ ơi hò ! Ớ hò ơi
Lữ khách cất tiếng hát qua đèo, vào vùng ven biển...
12. TÔI XA QUÊ NGHÈO RUỘNG NGHÈO
Lữ khách :
Hò hô hò hò ơi hò
Tôi xa quê nghèo là ruộng nghèo
Tôi leo qua cồn cát à, vượt đèo Hải Vân
Hố hô hò khoan.
Hò hô hò hò ơi hò
Tôi trông én liệng là từng đàn
Tôi gọi đàn chim ơi kià là à chim
Hố hô hò khoan.
Dân miền Trung :
Vua Lê dắt lính vô Trung
Anh theo Chúa Nguyễn vượt Cù Mông anh qua đèo
Ðể núi cao ngơ ngác trông theo
Ðễ tháp son thương nhớ trong chiều
Anh đi chân cứng đá mòn
Ði chưa thấy mỏi mà lòng còn say sưa
Biển thắm ru tiếng hát thiên thu
Làn gió xanh theo gót phiêu du.
Lữ khách :
Hò hô hò hò ơi hò
Lênh đênh ven bờ là biển sâu
Hương thơm là thoang thoảng à đất mầu miền Nam
Hố hô hò khoan
Hò hô hò hò ơi hò
Lênh đênh ven bờ là biển giàu
Nghe nhịp cầu đã nối tình là à xưa
Hố hô hò khoan.
Phần Thứ Ba
VÀO MIỀN NAM
Lữ khách vào tới miền Nam, nghe tiếng hò của một cô gáị..
13. ANH ÐI ÐƯỜNG VẮNG ÐƯỜNG XA
Cô gái miền Nam :
Hò ơ ơ ớ ơ... hò
Bớ anh đi đường vắng đường xa
Dừng chân đứng lại (i ì)
Hò ơ ơ ớ ơ... hò
Nghe em đây ca đôi lời (l y)
Chiều về trên cánh Ðồng Nai
Chờ người xây đắp ngày maị..
Và lữ khách mừng rỡ hát khúc hành cạ..
14. NHỜ GIÓ ÐƯA VỀ
Lữ khách :
Nhờ gió đưa về, về miền gió chan hòa
Thơm lòng đất phù sa
Trời nắng huy hoàng, trời sưởi ấm con đường
Cho ta vô miền sông nước
Chiến đấu với sình lầy
Với thú dữ ư tràn đầy
Với lũ muỗi ư đặc dầy như đám mây
Chiến đấu với rừng tràm
Ta như ong từng đàn
Lập cuộc đời trên đất rừng hoang
Vào tới xóm dừa, vào vườn chuối la đà
Ôi là mát lòng ta
Bầu vú sữa tròn và mảnh trái thơm ròn
Hương sầu riêng ngọt ngon
Có mái tóc xuề xoà, có khoé mắt thiệt thà
Ðôi môi xinh hàm răng xít xa
Có áo ngắn mặn mà, có tiếng nói đậm đà
Người yên lành như một giấc mợ..
Cô gái miền Nam muốn được đi bên lữ khách trên con đường và trong cuộc đời.
15. ÐI ÐÂU CHO THIẾP THEO CÙNG
Cô gái miền Nam :
Ði đâu cho thiếp theo cùng
Ðói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp về...
Lữ khách :
Tới đây lạ xứ quen người
Trăm bề nhũn nhặn đừng cười tôi nghe
Ví dầu tình bén duyên thề
Thi xin kết bạn đền nghì trúc maị..
Từ biệt miền Bắc với tâm trạng của người chồng Nàng Tô Thị. Vào miền Trung với mối tình của Huyền Trân Công Chúa, nhưng tới miền Nam, lữ khách đã tìm được lương duyên ở cảnh và ở người. Lữ khách kết duyên cùng cô gái. Dân chúng miền Nam hát hò mừng đôi vợ chồng mớị
16. ÐÈN CAO CHÂU ÐỐC GIÓ ÐỘC GÒ CÔNG
Dân chúng miền Nam :
Hò lơ hó lơ
Lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ
Hò lơ hó lơ
Ðèn nào cao cho bằng đèn Châu Ðốc
Gió nào độc cho bằng gió Gò Công
Vợ chồng son đã nuôi lòng ước mong
Thuận vợ chồng sẽ cùng tát Biển Ðông
Hò lơ hó lơ
Lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ
Hò lơ hó lợ
Ðôi vợ chồng son cưỡi sóng Cửu Long Giang về miền Hậu Giang sinh sống.
17. CỬU LONG GIANG và VỀ MIỀN NAM
Ðôi vợ chồng trẻ :
Cửu Long Giang gió về vui trên sóng sông
Uốn quanh như chín con rồng ôm chặt đứa con
Người từ Tiền Giang đi về xa xăm
Cuối con đường say đắm là miền rộng thênh thang
Cửu Long Giang trôi về ôm ấp đất hoang
Thiết tha như gái yêu chồng trong chiều mênh mông
Người về Hậu Giang xây tổ uyên ương
Có cánh đồng lúa chín uốn mình trên sóng sông...
Ðôi vợ chồng trẻ và dân chúng :
Về miền Nam ôi quê hương mới ơi
Về Cần Thơ khơi kinh, khơi nước ngòi
Về Hà Tiên ta tiễn Chúa ra đảo khơi
Về Cà Mâu ta đốt biết bao lửa vui
Về miền Nam ta theo cơn gió đưa
Về miền quê ta theo cơn gió về
Về miền sông ăn cá nướng thơm ngày mưa
Về đồng dưa ta tắm nắng vui đời ta
Về miền Nam... Về miền Nam
Người về đây trong gió bình an...
Thành lập xong cuộc đời trên đất miền Nam mầu mỡ, họ hát cám ơn...
18. GIÃ ƠN CÁI CỐI CÁI CHẦY và VỀ MIỀN NAM
Ðôi vơ chồng trẻ :
Giã ơn cái cối cái chầy
Ðêm khuya giã gạo, có mầy, có tao
Giã ơn cái nhịp cầu ao
Ðêm khuya vo gạo, có tao có mầỵ
Dân chúng :
Về miền Nam đem theo sương gió xưa
Về đồng khô đem cơn mưa rét về
Người về đây thương nhớ lắm con đường xa
Về miền Trung, ra xứ Bắc yêu mẹ cha
Ðường từ xa đem ta đã tới đây
Chùa chiều nay rung chuông trên luống cầy
Người gửi ơn ra bốn phía chân trời mây
Ngẩng đầu lên dâng vút đóa linh hồn say
Ðường về đây... Ðường về đây
Trời về Tây nghe gió cuồng baỵ..
Lữ khách đã tới cuối con đường xuyên Việt. Tạm dừng chân, người mong con đường cái quan sẽ có ngày hết ranh giới để người được mãi mãi đi trong cuộc đời và trong tình ngườị
19. ÐƯỜNG ÐI ÐÃ TỚI
Toàn thể nhân dân :
Ðường đi đã tới... Lòng dân đã nốị..
Người tạm dừng bước chân vui người ơi
Người mơ ước tới... Ðường tan ranh giới
Ðể người được mãi
Ði trong một duyên tình dài
Con đường thế giới xa xôi
Trong lòng dân chúng nơi nơị..
Thai ngén từ 1954
Bỏ dở dang trong những năm sau
Hoàn tất 1960
*
* *
Trường Ca CON ÐƯỜNG CÁI QUAN chống đối sự chia cắt đất nước sau Hoà Hội Genève vào năm 1954. Trường Ca MẸ VIỆT NAM ra đời sau đó sẽ là lời kêu gọi đoàn kết giữa những người con của đất nước, trong một giai đoạn nhiễu nhương là khoảng 1963-64, với những cuộc chỉnh lý, xuống đường và với cuộc chiến tranh giữa hai miền đã gia tăng khốc liệt.
Trường Ca
MẸ VIỆT NAM
(kính dâng Mẹ, tặng tuổi trẻ nước tôi)
Nếu CON ÐƯỜNG CÁI QUAN là một hành ca ghi lại bước tiến của dân tộc ta trên một sinh lộ nhất quyết không chịu chia cắt thì MẸ VIỆT NAM là một âu ca, ca tụng Mẹ Tổ Quốc và những Mẹ điển hình trong truyền kỳ lịch sử nước nhà, đề tài và cảm hứng nhắm dựa vào tình thương yêu và tính hiếu hoà, tính tình này đã sinh tồn mạnh mẽ trên đất ta và phải được truyền đi trong thế giới tàn nhẫn hiện tạị
Ðây là một trường ca trong đó, lúc trẻ tuổi, mẹ Việt Nam được biểu tượng bằng đất mầu tươi tốt, đa tình, nền tảng của gia đình, ruộng nương, làng nước. Khi đứng tuổi, mẹ hiện thân là núi non sắt đá, trong sự hi sinh ròng rã, vẫn bền bỉ đợi chờ và che chở người chinh phu chưa hết nợ đao binh. Mẹ còn âm thầm sót thương lũ con sông ngòi, có những đứa dại dột, hiếu thắng, phản bội mẹ vì sự tranh giành lẫn nhau, gây oán hận phân chia, làm nát tan lòng mẹ. Vào lúc tuổi già, mẹ trở thành biển cả đại lượng bao dung, kêu gọi và ôm đón đàn con giang hồ, thành công hay thất bại. Nước mắt vui mừng của mẹ lúc gặp con bốc lên trời cao làm mây đầy đặn và ấm áp, bay đi rửa sạch địa cầu bằng ơn mưa móc, nối chặt chu kỳ trường ca MẸ VIỆT NAM.
Trường Ca MẸ VIỆT NAM chia ra bốn phần :
Phần I. - ÐẤT MẸ
Phần IỊ- NÚI MẸ
Phần IIỊ- SÔNG MẸ
Phần IV.- BIỂN MẸ
gồm 21 ca khúc hát liên tục và một chung khúc (finale).
Phần Ị- ÐẤT MẸ
1. MẸ TA
Mẹ Việt Nam, không son không phấn
Mẹ Việt Nam, chân lấm tay bùn
Mẹ Việt Nam, không mang nhung gấm
Mẹ Việt Nam, mang tấm nâu sồng.
2. MẸ XINH ÐẸP
Ðôi má tươi hồng, má tươi hồng, với bàn tay trắng
Nhỏ người vai lẳn, vú căng tròn, tròn lưng ong
Mẹ nằm phơi gió trăng
Ôi Mẹ Việt Nam
Nghiêng mắt xanh chải tóc mây ngàn
Mẹ Việt Nam
Bên bờ đại dương
Mẹ duỗi chân dài chờ mưa tuôn
Mẹ Việt Nam
Mẹ mong, mong chồng
Cũng như là ruộng sâu nông
Ruộng cứng hay mềm
Cũng êm đềm đón lưỡi cầy tìm da thơm
Mẹ cười trong gió sương
Ôi Mẹ Việt Nam
Dâng tấm thân nhuộm nắng nâu ròn
Mẹ Việt Nam
Ðây ruộng đồng trinh
Mẹ khát khao mầm, mầm tươi ngon
Mẹ Việt Nam
Trời Ðông ánh dương hồng
Cũng như chiều vàng mênh mông
Có đàn chim én lượn trên đất xinh
Chứa chan tình, là tình mong chờ
Mẹ Việt Nam.
3. MẸ CHỜ MONG
Mẹ chờ mong
Ngày trông tháng đợi
Ðợi Thần Trai đội đá vá trời
Với hồn Nữ Oa
Mẹ giơ tay đón
Với tình nước non
Mẹ còn chờ mong.
4. LÚA MẸ
Yêu nhau khi lúa chưa mòng
Thương nhau khi nắng khô đồng
Ôm nhau nghe nước mưa ròng
Chẩy vào lòng cập tình nhân
Bên nhau khi lúa xanh rờn
Chia nhau bông chĩu thơm vàng
Ðem nhau ra giữa sân làng
Nhìn đèn trăng kể truyện xưa
Xinh xinh bãi lúa xanh rì
Ngoan như cơn gió đêm hè
Nghe hơi dưới đất vỗ về
Một lời thề nặng tình quệ
Vươn vai lúa nhớn dậy thì
Mưa thu cưới lúa đem về
Nâng niu lúa chín tới kỳ
Kỳ nở hoa, đẹp lòng tạ
5. MẸ ÐÓN CHA VỀ
Mẹ đón cha về, đón cha về
Duyên thề chắp nối
Cuộc đời trôi nổi, vẫn tươi cười vì lòng vui
Ðời nghèo nhưng có đôị
Ôi Mẹ Việt Nam
Năm tháng lo gạo gánh nuôi chồng, mẹ Việt Nam
Ðêm ngày thầm mong
Lửa bếp thơm nồng tình uyên ương, mẹ Việt Nam
Mẹ yêu, yêu chồng có khi Mẹ là Châu Long
Nợ trả thay chồng vẫn giữ lòng
Trắng như ngần và sạch trong.
