Số 20

Ngày 1 tháng 12 năm 2003

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

GiaoMua2002@aol.com


Thư Ngỏ



Cảm nghĩ cuối năm 2003

Sự xuất hiện của Giao Mùa số 20 trên mạng vào những ngày đầu tháng 12 dương lịch đã nhắn nhủ với anh chị em biên tập và cộng tác viên chúng tôi biết rằng lại thêm một năm đã hoàn tất.

Một năm với 12 số báo, một năm dài với bao nhiêu khó khăn chờ đợi, chúng tôi nghĩ sẽ khó vượt qua được nếu không có trợ lực thần bí nào đó giúp sức.

Thứ nhất vì hầu hết anh chị em cầm bút phần lớn đều thuộc dạng không chuyên. Nhưng cho dù chuyên hay không chuyên thì cũng phải có một sự say mê nào đó thật to lớn mới giữ cho việc viết lách của chúng tôi duy trì bền vững được.

Thứ hai là về tuổi tác. Anh chị em chúng tôi thuộc vào đủ mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ, bàng bạc làm đủ mọi nghề, đến với nhau bằng lòng yêu thương quê mẹ, chung một quyết tâm gìn giữ và phát triển Quốc văn. Chúng tôi nguyện phát huy cảm nghĩ, suy tư và những phán xét chủ quan về đời sống, sinh hoạt tâm tư và vật chất quanh mình.

Thứ ba là chúng tôi không có được bất cứ một phương tiện nào hỗ trợ để nhờ đó giúp cho tờ báo mạng được sống bền. Anh chị em cầm bút đến với nhau không một lần được nhận bất cứ một món nhuận bút nào, dù lớn nhỏ. Thế nhưng anh chị em chúng tôi vẫn sát cánh bên nhau, từ những ngày còn là Tập San Thi Văn cho đến nay chuyển sang Giao Mùa. Thạnh tình ấy sở dĩ có là vì anh chị em chúng tôi mỗi người đã có một nghề nghiệp khác để duy trì cuộc sống, trong khi xem việc cầm bút như là một nghề tay trái để làm đẹp cho ý thức Việt Nam.

Nhiều người đã nghĩ thế hệ trẻ ngày nay nói tiếng người giỏi hơn tiếng mẹ đẻ nên sợ rằng một ngày nào tiếng mẹ sẽ bị thui chột đi. Nhưng sự đóng góp của các bạn trẻ trong các sinh hoạt văn học hải ngoại cho chúng tôi thấy niềm âu lo trên có khi sớm chăng.

Chúng ta hãy nhận xem nơi bất kỳ tờ báo mạng hay tờ báo in nào xuất hiện ở bất kỳ nơi nào trên địa cầu, từ Âu sang Mỹ, Úc, v.v..., nơi có người Việt tị nạn, đều có sự tham gia tích cực của giới trẻ Việt Nam. Ðiều đó nói lên sự trau chuốt nâng niu tiếng Việt đã, đang và sẽ được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác ở người Việt đang sống xa quê nhà.

Năm 2003, ngoài những số báo trên mạng, Giao Mùa còn tập hợp được một số anh chị em ra mắt Tuyển tập Thơ GM, đánh dấu một hoài bão khác của tờ báo. Hy vọng với đà này, sang năm 2004, Giao Mùa sẽ mạnh dạn nghĩ đến việc ấn hành những tuyển tập khác chăng ?

Nhân năm 2003 sắp hết và đồng thời năm âm lịch Giáp Thân cũng gần về, chúng tôi xin chúc tất cả anh chị em trong gia đình Giao Mùa luôn dồi dào sức khoẻ để cùng nhau chúng ta đi tiếp những chặng đường phát huy tiếng mẹ trong cuộc sống hải ngoại hiện nay.

Ðồng thời chúng ta cũng cầu mong sang năm 2004 quê hương sẽ không còn lận đận, đời sống đồng bào sẽ vơi bớt khó khăn, thiên tai sẽ không còn bén mảng đến và nhất là các cô, các dì, các chị, các em của chúng ta nơi quê nhà sẽ không vì đói ăn thiếu mặc mà phải đem thân đi làm vợ quê người.

Nhân dịp cuối năm dương lịch 2003, toàn thể anh chị em biên tập, cộng tác viên GIAO MÙA xin kính chúc tất cả các độc giả xa gần một mùa Giáng Sinh thật sum vầy, hạnh phúc. Cầu xin sang năm mới dương lịch 2004, quê hương ta bên kia nửa vòng trái đất sẽ không còn lầm than, cơ cực, đạo pháp sẽ được hưng thịnh, tự do, nhà nhà sẽ ấm no, thơ thới, thiên tai hạn hán sẽ xa lánh, lãng quên. Ðể mỗi người chúng ta dang tay chuẩn bị đón mùa Xuân Giáp Thân với tình thương yêu ấp ủ tràn đầy...

Thanh Sơn
BBT Nguyệt San Giao Mùa


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Em Giấu Thu Vàng Trong Lá Bay ______Nhược Thu
2. Nắng Ðêm ______Sông Cửu
3. Trong Tâm Tưởng ______Phạm Vũ Anh Nam
4. Một Góc Trời Quê Hương ______Trần Thị Hà Thân
5. Chờ Em ______Bích Hà
6. Lối Thu Vàng ______Nguyên Dã Qùy
7. Thu U Hoài ______TH
8. Trả Lại Em Nửa Com Tim ______Viễn Phương
9. Mùa Trăng Ðã Hết ______Châu Thái Lê
10. Người Anh Hùng Làng Bình Chánh ______Việt Dương Nhân
11. Câu Bóng Xuân Thì ______Song Tưởng Nhất Nguyên
12. Lạc Dấu Chân Xưa ______mạc phương đình
13. Chút Duyên Thu Muộn ______Vũ Thị Thiên Thư
14. Vắng Bóng Em ______Lâm Huân
15. Ðấu Nào Ðong ______Trần Nhất Lang
16. Có Phải ______HTlCG
17. đi, về ______NNgương
18. Lá Sầu Ðâu ______Ngô Thy Vân
19. Nàng Ốc Mượn Hồn ______CC
20. Cali Còn Nhớ hay Quên Paris ? ______Nguyễn Hữu Viện
21. Lạc ______Tâm Thư
22. Ta Ði Giữa Ðời Thường ______Quang Ngọc

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Kén Chồng _______ Bích Hà
2. Giấc Mơ ___________ Vũ Thị Thiên Thư
3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 17) ___________ Trần Công Nhung
4.Về...(tiếp) ___________ Thanh Sơn
5.Thoáng Tình Cuối Ðông (tiếp) ___________ Hoàng Mai Phi
6.Thành Phố Thiên Thần ___________ Phạm Vũ Anh Nam
7.Góc Phố ___________ Ðỗ Thành
7.Ðứng Ngóng Ngõ Sau ___________ Phan Thái Yên

III . Ngàn Lời Ca (kỳ 10)________________________________________________________________

1. Phục Hồi Dân Ca _______________________________ NS Phạm Duy

IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

V. Nghiên Cứu________________________________________________________________

1. Kẻ Hát Rong ... _______ Phan Lạc Phúc
2. Viêm Gan và Ung Thư Gan _______ Bác sĩ Nguyễn Ðức Liên
3. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng (tiếp) _______ Việt Hải
4. Ấu-Triệu Với Sào-Nam _______ Cảm Biến

VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Câu Chuyện Thơ Nhạc _______ Mai Ðức Vinh
2. Thi Ca Hải Ngoại _______ Giao Muà
3. Nguyệt San VietHome Magazine _______ Giao Muà
4. CD của NS Phạm Duy _______ Giao Muà

VII . Nhạc __________________________________

1. Nhạc : Vẫn Yêu Người _______ Bích Hà

VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Em Giấu Thu Vàng Trong Lá Bay


 
Em giấu thu vàng trong lá bay 
Làm anh nhìn cứ ngỡ thu say . 
Không say vì rượu em vừa chuốc 
Say áo vàng chanh rực chốn này . 

Có phải em gom hết mùi hương 
Pha trong hơi thở nhẹ như sương 
Mà sao mê đắm bao ong bướm 
Ðang nhởn nhơ bay lượn khắp vườn ..? 

Có phải em gom hết mây trời 
Kết vào trong tóc thả buông lơi ? 
Bỗng dưng anh ước là mây trắng 
Ðáp xuống vai mềm để nghỉ ngơi ... 

Có phải em thu hết kim cương 
Giấu vào đôi mắt sáng như gương ? 
Nhìn anh bối rối làm sao ấy 
Khiến nửa hồn anh lạc mất đường ... 


Nhược Thu 
 
Mục Lục


2. Nắng Ðêm “Mến tặng nhà thơ Ngọc Mai” Nắng đêm trải vàng mặt sóng trăng nhô bên gốc trời Tây dã tràng miệt mài xe cát mong ngày lấp biển Ðông đầy Gió lay long lanh đáy nước mặt trời thức đợi triều lên chưa biết trăng đầy trăng khuyết biển còn ôm ấp nắng đêm Ðỉnh đồi hải đăng chớp mắt dắt tàu vào bến neo đơn bỏ nắng chập chờn nhợt nhạt mặc tình trăng giỡn đầu non . . . Em hát bài ca truyền thuyết Dã Tràng nuối tiếc hư không gom nắng rãi vàng sóng biếc miệt mài xe cát biển Ðông ! Vịnh Hàng Hải San Diego. 2003 Sông Cửu
Mục Lục


3. Trong Tâm Tưởng anh ước mơ trong tâm tưởng mình được gửi đến em những vạt nắng ấm nơi đây để mỗi ngày đường đời em thêm sáng lạng dù buổi chiều mặt trời rồi lại trốn ngủ trong lòng võng đại dương xanh em mỹ nhân ngư đùa vui trên ngọn sóng anh cá kình chìm đáy biển sâu mộng mơ đôi khi là bùn mục anh ước mơ từng sợi dã tưởng mình thành cánh tay ngà của bà tiên cùng đôi đũa thần vẽ thành mộng ảo trong trái tim em đong đầy ước muốn chắp đôi cánh bay xa như sự thật ta đã có nhau nhưng em biết không ? anh chỉ có thể gửi đến em lời thơ này đan nhiều ước vọng giữa ngật ngầy ngày rộng mệt lả dấu chân bon em là nỗi hy vọng là nỗi vui khi còn nhớ đến như trong cơn mưa lũ ngọn cỏ tranh xưa đời ủ cuốn vào nhau để em biết rằng em là giòng máu là sợi tế bào cả nỗi đam mê một đời trong tâm tưởng anh Phạm Vũ Anh Nam
11-2003

Mục Lục


4. Một Góc Trời Quê Hương mai anh có về bên kia bờ biển lớn mang hộ giùm tôi nỗi nhớ quê hương gởi những bâng khuâng tình thương quê vô lượng để nghe sóng trùng dương tôi tưởng tiếng khóc hờn Ðà Nẵng ơi này Ðà Nẵng sông Hàn bến nớ chừ bên ni nhớ hà thân bệnh viện Duy Tân ngày tôi khóc eo eo chào mẹ tháng mười một bước về tôi thương mẹ càng thương mai anh có về quê hương cho tôi gởi gấm một nỗi nhớ muôn trùng dẫu ngàn dậm có xa quê hương tôi nghèo nàn sẽ là quê hương tôi mãi đã bỏ đi lâu rồi sao cứ mãi nhớ về một góc trời quê hương - tôi thương Ðà Nẵng! 14.11.03

Trần Thị Hà Thân

Mục Lục


5. Chờ Em Tưởng đôi ta đã quên nhau Ngờ đâu tim vẫn chôn sâu mối tình Ðợi chờ nhau kiếp tái sinh Thương đau chia cắt men tình vẫn xanh Ngủ yên em giấc mộng lành Mắt ngoan còn dấu long lanh lệ buồn Mặc đời giông bão gió tuôn Vòng tay em mãi là nguồn yêu thương Tìm nhau vạn nẻo phố phường Lẻ loi mấy kiếp, thiên đường chia phôi Bến sông con nước đổi dời Em cùng tôi vẫn muôn đời có nhau

Bích Hà

Mục Lục


6. Lối Thu Vàng Anh ra đi giữa mùa thu đang tới Gót chân quây bỏ lại lối đường gầy Cũng con đường ngày trước dưới mưa bay Sao cứ bước không ngoảnh đầu nhìn lại. Anh ra đi em sầu đau tê tái Nhìn theo anh đến cuối lối thu vàng Tình mong manh như sương sớm vỡ tan Chỉ còn lại trong em ngàn lưu luyến. Khi anh đi tình thu buồn tha thiết Lá thu vàng từng chiếc tả tơi bay Biết không anh mây tím cũng giăng đầy Em nức nở cho lệ tràn mi ước. Anh ra đi một ngày không hẹn trước Lối thu vàng chỉ có bước chân em. Nguyên Dã Qùy
Mục Lục


7. Thu U Hoài Từ đâu văng vẳng tiếng giã từ Tình tự mây trôi theo gió Thu Cô tịch đêm thanh soi bóng nguyệt Lá tàn hoa rũ trước phù du Phương trời mộng ảo khi chiều tà Nghe tự bâng khuâng lòng đã xa Trăng sáng sầu lên dâng réo rắt Mắt buồn mờ mịt lạt kiêu sa U hoài ngàn dặm nghe bơ vơ Cách biệt xa xăm tiếng ngẩn ngơ Thu đến đất trời buồn lạc lõng Nỗi sầu vẫn thế càng vu vơ TH
Mùa Thu 2003

Mục Lục


8. Trả Lại Em Nửa Com Tim Tại em đó chiều thu thơ thẩn . . . Vào vườn thơ quanh quẩn hoài trông Dưới trời thu vắng mênh mông Lung linh sợi nắng vàng hong tóc huyền Trên lối cỏ thuyền quyên một bóng Man mác lòng dậy sóng xa khơi Gió đùa hương tỏa nơi nơi Hồn trinh ngây ngất, buông lơi gót ngà Hoa thơ nở la đà lối mộng Ngun ngút tình khơi động con tim Ðường trần hoang vắng lặng im Lần tay nối nhịp đi tìm mối tơ Em trở bước đường mơ bóng nhạt Nửa tim vàng để lạc vườn thơ Nhặt về anh cứ ngẩn ngơ . . . Hỏi lòng!- ai đó, thờ ơ thế nầy ? Còn một nửa vơi đầy thương nhớ Tỉnh mơ hoài bỡ ngỡ tìm nhau Ru lòng em nỗi xuyến xao Xếp đường tơ rối goi vào tương lai Anh mải miết vì ai nghĩ ngại Không nở lòng trả lại tim kia Sợ rằng mai đó cách chia Vườn thơ anh sẽ đầm đìa le rơi Tình không đến, ta, người xa lạ Nửa tim nầy, thôi trả người mơ Ðường trần dẫu có bơ vơ Chỉ mong trọn mối tình thơ thệ nguyền Âu đó cũng thiên duyên tiền định Trả tim người không tính thiệt hơn Nửa kia thơ thẩn buồn đơn Nửa đây hiu hắt dỗi hờn trách ta Trời man mác bao la nỗi nhớ ! Ta khổ sầu!-Ai nở không ai ? Thôi đành ngậm đắng nuốt cay . . . Kẻ đây, người đấy mai hoài thương mong ? Viễn Phương
Mục Lục


9. Mùa Trăng Ðã Hết Giờ nói lại tiếng yêu thì đã muộn bốn năm trời oan uổng cuộc đời ta tôi bốn năm thôi không còn ham muốn em bốn năm cúi mặt xuống thật thà tôi bốn năm trở thành tên cố chấp khi giận hờn che lấp những thu*' tha thu lòng tôi gió lạnh về tràn ngập thổi lịm dần bếp lửa ấm tình ta em bốn năm hẳn rong chơi thấm mệt quay trở về đã qua hết mùa trăng mắt thơ ngây đuôi hằn thêm dấu vết nhìn cuộc tình lịm chết tựa sao băng em hãy trách đời mang nhiều quyến rũ nên mãi mê ôm lạc thú trên tay trách gì tôi kiên nhẫn không còn đủ trách gì tôi rồi tôi sẽ trách ai em hãy khóc tiễn cuộc tình sâu đậm đã không về được bến hẹn trăm năm thu vẫn đẹp nhưng mùa thu buồn lắm có tình ta chiếc lá rụng âm thầm thu vẫn đẹp nhưng mùa thu se lạnh đêm sao mờ một cánh rớt rơi nhanh dòng sông cũ sầu trôi về hai nhánh em và tôi thôi như thế cũng đành ! Châu Thái Lê
22.9.2003
ctl@ctl-tho .com
Mục Lục


10. Người Anh Hùng Làng Bình Chánh Kính dâng hương hồn Thân Phụ Nguyễn Huê Hùng. Kính gởi về Từ Mẫu, các anh, chị và giòng họ ''Nguyễn'' làng Bình Chánh (Gia-Ðịnh) Thuở xưa : Có vị Anh Hùng, Ở làng Bình Chánh, lẫy lừng dọc ngang. Ðịch bao vây, chẳng đầu hàng, Khí Hùng bất khuất đâu màng tử-sinh. Con thơ, vợ đẹp quanh mình. Tổ-Quốc đi trước, gia-đình đến saụ Nhìn súng đạn, lòng chẳng nao, Mặc cho chúng nổ ghim vào ngực tim. Anh Hùng ngả gục giữa đàng, Thân trai trả nợ Giang-San mới vừạ Xác nằm trên vũng máu đào, Mắt trân tráo mỡ nhìn vào Ðịch quân. Tiếng thơm bay tỏa khắp Làng, Thân, sơ, đều đổ hai hàng tiếc thương ! Chết vì : Tổ Quốc - Quê Hương, Danh còn lưu lại, đời thường nhắc tên. ''Ngườí' đặt Dân-Tc lên trên, Xứng danh con cháu Rồng-Tiên đời đờị Trai Việt oai dũng rạng ngời, Nguyễn Huê Hùng, thật tuyệt vời thế gian. (Quán Cốc Paris 5ème , đêm 09-04-2000. Tức mùng 10 tháng 3 năm Canh Thìn, ngày giỗ Tổ Hùng Vương, và đúng 50 năm ''Nguyễn Huê Hùng '' đền nợ nước) Việt Dương Nhân

Mục Lục


11. Câu Bóng Xuân Thì Ngư ông ơi hởi ngư ông Cần câu không lưỡi, thực ông câu gì? Ngư ông ngoảnh mặt cười hì, Ta câu cái bóng xuân thì phôi pha. Ngàn ngàn năm đã trôi qua Ngân Hà lỗi nhịp lạc qua xứ này Ta ngồi câu bóng hồ này Móc theo ngàn sóng tỏ bày sông kia.
Song Tưởng Nhất Nguyên





Mục Lục


12. Lạc Dấu Chân Xưa Ðêm trở dậy, dòng trăng vờn lấp lánh gió đâu về thoảng lại chút hương hoa con đò nhỏ nằm nghiêng còn ngái ngủ đường em xưa sương khói vẫn chưa nhoà. ta về đó, ngọn sầu chong đã lụn bóng trăng thầm lẫn khuất lối mù khơi hương hoa ấy dường như pha vị đắng ngày đã xa, vệt sáng cuối chân trời. vẫn con đò bạc lòng cùng sương nắng dải cát bồi hôn bọt sóng từng đêm dòng nước cũ có còn men giọt lệ ? hạt cát nào in dấu bước chân em ? thao thức trải từng vật vờ kỷ niệm một chút buồn hiu hắt ngỡ bâng khuâng câu hát cũ đêm nào khua tịch mịch bỗng long lanh như rụng xuống thật gần. chút hạnh phúc vừa giật mình thức giấc trôi dịu dàng theo những sợi tơ trăng. (Trong tập LỜI RU ÐỜI)
mạc phương đình


Mục Lục


13. Chút Duyên Thu Muộn Long lanh giọt nắng bên thềm Thu em vàng cánh lá mềm tương tư Xanh trong vạt áo sương mù Tóc mây trắng đuổi tình thư chập chờn Giật mình duỗi cánh tay trơn Nắm duyên hụt hẫng nắm buồn trăm năm Em thu lạnh điếng tơ tằm Chết từ nợ kén tình cầm ơn dâu Thơ chăn chiếu đắp mộ sâu Cung thương ve gọi hạ sầu cô miên Xẻ ngăn máu đỏ oan khiên Bới trong nhang khói chút duyên bẽ bàng
Vũ Thị Thiên Thư



Mục Lục


14. Vắng Bóng Em lại một ngày qua thiếu vắng em anh buồn, thơ cũ lấy ra xem vắng em--anh mang ngàn nỗi nhớ đêm vắng từng đêm thấy chẳng quen điếu thuốc trên tay cháy trụi dần nhưng buồn cứ mãi tự đâu dâng, vắng em--áng mây như ngừng lại để thuốc trên tay cũng ngại ngần giờ lại từng giờ anh nhớ thêm nhớ bờ môi ngọt--thật ấm êm nhớ làn tóc rối bay trong gió giờ đã ba tuần với bốn đêm vắng bóng em rồi chỉ mỗi anh nhìn thu lá rụng lá mong manh bên kia trái đất em hay biết ? anh cũng như cây đã thiếu cành thêm chỉ một ngày nữa đó thôi anh như đã chết chín phần rồi vắng em thêm một vài hôm nữa, chắc trái tim này sẽ xé đôi !
Lâm Huân

Mục Lục


15. Ðấu Nào Ðong Thềm hoa dìu dặt chớm đông phong Năm tháng tương tư nát cõi lòng Hình cũ xem hoài buồn chẳng dứt Thư xanh đọc mãi nhớ không xong Cơn mơ chợt tỉnh hai hàng lệ Giấc mộng vừa xây một đóa hồng Em đã đi rồi sao chẳng nói Nhớ thương khôn lấy đấu nào đong. Trần Nhất Lang

Mục Lục


16. Có Phải có phải là em - mắt nai rừng hay là ao lạnh toả hơi sương say đắm hồn ai từng hơi thở gom cả trời thu với nắng vàng em nhốt "chiều vàng" trong lá thu để anh xao xuyến ngỡ môi thu cành treo lơ lững ánh trăng bạc áo lụa em bay óng ả hồ (thu) có phải môi em mọng tim đỏ nhìn anh ánh mắt "giá như sương" anh như ong bướm lượn quanh vườn muốn được cùng ai giữa nắng xuân HTlCG
30.7.2003


Mục Lục


17. đi, về đi, về với tôi: thơ ngây (làm đêm háo hức, mộng đầy rêu phong) với tôi về, có thong dong thong dong mấy, cũng phập phồng, băn khoăn chả gì! dâu bể cách, ngăn đá, vàng cũng mẻ, biết chăng lòng người! đi, về bên tôi: nụ cười hoa đang nở, nhưng rối bời ruột, gan hỏi rằng: chia tay khúc quanh lại hò hẹn, hay để dành trăm năm có, về với tôi mưa râm ướt đuôi mắt cố thì thầm với nhau để rồi mưa có nỗi đau trái tim muốn nhảy qua rào: [i]rong chơi[/i] cùng về với tôi: tơi bời bỏ lại vạt áo khêu đời nhớ, quên tặng riêng một chút bồng bềnh để rồi chung nỗi gập ghềnh, ủ ê đi, về sao không mang về quên chi mảnh vải vừa che chỗ nằm giông bão nào rất âm thầm không mạnh đủ ngã, nhưng ngầm thốn, đau đã về sao không mang theo phấn, hương lăn lóc trặc trèo bước chân lại quên mấy sợi tóc xuân hay là cố sót, để còn lôi thôi đường về: cũ, mới chung đôi cũ ai ngơ ngác đứng, ngồi chẳng yên mới ai cứ lo huyên thuyên để cho mới, cũ muôn niên thất tình đi, về cứ ngỡ một mình ai dè ! [i]thao thức[/i] rập rình theo sau

Nngương
Mục Lục


18. Lá Sầu Ðâu Lá sầu đâu trổ màu Sao mình mãia nhau Anh ơi! Thu đã đến Man mác gợi niềm đau Em như loài chim nhỏ Lạc giữa chốn rừng sâu Tìm đâu làn hơi ấm Nồng nàn thuở bên nhau Nay xa tầm tay với Em sống đời nỗi trôi Biết về đâu anh ơi Khi mình đã chia phôi Tháng năm dài nhung nhớ Ðường lối xưa em về Sân trường chiều im vắng Ngậm ngùi buồn tái tê Em như chiều mây tím Trong gió bạt ngàn bay Ðời là cơn lốc xoáy Mà mình nào có hay! Lá sầu đâu trổ màu Sao mình mãi xa nhau.

Ngô Thy Vân


Mục Lục


19. Nàng Ốc Mượn Hồn Loaì ốc mượn hồn….. tim chai đá Biển đời….. vỏ cũ hoá vô tri Cô mượn hồn lẳng lơ nơi khe đá Biếc xanh màu trong trẽo đáy ngàn hoa Biển im lìm sóng cả chẳng buồn ra Loaì sứa độc vô hình len trong nước Nàng ngượng ngùng hở duyên e ấp ngại Ngẩn ngơ lòng vỏ lạ quá mê say Thân nõn nà tuột vội đổi trao tay Ðam mê đến buông đời theo dòng dại Loài ốc biển vỏ đơì như thay ao Lẳng xuân thì so đọ maĩ tìm nhau Mặc rong rêu bám víu nhớm nhơ gào Nàng kiêu hãnh co mình trong vỏ mới Biển vẫn hiền mây xanh trời biêng biếc Ốc vẫn cười cô ốc vẫn hồn nhiên Nào ai biết vỏ buồn lên ngập lối Góp mộng tàn hoang đảo một đơn côi Ốc xa rồi vỏ cũ đắng màu vôi Bạc đầu theo bọt trắng sõai ngày trôi Vài lăn lóc biển lòng ngoi sóng nhỏ Mặt trời hồng trên baĩ khắc khe soi Từng muà rơi chân trời phơi khát vọng Nhật nguyệt vòng lông lộng sóng cuồng va Từ hôm ốc cợt tình trao bến lạ Ðáy khe buồn vỏ cũ hoá vô tri! 4th Mar 02

CC

Mục Lục


20. Cali Còn Nhớ hay Quên Paris ? Thung lũng Hoa vàng (0) trong tình xuân Cầu Kim Môn (1) nỗi nhớ xa gần Vịnh San Francisco sóng vỗ Ta gọi thầm Em mối tình chân * Xuân vọng nhớ thương đến bạt ngàn Tiếng đàn Lịch sử (2) khúc ly tan Em đã ra đi thuyền viễn xứ Quê nhà vẫn nhớ cánh hồng nhan * Giữa Sài Gòn Nhỏ (3) Phố Bolsa Còn đâu tà áo lụa thướt tha Quần bò (4) tóc xưa ba mầu sắc (5) Chút “vàng” hội nhập giày bata ! * Lái xe điên loạn đường thênh thang (6) Còn đâu gác trọ (7) lúc trăng tàn Nửa vầng đêm nay anh vẫn gởi Hợp nửa gác cầu treo (1) mênh mang * Gió lốc tình xưa đêm Paris Nụ hôn còn đọng chất xuân thì Sông Seine một sải cánh hồng hạc Ôm trọn Người Tình sáng Cali ! -- Paris, 12/2002 0. Silicon Valley 1. Golden Gate 2. 30/04/1975 3. Little Saigon 4. jean Lewis … do chữ cowboy ( boy = bò ) 5. tóc xưa ba mầu sắc = đen (tóc huyền ngày xưa) ++ trắng (thời gian 28 năm xa cách) +++ “Em” tự nhuộm “vàng” (blond) như Kim Basinger … Do ý chí hội nhập vào đời sống Mỹ ! ? 6. freeway 7. ký túc xá sinh viên Sài Gòn

Nguyễn Hữu Viện

Mục Lục


21. Lạc anh lại về, lén vào trong giấc ngủ nâng niu từng sợi tóc ướt, lau khô em quên hết, giận hờn ...nơi quá khứ say vòng tay, say pháo cưới: đợi chờ như chưa biết sợi hững hờ ....ai đã dệt hôm quạ Hoá kiếp đá phù du xưa, cứ tưởng mảnh tim thừa, chấp vá nay, chở đầy hạnh phúc giữa lòng Thu vắt cọng buồn còn thừa trong đáy mắt đền lại dòng khoảnh khoắc cách xa nhau tay tìm tay đan nụ cười, thắt chặt như sợ thêm một lần lạc mất . Ðau ... rồi bình minh ... mặt trời lên, thắp sáng mới hay rằng đời lẻ bạn, nằm yên gọi tên anh, nghe nhói đau dĩ vãng xa còn xa . Quên chẳng thể tìm quên ngồi đọc lại bài thơ tên: Một Thuở cỏ úa màu, lên tiếng nhớ . Người ơi ... Thu tiếc thương một cuộc tình dang dỡ lây lá vàng, rơi rụng khắp nơi nơi lời từ tạ viết cho người ...hơn thuốc đắng. Gởi xong rồi, lăn lóc giọt thương chắc hững hờ, anh quên, anh không đọc "không hồi âm". Anh chiều ý . Ðôi đường ... mai, làm lại người dưng . Cay môi, mắt bức tâm thư quẳn vào góc phố . Khô thơ vắng người, thơ trăm trăm lạc . Mất một màu xanh. Úp mặt nén: đợi chờ . november 21/ 03

Tâm Thư

Mục Lục


22. Ta Ði Giữa Ðời Thường Ta đi giữa đời thường Hôm nay , bỗng thấy gì thiêu thiếu Một chút gì vấn vương Của ngày xưa Bỗng trở nên đơn điệu Thèm một chút hôm qua , hôm nay Hòa lẫn Cái ngọt hiện tại Sao nhắc ta cái đắng hôm qua Cái ngọt hôm qua Làm dịu lại Cái đắng đời thường đang có... Ta đi giữa đời thường Hỏi xung quanh ta Mấy ai biết được Bầu trời kia Mặt đất đây Chỗ nào ta chạm trước Và đám mây xanh , mây xám Giăng phủ bầu trời mỗi ngày Có giúp ta hiểu được Ðời thường chỉ vậy thôị.. Ta như đám mây trôi mãi trôi Rồi một lúc Dừng lại Ta hiểu rạ.. Ta chỉ là dấu chấm.... 11/03 Quang Ngọc

Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Kén Chồng

Bích Hà





Ðàn ông năm bảy lá gan
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người

Ca dao mẹ đã dạy như vậy, nên tôi thường nhìn đàn ông với đôi mắt rất ngờ vực.

