Số 22
Ngày 1 tháng 2 năm 2004
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116-0378
USA
Thư Ngỏ Ðầu Năm
Bạn mến,
Cuối ngày. Trở về nhà giữa cơn tuyết trắng trời, lòng bạc nhược trong cảm giác hụt hẫng bâng khuâng của ngày tháng chùng trôi trên đầu sóng lao đao.
Cành mai vàng trên chiếc thiệp chúc Tết mang con dấu bưu điện từ quê nhà, như thấu được cái lạnh phương xa, se sắt co mình dưới những hạt tuyết rơi lên giấy màu son đỏ.
Một cái Tết tha phương lại đến. Thêm một nguyên cớ để nhớ nhung về hương sắc Tháng Giêng ngày cũ. Tháng Giêng. Ra Giêng. Ngoài Giêng... Âm thanh chẳng nỡ buông cho mười hai tháng dài đủ ôm từng ngày rộng. Biên ngưỡng thời gian khơi vơi níu không đành nên vẫn mãi mơ mòng bước chân mình trở về trên lối xưa...
Tôi về nhặt chút hương mùa cũ
Xuân chín rồi cứ ngỡ xuân xanh (1)
Tháng Giêng xa. Tháng Giêng trong ca dao, lóng lánh màu trăng đêm hát hội. Tháng Giêng xưa, thắm thiết kỷ niệm buổi thiếu thời. Ðứa bé năm tuổi thua canh bạc đầu đời, mất sạch đồng bạc mới Mẹ mừng tuổi vào sòng bầu cua trước chợ Bến Ngự, mếu máo bước về nhà trên đường Trần Thúc Nhẩn lởm chởm đá. Mùi trái thị thơm lừng áo Mẹ, thơm môi trẻ thơ vừa vội quên thua thiệt, tươi tắn miệng cười.
Tháng Giêng sân trường, tình xanh như áo mới. Tháng Giêng trắng màu tang. Tháng Giêng xuôi quân ra Huế...đứng nhìn Thành xưa, lửa loạn trùng vây, bơ phờ bờ sông nắng bên tê bến đò Thương Bạc, âu sầu Tết Huế tang thương.
Tháng Giêng xanh. Tháng Giêng chờ một chút lượng xuân em... (2) để sáo sổ lồng theo bạn sang sông. Bay xa. Bay xa những mùa Xuân, cho tháng Giêng dài đêm lưu xứ.
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai (3)
Xuân đi, xuân đến, chuyện đời, tóc phai... Nụ mai đơn lẽ giữa tàn hoa bừng thoắt hiên đêm, hiển hiện, làm chợt tỉnh giấc kê vàng. Thấy mình đứng lặng giữa chiều tuyết dâng trời, cơ hồ hương trái thị lừng thơm áo Mẹ. Tuyết rơi hay mai trắng đang thả xuân về. Tháng Giêng xưa đang trở về gần hay lòng đang nghẹn ngào nửa bài xuân khứ (4)
Ra đi hẹn với xuân đầu
Buổi hồi nguyên lại pha màu bình minh (5)
Xin trang trọng chào nhau. Dắt díu nhau về với trời Quê Hương Tháng Giêng lóng lánh mùa xuân phía trước. Hảy mời nhau bước vào Tháng Giêng đang mở ngỏ. Gió đang thổi lộng qua vườn biếc, đánh thức từng nụ thơm còn thoảng quyện chút hương quỳnh ngủ muộn. Tháng Giêng ngập nắng, rực rỡ mai vàng, như muốn theo gió bay lên cùng cánh bướm nhung. Hảy cùng nhau trở về với Mùa-Xuân-Quê-Nhà.
Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng: từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân (5)
(1) Mường Mán
(2) Nguyên Sa
(3) Mãn Giác Thiền Sư
(4) Cung Vũ
(5) Bùi Giáng
Kính chúc bạn đọc và thân quyến một năm Giáp Thân an lành, dồi dào sức khỏe và vạn sự cát tường. Hẹn tái ngộ bạn đọc vào số Giao Mùa tháng 3, 2004.
Phan Thái Yên
BBT Nguyệt San Giao Mùa
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Một Muà Xuân | ______TH | |
| 2. Về Ðâu Chiều Nay | ______Trường Ðinh | |
| 3. Người Cũng Như Ta, Kẻ Lạ Ðời | ______Nguyễn Ðăng Tuấn | |
| 4. Em Như Xuân | ______Trần Thị Hà Thân | |
| 5. Mơ Xuân | ______Bích Hà | |
| 6. Lau Lư | ______Quên | |
| 7. Nỗi Nhớ Không Tên | ______Ngọc An | |
| 8. Muà Xuân | ______Sương Mai | |
| 9. Sài Gòn Trong Tôi | ______Viễn Phương | |
| 10. Mộng Dở Dang | ______Gia Phong | |
| 11. Ừ, thôi | ______Nnguong | |
| 12. Tranh Khuya | ______Chu Kỳ Thư | |
| 13. Quê Hương Nỗi Nhớ | ______Trần Nhất Lang | |
| 14. Nếu Bây Giờ | ______Trăng Ca | |
| 15. Xin Em Bước Chậm | ______Phạm Vũ Anh Nam | |
| 16. Có Bao Giờ Em Biết | ______Việt Hải | |
| 17. Chúc Xuân Cho Mẹ | ______Việt Dương Nhân | |
| 18. Muà Xuân Về | ______Tôn Thất Phú Sĩ | |
| 19. Ðường Muà Xuân | ______Sông Cửu | |
| 20. Có Phải Lỗi Tại Em | ______Nguyên Dã Qùy | |
| 21. Heo Mây | ______Ngô Thy Vân | |
| 22. Bóng | ______Lạc Duyên | |
| 23. Về Muôn Phía Hoa Khai | ______Vũ Thị Thiên Thư | |
| 24. Chiều Thân Phận | ______Châu Thái Lê | |
| 25. Có Lẽ... | ______Tâm Thư | |
| 26. Nước Pháp Con Sinh … | ______Nguyễn Hữu Viện | |
| 27. Xông Ðất | ______Luân Hoán | |
| 28. Chiều Dạo Thuyền Trên Sông Hương | ______Trần Hoan Trinh | |
| 29. Vẫn Là Em Bên Này Biển Rộng | ______Trần Kiêu Bạc | |
| 30. Thuốc Rượu Gia Truyền | ______Sóc Sơn | |
| 31. Chào Muà Xuân | ______Mạc Phương Ðình |
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Những Xuân Ca trong đời tôi _______ Phạm Duy |
| 2. Long xuyên và tôi (kỳ 2 và hết) ___________ Võ Thị Xuân Ðào | 3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 19) ___________ Trần Công Nhung |
| 4.Cây đa bến cũ (kỳ 1) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Muà Hái Tình Sầu ___________ Phan Thái Yên |
| 6.Cẩm Thân Cẩm Hợi ___________ Bích Xuân |
| 7.Nổ Như Ðại Bác ___________ Vũ Thị Thiên Thư |
| 8.Ðiểm Sách: Xinran Và Những Người Ðàn Bà Giỏi Của Trung Quốc ___________ Trần Viết Minh Thanh |
| 9.Tết Một Mình ___________ Trần Thị Hà Thân |
| 10.Muà Xuân Khó Quên ___________ Hoàng Mai Phi |
| 11.Hạnh Phúc Nơi Ðâu ___________ Vành Khuyên |
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 10)________________________________________________________________
| 1. BALLADE -- HUYỀN SỬ CA _______________________________ NS Phạm Duy |
IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
V. Nghiên Cứu________________________________________________________________
| 1. QUYẾT TÂM CHO NĂM MỚI _______ Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức |
| 2. BỆNH VIÊM XƯƠNG KHỚP _______ Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức |
VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Thi Ca Bích Xuân _______ Giao Muà |
| 2. Quyên Book _______ Giao Muà |
| 3. Chương Trình Hải Ngoại Thi Ca _______ Giao Muà |
| 4. Nguyệt San VietHome Magazine - Xuân Giáp Thân _______ Giao Muà |
VII . Nhạc __________________________________
| 1. Nhạc : 1. Ðể Tình Theo Gió Cuốn _______ Bích Hà |
VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
1. Những Xuân Ca trong đời tôi
Phạm Duy 2. Long xuyên và tôi (tiếp theo và hết) Võ Thị Xuân Ðào
Võ Thị Xuân Ðào
Trần Công Nhung Thanh Sơn
Thanh Sơn
Phan Thái Yên Phan Thái Yên Bích Xuân
Bích Xuân
Vũ Thị Thiên Thư
Vũ Thị Thiên Thư
8. Ðiểm Sách: Xinran Và Những Người Ðàn Bà Giỏi Của Trung Quốc Trần Viết Minh-Thanh
Trần Viết Minh-Thanh
Trần Thị Hà Thân
Trần Thị Hà Thân
Hoàng Mai Phi
Hoàng Mai Phi
Vành Khuyên
Vành Khuyên
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 13)__________________________________________ Nhạc Sĩ Phạm Duy
Phạm Duy
IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
DHH V . Nghiên
Cứu_____________________________________________ Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
THIỆP MỜI
2. Quyên Book
Xin mời dọc:
3. Chương Trình HẢI NGOẠI THI CA
do MIÊN DU & KIM CHI thực hiện vào mỗi tối thứ bảy lúc 9:30 - 10:00 trên làn sóng 106.3 FM của Ddài Mẹ Việt Nam
Mỗi tuần giới thiệu một Thi Nhạc sĩ và tác phẩm
4. Nguyệt san VietHome
Giao Muà vừa nhận được Nguyệt san VietHome số Xuân Giáp Thân do chị Ðỗ Mùi gửi tặng. Báo in mầu giấy láng từ trong ra ngoaì, baì vở nhiều tiết mục: khoa hoc, van học, nhiếp anh? y tế, gia chánh...... Người chủ trương là chị Ðỗ Mùi, một khuôn mặt quen thuộc trong lĩnh vực báo chí. VIII . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Phạm Duy
1948. Tôi lấy vợ. Khởi sự một niềm hạnh phúc dài 50 năm và còn hơn thế nữa, dù nhà tôi đã qua đời sau nửa thế kỷ cùng chung sống với nhau.
Cũng là sự khởi đầu của những ca khúc mùa Xuân trong một sự nghiệp có rất nhiều những chủ đề khác, gồm tình ca đôi lứa, tình ca quê hương, chiến ca, bi ca, tâm ca, đạo ca, thiền ca, rong ca… kể cả tục ca nữa.
Có thể nói tôi soạn bài xuân ca đầu tiên là ÐÊM XUÂN để tặng cho người vợ yêu quý vừa kết hôn là Thái Hằng. Bài này đậm đà, thắm thiết, chứa chan hạnh phúc. Trong sáng tác phẩm, đây là lần thứ sáu tôi nói tới cây đàn. Khi trước là CÂY ÐÀN BỎ QUÊN côi cút, là TIẾNG ÐÀN TÔI chết chóc trên đường dương thế xa vời, là tiếng đàn trầm vô tư BÊN CẦU BIÊN GIỚI, là cung đàn thờ ơ của TÌNH KỸ NỮ hay là cung Nam Thương, Nam Ai thở than của KHỐI TÌNH TRƯƠNG CHI. Bây giờ là tiếng đàn báo tin Xuân đã về và hạnh phúc đã tới.
ÐÊM XUÂN
(Chợ Neo, Thanh Hoá-1948)
Ðêm qua say tiếng đàn
Ðôi chim uyên tới giường
Chim báo tin Xuân đã về trong giấc mộng
Em yêu câu hát buồn
Lả lướt trong màn trăng
Yêu trời thanh vắng đón đưa em tới chàng
Hồn em chùm đêm tối
Tình em còn chơi vơi
Lòng em yêu rồi xin đừng nhạt phai
Ðừng nhạt phai.
Chưa quen nhau lúc đầu
Em nghe theo tiếng sầu
Ôi khúc ca nuôi mối tình muôn sắc mầu
Vì lúc trăng về đây có đàn đêm ấy
Ðã ru trái tim này
Hồn em tìm nương náu
Tình em chờ thương đau
Lòng em chưa tàn, xin đừng phụ nhau
Ðừng phụ nhau
Tôi trưởng thành đúng lúc nước nhà đang trở mình, đang tranh đấu, đang vật vã trong hạnh ohúc và khổ đau. Tôi đã phải lao mình vào những bài hát hiện thực xã hội, nhưng cũng có đôi lúc tôi lẻn mình vào hạnh phúc riêng với những bài mùa Xuân như :
HOA XUÂN
(Saigon-1953)
Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió xuân đưa lá vàng suôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung ròn.
Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cầy trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ nghìn nơi
Thấy hoa tươi cười bỗng thương đời.
Xuân ! Hoa còn tươi mãi
Hoa vì nhân thế biết xum vầy cuộc vui.
Xuân ! Hoa nở vì ai
Tay nhịp bàn tay cùng đắp xây ngày mai.
Có một chàng thi sĩ miền quê
Ngắt bông hoa biếu người xuân thì
Có một đàn em bé ngoài đê
Hát câu i, tờ đón xuân về.
Những đoàn người trên luống cầy nâu
Thấy hoa xuân phép lạ ra mầu
Bỗng nhủ lòng ra sức cầy sâu
Tiếng ca như thể tiếng kinh cầu.
Hoa bèn yêu bóng dáng cần lao
Bắt tay nhau tránh cuộc cơ cầu
Người cùng mùa đã thoát vực sâu
Sức hoa reo nở lúc Xuân đầu.
Xuân ! Hoa toả hương mới
Nhân quần ân ái đã kêu đòi niềm vui
Xuân ! Hoa là tình tôi
Ðua nở cùng ai, cùng luyến yêu mọi nơi.
Có một bầy thôn nữ nhìn hoa
Chúc cho Xuân vui vẻ thái hoà
Có một vài tóc trắng thầm mơ
Ước cho hoa nở mãi không già.
Ngay sau đó, tôi soạn bài XUÂN THÌ. Ðó là sự phát triển đề tài và cảm hứng về một Mùa Xuân Thái Hoà đã có trong bài HOA XUÂN. Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh tự vệ, đi trước một cuộc chiến tranh tương tàn, tôi đã mơ ước được nhìn thấy cảnh hoa đào đã nở trên vết mòn chiến xa…
XUÂN THÌ
(Saigon-1953)
Tình Xuân chớm nở đêm qua
Khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời
Ngày Xuân con én đưa thoi
Có người nhớ tới những lời yêu mến nhau.
Xa xa có tiếng kinh cầu
Chiều trên dương thế mang sầu mênh mông
Người đi giữa độ Xuân nồng
Nhìn nhau bỡ ngỡ rưng rưng lòng nhớ thương.
Tình thương nhân thế bao la
Yêu người năm trước (đã) khiến cho ta giận hờn
Và thương cây súng cô đơn
Hoa đào đã nở trên vết mòn chiến xa.
Ðường đi êm quá
Có phải giấc mơ đã thành tiếng thơ
Trời không mưa gió
Mẹ bế con thơ, con bú say sưa.
. . . . . . . . .
Tình ra núi Bắc, non Ðông
Duyên về tới chốn Nam sông, Tây rừng
Gọi đàn chim trắng như bông
Tin lành đưa xuống khắp vùng trên nước ta
Êm êm tiếng hát trăng tà
Tình soi trên phím tay ngà gái trinh
Người ôm nhân loại trong mình
Cười tuôn nước mắt cho Xuân tình dấy men.
Khi tôi vào miền Nam sinh sống, bài XUÂN NỒNG ra đời mô tả cảnh mùa Xuân không có gió rét mưa phùn, chỉ có chỉ có nắng to và gió bụi… Vậy mà vẫn nên thơ vì đó là mùa Xuân !
XUÂN NỒNG
(Saigon-1956)
Trời xanh xanh quá, sáng soi bên nhà
Hương xuân la đà lọt cánh cửa qua
Ngoài trời tự do, lũ bướm quanh co
Theo đường tơ, ra ngoài nẻo mơ.
Có tiếng guốc kéo vang trên phố vắng
Ðưa tôi ra gặp ngay ánh nắng
Có tiếng hát giáo đường trong gió sớm
Ðưa tôi về cuộc đời đầm ấm.
Một mùa Xuân nóng giữa nơi kinh kỳ
Mưa bay không về, chỉ có bụi xe
Mặt trời phương Nam trong lúc Xuân sang
Yêu người dân, Xuân nồng tình doan.
Nắng khắp phố phường
Và Xuân ngay trông vườn
Hoa cười lên hương
Dừa cao nghe ngóng
Máu Xuân trong lòng
Tràn lan trong gió cong
Yêu một dòng
Dòng nước cuốn mênh mông
Xuân vờn trên sóng
Có cô nàng giặt áo cho chàng
Mặt phơi ngoài nắng...
Trời xanh xanh quá, sáng soi bên nhà
Hương xuân la đà lọt cánh cửa qua
Ngoài trời tự do, lũ bướm quanh co
Theo đường tơ, ra ngoài nẻo mơ.
Có tiếng guốc kéo vang trên phố vắng
Ðưa tôi ra gặp ngay ánh nắng
Có tiếng hát giáo đường trong gió sớm
Ðưa tôi về cuộc đời đầm ấm.
Một mùa Xuân nóng giữa nơi kinh kỳ
Mưa bay không về, chỉ có bụi xe
Mặt trời phương Nam trong lúc Xuân sang
Yêu người dân, Xuân nồng tình doan.
Mùa Xuân bao giờ cũng làm cho lòng tôi xáo động. Sau bài Lữ Hành có tính chất siêu hình, vào mùa Xuân 1959, tôi soạn một bài hát cũng mang tính chất tâm linh là XUÂN HÀNH. Với bài này tôi muốn trả lời câu hỏi muôn đời : qui es tu? d'où viens-tu? où vas-tu? Cũng là câu hỏi mà tôi luôn luôn tự hỏi.
Tôi cho rằng : Người từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là người, vừa là thần thánh và ma quỷ, biết thương yêu dai và cũng biết hận thù dài, rất là đắm say... Nhưng trong khoảnh sống ngắn ngủi này, người phải biết nhìn toàn đời trong từng chớp mắt, phải biết vui biết buồn ngay trong một cơn tim đập, tim ngưng...
XUÂN HÀNH
(Saigon-1959)
Người là ai ? Từ đâu đến ?
Và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao ?
Người vì sao mà chớm nở ?
Rồi sớm tối, cánh hoa tươi tơi bời theo với những lá úa ?
Người là chi ? Là cơn gió ?
Là cát trắng hay bụi xanh lơ ?
Người từ xưa, thuyền theo lái về bến cũ ?
Người lên xe đi từ hư vô qua hư vô ?
Ta ra đi từ lòng người, với tiếng khóc và nụ cười
Thương yêu dai, hận thù dài, nuôi đắm say
Trưa hôm qua còn là người
Ðêm hôm nay thành vị thần hay lũ ma lẻ loi
Mỗi chớp mắt nhìn toàn đời, nuốt thế giới vào lòng rồi
Muôn năm vui ở nửa vời câu hát đôi
Nghe con tim chạy miệt mài, khi tim ngơi nhịp từng hồi
Buồn nghìn đời len giữa cơn đập vui.
Người là TA, một mùa Xuân toả ánh nắng mai
Bước lên đời mang một duyên tình duyên mới
Người là TA, đường nhân ái còn đi mãi mãi
Hết bước Xuân, TA gọi nhau về trong NGƯỜI.
Cũng trong dòng nhạc tâm linh, tôi soạn bài XUÂN CA, lần này không phải là hành khúc hay âu ca mà là dân ca phát triển. Trong bài này, tôi muốn nói mùa Xuân của tôi đã có ngay trong đêm tân hôn của cha mẹ tôi. Xuân như mặt trời nổ trong lòng mẹ, rồi từ đó, tôi ra đời, góp chung câu gào thiết tha cho mùa Xuân vĩnh cửu. Nếu tôi chết đi, xin cho tôi được tái sinh nhiều lần để tôi tiếp tục đi mãi trong mùa Xuân. Bài XUÂN CA được soạn theo ngũ cung Việt Nam.
XUÂN CA
(Saigon-1961)
Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về
Xuân âm u, lắt leo trong nguồn suối mơ
Bừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)
Xuân tôi ra, góp chung câu gào thiết tha
Là xinh, là tươi có Xuân thuở xưa ước mơ hiền hoà.
Xuân xanh lơ, hắt hiu trong trời nắng mưa
Vườn Xuân là Xuân có hoa ngày mai hát Xuân thật dài.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)
Xuân tôi sang bến yêu tôi tìm gió trăng
Tình Xuân là Xuân có khi mừng vơi, có khi sầu đầy
Xuân yêu đương, muốn căng lên nhựa sống ngon
Tìm em, gặp em đón Xuân nghìn năm bão Xuân ngập lòng.
p
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)
Xuân lên cao, chót Xuân buông nhìn xuống sâu
Hồn Xuân, hồn thiêng ngút lên từ lâu cõi Xuân còn dài
Xuân trong ta đã muôn ngàn lần đã qua
Mặc cho, mặc bao những cơn buồn thương những cơn giận hờn.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)
Xuân tôi ơi ! Sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hơi Xuân
Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần.
Xuân ơi Xuân ! Xuân ới Xuân ơi ! (2 lần)
Cũng để nói về Xuân, trong dòng nhạc tình ca quê hương, nhạc tình tự dân tộc soạn theo nhạc thuật dân ca mới, sau khi đưa ra bộ ba BÀ MẸ QUÊ-VỢ CHỒNG QUÊ-EM BÉ QUÊ... tôi phát triển một bài ca dao cổ :
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay...
thành một bài dân ca mới :
Nụ Tầm Xuân
Trèo lên, lên trèo lên
Trèo lên, lên trèo lên
Lên cây bưởi y y y hái y y y hoa
Bước ra ra vườn cà
Bước ra ra vườn cà
Cà hái nụ ù u ú tầm ừ ư ứ xuân...
Nụ tầm xuân ới nụ tầm xuân
Nở ra a a a xanh y biếc a a a a á
Em lấy chồng
Em đi lấy chồng
Anh tiếc tiếc lắm thay...
Một miếng trầu cay hỡi chàng
Chàng ơi chàng ơi nào khó ?
Một miếng trầu cay hỡi chàng
Chàng ơi chàng ơi khó gì ?
Sao anh không hỏi y ý
Sao anh không hỏi y ý
Sao anh không hỏi y ý
Những ngày em còn không...
Giờ đây đây giờ đây
Giờ đây đây giờ đây
Ðây em đà a á á có o ó o chồng
Em đã đã có chồng
Như chim chim vào lồng
Như cá ngậm y y ý mồi y y ý câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra...
Thấy chưa đủ để thỏa mãn mùa Xuân thường trực trong lòng tôi, tôi lùng trong thi ca hiện đại những bài thơ nói tới mùa Xuân để phổ nhạc.
Chẳng hạn trong bài thơ Tâm Sự Gửi Về Ðâu của Lê Minh Ngọc trong đó, vào lúc Việt Nam bị chia đôi, một đôi uyên ương phải chia lìa, người ở lại miền Bắc, người di cư vào miền Nam, rồi hẹn nhau :
Hẹn mai về, hẹn mai về, Xuân rồi Xuân quạnh quẽ Người gái quê, người gái quê, Xuân buồng Xuân vắng vẻ…
Hay đem ngay bài thơ Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ phổ nhạc thành một bài xuân ca dìu dặt, thanh lãng (serene), tiên cảnh :
Xuân tươi, êm êm ánh Xuân nồng, hiu hiu lũ cây tùng, dăm ba chú Kim Ðồng…
Nhưng có lẽ bài thơ Mùa Xuân Yêu Em của Ðỗ Qúy Toàn mới thật sự là một xuân ca trẻ trung, tươi thắm, ngộ nghĩnh :
MÙA XUÂN YÊU EM
(theo thơ Ðỗ Quý Toàn - Phạm Duy phổ nhạc)
Anh yêu em, yêu em vì em biết nói
Ðã biết thưa: Thưa Anh ! Em còn biết gọi
Sáng trời mưa, khiến cho anh nhớ em
Bây giờ nắng, anh nhớ em nhiều...
Ngồi xuống đây, nghe chim là chim ca hót
Ðồng cỏ như bàn tay, trời như mắt say
Ta ngó nhau, không còn biết nói gì
Hai đứa ngồi, ngồi đó như hai hòn bi...
Có cành hoa đẹp anh hái cho em
Em không thèm nhận, anh chết cho xem
Rồi anh sẽ khóc liên miên suốt ngày
Ôi chẳng bao giờ buồn như bữa nay
Này em yêu quý, em nào có nghe
Trên cánh đồng cỏ, có con bò kia
Nó kêu bò bò, và nó ăn cỏ
Trời hôm nay cao, yêu em hỡi gió...
Trên đỉnh đồi cao có cây cao tướng
Trên một cành ngang có một tổ kiến
Có con đi ra và có con đi vào
Trời hôm nay nắng, yêu em xiết bao
Này em yêu quý em nào có hay?
Ban nãy trên trời có đôi chim bay
Có đôi chim trắng bay trên nền trời
Trời xanh xanh quá đôi mình lứa đôi
Trời xanh xanh quá đôi mình lứa đôi...
Soạn lời ca cho nhạc bán cổ điển hay dân ca ngoại quốc, tôi dùng bài nhạc của Strauss để nói rằng : Ngày ấy khi Xuân ra đời, một trời bình minh có lũ chim vui. Có lứa đôi, yêu nhau rồi, hẹn rằng còn mãi không nguôi. (Khúc Hát Thanh Xuân). Hoặc chuyển bài dân ca Sakura của Nhật Bản thành bài :
Hoa Ðào Ca
Cổ ca Nhật Bản - Lời Việt : Phạm Duy
Rượu nồng ta uống, uống uống say
Một đêm ngất ngây,
Thả hồn theo gió heo may
Ðến hôn hoa, những cánh hoa đào say.
. . . . .
Nhạc nghe xa vắng, những tiếng buồn
Ðường tơ héo hon,
Chạy theo ánh sáng lung linh
Ánh trăng thanh đến mơn man cuộc tình trinh.
. . . . .
Trời Xuân man mác những mối sầu
Tình theo gió mau,
Cánh hoa tươi tốt không lâu
Có đêm nao, sẽ rơi mau về đời sau.
. . . . .
Rượu nồng ta uống, xoá cõi đời.
Ðể quên gió phai,
Ðời người mỏng quá đi thôi
Hỡi ai ôi, hãy quên đi, rượu đầy vơi.
Vào năm 1970. khi tôi và Phạm Thiên Thư -- cũng như tất cả chúng ta -- đang bị bao vây bởi một thành vách sương mù, khiến cho chúng ta không tìm ra đường đi, lối về… thì chúng tôi cùng nhau soạn đạo ca. Chúng tôi cố tìm ra con đường đi cũng như con đường về, nghĩa là ra đi hay trở về với thiên nhiên, gia đình, xã hội và siêu nhiên. Ðang lúc mọi người có thể bị tha hóa bởi thời cuộc, có một ca khúc gợi thế quân bình của người Việt giữa cảm súc, trí thức và hành động : đó là Ðạo Ca Mười mang tên Tâm Xuân. Nhưng ngoài việc tô đậm cái tinh túy của triết lý Việt Nam phát xuất từ ba tôn giáo Phật, Khổng, và Lão, chúng tôi còn muốn nói rằng : sự hồi sinh của tạo vật còn là sự thức tỉnh mạnh mẽ của tâm hồn của chúng ta. Về mặt âm nhạc, giờ đây tôi dùng giọng Sol trưởng ổn định hơn và xác quyết hơn âm điệu của những bài khác trong 10 bài Ðạo Ca, mặc dù chuyển cung rất nhiều lần sang các giọng gần khác. Giai điệu vui tươi, với một nét nhạc đi nhanh như thể một đám rước làng linh hoạt và nhịp nhàng. Chúng tôi đem mùa xuân trở về cõi lòng người trong cuộc chiến tranh tương tàn.
TÂM XUÂN
(Tam Giáo Ðồng Nguyên)
Xuân về trong gió, hoa lay lững lờ
Xuân về đám mây, bướm vàng nhụy bay
Xuân về lòng đất, mầm tươi nhựa trào
Xuân về non cao, chim mừng suối reo...
Xuân về biển mát, suôi nhanh cánh buồm
Xuân về suối xanh, cá hồng lượn quanh
Xuân về trầm ngát, Di Lạc hiền lành
Em về thiên nhiên, ngâm mình suối tiên.
Em về thôn trang, tiếng hò giao duyên
Em về khơi hương, thơm ngôi từ đường
Em về quê nhà, lễ đình làng ta
Nhớ cội, nhớ nguồn, đất tổ, quê cha
Em về siêu nhiên, hành hương chùa chiền
Dâng hoa cúng Phật, ưu phiền sẽ tan
Em mở lòng ra, vui cùng cỏ hoa
Xuân về vũ trụ ! Ta về lòng Ta !
Có thiên nhiên mới, an vui hiền hoà
Có lò hương đợi, nối liền ngày qua
Mái đình diệu vợi, nặng tình quốc gia
Chuông chuà siêu thoát, Ta vượt lòng Ta.
Bao dung độ lượng như bốn mùa hoa.
Mùa Xuân có không ? Hay là cõi Tâm ?
Mùa Xuân có không ? Hay là cõi không ?
Về nguồn về cội ! Về nguồn về cội !
Ðể rồi vươn tới, với lòng mênh mông...
Trong 10 bài Nữ Ca, bài TUỔI XUÂN mô tả một cô bé quá yêu đời, quá yêu người cho nên rất lo sợ rằng con tim nhỏ bé của mình sẽ bị vỡ toang vì tình yêu.
TUỔI XUÂN
(Saigon-1973)
Bỗng dưng yêu đời ! Bỗng dưng yêu đời !
Nhìn mây trăng trắng bay trên nền trời
Nhìn mây trăng trắng bay ra ngoài khơi
Bỗng dưng yêu đời ! Bỗng dưng yêu đời !
Tình yêu thứ nhất quê hương đẹp ngời
Rồi yêu kế tiếp năm châu mọi nơi.
Yêu biết bao cuộc sống
Yêu biết bao cuộc đời
Yêu từ ngày hôm nay
Yêu sẽ yêu còn dài.
Bỗng dưng yêu người ! Bỗng dưng yêu người !
Từ nơi xóm vắng hay trên lộ đầy
Từ nơi phố đó hay trong làng đây
Bỗng dưng yêu người ! Bỗng dưng yêu người !
Ở trong thương xá hay trên vỉa hè
(hoặc) Ngồi xe lam lắc rung rinh đường quê.
Em mến yêu trẻ thơ
Em kính yêu ông già
Yêu Thầy và Cô
Yêu kiếp em học trò.
Bỗng dưng vui nhiều ! Bỗng dưng vui nhiều !
Niềm vui thứ nhất, ba nuông mẹ chiều
Và vui thêm nữa anh yêu, chị yêu
Bỗng dưng vui nhiều ! Bỗng dưng vui nhiều !
Niềm vui kế tiếp không chê giầu nghèo
Và vui chót hết, em luôn được yêu.
Ðâu xá chi đẹp xấu
Em nết na yêu kiều
Nên nhiều người đi theo
Yêu sẽ cho gặp nhiều !
Bỗng dưng mơ màng ! Bỗng dưng mơ màng !
Tình thương yêu đến ôi sao vội vàng
Tình yêu chất chứa ôi trong buồng tim
Bỗng dưng mơ màng ! Bỗng dưng mơ màng !
Một con tim bé bao nhiêu là tình
Chỉ lo nó vỡ con tim đẹp xinh.
Nhưng em không sợ tim mình vỡ toang
Nhưng em không ngại tim mình vỡ toang
Em ca em hát, em vui rộn ràng
Em ca em hát, em vui rộn ràng
Là la la là la la là là...
Trong loạt 10 bài Bình Ca soạn trong năm 1970, có một bài hát mùa Xuân rất là cổ kính nhan đề Xuân Hiền, trong đó có nhiều danh từ Hán tự như Xuân Phong, Xuân Tiêu, Xuân Miên... để nói tới gió Xuân, tới ánh sáng mùa Xuân, tới giấc ngủ và giấc mộng đêm Xuân. Hình ảnh mà tôi thích nhất trong bài này là: khoanh tay ra bờ giếng gọi tên Trời Ðất.
XUÂN HIỀN
(Saigon-1972)
Xuân huy chan hoà trên khắp quê hương
Nắng chói gia đình huyền bí trăm con
Năm mươi người xuống
Năm mươi người lên
Ðến lúc gặp chỗ hàn huyên
Xuân phong đem về tin tức vui chung
Gió mát cho lòng rộng rãi thong dong
Chung nhau cuộc sống
Chung nhau cuộc chết
Và quyết định cưới Xuân liền !
À ạ ơi ! À ạ ơi ! (2 lần)
Xuân xanh em là xuân nữ tơ trinh
Sức sống em là dòng suối lung linh
Em nghiêng từ núi
Em trôi về khơi
Uốn khúc mình nõn nà tươi
Xuân xanh anh đà tóc trắng da nhăn
Sức sống anh là biển cũ mông mênh
Anh vươn từ bãi
Anh lên ngàn chơi
Thả khói lờ lững lưng trời...
À ạ ơi ! À ạ ơi ! (2 lần)
Xuân tiêu em nằm trong giấc mơ yêu
Trăng xuân mỹ miều nhẹ bước đi theo
Ði thêm vào đó
Ðôi chim bồ câu
Cất tiếng gù ấm lòng nhau
Xuân miên anh vào sâu giấc mơ tiên
Bứt trái hạnh đào, rượu uống liên miên
Anh ra bờ giếng
Khoanh tay gọi tên
Gọi đất trời rất ngoan hiền...
À ạ ơi ! À ạ ơi ! (2 lần)
Xuân non, Xuân già, Xuân vẫn Xuân quen
Mới biết Xuân là cuộc tái sinh duyên
Thu, Ðông, Hạ chết
Nhưng Xuân còn nguyên
Khuyến khích dòng máu về tim
Xuân không lên đường, Xuân đứng êm êm
Ðứng mãi trong đời để cõng ta lên
Yêu Xuân đằm thắm
Yêu Xuân một phen
Và sống cùng với Xuân hiền...