Mẹ là tiểu Kính Tâm
Lên chùa giải oan
Ôi sót thương trẻ khóc trong vườn, trẻ con hoang
Ôi Mẹ từ bi
Giọt máu rơi này, Mẹ nhận là con, mẹ Việt Nam.
Việt Nam có anh hùng, mắt nhung và môi son
Giữa mùa Xuân giết giặc
Yêu nước non, hé môi cười
Nụ cười thanh bình
Mẹ Việt Nam.
Phần IỊ- NÚI MẸ
6. MẸ HỎI
Lính vua ! Lính chúa ! Lính làng !
Trời ơi ! Giết bao nhiêu giặc
Cho chàng, chàng phải đi ?
7. MẸ BỎ CUỘC CHƠI
Gió mùa Xuân, Mẹ bâng khuâng hỏi :
Hoa trên đồi, hoa trên đồi sớm tối còn tươi
Giữa ngày xuân mới, giữa hội mùa vui
Sao vắng tiếng cười ?
Sao vắng bóng người ?
Tiếng trống, trống năm xưa, trống đổ, đỏ đêm khuya
Trên trường thành trăng ngả, cho tàn cuộc vui nhỏ
Cho ai tiễn đưa người
Ra đi chốn xa vời, hỡi aị
Gió hè qua, Mẹ ra con hỏi
Khi trên đồi, khi trên đồi nắng quái chiều hôm
Có phải chàng Trương gốc miền Nam Xương
Xa vắng xóm làng vì cha ở chiến trường
Nắng sẽ sẽ không đi, bóng Mẹ ngả trên đê
In hình người chiến sĩ, cho Mẹ nhìn con trẻ
Con ơi hỡi cha kìa
Mau ra đón cha về với con.
8. MẸ TRONG LÒNG NGƯỜI ÐI
Ðồi cao, cao núi cao
Rừng sâu, sâu rú sâu
Cũng có, có lối leo đường trèo
Ðường treo, treo giữa đèo
Ðường dẫu, dẫu hiểm nghèo
Ðường ta, ta vẫn có lối theo
Ðường lên, lên núi Lam
Ðường sang, sang Thất Sơn
Ðường tới những chiến công ngọn nguồn
Hoành Sơn nghiêng dẫy nằm
Vạn kiếp chốn dung thân
Ðường đưa ta đến với người thương.
Ra đi còn nhớ ngày nao
Nuôi con Mẹ vẫn nguyện cầu
Người sinh ra có nhau
Phải thương nhau mến nhau
Nhưng đã có biết bao phen khổ đau
Giặc xâm lăng nước nhà
Phải cứu lấy đân ta
Thì ta lên núi với Mẹ già
Anh ơi ! Phải lính thì đi
Nơi quê em gìn giữ lời thề
Vườn dâu em đốn sâu
Trẻ thơ khôn lớn mau
Cho chiến sĩ bước theo tiếng Mẹ kêu
Mẹ giơ tay đón chào
Gìn giữ lũ con yêu
Vì yêu, con chiến đấu dài lâụ
9. MẸ TRẢ LỜI
Giữ dân ! Giữ nước ! Giữ làng !
Giữ thân cho Mẹ !
Cho nàng dậy con.
10. MẸ HOÁ ÐÁ
Gió mùa Thu, Mẹ ru con ngủ
Con vẫn chờ bóng cũ người xưa
Bốn nghìn năm qua, bóng về rồi đi
Bóng ngã chiến trường làm phân bón cánh đồng
Tóc núi đã phơi xương, máu nhuộm cả vai non
Ai làm dòng sữa cạn?
Xin mời Mẹ lên ngọn
Nghe tin nước vui mừng
Cho nên Mẹ ứa đôi dòng sữa ngon.
Gió mùa Ðông, Mẹ không thấy mỏi
Ðứng trông về, đứng trông về bốn cõi trời xa
Sót người nông phu chắp từng manh áo
Thương gái gánh về thùng bánh ế cuối ngày
Biết mấy nỗi thương vay, thấy trẻ nhỏ giơ tay
Con ngựa người vất vả, xe nặng nề qua ngõ
Thương thi sĩ hay buồn
Cho nên Mẹ hóa ra hòn núi caọ
Phần IIỊ- SÔNG MẸ
11. MUỐN VỀ QUÊ MẸ
Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn về quê Mẹ
Muốn về quê Mẹ
Mà không có đò !
12. SÔNG CÒN MẢI MÊ
Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoan
Ai bảo là sông, ơi sông không có đò ngang
Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoan
Ai bảo là sông, ơi sông không chờ người sang
Sông Hồng cuộn sóng lôi cuốn Sông Lô
Sông Ðà, Sông Ðuống trôi xuống Sông Cầu
Nghe Bạch Ðằng Giang chôn bao nhiêu xác quân Tầu
Sông nào cũng muốn đến trước tranh lấy công đầu
Khoan hời hò khoan
Sông còn ngổn ngang cho nên chưa được bình an
Khoan hời hò khoan
Sông còn mải mê cho nên chưa về Mẹ quê
Khoan hời hò khoan Khoan hời hò khoan
13. SÔNG VÙI CHÔN MẸ
Nhớ xưa, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ xưa
Mẹ xuống sông rửa nhục anh hùng
Mẹ trôi trên dòng sông Hát
Nước ngược suôi đưa Mẹ đi muôn nơi
Nhớ chăng, nhớ Mẹ, nhớ Mẹ chăng?
Chôn đáy sông mối hận yêu chồng
Chàng Trương có buồn thương khóc
Rước Mẹ lên, nước thiêng sẽ giải oan
Nhớ Mẹ, nhớ Mẹ
Yêu đàn con, thương đàn con
Nên trao thân cho nước ngoan.
Nhớ Mẹ, nhớ Mẹ
Trên trường giang mong đàn con
Sông trôi xuốt đời trong trắng
Hỡi ôi ! Có ngày, có Mẹ vui
Ôm sóng bơi, vớt củi sông dài
Ngờ đâu sông đảo điên say máu
Nước cuộn mau khiến cho Mẹ chìm sâụ
14. SÔNG KHÔNG ÐƯỜNG VỀ
Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoan
Ai bảo là sông, ơi sông không dìm Mẹ oan
Khoan hời hò khoan, ơi khoan khoan hò hò khoan
Ai bảo là sông, ơi sông không đổi mầu luôn
Sông đỏ như máu tranh đấu sông nâu
Sông vàng xanh yếu kêu cứu sông giầu
Sông nhuộm vàng mau chia nhau uốn khúc khoe mầu
Sông rồng lôi kéo lũ rắn đi cắn sông đào
Khoan hời hò khoan
Sông tìm vẻ vang cho nên quên lời Mẹ khuyên
Khoan hời hò khoan
Không tìm tình thương cho nên không đường về tim
Khoan hời hò khoan
Khoan hời hò khoan.
15. NHỮNG DÒNG SÔNG CHIA RẼ
Nước đi là nước không về
Chia đôi dòng nước chia lià dòng sông
Chia đôi bên bờ bến lạnh lùng
Cho Ngưu Lang và Chức Nữ ngại ngùng
Chia đôi dòng sông Thương
Nước bên đục bên trong
Nước ân tình đổi thành ra nước căm hờn
Chia sông Gianh phân tranh mộng đồ vương
Chia con sông Bến Hải buồn thương
Nước yên vui từ nguồn
Bỗng gây nên điều buồn
Dòng lệ tuôn thành sông không có linh hồn
Chia anh em vì quên tiếng gia đình
Chia tay chân và cắt đứt ngang mình
Chia thân hình yêu đương
Cắt da thịt chia xương
Trái tim buồn còn hằn in vết thương lòng
Sông tang thương trôi nghiêng nhịp cầu sương
Cho thê lương điếm cỏ Hiền Lương
Nước sông trôi bềnh bồng
Thiếu bao nhiêu mặn nồng
Vì dòng sông, dòng sông chia rẽ đôi đường
Lũ con lạc lối đường xa
Có con nào nhớ Mẹ ta thì về.
Phần IV.- BIỂN MẸ
16. MẸ TRÙNG DƯƠNG
Sóng vỗ miên man như câu ru êm của Mẹ dịu dàng
Nước biếc mênh mông như đôi tay ôm của Mẹ trùng dương
Mẹ Việt Nam cho quê hương muối trắng
Thêm thơm mâm cơm mặn nồng
Mẹ còn cho con
Luôn luôn tôm to cá lớn tươi ngon đầy thuyền
Mẹ hiền không lên bão tố
Mẹ già không đem nỗi khó
Mẹ là mẹ nhà cho mưa với gió hiền khô
Ngày ngày vươn vai
Ra khơi đón ánh dương soi con tim bồi hồi
Chiều chiều chơi vơi
Không nguôi thương thương nhớ nhớ con trong cuộc đời
Mẹ tìm con trong gió Bắc
Mẹ về phương Nam nắng gắt
Tình nhà mở cửa đem ra góp với bao la
Sóng vỗ êm êm như khuyên con nên trở lại Mẹ hiền
Gió rít thông reo như kêu con mau trở về Mẹ yêụ
17. BIỂN ÐÔNG SÓNG GỢN
Hà à a hơ ơ hờ
Biển là biển Ðông sóng gợn
Hà à a hơ ơ hờ
Biển là biển Ðông sóng gợn
Biển Ðông gợn sóng tư bề
Gọi thuyền viễn xứ quay về Biển Ðông
Hà à a hơ ơ hờ
Hà à a hơ ơ hờ
Sông ra đi từ khi non dại
Từ miền ngoài sông lại Việt Nam
Có từ Hi Mã Lạp Sơn
Cũng về biển Mẹ thành con một nhà
Hà à a hơ ơ hờ
Hà à a hơ ơ hờ
18. THÊNH THANG THUYỀN VỀ
Buồm căng, buồm căng, lộng gió, lộng gió thênh thang
Thênh thang thuyền về
Trên sóng trường giang, thênh thang thuyền về
Thuyền về trên lớp sóng vui, trên sóng vui
Thuyền về trên lớp sóng vui, vui vui vui là vui
Ðàn con về với, với, với biển khơi, khơi Mẹ già
Mẹ già đang đón chờ ta, đang đón ta
Mẹ già đang đón chờ ta, đang đón ta
Có đàn chim én, én, én từ xa về rồi
Quê ta đẹp lắm Mẹ ơi, ơi Mẹ ơi !
Quê ta đẹp lắm Mẹ ơi, ơi Mẹ ơi !
Biển êm sóng lặng, lăng, lắng nước nôi, nôi hiền lành
Về đây xây đắp mối tình, một mối tình
Về đây xây đắp mối tình ôi tình Việt Nam
Yêu nhà yêu nước, nước, nước và thương thương mọi người
Tình tính tang tang tính tình, yêu Mẹ già, thương Mẹ ta
Ðàn con nhớ, nhớ yêu nhau
Ðàn con nhớ, nhớ thương nhau.
19. CHỚP BỂ MƯA NGUỒN
Ðêm qua chớp bể mưa nguồn
Ðể người trong nước hết buồn lại vui
Vui buồn chút lệ rơi
Vui buồn khóc lại cười
Mẹ cười Mẹ bốc thành hơi
Mây từ biển quý lên ngôi trời già
Mây về khắp cõi đời
Mưa rửa lỗi con ngườị
20. PHÙ SA LỚP LỚP MÂY TRỜI CUỘN BAY
Triều dâng, triều dâng, ngọn sóng, ngọn sóng theo trăng
Theo trăng vào bờ, ôm lớp phù sa, theo trăng vào bờ
Ngọn triều dâng sóng nhấp nhô, sóng nhấp nhô
Ngọn triều dâng sóng nhấp nhô, xa xa xa là xa
Ðồng chua rộng nới, nới, nới thành ra, ra ruộng mềm
Ðền bồi cho máu về tim, lên cõi tim
Ðền bồi cho máu về tim, lên cõi tim
Có đàn cháu bé, bé, bé nhìn chim, chim ngoài trời
Mây bay đẹp lắm Bà ơi, ơi Bà ơi !