Thực ra mẹ tôi chẳng phải dạy gì nhiều, cứ xem cái cảnh mẹ suốt đời bị đè đầu cưỡi cổ bởi đức lang quân xem chuyện chồng chúa vợ tôi, như thiên đàng tuyệt vời của hạnh phúc lứa đôi, nên cứ mặc ông đi ngang về tắt, bạc bẽo phụ tình lắm phen, mà mẹ cứ một mực nhẫn nhục nín chịu, thực hiện nghiêm chỉnh câu:"Tam tùng tứ đức, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" cho đúng qui củ mà Ðức Khổng phu tử đã truyền dạy cho thế hệ của bà; rõ làm tôi ngán ngẩm phát chán, quyết tâm mơ mộng ao ước, sao cho lấy được một ông chồng nể vợ chìu chuộng và cưng tôi như trứng mỏng, lại:

Biết rửa bát quét nhà
Vợ gọi thì dạ, bẩm bà tôi đây

(nói thế cho đúng với ý của câu ca dao, chớ bây giờ, nhiều nhà có máy rửa bát và hút bụi, nếu chàng không biết rửa bát quét nhà, chắc cũng chẳng hề hấn gì). Tôi không biết các đấng nữ nhi khác nghĩ gì, nhưng chắc là chị dâu tôi, hồi đó đang cặp kè với anh Hai của tôi, nhất định không kén chồng kiểu:

Dốc lòng lấy anh chồng dốt nát
Ðể ra vào rửa bát nấu cơm

Vì anh Hai tôi chẳng dốt chút nào, dù sao cũng học xong đại học và có vài văn bằng khác tại Úc, tuy tôi thấy anh Hai tôi, sau vài năm lấy vợ đâm ra tiến bộ vượt bực, hiện giờ đã biết nấu nồi cơm điện, luộc trứng gà, nấu nước sôi và đi làm về cũng sốt sắng giúp vợ dọn dẹp nhà cửa! May quá! Chả là vì, anh là con trai một của mẹ tôi, từ nhỏ đến lớn, mẹ và các em gái lúc nào cũng tận tuỵ cưng chìu săn sóc anh. Nhờ chị dâu tôi đi nhà thương đẻ hai lần, anh phải ở nhà một mình, nên giờ mới biết luộc trứng!

Ui cha! Nhưng tôi e ngại nhất là tánh lẳng lơ đa tình trời cho của các ông, mà ca dao mẹ cũng dạy:

Lẳng lơ đeo nhẫn chẳng chừa
Nhẫn thì rơi mất lẳng lơ hẵn còn

Ôi thôi! Phúc đức tại thiên hay tại mẫu cũng nguy quá, phận má hồng nhỡ vô duyên vớ phải ông chồng có tính lẳng lơ trai gái, lại phong phú trí tưởng tượng, đêm đêm nằm bên cạnh vợ mà lúc nào cũng mơ màng tơ tưởng bởi: the other's grass always greener thì rõ khốn.

Trên trời có vảy tê tê
Có ông bảy vợ chẳng chê vợ nào

_Sớm mai đi chợ gò vấp, mua một sấp vải đem về
Con hai nó cắt
Con ba nó may
Con tư nó đột
Con năm nó viền
Con sáu đơm nút
Con bảy vắt khuy
Anh bước cẳng ra đi
Con tám níu, con chín trì
Ới mười ơi! Sao em để vậy còn gì áo anh??

Cuộc sống lứa đôi, trong một gia đình có ngót ngét 10 bà vợ của ông, hẳn đem lại nhiều thú vị, chỉ mường tượng câu ông đắc ý trả lời, thì cũng rõ sự tham lam vô bờ bến của các ông

_Sông bao nhiêu nước cũng vừa
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng

Chết chửa! Rõ ràng ông này thực sự có năm bảy lá gan, nên nhiều người hết mực can ngăn ông cũng chẳng thèm nghe gì ráo trọi.

_Lấy ai chỉ lấy một người
Ðâu phải tàu bè, mà chở tám mười khúc sông

_Một trâu anh sắm bảy cày
Một chàng bảy thiếp có ngày oan gia

Tôi sực nhớ đến các cụ, lúc trà dư tửu hậu, thi tứ sổ ra ào ạt, thường rung đùi tủm tỉm, gật gù cười đắc ý với nhau, lẩm bẩm suy tôn câu ngạn ngữ:
" Thơ mình, vợ người".

Tôi với sự thông minh hiếm hoi có chừng mực, cũng lờ mờ đoán ra là các cụ muốn nói rằng: Thơ của chính mình, dĩ nhiên bao giờ cũng hay nhất, cho dù các ông có gắng gổ làm bộ bày tỏ tinh thần khiêm cung từ tốn đến đâu đi nữă khiêm tốn là một trong những bách đức, mẫu mực mà các đấng quân tử mày râu phải có, theo như lời chỉ dạy của cổ nhân)_ dấu dưới vẻ khiêm nhường, các ông vẫn ngấm ngầm tôn thờ chủ nghĩa tự tôn tự đại, tự xem mình là tuyệt vời vô cùng của tài hoa, tuyệt đỉnh minh mẫn khôn lường của trí tuệ, là trung tâm sáng ngời của vũ trụ??

Các đấng trượng phu khi ở nhà với vợ, cứ vờ vĩnh một mực leo lẻo tuyên xưng:nhất vợ nhì trời, làm các bà tưởng thật, sướng rên, đâu có dè các ông đỉnh cao trí tuệ của chúng ta, sau khi cân nhắc lý lẽ, lượng định kỹ càng mọi khía cạnh, lại nhất trí phải bỏ hết tính tự tôn tự đại_ xem cái gì thuộc về mình cũng nhất_ đồng lòng dứt khoát tuyên xưng: thơ mình nhất, vợ người nhất; thế có lạ không?

Hỡi ôi! Phải chăng vì người ta hay đứng núi này trông núi nọ, nên vợ người khác bao giờ cũng đẹp hơn chăng? Hoặc giả cái gì chưa chiếm hữu được, trông cũng muôn phần hấp dẫn lôi cuốn các ông hơn? Ðiều này, phải chất vấn các ông, xem các ông trả lời như thế nào thì mới rõ được!

Cái câu ngạn ngữ vắn tắt "thơ mình, vợ người" kia, nhiều phần đã bày tỏ hùng hồn một minh chứng xác thực, cho tính hư hỏng truyền thống của các ông (đấy chẳng phải là tội lỗi của tổ tông đâu nhé, tôi nhớ kinh thánh chép ông Adam chỉ có mỗi bà Eva, nhưng truyền xuống đời của Abraham thì hỏng bét vì ông bắt đầu không noi gương của tổ phụ Adam để sống cảnh một chồng 1 vợ. Ngoài người vợ cả xinh đẹp tuyệt trần là Sarah, Abraham lấy người đầy tớ tên là Aga làm thứ thiếp, rồi lúc về già lấy thêm nàng Kêtura).

Tôi không ưa Abraham, tổ phụ của người Do thái và dân Ả Rập, vì sự bạc bẽo hèn nhát của ông đối với vợ. Trong Sáng thế ký, đoạn 12 từ câu 10 đến hết đoạn, chép rằng: Khi gặp cơn đói kém, Abraham phải qua kiều ngụ tại xứ Êđíp- tô, vì bà vợ Sarah của ông quá đẹp, sợ dân Êđíp- tô giết ông để đoạt vợ, nên ông chỉ nhận bà là em gái, thế nên vua Pharaôn vời ngay bà vào cung, hết sức hậu đãi ông anh vợ, tăng cho ông không biết cơ man nào là tôi tớ, chiên bò, gia súc. Ừ! Thì cứ cho là ông Abraham vì bảo vệ mạng sống của mình, hay vì bảo tồn gia đình dòng họ_ mà ông có trách nhiệm phải dẫn dắt lãnh đạo trên con đường di cư qua xứ Ai cập_ đành hy sinh tình riêng và sĩ diện, mới bị bắt buộc phải làm thế, nhưng ông Abraham đâu có cư xử với bà Sarah như vậy chỉ một lần, để tôi có thể lấy lòng dễ dàng cởi mở hơn, mà xét đoán cho chuyện chẳng may lỡ vận cùng đường, mới nhường vợ cho người ta của ông. Kinh thánh chép, khi ông rời xứ Êđíp-tô xuống miền Nam, ông lại chơi trò đánh lận con đen ấy một lần nữa với vua A-bi-mê-léc. Ông chỉ vào người vợ sắc nước hương trời Sarah mà bảo với vua rằng: "Thưa, cổ là em gái tui"

May mà lần này, vua chưa kịp vui vầy gì với nàng Sarah, Ðức Chúa trời hiện ra trong giấc chiêm bao mà quở trách vua, khiến vua sợ hãi phải trả vợ lại cho Abraham.

Hú vía, không biết bà Sarah có thờ Ðức Khổng tử hay không? Mà bà một lòng xuất giá tòng phu, chồng biểu gì cũng không hề cãi cọ lôi thôi, một mực phu xướng phụ tùy, răm rắp tuân theo. Nếu lỡ lấy nhằm người chồng bạc tình như thế và phục tòng chồng theo kiểu của bà Sarah, thì tôi hổng ham, thà ở giá, chẳng cần già kén kẹn hom chi cho mệt. Mẹ tôi hồi đó, mỗi lần bị cha tôi ức hiếp, ngồi buồn so một góc.Tôi thấy cha chuyên chế, bất công lại bạc tình, làm mẹ tôi sống một đời buồn phiền thiếu ý nghĩa, nên tức giận, bất bình thay cho mẹ, tôi bảo bà:

_Hơi đâu mà má buồn, chồng không thương nữa thì bỏ ổng phứt đi cho rồi.
Mẹ tôi bảo:
_Ðàn bà hơn nhau, chẳng qua là hơn ở chỗ phước phận, chẳng phải vì tài năng, giàu nghèo, hay đẹp xấu đâu con.

Lúc đó tôi còn nhỏ, chẳng hiểu rõ được xã hội, phong tục và luân lý đã trói buộc người đàn bà Việt Nam trong thế hệ của mẹ như thế nào, không cảm thông được nỗi khắc khoải đau đớn vô cùng của mẹ, nên mới nói vậy. Tôi chắc ý bà muốn nói: Chẳng phải vì mẹ dở, chẳng phải vì mẹ không đẹp, không đảm đang nên bị chồng đì đến thế đâu con, tại ông trời xui khiến thế thôi!
Mẹ thuộc hằng trăm bài ca dao tục ngữ, thơ Kiều mẹ thường để dưới gối và thuộc vanh vách, bà thường đọc cho tôi nghe:

Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao

Mẹ nhẫn nhục cho qua một kiếp người, trọn đạo làm mẹ làm vợ cho dù bị ông trời, Ðức Khổng tử, và đức ông chồng_ đè mãi trên đầu trên cổ. Thuyết định mệnh tuyệt đối mà mẹ tin, như doạ dẫm nhắn nhe tương lai cuộc đời tôi: kén chọn gì cho tốn hơi mệt xác, trời đã định mọi việc cả rồi!

Nghe tới đây, chắc mọi người hiếu kỳ cũng suy nghĩ, nhan sắc tài năng cô thế nào mà kén chọn dữ vậy? Tôi xin trích bài ca dao đặc biệt, khả dĩ diễn tả được phần nào vẻ duyên dáng trời cho của tôi và xin thưa là: nghe lời mẹ dạy, từ đó tôi chẳng dám xét nét kén chọn gì nhiều nữa!! Và cũng xin thưa: theo thiển ý của tôi, ngày xưa phụ nữ không đươc cắp sách đến trường, dù ca dao là văn chương bình dân truyền khẩu, hẳn số lương ca dao đã sáng tác, phần lớn đều do các ông là tác giả.

Tôi là:

Cô gái Sơn Tây yếm thủng tày giần
Răng đen hạt nhót, đôi chân đi cù lèo
Tóc rễ tre chải lược bồ cào
Xù xì da cóc, hắc lào tứ tung
Trên đầu chấy rận như sung
Rốn lồi quả mít, má hồng trôn niêu
Cô tưởng mình cô ái ố mỹ miều

Chồng con chả lấy để liều thân ru?
Hai nách cô thơm như ổ chuột chù
Mắt thì gián nhấm, lại gù lưng tôm
Trứng rận bằng quả nhãn lồng
Miệng cười tủm tỉm như sông Ngân Hà
Con rận bằng con ba ba
Ðêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh
Hàng xóm vác gậy đi rình
Hoá ra rận đực nóng mình bò ra
Bánh đúc cô nếm nồi ba
Mía de tráng miệng hết đà trăm cây
Giã gạo vú chấm đầu chày
Xay thóc cả ngày được một đấu ba
Ðêm nằm nghĩ hết gần xa
Trở mình một cái gãy mười ba thang giường

Bích Hà


Mục Lục


2. Giấc Mơ

Vũ Thị Thiên Thư



Người thanh niên tay xách cái túi nhỏ hành trang, đứng trong hàng nối đuôi theo nhau như trò chơi rồng rắn, kiên nhẩn chờ đợi ở trạm kiểm soát để được lên phi cơ , khuôn mặt trẻ hằn những dấu âu lo, từng trải, đôi bàn tay sần sùi của người quen làm những công việc tay chân .Anh đứng im lặng thờ ơ, chờ người nhân viên an ninh trong phi trường kiểm soát hành lý và trao trả lại vật dụng cá nhân . Bên trong căn phòng nhỏ, nơi chờ đợi, đã chứa đầy những người và người, dăm đôi hành khách lớn tuổi ngồi đọc báo hay lơ đảng nhìn ra khung cửa. Một cặp vợ chồng, tuổi độ trung niên và hai đứa trẻ đứng xếp hàng phía trước, người vợ dắt đứa con trai chừng ba bốn tuổi, đứa bé gái lớn hơn thì níu tay Bố, ông ta đang cho tay vào túi quần móc hết những đồng tiền lẻ cho vào dĩa , cởi cả thắt lưng và giầy ném vào khay nhựa, rồi dắt con đi qua cổng dò kim khí.Tiếng máy kêu lên báo hiệu, anh nhân viên kiểm soát bước lại mời ông ta đứng sang một bên để nhân viên dùng máy rà tay kiểm soát trên người, ông bật cười nói với người vợ

- - Tôi đã khuyền cáo, mình thua cuộc rồi đó. Ông ta móc ra một nắm tiền một xu, cho vào dĩa nhựa rồi nói với người nhân viên
- - Chúng tôi đánh cá nhau, nhà tôi không tin là khi tôi đi qua cổng, máy dò kim khí có thể phác giác được những đồng xu nhỏ nầy, bà ấy thua rồi.

Họ vui vẻ đi trở lại lần nữa rồi dắt hai đứa bé cưới nói tíu tít đi vào phòng chờ đợi. Ðến lượt tôi ,anh nhân viên bảo cởi giầy, bỏ chiếc áo khoát dầy cộm và xách tay vào khay nhựa rồi đi qua cổng, đến bàn để nhận lại các vật dụng, ngươì nhân viên xin được kiểm tra, tôi mở sắc tay, trút hết các thứ lỉnh kỉnh bên trong, anh ta mở cả thỏi son môi và bao đựng viết cho tất cả vào mâm, mang trở vào máy X-ray một lần nữa rồi trả lại cho tôi. Thật là buồn cười cái thỏi son môi vô tội và mấy món hàng lỉnh kỉnh được chiếu cố cẩn thận.Chẳng biết tất cả những kiểm soát nầy có thật sự khám phá được những mưu đồ phá hoại không, nhưng mỗi ngưới có phận sự phải làm, mấy người nhân viên kiểm soát chỉ thừa hành theo mệnh lệnh thôi. Tôi lặng lẽ sắp xếp lại các vật dụng, cho vào xách tay rồi sang phòng chờ đợi.

Nhìn trở lại thấy các em còn đang lóng ngóng chờ ngoài hành lang, tôi khoát tay ra dấu bảo các em về đi. Ðoàn người rồng rắn lần lượt mất khúc đầu , những hàng ghế đầy người qua trạm vào tìm chổ nghỉ chân .Tôi ngồi xuống một ghế trống tựa lưng vào vách , nhìn màu nắng vàng nhảy múa ngoài cửa sổ, từ giã thung lũng hoa vàng và những toà building bỏ không, những tòa nhà đã có một thời nhộn nhịp với bãi đậu xe đầy những chiếc xe ngoại quốc đủ màu, một thời làm cơ sở của thiên đàng điện tử, giờ vắng ngắt , đứng lặng lẽ im lìm, trở về Ngũ Ðại Hồ thân quen hơn phần tư thế kỷ, với màn sương trắng mù mù và những hoa tuyết cuối mùa long lanh …….

Tôi thờ ơ mở quyển tạp chí, chử nghĩa nhảy múa trước mặt , những hàng ghế ngồi đã đầy người chờ đợi , đôi vợ chồng ngồi cạnh nhau , hai đứa bé mở ba lô mang ra các trò chơi điện tử cầm tay, hai ngón tay không ngừng bấm, âm thanh ríu rít, ánh sáng xanh đỏ nhảy múa theo, chúng nó có vẻ quen thuộc vói trò chơi và trong phòng chờ đợi, cũng không có vẻ xôn xao tò mò như những trẻ lần đầu tiên được đi xa. Chán với trò chơi điện tử, hai đứa trẻ thu gọn hành lý rồi dắt nhau ra dí mũi vào khung cửa kính nhìn những sinh hoạt tấp nập bên ngoài.

Người nhân viên của hảng bay đi vòng quanh kiềm soát vé của hành khách, chuẩn bị cho mọi người lên phi cơ, đôi vợ chồng già ngồi lặng lẽ cũng xếp vật dụng vào xách tay, ưu tiên cho trẻ con và ngưới lới tuổi, họ lần lượt nối đuôi nhau vào phi cơ, tôi cũng theo chân những người trong hàng. Nghiêng người, kéo cái xách tay, lách qua hành lang chật hẹp trong phi cơ, nhìn lên bảng số thứ tự tìm chổ ngồi , hàng ghế ba chổ vần chưa có người ngồi, chọn chiếc hãy còn trống, như thói quen, tôi ngồi xuống ghế cạnh đường đi. Người thanh niên lơ đãng trong phòng chờ đợi ban nãy cũng tần ngần nhìn vào số ghế, rồi hỏi tôi bằng tiếng Anh
- - Thưa bà , có phải đây là ghế số hai mươi C không ?
- - Vâng, Tôi thật vô ý, xin lỗi nhé.
- - Thưa bà không có chi, tôi chọn ghế phía ngoài để dể di chuyển thôi.

Tôi trả lại ghế cho người thanh niên rồi vào ngồi cạnh cưả sổ, phi cơ vẩn còn nằm yên trong cổng dù đồng hồ tay đã quá giờ bay nửa tiếng. Quyển tạp chí lại mở ra hờ hững , chử nghiã cũng lơ mơ như những giọt nắng vàng nhảy muá ngoài cưả sổ. Cái sức nóng ngột ngạt và không khí tù hãm trong phi cơ , hành khách hầu hết đã ngồi vào chổ, những người tiếp viên trong đồng phục đã đi dọc theo hành lang đóng lại những hộc hành lý trên đầu. Chờ đợi nào cũng thăm thẳm , đi về naò cũng xôn xao . Người thanh niên bồn chồn nhìn ra khung cưả sổ cuả phi cơ nhỏ như cửa tò vò. Nóng hâm hấp, nóng như những ngày tháng đầu muà mưa trên quê hương yêu dấu , nóng như tháng hạ nào xa lắt.xa lơ trong ký ức miệt mài .

Cuối cùng rồi cũng cất cánh bay, nhìn xuống đồng hồ tay, đã trể mất một giờ, từ hôm sang đây, tôi vẩn không thay đổi kim đồng hồ , giờ nầy vẩn là giờ Chicago, buổi trưa, bên ấy trời có lạnh ? Hôm ra phi trường , mang theo cái áo len dầy cộm của mùa đông, nghĩ rằng khi trở về có thể sẽ cần đến. Thời tiết ở Chicago cũng bất thường như tấm lòng cô gái mới lớn, thoạt ấm thoạt lạnh, ngày đang đẹp, nhìn những người bộ hành tung tăng vui bước trong hàng hiên với quần áo muà hè giản dị, chỉ cần một chút nắng chút gió xoay chiều, lạnh buốt da trần, người người run rẩy tránh vào các cưả hàng,bước vội ra xe, nhiệt độ đang từ tám mươi bốn độ F hạ xuống bốn mươi tám độ F chỉ trong phút chốc .

Nhìn quyển sách trên tay tôi, anh ta hỏi tôi, tiếng Việt trôi chảy
- - Chị là người đồng hương phải không?
- - Tôi không giống người Việt Nam sao ?
- - Không phải vậy, tôi chỉ sợ nhận lầm người thôi, chị không giống người ở Cali
- - Tôi nhìn như người lạ ?Vâng, tôi chỉ đến thăm Cali thôi, giờ trở về.
- - Ở Chicago mùa nầy có còn lạnh không?
- - Mùa nầy đang vào xuân, ban ngày ấm hơn trước, nhưng đêm về vẩn còn trên dưới bốn mươi độ Farenhei
- - Ôi chà, lạnh quá vậy!
- - Nếu quen với nắng ấm Cali thì đúng là lạnh thật , nhưng tôi sống ở đó khá lâu rồi, nhiều hơn những năm tháng lớn lên sinh sống ở quê nhà, đôi khi vẩn tự hỏi mình , quê nhà? Ở đâu là quê nhà? Nơi sinh ra và nơi đang sống, mỗi nơi đều yêu thương quyến luyến, mỗi nơi đều nghĩa nặng tình sâu, tại sao đang ở nơi nầy vẩn nhớ nhung da diết, mỗi lần giao mùa, thêm xao xuyến bâng khuâng, mỗi lần Tết quạnh hiu lại buồn đau gậm nhấm.
- - Tôi đi ngang qua đấy đôi lần, lần nầy đổi máy bay, phải chờ chuyến bay kế tiếp nên định ra ngoài dạo phố chơi một vòng cho biết, từ phi trường về trung tâm thành phố có xa không?
- - Cũng không xa lắm, nhưng anh chỉ có hai giờ chờ chuyến bay thì tôi nghĩ rằng không đủ thời gian đâu. Chicago nằm dọc bờ hồ, có rất nhiều Viện bảo tàng, các kiến trúc lịch sử, và nhiều thắng cảnh nên thăm viếng. Nếu anh có thời gian thì hãy ở lại đôi ngày mới có thể đi được các nơi. Nhất là các khu phố của mọi sắc dân, khu thương mãi, hay ngay cả những kiến trúc mới mẻ tân kỳ.
- - Rất tiếc, tôi không còn thời gian, phải về nhận việc ở Philadelphia, có người bạn thân hiện đang bên ấy, chúng tôi hùn nhau mở một nhà hàng, bạn tôi đã chuẩn bị từ mấy tháng nay, hiện thì cơ sở đã sẳn sàng, anh nhắn tôi bay sang để bắt tay vào việc.
- - Anh đã từng làm nhà hàng bao giờ chưa?
- - Tôi đã đi làm cho nhiều nhà hàng, chổ tôi vừa xin thôi cũng là một nhà hàng lớn, tôi để ý học hỏi, hiện nay có thể đứng bếp chính, công việc đã quen thuộc, vã lại, chẳng lẻ mình đi làm công hoài, không thể khá hơn được, nên mới tính nhào ra làm chủ một phen.
- - Thường thì phi thương bất phú, anh có gan thì làm giàu mấy hồịTôi chúc anh và người bạn thành công
- - Cảm ơn chị.

Chuyến bay cất cánh muộn hơn giờ dự định. Trẻ con cũng không còn háo hức nhìn qua khung cửa sổ tò vò của phi cơ. Câu chuyện bâng quơ, mỗi người lại lặng lẽ theo đuổi những ý nghĩ tiêng tư. Tôi mang tờ tạp chí ra đọc, hôm đi, mang theo quyển sách nhỏ, vẩn còn nằm yên trong ngăn kéo bên hông cái xách tay, trở về , lại mang thêm một mớ sách nữa. Lang thang ở khu phố của người đồng hương, nhìn thấy quán sách èo uột nằm khiêm nhượng, tôi bước vào, đảo một vòng chunh quanh, bao nhiêu tên tuổi, những người cũ, mới nằm lẩn lộn vô hồn, bụi bám đầy trên giá, nhớ lại mớ sách vở nâng niu góp nhặt , dành dụm chút tiền quà bánh hàng ngày để mua từng quyển, một trang sử lật qua, một nền văn hóa ngỡ đã cháy tiêu theo ngọn lửa hồng, nhưng cuối cùng vẩn còn mang ra bán đầy vĩa hè, góc phố. Lịch sử bao nhiêu lần thay đỗi, mỗi một triều đại dựng lên, một chính thể mới đặt xuống , đều truy lùng tận diệt những tàn dư của thời đại trước. Tần Thủy Hòang đốt sách chôn học trò, có phải vì muốn thay đổi hòan toàn cách giáo dục và nền tảng triết lý ? Lon Nol lùa tất cả giới trí thức vào The Killing field có phải muốn hòan toàn hủy diệt những gì còn sót lại của một bộ máy cầm quyền , cũng như ảnh hưởng của nền giáo dục trước đây ? Bao nhiêu lần sữa sai, bao nhiêu lần đổi mới, kết án rồi lại phục hồi, kể tội rồi tâng công , giết từ trong trứng nước, hay nhổ lúc cỏ còn non ?

Tiếng người đồng hành nói nho nhỏ đều đều, từ những câu chào xã giao, sang thăm hỏi, tiếng Mẹ thật ngọt ngào lưu luyến, chuyện trò đôi chút cho quên đi những âu lo ngồi trong khối sắt ngàn cân, bay trên bầu trời trắc trở. Những ánh mắt bàng quang, những khách hành lạc lõng, phương tiện kỷ thuật thật tân kỳ, chuyện di chuyển nhanh chóng của con người gom chung lại những kẻ phương đông người phương tây, dăm ba ngàn cây số chỉ mất mấy giờ bay .
- - Hồi xưa chị ở đâu vậy ?
- - Tôi ở Sai gòn cho đến ngày mất nước, sau đó thì về quê sống
- - Về quê thì sống nổi gì, tôi cũng nghe lời nhà nước đi về kinh tế mới, nước nôi chẳng có, đất đai trồng sắn trồng mì cũng chẳng kiếm nổi miếng ăn. Cuối cùng rồi lại bò về thành phố vất vưỡng kiếm sống, may mắn nhào theo người vượt biên, chớ làm gì có tiền bạc mà lo lót, họ bàn chuyện vượt biên tôi tình cờ nghe được, sợ bể nên họ bắt tôi theo, số tôi chưa chết, lang thang bên đảo, gom được mấy thằng con mồ côi, thằng chiều chiều ra biển nhìn ngọn hải đăng nhớ Vũng tàu khóc ngất, thằng bạo gan đi làm thuê vác mướn kiến tí tiền, qua đây rồi thì vào hội thiện nguyện học hành dăm ba chử kiếm cơm. Còn tôi lăn vào nhà hàng bắt đầu chân phụ bếp, học nghề nấu nướng, bây giờ thì tay nghề cũng khả dĩ. Nộp đơn xin đòan tụ đem được thằng em sang, lo cho nó học hành, nó an thân rồi tôi cũng rảnh taỵThằng bạn cũ hồi trên đảo cũng đi làm bấy lâu nay, rũ nhau dành dụm, tìm được địa điểm nên chúng tôi thử thời vận một phen.