À ạ ơi ! À ạ ơi ! (2 lần)
Thời cuộc trong năm 1954 làm cho đất nước bị chia đôi, tôi chọn miền Nam để sinh sống và trong suốt 20 năm ròng rã, tôi đã để cho con người xã hội (l'homme social) của tôi được mỗi ngày một trưởng thành với loại nhạc TÌNH TỰ QUÊ HƯƠNG.
Lọai ca này, khi thì nó mang tính chất xưng tụng với dân ca phục hồi, dân ca cải tiến, khởi đi từ dân ca phát triển rồi tới trường ca, từ đơn khúc tới chương khúc.
Khi thì loại ca này phê bình xã hội với tâm ca, tâm phẫn ca, vỉa hè ca, tục ca, thương ca chiến trường… khi thì nó siêu hình với đạo ca, nó tươi mát với bé ca, nữ ca. nó bùi ngùi với bình ca v. v...
Còn về tình khúc thì con người tình cảm (l'homme sentimental) trong tôi chỉ được thả cho trôi theo một cuộc tình rất muộn màng, rất khó khăn và không có lối thoát nào hơn là sự chia phôi, để cho một số tình ca đôi lứa, tình ca một mình được ra đời, nói lên tất cả hạnh phúc và khổ đau của một con người khi đi vào tình ái...
Trong tất cả các thể ca, Xuân luôn luôn có mặt. Trong trường ca Mẹ Việt Nam, tôi xưng tụng phụ nữ Việt Nam trong mùa Xuân giết giặc. Trong tổ khúc Bầy Chim Bỏ Xứ, tôi muốn thấy cảnh hồi xứ của loài chim ngoan trở về để xây đắp quê hương với câu hát hân hoan cho mãi Xuân sang…
Trở về với nhửng đoản khúc mùa Xuân thì trước ngày định mệnh 30 tháng Tư 1975, nhân dịp Tết, một hãng sản xuất băng nhạc nhờ tôi soạn hai bài hát mùa Xuân. Vì tôi còn đang trong không khí của những bài hoan ca, tôi soạn cho con gái yêu Thái Hiền bài hát nhan đề :
TRÊN ÐỒI XUÂN
(Saigon 1975)
Một buổi sáng vừa tỉnh giấc là tàn Ðông
Liền vội đứng dậy mở tung cửa đón Xuân
Nắng trên thềm lấp lánh
Lũ bướm vàng tung cánh
Với to nhỏ chim hót trên cành
Chải vội tóc, mặc áo vóc, xỏ dầy cong
Rồi mở cánh cửa mầu xanh, rời gót xinh
Bước ra đường thơm mát
Dắt lên đồi xanh ngát
Ðón Xuân về trên khắp quê hương.
Ði êm, đi êm trên cỏ nõn nà
Ta đang đi trong hơi thở quê nhà
Gió mát cũng đến với đôi tay ngà
Một bầu trời hồng ôm lấy ta
Xanh như mây xanh, thay cặp mắt này
Thơm, trong ta thơm hơn loài hoa dại
Suối tóc bát ngát cuốn quanh vai gầy
Dâng trong tim ta, sóng vơi đầy...
Một con ốc nằm yên giấc ở đồi hoang
Bỏ mộng ngoan từ vỏ, vươn chào đón Xuân
Khiến ta là làn rêu bám
Cũng ngước mặt nghênh đón
Bóng dáng người con gái tươi ròn
Chuồn chuồn ghé về ngấp nghé ở vòm tre
Mùa Xuân sẽ còn thổi đi liều thuốc mê
Khiến cho bầy giun dế
Cũng như đàn em bé
Quấn quýt đời, không muốn ra đi !
CODA
Từ đồi Xuân, lòng vương vấn rồi phân vân
Bèn gửi luôn một nụ hôn vào Xuân mới !
Gân ba chục năm sau, tôi mới có dịp ngó tới bài hát này, không ngờ nó là bài hát mùa Xuân cuối cùng được sống trên đất nước ! Quê hương đẹp quá, khiến cho cô bé Việt Nam choàng dậy, chải vội mớ tóc mây, mặc bộ áo vóc vào người, xỏ đôi giầy cong rồi chạy tung lên đồi. Cô bé đi như đi trong hơi thở của quê hương, gió mát và bầu trời ôm ấp cô, mây làm xanh mắt cô, hoa cỏ làm thơm lòng cô và trong tim thì cô có sóng. Rồi một người trai mang kiếp rong rêu nào đó, muốn cùng với con ốc bò ra khỏi vỏ, và cùng với cô, cùng với loài dun dế âm thầm hay với bầy chuồn chuồn vô tư lự được... quấn quýt đời, không muốn ra đi ! Không muốn ra đi, nhưng cuối mùa Xuân đó, vẫn phải bỏ quê hương ra đi.
Ngoài bài TRÊN ÐỒI XUÂN đó ra, tôi còn soạn thêm một bài hát muà Xuân nữa, trong đó có nói tới chuyện khoan dầu trên biển, khiến cho nước ta sẽ giầu to, người dân sẽ đủ no và có tự do.
MỪNG XUÂN
(Saigon 1975)
Mừng Xuân tới bằng tiếng sáo vui
Với tiếng cười yêu mến đời.
Mừng Xuân tới bằng tiếng vỗ tay
Vang khắp trời mây.
Xin mừng anh chiến sĩ nơi tiền phương
Giữ đất cho Việt Nam hùng mạnh.
Nơi đồng xanh chúc bác dân cầy luôn
Lúa tốt, hoa mầu tươi suốt năm
Xin cho phố xá nơi thành đô
Giới bán buôn làm to lời nhiều
Chúc cho một nước dân đủ no
Chúc cho một nước luôn tự do.
Mừng Xuân tới bằng tiếng hát vang
Dưới mái trường hay giữa đàng
Lời ca hát từ núi xa xăm
Ra tận đại dương
Mừng em bé vừa mới lên năm
Có Tiên về nơi bé nằm
Mừng ông lão bà lão tám mươi lăm
Sống thêm ngoài chục năm
Mừng Xuân tới bằng tiếng máy khoan
Nơi núi rừng, nơi suối ngàn
Mừng Xuân tới bằng tiếng máy soi
Giữa nơi biển khơi
Xin mừng cho những bước chân khẩn hoang
Vỡ đất cho Việt Nam thịnh vượng
Nơi mỏ than, chúc những anh thợ ngoan
Với cánh tay đẩy lui nước non
Xin mừng cho những tháp nơi biển xa
Mãi mãi phun dầu ra mịt mù.
Chúc cho một nước dân giầu to
Chúc cho một nước luôn tự do.
Mừng Xuân tới bằng tiếng hát vang
Dưới mái trường hay giữa đàng
Lời ca hát từ núi xa xăm
Ra tận đại dương
Mừng em bé vừa mới lên năm
Có Tiên về nơi bé nằm
Mừng ông lão bà lão tám mươi lăm
Sống thêm ngoài chục năm.
CODA
Mừng đôi lứa vừa mới kết hôn
Mối duyên tình luôn vững bền
Mừng tôi đã ngày thêm một lớn
Lớn thêm cùng những vui buồn.
Trong cuộc sống lưu vong, có một ngày tôi thấy rằng đã đến lúc tôi phải giã từ trần thế để rong chơi nơi cõi khác… Cho nên tôi soạn 10 bài Rong Ca, trong đó có bài Ngụ Ngôn Mùa Xuân. Bài này còn vương vấn hương vị cõi trần và là một bài hát vui, nhưng hình ảnh lại rất ngậm ngùi như thân phận của những người dân nhược tiểu. Bài ngụ ngôn kể chuyên hai người mù đánh nhau, hai người câm cãi nhau, hai người điếc ngồi nghe những bản nhạc ngoại lai, hai người khỏe mạnh, mập mạp biết rằng đánh nhau thì chết nên cất vũ khí đi, xúi hai người gầy còm ốm yếu đánh nhau hộ mình... Tác giả hy vọng trong trăm năm sắp tới, người mù sẽ thấy được sự thực của nhân loại, của Việt Nam, người điếc được nghe tiếng nói của lương tâm và ngưòi câm hát lên được tiếng hát đưa con người vào những thế kỷ tới.
Ngụ Ngôn Mùa Xuân
(Tết Mậu Thìn-Tháng 2, 1988)
Có hai thằng mù đánh nhau ngoài ngõ
Cả hai thằng đều sứt trán, sứt tai
Có hai thằng câm cãi nhau giữa chợ
Cả hai thằng đều rát lưỡi, bỏng môi
Có hai thằng mù đã câm, lại điếc
Có hai thằng điếc ngồi nghe nhạc Tầu
Nhạc Tây, nhạc Mỹ, nhạc Nga
Có hai thằng mập đánh nhau thì chết
Cả hai thằng bèn cất võ khí đi
Có hai thằng kia gờm nhau quá độ
Cả hai thằng bàn ký kết làm ngơ
Bắt hai thằng gầy đánh nhau hộ nó
Bắt hai thằng yếu cùng nhau giải hoà
Bằng xương, bằng máu, thịt, da
Có khi mù này đánh lui mù đó
Hả hê về nhà, mắt ốc ngước lên
Có khi thằng câm thắng cơn cãi lộn
Hả hê về nhà ú ớ, mừng rên
Có khi thằng mù, gã câm, thằng điếc
Gác chân, tự đắc, ngồi trong chòi nghèo
Buồn thiu, mà ngỡ lầu cao
Có nghe gì chuyện nước tan, nhà nát
Chẳng nghe được gì tiếng khóc, tiếng than
Có đâu nhìn ra mầu khăn goá phụ
Làm sao nhìn được mắt bé mồ côi
Có đâu giọng ngọt, hiến dâng tình với
Những hoa cỏ mới, mọc trong điêu tàn
Bịt tai, bịt mắt, (chúng) lặng câm
Bỗng đâu Người Tình ghé chơi một chuyến
Vào khi tàn rồi, cái cũ bách niên
Bỗng đâu nửa đêm ánh dương chói rạng
Làm cho người mù mắt sáng bừng lên
Bỗng đâu Người Tình ghé tai người điếc
Nói chi chẳng biết, mà nghe dịu dàng
Ðời hai nghìn đã vừa sang.
Ðã trông được thời bách niên đổi mới
Ðã nghe được lời sáng suốt bên tai
Ðã không còn câm và im tiếng gọi
Ðã nói được lời vói tới tương lai
Ðã ra được ngoài cõi tim tù tối
Ðã trông được những đường đi, nẻo về
Ðường đưa người tới nghìn thu.
Rồi tôi bước hẳn vào cõi Thiền và soạn 10 Bài Thiền Ca. Mùa Xuân vẫn còn theo đuổi tôi cho nên trong 10 bài có một bài mang tên cụt thun lủn : Xuân.
Bà Thụy Khuê, nhà phê bình nổi tiếng đã viết về bài này như sau :
“ Nếu tình yêu mở cửa cho Phạm Duy bước vào vô tận từ thuở Lữ Hành thì đến Thiền Ca, bản chất vô ngã của tình yêu mới được Phạm Duy trải ra tới nguồn cội. Thiền Ca số 5 mang tên XUÂN. Xuân là mùa Xuân, Xuân cũng có thể là tên một người, nhưng đây Xuân là Tình yêu. Khi hát câu người người hung dữ, trừ tôi, chớ tưởng ''tôí' là Phạm Duy. Không, tôi đây là Xuân, Tôi đây là: Xuân con bướm hút nhụy xuân tình, là gió xuân hồng, là cơn xuân vũ, là ý thơ nồng trang giấy xuân thư... Phạm Duy giải thích về nhạc lý: nhạc ban ngày, mở đầu là những nét roi, nhát chém của cuộc đời. Rồi là những lời vãn ca. Rồi nhạc trở nên mặn mà, tha thiết. Ðối với người nghe thì ở đây bản chất vô ngã hay sự tan loãng của con người trong nhau -- mất đi trong nhau -- đã được cất lên dịu dàng qua giọng hát Thái Hiền băng trinh: Tôi là tôi, tôi cũng là em, em là tôi, em cũng là anh... Và không phải ai cũng thấy được những ''mất mát'' đó. Phạm Duy xưng tụng tình yêu từ hơn nửa thế kỷ nay, sáng tác những bản tình ca tha thiết nhất cho nhiều thế hệ yêu đương. Nhưng chỉ trong Thiền Ca, Phạm Duy mới thấy đến tận cùng bản chất tình yêu. Sự trực nhận ấy là thiền, là sức mạnh của sự sống”.
Thiền Ca XUÂN
Bội bạc, dối trá cả rồi
Người người hung dữ, trừ tôi
Hận thù, chém giết bời bời
Rồi người chết hết, còn tôi
Lối cũ mỏi mòn năm tháng
Ngăn che người vắng tiếng cười
Muốn tới được bờ sông giác
An nhiên hát nhỏ, cùng tôi
Tôi là tôi, tôi cũng là em
Em là tôi, em cũng là anh
Là Xuân con bướm hút nhụy xuân tình
Là gió xuân hồng, là cơn xuân vũ
Là ý thơ nồng trang giấy xuân thư.
Bây giờ là năm 2004. Tôi đã già rồi và không muốn (hay là không thể) ngồi soạn thêm một ca khúc mùa Xuân nữa, khi mùa Xuân đang rộn rã tới.
Âu là xin được ngồi hồi tưởng lại những Xuân Ca xa xưa của mình để âu yếm dâng tặng Nàng Xuân. Và kính tặng các bạn đọc.
Thị Trấn Giữa Ðàng
Mùa Xuân 2004
...
Phu quân tôi, người cùng tôi sống triền miên với những kỷ niệm trong ký ức muôn màu, người uống từng giọt men cay nồng tiếc thương thời xanh tóc, người lê thê lết thếch theo tôi, mỗi lần gặp người quen, tự giới thiệu " Tôi là Rễ Long Xuyên" quanh quẩn chỉ có mấy người thân, chút dây mơ rễ má, gặp nhau nhắc lại chuyện quê nhà, trong lòng nỗi ước mơ thôi thúc, năm trước đây anh đề nghị " hay là mình về Long Xuyên một hôm đi ".Nhân chuyến về thăm gia đình, thật ngắn ngũi, chúng tôi cố dành lại một ngày, để đưa nhau về thăm đất hứa.
Ngồi trên chiếc ghế đẩu ở bến xe đò, loại xe tốc hành nhỏ, chờ đến giờ rời bến, ôm cái xách tay trong chứa bộ quần áo thay đổi, vành nón che nửa mặt, phu quân tôi mua mấy quyển sách xem bói tướng của em bé đi bán dạo, tôi chỉ cười thầm, không cần phải đoán tương lai, hai chúng ta có chung số tha hương, bởi đi nửa vòng trái đất mới tìm được nhau, duyên hay nợ cũng đã phần tư thế kỷ rồi, vắn hay dài cũng đã tuổi tri thiên mệnh …Bất chợt Anh khều chân " nhìn kỷ anh chàng áo trắng kia, có phải Phú Hải không ? " "Không chắc đâu, hắn làm gì lang thang nơi nầy ?" " Ðể anh hỏi thử, không đúng người thì thôi, chẳng mất mát gì, nhưng sẽ không bận tâm nữa " Tính anh vẩn vậy, thẳng thắn, không thích vương mắc bâng quơ.
- Xin lổi, Anh có phải là em của Nguyễn Phú Hải, Hải Mohamet không ?
- Tôi tên Hải, Hải Mohamet, ủa trông anh quen quá!
- Nhìn lại người nầy, xem anh có nhận ra không ?
- Chị Xuân Ðào, anh Thành sao lại lang thang ở đây ? Về bao giờ ?
- Bất ngờ quá, chị về hơn tuần nay, giờ trên đường về Long Xuyên đây.
- Chị về đó làm gì ?
- Ðưa anh Thành đi thăm chốn cũ thôi, nhân tiện tìm một ít bạn bè còn lại. Lần trước về thoáng ngang qua, có lang thang đi tìm nhưng chẳng gặp một ai. Lần nầy về hy vọng tìm được Lâm Viên thì sẽ phăng ra manh mối.
- Lâm Viên hả? Tưởng gì khó khăn, chị chờ một chút.
Hải xin lổi rồi vào trong văn phòng, ngồi xuống bấm số điện thoại, nói chuyện với người bên kia đường dây, nhìn qua khung cửa kính, gọi tôi
- Hải gọi được Lâm Viên trên điện thoại, chị vào nói chuyện với nó nhé.
- Cảm ơn, Hải nghĩ nhanh quá.
Từ giã Phú Hải, chuyến xe tốc hành mang chúng tôi về Long Xuyên, qua những thành phố nhỏ dọc theo quốc lộ 4 về miền tây, qua cầu Mỹ Thuận, chiếc cầu vĩ đại là đề tài của những cuộc chuyện trò mở đầu thế kỷ, một bước tiến kỷ thuật mà người dân quê mộc mạc hiếu kỳ dẩn nhau đến chiêm ngưỡng hàng ngày. Ngang bến bắc Vàm cống, con sông Hậu giang phù sa màu mỡ, xôn xao nhìn về chân trời, chỉ cho phu quân nhìn đôi bàn tay chắp in trên nền trời xanh, chín cây số từ Cầu bắc về thị xã Long xuyên, qua cầu Cái Dung, Cái Sao, Rạch Gòi, Tầm bót, Cái Sơn. Rời bến xe đò, chúng tôi lang thang về đường liên tỉnh 9, nhìn những khách sạn đứng san sát bên vệ đường, căn nhà của thầy Lâm Ðức Minh với sân trước đầy hoa, với lá dừa khiêu vũ đêm trăng sáng , cổng rào im lìm lặng lẽ, đối diện nhà của trắc địa sư Nguyễn Ngọc Tố khuất sau chòm cây . Tôi rẽ vào con hẻm nhỏ, đôi chân như chấp cánh bay dưới nắng chiều, nhớ hầm lục bình đầy hoa, hàng dừa nghiêng bóng xỏa lá xanh, hàng cau thanh thoát tỏa hương thơm quất quít, tôi đi trong mộng du, trong hư ảo, con dường đất như trải thảm hoa, như giăng đầy sao sáng. Một bước, theo một bước, phu quân tôi im lặng đi theo sau, anh tôn trọng phút giây bàng hoàng, anh chờ cho cơn say ngất ngây lắng xuống, ngõ hàng cau, con đường kỷ niệm, tôi bơi ngược thời gian, bước đi, dừng lại, nhìn gương mặt ngơ ngác, anh hỏi nhỏ
- Có muốn anh hỏi thăm cho em không ?
Tôi nhìn anh, nhà của em mà, sao lại hỏi thăm? Con đường em đi qua hàng ngày, cái ngõ em rẽ vào nhắm mắt cũng tới mà. Tôi tiếp tục bước đi rồi dừng lại, nhìn những mái ngói mới bên cạnh mái tôn đã trải qua một thời xuân sắc. Khu mộ đá nằm khuất sau cỏ rậm, đã lâu không người chăm sóc, mưa nắng rong rêu, cỏ dại tha hồ, bìm bìm hắc sửu bò ngang dọc, tôi đứng ngẩn người, sao lại lạc sang ngõ hẽm trên, phía nhà Khánh Hồng? Trở lại đầu đường, đi về phía hẽm dưới , nhớ lại khi xưa chỉ có một dãy bốn căn nhà gạch, kế đến là nhà thầy Hộ nàêm giữa ao lục bình, ngang cửa là nhà bác Tư Kỉnh, kế bên là Ngọc Phượng, bây giờ, hai dãy nhà sát nhau, hàng cau lá xanh mượt mà đã biến mất, hàng rào ra đến tận lối đi, không còn khoảng sân với hàng băng đá chiều chiều ngồi chuyện trò, tôi dừng lại, hỏi thăm nhà cô giáo Kim Cương.
- Ở xóm nầy có nhiều cô giáo lắm, xóm bên kia cũng có mấy cô giáo nửạHay là cô đến hỏi Dì hai nhà kia, Dì ở đây lâu rồi chắc biết rành hơn tôi .
- Cám ơn bác.
Tôi đứng sững sờ, nhìn căn nhà gạch mới xây, hai tầng lầu, đứng ngạo nghể trong nắng trưa, gốc bồ đề không còn nữa, hàng rào gạch xây ra tận mặt đường cổng khóa kín. Ðâu rồi khoảng sân nhỏ trồng hoa bốn mùa, mái hiên nhà chiếc võng con giăng dưới bóng cây bồ đề rậm mát, căn nhà trước đây dập dìu tiếng nói cười, hàng ngày vang tiếng nhạc, lời ca, tên Giao Duyên trang bạn bè thân yêu vẩn thường gọi, những đêm thúc trắng chờ ngày thi, những mùa báo tường, báo xuân rộn rịp vào ra, căn nhà sáng ngời trongtrí nhớ, từng manh ván vụn, từng mắc gỗ bóng loáng dấu chân quen, lần trước về thăm còn ngồi lại chiếc võng đong đưa trước hiên, trong ký ức bồi hồi còn âm vang những lần bình thơ suốt sáng, đối đáp bàn luận thâu đêm…Tôi thất thiểu đi ra, lòng ngổn ngang trăm mối, mình lạc mất lối về, tìm được thì không ai còn biết mình từ đâu đến, xưa dọc Lưu Nguyễn về trần, vô tư, không bao giờ hình dung được ngày nầy.
- Lâm Viên, chị về Long xuyên lần nầy cố ý đi tìm chút kỷ niệm thời cắp sách, thăm bạn bè còn ở lại, và ghé ngang căn nhà cũ, nhưng đã không còn tìm thấy mái tôn cùng dấu vết căn nhà khi xưa.
- Long Xuyên thay đổi nhiều, ngày mai chị đi một vòng, sẽ thấy, Chị dự trù đưa anh Thành đi thăm những đâu ?
- Chưa đi đến đâu cả, lúc bước xuống bến xe đò, đi ngang đường Liên tỉnh, tạt vào tìm nhà cũ, ngơ ngác, sợ trể giờ hẹn với Lâm Viên nên trở về khách sạn chờ, định đi thăm trường Chưởng Binh Lễ và Thoại Ngọc Hầu cũng như trường Sư Phạm, công trường Trưng Vương, công viên Nguyễn Du…
Buổi cơm chiều, chuyện trò không dứt, băng qua đường Tự do, ngang khu nhà mới kiến thiết sau trận hỏa hoạn năm xưa , những ngôi nhà gạch đỏ mái tôn ngày nào một lần nửa thay bằng những căn phố hai tầng khang trang, đường phố rộng rãi hơn xưa, buổi chiều nắng đã tắt, ánh sáng của những ngọn đèn đường vàng vọt soi mấy chiếc bóng khẳng khiu. Nhớ hàng cây cồng tàng lá như chiếc lọng che những ngày sinh hoạt trong sân trường Mỹ Phước , con đường như nhỏ lại dưới buớc chân thênh thang. Nhớ buổi sáng tịnh tâm của trại huấn luyện trưởng, nhớ vòng sinh hoạt bên lửa trại hoạch định kế hoạch cho tương lai…
Trở lại con đường liên tỉnh, vào chính con hẻm ban trưa đi lạc qua, tôi ngẩn ngừơi nhìn lại căn nhà nhỏ gọn gàng, ngăn nắp, tủ sách đứng trong góc, gáy sách xếp thật thẳng hàng, bao nhiêu năm qua, thói quen yêu quí sách vở vẩn không thay đổi. Viên mời ngồi rồi đi thẳng lên gác , lúc trở xuống tay cầm mấy tuyển tập vàng úa, thoáng nhìn đã biết làm từ những năm còn mài ghế trường ChưởngBinh Lễ thân yêu. Nhìn nhau trân trọng, ba mươi năm qua, vẩn gìn giữ chắt chiu nhửng tờ giấy úa vàng ghi lại biết bao nhiêu tình, chứa đựng bao nhiêu hình ảnh, những tờ giấy mực in đã nhạt màu, những trang giấy như khơi lại, như cuộn phim trình chiếu liên tục, ký ức cuồn cuộn chảy về, miệt mài như sông Hậu mùa nước đổ, như phù sa lớp lớp.
- Viên còn giử đủ tất cả các tuyển tập mình thực hiện khi xưa, chị chắc chưa quên?
- Quên ? Chị chưa đến nổi lú lẫn, chị vẩn còn giữ tập giấy học trò Viên vẽ tặng lúc chị vào đại học. Những sách vỡ cũng như bản thảo khác đã được thiêu đốt cẩn thận hối chiến dịch văn hóa .
- Viên hòan lại cố chủ một ít bản thảo còn giử được, Viên chỉ giữ lại tuyển tập thôi, nhờ chị gởi trả lại luôn bản thảo của Kim Thoa .
- Chị thật không ngờ còn có ngày thấy lại thủ bút ngày xưa, Viên làm chị cảm động quá, ba mươi năm rồi.
- Chị còn nhớ thầy quản thủ thư viện không?
- Thầy Tình, nhớ chứ, thầy bây giờ ra sao ?
- Thầy đã mất rồi ?
- Thật sao , Thầy mất năm nào ?
- Ðã mấy năm rồi. Thầy gặp tai nạn xe Honda, những năm sau nầy tôi vẩn thường đến thăm, có lúc thầy trò chỉ nhìn nhau ứa lệ
- Chị không ngờ thầy lại mất sớm. Thầy Bạch có còn ở đường Trương Vĩnh Ký không?
- Chị có muốn đến thăm Thầy không? Thầy vẩn còn ở căn nhà đó
- Giờ nầy có muộn lắm không ?
- Mình đi bây giờ, hãy còn sớm, phần dưới nhà Thầy cho mướn làm trường dạy Tin Học, giờ nầy lớp học chưa mãn đâu .
Vẩn nụ cười hiền hòa, vẩn gầy gò như xưa, Thầy mang kính mắt vào nhìn cho kỷ cô học trò nhỏ, gần ba mươi năm, giọng nói bùi ngùi thầy căn dặn : " lần sau có về, không vào khách sạn, đến đây với thầy cô, nhà chẳng còn ai, hai mái đầu bạc, con về cho có tiếng nói cườị" Lần sau chẳng bao giờ có nữa, vào đầu mùa hè tháng năm, thư Lâm Viên báo tin buồn, Thầy Bạch đã về cõi bình an.
Mấy buớc chân, băng qua con đường, vào nhà Thầy Hưng, đứng trước mặt, đôi mắt như trêu đùa, con bé học trò ngày vào lớp đệ nhất dám ngồi tranh luận cùng Thầy hàng giờ, từ đông sang tây, Lão Trang đến Karl Marx, và nhất là Jean- Paul Sartre, con bé ba mươi năm sau vẩn như xưa, thầy trò chưa kịp chào nhau là đã lôi ra bao nhiêu là lý luận, ngữ bất tận ngôn, ngôn bất tận ý…cải nhau là phi lý… hai thầy trò cười ngất lúc chia tay nhau, không hẹn vì hẹn nhau sẽ nợ nần, còn duyên tất hữu.
Buổi sáng, đứa em mang cô bạn nhí nhảnh ngày xưa đến khách sạn tìm, chưa thấy mặt đã nghe tiếng cười dòn dã. Lâm Viên cũng mang đến bất ngờ, Thầy Ðặng Trung Thành, tiếng nói vẩn như xưa, dấu thời gian hiễn hiện, nhắc lại kỷ niệm ngày nào, ngày hội Aùi Hữu cựu học sinh Thoại Ngọc Hầu tổ chức giải văn chương tỉnh An Giang, do Dân biểu bác sĩ Mã Sái yểm trợ tài chính, bài viết "Nét đẹp dòng sông Hậu" của con bé làm mấy thầy tranh cải nhau quyết liệt, thầy nào bênh trò nấy, Thầy Bưởi bảo bài của Ðỗ Phước Hậu viết đầy công phu khảo cứu, thầy Hưng không đồng ý, bài của học trò tôi viết óng ả mượt mà, cuộc thi chỉ có mấy tiếng đồng hồ mà sáng tác như vậy thì nhất định phải chấm đầu giải văn chương. Thầy Thành cẩn trọng mang ra quyển sách in lại các bài trúng giải,1972, trong đó còn đầy đủ hình ảnh, giữ gìn đã ba mươi năm, nhìn nhau nụ cười qua nước mắt…
Công trường Trưng Vương, bông lúa đồng đen không biết đã tản mạn nơi nào, dừng lại bên cạnh gian hàng đá quí, nhìn Châu qua khung kính, anh chạy ra mùng rở chuyện trò, " về bao giờ ? ở được bao lâu ? Kim Thoa đi uống cà phê sáng với anh nhé ?"
- Anh Châu, Xuân Ðào đây, anh lại tưởng là Kim Thoa nữa phải không ?
- Xin lỗi, anh thật không ngờ, xa nhau lâu quá, anh không thể phân biệt, hai đứa thật giống nhau, anh già rồi lú lẩn mất.
Cầu [ thủ môn đội bóng đá Thoại Ngọc hầu ] vừa ngừng xe, anh Châu nháy mắt, tay bắt mặt mừng, chuyện trò, đến khi gọi tên mới biết là nhầm, anh Châu cười ngất "nầy, không phải chỉ mình anh lầm đâu…"
Uống ly cà phê thứ ba trong buổi sáng với Tài, dưới chân cầu Duy Tân, ngồi trên chiếc ghế đan dây nhựa, nhắc lại chuyện ngày xưa, điểm mặt bạn bè, bao nhiêu người còn lại, bao nhiêu kẻ rời xa, người Nam địa cầu, kẻ tận cùng băng giá…Hẹn nhau năm năm nữa sẽ cố gắng gọi tìm bạn bè các nơi trở về họp mặt, trường Thoại Ngọc Hầu đang được trùng tu {?} sẽ được phục hồi tên như cũ.
Ba mươi năm, làm sao đủ bút mực ghi lại nhửng kỷ niệm trùng trùng ? Long Xuyên yêu dấu, dù có thay đổi, lớn lên như mỗi chúng ta, đã qua đi bao nhiêu thế hệ, trong trái tim ta vẩn là hình ảnh không phai mờ .
7/03
Trần Công Nhung
19
Người ta cho bà Nhiêu hay vụ tiền tử tuất phải chờ một tháng nữa. Bà đã nói nửa kín nửa hở là sẽ đền bù công lao xứng đáng cho người làm giấy. Bà yên chí sớm muộn cũng có một số tiền. Bà tính tháng sau ra thăm con, có thì giờ sẽ đi hỏi dò cái nhà nho nhỏ. Bà suy nghĩ, không biết má Thảo có theo bà không. Xưa giờ chị em có nhau, chẳng lẽ nay tách ra. Bà cũng nghĩ đến Thảo và Nam, bà rất vui nếu sau này Thảo là con dâu bà. Ðiều này bà thấy gần như đã chín phần rồi. Qua bao cách trở thử thách mà Nam và Thảo vẫn một lòng thì còn nghi gì nữa. Vấn đề chỉ là thời gian. Bà Nhiêu phác họa trong đầu những ngày sắp tới.
Có cái nhà, con và dâu đi làm, nhà bà sẽ sáng sủa hơn, làng xóm tất vị nể bà. Bà hãnh diện đã thay chồng nuôi con nên người. Bây giờ thấy con học được bà rất mừng. Bà đã một đời dốt chữ chỉ vì lo làm, nay bà mong cho con học hành đến nơi đến chốn. Tiền của khi sa cơ là bay hết nhưng chữ nghĩa trong bụng chẳng sợ mất, mỗi ngày một giàu có thêm. Nghĩ vậy nên bà không quản ngại nắng mưa, đi sớm về khuya, chỉ một lòng lo tương lai cho con.
Từ Mang Cá bà Nhiêu về thẳng nhà bà Ðiền, báo cho Nam biết mọi việc đã yên, chiều nay bà trở lại Ðà Nẵng. Bà cho riêng Nam biết những dự tính của bà, Nam rất đồng ý. Nam gợi chuyện riêng của mình :
- Còn chuyện con thì răng Mẹ ?
- Con thì chờ ra trường xem được dạy mô.
- Con muốn biết ý Mẹ về Thảọ
Bà Nhiêu nhìn Nam cười dễ giãi :
- Thì con ưng răng Mẹ theo vậy. Chừ chớ phải buổi xưa mô.
Nam hỏi cho có hỏi chứ cũng biết Mẹ quí Thảo lắm. Chưa khi nào nghe Mẹ than phiền về người mình yêụ Thảo có nhiều điểm đáng quí, thật thà, chiều người nhưng cũng rất nhạy bén. Nói rằng Thảo đẹp đến chim sa cá lặn thì không đúng, lắm lúc thảo có cái vẻ khó khăn kiêu kỳ, nhưng khi đôi môi đã chúm chím thì bao nhiêu mây mù đều biến tan. Nam thích như vậy. Người con gái mà lúc nào cũng vui như hoa nở thì nhàm. Có một điều Nam thấy tội cho Thảo là lắm khi Thảo chạy theo những "viễn vông" của Nam mà hụt hơi. Mỗi lần nghe: "Răng mà anh cứ ưa viễn vông rứa", vừa nói Thảo vừa phát cho Nam một cái vào vai, làm Nam sung suớng như được nuông chiều vỗ về. Nam tưởng mình còn bé, bị Mẹ rầy mỗi khi nghịch. Nam không nói ra điều đó, sợ Thảo biết mà bỏ thói quen tình tứ dễ thương ấy đi. Hạnh phúc hay tình yêu đôi khi chỉ cần những chuyện không đâu, nó như là một thứ gia vị làm cho món ăn thêm đậm đà, một thứ hương thơm làm cho tình thêm đẹp. Trải qua bao nhiêu ngày gian khổ đổi thay mà Thảo vẫn một lòng, Nam rất an tâm. Nam cũng đã vẽ vài nét cho tương lai, có dịp sẽ nói cho Thảo biết.
Nghe tin chiều nay bà Nhiêu về, bà Ðiền đã khẩn khỏan mời:
- Chị ở lại chơi với các cháu bữa nữa.