Mây bay đẹp lắm Bà ơi, ơi Bà ơi !
Làn mây trắng cuộn, cuộn, cuốn khắp nơi, nơi đợi chờ
Làn mây che nắng bốn mùa, cả bốn mùa
Làn mây che nắng bốn mùa, bốn mùa mộng mơ
Hay là cho nước, nước, nước Mẹ mưa, mưa ngọt bùi
Tình tính tang tang tính tình
Cho đời người thêm đẹp tươi
Vì đã biết, biết yêu nhau
Vì đã biết, biết thương nhaụ
21. MẸ VIỆT NAM ƠI !
Mẹ Việt Nam ơi ! Mẹ Việt Nam ơi ! (2 lần)
Chúng con đã về khát khao hơi Mẹ
Chúng con xin thề giữ thơm quê Mẹ
Cuộc đời rồi phai tàn sau thế giới
Chỉ còn tình yêu của Mẹ mà thôi
Ôi ! Mẹ Việt Nam ! (2 lần)
CHUNG KHÚC
22. VIỆT NAM VIỆT NAM
Việt Nam, Việt Nam, nghe tự vào đời
Việt Nam, hai câu nói
Bên vành nôi : Việt Nam, nước tôi
Việt Nam, Việt Nam, tên gọi là người
Việt Nam, hai câu nói
Sau cùng khi lià đờị
Việt Nam đây miền xinh tươi
Việt Nam đem vào sông núi
Tự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu
Việt Nam trên đường tương lai
Lửa thiêng soi toàn thế giới
Việt Nam ta nguyền tranh đấu cho đời
Tình Yêu đây là khí giới
Tình Thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người
Việt Nam ! Việt Nam !
Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam ! Việt Nam !
Việt Nam muôn đời !
Khởi soạn tháng 11, 1963
Kết thúc tháng 5, 1964
Với lòng tin yêu Mẹ càng ngày càng sâu đậm.
Anh Yêu Dấu,
Rừng thu đã vàng úa, và nàng thu cũng sắp bỏ ra đi, để em chợt thấy bóng nàng đông thắp thỏm ngoài hiên,
những cơn gió lạnh thổi qua, đong đầy nỗi nhớ về anh, thật miên man, vô vàn. Bao kỷ niệm tình tự lại trở
về trong mắt em, và đưa em lạc lại khu rừng lá thu năm xưa, ngày em cùng anh hò hẹn, vui saỵ Nét đẹp của nàng thu làm
em càng mơ màn; đi bên anh, em quên đi tất cả, chỉ thấy mình thật hạnh phúc, thật sung sướng với tình anh. Có anh bên cạnh, lời ru nhỏ với giọng trầm ấm " Mùa Thu Cho Em ", đã làm em du dương theo ngàn chiếc lá chuyển màụ
Trước mặt em là một bức tranh thiên nhiên, một của thiên đàng hạnh phúc, và chung quanh em là tiếng lá thì thào,
như thầm chúc tụng tình yêu chúng ta, và rồi thi nhau rơi rụng vây quanh, như đưa đón và chia xẻ hạnh phúc của lứa đôị
Nàng thu đẹp tuyệt anh nhỉ, những dư ảnh thu vàng của 2 đứa vẫn còn đây, anh như người đi tìm
chú nai vàng lạc giữa rừng thu, tìm nụ cười, tìm ánh bình minh, tìm hạnh phúc. Những tiếng rào rạt của lá thu như trở mình khi thấy anh bên em, những niềm vui thật vô bờ . Em tung tăng chạy nhảy như cô bé nhỏ vô tư, và
tìm thấy được nguồn suối mát tinh yêu, ngọt ngàọ
Lời nói yêu thương, nồng nàn như vang dội khắp lối, cho lá yêu thu, cho anh yêu em. Không tình nào đẹp bằng tình đôi tạ Xin tạ ơn anh, tạ ơn người tình yêu dấu, em đã tìm ra trong anh những hương vị ngọt mật của tình yêu, những nhung nhớ , mơ mộng không thua gì lá thụ Ddặc biệt hơn nữa là vòng tay yêu thương, bao la, nồng nàn
của anh đã cuốn mất hồn em theo tư ng cơn gió mùa , từng chiếc lá chuyển động, thu rơi trong chiều tà.
Em đang mơ, và thả hồn về những con đường ngập lá vàng của 2 chúng ta đi qua, nơi chúng ta đã gởi lại
biết bao kỷ niệm tuyệt đẹp, những chiếc lá hình như rũ nằm, chào đón tình yêu của 2 đứa, và hàng cây như ghen
thầm với tình yêu của anh cho em. Có thể nói, trong em chỉ có anh, một tình yêu vĩnh cữu và không ai có thể đánh
đổi dưới bất cứ hình thức nào…. Em thèm được nghe anh nói, tiếng yêu thêm, để biết rằng, trong anh, chỉ có em
mà thôị Nói đi anh....hãy nói lời yêu em ....như ngàn chiếc lá đang thì thầm với mùa thu trong mưạ...
Trong em là nụ tình hồng
Mãi xinh thắm nở hương nồng trao anh
Trong em tình vẫn còn xanh
Cho dù năm tháng trôi nhanh không dừng
Tình thu lá ủ ven rừng
Tình em theo lá không ngừng yêu anh
Viết Cho Giao Mùa Nov 2003
~~~/~~((@
Tình nghĩa thầy trò tôi ghi ra dưới đây là lấy trong cuộc sống hiện thực, trong năm nay, trong mùa này, những học trò cũ đã 30 năm còn ở lại trong nước, còn biết nhớ ơn thầy. Khi thầy còn sống họ tìm hiểu học hỏi đã đành, cả khi thầy qua đời họ cũng nhờ chỗ này chỗ nọ tìm kiếm giúp những công trình của thầy để học tiếp, cho dẫu họ đã già, hầu hết thì giờ dành cho kế sinh nhai.
Chẳng hạn chị Lâm thị Ðức , một cựu học sinh trường Văn Học Ðà lạt đã viết thư bày tỏ :
“Ðọc tờ báo Tuổi Trẻ ngày 13.9.2003 tôi nhận được tin thầy của chúng tôi là giáo sư Hứa Hoành đã qua đời vì căn bệnh nan y : ung thư. Tôi thật bàng hoàng và thật buồn nhưng tôi cũng thấy thật vinh dự và hãnh diện về người Thầy của mình trong những ngày cuối cuộc đời trong cơn đau vật vã vì bệnh hoạn. Thầy đã để lại cho đời, cho thành phố Ðà lạt, cho chúng ta những nghiên cứu khoa học thật quý giá.
“Bây giờ là tháng Chín, tháng tựu trường…Chúng con giờ đây đã là những người làm cha, làm mẹ, cũng có những đứa con đang cắp sách đến trường…làm sao chúng con không khỏi chạnh lòng khi nghĩ đến trường xưa? Trường VĂN HỌC số 4 Hoàng Diệu Ðà lạt.
“Hôm nay con xin thay mặt các anh chị , các bạn, các thế hệ đã được làm học trò của Thầy, kính gửi đến hương hồn của các Thầy Chữ bá Anh, Thầy Phan văn Vĩnh, Thầy Hứa Hoành…lòng kính yêu sâu sắc nhất. Có thể nói cuộc đời chúng con , của những học trò Thầy, cơm áo gạo tiền là do cha mẹ nuôi nấng, nhưng cuộc đời mà hôm nay chúng con có được là do sự dạy dỗ và chỉ bảo của qúy Thầy. Sự dạy dỗ và chỉ bảo ấy nay là vốn sống , là bản lĩnh để sống: “Sống như thế nào để trở thành con người chân chính , đạo đức, trong một xã hội mà vật chất là thước đo giá trị con người”.
“Con nhớ trong một giờ kiểm tra, Thầy Hứa Hoành đã nói: “Các anh chị có thể quay cóp, nói dối tôi, nói dối cha mẹ các anh chị, nhưng các anh chị hãy nhớ cho tôi một điều là các anh chị sẽ không nói dối được chính cuộc đời của anh chị.” Và giờ đây con vẫn lấy bài học qúy giá ấy để dạy dỗ lại cho các con của chúng con.
“Kính thưa Thầy, cho dù chúng con đang ở đâu, bất cứ phương trời nào, làm nghề gì, đang vinh quang hay có khó khăn trong cuộc sống, đang ấm no hay nghèo khó…chúng con cũng luôn luôn nghĩ đến Thầy, vì những bài học của Thầy luôn sống cùng chúng con trong cuộc sống, và tấm gương sáng của Thầy là nguồn động viên lớn nhất cho chúng con.” (chị ấy chuyển gởi cho tôi, có lẽ nhờ tôi chuyển đến thân nhân thầy Hoành ở Mỹ).
Một học sinh khác, anh Lê văn Dũng ở Dalat viết cho tôi về thầy Hứa Hoành :
“…Tình cờ chúng em đọc được bài viết Sự Hình Thành Và Phát Triển Thành Phố Ðà Lạt của tác giả Hứa Hoành trên website mà chúng em vừa mới tập tành làm thử để thỏa mãn nhu cầu hiếu tri của mình. Không rõ do một linh tính nào đã khiến em liên tưởng ngay đến một thầy giáo cũ mà em đã từng học tại trường tư thục Văn Học trước đây, cách đây đã trên 30 năm với biết bao đổi thay.
“Vào những năm 1972-1975, khi còn là cậu học trò đang học những năm cuối của bậc trung học, lúc bấy giờ đa phần giáo sư dạy tại trường Văn Học và một số trường tư thục khác của Ðà lạt có nhiều nguồn từ các nơi đến giảng dạy tại Ðà lạt. Ðây là một trong những thế mạnh của giáo dục Ðà lạt, trong đó phải kể đến đội ngũ Giáo sư trường Võ Bị Ðà lạt.
“Thưa thầy, em nhớ rõ từng Thầy mà tụi em đã từng học : thầy Hứa hữu Hoành là giáo sư Sử Ðịa, dạy Sử Ðịa các lớp đệ Tam, đệ Nhị. Thầy phát âm giọng nam hào sảng. Thầy hay mặc quân phục kaki vàng của Võ Bị, không mang lon quân đội, đầu đội beret đen. Còn Thầy Nguyễn minh Diễm là giáo sư Việt văn đệ Tam (10), đệ Nhị (11), Triết Luận lý học đệ Nhất (12). Thầy Diễm trong lúc giảng bài hay hút pipe, mùi thơm khói thuốc 79 thơm ngát, mịt mù. Thầy Hoàng văn Thạnh, người Huế, dạy Hóa Học. Thầy Nam dạy Toán các lớp đệ Tam (ban A và B). Thầy Tuệ dạy Pháp văn cho các lớp đệ Tam , đệ Nhị ban C, ban B. Thầy Ðan đình Soạn dạy Công Dân. Thầy Vĩnh Ðương dạy Công Dân. Thầy Cường dạy Anh văn. Thầy Thuận dạy Lý Thuyết Thống Kê Xác Suất. Thầy Lưu văn Nguyên dạy Toán (hiện còn sống, ở Ðà lạt). Thầy Phạm kế Viêm dạy Toán. Thầy Thân trọng Bình dạy Lý Hóa. (Các cours Toán Lý Hóa nổi tiếng của thầy Viêm, thầy Bình tại Ðà lạt đến nay các thế hệ học trò Ðà lạt vẫn thường hay nhắc đến với lòng kính trọng và ngưỡng mộ)…
Hơn ba mươi năm đã qua đi với biết bao đổi thay mà các Thầy Giáo sư Võ Bị từ khắp nơi về dạy học tại Ðà lạt trước 1975 vẫn để lại nhiều ấn tượng sâu đậm cho nhiều thế hệ học trò tại Ðà lạt.
Ngoài khối lượng kiến thức phong phú còn có cả những bài học về tư cách làm người, những bài học mà trong sách giáo khoa hiện nay chưa được cập nhật. Chúng em được như ngày hôm nay , thật tình trong đó có công lao dạy dỗ của các Thầy từ những năm tháng đó, những năm còn cắp sách đến trường.