- - Nhà hàng thì lúc nào cũng sống được, chẳng biết có làm giàu nổi không.Tôi cũng quen biết một số bạn bè, có người thành công đứng vững, cũng có người vất vã qua ngày, nhưng chưa ai bị đói hay vỡ nợ gì hết.
- - Tôi nghĩ mình qua đây chỉ có hai bàn tay, xứ nầy không kỳ thị người có khả năng, dù có thất bại cũng còn cơ hội khác.
- - Anh hãy còn trẻ, chuyện trì chí thì thành công mấy hồi. Làm nhà hàng cực nhọc quá, anh có nghỉ đến chuyện đi học lại không ?
- - Trước khi giải phóng tôi đang đi học trung học ngon lành, Ba tôi là ngụy quân bị đi cải tạo, nhà nước khuyên Mẹ tôi nên về kinh tế mới , chúng tôi khăn gói đi, đến lúc không còn gì bám víu, trở về thành phố thì nhà cửa chẳng còn, kiếm ăn còn chưa có thì còn nói gì đến chuyện cắp sách đến trường nữa. Sang đây thì Anh Ngữ học tiếng được tiếng mất, thôi lo đi làm kiếm tiền gởi cho Mẹ nuôi em. Giờ thì lở mùa sái tiết, chỉ muốn kiếm cơ sở làm ăn, xây sự nghiệp.
- - Ở đây thì tuổi nào cũng có thể trở lại trường đi học , đâu có ai cười mấy ông bà tuổi lớn còn cắp sách đến trường đâu. Thích thì cứ đi học lại, mấy người đi học bây giờ mới thật sự học thêm vì không phải lo chuyện thi đậu lên lớp hay thi rớt vào quân trường, hay học lấy mảnh bằng đi làm kiếm gạo cơm. Nếu có chút thời gian, anh hãy thử vào trường xem sao .
- - Vâng, chuyện đó cũng còn lâu mà, tôi làm ăn ổn định rồi sẽ tìm trường gần nhà thử thời vận một phen.

Câu chuyện chẳng đi đến đâu, giống như hai khóm lục bình trôi hững hờ theo dòng nước. Tôi cũng không trở lại quyển tạp chí trên tay, người thanh niên một lần nữa chìm trong những ý nghĩ riêng. Nhắm đôi mắt lại, giấc ngũ không về như ý muốn.Trong công việc mưu sinh hàng ngày, cũng như bao nhiêu người khác, quanh quẩn cuốn vào cái vòng quay quắt, đã lọt vào guồng máy và không thể bước trở ra, một là lăn theo , hai là cuốn nát. Nhìn lại những ngày tháng bơ vơ chân ướt chân ráo đến đây, gặp lại cô bạn quen từ ngày còn mài ghế trung học, người bạn may mắn chạy theo đoàn tàu xấc bấc xang bang, cô lấy chồng khi chưa kịp rời ghế nhà trường, một bước lên bà, nhanh chân sang đất lạ, làm lại cuộc đời rồi nhởn nhơ nhìn người khinh miệt. Cái mặc cảm tự tôn như giọt cường toan ăn mòn, như vết chàm không xóa được, cuộc sống quá phù du, tại sao lại bận tâm đến chiếc xe hiệu gì ? đời mấy ? căn nhà mua bao lâu rồi ? Cái hạt kim cương lấp lánh kia nặng bao nhiêu? Bên trong lớp áo mang nhản hiệu đắt tiền liệu có che giấu được cái tâm địa xấu xa trơ trẻn ? Phúc hưởng bao lâu ? cuộc đời có mấy ai giàu ba họ, khó ba đời ?

Bên kia khung tò vò là mảnh trời xanh ngắt, những lớp mây trắng dầy đặc dưới chân, tiếng động cơ rì rào xuyên qua mấy lần vỏ phi cơ, âm thanh đủ xoáy vào đầu óc miên man, chuyến đến Ó Hare lần đầu tiên đã hơn phần tư thế kỷ qua, ngơ ngác như bầy chim lạc, hành trang là nổi âu lo bất định, lê đôi chân tê cóng, mười bảy giờ ngối bó gối trên phi cơ, đôi chân như phản kháng, không chịu chống đở cho thân hình chưa đầy trăm cân Anh, hậu quả của những ngày đói xác xơ trong trạịHon hai mươi lăm năm, bao nhiêu chuyến đi về, bao nhiêu lần trên cao nhìn xuống thành phố, những tòa nhà chọc trời như những ngón tay dài cố vươn lên lôi kéo, mời mọc.

Những chuyến đi xa,bao giờ cũng có người thân yêu bên cạnh, chuyến đi nầy, một mình, phơ phất . Trong cái xách tay chứa mấy thứ vật dụng lỉnh kỉnh, cây bút chì và trang giấy xếp nhỏ, cái thói quen từ những ngày lang thang trên giảng đường, bao nhiêu dòng chử li ti chi chít không chừa lại một khoảng trống nào. Chử nghĩa bao nhiêu mà chứa cho đầy nổi nhớ, gấy mực bao nhiêu mà ghi lại hết những niềm thương? Khung trời rộng bao la cánh chim nào không mõi, chân dù có đi hoang cũng phải có nơi chốn quay về. Bạn bè chỉ là ánh đèn đêm, bùng lên để tắt ngấm, gia đình là ánh nắng dịu dàng, ngày ngày vẩn rạng, niềm vui gặp nhau mong manh trân quí, trở về, nhìn lại mái tóc điểm sương, vào ra hàng ngày như chiếc áo cũ còn vấn vương hơi hám, như ấp ủ ngày giá băng, như tưới mát ngày hạ nồng.

Phi đạo trải dưới chân hai hàng đèn lấp lánh, nắng tắt đã từ lâu, trong phi cơ, những khuôn mặt đợi chờ muôn vẽ, đôi mắt long lanh của cô gái trẻ, đôi vợ chồng già líu ríu xếp lại mảnh chăn đắp, người bạn đồng hành của chuyến đi cũng nhấp nhổm xoay người, cuối cuộc hành trình , hay một chặng qua đi, rồi cũng sẽ về đến nơi chốn an bình, hai hàng đèn trong khoang sáng ngời trên những khuôn mặt băn khoăn chờ đợi, gấp lại tờ tạp chí trên tay, nhét vào sắc, xếp cái khay trước mặt, như những người cùng đòan, tôi trở về điểm tựa của chính mình, tôi trở về cái không gian nho nhỏ, mái ấm đơn sơ, về với cội tùng già vững chắc, tôi như sợi tơ hồng mênh mang quấn quít, như con chim nhỏ đậu trên nhánh an bình .

Từ giã người bạn đồng hành, trả anh lại với American 's dreams, ước mơ của mọi người về một thiên đường bình yên, về một cuộc sống tự do theo đuổi , thực hiện những giấc mơ..

Cuối khung cửa kia, qua khoảng hành lang ngắn, anh đứng thậtvững chắc, khuôn mặt an vui, điểm tựa của tôi, của nhửng chương trình ngắn dài , sau trước, của cuộc đời hẹn nhau từ thuở nào, lưu lạc, quay quắt , buồn vui .

Vũ Thị Thiên Thư
7/03

Mục Lục


3. Mùa Nước Lũ ( kỳ 17)

Trần Công Nhung



Thảo lôi trong giỏ xách tấm nhựa xanh, hai người trải tấm nylon sát vào một gốc thông lớn. Vừa ngồi xuống, Nam nói sang Thảo :
- Em thay áo chớ không lúc về áo dài em sẽ nhăn hết.
- Có áo mô mà thay, hồi sáng không nói.
- Có đây.

Thảo ngạc nhiên nhìn Nam:
- Mô mà có đây ?
Nam cởi áo sơ mi đưa cho Thảo :
- Anh có mai-ô được rồi , em mặc tạm đi.
Thảo vừa sững sờ vừa mắc cỡ :
- Kỳ quá, chỗ nào mà thay?
- Chỗ này chớ chỗ nào.
- Mà anh không được nhìn nghe chưa ?
- Thưa cô vâng ạ.
Thảo đấm vào lưng Nam:
- Ông là tinh lắm. Anh coi quanh mình có ai không ?

Nam đứng dậy nhòm chừng :
- Không có ai hết, em thay áo đi.

Thảo do dự rồi mở nút áo. Kéo áo ra khỏi tay, Thảo thấy lành lạnh. Nhìn xuống ngực, bất giác Thảo rùng mình, hình ảnh Sơn Chà lại hiện ra. Thảo chậm chậm khoác cái áo của Nam, hơi ấm làm Thảo dễ chịu.
- Xong chưa ?
- Xong rồi, anh ngồi xuống đi. Em hỏi thiệt lúc nãy anh có nhìn em không ?
- Em không cho phép anh đâu dám.
- Thảo nói một cách không vui:
- Anh mà không nhìn, khó tin.

Nam ngồi xuống, ôm qua eo Thảo nói nhỏ vào tai nàng:
- Xin lỗi, anh có nhìn, đẹp quá đi.
- Thiệt không, mà cái gì đẹp ?
Nam dí một ngón tay vào ngực Thảo :
- Cái này chớ cái gì.
Hai người lại rúc đầu vào nhau. Nam thì thầm:
- Anh thì hồi hộp còn em thì mặc áo mau cho cố. Mới thấy là hết liền.
- Anh, em thấy làm cây Thông thì có gì thích thú mà cụ Nguyễn Công Trứ lại bảo :
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây Thông dứng giữa trời mà reo.
- Làm sao mà hiểu thâm ý các cụ, anh thì anh chỉ ước được làm cái kẹp tóc của em, suốt ngày được hôn tóc em.
- Em hỏi thiệt mà khi mô anh cũng cứ chọc em.
- Anh không chọc đâu. Nếu em là anh, em cũng ước ao vậy thôi. Tóc em thả cũng đẹp, kẹp cũng đẹp, ngay cũng đẹp, rối lại càng đẹp hơn.

Thảo không ngờ Nam lém dữ vậy, vừa thích lối nịnh của Nam vừa tức vì nói không lại.
- Sao mà anh khéo vậy ?
- Khéo cái gì em ?
- Khéo nịnh...
- Nếu em cho anh nịnh chắc anh nịnh suốt ngày. Ai mà không thích nịnh đàn bà. Mỗi lần chọc em bí anh thấy vui ghê.
- Thấy chưa, ác vừa thôi nghe. Anh nè...Ra trường rồi lỡ mỗi đứa một nơi thì răng anh ?
- Em đừng lo, từ từ rồi thu xếp. Mọi chuyện do nơi mình. Giờ có ngồi bên nhau như hôm nay mà em không thật tình với anh thì cũng bằng xa vạn dặm.

Thảo nhéo vào tai Nam :
- Nói chi lạ rứa. Anh thích dạy ở mô ?
- Nơi nào có Thảo là anh thích, dù biển cả hay rừng sâu.

Thảo dựa hẳn vào Nam, Nam choàng tay qua người Thảo. Lắng đi mấy giây, Thảo nói như thật :
- Anh dạy cho em đi.
- Dạy cái gì ?
- Lối tán hươu tán vượn của anh.

Nam ôm chặt người Thảo vừa nói :
- Dạy nè..

Hai người lại cười rúc rích. Nắng đã gần đứng bóng. Giữa rừng mà ít tiếng chim. Một vài chú chim sâu chách chách kiếm mồi. Thảo ngồi ngay dậy :
- Anh đói bụng chưa ?
- Em đói chưa ?
- Hơi đói.
- Anh đói rồi, mình ăn đi.

Thảo cười chúm chím, lấy đồ ăn ra. Trong khi ăn Nam hỏi :
- Em có thích màu tím không ?
- Sao anh ?
- Anh thấy em hai áo dài trắng mà chưa có cái màu để thỉnh thoảng đi chơi.

Thấy Thảo làm thinh, Nam tiếp :
- Em đã nghe bản nhạc Tà Áo Tím chưa ?
- Dạ chưa, hay không anh ?
- Tuyệt, tác giả bản nhạc là thầy dạy anh môn Văn lớp Ðệ Tứ.
- Ai rứa anh ?
- Nhạc Sĩ Hoàng Nguyên, thầy Hoàng Cự Phúc.
- Bây giờ Thầy ở mô anh ?
- Ở đây, thầy còn trẻ lắm.
- Rồi sao nữa anh ?
- Anh sẽ dành tiền may cho em một "Tà Áo Tím"

Thảo lặng người, cảm động. Hai tay bóp chặt tay Nam. Một lúc lâu Nam nhắc:
- Em thích không ?
- Anh thích là em thích. Em học được anh rồi đó.

Nói xong Thảo cười nhè nhẹ. Nam cất tiếng hát thì thầm :
Ước mong sao áo màu khép kín tim nhau,
để rồi chiều chiều tôi đi bên dòng Hương Giang, mong tìm lại tà áo ấy.
Màu áo tím nay thấy đâu, người áo tím nay thấy đâu,
Dòng nước vẫn trôi cuốn mau.
Rồi chợt nghe tin qua lời gió nhắn, người áo tím qua cầu và áo tím phai màu.
Ðể dòng Hương Giang hờ hững cũng nao nao .....

Lời nhạc êm như ru , Thảo có cảm giác lênh đênh bềnh bồng . Thảo ép người vào Nam. Nam như chìm vào khoảng không trầm lắng. Tâm tư như trôi dạt về một nơi nào. Bổng Thảo ngồi xoay lại hỏi Nam:
- Em thấy lúc nào anh cũng thích những hình ảnh lững lờ chắp vá, sao vậy anh?
- Anh không hiểu ý em.

Thực ra Nam không ngờ Thảo có nhận xét sâu sắc như vậy. Thảo cũng lúng túng:
- Em hỏi bất chợt vậy thôi chứ em cũng không rõ nữa. Áo tím của em chỉ mặc khi đi với anh, chỉ qua cầu với anh...và chẳng bao giờ phai màu như tà áo của thầy Cự Phúc…

Nam siết Thảo vào lòng và nói như mơ:
- Em thật kỳ diệu Thảo ơi.

Trời đã đổ bóng, Thảo quơ các thứ cho vào giỏ rồi nói :
- Thôi mình về anh. Còn coi lại bài vở cho ngày mai.
- Ờ, em thay áo đi. Lần này em có cho phép anh ...?
- Anh đứng dậy coi có ai đi về phía mình không ?
- Không ai hết.
- Rồi, ngồi xuống, coi bằng mắt thôi nghe ...

Nam ngồi xuống, hai tay khoanh gối, Thảo hồi hộp cởi áo từ từ, không phải sợ Nam, tự nhiên tim đập mạnh vậy thôi. Nam thì muốn nhìn cho rõ, ngắm cho no mắt. Một hình ảnh tuyệt trần đối với người con trai. Thảo mặt đỏ như xông lửa, đưa trả áo Nam, Nam cầm áo rồi ôm Thảo vào mình, Nam cúi xuống bờ vai muợt mà của Thảo, một mùi hương thoang thoảng từ một cỏi xa xăm. Thảo dành cho Nam mấy giây rồi sửa người :
- Thôi, để em mặc áo ...

Một đám mây lửng thửng cuối trời. Một con thuyền vừa đỗ bến, một đôi chim vỗ cánh về phương xa. Một bản nhạc tình như vừa nghe đâu đây...

Trần Công Nhung



Mục Lục


4. Về (kỳ 22 )

Thanh Sơn



Ông chú bà thím giữ cả gia đình ông bà ở lại ăn cơm, cũng gọi cả bà chị dâu cùng ở lại : " lâu lắm chú thím mới được các cháu về thăm, phải ở lại ăn bữa cơm gia đình. Nhất là 2 cháu ở xa về, đường đi đâu phải dễ, có khi lần khác muốn về mà chẳng về được, nên có dịp là phải sống thực tình, kẻo đến lúc mong muốn cũng chẳng được. Phương chi chú thím bây giờ như cái cây đã đến ngày tàn, tưới tắm mấy cũng chỉ giữ cho cây sống gượng. Chú thím xin anh chị đừng phụ lòng ". Ông bà xin phép từ chối vì bọn nhóc đông, nhà chú thím cũng chẳng có ai phụ làm, nhưng ông chú bà thím nhất định không chịu. Ðành phải chiều theo ý các cụ. Cả bà chị dâu lẫn bà xuống bếp giúp bà thím. Ông bà biếu ít tiền để bà thím lo phụ thêm.

Ðợi khi các bà vào phía sau lo bữa ăn, chú cháu mới ngồi lại bên nhau trò chuyện. Ông chú nói " như bố cháu mà lại hay. Liệu không ở làng được là bỏ đi không luyến tiếc. Vào trong Nam làm ăn được, nhiều người làng này cũng nhờ cậy được nhiều. Có một dạo người làng rủ nhau vào Nam theo bố cháu, nghe đâu cũng đều ăn nên làm ra. Chứ ngữ cứ ở mãi làng mình chắc vẫn còn cơ cực. Mấy năm chiến tranh làng mình xơ xác lắm anh. Thì anh thấy đó mất mát bao nhiêu là trai làng. Chú đây thuộc thành phần ưu đãi mà có lúc vẫn thấy khó thở. Chú chỉ cầm cái cọ mà vẫn bị phê bình, họ săm soi buộc chú hết là dạng này lại đến dạng khác. Chung qui mỗi người quan niệm nghệ thuật một cách. Chú thì chú cho rằng nghệ thuật là phải trung thực vẽ lên cái mình suy nghĩ, cái đúng. Nhưng các ông ấy bảo nghệ thuật như thế là vị kỷ. Theo các ông ấy bức tranh phải có cảnh cầy cuốc, con trâu, lao động mới là của cải thuộc nhân dân. Chú có gác cọ sớm cũng là vì thấy mình không còn thích hợp nữa, rút về quanh quẩn lo việc nhà thế lại hoá hay ".

Ðột nhiên ông nhớ lại ngày theo bố ra Hà Nội trọ học. Những thứ bẩy bố cho về ngủ lại ở làng. Những chuyến ô tô ray vun vút trên đường sắt với hồi còi lên xuống như nhạc tây. Làng dạo ấy nhỏ bé nhưng tình người thấm đậm. Nhà nào nhà ấy oang oang cười đùa, gặp nhau cất tiếng chào thân mật. Vậy mà có lần làng đã ngoảnh mặt quanh lưng đi, người người khiếp nhau vì e sợ. Bao nhiêu năm rồi, vết thương đận cải cách đã xa mà oan khiên vẫn còn lảng vảng. Người bị tố oan vẫn hận thù người bịa đặt kết tội mình. Bây giờ người làng gặp nhau " vui là vui gượng kẻo mà, ai tri âm đó mặn mà với ai (Kiều) ". Trẻ con trong làng gặp ai cũng dương mắt nhìn, cái nét văn hoá thương yêu hồi nao như bỏ rơi đâu mất.

Ông thưa với chú : có lẽ chỉ ở đất nước mình mới nhiều điều tang thương như vậy. Xin chú bỏ qua cho cháu, chứ cái thời chúng cháu còn bị mang tiếng là vọng ngoại cũng chưa bao giờ người trong Nam nhìn nhau quá thù hằn. Trái lại còn có khi đa cảm. Cháu lấy ví dụ như khi gia đình ông Cả đang ở trong ấy dịp 55 ùng ùng về ngoài này. Ở được vài năm không kham được lại tìm đường bò vào Nam, cháu nghe nói dạo ấy ông Cả chỉ thoát được một mình phải lên tận Hà Nội ăn dầm nằm dề ở trụ sở Ủy ban kiểm soát đình chiến quốc tế cho đến khi được họ chở lại vào Nam. Ðến nơi rồi, chính quyền buộc phải có người đứng nhận bảo lĩnh thì chính thằng Nam người làng mình là lính nhảy dù đã nhận trách nhiệm ấy. Sau này khi cháu bị cải tạo, người làng mình quay mặt tránh đi, ngay cả gia đình cũng lơ vì sợ dính líu. Vì vậy mà khi về thăm lần này, chúng cháu đã đắn đo nhiều, chỉ sợ phải ngỡ ngàng khi đối diện với sự thực.

Ông chú xua xua tay : ấy anh là một nhẽ rồi. Chính những người cùng chiến tuyến mà còn thảm thương nhận đau khổ. Chắc anh đã nghe tình nghĩa về cái đận Nhân Văn Giai Phẩm, bè bạn lúc ấy lo lủi nhanh sợ dây dưa vào mang hoạ. Sau đận ấy, chú cũng đâm sợ vì cứ lo bỗng một ngày nào có thể lại đến phiên mình. Trong Nam các anh tình cảm thật, có lẽ vì vậy mà chịu thất trận đau buồn, chứ ngoài này gay lắm anh ạ. Dạo trong ấy thả biệt kích ra thám thính ngoài này, có gia đình đã nói với chú là nếu con cái được sử dụng vào sự việc, họ cũng bắt đem giao hoặc báo cho chính quyền để tảo thanh ngăn chặn. Còn đợt cải cách, thôi thì loạn, loạn tất. Cha con, vợ chồng, anh em chẳng dung tha nhau, tố cáo nhau tận mạng. Ðể rồi chỉ ít lâu mới thấy là sai, rồi chung chung nhận lỗi, người bị thác oan thì chẳng thấy ai được danh dự phục hồi. Vết thương đó như cái sẹo trên mặt không bao giờ dấu đi được. Từ đó con người vẫn không hết bàng hoàng. Người ta đối đãi với nhau vờ vĩnh ngoài mặt, nhưng trong thâm tâm vẫn e ngại, giữ miếng nhau. Kỷ niệm đau thương vẫn như một sợi dây thòng lọng đung đưa trước cổ mỗi người, ai cũng kín đáo dè chừng nhau.

Bữa cơm hôm đó là bữa cơm chan mặn lời cay đắng. Những miếng cơm nuốt vào như chen lẫn hòn sạn khó trôi. Chỉ có bọn nhỏ là vừa ăn vừa kể cho nhau về những thú vui vừa có. Rồi gia đình ông bà lại trở về Hà Nội ngay trước đêm.

Phải đợi đến khi đã nằm yên trên căn gác của người em bên phía bà, ông mới thấy lòng thanh thản dần. Gì thì gì Hà Nội vẫn ít vặt vãnh nghi can nhau hơn ở chốn thôn quê. Ðêm Hà Nội vẫn ăn chơi nghiêng ngả. Ðèn Hà Nội vẫn sáng lạn khoe màu. Người người vẫn đua nhau ăn diện, nhà nhà vẫn đua nhau lên tầng. Xe vẫn chạy loăng quăng trên phố phường đông đúc. Hàng quà vẫn rảo quanh mời bán các món hàng. Những chiếc xích lô vẫn tênh hênh không nệm ghế, đời sống vẫn hối hả đua chen. Hà Nội đang cố vươn lên, đang cố đổi mới, nhưng càng cố càng như người bị hụt hơi. Cho nên chắc là còn lâu mới quân bình được sự sống giữa thôn quê với thị thành. Hà Nội cố làm ra vẻ như cũng vươn cao, cũng sung túc như miền Nam, nhưng cái mác tự hào là nôi của chủ nghĩa xã hội dù sao vẫn thiếu đi cái nét phóng khoáng, bạt mạng của Sài Gòn.

Có lẽ vì Sài Gòn đã sẵn mang trong tư duy của một thời bay bướm, cho nên dù bây giờ đã bị xoá gốc đổi tên thì nếp sống chỉ bớt se sua chứ không thể mất hẳn. Cho nên không lấy làm lạ khi những giao lưu vẫn chọn Sài Gòn. Chỉ buồn một điều là Hà Nội đã cố hơn 30 năm để gọi là tẩy đi lối sống của Hàn, của Thái, của Nhật và nhất là của Mỹ (và vì thế mà anh em một nhà chí choé tàn bạo giết nhau) để loại trừ nhau thì nay lại chính người chống tìm về với những nơi đã có lần quyết giết sạch nó đi. Vậy thì chẳng hoá ra hơn 30 năm đó chỉ là một cái cớ vu vơ để thành một cái đích thanh minh cho những tàn phá trước chăng ? Ý nghĩ đó làm cho giấc ngủ của đêm Hà Nội lẫn trộn bao nhiêu là giấc mơ hãi hùng khó thở.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Thoáng Tình Cuối Ðông

Hoàng Mai Phi

2.. --o0o- Bước đến văn phòng như mọi khi , ném một cái nhìn thường lệ khắp phòng , cùng chào hỏi một cách máy móc các cộng sự viên của chàng trong văn phòng kiểm phẩm. Công việc vẫn tiếp nối không ngừng nghĩ, các trục trặc kỷ thuật tiếp nối theo các trục trạc về dây chuyền sản xuất, đôi lúc chán nản muốn bỏ việc, nhưng chàng lại thầm nghĩ nếu không có trục trạc thì chắc chắn văn phòng không còn việc để làm và lẽ tất nhiên sẽ đi đến thất nghiệp, nên cuộc đời vẫn tiếp nối . Hôm nay văn phòng có nhịp điệu hơi khác thường , Minh nhìn mặt mọi người , họ mang một vẽ lấm lét tinh nghịch, nhưng chàng vẫn làm ngơ, chàng vẫn duyệt xét các hồ sơ , sửa soạn các hồ sơ chính cho khóa họp thường lệ trong ngàỵ Ðang soạn thảo vài vấn đề chính trong ngày qua và tiến triển của vài chương trình , Elizabeth thình lình với gương mặt hốt hoảng đứng trước bàn giấy của chàng .

- Có phạ?i xe anh màu đỏ hiệu Pontiac không ? Xe đậu tại bãi số 2, gần trụ đèn ?
Ngỡ ngàng chàng hỏi vặn
- Ðúng là xe của tôi .
- Tôi đ.ung vào bên hông phải của xe anh. !
- Trời , có hư hại gì nhiều không ?
- Uhmm... cửa sau bị hư và bễ kính !

Minh nhìn thẳng vào mặt Elizabeth và lắc đầu
- Ôi ! Ðàn bà lái xe , có khác !
Elizabeth năn nỉ
- Xin lỗi mà . Tại tôi không thấy .

Minh ngước mặt nhếch môi mỉm cười - Cô nhớ đi thay cặp kính đi nha, mắt cô lên độ rồi đó . Hay là đang lo nhìn anh chàng nào đó rồi tông vào xe tôi .!
Elizabeth khẽ đưa mắt nhìn quanh phòng, đáp nhẹ
- Anh còn đùa được sao ?
Minh ném cây bút lên bàn , đáp
- Không lẽ cô bắt tôi khóc . Thôi ! Mình ra bãi đậu xe làm giấy tờ khai báo cho hảng bảo hiểm và gọi xe trục, kéo về sửa chửa .

Minh khoác áo và bước ra cửa văn phòng, trong khi Elizabeth còn tần ngần trong giây lát. Khi bước gần đến cửa văn phòng , Minh lấy làm lạ vì không thấy Elizabth theo sau . Một tay tựa vào thành cửa , xoay người nhìn lại tìm người con gái có mái tóc vàng xỏa ngang vai thì cảnh tượng hoàn toàn thay đổi . Hầu hết nhân viên trong văn phòng đứng dậy vỗ tay nhè nhẹ theo từng nhịp, trong khi Elizabeth cầm ngang ngực tấm bản vẽ màu sặc sở , đầu nàng hơi nghiêng về bên phải để mái tóc thề có dịp phủ thưa thớt trên bản vẽ, miệng nàng nở một nụ cười duyên không thua các cô người mẫu trong các tạp chí thời trang . Minh thẹn thùng lắc đầu xua hay tay và đưa ngón tay trỏ khẽ đưa một vòng quanh các cộng sự viên của chàng . Minh tiến đến bên Elizabeth đở lấy tấm bản vẽ hình con cá to tướng ngệch ngoạc bằng bút màu xanh đỏ. với giòng chủ "cá tháng tư" , chàng giơ cao và ngỏ lời cám ơn tất cả bạn đồng nghiệp trong văn phòng cùng bắt tay thân mật từng người .Khung cảnh văn phòng vui nhộn hẳn lên, nụ cười không dứt trên môi mọi người . Anh chàng Bob , tướng người vạm vỡ đen đúa bước đến bên chàng vỗ vai chàng vừa cười vừa nói .

- "Hey man". Tụi tao tính nhiều chuyện , nhưng cuối cùng chuyện đụng xe được ưng thuận vì mày mới kéo chiếc xe mới .. Nhưng chú mày bình tĩnh thật , tao phục ! Bọn tao ngỡ rằng mày sẽ giận lắm !

Sau một cú đấm gió theo lối quyền anh vào bắp thịt vai vạm vỡ của Bob , chàng chậm rãi ..
- Bọn mi hay lắm , nhưng bọn mi bỏ quên một chi tiết nhỏ khiến ta nghi ngờ .. haha

Elizabeth và bạn hữu đưa mắt nhìn nhau dò hỏi .. Minh chậm rãi nói tiếp
- Khi đậu xe, tớ nhớ rỏ , kế bên là xe của Jean .
Xoay qua Jean , chàng vỗ nhẹ vai
- Xe của mi đậu bên phải xe tớ. Ðúng không ?

Jean vừa cười nhẹ vừa gật đầu đồng ý . Chàng đưa hay bàn tay hướng về Elizabeth và nói tiếp
- Nếu Elizabeth , đụng vào bên phải làm hư hại cửa sau xe của tớ thì xe của anh bạn Jean đây chắc là tan nát . Mà ông bạn của tui lại ngồi im như vậy à .?
Anh chàng Bob búng tay một tiếng "trốc" khô khan và lên tiếng .
- Ấy chà! Tiếc quá mình quên cái này . Nhưng bên phải dường như không có xe đậu mà !
Minh cười lớn hơn .
- Ông bạn thân của tui à . Ông đứng trên lầu nhìn ra , đầu xe tui quay vào tường, thì bên phải của ông là bên trái của xe tui , bên trái của ông là bên phải của xe tui ... HaHa
Bob cười lớn
- "Oh man " !

Cả văn phòng òa theo cười lớn .