- Dạ cảm ơn chị, tui phải về vì trong nhà cháu út đang bịnh.
- Chị về chừng nào ra lại.?
- Tháng tới tui ra, có lẽ sẽ kiếm cái nhà ....
Nghe vậy bà Ðiền tỏ vẻ mừng :
- Phải, chị chuyển ra ngoài này ở cho vui.
Bà quay qua nói với Nam :
- Cháu đưa Mẹ ra ga chớ ?
- Dạ, lát con vô trường xin phép rồi đưa Mẹ con đi. Ba giờ tàu mới chạy, cũng không gấp gì.
Bà Nhiêu không muốn con bỏ buổi học nên cản Nam:
- Thôi để Mẹ đi xích lô được tồi.
- Không sao mẹ, với lại chiều nay cũng không có môn gì quan trọng.
Cơm nước xong Nam chỡ Mẹ đi liền, Nam muốn ghé qua trường Thảo, báo cho nàng biết để xin phép nghỉ, đưa Mẹ ra gạ Thảo làm theo ý Nam. Anh chị cũng muốn nhân cơ hội tiển đưa, gần nhau chốc lát. Có những điều nghe ra thật phi lý mà thực tế lại như một sự cần thiết bắt buộc. Chuyện của những trái tim mới yêu nhau thì không biết bao nhiêu cho vừa. Mới gặp nhau đã thấy xa nhau cả mấy mùa. Lúc nào cũng thiết tha nồng nàn, dường như vào chuyện rồi là hai người chắp cánh bay xa, bỏ hết trần thế lại đằng sau
Thấy Nam và bà Nhiêu đến, Thảo vội vàng ra đón, Nam nói với Thảo gì đó, Thảo vui vẻ mời bà Nhiêu:
- Dạ, Bác ngồi chơi chút, con qua trường xin phép rồi về ngaỵ
- Thôi con khỏi nghỉ để mình Nam đưa Bác được rồi.
- Dạ được, Bác đừng lo.
Lát sau Thảo trở về, Nam gọi chiếc xích lô cho Mẹ và Thảo ngồi, Nam đi xe đạp. Chưa đến giờ tàu chạy nhưng ga đã đông người. Nam lấy vé rồi đưa Mẹ và Thảo vào ga. Bà Nhiêu mua ít quà. Quà Huế có Mè Xửng Song Hỹ là nổi tiếng. Tuy nhiên phải mua tại lò mới chắc. Thảo cũng mua quà cho Má. Thảo và Nam dành trả tiền cho bà Nhiêu. Bà nghĩ đến Cha nhà thờ và Lý Kiệt. Bà vẫn thường cho rằng không có hai người này thì không biết gia đình bà sẽ ra sao. Một miếng khi đói bằng gói khi no, bà rất biết ơn Cha đã rộng lòng giúp đỡ. Bà hơi không yên tâm ở chỗ không trở lại đạo theo ý Cha. Hai năm nay, thỉnh thoảng bà vẫn đến nhà thờ dự các buổi thánh lễ, tuy nhiên công việc quá vất vả, bà cứ hẹn lần hẹn lửa với Lý Kiệt, nhờ ông trình lại Cha. Vã lại bà cũng không có nhận thức gì rõ rệt về con đường cứu rỗi. Ðối với bà việc trở lại đạo hay không cũng không ảnh hưởng gì đến đời sống của gia đình bà. Căn cơ của bà không cho phép bà nhìn xa. Bà chỉ thấy trước mắt mấy chum rượu mấy con heo...
Tàu đã xục xịch ráp toa. Nam đưa mẹ lên tàu, bà Nhiêu ngồi yên chỗ, Nam Thảo mới xuống. Thảo nán lại nhắc bà Nhiêu:
- Xuống ga Bác nhớ ra sau cùng, đừng chen lấn người ta móc túi. Ra ga Bác đi thẳng một chặng rồi gọi xích lô.
Thảo hạ giọng hỏi nhỏ bà Nhiêu :
- Bác có nói cho anh Nam chuyện của con không ?
Bà Nhiêu thông cảm :
- Không mô, con đừng lo.
- Con nhờ Bác dặn mấy em với Má con, thế nào rồi anh Nam cũng gặp mọi người. Con sợ lỡ anh biết thì xấu hỗ lắm.
Bà Nhiêu nắm tay Thảo an ủi :
- Ðược Bác nói cho. Không răng mô. Có Bác đây mà.
Thảo cảm ơn Bác rồi chạy theo Nam.
Còi tàu hú mấy hồi và bắt đầu chuyển bánh. Thảo Nam đứng nhìn theo con tàu đến khi không còn thấy mới ra về. Nam hỏi Thảo :
- Chừ đi mô hè.
- Ði mô ? Anh thì ưa đi.
- Mình ra bờ sông trước trường Ðồng Khánh, em thích không?
Thôi, lỡ mấy đứa bạn tan học ra bắt gặp là quê lắm.
- Mình lớn chớ nhỏ dại gì mà quê.
Thảo nhìn Nam như năn nỉ:
- Mình ngồi chỗ nào hơi vắng một chút, nói chuyện mới thoải mái.
- Ngồi tuốt sát bờ sông, ai ra đó làm gì.
- Cũng được tùy ý anh.
Nam trả lời với vẻ mặt không vui:
- Em nói vậy thôi anh đưa em về kẻo em lại nói anh ép.
Thảo biết Nam giận nên xuống nước:
- Chi mà dữ rứa, được rồi, "nhà ngươi đưa Hoàng Hậu" ra bờ sông. Vừa lòng chưa ?
- Bẩm Hoàng Hậu hạ thần rất hài lòng.
Thảo đánh một cái vào lưng Nam:
- Ghét anh dễ sợ.
- Mời Hoàng Hậu lên xe đạp.
Thảo vùng vằng ngồi lên yên sau vừa càu nhàu :
- Chọc người ta nữa hả ?
Ði được một quãng Nam hỏi :
- Em nhớ lần đầu anh chỡ em không ?
- Hồi đó em cũng liều ghê.
- Không liều thì làm sao có ngày hôm naỵ
Bốn giờ, nắng chiếu xiên khoai, gió đưa hơi nước từ lòng sông lên làm cho hai người thấy dễ chịu. Nam thích ngồi với người tình bên bờ sông. Dù không có chuyện gì, nhìn dòng sông, nhìn thuyền xuôi ngược cũng thú vị lắm. Bờ sông thấp hơn mặt đường, không ai thấy hai người . Tự nhiên Thảo dựa hẳn vào Nam, Nam cầm bàn tay Thảo và hỏi nhỏ :
- Lúc nãy em nói anh hay đi, mà đi mô ?
- Ði mô anh biết chớ em răng biết được.
- Anh chỉ có một chỗ để đi mà đi hoài cũng không làm sao hết.
- Chỗ nào ? Ðẹp không anh?
- Như là xứ thần tiên. Nơi đó có muôn ngàn hào quang lộng lẫy. Thời gian ở đó như ngưng lại. Con người không cần ăn uống như chúng mình...
- Rồi họ sống bằng cách nào ?
- Họ chỉ nghe âm nhạc. Nhạc tình.
Mặc dầu nghi nam lại "xa xôi bóng bẩy", nhưng thấy Nam kể với nét mặt thành khẩn nên Thảo sanh nghi, nàng quay lại nhìn Nam :
- Thiệt không anh, nơi nào vậy ?
Nam tĩnh bơ, ấn một ngón tay vào chỗ trái tim Thảo :
- Nơi này đâỵ
Thảo đỏ mặt đấm thùi thụi xuống lưng Nam.
- Anh cứ gạt em hoài.
Thảo cảm thấy tự ái của mình được vuốt ve, người cứ phơi phới không sao diễn tả được. Nam nhìn ra một chiếc đò đang chèo xuống hướng cầu Tràng Tiền và hỏi Thảo :
- Em có biết con đò kia về mô không ?
Thảo ngần ngừ, trả lời sao để đừng bị Nam gài bẩy.
Nghĩ mãi, Thảo thực thà đáp:
- Về mô răng em biết ?
Nam nhìn ra xa và nói khe khẽ:
- Về bến đậu.
Thảo vô cùng ngạc nhiên, câu trả lời đơn giản như vậy mà mình lại cứ nghĩ xa xôi. Hai người ngồi yên một lúc lâu, Nam hỏi lại:
- Ðúng không em ?
Thảo không rả lời mà bóp bóp bàn tay Nam. Trời tối dần từ phía cầu Bạch Hổ. Mây về vây quanh khoảng sáng cuối ngày. Hai người đứng lên, lửng thửng theo bờ sông. Một buổi chiều thật đẹp thật êm như những nốt nhạc cuối của một bản tình cạ
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Ca dao Việt Nam
Dòng sông nhỏ rất hẹp, nước cáu bẩn đen sì, đám lục bình dầy kên trôi lềnh bềnh theo con nước, thế nhưng nó được phân chia rõ rệt thành hai vùng đất khác nhau. Bên này bờ là vài mái nhà tranh rải rác, gần sập mục cả rồi, đêm đến tối thui, tối thủi không có lấy một loé điện. Ðã thế, có nhà cũng chẳng có được một chút dầu để thắp đèn, nên trông càng âm u như các ngôi nhà ma. Ðời sống khổ cực quá, ngày dang nắng trong những ô đất sỏi sạn; nhát cuốc nào bập vào cũng toé lửa vì chém phải những viên đá to; có khi tiếp liền theo tiếng " keng " là một mảnh cuốc mẻ. Làm thì quá cực mà của nả thu được chẳng nhiều, nên người nào người ấy cứ vêu ra như bộ xương cách trí. Ðàn bà thẳng đuồn đuột, vú vê dẹp lép, trông chẳng khác đàn ông. Ðến con gái con nứa cũng chẳng hơn gì. Ðứa nào mạnh khoẻ lắm thì cũng chỉ có được một cái núm con con, như núm cau khô. đã cho là mình có phúc lắm. Chả vậy mà trai làng đứa nào lớn lên cũng bán xới chạy xa. Chúng bảo nhau " lấy vợ mà vú vê cứ như con trai thì chán bỏ mẹ ". Dăm thằng đi nơi khác về, chả biết làm cái nghề ngỗng gì, có được vài ba cái áo, cái quần lành lặn một chút, là đã xem các cô dưới đuôi con mắt. Cô nào nhìn các anh trầm trồ là y như nhận ngay được câu nói trề môi : " ngữ ấy mà khiến tớ để mắt đến thì còn khuya. Người tớ yêu phải là gái tân thời, phấn son thơm phức, người ngợm đẫy đà, chứ có đâu như cây tre suông đuộc. " Ai cũng biết anh ấy điêu ngoa, có một thì suýt ra mười, chứ cái thứ anh ấy dù có uống qua bao nhiêu nguồn nước thiên hạ, vẫn không sao xoá sạch đi cái nét khù khờ. Hoạ chăng có ma nào kém mắt mới vớ vào nuôi báo cô, chứ tốt lành gì mà khoe mẽ. Song nghĩ vậy mà chẳng cô nào rỗi hơn cãi cọ lại làm chi.
Tối đến, xóm nhà âm u, quả giống như nghĩa địa. Thản hoặc có ai nghe được tiếng rì rầm trò chuyện hẳn sẽ nghĩ là ma đang hiện lên than vãn với nhau. Chẳng ai nói ra, song mảy may nếu gặp dịp, chẳng một ai từ chối chuyện bỏ làng. Cho dù có phải ra đi chỉ với hai bàn tay trắng cũng được. Vì họ nghĩ sống ở đâu cũng còn khá hơn cái xó mạt rệp nơi đây. Nếu chịu thương chịu khó kiêng khem, ăn mắm hút dòi, dăm ba năm trời thương sẽ dần khá. Ấy, nhưng nghĩ thì dễ dàng thế mà loay hoay tìm cho ra hướng thực hành thì nan giải làm sao. Gì thì gì, muốn ra đi là phải có chút vốn, mà ở làng này, ăn còn chẳng no, tiền để dành kiếm sao ra, nên mãi rồi chuyện muốn dời đi tìm một nơi đất lành chim đậu xem ra vẫn chỉ là giấc mộng trong lòng.
Cả khu, chỉ có bãi tha ma là hưng phú hơn hết. Mới ngày nào chân ướt chân ráo đến, khu nghĩa trang chỉ lơ thơ dăm đám đất vun cao. Bây giờ đã đông như một xóm. Người về nằm đó đông đủ cả : già trẻ, trai gái, cụ ông, cụ bà. Mỗi năm sau mùa nóng bức lại có thêm dăm ngôi mộ mới mọc lên, rồi sau cơn rét mùa đông lại thêm một số huyệt vun đầy. Có người tào lao bảo số rủ nhau qui tiên đông hơn người ra đời. Ai cũng đồn khu mả có ma, đêm chẳng mấy ai dám bén mảng. Có người còn kháo là chính mắt đã thấy ma đùa giỡn với nhau, nói cười nghe rổn rảng. Người bạo hơn thì quặc lại : thế ông hay bà có thấy hai con ma là nam nữ quấn lấy nhau hạnh phúc quá, nên cười lên sảng khoái chưa. Người kháo chuyện bực mình cắt ngang : nói như ông nghe ngang như cua, rồi lẳng lặng bỏ đi một nước. Lũ trẻ nghe chuyện ma thì trố mắt ra nhìn, nhưng đêm về ngủ mơ hét vang. Các bà mẹ phải lấy thần châu bôi lên trán và lầm thầm van vái bóng tối tha cho con trẻ.
Khi Mơ bắt đầu hơi lớn lên, biết nghe, biết nghĩ một chút thì Mơ nhận ra ngay là nhà mình về với xóm nhà này đã khá lâu. Cảnh nhà chỉ quanh quẩn hai mẹ con, bố mất sớm, nên mộng bay nhảy xem ra chẳng thể nào thực hiện được. Thét rồi Mơ quan niệm như số phận đã cột chặt bước chân gia đình nàng với vùng đất khổ này. Cũng may Mơ còn được mẹ lo cho đi học chút đỉnh. Nhà trường ở bên kia con sông. Muốn theo học, Mơ phải ngày hai lượt qua về con đò luôn mấy năm trời. Hôm nào Mơ cũng phải thức dậy thật sớm, khi vừa nghe tiếng chuông nhà thờ văng vẳng vọng sang. Mơ vội choàng dậy ra cái lu sau nhà vốc nước rửa mặt, chiêu vài ngụm nước ùng ục trong miệng rồi nhổ đi. Quáng quàng đưa cái lược răng còn răng mất rẽ qua mái tóc bùm xum, vớ vội tập sách và lưng cơm mẹ dành trong gói lá chuối từ đêm trước và cứ thế vụt chạy đi cho kịp chuyến đò. Mơ vội vàng ra đi đến chẳng kịp nghe loáng thoáng lời mẹ hỏi vọng theo : Mơ đi đấy hả con ?
Ra ngoài đường đất đã thấy các bà đang lần dò ra bến, miệng lẩm nhẩm cầu kinh. Các bà theo nhau sang sông xem lễ sớm, rồi lăng quăng mua bán, sau đó lại theo đò về. Các bà thường đi một mình, chẳng thấy có mấy ông đi theo. Có lần Mơ hỏi đến các bác trai thì các bà phân giải : dào, dựng được các ông ấy dậy khó vô cùng. Chi bằng mình đi rồi xin cầu cho các ông ấy luôn, chắc Chúa cả nhân từ cũng thương yêu mà chấp nhận.
Gia đình Mơ duy nhất là người bên lương, thế mà chẳng hiểu sao bố mẹ lại chọn về ở xóm đạo. Vậy mà cũng chẳng thấy ai phàn nàn, hay rủ rê nhà Mơ vào đạo bao giờ. Có lần Mơ hỏi mẹ : sao nhà mình lại lạc lõng về đây ? Mẹ bảo : có ai mà chọn được cuộc sống cho mình bao giờ. Nhưng các bác đều thương gia đình ta côi cút nên cũng thể tình dung chứa qua ngày.
Mơ đi theo các bác mà mắt còn cay xè, chân bước đi theo quán tính. Có khi Mơ lan man như thấy mình chập chờn ngủ nướng trong bước chân đi. Mơ ước ao giá gì mau đến cuối tuần được nghỉ học để ngủ dài thêm chút nữa. Rồi cuối tuần cũng chả ngủ nghê thêm được, buông quyển vở ra là y như mẹ có sẵn việc gì đó để hối thúc Mơ dậy theo mẹ đi làm.
Cuộc đời Mơ lâu dần thành một thói quen. Ðò qua lại hai bờ nhiều chuyến trong ngày, nhưng nếu Mơ không dậy kịp là trễ chuyến, phải bỏ học. Chuyến đò đầu đưa các bà sang sông đi lễ, rồi chờ cho các bà mua bán xong, khi quay về là lúc trời đã sáng rõ. Khi ấy thì Mơ đã vào lớp. Trưa Mơ phải ở lại trường, một mình thơ thẩn ra sau hiên ngồi dỡ cơm mẹ đơm ra ăn. Học trò đều về nhà cả, Mơ chờ buổi học chiều, thấy lâu ôi là lâu. Có khi buồn ngủ quá, Mơ nằm lăn luôn ra đất mà ngáo. Lơ mơ thấy mình tắm dưới sông mát quá. Mãi tới lúc nghe có tiếng lao xao : con bé này nằm chỗ nào cũng ngủ được, mới giật mình tỉnh dậy. Mơ thẹn thùng, bẽn lẽn. Một bận có thằng bé chạc tuổi Mơ, thấy Mơ ngủ dậy còn ngơ ngơ đã hỏi : ở nhà trò ngủ ít lắm sao mà ngáo dễ thế. Mơ càng thẹn dữ, muốn chống chế, nhưng không biết nói làm sao cho bạn hiểu, nên cũng ậm ừ cho qua : Mơ phải theo đò qua sông cho kịp buổi học nên phải thức dậy sớm cho khỏi lỡ chuyến đò.
Mơ theo học được 3 năm, bập bè được dăm ba lời giảng dạy thì thôi về ở nhà. Phần thì mẹ Mơ lo việc chạy ăn khó nhọc, phần lích kích cứ phải lo dậy sớm theo đò, nên mẹ Mơ bảo : con gái học thế, đủ rồi. Phải nghỉ học, Mơ buồn lắm, nhưng sợ mẹ phiền nên không dám nói ra. Lần nào nghĩ đến bọn bạn bên kia sông còn được đi học mà Mơ thèm ngẩn thèm ngơ cuộc đời của chúng. Giờ đây chúng còn đến trường, nhà nuôi cho đầy đủ, nên chắc là tương lai sẽ sung sướng. Ðôi khi chợt nhớ đến trường, lòng Mơ lại rưng rưng. Nhớ dáng thầy, nhớ bài học, nhớ tiếng trống vào, tiếng trống tan, mỗi thứ một chút khua lên trong tâm trí Mơ những ảnh hình êm dịu. Mới trưa nào còn ở lại trường, đang ăn cơm thấy có con chim đậu trên cành chăm chăm nhìn chờ đợi, Mơ đã ngắt một miếng cơm nhỏ, thảy ra xa xa và con chim bay sà xuống mổ ăn. Có hôm Mơ lò mò đến gần nhà thờ, trông lên gác chuông, thấy ba quả chuông đồng treo chênh chếch nhau, Mơ đã lẩn thẩn nghĩ nếu được vụng trộm lên nghịch rung cho chuông kêu thì vui biết bao. Nhưng Mơ lại sợ không rung chuông không theo đúng điệu, nhỡ kéo lung tung chuông kêu bất thành câu cú, cha xứ nghe chạy ra quở mắng thì sao. Cũng có hôm Mơ muốn đánh bạo trốn lên gác chuông ngủ, hay đứng từ trên đó nhìn xuống khu trường hay phía bến đò, song lại lo mình ngủ quên, hay không chạy về trường kịp giờ học thì thầy lại phạt cho. Thành ra suốt thời gian đi học, Mơ chỉ ước ao để mà được ước ao, chứ có dám làm nên hành động bao giờ.
Cuối năm học ấy, linh tính Mơ thấy sắp phải xa trường. Mơ tự hỏi lòng : rồi mình sẽ ra sao. Nếu một mai chợt nhớ lại, Mơ sẽ nghĩ về trường, về lớp, về bạn thế nào. Mơ biết rằng cái khoảng cách của dòng sông bên này và bên kia chẳng rộng bao nhiêu, Nhưng thật vô cùng oan nghiệt, nếu đã xa trường là chẳng thể vượt qua. Bởi vì còn đi học thì còn được người đưa đò thấy tội cho đi nhờ, chứ khi nghỉ rồi thì đâu còn nguyên cớ gì để xin được đi không. Chả lẽ người ta sắm đò để đưa khách dạo chơi không trả công thì ông ấy lấy gì sống kia chứ ?
Từ đó Mơ đâm ra chất chứa trong đầu rất nhiều câu hỏi. Câu hỏi trời, câu hỏi đất, câu hỏi người, câu hỏi chính mình. Chẳng bao giờ Mơ gặp được một câu trả lời rõ rệt. Mơ nghĩ hình như mẹ con Mơ thiếu được hưởng một sự công bằng nào đó nên cứ luôn bị ai đó quở phạt, phải nhận nhiều thảm cảnh. Song hỏi trời, trời cao quá chẳng nghe thấy mà trả lời. Lại hỏi đất, đát cứ im lặng làm ngơ. Còn hỏi người, người cũng chỉ đến xuýt xoa là dứt. Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai. Sau cùng hỏi chính mình, dường như sự mù tịt càng làm cho mình thấy cụt hứng nhiều thêm. Cuối rồi Mơ chỉ còn biết chờ đợi mà cũng không hiểu được rõ rệt cái mà Mơ đang chờ đợi là cái gì.
(còn tiếp)
Giấc ngủ anh dài tưởng thiên thu
Sóng xô vỡ xóa, đêm mịt mù
Ðường về tổ ấm anh lạc bước
Chẳng gọi trăng thề đổ bến mơ...
Kim Thành
1966
Gã trưởng toán du kích quăng mẩu tàn thuốc rê xuống nền cát khô xám, bồn chồn nhìn về phía bìa rừng dương thoắt sáng màu xanh của biển nối trời. Cuối liếp hàng dương ngả nghiêng gảy ngọn, xác chiếc máy bay quân sự nằm phơi mình bốc khói. Ðám du kích hăm hở kéo gở từng thùng hàng từ lòng phi cơ rồi cong lưng khuân chạy hối hả về phía đường mòn. Nhóm phi hành đoàn ba người bị xâu trói chung với một người đàn ông luống tuổi mặc thường phục, mặt sưng húp những vết bầm tím. Họ ngồi bên lối mòn, buồn bả lo lắng nhìn về phía xác chiếc phi cơ. Trước đầu máy lẻ loi chiếc cánh quạt nghiêng vênh trong nắng chiều. Người trưởng toán phất tay ra hiệu cho gã du kích mặt non choẹt đang giương súng canh chừng nhóm tù binh rồi khum tay nói gióng về phía đám du kích đang ì ạch mang vác.
- Mấy nẩu đi lẹ lên. Tụi Ngụy Sư Ðoàn 2 sắp sửa càn tới rồi đó.
Nhóm tù binh uể oải đứng lên theo mũi súng của thằng bé du kích. Người sĩ quan Không Quân mang lon Chuẩn Úy quay nhìn khoảng biển trời xanh ngát sau lưng. Anh thở dài chậm bước cùng đoàn người đi sâu vào cánh rừng dương.
Buổi chiều xuống nhanh trong rừng, thâm u lối mòn, thất lạc bước chân. Nóc hàng dương sâu thẳm bóng đêm dài trước mặt, thỉnh thoảng hé phô khoảng trời đêm cuối năm mơ hồ bầy sao xa nhạt. Ðoàn người đến một xóm nhỏ nằm im lìm dưới cánh rừng dừa. Tiếng chó sủa khan lẫn trong tiếng súng cầm canh vu vơ réo qua màn đêm tỉnh mịch và nét mặt lấm lét của tên giao liên lúc thì thào với gã trưởng toán du kích ở bìa xóm khiến nhóm tù binh chợt nhìn nhau, lòng lóe lên chút hi vọng mơ hồ. Có lẽ đây là vùng xôi đậu trên tuyến đường vào bưng mà toán du kích buộc phải dừng chân qua đêm. Niềm hi vọng chưa kịp nhen nhúm đã lụn tắt lúc gã trưởng toán du kích thấp giọng chia cắt nhóm tù binh, mỗi người theo một du kích vào nghĩ ở các nhà khác nhau trong xóm.
Người sĩ quan phi cơ trưởng, cấp bậc Trung Úy, phân bua với tên trưởng toán du kích rằng ông già mặc thường phục là cha mình để xin được đi chung mà săn sóc vết thương cho ông.
Hắn xua tay tỏ ý bằng lòng mà miệng thì cằn nhằn, đe dọa:
- Ngụy quyền thì có chớ cha mẹ gì. Nẩu mà nói láo với Cách Mạng là tui bắn bỏ liền.
Người phi cơ trưởng bắt tay viên Thiếu Úy Hoa Tiêu.
- Tôi không biết nói gì hơn với hai anh và cũng cho chính mình là hãy cố gắng giữ hi vọng.
Anh quay qua xiết chặt tay người Chuẩn Úy trẻ tuổi, cười buồn:
- Nếu anh không xin nhường công tác lúc sáng ngay, thì bây giờ đang vui Lễ Nửa Ðêm với gia đình ở Ðà Nẳng rồi.
Thôi thì số phận cả, anh Tài gắng giữ vững niềm tin.
Họ xiết chặt tay, chào nhau từ giã, mà lòng thì man mác buồn. Chuẩn Úy Tài đứng ngây người nhìn bạn đồng ngũ đi khuất vào bóng đêm cho đến khi tên du kích dùng mũi súng đẩy anh đi về phía cuối xóm.
Người Chuẩn Úy Không Quân ngồi im lặng bên chiếc bàn nhỏ góc nhà. Anh nhìn đôi tay bị trói như nhìn một điều không thực. Phải chăng đây chỉ là một giấc mơ hay số phận đã thật vụt xô anh từ trên đường bay về với hạnh phúc xuống cánh rừng nguy nan này. Người bạn tốt bụng đã nhường anh chuyến công tác chở quà về cho gia đình binh sĩ của Phi Ðoàn ở Sài Gòn để anh có dịp cùng hưởng Giáng Sinh với người vợ chưa cưới xinh đẹp dịu dàng.
Phi đạo vàng nắng nằm yên dài cho con tàu vút cánh bay lên. Tiếng cười nói chia nhau dự ước về một Mùa Vui Giáo Ðường hòa trong tiếng máy ròn rã bình phi. Chiếc cánh quạt phi cơ dừng sựng như con tim chợt ngừng đập. Khói đen sặc sụa trong lòng con tàu đang lướt chúi vào khoảng không gian mất dần cao độ trước đôi mắt bất lực của người phi công. Ngọn rừng dương trào lên rùng rùng chao đổ trong âm thanh hổn loạn vỡ vụn. Bầy du kích dao súng ồn ào như bầy sói tìm được mồi ngon. Con sóng biển xanh trào vỡ, dội vào cuối tia ngoái nhìn. Ðôi cánh tay bị trói chặt. Lối mòn trong cánh rừng dài xuyên đêm, chập choạng bước chân. Ánh đèn dầu hiu hắt trong mái tranh nghèo đâu đó dưới cánh rừng dừa rập rình tiếng chó sủa khan. Bóng hai người đàn bà ngồi bên bếp lửa lắt lay lên vách phên thưa... Có thể nào đây lại là chuyến bay của định mệnh trớ trêu... Tài chợt cảm thấy mệt rã rời. Anh nhắm mắt, gục đầu xuống đôi tay bị trói chặt...
Người tù binh giật mình ngồi dậy, trở về với thực tế, lúc người đàn bà luống tuổi đặt nồi khoai vừa nấu lên mặt bàn. Bà quay nhìn gã du kích đang ôm súng tựa cằm, ngồi dựa vào liếp cửa khép, ngủ gà ngủ gật.
- Chú mày mở trói cho người ta rồi lấy khoai ra ngoài cái chỏng trước hiên vừa ăn vừa gác.
Nhìn gã du kích ngái ngủ chần chừ chưa chịu mở trói, người đàn bà trẻ, mang thai vào những tháng cuối, tươi cười hòa giải.
- Nẩu ra ngoài hiên là để ngủ chớ canh gác gì. Thôi thì nẩu cởi trói tay ra nhưng trói chân lại để người ta ăn miếng khoai.
Từ suốt chiều đến khuya nhịn đói lại phải đi bộ cả chục cây số, người tù binh ngồi ăn ngon lành mấy củ khoai nóng mới luộc. Người đàn bà luống tuổi ngồi trên chiếc ghế đối diện, hỏi thăm người thanh niên về tuổi tác, quê quán. Bà quay nhìn con dâu đang ngồi tư lự bên bếp lửa, chép miệng.
- Năm trước còn học Ðệ Nhất ở Phan Châu Trinh, Ðà Nẳng... vậy là bằng tuổi với vợ chồng con rồi. Cái thời buổi gì đâu! Cha con, anh em, bạn bè quay đánh nhau loạn xà bần. Thiệt hết biết...
Người tù binh dò hỏi địa danh khu xóm và số phận ngày mai của mình với hi vọng người đàn bà có thể biết được đôi điều. Bà nhìn ra hiên ngoài, thấp giọng.
- Làng này thuộc Sa Huỳnh, phía biển. Ngày mai họ sẽ dẫn chú băng quốc lộ vào mật khu đâu đó trong miệt Thạch Trụ để giam giữ cho an toàn hơn. Ðây là vùng xôi đậu, biết đâu mà lường trước được.
Người đàn bà có thai đặt bình nước và mấy cái ly lên bàn.
- Vợ chồng tôi trước học cùng lớp ở Trần Quốc Tuấn. Tôi là cô giáo. Mấy tháng trước đây chồng tôi bị bắt giam ở Quảng Ngãi vì tội trốn lính và hoạt động chống chính phủ Sài Gòn.
Xé đưa cho người tù binh trang giấy học trò cùng cây viết lá tre, bao thư, và hủ mực màu tím, chị vội vàng nói nhỏ vào tai anh.
- Anh viết vài hàng nhắn tin về gia đình. Cuối tuần này tôi đi Quảng Ngãi thăm chồng sẽ gởi về Ðà Nẳng giúp anh.
Người tù binh xúc động nói lời cảm ơn. Anh vội vã ghì viết lên trang giấy lời nhắn tin cho gia đình ở Ðà Nẳng và lời thương yêu tha thiết đến người vợ chưa cưới ở Sài Gòn.
Hai mẹ con người đàn bà ngồi chắn ở liếp cửa ra vào, bóng họ đổ dài bất động trên nền đất hiên nhà.
Những ngày đầu năm sáu lăm, sau lần vào Sài Gòn và hỏng đợt khám sức khỏe vào Không Quân phải trở về học lại cho kỳ thi Tú Tài II, Tài có vẻ suy tư và ít nói hơn trước. Hai bạn thân trong bộ ba Xuyên Tài Lượng có gạn hỏi anh cũng chỉ ậm ừ cho qua. Ngay cả Thu Hà, chị của Xuyên, bạn thân trong khu xóm Chợ Mới từ thuở thiếu thời, cũng cảm thấy sự im lặng khác thường của người bạn nhỏ vẫn đèo nàng đi học ở Phan Châu Trinh mỗi ngày. Lúc đầu các bạn nghĩ Tài buồn vì không được vào Không Quân, cho đến một hôm họ vô tình đọc được đoạn thơ Nguyên Sa mà Tài đã nắn nót chép lại.
Em sẽ cười phải không em
Vì không ai cấm được chúng mình yêu nhau!...
Không ai cấm được anh làm những câu thơ anh thích
Không ai cấm đươc anh làm cả bài thơ
Với một chữ N
Với một chữ G
Và với một chữ A ..
(Nga - Nguyên Sa)
Thì ra Tài đã phải lòng cô nữ sinh Sài Gòn tên Nga trong thời gian ở chờ khám sức khỏe vào Không Quân. Lượng có bà con với gia đình Nga nên đã giới thiệu Tài ở tạm trong nhà suốt thời gian lưu lại Sài Gòn. Cô học-trò-Nguyên-Sa tóc ngắn, áo lụa, và đôi mắt sáng tinh anh, bỡ ngỡ nụ cười dịu ngọt, đã làm mát những ngày nắng và dịu lòng gã con trai xứ Quảng đa tình chợt biết mình vừa yêu vô cùng một màu áo lụa nguyên sơ. Từng tờ thư vụng về gởi đi, xao xuyến nỗi đợi chờ dài suốt một mùa xuân. Vết thời gian trĩu nặng chợt bay biến cùng lúc với bao trách cứ âm thầm vào một ngày trước mùa thi, Tài cầm trên tay tờ thư hồi âm với giòng chử trao thương anh vẫn thầm mơ trong mộng. Chỉ một tờ thư đã đủ làm vui những cơn buồn và đổ mật lòng nhau cho mịn màng thương nhớ.
Năm đó Tài thi rớt, anh vào Thủ Ðức. Con đường tình gần hơn, còn cần chi những tờ thư. Mỗi cuối tuần Nga vào quân trường thăm người yêu thì tưởng như cả trại lính ai cũng xôn xao bởi nét đẹp dịu dàng và mái tóc giờ đây thon thả hẹn thề. Có một tuần bị cấm trại, Tài định “nhảy dù” về Sài Gòn với người yêu. Anh len theo một đoàn SVSQ đi về phía cổng quân trường. Ðoàn SVSQ này không đi nghĩ phép như anh nghĩ mà là đi khám sức khỏe để chọn qua Không Quân. Lần khám sức khỏe bất đắc dĩ và mang đầy dấu ấn của định mệnh đó đã đưa đẩy Tài trở thành “ông quan” Chuẩn Úy Không Quân của Phi Ðoàn 110 ở Ðà Nẳng. Không lâu sau, Tài và Nga đính hôn. Cô gái sinh trưởng ở Sài Gòn nhưng Nội Ngoại đều gốc gác ở Kim Bồng, Hội An, náo nức đợi chờ lần về với quê chồng mà cũng là về lại nguồn cội của mình. Tài thì không hề bỏ qua bất cứ cơ hội nào để theo máy bay Phi Ðoàn bay về Sài Gòn thăm hôn thê cho dù chỉ một đêm hay vài giờ ngắn ngủi. Cơ hội cuối cùng đầy trớ trêu khắc nghiệt của định mệnh đã đến với chàng, với đôi tình nhân đang tắm mát trên đầu ngọn suối trăm năm.