Nay em tình cờ gặp lại, dù chỉ là một bài viết qua trang web, nhưng em vẫn nghĩ đó là một bài học của Thầy Hoành, chứa đựng nhiều thông tin hết sức qúy báu. Ngoài thông tin về Ðà lạt năm xưa còn gói ghém cả tình cảm mà Thầy Hoành đã có từ những lúc ban đầu khi đặt chân lên Ðà lạt để dạy học. Tình cảm của Thầy đối với Ðà lạt (về cảnh và người) trước sau như một. Xin Thầy giúp em hiểu rõ hơn về những ngày cuối của Thầy Hoành.
Nay được biết tin Thầy Hoành đã đi xa ở một nơi xa xứ, khá đột ngột, nên em viết những dòng này để tưởng nhớ đến Thầy Hứa Hữu Hoành; cầu xin hương hồn Thầy sớm về miền cực lạc. Và kính nhờ Thầy chuyển hộ chúng em những lời chia buồn của các thế hệ học trò của Thầy Hứa Hữu Hoành tại Ðà lạt đến với gia đình Thầy Hoành.
Cũng nhân đây, rất mong Thầy, qua các tài liệu của Thầy Hoành (các bài viết về Ðà lạt, về Ðào duy Từ v.v..) xin Thầy vui lòng giúp cho chúng em rõ thêm các chi tiết sau đây :
1/.- Tác giả Gereald C. Hickey mà Thầy Hoành có trích lục đã viết tác phẩm The Sons of Mountains xin cho em biết nhà xuất bản và năm xuất bản. Nếu được thầy giúp cho tụi em một bản copie thì quá hay.
2/.- các sách báo và tạp chí cũ : Indochine năm 1943-1944 số mấy ?
3/.- Monographie de la province Dalat, năm? số?
4/.- Các tạp chí Amis du vieux Huế, các năm…
5/.- Henri d’Orlean mort à Saigon của A. Baudrit viết năm ? nhà xuất bản ?
6/.- Trong bài viết của Thầy Hoành có những chi tiết đắt giá, ở Việt nam hiện nay không có, , rất mong Thầy giúp và nói rõ hơn : về nguồn hoặc các địa chỉ có thể liên lạc làm rõ về bà Nguyễn thế Truyền (Madelen Marie Clarisse Latour)-là nhân viên y tế của Lycée Yersin từ năm ? đến năm ?. Nếu bà mất tại Ðà lạt thì mộ chí ? và gia đình bà ở tại Ðà lạt ? Nếu có được ảnh, nhất là ảnh bà làm việc tại Lycée Yersin thì hay quá.
7/.- Các chi tiết quanh các trường học đầu tiên của Ðà lạt, như trường của cụ Bùi thúc Bàng, trường Petit Lycée, trường Nazareth…(ảnh ? bài viết ? các tài liệu liên quan ?)
8/.- Lai lịch cầu Ông Ðạo, các Quản đạo Ðà lạt : Tôn thất Toại, Tôn thất Hối, Phạm khắc Hoè, Trần văn Lý.. (ảnh và chi tiết liên quan).
9/.- Tài liệu liên quan về đồng bào thượng đòi hỏi Pháp để cho con em họ được đi học và mở trường riêng cho con em họ.
Lai lịch và thân thế của Yagút; các tác phẩm văn học của Yagút (chữ viết hay truyền khẩu). Các tài liệu viết về Yagút (hình ảnh, sách báo…). Hiện nay Ðà lạt vẫn có con đường mang tên Yagút nhưng những chi tiết về cuộc đời ông thì chưa ai biết đến; cũng như các chi tiết về các nhân sĩ người Churu, người Lạch, người K’hor…trên đất Ðà lạt đã góp phần hình thành và phát triển thành phố này.
10/.- Em có nghe nói về dòng họ Tounch, một họ lớn của người Churu vẫn còn sống tại Diom A, Diom B, Lạc xuân, Ðơn dương. Rất mong Thầy nói rõ hơn về các nhân sĩ Tounch Hàn Thọ, Tounch Hàn Ðang…
Các trường học của người thượng trong các buôn người Lạc , số học sinh ? số thầy giáo ? nội dung học ? “…
Ở bên nay, mùa hè và mùa tết, cựu học sinh các trường Việt nam mời các thầy cô cũ tụ họp tâm tình, tỏ lòng biết ơn và phân phát đặc san kỷ niệm định kỳ. Những học sinh già vừa an ủi làm vui lòng thầy, vừa lo duy trì nét đẹp dân ta trong lớp con cháu. Những thầy cũ nhìn trò cũ qua nhân cách ngày nay của họ hơn là qua sự thành đạt giàu sang. Nếu “một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”thì trong trường học và ngoài trường đời chúng ta nợ lẫn nhau, thầy cũng nợ trò và bạn nợ bạn, trong biết bao điều học hỏi ở nhau, ở kẻ xa lạ, ở người đã khuất… để hoàn thiện bản thân mình.
Từ đại học sư phạm, tôi dạy thực tập trong trường Ðồng Khánh năm 1958 rồi đi vào các nhiệm sở Ðà lạt, Nha trang, Qui nhơn, Sài gòn. Năm học cuối 74-75 tôi giảng dạy về Communication ở 3 phân khoa Kỹ thuật Phú thọ Sài gòn, Nông nghiệp và Giáo dục ở Thủ đức. Mười năm lao lung tôi học ở bạn tù, giám thị tù, ở dân vùng tiếp cận, ở anh tài xế và bà con đi thăm nuôi.
Không kể những đắng cay tạo nên bài thuốc, ở đâu phải sống, phải tiếp xúc, phải cọ xát với cỏ cây, máy móc, đất đá, khí hậu và con người (với biết bao thành kiến)…tôi đều hái lượm được cho mình chút hương thơm hoa quả, chút ánh mắt nụ cười thơ dại trong sáng vô tư, chút mùi vị của quê hương vườn cau nương chuối khói chiều sương sớm. Trong cái khổ hạnh tự tạo được niềm vui, đó là bài học lớn cho tôi sống ở đời.
Trở lại với các “em học trò già” với lòng biết ơn và tin cậy ở thầy, tuy tôi không có khả năng đáp ứng 10 câu hỏi của anh Dũng thì tôi vẫn có tấm lòng nhờ báo chí chuyển đến gia đình Chị Hứa Hoành lời chia buồn và biết ơn sâu xa của đám học trò cũ của Anh. Qua Chị và qua uy tín của Anh, tôi nghĩ các bạn thân và bạn văn của Anh có thể giúp chỉ dẫn giảng giải 10 điểm hỏi của Dũng, xin gửi email về địa chỉ của tôi seapham@hotmail.com hay của anh Ðặng tiết Rũng TBTHOIBAO@aol.com , anh Phan tấn Hải VanT644574@aol.com , chị Ðỗ Mùi VNTDNEWS@aol.com , chị Quỳnh Thi vnnb@vietnamdailỵcom để tôi có thể in ra và gửi về cho học sinh cũ của anh Hoành. Anh đã vĩnh biệt chúng ta sáng sớm ngày 11 tháng 7 năm 2003 (12 tháng 6 Qúy Mùi) nhưng khi danh tiếng Anh còn thì Anh vẫn chưa thực sự qua đời.
Tôi rất mong các anh Xuân Vũ, Lý minh Hào, Phương Triều, Phan Phi Hùng, Lê Bình, Vương trùng Dương và chị Ngọc Lan (nhật báo Việt nam) có điều kiện xin giúp đỡ kiến thức học thêm của học trò anh Hoành. Qua đó, những người học trò khác trong nước cũng sẽ học ké được nhiều điều.
Trong từng vấn đề nhỏ, các anh chị viết có chiều sâu, có khảo cứu chân xác, tập họp lời xưa, mưa dầm thấm đất, dựng lại và củng cố tâm hồn kiến thức giới trẻ cho tương lai dân nước khá hơn.
Chà, Thu đã đây rồi, ta lại bàn chuyện chống cúm trước khi Ðông sang. Ðông là mùa đáng ngại nhất, Ðông tới chưa rõ sẽ lành dữ ra sao?
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization), mỗi mùa Ðông, bệnh cúm đến thăm 20% dân số địa cầu, gây ra 5 triệu trường hợp bệnh nặng, và ít nhất 250.000-500.000 cái chết.
Mùa Ðông đầu năm nay mới thực tệ. Ngoài cúm, còn xuất hiện thêm bệnh SARS (Severe Acute Respiratory Syndrome, Hội chứng Hô hấp Cấp tính Nặng) từ phương Ðông, do siêu vi "coronavirus", khiến người người kinh hoàng. Nó tấn công hơn 8.400 người tại 30 quốc gia, giết 914 nhân mạng, trong đó có nhiều bác sĩ, nhân viên y tế. Nếu không kịp thời ngăn chặn, nạn nhân của nó còn nhiều hơn. Tuy con số tử vong gây do SARS so với cúm không bao nhiêu, nhưng SARS rất đáng sợ, vì cúm thường bắt nạt những vị già yếu, mang bệnh nặng, còn SARS chẳng kiêng ai, già hay trẻ, yếu hay khỏe, vào tay nó đều có thể chết, cúm có thuốc ngừa, thuốc chữa, SARS thì chưa. (Các bác sĩ nghe tin đồng nghiệp mình mất mạng vì SARS, vừa ngậm ngùi, vừa hồi hộp thấp thỏm cho chính bản thân.) Ðã vậy, thời gian nó hoành hành, kinh tế nhiều nước tê liệt, thiệt hại hàng tỉ mỹ-kim, nỗi lo đói kèm nỗi lo chết.
Nhiều hội nghị đã mở ra để bàn chuyện chống SARS. Từ tháng 6 qua mới tạm yên, nhưng Tổ chức Y tế Thế giới lo ngại SARS có thể sẽ quay lại vài tháng tới. Vì SARS và cúm gây những triệu chứng tương tự, như nóng sốt cao, nên Tổ chức Y tế Thế giới, trong một bản tin gần đây, khuyên các bác sĩ khuyến khích mọi người chích ngừa cúm, để dễ phân biệt cúm và SARS vào mùa Ðông sắp tới. Ngừa cúm, nếu vẫn nhiễm cúm, có thể không nóng sốt cao, còn đã ngừa cúm cẩn thận, mà vẫn nóng sốt cao, bác sĩ sẽ nghi ngờ người bệnh bị SARS. Ngừa cúm, xui vẫn nhiễm cúm, có lẽ cũng không đến nỗi sưng phổi, nên ai đã ngừa cúm, vẫn sưng phổi, ta nghĩ đến SARS.
Sơ lược về bệnh cúm
Cúm gây bởi siêu vi cúm "Influenza" (Influenza virus), đến vào mùa Ðông mỗi năm, từ tháng 12 tới khoảng tháng 4. [Cảm (cold) thì quanh năm, do những siêu vi hiền hơn siêu vi cúm.]
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm, cúm gây ra ít nhất 250.000-500.000 cái chết trên khắp thế giớị Riêng ở Mỹ, những năm gần đây, tuy không có dịch lớn, cúm vẫn giết hại 20.000-40.000 người mỗi mùa Ðông. 80-90% những người chết vì cúm ở khoảng tuổi trên 65. Thứ đến, những người mang các bệnh kinh niên. Bây giờ, người ta lại thấy cả trẻ em trong khoảng tuổi 6 đến 23 tháng cũng hay có biến chứng nguy hiểm khi nhiễm cúm. Mức độ tấn công của cúm có thể lên đến 20-30% (cứ 10 người, 2-3 người bị cúm), làm xáo trộn hoạt động nhiều giới: trẻ em nghỉ học, người lớn nghỉ việc.
Siêu vi cúm có đặc tính gian manh, biết thay hình đổi dạng, mỗi năm mỗi khác, nên việc ngừa cúm cần được thực hiện hàng năm. Thuốc ngừa cúm mỗi năm một khác, với hy vọng có thể ngừa được dịch cúm tiên đoán sắp xảy ra trong mùa Ðông năm đó.