Từ bao giờ chàng không rỏ thông lệ chọc thiên hạ vào tháng tư ở cái xứ lạnh lẽo này khi mùa xuân tới , mà người dân bản xứ gọi là "cá tháng tư" (poisson d'Avril). Sau một thời gian dài sinh sống nơi đây , chàng cũng bị lôi cuốn theo cái lệ này mà không màng tìm rỏ nguồn gốc. Có lẽ sau 6 tháng lạnh lẽo âm u của mùa đông kéo dài từ tháng mười một , người dân muốn tìm một nụ cười hả hê khi thấy tuyết tan và nắng ấm trở về .

Công việc vẫn tiếp nối đều đặn , chàng phải giành nhiều thì giờ hơn để chỉ dẫn Elizabeth trong công việc , vì nàng thiếu kiến thức căn bản về điện tử . Dầu vậy Elizabeth vẫn cố gắng học hỏi , cho dù không thuộc về lãnh vực chuyên môn của nàng . Trước khả năng học hỏi và tính tình đứng đắn của nàng, Minh không ngần ngại chỉ dẫn từng chi tiết, cho dù có phải làm thêm giờ trong ngàỵ Như thường lệ, giờ cơm trưa là lúc chàng và Elizabeth trò chuyện thân mật . Chàng được biết Elizabeth là con gái út của một doanh thương tại một tỉnh lỵ nhỏ cách thành phố gần trăm cây số , mỗi cuối tuần nàng thường về thăm gia đình . Nàng cố gắng học hỏi ngành quản trị và kinh doanh để hy vọng một ngày có thể tiếp tục công trình của thân phụ nàng . Vì xuất thân từ một tỉnh lỵ nhỏ trong một gia đình gốc Pháp, và theo học chương trình Pháp ngữ nên khả nămg Anh ngữ của nàng có phần hơi kém . Nhiều lúc trong công việc chàng phải rất vất vã giải thích cho Elizabeth hiểu những danh từ chuyên môn Anh ngữ , tuy rằng khả năng Pháp ngữ của chàng cũng không đến nổi tuyệt đỉnh , lắm lúc chàng phải nhờ đến đồng nghiệp khác. Tiếp xúc với Elizabeth, nhiều lúc khiến chàng miên man , vì cá tính của người con gái mắt xanh tóc vàng phảng phất một vài nét quen thuộc .

- Hôm nay anh làm sao vậy ? Hồn anh ở cung trăng mà xác ở trần thế phải hông ?

Tiếng của Elizabeth chấm câu bằng một giọng cười nhẹ kéo chàng về thực tại , khi chàng đang miên man trong lúc ngồi đối diện với Elizabeth trong phòng ăn vào giờ nghỉ trưa .

Sau vài giây suy nghĩ, chàng lên tiếng
- Tôi không biết phải giải thích làm sao cho cô hiểu ! Tôi thấy hơi lạ vì cô là người tây phương nhưng suy nghĩ của cô lại mang một it' cá tính của người Á Ðông ? Cô nhìn mục tiêu trước mắt là gia đình và cô coi trọng nhiệm vụ làm vợ và làm mẹ .

Elizabeth tỳ mặt lên đôi tay, và nhìn xa xăm
- Tôi không biết , đó là những gi tôi nghĩ . Ah mà anh gọi bằng Liz được rồi !
Minh tươi cười
- Hay đó ! "Liz" nghe dễ thương hơn ."Elizabeth" sao giống bà già Nữ Hoàng Anh Quốc !
- Uhm... chê người ta già phải hông ?
Liz chớp mắt và nguýt chàng và bĩu môi, để đáp lễ chàng chống hai tay vào cằm và nhìn thẳng vào đôi mắt đầy thiện cảm của người con gái có mái tóc vàng xỏa ngang vai .

Một vài đồng nghiệp ngang qua nơi chàng đang ngồi và chào hỏi .. Thóang thấy anh chàng Bob mặc vội chiếc áo ấm và vội vã . Minh buông tiếng trêu ghẹo
- Chưa tới giờ mà , ông bạn làm gì mà hấp tấp vậy ?
- Uhmm. Tớ phải làm bổn phận vì gần đến sinh nhật của bà xả rồi !
- Ah .. Thì ra vậy !! ha ha !! Yêu đương mà gọi là bổn phận ! Minh vừa nói vừa cười .

Sau vài phút im lặng . Liz chậm rãi và ngập ngừng
- Còn anh , anh sẽ mua loại quà nào cho người yêu của anh , nhân dịp St-Valentine ?
- uhmm. Không mua quà chi hết .!
Minh đáp và nheo mắt.
- Thiệt hả ?
Elizabeth bở ngỡ
Mỉm cười Minh nói tiếp
- Ðúng vậy tôi sẽ không mua quà .
- Nhưng đó là biểu hiện tấm lòng của người mang nó đến .Nhìn món vật , sẽ nhớ đến người .
Elizabeth biện luận
Minh chậm rãi giải thích
- Ðồng ý, nhưng theo ý tôi khi muốn nói lên lòng yêu thương nồng nàn, thì tôi chọn cách khác , rất thơ mộng .Phương pháp đó vừa thể hiện lòng mình vừa thắt chặt yêu thương và tôi tin là sẽ ngự trị mãi theo thời gian.
- Anh nói tôi nghe được không ? Ah .. Không có đùa nha
- Cho cô suy nghĩ năm phút đó !
Minh mỉm cười thách thức

Elizabeth ngồi trầm ngâm, hai bàn tay tỳ lên má. Ðôi mắt xanh lơ chớp nhanh, hết nhìn chàng rồi nhìn bâng khuâng.
- Thôi chịu thua, không nghĩ ra .
- Tôi sẽ cố gắng viết vài câu thơ nói rỏ lòng mình hay tìm cách họa lại từ một bài thơ trứ danh nào đó. Nếu giòng thơ không đủ , tôi sẽ mượn lời hát của người ca sĩ gửi đến người tôi thương những giòng nhạc chân tình. Thơ và nhạc sẽ ngự trị trong lòng , và nó sẽ tồn tại theo thời gian. Nó sẽ làm cho những kẻ yêu nhau nhớ đến nhau, khi có dịp nghe lại giòng nhạc xưa hay ngâm lại giòng thơ cũ . Nếu họ thật sự yêu nhau thì giòng thơ hoạc giòng nhạc sẽ ngự trị trong lòng họ đến cuối cuộc đờị
Elizabeth mừng rỡ chắp hai tay trước ngực đôi mắt nhìn xa xăm
- Ah. hay quá ! Tôi nghĩ không rạ Ðúng rồi đó là món quà vô giá mà tiền tài không thể nào mua được .

Elizabeth quay mặt nhìn chàng mỉm cười, Minh khoanh tay và ngã người trên ghế mỉm cười đáp lễ.

Bữa cơm trưa hôm đó , chàng thấy sao quá ngon miệng, mặc dù thường ngày chàng cố nuốt cho đầy bụng những thức ăn nhạt nhẻo từ cantine của công tỵ

---o0o---
Trời bắt đầu vào xuân nhưng mùa đông vẫn chưa nói lời từ biệt. Tan sở thì trời đã về chiều thành phố bắt đầu nhen nhúm vài ngọn đèn . Lác đác các nhân viên khác cũng ra về cười nói ồn ào, như thường lệ Minh ouể oải bước đều về xe mình , sau khi khoác lên người áo ấm mỏng và nới lỏng chiếc cà vạt trên cổ; theo quy luật của công ty , nhân viên văn phòng bắt buộc phải đeo cà vạt , nhiều lúc chàng đã phàn nàn với trưởng phòng nhưng vô hiệu . Hôm nay Minh phải ôm một số sách vỡ về nhà để tiếp tục viết bài nghiên cứu kế hoạch cho công ty , vì gần đến ngày thuyết trình mà vẫn còn dang dỡ nhiều đoạn . Ném hồ sơ và sách vỡ trên ghế phải , chậm rãi cho máy nổ đều, trời bắt đầu vào xuân nhưng khí trời vẫn còn lạnh , đôi khi có những trận mưa phùn như chiều nay . Ấn cuộn băng nhựa ghi âm vào máy nhạc , vươn vai vặn người vài lần cho thoải mái , tiếng độc tấu Tây Ban cầm vang lên một âm điệu quen thuộc của một bài tình ca . Chầm chậm cho xe ra khỏi khuôn viên công ty , chàng hát nho nhỏ theo điệu nhạc " dù sao , dù sao đi nữa tôi cũng yêu em " . Trong tầm nhìn, chàng thóang thấy mái tóc quen thuộc, đang khép nép tránh mưa dưới trạm xe buýt , chiếc áo khoác dài màu xám xanh buông thòng phất phơ theo gió nhẹ .

Minh dừng xe và thò đầu ra của sổ
- Liz , lên xe anh cho quá giang về .
Liz miệng há hốc , hai tay ôm lấy má , qua tiếng bánh xe rít trên đường nhựa .

Trong phút chốc chàng thắng gấp và quên rằng cả đoàn xe đang nối đuôi nhau chạy ra khỏi bãi đậu xe của cong tỵ Minh quay đầu ra sau nhìn thì thấy hai chiếc xe chỉ cách nhau vài phân, anh chàng Bob đang ló đầu ra khỏi cửa sổ và càu nhàu .
- Trời ơi , cha nội biết lái xe không vậy ?
- Xin lỗi nghen , cho người đẹp quá giang mà .
Minh vừa đáp vừa lắc đầu nghiêng về phía Liz đang đứng
Minh nhoài người qua ghế phải để mở cửa thì đụng phải chồng giấy tờ ngổn ngang . Liz đứng trước cửa mà miệng cười chúm chím khi trông thấy chàng thu dọn giấy tờ ném vào băng sau .
- Ðể em dọn phụ cho .
Bàn tay thon nhỏ của phụ nữ sao quá linh động , trong nháy mắt tất cả đã gọn gàng trên băng sau .
- Ngày mai chắc Bob sẽ càu nhàu tụi mình .
Liz cười vui và tiếp
- Hôm nay xe của em hư đang sửa nên tạm đi xe buýt .

Ðưa tay điều chỉnh âm thanh của máy nhạc nhỏ hơn , chàng e rằng nhạc Việt không mấy hấp dẩn đối với người Tây phương . Chàng còn lạ gì lối xử sự của họ , vì lịch sự họ sẽ gật gù khen ngợi cho qua chuyện , sau đó thì không thèm để ý đến nữa , thậm chí có khi cho vào sọt rác . Tiếng nhạc trầm buồn của bản tình ca nhè nhẹ quyện vào tâm tư đưa chàng về những ngày trên quê hương , nơi đó có bóng dáng chiếc áo dài trắng tha thướt trong gió trên đường chiều , những hôm bên nhau hát nho nhỏ để hai người vừa đủ nghẹ Giờ đây, bài hát năm xưa đã được trình bày bằng những nghệ sỹ hàng đầu với âm thanh tuyệt mỹ nhưng chàng vẫn nghe không đậm đà , có lẽ thưở ban đầu bao giờ cũng lưu luyến nhiều ; chàng tự nghĩ . Hôm nay bài hát lại được nghe lại trong một nơi xa quá xa, xa mái trường xưa thân yêu , người xưa bây giờ nơi đâu , nhưng nơi này giòng nhạc đang trầm bổng bên một người con gái khác chủng tộc màu da ngôn ngữ , có phải vết xe củ đã và đang trở lại .
- Nhạc hay quá, em nghĩ chắc là nhạc tình cảm phải không ? Anh mở lớn thêm một chút được không ?
Tiếng của Liz cắt ngang dòng tư tưởng của chàng .

Khẽ gật đầu nhưng không đáp lời , chàng bình thản đưa tay mở nhạc lớn hơn để Liz có thể nghe rỏ. Ngoài đường những hạt mưa phùn rớt vào cửa kính , kéo từng chuỗi dài xuôi theo gió hướng về phía sau xe . Khung trời xám xịt , đâu đó phố đã lên đèn, chàng cho xe chạy chậm theo lời chỉ dẫn của Liz, chàng vẫn mãi đeo đuổi dòng tư tưởng để tiếc nuối một thời đã qua, chàng bỗng tự nghĩ nếu không cho Liz quá giang chắc chàng sẽ được tự do hơn , được thả hồn theo điệu nhạc quen thuộc ngày xưa , chàng vẫn có thói quen hát theo nho nhỏ, nhưng hôm nay chàng thấy ngượng ngập khi có bóng dáng của Liz kề bên .
- Anh dịch ra tiếng Pháp cho em hiểu được không ? Chắc là buồn lắm há .
Tiếng của Liz làm chàng lúng túng
- Uhmm !.. Câu cuối là ...Uhmmm... "dù sao đi nữa tôi cũng yêu em" .
Liz đưa mắt nhìn xa xăm qua khung cửa kính , đưa tay vén mái tóc thề , bỗng nàng nghiêng đầu về phía chàng .
- Có thiệt vậy không đó ?
- Thiệt chứ , phiên dịch đúng nghĩa mà .
Minh đáp trong bình thản
- Em không hỏi về vấn đề phiên dịch
Liz vặn hỏi , pha chút hờn giổi
- Ah..... Nếu anh có được , thì sẽ như vậy
Minh đáp kèm theo một cái mỉm cười tinh nghịch
- Là sao ?.
Sau vài giây , như chợt hiểu , Liz tiếp
- Nhớ nha !

Ðôi tay đan nhau tự bao giờ chàng vẫn không rỏ , chàng chỉ nhớ rằng khi phải cho xe rẽ phải chàng phải dùng hay tay để giữ tay lái nên phải vội vã rời tay người con gái tóc vàng khiến xe hơi mất thăng bằng. Trong phút chốc Liz đưa tay bụm miệng cười nhẹ .

Bất thần Liz tặng chàng một nụ hôn nhẹ trước khi xuống xe vào nhà .
(còn tiếp 1 kỳ)

Hoàng Mai Phi
10/01


Mục Lục


6. Thành Phố Thiên Thần

Phạm Vũ Anh Nam



Ðó là một buổi sáng Chủ Nhật,cuối tháng Ba,năm 1998. Trong một căn nhà cuối đường White road,thành phố San Jose,California. Hai chàng thanh niên thức dậy sau một cơn say vùi .Vũ ngủ ngồi trên ghế gục mặt lên bàn,đầu kê lên cuốn Bible(Phúc Âm bản dịch của L m Nguyễn thế Thuấn),chàng đã mua cuốn sách này vào ngày sinh nhật năm 1992.cNhưng chưa bao giờ chàng dở ra và đọc được qua một chương .

Người bạn chàng,Nhân,đang nằm sấp trên giường bên người bạn gái tóc vàng.Vũ lay người con gái dậy và nói :
-Susan,get up!Take a shower and go home,babe .
-O K
Rồi Vũ nói với Nhân:
-Dậy mày,sưa soạn rồi còn đi chứ,trễ rồi !
Nhân nói giọng ngái ngủ:
-Ði đâu ?
-Ði xuống Santa Ana chứ đi đâu . Ðêm qua,mày hứa với tao làm sao ?

Nhân ừ hử trong họng,như là tất cả những gì hắn hứa hẹn đêm qua với Vũ đã thành mây khói .
Vũ nói giọng giận dữ:
-Vậy là mày đã quên những lời hứa hẹn đêm qua .Mày có cần tao nhắc lại không ? Ðêm qua là đêm cuối cùng chúng mình ăn chơi bê bối,chúng mình sẽ xuống Santa Ana,và mày sẽ giới thiệu tao với ba má mày để tao xin một cái job của hãng Ba mày .Mình sẽ làm lại cuộc đời .Mày đã đặt tay trên Phúc Âm mà thề,nên tao mới vét những đồng bạc cuối cùng để chiều chuộng mày một đêm cuối .Nêu quả thật mày không nhớ thì thôi vậy .Why don’t you get up ,get out of my house and don’t ever come back, my friend .

Nhân ngồi bật dậy trên giường ,đôi mắt mở lớn to tròn đầy hoang mang :
-Hey, give me some time to recollect my thought, man!
-O K
Người con gái tóc vàng đã ra khỏi phòng tắm :
-Who want to give me a ride home?
Vũ nói vội :
-Give me 5 minutes, I‘ll take you home.
Vũ vào phòng tắm làm vệ sinh cá nhân vội vã và đem người con gái tóc vàng về nhà của nàng.

Khi chàng quay trở lại nhà sau 30 phút,thằng bạn tốt đã lạc vào thế giới mơ hồ say sưa của nó .Vũ giân quá không nói lên lời . Chàng vào phòng tắm mở một bồn nước thật nóng,rồi lôi cổ thằng bạn hư đốn vào dìm nó xuống,bất kể sự chống đối yếu đuối của Nhân .Chàng lấy cho Nhân một bộ đồ mới treo trên cửa buồng tắm Vũ ra ngoài phòng khách ngồi trên ghế salon chờ đợi .Chàng ngồi hồi tưởng lại những gì đã xảy ra giữa chàng và người bạn mới quen này.
*****************
Cách đây chừng 3 tháng,Vũ đến ăn tiệc sinh nhật người bạn học cũ . Vì đi có một mình và đến trễ,nên chàng bị xếp ngồi chung với một bàn toàn là khách lạ .Người ngồi bên chàng là Nhân và người bạn gái tóc vàng của hắn . Lúc đầu,hai người chỉ chào hỏi nhau bằng lối xã giao bề ngoài .Vũ là người trầm lặng nên hai người cũng chẳng nói chuyện với nhau nhiều .Khoảng vào giữa buổi tiệc thì có mục karaoke .Vũ lên ca 2 bản nhạc: “Vết thù trên lưng con ngựa hoang” và “Seasons in the sun” , vì bữa tiệc có một số người khách ngoại quốc .

Lúc trở lại bàn,Nhân và người bạn gái Susan nhiệt liệt hoan hô .Trong khoảnh khắc,ba người đã như thật thân thiết .Khi hỏi tuổi,Vũ hơn Nhân mấy tuổi,nên được gọi bằng anh những giây phút đầu,nhưng sau đó hai người xưng hô với nhau bằng tên .

Sau bữa ăn là tới mục nhảy đầm,cả ba đều không hợp với mục này nên rủ nhau đi nơi khác .Trên đường đi khi chưa quyết định đến đâu,ba người cùng ghé quán Starbuck uống cà phê cho tỉnh rượu .Ở đây họ mới hỏi thăm nhau về hoàn cảnh đời sống .

Ðược biết,Nhân là con trai út độc nhất của một gia đình có 5 chị em gái .Nhân 38 tuổi và người chị cả 49 tuổi . Hỏi ra,Vũ cũng biết người chị khá nổi tiếng của Nhân . Ăn chơi,đẹp,giàu vì làm chủ một văn phòng realstate và bảo hiểm ở San Jose .Bốn người chị khác của Nhân,hai làm bác sĩ,hai làm luật sư .Bằng lối hỏi khéo léo, Vũ biết được Nhân chưa qua được 2 năm đại học .Ðây là chàng trai đúng nghĩa mang dòng máu COCC(con ông cháu cha),vì bố chàng trước 75 là đại sứ ở Mã Lai . Ăn chơi và tiêu sài là niềm hãnh diện của những “tip” người này .

Nhưng ở Nhân có một điều tốt,đó là hắn có vẻ kính phục những người trí thức có hiểu biết và nghệ sĩ sáng tác .Và Vũ có vẻ là mẫu người fit the bill .Câu chuyện phần cuối của ly cà phê xoay qua đề tài văn chương .Vũ đã làm cho Nhân và Susan say mê về những mẩu chuyện bên lề cuộc sống của những nhà văn nổi tiếng thế giới . Hemmingway, Hesse, Dos., Tolstoy,Tagore,Basho …. . ., . .Susan có vẻ thích thú nhất khi Vũ nói về the Beat Generation, về John Steinbach và tác phẩm cuối cùng chưa được in, bản thảo vẫn còn nằm trong một thư viện ở Monterey,Ca .

Rồi khi biết Vũ sống một mình trong căn nhà 4 phòng ngủ bên lưng đồi, Nhân có vẻ thích thú nói :
-Ðể Nhân lấy chai XO,chúng mình về nhà nói chuyện đời cho vui .Nếu Vũ không ngại và đồng ý,vẽ cho Nhân cái bản đồ và địa chỉ nhà Vũ . Nhân về nhà bà chị lấy rượu .Vũ chở dùm Susan về nhà trước .Chúng mình sẽ gặp lại sau chừng 15 phút .
Thấy nét e ngại trên mặt Vũ,Nhân ghé tai Vũ nói nhỏ:
-She không phải girlfriend của Nhân,she chỉ là bạn đi chơi chung cho vui vậy mà!

Tuy cảm thấy có một điều gì đó bất ổn,nhưng Vũ cũng bằng lòng vì tính chàng khá mạo hiểm và đôi khi bất cẩn .Vũ gật đầu thay câu nói trả lời . Nhân quay qua Susan nói lại với nàng bằng tiếng Anh ý đinh của hai người .Người con gái đồng ý,và có vẻ thich thú vì những điêù đó và nàng nhảy sang xe Vũ không một chút do dự .Trên đường đi,Susan tỏ ra là một người con gái bặt thiệp,nhí nhảnh va tự nhiên .Vũ hỏi :
-How old are you, Sue.
-I‘m 24.
-I‘m almost 20 years older than you.
-So what, It’s won’t matter. -What do you mean by that.

Susan trả lời Vũ bằng một nụ hôn cuồng nhiệt khi xe hai người dừng lại chờ đèn xanh đèn đỏ. Vũ cười nói đùa: -You gonna get us killed,baby! Nhan will stick the gun on my head, babe.
-He won’t mind.
-You look like Amerasian.
-How do you know? My mom is Chinese-Vietnamese .My dad is white.
-So, do you speak any Vietnamese or Chinese at all?
-Ðương nhiên rồi! Chỉ không thích nói thế thôi.
-Vậy tại sao Susan lại go-out với người Việt.
-Con trai Việt Nam chịu chơi và sài xộp.
-How about sex?
-Of course, you guy is not as strong, but I don’t care. I ‘m only care if you have money to take care of my needs.
-What is your need then?
-You will know.

Susan đốt thuốc lá,quay cửa kính xuống và nhìn ra đường,ánh mắt nàng bâng khuâng. Vũ bắt gặp nét đông phương thuần túy như một nếp gấp ẩn chìm trong thái độ sống bất cần đời của người con gái ngồi bên.Susan búng điếu thuốc lá chưa hút xong một nửa xuống mặt đường freewaỵThái độ của một người luôn luôn nôn nả,tắt ngang và nửa vời trong những dự tính trong đời. Chỉ hơn 10 phút,hai người đã về tới nhà. Vũ rót cho Susan mot ly cam vắt và cho chính mình một ly trà nóng. Hai người cùng ngồi trên ghế salon,bộ ghế da màu trắng viền đen

.Susan vỗ nhẹ trên ghế,rồi hỏi:
-What’s made ?
-Ilalian.
-Sang quá ha!
-Không dám!
-May I use your restroom.
-Go ahead.
Susan đi vào phòng vệ sinh. Vũ đi ra ngoài sân hút thuốc lá .Chàng lẩm bẩm một mình:
-What’s the damn trip I ‘m getting in here .Cuộc sống của ta hình như luôn luôn trói liền vào những ngẫu nhiên. Thây kệ!Coi như một cuối tuần,I am gonna enjoy as much as I could.

Vũ nhìn đồng hồ đã 30 phút rồi,mà vẫn chưa thấy Nhân tới . Không lẽ,hắn có thể lạc mất đường .Và cả Susan nữa,cô nàng ở trong phòng vệ sinh gần 15 phút mới lò đầu ra. Nàng hỏi:
-Can you give me a towel; I want to take a shower.
Vũ nhìn Susan bằng ánh mắt xoáy hút vào trong người của nàng.Chàng đưa khăn cho Susan,và không nói gì.

Vũ lại đi ra sân đốt điếu thuốc thư hai. Những khi chàng cần suy nghĩ,thuốc lá như một người bạn thân quen vỗ về nỗi cô đơn của chàng. Bây giờ thì chàng biết rất rõ,Susan và Nhân thuộc típ người nào. Họ là típ người ăn chơi và hút sách. Chàng biết chắc như thế qua kinh nghiêm đời sống chàng đã trải qua. Ðó là giá mà chàng đã trả sau một lần đổ vỡ về đời sống gia đình. Những đêm trụy lạc triền miên bất tận để đi tìm một chữ quên .
Vũ nhắm mắt,quá khứ trôi về .
***********
Bãi biển Half Moon Bay,và những lượn sóng đen ngòm tưởng đâu đã nuốt trọn tương lai của Vũ ……

……….Tiếng người đàn ông rên hừ hừ trên con thuyền nhỏ đưa về một hương vô định .Tiếng gọi lương tri của con người Vũ thức dậy đúng lúc đưa chàng về tránh xa ý định sát nhân .Người đàn ông đó đã phá tan hạnh phúc đời chàng,hắn đã đem người vợ 15 năm chung chăn gối của chàng đi thật xa .Hai đứa con gái,8 tuổi và 5 tuổi,xa dời cha nó bất đắc dĩ và tự chúng chẳng biết được lý dọGia tài cần cù xây dựng hơn 10 năm phút chốt trở thành vô nghĩa .Vũ như con khốn thú xa bầy lạc xuống bãi vũng lầy trong một thung lũng hoang sơ,chẳng có ai giơ tay cứu vớt .Trong tâm tư chàng tưởng chừng là những tiếng thét gào liên miên bất tận .Nỗi trăn trở trong cuộc sống nào có ai chia sẻ .Chàng như tên ăn mày đi bên đường nhưng không có áo rách,không có bị gậy để cuộc đời rộng tay bố thí …… ………giữa đêm đen,nào ai biết được có những tiếng gọi không âm thanh,không tiếng nói,nhưng thật thiết tha .Vũ đã nghe tiếng gọi đó .Bỗng dưng rồi chàng không tội nghiệp cho chính mình mà lại tội nghiệp cho người đàn ông nằm co ro dưới chân mình, đôi mắt hoang mang dại khờ .

Chiếc thuyền nhỏ quay lại bờ biển bỏ hoang trong dáng cách mệt mỏi và uể oải như tâm tư của Vũ lúc đó .Câu nói cuối cùng của chàng:
-I don’t care what’s the f….you going to treat my ex-lady .But if you’ve ever lay a hand on my kids, I promise! You are going to pay for it dearly. Get the hell out of my face, f…er!
************
Ðang chìm vào những ý nghĩ xa xôi, Susan bước đến từ đàng sau choàng chiếc khăn qua người Vũ,thân hình nàng tròn mịn vùng da thịt thật thơm . Nàng nói:
-Let’s go to bed, he’s not going to come back here tonite …
-That’s it! That is how you guys treating each others.
-That’s how is it .He got his fun, I got mine.

Ðêm vui thì quá thật ngắn trong đơi,Vũ chẳng có giờ để suy tư đắn đo rằng việc đời xảy ra cho chàng có mang một chút ý nghĩa nào hơn là những dữ kiện đã xảy đến thật hốt nhiên .

3 tháng như một cơn say dài không bao giờ muốn tỉnh dậy .Cho đến một ngày,những đồng bạc saving cuối cùng cũng vỗ cánh bay đi .Vũ kêu người anh duy nhất ở gần lại nhà sang tên tài sản của mình cho anh .Trong lúc vội vã,anh cũng chỉ đưa cho Vũ $2000 . Ðã đến lúc chàng phải làm một quyết định để thay đổi cuộc sống. Miền Nam California là nơi nhiều người Việt,nhưng Vũ lại không quen biết một ai .Chàng thấy đó là nơi lý tưởng nhất .Vũ đã quyết tâm xây dựng lại cuộc đời bằng con số zero .Chàng cần đến một nơi không ai biết đến mình .Dẫu lỡ có lang thang đói lả,chàng không cần những người quen thân bạn bè cúi nhìn mình với ánh mắt xót thương. Cơn mê đời rồi cũng có một ngày chợt tỉnh .Những ngày vui nay đã tàn.Những cuộc chơi rồi cũng một lần cáo chung trong cảm giác não nề và chán chường.Tuy cũng đã muộn,nhưng thà rằng muộn còn hơn là “TA” không bao giờ thoát khỏi vòng trói buộc của lầy lội đam mê .Vũ dứt bỏ cuộc chơi như chàng chưa một lần được biết đến nó .Giòng nhạc và ánh đèn chỉ còn là những nốt nhạc cuối rời rã chia xa trong tâm tưởng.
******************
Rồi Nhân và Vũ cũng lên đường như dự tính .Nhân thích đi đường Hwy 5 cho lẹ,nhưng Vũ lại chọn đi Hwy 101,vì con đường này đi dọc theo bờ biển .Vũ không nói lên lý do cho Nhân nghe ý nghĩ mình .Chàng chỉ muốn nhìn lại từng nơi chốn ghi dấu chập chùng kỷ niệm: bờ biển Santa Cruz,Half Moon Bay,Salinas,Pacific Grove,Carmel,Seventeen Miles Drive,Monterey .Vũ linh cảm như ngày quay về thật xa .Vì cuộc sống dẫu thế nào,thiên nhiên và kỷ niệm vẫn tinh nguyên chưa một lần phản bội mình .

Một chiếc áo Jean jacket sờn rách,2 va-li quần áo;và đó là đủ chomột chuyến đi .