Người đàn bà giật mình mở choàng mắt, hốt hoảng biết mình vừa qua cơn ngủ thiếp. Qua liếp cửa mở hé, gã du kích đang ngồi dựa lưng vào cột hiên đầu nhà, mê mệt ngủ say. Trời đã quá nửa khuya, bóng trăng tàn mờ rọi tàu dừa rủ lá thành những vệt dài đen nhọn trên khoảng sân cát nhuộm chìm trong màu hoang xám điêu tàn.
Dưới quầng sáng yếu ớt lắt lay từ chiếc đèn dầu bấc lụn, người tù binh ngồi bất động, mắt nhìn sửng tấm hình người vợ chưa cưới. Sau cơn ho rũ rượi, bà mẹ bước về phía chiếc bàn, im lặng đứng nhìn người lính một hồi lâu rồi lấy bức thư nhắn tin cẩn thận dấu vào túi áo trong. Ðôi bàn tay gian truân của bà mẹ vịn hờ lên vai người lính. Bà nhớ đến con mình trong ngục thất. Giọt nước mắt của người mẹ lóng lánh trong đêm.
Em đứng nơi đây ngóng đợi gì
Tìm anh ? Anh đó mãi tìm chi
Hồn ta một phiến ngàn dâu bể
Ðổ xuống đời nhau vạn kiếp sau
Kim Thành
(còn tiếp một kỳ)
10/01
Trong gia đình họ Hà, tôi là đứa con gái thứ ba. Trước tôi có một bà chị và ông anh. Ba chị em chúng tôi người nào cũng đã lớn tuổi, nhưng chưa ai chịu lập gia đình. Ba Mẹ tôi rầu thúi ruột nhưng không dám nói ra, Mẹ tôi hay tìm ông bà mai mối để ý con nhà ai, trai chưa vợ, gái chưa chồng dò dẫm ướm hỏi rồi dàn xếp cho chúng tôi quen nhau. Ðã nhiều lần như vậy, nhưng đâu cũng vào đấy, ba anh em tôi muốn làm vừa lòng Mẹ, đi chơi, đi ăn uống với « người ta » rồi sau đó…im ru bà rù chẳng thấy có một dấu hiệu « khả quan » nào trong việc « xe chỉ luồn kim » nên Mẹ tôi thất vọng, nhiều lần bà quát lên cho hả giận : « Chúng mày…ế cả đám rồi con ạ! chả có đám nào nó chịu. Ngồi đây mà nói thích với không! » Những lúc bà giận, anh em chúng tôi chỉ biết nhìn nhau im lặng. Anh em chúng tôi có cái nhìn khác, cách suy nghĩ khác nên chuyện làm mai không hợp với anh em tôi cho lắm ! Mẹ lo sợ anh em chúng tôi…ế như buổi chợ chiều, bà nói tuổi bà lúc này, theo ông bà lúc nào không hay, bà thúc giục anh tôi lấy vợ để bà có cháu nội với người ta. Những lúc ấy anh tôi ôm hôn bà cười xòa, anh nói để thong thả, thời buổi này có vợ hay không vợ cũng vậy thôi, nếu Mẹ muốn có cháu bồng thì có ngay. Bà nói cái thằng kỳ cục, có vợ khác hơn chứ ! Mày cứ lông bông…già rồi con ! Cả chục năm nay, anh tôi vẫn nói câu này mà thấy có đứa cháu nào cho bà đâu ? Nghĩ cho cùng tội nghiệp Mẹ tôi, bà lo cũng phải, vì bà chị tôi đã ba mươi chín tuổi, ông anh ba mươi tám, còn tôi xấp xỉ ba mươi sáu tuổi rồi còn gì !
Ba tôi tên Hà Thanh Bá. Mẹ tôi Chu Vi Cẩm. Trước khi Mẹ sinh chị cả tôi, Ba tôi bản chất mộc mạc đơn giản, ông nói để nhớ năm tuổi của con, đứa nào sinh vào một trong 12 con giáp thì lấy tên đó đặt tên. Con trai thì lấy tên lót của cha, con gái lấy tên lót mẹ. Năm đó chị tôi sinh vào năm con Khỉ, nên chị có ngay cái tên tên Thân, ghép tên mẹ là Cẩm : Hà Cẩm Thân . Một năm sau anh tôi rớt vào năm con Gà anh có tên là có Dậu, ghép tên Bá của cha vào : Hà Bá Dậu. Hai năm sau, tôi sinh vào năm con Heo, không cần coi thẻ khai sinh cũng biết tôi tên Hà Cẩm Hợi. Ba tôi thích có con đông, nhưng số Mẹ chỉ sinh được ba anh em chúng tôi rồi thôi, những lúc buồn bà than thở với chồng, may mà có ba đứa chứ cả đám chắc kéo nhau…ế hết cả đám. Ba tôi nói duyên chúng nó có thừa, nhưng chưa phải nợ nên chưa tới, đừng có nôn nóng mà hỏng… duyên con ! Mẹ kêu : Ôi duyên với nợ lúc đến chúng nó…già hết rồi !.
Mẹ tôi là gái quê nhưng có nét sang, ba tôi mê bà lúc trẻ vì ông ngoại tôi văn hay chữ tốt, ngoài chữ Quốc ngữ còn biết viết và đọc chữ Tàu, sơ sơ tiếng Pháp, ông ngoại tôi cũng biết hát, biết xướng họa đối đáp những ngày hội lớn trong làng. Ba tôi gốc nông thôn nhưng bản tính thích văn nghệ, ông ngoại tôi gã con gái cho Ba tôi, vì biết thằng con rể tương lai mình có dòng máu nghệ sĩ thì trong người nó nhẹ nhàng uyển chuyển, dầu Ba tôi không biết hát lấy một câu. Thật vậy, Ba tôi thích nghe nhạc, nghe thơ, hát chèo, hát bội đến mãn tuồng mới ra về, nơi chốn đình làng nào có văn nghệ là có Ba tôi. Y như rằng ba anh em tôi sinh ra được thừa hưởng chút hơi hướm sở thích văn nghệ của cha, tí nghệ sĩ bên ngoại nên cả ba chúng tôi đều có « nòi » nghệ sĩ ấy. Anh em tôi đã đi vào con đường văn nghệ như ông ngoại. Anh Dậu tôi bây giờ là một nhạc sĩ chơi đàn guitar vừa hát vừa đàn, lúc nhỏ anh thích đàn piano nhưng nhà nghèo, Ba tôi mua cho anh cây đàn thùng để anh đánh từng tưng nghêu ngao cho đỡ...ghiền. Chị Khỉ tôi tức Cẩm Thân lúc nhỏ thích vẽ con Trâu, con Bò, con Châu Chấu trên cánh đồng xanh, bây giờ chị vẫn tiếp tục vẽ. Tranh của chị có bức bán được mấy nghìn đồng. Còn tôi thủa nhỏ bắt chước mẹ hay đọc truyện Trần Minh khố chuối, Thoại Khanh Châu Tuấn, Con Tấm con Cám, Lục Vân Tiên v.v…Với tính lí lắc, tinh nghịch, khi lên chín, mười tuổi tôi thường hát nhại lời trong Lục Vân Tiên, lúc ấy Mẹ nghe được, bà quất vào mông tôi mấy cây chổi lông gà, rồi đay nghiến con gái vô duyên, từng ấy tuổi mà đã…ranh. Tôi hát như vầy, như vầy …
Vân Tiên đến cuối thôn làng
Chờ trăng lặn, bóp vú nàng Nguyệt Nga
Nguyệt Nga…khoái chí không la
Vân Tiên được trớn bóp ba bốn lần
Bây giờ thì tôi đi vào con đường viết văn, anh tôi tiếp tục ca hát, chị tôi vẫn đam mê trong cây cọ sơn tô trên khung vải. Ba anh em chúng tôi, mỗi người theo đuổi một bộ môn văn nghệ mà người nào cũng rất đam mê về chuyện của mình. Anh em chúng tôi luôn luôn quan hệ với nhau, bằng cách tiếp nhận, tranh cãi, đối thoại…
Anh Dậu tôi không đẹp, da thì ngăm ngăm, nhưng rất có duyên, anh là nghệ sĩ nhưng rất sạch sẽ, đồ đạc đâu để vào đó, anh nói câu nào là chắc nịch câu nấy. Anh có một lúc mấy chị nhân tình, chị nào chị nấy nhan sắc cũng trên điểm trung bình, tôi biết anh không chịu lấy vợ vì thích tự do. Mẹ tôi la ó nhưng bà biết chúng tôi có máu văn nghệ không muốn bị ràng buộc vào chuyện vợ chồng. Nợ gì chớ nợ gia đình một khi đã vào rồi thì khó mà bước ra. Anh Dậu tôi đàn giỏi, hát hay lại có duyên nhờ vào khả năng ăn nói, có dịp nói được là anh nói không ngừng, đúng là con gà tục tác, cái tên Dậu cũng ảnh hưởng đến con người của anh.
Một hôm bà mai giới thiệu một chị rất đẹp cho anh Dậu, cả nhà ai nhìn thấy chị cũng thích, nhất là Mẹ tôi. Chị ấy tên Chiêu Hồ, đúng thật là tên đi với người, chị có nét đẹp thùy mị, nói năng nhỏ nhẹ, lúc nào cũng có vẻ như e thẹn rụt rè, ấp e hay giấu mặt nghiêng theo mái tóc dài đen mượt ngang vai. Anh Dậu tôi thế nào mà chẳng mê ! Lần này là anh trúng số độc đắc đấy nhé! không tìm kiếm tự nhiên sắp được…vợ đẹp như tiên. Gia đình nhà tôi ai cũng thấy anh Dâu mặt tươi vui, anh nhìn ai cũng như muốn cười. Nhưng sau vài tuần, mỗi khi thấy chị Chiêu Hồ đến, là anh lẻn ra cửa sau biến đâu mất ! Chị Chiêu Hồ chờ anh mãi không được chị bỏ về. Lúc đầu Ba Mẹ tôi tưởng anh đùa với chị Chiêu Hồ, nhưng những lần sau đều như vậy, chị Chiêu Hồ giận rồi không thèm đến tìm anh nữa. Cả nhà hoảng lên tra vấn thì anh nói, mẫu người đoan trang thùy mị như chị Chiêu Hồ không hợp với anh. Mỗi khi nói chuyện với chị là anh bị « sửa lưng » có lúc anh lỡ nói lớn tiếng, hay cười lớn hơi thì chị cau mày, đưa tay lên miệng ra dấu, ý bảo phải nhẹ nhàng. Tính anh hay nói tếu cho vui cũng bị cảnh cáo. Gần chị, anh bị thụ động hoàn toàn. Rồi anh đến gần bên mẹ, chê chị Chiêu Hồ một câu xanh dờn, anh nói nhìn cái dáng tiểu thư đài các, liễu yếu của chị, không thể nào làm anh « bốc » lên được. Mẹ tôi không hiểu ý chữ « bốc » của anh nói là nghĩa gì, Ba tôi kề vào tai bà nói nhỏ, lúc đó bà mới ồ lên một tiếng. Thì ra tướng con nhỏ gầy yếu quá! tuy có đẹp thật nhưng không« bốc » nghĩa là không sống động nên không gợi tình được nó ! Thằng quỉ sứ bộ lấy vợ bây giờ phải có tướng « bốc » hay sao ? Thây kệ mày ! Mẹ mệt lắm rồi …
Thế rồi anh Dậu tôi trở lại làm thứ bèo bọt trong sân chơi văn nghệ, dễ thích ứng với khả năng, hoàn cảnh của anh hơn, để anh tác oai, tác quái cho trọn cuộc đời rất hào phóng của anh, trong bản chất nghệ sĩ nhưng có tự trọng. Ba tôi nói anh là đứa con dễ bảo, nhưng không phải bao giờ cũng là một đức tính đáng khen, mà sự ương bướng như tôi chưa chắc là điều đáng trách. Anh em chúng tôi sẵn sàng bỏ tất cả những niềm vui riêng tư, để vào con đường nghệ thuật. Ba anh em tôi đều ước mơ theo chiều hướng rộng, nhưng thiếu chiều cao, chưa có đỉnh...
Tôi sắp bước vào tuổi…ba mươi, nhưng là nhỏ nhất nhà, nên anh Dậu thường hay sai vặt, nhiều lúc bực mình tôi rủa thầm anh là thứ…Hà Bá dưới sông lên mặt đất để ăn hiếp tôi. Anh bắt tôi học nhạc, tôi kêu khó lắm học không được đâu ! Anh nói khó cũng phải học để biết, Do Re Mi Fa Sol La Si Do. Còn về hợp âm majeur, mineur dễ lắm ! Học đi cưng, La Mi Do là mineur. Do Re Mi là majeur. Do Re là một ton. Mi Fa nửa ton. Si Do nửa ton v.v… Ðầu óc tôi lung tung như đang lạc giữa rừng, mặt tôi nghệch ra không hiểu anh nói gì, lúc đó anh la tôi sao ngu như…Heo, rồi anh cười hi hi nói tôi không phải là..nghệ sĩ, mà là thuộc loại nghệ...vàng. Tôi nhếch môi lại anh để cười trừ . Còn nếu nghe anh nói rồi giận là anh dỗ ngon dỗ ngọt tôi là xong. Tôi biết mình tối dạ không cãi lại, nên nhắm mắt làm thinh nghe anh bắt nạt, la rầy hách xì xằng với tôi một tí cho oai. Chỉ vì nể anh chơi đàn hay, hát giỏi đúng đồng tiền bát gạo của Ba Mẹ tôi và nụ cười hiền lành, nên tôi mới phục dịch anh. Anh có tài thì để anh có quyền hách với tôi cũng được vậy. Anh nói đến khô cổ, anh bảo tôi lấy ly anh uống nước, tôi xuống bếp lấy ly đưa anh. Anh đưa cái ly lên coi rồi bảo tôi lấy cái ly khác, tôi đi xuống bếp nghe anh nói vói theo : Cái ly có vết tay, để vậy uống nước được à ! dơ như…Heo vậy ! Ðụng đâu anh la tôi rầy tôi đó ! Tuy tôi biết anh thương tôi hơn chị Cẩm Thân, nhưng tôi có…danh dự của tôi chứ ! Thế là Cẩm Hợi cầm tinh con Heo tự ái nổi dậy, tôi không thèm đi lấy ly cho anh nữa. Còn khuya ! Anh chửi tôi ngu như Heo thì anh đừng hòng nhờ tôi đấy nhé ! kể cả chuyện cho anh mượn chiếc xe mới mua của tôi để anh chở nhân tình đi chơi. Nghệ sĩ gì mà khó như …quỉ ! hèn chi đến bây giờ chưa ai chịu làm vợ anh ?
Tôi đi thẳng vào phòng nằm ì ra, định ngủ một giấc trong tư thế như…Heo cho sướng. Nhưng mà có ngủ được như Heo đâu. Không khéo anh biết được lại nói tôi làm biếng như Heo nữa. Thật tức Ba tôi quá! Tại sao không là Cẩm Thạch, Cẩm Lai nhỉ ? ông có hai cô gái cưng mà không lấy tên Hoa tên Bưởi mà đặt, thiếu gì tên mà ông lại đặt chi hai cái tên Hợi tên Thân, nên nó dính liền vào chị em tôi đến suốt đời. Ôi cái tên Cẩm Hợi, Cẩm Thân thật là vô nghĩa, vô duyên. Bỗng tôi giật mình khi nhìn xuống vòng bụng mình hơi « đẫy đà» một tí. Trời ! phải coi chừng vấn đề ăn uống, kẻo không lại bị chê mập như…Heo nữa thì khổ ! Chưa hết, tình cờ coi phim súc vật tôi chú ý ngay đến con Heo trước, rồi mới để ý những con vật khác sau. Nhìn con...Heo nó thơ ngây vô tội vạ, đưa cái mỏ ủi ủi phía trước, ỏn ẻn chậm chạp bước đi từng bước. Trên mình đầy những bụi đất, rất ư là dơ dáy. Tôi lại động lòng trắc ẩn…thương nó quá ! Ui, con vật cầm tinh của tôi đây mà…
Trong 12 con giáp người ta nói con Heo là sướng nhất, chỉ biết ăn no tắm mát rồi đi nằm, nhưng tôi cầm tinh con Heo mà chẳng thấy sướng gì cả, bị sai vặt, hết cái này đến kia. Chị Cẩm Thân tôi cầm tinh con Khỉ mà sung sướng từ A đến Z. Này nhé, mỗi ngày chị ăn no rồi ôm giá vẽ đi tìm « cảm hứng » ngày nào không có đề tài thì chị vẽ hình Ba Mẹ đang ngồi coi tivi, có khi trong buổi ăn sáng, có khi ông bà ngồi hóng mát sau vườn. Ba mẹ tôi rất bằng lòng về chị nên chị được cưng nhiều nhất. Ông bà có đồng nào là mua vé tàu, mướn nhà cho chị về những vùng núi xa xôi ở đó cả tuần để vẽ. Chị sống được tiến lên trong phương diện này nên không biết mệt mỏi, bởi ước vọng trong con người chị vô cùng. Chị Cẩm Thân nhanh nhẹn, đốp chát thì không ai lại chị, công việc nhà không bao giờ chị đụng tới vì đã có Mẹ và tôi lo, có thứ gì trong nhà chị cũng chẳng cần biết đến, chị vô tình nữa là khác. Trong gia đình ai muốn làm gì thì làm, hỏi thì chị nói không hỏi thì chị làm thinh. Chị Khỉ tôi có cuộc sống thầm lặng, ít nói, nhưng hễ nói là không ai cãi vào đâu được, anh Gà tôi tục tác thế kia chớ đụng chị là anh xếp vào hạng thứ, chưa bao giờ anh lên được hạng nhất.
Anh Dậu yêu lung tung bao nhiêu, thì chị Cẩm Thân tôi bản tính chung tình bấy nhiêu. Hễ chị không yêu thì thôi, mà đã yêu rồi thì chị rất cuồng nhiệt như…mãnh hổ. Tính tôi bình thường, thì chị khác thường bấy nhiêu. Chị yêu một thi sĩ nhân chuyến đi nghỉ hè, nghe đâu anh thi sĩ kia ở tận bên Uùc châu xa lắc. Hai anh chị hẹn hò gặp nhau vài lần, tôi thấy chị yêu đời rạng rỡ, như sắc màu sặc sỡ trong tranh chị vậy. Ðùng một cái chị có vẻ như u hoài, như xa xăm. Tranh vẽ chị toàn những tranh đàn ông…lõa thể, tình cờ một hôm tôi khám phá ra. Trong lúc tôi kinh ngạc thì chị ôm mặt rưng rức bảo tôi giấu kín chuyện này, đừng cho gia đình biết, chị nói chị đang chờ người yêu ! Chờ đợi người yêu thì chị đã chờ như bao nhiêu ngày tháng đã qua, nhưng vì ở xa nên người yêu của chị có bạn gái khác. Nghe đến đây tôi bảo chị…bỏ quách cho rồi, thương nhớ làm gì người bạc như vôi. Chị nói chị thông cảm người yêu đang ở xa chị mà anh cần phải có thứ…tình khác thay vào, cho đời sống thêm ý nghĩa. Như vậy là trong thời gian hai người dàn xếp để gặp lại nhau, chị chấp nhận người yêu có nhân tình. Hai anh chị vẫn tiếp tục hẹn hò chờ ngày tái hợp. Sự suy nghĩ của chị thật là khác thường. Ðược yêu để chờ đợi nhau trong khổ đau không phải là dễ. Ôâi tình yêu luôn luôn có cái giá của nó! Thôi thì chuyện của chị, tôi không xen vào làm chi !
Còn việc của tôi đang đi vào trong vườn, chưa biết bên trong hoa thơm cỏ ngọt như thế nào, tôi vẫn náo nức mỗi đêm mỗi đèn, trước những trang giấy viết những bài thơ, nhưng không được sự để ý của Ba Mẹ đừng nói chi là sự cưng chiều như anh chị tôi. Thật là lối cư xử có phân biệt lạ kỳ ! Anh, chị tôi xin gì Ba Mẹ cũng cho, nói gì cũng nghe, còn tôi thì không được sự ưu ái đó. Ba tôi nhiều lần đã nói, không phải ai cầm cây đàn là biết đàn, ai cầm giá vẽ là biết vẽ, chứ văn, thơ thì ai cũng làm được ! Thơ các ông bạn của Ba có khi còn hay hơn nữa ! Mà coi chừng văn chương là thứ nghiệp chướng nghe con, cũng trầm luân vất vả xiêu liêu lắm ! nó theo đuổi người ta từ lúc trẻ đến già…Ðã vào rồi thì không có đường mà ra !
Nghe Ba tôi cảnh cáo, tôi vừa viết vừa lo, dầu chỉ viết nhì nhằng những bài thơ vu vơ nhưng có sự sàng lọc, cũng vất vả như người mẹ mang thai, chưa kể đôi khi thơ làm ra khen chê nhau vô tội vạ, trong đó có sự hùa theo nhau, nhưng tôi vẫn cảm thấy vừa lòng với mình, với cuộc đời, khi đã ngồi trước bàn để viết là đã phục vụ, như thế cũng đã đủ rồi. Tôi biết Ba tôi không ý niệm gì về các nguyên lý kết cấu văn bản. Sáng tạo trong văn học là thứ ngôn ngữ được thanh lọc mới thành. Ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ trong văn học có sự khác nhau, khác nhau như vàng thật và vàng giả. Văn nghệ là một thứ gia vị cần thiết, nhưng nói chung văn nghệ ở những cương vị thuộc nhiều ngành khác nhau. Khi nói đến con người văn nghệ có kẻ nghĩ ngay đến những người văn nghệ ấy là những người lêu lổng, lơ lửng…Cái ý nghĩ lỗi thời ấy nên vất bỏ, thay vào đó giới văn nghệ được ưu đãi và thông cảm .
Mẹ nói tôi giống con…trai, côïng thêm tính nóng nảy. Bà chê tôi không đằm thắm, quyết định công việc gì cũng nhanh, đi đứng đều nhanh, mà khi ăn uống cũng nhanh nữa. Công việc thì quả thật tôi có quyết định ngay, điều này có khi làm hư việc .
Như trong vấn đề tình yêu cũng vậy. Tôi không giống anh Bá Dậu, hay chị Cẩm Thân đam mê trong tình yêu. Anh chị tôi có bị lầm lỡ tình yêu, có lại tình yêu khác vẫn đam mê, vẫn cuồng nhiệt như thường, còn tôi thì khác, bị lầm lỡ một lần là tởn đến…già. Có yêu nhưng cẩn thận. Chuyện lâu rồi, đôi lúc quẫn trí ngồi nghĩ lại tôi còn kinh hoàng.
Chuyện như thế này. Năm ấy vừa đúng 18 tuổi, tôi gặp một gã đàn ông hơn tôi 8 tuổi, người gã cao cao, nói chuyện có vẻ đạo đức y như là con nhà đàng hoàng. Gã « cua » tôi trong vai thư sinh đi qua Pháp du học, vừa đi học vừa chạy bàn trong nhà hàng để có chút tiền mua sắm sách vở. Gã đóng kịch làm mặt hiền, làm mặt đạo đức hay quá làm tôi tin thật nên yêu gã, yêu với sự man dại chân thành của mối tình đầu chói sáng chớm nở, tôi dệt biết bao hình ảnh tuyệt vời trong tương lai. Gã lợi dụng sự thơ ngây tình yêu thời con gái mà hưởng thụ. Té ra gã đã có vợ. Tôi thù gã đến mãn kiếp ! Tôi biết được mưu đồ của gã nhờ vào một buổi chiều kia, nhận được tin gã bị tai nạn, chiếc xe của ai đó bị trật bánh húc vào người gã. Gã bị thương nặng đưa vào nhà thương. Lòng tôi bị rung động theo tin này, vì trước đây 2 tiếng đồng hồø gã còn đang âu yếm với tôi. Tôi vào nhà thương thăm gã, thấy mặt và đầu gã băng kín, chỉ chừa cái mũi để thở, nhưng gã biết tôi đến thăm gã. Thấy đầu và mặt gã như vậy, tôi khóc sướt mướt, nước mắt nước mũi tum lum. Tôi mở bóp tìm khăn, thì khám phá ra mấy nghìn đồng trong bóp đã mất. Số tiền mẹ đưa tôi lúc sáng để đi đóng tiền hụi. Trời ơi! gói tiền đâu rồi ? mình đâu có đi đâu mà bị móc bóp ? Ồ không, chỉ từ nhà mình đến thẳng nhà gã thôi không đi đâu…Tôi chợt hiểu, lúc tôi đến nhà gã để cái bóp ở ngoài để vào toilette, trong lúc tôi ở phòng trong, thì gã lục bóp ăn cắp tiền trong ví tôi. Tôi đứng nhìn vào miếng băng trắng, đang quấn trên mặt gã nhưng không che giấu được thật chất của gã, tôi đang nhìn gã như nhìn con quái vật đang gây mầm hỗn loạn từ đâu hiện đến. Sợ quá ! Tôi đau đớn ê chề tung cửa chạy một hơi về nhà. Vừa ra cửa thấy có người đàn bà bước vào, chắc là vợ gã. Về nhà, tôi nói thật chuyện bị mất tiền hụi của Mẹ cho anh Dậu tôi nghe, rồi chìa cái carte visite của gã cho anh Dậu tôi coi. Anh Dậu nhìn tên gã trong thẻ, liền bạt tai vào mặt tôi một cái đổ đôm đốm. Anh nói thằng mất dạy này tên Francois, có biệt hiệu là Châu Chấu nó lấy địa chỉ giả ở quận 19 để bịp tiền người ta. Làm sao mày quen với thằng bịp này! Lần sau quen với ai phải cho anh hay. Biết chưa ? Ô hay ! Anh này lạ, chuyện tình cảm của tôi, quen ai phải « báo cáo » với anh sao ? Bốp ! Tôi bị thêm hai cái tát nữa với cái tội cãi bướng .
Chuyện đã qua, bây giờ thỉnh thoảng trong những phút tĩnh lặng tôi nghĩ lại trong một cảm giác còn buồn nôn về gã đàn ông có tên Châu Chấu đó. Sở dĩ vậy vì tôi bị cú «sốc» tình đầu thời con gái. Ôi ! tình…Tôi rùng mình nghe lạnh từ đầu đến chân. Tôi đã từng ôm hôn một con qủi đỏ, từng ngủ với loài thú mà không biết là qủi. Con người bao giờ cũng có sự đáng quí, sao lại nỡ lường gạt nhau như thế ! Tình yêu trong « ca » đầu đời bị lừa, bị móc tiền, còn tình nào…vui bằng tình này, còn bị ăn đòn mấy cái tát đích đáng của anh Dậu tôi nữa! Thật đáng đời, đúng là ngu như…Heo còn than thở nỗi gì !
Tôi nhìn ra cửa sổ, ngoài trời, làn mây nhẹ đang lơ lửng như làn voan mờ, tiếng nhạc đang ồn ào ở đâu vọng đến. Cơn gió thổi ập lại làm rung những cành hoa đang sắp nở vào xuân. Mùi hoa hăng hắc bay qua, báo hiệu mùa xuân sắp về. Tôi nhìn qua bên kia phố, thấy ngợp những bóng người trong đám hoa mai vàng sáng chói. Mẹ ơi ! con gái út của mẹ ngày mai sẽ không còn tư lự, đã lấy lại niềm tin. Con sẽ không để tình yêu phù phiếm theo nhan sắc, con sẽlấy chồng sẽ cuồng nhiệt để che giấu vết tích của tình đầu. Lúc ấy, có lẽ, con cũng chưa …già lắm đâu Mẹ ạ!
bichxuanparis@yahoọcom
Web : http://bichxuanparis.freẹfr
11-2003
Tiếng mở đầu cho mỗi câu đối thọai của anh Tám là tiếng chưởi thề. Người anh gầy quắt queo, tóc tai dù có cắt tỉa , chải gỡ cho gọn gàng, cũng không giấu được cái vẻ gàn bướng ngang tàng cuả một tay cố tình làm dáng anh chị. Với dáng dấp cùng ngôn ngữ đó, nếu không quen với anh, thì dù cho có người ân cần bảo lảnh tôi cũng rất ngại ngùng khi phải tiếp xúc.
Câu chuyện tôi quen với anh cũng thật tình cờ, đầu dây mối nhợ do một người bạn cùng quê, chị ấy đến thăm, dẩn theo một nhóm người, gồm có anh Tám và bầu đoàn thê tử, chị nhờ chúng tôi chỉ đường cho anh Tám đi thăm chợ phiên ở Lowell , nghe nói nơi đó dân của các nông trại chunh quanh thường mang các sản phẩm đi buôn bán hay đổi chác, từ những con thú vật nho u^như gà vịt, chim chóc, mèo chó, cho đến các thú vật lớn như heo dê, bò ngựa, thú nuôi gây giống cho nông trại …Vừa gặp anh, chưa kịp dứt câu chào hỏi, anh đã mở miệng cho ra một tràng dài, Tôi không quen nghe thứ ngôn ngữ của anh, thật là nhức nhối, lùng bùng cả hai tai, nhưng khi tôi trò chuyện với chị bạn và vợ anh thì thật là như hai thái cực, chị cười nhẹ bảo cái ngôn ngữ dao búa của anh không hù được ai, bản tính anh rất tốt bụng, kiểu cách của những tay anh chị dân chơi, những bạn bè có cần gì đến cầu cứu, dù chuyện to hay nhỏ anh cũng sẳn sàng giúp đở. Vợ anh, vóc người nhỏ nhắn, nói năng từ tốn, chậm rãi, tính tình có vẻ hiền hòa đôn hậu. Nhìn chung, hai vợ chồng thật trái ngược, anh thì ăn to nói tục, chị thì nhỏ nhắn dịu dàng , giống như mang bình hoa bằng pha lê mà cắm cỏ dại vào, không ai dám nghĩ rằng họ là đôi vợ chồng, nói chi đã có với nhau sáu mặt con và sống chung hơn phần tư thế kỷ.
Chị Tám đi làm cho một hảng diện tử nhỏ, là chuyên viên ráp nối, ngày nghỉ thì phụ giúp anh trong công việc may vá. Hai cô con gái lớn vừa đi học về là chung nhau lại phụ cắt chỉ, đơm nút kết khuy, mấy đứa bé thì xếp quần áo lại cho thẳng nếp, tất cả người trong gia đình anh, hai vợ chồng và sáu đứa con, ai cũng có công việc để làm, anh còn khoe rằng
- Anh còn muốn đẻ chục đứa cho vui nhà, ngặt vì qua tới đây, thương bà xã cực quá nên ráng nhịn đó
- Anh chỉ nói đùa thôi, chứ sáu đứa chăm nuôi cũng mệt lắm rồi, hơn chục đứa làm sao anh lo nổi ?
- Thím nó khéo lo, trời sanh voi sanh cỏ, con anh đứa nào cũng đầy đủ tay chân, chờ tụi nó lớn lên mình tìm thêm việc làm lo gì không có miếng ăn .
Chúng tôi dẩn đường cho gia đình anh đi thăm khu chợ phiên, họp ở Lowell mỗi tháng hai lần, vào mùa đông chợ họp buổi sáng thứ tư của tuần số chẳn. Mùa hè mỗi tuần một lần vào chiều thứ ba. Nông dân sống ở các nông trại nhỏ chunh quanh, họ mang đến bán đủ thứ thú vật nuôi trong nhà từ chó mèo, cho đến thú chăn nuôi cho nông trại như heo giống, bò giống, dê, trừu, ngựa…gà vịt lớn bé để chung từng lồng, mỗi lồng từ một, hai, đến cả chục con, ngoài ra còn rau cải, trái cây, mật ong nuôi, bánh trái quà vặt …nói chung thì cũng ồn ào huyên náo, giống như bất cứ khu chợ phiên bình thường của quê nhà trước đây, chỉ khác nhau về ngôn ngữ, họ nói chuyện bằng tiếng Anh chứ không phải thứ tiếng Việt ngọt ngào yêu dấu của chúng ta.
Anh Tám hỏi tôi làm thế nào để biết cách mua bán bây giờ? Không thấy giá cả gì hết. Tôi giải thích với mọi người là hầu hết thú vật được bán bằng cách đấu giá công khai, khi người xướng ngôn điều khiển phiên chợ khởi xướng, anh ta sẽ theo thứ tự, lần lượt chỉ vào lồng nào và bắt đầu từ giá thấp nhất, mọi người muốn mua thì trả giá cao hơn, ai trả cao nhất thì mua được. Tôi nhắc anh Tám đi một vòng, xem thử lồng gà vịt nào anh ưng ý thì chỉ nhắm vào đó mà trả giá thôi. Anh tẩn mẩn đến từng lồng ngắm nghía, lồng nầy chỉ có gà giò, lồng kia thì vịt vừa lứa. Ðến khi người điều khiền buổi đấu giá xách cái loa cầm tay , chuẩn bị lên giọng xướng, anh ta nói thật nhanh và liên tục giòn giã như những người điều khiển trò chơi lô tô trong ngày Tết xa xưa của quê nhà, cả gia đình anh Tám đứng ngẩn ngơ.
- Ông ta nói cái gì mà tía lia vậy ?Anh Tám nầy nổi danh là nổ như đại bác mà coi bộ thua cái ông máy nói nầy rồi đó.