Siêu vi cúm có trong nước mũi, nước miếng người bệnh. Bệnh truyền từ người bị cúm sang người lành khi những hạt nước nhỏ li ti chứa siêu vi cúm, bắn ra từ mũi, miệng người bệnh lúc họ ho, hắt hơi. Bắt tay, ôm nhau cũng có thể truyền bệnh (tay bạn dính nước mũi, nước miếng người bệnh, rồi bạn vô tình đưa tay lên mũi, miệng mình, thế là xong!). Trong nhà có người nhiễm cúm, bạn khó tránh lây bệnh.
Cúm nặng hơn cảm nhiều, gây nhức đầu, nóng sốt (thường trên 38.3 độ C hay 101 độ F), ớn lạnh, yếu mệt, khó chịu trong người, nhức mỏi các bắp thịt. Ði kèm là các triệu chứng hô hấp: sổ mũi, đau cổ họng, ho khan, đau tức vùng giữa ngực. Những trường hợp cúm nặng có thể làm người bệnh mê sảng. Nóng sốt cao nhất trong vòng 24 tiếng đầu (có thể lên đến 41 độ C), sau đó giảm dần 2-3 ngày sau. Thỉnh thoảng, cũng có những trường hợp sốt kéo dài cả tuần. Nhức đầu thường dữ dội, làm người bệnh khó chịu nhất. Các bắp thịt toàn cơ thể nhức mỏi như dần, nhất là ở vùng lưng dưới và chân. Có người đau nhức cả các khớp xương. (Khổ, SARS cũng gây những triệu chứng không khác mấy, nên rất khó phân biệt.)
Nếu không có biến chứng, các triệu chứng nhẹ đi trong vòng 3 đến 5 ngày, nhưng thời gian hồi phục để có thể trở lại làm việc như trước thường chậm hơn khi bị cảm, mất nhiều ngày hay nhiều tuần, nhất là người lớn tuổi.
Cúm không nguy hiểm vì các triệu chứng, song vì các biến chứng (complications) của nó. Biến chứng thường xảy ra nhất của cúm là sưng phổi. Siêu vi trùng cúm, dữ hơn các siêu vi trùng cảm, làm tổn thương niêm mạc (mucosa) lót lòng các ống phổi. Sưng phổi do chính siêu vi trùng cúm gây ra, hoặc do các vi trùng (bacteria) luôn có sẵn trong đường hô hấp. Các vi trùng này thường ngày không sao, nay nước đục thả câu, bám vào những chỗ niêm mạc bị siêu vi cúm làm tổn thương, tấn công luôn, gây sưng phổi. Biến chứng sưng phổi hay xẩy ra ở các vị lớn tuổi, hoặc người có bệnh tim, bệnh phổi kinh niên.
Biến chứng nguy hiểm khác của cúm là hội chứng Reye (Reye syndrome) ở trẻ em. Hội chứng Reye hay xảy ra nhất trong khoảng tuổi 2 đến 16, vài ngày sau khi nhiễm cúm. Khi các triệu chứng của cúm có vẻ như đang bớt dần, trẻ đột nhiên buồn nôn, ói mửa. Sau đó khoảng 1-2 ngày, trẻ lờ đờ, mê sảng, giật kinh phong (seizure), rồi đi dần vào mê sảng và có thể chết. Trước kia, khi người ta chưa biết nhiều về hội chứng Reye, tử vong lên đến hơn 40% (10 trẻ bị hội chứng Reye, hơn 4 trẻ chết). Nay, dù với sự định bệnh mau chóng và các cách chữa trị thích ứng, tử vong vẫn còn khoảng 10% (10 trẻ bị, 1 trẻ chết). Cơ chế gây hội chứng Reye ở trẻ em nhiễm cúm hiện chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên, người ta nhận thấy các trẻ nhiễm cúm, nếu dùng Aspirin, sẽ dễ bị hội chứng Reye hơn các trẻ không dùng Aspirin. Con số trẻ em bị hội chứng Reye nay đã giảm đi nhiều, kể từ khi các bậc phụ huynh được báo động, không còn dùng Aspirin cho các trẻ em bị cảm hay cúm.
Các biến chứng khác của cúm: viêm các bắp thịt, viêm cơ tim, viêm óc, ... Ngoài ra, ở người đang có bệnh tim, phổi hay thận kinh niên, cúm cũng có thể làm các cơ quan này, vốn đã yếu sẵn, thành suy yếu hơn, đe dọa tánh mạng người bệnh.
Ngừa cúm
Phương pháp trị cúm hữu hiệu nhất vẫn là ngừa cúm. Với bệnh cúm, quả "phòng bệnh hơn chữa bệnh".
Năm nay, ngoài thuốc chích để ngừa như hàng năm, còn có thêm thuốc ngừa FluMist, xịt vào mũi. Thích thật, không phải chích mà vẫn ngừa được cúm! Nhưng tiếc thay, FluMist hiện chỉ được dùng ngừa cho người khỏe trong khoảng tuổi 5 đến 49.
Thuốc chích ngừa cúm chế từ các siêu vi cúm A và B đã gây bệnh trong mùa cúm năm trước, cấy vào trứng, cho sinh sôi nảy nở, sau đó làm chúng mất hoạt tính (inactivated) để không thể gây bệnh, nhưng vẫn có khả năng tạo kháng thể cho người được chích. Sau khi chích ngừa, dù sự bảo vệ không 100%, ít ra cũng 50-80%. Rủi vẫn bị cúm, triệu chứng thường nhẹ hơn, ít nóng sốt, ít sưng phổi. Thuốc ngừa FluMist trong chứa các siêu vi còn hoạt tính, chỉ bị làm yếu đi (attenuated).
Thuốc chích và cả thuốc xịt FluMist đều dùng trứng làm chất đệm, nên những người ăn trứng có phản ứng (egg allergy: nổi mẩn đỏ, lên cơn suyễn, chóng mạt, xỉu, v.v.), không nên chích ngừa hoặc dùng FluMist.
* Những ai cần chích ngừa cúm?
Cơ quan Y tế Công cộng Hoa Kỳ (US Public Health Service) đề nghị chích ngừa cúm cho các trẻ em (từ 6 tháng trở lên) và những người lớn bị nguy hiểm nếu nhiễm cúm:
- Người lớn 50 tuổi trở lên, dù không có bệnh gì quan trọng.
- Trẻ em trong khoảng tuổi 6-23 tháng.
- Phụ nữ mang thai, thai kỳ sẽ vào tháng thứ 4 trở đi khi mùa cúm đến.
- Trẻ em tuy ngoài khoảng tuổi 6-23 tháng và người lớn tuy dưới 50, tuy không mang thai, nhưng đang có các bệnh kinh niên như bệnh tim, bệnh phổi (kể cả suyễn), bệnh thận, bệnh tiểu đường, thiếu máu nặng, bệnh AIDS, v.v., hoặc người đang dùng những loại thuốc khiến sức kháng cự của cơ thể suy giảm (như thuốc Prednisone), thuốc chống ung thư.
- Người trong các viện chăm sóc đặc biệt (nursing homes).
- Người dưới 19 tuổi đang phải uống Aspirin lâu dài (vì họ có thể bị hội chứng Reye nếu nhiễm cúm).
- Các bác sĩ, y tá và nhân viên y tế, có nhiệm vụ trực tiếp săn sóc những người thuộc các thành phần kể trên, cả người nhà (household contacts) nữa, cũng nên chích ngừa để tránh nhiễm cúm rồi lây lại cho người thuộc các thành phần cần được chích ngừa cúm kể trên.
Ngoài ra, tuy không thuộc các thành phần trên, nhưng sợ cúm dữ, ai trong chúng ta cũng có thể chích ngừa (trừ người nào bị nhạy ứng với trứng).
Thuốc ngừa FluMist chứa các siêu vi còn hoạt tính, chỉ yếu đi thôi, vẫn có thể gây bệnh, nên chỉ dùng ngừa cho người khỏe trong khoảng tuổi 5 đến 49, và không ở chung nhà với những vị thuộc các thành phần cần chích ngừa cúm kể trên. Các nhân viên y tế cũng không được dùng FluMist.
* Chích ngừa cúm lúc nào tốt nhất?
Ở Mỹ, thường dịch cúm bắt đầu vào tháng 12. Cúm tấn công mạnh nhất vào khoảng tháng giêng (1) và tháng hai (2), sau đó có thể vẫn còn hoành hành cho đến tháng 4 khi vào Xuân.
Khoảng 2 tuần sau khi chích ngừa, cơ thể bắt đầu có kháng thể (antibody) chống cúm. Kháng thể tồn tại trong cơ thể 6 tháng hay hơn. Tuy nhiên, ở một số vị có tuổi, lượng kháng thể giảm dưới mức bảo vệ sau 4 tháng. Việc chích ngừa thường được thực hiện trong khoảng các tháng 10, 11 và 12. Thời điểm tốt nhất để chích ngừa cúm, là vào khoảng tháng 10 đến giữa tháng 11. Chích sớm vào tháng 9 tuy được, nhưng nếu chẳng may kháng thể trong người hết sớm, quãng tháng 4 ta nhiễm cúm, nóng sốt cao, sưng phổi, bác sĩ sẽ điên đầu không biết ta bị cúm hay SARS!!! Ý người viết, đặc biệt năm nay ta hẵng chờ đến tháng 10 mới chích ngừa. Chẳng vội vàng gì, thuốc năm nay không thiếu.
* Thuốc ngừa cúm có gây phản ứng gì quan trọng?
Với người ăn trứng không bị phản ứng, chích ngừa cúm ít khi gây phản ứng quan trọng, trừ hơi đau một chút thôi ở chỗ chích độ 1-2 ngày. Nếu có nóng sốt, uể oải, đau nhức các bắp thịt sau khi chích ngừa, các triệu chứng này không kéo dài lâu, cũng chỉ 1-2 ngày. Còn thuốc xịt ngừa FluMist có thể khiến ta chảy mũi, nghẹt mũi, nhức đầu, đau họng, ớn lạnh và ho.
Với những vị cần chích ngừa song chưa kịp chích, hoặc mới chích, kháng thể chưa kịp có trong người mà cúm đã đến, ta dùng thêm thuốc uống Amantadine hay Rimantadine để ngừa. Ðiều cần biết là khác với cách ngừa bằng thuốc chích (ngừa được cả cúm A lẫn B), thuốc Amantadine hay Rimantadine chỉ giúp ngừa cúm A thôi. Amantadine có thể gây khó ngủ, chóng mặt, người bứt rứt, khó tập trung tư tưởng, sảng, có ảo giác, kinh giật, còn Rimantadine ít gây phản ứng phụ hơn.
Thuốc mới Tamiflu cũng giúp ngừa cúm (cả cúm A lẫn cúm B), song đắt hơn nhiều so với Amantadine, Rimantadine.
* Chích ngừa cúm có ngừa được cảm?
Cảm là cảm (cold), cúm là cúm (flu), chưa có thuốc "chích ngừa cảm cúm". Cảm xảy ra quanh năm, do những siêu vi trùng khác. Chích ngừa cúm không ngừa được cảm (và tất nhiên, đâu ngừa được SARS, cũng do siêu vi khác loại). Xin bạn đừng bắt đền bác sĩ nếu bạn vẫn bị cảm sau khi chích ngừa cúm.
Thực, đời là trường tranh đấu, hết đứa này đến đứa khác bắt nạt loài người hiền lành chúng ta. Cúm chưa xong, giờ lại thêm SARS. Có lẽ năm nay, chúng ta nên nghe theo lời Tổ chức Y tế Thế giới, nhờ bác sĩ ngừa cúm hộ hết, biết đâu SARS nó trở lại, ta dễ nhận diện và áp dụng biện pháp ngăn chặn nó kịp thời. Thời điểm tốt nhất để chích ngừa cúm, tháng 10 đến giữa tháng 11, nhất là cho các vị cao niên.
Phần Giới Thiệu Dẫn Nhập:
Tôi gặp nhạc sĩ Mai Ðức Vinh (MDV) trong chuyến anh đưa gia đình về thăm mẹ tại Nam Cali, anh cho tôi biết anh vừa thực hiên xong diã CD mới nhất, CD mang tên "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng", được anh phổ theo thơ của thi sĩ Hải Ðà Vương Ngọc Long (VNL). Tôi cũng quen biết anh VNL qua vài tác phẩm thi tập và vài CD do nhiều nhạc sĩ phổ thơ anh. Anh VNL ngoài việc làm thơ Việt Ngữ, anh còn phóng tác thơ Hán, thơ Pháp, thơ Anh sang Việt ngữ. Giờ đây tôi xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm văn hóa nghệ thuật chung của hai anh VNL và MDV.