Bảy tiếng đồng hồ trôi qua,Nhân và Vũ đã xuống đến East L A .Nhân dẫn Vũ đến khu apartment complex mà Ba Má hắn làm chủ .Trên giấy tờ,Nhân đứng tên là owner và manager,vì Ba Má Nhân đã retired .Nhân đề nghị Vũ làm assistant manager cho Nhân .Vũ quả thật không ngờ sự việc lại xảy ra êm đẹp hơn điều mình dự tưởng .

Sau khi bỏ hành lý vào căn apartment dành riêng cho mình,Vũ nhảy vào phòng tắm trút bỏ những mệt mỏi và bụi bặm của đường xa .Chàng vừa tắm rửa vừa hát nghêu ngao một bản tình ca .Có thế chứ,cuộc đời rồi cũng có lúc rẽ vào con đường sáng lạng .Tuy bên ngoài,ngày đã tàn và màn đêm đang xuống,mà trong lòng Vũ tưởng chừng như bình minh đang lên . Trời tháng Ba đẹp như một nàng Xuân tuổi vừa tròn,chín mọng trên đôi tay măng muốt của em ,người con gáịHai người bạn cùng rủ nhau đi ra ngoài ăn tối .Người dân ở vùng này phần đông là người da đen,và người Mễ;vậy mà Vũ vẫn thấy trời đất hôm nay bỗng đẹp làm sao!!! Chàng cúi xuống nhặt bông cỏ dại bên đường .Bụi phấn vàng loang trên đôi bàn tay chàng rồi theo gió chiều bay đi rất xa .Bay về lưng đồi có bảng tên Hollywood,nơi đó có bao nhiêu giấc mơ đã thành sự thật .Những vì sao đã sáng chói một thời,và cũng có những vì sao băng ngang qua trời như ánh chớp thoáng qua mau .Trong cảm giác nhẹ nhàng của buổi chiều vàng,tâm hồn Vũ len lỏi một chút suy tư về cuộc sống . Ðôi lúc chàng tự hỏi,có phải những kinh qua cuộc đời đã làm chàng già cỗi một khoảnh,một góc tâm hồn .May mắn,lòng yêu thiên nhiên không biết mỏi giúp Vũ sống tươi mát sâu thẳm trong hồn . Như cánh gió,như ngọn cỏ,như đọt sóng vẫn lan dài trên mặt đại dương xanh đến vô cùng vô tận .Gió từ đâu đến,gió đi về đâu,chẳng ai biết cũng chẳng ai hay .Mùa Ðông đến,cỏ dẫu úa tàn,nhưng khi Xuân vừa sang lại trổ đọt xanh um. Những ý nghĩ lan man về thiên nhiên giúp Vũ giải quyết những uẩn ức của tâm hồn .

Sau bữa ăn,Nhân rủ Vũ ghé một quán cocktail bar để uống vài ly rươụ .Vũ đang vui nên đồng ý .Mới lưng chừng2,3 ly,Nhân trở nên nôn nả bất an .Tuy đi chơi với Nhân mới một thời gian ngắn,Vũ đã hiểu Nhân rất rành .Chàng biết hắn lại lên cơn ghiền .

Vũ nói:
-Nhân! Bồ phải cố gắng mới được,không thể sa ngã nữa .Chỉ có chính bồ mới tự cứu được mình,tôi chỉ có thể ở bên cạnh để nhắc nhở,chứ không làm gì hơn được cho bồ đâu . Cũng đừng nên uống quá say, ý chí ta cũng suy giảm .Dừng tự lừa dối mình rằng say thì sẽ dễ quên .Bồ thấy chứ! Càng say người ta càng nhớ nhiều!
-Nhân biết chứ! Nhưng tâm tư của Nhân bây giờ thật trống rỗng và buồn phiền!

Vũ đã nói thật nhiều,chàng tưởng Nhân đã thành thật nghe theo .Nhưng không,khi Vũ vào phòng vệ sinh trở ra,Nhân đã biến mất chỉ còn chiếc note dể lại trên giấy napkin: “Nhân đi chút xíu sẽ trở lại”.Thế là Vũ phải kiên nhẫn ngồi chờ .Một giờ trôi qua,hai giờ,và rồi ba giờ trôi qua,Nhân vẫn không trở lại.

Khi Vũ móc bóp tính tiền,mới nhớ ra phong bì $2000 chàng còn để quên trong túi áo jacket,vẫn để lại trong xe của Nhân. Tính tiền rượu xong,Vũ chỉ còn vỏn vẹn $1.25. Biết rằng sự việc có thể rất bi đát,nhưng Vũ không bỏ quên niềm hy vọng rằng Nhân sẽ quay trở lại tìm bạn mình .Chàng đi lanh quanh nhưng không quá xa quán rượu .Vũ kiên nhẫn chờ một đêm trôi qua,rồi một ngày hôm sau nữa .

Ðã một ngày một đêm không ăn không uống,Vũ vừa đói vừa mệt .Chàng quyết định chỉ ở lại một đêm nữa thôi . Khi chiều xuống,Vũ ngồi trên sân một giáo đường .Nhìn lên cây thánh giá trơ vơ trên nóc nhà thờ,chàng chợt thấy thân phận mình sao giống quá cây thánh giá kia …buồn bã đớn đau và rã rời .Bây giờ thì chàng biết mình đã bị bạn phản bội và bỏ rơi không còn nghi ngờ gì nữa .

Ngôi nhà thờ chỉ mở cửa từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều .Người đi dự lễ chỉ lác đác đôi ba người,và toàn là những người già .Vũ vào nhà thờ tìm một góc tối ngủ ngồi .Sau giờ thánh lễ,ngời coi nhà thờ đến mời chàng ra khỏi nhà thờ .Vũ biết đây là khu nhà ở không an toàn .Những quán ăn đều trang bị hai lần cửa kính thật dầy .Người làm trong nhà hang dối thoại vời khách hàng qua lần cửa kính có lỗ thôg âm .Làm sao có phương tiện để xuống Santa Ana đây . Ðầu óc chàng trống rỗng không có một ý nghĩ gì rõ rệt . Khi trời sụp tối,Vũ mua một hamburger 99 cents .Và thế là hết,trong túi chàng chỉ còn vài cents lẻ .Vì quá đói,và mặc dù rất mệt,Vũ cũng chẳng tìm được giấc ngủ .Có lẽ đây là giây phút tuyệt vọng và cô đơn nhất trong cuộc đời chàng .10 giờ tối,gần như các hàng quán của vùng East Los Angeles đều đóng cửa .Thời gian trôi qua chậm chạp và vô tình .Vũ nằm trên thềm đá lạnh nhà thờ nghe như từng hơi phập phù thở hắt sức sống toát ra bên ngoài . Vũ cảm thấy nỗi cô độc chiếm ngập hồn mình đến tàn bạo. Giữa giòng người tấp nập lại qua,nỗi cô đơn càng hiển hiện rõ rệt đến cùng cực .

Ðêm dần trôi,trên đường phố dần xa vắng bóng người .Vũ ngồi ngả thân mình lên bờ tường đá lạnh . Ðèn phố tàn dần trong bóng đêm đen .Những vì sao đêm xa tít mù như những ước mơ của chàng đang tắt ngấm trong tâm tưởng .Trước mắt Vũ chỉ còn bóng ngôi giáo đường chìm trong vắng lặng .Như một ánh chớp lóe lên,trong cơn tuyệt vọng,Chàng cất tiếng thì thầm cầu nguyện .Khi con người ta chẳng còn ai chung quanh là bạn,khi đói lả bên lề đường,họ chỉ còn một nơi để quay về bám víu, đó là niềm tin vào đấng thiêng liêng mà thôi .

Ðường phố chỉ còn lác đác vài cô gái ăn sương.Vài người khách uống rượu khuya ngả nghiêng trên đường .
Ðột nhiên,trước mặt Vũ hiện ra một cặp vợ chồng khoác tay nhau cùng đẩy troller có em nhỏ .Cả ba người đều mặc quần áo trắng. Người đàn ông cất tiếng:
-Are you hungry?
-Yes, I am.
-Do you want something to eat?
-Yes,
Người đàn ông đưa cho Vũ một bịc đồ ăn .Vũ giơ đôi tay run run đón nhận, đôi mắt chàng nhòa lệ,xúc động không nói lên lời .Khi Vũ bình tĩnh lại,cặp vợ chồng quần áo trắng đã biến mất vào bóng đêm đen.Vũ đứng dậy chạy xuống đường cố tìm họ để ngỏ lời cám ơn,nhưng họ đã biến mất một cách thật kỳ lạ .Chàng quay về mở bịc đồ ăn,càng ngạc nhiên hơn là vì món ăn trong đó lại là món ăn chàng thích nhất,McDonald Double CheeseBurger .Không cầm được nước mắt,Vũ lại thêm một lần để cho dòng lệ tuôn rơi .Ai nói rằng cuộs sống không có những sự việc xảy ra như phép lạ .Giờ này đã 3 giờ khuya,quán McDonald trên đường đối diện đã đóng cửa từ lúc 10 giờ tối .

Los Angeles,có phải đây là tên của thành phố thiên thần .Trong đêm đen sâu tối của cuộc đời,Vũ tìm thấy một nguồn vui,dẫu biết rằng ngày mai chàng đã thật sự bắt đầu cuộc đời của tên Vietnamese homeless bất đắc dĩ .

Phạm Vũ Anh Nam
11-2003





Mục Lục


7. Góc Phố

Ðỗ Thành



Như mọi ngày, sáng nào tôi cũng đạp cái xe cọc cạch qua góc phố đó để đi làm. Giờ giấc thì vẫn thế, song quang cảnh góc phố thì lại thay đổi nhau. Vào những ngày tháng 4 dương lịch, khi tôi đến phố thì trời đã sáng be sáng bét. Ngược lại khoảng tháng 10 dương lịch cho đến tận cuối năm thì trời vẫn còn tối bưng bưng. Nhưng cho dù sáng tối, nóng lạnh thế nào thì tôi vẫn gặp ông lão ngồi ở nguyên cái ghế đó. Và cho dù thời tiết thay đổi ra sao trên người ông ta vẫn khoác chiếc áo măng tô dầy cũ. Ông lão đã già rồi, khoảng 60 ngoài gì đó, tôi nghĩ thế, nhưng chẳng bao giờ tôi hỏi ông ta về tuổi tác đã có. Sự tiếp xúc của xã hội cho tôi biết rằng hỏi tuổi của một người không phải thân thuộc trong gia đình là một điều tối kỵ, không thể chấp nhận được.

Ông lão ngồi đó một mình, khi thì nhai nhóp nhép một mẩu bánh khô, khi thì đăm đăm nhìn vào một chốn nào đó. Cạnh bên là một trạm xe buýt, người chờ đợi buổi sáng rất nhiều, song chẳng ai nhìn đến ông già. Có lẽ họ sợ phải biết thêm một điều vốn họ không muốn biết, hay là ngại làm thân thì ông lão sẽ mở miệng xin xỏ gì chăng.

Lần nào trông thấy tôi đạp xe tới, ông lão cũng cất tiếng hi chào tôi trước. Rồi không đợi tôi trả lời, ông đã quay ra vui với lon bia cối, dấu trong túi giấy vàng. Trăm người già ngồi ở chốn công cộng một mình là y như đều ít nhiều nghiện rượu. Họ phải uống lén lút vì sợ cảnh sát bắt gặp sẽ lôi thôi. Ông chắc là người homeless, chẳng có con cái, người thân. Có khi tối tối mượn luôn cái ghế làm chỗ ngủ, mặc kệ tạnh gió hay lạnh ấm thế nào.

Có lần ông lão hỏi tôi : sao mày không sắm một cái xe hơi đi cho nhanh. Ðạp chi cái xe thổ tả ì à ì ạch, vừa lâu vừa mệt. Tôi cười cười nói với ông : bố cho con mượn tiền đi, con mua xe ngay. Cuối tuần sẽ chở bố đi chơi, ra biển xem bọn nữ cởi trần phơi nắng. Ông lão cười khành khạch : mẹ ăn còn chẳng có, lấy tiền đâu cho mày mượn mua xe. Thằng quỉ, thấy lão trên răng dưới dế, rồi chọc lão đấy chăng. Tôi vội phân trần với ông : con không có ý coi thường bố đâu, bố ạ. Con nào có hơn gì bố đâu. Ðời ai chẳng muốn sướng bố, khổ nỗi con cố hoài mà chẳng được. Xem bộ ông lão thích cái lối tưng tửng của tôi, ông hẹn hò : mày đi làm đi cho kịp giờ. Lúc nào rỗi ra đây tụi mình trò chuyện.

Vậy mà tôi vẫn không giữ lời hứa với ông lão được. Mãi đến hôm bất chợt thấy cảnh sát đến hỏi han ông lão, vừa đi tới, tôi đã nhận bừa là ông ở chung chỗ thuê với tôi, ra đây ngồi chờ tôi cùng đi gặp bạn. Cảnh sát có vẻ không tin, nhưng thấy ông lão chưa vi phạm gì và dẫu có đưa ông về quận thì cũng đến phải thả ông ra, chứ chỗ đâu mà chứa cho hết người không nhà.

Ðược thả, ông lão gật gù : thằng nhỏ được, được, tao chịu mày. Rồi ông thu vén bớt mấy cái món lỉnh kỉnh trên ghế, bảo tôi ngồi cạnh. Nhìn trước nhìn sau không thấy ai, ông lôi trong bọc ra ve rượu con tí xíu, dúi vào tay tôi : uống đi cho ấm bụng rồi bọn mình đấu láo. Tôi lại còn sợ hơn ông lão. Tôi chỉ lên bảng cấm gần đó hỏi ông không sợ sao, người ta cấm không cho nhậu nhẹt chốn đông người. Nhưng ông lão cười hỏi lại tôi : mày có thấy cấm được hết không ? Cấm uống mà vẫn cho làm ra, cho bán, vẫn nhận thuế đều đều. Các ông bà có nhà mua cả két về, nào có ai cấm cản đâu. Chắc họ được rượu miễn trừ tác động hẳn. Hay là rượu vào họ còn dậm dật phạm tội hơn ai. Nhưng mà thôi, mày không muốn uống, tao cũng chẳng ép. Ông nhận ve rượu, đưa lên miệng tu một ngụm rồi cất lại vào túi.

Tôi nói với lão : trước con cũng uống dữ lắm bố. Song từ ngày bỏ quê sang đây con không còn thiết nữa. Vì uống vào, rượu nhắc con nhiều điều, từ chua cay cho đến tình đời còn mất. Chừng ông lão xúc động hỏi tôi : mày đừng cho tao tò mò, chứ mày ở đâu đến đây. Người Á Ðông chúng mày đứa nào cũng na ná giống nhau nên tao không nhận ra được ai là Nhật, Tàu hay Phi... Tôi nói với ông về cái chốn đất Việt khổ sở của tôi. Mắt ông lão sáng lên, như vừa tìm lại được một món quà đánh mất. Ông nói : trời ơi vậy mày là người Việt à. Tao có ở đất Qui Nhơn của mày. Hai năm dài và sợ nữa. Vậy mà bây giờ về, lâu lâu còn nhớ hoài. Ðất nước mày đẹp, biển hiền hoà mà sao oan khiên lắm thế. Như tao về đây mà vẫn phải đón nhận sự hững hờ của quanh mình. Họ coi tao như một thằng đánh giặc mướn nên chẳng buồn han hỏi đến tao. Cũng may còn lành lặn, chứ mấy thằng bạn tao thương tích, giờ thui thủi trong những trung tâm xã hội. Nghĩ mà buồn. Tôi hưởng ứng với ông ta : cả hai chúng ta có thời đã sát cánh bên nhau nghĩ rằng chiến đấu để giữ gìn tự do, hạnh phúc cho đàn bà, con trẻ. Thế nhưng ván bài đã xoá đi, nên bây giờ cả hai đành nuốt hận. Bố còn có một quê hương để mà đi mà ở, chứ bọn con vừa thua trận mà lại mất cả quê hương. Ông lão rưng rưng mắt. Ông lần tìm bàn tay tôi, xoa xoa nhẹ và ủi an : hết đêm rồi sẽ sáng. Thế nào cũng có ngày mày lại trở về. Tao cầu mong mày sẽ tìm lại được chính mày nơi chốn quê hương đánh mất đó. Nghe nói mà tôi thấy nước mắt chảy tuôn. Ông lão nói thêm : mày đừng khóc chứ, khóc có gỡ được gì đâu.

Tôi ngồi nói chuyện với ông lão rất lâu. Nghe bao nhiêu mảnh đời nơi cái góc phố dường như vô tình này. Tôi mới nhận ra còn rất nhiều điều chưa biết tới, dù hằng ngày vẫn đi qua đi về góc phố này. Ông lão cho tôi biết về những tâm tư ông lão đã đón nhận từ cái ghế ông ngồi đó. Ông kể có lần một con bé đến gặp ông xin uống rượu. Ông hỏi nó căn cơ, nó bảo bị thằng bồ đá khi nghe nó than có bầu. Ông khuyên con nhỏ đừng vướng vào rượu, đã chẳng rửa được gì mà còn mang hoạ vào thân. Rồi ông bảo con nhỏ về, ít lâu sau gặp lại con nhỏ đã tìm được hạnh phúc khác, cho dù đứa con lầm lỡ sinh ra đã được lẳng lặng đem cho một thánh đường nào đó đến nay không còn biết đứa bé ở đâu, ra sao nữa. Ông cũng kể về những tâm sự mà ông nghe được rải rác từ nhiều con người, chung quy cũng chỉ đều từ khổ đến khổ. Sau cùng thì ông kết luận : xem ra chẳng nơi nào có hạnh phúc thực sự. Âm thầm mà nhận thì ai dường như cũng khổ đau như nhau, cho dù là có của đi chăng nữa.

Cuộc trò chuyện tưởng là khơi khơi, vậy mà đã để lại một dấu ấn trong tôi. Từ đó thỉnh thoảng tôi vẫn ra tìm ông lão để chuyện vãn cho có cảm tưởng như mình vẫn còn ở nơi quê nhà. Tôi được nghe lại một bãi biển mà đã có lần tôi ghé chân qua. Bây giờ thì quê hương đó vật vờ đâu nơi chân trời cuối đất.

Cho đến một hôm tôi đạp xe đi làm thì thấy cái ghế trống. Tôi như bị mất đi một mảnh hồn và thờ thẫn như người cuồng. Tôi dựa xe vào ghế, ngồi vào cái chỗ có lần trò chuyện với lão ông. Tôi nghe cay đắng như vừa nuốt lầm viên độc dược. Tôi trông lên ngọn cây còn chưa tắt ánh đèn. Lời ông lão vang vang : mày hãy trông lên ngọn cây kia. Mày có thấy gì đó không. Có những con chim nhỏ bé bay loà xoà theo chiều thẳng đứng. Ðó là giống hummingbird của xứ tao. Con chim đó nó nhỏ nhoi quá, giá như có muốn săn để ăn thì thịt cũng không nhét lọt kẽ răng nữa. Vậy mà vẫn có kẻ tìm giết đi làm chuyện bông đùa. Mày thấy đó con chim chỉ xin một khoanh trời tí hon mà cũng không được. Một ngày nào mày sẽ thấy xác con chim nằm lạc lõng ở vìa đường. Cái người săn con chim đã quẳng nó đi sau khi săn được nó. Vậy thì giết để làm gì, chẳng nên để cho con chim nó sống để ngày ngày còn thấy nó vờn vờn nũng nịu chẳng vui hơn sao ?

Tôi lẩm bẩm : thế nên bố cũng biệt dạng là vì thế. Chỉ còn góc phố này hờ hững đón người qua kẻ lại và những chuyến buýt vào ra. Từ đó tôi bỏ rơi góc phố. Mỗi lần đi làm, tôi đạp xe đánh vòng rộng. Tôi sợ khi đi qua cái ghế trống tôi lại sẽ khóc lẻ loi.

Ðỗ Thành
(Tíu tít tiếng cúc cu)




Mục Lục


8. Ðứng Ngóng Ngõ Sau (chuyện 2 kỳ)

Phan Thái Yên



Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng
Là hồn tôi tìm dấu cũ quê hương

Dạ Khúc – Tuệ Sỹ

Người lưu dân lặng đứng bên ngõ sau vườn nhà, lòng hẫng buồn như vừa lỡ chuyến đò ngang. Mùa hạ hanh hao thiếu vắng những ngày mưa tưởng chừng như đã qua từ lâu lắm. Biền biệt trong trí nhớ, từ cuối một giòng mưa, chuổi hạt bong bóng nước vỡ tan trong lòng phố chiều xưa là tiếc nuối bây giờ đang khoác muộn phiền lên hàng cây hững hờ cánh áo thu rơi.

Dáng liễu gầy guộc Ðường Thi soi bóng xuống mặt hồ gợn sóng làm đong đưa quầng lá bông súng xanh muộn ủng sắc vàng phai. Cây liễu bên hồ Mẹ trồng nhiều năm trước, dịp bà từ quê xa qua thăm con cháu. Giòng lá rũ phất phơ như tóc Mẹ chiều hôm. Từ ngày về lại quê, mỗi lần con cháu gọi thăm, Mẹ vẫn không quên hỏi thăm cây liễu đã lớn tới mô rồi? Mùa đông trước, khi nhận tấm hình cây liễu chỉ trơ nhánh khẳng khiu đọng tuyết trắng, Mẹ lo mãi cho đến khi nhận được hình mới với thân cành xanh tươi lá cuối xuân. Như Mẹ vẫn một đời lo lắng cho bầy con tám người mà đứa út tóc đã chớm hai màu. Mẹ dẫn con đến trường. Mẹ tiễn con đi lính. Mẹ thăm con trong quân y viện. Mẹ tiếp tế cho con tháng ngày cải tạo. Mẹ băng đại dương để được nhìn tận mặt con cháu ăn ở ra răng nơi đất khách quê người. Mẹ hăng hái gậy trúc ra tận phi trường đón cháu về thăm. Mẹ cười trong điện thoại. Mẹ dẫn cháu đi thăm mộ Ông Nội. Thằng Bờm lắc đầu le lưởi nhìn sinh phần của Mẹ đã xây xong cạnh mộ phần Ông Nội. Mẹ sẵn lòng theo Cha về nơi vĩnh cửu như từ một thuở đầu đời Mẹ đã về với cha son sắt. Và Mẹ vẫn sống vui từng ngày, như một hằng sống tận tụy thiết tha.

Buổi chiều thu sẹ bước về phía chân ngày. Lá đồi phong vàng ối bên kia bờ hồ chen trong màu tím đỏ của sồi giẻ chảy miết theo ráng chiều về phía chân trời ủ bóng hoàng hôn. Chiều chỉ lặng lờ chút gió sao lòng chợt khơi vương niềm nhớ khôn nguôi.

Chiều chiều ra đứng ngõ sau.
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều... (1)
Ngọn gió quê vẫn lịm ngút trời xa nên ngõ vườn sau trên từng chiều lưu xứ là nơi để tựa lưng trông ngóng thẩn thờ. Từng ngọn lá vàng lả tả rơi vào im vắng, nương chìm trong ngút ngàn thu phong nhuốm màu chiều bất tận quan san. Bầy vịt trời quang quác gọi nhau, đùa giỡn trên mặt hồ, vùng nước lưu dung của chim trên đường di trú. Hàng năm từ những ngày đầu thu, bầy chim quen sớm từ bỏ bãi hồ phương Bắc bay về sống tạm trên vùng nước lặng không xa ngõ vườn sau. Xóm nhà vắng vẽ choàng quanh bờ hồ như vui hơn với tiếng chim rộn rã gọi bầy và từng đôi cánh biếc sải đùa trên mặt nước vướng màu thu. Thế rồi cái lạnh từ biên hồ chẳng lâu sau nhón gót len theo, se buốt cơn tuyết đầu mùa, bầy chim lại đàn lũ gọi nhau sãi cánh về vùng nắng ấm phương Nam.
Người lưu dân đăm nhìn gia đình bầy vịt bơi lội quây quần giửa hồ mà lòng cứ mãi bâng khuâng. Một ngày bốn năm trước, cô con gái trong lúc dạo quanh bờ hồ đã tình cờ thấy một chú vịt con thương tích bị bỏ lạc đang cuống quít kêu thương. Cô bé nhân từ bồng chú vịt về nhà. Bố mẹ chìu con, thuận ý để con gái dùng góc phòng dưới tầng hầm ngôi nhà làm cơ ngơi cho chú vịt vào những ngày đông. Stinky, lớn nhanh như thổi nhờ sự chăm sóc của cô bé, luôn quẩn theo chân chủ trong vườn nhà vào những ngày nắng ấm hoặc nô nức lội quanh vầng lá màu lục biếc điểm những nụ hoa súng hé nở như bàn tay con gái chúm thuôn hồng. Một buổi sáng mùa thu năm cô bé chuẩn bị xa nhà tiếp tục việc học, lần đầu tiên Stinky đã sải cánh bay chao trên mặt hồ trước đôi mắt vui buồn lẫn lộn của người đã cứu nó thoát chết gần hai năm trước. Gia đình bầy chim thiên cư lạ lẩm nhìn anh chàng vịt có bộ lông cánh màu sặc sỡ hơn chúng đang thảnh thơi bơi lội trên mặt hồ lắng nước. Thế nhưng chỉ vài ngày sau, cô gái đã thấy Stinky nô nức theo đàn bay lượn trên nóc hàng dương ven hồ. Con Stinky thỉnh thoảng bay về phía cô gái đứng bên gốc liễu, cất tiếng quang quác gọi nài xin kéo dài cuộc vui.

Buổi chiều cuối cùng trước ngày cô gái đi học trường xa. Như những lần trước, con vịt bạn bay liền cánh với Stinky đứng im lìm giữa vườn sau, chờ nhìn bạn theo cô gái đi khuất vào nhà trước khi lẻ cánh bay về hồ nước. Cô gái ôm chú vịt vào lòng thủ thỉ, vổ về, rồi một mình bước khuất vào cánh cửa đóng chặt sau lưng. Con Stinky đứng lặng hồi lâu trước khung cửa khép rồi bay lên nóc nhà mát cuối vườn. Nó rủ cánh âu sầu nhìn khung cảnh quen thuộc một lần cuối trước khi theo bạn bay vào cuộc đời mới.

Năm sau, đôi lần chú vịt bỏ bầy bay về đứng ngơ ngác nhìn khu vườn yên tĩnh, thiếu vắng tiếng cười dòn tan của cô gái và người anh. Chỉ còn cha mẹ cô gái đứng tựa ngõ sau, im lìm như cặp chim câu già, đưa tay vẫy chào lúc Stinky sà cánh lướt qua. Họ khuyến khích con cái bay cao bay xa, thi thố với đời, còn họ thì ở lại vườn sau buồn nhớ quẩn quanh. Như cô gái đã một chiều giã từ chú vịt con lưu lạc ngày nào rồi khóc một mình sau khung cửa khép, nghĩ đến ngày mai Stinky và chính mình bay xa vào tương lai thách đố.

Người lưu dân thẩn thờ nhìn con vịt đầu đàn với đôi cánh màu sặc sỡ đang cùng bầy trầm lặng bơi thành vệt dài trên mặt hồ im sẩm bóng chiều. Có lẽ vịt đã quên khoảnh vườn nhỏ nhoi của một thời chưa tháp cánh bay. Có lẽ mùa đông đang đến sẽ dài lê thê vì những đứa con ở xa, lần đầu tiên trong đời, sẽ không thể kịp về vào những ngày lễ tết. Quê xa, mẹ già đang bệnh nặng. Có lẽ là cơn bệnh cuối đời mẹ. Có lẽ nào ông vẫn mãi lần lữa khất hẹn một chuyến trở về?

Nửa vầng trăng chiều len qua chân ngày, huyễn khuyết trên ngọn cánh rừng phong. Nửa vầng trăng. Vầng trăng ai xẻ làm đôi... (2). Mảnh trăng chẻ đôi long đong trời quê cũ. Và chơi vơi nửa vầng kia đã nào nguôi nỗi sầu viễn xứ... Nơi nào là Quê-Nhà cho một kiếp thiên di, cho bầy chim trốn tuyết đang bơi lội trong vùng nước sẽ đóng thành băng vào những ngày đông đang tới. Câu hát cũ về một ước muốn quay về, ngồi yên dưới hiên nhà (3) trong màu trăng ngát lừng hương bưởi vườn khuya, rời rạc tìm đến đầu môi, ấp úng bạc nhược như một nỗi muộn phiền...

Hơi nước quyện trong se sắt thu phong, lãng đãng trên mặt hồ lớp sa mù giăng mắc bâng khuâng. Có phải bụi thu mờ hay lớp phấn bụi miên liễu Ðông Pha âu sầu cố quận ? Dạ lai u mộng hốt hoàn hương (4). Ðêm qua ông cũng nằm mộng trở về quê. Mơ trở về làm đứa bé thơ trong vòng tay mẹ, chỉ để rồi bừng mắt dậy, đếm canh dài, trở lăn với nỗi ray rứt của tháng ngày biền biệt trôi đi không trở lại. Nhân hành do khả phục. Tuế hành na khả truy (4). Người đi mong có ngày về. Tháng năm đi mất khôn bề đuổi theo. Mẹ già một nắng hai sương, biết mẹ có còn chờ được ngày về của đứa con xa vẫn ôm mối sầu hoài vọng quê hương. Diệc dục cử hương phong. Ðộc xướng vô nhân họa (4). Quê xưa tình dẫu đượm dày. Nỗi riêng ấp ủ, phân bày cùng ai...

Lời cổ thi, phiêu hốt kiêu lãng cánh chim hồng bay lượn trên khắp vùng Quê Hương đồng vọng, dọc dài lịch sữ Ðông Phương, đã mang đến cho ông nỗi đằm thắm ấm lòng.
Luỡng lưỡng qui hồng dục phá quần
Y y hoàn tợ bắc qui nhân
Diêu tri sóc mạc đa phong tuyết
Cánh đãi Giang Nam bán nguyệt xuân (4)

Ðường lên bắc mấy cánh hồng lẻ bọn
Bay dật dờ người trở gót lưu li
Trời sa mạc tưởng chừng sương tuyết nặng
Ðợi con trăng nửa mảnh ở nam về (5)

Ngôn ngữ cổ thi dù chưa thấu hiểu nhưng âm hưởng, thi điệu qua nhịp gõ quyến rũ của chiếc gậy lục ngọc đã âm vang trong ông niềm cảm thông có khả năng làm dịu những cơn buồn. Gần đây, vợ chồng ông có được hạnh phúc thưởng thức những bài ca phổ (6) từ Ðường Thi phóng tác của người bạn lớn Một-Thời-Phan-Châu-Trinh, Hải Ðà Vương Ngọc Long. Nghe một lần. Rồi nhiều lần. Càng nghe sự mến thích càng tăng dần. Và như có bàn tay ai đó rất ân cần đang lợp vá mái lòng mình ủ dột... Thi tài và ẩn tình hoài vọng về một quê-nhà-bỏ-lại, hình ảnh quê làng phố cũ đẹp thiết tha, đã vực lời thơ người thi sĩ đứng dậy một mình. Tự tại... Bóng cả Ðường Thi dù vẫn vần vũ nhịp cánh trên cao, vẫn Lầu thơ vút cánh hạc vàng (7), vẫn lãng đãng tiếng chuông chùa Hàn San, vẫn xanh rì bãi Anh Vũ, vẫn cầu Phong, vẫn Hàm Dương Cô Tô, nhưng thi tứ âm tiết thì riêng đứng một trời thơ Việt.

Nhiều năm trước, giữa những ngày lao đao tìm đường vượt biển, lòng ông đã có lần chợt nương xuống bình an giữa một đêm bấn loạn. Lời hát vương điệu buồn phương Nam bên giòng sông vắng, trôi xuôi giòng ca dao quyện trong lãng đãng Ðường Thi đã đưa hồn người vào sự tỉnh thức của hi vọng.

(Hò...ợ..chớ)... Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Giữa canh khuya nghe tiếng ai thỏ thẻ bên thuyền
Hỏi thăm quân tử ....(ờ...)
(Hò...ờ...chớ)... Hỏi thăm quân tử vượt biên nơi nào ?... (1)

Ông vẫn thường nghĩ về giấc mơ của người nghệ sĩ ca dao - cơn mộng tưởng lúc đang ngày dưới bóng đa mát rượi đình làng, bên hàng cau soi bóng nắng, hay lúc tựa gốc ô môi bên dòng sông vắng. Giấc mơ chói bừng sáng tạo đã níu Ðường Thi vào ca dao rồi viên thành ở đó, êm đềm trên đầu môi người thôn quê Việt Nam sức diễn đạt mới rợi của ngôn từ.

Ông bàng hoàng lắng nghe nỗi xúc động rùng chuyển châu thân qua lời thơ đượm ngát tình ca dao. Tình thơ phóng thoát từ bóng cổ thi, rồi trở-thành, tự-tại.

Ra đi thuở hảy còn thơ
Tuổi già mới được ngày mơ trở về
Thưa rằng chẳng mất giọng quê
Tóc sương điểm bạc lòng tê tái sầụ..(8)
Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương)

Ðây chiếc áo năm canh dài Mẹ thức
Ngọn đèn khuya hiu hắt suốt đêm trường
Tay gầy guộc, run run luồn kim chỉ
Áo bạc màu nhưng đậm nghĩa yêu thương... (9) Du Tử Ngâm (Mạnh Giao)

Tứ thơ thấp thoáng vần tiên thoại Lâm Tuyền, Bích Câu:
Thổn thức hồn quyên mộng tỉnh say
Sông xưa bếân cũ nhớ từng ngày
Phơ phơ tóc bạc đời sương điểm
Thơ thẩn đêm dài ngấn lệ cay... (10)
Tỉnh dạ tứ (Lý Bạch)

Hay tiếng Ðoạn Trường:
Ðầu sông chàng đứng thẩn thờ
Bẽ bàng mình thiếp đợi chờ cuối sông
Nhớ thương xa cách mịt mùng
Nước sông thắm thiết ta cùng uống chung...
(11) Tương Tư (VươngNgọc Long)

Và đâu đây “hồn xưa” Nguyễn Bính, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương...

Tóc em xỏa ngang trán
Trước nhà hái hoa chơi
Chàng phi ngựa tre đến
Mơ xanh ném nhau cười...
Trường Can cùng chung sống
Vui đùa chẳng nhớ nhung
Lấy chồng năm mười bốn
Thơ ngây với thẹn thùng...
(12) Trường Can Hành (Lý Bạch)

Cất cao vút giọng ngân dài
Người xưa nào biết lòng này hay chăng?
Mai thuyền bỏ bến buồm căng
Lá phong rơi rụng bẽ bàng người đi...
(13) Thu Phố Ca (Lý Bạch)

Hoàng hạc về đâu, vút cánh bay
Thi nhân cạn chén, tỉnh hay say
Ngàn năm lãng đãng vầng mây trắng
Thổn thức hồn thơ mắt lệ đầy...
(14) Hoàng Hạc Lâu (Thôi Hiệu)

(còn tiếp)

Phan thái Yên
Mộ Thu Qúy Mùi




Mục Lục


III . Ngàn Lời Ca (kỳ 10)__________________________________________

5 . Phục Hồi Dân Ca

Nhạc Sĩ Phạm Duy



Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nội.
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn này. Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đời.
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, California. Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...

Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứu.

Tác phẩm chọn lọc:

Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)

Phục Hồi Dân Ca


Thời gian giữa hai trường ca này là lúc có phong trào về nguồn trong mọi ngành nghệ thuật. Trong phạm vi âm nhạc, tôi nhận thấy thế hệ thanh thiếu niên lúc đó không biết gì về dân nhạc Việt Nam với những loại dân ca cổ truyền, dân ca kháng chiến hay dân ca cải tiến trước đây, cho nên một mặt, tôi thực hiện tại hai đài phát thanh Ðài Saigon và Ðài Voice Of Freedom những chương trình nhan đề "Dân Nhạc Dẫn Giải" và "Musical Heritage", một mặt tôi sưu tập những bài dân ca cổ truyền rồi phóng tác thành những bài dân ca phục hồi. Tôi không ngần ngại thêm lời, thêm nét nhạc vào những bài hay những điệu dân ca cổ. Tôi chia ra hai phần Dân Ca Miền Suôi và Dân Ca Miền Núi.

Dân Ca Miền Suôi
Các bài dân ca miền suôi nằm trong các thể hát vặt, hát ví, hát quan họ, hát chèo, hát ả đào khi xưa như LÝ CÂY ÐA, QUA CẦU GIÓ BAY, CÂY TRÚC XINH, CHUỐC RƯỢU, SE CHỈ LUỒN KIM, TRẤN THỦ LƯU ÐỒN... được tôi phục hồi và hiện đại hoá.

Phục hồi có hai cách. Một là giữ nguyên điệu cũ nhưng có thêm lời ca phù hợp. Hai là tạo ra lời ca mới. Bây giờ hát những bài như LÝ CÂY ÐA, QUA CẦU GIÓ BAY phải hát đầy đủ ba lời ca (thơ 4 chữ), hát có hoà âm.

LÝ CÂY ÐA
Trèo lên quán giốc
Ngồi gốc cây đa
Ai xui mình gặp
Xem hội trăng rằm.

Chẻ tre đan nón
Kia nón ba tầm
Ai xui (cô) mình đội
Xem hội trăng rằm.

Vải nâu may áo
Kia áo năm tà
Ai xui (anh) chàng mặc
Xem hội trăng rằm.

QUA CẦU GIÓ BAY
Yêu nhau cổi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.

Yêu nhau cởi yếm cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.

Yêu nhau cổi nhẫn cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu đánh rơi.

Bài CÂY TRÚC XINH còn có thể có tới năm lời ca (lục bát - có thêm tiếng lót) :

CÂY TRÚC XINH
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Chi Hai xinh, chị đứng chỗ nào cũng xinh.

Trúc xinh trúc mọc bên đình
Chi Hai xinh, chị đứng một mình cũng xinh.

Trúc xinh trong gió lạnh mưa rào
Chi Hai xinh, chị có dạ nào tôi cũng yêu.

Trúc xinh trúc mọc bên chùa
Chi Hai không yêu, tôi cũng lấy đạo bùa để yêu.

Trúc xinh trúc mọc cạnh buy-in-đinh
Chi Hai xinh, chị đứng trông tình lắm thay!

Tôi tìm ra năm lời ca cho bài dân ca quan họ:

SE CHỈ LUỒN KIM
Ngồi rồi se chỉ luồn kim
May quần vuông nhiễu gửi lên cho chàng

Con cò mặc áo trắng phau
Ăn no tắm mát rủ nhau lên rừng.

Lên rừng xẻ tấm gỗ lim
Muốn cho đây đó đẹp duyên vợ chồng.

Quạt tầu hai mươi bốn nhài xưong
Ai cầm quạt giấy thì thương đến người.

Ngồi rồi kể chuyện con cua
Tám chân, hai mắt một mai hai còng.

Bài LÝ CHIM KHUYÊN hay LÝ CHIM QUYÊN thường được hát với một câu lục bát, bây giờ có thêm lời, rút từ ca dao.

LÝ CHIM KHUYÊN
Chim khuyên quen trái nhãn lồng
Thia lia quen chậu,
Vợ chồng quen (hay quyện) hơi.

Chim khuyên nút mật bông qùi
Ba năm đợi được huống gì một năm.

Chim khuyên xuống núi ăn mồi
Thấy anh lao khổ đứng ngồi không yên.

Với bài LÝ CHE HƯỜNG tôi tìm ra và soạn thêm hai câu lục bát khác:

LÝ CHE HƯỜNG
Trồng hường phải khéo che hường
Nắng che mưa đậy cho hường trổ bông.

Trồng hường bẻ lá che hường
Nhớ em không quản bước đường, đường xa.

Trồng hường giở nón che hường
Ngắt bông hoa đẹp tặng (cho) nường đẹp hơn.

Bài HÁI HOA nguyên là câu hát thờ và chỉ có một lời. Tôi soạn thêm ba lời nữa:

HÁI HOA
Hỡi bạn đường ta
Hái hoa cho khéo
Hoa nào heo héo
Thì hái bỏ đi
Chớ để làm chi
Ứ ư ư ừ hoa tàn.

Gió thổi từ xa
Cánh hoa phơi phới
Yêu làn hương mới
Chẳng nỡ bẻ hoa
Gió thổi từ xa
Ứ ư ư ừ hoa cười.

Bướm đẹp vờn hoa
Bướm mơn đôi má
Hoa nào thương nhớ
Thì chóng già nua
Bướm chỉ nhởn nhơ
Ứ ư ư ừ hoa sầu.

Lũ trẻ đùa hoa
Ngắt hoa không tiếc
Hoa còn trinh tiết
Còn thiếu tình duyên
Chờ để vườn tiên
Ứ ư ư ừ hoang tàn.

Bài NƯỚC CHẨY BON BON cũng được phục hồi, ngoài lời ca cổ, có thêm ba lời ca do tôi soạn.

NƯỚC CHẨY BON BON
Nước chẩy bon bon
Con vượn ôm con
Lên non hái trái
Anh cảm thương nàng
Cô gái mồ côi
Hỡi nàng nàng ôi
Anh cảm thương nàng
Cô gái mồ côi.

Mưa nhỏ mênh mang
Con nhện trong hang
Tơ giăng bối rối
Em cảm thương chàng
Lạc lối đường đi
Hỡi chàng chàng ôi
Em cảm thương chàng
Lạc lối đường đi.

Gió thổi vang vang
Con quạ kêu than
Thâu đêm suốt sáng
Ta cảm thương người
Mang nặng hờn oan
Hỡi người người ôi
Ta cảm thương người
Mang nặng hờn oan.

Nắng đổ nghiêng nghiêng
Con dế vô duyên
lên tiếng hát
Ta cảm thương người
Phai nhạt tuổi xanh
Hỡi người người ôi
Ta mở tay đầy
Mau trở về đây.

Dân Ca Miền Núi

Tôi cũng lên Cao Nguyên một thời gian để làm công việc phục hồi dân ca miền núi. Ðồng bào vùng Sơn La, Lai Châu lúc này di cư vào Nam và ở trên vùng gần Dalat. Tôi quay phim một màn vũ của người Thái, múa theo nhạc điệu của một bài dân ca mà tôi soạn lời Việt, đặt tên là NGÀY MÙA:

DÂN CA THÁI
NGÀY MÙA
Chim ơi, lũ chim trời
Tung cánh về đây coi
Lúa chín vàng trên đồi
Nàng về nàng quẩy trên vai
Lúa thơm của ta ơi.

Ngày mùa nắng mới hoe
Chim ơi ! Hãy bay về
Xem thóc của sơn khê
Thóc chín vàng trên hè
Nhà sàn cửa rộng không che
Ðón vui người phương xa.

Ngày mùa khói bốc lên
Hiu hiu nắng êm đềm
Ðưa gió vào theo chim
Nếm chút gạo dinh điền
Người Thượng là cùng người Kinh
Kết duyên tình anh em.

Dân ca của các sắc tộc Cao Nguyên cũng được tôi phục hồi và hiện đại hoá.

DÂN CA JARAI
CHIÊNG TRỐNG CỒNG
Chiêng trống cồng mừng anh trên rẫy
Xuống đồi xuống nương đi cầy
Ôi rừng ơi ! Núi ơi !
Ôi thác suối ơi ! Rừng ơi ! Núi ơi !

Tang tính tình đàn tre dây nứa
Chúc mừng các anh đi bừa
Ôi ruộng ơi ! Ðất ơi !
Ôi thóc lúa ơi ! Ruộng ơi ! Ðất ơi !

Không đốt rừng làm đau hoa lá
Sót lòng cái cây kơ-nìa
Ôi rừng yêu mến ơi !
Ôi gỗ qúy ơi ! Rừng yêu mến ơi !
Chim sáng chiều mừng anh xây ấp
Ðắp làng hát câu muôn đời
Ôi gạo ơi ! Nước ơi !
Ôi áo mới ơi ! Gạo ơi ! Nước ơi !

Bao thú rừng nhiều đêm không ngủ
Thức nhìn các anh vui đùa
Ôi Việt Nam, nước ơi !
Ðời sống ấm no ! Việt Nam nước ta !
Ðời sống ấm no ! Việt Nam nước ta !

DÂN CA JARAI
MỘT MẸ TRĂM CON
Anh em ta cùng mẹ cha
Nhớ truyện cũ trong tích xưa
Khi thế gian còn mù mờ
Xưa khi xưa mẹ đẻ ra
Trăm cái trứng, sinh lũ con
Trăm đứa con cùng một dòng
Năm mươi con vượt đồi non
Phá rừng núi, khai rẫy nương
Xây đắp buôn, lập nhà sàn.
Năm mươi con dọc Trường Sơn
Ði xứ Bắc, đi xứ Nam
Xây núi sông, lập ruộng đồng.

Hôm nay đây, rừng gặp mây
Lá gặp núi, ta tới đây
Tay nắm tay, mình gặp mình
Vui ca lên, Thượng và Kinh
Người trong nước, anh với em
Em với anh, cùng họ hàng
Khua chiêng lên, đập cồng lên
Tiếng cồng đánh, qua mái tranh
Qua mái tre vào rừng già
Cho con Hua, khỉ già Hua
Cho ma quái, cho lũ nai
Ngơ ngác say vì nhạc gồng.

DÂN CA TAKUA
HÁT ÐÔI
Này cô gái xinh
Như đoá hoa tình
Dệt vải một mình
Ngực tròn rung rinh.

Này anh thanh niên
Như sức voi thần
Ngả gỗ đào rừng
Thành ruộng mênh mang.

Này cô gái ngoan
Như lúa trên ngàn
Ðập gạo ngoài sàn
Bụng nhỏ lưng thon.

Này anh thanh niên
Như cánh chim băng
Ðuổi cọp về ngàn
Bẻ sừng trâu non

Này cô gái vui
Cơm nắm trong gùi
Ðào lũy hào dài
Lập rừng chông gai.

Này cô gái ơi
Xây đắp cho đời
Gìn giữ gạo bùi
Gìn giữ ngô khoai.

Này anh thanh niên
Vác súng trên ngàn
Bảo vệ ruộng vườn
Bảo vệ dân buôn.

Này anh thanh niên
Chung sức oai hùng
Lập ấp tự cường
Thoả lòng muôn dân.

Việt Nam chúng tôi
Xây ấp lâu dài
Gạo trắng đầy nồi
Rượu cần thêm hơi.

Việt Nam chúng tôi
Vui sống trên đời
Ðàn gảy về trời
Gồng chạy ra khơi.

DÂN CA HRÊ
VỀ ÐỒNG BẰNG
Còn nhớ ngày nào
Ở dưới vách đá
Trong cái khe âm u
Còn nhớ ngày nào
Ở dưới khóm lá
Trong cái lều mịt mù.

Ðời sống nghèo nàn
Ðời sống tối ám
Trong biết bao nguy nan
Giặc nó về làng
Giặc nó chiếm đóng
Ðau cái lòng vợ chồng.

Nhớ lại ngày nào
Chúng nó bắt chúng ta làm cái dân công
Nhớ lại ngày nào
Chúng nó bắt chúng ta mệt sức nuôi cơm
Nhớ lại ngày nào
Bao đau thương trong buôn
Ôi bao đau thưong !

Rồi có một ngày
Ðời sống khốn khó, ta quyết đi di cư
Rồi có một ngày
Bỏ hết xóm lá, ta quyết lìa rừng già

Ở phía rừng ngoài,
Giặc đến cướp phá, ta kéo nhau đi suôi
Về phía đồng bằng
Về phía quốc gia
Ta có nhiều bạn bè.

Nhớ lại một ngày
Ðã nhất quyết chúng ta về với anh em
Nhớ lại một ngày
Ðã nhất quyết chúng ta tìm lấy an ninh
Nhớ lại một ngày
Ta vui ca trong buôn. Ôi vui trong buôn !

Lập lũy đào hào
Rào kín xóm mới
Trong ấp ta yên vui
Làng buôn người người
Tìm lấy khí giới
Ngăn lũ giặc nghìn đời

Nhiều rẫy làm mùa
Ruộng mới tốt lúa
Bên thác reo vi vu
Ðàn chim rừng già
Bỏ vách núi đá
Thương nhớ người tìm về.

DÂN CA Ê ÐÊ
XUÂN TRÊN BUÔN
Kia mùa Xuân đến buôn chúng mình
Và lòng dân hân hoan đón Xuân
Kìa chàng trai bước vui trên đời
Vào đồi nương thăm bông lúa tươi.

Kìa nàng sơn nữ bên suối ngàn
Gội đầu thơm ca vui véo von
Kìa là em bé ngoan chăn bò
Thả diều theo tiếng sáo vi vu.

Ngọn lửa thui miếng ngon chín ròn
Rượu cần thơm, chung quanh cháu, con.
Cụ già châm điếu ngon trên sàn
Kể truyện Cao Nguyên xưa, véo von.

MẸ GỌI CON
Trên đồi nương lũ nai vàng mơ màng
Là nai đàn nhường nhau ăn miếng khoai ngon
Trên rừng khơi lũ chim non vui cười
Trên vườn hoang mái tóc sương ngỡ ngàng
Mẹ u buồn vì trên nương thiếu bóng con
Theo hoàng hôn kéo lê trên lối mòn
Mẹ âm thầm về bản thôn im lìm
Con đi theo giặc ngày nào
Con đi giết hại đồng bào.
Mẹ âu sầu vì thương con sống u mê
Mẹ kêu gào Trời thương con dắt con về
Con ơi ! Nghe lời mẹ già
Con ơi ! Mau trở về nhà
Về luống cầy, về vườn rau với nương khoai
Về xây dựng nền tự do muôn đời.

ANH MAU VỀ
Anh ở buôn làng
Là anh ở buôn làng
Ðời sống vui yên lành
Ðời sống vui thanh bình
Sống trong tình nước non
Như đàn chim nhỏ quây quần
Trong tình yêu Việt Nam
Và một tối thê lương
Nghe cú kêu trong rừng
Nghe tiếng xui căm hờn
Tiếng dỗ dành kéo anh xa nhà
Xa cả gia đình, xa tình yêu đàn em

Anh ở trong rừng
Là anh ở trong rừng
Như lũ nai xa đàn
Như lũ beo hung tàn
Kéo nhau về rẫy nương
Ăn càn, nhưng cả dân làng
Xua vào trong rừng hoang
Ðời sống nguy nan
Và đời sống cô đơn
Anh chết sâu trong rừng
Anh chết cao trên ngàn
Chết vô tình, thiếu tay bế bồng
Cha mẹ xa buồn
Không một ai mà chôn.

Anh phải mau về là anh phải mau về
Về với cây tre già
Về với hoa bốn mùa
Với rượu vò, với câu vui đùa
Trong họ trong nhà, ăn mừng anh tự do
Dòng nước xanh lơ
Và dòng suối nên thơ
Vẫn khát khao mong chờ
Cùng với đêm sương mờ
Ðón anh về, bước chân lững lờ
Qua nẻo trăng tà
Trên đường quê ngẩn ngơ...

Một Bài Dân Ca Nữa
Một bài nữa soạn theo âm hưởng điệu Nam, giọng oán của miền Nam, với chủ đề chiêu hồi như trong mấy bài dân ca miền núi trên đây.

ANH HỠI ANH CỨ VỀ
Anh hỡi anh cứ về
Về đây ! Nghe tiếng cố hương
Tiếng thiết tha của người thương.
Anh hỡi anh cứ về
Cứ về ! Làng thôn tươi thắm
Mong đón đưa bước chân hồi hương.
Anh hỡi anh cứ về Về đây ! Chung sức đắp xây
Quốc Gia đang ngóng chờ bàn tay
Anh hỡi anh cứ về
Cứ về, lập công chiến đấu
Hay sống yên vui bên ruộng nương.
Anh hỡi anh cứ về
Anh hỡi anh cứ về
Anh nỡ nào theo giặc cho đành
Anh hỡi anh cứ về
Anh hỡi anh cứ về
Về đây, anh hỡi anh cứ về.

Anh hỡi anh cứ về
Về đây ! Nghe tiếng nhớ thương
Tiếng chưa quên của người quen
Anh hỡi anh cứ về
Cứ về, người xưa yêu dấu
Ðang khát khao anh mau về quê
Anh hỡi anh cứ về
Dù nay mưa cuốn gió bay
Cũng có khi nắng đẹp trời mây
Anh hỡi anh cứ về
Cứ về, cứ về, dù đêm nay tối
Nhưng sớm mai nắng trên ruộng vui.
Anh hỡi anh cứ về
Anh hỡi anh cứ về
Anh nỡ nào theo giặc cho đành
Anh hỡi anh cứ về
Anh hỡi anh cứ về
Về đây, anh hỡi anh cứ về...


Phạm Duy

Mục Lục


IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu,

Có những mùa đông về trong hạnh phúc
Từng bông tuyết phủ sưởi ấm lòng nhau
Có những cơn đau, hình như xoa dịu
Ðể thấy riêng lòng, ngập những yêu thương

Ðúng thế, anh như những bông tuyết trắng của tình đông bay về, cùng em chia xẻ, đón chào Chúa Hài Ðồng hạ sinh nơi máng cỏ. Chúa đã không màng đau khổ tái sinh cứu rỗi cho nhân loại, và hồi chuông giáo đường cũng hân hoan chào đón ngài. Em thấy anh như vì sao đêm, lấp lánh, soi sáng đường em đi. Một hạnh phúc tràn dâng, khi có anh bên cạnh.

Ðôi ta cùng đưa nhau dạo phố, phố thật đông người tấp nập qua lại như ngày hội , những hàng cây thông vàng, xanh, đỏ tuyệt đẹp xa xa có tiếng nhạc Giáng Sinh vọng lại, nghe rất êm tai và thú vị . Và như bao nhiêu người, em và anh cùng chọn lựa, mua sắm, hy vọng chúng ta không thiếu xót một ai, rất khó để quyết định anh hở, nhiều hàng hóa trưng bày quá, và rất tiếc, chỉ tội cho túi tiền của mình không đủ để mua hết các thứ ấỵ Những món quà được ân cần gói lại với nhiều hộp giấy tuyệt đẹp.

Em không quên, tươi cười đứng làm điệu dưới gốc cây thông, và bắt anh làm phó nhòm, chụp những tấm ảnh lưu niệm xinh đẹp, ghi dấu mùa Giáng Sinh, những ngày hạnh phúc của 2 ta bên nhaụ Em thích thú khi được ông già Noel đưa tay vẫy chào, tiếng cười " họ..họ..ho " đã làm em tiếc nhớ một thời tuổi thơ, đã trôi nhanh.

Bốn mùa lần lượt đã trôi qua, tờ lịch cũng đã theo sau cạn dần, làm em lo sợ thêm hơn, không biết tình yêu chúng ta có bị ảnh hưởng theo thời gian không anh nhỉ, anh có còn yêu em như ngày đầu không ? Anh có mãi đi bên em, và luôn nói tiếng yêu em không ? Thế là anh mắng: " em này cứ vớ vẩn lo xa, tình anh cho em mãi mãi không đổi thay, trừ khi em chán chê anh " , em cười thỏa mãn và cảm thấy được yêu thêm hơn.

Những bông tuyết lại bắt đầu rơi, đọng trên tóc em, môi em, và vòng tay anh, siết chặt sưởi ấm thêm, nụ hôn nồng nàn đã làm em tê dại, đê mê, và quên hết tất cả những cảnh vật bên ngoài. Trước mắt em, chỉ có anh, chỉ có tình yêu quí báu của anh trao tặng em. Trái tim của em có thể nói là món quà Giáng Sinh em dành cho anh. Anh hãy nhận lấy nó và yêu thương nó, anh nhé .....