- Anh ta đang gọi giá, anh hãy nhìn kỷ chunh quanh mình, những người đưa tay lên là họ ưng thuận trả tiền với giá anh ta đang gọi, nếu người khác cũng muốn mua thì anh ta sẽ tiếp tục kêu giá cao hơn cho đến khi nào mọi người cùng bỏ cuộc thì người theo đến cuối cùng sẽ mua được món hàng
- Chi mà phiền qúa vậy, bán bao nhiêu thì bán, để giá vào cho tiện, ai muốn thì mua phứt cho rồi, bày đặt đấu giá, cái kiểu nầy ai biết đường đâu mà mua, tiếng Mỹ hàng ngày anh còn chưa nghe dược, nó rao hàng như cái máy hát nhựa cà lăm, nghe nổi gì.
- Anh chưa quen thôi, từ từ sẽ biết mà.
- Thôi, Chú Thím coi chừng, đấu dùm anh hai cái lồng nầy nhé, bi nhiêu thì bi.
- Anh Tám, nhiều lắm đó, lồng nầy có mười hai con gà, lồng kia sáu con vịt lận, anh mua nhiều quá, làm thịt sao cho kịp ? Nhốt lại không được,vì anh ở thành phố, luật mỗi nơi khác nhau, chưa kể hàng xóm không chịu được mùi gà vịt hôi hám, họ gọi cảnh sát thì phiền lắm .
- Thím nó không biết, anh có cách nhốt mà, nhưng cũng đâu có bao nhiêu, sáu con vịt chỉ cần có dăm bữa tiết canh là xong ngay, nói không phải khoe với thím chứ anh Tám nầy đánh tiết canh chuyên nghiệp, hãm tiết một cây xanh dờn, bao lâu cũng không đặc, miễn tới giờ ăn thì chỉ cần đổ nhưn một chút là có tiết canh ăn.
- Anh hãm tiết bằng cách nào? Có chịu dạy cho em không ?
- Thím hơi đâu mà học cho nó mệt óc, muốn ăn tiết canh thì chỉ gọi anh một tiếng là có ngay. anh còn tính mở nhà hàng nữa đó, hôm nào anh mời chú thím sang nhà, anh trổ tài đầu bếp, nấu thức ăn đãi chú thím một bữa.
Mà anh đãi thật, cuối tuần đó anh khẩn khoản mời vợ chồng tôi sang nhậu với anh. Tôi tò mò nhiều hơn là thèm thức ăn nên cũng ráng đi cho biết. Anh chuẩn bị bữa nhậu rất chu đáo, nghe nói nhà tôi rất thích tiết canh nên nhất định để dành con vịt to nhất lại để lấy tiết đánh chén. Chúng tôi đến nơi, bước vào nhà, anh dang mặc áo thun lá, đầu cột khăn mù xoa tam giác trên trán, nhìn anh giống như hải tặc.Trước mặt anh , là một tấm thớt gỗ, tay cầm con dao bàng to nhịp nhàng lên xuống, anh đang bầm xương cánh và cổ để làm nhân. Vợ anh đang thái thịt vịt, gan, mề…trên bàn đã có sẵn rau húng quế, ngò gai, và một chén đậu phọng rang vàng bóc vỏ. Trên bếp gas còn hai nồi nước đang bốc khói.
- Anh không thích làn nhưn bằng thịt nạc.Nhưn phải dùng xương cổ và xương xánh bầm chung lại, trộn củ hành tây, chút tiêu, gừng , tiết canh phải nhai như vậy mới ngon , thịt nạc không ăn xảm xì..,
Hai tay anh tiếp tục bầm, miệng vẫn nói liên tục. Tôi nhớ lại anh tự hào “nổ như đại bác” mà tức cười, anh đúng là nổ như đại bác, liên tục giòn giã .Tôi vào phụ với vợ anh, nhặt rữa các thứ rau tươi, xếp theo từng loại, cắt chanh ớt cho vào mấy cái dĩa nhỏ. Vợ anh mang chiếc chiếu hoa ra trải xuống sàn nhà, tôi đến giúp chị một tay, bày biện chén dĩa. Anh Tám nghiêng lưỡi dao bàng, tém cho gọn khối thịt đã bầm nhỏ, chia ra từng phần đều nhau, chọn mấy cái dĩa hơi sâu lòng, trên mỗi dĩa anh trải đều một lớp thịt vịt đã bầm nhuyển, chút gừng, củ hành thái nhỏ, một chút rau húng quế, bàn tay anh nhanh nhẹn khỏa cho bằng mặt, xong xuôi, anh mang tô nước dùng múc ra sau khi luột vịt, đang để nguội, chan từng giá nước dùng, pha thêm vào tô tiết vịt đã hãm, đánh cho đều, cẩn thận đổ vào dĩa thịt. Từng dĩa tiết xếp thành hàng màu đỏ thật tươi thắm, chỉ ít lâu là tiết canh đã đông cứng lại như thạch, anh thúc giục gọi mọi người mau ngồi xuống đánh chén. Dù anh cố gắng mời mọc, nhưng vốn không quen ăn, nên tôi xin phép được từ chối. Anh lại hối vợ con dọn thêm các thức ăn khác,vì biết các bà không quen với món mồi nhắm dặc biệt của dân nhậu nầy, anh đã nấu sẳn bún măng, thịt vịt luộc mang ra chặt thành từng miếng, xếp vào dĩa, bên cạnh chén nước mắm để chấm, pha lại với chanh đường và gừng giã nhỏ, anh còn làm các món dưa chua và giò thủ. Vừa ăn vừa giải thích cách làm từng món một, miệng anh nói không ngừng, mỗi chấm câu là một tiếng chưởi thề, ngôn ngữ của anh bình thường đã đầy đủ màu sắc, thêm vào dăm ly rượu Cognac, tăng thêm bao nhiêu là mùi vị, tôi nghe đến lùng bùng cả hai tai .
Anh uống rượu Cognac pha với soda như chúng ta uống nước, còn nhắc lại cái thuở đương thời, lúc tuổi thanh niên huy hoàng uống thi cả đêm, sau một ly rượu Cognac không pha thì nốc vào một ngụm Coca Cola, thật là Tây Mỹ đề huề, tôi đã từng thấy các bác bạn bè của Ba tôi khi ngồi uống Cognac với nhau trong dịp giỗ Tết, nhưng chưa thấy ai uống như vậy bao giờ, ngay cả nhà tôi cũng lắc đầu xin chịu thua.
Suốt mùa hè, anh vẫn thường trở lại khu chợ phiên, lần nào cũng ghé ngang thăm, uống dăm ba lon bia lạnh, đi chợ về khi thì biếu một ít rau quả, khi thì con gà giò thấy tôi ái ngại, anh bảo
- Chú nó mắc đi làm hảng xưởng, không phải nghề tự do như anh, không có thời gian đi mua thím cứ lấy mà ăn, anh mua nhiều lắm họ nuôi như vậy mà mang đi bán rẽ rề.
- Thôi anh mang về cho các cháu, tụi em cũng đi chợ mua được mà.
- Ðừng có khách sáo, chú thím không chỉ chổ đó thì anh cũng không biết đâu mà đi mua, có mấy người bên đó biết chổ đi mua, nhưng họ giấu biệt, chỉ chỏ lung tung, còn nói khó khăn đủ thứ, xấu bụng quá trời, chú thím chẳng những dắt đi mà còn chỉ cách mua nữa, anh không quên ơn đâu.
- Anh à! Thật ra có gì đâu, chuyện nhỏ mà.
- Làm ơn thường không cần phải nhớ, nhưng thọ ơn mà không trả thì nợ lại kiếp sau, thôi anh về .
Tôi quên đi một thời gian, không thấy anh sang thăm, bất ngờ anh gọi lại báo tin là muốn mở một tiệm may ở thành phố bên cạnh, gần nơi chúng tôi cư ngụ, đi chừng nủa tiếng thôi. Anh dự trù vừa may vừa nhận sửa chữa quần áo, có thể kiêm luôn giặt ủi. Tôi chẳng biết anh lo đi xin phép tắc ra làm sao, mở một cửa hành kinh doanh như anh mà không biết xin loại môn bài nào bây giờ. Ngay cả cái tòa thị chánh, anh cũng không biết nó nằm ở chổ nào nũa thì làm sao xin ? Nhưng rồi cuối cùng thì anh cũng khai trương được cửa hàng. Anh gọi điện thoại mời chúng tôi đến dự tiệc, lần đầu , anh khoe với chúng tôi những công trình sửa chữa của anh và thằng đệ tử. Mọi thứ trong cửa hàng do chính tay anh làm lấy. Suốt tháng cưa đóng, dán giấy, sơn phết… trông cũng rất là sạch sẽ khang trang, thôi thì cũng mừng cho anh có nơi chốn làm ăn.
- A lô! Thím nó đó hả ?
- Da, anh Tám có cần gì không, sao lại gọi giờ nầy vậy? Tốn tiền lắm.
- Thím làm ơn nói chuyện với ông Mỹ nầy, ổng nói tùm lum, anh chẳng hiểu ổng muốn cái giống gì nữa.
Người trong điện thoại hỏi mấy câu, nhờ tôi nói lại với anh Tám, ông ta cần sửa cái áo, thâu ngắn hai cái lai quần cho ông và hỏi anh lấy bao nhiêu tiền công.
Tôi lập lại như lời dặn, thầm nghĩ không biết cái công việc thông dịch bất đắc dĩ nầy sẽ đi đến đâu. Anh Tám mở tiệm may, tôi không biết rõ anh may vá như thế nào, anh thường khoe khoang là cắt may theo kiểu Tây, chớ tụi Aêng lê không mặc như vậy, tụi Mỹ càng thích …tôi thật không ý kiến. Trước đây, chỉ biết anh có thêm mối nhận sửa lại những bộ âu phục, người gởi tận tiểu bang Ohio, họ gởi từng thùng, sau khi sửa xong thì anh lại đóng thùng và gởi trả lại. Công việc thuận tiện vì anh có thể làm tại nhà và nhất là có thể kiếm cơm gạo cho vợ con thoải mái. Không như lúc chân ướt chân ráo mới tới đây , anh vào làm cho một hảng may, nhưng trở ngại chính là ngôn ngữ bất đồng, mớ vốn Anh Ngữ hạn chế của anh gây nên bao cảnh cười ra nước mắt. Anh lang thang qua nhiều hãng xưởng, cuối cùng mới tìm được công việc tạm ổn nầy.
Tôi thật không thể hiểu nổi con người với cá tính đặc biệt của anh, Anh làm công việc gì vẩn tính toán như thói quen và cư xử theo luật giang hồ. Anh thích biễu lộ sự đảm lược, anh hùng tính, nhưng lại áp dụng vào những lúc thật trớ trêu. Không biết bao nhiêu lần, anh hành xử quyền tự do mà không cần biết đến luật pháp. Chuyện sẩu^y ra vào mùa hè nầy, chỉ vào khoảng sân trống sau nhà, bảo tôi,
- Anh dự trù sẽ xây một căn gác hai tầng, làm lan can chunh quanh để chiều chiều ngồi nhậu lai rai hóng mát.
Tôi hỏi anh đã gọi nhà thầu đến khảo giá cả chưa? Và giải thích là anh phải xin giấy phép xây cất của thành phố, vì cần phải theo đúng tiêu chuẩn, điện nước, cũng như hệ thống vệ sinh, tất cả phải an toàn như luật định. Nhà thầu sẽ lo hết mọi chuyện, nhưng mình cũng phải theo dõi xem họ xây cất thế nào .Anh cứ nhất định bảo
- Bọn nhà thầu làm không hơn anh dâu, chỉ cần búng một ngón tay, anh sẽ làm xong ngay cho mà coi .
Anh làm thật, cuối hè anh mời chúng tôi đến mừng sinh nhật cho thằng Út, chúng tôi đến nơi thấy anh còn áo thun quần cụt, tay cầm búa đóng đinh , vẫn cái khăn quấn đầu như hải tặc , anh đóng cho sát mấy mũi đinh trên cầu thang mới “ cáu cạnh ” dẩn lên tầng trên của căn gác sau nhà, thành tích ba tháng lao động vất vã của hai thầy trò. Tôi phải thành thật khen anh tính toán chi ly, căn nhà gỗ rất xinh xắn, tầng trên lót ván, tầng dưới chưa kịp đóng thảm, nhưng cũng đủ chổ cho dăm ba bạn bè ngồi chén anh chén chú.
Ðến Mùa Giáng Sinh, chúng tôi ghé thăm anh, nhìn vào khoảng sân trống đầy tuyết sau nhà, tôi ngạc nhiên hỏi anh căn nhà đã biến mất đâu rồi ? Anh lại kể ra một tràng, sau khi không quên chấm câu và tô thêm màu sặc sỡ:
- Thím mầy đừng có nhắc lại, anh rất đau lòng, chẳng biết thằng ôn dịch nào đi báo với cảnh sát, tụi nó mang trát tòa đến lôi thôi, cuối cùng phải tháo bỏ căn nhà, thật là đau hơn bò đá, biết bao nhiêu công cán, không dỡ thì nó đến kéo xập mà mình còn phải chịu phạt tiền hay đi tù…
- Vậy Anh không xin giấy phép trước khi cất sao ?
- Làm gì có, anh nghĩ mình xây trong sân nhà mình mà cũng phải xin phép nữa sao, ở đây là xứ tự do mà .
- Anh à, mình nhập gia tùy tục, đến xứ lạ thì phải theo luật lệ, không biết thì học hỏi, không có gì xấu hổ, anh học bài học nầy thật là đắt giá.
Tôi cầm phong bì chứa thiệp cưới trên tay, nhìn thấy tên và địa chỉ của anh gởi sang, vội vã mở phong bì, thì ra anh báo tin gã chồng cô con gái đầu lòng, nhìn lại tên chú rễ, tưởng mình nhìn lầm, thằng bé bấy lâu nay theo anh học việc, thật bất ngờ, tưởng chừng anh chỉ nói đùa thôi, không ngờ là anh nói chơi mà thành sự thật. Con bé đang học dại học, chỉ mới được một năm thôi, sao lại gã chồng ?
Anh giải thích đơn sơ :
- Mình là người lớn, không thể nói mà nuốt lời, anh hứa nó làm việc siêng năng thì sẽ gã con gái cho nó, đã hứa sao thì phải làm như vậy
- Sao anh không chờ cho cháu học xong rồi hãy làm đám cưới ?
- Ðâu có được, con gái lớn phải gã chồng, hơn nữa ở chung trong nhà tiếng đời dị nghị, cho anh là thằng bất nhân, lợi dụng con người ta, làm rễ cũng ba năm thôi chớ!
- Nhưng hai đứa cũng chưa có công việc gì vững chắc để tạo cuộc sống, lập gia đình rồi sống bằng gì ?chẳng lẽ lại tiếp tục ăn bám cha mẹ ?
- Tụi nó cứ ở nhà với anh, nhà rộng lắm, anh cho tụi nó một phòng, con gái anh cứ đi học, thằng rễ đi làm thêm kiếm tiền cũng đủ rồi
- Anh không nghĩ đến chuyện cách biệt của chúng nó sao ? Con gái anh đang học đại học, con rễ chưa học xong trung học, tiếng Anh cũng chưa kịp học cho xong, nghề nghiệp chẳng có , cái khỏang cách quá xa anh ạ , anh gấp gáp gì , mình đang ở Mỹ mà, đâu có chuyện gơỉu^ rể, làm dâu .
- Ôi thôi, thím nó đừng có văn minh quá vậy, chuyện yêu đương tiểu thuyết, anh có biết má tụi nó là ai, cưới nhau về cũng năm bảy mặt con, mấy chục năm vợ chồng rồi.
Tôi nghĩ đến con bé mà thương hại, trong lúc bạn bè trang lứa đang tung tăng đến trường, con bé hàng ngày về phụ giúp cha mẹ trong công việc mưu sinh. Sống ở cuối thiên niên kỷ nầy, vẫn không thoát khỏi những định luật vô hình , những trói buộc, những khuôn khổ gò bó tưởng đã quên lại bên kia bờ đại dương xa tít, khi bỏ hết chạy lấy người .Nhớ lại con bé ngây thơ ngày mới gặp nhau, khuôn mặt trong sáng, dôi mắt yêu đời, những lần ngồi thỏ thẻ mơ chuyện tương lai, vào đại học như con đường thoát ra những trói buộc, những khó khăn bước ban đầu, những tưởng là tương lai mở rộng thênh thang không ngờ vẫn không thoát khỏi.Tôi hình dung con bé sau tấm voan che mặt, chiếc áo cưới trắng tinh, hay trong chiếc áo dài gấm đồng tiền, màu đỏ may mắn của cô dâu mà thật tâm cầu nguyện, mỗi người có một thánh giá để mang, cũng như một số phận đã an bày, tôi mong cho con bé vượt qua , tìm được chốn bình an hạnh phúc.
Ðám cưới thật đơn sơ, dăm ba người bạn đến chia vui, mấy mâm rượu thịt, chú rễ đứng rụt rè chào khách, anh Tám say bí tỉ, khách đến mừng không thấy bóng cô dâu, con bé mắc cở trốn biệt trong phòng.
Tháng 11 năm 2003, Xinran Xue, một nữ ký giả Trung Quốc vừa phát hành quyển sách "Những người đàn bà giỏi của Trung Quốc: Những tiếng nói thầm lặng "The Good Women of China – Hiđen voices.”
Bắt đầu từ năm 1949, các cơ quan truyền thanh, từ radio cho đến báo chí tại Trung Quốc là tiếng nói của Ðảng, tất cả đều có chung lối trình bày tin tức cũng như những lời phê bình nhận định như nhau, không có một cơ quan truyền thanh nào dám đi ra ngoài khuôn khổ ngầm định sẳn. Từ khi Ðặng Tiểu Bình hé mở cánh cửa vào năm 1983, báo chí mới có cơ hội cải cách cách trình bày tin tức, nếu họ có can đảm. Với “Lời Trong Gió Ðêm”, một chương trình xã hội, ký giả Xinran là người đầu tiên mở cánh cửa “linh hồn” của các thính giả nữ: các phụ nữ thuộc mọi thành phần xã hội có cơ hội kể chuyện đời mình và tỏ bày tâm sự, dù rằng có người vẫn còn e ngại, chỉ gọi tới đài ngoài giờ làm việc, kể chuyện vào máy nhắn, mà không dám để lại tên thật. Trên phương diện truyền thông, đây là một cải cách quan trọng, Xinran đã lấy được lòng tin tưởng của số đông thính giả, bằng chứng là cô đã nhận được hàng trăm cú điện thoại và lá thư mỗi ngày. Chương trình bắt đầu năm 1989 và kéo dài bảy năm. Có quá nhiều câu chuyện thương tâm đã làm cho Xinran nhiều lần rơi lệ. Từ các câu chuyện thật đó, Xinran đã hoàn thành quyển "Những người đàn bà giỏi của Trung Quốc", một gom góp những mẩu chuyện đã để lại ấn tượng sâu xa nhất cho người nữ ký giả có trái tim nhạy cảm và lòng can đảm này. Có những chuyện Xinran đã quyết định không đưa lên đài vì muốn giữ thanh danh cho người thuật chuyện, cũng có chuyện cô không được phép trình bày cho thính giả, như chuyện một người vợ lãnh tụ lấy chồng theo lệnh Ðảng, giàu có nhưng sống thừa bên chồng, đưa chuyện lên đài hóa ra bôi xấu giới lãnh đạo.
Quyển sách mang một giá trị đặc biệt đối với Xinran, một lần cô đã tí nữa hy sinh mạng sống của mình để bảo toàn cho nó. Năm 1999, khi mới định cư tại London, trên đường từ đại học "London University" về nhà, cô đã bị một tên cướp chận lại. Hắn đòi cô trao cặp sách mà cô ôm khư khư trong lòng. Cô từ chối không đưa, hai bên dằn co nhau, may mà có người qua lại gọi cảnh sát. Ðúng là có bảo vật trong cặp sách, vì trong đó có bản thảo duy nhất của quyển sách vừa mới phát hành. Trả lời thắc mắc của người cảnh sát, Xinran ngượng ngùng nói: "Tất nhiên mạng sống con người quan trọng hơn quyển sách, nhưng thật tình mà nói, quyển sách không phải chỉ tượng trưng cho cuộc đời của tôi, mà còn là bằng chứng của đời sống của tất cả phụ nữ Trung Quốc, những người đã trải qua một cuộc sống trong thầm lặng quá lâu rồi" .
Từ một lá thư nhận được một ngày nọ của một cậu bé trong làng nhỏ xa xôi hẻo lánh, Xinran đã bắt đầu hành trình tìm hiểu những người đàn bà Trung Quốc, những tâm hồn đã bị lãng quên qua nhiều thế kỷ, và nhất là qua thời kỳ chính trị đổi thay gần đây nhất. Cậu bé yêu cầu cô can thiệp cho một cô bé 12 tuổi, đang bị một ông già 60 tuổi trong làng bắt về làm vợ. Ông ta cùm cô ấy lại vì sợ cô bỏ trốn, và cả làng coi là chuyện tự nhiên vì đó là chuyện nội bộ ông ta. Xinran phải đi qua nhiều lần thuyết phục, công an địa phương mới chịu tới can thiệp vào chuyện gia đình này. Ngày xưa Việt Nam ta có câu "Phép vua thua lệ làng", mà câu của người Trung Hoa là: "Tại làng, Thượng Ðế thì ở tuốt đỉnh cao mà thiên tử thì quá xa vời". Cuối cùng sau khi giải thoát cô bé, các nhân viên chức trách và đài truyền thanh đã ra đi giữa cơn xỉ vã thậm tệ của ông lão 60 và sự bất bình của dân làng, vì đã dám can thiệp vào chuyện nội bộ của làng. Về sau được biết cô bé đã bị lão già bắt cóc, gia đình cô bé đã mang nợ trong công cuộc tìm kiếm cô. Thời điểm ấy là vào năm 1989, bốn tháng sau khi Xinran bắt đầu chương trình phát thanh của mình.
Thế mà chuyện trên chưa là chuyện xúc động nhất . Ðộc giả sẽ đi từ chuyện thương tâm này qua chuyện thương tâm khác. Có thể nói quyến sách "The Joy Luck Club" của Amy Tan chỉ mới là lớp vỏ sơn bên ngoài, so với những câu chuyện của Xinran, vì dù sao “Joy Luck Club” cũng là một quyển tiểu thuyết với các nhân vật hư cấu, còn các nhân vật trong các câu chuyện này là những nhân vật rất thật. Xinran đã ghi lại một chuyện loạn luân trong một chương tựa là "Cô bé giữ chú ruồi để làm vật nuôi“. Từ khi cô bé đáng thương này tới tuổi dạy thì, thì cha ruột cô đã dùng cô để thoả mãn tình dục . Cô bé đã quá sợ cha nên làm đủ mọi cách để bị bệnh, vì như vậy là được vào nhà thương, xa ông cha khốn nạn . Trong lúc nằm bệnh viện lần cuối, cô đã bắt được một con ruồi để làm thú nuôi chơi . Sau đó cô đã tự hủy thân thể cho đến khi phải chết dần mòn trong nhà thương, còn hơn là phải về nhà.
Sinh năm 1958, Xinran đã bước vào nghiệp báo chí lúc được tuyển vào bậc đại học của một trường quân đội. Cô học về Anh ngữ và các lớp tương quan quốc tế . Sau đó cô làm việc trong quân đội với tư cách là một thường dân. Có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, từ đó Xinran đã viết rất nhiều truyện cũng như thơ, cho nên đã được tuyển chọn vào làm cho đài phát thanh, nơi cô có cơ hội điều khiển chương trình "Lời Trong Gió Ðêm". Ngoài những câu chuyện của các thính giả, độc giả sẽ vô cùng xúc động lẫn ngạc nhiên qua những vạch trần rất chân thành của chính tác giả, cô đã gởi tâm tình của chính mình, cũng như chuyện của mẹ ruột, cùng là những người đàn bà Trung Quốc, đó là những tâm tình cất giấu nhiều năm, những người đàn bà đã trải qua một đoạn đường lịch sử đau thương.
Xã hội phương Tây đã được biết đến người phụ nữ Trung Quốc với những chuyện dài của văn sĩ đoạt giải Nobel Pearl Buck, rồi đầu thập niên 1990 với Amy Tan, lớn lên và sinh ra tại Hoa Kỳ đã ghi lại tâm tình của những người đàn bà Trung Hoa với quyển sách nổi tiếng "The Joy Luck Club", sau được đóng thành phim. Quyển sách mới này của Xinran có gì khác hơn những quyển sách trước?
Với một dân số khổng lồ hơn 1 tỷ người, đàn bà chắc cũng phải đến một nửa. Thế mà đã có bao nhiêu người đàn bà có tiếng nói trong thương trường và chính trị của nước Trung Hoa vĩ đại? Bao nhiêu người đàn bà tự hào mình là một người đàn bà tốt, giỏi? Từ thời Khổng Tử, người đàn bà sanh ra phải theo lệ “tam tòng, tứ đức”. Tục lệ này đã in sâu vào người dân Trung Hoa, mà sau cuộc Cách Mạng lật đổ chế độ quân chủ, thì chính phủ mới đã mang ra để chê trách chế độ cũ: người đàn bà thời quân chủ là sở hữu chủ của người đàn ông, cần được “giải phóng”. Ðàn bà giờ đây dưới chế độ Cộng Sản đã được nâng cao phẩm giá, người đàn bà hoàn toàn bình đẳng với người đàn ông trên mọi phương diện. Thi sắc đẹp bị bãi bỏ, vì đó là hình thức lợi dụng và coi thường phẩm giá của phụ nữ, đàn bà bận áo bốn túi Mao Trạch Ðông và để tóc ngắn như đàn ông. Nhưng sự thực như thế nào?
Ðọc sách của Xinran, người ngoại quốc, nhất là phương Tây sẽ vô cùng xúc động khi nhận thấy rằng giá trị người phụ nữ dưới thời cách mạng, và cho đến ngày nay khi Trung Quốc đã mở cửa được hơn hai mươi năm, vẫn không khác gì trăm năm trước. Sau khi đổi mới, qua các màn ảnh lớn nhỏ, báo chí, hình ảnh người đàn bà Trung Hoa đã được phục hồi với muôn màu sắc, mà đại diện là các cô đào điện ảnh, các người mẫu tân thời. Hình ảnh đó là một cái vẻ đẹp bề ngoài chăng? Ðúng ra đó là hình ảnh của dân thành thị và những người có may mắn hội nhập vào đời sống mới . Thật sự thì số đông người đàn bà Trung quốc thiếu niềm tự tin!
Người phụ nữ Trung Hoa từ lúc bé đã có ước muốn trở thành một phần tử giỏi trong gia đình, xã hội, một người con gái ngoan, một bà mẹ đảm đang, một người bạn tốt, một người tình tuyệt vời, một người vợ giỏi. Từ 1980 đến 1987, Xinran đã phỏng vấn hơn 200 phụ nữ, từ đồng quê đến tỉnh thành, từ làng mạc xa xôi, hẻo lánh mà đời sống đẩy lùi như 500 năm trước, cô nhận thấy phụ nữ Trung Quốc là những người có nhiều tình cảm linh động với nhiều xúc cảm, nhưng thực tế đã buộc họ dấu kín những cảm tình thật, vì xã hội Trung Hoa là một văn hoá che dấu và phủ nhận. Với "tam tòng, tứ đức" làm nền và ăn rễ vào lòng mọi người dân Trung Hoa, phần đông các phụ nữ thiếu niềm tự tin, không thấy mình giỏi hay tốt đẹp, và ý nghĩ này được nhấn mạnh qua ý kiến các đấng đàn ông trong đời họ, từ cha, chồng, đến anh em và đồng nghiệp.
Năm 1995, khi Xinran mở ra bốn đường giây điện thoại và hỏi đàn ông hai câu: Có bao nhiêu người đàn bà giỏi mà ông quen biết, và những tiêu chuẩn nào để có thể gọi là một người đàn bà giỏi ? Phần đông câu trả lời của nam giới là không, họ chưa gặp một người đàn bà nào có thể gọi là giỏi . Xinran rất đổi kinh ngạc, những người đàn ông này đã viết thơ cho cô, tất nhiên họ là những người có học, và đó là điều mà những người có học nghĩ về đàn bà xứ họ Theo đàn ông Trung quốc, tiêu chuẩn để có thể gọi là đàn bà tốt, giỏi gồm 5 điều:
1. Một người đàn bà giỏi là một người biết giữ im lặng, ít tiếp xúc với người ngoài, không bao giờ cởi mở với ai, nhất là với những người đàn ông khác .
2. Một người đàn bà giỏi phải sanh một người con trai cho gia đình chồng .
3. Một người đàn bà giỏi lúc nào cũng nhẹ nhàng, và không được nổi giận
4. Không bao giờ lầm lỗi khi làm việc nhà, không thể nào giặt đồ trắng chung với đồ màu, không bao giờ nấu cơm cháy khét vvvv
5. Một người đàn bà giỏi là một người phải biết chìu chuộng chồng trong phòng the, và luôn giữ một thân hình đẹp .
Tất nhiên ý tưởng trên đã được dạy dỗ, truyền lại, và từ đó ăn sâu trong lòng người đàn bà Trung quốc . Chớ lầm chỉ có những có những người đàn bà nhà quê, ít học mới có nghĩ lạc hậu như thế . Qua một cuộc phỏng vấn với cô nữ sinh viên đại học, ý tưởng đó đã được cô nhấn mạnh với kinh nghiệm riêng . Với cô, đàn ông chỉ coi đàn bà như một vật dùng để họ leo thang trong xã hội . Các cặp vợ chồng nào sống lâu với nhau vì các ông chồng, nếu có tiền, đều có một cô vợ bé ở đâu đó để thoả mãn tình dục . Từ ngày Trung Quốc mở cửa, thì xã hội có thêm một nghề mới cho đàn bà, đó là thư ký riêng . Ðàn ông thích các danh xưng lớn, với những chức vụ như giám đốc, chủ tịch, nhưng điều hành thật sự trong sở là từ các cô thư ký riêng, làm đủ mọi dịch vụ, trong một vài trường hợp kiêm luôn tình nhân của ông chủ, nhiều cô cũng hiểu rằng ông chủ không bỏ vợ vì cô, vì thế cô vẫn mãi là thư ký riêng dù cô cũng có bằng đại học, và nói ngoại ngữ còn hay hơn ông chủ . Cô sinh viên ăn bận rất hợp thời trang, và có bề ngoài rất tự tin này đưa ra nhiều định nghĩa về đàn bà, mà các đấng đàn ông ví von với các loại cá khác nhau trong thực đơn hàng ngày, khi các ông đang cùng nhau nhậu nhẹt:
“Các cô tình nhân tựa như cá lưỡi kiếm, mặn mòi nhưng nhiều xương . Các cô thư ký riêng là cá chép, càng kho lâu càng ngon . Vợ của các người đàn ông khác là cá puff của Nhật, ăn vào sẽ lãnh bản án tử hình . Còn vợ mình thì sao ? Thì như cá nục khi nào cần thì có sẳn, cũng qua được một bữa ăn .”
Không phải chỉ riêng cô nữ sinh viên, sống vội sống vàng, và chán chê đàn ông vì bất mãn với xã hội, một người phụ nữ đứng tuổi khác, được mệnh danh là "người phụ nụ thời trang", theo cả hai nghĩa đen trắng, ăn vận sang trọng, đúng mốt, và cũng là một người thành công trên thương trường, giàu có, thế nhưng khi vào chuyện mới biết bà đã che dấu một quá khứ thăng trầm, người chồng đầu hành hạ bà dù bà là người làm ra tiền trong gia đình, người tình thứ hai đã bỏ bà khi nghe bà nói đến chuyện cưới hỏi, sống đời với nhau, nhưng sau đó khi bà có danh vọng và tiền bạc, thì ông ta lò mò trở lại với người tình cũ . Tại sao bà ta lại chịu ở với ông ta, dù bà thừa biết rằng nếu ông có nghề nghiệp hẳn hoi, hay có một người đàn bà khác thì ông sẽ bỏ bà ngay . Bà thở dài trả lời: Vì tôi nhớ lại những kỷ niệm của chúng tôi, đó là thời gian hạnh phúc nhất đời tôi, và giờ tôi muốn sống lại khoảng thời gian đó .
Lạ lùng thay, ý tưởng này được ăn rễ qua thời kỳ Cách Mạng văn hoá, mà đáng lẽ phải giải phóng người phụ nữ Trung Quốc. Ðó là những phụ nữ nạn nhân của thời cuộc, những người thuộc thành phần phản cách mạng, có bố mẹ và ông bà trước kia là những người có chức tước, thuộc gia đình khá giả, trong đó có cả Xinran và mẹ ruột. Họ đã phải trải qua cuộc sống đau khổ cùng cực từ tinh thần cho đến thể xác, họ đã bị xỉ vả, ruồng bỏ, có người đã bị đoàn thanh niên xung phong đỏ lợi dụng tình dục một cách dã man.
Thế nên khi thế hệ mới trách người đàn bà Trung quốc đã đi quá chậm với thời gian, thì một người đàn ông đứng tuổi, một nhà báo đã ngậm ngùi nói: "Ði quá chậm với thời gian ư, những người này chưa hề có một tuổi thơ vui sướng".
Vậy theo Xinran thì thế nào là người đàn bà giỏi, tốt đẹp ? Xinran nói:
Dưới mắt tôi, tiêu chuẩn của người đàn bà tốt khác hẳn với năm điều kể trên. Là đàn bà, chúng ta hãy tin tưởng hơn về chi’nh mình, hãy có tình thương và biết chia sẻ tình thương giữa nhau, là chúng ta tốt rồi .
Thấy người lại nghĩ đến ta ....