3. Vương Kiến với bài Vọng Phu Thạch, Lưu Vũ Tích với bài Vọng Phu Sơn, Trương Tịch với bài Tiết Phụ Ngâm đã đề cao cái công dung ngôn hạnh của người phụ nữ, ca ngợi cái phẩm chất tốt đẹp , đáng kính của người phụ nữ như như đoan trinh, thủy chung, cần cù, nhẫn nại, và hy sinh của người phụ nữ… Vọng Phu Thạch tức là Ðá Trông Chồng. Chuyện xưa kể rằng ở thành phố Vũ Xương, tỉnh Hồ bắc Trung Quốc, có một người vợ có chồng đi xa lâu ngày không về. Hàng ngày nàng vẫn ra bến sông ngong ngóng đợi chồng về. Người vợ kiên trinh vẫn giữ vững lòng chung thủy, vẫn chờ đợi, chờ hoài nhưng người chồng vẫn không bao giờ trở về, và nàng đã hóa thành đá, vẫn muôn đời chờ đợi chồng mặc cho gió mưa vần vũ. Hòn đá đó được đặt tên là Vọng Phu Thạch, vẫn đứng sừng sững bên bờ sông Trường Giang, gần thành phố Vũ Xương . Bài thơ nói lên cái nỗi sầu bi thảm của người thiếu phụ trông chồng mòn mỏi, bấp chấp cả không gian và thời gian của vũ trụ mênh mông nghìn trùng... Mặc cho gió táp mưa sa, mặc cho nắng quái mưa dầm, khói sương mù mịt, mây phủ trên đỉnh non cao vời vợi... nhưng tình chung thủy và lòng tiết trinh của người đàn bà vẫn muôn đời bất biến…
Bên sông ngồi ngóng trông chồng
Trăm năm khắc khoải một lòng sắt son
Hóa thân thành đá mỏi mòn
Gió mưa vần vũ... đầu không ngoảnh về
Phải chăng nàng giữ lời thề
Ðến khi đá nói... lúc nghe chàng về!
Bài thơ Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch có màu sắc lãng mạn, nhưng đó là một câu chuyện tình nhẹ nhàng và trong trắng, ca ngợi cái phẩm chất quí giá đáng kính trọng của người phụ nữ, đó là tâm hồn đoan chính và tấm lòng thủy chung, đậm đà màu sắc nghĩa tình, đạo lý... Trương Tịch là người có nhận xét sâu sắc, ông đã dùng ngôn từ chân thật để diễn tả nỗi khổ sở bất công của nhân dân, sự bóc lột tàn bạo của giai cấp thống trị, ông đã dùng thơ văn để bênh vực phụ nữ, vạch trần những bất công của xã hội đối với người phụ nữ, và luôn đề cao phẩm giá và tư cách của người phụ nữ vốn đã chịu rất thiệt thòi...
Biết rằng em có chồng
Sao chàng vẫn chờ mong
Thương em chàng trao tặng
Ðôi ngọc màu biếc trong
Em đeo giữa yếm hồng
Tình chàng ôi mênh mông
Cuồng si và tha thiết
Chất ngất tận cõi lòng
Nhà em ở lầu cao
Ðêm vàng tuôn ánh sao
Hương hoa vườn ngự uyển
Thơm ngát tình chiêm bao
Chồng em giờ xa vắng
Canh gác đền Minh Quang
Tình chàng luôn quân tử
Trong sáng tựa trời trăng
Từ khi em lấy chồng
Luôn nhớ chữ tâm đồng
Nguyện thề cùng sống chết
Trọn kiếp đời thủy chung
Trả ai đôi ngọc sáng
Mắt em lệ chảy ròng
Xót xa mà tiếc nuối
Chẳng quen lúc chưa chồng
(Trương Tịch)
Một số ít bài thơ ca tụng tình yêu, mang tích chất lãng mạn, lẳng lơ, mặc dầu rất ít oi, đã đem lại những luồng gió tươi mát, ngan ngát mùi hương phấn dịu dang... Tình yêu trai gái cũng đã được đề cập trong nội dung một số bài thơ Ðường, nhưng đó là thứ tình cảm thanh tao tế nhị, không vượt qua vòng lễ giáo, nhưng cũng không kém rạo rực, xao xuyến… Qua ngòi bút của thi nhân họ đã khắc họa hình ảnh của những thiếu nữ hồn nhiên, với những cảnh ngộ trong cuộc sống của họ, thành những áng thơ đẹp ca tụng tình yêu đẹp, nhẹ nhàng và hồn nhiên, sâu sắc và thiết tha, trong trắng, hồn nhiên, tế nhị chan chứa những cảm xúc chân thật lành mạnh, biểu tượng cho một niềm hạnh phúc cao cả và thanh khiết . Lý Bạch với bài thơ Trường Can Hành, Bạch Cư Dị với bài Tỳ Bà Hành , Lương Ý Nương với bài Trường Tương Tư, Thôi Hộ với bài thơ Ðề Ðô Thành Nam Trang là những đóa hoa kiều diễm trong vườn thơ tỏa đầy hương sắc ca tụng tình yêu muôn thuở.
Lý Bạch đã dùng ngòi bút tuyệt vời để miêu tả về tình yêu, là một đề tài mà ít người muốn viết dưới chế độ phong kiến Trung Quốc, vì những quan niệm nghiệt ngã "văn dĩ tải đạo", "trọng nam khinh nữ , " tam tòng tứ đức", " tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"… hoặc những hủ tục bất nhân vì cái nhìn lệch lạc của giai cấp thống trị, tầng lớp quí tộc đầy quyền uy tối thượng. Thân phận của người phụ nữ bấp bênh "mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu". Bài thơ "Trường Can Hành" của Lý Bạch đề cao tình yêu lãng mạn đối với người con gái đẹp, là một trong những bông hoa quí hiếm có trong khu vườn Ðường Thi trùng trùng điệp điệp…
Gió thu rụng lá đầy
Bướm bay vàng tháng tám
Dập dìu cỏ phía tây
Cảnh buồn thiếp xót xa
Hồng nhan thương phận già
Khi nào đến Tam Ba
Chàng ơi gửi thư nhé
Em chẳng ngại đường xa
Hẹn đón Trường Phong Sa
(Trường Can Hành - Lý bạch)
Ðời hậu Chu, thời Ngũ-Quí ở tỉnh Hồ Nam vùng sông Tiêu Tương có nàng Ý Nương vừa đẹp lại hay chữ. Ở trọ nhà nàng có chàng Lý Sinh hàn sĩ phong lưu tuấn tú. Một đêm Trung thu hai người thưởng trăng gặp nhau trai tài gái sắc tâm đầu ý hợp nên sau đó thường hay lui trao đổi tâm tình. Cha của Ý Nương là Lương Công hay biết tức giận đuổi Lý sinh đi. Ý Nương lấy làm đau đớn sinh bịnh mới làm khúc Trường Tương Tư mong gởi nguồn tâm sự cho người yêu. Lý Sinh nhận được bài thơ cảm xót vô cùng đầm đìa nước mắt nhờ người mai mối đến năn nỉ với Lương Công xin hỏi cưới Ý Nương. Ban đầu Lương Công còn dùng dằng sau đọc được bài thơ của con gái mình, cảm động chấp nhận cho hai người thành duyên...
Tương Tư là như thế đó, là nhớ nhau da diết, bâng khuâng xao xuyến, là khát khao giao cảm, là bước chân hụt hẫng giữa mộng và thực trong cái xúc động vô bờ của tình yêu tha thiết, là những đau khổ dằn vặt vì nhớ nhung, lo lắng, giận hờn, ghen tuông, hoài nghi, là những sầu hận luyến tiếc vì lỡ làng, trăn trở, hoài niệm... Chính những cái đau khổ đó là chất men để làm những áng thơ tình mỹ lệ, ngây ngất, dậy sóng, thành những âm thanh huyền diệu vang mãi trong lòng, dào dạt và nồng nàn… Ðau khổ vì tương tư là cái cảm xúc huyền hoặc không thể thiếu được để làm xao động tâm tư, tạo sự xung đột nội tâm của người nghệ sĩ.
Sông Tương thăm thẳm đáy sâu
Tương tư da diết nỗi sầu hơn sông
Sông có đáy dễ dò sông
Sầu tương tư chỉ mênh mông vô bờ
Ðầu sông chàng đứng thẫn thờ
Bẽ bàng mình thiếp đợi chờ cuối sông
Nhớ thương xa cách mịt mùng
Nước sông thắm thiết ta cùng uống chung
(Trường Tương Tư - Lương Ý Nương)
Tỳ Bà Hành là một bài thơ cổ kính, súc tích, lồng vào một câu chuyện thi vị, tạo ra một âm hưởng nhạc thơ nhẹ nhàng, tha thiết làm xao động lòng người. Cái thân phận bèo bọt của người đàn bà đã dùng tiếng đàn để bộc lộ nỗi than oán và uất hận của mình… Bạch Cư Dị là nhà thơ đã mạnh dạn đề cập đến giá trị của người phụ nữ , cái bất công của xã hội phong kiến đối với vai trò của người phụ nữ... Bạch Cư Dị đại diện cho dòng hiện thựïc phê phán vì ông đã trải qua một giai đoạn lịch sử đen tối với chế độ quan liêu phong kiến đồi trụy và Bạch Cư Dị đã dùng thi ca với những lời lẽ giản dị thành thựïc để mạnh dạn đấu tranh và tố cáo những hành vi áp bức, sự bất công trong xã hội, vạch trần sựï bóc lột của bọn quan lại quý tộc. Thơ của ông phản ảnh được nỗi lòng và cảnh trầm luân thống khổ của dân chúng trước thế sựï thời cuộc ba chìm bảy nổi...
Bạch Cư Dị chủ trương đổi mới thi ca, ông muốn thi ca phải gắn bó với đời sống, phản ảnh hiện thực xã hội, tràn đầy tư tưởng nhân đạo, nhân văn . Bạch Cư Dị đã nói Làm văn phải vì thời thế mà làm, làm thơ phải vì thực tại mà viết" (Văn chương hợp vi thời nhi trước, thi ca hợp vi sự nhi tác). Thơ Bạch Cư Dị mang tính hiện thực . Bài Trường Hận Ca của ông diễn tả mối tình đẹp của Ðường Minh Hoàng và Dương Quí Phi, nhưng cũng có những ý tưởng sâu sắc thầm kín mỉa mai …
Bài Tỳ Bà Hành của ông theo lối " thuật hoài" (miêu tả), cảm ngộ, để gửi gắm tâm sự, nỗi buồn riêng tư thầm kín của tác giả như một người mang số phận hẩm hiu để mà thông cảm xót thương như người ca nữ trong câu truyện, gặp nhiều cảnh éo le, không may mắn trên đường đời Bài thơ ngân vang một cảm xúc ngậm ngùi, một nỗi buồn thắm thía... Ðó là những lời bộc bạch chân tình, nói lên cái tâm huyết của một người trí thức muốn bày tỏ tấm lòng ưu thời mẫn thế, cũng như nỗi bi phẫn của tác giả bị chèn ép , bạc đãi trong một xã hội phong kiến đầy dẫy bất công... Nhà thơ đã tìm thấy một tâm hồn đồng điệu, một nghĩa tương thức tri âm qua người kỹ nữ gặp trên sông Tầm Dương.