Một trái tim yêu
Một trái tim tình em
Mãi mãi là tình yêu anh
Mãi mãi là tình trăm năm
Bốn mùa đã qua đi
Bốn mùa khắc ghi
Tiếng nói
"Yêu Anh "

Viết Cho Giao Mùa, Mùa Giáng Sinh 2003

DHH
~~~/~~((@

Mục Lục


V . Nghiên Cứu_____________________________________________

1. Kẻ Hát Rong ...

Phan Lạc Phúc



Ký giả Lô Răng và PD – Sydney 9-2003

Nhạc sĩ Phạm Duy vừa cùng ban nhạc gia đình gồm các con ông Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo và Tuấn Ngọc (con rể) trình diễn trước một cử tọa khá đông ở Sydney chương trình nhạc Phạm Duy "Một đời nhìn lại". Người "tình già trên đầu non", năm nay đã 82 tuổi vẫn còn đủ sức vượt quãng đường xa trên nửa vòng trái đất từ Mỹ tới đây, tâm sự với khán thính giả, giải thích một cách say sưa những đoạn nhạc minh họa Kiều, khi cần còn khoa chân, múa tay rất là điệu nghệ. Về phương diện nghệ thuật, ông hình như không muốn già, không chịu già; ông luôn luôn muốn đứng ở tiền trường sân khấu, ở giữa cuộc đời. Tôi có thưa với nhạc sĩ "anh là một kẻ hát rong muôn thủạ..".

Tôi được vinh hạnh quen biết nhạc sĩ Phạm Duy từ lâu, từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp 1947 ở Việt Trì, ở Việt Bắc; rồi những ngày "văn nghệ, văn gừng" hơn hai chục năm ở miền Nam. Từ khi tạm dung ở Úc, cũng được gặp anh mấy lần rồi. Lần nào anh sang đây, tôi cũng có một vài kỷ niệm với anh, được ghi lại trong những bài ký sự. Xin được đăng lại vài đoạn ở đây coi như một món quà văn nghệ gửi anh, trước khi anh về lại Mỹ. Trân trọng. PLP (9/2003).

"Người du ca Phạm Duy"...

Dạo này năm ngoái (1992) tôi có sang thăm Cali, tới thị trấn Giữa Ðàng thăm anh chị, nhưng chỉ được gặp chị Thái Hằng mà không gặp được anh. Cùng lúc đó anh lại sang thăm Úc. Gặp chị Thái, tôi như sống lại 50 năm về trước, khi vừa mới lớn lên, đi thăm bạn học Phạm Ðình Chương ở khu phố Huế, Bạch Mai. Lúc đó, chị Thái với chiếc kiềng bạc nổi danh, đã là hoa khôi của khu vực này. Thái Thanh dạo ấy còn nhỏ, đang học tiểu học, còn là "cậu Thanh".

Học trò mới lớn tụi tôi lúc bấy giờ đang đọc say mê Graziella, đang hát Thăng Long Hành Khúc và Buồn Tàn Thu của Văn Cao. Xuống Bạch Mai là phải qua khu vực Ô Cầu Rền, một trong năm cửa ô xưa của Hà Nội nên lại càng cảm khái, "này phường này phố cũ, này đường về ô xưa, lối xưa còn đây người đời sao thờ ơ". Từ Bạch Mai đi thẳng xuống gặp làng Hoàng Mai, Tương Mai... vòng sang tay phải là tới khu Voi Phục, một trong những thắng cảnh của ngoại thành Hà Nội và là chỗ gặp gỡ, hẹn hò lý tưởng của học sinh, sinh viên. Giữa vùng đồng ruộng, cách ô Kim Mã chừng 3,4 cây số đột khởi một vùng cây lá um tùm, có ngôi đền lẩn khuất dưới cây cao bóng cả, có voi đá, ngựa đá phủ phục nằm chầu... Học trò tới đây làm một cuộc hội ngộ với thiên nhiên, mơ những giấc mơ đầu đời lãng mạn.

Bài hát được ưa chuộng lúc bấy giờ là Buồn Tàn Thu. "Ðêm tàn thu tới, nghe mùa đang rớt, rơi theo lá vàng". Tôi nhớ là trong bài hát, tác giả Văn Cao đã ghi: "Tương tiến Phạm Duy, kẻ du ca đã reo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn".

Thưa anh, tôi được biết tên anh đầu tiên là như vậy. Cũng còn một chuyện nữa có liên hệ đến anh. Dạo ấy đầu thập niên 40, học trò trung học tụi tôi được khuyến khích đọc tập truyện Légendes des terres sereines (truyền kỳ về những miền đất tinh khôi) của thạc sĩ Phạm Duy Khiêm. Những câu chuyện hoang đường của đất nước VN nghèo khổ sao lại có thể lung linh, huyền ảo như thế được. Ông thầy Pháp văn của tụi tôi, thầy Nghiêm Toản đã nói về tập truyện trên: "Un language merveilleux dans un style impeccable" (Một ngôn ngữ tuyệt vời trong một văn phong tuyệt diệu). Thời buổi ấy, những tên tuổi lớn trong học giới, niềm tự hào của dân tộc Việt đối với người Pháp là thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn, thạc sĩ Phạm Duy Khiêm, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, thạc sĩ Trần Ðức Thảo.

Ðặc biệt thạc sĩ Phạm Duy Khiêm, tốt nghiệp trường lớn Normale Supérieure, cùng khóa với tổng thống Pháp Pompidou, cùng trường với những triết gia lớn của nước Pháp và thế kỷ 20 như J.P. Sartre, S. De Beauvoir, R. Aron lại là anh ruột của nhạc sĩ Phạm Duy (Cẩn). Các anh đều xuất thân từ danh gia, vọng tộc; từ phụ của các anh là cụ Phạm Duy Tốn, một trong 4 nhà học giả nổi danh của miền Bắc lúc ấy gọi là Thăng Long tứ hổ: (Phạm) Quỳnh, (Nguyễn Văn) Vĩnh, (Nguyễn Văn) Tố, (Phạm Duy) Tốn. Thập niên 40, thời buổi còn phong kiến nên người ta không hiểu nổi Phạm Duy (Cẩn) với gia phong như vậy (con một học giả, em một thạc sĩ) lại có thể xách một cây đàn, theo một đoàn hát cải lương lang thang từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Theo quan niệm của nhiều người, đi hát như vậy không được coi là một cái nghề đúng đắn. Nhưng anh nhận lấy cái nghề đó như là nghiệp dĩ của mình. Vì vậy Văn Cao mới gọi anh là "kẻ du ca". Bây giờ, người ta tuyên xưng anh là nhạc sĩ, là "phù thủy âm thanh", là "ông thầy của cung bực", anh vẫn chỉ nhận mình là "kẻ du ca" - du ca nghiã đen là "hát rong". Anh nhiều lần đã nói: "Tôi chỉ muốn suốt đời, được làm một kẻ hát rong, đi khắp nơi để ca ngợi tình yêu và cuộc sống"…

Nhân đây tôi muốn được thưa với anh một vài suy nghĩ liên hệ đến "biệt hiệu" của anh. Tên anh 3 chữ Phạm Duy Cẩn nhưng anh chỉ dùng 2 chữ Phạm Duy. Phải chăng từ một chốn sâu thẳm của tâm hồn, anh muốn chứng tỏ rằng chỉ có anh mới xứng đáng đại diện cho giòng họ. Anh là Phạm Duy (không thôi), cái tên Cẩn cứ theo tháng năm mà héo tàn rơi rụng. Các cụ ngày xưa đặt tên là mang nhiều ý nghiã. Khiêm, Nhượng (anh kế PD), Cẩn đều là những đức tính khiêm cung, cần thiết của Nho gia. Trong gia đình, theo hồi ký của anh, anh là một người con ngang ngược. Anh không sống theo truyền thống, anh muốn làm một cuộc thách thức, thách thức với xã hội, thách thức với gia đình. Anh thuộc diện những con người khác thường, không phải "học nhi thời tập chi" (có học có tập mà nên) mà "sinh nhi tri chi" (sinh ra đã biết), hay là một thứ intuitionist của Bergson (lĩnh hội bằng trực giác). Vì vậy những qui phạm xã hội nhiều lúc không vừa, không khớp với anh. Anh không sống suôi chèo mát mái như một học giả, như một giáo sư mà anh sống đúng như một kẻ hát rong với đủ mặt xấu và tốt của nó.

Ðã 60 năm trôi qua; bây giờ ít người còn nhớ đến thạc sĩ Phạm Duy Khiêm, mấy ai còn nhớ giáo sư Phạm Duy Nhượng nhưng có đến 3 thế hệ người VN nợ Phạm Duy; nợ một lời ca, một điệu hát vì 60 năm nay Phạm Duy đã thay chúng ta "khóc cười theo mệnh nước nổi trôi". Chúng ta nợ mà không phải trả vì nhạc Phạm Duy nhuần nhị, thân quen như ca dao, mà ca dao là của chung, của mọi người, của dân tộc; ta cứ việc xài. Xin cảm ơn Phạm Duy...

Phan Lạc Phúc

Mục Lục


2. Viêm Gan và Ung Thư Gan

Bác sĩ Nguyễn Ðức Liên



Kỳ này, mời quí độc giả đọc một bài viết của Bác sĩ Nguyễn Ðức Liên.

Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức

Người xưa bảo “đàn ông có trăm lá gan”. Thời nay, nam nữ bình đẳng, mỗi người một lá. Gan nằm dưới bờ sườn bên phải, di động theo nhịp thở của phổi. Chích vô gan có thể gây chảy máu. Mất lá lách, mất túi mật, mất ruột dư không sao, nhưng không thể sống thiếu lá gan. Người viết ngậm ngùi nhớ lại hàng trăm gia-đình bạn bè, thân thuộc và công chúng từng mất cha hay mẹ, vợ hay chồng, anh, chị em, ... vì bịnh ung thư gan khi còn trẻ, trong tuổi sản xuất. Các con cũng mất nơi nương tựa khi đang cần sự giúp đỡ của người gia trưởng.

Các chứng viêm gan

Viêm gan là khởi điểm khiến các tế bào gan biến đổi, để có thể đưa đến xơ gan, suy gan, liệt gan hay ung-thư gan. Các tác nhân gây viêm gan gồm có:

1. Uống rượu hoặc dùng các loại dược phẩm độc đối với gan. Dễ khỏi nếu nghỉ rượu, nghỉ thuốc sớm và kịp thời. Viêm gan vì chất độc gây xơ gan nhiều hơn so với viêm gan do siêu vi. Một vài nhóm di dân (gốc Nga, gốc Việt) nhiều cả viêm gan vì rượu lẫn viêm gan vì siêu vi. Có người nói 90% người Mỹ gốc Việt bị viêm gan; nói vậy là nói quá, con số 10-15% có thể chấp nhận được.

2. Siêu vi viêm gan (viết tắt là SV). Siêu vi viêm gan có nhiều loại nhưng thực tế hiện tại chỉ bàn về các siêu vi viêm gan A, B và C.

3. Viêm gan do biến dưỡng (tiểu đường, dư đồng, dư sắt, v.v.), do bệnh tim, bệnh thận, v.v..

4. Ký sinh trùng, thương tích, v.v..

5. Và bẩm sinh, di truyền, v.v..

Viêm Gan Do Siêu Vi A, B hay C:
Từ đây xin viết tắt là SVA (siêu vi A), SVB (siêu vi B), SVC (siêu vi C).
- Viêm gan do SVA: bệnh nhân mệt mỏi, vàng da. Ða số đương nhiên khỏi sau ít tuần lễ.
- Viêm gan do SVB: 100 người bịnh, 1 chết ở thời kỳ viêm ác tính, 99 qua khỏi.

Trong số 99 người qua khỏi này, 10 người trở thành viêm-mãn-tính, mang bệnh lâu năm. 100 người mãn tính, lại có 10 người phát chứng xơ gan, chết vì xơ hay ung-thư gan sau này.
- Viêm gan do SVC: nguy hiểm hơn cả, gây ung-thư nhiều nhất, tệ hơn SVB rất nhiều. Trước các năm 90’s, SVC thường được biết dưới tên non-A non-B. Cũng có sách viết là Australian Virus Hepatitis vì Y-học Úc-châu khảo-sát loại SVC kỹ-càng hơn cả.
- Những loại virus khác: SV E, D, G, v.v., đang được khảo sát về cách gây bệnh.

Ai hay bị SVB hay SVC?

Các dân tộc nông-nghiệp Á-châu: H' Mong, Laos, Cambodia, Tầu, Nhật, Ðài-loan, Hàn.

Việt-Nam không thua bất cứ nhóm nào về SVB và SVC. Ước lượng 10% tới 15% người Việt bị SVB cũ hoặc mới (tùy địa phương, hoàn cảnh sống, và tuổi). Người Mỹ trước kia rất ít SVB hay SVC. Nay số viêm gan B và nhất là C tăng lên gấp bội: có 3 triệu 900 ngàn người nhiễm SVC, 2 triệu người nhiễm SVB và 1,3 triệu người bị suy gan năm 2000.

Cách Nhiễm SVB hay SVC: Siêu-vi, virus, là “vi sinh vật”. Có vi-sinh-vật thì ắt có lây, có nhiễm. Cách nói “nóng gan” hay “yếu gan” dễ gây ngộ nhận. Từ mơ hồ ngộ nhận về các chứng viêm gan, đại chúng coi nhẹ nỗi hiểm nguy do siêu vi và các chất độc gây nên, dẫn đến lây nhiễm cái thứ bệnh giết người.

Siêu-vi viêm gan nhiễm vô cơ thể cách nào đã sáng tỏ hơn 15 năm trước, tuy vẫn hãy còn nghi vấn và bàn cãi. Hai đường nhiễm siêu vi nhiều hơn cả là qua miệng và máu.
Nhiễm qua miệng (tiêu hóa): nước miếng, đũa muỗng, đồ ăn, nước uống, rau trái bón phân có chứa siêu vi. Nhiễm qua máu: kim chích nấu đi nấu lại, chuyền máu lỡ có siêu vi, dân ghiền ma túy chung kim chích.

Bệnh Chứng:

Không nhất thiết phải sốt hay vàng da. Ða số người mới viêm gan nhất là viêm do siêu vi không có triệu-chứng. Một số nhỏ người nhiễm bịnh cảm thấy mệt mỏi ít ngày giống như cảm, cúm. Bệnh chứng sơ sài có thế. Mấy tháng sau thử máu thấy nhiễm siêu vi, với ít hay nhiều thay đổi về chức năng lá gan.
Lâu dài, viêm gan có thể gây mệt mỏi, xanh xao, mất ký, ngứa ngáy, buồn nản, v.v..

Viêm Gan Biến Chuyển Ra Sao?
Trăm người nhiễm SVB hay SVC, một vài người chết trong thời kỳ cấp tính (mới phát).

Ða số trở thành viêm gan mãn tính. Từ ngữ “mãn tính” theo sau 2 chữ “viêm gan” không hàm nghĩa “bớt bịnh chứng, bớt giết người” áp dụng cho các bịnh khác như thấp khớp, nhức đầu, ... Viêm gan mãn tính rất nguy hiểm: “mãn tính” cả 10, 20, 30 năm hay lâu nữa, rồi siêu vi mới giết người bịnh ở giai-đoạn cuối cùng chai-xơ-gan, suy-gan, liệt gan (liver failure), và ung-thư-gan.

Viêm gan do SVB hay SVC ở thời kỳ mãn tính, là thời kỳ bắt đầu và còn tiếp tục sinh ra các biến chứng kể cả xơ-gan và ung thư gan. Các biến chứng đáng kể do viêm-gan gây ra, gồm có:

- Viêm gan nặng: suy nhược, hao mòn, xanh xao, ghẻ ngứa, v.v..
- Suy gan: gan không thể tổng hợp các sinh chất, không loại lọc được độc chất cần phế thải.
- Xơ gan: làm mất chức năng bảo vệ cơ thể mà gan thường đảm trách.
- Chai gan: gây trở ngại tuần hoàn, nước bụng báng, sưng phù, hao mòn, mệt mỏi, suy tim, suy thận, suy hô hấp.
Ung thư gan, hay liệt-gan, chảy máu bao-tử, là màn kết thúc.

Ðề Phòng Viêm Gan:
1. Ðề phòng viêm gan nói chung:
- Tổ-chức cuộc sống lành mạnh để luôn khỏe. Sức khỏe làm ra cuộc sống. Một người làm không đủ nuôi cả nhà như thời ở Việt Nam. Bên đây ai cũng cần làm: lợi tức để sống; tiền cho lúc tuổi già, ...
- Bớt rượu, bớt các thứ thuốc không hiểu rõ gốc gác dù người quen giới thiệu. Xin xét lại từ ngữ nóng gan, yếu gan. Nghe lời đồn, sau này lỡ mắc bịnh, tiếng đồn đâu bào chữa nỗi bất hạnh dùm ta! Quan niệm chính xác mới hành xử cho chính xác.
- Làm việc vừa phải, giữ sức và bảo tồn khả năng. Không có sức thì không làm ra lợi tức.

2. Ðề phòng viêm gan do siêu vi A, B và C:
Thuốc chữa tuyệt siêu vi còn đang đi tìm. Thuốc chích kềm cho siêu vi ngủ yên chứ chưa tiêu diệt được siêu vi như trụ-sinh diệt vi-trùng. Ðề phòng là then chốt:
- Vệ sinh ăn uống. Ra khỏi tiểu-bang, về miền xứ nóng phải thận trọng tránh nhiễm siêu vi.
- Coi xem đã bị nhiễm siêu vi? Tình trạng nào, đã miễn nhiễm hay chưa miễn nhiễm? Chức năng gan? Số siêu-vi trong máu bao nhiêu? Loại nào? Tế-bào gan đã đổi? xơ? teo? bướu?
- Không phải ai cũng cần chích ngừa. Trước khi chích ngừa phải rõ đã nhiễm hay chưa nhiễm. Không phải cứ chích là ngừa. Thuốc chích mắc tiền, 3 mũi cách nhau. Ðã nhiễm hay bịnh cũ, miễn nhiễm thì chích ngừa làm chi! Tuổi cao, không cần chích.
- Gia-đình có người viêm gan (bất luận nguyên do nào), từng người trong nhà cần thử nghiệm tìm kiếm chi li về tình trạng siêu nhiễm, chức năng gan, túi-mật và bao-tử, đồ ăn, cách nấu.
- Ðiểm cần nhấn mạnh: gan lành hay gan bịnh; nếu bịnh thì vì siêu vi hay vì chất độc, bịnh ở thời kỳ nào, còn hay hết chữa, chữa cách chi. Không có chuyện mơ-hồ “nóng gan” hay “yếu gan”. Gan còn lành lặn, phải dứt khoát bảo-vệ bằng các biện-pháp phòng ngừa.

3. Chủng ngừa viêm gan do siêu vi A và B:
Có thuốc chích ngừa SVA và ngừa SVB. Chưa có thuốc cho SVC trong khi C gây ung thư gan nhiều nhất.
Người chưa hề nhiễm siêu vi mới cần chủng ngừa. Người đã nhiễm không cần chích.
Ngừa SVA chỉ chích 1 lần. Ngừa SVB, chích 3 mũi: mũi đầu, 4 tuần lễ và 6 tháng sau. Không buộc phải chích lại nếu 1 năm sau thử nghiệm thấy đã "miễn nhiễm". Chưa miễn nhiễm, chích lại.
Tuổi cần chích: từ sơ sinh tới 40. Chưa có chỉ định cho người sau 40-50 tuổi.

Chữa Trị Viêm Gan:
1. Viêm do rượu và chất độc:
Chữa bằng thuốc, và điều chỉnh ẩm thực, khá thành công. Cần bỏ rượu, ngưng thuốc độc cho gan kịp thời, đừng chờ khi gan đã "xơ", đã "bướu".
2. Viêm gan do SVB, SVC:
Khoảng 8-9 năm gần đây mới bắt đầu có thuốc chận đứng siêu vi. Thuốc phát minh nhờ các công trình khảo cứu AIDS. Các siêu-vi HIV và HV, ..., có diện mạo và cấu trúc nhiều điểm tương đồng với siêu vi gan.
Người gốc Âu-châu, Phi-châu đa số thuộc phenotype 1, ít hiệu quả khi chích thuốc chận đứng siêu-vi gây viêm-gan. Dân gốc Á, trong đó có người Mỹ gốc Việt, phenotype 2, chữa bằng Inferon-a tuần chích 3 lần (hoặc 1 lần tùy hãng-thuốc bào-chế) và ribavirin 5 viên mỗi ngày. Hiệu quả khả quan. Pegylate-Inferon là một trong các thuốc mới. Còn có những thuốc uống thay vì chích, giản-dị an-toàn hơn.

Thuốc không trừ khử hết siêu-vi, chỉ chận đứng không cho SVB hay SVC sinh sôi nẩy nở, chận đứng bệnh nơi tế-bào gan, tránh cho tế bào khỏi thoái hóa thành xơ cứng hay thành ung thư. Thuốc mới, pegylated Inferon, ít phản ứng phụ lại chỉ phải chích tuần một lần.

Không phải tất cả mọi người nhiễm siêu vi viêm gan đều cần chích. Thuốc có chỉ định rõ rệt:
- Người nhiễm SVB và SVC có thể cần chữa. Hầu hết SVA tự động khỏi.
- SVB hay SVC đều gây ung thư gan. C tệ hại hơn B nhiều.
- Số SVB hay SVC còn phát triển. Số đếm siêu vi cao hơn 20,000 con/ml.
- Gan chưa bị ung thư. Chờ đến khi thấy bướu/ung thư thì không còn gì để chữa nữa.
- Chịu phản ứng phụ của thuốc mấy tuần lễ đầu, sau quen chịu đựng dễ hơn.
- Người gốc Á-châu đáp ứng tốt hơn các sắc dân khác, gốc Âu hay Phi.
- Thử máu theo dõi để điều chỉnh thuốc. Bỏ ngang, chữa lại từ đầu.

3. Kết quả sơ khởi việc chữa trị:
Rất đông bệnh nhân gốc Việt đáp ứng khả quan với thuốc, tốt hơn các nhóm chủng tộc khác (afro-caucasians, phenotype 1) rất nhiều.

Mấy năm trước đây khi tìm thấy nhiễm siêu vi, gan bị viêm, chỉ biết cầu nguyện. Nay với thuốc chữa, 90% người chịu thuốc quạt bay siêu vi trong vài tháng, lượng siêu vi xuống dưới 135 con/ml. Tiếp tục chữa trong 9-12 tháng. Sau 12 tháng, theo dõi mỗi 6 tháng hoặc khi có chuyện bất thường.
Phí tổn chích và uống: US$12,000/năm; năm 1997 tăng lên US$21,500/năm. Từ năm 2001, thuốc có chiều rẻ xuống khi nhiều nơi bào-chế. Dự phóng thuốc uống thay cho thuốc chích trong tương lai không xa.

Ai bỏ dở khi đang điều-trị phải bắt đầu lại như khi mới chữa cho đủ một năm. Vì giá thuốc quá mắc, người bỏ dở thường bị công-ty bảo-hiểm từ chối trả tiền chữa đợt nhì.

Ung Thư Gan
Sơ Lược:
Ung-thư gan là điều đại-họa xẩy ra 10 hoặc 20 năm sau các giai-đoạn viêm gan, xơ gan, chai gan, khi các tế-bào-gan phân liệt hỗn độn tàn phá mọi chức năng sinh học của lá gan, sau cùng cướp đoạt mạng sống của nạn nhân. Ung thư gan, còn gọi là primary hepatocellular hepatoma, từ đây viết tắt là UTG, chết trong 3-6 tháng, nhiều lắm là vài năm.

Không phải chỉ có SVB hay SVC là nguyên do gây ra ung thư gan. Các loại viêm gan khác, có khi chẳng bao giờ thấy triệu chứng viêm gan, vẫn giết người qua chứng ung thư gan, xơ gan.

Bịnh Chứng:
Khởi đầu, triệu chứng rất ít. Cơ thể đột nhiên hao sút, mệt mỏi. Chưa chắc da phải vàng. Nếu vàng da thì nước tiểu xậm, da xỉn lần, đổi mầu xỉn "bẩn". Trong vài tháng, người bệnh suy nhược cấp kỳ. Bịnh chứng phản ánh các cơ năng gan bị mất; từ chức năng bài tiết, thải độc, biến dưỡng hay nội tiết (các kích-thích-tố và phân hóa tố) tới chức năng cơ-học, mỗi chức năng bị rối loạn. Bịnh nhân không đau. Chỉ đau sau này khi gan sưng, chai cứng bóp nghẹt tuần hoàn tĩnh-mạch-cửa (portal vein), bụng ứ nước, vỡ mạch máu cổ-dạ-dầy, khó thở, thổ huyết, xỉu.

Thật sự không có triệu chứng nào chuyên biệt báo cho biết bắt đầu có ung thư gan. Gan teo nhỏ ở giai đoạn xơ. Biết gan đã xơ mà lại thấy sưng là lúc ung thư phát tác toàn thời. Bụng chướng, bọng nước là thời kỳ rất trễ. Chảy máu bao tử, sưng lá lách, nước bụng báng là thời kết thúc kề cận.

Chữa Trị Ung Thư Gan:

1. Thay gan:
Khi gan xơ hay chai. Nhiều trung tâm lớn tại Mỹ, Tokyo, Singapore chữa cho những người hội đủ tiêu chuẩn và có điều kiện.

2. Giải phẫu cắt một phần lá gan:
Họa hiếm bịnh nhân có cục bướu "còn cắt được". Mổ hay cắt có thể chỉ làm cho ung thư phát tác mạnh, đau hơn, chết sớm hơn.

3. Chữa bằng thuốc:
Thuốc trị ung thư gan, chemotherapy, hiện nay chưa hiệu quả, độc nhiều hơn trị. Nhiều viện sưu tầm thuốc chữa UTG, nhưng chưa nơi nào thành công. Chưa thuốc nào được công nhận có thể "kềm" UTG chậm lại. Một vài loại giúp bịnh bớt mệt, bớt khó chịu.

Thuốc chống đau thì ai cũng cần, giữ gìn nhân phẩm của người bịnh, tình người cho thân nhân và cho cả xã-hội.

Tóm Tắt Về Viêm Gan & Ung Thư Gan
Vài điểm tóm lược thực tế về viêm gan và ung thư gan:
- Ðề phòng viêm gan là cơ bản. Thực tế sợ SVB, đáng sợ nhất là SVC ngày một nhiều, lại dữ.
- Chích ngừa HBV để ngừa viêm gan B.
- Chỉ chích ngừa khi biết rõ người ấy chưa nhiễm SVB. Người đã nhiễm chích làm chi!
- Nhiễm SVB hay SVC mà hội đủ điều kiện mới chích Inferon/uống Ribaverin để tránh ung thư.
- Dù gan xơ (miễn là chưa ung thư) vẫn có thể chữa bằng Inferon/Ribavirin.
- Người bệnh gốc Á (phenotype 2) đáp ứng thuận lợi với cách điều trị mới áp dụng từ ít năm nay.
Thuốc chích, thuốc uống đã có, hứa hẹn ngày càng hiệu quả và an toàn.

Bác sĩ Nguyễn Ðức Liên

Mục Lục


3. CD: Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng

Việt Hải



Phần Giới Thiệu Dẫn Nhập:

Tôi gặp nhạc sĩ Mai Ðức Vinh (MDV) trong chuyến anh đưa gia đình về thăm mẹ tại Nam Cali, anh cho tôi biết anh vừa thực hiên xong diã CD mới nhất, CD mang tên "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng", được anh phổ theo thơ của thi sĩ Hải Ðà Vương Ngọc Long (VNL). Tôi cũng quen biết anh VNL qua vài tác phẩm thi tập và vài CD do nhiều nhạc sĩ phổ thơ anh. Anh VNL ngoài việc làm thơ Việt Ngữ, anh còn phóng tác thơ Hán, thơ Pháp, thơ Anh sang Việt ngữ. Giờ đây tôi xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm văn hóa nghệ thuật chung của hai anh VNL và MDV.

4. Nhà thơ chẳng khác gì một viễn khách đi truy tầm cái diễm lệ của thơ ở nơi chốn bồng lai tiên cảnh, đi tìm cái cung đàn muôn điệu qua tiếng sáo Thiên Thai, tiếng hót của chim oanh trên cành liễu… có năng lực cảm thụ tinh tế, hữu hình hóa những cái trừu tượng mơ hồ, tạo ra vô số cảm giác, muôn vàn hình ảnh… Những hình tượng và liên tưởng nối liền nhau, tạo sự hài hòa giữa ý từ, màu sắc, âm thanh, gây những âm vang chấn động lòng người đọc. Hồn thơ Ðường đã mở ra những cánh cửa của tâm hồn để bay bổng hòa mình với không gian bát ngát của vũ trụ muôn trùng.

Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang:
Trong cuộc lữ hành đi tìm cái thâm thúy của khung trời Ðường Thi, dạt dào những hình ảnh sinh động phong phú, đầy những cảm xúc, âm điệu, rung động, sâu sắc, chân thật và nồng nàn... Tác giả Hải Ðà VNL có lẽ đã cảm thụ được cái hay cái đẹp, những nét thanh tao tinh tế của Thơ Ðường, và muốn tự gửi gắm cái tình ý sâu thẳm xôn xao khó tả của mình qua bài thơ Ðường "Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang" (Ðêm Xuân Nhớ Sông Hàn). Phải chăng đó là nỗi niềm của người thơ trên bước đường phiêu bạt, đến một lúc nào đó cảm thấy đơn lẻ, để muốn tâm hồn của mình chấp cánh bay bổng về nơi chôn nhau cắt rún… nơi đó có dòng sông của muôn vàn nỗi nhớ xôn xao, mênh mông sóng nước chập chùng. Con sông đó có tên là Sông Hàn (Hàn Giang) ở Ðà Nẵng mà tác giả đã trải qua thời thơ ấu mến yêu với muôn vàn kỷ niệm luyến lưu, cồn cào xao động lòng kẻ xa nhà đã lâu. Tác giả đã mạo muội sáng tác bài thơ Ðường "Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang". Rồi VNL đã tâm sự với một số vốn nhỏ bé về Hán Học, học ở truờng, học từ thân phụ vốn là nhà nho, và tự tìm tòi học hỏi thêm, nên cảm thấy có nhiều thiếu sót và mong các cụ túc nho trưởng thượng, tiền bối cao kiến và bạn đọc yêu thơ nhạc muôn phương lượng thứ và thông cảm nếu có sự thiếu xót và bất cẩn trong việc thực hiện cái đam mê thi ca của anh VNL. Tác giả xin chân thành gửi lời cảm tạ.