Thế người đàn bà Việt Nam thì sao? Người viết không khỏi nghĩ đến nước Việt Nam nhỏ bé đã chịu ảnh hưởng của Trung Hoa từ ngàn năm nay, cả thời chiến tranh và hậu chiến tranh. Bao nhiêu người đàn ông Việt Nam muốn về nước để kiếm vợ, vì đàn bà Việt Nam biết chìu chồng, vì ở Việt Nam đàn ông là tiên, đi ăn có hai người hầu hai bên đút cơm. Ðàn bà ở ngoại quốc về Việt Nam rất đỗi ngạc nhiên, trong bữa ăn đại gia đình, đàn bà được xếp ngồi chung với nhau và với con nít, đàn ông ngồi mâm trên để cùng nhau nhậu nhẹt, bàn chuyện thời sự, trăng gió, mây nước, thi phú ... Trong cuốn tự truyện "Catfish and Mandela", thuật lại chuyến hành trình về Việt Nam của mình, tác giả Andrew X. Phạm đã kể lại một hình thức "male bonding" của đàn ông Việt Nam, đàn ông thân thiết với nhau, là tối tối rủ nhau đi nhậu, say khướt cả đêm, trong lúc đàn bà lo bưng thức ăn, rượu bia phục vụ các ông. Chuyện đàn ông say rượu, đánh đàn bà không phải là chuyện bất thường, và dễ dàng được tha thứ vì rượu vào lời ra, rượu chính là thủ phạm, không phải là các ông.
Giữa thập niên 70, khi người viết đang học trung học, một hôm vào giờ giáo lý - năm duy nhất người viết học trường công giáo, một ông cha đã ghé vào lớp, hôm đó ông Cha không giảng gì về đạo lý mà nói chuyện xã hội, và bắt tất cả học trò, toàn là con gái viết xuống một mảnh giấy: "Các chị hãy nói về nghề nghiệp chọn sau khi ra bậc trung học, đại học. Hai tuần sau ông Cha trở lại, ông nói: Cha rất đổi ngạc nhiên, một phân nữa lớp đề nghề nghiệp là lấy chồng, có con. Lấy chồng và sanh con, không phải là một nghề. (Cả lớp cười ầm lên) Làm cô giáo, kỷ sư, bác sĩ, thợ cắt tóc, thợ may vvv mới là nghề nghiệp. Cha khuyên các con nên có lòng tự tin, và có một cái nhìn phóng khoáng hơn về thân phận phụ nữ. Phụ nữ là con người và cũng cần có một nghề nghiệp như đàn ông.
Lời giảng dạy của ông cha này đã in sâu vào tâm trí tôi cho đến bây giờ. Có lẽ chúng ta ở Hoa Kỳ, một nước văn minh, mà đàn bà có quyền và có cơ hội gần ngang người đàn ông, cho nên chúng ta không thấy, hay không nhìn thấy những thua kém của những người đàn bà thuộc các nước Á đông hay các nước nhược tiểu khác. Quyển sách của Xinran đã được dịch ra 50 thứ tiếng, tôi không hiểu có tiếng Việt Nam hay không, nhưng hy vọng rằng quyển sách là một tiếng chuông nhắc nhở lần nữa (vì đây không phải là lần đầu tiên), xã hội phải có cái nhìn rộng hơn về người đàn bà và quyền bình đẳng. Phải chăng đó là những người mẹ, người chị, em và là con gái của chúng ta ? Cho đến ngày nay, tôi đoan chắc tại Việt Nam một số đông thiếu nữ vẫn nghĩ lấy chồng, sanh con là mục đích chính của đời mình. Vâng, con cái và bổn phận là một điều cao đẹp của cuộc sống, nhưng phụ nữ cũng phải có một đời sống riêng cho chính mình, vì con cái sẽ lớn lên, và lớn rất nhanh, còn chồng là một người để cùng mình đi chung một đời chớ không phải là người để mình phục vụ .
Các phụ nữ hãy truyền lại cho thế hệ sau niềm tin tưởng cho chính bản thân của họ. Chính niềm tin tưởng và tình yêu thương sẽ là một truyền thống mà các phụ nữ tạo dựng cho con cháu thế hệ sau, để họ có một đời sống tốt đẹp, với hạnh phúc trước hết cho bản thân mình, và sau đó cho gia đình và những người thân.
* * *
Xinran là tên cha mẹ đặt cho cô ngày chào đời, lấy từ câu thơ:
Xin xin ran zhang kai le yan Zhu Ziqing
With pleasure, Nature opened its eyes to new things
Trong niềm hân hoan, thiên nhiên mở mắt chào đón những đổi mới ...
Từ đó định mệnh đã đẩy Xinran đem lại niềm vui cho các tâm hồn bị lãng quên từ nhiều chục năm nay, hay hơn nữa nhiều thế kỷ qua. Xứ Trung Hoa hãy như thiên nhiên: Xin mở mắt chào đón, nhận định, cũng như chấp nhận nhiều đổi mới hơn nữa!
Hạnh gọi phone cho tôi trong giờ mà tôi đang bận rộn nhất
- Mi, chồng tao đòi đi Việt Nam.
- Không được! Không cho!... Tao gọi mi lại nghe … tao đang bận lắm mi ơi!
Tôi cúp máy nhưng đầu óc vô cùng bực tức... Cái anh chàng này, thiệt tình! Lại dỡ chứng nữa rồi. Năm nào cũng có chuyện! Tôi cố gắng tập trung tư tưởng để làm cho xong cái report và document giấy tờ của bài lập trình vừa viết xong.
Bạn tôi, Hạnh chìu chồng hết chỗ nói. Nhiều khi tôi nghĩ Hạnh là một người có lẻ chỉ có một không hai trong thế hệ chúng tôi! Hạnh qua Mỹ lúc còn nhỏ tuổi vậy mà cách sống của Hạnh gần giống như những người trước tôi một hai thế hệ. Ðôi khi tôi nghĩ Hạnh quá khùng, nhưng tôi phục Hạnh, phục cái sự chịu đựng của Hạnh lắm. Lần đầu tiên chồng Hạnh đi Việt Nam, Hạnh vừa sanh thằng con thứ ba được một tháng. Giờ thằng nhỏ sáu tuổi, anh chàng tiếp tục đi ít nhất một lần trong năm. Nhất là đi một mình nên tôi mới ức giùm cho Hạnh!
Tôi gọi phone lại cho Hạnh sau khi làm xong công việc
- Sao, chừng nào ổng đi nữa? Không cho đi một mình nghe mi!
- Kệ anh làm việc cực khổ, ảnh muốn đi nghỉ mát có sao đâu. Tao đi theo con cái ai lo!
- Mi khùng, bao nhiêu chuyện người ta kể mấy ông đi Việt Nam, mi chưa nghe sao!
- Tao cũng biết, nhưng cản không được anh. Ðể cho ảnh đi cho yên nhà yên cửa. Anh đi xong rồi cũng về mà. Anh nói mấy chục năm, chưa có lần nào đi ăn Tết ở Việt Nam cả.
Tôi lắc đầu thở dài. Tôi cảm thấy thương Hạnh hết sức. Nó buồn cũng cứ để bụng. Tôi biết nó. Quen Hạnh đã 20 năm nay rồi, tôi biết tánh con nhỏ là vậy đó. Vợ chồng nó có giận hờn buồn bực, Hạnh cũng lo cho có bữa cơm trên bàn đàng hoàng, không thiếu bữa nào, vẫn hầu chồng hầu con trọn vẹn! Nhà cửa trong ngoài một tay Hạnh lo chăm sóc chu đáo hoàn toàn. Con cái học hành dậy dỗ, đưa đón đi học, lại thêm mấy môn học phụ, nào nhạc nào võ, cũng một tay Hạnh. Vậy mà lúc nào Hạnh cũng tươi cười. Hạnh trông trẻ và tinh tình vẫn như con nít, chẳng biết giận hờn gì cả. Tôi phục nó sát đất.
Mỗi lần nói tới chuyện chồng con số phận, Hạnh cứ khăng khăng giữ cái câu nó học ngày chập chững bước vào lớp Quốc Văn Ðệ Thất "phận gái 12 bến nước trong nhờ đục chịụ" Ðôi lúc bực mình, tôi bảo nó:
- Dẹp cái câu đó đi, xưa rồi mi ơi! Hồi đó nếu mi đừng bỏ Bảo thì tao nghĩ bây giờ mi bớt khổ tâm hơn.
- Ðừng nói bậy, lấy Bảo làm sao ba đứa con tao dễ thương như ri.
- Biết đâu tụi nó dễ thương hơn!
Tôi nói bướng với Hạnh, vì tôi biết Hạnh vẫn còn thương Bảo lắm. Ngày xưa, người yêu đầu tiên của Hạnh là Bảo, hai người không lấy nhau cũng vì Hạnh coi nặng chữ hiếu hơn chữ tình, vâng lời cha mẹ đặt đâu ngồi đó. Mặc dù lúc đó hai người đang yêu nhau tha thiết. Gần 20 năm, vậy mà bây giờ mỗi lần nhắc đến Bảo hay một vài dịp tình cờ gặp lại, tôi vẫn còn thấy trong ánh mắt Hạnh một vài giọt nước mắt long lanh buồn. Có lẽ tình yêu đầu đời là tình yêu Vĩnh Cửu. Những ai yêu nhau và lấy được người yêu đầu đời của mình tôi nghĩ là những người hạnh phúc nhất trên đời này đó. Cả chính tôi cũng không có được cái đó, nhưng dù sao Hạnh vẫn còn hơn tôi, Hạnh còn có sức chìu chồng để nắm giữ cái hạnh phúc của Hạnh còn đến ngày hôm nay. Hạnh hay nói, “tao sống cho ba đứa nhỏ mà mị”. Hạnh không như tôi, và bạn bè chúng tôi, hầu hết không có cái sức chịu đựng “khùng” như Hạnh.
Tôi mong cho Hạnh có được cái hạnh phúc gia đình dầu Tết năm nay Hạnh ăn Tết một mình với các con Hạnh...
23.01.03
Khi những cơn gió lạnh thổi đều vào tháng chạp, lòng tôi rộn rã khác thường. Một niềm vui sướng nở rộ trong lòng, vì biết rằng những ngày xắp tới đây , tôi sẽ được nghỉ học và được vui đùa cùng bạn bè trong xóm . Tôi sẽ được đánh bài cào, chạy nhảy cùng anh chị em họ , và còn nhiều thú vui khác nữa . Nhưng thú vui hàng đầu vẫn là được đốt pháo . Ðó là ngày đầu năm âm lịch hay ngày Tết . Thông thường , ba tôi nghiêm cấm không cho con cái chơi pháo bừa bãi nếu không có ông canh chừng. Dù có nghiêm cấm hay không thì bọn tôi cũng tìm đủ mọi phương tiện để thỏa mãn tính ham vui của trẻ con . Có lẽ biết tánh tình nghịch ngợm của đứa con trai nên ông đã nghiêm trị anh em chúng tôi không khác kỷ luật của quân trường . Tuy vậy , vào năm đó , trước tết vài ngày ba tôi đã bỏ chút đỉnh tiền mua về vài phong pháo cùng hai quả pháo đại to bằng nắm tay .Ba tôi đã gọi hai em chúng tôi đến bàn để quan sát , đồng thời giãi thích tầm nguy hiểm của quả pháo đại . Sau lời giải thích và dưới sự cho phép, tôi đã cầm thử trong tay . Một cảm giác rờn rợn chạy trong người , ngơ ngác nhìn ba tôi .
- Sợ rồi hả ?
- Dạ !
Tôi đáp nhẹ sau khi ba tôi nheo mắt và xoa đầu tôi .
Năm đó tôi được cái hân hạnh châm ngòi pháo sau khi mẹ tôi bài hương án cúng giao thừa . Như thường năm, tôi không chịu đi ngủ sớm, mặc áo mới theo mẹ xắp xếp hương án cúng giao thừa . Mẹ tôi thường nghiêm cấm không được nếm thử bánh mức khi chưa có lệnh và nhất là chưa cúng kiến ông bà. Ðối với trẻ con vị ngọt bao giờ cũng là món hợp khẩu nhất nên mặc dù mệt mỏi , tôi vẫn ngủ gà ngủ gật chờ tàn ba nén hương , để được mẹ thưởng cho một mẩu bánh hay vài mẩu hạt sen vì đây là loại mứt mà ba tôi rất thích. Nhưng cái tết năm đó , pháo nổ liên tục từ đầu hẻm đến cuối hẻm, xác pháo đỏ thắm bay trong gió . Tiếng nổ đì đùng nối tiếp nhau nên tôi không còn ngủ gà gật như mọi năm . Ngoài ra ba tôi giao cho tôi nhiệm vụ châm ngòi pháo sau khi tàn hương , làm tôi thêm nôn nóng . Việc này khiến mẹ tôi không bằng lòng nhưng ba tôi nghiêm mặt
- Xắp vào trung học rồi , phải mạnh dạn lên .
Ðúng như ba tôi dự đoán , loay hoay với cây nhang mà không tài nào tôi châm được ngòi pháọ Anh tôi đứng nhìn và cười chế nhạo . Mặc dầu đã thu hết can đảm nhưng hình ảnh của quả pháo đại làm tôi chùn bước . Cuối cùng ba tôi phải cầm lấy tay tôi để châm ngòi pháo . Tiếng pháo nổ dòn, hòa cùng âm điệu với làng trên xóm dướị Hai tràng pháo được chấm dứt bằng hai quả pháo đại đinh ai tức ngực .Sức ép của quả pháo đại đã thổi tắt hai ngọn nến trên bàn hương khiến mẹ tôi lo âu .
- Năm nay nhà mình phải cẩn thận
Ðêm giao thừa qua mau, trong giấc ngủ chập chờn, nôn nóng ngày Tết trong lòng . Tôi thức dậy khi nghe tiếng động của chén dĩa . Mẹ tôi đang sửa soạn mâm cỗ cúng ông bà . Vội vã rửa mặt và thay quần áo mới , ngày mồng một Tết đến với gia đình tôi trong ấm cúng đầy hạnh phúc . Sau bữa ăn sáng , cả nhà tôi đã về chúc thọ ông bà nội . Như đã dự trù , tôi cùng anh chị em họ bày đủ trò chơi nghịch ngợm. Nhưng những trò chơi nào trong ngày đầu năm cũng không bằng đốt pháo . Mỗi đứa trong chúng tôi đều thủ sẵn vài quả pháo trong túi . Hiếu kỳ , tôi đề nghị chôn thân quả pháo trong lòng đất . Khi pháo nổ , cát bụi bay lên và cả bọn reo hò. Ngày vui qua mau , chiều mồng một Tết qua đi trong bận rộn, thời gian trôi quá nhanh so với cuộc vui của đám trẻ con.
- Ngày mai mình về nhà ngoại hả mẹ ?
Ðêm ấy tôi trằn trọc đến khuya vì mãi mê tính toán những trò chơi nghịch ngợm với anh em họ bên nhà ngoại . Tôi đã dự tính dùng dây thun buộc vài viên pháo chung vào nhau để tăng sức ép khi pháo nổ . Dùng lon sữa bò đậy lên, với hy vong khi pháo nổ lon kim khí sẽ bay lên cao . Nhưng đó chỉ là đơn thuần một ước của mơ trẻ con , vì giòng đời cuốn trôi không cho phép giấc mơ thành sự thật . Trò chơi này không bao giờ đến hay đúng ra tôi không còn dịp và nhất là không còn thích thú để thực hiện vì những diễn biến trong năm đó .
Sáng ngày mồng hai Tết, mẹ tôi đánh thức anh em tôi sớm hơn thường lệ và hối thúc anh em tôi rửa mặt .
- Cơm sẵn trên bàn , các con rửa mặt rồi ăn cho no bụng nghen. !
Tay dụi mắt tiến về nhà tắm , tôi nhận thấy hương vị ngày tết hay cái không khí ngày tết đã biến mất . Một thoáng ngơ ngác. Mẹ tôi không trang điểm và mặc quần áo mới như mọi khi , mẹ tôi đang bận rộn xắp xếp quần áo và vài vật dụng cần thiết vào trong cái túi vảị Nét lo âu hiện rỏ trên mặt .
- Lẹ lên đi con , trễ rồi .
Mẹ tôi thúc giục nhưng không nhìn mặt tôi
- Mẹ ơi, mình về ngoại ở chơi luôn hả mẹ ?
Mẹ tôi dừng tay nhìn hai anh em tôi , một tay vén tóc xõa trên mặt, một tay đẩy anh em tôi vào nhà tắm
- Giặc đánh tới rồi , rửa mặt ăn cơm . Lẹ lên rồi lên đây mẹ dặn .
Ðến lúc này tôi mới hoàn toàn tỉnh ngủ và nhận ra những tiếng nổ dòn nối tiếp nhau văng vẳng từ xa . Theo lời mẹ tôi thì đó là tiếng súng giao tranh. Anh em chúng tôi ăn uống vội vã theo sự hối thúc của mẹ Một tâm trạng sợ hãi nổi lên trong lòng, nhưng tôi vẫn không biết mình sợ những gì . Tiếng súng trường đủ loại tiếp tục nối tiếp nhau xen lẫn những tiếng nổ lớn , có khi rung chuyển cả mặt đất .Tôi chợt nhận ra sự vắng bóng của ba tôi . Bộ quân phục đã biến mất , tôi mới hiểu rằng ba tôi đã trở lại đơn vị . Bên ngoài ngõ tiếng người nói lao xao, bác thầy giáo nhà kế bên cùng vài người lớn tuổi bàn bạc hối hả . Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra trên máy thu thanh , những bản nhạc hùng tráng tiếp nối nhau thay thế những mẫu chuyện hay giòng nhạc chào xuân như mọi năm.
Có tiếng xe ngừng trước cửa nhà , bóng ba tôi hối hả vào nhà và nói nhỏ cùng mẹ tôi .
- Ðường lên phi trường bị chận rồi ! Tụi nó về đóng chốt ở ngã tư Bảy Hiền
- Làm sao bây giờ ?
Mẹ tôi đáp trong âu lo
Ba tôi nghe ngóng tiếng súng cùng nhìn những cột khói đen và đáp ..
- Chắc trại Cảnh Sát Dã Chiến Nguyễn Kim đang bị tấn công .
- Trời ơi ! Ngày Tết mà cũng không yên !
Mẹ tôi chán nản.
Tiếng súng mỗi lúc càng thêm dồn dập , những tiếng nổ lớn dây chuyền nối tiếp nhau . Thình lình một tràng tiếng "lốp đốp" trên mái tôn , tựa chừng đá rơi trên nóc nhà .
- Ðạn lạc .. Vào hết trong nhà ..
Ba tôi hối hả đưa cả gia đình vào nhà , mọi người trong xóm không ai bảo ai , nhanh chân về nhà khóa cửa cẩn thận . Theo bản năng của một người lính ba tôi đã tìm cho gia đình một vị trí tạm an toàn trong nhà . Tiếng súng mỗi lúc một gần hơn , chúng tôi nằm sát dưới sàn nhà . Ba tôi sửa thế nằm của anh em tôi . Dùng hai bàn tay che mặt đồng thời dùng khuỷu tay đệm dưới ngực để tránh chấn động do những tiếng nổ lớn . Tiếng súng vẫn không dứt và kéo dài hằng giờ , giữa những tiếng đì đùng là những tràng liên thanh chát chúa . Khu nhà tôi đã bị lọt vào vòng lửa đạn của đôi bên . Không khí thơm ngát ngày xuân của hoa cỏ , của hương án trên bàn thờ đã tan biến, tất cả đã bị thay thế bằng mùi thuốc súng cùng khói lửa khét lẹt của điêu linh của sợ hãi .
Thình lình có tiếng xe vespa ngừng gấp trước cửa và có tiếng gõ cửa dồn dập
- Anh chị có nhà không ? Em đây !
Tiếng người dì tôi hối hả ..
Ba mẹ tôi nhìn nhau ngơ ngác rồi hối hả ra mở cửa đón vợ chồng người dì họ vào nhà.
Dượng tôi dựng xe xong vội vã thay bộ quân phục và phàn nàn .
- Tụi nó vây khu nhà mình rồi , em tìm cách trở lại giang đoàn mà không lọt .
Ðến xế chiều thì tiếng súng thưa dần, lác đác vẫn còn những tiếng súng lẻ tẻ của đôi bên . Mẹ và dì tôi xuống bếp nấu nhanh một nồi cơm nóng, vì từ sáng sớm cái sợ đã lấn át cái đói . Nhưng thật sự , không ai còn tha thiết đến ăn uống ngay cả chính tôi dù chỉ là cậu bé mười tuổi .
Buổi chiều qua nhanh , cũng là lúc mọi người nhận ra rằng nhà đã bị mất điện từ lâu . Ba tôi thấp vội ngọn nến dưới sàn nhà và cả nhà ăn vội bữa cơm chiều . Nồi cơm gần như còn nguyên vì không ai còn đủ tâm trí nghỉ đến ăn uống . Ba tôi mở máy thu thanh nghe ngóng , nhưng không có tin tức gì mới mẽ ngoại trừ những bài nhạc hùng tráng cùng lời kêu gọi binh sĩ các cấp mau trở lại trình diện đơn vị .
Khi màn đêm hoàn toàn buông xuống thì có tiếng chân người chạy huỳnh huỵch quanh nhà . Dượng tôi thổi vội ngọn nến và bảo mọi người im lặng . Xen lẫn trong tiếng chân người là tiếng kim khí va chạm vào nhau . Trời tối đen như mực vì đèn đường đã bị thiêu hủy hoặc trạm biến điện gần trại cảnh sát đã bị phá hủy . Có tiếng người nói , khe khẻ gọi nhaụ Vẫn là tiếng Việt nhưng những điều họ nói hoàn toàn xa lạ đối với tôi , những ngôn từ mà tôi chưa hề được nghe qua . Lẽ đương nhiên, tôi hoàn toàn không hiểu .
- Tụi nó !
Tiếng dượng tôi nói nhỏ vừa đủ để mọi người nghe .
Cả đêm không ai chợp mắt được nhưng cũng không dám gây tiếng động lớn, ngay cả khi đi làm vệ sinh .Tiếng người lạ quanh nhà cùng tiếng súng lẻ tẻ vẫn nổ đì đùng suốt đêm không dứt . Có thức đêm mới biết đêm dài . Ðêm ấy quá dài cho tôi , gia đình tôi và có lẽ cùng hàng ngàn người dân trong vùng lửa đạn . Tôi thiếp đi lúc nào không rỏ , bỗng giật mình tỉnh giấc khi có tiếng trực thăng vần vủ trên đầu . Ðạn lại nổ , súng lại tiếp tục thi nhau gào thét khi mặt trời bắt đầu ló dạng . Nhìn qua khoảng trống giữa mái nhà bếp, ba tôi nhận ra phi cơ thám thính và bảo mọi người chuẩn bị . Quả nhiên không đầy mười phút sau, tiếng máy bay khu trục gầm thét xé trời lướt qua nóc nhà tôi kéo theo vài tiếng nổ "bụp" "bụp" . Ba tôi ra dấu và mọi người bịt tai , theo bản năng tự nhiên tôi làm theo mọi người . Chỉ sau vài giây là những tiếng nổ rung chuyển mặt đất. Tuần tự các phi tuần nối tiếp nhau , tôi không nhớ rỏ là bao lần . Nhưng khi nghe tiếng động cơ rít nhanh là lúc tôi đưa tay bịt hai tai và nhắm mắt chờ đợi .
Tiếng súng bắt đầu rời xa khu nhà tôi khi mặt trời đứng bóng . Dượng tôi định ra xem tình hình nhưng ba tôi ngăn lại
- Không được . Rủi máy bay nhìn lằm thì nguy .
Ðến chiều, có tiếng người chạy xen lẫn tiếng kim khí va chạm vào nhau cùng tiếng gọi nhaụ Nhưng khác với lần trước , họ nói với nhau bằng tiếng miền nam , và bằng những ngôn từ mà tôi có thể hiểu được .Ngoài ra, ngôn ngữ của họ được chấm câu hay bắt đầu bằng những tiếng chửi thề thô tục . Mọi người trong nhà nhìn nhau . Không ai bảo ai nhưng niềm vui dường như hiện hẳn trên gương mặt .
- Cẩn thận , khoan đã !
Ba tôi giữ dượng tôi lại .
Có tiếng người dừng lại truoc cửa nhà và bàn tán to nhỏ . Ba tôi và dượng tôi đưa mắt nhìn nhau . Bỗng có tiếng chân người chạy đến và gọị
- Ông thầy ! có thằng 3 gọi .
Tiếp theo là tiếng máy truyền tin xì xèo cùng tiếng đàm thoại
Dượng tôi cung tay mừng rỡ
- Lính mình tới rồi !
Khoảng mươi phút sau , ba tôi và dượng tôi ra mỡ cữa , tôi không được phép ra nhưng văng vẳng có tiếng người hàng xóm mừng rỡ "" Biệt Ðộng Quân tới rồi !! "" . Tôi lần mò ra cửa , dưới mắt tôi, những người lính mặt mày đen đúa đang nằm ngồi trò chuyện nhau . Họ nằm ngay trên mặt đất, dưới gốc cây . Có người đang lim dim tìm giấc ngủ vội , có vài người đang quây quần ca vọng cổ ngân nga . Không lẽ họ đang hân hoan vui ngày đầu năm ? Chỉ cần nhìn sơ qua tôi cũng đủ nhận ra rằng họ vừa trãi qua một cuộc chạm súng , quần áo bê bết bùn đất. Vài người đã bị thương , người lính quân y với dấu hiệu hồng thập tự trên chiếc nón sắt rất bận rộn tới lui . Thế mà họ vẫn vui cười, vẫn vô tư lự như một chuyện rất bình thường . Có lẽ súng đạn đối với họ là một trò đùa nghịch ngợm không hơn không kém. Có người trong xóm mang thức ăn ngày Tết trao cho họ . Những người lính ấy thưởng thức một cách ngon lành, vừa ăn vừa cười đùa chọc ghẹo . Dường như hai chữ hiểm nguy không chính thức hiện hữu trong trí của họ . Vài người lính đầu trần tiến đến nhà tôi xin nước uống. Me tôi rót đầy nước lọc vào hai bi đông cho hai người lính, qua đến người lính thứ ba thì bình nước đã cạn, mẹ tôi hối tôi vào nhà lấy thêm cho chú lính . Khi tôi trở ra , chưa kịp đong đầy bi đông nước cho chú lính thì có dấu hiệu của người đơn vị trưởng , người lính cám ơn và lẹ làng quay gót . Người đơn vị trưởng một tay cầm ống liên hợp , một tay chỉ vào bản đồ trên mặt đất, vài người lính quỳ gối chống súng chăm chú theo dõi . Trong phút chốc, mỗi người bồng súng chạy về mỗi hướng khác nhaụ Trong khi di chuyển họ đưa tay làm hiệu . Cả đoàn quân như bị điện giật , mọi người lính từ mọi tư thế khác nhau đều bật dậy . Nón sắt lên đầu , tất cả vào tư thế chiến đấu . Người đơn vị trưởng trao ống liên hợp cho người lính mang máy truyền tin, nhét vội tấm bản đồ vào ngực, xem xét lại đạn được và quan sát đoàn quân . Tôi còn tần ngần trước cửa với bình nước lọc trong tay , thì phía bên lề đối diện, người lính xin nước khi nãy đã sẵn sàng trong tư thế chiến đấụ Súng lăm le trong tay , chú lính đưa tay làm hiệu bảo tôi vào nhà . Khi bước vào nhà, tôi còn nghe tiếng người đơn vị trưởng nói với ba tôi
- Tụi nó chạy về xóm Lê Ðại Hành , tụi tui qua hốt tụi nó .
Ngồi trong nhà nghe ngóng, đoàn quân di chuyển trong vội vã hướng về đường Lê Ðại Hành . Khoảng mươi phút sau thì súng nổ từng chập . Sau đó , đủ loại súng thi nhau nổ dòn như pháo đêm giao thừa . Mọi người trong nhà đưa mắt nhìn nhau ! " Họ đụng trận rồi ! "
Mờ trong bóng chiều -
Một đoàn quân thấp thoáng
Núi cây rừng -
Lắng tiếng nghe hình dáng
Của người anh hùng -
Lạnh lùng theo trống rồn
Trên khu đồi nương
Im trong chiều buông
Ra biên khu trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù
Bao oan khiên đang về đây hú với gió
............
(Chiến sĩ vô danh)
Thời gian trôi đã gần bốn mươi năm , tóc xanh xưa giờ đã ngã màu . Vận nước trôi nổi , bềnh bồng trong kiếp lưu vong. Binh chủng mũ nâu không còn chính thức hiện hữu, nhưng hình ảnh những người lính gian khổ ấy vẫn còn đậm nét . Ngày nay, rải rác trên báo chí ngoại quốc hay trên các mạng lưới điên toán, hình ảnh những người lính Cộng Hòa làm lòng tôi se thắt. Mấy mươi năm nhìn lại , gương mặt của những người lính trong cuộc chiến bảo vệ quê hương tôi hãy còn quá trẻ . Có lẽ người đơn vị trưởng mà tôi gặp vào năm Mậu Thân còn trẻ hơn ngay cả chính bản thân tôi bây giờ . Những người lính trẻ ấy nay về đâu ? Họ có được một mái ấm gia đình như hằng mong ước; một ước mơ bình dị như bao người , hay đã gục ngã ngay từ những phút dầu sôi lửa bỏng của ngày Tết Mậu Thân năm đó , hoặc tật nguyền lê thân tàn kiếm sống bằng lòng hảo tâm của thiên hạ . Chiến tranh bao giờ cũng tàn bạo , những kẽ gây chiến tranh đã bất chấp mọi ràng buộc phong tục thiêng liêng của dân tộc để đi đến thắng lợi cuối cùng . Năm Thân một lần nữa lại đến trên quê hương , nhưng hai chữ Mậu Thân có lẽ tồn tại rất lâu trong tâm trí những kẽ như tôi và có lẽ cho hàng triệu người dân đã từng sinh sống phía dưới vĩ tuyến thứ mười bảy của dãy đất hình chữ S . Giờ đây, tôi thấm hiểu vì đâu mỗi lần bài hương cúng trời đất, ông bà tôi thường giành riêng một bàn hương để tạ ơn các chiến sĩ vô danh .
Mùa xuân xắp đến trên quê hương, mong rằng mùa xuân của năm Mậu Thân không còn ám ảnh dân tộc, nó chỉ xảy đến một lần và chỉ một lần thôi , cho dù rằng là một mùa xuân khó quên .
Xuân Giáp Thân 2004
OoO
Tôi mãi đi tìm hạnh phúc . Hạnh phúc nơi đâu . Khi tôi tưởng
nó lại gần thì lúc đó lại là xa nhất .
Mùa Ðông 1995 , vừa vào xong quốc tịch Mỹ , tôi nộp đơn xin
passport để trở về VN liền . Tôi tìm anh , tìm cái hạnh phúc
ngày nào tôi đã có dù tôi đã nghe phong phanh anh vừa mới làm
đám cưới với người bạn gái quen hơn bốn năm, nhưng trong cú
phone cuối cùng với anh cách đó chưa đầy một tuần anh bảo
không phải . Về hay không ? Về để chấp nhận sự thật hay
về để chứng minh đó không phải là sự thật . Dù trong tình
huống nào chăng nữa , tôi có hiểu được là hạnh phúc cũ của
tôi nếu còn , vẫn không còn như cũ không ...
Trời tuyết , đường lạnh đến đóng băng sau trận mưa đá .
Tôi dậy chuẩn bị ra phi trường mà không xem tin tức trước là
đường trơn trợt rất là nguy hiểm .
Tôi có té chỉ tại tôi ngu chứ chả gan dạ gì ...
Người em chở tôi ra phi trường rồi bỏ ở đó , tôi lo cho em
về có an toàn không ? Rồi lo cho mình , mình đang làm gì , đang
đi đâu đây , chung quanh là băng như chính trong lòng tôi đang
băng giá , không một hơi ấm , không một niềm tin cho hướng đi
mình đang tới ...
OoO
Bao nhiêu là chuyến bay sáng đó bị hủy bỏ , tôi cứ sách hai cái
va li đi lòng vòng sân bay theo hướng người ta chỉ , cuối cùng ,
chán lắm , họ nói tôi phải liên hệ với người bán vé chuyển
ngày đi . Bụng dạ tôi nghĩ nếu phải đời lại 3 ngày trong
chuyến đi chỉ có 14 ngày chưa tôi thà đừng đi còn hơn ...
Cảm ơn ông Trời vẫn còn cho tôi sáng suốt lúc ấy ...
Tôi gọi taxi về nhà , đang chán nản , thật là chán không tưởng
, ông taxi người Trung Ðông chắc cũng lạnh lẽo , ra điều tán
tỉnh tôi . Hắn mời tôi đi ăn tối . Thật quá đáng . Tôi
đã quá rành rẽ cái đám sinh viên Trung Ðông vào phòng y tế của
Trường Ðại Học tôi đang học lấy bao cao su free ngay trước cửa
ra vào .
Tôi chán lắm , chán đến tận cổ . Tôi chẳng buồn trả lời
câu mời , chỉ hỏi , " How much ? " rồi chờ ông dừng xe khệnh
khạng mang hai va li xuống mà lẽ ra hắn phải bỏ xuống cho tôi ...
Hạnh phúc ơi , lạc lối rồi .
OoO
Tôi dự lớp Lost and Grief cho qua cái buồn bả lúc đó . Trong
lớp toàn là những người mất những gì hưũ hình , cha , mẹ ,
anh , chị , còn tôi , tôi mất hạnh phúc là cái vô hình , là cảm
giác , chỉ là suy nghĩ tốt đẹp , tôi có qua được cơn xốc này
không ...
Ngày chia tay của lớp , mặt mày ai cũng lạc quan hơn ngày đầu ,
ai cũng tin mình đã hiểu , đã mạnh ra và đã vơi đi nhiều
những ưu tư phiền muộn .
Bà giáo bắt tay chia tay tôi , hỏi lẹ " You still want to date ? "
Tôi mở tròn xoe mắt nhìn bà " No maam " mà trong bụng thầm trách
, "trời , bà nghĩ tôi nhanh vậy sao , chuyện hết nước còn cái
không nằm trong suy nghĩ của tôi đâu bà , ..".
Thấy tôi quả quyết , bà buông tay tôi ra và nói " good luck" .
Những cuộc vui trước mắt đang chờ , tôi muốn lao vào trong tư
thế nào đây ...