Bến Tầm Dương lạnh lá phong rơi
Tiễn khách sang sông luống ngậm ngùi
Sóng nước mênh mông làn khói bạc
Ðàn ai dìu dặt điệu chơi vơi
Mỗi tiếng đàn rung thấm thía sầu
Dạt dào âm điệu khóc mưa ngâu
Tỉ tê như trút niềm tâm sự
Sướt mướt tình riêng hạt lệ châu
Ngập ngừng khoan nhặt tiếng tơ vàng
Líu lót oanh ca suối ngỡ ngàng
Tung tóe muôn vàn tia nước vỡ
Ngỡ ngàng tiếng lụa xé kêu vang
Tỳ bà em dạo tuổi mười ba
Một thuở vàng son đã khuất xa
Nhan sắc tàn phai mình với bóng
Thuyền trôi sông tẻ lạnh trăng tà
Có một đêm nằm tỉnh giấc mơ
Lệ hồng má phấn nhạt phai mờ
Tuổi xuân nay đã thành mây khói
Thổn thức đàn khuya khóc ngẩn ngơ
Thuyền trăng lơ lửng nước xuôi giòng
Nhịp gõ đàn ngân tiếng não nùng
Dạ khúc tỳ bà chan chứa lệ
Ngậm ngùi ly khách khóc rưng rưng…
(VNL phóng tác theo ý thơ Tỳ Bà Hanh- Bạch Cư Dị)
Bài thơ Ðề Ðô Thành Nam Trang của Thôi Hộ là một giai thoại văn học nói lên một mối tình xuân muôn thuở... Hình ảnh của người đẹp với má hồng ưng ửng đứng tựa cây đào rực rỡ thắm tươi dưới muôn vàn tia nắng như vui đùa nhảy múa trong trí tưởng của người thơ, tạo nên một hấp lực vô hình thôi miên quyến rũ và mê hoặc người thơ, càng nhìn càng đắm đuối say mê… Rồi cũng đến giờ phút từ giã chia tay … Nỗi nhớ tha thiết dâng trào khôn nguôi đã thôi thúc người thơ về lại chốn cũ để tìm lại người xưa… Cũng vẫn là cảnh đó … gợi sầu da diết, cảnh còn đây, mà người ở đâu? Hoa vẫn nở vẫn thắm tươi khoe sắc như muốn bỡn cợt với gió đông, và dửng dưng với nỗi bồi hồi nhung nhớ của người thơ...
Năm ngoái hôm nay cũng cửa nầy
Hoa đào má phấn đỏ hây hây
Người đi đâu mất, còn hoa đó
Ghẹo gió đông cười hoa ngất ngây
(Ðề Ðô Thành Nam Trang - Thôi Hộ)
Một bài thơ tình mang gốc huyền thoại thần tiên mà người đời vẫn còn ưa thích, đã trở thành điệu hát ca trù rất phổ biến đó là Lưu Nguyễn Du Thiên Thai. Chùm thơ "Thiên Thai" của Tào Ðường gồm có 5 bài. Câu truyện kể rằng : vào thời Vĩnh Bình (58-76) vào đời Hán Minh Ðế, nhân Tiết Ðoan Ngọ, hai chàng trai Lưu thần và Nguyễn Triệu lên núi Thiên Thai (tỉnh Chiết Giang) để hái cây thuốc, và hai chàng đã gặp được hai tiên nữ, mời Lưu Nguyễn về nhà tiếp đãi ân cần và họ đã kết duyên vợ chồng. Ở đây được chừng nửa năm, Lưu Nguyễn nhớ gia đình và quê làng nên muốn xuống núi về nhà. Hai Tiên nữ lưu lại không được, rồi cũng phải tiễn biệt hai chàng đi . Hai chàng về đến quê làng, mới biết trần gian đã trải qua bảy đời người, và không ai nhận ra mặt được, chỉ có người cháu bảy đời kể lại là có Cụ Tổ đã vào núi hái thuốc và không bao giờ thấy trở về nữa. Hai chàng không còn gia đình và nơi chốn để nương tựa, muốn trở về núi, nhưng tìm đường không ra. Cuối cùng người ta không biết hai chàng lưu lạc về đâu...
Gãy khúc nghê thường chẳng có ai
Mộng trần đâu biết mộng tiên dài
Trời riêng góc động xuân thanh vắng
Nẽo khuất dương trần nguyệt úa phai
Khe thắm cỏ tiên vờn cát ngọc
Suối thơm đào ngát nước xanh trôi
Mỏng manh sương sớm đèn trong gió
Muốn gặp chàng Lưu biết hỏi ai?
Lại tìm Tiên Nữ động Thiên Thai
Ðá trắng rêu xanh bụi phủ đầy
Lặng lẽ hang sâu im tiếng nhạc
Ðìu hiu xóm quạnh vắng chim bay
Tàn phai sắc cũ hờn cây cỏ
Hờ hững xuân xưa chạnh khói mây
Nước chảy hoa đào phơ phất đó
Cố nhân hầu rượu chẳng còn đây!
(Tào Ðường)
(còn tiếp 1 kỳ)
Thưa quý vị, thưa các bạn,
Trước hết tôi được thay mặt Ban Chấp hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngọai Trung Ương chào mừng hai văn hữu Nguyễn Hữu Nhật và Nguyễn Thị Vinh. Thật ra nếu kê đầy đủ nét đa tài, đa dạng cặp nghệ sĩ đến từ xứ Na Uy tuyết phủ phải là: nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà nghiên cứu Thiền học và họa sĩ.
Tôi được biết buổi sinh hoạt hôm nay còn nhiều tiết mục hấp dẫn và cũng được ba nữ thi văn hữu hồi nãy (Phương Thúy, Huệ Thu, Ngọc An) giao hẹn trước là chỉ nên nói ngắn gọn. Vậy tôi chỉ phát biểu về hai văn hữu mỗi người 5 phút là mất 10 phút thôi. Cách đây một tuần ban tổ chức buổi họp mặt này giao cho tôi bảy cuốn vừa thơ vừa truyện và truyện Thiền, thú thực là tôi chưa đọc hết được. Hôm nay tôi chỉ xin có đôi lời về cuốn truyện “Nổi Sóng” của nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Trước năm 1954 tôi có được đọc cuốn “ Hai Chị Em” của tác giả, nhưng đã rất lâu, tôi không còn nhớ nội dung ra sao nữa. Ra nước ngoài, tác giả có viết cuốn song ngữ Việt và Na Uy năm 1994 mà tôi chưa được đọc, cuốn truyện được báo chí Na Uy cho rằng tác giả đã có khả năng văn chương như một “người bắc nhịp cầu giữa hai thế giới Ðông Tây”.
Vậy tôi tạm lấy cuốn “Nổi Sóng” tiêu biểu cho văn phong tác giả để hiểu thêm nhà văn lão thành đã nghĩ gì, viết gì trong những năm đầu thập niên 70. Ðó là thời gian khói lửa chiến tranh mờ mịt, Sài Gòn sống trong không khí chật hẹp, ngột ngạt. Trong truyện các vai chính là nữ giới khóc cười qua những chi tiết như thày yêu trò, ngoại tình, khiêu vũ, gái bán ba, yêu cuồng sống vội, có cô thiếu nữ bỏ học, chạy theo nếp sống buông thả, phù phiếm.
Như chúng ta đã biết tác giả là thành viên chính thức thứ 9, thành viên cuối cùng và tại thế của Tự Lực Văn Ðòan mà ảnh hưởng văn học đã tác động mạnh mẽ vào xã hội Việt Nam trong suốt ba thập niên 30, 40 và đến giữa thập niên 50 qua tờ Phong Hóa, Ngày Nay và nhà xuất bản Ðời Nay. Do đó trước sau gì, dù cho in lại và đã hiệu đính, theo tôi nhà văn Nguyễn Thị Vinh ở trong nhóm nhà văn nữ hiếm hoi giữa thập niên 40 và 50 và là nhà văn tâm lý tình cảm. Tác giả chú trọng, xóay mạnh vào những biến chuyển tâm lý tình cảm của từng nhân vật truyện. Nhà văn Võ Phiến nổi tiếng về phân tích sự việc và tâm lý, đã được coi như có tài ‘chẻ sợi tóc làm tư”, rất khách quan và cũng lạnh lùng, thản nhiên. Khác đi một chút, nhà văn Nguyễn Thị Vinh lột tả được những phức tạp tâm lý biến chuyển rất lẹ, đôi khi mâu thuẫn trong nội tâm con người. Do đó cách phân tích tâm lý của bà nồng ấm hơn, thực và rất ‘người’.
Là người sinh ra từ giữa thập niên 20, tác giả vẫn giữ được lời văn đằm thắm, đôn hậu. Tác giả không viết như táo bạo như Nguyễn Thị Hoàng, không quá mới như Túy Hồng, không ngổ ngáo phá phách như Lệ Hằng và cũng không tả chân thô nhám như Nguyễn Thị Thụy Vũ và Nhã Ca sau này ở hải ngoại, vì dĩ nhiên mỗi thời mỗi nhà văn đều có những bản sắc riêng. Vào buổi hòang hôn cuộc đời theo lệ tự nhiên, tác giả cũng sáng tác thơ, như Mai Thảo, như Võ Phiến đã làm thơ. Tác giả thổ lộ tâm tư về cái nghiệp viết lách như sau:
Ðạo, tôi theo suốt một đời
Lại là cái đạo làm người làm thơ
Làm văn tự bấy đến giờ
Vẫn chưa giải thoát được tờ giấy in
Qua lời Tựa cuốn truyện tác giả làm thơ lục bát, để thấy thơ là lọai hình cao nhất của truyện, là tinh túy của truyện.
Nét cô đọng của truyện dài
Chính là truyện ngắn chứa vài ý thơ
Người viết truyện ngắn ước mơ
Sao cho nhỏ lại thành thơ trữ tình
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh vẫn lưu giữ được cốt cách văn chương, rất giàu nữ tính. Nếu kể từ tác phẩm đầu tiên viết năm 1953 tính đến năm nay đàn chị của tôi cầm bút viết văn nhận lãnh cái nghiệp được đúng nửa thế kỷ rồi. Tôi nghĩ nhà văn và bạn đời của tác giả Nguyễn Hữu Nhật nên vinh danh chị nhà là chuyến đi thăm Hoa Kỳ này coi như tuần Trăng mật muộn kỷ niệm 50 viết văn của chị . Chúng ta dường như chưa thấy một nhà văn phụ nữ nào lại có một quá trình văn chương dài lâu, rực rỡ như vậy. Chúng ta nên chúc mừng bà Nguyễn Thị Vinh sức khỏe và hoan nghênh khả năng và gia tài văn chương phong phú của bà.
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhật, nói theo kiểu võ bị, là một người đa năng, đa hiệu. Sáu cuốn thơ truyện tôi có trong tay và nhiều cuốn khác nữa, tôi chưa đọc hết, nhất là hai cuốn truyện Thiền “Bờ Bên Kia” đọc hơi nhức đầu. Tác giả còn cùng với người bạn đời chủ trương Giai phẩm Hương Xa ở Na Uy nội dung xúc tích phong phú, hình thức trình bày rất mỹ thuật. Tác giả vốn xuất thân Trường Mỹ Thuật Gia Ðịnh, cho đến nay vẫn cầm cọ vẽ, nên hôm nay chúng ta có dịp thửơng thức tranh của tác gỉa hiện bày đằng kia.
Tác phẩm của ông khá nhiều, tôi chọn cuốn “Cuộc Chiến” và đọc thêm cuốn” Ðã Một Ðời Thơ”. Tác giả diễn tả tâm tư trong mây mù chiến tranh, nhưng tôi thấy được nét nhân hậu và lãng mạn qua thơ ông. Oâng có một nhãn quan cởi mở, bao quát hơn, khách quan hơn và đầy nét trữ tình.
Ðặc biệt ông có một thi phong khác với đa số các nhà thơ thế hệ sáu chục tuồi là ít dùng sáo ngữ Hán Việt và cách ngắt câu chuyển đọan khá mới lạ. Tôi yêu những bài thơ tự do “Tội đốt sách” và thơ bảy chữ “Xuân trong tù”:
Hoa cô bạn gái cắm từ tuần trước
Chết như bánh mì khô
Con cá nhỏ trong chiếc ly cối
Nằm giãy giụa nhìn chuôi dao
Thò ra khỏi tập thơ
Con cá là các văn nghệ sĩ tự do, chuôi dao là chế độ tàn bạo Tần Thủy Hòang tân thời.
Người ở trong tù đâu nhìn thấy
Vẫn biết mùa xuân mới trở về
Cánh cửa gió xà lim đóng chặt
Áp má vào thềm xi măng nghe
Ngừơi tù nghệ sĩ bị nhốt trong xà lim chỉ biết chứ không thấy được xuân về. Thơ không cần phải nói nhiều. Câu: Áp má vào thềm xi măng nghe, tôi nghĩ rằng là một câu không thể chê vào đâu được.
Bài thơ “Cuộc chiến còn đây ở kiếp này” chúng ta sẽ phải đau xót, thương người lính và người vợ lính qua chuyến thăm chồng dưới hầm ngột ngạt khói súng nơi tiền đồn heo hút:
Ngọn gió mùa khô thổi rát mặt
Người vợ lính đi thăm tiền đồn
Cơm gạo sấy ứơt đầm nước mắt
Chảy âm thầm giữa hai nụ hôn
……
Cơn vui cạn,ngực đầy cát bụi
Phả nóng hầm, tóc đổ mồ hôi
Biết đến bao giờ tàn cuộc chiến
Mà nỡ bảo nhau, mình ơi, thôi!
Mà nỡ bảo nhau, mình ơi, thôi! Chắc chắn phải là lời trách móc của người lính xa vợ quá lâu. Em nỡ lòng nào không cho anh yêu , biết đâu chỉ vài giờ nữa pháo của địch sẽ đưa ảnh anh lên trên bàn thờ, em ơi!! Vậy thì nên cho anh yêu, và phải cho anh yêu!
Tôi rất qúy thơ Nguyễn Hữu Nhật. Dù là thơ tù ngục, thơ trong vòng kẽm gai, thơ trong khổ nhục đầy máu và nước mắt vẫn lóe lên ánh sáng tin yêu, trữ tình. Ðây là bốn câu trong tựa đề “Ra tù”:
Nhớ mãi cái đêm ra tù
Về nhà khêu ngọn đèn mù suốt đêm
Nhìn chồng, gầy ốm, đứng yên
Vợ bặt tiếng khóc, gọi tên, sợ lầm
Những ai không có may mắn được ở tù cải tạo không thể làm thơ hư cấu để diễn tả hay hơn thế được. Chưa hết, Nguyễn Hữu Nhật còn lãng mạn hơn nữa, tả thực hơn nữa qua bài “Giừơng cũ’:
Mười năm ngỡ chuyện đàn bà…
với đàn ông chỉ như là khói sương
Ra tù về với người thương
Ðêm đầu nghe lạ tiếng giường cũ kêu
Chuyện ân ái đối với người tù mười năm coi như chỉ vờn như mây khói. Nào ngờ, tình yêu dồn nén xuất phát từ con tim đã vượt thắng được điều kiện thể chất suy yếu của người tù. Em ơi mười năm rồi anh mới nghe tiếng giường kêu cót két.
Thưa quý vị, thưa các bạn, tôi định sẽ nói nhiều, bàn sâu hơn về văn nghiệp của hai văn thi hữu của chúng tôi, nhưng thời gian không cho phép. Xin quý vị và các bạn cùng tôi hoan nghênh hai nghệ sĩ mãi từ Bắc Âu xa xôi đến thăm chúng ta.
Ghi chú:
Buổi sinh họat văn học nghệ thuật chiều ngày 19-10-03 vừa qua tại Trung tâm Văn hóa đường Quimby đã thành công tốt đẹp. Khác với những cuộc Ra Mắt Sách trước đây, buổi sinh hoạt mang đúng ý nghĩa.
Không phải chỉ là phần ra mắt của hai văn hữu thuộc Oslo Na UY Châu Âu (viễn cư) Nguyễn Thị Vinh và Nguyễn Hữu Nhật mà thôi. Còn có phần trưng bày tranh của họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật, và những bất ngờ khác. Sau phần giới thiệu hai tác giả thật ngắn gọn của nhà thơ lão thành Hà Thượng Nhân (cố vấn TT Tây Bắc Hoa Kỳ) là bài giới thiệu tác phẩm của giáo sư nhà văn Diệu Tần Nguyễn Tinh Vệ. Ông chọn cuốn “Nổi Sóng” viết năm 1971 của Nguyễn Thị Vinh và đặt tác giả vào nhóm nhà văn tâm lý tình cảm. Giới thiệu Nhà văn Nguyễn Hữu Nhật, ông gọi tác giả là con dao pha, đa năng đa hiệu và đánh giá tác giả sáng tác thơ văn tù đày, chống cộng, nhưng vẫn giữ được nét tin yêu và trữ tình…khi ông chấm dứt phần nói chuyện ngắn gọn trong 10 phút, đã được 3 tờ tuần báo và nhật báo hỏi bản văn để đăng tải. Phần thuyết trình về đề tài “Tại sao dân mình mãi khổ’ của Nhà văn kỳ cựu Nguyễn Thị Vinh, thành viên thứ 9 của Tự Lực văn Ðòan. Với những lý luận văn học bà đã cực lực lên án chế độ bạo tàn cộng sản, tuy vì lý do sức khỏe bà đọc chậm, nhưng vẫn được thính giả vỗ tay hoan nghênh.
Phần nói chuyện của nhà văn Nguyễn Hữu Nhật thật sôi động. Ông có tài thuyết phục người nghe với đề tài “Tiếng Việt mến yêu”, trong đó có những lời vinh danh phụ nữ Việt Nam, được thính giả tán thưởng nồng nhiệt. Một cơ duyên khác là Nữ nghệ sĩ Bích Thuận đến từ Paris vì mối liên hệ văn nghệ với hai tác giả, đã lên sân khấu trình bày những màn tân cổ nhạc thật duyên dáng, xuất sắc gây không khí sôi động hội trường . Một bất ngờ khác là giáo sư lão thành Nguyễn Gia Liên lên tặng nhà văn Nguyễn Thị Vinh một bức chân dung chụp bà hồi bà còn là một thiếu nữ cách đây đúng 50 năm. Bà Vinh xúc động cảm ơn và hỏi: Làm sao ông có bức ảnh này? Tại sao tôi không biết?……
Buổi sinh hoạt bắt đầu từ 1 giờ trưa kéo dài đến 5:00 mới chấm dứt. Ðặc biệt buổi họp mặt này thính giả ngồi chật hội trường, không có mặt các tai mắt, nhân vật hoạt động chính trị địa phương nhưng có đầy đủ đại diện các báo chí, các cơ quan truyền thông địa phương, hầu hết các văn nghệ sĩ Vùng Vịnh, kể cả một phái đòan nghệ sĩ từ Sacramento đến.
Ðiểm đặc biệt khác là trên hàng ghế đầu, người ta thấy các vị nữ lưu chiếm gần hết: Nữ sĩ Trùng Quang, nhà thơ Lê Bạch Lựu, nghệ sĩ Bích Thuận, bà Nguyễn Gia Liên, nhà thơ nhà báo Ngọc An (người đứng tổ chức buổi họp mặt), nhà thơ Huệ Thu, nhà văn, bác sĩ kiêm MC Lê Phương Thúy, nhà văn Kathy Trần, cô Thụy Dung (chương trình phát thanh). nghệ sĩ cổ nhạc Ánh Tuyết, ca sĩ Lệ Hằng….. Ngoài ra còn rất nhiều khuôn mặt văn học nghệ thuật khác như nhà văn Khuê Dung, nhà thơ Sương Mai, nhà văn nhà báo Hoa Hòang Lan, nhà báo Lê Diễm (con gái nhà văn Lê Tràng Kiều), nhà sọan nhạc ca sĩ Tú Minh, nhà báo Mã Phương Liễu, nhà báo Cao Nguyệt Ánh……những thính giả cùng lứa tuổi với nhà văn Nguyễn Thị Vinh và những nữ sinh cũ của bà ở Sài Gòn trước kia….. Do đó có người nhận xét rằng buổi sinh hoạt tươi vui, xúc động và thành công này là của nữ giới và để vinh danh phụ nữ.
Lúc 6 giờ tối Thứ Sáu, ngày 5-12-2003, Tại Paracel Seafood Restaurant, 15583 Brookhurst St. (góc McFađen), Westminster, CA. -
Tel.: (714) 775-3077
Ngoài các giới chức dân cử và quan khách ngoại quốc, sẽ có các nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam về từ nhiều nơi như Tiến Sĩ Aâu Dương Thệ (Ðức), BS Lâm Thu Vân & Tiến Sĩ Trương Minh Trí (Canada), LM Nguyễn Hữu Lễ (Tân Tây Lan), BS Nguyễn Tường Bách và GS Lưu Trung Khảo (Westminster), Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện (Garden Grove), Kỹ Sư Ðỗ Như Ðiện và GS Lê Phục Thủy (San Diego), Luật Sư Nguyễn Hữu Thống (San Jose), GS Nguyễn Quốc Khải, (Washington, D.C.), BS Nguyễn Quốc Quân, Cụ Phạm Ngọc Lũy và Bà Ngô Thị Hiền (Virginia), BS Nguyễn Tiến Cảnh & Nhà Báo Chu Bá Yến (Florida), Nhà Văn Vương Kỳ Sơn (New Orleans), v.v.
Kính mời quý đồng hương tham dự thật đông
. để giúp phương tiện cho các hoạt động nhân quyền
. để gặp gỡ và chia xẻ những ưu tư của mình về vấn đề nhân quyền
. để góp phần đẩy mạnh công cuộc đấu tranh nhân quyền Việt Nam
Xin liên lạc những nơi sau đây để nhận Thiệp Mời:
. Ðịa điểm có Thiệp Mời:
Paracel Seafood Restaurant, 15583 Brookhurst St., Westminster. (714) 775-3077
Trung Tâm Giáng Ngọc, 9551 Bolsa Avẹ, #D&E, Westminster. (714) 531-2246
Ủy Ban Phối Hợp MLNQ, 4745 El Cajon Blvd, #104, San Diego. (619) 284-5111
. Liên Lạc:
Lê Minh Nguyên (714) 719-5220 ; Nguyễn Ngọc Quỳnh (562) 630-2926; Ðoàn Thế Cường (714) 478-8889; Ðỗ Thị Thuấn (714) 541-9859; Ðoàn Ðứùc Tâm; (714) 633-1431 Nguyễn Thanh Trang (858) 344-9443.
Xin vui lòng ủng hộ $25 mỗi người. Các đóng góp nhiều hơn xin trao trực tiếp Ban Tổ Chức
Trân Trọng Kính Mời
Ðiạ chỉ cuả toà báo:
VietHomeMagazine
1340 Tully Road # 301
San Jose, CA 95122
tel 408-971-6057
VietHomeMagazine@cs.com.
Audio CD
a) Thụy Khê (Ðài RFI) nói về Hoàng Cầm và tập thơ “Ðường Về Kinh Bắc”.
b) Hoàng Cầm Ca, gồm : “Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cỗ Bài Tam Cúc, Ðạp Lùi Tinh Tú, Tình Cầm, Trăm Năm Như Một Chiều”.
Thơ Hoàng Cầm, Phạm Duy sọan thành ca khúc, Duy Cường hòa âm, Thái Hiền, Duy Quang hát.
Giá : 20$ (including handling & postage)
Pham Duy Productions, 14692 Hunter Lane, Midway City, CA 92655-1119, e-mail :
phamduy@aol.com
Audio CD
a)Ðài BBC phỏng vấn thi sĩ Hữu Loan
b)Bài thơ “Mầu Tím Hoa Sim”
c)Ca khúc “Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà”, Phạm Duy phổ thành ca khúc, Duy Cường hòa âm, ca sĩ : Thái Thanh, Duy Quang.
Giá : 20$ (including handling & postage)
Pham Duy Productions, 14692 Hunter Lane, Midway City, CA 92655-1119, e-mail : phamduy@aol.com
VIỊ Nhạc : 1. Hoa Muộn
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bạch thị Ngọc Sương, Châu Thái Lê, CC, DHH, Ðỗ Thành, Hạt Cát, Hoàng Mai Phi, Hoa Cỏ, Lạc Duyên, Lâm Huân, Kim Phương Oanh, Khánh Học, Ngọc An, Ngô Thy Vân, Nguyên Khoa, BS Nguyễn Văn Ðức, nttn, Nngương, Nhất Tâm, Ngô Minh Hằng, Nhược Thu , NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Phạm Ngọc Hài, Sương Mai, Tâm Thư, Thanh Thanh, Thu Hằng, Trần Văn Lương, Trần Công Nhung, Trần Thị Hà Thân, Trần Hoan Trinh, Uyên Thi, Viễn Phương, Việt Hải, Việt Dương Nhân, Vũ Thị Thiên Thư đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 19 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
TrungKy@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua2002@aol.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua2002@aol.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: TrungKy@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116-0378
USA
Trang Nhà