Xuân Tiêu Vọng Hàn Giang
Phong xuy lạc diệp động sầu âm
Nguyệt chiếu hà lương khách tứ thâm
Hỷ vũ hỷ hoa vô hỷ sắc
Hàn Giang hàn thủy bất hàn tâm
Tha phương uẩn nộ phi nan giảm
Cố quận nhân yên bất khả tầm
Tịch mịch xuân tiêu cô đối ảnh
Hương quan bán dạ Việt thi ngâm
Hải Ðà


Dịch nghĩa:
Gió thổi lá rơi vọng tiếng sầu
Trăng chiếu cầu bên sông làm khách nhớ nhà da diết
Mưa vui, hoa vui, nhưng mặt chẳng vui
Sông lạnh, nước lạnh, nhưng lòng không lạnh
Ở phương xa, nỗi sầu giận khó giảm đi
Quê cũ khói lam dễ đâu mà tìm thấy
Qụanh quẽ đêm xuân một mình thân với bóng
Nhớ nhà nửa đêm ngâm nga bài thơ Việt
Thơ dịch Hải Ðà

Ðêm Xuân nhớ Sông Hàn
1- Lá rơi gió thổi tiếng sầu vang
Trăng chiếu cầu sông khách bẽ bàng
Mưa thuận, hoa cười, đâu sắc thắm
Lạnh sông, buốt nước, chẳng khô lòng
Tha phương uất hận nào thuyên giảm
Cố quận khói mờ há dễ trông
Quạnh quẽ đêm xuân thân với ảnh
Khuya ngâm thơ Việt nhớ quê làng

2- Lá rơi gió thổi sầu ngân
Cầu sông trăng chiếu bần thần khách xa
Mặt buồn dẫu có mưa hoa
Lạnh sông lạnh nước… khó mà lạnh tâm
Hận sầu viễn xứ trầm ngâm
Mịt mùng cố quận khói lam khó tìm
Một mình với bóng lặng im
Nửa đêm thơ Việt vịnh ngâm nhớ nhà…
Hải Ðà

Bàn về việc dịch Thơ, một học giả Trung-Hoa cho rằng việc dịch thơ cần phải dựa trên ba yếu tố căn bản và thiết yếu là " Tín, Ðạt, Nhã":
"Tín" là đòi hỏi phải trung-thành với nguyên-bản của bài thơ, cần nghiền ngẫm chu-đáo kỹ lưởng, tìm hiểu lai lịch gốc tích, ý nghĩa của từng từ ngữ, cũng như điển tích của từ ngữ thơ , để cảm nhận nét hay vẻ đẹp của bài thơ gốc.
"Ðạt" là đòi hỏi chính xác và thành đạt như bài thơ gốc, đúng như tư duy và cảm nghĩ, ý tưởng của tác giả bài thơ.
"Nhã" nghĩa là trang-nhã, đẹp và hay, đọc bài thơ dịch cần có âm điệu, đọc lên gây sự rung cảm sâu xa cho người đọc. Nhưng nếu theo đúng khuôn mẫu, phép tắc của ba yếu tố "Tín, Ðạt, Nhã" thì e rằng việc dịch thơ sẽ khó khăn vô cùng...
Cho nên dịch thơ đôi khi cũng cần sự phóng khoáng, cởi mở và không phải gò bó theo đúng khuôn phép, tuy nhiên tránh việc làm lệch lạc "ý" của bài thơ gốc , nghĩa là phải lựa chọn chữ để đem được cái "ý tưởng", "tâm hồn" và "thần sắc'' vào bài thơ dịch, để độc giả khi đọc bài thơ đó tự-nhiên có cảm tưởng biết ngay cái nguồn gốc của bài thơ dịch là từ đâu... Chứ không thể thêm thắt bừa bãi để biến thành "dịch" là "phản" thì thật là bất công và vô tâm đối với tác-giả bài thơ gốc. Thơ không phải là ngôn ngữ của "khoa học" (một cộng với một là hai) mà thơ là nguồn tinh-khôi của cảm nhận và ý tưởng hòa đồng, và từ sự vật cụ thể để dẫn dắt đến cái trừu tượng bao la khó diễn tả, không thể sờ, mó, ngửi... mà chỉ cảm nhận bằng tâm hồn và cảm xúc. Thơ là một ngôn ngữ của trực quan, có sức truyền cảm mãnh liệt. Sở dĩ chúng tôi xin nêu ra vài quan-điểm về sự dịch thơ để tìm một giải đáp có thể chấp nhận trong việc tìm hiểu và giải thích ý nghĩa những từ ngữ. Từ những sự thể nhỏ bé ở trong cái không gian bao la của vũ trụ, nhờ có một tâm hồn thơ, một tinh thần ung dung tự tại, thi-nhân mới có thể cảm nhận và chiêm nghiệm và từ đó đưa đến sự hình thành những câu thơ vi diệu và độc đáo, chi phối mãnh liệt tâm hồn người đọc, và dẫn dắt người đọc thơ đi "dạo" chơi giữa cái lâng lâng vô cùng ... mà không hề hay biết... "Ðất trời vô cùng tận, kiếp người tựa sương mai" - "Thiên địa vô cùng cực, nhân mệnh nhược triêu sương (Tống ƯngThị của Tào Thực )

Một đặc trưng khác của thơ Ðường là "thiên, địa, nhân" nối kết và liên hợp và con người chỉ muốn hòa nhập, gắn bó mật thiết vào không gian và thời gian diễn tả trong bài thơ . Ði vào cõi thơ là những bước chân hụt hẫng chênh vênh giữa tịnh và động, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa xác thực và mơ hồ...

Một bài thơ Ðường khi đã đạt đến mức độ toàn mỹ và trác tuyệt, mỗi một chữ, một lời, một ý như những viên ngọc quí đã được kết hợp hài hòa, chi ly, để hình tạo một chuỗi kim cương lấp lánh, một dải giai-chương tuyệt vời... Vì lòng đam mê văn chương và thi ca, tác giả mạo muội chỉ xin mượn ý và phỏng dịch từ Thơ ra Thơ. Vì phải giữ cấu tứ, âm điệu, thể cách, luật bằng trắc nên chắc chắc có rất nhiều thiếu sót vì nhiều chữ không được sát nghĩa, khó lột đúng tinh thần nguyên tác, cái khó khăn là phải giữ cái hồn thơ và ý thơ của nguyên bản, và đồng thời thi điệu của bài thơ dịch. Hơn nữa có một số chữ và câu trong bài thơ Ðường sau nhiều lần trước tác, biên soạn, đã tam sao thất bản, gây sự sôi động bàn cãi nhiều lần.

Những bài thơ Ðường nguyên tác trong CD "Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng" này đã được rất nhiều nhà chuyên khảo Hán Học uyên bác, các học giả tiền bối Việt Nam, và các thi sĩ say mê Ðường Thi đã dịch với những bản dịch nguyên tác trác tuyệt, phong phú và tài hoa. Mỗi dịch giả có một cách nhìn riêng về bài thơ nguyên tác, có một phong cách sáng tạo và cách dịch thâm thúy khác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng với những nhận thức tinh tế, những cảm xúc nghệ thuật và rung động thẩm mỹ muôn chiều khi đọc, ngâm, vịnh một bài thơ Ðường, và đã làm thêm phong phú và tăng gía trị của một bài thơ Ðường. Người đi sau bao giờ cũng có cái may mắn là học hỏi được nhiều kinh nghiệm các vị tiền bối trưởng thượng.

Những bài thơ phóng tác trong CD nay sở dĩ được hình thành là do lòng đam mê, đắm say vì văn chương nghệ thuật, đó là kết quả của tấm lòng thích thú yêu thơ nhiệt thành, của sự tìm tòi học hỏi vì đam mê… vì tôi nghỉ rằng tác giả vốn biết rằng dịch Thơ Ðường là một công việc rất công phu, tỉ mỉ đòi hỏi sự uyên bác về chữ Hán, kiến thức thâm sâu về văn hóa cổ xưa, cái mà Việt Hải không dám mơ ước tới và chính tác giả chỉ cũng nhìn nhận là "hậu sinh" với cái vốn tự học chắc hẳn còn thiếu sót rất nhiều để làm công việc nghiên cứu, dịch thuật này. Cũng may thay có rất nhiều học giả uyên bác, những thi sĩ tiền bối thâm nho, đã dịch trước rất nhiều bài thơ Ðường ra chữ quốc ngữ như nguồn tài liệu tha kkhảo thật là giá trị… cũng như tác giả đã được gặp gỡ vài bậc thâm nho xem như những bậc Thầy để được học hỏi thêm, cũng như giải thích những ý nghĩa của những bài thơ hoặc điển tích mà tác giả tự nhận chưa có đủ khả năng, cũng như một số bạn bè thân đã trao đổi thảo luận về thú vui này, cũng như đã cung cấp cho tác giả một số tài liệu văn học quí báu rất cần thiết cho việc tham khảo. Tác giả VNL nói là anh rất tri ân những sự hiểu biết và phổ biến của các bậc thầy nho học tiền bối, cũng như những bạn bè thân thiết đã giúp đỡ, khuyến khích cho CD này được hình thành… và chắc hẳn không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết, sai sót về ngôn ngữ và ý từ...

Việc phóng tác thơ Ðường là điều cần thiết để Nhạc sĩ Mai Ðức Vinh phổ thành nhạc, những bài thơ ngắn gọn, súc tích chỉ có 4 câu như Phong Kiều Dạ Bạc, Ðề Ðô Thành Nam Trang, Tĩnh Dạ Tứ , Du Tử Ngâm, Vọng Phu Thạch… tác giả cần tìm hiểu bối cảnh, thời gian, không gian của bài thơ, mà dưạ theo đó phóng tác thêm lời, vì lời rất cần thiết cho một bản nhạc thành hình. Cũng có những bài thơ đã đủ lời cho bản nhạc như Tiết Phụ Ngâm, Trường Can Hành. Hoặc những bài thơ dài quá như Tỳ Bà Hành, mà bài thơ nguyên Tác gồm 88 câu 7 chữ, nên tác giả chỉ đưa những ý chính để cô đọng thành bài thơ phổ nhạc chỉ gồm 24 câu , hoặc 1 chùm thơ của Lưu Nguyễn Du Thiên Thai (5 bài), nhưng tác giả chỉ dùng 24 câu , lấy từ mỗi bài thơ nguyên tác 4 câu… Có những bản nhạc tác giả đã tổng hợp lời của những bài thơ ngắn khác nhau nhưng có chung một ý từ để làm lời cho toàn bản nhạc như bài Vọng Xuân Từ, Thu Phố Ca…
Kết Luận:
Thế giới Ðường Thi là một bức tranh thủy mạc hài hòa với những con chữ lẫn hồn thơ, ý nhạc là một sự phối hợp tuyệt tác giữa các màu sắc tuyệt mỹ và âm thanh trầm bổng làm quyến rũ người thưởng ngoạn vô cùng… Trên thi văn đàn Trung Quốc, mỗi một thi-sĩ có một cá tính sắc thái riêng biệt, một phong cách và khuynh hướng khác nhau... Kho tàng của Ðường Thi chất ngất vô vàn, như khu rừng trùng trùng điệp điệp đầy hoa thơm cỏ lạ… Những người yêu thơ nhạc dầu ở cách xa nhau ngàn dặm, không nói, mà vẫn có những điểm tương đầu ý hợp khi cảm xúc được một bài thơ hay, một câu thơ đẹp, một ý thơ thâm thúy, một âm điệu nhạc trầm bổng xao xuyến nào đó trong tôi. Nếu cho tôi chọn một thi sĩ làm thơ Ðường, VH xin đề nghị thi sĩ Hải Ðà Vương Ngọc Long và tương tư nếu cho tôi chọn một nhạc sĩ phổ thơ Ðường, VH xin đề nghị tiếp là nhạc sĩ Mai Ðức Vinh. Một nhà thơ Pháp nào đó đã nói: "La poésie, art suprême, c'est la musique qui pense et la peinture qui se meut" (Thơ là một nghệ thuật cao cả, là âm nhạc biết suy tư và bức họa có sinh động).

Nhạc sĩ Mai Ðức Vinh và thi sĩ Vương Ngọc Long nhắn nhủ là hai anh mong mỏi đóng góp một chút tình đam mê thơ nhạc vào vườn hoa văn nghệ thi ca và văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Mong quý vị và các bạn thích bộ môn thi ca và âm nhạc giao duyên nên có một dĩa CD để tìm hiểu công trình sáng tạo bằng tim óc của hai nghệ sĩ này.

Việ Hải

Mục Lục


4. Ấu-Triệu Với Sào-Nam

Cảm Biến



(Kính tặng Mẹ BÙI-THỊ-SỰ, nhạc mẫu, thượng thọ cửu tuần) Bà ngoại tôi tên Lê thị Chánh. Chị ruột của bà tên Lê thị Ðàn. Ông ngoại tôi là Hồ Thông, làm quan Bộ Thị, thành Nội, Huế. Gia đình ngoại có vườn rộng ở An vân hạ (An hòa) Hương trà, Huế. Sau 75 nhà và vườn bị tịch thu làm trụ sở Y tế huyện, trong vườn trồng đầy cây thuốc. Ðất vườn rộng nên họ xây thêm mấy lớp học, lấy chỗ đào tạo nhân viên y tế huyện. Ông ngoại mất khoảng đầu thập niên 1930, bà tôi mất hơn 30 năm sau đó. Các cậu dì và con cháu tản mát bốn phương.

Không kể những cái chết bình thường do già yếu, bệnh tật, chiến tranh, tai họa. Ở đây tôi muốn kể hai điều : một là cái chết âm thầm bi thiết của bà Ðàn, một người con gái yêu nước trong dòng họ; hai là cái duyên kỳ ngộ dính đến bản thân tôi.

Tôi sinh ra ở Huế nhưng chỉ ba tháng sau là phải theo gia đình nam tiến, không hề biết Huế là gì, cho đến mười mấy năm sau mới trở về, lúc đó mệ ngoại tôi còn sống nhưng bà Ðàn đã mất. Tôi chỉ ở An hòa 3 tháng rồi lại đi Sài gòn học 2 năm đậu tú tài 1 và mùa thu năm 1957 mới trở về học Ðệ Nhất Quốc Học Huế.

Mệ ngoại tôi có quan hệ thân thiết với gia đình cụ Phan bội Châu, nên gửi tôi qua ở trọ trong khu nhà thờ Sào Nam, số 31 Nguyễn Hoàng, Bến Ngự Huế. Ðây là một nhà thờ ba gian lợp ngói âm dương có bốn hàng cột tròn bóng loáng với 16 cột, hai hàng cao hai hàng thấp. Gian giữa để thờ, hai gian bên ngăn làm bốn phòng (lui vào trong một hàng cột) tôi ở phòng trong cùng phía trái, giáo sư Phạm đức Bảo (dạy Anh văn Quốc học và Ðồng khánh) cùng người em ruột là Phạm thăng Long ở phòng cạnh tôi. Còn Nguyễn thanh Trang (lúc đó học đệ Tam, nay có Ph.D. đã 25 năm, làm giáo sư ở San Diego) thì ở phòng cuối cánh bên kia. Nguyễn phụng Hoàng cũng đệ tam ở cạnh Trang (Hoàng lấy Ph.D. Vật lý từ 1974). Hai chị em Lê ngọc Lan và Lê bích Liên (con bác sĩ Lê đình Thám) thì ở dãy nhà dọc bên phải nhà thờ. Ngọc Lan là giáo sư trường Ðồng Khánh, còn Bích Liên là bạn học của tôi thời tiểu học ở trong Bồng sơn Bình định hồi cư về đây.

Từ chỗ trọ này tôi có thể đi bộ đến trường chỉ mất mươi lăm phút. Cuối tuần tôi về thăm ngoại ở An hòa, tôi tập luyện thân thể bằng cuốc đất trồng rau, khoai, chót dong, bình tinh…dọn vườn cho sạch lá cây lưu niên (mít, bưởi, thanh trà, cau, ổi, cam, quít, sa-bô-chê, vú sữa, mãng cầu, khế…). Khuông đất mặt tiền là sông An hòa, gần cầu sắt chung cho xe hơi và xe lửa của quốc lộ 1, bên phải vườn giáp với trường tiểu học, bên trái và sau vườn là hàng rào tre tươi, cao xanh và dày rậm.

Theo lời mệ tôi kể lại thì mệ và bà Ðàn cùng thế hệ với Sào Nam. Hai chị em nhan sắc mặn mà, là con của nhà tiền bối cách mạng Lê xuân Uyên. Khi ông Uyên bị giam tại lao Thừa phủ thì cô Ðàn lui tới thăm nuôi cha. Một viên chức cao cấp là đốc phủ họ Ðinh, người Nam kỳ, làm việc trong tòa Khâm sứ Huế, để ý đến sắc đẹp và học vấn của cô Ðàn nên hứa giúp cho cha cô ra tù nếu cô ưng thuận làm lẻ. Cô bằng lòng và trở thành cô Ðốc sau khi cha được phóng thích. Sau đó ông đốc Ðinh thuyên chuyển vào Sài gòn, cô Ðàn không chịu đi theo mà ở lại với cha già để tiếp tục chí hướng phục quốc của cha. Cô Ðốc trở về làng An hòa cùng với mệ ngoại tôi mở một quán nước bên đường để làm trạm liên lạc cho các đồng chí của cha.

Tìm hiểu vì sao ông Phan bội Châu lại gặp gỡ cô Ðốc Lê thị Ðàn thì cũng không có gì bí ẩn. Trong tập Việt Nam Nghĩa Liệt Sử của Sào Nam có đoạn hồi ký như sau : “Sau khoa Canh Tý tôi đỗ cử nhân rồi vào Huế , nói là để học trường Hậu Bổ rồi ra làm quan, nhưng thực ra là để tìm người cùng chí hướng cách mạng trong học giới, như Nguyễn thượng Hiền, Phan chu Trinh và các sĩ phu Nam Ngãi Trị Thiên… Trên đường từ An hòa về thị xã Huế tôi thường nghỉ chân trong một quán bên đường. Chủ quán là một cô gái trẻ đẹp, có tên là “cô Ðốc”, hỏi ra mới biết lai lịch đáng thương đáng kính của cô. Từ đó chúng tôi đã trở thành một cặp đồng chí cách mạng…”(Tập Nghĩa Liệt Sử này viết bằng chữ Hán, tôi không nhớ tên người dịch). Mệ tôi kể ông già Bến Ngự thường hay chọc ghẹo hai chị em bà. Cái quán đơn sơ này nằm phía ngoài chợ An hòa, gần ngã ba đường mòn, một đường xuống Bao vinh, một đường dọc quốc lộ số 1 đi ra Quảng điền. Ông Phan bội Châu và bà Lê thị Ðàn là “một cặp đồng chí cách mạng”như ông ấy đã viết; cũng có thể hay không thể đó là một cặp tình nhân. Có thể, vì bà vợ cả Thái thị Huyên của Sào Nam lúc đó chưa có con trai, bà là dâu chí hiếu; đối với cha chồng bệnh nặng, ông muốn có cháu nội trai, nên bà Huyên phải lo cưới gấp vợ hai cho chồng, cũng vì chồng là con độc đinh (tôi không biết tên người vợ hai này). Không thể là tình nhân vì bà ngoại tôi cũng như Sào Nam không hề khẳng định về bà Ðàn chuyện ấy. Bà hai đã sinh hạ một trai, bà Huyên đã bỏ công sức ra ôm ấp đùm bọc nuôi người ở cử hơn một tháng. Hai bà vợ coi nhau như chị em ruột.

Trong 10 năm gian khổ, là lúc cụ Phan 36 đến 46 tuổi còn kẹt ở trong nước tìm nhân tài, bà Huyên chỉ một đòn gánh trên vai buôn bán đắp đổi nuôi cả chồng lẫn con. Rồi ông xuất dương đông du, ly biệt bà hơn 20 năm nữa, cho đến khi bị Pháp bắt trở về giam lỏng ở Bến Ngự, bà ở Nghệ vẫn thờ chồng nuôi con thêm 11 năm trời, mới vĩnh biệt ông vào tuổi 71. Ông lớn hơn bà 5 tuổi.

Cái tình đồng chí của cụ Phan với bà Ðàn sâu sắc đến nỗi sau này khi hai người khuất bóng, hậu duệ đã xây một mái đình, thờ bà Ðàn, ngay bên vách trái nhà thờ cụ Phan ở Bến Ngự. Khi Sào Nam ở Nhật thì trong nước Cô Ðốc có nhiệm vụ vận động tài chánh và chọn lựa du học sinh cho đông du nơi 2 tỉnh Thừa thiên và Quảng trị. Cô thuộc lớp đảng viên mở đường của Việt Nam Quang Phục, đảng thành lập năm 1912, đến năm 1916 vua Duy Tân lãnh đạo đảng tổ chức khởi nghĩa bị thất bại, bà Ðàn bị bắt giam trong lao Thừa phủ, bị tra khảo thẩm vấn tin tức và đồng đảng, bà ngậm miệng không khai một chi tiết nào. Rồi một đêm sơ hở của cai tù, bà xé áo làm dây, thắt cổ, tuẫn tiết trong tù. Bà Lê thị Ðàn đã vì chữ hiếu bán mình chuộc cha, đã vì chữ trung quân ái quốc mà tuẫn tiết, nên cụ Phan Sào Nam đã truy tặng bà danh hiệu “Cô Triệu thị Trinh Nhỏ”, gọi theo chữ Hán là Ấu Triệu. Ông Phùng tất Ðắc sau này nhìn vào sử liệu cho rằng gọi như thế “e có phần quá mức”, nhưng với họ hàng của tôi thì như vậy là một an ủi lớn, một quyến thuộc được Lãng Nhân công nhận là một người đàn bà lừng danh trong sử Việt.

Chín tháng ròng, trọ học trong nhà thờ cụ Phan Bến Ngự, phòng tôi ở có cửa sổ lớn nhìn thẳng hướng tây, nhìn ra mái “Ấu Triệu Bi Ðình” mà câu đối viết bằng quốc văn nơi hai cột hai bên là:

Tơ nhân sợi nghĩa dây lưng trắng
Dạ sắc lòng son nết má hồng

Giữa đình đặt một bia đá có khắc chữ Nho mặt trước, chữ quốc ngữ mặt sau, ghi là :

“ Bia Liệt Nữ Ấu Triệu, người xã Thế lại thượng, phủ Thừa thiên, năm Canh Tuất đời vua Duy Tân, bị bắt vì quốc sự, bị tra tấn hết sức tàn nhẫn, nhưng thủy chung không cung khai một lời. Ngày 16 tháng 3 năm ấy tự tử trong ngục. Các đồng chí nhờ vậy mà được thoát nạn. Than ôi, quả là một liệt nữ. Sống vì nước chết vì nòi. Bà Trưng cô Triệu xưa rày mấy ai !”

Tôi thường tìm bóng mát và êm tĩnh, ôm sách vở ra đình Ấu Triệu, nhìn bia mà sôi kinh nấu sử, muốn noi gương tiền bối, cố gắng học để giúp đời.

Con đường Việt Nam Quang Phục từ vua Duy tân đến Phan bội Châu, Trần cao Vân, Thái Phiên, Tôn thất Ðề, chị em bà ngoại tôi và nhiều người yêu nước nữa đã và đang đi, thì việc đưa thanh niên đông du lúc trước cũng như bây giờ chỉ là một trong nhiều mặt trận chiến đấu. Thật là sai lầm khi ông Hồ chí Minh (qua tập thể người “viết tiểu sử” Trần dân Tiên) cho rằng .. “cụ Phan hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau”. Viết như vậy thì sử gia Việt nam ngày nay giải thích làm sao khi đã đưa hàng ngàn thanh niên qua Liên xô, Trung quốc, Ðông Ðức, Hung ga ri, Tiệp khắc…du học thành tài; và bây giờ cả ngàn thanh niên VN đang du học Mỹ là để rước Mỹ về cai trị VN hay sao? Thuở ông Hồ còn trẻ, Việt Nam Quang Phục đã cử ông Trần trọng Khắc (Nguyễn thức Canh) đến nhà Phó bảng Nguyễn sinh Sắc rủ Nguyễn sinh Cung đi Nhật học hành “nhưng anh Cung đã đi ra bắc, không được gặp” (xem Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử 1,Nxb Chính Trị Quốc Gia Hà Nội, 1993. Chú thích 2, tr.32) chứ không phải là “Nhưng anh không đi” (sách Trần dân Tiên). Nói mãi chuyện phịa trong tiểu sử lãnh tụ cũng thêm nhàm, cần che đậy những gồ ghề xấu xí, cần trau chuốc phóng đại và hoàn thiện những điểm những diện để gia tăng uy tín nhân vật, là chuyện phải làm!

Tôi có duyên may học hành tạm được khi ở trọ cạnh Bia Ðình Ấu Triệu, học năm học cuối trường Quốc Học. Tôi còn có duyên may khác nữa khi thương yêu một người con gái, từ năm 1958 tới giờ được 45 năm, từ khi nàng 16 tuổi và thành hôn với tôi năm 20 tuổi. Nhạc mẫu của tôi lúc đó là hiệu trưởng trường Ấu Triệu Qui nhơn, ngôi trường để lại rất nhiều kỷ niệm êm đềm cho bà và sâu đậm cho nhà tôi và hai cháu lớn của tôi. Hai cháu ấy sau này một dạy Hóa học Ðại học và một làm bác sĩ y khoa. Từ ngôi trường đầu đời ấy, khởi đi cho biết bao nhân tài thấm nhuần đạo nghĩa tổ tiên, quang phục tâm hồn Việt nam “tiên học lễ hậu học văn”. Tôi không rõ cả nước Việt có bao nhiêu trường Ấu Triệu, chỉ xin các thầy cô cũ, các học sinh xưa rải rác khắp bốn phương, hãy viết về trường mình, mình đã dạy ở đó, đã học ở đó, chưa bao giờ là người mua bán chữ nghĩa, mãi mãi vẫn là người cầu tiến, theo gương Ấu Triệu với Sào Nam, vừa kết hợp với Hoàng hoa Thám chống giặc thường trực, vừa trồng người cho mai sau.

Cảm Biến

Mục Lục


VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________



1. Câu Chuyện Thơ Nhạc

Thân mời các bạn nghe Câu Chuyện Thơ Nhạc do chị Bích Huyền thực hiện ,phát thanh hằng tuần vào thứ sáu trên đài Voa .

Mùa Lễ Tạ Ơn
Nghe thơ : Minh Cúc ,Trương Nam Hương ,Du Tử Lê
Nghe nhạc : Phạm Duy ,Từ Công Phụng
http://saigonline.com/mdv/BichHuyen/MuaLeTaOn.wma

Mai Ðức Vinh thân mời

Mục Lục




2. CHƯƠNG TRÌNH HẢI NGOẠI THI CA

Xin hân hạnh giới thiệu
CHƯƠNG TRÌNH HẢI NGOẠI THI CA
Do Miên Du & Kim Chi thực hiện, sẽ phát thanh hàng tuần vào tối thứ Bảy
Lúc 9:30 - 10:15 trên làn sóng 106.3 FM của đài Mẹ Viêt Nam
Kính mời các bạn yêu thơ nhạc nhớ đón nghe
Trân Trọng
Miên Du-Dalat
===================================
Chương trình HẢI NGOẠI THI CA tối thứ Bảy ngày 21/11/03
MD sẽ giới thiệu nhạc và thơ
của các Thi Nhạc sĩ sau đây:

Nhạc:
1/. Võ Tá Hân
2/. Minh Thao
3/. Nhật Vũ
4/. Vũ Thư Nguyên
5/. Trần Thuỵ Minh

Thơ:
1/ Y Nguyên
2/. Phạm Ngọc
3/. Hồ Ngọc Minh
4/. Nhược Thu
5/. Miên Du

Xin các bạn nhớ đón nghe trên làn sóng 106.3 FM lúc 9:30-10:15 Tối Thứ Bảy hàng tuần.

Mục Lục




3. Nguyệt san VietHome

Giao Muà vừa nhận được Nguyệt san VietHome do chị Ðỗ Mùi gửi tặng. Báo hiện nay đã ra đến số 5, in mầu giấy láng từ trong ra ngoaì, baì vở nhiều tiết mục: khoa hoc, van học, nhiếp anh? y tế, gia chánh...... Người chủ trương là chị Ðỗ Mùi, một khuôn mặt quen thuộc trong lĩnh vực báo chí.

Ðiạ chỉ cuả toà báo:
VietHomeMagazine
1340 Tully Road # 301
San Jose, CA 95122
tel 408-971-6057
VietHomeMagazine@cs.com.

Mục Lục









4. CD của NS Phạm Duy

Những CD Audio Ðặc Biệt :













Hữu Loan

a) Thái Thanh, Duy Quang hát Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà (kèm giọng đọc thơ của Hữu Loan)
b) Hương Ly (Ðài BBC) phỏng vấn Hữu Loan
* * * * * * * * * * * *
Hoàng Cầm

a) Ðặng Tiến (Ðài BBC) điện đàm với Hoàng Cầm, Phạm Duy.
b) Hoàng Cầm Ca (kèm gịong ngâm của Hoàng Cầm) : Lá Diêu Bông, Qua Vườn Ổi, Cỗ Bài Tam Cúc, Ðạp Lùi Tinh Tú, Tình Cầm, Trăm Năm Như Một Chiều. Thơ Hoàng Cầm, Phạm Duy sọan thành ca khúc, Duy Cường hòa âm, Thái Hiền, Duy Quang, Tuấn Ngọc hát.
c) Thụy Khê (Ðài RFI) nói về Hoàng Cầm và tập thơ “Ðường Về Kinh Bắc”.
* * * * * * * *


Ðã Có Audio CD

Phạm Thiên Thư



















Ðang thực hiện : Audio CD

Cung Trầm Tưởng - Nguyễn Tất Nhiên

* * * * * *













Giá một CD : 20$
(including handling & postage)
*
Pham Duy Productions
14692 Hunter Lane, Midway City,
CA 92655-1119
phone : 714 894 9064
e-mail : phamduy@aol.com

Mục Lục





VIỊ Nhạc : 1. Vẫn Yêu Người

Mục Lục


VIII . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, Cảm Biến, Châu Thái Lê, CC, DHH, Ðỗ Thành, HTLCG, Hoàng Mai Phi, Lâm Huân, Nguyễn Hữu Viện, BS Nguyễn Ðức Liên, Nguyên Dã Qùy, Ngô Thy Vân, Nngương, Nhược Thu , NS Phạm Duy, Phan Lạc Phúc, Phạm Vũ Anh Nam, Quang Ngọc, Song Tưởng Nhất Nguyên, Sông Cửu, Tâm Thư, TH, Trần Nhất Lang, Trần Công Nhung, Trần Thị Hà Thân, Viễn Phương, Việt Hải, Việt Dương Nhân, Vũ Thị Thiên Thư đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 20 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua2002@aol.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua2002@aol.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116-0378
USA

Trang Nhà