" Anh Chuẩn , chở em đi đám cưới dùm nha , đậu xe ngoài phố
Tàu đông lắm , em sợ "
Chuẩn do dự , "anh đâu có được mời , thôi em ráng đi một
mình đi . "
Tôi vô tư nghĩ Chuẩn tự ái , giục , "anh đi với em , giấy mời
em hai người lận .."
Chuẩn không còn do dự nữa " Trâm à , anh có bạn gái rồi , đi
với em vậy không tiện "
Ðáng đời nhé , lao vào nữa đi , tôi chưa từng tệ như thế
bao giờ , trong phút tuyệt vọng , tìm một cái phao , không có là
không có , dù nghĩa hai chữ yêu thương không còn manh giáp nào
trong lòng tôi ...
OoO
Thời gian trôi quá mau , mới đó mà đã 8 năm nữa rồi ...
Tiếng phone reo , tôi chạy vội ra phòng ngoài ..tiếng mẹ ân cần
" Trâm , tết này vợ chồng con có về lại đây thăm bố mẹ
không , các anh chị của mày về lại cả đấy "
Tôi thối thoái " Sở con cần người mẹ ạ , cho tụi con hoãn năm
khác nhá "
Giọng mẹ buồn hẳn " Thế thì thôi vậy !" .
Bà vẫn tin vào tôi tuyệt đối như thế . Con gái nói gì nghe
đó . Bà không cần tìm hiểu tại sao đã bao lần gọi bà không
bao giờ nghe tiếng con rể trong nhà . Bao nhiêu lần hỏi chồng
tôi đâu tôi đều hỏi lại bà chuyện khác cho bà quên đi ...
Ðã hơn 2 năm tôi không có tin gì của anh . Cái ngày cuối tôi
còn thấy anh trong cái gian nhà này là cái ngày anh nói với tôi
tôi với anh không hợp , anh không có hạnh phúc , anh không có nên
không thể làm cho tôi hạnh phúc và tôi đừng buồn vì đó chỉ
là the way it is đúng theo chữ anh nói .
Tôi đánh đổi hết , chỉ xin anh đừng làm giấy ly dị và đừng
cho ba mẹ tôi biết chúng tôi đã xa nhau . Tủi cho ba mẹ tôi lắm
.
Những đêm vắng , gối chiếc chăn đơn , tôi nằm thở dài ,cái
tiếng thở dài nghe như lời nhắc nhở tám năm trước tôi đã
từng hỏi chính mình " hạnh phúc ơi , nơi đâu " ...
Nhìn qua song cửa , tôi chỉ còn thấy ánh trăng sáng là rõ nhất
. Của đáng tội thật ...
Có qua cầu mới hiểu
Ðắng cay như đã chờ
Cung đàn vẫn muôn điệu
Hồn ta giờ bơ vơ
1/04
Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nộị
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn nàỵ Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đờị
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, Californiạ Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...
Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứụ
Tác phẩm chọn lọc:
Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)
BALLADE -- HUYỀN SỬ CA
Vào khoảng hai năm 64-65, khi thấy mọi người dường như mất hết niềm tin, mất hết thương yêu trong cuộc đời Việt Nam nên tôi vội vã soạn bài TÔI CÒN YÊU TÔI CỨ YÊU. Sau đó, tôi lại thấy cần phải có một loạt mười bài tâm ca để phê bình xã hội (social protest songs) trong đó chỉ có bi đát và bi đát mà người soạn tâm ca cũng nghĩ như Albert Camus, là : Nếu nói ra được bi đát thì hết bi đát.
Rồi xẩy ra chuyện phi công Phạm Phú Quốc bị hi sinh. Lúc đó muốn xây dựng hình ảnh anh hùng, thần tượng, mẫu người lý tưởng trong tâm khảm của mọi người, tôi bèn soạn HUYỀN SỬ CA MỘT NGƯỜI MANG TÊN QUỐC.
Trong ngành nhạc, hình thức ballade là một thứ "chant épique" tức là truyện ca hay anh hùng ca. Tôi dùng chữ "huyền sử ca" cho nó có vẻ huyền bí. Bài MỘT NGƯỜI MANG TÊN QUỐC do tôi cho ra đời vào năm 65 này sẽ kéo theo một số bài hát của các nhạc sĩ khác nói tới các vị anh hùng trong Quân Ðội ở Miền Nam như NGƯỜI Ở LẠI CHARLIE, ANH KHÔNG CHẾT ÐÂU ANH v.v...
Tuy nhiên, với bài hát ca tụng một người chết cho tổ quốc, tôi không muốn làm một công việc có tính chất tuyên truyền tuân theo chỉ thị như một văn công. Tôi chỉ muốn khóc Phạm Phú Quốc như khóc bất cứ một người Việt Nam nào trong thời đại, sinh ra là khoác lên mình số phận làm người "anh hùng" -- trong khi những người mang tên Quốc có lẽ chỉ muốn được làm người "anh hiền" mà thôi! Vì số phận phải làm anh hùng cho nên: Từ anh lên cao, anh là nắng, là trăng hay sao, anh nhìn xuống, nhìn nước non nhà đẹp xinh như gấm như hoa... anh vẫn phải đánh bom như thường! Cho nên, khi ngạo nghễ, anh chắp cánh thênh thang, bình minh lên chiếm không gian thì khi hoàng hôn về lòng anh lại chan chứa tình thương. Rồi chiều nao anh đi làm kiếp người hùng, anh về quê -- nhiều người hiểu lầm chữ về quê khi cho nó ý nghĩa về chốn chết, trong khi anh Quốc, sinh tại miền Bắc, bắt buộc phải bay ra đánh bom miền quê của anh -- rồi than ôi, có ngày anh phải rụng cánh đại bàng, anh đi về nước, anh đi về đất làm cho bụi vàng bay khắp không gian. Anh chết và thành ra vừng Thái dương để soi sáng nước Việt Nam... Ðó là ý nghĩ của tôi khi soạn bài huyền sử ca này.
HUYỀN SỬ CA
MỘT NGƯỜI MANG TÊN QUỐC
(Saigon-1965)
Ngày xưa khi anh vừa khóc vào đời
Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời
Ðặt tên cho anh, anh là Quốc
Ðặt tên cho anh, anh là nước
Ðặt tên cho người, đặt tình yêu nước vào nôi
Rồi anh nâng cao Tổ Quốc vào đời
Tuổi xanh vươn trong lửa máu ngụt trời
Việt Nam đang sôi, sôi lòng nước
Việt Nam đang sôi, sôi lòng Quốc
Việt Nam đang đòi Tự Do, Hạnh Phúc giống nòi.
Anh Quốc ơi !
Tuổi Xuân như đóa hoa đời
Nở trong mưa bão tơi bời
Vẫn còn tươi như nước Việt ơi !
Anh Quốc ơi !
Ðàn chim, chim quốc tung trời
Gọi nhau đem nắng soi đời
Có người vui nghĩ chuyện lâu dài.
Rồi anh trôi theo vận nước miệt mài
Việt Nam chia đôi mảnh đất lạc loài
Toàn dân thương đau, đau lòng nước
Toàn dân thương đau, đau lòng Quốc
Toàn dân ngậm ngùi vì tình sông núi lẻ loi
Rồi anh nghe theo lời nói bồi hồi
Trời xanh bao la mở cánh cửa mời
Từ anh lên cao, anh là nắng
Là trăng hay sao, anh nhìn xuống
Nhìn nước non nhà đẹp tươi như gấm như hoa.
Anh Quốc ơi !
Rồi anh chắp cánh thênh thang
Bình minh lên chiếm không gian
Ðến hoàng hôn chan chứa tình thương
Anh Quốc ơi !
Gặp khi chinh chiến lâu dài
Người phi công giữa khung trời
Vẫn phải mang số phận con người.
Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì !
Mà nghe quê hương mình quá nặng nề
Thảm thương bên kia, kia đời nước
Buồn vương bên đây, đây đời Quốc
Dẹp nỗi oan, thì tìm đường gai góc mà đi
Rồi anh bay lên gìn giữ một miền
Rồi anh bay lên đập vỡ bạo quyền
Ðường bay khua vang, vang lòng nước
Ðường bay khua vang, vang lòng Quốc
Ðường bay nối liền nhọc nhằn hay nối tơ duyên.
Anh Quốc ơi !
Dù anh rất đáng anh hùng
Mà sao anh vẫn âm thầm
Vẫn bình yên không nói gì thêm
Anh Quốc ơi !
Phải chăng anh đã đi tìm ?
Trời xanh mây trắng im lìm
Sống đẹp trong cõi lặng mơ chìm.
Rồi anh đi theo đường đã vạch rồi
Ðường trên không gian ủ ấp hình hài
Ðời sinh ra ta, ta là cát
Ðời đưa ta đi, ta về đất
Và anh đã về, một chiều anh đã về quê
Chiều nao anh đi làm kiếp người hùng
Chiều nao thương ôi rụng cánh đại bàng
Chiều nao anh đi, anh về đất
Chiều nao anh đi, anh về nước
Chiều nao huy hoàng, bụi hồng bay khắp không gian.
Anh Quốc ơi !
Từ nay trong gió xa khơi
Từ nay trong đám mây trôi
Có hồn anh trong cõi lòng tôi.
Anh Quốc ơi !
Nghìn thu anh nhớ tới tôi
Thì xin cho Thái Dương soi
Nước Việt Nam sáng rọi muôn đời.
Nước Việt Nam ngời sáng... muôn đời.
BÀI HÁT CHO
XÂY DỰNG NÔNG THÔN
QUÂN LỰC VIỆT NAM
Trong thời gian 1965-68, trong Quân Ðội và trong tổ chức Xây Dựng Nông Thôn có nhiều bạn bè già hay trẻ như hoạ sĩ Tạ Tỵ, nhạc sĩ Viết Chung đã từ lâu hoặc là mới đây phải nhập ngũ nhưng được điều động qua phụ trách phần văn nghệ, cho nên tôi cũng soạn cho các bạn đó bài hát vận động thanh niên đi quân dịch như MỘT HAI BA CHÚNG TA ÐI LÍNH CẢ LÀNG và những bài có tính chất giáo dục và trong sạch hoá quân ngũ do ban Chính Huấn chủ trương như CHIẾN SĨ GƯƠNG MẪãU, THI ÐUA BIỆN LUẬN, TỨ ÐẠI CÔNG KHAI, MỪNG NGÀY SINH CHIẾN HỮU, ANH HÙNG TRONG TRẮNG v.v...
Những bài soạn cho Xây Dựng Nông Thôn thì chú trọng tới việc đề cao đời sống nông dân : NÔNG THÔN QUẬT KHỞI, TAY SÚNG TAY CẦY, CÙNG NHAU XÂY ẤP MỚI, AI VỀ THÔN ẤP MÀ COI, HÁT HAY KHÔNG BẰNG HAY HÁT, KHOÁC ÁO MẦU ÐEN, BÁT CƠM BÁT MỒ HOI BÁT MÁU...
NÔNG THÔN QUẬT KHỞI
(Saigon-1965)
Ðã bao năm nhân dân ta đau khổ vô cùng
Ðã bao năm mang trên vai hai kẻ thù chung
Bọn cường hào ác bá nó dùng bạo quyền áp bức
Làm người dân lầm than sống trong nhục nhằn...
(quên)
Cán bộ với dân tuy hai mà một
Cán bộ với dân tuy một mà hai
Dân yêu thương tin yêu cán bộ
Vui bên nhau dốc lòng tranh đấu, đắp xây Việt Nam.
Bài HÁT HAY KHÔNG BẰNG HAY HÁT là cái đuôi của bài tâm ca số 10 HÁT VỚI TÔI. Tâm ca số 10 soạn cho sinh viên, học sinh thị thành, HÁT HAY KHÔNG BẰNG HAY HÁT soạn cho cán bộ và nông dân hát. Ðầu đề cũng như câu hát chính của bài này sẽ trở thành một thứ phương ngôn của thời đại.
HÁT HAY KHÔNG BẰNG HAY HÁT
(Vũng Tầu-1966)
Hát hay không bằng hay hát !
Hát hay không bằng hay hát !
Hát luôn luôn, Hát luôn luôn !
Hát những lời xây dựng nông thôn.
(vỗ tay : Bốp bốp bốp bốp bốp bốp)
Hát hay không bằng hay hát !
Hát hay không bằng hay hát !
Hát liên hoan ! Hát vang vang !
Hát đông đông ! Hát cộng đồng !
(vỗ tay)
Hát ta xây làng chiến đấu !
Hát ta xây làng chiến đấu !
Sống bên nhau, sống bên nhau
Sống coi thường không sợ ai đâu !
(vỗ tay)
Hát ta xây làng chiến đấu !
Hát ta xây làng chiến đấu !
Chống tham ô, chống mưu mô
Chống xâm lăng, chống giặc thù !
(vỗ tay)
Xoá tan căm thù chia rẽ
Xoá tan căm thù chia rẽ
Hát say mê ! Hát say mê !
Chúng ta còn nghi ngại nhau chi ?
(vỗ tay)
Xoá tan căm thù chia rẽ
Xoá tan căm thù chia rẽ
Hát thương yêu ! Hát tin yêu !
Hát thân yêu, hát thật nhiều.
(vỗ tay)
Hát cho ông già em bé
Hát cho ông già em bé
Gái thôn quê, với trai quê
Chúng ta đừng nghi ngại nhau chi.
(vỗ tay)
Hát cho dân làng luôn nhớ
Hát cho dân làng luôn nhớ
Hát dân quân, hát vinh quang
Hát nông thôn, hát tự cường !
(vỗ tay)
Hát mong cho ngày mai tới
Hát mong cho ngày mai tới
Hát yên vui, hát yên vui
Hát anh hùng ôi Việt Nam ơi !
(vỗ tay)
Hát ta ăn mừng lúa mới
Hát ta ăn mừng lúa mới
Hát cao lên, hát như điên
Hát êm êm, hát tình bền.
(vỗ tay)
Trong số bài soạn cho Xây Dựng Nông Thôn, tôi thích bài KHOÁC ÁO MẦU ÐEN bởi vì hồi đó tôi hay mặc áo bà ba đen để di hát du ca.
KHOÁC ÁO MẦU ÐEN
(Saigon-1966)
Khoác áo mầu đen mặc mầu dân tộc
Chiếc áo mầu đen nhuộm mầu đấu tranh
Mầu đen mầu tối ám, vùng lên để chiến thắng
Dẹp tan mầu son, mầu phấn điếm đàng...
(quên)
Bài BÁT CƠM BÁT MỒ HÔI BÁT MÁU nói tới công ơn đối với người nông dân, soạn theo hơi điệu Huế
BÁT CƠM BÁT MỒ HÔI BÁT MÁU
(Saigon-1966)
Hai bữa no đầy, một ngày cơm nước
Bát cơm vàng, ôi bát cơm vàng
Mình ăn được là nhờ ai ?
Nhờ ai nuôi sống đời tôi ?
Với bao nhiêu máu đổ
Với bao nhiêu máu đổ
Cùng mồ hôi trên ruộng đồng.
Ăn bát cơm rồi, một đời ghi nhớ
Chớ nghi ngờ, xin chớ nghi ngờ
Mình mắc nợ người dân
Người dân ra sức ngày đêm
Nắng mưa ôi vất vả
Nắng mưa ôi vất vả
Ðể làm nên cơm gạo này.
Bài CHIẾN SĨ GƯƠNG MẪU đề cao tinh thần thi đua trong quân ngũ.
CHIẾN SĨ GƯƠNG MẪU
(Saigon-1966)
Anh chiến sĩ của tôi, anh là người làm việc rất hăng
Anh chiến sĩ của tôi, anh là người thực đáng anh hùng
Hôm nay tôi xin bầu anh là người gương mẫu
Hôm nay tôi xin bầu anh là người gương mẫu...
v.v...
* * *
TÂM PHẪN CA
Mùa Xuân 1968 đến với biến cố Tết Mậu Thân. Chiến tranh vào thành phố, Cái chết được chúng tôi nhìn thấy tận mắt, sờ được bằng tay. Thế nhưng chúng tôi lại thản nhiên lạ thường trước xác người nằm trên vũng máu đào hay trên mảng máu khô. Nhà văn trẻ Lê Tất Ðiều viết trên báo: "Tôi không còn thấy rung động hay sợ hãi trước xác người chết!" Tôi soạn một bài hát có tính cách phẫn uất nhan đề TÔI KHÔNG PHẢI LÀ GỖ ÐÁ, khi in ra có đề tặng Lê Tất Ðiều.
TÔI KHÔNG PHẢI LÀ GỖ ÐÁ
(Saigon-1968)
Tôi không phải là cỏ cây
Tôi không phải là gỗ đá
Nên tôi khóc Việt Nam tôi
Ròng rã ba đời không biết vui.
Tôi không phải là người dưng
Tôi không phải là nước lã
Nên tôi khóc người không xa
Gục ngã chiến trường tuổi còn xuân.
Ðừng ngụy trang trong tiếng hát
Ðừng cần mang đôi kính mát
Hãy lắng nhìn vào quê hương điêu tàn
Hãy đếm từng người dân đang chết oan
Hãy oán hờn cuộc binh đao tương tàn
Hãy khóc thầm dù nước mắt đã cạn
Hãy biết buồn ! Hãy biết thẹn !
Vì non sông còn tối đen.
Tôi không thể nào thản nhiên
Tôi không thể nào im tiếng
Nên tôi thét vào thinh không
Lời nói hãi hùng hơn tiếng bom
Tôi không thể nào miệng câm
Tôi không thể nào tai điếc
Nên tôi khóc và tôi điên
Cho đến bao giờ đời bình yên!
Tôi vẫn gọi những bài hát dữ dội ra đời sau vụ Tết Mậu Thân như vậy là "tâm ca", nhưng bây giờ ngôn ngữ của nó không còn ngọt ngào mà đã trở nên phẫn nộ. Tâm phẫn ca, cũng còn được gọi là "bài ca nổi giận" (chanson en colère) lần lượt ra đời, phần nhiều là những bài thơ được phổ nhạc. Lý do là vì sau khi tâm ca và một vài bài tâm phẫn ca của tôi được phóng ra thì nó gây một tiếng vang trong đám thi sĩ và nhạc sĩ trẻ. Nhiều bài thơ chống chiến tranh được viết ra, ví dụ thơ của Thái Luân, Tâm Hằng, Luân Hoán v.v... và nhiều bản nhạc phản chiến được soạn ra, ví dụ những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, Miên Ðức Thắng v.v...
Tôi phổ nhạc những bài thơ như NHÂN DANH, BI HÀI KỊCH, ÐI VÀO QUÊ HƯƠNG... và gọi đó là những "tâm phẫn ca".
NHÂN DANH
Theo thơ Tâm Hằng
(Saigon - 1966)
Vì giữ mình tôi phải giết, phải giết
Giết một người, giết một người !
Xin nhân danh ngồi dưới mặt trời
Vì giữ mình tôi phải giết một người.
Vì gia đình tôi phải giết, phải giết
Giết mười người, giết mười người !
Xin nhân danh hạnh phúc lạc loài
Vì gia đình tôi phải giết mười người.
Vì xóm làng tôi phải giết, phải giết
Giết ngàn người, giết ngàn người !
Xin nhân danh ruộng đất hẹp hòi
Xin nhân danh ruộng đất hẹp hòi
Giết ngàn người.
Vì giống nòi, tôi giết, phải giết
Giết vạn người, giết vạn người !
Xin nhân danh Tổ Quốc đẹp ngời
Vì giống nòi, tôi phải giết vạn người.
Vì lý tưởng tôi phải giết, phải giết
Giết triệu người, giết triệu người !
Xin nhân danh giải phóng loài người
Vì lý tưởng tôi phải giết triệu người.
Vì nhân loại tôi phải giết, phải giết
Giết trọn loài người, giết trọn loài người
Xin nhân danh đường lối hoà bình
Xin nhân danh đường lối hoà bình... giết luôn tôi !!!
BI HÀI KỊCH
theo thơ Thái Luân
(Saigon - 1966)
Ðạo diễn đưa tay lên
Ðạo diễn đưa tay xuống
Bi hài kịch mở màn
Bi hài kịch khai trương
Diễn viên quay súng bắn
Diễn viên gục đầu đường
Máu chẩy vệt loang loang
Máu chẩy vào quê hương
Quê hương là ruộng đồng
Quê hương là mưa nắng
Quê hương là khoai sắn
Quê hương là cơm ngon.
Ðạo diễn đưa tay lên
Ðạo diễn đưa tay xuống
Bi hài kịch đổi màn
Bi hài kịch thay phông
Diễn viên đang tra tấn
Diễn viên chịu cực hình
Mắt nhìn mặt đăm đăm
Mắt nhìn vào xa xăm
Xa xăm là cửa nhà
Xa xăm là Ba, Má
Xa xăm là vợ ta
Xa xăm là con thơ.
Ðạo diễn đưa tay lên
Ðạo diễn đưa tay xuống
Bi hài kịch đổi màn
Bi hài kịch thay phông
Diễn viên khen nhau mãi
Diễn viên chửi nhau hoài
Gió thổi từ muôn nơi
Gió thổi vào đôi tai.
Tai nghe lời ngọt bùi
Tai nghe lời ân ái
Tai nghe lời nhạc rơi
Tai nghe lời thơ vui.
Ðạo diễn đưa tay lên
Ðạo diễn đưa tay xuống
Bi hài kịch bỏ màn
Bi hài kịch chưa xong
Diễn viên rơi nước mắt
Ðạo diễn khóc hay cười
Khán giả thì bưng môi
Khán giả thì im hơi
Ôi bi kịch còn dài
Trong hay ngoài sân khấu
Bên trên hay là bên dưới
Ai cũng buồn như nhau.
Ðạo diễn đưa tay lên
Ðạo diễn đưa tay xuống
Bi hài kịch còn dài
Bi hài kịch chưa thôi !
ÐI VÀO QUÊ HƯƠNG
theo thơ Hoa Ðất Nắng
(Saigon - 1966)
Tôi vào quê hương bằng cuộn dây thép gai
Ðồng cỏ cha tôi, tôi trói gô hình hài
Tôi đào thông hào, trồng cây chông nhọn hoắt
Tôi giơ tay cao, tôi cấu tôi cào
Tôi vào quê hương bằng xe traction
Chở mìn clay-mo, plát-tíc đi ngoài đường
Tôi đặt lên sườn Mẹ Việt Nam gầy ốm
Ôi Mẹ tan tành ! Ôi Mẹ phanh thân !
Tôi vào quê hương bằng dòng nước mắt
Nước mắt vợ chồng, nước mắt cha con
Nước mắt bạn bè, nước mắt anh em
Tôi lội tôi bơi mệt nhoài trong đó
Máu loang từ đầu, chảy xuống ruột mềm
Tôi vào quê hương qua nòng thép súng
Lửa cháy trong làng, lửa cháy trong thôn
Lửa cháy trong lòng, lửa cháy trong tim
Trên da mặt tôi mọc lên cổ thụ
Cổ thụ sai oằn lựu đạn mooc-chiê !
Tôi vào quê hương bằng một gánh hát quê
Ðả đảo hoan hô tôi đứng lên làm hề
Lũ trẻ ngù ngờ cười phun nước miếng
Trên da mặt tôi, trên yếm, trên đầu
Tôi vào quê hương quà tặng nhớ đem theo
Một khẩu thompson hay chiếc súng cộng đồng
Mỗi thằng một đứa, dành cho nhau một phát
Mỗi đứa một thằng, dành một phát cho nhau.
Tâm phẫn ca nói tới người lính Việt Nam mà không dùng những lời ca nịnh lính hay mị dân mà các bộ máy tuyên truyền lúc đó đang đề cao. Nó nói về cái chết của người lính trẻ.
NGƯỜI LÍNH TRẺ
(Saigon-1971)
Người lính trẻ chết trận chiều qua
Nên trăng sao vụt tắt chẳng ngờ
Người lính trẻ chết trận hồi mơi
Nên hôm nay chẳng có mặt trời
Người lính trẻ chết trận ngày mai
Trên quê hương ngọn lúa rụng rời
Người lính trẻ chết trận ngày kia
Trên ngôi cao là hết dị kỳ
Nhiều vị Trời ngồi ôm mặt khóc
Nhiều vị Thần rủ nhau vụt mất
Tình chỉ còn mầu tang lạnh ngắt
Và còn gì nhan sắc người yêu ?
Sờ vào đàn thì dây vừa đứt
Ðọc truyện tình, dòng chữ rụng rơi
Rồi loài người đổi thay hình dáng
Người trần truồng về thuở hồng hoang
Người lính trẻ chết trận ngoài khơi
Nên không nghe chủ nghĩa tuyệt vời
Người lính trẻ chết trận bờ ao
Không giương danh một chế độ nào
Người lính trẻ chết trận còn đâu !
Nên không lâu, nổ vỡ địa cầu
Người lính trẻ chết trận rồi nghe !
Xin nghe đây tận thế gần kề
NGƯỜI LÍNH TRẺ CHẾT TRẬN CÒN CHI !
CÒN CHI ?
Vì cái chết của tuổi trẻ cho nên tất cả đều nổi giận: mặt trời, trăng, sao phải vụt tắt, ngọn lúa phải rụng rời, các vị Thần, các vị Trời phải ôm mặt khóc rồi rủ nhau chạy mất, dây đàn phải đứt, dòng chữ phải tan, con người trần truồng phải trở về thời hồng hoang cho tới khi địa cầu nổ toang, cuộc đời tận thế !
Phẫn nộ cho nên sau khi nói chuyện nổi giận về cái chết của NGƯỜI LÍNH TRẺ thì nói chuyện mỉa mai với CHUYỆN HAI NGƯỜI LÍNH, chuyện khôi hài đen của BÀ MẸ PHÙ SA...
CHUYỆN HAI NGƯỜI LÍNH
(Saigon-1968)
Có hai người lính ở chung một làng
Cùng yêu Tổ Quốc Việt Nam
Có hai người lính ở chung một làng
Cùng yêu ruộng đất Việt Nam
Có hai người lính cùng chung họ hàng
Cùng chung dòng máu Việt Nam
Có hai người lính cùng chung họ hàng
Cùng chung nòi giống Việt Nam.
Có hai người lính cùng chung một lòng
Cùng không để mất Việt Nam
Có hai người lính cùng tiến lên đường
Quyết tâm gìn giữ Việt Nam.
Có hai người lính ruổi rong đường trường
Ngày đêm đội nắng dầm sương
Có hai người lính ruổi rong đường trường
Ngày đêm ủ ấp hờn căm
Có hai người lính là hai người hùng
Cùng đi lùng bắt địch quân
Có hai người lính là hai người hùng
Cùng đi diệt lũ thù chung !
Có hai người lính nằm trên ruộng đồng
Cùng ôm khẩu súng chờ mong
Có hai người lính, một sớm mai hồng
Giết nhau vì nước Việt Nam.
Chuyện BÀ MẸ PHÙ SA có thể là chuyện có thực như chuyện BÀ MẸ GIO LINH. Nhưng chuyện bà mẹ bây giờ khôi hài hơn.
BÀ MẸ PHÙ SA
(Saigon-1967)
Mở Ðầu
Tôi nghe người ta kể chuyện
Xin hát bà con cô bác nghe, cô bác nghe...
Mẹ người, mẹ người ở đất Phù Sa
Mới năm mươi tuổi đã già như tám mươi
Mẹ ngồi, mẹ ngồi bấm đốt ngón tay
Xóm tuy là tuy xóm nhỏ
Ðổi thay, đổi thay bao lần
Ù là ù ù ơ, ù ụ ơ !
Không ai chê Việt Nam
Dân tộc ta thiếu sức hùng
Mà người thì quanh năm
Phải sống với hãi hùng
Năm mươi năm làm dân
Chưa được mấy lúc mừng
Vậy mà Mẹ không than
Chỉ sống với lòng thương.
Mẹ già, mẹ già ở túp lều tranh
Ðói no ai biết rách lành ai có hay ?
Một ngày, một ngày tháng 8 năm sáu mươi hai
Có anh Ba cán bộ về đây tuyên truyền
Hò là hò hò khoan, ớ hò khoan !
Anh thưa anh học xong
Chiến lược giữ xóm làng (1)
Mẹ gật gù nghe anh, và xin rất cám ơn !
Ðang khi anh (2) cười vang, ai nổ súng dưới vườn ?
Mẹ vội lùa anh Ba vào trốn dưới gầm giường.
Mẹ cười, mẹ cười trông cũng thiệt là vui.
Bước ra đón khách, trông người cũng rất quen.
Mẹ mời, mẹ mời anh miếng bánh men
Hỏi thăm sức khoẻ và khen anh hiền lành.
Ðồ là đồ mi fa, són đồ mị fa.
Anh xưng tên là Tư, đi giải phóng xóm làng (Mặt Trận)
Mẹ gật gù nghe anh, và xin rất cám ơn !
Trông ra trên đường mương
Quân Ðội Mỹ đã tới gần,
Mẹ vội lùa anh Tư cũng vào trốn dưới gầm giường...
Kết
Tới đây là xong nửa chuyện
Không biết rồi ai sẽ cứu ai ?
Ai sẽ cứu ai ?
-------------------------------------------------
(1) Ấp Chiến Lược
(2) cán bộ ấp chiến lược
* * *
BÀI HÁT CHO PHONG TRÀO DU CA
Trong thòi gian bi đát nổi giận, mỉa mai, chua chát và cười cợt với những bài tâm ca, tâm phẫn ca, vỉa hè ca, tục ca đang cùng nhau lũ lượt ra đời... thì tôi cũng có những bài hát vui tươi cho PHONG TRÀO DU CA. Ví dụ bài TRẢ LẠI TÔI TUỔI TRẺ trong đó tôi nói rằng tuổi trẻ phải làm sao để mình trở thành thần tượng của mình, khỏi phải đi tìm ở đâu xa. Giữa lúc não nề nhất, mỏi mệt nhất, tôi quay về tuổi trẻ...
TRẢ LẠI TÔI TUỔI TRẺ
(Saigon-1968)
Trả lại tôi là tuổi trẻ mênh mông
Chúng mình như lúa reo trên ruộng đồng
Dù mưa tuôn, dù bão cuốn
Bông lúa vàng cuồn cuộn gió vươn lên
Dù bom rơi, dù súng tới
Bông lúa ngời vượt lửa khói lên ngôi
Trả lại tôi là tuổi trẻ yên vui
Dẫu rằng đang chiến tranh hay hoà rồi.
Trả lại tôi là tuổi tự do theo
Chúng mình: hoa hướng dương trên ngọn đèo
Là hoa niên tìm ánh sáng
Hoa biết đường về mọi chốn vinh quang
Là măng non, là thép mới
Khi đáp lời thì quả đất lung lay
Là tuổi son ở Phù Ðổng vươn vai
Chúng mình khi đứng lên cao bẵng trời.
Trả lại tôi là tuổi trẻ vô tư
Chúng mình như lũ chim trong rừng già
Rừng âm u đầy ác thú
Chim biết ngừa luật rừng rú bao vây
Ðời chông gai rồi sẽ tới
Chim biết cười đừng vội gánh âu lo
Trả lại tôi là tuổi trẻ nên thơ
Chúng mình như giấc mơ chưa hề nhoà.
Trả lại tôi là tuổi trẻ say mê
Chúng mình yêu, sẽ yêu đương tràn trề
Càng thương yêu, càng thấy thiếu
Yêu rất nhiều chẳng cần lấy bao nhiêu
Tình ra đi từ tấm bé
Cho đến ngày nào tận thế chưa yên
Trả lại tôi là tuổi trẻ như điên
Sống và xin chết cho câu thề nguyền.
Trả lại tôi là tuổi trẻ bao dung
Chúng mình như gió khơi nơi mịt mùng
Dù non sông còn cháy nóng
Ai chán chường và người có khinh nhau
Dù ai gieo điều tiếng xấu
Tha thứ nhiều để lòng thấy tin yêu
Trả lại tôi là tuổi lượng bao la
Chúng mình xa, biết xa câu hận thù.
Trả lại tôi là tuổi trẻ hôm nay
Chúng mình như đoá sen trong bùn lầy
Việt Nam đây, đầy rắc rối
Nhưng vẫn còn nhiều hình dáng vui tươi
Việt Nam ơi ! Còn tiếng nói
Yêu giống nòi đặt Tổ Quốc lên vai
Trả lại tôi là thần tượng tôi đây
Chúng mình xin khắc sâu trong dạ này.
Bài MÙA XUÂN DU CA soạn sau này cũng nằm trong không khí vui tươi đó:
MÙA XUÂN DU CA
(Saigon-1975)
Kìa mùa Xuân vừa mới bước chân
Về đời ta vừa mới thoát thân
Cho đi đời cũ đã qua một phần
Còn lại đây ngày với tháng, năm
Phần còn xa đời mới hiến dâng
Ca lên lời hát du ca mùa Xuân.
Tiếng du ca vang lên từ miền cát trắng
Tiếng du ca vang lên từ miền ruộng vàng
Tiếng du ca dâng lên đồng bào trong nước
Tiếng du ca rưng rưng hoà nhịp quê hương.
Nào cùng ôm đàn hát sớm mai
Cùng bầy em nhỏ bé mắt nai
Tung tăng dại bước đi trên đưòng đời
Từng lời ca là những ước mơ
Là lời ru, là những thiết tha
Du ca là hát thương yêu tuổi thơ.
Tiếng du ca vang lên từ miền cát trắng
Tiếng du ca vang lên từ miền ruộng vàng
Tiếng du ca dâng lên đồng bào trong nước
Tiếng du ca rưng rưng hoà nhịp quê hương.
Ngoài đồng ôm đàn hát giữa trưa
Hoặc ở trong nhà máy võng đưa
Bên cô thợ cấy hay ông thợ già
Ngồi nghỉ tay thưởng thức mấy câu
Của người thơ, lòng vẫn khát khao
Quen thân đời sống thơm tho cần lao.
Tiếng du ca vang lên từ miền cát trắng
Tiếng du ca vang lên từ miền ruộng vàng
Tiếng du ca dâng lên đồng bào trong nước
Tiếng du ca rưng rưng hoà nhịp quê hương.
Buổi chiều ôm đàn hát với em
Một mùa Xuân hợp tiếng kết duyên
Chia nhau bài hát câu ca thật hiền
Của một chia lià đã kết đôi
Vì mùa Xuân vừa mới thoát thai
Yêu nhau bằng tiếng hát yêu ngày mai.
Tiếng du ca vang lên từ miền cát trắng
Tiếng du ca vang lên từ miền ruộng vàng
Tiếng du ca dâng lên đồng bào trong nước
Tiếng du ca rưng rưng hoà nhịp quê hương.
Rồi về đêm ngồi đối bóng ta
Chẳng cần ôm đàn hát cũng nghe
Dư âm cuộc sống yêu thương tràn trề
Rồi cả đêm ngủ với giấc mơ
Vẳng lời ca nào đến vuốt ve
Con chim mộng đã ru riêng đời ta !
Tiếng du ca vang lên từ miền cát trắng
Tiếng du ca vang lên từ miền ruộng vàng
Tiếng du ca dâng lên đồng bào trong nước
Tiếng du ca rưng rưng hoà nhịp quê hương.
*
* *
Anh Yêu Dấu,
Trái tim hồng cho anh
Nồng thắm nét thơ xanh
Này anh yêu có biết
Yêu anh....em yêu anh ....
Thật đúng vậy, anh vẫn mãi là người yêu ngự trị trong mắt em. -Dã bao lần nói tiếng yêu anh, nhưng có lẽ chẳng đủ để em diễn tả hết được những nỗi thương nhớ, yêu dấu nơi tim em dành cho anh. Mùa tình yêu
đến, em cảm thấy rất hạnh phúc vì em được anh yêụ Tình anh như giòng máu hồng, nồng cháy chảy về tim; cho từng nhịp đập hơi thở trở nên ấm áp lạ thường. Va cũng để thấy rằng anh là của em, và em là của anh. Em không biết chán thì thầm nói mãi lời yêu anh. Em sung sướng mỗi khi nghe anh nói " Yêu Em Lắm Lắm " phát xuất từ môi anh.
Ta yêu nhau từ bao giờ nhỉ và tại sao em lại yêu anh, yêu anh nhiều đến thế ? Em chỉ mỉm cười và nói : " Ừ ta còn nợ tình nhau " . Anh là những nỗi buồn, vui, không tên chập chờn ẩn hiện theo ngày tháng. -Dã nhiều lần mình
giận dỗi nhau, nhưng lại huề một cách nhanh chóng, vì nơi anh còn có nhiều cái đáng yêu hơn đáng giận.
Yêu anh, em trở thành thi nữ lúc nào không hay, em ngồi tựa cửa mộng mơ, để rồi tự thêu dệt tình yêu chúng ta trên trang giấy mỗi ngày, và từng đêm về, em mơ mình biến thành con mèo bé nhỏ cuộn tròn nằm im trong vòng tay anh, thích du dương bên tiếng ru ngot. ngàọ Ôị...tình yêu, tình em yêu anh.
Tình yêu là một thứ tình mà tất cả, hầu như con người cần phải có nơi thế gian nầỵ Nó chứa đựng một sức mạnh thật mảnh liệt và có thể biến đổi con người một cách nhanh chóng không thể ngờ được. Có biết bao
nhiêu nhạc sĩ, ca sĩ, thi sĩ, văn nhân đã viết và nói về chủ đề tình yêu, thế mà nó vẫn thu hút và vẫn là chủ đề chính của cuộc sống một cách lạ kỳ và hấp dẫn.
Mùa Valentine, ngày của các đôi tình nhân trao nhau những đóa hồng thắm tuyệt đẹp, để chứng tỏ tình yêu của họ vẫn mãi nồng nàn và tuyệt đẹp. Riêng em, em chỉ muốn một nụ hôn nơi anh. Một nụ hôn đã một lần
làm em điên đảo, lịm ngất ... thật dịu dàng, êm ái, như những nốt nhac. trầm lắng trong trái tim dại khờ một đời yêu anh tha thiết
Chờ nụ hôn nơi anh
Chờ một giấc yên lành
Ru đời buồn hiu quạnh
Thành khúc hát tình xanh
Ta là của riêng nhau
Ôi sắc thắm muôn màu
Yêu anh, tình mãi đợi
Tiếng yêu thương đậm sâu
Viết Cho Giao Mùa Feb 2004
~~~/~~((@
Ồ, hôm nay là ngày đầu năm 2004 rồi, thoắt cái, chúng ta đã sang năm mới. Năm mới với những ước vọng và quyết tâm mới.
Năm 2003 đang trôi dần vào dĩ vãng, mang theo niềm ân hận của nhiều người chúng ta, đã quên để tâm đến sức khoẻ, đã không thường xuyên vận động.
Lợi ích của vận động
Vận động thường xuyên giúp chúng ta sống đời khoẻ mạnh: giúp tránh nhiều bệnh ung thư, giúp ngừa các bệnh tiểu đường, xốp xương, tim mạch, đồng thời có ảnh hưởng tốt trên bệnh thấp khớp.
Mỗi năm ở Mỹ, trên 500.000 người chết vì ung thư. Trong số đó, 1/3 những cái chết liên quan đến việc ăn uống và thiếu vận động. Năm 2001, dựa vào kết quả của nhiều khảo cứu, Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ (American Cancer Society) lần đầu tiên đưa ra những hướng dẫn về dinh dưỡng và vận động hầu ngừa ung thư. Vận động làm giảm nguy cơ ung thư qua nhiều cơ chế. Chẳng hạn, với ung thư ruột già, vận động làm tăng nhu động của ruột, khiến thức ăn qua các đoạn ruột nhanh hơn, thời gian ruột phải tiếp xúc với các chất có thể gây ung thư trong thức ăn nhờ vậy ngắn đi, ruột đỡ bị ung thư. Với ung thư vú, vận động khiến các mô vú bớt tiếp xúc với chất kích thích tố nữ estrogen trong máu, giúp vú ít bị ung thư. Các hoạt động thể xác còn ảnh hưởng đến các loại ung thư ruột già, vú, và nhiều ung thư khác bằng cách tăng cường sự biến dưỡng năng lượng, giảm thiểu lượng insulin và các chất tăng trưởng liên hệ (related growth factors) lưu thông trong máu, những yếu tố có thể đưa dẫn đến ung thư.
Tiểu đường, một căn bệnh mau chóng tàn phá cơ thể ta, thường xuất hiện khi ta có tuổi, hoặc béo mập, mang những yếu tố di truyền, thiếu vận động. Các khảo cứu cho thấy, tiểu đường xảy ra ít hơn ở người năng vận động. Thường xuyên vận động giúp ta duy trì sức nặng cơ thể trong mức bình thường, cân bằng số năng lượng ta hấp thụ vào qua việc ăn uống, với số năng lượng ta mất đi khi vận động, tránh được béo mập. Với người mang bệnh tiểu đường, sự co thắt của các bắp thịt trong lúc vận động giúp lượng đường trong máu hạ xuống, sự chữa trị dễ dàng hơn. (Song việc vận động cần đều đặn, vì tác dụng này của một lần vận động chỉ kéo dài 24-48 tiếng).
Cứ 1 trong 2 phụ nữ quá tuổi 65, sau sẽ dễ gãy xương vì bị xốp xương. Tuy có yếu tố di truyền dự phần vào, song nhiều bằng chứng cho thấy sự vận động quả làm chậm đi tiến trình mất xương (bone loss), bệnh xốp xương xảy ra muộn hơn. Quen vận động cũng khiến ta đi lại vững vàng, ứng phó nhanh nhẹn, ít té ngã. Hai yếu tố này ngăn ngừa gãy xương, nhất là gãy xương hông (hip fracture) vì té ngã. Các vận động đặt sức nặng trên xương gân, bắp thịt (weight bearing exercises) có lợi hơn những hoạt động nhẹ nhàng thường ngày. Ði bộ, ta nhớ đi nhanh, vì khi đi nhanh, các lực tác động trên xương gân, bắp thịt ta sẽ nhiều hơn, giúp xương cứng chắc dài lâu.
Bệnh khớp thoái hoá (degenerative joint disease) là bệnh thấp khớp xảy ra nhiều nhất khi ta có tuổi. Bệnh gây đau nhức, khiến các bắp thịt quanh khớp yếu đi, khớp cứng, khó chuyển động, việc đi lại khó khăn, và tất nhiên, nếu bệnh nặng, đưa đến tàn phế. Người béo mập dễ bị bệnh khớp thoái hoá hơn người bình thường gấp nhiều lần. Vận động thường xuyên giúp ta tránh béo mập. Với người mang bệnh khớp thoái hoá, tuy vận động không thể giúp chữa khỏi căn bệnh, song khiến đời sống ta vui hơn, có phẩm chất hơn. Một khảo cứu thực hiện trên những vị mang bệnh khớp thoái hoá cho thấy, thường xuyên vận động làm giảm nhẹ sự tàn phế, người bệnh chu toàn được nhiều công việc hàng ngày hơn, và cũng ít đau hơn.
Khi ta có tuổi, bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim (coronary heart disease) gây tử vong nhiều nhất và cũng làm khổ ta nhất. Một trong các yếu tố đưa dắt ta đến với căn bệnh là sự thiếu vận động. Người lười vận động dễ mang bệnh gấp hai, so với người siêng vận động. Thường xuyên vận động giúp ta tránh các bệnh béo mập, cao áp huyết, tiểu đường, cao mỡ trong máu, những người bạn chí thiết của bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim. (Rõ nhất là với bệnh cao áp huyết, rất nhiều trường hợp, nhờ vận động thường xuyên, người bệnh không cần dùng đến thuốc, hoặc có thể giảm lượng thuốc uống mỗi ngày). Thêm vào đấy, hoạt động thể xác đều đặn còn giúp ta ngừa bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim qua nhiều cơ chế khác nữa.
Ngoài ra, vận động thường xuyên cũng giúp tinh thần ta thoải mái, minh mẫn, tự tín hơn, ta đi lại nhanh nhẹn hơn. Một khảo cứu rộng lớn, làm trong 7 năm trên những phụ nữ có tuổi, còn cho thấy những vị siêng năng vận động sống lâu hơn người thiếu vận động.
Vận động thế nào mới là tốt?
Vận động bằng cách quơ chân múa tay qua loa vài cái, kiểu ăn kỹ tập dối, mỗi sáng có đủ chăng? Chắc không đủ đâu bạn. Dù rằng còn rất nhiều câu hỏi cần được trả lời về vấn đề này, nhưng có lẽ ta nên vận động từ vừa đến mạnh bạo (moderate-to-vigorous exercises) ít nhất 30-45 phút, ít ra cũng 5 ngày mỗi tuần. Vận động từ vừa đến mạnh mới đủ để "lay động" chất mỡ lưu trữ trong người, và mới đủ để thay đổi được những hoạt động sinh lý trong cơ thể ảnh hưởng đến các chất insulin, estrogen, androgen, prostaglandin, cơ năng miễn nhiễm.
Với các vị trước giờ chỉ làm việc trong văn phòng, không quen vận động, tập vận động từ vừa đến mạnh bạo, tăng dần lên tới 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày mỗi tuần, sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho tim mạch, đồng thời giúp khỏi lên cân. Người từ lâu đã quen thể dục thể thao 30 phút mỗi ngày, chăm gần như suốt tuần, cố tăng lên 45 phút mỗi lần tập càng thêm tốt, ngừa luôn ung thư.
Vận động vừa (moderate exercises) là những hoạt động tương đương với đi bộ nhanh (brisk walking), chẳng hạn như khiêu vũ (dancing, chúng ta chẳng nên có thành kiến với khiêu vũ, vì khiêu vũ cũng là vận động), đạp xe chậm chậm, yoga, v.v.. Còn vận động mạnh bạo là những hoạt động cần huy động đến những nhóm bắp thịt lớn, và khiến nhịp tim ta tăng, hơi thở ta nhanh lẫn sâu, da ta đổ mồ hôi, chẳng hạn như jogging (chạy chậm chậm), running (chạy nhanh), đạp xe nhanh, aerobic dancing (nhảy theo nhịp điệu nhanh), đấu võ, nhảy dây, bơi lội.
Ngoài việc thường xuyên vận động từ vừa đến mạnh bạo ít nhất 5 ngày mỗi tuần, trong công việc hàng ngày, ta thu xếp để có thêm dịp hoạt động, chẳng hạn đi bộ thay vì ngồi xe, leo lầu thay vì dùng thang máy (còn đi được, chớ nên xin bác sĩ giấy chứng nhận tàn tật để đậu xe gần cho tiện), v.v.. Nhiều công việc nhà và ngoài vườn có thể xem tương đương với vận động vừa hoặc mạnh bạo.
Các em nhỏ và người trẻ khỏe thường vận động không cần phải hỏi bác sĩ trước, song, đàn ông trên 40, phụ nữ trên 50, hoặc người có vấn đề với sức khỏe, nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu những chương trình tập luyện mạnh bạo.
Năm mới, lòng nhủ lòng, chúng ta quyết tâm thực hành những điều tốt cho sức khoẻ. Cầu chúc mọi người chúng ta luôn giữ được lời hứa đầu năm, vận động thường xuyên để vui sống. Ðến cuối năm, tính sổ, ta sẽ không ân hận, hối tiếc nữa như năm nay.
Kỳ này, mời quí độc giả đọc bài viết của Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức, về một bệnh khi cao tuổi ta hay bị.
BS. Nguyễn Văn Ðức
“Nắng mưa là chuyện của trời
Ðau xương, nhức khớp, chuyện người tuổi cao”
Ở người cao tuổi, viêm xương khớp (osteoarthritis) là loại bệnh rất thường xẩy ra. Có lẽ đây là chứng bệnh mà đa số các cụ hay than phiền với bác sĩ, nhất là khi thời tiết đổi thay.
Các cụ thường thấy đau ở những khớp gần đầu ngón tay, xương sống, đầu gối, hông và cổ tay, và thường là do sự thoái hóa của xương và sụn gây ra. Nam nữ lão nhân đều có thể mắc bệnh như nhau. Ðôi khi, có nhiều vị cao tuổi bị viêm khớp mà không biết cho tới khi bác sĩ tình cờ chụp phim quang tuyến thì thấy đã có bệnh từ mấy thập niên.
Chúng ta cần phân biệt bệnh “viêm xương khớp”, còn gọi là “bệnh khớp thoái biến” (degenerative joint disease), với bệnh “khớp viêm phong thấp” (rheumatoid arthritis). Bệnh sau này có ở bất cứ tuổi nào, thường gây tổn thương cho nhiều khớp, nhất là ở đốt cuối ngón tay, ngón chân, cổ tay, đầu gối. Ðôi khi bệnh lan tới các cơ quan nội tạng như tim, thận, phổi, dây thần kinh và gây ra những triệu chứng tổng quát như nóng sốt, mệt mỏi, biếng ăn, thiếu hồng huyết cầu, sụt cân cơ thể.
Cấu tạo khớp
Bệnh viêm xương khớp thường xẩy ra ở các khớp di động như đầu gối, khớp háng, khớp cột sống.
Mỗi khớp có nhiều thành phần khác nhau như bắp thịt, dây chằng, sụn, xương, gân, tất cả hoạt động nhịp nhàng với nhau để giúp thực hiện một chức năng rất quan trọng, đó là sự di chuyển của con người trong không gian.
Dây chằng có nhiệm vụ neo xương với xương, giữ cho khớp được vững; gân nối xương với thịt và chuyển sức co của bắp thịt vào xương; còn sụn là lớp tế bào nom trong như thạch, rất bền và dai, không có mạch máu và dây thần kinh, có công dụng che chở đầu xương tránh sự cọ xát khi khớp cử động. Quan trọng như vậy mà sụn lại gồm những tế bào rất mỏng manh, khó nuôi cấy, dễ thoái hóa và sự tái tạo sau khi bị chấn thương cũng rất khó khăn. Sụn chứa 75% nước. Khi khớp cử động, nước đó ra vào, thấm qua màng hoạt dịch để lấy chất bổ dưỡng nuôi sụn. Cho nên sụn sẽ bị suy yếu khi khớp bất động, không được dùng tới. Sụn không có dây thần kinh nên nó không có trách nhiệm gây đau trong bệnh viêm xương khớp.
Khớp nằm trong một cái túi mà tế bào mặt trong túi tiết ra một hoạt dịch lỏng nhờn như dầu để làm khớp trơn tru trườn lên nhau khi co duỗi, cử động. Hoạt dịch cũng là nguồn cung cấp chất bổ dưỡng cho sụn vì sụn không có mạch máu.
Sự thoái hóa của khớp
Với tuổi đời chồng chất, chức năng cũng như cấu tạo của khớp đều có nhiều thay đổi, trở nên kém linh động: tế bào khớp thoái hóa, gân và dây chằng phân đoạn, đóng vôi, khô cằn, trở nên kém bền bỉ, kém co dãn, không chịu đựng được với căng lực và dễ bị tổn thương; sụn trở nên đục mầu, hóa xơ, khô nước, rạn nứt với nhiều tinh thể calcium làm khớp đau. Khớp co duỗi khó khăn vì màng hoạt dịch mỏng khô dần.
Khi bị viêm, xương khớp có nhiều thay đổi như sự hóa xơ và gồ ghề của sụn, khả năng chất đệm kém đi, đầu xương mọc gai, xương giảm khối lượng.
Mặc dù ta không biết rõ cơ chế gây ra viêm, nhưng sự hao mòn tả tơi hay thoái hóa do sử dụng khớp lâu năm được coi như là nguyên nhân chính. Vì thế những khớp chịu sức nặng của cơ thể như xương sống vùng thắt lưng, hông, đầu gối thường hay bị bệnh. Sự thoái hóa này diễn ra từ từ trong khoảng thời gian khá lâu và trở nên rõ ràng khi về già.
Tuy thường xẩy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc phải bệnh này. Thanh thiếu niên được miễn; tuổi trung niên có nhưng rất hiếm; từ tuổi 50 trở lên thì bệnh tăng theo tuổi: 27% ở tuổi 60-70; 45% vào tuổi 80.
Nguy cơ dễ bị bệnh gồm có béo mập (vì thế giảm cân là phương thức trị liệu tốt), chấn thương khớp, tật bẩm sinh, bệnh về chuyển hóa, di truyền, xáo trộn của kích thích tố. Lúc trẻ tuổi, một lực sĩ liên tục bị chấn thương ở khớp, dù nhẹ, người làm việc chân tay suốt ngày khuân vác nặng nhọc, đều dễ bị viêm xương khớp khi tuổi cao.
Cũng xin nhắc qua về hiện tượng VIÊM (Inflammation). Viêm là một đáp ứng bảo vệ của cơ thể với tổn thương gây ra do tác nhân sinh nhiễm, hóa chất hoặc tác nhân vật lý. Các mạch máu ở gần nơi tổn thương dãn nở, đưa nhiều máu tới vùng này. Bạch cầu vào mô, tiết ra các chất prostaglandins, leukotrienes và tiêu diệt các tác nhân gây tổn thương. Trong diễn biến này, vùng mô bị tổn thương sưng to, nóng, đỏ và đau. Nếu viêm không lành thì sẽ trở nên viêm kinh niên.
Triệu chứng
Khớp đau, sưng, giảm cử động, co cứng là những dấu hiệu thường thấy.
Khớp co cứng mỗi sáng khi thức dậy hoặc sau một thời gian bất động, kéo dài cả nửa giờ đồng hồ. Nhưng khi ta ngâm tay trong nước ấm hay tập co tới co lui một lúc thì nó bớt cứng đi. Những thay đổi khác ở khớp như viêm màng dịch, viêm dây chằng, sự tiêu hao của sụn, co thắt của bắp thịt đều có thể gây đau.
Người cao tuổi mắc bệnh viêm xương khớp có thể bị những cơn đau bất thình lình hoặc khi thời tiết đổi thay, khí hậu lạnh, ẩm, đặc biệt là ở khớp đầu gối. Khớp đau âm ỉ, vừa phải thôi, nhưng gia tăng khi khớp cử động, giảm bớt khi không dùng. Ban đêm ngủ mà bị những cơn đau khớp hành hạ thì bệnh càng gia tăng mà lại dễ gây ra tâm trạng u buồn.
Sau một thời gian, các triệu chứng trên đưa tới mất chức năng của khớp, khiến người bệnh không thực hiện được những sinh hoạt thông thường như cài cúc áo, cột dây giầy, cầm lược chải đầu, cầm bút viết. Ðứng lên ngồi xuống, bước ra khỏi xe, lên xuống cầu thang đều khó khăn, giới hạn.
Nhiều nghiên cứu cho hay có tới 12% người bệnh không hoàn tất được sinh hoạt hàng ngày và quá bán số người này nằm liệt giường hay suốt ngày ngồi trên xe lăn.
Quan sát cho thấy đàn ông thường bị giới hạn sử dụng thượng chi còn đàn bà hay bị ở hạ chi, nhưng khi tới tuổi trên 80 thì tứ chi đều bị ảnh hưởng như nhau.
Sự định bệnh căn cứ vào triệu chứng, khám xét cơ thể và chụp quang tuyến X.
Viêm khớp khó mà lành hẳn nhưng sau một năm, chứng đau nhức thường giảm bớt. Sự thoái hóa làm mòn hết sụn, hai đầu xương tiếp tục cọ xát vào nhau trở nên nhẵn bóng như ngà.
Ðiều trị
Cho tới nay, chưa có dược phẩm hay cách nào có thể phục hồi tế bào sụn và từ đó chữa dứt bệnh viêm xương khớp, mà chỉ chữa theo triệu chứng: đau đâu chữa đó, đau lúc nào uống thuốc lúc ấy.
Tuy nhiên, với những phương tiện hiện có, người bệnh có thể duy trì, cải thiện một số chức năng của khớp bị bệnh, làm bớt đau và làm đời sống linh động tốt hơn.
Người bệnh cần được hướng dẫn, tìm hiểu về bệnh, biết rõ căn nguyên, nguy cơ gây bệnh để tránh, biết phải làm gì để bớt đau và thích nghi với khó khăn, khiếm dụng do bệnh gây ra.
1- Vật lý trị liệu:
Ðây là phương tiện được dùng rất nhiều hiện nay vì có nhiều công hiệu. Nó giúp bệnh nhân phục hồi một số chức năng của bắp thịt và khớp như khả năng co duỗi, sự di động, mềm mại; hướng đẫn cách lựa và sử dụng gậy chống, nạng, tựa người (walker).
2- Vận động:
Sự vận động cơ thể làm tăng sự mềm mại của cơ thịt, co vào duỗi ra dễ dàng, khớp cử động nhẹ nhàng, tăng máu lưu thông tới nuôi dưỡng khớp, làm bớt đau, làm tầm cử động rộng hơn. Cần lưu ý là chỉ vận động vừa sức mình, không vận động khi khớp đang sưng, nóng, đau. Trước khi tập, có thể đắp nóng để làm thư dãn cơ thịt, làm máu lưu thông tốt, hoặc đắp lạnh trên khớp để làm bớt đau, sưng và viêm đỏ. Ðôi khi ta có thể luân phiên với sức lạnh và sức nóng, mỗi thứ chừng 30 phút.
3- Giảm mập béo:
Mập béo vẫn được coi như là nguy cơ gây viêm xương khớp, nên giảm ký là một cách tốt để làm cơ thể nhẹ nhàng, bớt sức nặng dồn trên khớp nhất là khi ta di chuyển.
4- Dược phẩm:
Dược phẩm được dùng với mục đích chính là để làm giảm đau, chống viêm sưng.
Thuốc acetaminophen (Tylenol) được coi như là thuốc căn bản, uống với phân lượng cao tới 4 grams một ngày. Thuốc này dùng nhiều có thể ảnh hưởng tới gan nhất là khi người bệnh uống rượu, hoặc đưa đến thận suy.
Thuốc có chất á phiện chỉ nên dùng ngắn hạn khi cơn đau dữ dội không chịu nổi hoặc làm mất ngủ.
Có nhiều loại thuốc bôi làm dịu đau như kem bôi capsaicin, mỗi ngày thoa đều trên khớp đau ba bốn lần.
Thuốc chống viêm không có steroid như ibuprofen, naproxen, Celebrex, Daypro, ... có nhiều công hiệu.
Các thuốc chống đau đều có nhiều tác dụng phụ, không tốt, nên trước khi dùng, cần tham khảo ý kiến bác sĩ gia đình.
Ngoài ra, dùng những máy phát ra sóng từ trường, hoặc chích thuốc (corticosteroids, Hyaluroran) vào khớp cũng giúp giảm cơn đau nhức một phần nào.
Trường hợp nặng có thể giải phẫu thay khớp.
5- Dinh dưỡng:
Trong những năm gần đây, nhiều chuyên gia đã nghĩ ra và đề nghị áp dụng dinh dưỡng trong việc chữa bệnh viêm xương khớp. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xác định là một chế độ ăn uống hoặc một món thực phẩm nào đó có thể trị được bệnh viêm khớp này.
Có một số ý kiến cho rằng nếu ta ăn vài trăm gram cá mỗi ngày thì có thể giảm cứng khớp mỗi sáng khi thức dậy.
Bác sĩ Joel M.Kremer của Ðại Học Y Khoa Nữu Ước cho hay, uống dầu cá viên trong hai tuần lễ có thể làm giảm sưng và đau của viêm khớp. Ta nhớ là cá có loại chất béo Omega-3 fatty acid.
Có người cũng đã thử nghiệm và thấy cà chua, broccoli cũng làm bớt đau viêm khớp.
Trên thị trường, có vài môn thuốc được giới thiệu là làm thuyên giảm triệu chứng của viêm khớp. Ðó là:
* Chất Glucosamine. Glucosamine sulfate là chất lấy ra từ vỏ sò, vỏ cua và bán dưới dạng thuốc viên. Theo nhà sản xuất, mỗi ngày uống 1500 mg chia ra làm ba lần. Thuốc chỉ gây ra một chút khó chịu cho bao tử. Nhiều nghiên cứu cho hay, phải uống cả tháng mới thấy có công hiệu. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho hay, Glucosamine có tính chất chống viêm và kích thích sản xuất sụn.
* Chất Chondroitin. Ðây là chất được lấy ra từ sụn cá mập, bò và có dưới dạng viên hoặc con nhộng. Cũng như Glucosamine, món thuốc này được giới thiệu có khả năng chống viêm và tạo sụn. Một số nghiên cứu khoa học cho hay, Chondroitin có tác dụng tốt hơn thuốc vờ (placebo) và ít gây ra tác dụng phụ. Mỗi ngày phải uống khoảng 1200 mg, chia ra làm ba lần và phải uống khoảng bốn tuần lễ mới thấy công hiệu.
* SAMe. Ðây là viết tắt của S-Adenosylmethionine, là một hợp chất thiên nhiên trong mọi tế bào còn sống và được sản xuất bằng cách nuôi tế bào các loại men, nấm. SAMe đã được bán theo toa bác sĩ ở Âu châu từ năm 1975 để chữa viêm khớp và trầm cảm. Món thuốc này khá đắt và phải dùng từ 400 mg tới 1200 mg mỗi ngày. Tác dụng phụ là khó chịu tiêu hóa, như là tiêu chẩy.
Ngoài ra, theo kinh nghiệm nhiều người thì Gừng, khoáng Borom, chất DMSO Dimethyl Sulfoxide từ quả gỗ cơm (pulp) cũng có công dụng chống viêm của xương khớp.
Kết luận
Viêm xương khớp kinh niên đưa tới nhiều trở ngại, khó khăn cho người bệnh. Ngoài thuốc men và các phương thức trị liệu khác, bệnh nhân cũng nên khéo léo tổ chức trong sinh hoạt hàng ngày để tránh khớp đau nhiều hơn:
- Khi làm việc, khi ăn, nên ngồi nhiều hơn là đứng. Ghế ngồi có chỗ dựa lưng để giảm căng thẳng cho bắp thịt ở lưng. Ghế có dựa tay để giúp đứng lên ngồi xuống dễ dàng.
- Mở hộp thức ăn với dụng cụ thay vì dùng sức mạnh của bàn tay. Ðừng cầm vật gì nặng quá lâu.
- Nên thường xuyên co duỗi các khớp xương, vươn vai để cột sống khỏi cứng nhắc.
- Cần nâng một vật nặng, nên sử dụng cả hai tay thay vì một tay và chịu sức nặng vào hai chân chứ không vào xương sống lưng.
Làm được như vậy là ta đã phần nào tránh được sự mất khả năng vận động, một trong những nguyên nhân đưa tới việc lệ thuộc vào người khác của tuổi già.
Texas, tháng 6-2003
Paris chiều chủ nhật 08-02-04
Ðánh dấu 10 năm nhìn lại trong thi ca Bích Xuân, những buổi Văn Hóa Văn - Nghệ đặc sắc được tổ chức. Bảo trợ bởi nhóm Báo chí và Bạn hữu.
Kính mời anh chị em đến tham dự buổi Tiệc trà- Ca nhạc- Khiêu vũ tại :
Club New Planet - 08-02-04 - lúc 13 giờ
C.C. Olympiades 75013 PARIS
Chi phí đóng góp : 10 Euros ( nước ngọt và bánh ngọt, trà nhà hàng)
Ủng hộ đặc biêt : 50 - 100€.... ( bàn có champagne và quà tặng riêng của chính tác giả)
Chương trình văn nghệ: nhạc Jazz, biểu diễn thời trang, nhạc cổ truyền, ca, vũ, kịch v.v…
Buổi ca nhạc tại Paris được bảo trợ bởi : Văn Bút Âu Châu
RESTO Service Store M.Mme : Trần Văn Hòa : 01 43 68 98 00
FEAL-Cabinet D’expertise comptable : Mr. Nguyễn Thanh Châu 01 40 37 72 72
Ðặc biêt: Có một nhóm văn nghệ sĩ đến từ Hoa Kỳ
Những buổi Văn Hóa- Văn Nghệ các nơi Bich Xuan được bảo trợ bởi:
Paris 08-02-04 Doanh gia Trần Văn Hòa (33)146-587-124
Houston 22-02 Hội Văn Bút và nhóm Quảng Ðà (713) 302-7892
Dallas 07-03 Tuần/b NgườiViệtDallas và T/b Bút Việt (469) 878-9969
Azirona 14-03 Nguyệt san Rạng Ðông (602) 373-2283
Was.DC 21-03 Tuần/b Sóng Thần và Trần Vă n Hòa (707) 725-5539
Montreal 27-03 Giáo/s Hoàng Lê (514) 721-3961
Australia 09-04 Văn Nghệ Thời báo và T/b Chiêu Dương (02) 8704-6444
(Sydney,Melbourne,Adelainde…)
Những tác phẩm của Bích Xuân đã xuất bản:
1-bao giờ em quên (1994)
2-chàng (1996)
3-bao giờ anh đi (1997)
4-bây giờ em vui (1998)
5-trước khi mùa xuân đến (2001)
6-mùa xuân châu ngọc (2003)
7-CD nhạc lời của Bích Xuân do Bích Xuân ca
8-CD thơ do Bích Xuân diễn ngâm
Bích Xuân
Paris, France
bichxuanparis@yahoọcom
http://homẹworldnet.fr/bichxuan
Thơ Bùi Giáng,
Truyện ngắn của Mạch Nha: Cùng Chuyến
Truyện ngắn của Cổ Ngư: Chuyện Kể Của Một Nguoi Pháp Bình thuong
http://www.xuquang.com/naman/MachNha%20cungchuyen.htm
http://www.xuquang.com/naman/CoNgu%20Chuyen%20Ke%20Cuạhtm
Và nghe Mai Phương [Trầm Huong] -tay cọ - tay bút - tay dàn hát "Mình Ơi", sáng tác mới nhất của nhạc sĩ Mai Dức Vinh
Quyên Nhi
An Phú Vang
Quyên Book
http://xuquang.com/naman/
Tối thứ Bảy ngày mai 10 tháng 01/2004
GIỚI THIỆU THI SĨ HÀ PHƯƠNG
-qua giọng ngâm Kim Dung- Hà Phương
-Tiếng sáo Hải Bộ - đàn tranh Bích Thuận
Xin mời các bạn yêu thơ, nhạc vui lòng click vào những
trang web Link dưới đây
1/. Miên Du giới thiệu
Thi sĩ Nhược Thu và Nhạc Sĩ Trần Thụy Minh
http://www.trinhnụnet/radio/?7
2/. Miên Du giới thiệu Thi Nhạc sĩ Vũ Thư Nguyên
http://www.ivfdoc.com/Files/VTN/1.ram
3/. Miên Du giới thiệu Thi Nhạc sĩ Trần Văn Lương
Các Thi, Nhạc sĩ muốn đóng góp các tác phẩm và bảo trợ cho CTHNTC xin vui lòng liên lạc
mailto:miendudalat@junọcom
Miên Du: (714) 251-8365
KimChi: (714) 719-6302
Ðiạ chỉ cuả toà báo:
VietHomeMagazine
1340 Tully Road # 301
San Jose, CA 95122
tel 408-971-6057
VietHomeMagazine@cs.com.
VII. Nhạc : 1. Ðể Tình Theo Gió Cuốn
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, Bích Xuân, Châu Thái Lê, Chu Kỳ Thư, DHH, Ðỗ Thành, Gia Phong, Hoàng Mai Phi, Lạc Duyên, Luân Hoán, Nguyễn Hữu Viện, Nguyên Dã Qùy, Nguyễn Ðăng Tuấn, BS Nguyễn Văn Ðức, BS Nguyễn Ý Ðức, Ngô Thy Vân, Ngọc An, Nnguong, NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Quên, Sóc Sơn, Sông Cửu, Sương Mai, Tâm Thư, TH, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần Nhất Lang, Trần Công Nhung, Trần Hoan Trinh, Trần Thị Hà Thân, Trần Kiêu Bạc, Trăng Ca, Trường Ðinh, Viễn Phương, Việt Dương Nhân, Việt Hải, Võ Thị Xuân Ðào và Vũ Thị Thiên Thư đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 22 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
TrungKy@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua2002@aol.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua2002@aol.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: TrungKy@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà