Số 23
Ngày 1 tháng 3 năm 2004
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Tháng Ba, những ngày nắng ấm của mùa Xuân đã xen kẽ với
những ngày Ðông giá làm nỗi sợ băng giá con người từ mùa
Ðông như đang dịu đi .
Tháng Ba, nhìn thấy thiên nhiên đang ươm những nụ đào e ấp
chờ ngày khoe sắc cũng mang lại một cảm giác dễ chịu vô cùng,
hơi giông giống với cảm giác của cái ngày vừa biết mình
được nhớ , thương .
Tháng Ba, đã xa rồi những ngày đầu năm vui chơi , với bao
người một năm đã thật sự bắt đầu , phải bắt tay vào
việc thôi , kẻo một năm lại trôi qua nhanh lắm .
Tháng Ba , Giao Mùa vẫn còn đây , đầy đủ hương sắc của một
tờ báo liên mạng quy tụ những cây viết đầy nhiệt tình và
tài năng của cộng đồng người Việt trên toàn cầu . Thay
mặt toàn thể anh chị em trong ban biên tập GM , cho VK gửi lời
cảm tạ thật chân thành tới các anh , chị , em đã sống cùng GM
qua những trăn trở , vui , buồn hôm qua , hôm nay và sắp tới .
Tháng Ba, cùng với tâm trạng háo hức hưởng một mùa Xuân đầy
màu sắc đang đến , người viết cũng cảm thấy chưa trọn vẹn
nếu không đề cập tới nổi lo , mối quan tâm về dịch cúm gà
đang xảy ra trong nước và đang có nguy cơ lan rộng .
Cầu mong sao nổi lo sợ này sẽ sớm không còn tồn tại nhờ sự
hợp sức triệt để của các tổ chức y tế thế giới .
Tháng Ba, mời các anh chị em cộng tác và bạn đọc gần xa dang tay
đón GM lần nữa với sự yêu thương .
Thật tin đời thực sẽ luôn sinh động và đầy màu sắc trong
những sáng tác sắp tới của các anh chị .
Xuân tin yêu , xin với tay để không chỉ lần này mà mãi mãi
được xiết chặt tay tất cả các anh chị trong tình thân ái .
Vành Khuyên
BBT Nguyệt San Giao Mùa
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ/ Ðêm Hoa Trăng Trên Sông Xuân | ______Trương Nhược Hư / Trần Nhất Lang | |
| 2. Bước Chạm Hiên Trăng | ______Chu Kỳ Thư | |
| 3. Viên Phấn Ngậm Ngùi | ______Tôn Thất Phú Sĩ | |
| 4. Vết Phỏng Thơ Tình | ______Nguyên Khoa | |
| 5. Giọt Nước Mắt Cho Em | ______Châu Thái Lê | |
| 6. Ơn Em | ______Cát Biển | |
| 7. Mộng Vỡ | ______Bích Hằng | |
| 8. Sương sớm | ______CC | |
| 9. Vần thơ rơi rụng ... | ______Chấn Vũ | |
| 10. Gọi Yêu Dấu | ______Ngô Thy Vân | |
| 11. Gửi Về Bên Ấy Muà Ðông | ______Trần Kiêu Bạc | |
| 12. Ðêm Trắng Chợt Nhớ Van Gogh | ______Nguyễn Hữu Viện | |
| 13. Ðám tang trong lòng | ______Nguyệt Trinh | |
| 14. Bài Thơ Ðộc Vận | ______Ngọc An | |
| 15. Tiếng Chim Xưa | ______Võ Ðình Tuyết | |
| 16. Cô bé Lọ lem | ______Lạc Duyên | |
| 17. Thu | ______Bích Hà | |
| 18. trăng mười sáu - trăng soi cỏ non | ______Hà Nguyên Du | |
| 19. tình ta, sao em giữ làm riêng | ______Nnguong | |
| 20. Ấy ơi.. | ______Lâm Huân | |
| 21. Bốn Muà Ngược Dòng | ______Phạm Vũ Anh Nam | |
| 22. Giá Lạnh Hồn Hoang | ______TH | |
| 23. Thành Phố Một Lần Về | ______Trần Hoan Trinh | |
| 24. Cô Gái Dương Ðông | ______Sông Cửu | |
| 25. Vinh tôn ''Thớ' | ______Việt Dương Nhân | |
| 26. Chia Tay | ______Tâm Thư | |
| 27. Sài Gòn Cuối Năm | ______Nhược Thu |
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Giới thiệu tác giả: Nữ sĩ Emily Dickinson (1830 - 1886) _______ Nguyệt Trinh |
| 2. Thư gởi các bạn trẻ Philadelphia ___________ Võ Ðình Tuyết | 3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 20) ___________ Trần Công Nhung |
| 4.Cây đa bến cũ (kỳ 2) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Muà Hái Tình Sầu (tiếp theo và hết) ___________ Phan Thái Yên |
| 6.Bà Hàng Xóm ___________ Bích Xuân |
| 7.Ðà Lạt Chiều Thơ ___________ Trường Ðinh |
| 8.Chúng Tôi và một chuyến đi chơi: Quốc Tử Giám ___________ Hương Kiều Loan |
| 9.Chuyện anh Trương Chi ___________ Ðỗ Thành |
| 10.Chuyện Dài Nụ Hôn ___________ Việt Hải |
| 11.Cruise Canada và New England ___________ NDTrọng & Thanh Ðan |
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 15)________________________________________________________________
| 1. HÁT VÀO ÐỜI CUỘC ÐỜI TRƯỚC MẶT _______________________________ NS Phạm Duy |
IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
V. Nghiên Cứu________________________________________________________________
| 1. NĂM MỚI, BÀN CHUYỆN TÊN VIỆT, TÊN MỸ _______ Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức |
| 2. Câu Chuyện Thầy Lang _______ Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức |
VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Quyên Book _______ Giao Muà |
| 2. Nguyệt San VietHome Magazine - _______ Giao Muà |
| 3. Chương Trình Nhạc Lệ Thu - Anh Dũng _______ Giao Muà |
VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
1. Giới thiệu tác giả: Nữ sĩ Emily Dickinson (1830 - 1886)
Nguyệt Trinh 2. Thư gởi các bạn trẻ Philadelphia
Võ Ðình Tuyết
Võ Ðình Tuyết
Trần Công Nhung Thanh Sơn
Thanh Sơn
Phan Thái Yên Phan Thái Yên Bích Xuân
Bích Xuân
Trường Ðinh
Trường Ðinh
8. Chúng Tôi và một chuyến đi chơi:
Quốc Tử Giám Hương Kiều Loan
Hương Kiều Loan
Ðỗ Thành
Ðỗ Thành
Việt Hải
Việt Hải
11. Cruise Canada và New England NDTrọng & Thanh Ðan
NDTrọng & Thanh Ðan
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 15)__________________________________________ 5 . HÁT VÀO ÐỜI CUỘC ÐỜI TRƯỚC MẶT
Nhạc Sĩ Phạm Duy
Phạm Duy
IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
DHH V . Nghiên
Cứu_____________________________________________ 1. NĂM MỚI, BÀN CHUYỆN TÊN VIỆT, TÊN MỸ Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. Quyên Book
2. Nguyệt san VietHome
Giao Muà vừa nhận được Nguyệt san VietHome số tháng 2 do chị Ðỗ Mùi gửi tặng. Báo in mầu giấy láng từ trong ra ngoaì, baì vở nhiều tiết mục: khoa hoc, van học, nhiếp anh? y tế, gia chánh...... Người chủ trương là chị Ðỗ Mùi, một khuôn mặt quen thuộc trong lĩnh vực báo chí.
3. Chương Trình Nhạc Lệ Thu - Anh Dũng
VIII . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
http://www.sappho.com/poetry/historical/e_dickin.html
Emily Dickinson là một trong những nhà thơ nổi tiếng của Hoa Kỳ, sinh ngày 10 tháng 12, năm 1830 tại Amherst, Massachussets trong gia đình tiếng tăm. Nàng từng học tại Amerherst Academy, nơi ông của nàng có phần sáng lập. Sau đó nàng theo học tại trường dòng Mt. Holyoke Female Seminary, nhưng lại bỏ cuộc vì không thích môi trường đầy tín ngưỡng và cũng do gia đình gọi về.
Trong những năm ở lứa tuổi đôi mươi, Emily quan hệ khá rộng rãi và náo nhiệt. Song, dần dần nàng sống khép kín gần như muốn xa lánh xã hội. Vào lứa tuổi ba mươi của đời mình, nàng chỉ quanh quẩn trong nhà và chẳng hề xuất hiện khi có khách viếng thăm. Không bao lâu, Emily khiến dư luận xầm xì về đời sống thần bí dị thường của nàng. Hầu như nàng chẳng hề lộ diện, và nếu bắt gặp thì người ta thấy nàng chỉ mặc một màu trắng toát. Mặc dù chọn cuộc sống cắt đứt mối tiếp xúc trực tiếp với xã hội, trên mặt tinh thần nàng vẫn mật thiết. Emily có niềm say mê viết thư thật mãnh liệt, bạn bè và người thân trao đổi thư từ với nàng nhiều vô kể. Cả ngàn bức thư nàng viết cho họ còn lưu lại sau khi nàng mất. Văn phong các bức thư ấy chẳng khác gì hồn thơ bí ẩn của nàng, đầy trừu tượng, đôi khi còn bỏ ngõ lơ lửng. Nó có sức thuyết phục và gây xúc động lạc thần. Khi viết thư, Emily thường đề thơ của mình vào. Do bạn bè thúc giục nàng ra mắt tác phẩm của mình, Emily chỉ cho xuất bản một lần duy nhất vào năm 1860 và từ đó không hề ra sách nữa. Sau đó, có tất cả tám tập thơ của Emily được xuất bản, nhưng chỉ do bạn bè đề xướng mà không hề qua sự đồng ý của nàng. Sau khi Emily từ giã cõi đời, người ta tìm ra thêm 1728 bài thơ của nàng.
Với tư tưởng mong tìm ra người gây cảm hứng cho Emily đặt bút viết hàng loạt vô số kể đã gợi sự thích thú hấp dẫn, kích thích các nhà nghiên cứu văn học biết bao năm qua. Giả thiết được nhìn nhận phổ biến nhất cho rằng Emily được vị cố vấn tinh thần khuyến khích. Chính ông này là người Emily viết ba bức thư đề gửi cho "Master". Một số khác suy đoán Emily mang lòng yêu Samuel Bowles (biên tập viên của tờ báo địa phương nổi tiếng), có người lại cho rằng Emily từng quan hệ với Thẩm phán Otis Lorde, và một trong hai người này là vị "Master" bí ẩn kia. Emily có thể đã yêu một trong hai người hoặc yêu cả hai. Thật khó chứng minh hoặc phủ định nổi căn nguyên quan hệ giữa nàng và họ. Song, bằng chứng rõ nhất về người đã ảnh hưởng đến cuộc đời và tác phẩm của Emily là Susan Gilbert, người bạn thân, đồng thời là chị dâu, thậm chí là mối tình say đắm của Emily. Chính cô là người Emily viết cho hàng trăm vầng thơ, gấp ba lần hơn tất cả bạn bè Emily nhận được.
Susan và Emily gặp gỡ nhau tại Amherst. Ban đầu họ là chỉ bạn bè thân thiết có cùng sở thích và mơ ước. Emily hoàn toàn tin tưởng vào Susan và còn yêu mến Susan tuyệt đối. Song, từ khi Susan đính hôn với Austin Dickinson (anh của Emily), Emily trở nên chán nản. Trong hai năm trời họ không thư từ với nhau nữa. Ðến khi Susan và Austin dọn ở cạnh nhà Emily thì họ thư từ trở lại, và Emily tiếp tục bày tỏ tình yêu một cách sùng bái.
Các nữ sinh xem xét các bức thư của Emily qua cái nhìn của người con gái đồng tình luyến ái đều nhận thấy thư từ của nàng đã vượt khỏi quan hệ lãng mạn đến tình say đắm lộ liễu. Thật khó hiểu nổi Susan phải đáp lại bằng cách nào trước sự thố lộ tâm tình của Emily, niềm khao khát được ôm ấp và hôn Susan hoặc nỗi khổ đau của nàng khi xa vắng Susan. Sau khi Emily từ giã cõi đời, tất cả thư từ nàng viết cho Susan đều bị tiêu hủy. Thư Emily bộc lộ sự lệ thuộc mãnh liệt của mình vào tình của Susan, ví dụ một bức thư viết như sau ...
"Susie ơi, sáng nay thật muộn phiền ảm đạm, gió mạnh và mưa mù như cuộc đời con người có lúc phải đổ mưa. Em không biết cơn mưa nào rơi ồ ạt hơn, mưa bên ngoài hay mưa trong lòng. Susie ơi, em muốn nép vào trái tim nồng ấm của người và đừng bao giờ nghe gió hú hoặc bão dậy nữa. Trong lòng người còn chỗ nào cho em nữa không và người yêu em hơn không ? Em phải làm sao hơn bây giờ ? Em chẳng thể yêu người hơn được nữa vì tình yêu của em đã cao ngất vời vợi. Nếu được yêu người lần nữa, mỗi ngày trong đời em, mỗi sáng đến mỗi đêm, nếu người cùng em thì em sẽ hạnh phúc đến bao giờ ...
Susie ơi, giấy đã mòn, mực đã cạn, và em cứ đọc đi đọc lại mãi nhưng niềm yêu dấu chẳng tàn phai. Cảm tạ ơn Trời, Susie ơi. Em nghĩ đến người cả đêm, trong giấc ngủ thổn thức tên người, tỉnh giấc còn hoang mang réo gọi. Susie ơi, người ở đâu ? Em không dám ngủ vì khép mắt chỉ sợ người mất đi. Susie ơi, đừng lo lắng khi nhận thư này, em vì bối rối mà thôi. Mỗi tuần nhớ viết cho em, chỉ một dòng tha thiết "Emily, ta yêu em," em đủ mãn nguyện rồi.
Emily của riêng người. (Your own Emily)"
Thơ và thư từ của Emily bị cho là chứa đầy dục tính, dù nàng chủ tâm, hoặc đã nằm sẵn trong tiềm thức nàng hoặc chỉ do ngẫu nhiên (thử tìm đọc bài Wild Nights - Wild Nights của Emily). Người ta suy đoán Emily từng tư tình vụng trộm với Susan vì nàng thường dùng nhân vật không ám chỉ rõ nữ tính (non-female persona) khi viết, hoặc giả nàng cố tình một cách vô tội vạ để gợi sự tưởng tượng về dục tình cho độc giả, cho lớp người có cái nhìn mới mẻ, ưa thích cái lạ. (Nếu quý vị muốn xác định riêng mình, xin tìm đọc bộ sưu tập về thư từ của Emily viết cho Susan, xuất bản năm 1998 với nhan đề Open Me Carefullỵ)
Sau khi Emily qua đời vào năm 1886, chị nàng đã thuyết phục Mabel L. Tođ biên soạn lại thơ Emily. Một số nữ sinh tin rằng đại danh từ nữ trong một số bài thơ của nàng bị sửa bỏ ngay thời diểm ấy. Mabel là tình nhân của Austin và còn là tình địch của Susan, tất nhiên cô có đầy đủ lý do để hạn chế hoặc loại trừ hình tượng Susan trong tác phẩm của Emily.
(Some feminist scholars believe that female pronouns to some of her poems were edited out at this time. Mabel happened to be Austin's mistress, and, as Susan's direct rival, she had every reason to play down Susan's involvement in Emilýs work.)
/* Có ai muốn người mình không ưa thích được thiên hạ chú ý ? Nhất là được biết đến thật nhiều, thậm chí rất nổi tiếng. Người dịch nhớ một câu danh ngôn, nhưng đã quên mất câu danh ngôn của ai, đại loại như, chẳng thà bị chỉ trích dèm pha còn hơn cả đời lui trong bóng tối không được ai ngó ngàng biết đến. Có thể nói, thay vì bôi nhọ thêm thắt cho quan hệ của Susan và Emily thêm ly kỳ dị biệt, Mabel còn muốn xoá bỏ hình ảnh Susan khỏi lịch sử văn học. */.
Mabel Tođ xuất bản một phần nhỏ thơ của Emily vào năm 1890. Về sau, con gái của Mabel và cháu gái của Emily biên soạn thêm một số nữa, nhưng do mâu thuẩn cừu hận trong gia đình, mãi đến năm 1955 toàn bộ tác phẩm chọn lọc của Emily mới được xuất bản.
Emily từ giã cõi đời ngày 15 tháng 5, 1886 vì bệnh thận (Brights disease). (*)
* http://www-unix.oit.umass.edu/~emilypg/1886.html
(Tặng Nguyễn Lang TDTNQG và các bạn trẻ)
Cám ơn các bạn đã cho tôi cảm nghĩ thật tốt và ấm áp thêm một mùa xuân xa xứ. Như một cỗ xe già nua chạy nốt phấn đời còn lại của mình,tôi nghĩ: rồi đây trọng trách tương lai là trên tay của các bạn. ( Những quá khứ vừa qua hãy được coi là phần tang thương của Dân tộc). Còn gì thê thảm hơn là dựng lại những bi kịch “Ði nhận xác chồng” như những xác lá mùa thu tả tơi bầm dập đã đổ xuống trên một quê hương điêu tàn.Còn gì thê thảm hơn là dựng lại những người đã nằm xuống,sau cuộc chiến tranh vinh danh quá nhiều bằng những lời hoang tưởng.Hãy để những anh hùng nằm yên cho lịch sử,ø chiêm nghiệm dài lâu những nỗi đau và thấm thía nỗi buồn nhược tiểu.
Hành trình tương lai huy hoàng là trong tay của những người trẻ Việt Nam.Các bạn là những Samurai Việt Nam,không phải cuối cùng nhưng là bắt đầu như những hùng sử mới toanh trên tờ giấy trắng.Các bạn sẽ là những người kê vai gánh nỗi oan khiên và thất bại của những người đi trước.Câu trả lời cuối cho người Võ Sĩ Ðạo Nhật Bản trong phim The Last Samurai vừa qua là: Ðừng hỏi ông ta chiến đấu và chết như thế nào? mà hãy hỏi nhân cách sống ông như thế nào? Cách sống đứng đắn hùng tráng mới là điều quan trọng.
Các bạn thân mến.
Tôi và các bạn đã hảnh diện biết bao nhiêu những vị Tiền Bối dựng Nước và cứu Nước,nhưng cũng đau buồn biết bao nhiêu những Cha Già Dân Tộc đã tìm cách giết hại tàn sát lẫn nhaụCó thể Thế Hệ của tôi chẳng làm được gì cho các bạn ngoài những hoài nghi hoang tàn đè lên trầm kha lòng thu hận. Nhà văn lừng lẫy Hoa kỳ Hemingway tác giả The old Man and the sea để lại một câu lừng danh: “ Thế hệ các anh là đồ bỏ”Nhưng có một điều không thể chối cãi được là thế hệ chúng tôi cũng đã chiến đấu trong nỗi tuyệt vọng để chống lại những chủ nghĩa độc tài.
Những ly rượu chếnh choáng mềm môi khơi dậy ý thức của một thời hoang phế.Tôi chẳng còn gì ngoài những giấc mơ tan hoang của thời tuổi trẻ,mà tâm hồn như những Giáo Ðường đổ nát xiêu vẹo bởi bom đạn chiến tranh, và những ngôi Chùa vắng tiếng chuông chiều ngân nga khi bầy chim sợ tiếng súng bỏ người bay đi biền biệt; tôi như người phu già trên chuyến xe thổ mộ cọc cạch chở thời gian héo hon như lá mùa thu về thung lũng mù mờ xa khuất. Nên chúng tôi cần các bạn, những người trẻ Việt Nam của thế kỷ 21. Thế kỷ nầy là của các bạn.Hãy nhận và cầm lấy những giấc mơ của tôi khi Dân Tộc Việt Nam ngẩn cao hảnh diện trong ngôi làng Thế Giới tương lai.
Những Nguyễn Ðạt,Phan Ðạt,Dương Nguyệt Ánh,Ðinh Ðồng Phụng Việt là những viên đá xanh quí,ẩn hiện của loài kim cương,như hàng ngàn,triệu viên kim cương khác được trổ ra cho giống Tiên Rồng hồi sinh.
Quá khứ nào rồi cũng sẽ vào các trang sách.Cám ơn các bạn đã cho tôi cảm xúc thật đầy khi viết lên những giòng nầy của mùa xuân tha hương.Các bạn đã vương cao ngọn cờ chính nghĩạCác bạn ơi hãy vững tâm bước đi,những thế hệ của tôi rồi sẽ vào chốn lãng quên,sẽ trở về lại những giòng sông khi chiều xuống bên bờ lau lách cũ,và những thành quách xưa có rêu phong cùng năm tháng một ngày nào cũng che đầy những vết thương xưa.
Chẳng có ai lại không biết lựa chọn cho mình một nơi chốn để gởi những ước mơ,dù những ước mơ có thể tàn phai theo mầu lá.Bất cứ đền đài to lớn cách mấy cũng phải từ viên đá đầu tiên,hội thánh Công Giáo cũng lấy Viên Ðá làm nền tảng để xây Giáo Hội với tên Phao Lồ,nên tôi muốn gởi ước mơ của tôi vào các bạn là những viên đá xây thêm căn nhà có tên Việt Nam vững vàng vĩnh cữụThế rồi có một ngày trong thế kỷ nầy người Việt Nam nhìn thẳng ánh mặt trời hay những vì sao ngỗn ngang trong vũ trụ hơn là nhìn xuống hoài nghi bước chân buồn thảm một đời của mình trong nỗi chua cay quá khứ.
Cơn bão tuyết vừa qua làm trắng xóa sân nhà.Không gian lạnh lẽo nhưng vẫn còn có lũ chim sẻ về vui đùa trên những cành khộCác bạn là những mùa xuân trong cái đầu cằn cỗi cuối thu của tôịTôi xin gởi những ước mơ soãi theo cánh đại bàng của các bạn./.
Philadelphia ngày 30 tháng 12 năm 2004
Cánh Ðồng Nón mùa đông 2004
7/03
Trần Công Nhung
Ði Huế về bà Nhiêu có một vài thay đổi trong công việc. Bà không sản xuất nhiều rượu như trước, cầm chừng thôi, bà nói với má Thảo :
- Chị à, tui nghĩ trước sau mình cũng trả nhà cho Cha. Bây giờ con cái học ngoài Huế, tương lai chúng cũng kiếm việc làm ngoài đó. Mình thu gọn công việc lần lần là vừa.
- Chị tính ra ở mô ?
- Tháng tới tui ra tìm mua cái nhà nho nhỏ.
Nghe vậy bà Ðàm có vẻ suy nghĩ. Bà Nhiêu hiểu điều đó, bà nói :
- Mua được nhà, chị cứ ở với tui, xưa sao giờ vậy. Nhưng tui hỏi thăm Huế có trại di cư ở Bãi Dâu, mỗi gia đình được cấp một căn nhà.
- Như tui xin được không ?
- Ðược chớ, lúc đó mình nhờ Cha cho cái giấy giới thiệu. Ðể nói mấy đứa nó ngoài đó hỏi cách thức, xin được cứ xin. À cháu Thảo dặn mình đừng cho thằng Nam biết chuyện nó bên Sơn Chà. Chị cẩn thận, lỡ ra làm cháu nó buồn. Ðể rồi tôi cũng dặn mấy đứa nhỏ.
Bà Ðàm cảm động về sự chu đáo của mẹ Nam. Biết rằng chuyện không có gì nhưng giữ kín vẫn hơn. Cũng vì chuyện đó mà bà Ðàm muốn đi khỏi nơi này càng sớm càng tốt. Chuyện tương lai của con chưa biết sao, trước mắt bà rất bằng lòng gia đình Nam, nghèo mà biết ăn ở, bà thầm mong hai đứa nên vợ nên chồng.
Cặp heo mới thả ngày nào nay đã lớn có đến tạ là ít. Bà Nhiêu định tháng sau kêu người tới cân. Rượu nấu rút lại còn một nửa. Bà muốn dành thì giờ chăm sóc các con. Thằng bé út vẫn chưa được mạnh. Gái lớn của bà, hè sang năm lên trung học, rồi đây sẽ phải lo nhiều thứ cho chúng. Ăn mặc sách vở, nhưng trước tiên là cái nhà. Có an cư mới lạc nghiệp. Nghĩ đến con cái, mỗi nơi một nhúm bà không yên tâm. Nhưng trong hoàn cảnh này làm sao gom lại được. Sáng nay hai bà lui cui sau vườn thì Thúy Anh đến. Mấy đứa nhỏ mừng reo lên:
- Chị Anh, mời chị vô chơi.
Thúy Anh đưa mắt đảo một vòng hỏi :
- Có bác ở nhà không em .
- Dạ có, Mẹ em sau vườn.
- Chị muốn hỏi thăm chị Thảo.
- Chị đi với em, Lan nhanh nhẩu dẫn Thúy Anh ra gặp Mẹ.
- Dạ cháu chào hai bác.
- Thúy Anh đó hả, bác lỡ tay một chút.
- Dạ bác cứ làm việc, nghe bác về, cháu hỏi thăm chị Thảo anh Nam có khỏe không bác?
- Cảm ơn cháu, Nam Thảo đều mạnh giỏi, có gởi lời thăm cháu.
- Chị Thảo có nói bác biết chuyện học hành sao không?
- Thảo nói thi vô khó chớ học thì bình thường, hè này mãn khóa, Nam cũng vậy. Còn mấy tháng nữa thôi. Thảo nhắc cháu hoài, không có cháu giúp thì chắc không được việc chi.
- Có chi đâu bác, trong trường ai cũng mến chị Thảo. Không có chỉ tụi con buồn lắm. Cầu cho chị toại nguyện để đỡ cho gia đình.
Bà Ðàm vui vẻ :
- Cảm ơn con, bạn bè như con ở đời này hiếm lắm.
- Thúy Anh cười quay sang hỏi về Nam:
- Còn anh Nam sao hả bác ?
Bà Nhiêu tỏ ra rất bằng lòng về con mình :
- Nam cũng ra trường trong dịp hè này. Nam hy vọng điểm cao sẽ được chọn nơi dạy.
- Thúy Anh nói như chia xẻ niềm vui với hai bà :
- Mới đó mà nhanh ghê, anh chị sắp có nghề cả.
- Thì con cũng sắp thi Tú Tài, cô Tú nay mai chớ bộ.
Chưa biết sẽ ra sao nhưng nghe bà Nhiêu gọi mình cô Tú, Thúy Anh cũng thích. Cha mẹ Thúy Anh muốn cho con học lên nữa, ít ra cũng cử nhân, bác sĩ. Con gái mà ngưng học là chỉ đi lấy chồng.
- Thưa, chừng nào bác ra Huế lại ?
- Tháng sau bác đi.
- Nghĩ hè con cũng về Huế, lâu quá con chưa về thăm mấy bác.
Thấy có khách vào mua rượu, cô gái chào hai bà ra về. Thúy Anh chưa biết mặt Nam nhưng qua những lần Thảo tâm sự, cô cũng hình dung Nam là một người có cá tính. Thảo là người con gái rất tinh tế nhạy bén mà Nam lọt được vào mắt xanh tất phải có gì đặc biệt. Suy nghĩ lan man về người chưa quen, Thúy Anh chợt thấy mình hơi kỳ.
Mấy người khách vừa vào chẳng phải bạn hàng, một người đàn ông, hai người đàn bà, vẻ mặt hằm hằm như đi đòi nợ. Bà Nhiêu đang làm công chuyện, đứng dậy đon đả:
- Chào mấy bác...
- Bà là bà Nhiêu nấu ruợu ?
- Dạ phải, thưa có chuyện chi rứa bác ?
- Chúng tôi đến hỏi xem lâu nay bà nấu rượu có giấy phép không ?
Bà Nhiêu tái mặt, tự dưng hôm nay có người hỏi phép tắc. Hồi giờ bà đã làm nghề này nhiều nơi, không nơi nào hỏi han bắt bẻ gì cả. Bà khựng một lúc, rồi hai tay xoa xoa năn nỉ :
- Thưa mấy bác, tụi tui di cư vì phải nuôi con dại nên làm chút đỉnh sống qua ngày. May nhờ Cha cho tá túc...
- Di cư di quái gì cũng không được phép làm lậu nghe chưa ? Muốn nấu rượu phải xin ba tăng (môn bài).
- Tui xin thưa thiệt, tụi tui sắp dọn về Huế, các bác lơ cho một thời gian nữa thôi.
- Một thời gian là lâu mau ?
- Cho tui xin hai tháng.
Ba người kéo ra nói nhỏ với nhau rồi người đàn ông trở vô :
- Ðược, sau hai tháng mà bà không dẹp là chúng tôi đưa về đồn công an.
Nói xong, ba người kéo nhau đi. Bà Nhiêu ra gọi bà Ðàm vào nhà. Bà có vẻ lo lắng:
- Chừ răng chị, họ cấm mình rồi đó.
- Chắc có ai báo cáo, chị nói với họ răng ?
- Tui năn nỉ xin hai tháng rồi dẹp.
- Rứa cũng được, mình coi rồi chuyển qua nghề khác.
- Ðể coi, về Huế rồi tính. Kỳ tới chắc tui phải đi mấy ngày. Tui có dặn cháu Nam để ý tìm nhà. Chờ một hai tuần coi có tin gì không. Từ nay mình nấu ít lại và chịu khó đi bỏ mối, đừng để người ta vô ra.
Bà Ðàm lại có ý nghi ngờ :
- Hay có ai trong nhà thờ đi báo không ?
Bà Nhiêu gạt đi :
- Thôi đừng nghi bậy mang tội.
Chuyện xem ra không có gì nhưng cũng làm cho hai bà lo nghĩ. Bà Nhiêu nhân chuyện này giốc chí lo kiếm nhà. Tối đó bà biểu Lan viết thư cho Nam. Qua nội dung lá thư Lan cũng hiểu câu chuyện và đã nói với Mẹ:
- Mua được nhà rồi anh Nam có ở chung với mình không Mẹ ?
- Có chớ, mà phải chờ coi ra trường anh con được dạy mô đã. Có dạy vùng quanh Huế mới về nhà chớ xa thì chịu.
- Tụi con muốn có anh để anh dạy kèm thêm.
Lan đã mười một tuổi mà mới học lớp Nhì, lại không thuộc hạng khá
nên cũng tỏ ra biết lo.
Bà Nhiêu trấn an con :
- Thì phải rứa, có anh thì mấy con sẽ khá hơn.
Từ hôm đó bà Nhiêu lại thường xuyên bị ám ảnh một sự thay đổi. Bà tin lần này sẽ là lần cuối cùng.
Nam và Thảo lúc này lo bù đầu về bài vở để chuẩn bị thi mãn khóa. Anh chị cố có điểm cao để được ưu tiên chọn nhiệm sở. Cả hai không nói, nhưng đều mong muốn được làm việc những vùng quanh thành phố Huế. Hôm nay nhân qua bưu điện bỏ thư, Nam ghé thăm Thảo. Nam đi thình lình, có ý xem chừng Thảo có thật sự lo bài vở không, hay lại thẩn thơ mây nước. Nghĩ vậy thôi chứ Nam cũng biết Thảo không đến nỗi nào. Hiền vừa đi qua phố, Thảo đang mãi mê cắm đầu vào trang sách thì Nam tới. Thảo mừng ra mặt :
- Anh, răng không lo học mà bỏ đi rứa ?
- Anh gởi thư cho Mẹ, sẳn ghé em.
Nói xong, Nam đứng sửng nhìn Thảo, làm nàng cũng ngượng.
- Anh ngồi xuống, chi mà nhìn dữ rứa ?
Nam như vừa ra khỏi cơn mê :
- Anh không ngờ !
- Chuyện chi rứa anh, răng khi mô anh cũng có chuyện.
- Thiệt mà.
- Chuyện chi, nói nghe coi.
- Chuyện của em.
Vừa nghe câu nói của Nam, người Thảo xiêu xiêu như muốn té, mặt tái không còn chút máu, hai tay chống vào cạnh bàn. Nam cũng hoảng hốt chạy lại đỡ nàng ngồi xuống ghế.
- Trời ơi, em sao vậy. Thảo, Thảo ...
Nam tìm chai dầu Nhị Thiên Ðường trong túi rồi xoa vào hai bên thái dương cho Thảo. Nam tìm bình thủy rót một ly nước đưa Thảo :
- Em uống một tí nước nóng là khỏi ngay.
Uống một hớp Thảo từ từ hồi tĩnh. Nam bóp bóp vai Thảo nói nho nhỏ:
- Anh thấy em hay bị xỉu bất tử, mỗi lần vậy anh sợ quá. E rồi anh đau tim với em.
- Thì tại anh mà ra.
- Tại anh, anh có làm chi mô ?
- Thảo ngước nhìn Nam:
- Không làm chi mà lúc nào anh cũng có chuyện, khi thì "ly kỳ" lúc thì "không ngờ". Chuyện chi mà không ngờ ? Làm em hoảng vía hoảng hồn ?
- Thì anh định nói "Không ngờ em có đôi cánh tay đẹp quá vậy".
Thảo đập tay xuống bàn kêu :
- Trời ơi là Trời, răng mà anh ác rứa ? Ðẹp thì nói đẹp lại nói "không ngờ". Ri thì có ngày đứng tim với anh.
Nam thấy hối hận vô cùng, cúi hôn mái tóc Thảo rồi nói như năn nỉ :
- Anh xin lỗi em. Thật tình anh không bao giờ có ý làm em hoảng sợ.
- Thảo đã lấy lại sắc diện, nàng nhìn thẳng vào mắt Nam:
- Em hỏi thiệt, hồi giờ anh chưa thấy tay em hay răng ?
- Có, nhưng chưa bao giờ thấy em mặc cái áo đen để lộ cả hai cánh tay. Màu vải đen làm nổi bật làn da trắng lất phất lớp lông măng đẹp lạ lùng. Anh nghĩ ngoài em chắc không người con gái nào có đôi tay đẹp như vậy.
Thảo ngồi nghe mà ngây cả người. Sao Nam có những cảm nghĩ kỳ lạ vậy. Mà toàn là những hình ảnh bất chợt. Làm sao trách Nam. Nam nhìn bằng đôi mắt và trái tim của Nam, làm sao Thảo biết được. Thảo chỉ còn nước xin Nam:
- Anh à, từ nay em xin anh, có gì cứ nói cho em biết liền chớ cách của anh làm em hồi hộp lắm. Anh hứa đi.
- Anh hứa, nhưng Thảo à...
- Chi nữa anh ?
- Em có thấy những gì đẹp thì đều mong manh huyền ảo không ? Người ta nói nhiều đến hạnh phúc mà suốt đời đi tìm hạnh phúc vẫn không thấy hạnh phúc.
Thảo chẳng hiểu Nam muốn nói gì.
- Em thú thiệt là em không hiểu, anh học ở mô rứa.
- Học ở trường, em cũng học rồi.
Thảo mở tròn xoe mắt hỏi lại :
- Em học rồi ? Em chưa bao giờ được học những điều anh nói.
- Năm Ðệ Tứ em có học Kiều ?
- Dạ có.
- Em có thấy Kiều bao nhiêu năm chìm nổi mà cuối cùng có hạnh phúc không ?
Lại một lần nữa, Thảo thấy như hụt hẫng. Nàng ngồi lặng thinh nghĩ về những điều Nam nói. Nam hỏi :
- Thảo khỏe chưa. Mình đi một vòng được không.
Thảo vui vẻ :
- Ðúng đó anh, anh chở em đi ăn bánh bèo nghe ?
- "Hoàng Hậu" thích gì anh làm nấy.
Thảo lại đấm cho Nam mấy cái vào lưng:
- Ðằng nào anh cũng hay cả rứa.
- Em mặc áo như vậy đi nghe.
Thảo giật mình:
- May, anh không nói em quên, đi vầy người ta cười chết. Chờ em thay áo.
- Bánh bèo chỗ mô em ?
- Phía bên kia cầu Bến Ngự.
Chỡ Thảo đi được một đoạn Nam quay ra hỏi :
- Thảo muốn đi đường gần hay đường xa.
- Răng phải đi xa ?
- Ði xa cho đói ăn mới ngon.
- Anh cứ ưa "viễn vông vòng vèo".
Nam cười:
- Tại cuộc đời ngắn ngủi nên anh thích "vòng vèo" cho dài thêm.
- Nói chuyện với anh chắc em bể cái đầu quá, rõ ràng mới hứa đó chớ lâu lắc chi.
- Anh xin lỗi. Gần tới chưa, anh đói hung rồi.
- Tới rồi, anh rẽ vô nhà có cây khế.
Hai người kêu hai dĩa, rồi hai dĩa nữa. Thảo nhìn Nam cười:
- Răng bữa ni anh không ngồi nhìn em nữa, bộ anh đói dữ !
- Em nghĩ coi, chở một người thường đã mệt rồi, đằng này chở Hoàng Hậu mà lại lên cả dốc cầu Bến Ngự thì cơm đâu còn.
Thảo cười như biết mình có lỗi, nhưng cũng chống chế :
- Tự anh thích chở chớ bộ.
- Anh giỡn em, chớ được hai cánh tay em quàng qua người thì có đi cùng trái đất anh cũng chịu. Em có nghe câu Ca Dao "...Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua" không ?
Thảo nguýt Nam một cái thật dài :
- Anh ranh như tinh. Lát em đi bộ về.
- Em đi bộ anh càng mừng.
- Răng mừng ?
Thì được đi cạnh em lâu hơn, được ngắm em kỹ hơn.
- Trời ! Ðàng mô anh cũng nói xuôi cả là răng?
Nam cười có vẻ đắc thắng rồi dịu giọng :
- Em biết sao không, tại em thật thà, hiền lành nên anh chọc em cho vui.
- Chọc người ta tức mà vui hả.
- Em tức lên mới càng đẹp.
- Rứa thì từ nay em không tức chi nữa cho bỏ ghét anh.
Nam mĩm cười làm thinh. Thảo có vẻ hài lòng, vì Nam không đối đáp được. Có biết đâu Nam muốn cho Thảo thỏa mãn tự ái nên không nói đó thôi.
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Ca dao Việt Nam
Những buổi tối êm êm, nghe tiếng cầu kinh lan ra từ nhà này sang nhà khác, Mơ cũng muốn gửi gấm một chút ngưỡng vọng của mình trong lời cầu. Nhưng mà thấy các bà cầu hoài đời vẫn chưa thoát ra khỏi cảnh thiếu trước hụt sau. Cho đến hôm mẹ bảo : cuối tuần này con nghỉ học rồi đấy, Mơ như bàng hoàng vừa ra khỏi giấc mộng. Mơ cố chống chọi lại tin buồn : nhưng mà đã hết năm học đâu mẹ. Mẹ thở dài như tan loãng sang tận bên kia sông. Mắt mẹ như mọc đuôi và buồn da diết : giá còn có cách nào để con được tiếp tục học cho dến cuối năm thì nói làm gì nữa. Ðằng này... mẹ ngậm ngùi không nói nổi. Môi mẹ run lên như dòng suối lệ sắp vỡ oà ra. Mơ sợ quá, níu lấy tay mẹ, giúi đầu vào lòng mẹ. Mẹ xoa xoa tay lên tóc Mơ. Mơ hiểu lắm, việc mẹ cho Mơ nghỉ học chẳng khác nào như có con dao bén đang cứa vào ruột mẹ. Mơ thấy thương mẹ vô vàn, Mơ nói cho mẹ an tâm : vâng, con nghỉ học cũng đúng lúc rồi, thưa mẹ.
Từ hôm đó, Mơ ít còn chăm học nữa. Mơ vẫn thức dậy cho kịp sang đò, nhưng chân Mơ bước đi mà hồn Mơ vẫn lẩn quẩn đâu đâu. Những bài học nghe như tiếng thoi vỗ, nó vào bên tai này rồi trôi tuột bên tai kia. Thằng bé vẫn đôi lần trò chuyện với Mơ đã gặn hỏi mấy lần : hình như trò buồn việc gì mà ngẩn ngơ thế. Mơ đã định dấu cả nó, song nghĩ sao lai nói buột ra : mẹ tôi bảo hết tuần là tôi không còn đi học nữa. Thằng bé trợn tròn mắt lên bảo Mơ : học lơ mơ thế thì liệu làm được trò trống gì. Mơ nuốt đắng cay vào lòng, phải rồi dăm ba năm học bập bẹ thì đã đâu vào với đâu; nhưng mà học thêm nữa thì lấy gì ăn mà học. Thằng bé lại hỏi Mơ : thế nghỉ học rồi, liệu có bao giờ trò trở lại thăm trường chăng ? Mơ lắc lắc cái đầu, khó tìm ra một câu giải đáp. Ðành ấp úng : chẳng biết được nữa, song may ra cũng có lúc nào ấy chứ !
Một buổi trưa, rồi hai buổi trưa, tự dưng Mơ không còn thấy đói. Bao nhiêu cơm mẹ đơm, Mơ đều đổ ra đất cho chim. Ngồi nhìn chim bình thản mổ những hạt cơm, Mơ lầm thầm nói với nó : mày ăn đi chim nhé. Rồi từ đầu tuần sau thì mầy phải tự lo kiếm ăn lấy một mình. Tao xa trường rồi, không còn lúc nào cho mầy ăn được nữa.
Mơ cũng không còn e sợ trễ giờ vào lớp sau trưa. Mơ quên cả ngủ, chờ cho chim ăn xong bay đi, Mơ tha thẩn một mình đi về phía nhà thờ. Buổi trưa êm ả quá, cửa nhà thờ khép hờ, cha xứ chắc cũng đã an giấc ngủ. Mơ nhẹ bước vào. Ðèn tắt hết, những vệt nắng vẫn soi rõ cảnh bên trong. Mơ trông lên cây thánh giá to tướng có hình một người bị đóng đinh trên đó. Mơ nghĩ đó là Chúa của các bà vẫn cùng Mơ sáng sáng qua đò. Mơ im lặng nhìn, nhìn mãi. Ngôi nhà thờ không lớn lắm mà vẫn uy nghi. Tượng người bị đóng đinh trông rõ như người thật; đến những giọt máu nhỏ xuống từ hai bàn tay trông cũng như vẫn đang tiếp tục nhiễu xuống dưới chân. Mơ không nói được một lời nào vì biết gì đâu mà nói.
Ðang lúc còn mơ màng thì Mơ nghe có giọng nói nhỏ nhẹ phía sau lưng : con có điều gì cần cầu nguyện chăng ? Mơ ngẩng lên thấy cha xứ đang ở gần. Mơ lắc đầu : không, con chẳng cầu xin gì cả. Con vào đây xem cho biết. Cha xứ lại nói : thế con thuộc về gia đình con chiên nào. Lâu lắm cha không gặp con đi lễ. Con phải đến thăm Chúa thường để con được Chúa cứu rỗi cho con và gia đình con. Lại một lần nữa, Mơ cố thanh minh : không thưa Cha, con không phải là người có đạo. Nhà con ở bên kia sông, con sang đây đi học hằng ngày. Trưa không kịp về nên thường ghé lại xem nhà thờ chờ giờ vào học tiếp. Cha xứ hiểu ra, nhưng vẫn cố an ủi : con chưa là con dân Chúa cũng chả sao. Chúa lúc nào cũng thương yêu mọi người. Cha tin dù con không nói xin gì thì Chúa vẫn hiểu cho con mà dang tay chở che con qua bể khổ. Rồi cha lẳng lặng bỏ đi. Mơ cũng tìm ngõ ra khỏi nhà thờ.
Buổi học cuối cùng, lòng Mơ trĩu nặng như đeo đá. Lệ trong mắt lúc nào cũng như sẵn sàng đổ vung ra. Mơ nhìn thầy mấy lượt, định cất lời giã từ mà cứ đâm nghẹn. Mơ bồn chồn, Mơ ngập ngừng và thời gian như chợt ngừng lại. Tiếng trống tan học nghe dòn dã. Bọn học trò túa ra như bầy chim. Mơ ngơ ngác như người vừa đánh rơi vật quí. Mơ ngại ngần không muốn bước ra khỏi lớp, song lại sợ lỡ đò. Thành ra chân bước đi mà lòng thấy xót xa. Mơ chỉ kịp đến bên thầy nói vội : thưa thầy, con đi và chạy mất. Thằng bé vẫn chuyện trò với Mơ biết hôm nay là ngày học cuối, nên nấn ná chờ theo tiễn Mơ ra tận bến đò. Vừa đi nó vừa an ủi Mơ bằng những lời mà nó biết chắc sẽ không sao làm cho Mơ vơi đi nỗi khổ cho được. Mơ cũng ôn tồn lắng nghe để mà thấy còn có người han hỏi đến mình, chuyện vãn với mình. Thằng bé rụt rè nói : trò về nhà cho yên ắng, cầu xin trò có dịp may trở lại học tại trường.
Mơ càng trào nước mắt ra thêm vì thấy lời xin này khó quá. Giá như ai cầu mà được thì còn gì quí hoá cho bằng. Song chẳng lẽ cứ im lìm trước lời của bạn, nên Mơ cũng lí nhí đáp xuôi : cám ơn lòng tốt của trò. Mơ sẽ ghi nhớ mãi lời này trong dạ.
Sau cùng thằng bé rụt rè lấy trong cặp ra một sợi dây vải có buộc bức ảnh con con, đưa tặng Mơ mà nói : gửi trò làm kỷ niệm. Lúc nào nhớ đến trường, trò lấy ra xem cho đỡ nhớ. Mơ run run cầm lấy sợi dây, ngắm nghía bức ảnh trong đó. Mơ không biết người trong hình là ai, nhưng cũng nhận ra vẻ hiền từ của bà toát ra từ người bà và cả đứa con trên tay. Thằng bé chừng hiểu được sự ngạc nhiên của Mơ nên giảng giải : đây là mẹ con Chúa Hài Ðồng. Trò hãy giữ trong người lấy hên. Mơ nhận quà mà không đeo vào cổ vì Mơ e về mẹ nhìn thấy sẽ mắng. Cho đến khi đò đã tách bờ xa rồi mà Mơ vẫn thấy thằng bé đứng trông theo chưa chịu quay về. Mơ càng thêm day dứt trong lòng, không biết đến bao giờ mới trả hết tình cảm này cho trọn.
(còn tiếp)
Giấc ngủ anh dài tưởng thiên thu
Sóng xô vỡ xóa đêm mịt mù
Ðường về tổ ấm anh lạc bước
Chẳng gọi trăng thề đổ bến mơ...
Kim Thành
1986
Chiếc phi cơ hảng Hàng Không Pháp ngóc đầu lấy cao độ bay nhanh vào khoang trời xanh lãng đãng từng cụm mây trắng nỏn nà. Bên dưới, sông Sài Gòn loáng nắng nằm cuộn mình xa đuối từ cuối tầm mắt nhìn. Giòng sông quanh co lượn lờ giữa vùng châu thổ mang mang trời nước, mướt rượt cây xanh lối rẽ Nhà Bè, phân vân con nước Gia-Ðịnh Ðồng-Nai chẳng biết về đâu. Người thiếu phụ chừng vừa bốn mươi, có đôi mắt sáng dịu hiền, đăm chiêu nhìn thành phố quê hương xa dần rồi khuất chìm dưới trần mây trắng. Lòng người đàn bà chợt hụt hẩng nỗi đau bị rớt rụng như cánh diều đứt dây chao lượn trong gió chướng. Cảm giác lạ lẫm phụ rẫy và đang trốn chạy khiến người đàn bà chợt đưa tay lau nhanh giọt lệ vừa ứa. Bà muốn tránh người bạn đời thấy được giòng nước mắt của riêng mình.
Người đàn ông vào tuổi năm mươi, ngồi đăm chiêu nhìn xuống giòng sông đã không còn nhìn thấy. Lòng ông nhen nhúm nỗi hi vọng mơ hồ về một giòng sông mới của hai người, nơi không còn những u hoài rất cũ mà ông đã sẻ gánh chia sầu từ rất lâu với cô gái thùy mị ngày xưa ông vẫn mãi yêu thương.
Họ kết hôn chỉ chừng hơn năm nay. Suốt thời gian trước đó, hai mươi năm dài, ông chỉ là người đứng bên lề, yêu thương trong im lặng. Như gã viên bộc cần mẫn trung thành trong khu vườn cấm, ông giữ mối buồn riêng, thành khẩn đóng vai người thân thích mang an ủi vỗ về đến cho người đàn bà tiết hạnh, thủy chung.
Rất lâu, họ ngồi im lặng bên nhau. Người đàn ông khẻ vuốt lên mái tóc thuôn dài của vợ, ngón tay dừng lại bên bờ vai thon, mơn động vỗ về. Ðôi vai nàng chợt run lên cơn thổn thức. Ông xúc động nhìn đôi mắt lệ trào lần đầu tiên đã chẳng ngần ngại, chẳng quay mặt khóc thầm.
Có những giòng lệ cần được tuôn tràn cho tủi nhớ phôi pha, cho ước hẹn cũ một lần cuối trở về rồi vĩnh biệt như hạt muối rã tan theo nước cuối giòng sông hòa mình với biển. Ðừng lau khô, hảy để giòng nước mắt thương thân cuốn trôi đi cuộc đời xa cũ từ một thuở đôi mươi. Hảy theo giòng trôi cho hết những đa đoan, để bên bờ sông cũ còn lại đôi ta nghênh đón giòng nước mới đắp đổi lòng nhau. Còn lại hai con người sống sót sau cuộc tình quá lớn, nhắn nhủ thương nhau bằng mối tình có tuổi.
Hai mươi Mùa Giáng Sinh trôi qua kể từ chuyến bay định mệnh của người chồng chưa cưới. Từ đó, mỗi mùa vui giáo đường đến với nhân gian là thêm một mùa tình sầu cho riêng nàng hái trái. Nga vẫn nhớ như in ngày đầu oan nghiệt và bao năm tháng theo sau cho cây sầu trổ nhánh héo hon.
Tuần trước Giáng Sinh, Tài nhắn sẽ tìm mọi cách bay vào Sài Gòn với nàng trong đêm vui giáo đường đầu tiên sau ngày đính ước. Bản tính trầm lặng, thế mà suốt ngày hôm trước lễ, nàng không thể trấn tỉnh được nỗi vui kích động trong lòng. Người trưởng phòng ở Bộ Kinh Tế nơi Nga làm việc, ý nhị nói đùa lúc cho phép nàng về nhà sớm hơn thường ngày.
- Nay thì tôi hiểu vì sao cô Nga đính hôn với người ở xa rồi. Nhìn cô vui, lòng tôi cũng rộn theo.
Sau ngày Nga đính ước, tuy biết tình cảm của mình đã lỡ làng, người thanh niên trí thức và có gia thế ấy vẫn cư xử thân mật và rộng lượng với nàng như một người thân trong gia đình. Nga cũng hiểu tình ý của anh Thu, nhưng tình yêu thắm thiết đầu đời con gái nàng đã trao trọn cho người sĩ quan Không Quân trẻ tuổi.
Nỗi quay quắt đợi chờ như sóng lòng dâng theo thời gian chậm chạp trôi từ chiều vào tối. Tiếng chuông giáo đường ngân nga thúc dục mà Nga vẫn quẩn quanh chờ bóng dáng quen thuộc của người chồng chưa cưới. Lo lắng trách hờn len lấn với đợi chờ khiến thời gian như ngừng trôi.
Lễ Nửa Ðêm đã qua từ lâu mà nàng vẫn ngồi một mình trong bóng tối dưới mái hiên nhà. Cây trứng cá trước sân rũ lá ngủ say dưới ánh đèn phố khuya vắng lặng. Ðã bao lần họ ngồi bên nhau dưới hiên nhà, cầm tay nhau không nói vì đôi tim đang bận bịu nhịp yêu đầu. Dưới tàng cây, khoảng bóng lá rụng lổ đổ sân nhà, là nơi đôi môi nàng đón nhận hương mật ngọt đầu đời thơm ngát nụ tình. Trong bóng đêm huyền diệu, mắt anh hiền và sâu vô cùng, thật thà như hơi thở run run lời đính ước. Tình yêu tháp cánh diệu kỳ sáng màu trăng rỡ ràng và nàng đón lấy cùng người, chấp chới đôi chim liền cánh, bay qua vùng trời thanh xuân...
Nga phụng phịu suốt tuần vì chiếc ghế “độc quyền” dưới hiên nhà đã bị anh chàng bạn “vô duyên” của người anh họ xa chiếm cứ. Anh chàng từ ngoài Trung vào tạm lưu lại nhà trong mấy ngày chờ khám sức khỏe vào Không Quân. Thằng Mỹ, đứa em tọc mạch của nàng, báo cáo sơ khởi.
- Anh Tài học ngang lớp với chị đó.
- Kệ người ta.
- Anh Tài hát hay lắm.
- Kệ người ta.
- Anh Tài muốn mượn cây đàn.
- Không cho!
- Nhưng chị đã cho tui cây đàn đứt dây đó rồi. Tốn hết mấy chục thay bộ dây, chớ đâu có giỡn chơi... Ờ, mà chị Nga, anh Tài có bà con với mình không?
- Không. Chả là bạn với anh Khương, bà con của ba má ở ngoài quê Quảng Nam.
- Ủa, vậy thì ngộ quá há !? Ảnh tên là Huỳnh Ngọc Tài, còn tên chị là Huỳnh Ngọc Ngạ..Ngộ quá há!!!
- Kệ người ta... Hứ! ...Cái thằng quỷ dịch này! ...
Nga rượt em ra khỏi phòng mình trong tiếng cười vang của Mỹ.
Cái tên trùng hợp của anh chàng học trò Ðà Nẳng có đôi mắt hiền hiền làm Nga mãi suy nghĩ vẫn vơ. Buổi tối, nàng ngồi ra vẽ chăm chú học bài nhưng tai vẫn lắng nghe Tài đang chỉ cho Mỹ bài học đàn ghi-ta đầu tiên. Giọng nói chơn chất lạ tai, nàng thỉnh thoảng nghe lúc cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, giờ sao nghe cũng ...dể thương. Nga đứng nép mình sau cánh cửa, lén nhìn anh học trò ngoài Quảng sửa tay cho Mỹ đang lúng túng khảy từng nốt nhạc ...Tôi xa đô thành. Một đêm trăng mông mênh... Ðêm đã khuya. Tiếng đàn vụng về đã theo thằng Mỹ chìm trong giấc ngủ mê của đứa bé mười ba tuổi. Tiếng đàn bây giờ trầm bổng buông theo tiếng hát bài tình ca nồng ấm lòng người...
Ngày đó có em đi nhẹ vào đời
Và đem theo trăng sao đến với lời thơ nuối
Ngày đó có anh mang lại mộng ngời
Tìm trong đêm rách rưới cơn mơ nào lẻ loi... (Ngày đó chúng mình – Phạm Duy)
Ngày Tài về lại Ðà Nẳng, Nga ngồi lại chiếc ghế của mình dưới hiên nhà, bâng khuâng mở từng trang thơ Nguyên Sa, lòng vương vấn. Tài đã lén để lại quyển thơ trên bàn học nàng, mẫu giấy trắng chia hờ tập thơ làm dấu bài thơ “Nga” đã ươm má nàng hồng lên thẹn thùng lúc đọc.
Nói cho anh đi, Nga ơi...
(em làm ơn chóng chóng)
Lại bên anh đi – bằng một lối rõ thật gần
Bằng một lối gần hơn con đường cong
Bằng một lối gần hơn con đường thẳng
Bằng má hồng non, bằng mắt nhìn trinh trắng
Bằng những lời yêu mến tan trên đôi môi... (Nga - Nguyên Sa)
Nga khắc khoải chờ đợi một điều không rõ. Chỉ biết lòng cô nữ sinh Gia Long buồn vu vơ chiều tan trường đi về dưới hàng me lá đổ hay đêm thức khuya nhìn con phố vắng trước nhà, nhạt nhòa dưới ánh đèn đường đôi tình nhân chung bước dưới mưa.
Ngày nhận thư bức thư đầu tiên của chàng học trò xứ Quảng, nỗi nhớ về nàng từ một nơi xa đã làm Nga vấn vương xúc động và run sợ cùng lúc. Nàng mong thư Tài mỗi tuần mà lòng thì vẫn mãi phân vân khi đặt bút viết hồi âm. Cho đến một buổi chiều cuối tuần, trời mưa, bất chợt nghe Ngày Ðó Chúng Mình trong một chương trình nhạc yêu cầu, nàng chợt nhớ nghĩ đến người phương xa quay quắt. Nga xúc động trãi lòng mình lên trang giấy, gởi lời trao thương về người đang từng ngày trông ngóng.
Tình yêu của họ ngày càng nồng thắm qua từng tờ thư chắp tình nhau, qua bao lần tay-trong-tay lòng-bên-lòng ngây ngất hẹn hò, qua cuộc đính hôn nối đời nhau thách thức định mệnh khôn lường...
Bức điện tín từ Phi Ðoàn đã trả lời sự lo lắng của người vợ chưa cưới một cách tàn nhẩn như định mệnh khốc liệt đang trùm phủ hai người. Máy bay ngộ nạn. Phi hành đoàn mất tích. Cô gái mảnh mai khụy xuống theo lệ trào. Cả trời đất như sụp đổ quanh nàng. Vài tuần sau, bức thư Tài viết bằng mực tím trên nửa trang giấy học trò, đóng dấu bưu điện Quảng Ngãi, như chiếc phao con đã đem lại chút hi vọng cho người đắm tàu giữa đại dương. Nga sống với lòng vọng tưởng Tài đang bị cầm giữ đâu đó miệt núi rừng Quảng Ngãi và một ngày trong tương lai chàng sẽ trở về với nàng cùng sống cho hết trăm năm.
Chuyến trở về quê chồng, quê cha, không áo dài khăn cưới như nàng vẫn ước mơ. Nàng về thăm gia đình chồng vẫn đang chạy vạy tìm kiếm tung tích con trong cấp bách cuống cuồng. Nhìn gối chăn ngay ngắn trên chiếc giường của người chồng chưa cưới và tấm hình hai đứa rạng rỡ tươi cười ngày đính hôn, nước mắt nàng lại trào ra. Trên đường từ Ðà Nẳng về lại Sài Gòn, Nga ghé vùng duyên hải Sa Huỳnh, tìm đến bãi dương, nơi chiếc máy bay bị ngộ nạn. Nhìn cánh rừng dương xa xanh ngút mắt rũ đầu phiền muộn trong gió chiều, nàng mường tượng người yêu đang bị tù đày ở một nơi nào đó chỉ cách chổ nàng đang đứng vài mươi cây số mà sao như ở một thế giới khác mù tăm. Xa tít bên ngoài độn cát trắng chạy dài, biển và trời vẫn ngát một màu xanh vĩnh cửu. Từng con sóng bạc đầu xô nhau vào bờ rồi bọt bèo mất biệt. Biết về đâu hởi con sóng chìm sâu. Lòng nàng thổn thức theo từng bước chân thất lạc trên cát rã rời.
Tháng đổ vào năm, mòn mỏi từng mùa mưa nắng. Một năm. Ba năm... Người yêu vẫn biệt tăm, không một dấu vết, tin tức. Nga sống trong khép kín đợi chờ. Có lẽ hàng năm khi mùa Giáng Sinh về, kỷ niệm tình yêu cũng theo về, son điểm lại ước nguyền trong tâm hồn nàng. Năm bảy ba trôi qua cuốn theo hi vọng mới về những lần trao đổi tù binh. Rồi năm bảy lăm choàng đến mang theo vận nước điêu linh. Cuộc biển dâu cuốn xoáy tất cả, chẳng chừa một ai, kể cả niềm hi vọng ích kỷ cuối cùng của người đàn bà chờ người yêu từ gần mười năm qua. Cho dù tàn tạ lầm than, cuối cùng rồi người yêu của nàng cũng sẽ trở về từ một xó rừng góc núi nào đó. Và nàng đã thất vọng đớn đau...
Bị mất việc làm, Nga rời gia đình, mở tiệm may nhỏ sống qua ngày ở một vùng ngoại ô Sài Gòn. Năm tháng thấm thoát trôi qua trong tần tảo cơ hàn, chồng chất thêm gần hai mươi tuổi đời lên vai cô gái đôi mươi mảnh mai thuở nào. Anh Thu, người trưởng phòng của thời làm việc trước bảy lăm, từ bao năm qua vẫn là người bạn tốt của nàng. Anh thủy chung với mối tình thầm lặng của mình như Nga vẫn âm thầm đợi chờ một ngày trở về không bao giờ đến của Tài. Thượng đế đã không nỡ để những con người chung thủy trong tình yêu phải mãi sống xa nhau...
*
Người đàn bà tìm xiết tay chồng trên vai mình, mỉm cười nhìn người đàn ông, đôi mắt nàng còn vướng lệ.
- Không biết mình có thu xếp kịp để đến Paris vào dịp Giáng Sinh ? Em muốn được đứng nhìn tháp Eiffel vào dịp Lễ Nửa Ðêm.
Người đàn ông gật đầu, miệng nở nụ cười tươi nhất đời mình.
- Em có biết Nguyên Sa có những bài thơ về Paris rất hay không? Ngay trong bài “Nga” ông cũng có một lần nhắc đến Paris.
Người đàn bà gật đầu.
- Em đố anh Paris có bao nhiêu đèn xanh đèn đỏ
Người đàn ông đọc tiếp câu thơ,
- Và anh đố em: Em có nhớ
Mỗi ngày bao nhiêu lần anh hôn em?... rồi hôn lên môi Nga đắm đuối.
Mùa Giáng Sinh 2003
10/01
Trời đã chuyển sang màu xâm xẩm, tôi vội vã đến bến xe buýt để lấy chuyến xe lúc 5 giờ về nhà. Bước lên xe, trước tôi là bà già người da đen chừng bảy mươi tuổi, dáng người gầy, mặc chiếc áo măng- tô màu tím than, bà ta đếm tiền để trả vé xe buýt nhưng thiếu 50 xu. Người tài xế yêu cầu bà bước xuống xe vì không trả đủ tiền, nhưng bà vẫn năn nỉ xin cho bà đi, người tài xế lắc đầu nhất định không chịu. Tôi vội móc túi lấy 50 xu đưa ông tài xế. Ông tài xế lúc ấy mới đưa cái ticket xe buýt cho bà. Bà bước lên xe, quay lại cám ơn tôi, tôi cười chào bà với nụ cười xã giao. Ngồi vào ghế, bà nói cảm ơn tôi nữa, tôi nói ( bằng tiếng Pháp với bà) chẳng đáng chi chuyện nhỏ thôi .
Lúc xuống xe, bà già xuống với tôi một lượt, tôi thấy bà cũng đi vào con đường dẫn đến nhà tôi. Tôi đi nghe tiếng bà phía sau :« Nhà cô ở trên con đường Westermeyer ? » Tôi trả lời và bước đi không ngoái cổ nhìn lại : « Vâng, nhà tôi ở trên con đuờng này. Aurevoir madame…» Bà nói vói theo : « Số mấy ? » Tôi nói : « Hai mươi mốt ».
Một tuần sau, đang nằm coi tivi thì có tiếng bấm chuông. Mở cửa, thấy bà già da đen đi cùng chuyến xe buýt với tôi hôm nọ đang đứng trước cửa. Ngạc nhiên tôi chào bà rồi hỏi tìm tôi có chuyện gì không ? Bà mỉm cười cặp môi hơi dày so với khuôn mặt, tôi thấy hàm răng trên bên trái của bà mất đi hai cái. Bà nói : « Hôm đó nếu không nhờ cô, già phải lội bộ về thì khổ lắm ! » .
Bà già này lộn xộn quá, chỉ có 50 xu mà cứ làm « phiền » tôi ! Tôi nói : « Bà cảm ơn hoài làm tôi ngại lắm ! » Bà ta nói : « Té ra là người cùng xóm cả, cô dễ thương lắm ! Hôm nay già đến đây nhờ cô nhận giùm cái này » Nói rồi bà lôi trong bóp một cái hộp đưa tôi. Tôi…ngại quá không dám nhận, thời buổi này…nguy hiểm lắm ! không biết cái thứ gì trong hộp…Bà nói : « Có mấy cây viết thôi mà…» Tôi mời bà vào nhà, bụng thì nghĩ : Chỉ vì 50 xu giúp bà mà hôm nay, bà tìm đến cho cái hộp này. Ðầu óc tăm tối của tôi nghĩ lung tung, chỉ có mấy cây bút thôi thì mình nhận cũng đuợc, nhưng phải mở ra ngay. Tôi mở tờ giấy ngoài, cái hộp màu đỏ hiện ra có chữ mạ vàng hiệu Dupont Paris, bên trong có ba cây viết bằng bạc. Tôi chỉ biết nói : « Bà làm tôi ngại quá ! » Bà nói nếu tôi không nhận thì bà cũngbuồn lắm ! .
Sau một hồi nói chuyện với bà Pecheur, trước khi ra về bà cho tôi địa chỉ nhà bà chỉ cách nhà tôi đi bộ mất 15 phút. Bà ra về, tôi mở tung cửa để bay ra hết cái mùi hôi khen khét trên người bà còn để lại. Không biết bà ăn gì mà cái mùi khai đó cứ bám theo hoài không hết với thời gian. Tôi nhận thấy bà Pecheur còn vẻ nhanh nhẹn, nụ cười nói lên được sự dễ chịu, không thấy có điều gì ưu tư trong cuộc sống, và còn nét tinh anh trong đôi mắt, cho tôi một cảm giác rất gần gũi quí mến. Nhưng cái mùi khai khai trên da bà làm tôi không thể chịu được .
Thỉnh thoảng bà Pecheur hay điện thoại thăm tôi, còn tôi có nhiều chuyện làm nên ít khi phôn thăm bà. Tính ra từ ngày tôi quen với bà Pecheur được đã 6 tháng nay. Thời gian qua đã tô đậm thêm tình cảm của tôi với bà Pecheur đã dành cho nhau, có dịp cho tôi suy nghĩ những gì giữa tôi với người hàng xóm khác màu da. Bà đến nhà tôi mỗi tuần. Mỗi khi đến là bà đi xuống bếp, thấy ly chén tôi chưa rửa là bà rửa. Bà coi như nhà tôi như nhà bà, dọn dẹp, hút bụi lau chùi nhà cửa v.v…Tôi không muốn để bà làm những chuyện lặt vặt này, nhưng bà nhất định rờ mó vào viện cớ là ở không buồn lắm ! Tôi nói bà buồn thì tôi mở phim tình cảm để bà coi, bà nói từ từ bà coi. Không biết tôi có duyên nợ gì với bà mà bà quí tôi quá vậy ! Bà nói bà có đứa con gái có chồng xa, mỗi năm có dịp về Paris mới tới thăm bà. Còn bà thì thích ở Paris nên không chịu về tỉnh ở với con gái vì ở một mình quen rồi. Thỉnh thoảng tôi nghe bà hát nho nhỏ dưới bếp, những lúc như vậy tôi ngưng việc im lặng lắng nghe. Tiếng hát bà tròn ấm, chắc, rõ. Chúa ơi ! rõ ràng bà Pecheur đang ca bài nhạc Summertime. Bài nhạc này không biết kiếp nào tôi mới hát được theo điệu Blue tôi phục bà giàsát đất ! Ðúng là nòi giống …da đen có máu nghệ sĩ cùng mình, nhất định tôi phải hỏi bà về chuyện ca hát này mới được.
Những bữa cơm giữa tôi với bà Pecheur rất đạm bạc, giản dị vì làm nhanh ít tốn thời giờ, nhưng rất gần gũi khẫu vị bà Pecheur, nên bà không bao giờ quên. Thường thường chỉ vỏn vẹn cá mặn, thịt kho, rau muống luột, hay cà tím nướng, có khi thịt nướng, cãi xào, canh chua, thịt luộc chấm mắm nêm…
Từ ngày quen với bà Pecheur, tôi chưa từng đến nhà bà lần nào, năm lần bảy lượt bà mời tôi ăn cơm, nhưng tôi cứ hẹn lần sau, và cứ thế lần sau nữa, bởi vì tôi còn dị ứng cái mùi da khen khét của bà, mỗi khi ngồi đối diện. Rốt cuộc rồi bà Pecheur cũng đã thắng tôi, tôi hết hẹn được lần sau vì chủ nhật sắp tới là ngày sinh nhật bảy mươi tuổi của bà.
Trưa chủ nhật tôi ôm bó hoa tìm đến địa chỉ bà. Tôi đến, bà vui mừng, cái mừng của bà làm tôi cảm động quá ! Sinh nhật bà tôi đến là dĩ nhiên rồi, vì có quen biết có thân tình qua lại với nhau, có chi lạ mà bà rối rít lên thế !
Tôi vào phòng khách, nhà bà cũng nhỏ xíu như nhà tôi, nhưng mà sao sách vở lung tung thế này ? Ðồ đạc lộn xộn, áo quần bừa bãi trên ghế ! Tại sao đến nhà tôi bà siêng năng ! còn nhà bà thì bề bộn lộn xộn vậy ? Thấy tôi ngạc nhiên bà nói bà bị máu cao chóng mặt nên phải vào nhà thương cả tuần nay, mới từ bệnh viện về nhà chiều hôm qua bà còn mệt nên chưa dọn dẹp. Hôm nay biết tôi đến, bà phải ra ngoài mua ít trái cây và cái bánh vừa mới về. Nghe bà nói tôi rất hối hận vì sự vô tình của mình, cả tuần nay không phôn thăm hỏi bà. Tôi giúp bà dọn dẹp phòng khách lại cho ngăn nắp. Tôi sợ bà mệt bảo bà cứ nằm nghỉ đi, bà nói mệt tí thôi không sao đâu !
Sau buổi cơm trưa, tôi mau mau chào bà ra về, cũng vì cái mùi khét quái ác trong người bà, làm lòng tôi đanh đá với bà không chịu được. Bà Pecheur bảo tôi thong thả ngồi nán lại uống cà phê với bà. Bà đưa tôi hộp kẹo có mùi bạc hà bảo tôi ăn cho thơm miệng. Tôi lấy một viên kẹo màu hồng gấc có màu chín đỏ, mút lấy như con mèo liếm tìm vị ngọt đang thấm dần vào đầu lưỡi. Ngồi nhìn bà Pecheur đi pha cà phê, tôi thấy bà nhân hậu, còn tôi thì lúc nào cũng trầm tư, đo đếm. Bà Pecheur bỏm bẻm nhai bánh vừa pha cà phê nói :
« Cưng là đứa đa cảm.. »
Tôi nhún vai táy máy hỏi :
« Bà biết coi tướng hả ? »
« Cái mặt của cưng có lúc tàn nhẫn cũng …đểu lắm ! »
Tôi nổi quạu :
« Ngưng ngay bà già … dở hơi »
Và tôi vùng vằng đòi về, bà già cười khụt khịt giữ tôi lại :
« Bộ mặt ngu ngơ dễ thương của cưng, chắc lừa được khối thằng… »
Ui, tôi tưởng đâu bà tử tế hoá ra bà già có ý nghĩ tối đen. Tôi tức nói không được, nước mắt « mít ướt » nhoè ra hai hột từ khoé mắt. Bà Pecheur cười dịu dàng :
« Ðừng giận, già thương cưng lắm !»
Tôi nói vu vơ : « Bàø thương tôi … »
« Bộ không lẽ chỉ có đàn ông nó thương cưng ? »
Tôi gọn lỏn : « Ðúng »
« Cưng ngu quá ! »
Tôi nhìn tận đâu đâu. Bà Pecheur nhẹ nhàng vuốt tóc tôi :
« Mắt cũng lẳng lơ ra phết, đàn bà mắt như thế là khổ một đời ! »
Tôi ngước nhìn bà với gương mặt hoang vu : « Tại sao ? »
Mắt bà như ánh pha lê trên tường. Bà nhếch mép :
« Mắt… đĩ, nhìn ai nhìn lặng phắc mà như biển thì thầm, như gió lao xao, nói mà như không nói, nhưng lên đến tận cùng của nhịp thở, khi đã tin đã yêu rồi lao vào như con thiêu thân » .
Tôi cúi gầm mặt, thấy như nửa tối nửa sáng, ánh mặt trời vừa lướt qua bên cửa:
« Tại trong người có con ma ái tình xâm nhập, nên tôi nghĩ tình yêu nó hạnh phúc nó thiêng liêng … »
Ðôi mắt bà Pecheur lấp lánh sáng lên như trong bóng đêm. Bà gằn từng tiếng âm vang như pháo nổ :
« Ðiên à…đã bị lừa chưa, mấy lần rồi ? »
Mặt tôi nghệt ra líu ríu:
« Tình yêu mà ai lừa ai ! »
« Gìa hỏi đã bị lừa bao nhiêu lần rồi ? »
« Rồi, ba lần … »
Bà Pecheur nhìn tôi lắc đầu, mái tóc quăn tít của bà có những chùm tóc trắng bung ra .
« Biết ngay mà…lần sau nhớ đừng để lưỡi, môi họ chạm vào miệng mình, có tí nước miếng vào là đâm ra ngớ ngẩn u mê …»
Tự nhiên tôi rùng mình, đưa tay rờ lên làn môi bởi một cảm giác mơ hồ lướt qua, như ai đặt lên môi mình chiếc hôn vô hình. Tôi cảm thấy căm ghét người đàn bà da đen này, nhưng kính phục, yêu mến và tôi hình dung ra rằng đàn ông là một cái gì đó như bí mật, lố bịch, lừa dối …Bà Pecheur giục :
« Thôi, uống cà phê đi »
Tôi hỏi lại bà :
« Thế còn bà đã bị lừa chưa ? »
Bà Pecheur cong cớn : « Có gạt…tiền »
Ðanh đá bất ngờ, tôi trả đũa :
« Cũng bị gạt à ! gạt tiền, gạt tình thì cũng giống nhau thôi »
« Mẹ kiếp toàn là thứ đói . Tởm lắm ! »
« Tây mà cũng lưu manh quá ! »
« Tây gì ? nó là người Việt Nam đó ! »
Tôi hơi chột dạ, tự nhiên cổ mình như bị cái gì đang chấn ngang. Chà, tôi đang lỡ trớn chưởi thằng Tây, khi nghe bà nói người lấy tiền bà là người đàn ông Việt Nam làm tôi chưng hửng. Tôi triết lý trong miệng :
« Ðó là sự sống vô hạn và hữu hạn »
Bà Pecheur nói một hơi trong tiếng nấc như xát muối :
« Cưng gàn bỏ mẹ mà thật thà như già cũng bị chúng rót mật vào tai. Già đâu còn tuổi ngốc nghếch nằm trong cái họa để mê đàn ông như cưng nữa, nhưng quả tim già thương nó như con, không nghĩ rằng nó bất lương đến thế ! Ðàn ông thanh niên gì gần năm mươi tuổi, không mướn được cái nhà để ở, cái giường để ngủ, lang bạt rày đây mai đó, ở nhờ nhà người này đến nhà người kia. Nó nói với già đang chờ ký giấy để lấy nhà, nó đưa già coi giấy tờ hẳn hoi, nên già cho nó tạm ở đây không dè nó cuỗm tiền dành dụm lâu nay của già trốn mất . Bây giờ muốn đi thăm con cháu mà cũng chẳng đủ tiền để đi . Tiên sư thằng đểu ! »
« Nó tên gì ? »
« Nghe bạn nó gọi nó là Sáu điên . »
Tiếng bà gằn trong hơi thở, mắt như nổ hoa phấn tuột từ trên cây rơi xuống một góc. Bà Pecheur ngồi im thu người lại trong cái dáng gầy gò như một khúc cây khô dài. Tôi lỡ hỏi một câu làm gợi nhớ đến chuyện buồn của bà, nên bà nói một hơi bặïm trợn trong uất ức. Gạt tiền hay gạt tình thì nỗi đau chắc cũng đều giống như nhau. Lòng tôi cũng đầy cảm xúc khi bắt được cái nhìn trên lớp da nhăn dưới, con mắt tức giận đầy khổ ải của bà.
Người đàn ông kia giấu tên thật, chỉ dùng tên xếp hạng trong gia đình để bạn bè gọi thôi, chắc tên này nóng tính vô cớ nên chúng bạn mới gọi là Sáu điên hay là Trâu điên gì đó. Nếu tên thật tôi hỏi bạn bè có thể ra, nhưng cái tên Sáu này thì tôi đành chịu, nhưng chịu khó thì sớm muộn gì cũng tìm ra thôi ! Cộng đồng người Việt ở Paris, hễ có chuyện gì thì chuyền tai nhau cũng mau lắm ! Tội nghiệp bà Pecheur sẵn trong lòng quí mến người Á châu, nên không ngần ngại cho tên Sáu điên về nhà, không ngờ bà gặp đứa bất lương, không mang ơn mà thừa lúc bà xuống bếp nó ăn cắp tiền bà bỏ chạy. Ui, tôi ngao ngán cho lòng người sao mà độc ác ! Tôi muốn chia xẻ, vỗ về, phân bua với bà điều gì đó, nhưng nghĩ hoài không biết nói câu gì. Thôi thì tôi an ủi bà một câu như bao nhiêu người khi bị mất của hay than thở :
« Thôi đừng buồn bà Pecheur ạ ! Của đi thay người. Ðàn ông thanh niên mà đi ăn cắp tiền của đàn bà thì nhục lắm ! Chắc thằng cha đó có cái tạng ăn cắp, có kinh nghiệm đi lừa đảo tình cảm người ta. Lấy cắp tiền dành dụm của bà thì cuộc đời nó cũng bầm dập không ra gì đâu ! »
Trên con đường về nhà, về lại căn nhà hai phòng trống trơn mênh mông, dưới sương chiều mùa thu buông xuống. Mặt đường bắt đầu ẩm ướt trên vĩa hè, tôi triền miên suy nghĩ vu vơ về câu chuyện, không đầu không đuôi của tôi và bà Pecheur như khung cửa lấp kín bên trong được hé ra. Có kinh nghiệm hay chưa có tuổi kinh nghiệm, khi trong lòng trỗi lên một thứ tình cảm nào đó thì khó mà đoán biết được những hậu quả về sau. Coi như tình cảm là một chuyện may rủi, may thì tốt, xui thì xấu. Tôi đâu phải tim sắt đá nên trong lòng thương cảm với bà Pecheur vô hạn .
o0o
Buổi chiều trời Paris trở lạnh, sương rơi xuống hoá thành những chấm nước. Mây trôi lơ lửng trên không trung sớm hơn mọi năm. Khu vười trụi lá bỗng bừng lên cây thông xanh tươi, treo những trái thủy tinh lơ lửng, đủ màu sắc rực rỡ lấp lánh, bên giây kim tuyến từng nhánh cây. Mùa Noel sắp đến mọi nơi bắt đầu nhộn nhịp, vọng trên trời xanh như những tiếng hát, làm cho lòng tôi háo hức cảm giác tươi xanh êm đềm. Tôi đã chuẩn bị tất cả để ăn réveillont với bà Pecheur dưới ngọn nến bên cạnh đức Chúa Trời giáng thế. Tôi sẽ kể cho bà nghe câu chuyện thời thiếu niên đầy ắp kỷ niệm ở quê tôi, chung quanh mênh mông sông nước, trong không khí trong lành màu xanh của cây, trong căn phòng sạch sẽ với chiếc chiếu hoa trải giữa nhà, có những cái chén bằng sành, đũa tre dã chiến của những đêm tối như thế. Tất cả những gì tươi mát ấm áp ấy vang động rất xa xôi, từ trong tâm tưởng đang rung rinh theo thời gian. Tôi sẽ giải thích cho bà Pecheur nghe chất lãng mạn huyền ảo, sáng đấy rồi tối đấy của ánh Trăng. Trăng là Nguyệt, Nguyệt là Trăng tượng trưng vào chuyện tình, làm điểm tựa thơ mộng cho tâm hồn đôi lứa. Tôi sẽ ngâm thơ cho bà nghe về hình ảnh người « mẹ già như chuối ba hương – Như xôi nếp một, như đường mía trong » vẫn thường hiện về đậm nét, dường như đứa con mãi mãi là đứa con khờ dại hôm nào dẫu có lớn khôn. Cuối cùng tôi sẽ kể vị Thần Tình Aùi bí hiểm, ích kỷ, keo kiệt, ghen ghét trong bản đồ tình yêu tôi, nhiều lần đứt đoạn, nhiều lần sụp xuống hụt hẫng, suốt chặng đường nay xếp lại khi « Giật mình, mình lại thương mình xót xa » Ðêm réveillont tôi sẽ đãi bà Pecheur món cơm rang thập cẩm đặc biệt và những món thuần tuý như chả cá, gà xào gừng , canh cá, bánh ít, bánh nậm …
Mấy hôm sau.
Một ngày mưa vô cùng giá lạnh, tôi cảm thấy khó chịu trong người, mặt bừng bừng nóng vì máu dồn lên, trong người lạnh buốt, tôi nằm co ro trong hai cái mền mà còn run bần bật. Tôi cuống cuồng cảm giác như nằm trên đống nước đá lạnh. Ðầu tôi như cơn lốc xoáy. Trời ơi ! sao mệt quá thế này ? Người tôi bây giờ hết lạnh, lại nóng ran như bếp lửa, mồ hôi chảy dọc sống lưng. Tôi thấy quanh tôi im lặng quá! Tôi bỗng nghĩ đến bà Pecheur, muốn gọi điện thoại cho bà nói tôi đang bị cảm, nhưng nghĩ sao tôi lại thôi. Trời chạng vạng tối, tôi nằm im duỗi dài người trên giường như mê đi. Trong mê tôi đang chạy lạng quạng trong rừng tăm tối bị những cây gai đâm vào bàn chân đau buốt. Tôi thấy xa xa bà Pecheur đi phía trước, trong tay cầm cây đuốc bập bùng, mừng quá tôi gọi bà, bà quay lại mặt cau có đầy căng thẳng, miệng thì lẩm bẩm điều gì đó, rồi tiếp tục lầm lũi bước đi. Tôi bỗng nhớ lại những ngày kỷ niệm trong căn nhà đơn sơ của tôi nhưng đầy tình thương của bà. Càng ngày tôi gần gũi bà, bà càng chăm sóc tôi chia sẻ nhiều hơn. Chúng tôi sưởi ấm cùng nhau bằng thứ tình xa quê biệt xứ. Với tôi, người đàn bà có màu da đen khét mộc mạc này, đã nói với tôi những điều thầm kín sâu sắc, sự chia sẻ, tình thương, và sự vươn lên trong cuộc sống. Trong giấc mơ tôi chạy loạng quạng theo sau bà, rồi vấp ngã trên đống lá khô bẩn thỉu, bên tai tôi nghe văng vẳng âm thanh như tiếng chuông, ré lên giữa màn đêm dày đặc rừng cây kêu lên kèn kẹt. Giật mình thức dậy tôi nhìn đồng hồ đã 11 giờ khuya. Tôi bật dậy lấy vội thuốc uống và nằm …thở. Trong thời gian và cả không gian này, tôi nhớ lại giấc mơ với ký ức rời rạc, khi gặp bà Pecheur đã lạnh lùng với tôi. Tôi với bà còn vui vẻ nói chuyện hôm kia đây mà…Mệt quá tôi lại thiếp đi .
Mười giờ sáng hôm sau thức giấc, tôi cảm thấy trong người không còn mệt nữa, cũng may nhờ ngủ một giấc dài nên lấy lại sức. Người mà tôi nhớ ngay sáng hôm nay là bà Pecheur, định bụng uống ly sữa xong tôi sẽ đi thăm bà Pecheur. Ðang xỏ hai bàn chân vào đôi giày để đến bà Pecheur thì có tiếng bấm chuông. Tôi ra mở cửa thì ra bà Pecheur đến thăm tôi. Vẫn chiếc áo măng-tô tím than, những gì của thanh âm cũ. Thấy bà, tôi mừng rỡ như đứa trẻ vừa trông mẹ đi chợ về. Bà ôm tôi, tôi nằm trong vòng tay âu yếm, thương yêu của bà thật lâu, điều này thì tôi không nhớ rõ, tôi đến ôm bà hay bà đến ôm tôi trước. Lần đầu tiên tôi ngã đầu tôi lên vai bà thật lâu. Lần này mũi tôi dính sát vào cổ bà, nhưng tôi không còn cái cảm giác, mùi da ngái ngái, khen khét của bà nữa mà là mùi cà phê đen dìu dịu nóng hổi.
Ngoài trời cơn gió nhẹ mùa đông thổi đến, làm những chiếc lá trên cây sapin ở cuối phố bay phất phơ rơi xuống mặt đường …
bichxuanparis@yahoo.com
Web : http://bichxuanparis.free.fr
11-2003
Ðà Lạt tôi đó. Ðà Lạt của niềm nhớ vô vàn, của sương mù bên thung lũng hoàng hôn, có suối thác Cam Ly và nàng Liên Khương tỉnh nhỏ. Nhớ chiều nào, đứng bên bờ hồ nhìn sóng nước mênh mang đó, nhìn lại đời mình muôn ngàn kỷ niệm ấu thơ. Tôi ao ước được làm cánh chim bay trở lại trên phố chiều, làm ngọn sóng phiêu dạt đường về có anh đưa đón và em đợi chờ như một thuở nàng Gou-gah mắt vương sầu thương nhớ.
Ðà Lạt hôm qua, Ðà Lạt chiều nay, Ðà Lạt vẫn còn trong mộng mơ muôn thuở, của nhạc sĩ Khanh Phương, đang tìm về phố cũ bên đồi thông, với nắng chao niềm nhớ, với xôn xao bình minh, với hoa đào và em dịu ướm tóc mềm, trong nhạc phẩm "Ðà Lạt Mộng Mơ".
- Ðà Lạt Mộng Mơ
(nhạc và lời Khanh Phương, tiếng hát Nhã Phương, Quốc Dũng hòa âm)
http://honque.com/truongdinh/dalatmongmo.mp3
Tôi yêu quá Ðà Lạt tôi ơi. Những ru êm nắng vàng và đôi mắt em mơ màng, với sương mù trên vai, với thác trắng Cam Ly, mình nói chuyện chúng mình trọn cả buổi chiều, của thuở ngây ngơ học trò có anh ước muốn làm thơ, chỉ để tặng riêng em. Và có em, bẽn lẽn và thướt tha, với chiếc lá thuộc bài ép kín, có bài thơ anh gởi tặng em cất dấu nơi cuối trang. Ðà Lạt tôi yêu, Ðà Lạt có người em gái nhỏ, Ðà Lạt đẹp như vầng mây chiều nào có em tóc xõa từng sợi tơ huyền, đẹp như thi tuyển Tình Thơ Áo Trắng, của nhà thơ Nguyễn Thanh Trúc, một lần tự bạch khi lời huyền thoại đã đi vào hạ, của chuyện một hôm hai đứa ngồi oẳn tù tì, của phượng đỏ rưng rức, của gió mềm và nắng mỏng bên sân trường:
"lá thư tình tuổi mộng,
ôm trang sách thuộc bài,
đêm về thơm chăn gối,
mộng đẹp tình trao ai" (1)
Thật đẹp mộng mơ Ðà Lạt tôi đó, có hồi chuông giáo đường thúc gọi, mang tâm tư về đan kết sông hồ. Giòng thác Cam Ly đó ta vẫn mãi còn du dương cơn mộng, mãi còn đợi chờ ngày mai em về nhé. Bốn câu thơ rất đẹp gởi người trong sương, của nhà thơ Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm, trong thi tập Một Thoáng Kỷ Niệm, đã gợi nhớ nhiều về tuổi bé bỏng đôi mươi:
"về nhé em ngày ấy đôi mươi
áo đôi ta chiều bay lộng gió
có tóc em buông dài nỗi nhớ
để bồi hồi từng nhịp chân xa" (2)
... Cái về từ thuở ấy, cái về của loài chim làm tổ, sánh lên chút u hoài, từ những vần thơ của thi sĩ Phạm Ngọc, từ cánh chiều rơi và còn rơi mãi, trong thi phẩm Khoảng Cách Không Màu, nhìn từ một phía không em, là những tiếng thở dài của gió, của miền tâm tư còn xanh vời vợi giữa mùa xuân quê nhà:
"từ buổi ấy ta về theo trăng vỡ
đêm hẹn thề hôn phối với cô đơn
từ buổi ấy ta loài chim làm tổ
trên đỉnh trời ngồi đợi những hoàng hôn" (3)
Ðà Lạt, ta, em, và tháng giêng, với từng lá cỏ xanh đang nẩy chồi. Nhớ con chim buồn cất cao lời ru cổ tích, của thi sĩ Phạm Chung, với đôi bài thơ lạ như mây trắng phù du, từ cuối chân trời xa ở một nơi rất quen, với ta mãi còn tìm em bên khung cửa tình yêu và ánh mắt hẹn lời:
"và em mở cửa đời ta ngọt
chia góp riêng nhau một chút buồn
chút vui lặng lẽ đời qua khuất
vừa đủ nhau che hạnh phúc cùng" (4)
Cái hạnh phúc ngọt ngào ru êm làm sướt mướt cánh hoa Anh Ðào, xuyến xao đồi thông và sóng triều Than Thở, qua từng lời ca duyên ước trong Ðà Lạt Em Yêu và Ðà Lạt Tình Thơ, của nhạc sĩ Lâm Hoàng. Trong cái nhạt nhòa âu yếm đó, chiếc bóng cỏ hoang ẩn hiện, trong tuyển tập thơ Cung Ngữ, là chuyến đò gió cát trở về miền ký ức đêm qua, của nhà thơ Vương Huyền mình ta tìm quanh lối cũ, để hỏi em có phải là tiềm thức, quay lại nhìn ướt thấm đôi môi: "mắt nhòa em ngước nhìn thơ giữa trời" (5).
Ðà Lạt yêu thương, bất tận em về từ cõi nhớ xa xăm, nhớ như nhà thơ Phan Xuân Sinh nhớ Huế, từng dặm về sớm chiều lặn lội với tâm tư, trong thi phẩm Ðứng Dưới Trời Ðổ Nát, còn đó nỗi nhớ trao người, từ tiếng vạc kêu sương gọi chính mình và cơn say đầu mùa giữa đất trời vật vã:
"tiếng kêu của vạc trong sương
nghe ra như thể rưng rưng nỗi lòng" (6)
Cơn nhớ xuyến xao về quê nhà, với âm vang của ngàn lá rụng trong mưa, của gió lạnh tràn về, trong Ðêm Ðông Lạnh Trời Mưa Xuống, của nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, đã bao lần đưa hồn tôi về cố quận níu kéo chuỗi ngày dĩ vãng. Cái nhớ luyến thương, réo rắc lâng lâng, của mưa nhòa trên lá khuya, với nhịp ru êm dìu dặt của dương cầm lẻ loi. Cái nhớ ngậm ngùi đầy thi vị từ cơn mộng tuổi thơ đã chìm vào mưa... từ gió đông sương mù viễn xứ... về vùng trời xa xăm mãi còn in đậm bóng hình Việt Nam trong trái tim và linh hồn hôm nay...
- Ðêm Ðông Lạnh Trời Mưa Xuống
(nhạc và lời Phạm Anh Dũng, tiếng hát Thiên Phượng, Duy Cường hòa âm)
http://honque.com/truongdinh/demdonglanh.mp3
Một lần dặn dò chính mình và ngó lại đêm qua, cho một nụ cười buồn, cho cả đời ta u hoài, của ngày về nhìn mưa đổ hạt rất nhanh, nhìn giòng suy tư chảy xiết trong đêm, soi bóng mình riêng lẻ, của nhà thơ Trung Kỳ, trong thi phẩm kỷ niệm Giao Mùa:
"cho ta uống những sầu thương chất ngất
nẻo đường về riêng lẻ một mình ta" (7)
Những vần thơ đã mang đến lòng ta rộn rã, miền xuyến xao dịu dàng, cùng tiềm thức yêu nhớ, chợt đến, chợt đi, một thoáng xanh xao mỹ miều... Mong ước nào, có một cõi ta về, bước từng bước thênh thang, ngắm nhìn đất trời quê hương lần nữa. Nhìn màu đất cũ, nhìn làn mây mới, nhìn giòng sông xưa, để tự hỏi chính mình, tóc em đen sậm như màu đất, hay đã bạc trắng trời cùng với vầng mây... như lời thơ buồn của thi sĩ Tô Thùy Yên, một lần về, từng bước chân thầm lặng, ước mong đo đạt cả đất trời nhung nhớ, một thuở nhìn lại mình sau những heo hút mười năm:
"ta về như giấc mơ thần bí
tuổi nhỏ đi tìm những tối vui
trăng sáng lưu hồn ta vết phỏng
trọn đời nỗi nhớ sáng không nguôi" (8)
Ðà Lạt niềm nhớ gợn buồn sóng nhạc, với vườn hoa linh hồn muôn cánh mỏng, của nhạc sĩ Võ Tá Hân, từ nỗi chắt chiu u hoài đan tím ngát trời xưa, của suối thác Cam Ly vẫn còn chảy hoài theo bờ thương bến nhớ, của giòng Hương xưa còn êm trôi xanh bóng, của tỉnh nhỏ Liên Khương có nhịp nắng hồng tiếc nuối hoàng hôn... Chiều thơ của thuở học trò, của mộng mơ thật đẹp, của tháng ngày quê hương... vẫn mãi còn xanh mướt trên vùng trời ký ức xa xưa...
- Ðà Lạt Chiều Thơ
(nhạc Võ Tá Hân, thơ Trường Ðinh, tiếng hát Quỳnh Lan, Quang Ðạt hòa âm
http://honque.com/truongdinh/dalatchieutho.mp3
20.1.2004 uk, sương mù già
(1) thơ Nguyễn Thanh Trúc
(2) thơ Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm
(3) thơ Phạm Ngọc
(4) thơ Phạm Chung
(5) thơ Vương Huyền
(6) thơ Phan Xuân Sinh
(7) thơ Trung Kỳ
(8) thơ Tô Thùy Yên
Hình ảnh và bài:
(photo by HKL)
1.
Năm 1997, tôi về thăm bố lần thứ hai kể từ ngày di tản 75. Cụ đã gần 90, râu tóc bạc phơ, nhưng trí nhớ còn rất minh mẫn. Ngày tôi rời Hà Nội thì còn quá nhỏ để nhớ được hết những gì cần nhớ, trong trí nhớ về tuổi thơ, tôi chỉ nhớ đuợc con đuờng nhà mình đã ở, con đuờng hàng Bông Thợ Nhuộm và một vài phố loanh quanh khu vực đó, cùng ngôi trường Saint Paul, nơi tôi bị “nhốt” nội trú. Cũng tại cái tật buổi trưa lẻn nhà ra vuờn hoa Cửa Nam đánh kiếm với mấy đứa lỏi tỳ cùng phố, bắt chuớc d’Artagnan của cuốn phim Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ đang chiếu bấy giờ và bị bố bắt gặp đang đấu kiếm, thế là… cái thân nghịch ngợm đuợc gửi ngay vào nội trú để các ma sơ uốn nắn cho nên nết. Ðuợc sanh ra ở Hà Nội, nhưng tôi lại lớn lên ở miền Nam, những kỷ niệm về nơi thơ ấu còn sót lại quá mơ hồ trong tiềm thức, những khi đọc sách nói về danh lam thắng cảnh của quê cũ, tôi rất muốn có ngày đuợc tận mắt đến coi những nơi di tích sử. Nhất là sau này khi phải xa đất nuớc thân yêu cả mấy chục năm, lòng hoài hương càng mạnh mẽ hơn, niềm khao khát đuợc nhìn lại những nơi của tuổi thơ như một uớc vọng khó nén đuợc. Quốc Tử Giám là một nơi nằm trong danh sách mà nhất định với giá nào tôi cũng phải đi vãn cảnh cho đuợc. Tôi bèn hỏi bố về nơi này, vì bố đã ở HàNội từ nhỏ cho đến ngày di cư 54.
Suốt cả buổi tối, tôi đuợc bố cho biết về Quốc Tử Giám và tôi đã ghi lại được như sau:
“ Theo định nghĩa thì Quốc = Nước, Tử = Con, và Giám = Xét. Theo Hán Việt Tự Ðiển của Ðào Duy Anh thì Quốc Tử Giám là trường đại học của Triều đình lập ở kinh đô để đào tạo các nhân tài ra làm quan.
Trong Việt sử, thì từ đời nhà Lý đã có thi nho sĩ, nhưng chỉ thi Tam Trường (Cử nhân) mà thôi. Ðến đời nhà Trần, năm Nhâm thìn (1232), dưới đời Trần Thái Tông, mới mở khoa thi Thái học sinh (Tiến sĩ). Ðến khoa thi năm Ðinh vị (1247) đặt ra tam khôi, là ba tước vị đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa. Khoa này có ông Lê Văn Hưu, đỗ bảng nhãn, sau này nổi tiếng là vị sử gia đầu tiên làm ra bộ Ðại Việt sử gồm có 30 quyển, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng.
Năm Qúi sửu (1253), cuối đời Trần Thái Tông thì lập Quốc Học Viện để giảng tứ thư và ngũ kinh.
Sang đời nhà Lê, ông Lê Lợi sau khi đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cõi, lên ngôi tôn là Vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã sửa sang lại mọi việc học hành, đặt Quốc Tử Giám ở kinh đô để cho con cháu các quan viên và những người thường dân lỗi lạc vào học tập.
Sang đời Hậu Lê thì sự học hành cũng vẫn theo như đời trước, lấy Nho học làm trọng. Ở Quốc Tử Giám thì đặt thêm các Học quan. Theo quy chế thì vị Hiệu trưởng của nhà trường có tườc vị là Quốc tử Tế tửu (Vị chủ tế được dâng rượu) và vị Hiệu phó có tước vị là Quốc tử Tư nghiệp. Hai vị giảng quan, mỗi tháng một lần giảng kinh sách cho sĩ tử, gọi là tiểu tập, và ba tháng một lần có đại tập.
Tới thời nhà Nguyễn, Vua Gia Long lên ngôi năm Nhâm tuất (1802) sau khi đã thống nhấùt đất nước, nhờ võ công dựng nên cơ nghiệp, nên quan đầu triều ở kinh đô Thuận hoá là Ngũ quân Ðô thống và các quan Tổng trấn Nam và Bắc đều là võ quan. Vua Thế tổ Cao hoàng nhà Nguyễn (1802-1819) cũng biết rằng sự trị nước cần có văn quan nên rất lưu ý đến việc học hành và thi cử. Ngài đặt nhà Văn miếu ở các doanh và các trấn, thờ đức Khổng tử, để tỏ lòng trọng Nho học. Ở Kinh đô ngài thiết lập Quốc Tử Giám để dậy con các quan và các sĩ tử. Trường Ðại học quốc gia như thế chính thức rời từ Thăng Long vào Thuận Hóa.
Cuối đời nhà Nguyễn, dưới sự bảøo hộ cùa Pháp, Nho học trờ nên lỗi thời, Quốc Tử Giám không còn tồn tại. Tới vua Thành Thái, khi lên ngôi năm 1888, nhà vua tuy mới lên 10 tuổi, nhưng đã sớm nhận thấy sự áp bức của thực dân Pháp đối với Nam triều nên vẫn ủ ấp hoài bão nâng cao dân trí canh tân đất nước. Tới năm 1896, khi đủ 18 tuổi được tự quyết định việc triều chính, vua Thành Thái mời ông Ngô Ðình Khả là một nhân sĩ trí thức đã được hấp thụ xâu sắc nền Nho học Khổng Mạnh, lại từng được du học ở Tổng Chủng Viện của dòng Thừa Sai Paris ở Mã Lai, để giao phó trách nhiệm tổ chức và điều khiển một cơ sở giáo dục cấp quốc gia . Cơ sở này được gọi là Trường Quốc Học và là hậu thân của Quốc Tử Giám. Ông Ngô Ðình Khả, trong chức vụ Chưởng Giáo (Hiệu trưởng) đã thuyết phục được chính quyền bảo hộ cho trường được giảng dậy cà hai nền văn hoá Ðông và Tây với ba ngôn ngữ: Quốc văn, Hán văn và Pháp văn. Suốt gần 80 năm tồn tại (1896-1975) trường Quốc Học ở Huế đã cung cấp cho đất nước rất nhiêu nhân tài ở mọi ngành.“
Bố cũng nói đó là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Chúng tôi mời bố một chuyến ra Bắc thăm lại những ngôi nhà ngày xưa mà bố đã một đời tạo dựng. Nhưng bố từ chối vì tuổi đã cao đi lại sẽ bất tiện. Tôi đoán đó là một lý do chínhï, còn lý do phụ có lẽ bố không muốn nhìn thấy bao công trình đã mồ hôi nước mắt mới xây đuợc mấy dãy nhà , nhưng sau 1954, bị chính phủ trưng dụng hết , gia đình người chị cả của tôi ở lại với chồng con, chỉ đuợc họ cho giữ nửa căn nhà nhỏ nhất. Chị tôi cũng đã qua đời cả chục năm rồi. Về thăm lại chỉ thêm đau lòng.
&&&&&&&&&&&&&
2.
Ba tuần ở HàNội, thời khoá biểu đuợc sắp xếp thật kỹ, ngày nào đi đâu, làm gì, v...v... vốn gốc nhà binh cũ nên “anh chàng cũa tôi” tính tọa độ, mục tiêu đâu ra đấy. Không bạ đâu xâu đó như cá tính lè phè nghệ sĩ của tôi. Anh chàng còn đe: “ Em muốn đi coi làng Bát Tràng, đi Vịnh Hạ Long, đi Ðồ Sơn, v...v... nơi nào cũng muốn đi chơi, mà không theo đúng lịch trình đã sắp xếp, là tôi cho ở nhà, sáng phải lo dậy sớm đi đó…”
Tại Hà Nội chúng tôi đuợc vợ chồng người em họ của anh chàng làm hướøng dẫn viên. Chị Tuyên tạm đóng cưả tiệm thuốc Tây khi nào cần đi cùng với chúng tôi. Anh Tuyên là bác sĩ, và về hưu đã ba năm, rất rảnh rang, nên lúc nào anh cũng có thể làm hướng dẫn viên đuợc, vả lại đi chơi chỗ này chỗ kia cho khuây khoả. Buổi đi coi danh lam Quốc Tử Giám đuợc dụ trù vào sáng sớm, buổi chiều sẽ đi lễ chùa Trấn Quốc và đền Quan Thánh, nơi tôi vẫn muốn được nhìn lại ngôi tượng đức Thánh bằng đồng đen, tượng ngồi và to cao đến trầân nhà. Trong ánh sáng tối mờ mờ của gian thờ, pho tượng coi rất oai phong và đáng sợ, khiến ngày nhỏ tôi cứ lấm lét nhìn vì nghe người lớn dọa là nếu hư, hay vòi vĩnh và hay ngủ nhè chè thiu là đức Thánh cũng biết hết…v..v... Chú tôi cũng từng bế tôi lên để sờ vào bàn chân đồng lạnh ngắt của đức Thánh và hứa là sẽ ngoan ngoãn.
3.
Chị Tuyên đề nghị để thay đổi khẩu vị ăn sáng và cũng nhân tiện giới thiệu với chúng tôi tiệm phở ga,ø mà chị khen là ngon nhất khu vực này, tiệm ngay đầu con đường Nguyễn Ðình Chiểu, nơi có khách sạn chúng tôi thuê. Vừa buớc vào tiệm, điều đập vào mắt tôi ngay là xuơng gà nhả la liệt duới đất, gần các bàn ăn. Chủ tiệm lại không sai người quyét dọn khi thấy các lớp khách mới vào, có lẽ họ muốn để như thế để chứng minh là tiệm đã đông khách ăn từ sáng đến giờ. Hình như điều vứt xuơng duới đất là chuyện bình thuờng ở nơi đây, nên tôi không thấy anh chị Tuyên than gì khi nhìn thấy vậy. Tôi tự hỏi không hiểu đến bao giờ họ mới dọn sạch lũ xuơng đó trong ngày? Tôi mỉm cuời khi nghĩ nếu mình mà đi ăn phở chiều, chắc là ngồi ăn có đống xuơng bên cạnh làm bạn !
Các bàn ghế trong tiệm thấp lè tè, kiểu như các dãy bàn bán hàng quà ăn ngoài chợ. Ghế là ghế dài, ngồi hai ba người một ghế. Chúng tôi chọn đuợc cái bàn ở góc nhà là sạch và có ít xuơng duới đất nhất. Anh chàng nhà tôi ngồi không quen với cái ghế dài thấp, Anh chị Tuyên phải nói chủ kiếm cho mấy cáí ghế mây, cao hơn dãy ghế dài kia.
Thịt gà vẫn là món xa xỉ cuả người Việt, nhất là ở miền Bắc, phở gà đắt hơn phở bò cho nên tô phở hình như chỉ có con gà bay thoáng qua, lèo tèo dăm miếng thịt, đã ít lại còn thái nhỏ. Chúng tôi phải yêu cầu họ làm cho những tô đặc biệt, vì tô phở nơi đây bé quá, cỡ chỉ nhỉnh hơn loại tô tôi làm bún thang ở Mỹ. Ăn như thế no sao đuợc khi sẽ dự tính đi chơi suốt sáng nay và lang thang ở Văn Miếu.
(còn tiếp nhiều kỳ)
Chuyện anh Trương Chi hẳn ai trong chúng ta đều ít là một lần được đọc, được nghe kể, được biết cả rồi. Ðại để thì bao giờ câu chuyện cũng được mở đầu bằng câu " ngày xưa có anh Trương chi; người thì thật xấu, hát thì thật hay ". Anh thường chèo thuyền trên sông nước, đêm trăng thanh cất tiếng hát vượt ngàn trùng. Lời ca của anh làm cho mỹ nhân trên lâu đài tương tư muốn được nghe mãi. Rồi nàng sai người đi mời bằng được anh vào. Gặp mặt rồi, tiểu thư đâm vỡ mộng, còn anh Trương Chi quay về với lòng dạ ủ ê. Từ đó người ta nghe giọng ca của anh như nhuốm màu ai oán. Ðêm khuya thường nghe tiếng anh cất lên từ khúc sông vắng cô đơn " ngồi đây ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất còn riêng ta " (Văn Cao). Nỗi buồn dai dẳng ấy khiến anh buồn mất sớm, trái tim hoá đá được người đời làm nên chén ngọc uống trà. Cảm thương cho số phận người trai, mỹ nhân cho người dò la tìm mua được chén ngọc. Ðêm đêm nàng " rót nước vào chợt thấy bóng ngư lang; quanh chén trà thuyền trôi theo tiếng đàn " (Phạm Duy) để rồi một lần lệ vô tình rơi vào chén làm vỡ tan chất ngọc quí giá kia. Khối tình của anh Trương Chi ngậm câm " mang xuống tuyền đài chưa tan " (Phạm Duy), chấm dứt cuộc tình đầy lãng mạn. Người đời sau nhắc lại tích cũ, cảm thương cho số kiếp long đong đã tiếc cho anh mà đặt lên lời nhạc chia xẻ cuộc tình " ngoài kia mưa rơi trên bao cung đàn, còn nghe như ai nức nở và than, hoà với tiếng gió mưa, cùng với tiếng suối róc rách, ai có buồn chăng ?" (Văn Cao) để rồi cùng ngẩn ngơ " đêm năm xưa trên con thuyền lẻ loi, khi chót yêu người rồi, xa cách nhau vì đời, cuộc tình còn đó chưa hề tan; ôi duyên xưa, ai đã trả cho ai, cho mắt rơi lệ rồi, cho suối tan thành lời, để thành bài hát ru lòng tôi... " (Phạm Duy).
Thế nhưng có một lần tôi lại được nghe chuyện anh Trương Chi gần như hoàn toàn khác hẳn. Không biết hư thực và độ xác tín đến mức nào, tôi cũng xin kể lại ra đây để cùng nhau xem chung câu chuyện. Tôi nghĩ rằng dù đúng, dù sai thì cũng nêu lên được thêm một cái nhìn về con người tài hoa yểu mệnh đó. Và tôi xin vào chuyện.
Trương Chi lớn lên từ một làng quan họ. Nhà không giàu, song cũng có được cái áo đoạn the đen, cái khăn xếp nhiễu xanh và đôi dép bố hạ. Tay lại phe phẩy cái quạt nan, không phải mong có cơn gió mát mà là vật làm dáng đẩy đưa cho tiếng hát thêm ngọt ngào. Bảo rằng anh Trương Chi xấu là không đúng vì người xấu thì làm sao dám chường mặt dự các lần quan họ. Nhưng bảo rằng anh Trương Chi đẹp thì lại cũng hơi quá lời. Tóm lại anh có một khuôn mặt thanh nhẹ, mới chợt nhìn đã thấy đam mê. Làn da anh trắng vừa phải làm cho sống mũi thẳng càng dựng cao thêm. Ðôi mắt như hai sợi tơ mảnh, không ra đăm chiêu mà cũng chẳng ra mời chào. Ấy vậy mà khi nhìn vào đâu cũng thấy như gieo hạt sương vãi xuống, nó thiết tha làm rung động trái tim. Chân anh đi như thuyền đang lướt sóng, không tạo nên âm thanh mà nhanh nhẹn vô cùng. Lời của anh một khi cất lên nghe như tiếng suối đổ, rót vào lòng người những vang vọng âm ba. Còn khi anh hát lên, chao ôi ! giá chim trời đang bay cũng phải ngập ngừng chậm lại, giá dòng suối cạnh bên đang tuôn cũng phải ngơ ngẩn bồn chồn. Huống chi là con người có trái tim đa cảm, nghe tiếng anh giữa đêm hát chung, làm sao khuông luống khỏi bàng hoàng.
Cùng dự đêm hát đối với anh là một cô gái cũng từng theo đuổi cầm ca. Trai tài, gái sắc gặp nhau, quyến luyến vì câu ca giọng hát, làm sao không phải lòng nhau cho được. Hai tiếng hát vờn đuổi nhau như đôi bướm trong hoa, Mượn câu ca để tỏ nỗi lòng nhau khăng khít. Cho nên cuộc lễ nào hai người cũng hẹn hò mời mọc về dự. Bạn cùng nhóm biết được lòng hai người nên vẫn tạo dịp để hai người gần cận đối đáp nhau. Lời anh phóng lên, lời chị đeo theo ríu rít, như đôi chim lúc lên bổng xuống trầm, dẫu cho sênh phách cũng rã rời không đuổi kịp. Họ đem hết tâm sự ra gửi gấm cho nhau, móc hết lòng nhau ra cho đời nhìn mặt trái. Mắt họ quấn quít nhau như tơ sợi trên trời, mong manh mà khó đứt. Phải lòng nhau rồi thì càng lúc càng đậm sâu thêm.
Lần cùng hát dưới bóng đêm, hội ca có một lúc đèn tắt hết cả để chỉ còn riêng tiếng hát đưa đẩy trong khuya. Không rõ những người dự lễ đã có tình ý gì với nhau, mà khi đèn thắp lại, hai người nhìn nhau tẽn tò, ngượng ngập. Chiếc yếm đọt chuối non cô gái mặc như phập phồng trong hơi thở mạnh lên. Người bảo là tại " gió đưa mảnh yếm chập chờn, con tim khát vọng dập dờn bên nhau ". Kẻ lại nói " yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay " (ca dao). Chả ai biết thế nào là chân lý cả.
Cho đến lúc hội hát tàn, thuyền đưa liền anh, liền chị ra về thì bỗng dưng chẳng ai bảo ai, cả anh Trương Chi, cả chị đều mắt đầy ngấn lệ. Câu ca
" người ơi người ở đừng về " (ca dao), cất lên sao nghe não nuột, bi thương. Ðành lại gạt lệ hẹn nhau mùa hội sau sẽ tới. Ðêm thênh thang chỉ còn nghe dư âm của tiếng ca thỉnh thoảng theo gió vọng trôi về. Tục lệ cấm liền anh, liền chị không được lấy nhau để giữ cho câu quan họ sáng trong như ngọc bích làm cho anh lẫn chị đều cảm thấy đau lòng.
Cùng đi xem hội năm đó còn có tiểu thư một nhà vọng tộc. Núp dưới hoa, cô nghe tiếng hát của hai người. Có lúc cô nghĩ lời anh Trương Chi như đang gửi gấm cho cô. Cô yên chí là anh đang ngỏ với cô lời tỏ tình sâu kín nhất. Ðã từng được nghe cha anh trong nhà cho biết về tục lệ của bạn hát, cô gái mừng thầm hi vọng sẽ kết duyên được với anh Trương Chi. Từ đó cô ôm trong lòng lời thiết tha mong đợi. Những đêm trăng cô tựa gối mà chờ. Cô chờ tiếng hát của anh như người vọng phu chờ lang quân đi chinh chiến. Hội tan rồi, anh Trương Chi về lại quê quan họ của anh. Có thể vì bận lo làm lo ăn, có thể vì chung tình với người bạn cùng hát, nên anh dấu tăm ẩn tích của mình. Cô gái bỏ bao nhiêu tiền, cho người cất công đi lùng tìm mà chẳng thấy tăm hơi anh đâu. Hễ nghe phong phanh nơi nào có người giống dáng dấp của anh là cô lại cử người ào tới. Nhưng bóng chim tăm cá, chợt hiện chợt biến, như trêu ngươi, thách thức lòng tiểu thư. Cô gái buồn sầu, tương tư, rầu rĩ, lâu ngày thành bệnh. Cô nằm một nơi chỉ mong được nghe tiếng hát của anh. Bố cô thương con hỏi han, cô thực tình kể hết. Phú ông cũng cất công để ý dò tìm, mà không vẫn hoàn không.
Thời gian đó, cô gái bạn ca của anh Trương Chi cũng lâm bệnh. Ðang lánh mặt, ẩn thân mà được tin anh cũng vội đến thăm. Lòng anh như lửa đốt trăm bề. Nhìn cô bạn nằm thiêm thiếp không hay không biết, anh đứng trông mà hồn đứt đoạn từng cơn. Mấy lần anh định đưa tay nắm lấy bàn tay bạn mình, song lại rụt về nhanh chóng. Lời nghiêm cấm liền anh, liền chị vang lên trong anh. Trương Chi khổ sở cất lên lời ai oán " mình về mình nhớ anh sao, khiến cho trăng rụng bên rào, khổ chưa ". Nước mắt anh ứa ra, anh khóc nghẹn ngào. Chợt cô bạn như cảm thấy sự hiện diện của anh, trong mơ cô đưa tay ra như hứng lấy những giọt sương rơi nhẹ vào người. Và lạ chưa, môi cô cũng mấp máy, anh ghé tai lại gần cố lắng nghe. Lời cô hát rất nhẹ, như lời thở than nho nhỏ " mình ơi, em rất thương mình, câu ca muối đậm ân tình của nhau ". Anh như người chết đuối. Anh không còn muốn giữ kẽ nữa. Anh ghé vào định ôm lấy tình nhân, nhưng cô gái lại hát lên rất rõ " xin anh để sợi tóc mai, thảnh thơi đùa giỡn bên tai đủ rồi ". Anh khựng lại, tưởng cô gái thức tỉnh, song thực ra là cô bạn vẫn đang mơ. Anh cứ đứng như thế nhìn vào bạn khổ đau. Ý tưởng của anh trở về với đêm quan họ, âm thầm nhớ lúc đèn tắt hôm nao, lòng anh chao nghiêng chao ngửa. Mảnh yếm đọt chuối non đã đánh đắm tim anh. Ðêm đồng loã giúp nhau vào say đắm. Anh đánh bạo hay là hai bạn tình cứ quyết định lấy nhau. Cho dù tiếng ca có vì thế mà tắt thì tình yêu vẫn rực rỡ thăng hoa. Lòng thành thực yêu nhau có gì đâu tội lỗi. Như ngập ngừng của người đứng phân vân trước ngưỡng cửa tình yêu, chỉ cần bạo một chút bước lên là vào được hạnh phúc hoặc bước lui là xa cách biệt ly. Vậy mà sao khó chọn quá. Hình ảnh những con thuyền dập dìu nhau về trẩy hội, tiếng hát vút cao như mời gọi tham gia làm anh càng chùn bước. Bất lực trước định mệnh, anh gạt nhanh giọt lệ và chạy vút đi bỏ trốn người yêu.
Sau đó, anh nhận lời khẩn khoản của ông bố tiểu thư mà vào thăm người đẹp với cái xác thiếu hồn. Anh đứng bên giường mỹ nhân. Cô gái choàng tỉnh dậy, thấy mặt anh, bệnh chốc tiêu tan. Cô đưa tay ấp lên trái tim, cố chặn những con sóng lao xao ào ào tràn tới. Cô ngước mặt đắm đuối nhìn anh. Mắt anh Trương Chi vẫn trôi dạt về một phương trời khác. Cô yếu ớt nài xin anh
" chàng đã về vì em, xin chàng cho em được nghe một đôi câu hát cũ. Ðể lòng em được mở hội với đất trời. Chàng ơi ! công em chờ em đợi, thân em mỏi em mong. Nếu chàng tiếc tiếng hát, chắc em sẽ xuôi tay vì thất vọng ". Trương Chi xoay vần ý nghĩ bao lần. Mỹ nhân đã dồn anh vào việc khó. Không hát lên là ác độc mà cất lời ca chả hoá ra bị mua chuộc hay sao. Xưa nay câu ca phải từ tự do và thành thực mà tự ý đến. Ép uổng nhau, nghệ thuật chỉ còn là cái khung rỗng của đời. Phương chi lời giao duyên là của muôn họ đổi trao nhau khi đối ẩm tự nhiên. Nay đóng khung tiếng hát chỉ vì cho một người, lại ở một nơi lầu son gác tía, dù vô tư đến đâu, tránh sao khỏi bị người đời mỉa mai, trách móc. Anh bỗng thấy tối tăm mày mặt, băm môi cố nén bi thương. Anh ngầm chọn trong đầu một lời từ chối : cảm ơn nàng đã cất công mời gọi. Tôi đến đây để đền đáp ơn mời. Nay nàng đã tỉnh lại, bệnh đã hết, xin tha cho chuyện ép đặt vừa nêu. Nàng hãy đợi mùa quan họ sang năm, mời nàng đến dự để cổ võ anh chị em. Câu ca lúc ấy mới thực được rút ra từ tâm, từ ý. Hãy tha cho tôi sự khó khăn này.
Tiểu thư gục xuống khóc như mưa, như bão. Bao nhiêu công lao đổ ra chỉ nhận lại những ngọn roi xẻ thịt da mình. Nhưng chàng nói có lý quá, câu ca mà bị ép uổng có khác nào như bỏ ngục người ta. Mỹ nhân đành ngậm ngùi chấp nhận ý anh và Trương Chi từ giã ra về.
Nhưng kể từ mùa quan họ năm kế tiếp, chẳng ai còn thấy anh Trương Chi đến tham dự như xưa. Sông nước vẫn lững lờ trôi, thuyền liền anh liền chị vẫn lênh đênh theo giọng hát. Lời vẫn là những lời ca cũ mà sao nghe bâng khuâng, lạc lõng, vô duyên. Tiểu thư đã đến, nhưng không ở lại lâu khi thấy người xưa không hiện diện.
Có một lần người từ đâu xa về đem tặng tiểu thư một chén ngọc. Dặn dò cô : đây là nghĩa, là tình. Khi rót nước vào sẽ gặp lại cố nhân, nhưng chớ để lệ rơi vào chén. Cô gái mừng ấp chén vào tim, nghe nhịp đập như ba đào chớm dậy. Từ đó đêm đêm cô rót nước vào. Chỉ thấy lờ mờ sóng gợn và văng vẳng tiếng ca đâu đây " nhớ nhau làm khổ cho nhau, người ơi cố gạt âu sầu mà vui ". Nhưng tiểu thư làm sao vui được. Ðêm năm canh vò võ đèn mờ, thoảng đâu đây tiếng trống sang đêm. Cô ngủ vùi trong tay còn cầm chén ngọc.
*
* *
Chuyện anh Trương Chi chỉ kể lửng lơ đến đó. Tôi chờ hoài đoạn kết xem sao. Nhưng người kể đã đứng dậy vươn vai vì trời sắp sáng. Tôi cảm thấy bàng hoàng vì vừa thức trắng qua đêm. Tôi băn khoăn không biết nên đi hay nên ở. Người kể chuyện với tay ra sau lấy cây đàn. Tay ông run run nắn phim. Cái gù trên đầu đàn run bần bật tựa đồng lên. Con dơi trên chót phím cũng chập choạng như bứt khỏi cần đàn bay mất. Rồi ông cất tiếng hát nho nhỏ : đêm năm xưa chưa nguôi lòng yêu ai, chôn đáy sông hồn cầm, ai chết đêm nguyệt rằm, nợ tình còn đó chưa đền xong " (Phạm Duy). Và ông thôi, không hát tiếp. Tôi nghe như thời gian chảy mềm dần.
(Những câu thơ không ghi chú thích là của tác giả
Tôi nghe bản nhạc "Khi đã yêu" của nhạc sĩ Phượng Linh trong nỗi cảm xúc sâu đậm nhất của con tim chia sẻ sự đồng điệu với ý tưởng của nhà thơ Rabindranath Tagore khi ông nói: "Tình yêu là tự hiến dâng và bao la vô tận khi cho, nhưng nó sẽ không trọn vẹn nếu người trong cuộc không đền đáp đầy đủ". Trong khi triết gia Francois La Rochefoucauld lại quan niệm là: "Tình yêu là khát vọng thống trị về linh hồn, nó còn là sự cảm thông về tinh thần và còn là sự ham muốn về sự chiếm đoạt của thể xác". Bỏ qua cuốn sách có bài viết của Tagore và La Rochefoucauld trong tâm thức mệt mỏi, tôi tìm về về nét dịu dàng của nhạc Phượng Linh để bắt đầu bài viết này trong ý nghĩ mà con người đã gần gũi với yêu thương và nụ hôn trong cuộc sống:
Khi Ðã Yêu (Phượng Linh)
“Khi đã yêu thì mơ mộng nhiều
Mơ ngày mai pháo nhuộm đường vui
Mơ vành môi thơm ngát hương đời
Tình kia phong kín mây trời
Khi yêu riêng một người thôị..”
Nhạc Phượng Linh và hai ý tưởng của Tagore và La Rochefoucauld đưa ta đến câu nói của nhà văn Wilhelm Hoffman mà tôi xin chọn làm đề tài viết về nụ hôn trong tình yêu là: “Khi trái tim tràn đầy thì đôi môi sẽ mở ra”. Hay nói rỏ hơn là khi người ta yêu nhau thì nụ hôn được trao cho nhau thật dễ dàng và tự nguyện. Như vậy sự màu nhiệm của vai trò của nụ hôn là phương tiện trung gian hay chất xúc tác cần thiết tô điểm cho tình yêu nẩy nở thêm theo tháng ngày, hưng phấn hơn trong cuộc đời và nồng nàn hơn khi đôi tim còn tìm đến nhau.
@ Tại sao ta cần hôn nhau?
Theo tạp chí Marie Claire số tháng 2, 2004, đưa ra những lý do mà con người nên hôn nhau:
* Cứ mỗi 15 phút khi chúng ta hôn nhau thì cơ thể đốt đi 24 calories, nếu hôn nhau là hình thức exercise thì tại sao không nhỉ?
* Nụ hôn còn mang vai trò làm thư thái tâm hồn, làm nhẹ nhõm, bớt căn thẳng, bớt muộn phiền trong đời sống của chúng ta.
* Những động tác như nâng niu, nựng nịu, ôm ấp lẫn nhau trong tình yêu đôi lứa làm cho cơ thể người phụ nữ tiết ra chất hormone gọi là oxytocin, là chất làm co thắt tử cung khi sinh con mau chóng và tiết ra sữa nuôi con. Ðây là tâm trạng khi lòng dâng lên cảm giác sung sướng, lưu luyến tựa như tình mẫu tử thuở ban sơ của con người. Do đó nụ hôn là phép màu nhiệm cho người phụ nữ vui sướng với hạnh phúc, vì họ vốn sinh ra để được nâng niu và nuông chiều.
Theo bộ kinh thư tình yêu Karma Sutra (the Book of Karma Sutra, Anne Cooper chuyển ngừ), trong tình yêu có hai yếu tố ảnh hưởng cơ thể con người là phần thể xác và tâm hồn. Khi tình yêu bị điều hướng bởi chất kích thích tố làm cho cơ thể rạo rực, ham muốn thì nụ hôn lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong giai đoạn tiền ái ân(foreplay) của hai đối tượng yêu nhau trước khi bước xa hơn. Nụ hôn đem lại cảm giác lâng lâng, sung sướng và nụ hôn tương đối dễ thực hiện trong các chiến thuật ái ân.
@ Nụ hôn đã có từ bao giờ và phát xuất từ đâu?
Nhiều học giả truy tìm nguồn gốc của nụ hôn, dựa trên những di tích mà họ tìm thấy thì sự phỏng định nụ hôn đã có từ lâu, khoảng 3000 trước Công nguyên. Một cây ghim cài áo được tìm thấy trong vùng Cận Ðông đã minh họa một đôi uyên ương khoả thân ôm hôn nhau vô cùng say đắm.
Ði tìm nguyên thủy sinh hoạt của con người thì có vài giả thuyết đã đưa ra về nguồn gốc của nụ hôn. Trong thời tiền sử khi con người trong nếp sống sơ khai đã có những giao cảm qua bờ môi hay cửa miệng mà nụ hôn dần dà được chấp nhận như biểu tượng của sự yêu thương như ngày nay.
* Nụ hôn theo quan niệm xã hội học:
Theo các nhà nhân chủng học hay xã hội học đồng quan điểm về ý niệm của nụ hôn thì trước khi con người sáng chế ra muỗng thià thì những người mẹ ngày xưa thường nhai thức ăn rồi mớm cho con ăn, từ đó vai trò của đôi môi hay cửa miệng đã đóng góp cho nụ hôn ban sơ rồi.
Riêng các nhà phân tâm học hay y học lại cho rằng nụ hôn phát xuất từ lúc đứa trẻ chào đời được nuôi dưỡng bên vú mẹ, chúng mân mê những dòng sữa ngọt cho cái cảm giác êm ái, an toàn và hạnh phúc bằng bờ môi, bằng cửa khẩu tiếp nhận nguồn dinh dưỡng, để rồi từ đó con người cảm nhận và trân quý bờ môi trong tình yêu theo quan niệm chuyển hóa của cuộc sống và sự văn minh của xã hội. Tuy nhiên cũng có nhiều xã hội vẫn còn khép kín đối với nụ hôn theo quan niệm sống vì tôn giáo và văn hóa. Nhiều quốc gia hồi giáo lại cấm đoán nụ hôn nơi công cộng, khác xa với các xứ phương tây.
* Triết học vs. sinh lý học về nụ hôn:
Nhà triết học Freud giải thích sự say mê của nụ hôn bằng những kỷ niệm vô thức về xúc cảm ngây ngất của trẻ con khi tựa vào vú mẹ để bú. Trong khi đó các nhà sinh lý học lại theo khuynh hướng lập luận là nguồn gốc nụ hôn phát sinh từ hình ảnh các loại súc vật nhai cắn, đùa giỡn, vờn lẫn nhau. Ví dụ như loài cọp trước khi giao cấu, cọp đực thường dùng răng nanh ngoạm vào gáy cọp cái như hành động foreplay gây hứng gợi tình. Trong khi đó lại có quan niệm khác lại cho là nụ hôn phát khởi từ thời khai thiên lập địa khi mà các thú vật cái có thói quen mớm mồi cho con qua đường miệng như loài chim hay ngay cả nhân loại thuở ban sơ. Cho đến nay phong tục này vẫn được duy trì bởi những bộ lạc vùng Nam Mỹ hay vùng biển Úc châu, như giống dân Papoue ở Tân Guinea vẫn nuôi còn theo lối này (Theo Chuyện Nụ Hôn, Mõ Nam Cali, số 61).
Câu nói của nhà văn Wilhelm Hoffman thật có ý nghĩa về nụ hôn trong tình yêu là: “Khi trái tim tràn đầy thì đôi môi sẽ mở ra”. Sự thương yêu của con người hay trong thiên nhiên bên ngoài vẫn là đôi môi phải mở ra, dù là loài cọp, beo, sư tử hay con người. Có nhữnng hành động khác để diển tả sự yêu nhau được sách vở ghi nhận, ví dụ như hai con chim sẻ hay hai ngựa vằn hay hay con nai khi yêu nhau chúng dúi đầu, chà sát mũi vào nhau như hành động tỏ tình, đánh hơi tình yêu, đây cũng là hình thức hôn nhau như khi con người hôn hít. Theo truyền thống xưa dân hải đảo Nhật Bản hay người Melanesie trên hải đảo Tân Guinea, Úc châu hoặc dân Eskimo có phong tục khi tỏ tình họ dúi mũi sát đầu vào nhau và hôn hít bằng cách quyện mũi tận hưởng lấy hương yêu của đối tượng kia.
@ Có phải nụ hôn mang dục tính?
Theo sách the Art of Kissing (William Cane), vì vai trò quan trọng của nụ hôn trong tình yêu, nụ hôn vô hình chung là biểu tượng của yêu đương mặn nồng, của lạc thú ái ân và của sự phối hợp giữa ngũ quan: thấy, sờ, nghe, nếm và ngửi. Sự quyến rũ của nụ hôn tạo nên sự gợi tình, tăng khoái cảm để con ngừời đi tìm về lạc thú yêu đương.
Từ vai trò thanh cao của nụ hôn ban sơ đó con người lạm dụng cái tình yêu quá đà như trường hợp cá biệt của vị cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton dan díu đến: Oral sex, khẩu thuật ái ân. Theo sách giáo khoa toàn thư tình dục học hay kinh thư tình yêu Karma Sutra nổi tiếng của xứ Ấn Ðộ thì nụ hôn là khúc nhạc mơn trớn dạo vòng đầu hay màn giáo đầu tuồng của một cuộc vui thể xác (foreplay), rất cần thiết tạo hơi nóng cho mối liên hệ trăng hoa, ong bướm.
@ Kinh tình yêu Karma Sutra dạy hôn:
Sách giáo khoa này dạy rằng hôn nhau phải dùng bờ môi hôn phơn phớt nhẹ nhàng, cho bờ môi tự động đi tìm mục tiêu tạo khoái cảm, đánh hơi sự rung động cực độ của đối phương. Kinh thư tình yêu này đi chi tiết thêm về cách hôn thẳng, hôn nghiêng, hôn xiết, hôn ghì lấy đối tượng,... mà người viết không dám lạm bàn đi ra ngoài chủ đề biên khảo văn học. Kinh nhật tụng Karma Sutra chấm tọa độ các huyệt đạo cho nụ hôn như tại má, bờ mi, trán, vành tai, gáy, cần cổ, môi, miệng, vùng ngực,...
@ Nụ hôn kiểu Pháp:
Ðây là nụ hôn kiểu Pháp (Frenchkiss) giao thoa bằng khẩu thuật mà hai đối tượng trao đổi khoái cảm. Theo sách giao khoa "The Joy of Sex" (Dr. Alex Comford) thì định nghiã hôn kiểu Pháp được ghi nhận đây là kiểu hôn có tính cách thăm dò, thám hiểm biên cương đối phương, tức trao lưỡi ta vào lưỡi đối phương như đi tìm cảm giác yêu đương, nôm na theo ngôn ngữ bình dị, thì đây là sự "mút lưỡi" lẩn nhau. Theo kinh thư "Lạc thú ái ân" này, nụ hôn kiểu Pháp đóng góp cho sự hưng phấn hay sự gợi cảm nhất khi hai cái lưỡi đi hoang tìm cảm giác lâng lâng của hai tâm hồn hoan lạc, say sưa trăng hoa, ong bướm.
@ Nụ hôn theo y học:
Bờ môi của con người là nơi rất bén nhậy cảm giác vì là nơi tập trung vô số dây thần kinh chi chít kích thích cơ thể khi nụ hôn mang lại tột đỉnh của sự hưng phấn, tạo sự rạo rực trong cơ thể. Hệ thống thần kinh trên não bộ bị kích thích làm tuyến nan thượng thận tiết ra chất adrenaline (hay epinephrine) làm gia tăng áp huyết sẽ se thắt các mạch máu do nhịp độ khi con tim xao xuyến, giao động mạnh. Trong sự kích thích tột độ ấy não bộ phát ra chất neural polypeptides tạo cho cơ thể cảm giác đê mê, gây ra sự sảng khoái như trong cơn say ngất ngây long thể.
Ngoài ra, “cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo” cũng là cơ quan vô cùng quan trọng trong sự sống của con người. Lưỡi đóng vai trò vị giác, nó còn là cơ quan nhậy cảm như radar hay sensor trao hay nhận, bắt hay gửi những tín hiệu với bên ngoài. Khi cơ thể bắt được luồng khoái cảm thì đối với người nam các androsterones hay người nữ có gonadotropins chuyển đi các tín hiệu cho sự giao thoa trên cơ thể. Nụ hôn qua lưỡi qua các sex hormones tạo ra nguồn điện lực đê mê, tê dại. Bởi vì lưỡi vốn mang vô số dây thần kinh liên lạc với não bộ. Không có nó thì nụ hôn Frenchkiss trở nên vô nghiã.
Người viết nhớ lại khi ở cái tuổi ban đầu 22 lúc mới đến Mỹ, ý niệm "Frenchkiss" chợt đến với mình thật vô tư. Một hôm tôi và người anh họ lớn hơn tôi một tuổi được thử thách về từ ngữ này, dạo ấy tâm hồn chúng tôi sao hồn nhiên ham học hỏi hơn là thích ham vui, khi biết yêu chỉ dám yêu mong mỏng không như bài hát của Phượng Linh. Học cùng trường Los Angeles Pierce College chúng tôi được 2 cô bạn gái Hoa Kỳ rủ đi ciné. Hai người bạn Mỹ học cùng trường của chúng tôi hỏi khích chúng tôi trong nỗi hoài nghi về những con cừu non Việt Nam này là biết “Frenchkiss” như thế nào không. Chúng tôi khi đó chỉ dám xác nhận chúng tôi là những người học hỏi theo rất nhanh và bắt chước rất giỏi nếu được 2 cô bạn dễ thương, xinh xắn này chỉ giáo. Thế là anh Dân đưa Michelle, 19 tuổi sang góc phải bên trong rạp hát Mulholland. Tôi đưa Denise, 19 sang góc trái trên tầng cao nhất. Trong cái bóng tối đồng loã với nhịp đập vội vàng của con tim thích mạo hiểm trong rạp ciné về đêm, cả rạp im lặng chăm chú xem hát, chúng tôi được 2 cô giáo Mỹ dạy cho vở tuồng nóng bỏng: "Những cái lưỡi đi hoang" khiến khung trời Mulholland giăng đầy những luồng điện hôn mê. Nắm tay Michelle ra khỏi rạp anh Dân phê bình khi nhận xét với tôi phim “Frenchkiss” hay thật, tôi trong tay Denise nheo mắt gật đầu tỏ ý tán đồng với anh.
@ Thế nào là nụ hôn cứu độ?
Trong y khoa có nụ hôn mà mọi người, mọi giới tính nên tìm học vì sự ích lợi của nó, khi cần thiết cứu người, ta nên ra tay cứu nhân độ thế. Ðó là “Kiss of Life”, nôm na là khẩu thuật CPR (CardioPulmonary Resuscitation), tức phương pháp hô hấp nhân tạo. Ðây là cách cứu người chệt ngạt tạm thời khẩn cấp bằng cách miệng áp miệng thổi không khí vào miệng của nạn nhân để phổi nạn nhân căng phồng lên để thở ra tự nhiên. Ðộng tác được thực hiện cho 20 chu kỳ mỗi phút hoặc lâu hơn nếu cần.
@ Khi nào nên hôn?
Theo bán nguyệt san Mõ Nam Cali số 55 ra ngày 15/10/2003 thì trang 72 đăng bài "Bom Sex hẹn giờ", bài viết lược dịch bản tường trình của Tiến sĩ Piter Pliat, một chuyên gia tình dục học người Ðức. Ông cho biết theo biểu đồ "Sex Bomb" mô tả giờ giấc nào mà con người nên "giao tiếp" là lúc sáng sớm 5 giờ sáng, giờ này các testosterones của các ông dễ tiết ra và tiết ra rất nhiều, sự ham muốn sẽ phơi phới tình xuân, đây là lúc mà người đàn ông sung mãn nhất trong ngày. Ðến 7 giờ sáng lượng hormones trên giảm đi 20%. Sau đó 8 giờ sáng là cao điểm thứ hai cho người đàn ông. Nhưng tiếc thay giờ này phái nữ chưa sẵn sàng ứng chiến, không cảm thấy ham muốn vì nàng mang lượng hormoes rất thấp. 10 giờ sáng người đàn ông lại giảm, 11 giờ sáng đàn ông lên cao điểm lần thứ ba. Lúc này lượng hormones phụ nữ vẫn còn thấp.
Vào giữa trưa 12 giờ lượng hormones của phụ nữ từ từ dâng cao như sóng thuỷ triều. Ðến 16 giờ tức 4 giờ chiều thì cao điểm giữa nam và nữ đồng bộ, nếu đồng tình ngay lúc này rất dễ thụ thai vì gonadotropins của 2 phía đều dâng tràn biên giới yêu đương. Nhưng đa số vợ chồng lại đi làm vào giờ lý tưởng này.
Ðến 19 giờ hay 7 giờ chiều thì lượng endorphins tạo sex bomb của phụ nữ dâng cao nhất trong ngày, nhưng lại là lúc phái nam tỏ ra chểnh mảng, yếu xìu, mang tâm trạng thiểu não gà trống nuốt dây thung.
Khi đồng hồ gỏ nhịp "dingđong" lúc 23 giờ hay 11 giờ tối thì hương thắm tình nồng của lưu lượng hormones hai bên dâng cao điểm trở lại, chỉ cần bờ môi yêu thương hay nụ hôn tình yêu Frenchkiss sẽ dễ dàng cho hạnh phúc chăn gối lứa đôi.
Trong biểu đồ "Sex Bomb" của Tiến Sĩ Pliat thì nụ hôn sẽ góp phần cho đoàn quân xúc tác tiền đạo foreplay đẩy mạnh mặt trận tiến quân kế tiếp.
@ Nụ hôn trong kỹ nghệ điện ảnh:
Theo các đạo diển trong Hội Ðiện Ảnh Hoa Kỳ thì nụ hôn được các nhà làm phim chú ý vì theo thị hiếu ưa thích của quần chúng. Ðạo diển gốc Pháp Francois Truffaut, một nhà làm phim kỳ cựu, cho là sự quyến rũ của nụ hôn đối với khán giả không phải chính nó mà là những tiểu tiết trước và sau nó. Nụ hôn được đưa lên màn bạc tại Los Angeles lần đầu tiên vào năm 1896 và nó được khán giả nhiệt liệt tán thưởng. Ngày nay phim ảnh khắp nơi trình bày nụ hôn như sự tự nhiên biểu lộ tình cảm của con người và tùy theo cốt truyện hay văn hóa khác nhau, nụ hôn được trình bày một cách nóng bỏng, cuồng nhiệt hay táo bạo, hoặc nhẹ nhàng, kín đáo hay thanh thoát.
Trong những năm từ 1930 đến 1960 tại Hoa Kỳ ra một đạo luật kiểm duyệt, ngăn cấm những phim có các xen đồi trụy, những nụ hôn "dâm đảng hay thái quá" được đưa lên màn bạc. Tuy vậy, nụ hôn đắm say vẫn được thể hiện trong một cuốn phim ăn khách nhất trong cuối thập niên 30’s. Ðó là phim nói về một chuyện tình lãng mạn xảy ra trong thời nội chiến "Gone with the wind" (Cuốn theo chiều gió), mà 2 diển viên chính là nam tài tử Clarke Gable và nử tài tử Vivien Leigh. Phim được trình chiếu lần đầu năm 1939.
Từ thập niên 30’s của "Gone with the wind" đến thập niên 70’s sau chiến tranh Việt Nam kỹ nghệ phim ảnh Hoa Kỳ đã đi bước tiến nhảy vọt về loại yêu đương đầy thú vui xác thịt và thoát thai đến giai đoạn "quá đáng" của phim khích dâm như "Deep Throat". Ðây là phim top hit đề cao sự khoái lạc của thể xác kèm theo vô số nụ hôn cuồng nhiệt, nóng bỏng điển hình cho ngành phim ảnh phóng khoáng, khi mà người ta có thể hôn bất cứ nơi nào mà họ muốn. Những nụ hôn trong phim loại này đã toát ra tính chất hoang đãng, man dại thiên về dục tính.
(còn tiếp 1 kỳ)
Los Angeles
Quý anh chị mến,
Tháng 10/2003 vừa qua, chúng tôi quyết định làm một chuyến đi thăm Canada và New England với du thuyền Golden Princess. Chúng tôi gồm 4 người: tôi, TN-B Thanh Ðan, và ông bà nhạc của tôi. Chuyến đi thật lý thú, du thuyền đã ghé qua thành phố Halifax, tiểu bang Nova Scotia; thành phố Saint John, tiểu bang New Brunswick thuộc Canada; và Bar Harbor thuộc tiểu bang Maine, Boston thuộc Massachusetts, Newport thuộc Rhode Island của Hoa Kỳ. Chuyến đi kéo dài 7 ngày, khởi hành từ bến cảng New York. Sau đây là vài hàng ghi lại chuyến đi này.
Muốn mua vé rẻ, các bạn có đi cruise về sau nhớ mua trước ngày khởi hành ít nhất là 2 thạng Sau đó cũng có thể hảng tàu sẽ đại hạ giá , nếu chuyến tàu bị ế. Không may cho tôi, chuyến đi này đông quá, mọi phòng đều được đặt trược Kết quả là tụi tôi phải trả thêm mỗi người khoảng từ $100 đến $150. Ðó là cái tội cho việc không chịu mua vé sớm. :)))
Chiếc tàu Golden Princess này cũng có nhiều điểm thú vị. Nó mới được hạ thuỷ vào năm 2001, trọng tải trên 100,000 tấn, dài gần 1,000ft. Mọi thứ đều mới keng, trắng tinh, từ trong phòng ra đến ngoài. Chiếc tàu có đến 17 tầng, có gần 1,100 nhân viên để phục vụ 2,600 hành khách. Sướng nhất là có tới 8, 9 nhà hàng để chọn lựa đi ăn, trong đó có hai nơi ăn buffet suốt ngày đêm. Casino, dancing ba bốn nơi, đúng là nhảy mệt nghỉ. :)))
Chúa nhật 12 tháng 10, 2003 : Rời nhà ở Springfield, Virginia để ra DC bắt chuyến Greyhound 7am đi New Yọrk Tôi chọn đi Greyhound để khỏi mất công lái xe, nhanh hơn cả đi xe lửa và máy bay, mà giá lại thấp nhất. Mỗi người chỉ tốn có $40 round trip. Xe đến New York lúc 11am, còn sớm hơn thời khoá biểu. Tụi tôi kéo nhau lên và gọi taxi đi ra bến tàu. Vì đoạn đường gần quá, 14 blocks, và bến tàu thì hay kẹt xe, nên ít xe nào chịu đi. Cuối cùng tụi tôi cứ gọi taxi, chất hết người và hành lý lên xe, lúc đó mới cho biết là đi đâu. Mấy anh tài cũng đành chịu thua. :))) Cái đuôi xếp hàng lên tàu thấy mà khiếp, nhưng tụi tôi lại được ưu tiên lên sớm vì hai ông bà nhạc của tôi đã trên 80, không đứng lâu được và cần phải ngồi xe lăn để lên tàu. Tàu bắt đầu boarding lúc 12 giờ trưa, thế mà lúc 1pm chúng tôi đã ngồi rung đùi ăn buffet buổi trưa trên tầng thứ 14, sau đó thì đi thám hiểm mọi nơi trên tàu. Ðậu kế bên là một hàng không mẫu hạm của TQLC Hoa Kỳ, nhưng lại chỉ bằng phân nửa chiếc du thuyền này là nhiều. Tàu rời bến lúc 5:30pm, lúc hoàng hôn và trực chỉ Canada về hướng Bắc. Chiều này, ai nấy cũng phải tham gia buổi thực tập cấp cứu, đeo phao, thổi còi, ...
Thứ hai 13 tháng 10, 2003 : Tàu vẫn chạy suốt từ chiều qua, và dự trù sẽ chạy suốt ngày hôm nay, và sáng sớm mai sẽ cặp bến Halifax. Sáng nay trên tàu có màn biểu diễn đẻo nước đá của hai đầu bếp người Phi Luật Tân. Thiên hạ xúm đông vào xem và chụp hình. Buổi tối là buổi đầu tiên "formal dinner", và sau đó thiên hạ đi coi show, cinema, đánh bài, nhảy nhót, ... Trên tàu có thư viện cho mượn sách, phòng chơi game, shopping, đủ thứ giải trí cho bà con khỏi chán. Tôi ghé quán Internet Cafe, định vào egroups phe ta viết vài dòng cho vui, nhưng khi thấy giá biểu thì hãi quá, tới $3.50/phút lận bạn ơi! Thôi để về nhà viết lại vậy.
Thứ ba 14 tháng 10, 2003 : Tàu cập bến Halifax, Nova Scotia lúc 6am. Sau hơn một ngày bó chân trên tàu, ai nấy đều nôn nao rời tàu để đi rảo bước nơi thành phố ven biển này. Phố xá chỉ tập trung nơi trung tâm một đoạn đường chừng 500 thuớc. Ðúng là đi dăm phút đã về chốn cũ. Có hai nơi bà con thích đến thăm là City Hall, và Old Town Clock nằm trên một ngọn đồi. Chiếc đồng hồ này giữ thời gian cho thành phố và cư dân từ năm 1803. Trãi qua 190 năm, nó vẫn làm tròn nhiệm vụ. Lúc 5pm, tàu nhổ neo rời bến.
Thứ tư 15 tháng 10, 2003 : Tàu ghé bến cảng Saint John của New Brunswick, và chúng tôi lại được dịp lên bờ thám hiểm sau bữa ăn sáng. Hôm này trời xám xịt, chẳng bù với hôm qua nắng thật đẹp. Và đúng như tiên đoán, vừa ra khỏi tàu chừng 30 phút là trời đổ mưa liên tu bất tận. Tụi tôi chỉ kịp chụp vài tấm hình nơi Market Square, còn như nhà thờ Trinity, Old City Market, thác nước chảy ngược (the Reversing River Rapids) đành phải cho qua.
Thứ năm 16 tháng 10, 2003 : Chuyến đi về Hoa Kỳ từ thành phố Saint John, New Brunswick, thật đúng với câu "lắc lư con tàu đi". Suốt đêm tôi chẳng chợp mắt được vì sóng nhồi. Cũng may là tàu có hệ thống cân bằng tự động, chứ không là thiên hạ tha hồ mà nhìn lại thức ăn mà mình
đã ăn tối qua. Từ nửa đêm, thuyền trưởng đã yêu câu mọi người về phòng nằm nghỉ, thay vì đi lang thang trên tầu. Cũng may là đến sáng thì trời êm. Tàu bỏ neo ngoài khơi Bar Harbor thuộc tiểu bang Maine của Mỹ. Chúng tôi được đưa vào bờ bằng các tàu nhỏ (tender), mỗi lần chở được 90 người. Bar Harbor là một nơi nghỉ mát, trốn cái xô bồ của những thành phố lớn của các tay nhà giàu Hoa Kỳ, có nhiều di tích cũ nát. Cư dân thường trực khoảng 4,000 người, nhưng vào những ngày nghỉ hè, lễ thì tăng lên gắp mười với các dân du lịch muốn tìm lại chút gì rỉ sét. Ðứng đọc ké tờ báo trong thùng thì mới hay đêm qua bảo tàn phá nhiều vùng thuộc Maine, New Brunswick. Lại thấy tin chiếc phà của Staten Island, New York đâm vào bờ làm chết hơn 10 người, bị thương mấy chục người, làm tôi khựng lại thoáng buồn. Hôm nay tôi mới thấy mùa thu với lá phong đổi màu trên cành. Ðã mấy ngày qua, tôi chẳng chụp được tấm hình mùa thu nào cho ra hồn. Tại đây có một tiệm bán đồng hồ đủ hình dạng, trông rất vui. Khi thấy một nhà hàng có sáng kiến rinh nguyên chiếc hơi lên mái hiên làm decor, tôi nhớ lại câu chuyện các anh CTKD-1 đã từng bê chiếc Renault hai ngựa của giáo sư Trần Long đem dấu trên nóc nhà, do anh Trần Nguyên Minh K1 thuật lại. Ðúng là hết ý! :)))
Thứ sáu 17 tháng 10, 2003 : Thành phố Boston, Massachusetts với các mũi nhọn giáo đường thấp thoáng đàng xa làm tôi nao nức. Ðoạn đường từ bến tàu vào downtown Boston vào khoảng 4 hay 5 miles nhưng kẹt xe cũng lắm do đường phố chật hẹp, các công trình xây cất lung tung, nhiều nơi. Lang thang vài khu phố thì tụi tôi kéo nhau vào thăm khu vục du lịch nổi tiếng Faneuil Hall, Quincy Market, Boston City Hall, ... Tại đây có tượng của Samuel Adams, một người đã góp công vào việc tổ chức chiến đấu giành độc lập, cũng như soạn thảo bản hiến pháp Hoa Kỳ. Thế nào tôi cũng trở lại Boston vì còn quá nhiều nơi chưa ghé thăm được. Buổi tối trên tàu có tổ chức làm "Champagne Waterfall" do ông đầu bếp chánh thực hiện. Thiên hạ ca hát, nhảy nhót ăn mừng thật vui. Tôi và Ðan cũng ghé tham dự, rồi kéo nhau đi ăn khuya. Làm nhớ đến những ngày tháng ở Dalat khi đi lang thang về đêm, ăn hàng tại các quán trước mặt khách sạn Thuỷ Tiên, các hàng chè, sửa đậu nành đường Minh Mạng, v.v.
Thứ bảy 18 tháng 10, 2003 : Sáu ngày trôi qua thật nhanh, chỉ còn ngày hôm nay lang thang trên bến Newport thuộc tiểu bang Rhode Island là chấm dứt chuyến đi. Thành phố Newport được thành lập từ năm 1639 bởi các người tị nạn tôn giáo từ Boston. Ði qua khu Brick Market với các con đường lát đá , nhỏ hẹp, các căn phố cũ kỷ, nhắc tôi nhớ đến các thành phố Âu Châu thật nhiều. Nhà thờ Trinity ở đây cũng lạ với các chổ ngồi hình ô vuông có vách. Nhà nguyện Touro Synagogue là nơi lưu trữ bộ kinh Torah (Do Thái giáo) cũ nhất trên đất Hoa Kỳ.
Chúa Nhật 19 tháng 10, 2003 : Tàu cập bến New York từ 5 giờ sáng, chúng tôi ăn sáng xong từ lúc 8:30am, nhưng phải ngồi chờ mãi đến 10:30am mới rời khỏi tầu. Hoá ra phải chờ lâu là vì tầu chỉ có độc một cầu đi xuống. Sau thấy chậm quá, họ mới mở thêm một cầu nữa. Vì đây là bến đậu của nhiều cruise ship, việc đón taxi tại cổng đúng là vạn nan. Tôi quyết định kéo hành lý đi bộ ra khỏi khu vực này để đón xe. Kết quả là cũng không anh chàng nào chịu đi. Thế là tôi lại áp dụng chiêu thức cũ như trên để có xe mà đi về trạm Greyhound.
Trên đường về, nhìn cảnh sắc hai bên đường, tôi than với Thanh Ðan là mình cần gì phải đi tìm mùa thu đâu xa vì Maryland và Virginia cũng đủ cho hai đứa mình đi lang thang chụp hình rồi!!! :)))
Mời các bạn vào website bên dưới xem hình chuyến đi cruise Canada & New England của tụi tôi.
http://communitywebshotscom/album/102089156IXAbio.
Chúc các bạn một tuần lể an bình.
Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nộị
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn nàỵ Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đờị
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, Californiạ Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...
Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứụ
Tác phẩm chọn lọc:
Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)
HÁT VÀO ÐỜI
CUỘC ÐỜI TRƯỚC MẶT
Tóm tắt lại, trong khoảng thời gian trước và sau vụ Tết Mậu Thân, nghĩa là từ 1966 cho tới 1969, tôi sống trong buồn vui lẫn lộn với những bài hát nói thật như tâm ca, tâm phẫn ca, với những ca khúc xây dựng cho Quân Ðội, cho Xây Dựng Nông Thôn, với những câu ca vui tươi cho Phong Trào Du Ca... Hơn nữa tôi cũng đã khởi sự sàm sỡ và văng tục ra với một vài bài vỉa hè ca và tục ca rồi ! Tôi không chỉ soạn ra một loại ca mà thôi, hoặc chỉ đả phá, hoặc chỉ xưng tụng, hoặc chỉ phản chiến, hoặc chỉ hiếu chiến. Tôi không muốn chỉ có một thái độ riêng biệt nào đối với một vấn đề đặc biệt nào cả. Tôi chấp nhận hết ! Tôi muốn sống trọn vẹn cho cuộc đời trước mặt...
... Nhất là sau khi tôi đi vòng quanh thế giới vào năm 1966 và thấy đâu đâu cũng có khẩu hiệu Make Love Not War, tôi bèn soạn một bài hát chấp nhận cuộc đời.
MỘT NGÀY MỘT ÐỜI
(Saigon-1969)
Một ngày cho người sống
Một ngày cho người chết
Một ngày cho người thương
Một ngày cho người ghét
Một ngày cho cuộc chiến
Một ngày cho lười biếng
Một ngày cho bình yên
Một ngày lại cho điên.
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
Một ngày cho khẩu súng
Một ngày cho ngòi viết
Một ngày đi mà giết
Một ngày đi mà hát
Một ngày đang cười ngất
Một ngày ôm mặt khóc
Một ngày bạn bè đông
Một ngày chợt cô đơn.
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
Một ngày cho Tổ Quốc
Một ngày quên nợ nước
Một ngày cho vợ con
Một ngày cho tình nhân
Một ngày đi làm lính
Một ngày đi đảo chính
Một ngày đi cầu kinh
Một ngày về quyên sinh.
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
Một đời mang phận sống
Một đời đeo cùm gông
Một đời đi ruổi rong
Một đời vẫn chờ mong
Một đời không còn mới
Một đời không từ chối
Một đời vẫn thường nói :
Một đời người, than ôi !
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
Hỡi, hỡi ôi !
Thân phận làm người !
Thân phận làm người !
(Âm ư - Humming)
Lúc này, 1969, tại Việt Nam, chiến tranh đang leo thang tới tột đỉnh, tất cả những giá trị tinh thần, đạo đức đều bị nghiêng ngửa. Chiến tranh cần chiến sĩ và tuổi trẻ Việt Nam đành chấp nhận bước theo định mệnh đó thì ta chỉ nên chúc cho họ sống một cách tuyệt vời với niềm đau của phận người trong thời đại. Xin đừng gọi họ là lính đa tình! Thi sĩ Thanh Hữu viết một câu thơ ngắn :
Vì yêu anh không là lính đa tình
Bước tuyệt vời trong mùa Xuân định mệnh
Nên từ đó dân tộc ta vẫn hoà bình.
Nếu miền Nam đừng xưng tụng chiến sĩ một cách lố lăng, nếu miền Bắc đừng khoác lên vai tuổi trẻ Việt Nam sứ mệnh thực hiện chủ nghĩa Mác-Lê và gọi họ bằng danh từ mỹ miều là giải phóng quân, là sinh Bắc, tử Nam thì trong nước ta không có chiến tranh giữa bên này bên nọ hay giữa dân ta và dân tộc nào khác cả.
Trong chiều hướng đó và tiếp nối lời thơ của Thanh Hữu, tôi soạn bài CUNG CHÚC VIỆT NAM để tặng những cô gái thích làm hoa khôi, hoa hậu, các em bé thích làm siêu nhân (superman) và những người thích làm thiên thần !
CUNG CHÚC VIỆT NAM
theo một câu thơ của Thanh Hữu
(Saigon-1969)
Vì yêu anh không là lính đa tình
Vì yêu anh không là lính đa tình
Bước tuyệt vời trong mùa Xuân định mệnh
Nên từ đó dân tộc ta vẫn hoà bình.
Vì yêu em không đảo nước khuynh thành
Vì yêu em không đảo nước khuynh thành
Sống tuyệt vời trong chiều hoa khổn hạnh
Nên từ đó dân tộc ta đỡ nhục hình.
Vì yêu em không là bé siêu phàm
Vì yêu em không là bé siêu phàm
Sống tuyệt vời trong đồng trinh mộc mạc
Nên từ đó dân tộc ta đỡ lầm lạc.
Vì thương nhau không là những thiên thần
Vì thương nhau không là những thiên thần
Sống tuyệt vời trong niềm đau một phận
Nên từ đó nhân loại kia vẫn vẹn toàn.
Trong thập niên trước, tôi có cho ấn hành một nhạc tập nhan đề HÁT VÀO ÐỜI với những bài như TĨM NHAU, LỮ HÀNH, XUÂN HÀNH, MỘT BÀN TAY, XUÂN... là những bài hát siêu hình. Bây giờ, sau bài MỘT NGÀY MỘT ÐỜI, những bài hát vào đời của tôi thực tế hơn, phũ phàng hơn.
NHỮNG ÐIỀU TÔI BIẾT TRONG ÐỜI TÔI
(Saigon-1969)
Ai biết heo may về lúc đầu mùa
Tôi biết ai hay chờ đón chiều tà
Ai biết trăng non mọc sớm đầu nhà
Tôi biết ai mong lời nói mặn mà
Ai trong mây qua, ai đi trong mưa
Ai mong người về
Ai biết thương hoa đời chóng nhạt mờ
Tôi biết ai mang phận số ngặt nghèo
Ai biết nghe chim lồng hót buồn rầu
Tôi biết ai trong ngục tối nguyện cầu
Ai trong đêm thâu, ai đi không mau
Ai đang gục đầu
Ôi là biết, là tôi... biết nhiều
Ôi là biết, là tôi... biết nhiều
Nhưng không bao nhiêu !
Nên tôi đăm chiêu, xin ai cho tôi theo.
Ai biết ai thương người suốt một đời
Tôi biết cớ sao người ghét người hoài
Ai biết ai mang một đống lòng đầy
Tôi biết cớ sao người giết người hoài
Không ai yêu ai, nên không ai vui
(cho nên) Tôi hát câu ca, câu ca yêu đời
Tôi hát câu ca, câu ca yêu đời...
Trong thời gian này, có hai biến cố khiến cho tôi soạn ra hai bài hát, đối với tôi, được coi như là những bài dữ dội nhất trong loại "hát vào đời".
Bài thứ nhất là bài KỂ CHUYỆN ÐI XA tôi soạn ra khi tôi đứng trong phòng của một hotel chọc trời New York, nhìn qua cửa sổ thấy thiên hạ đang náo nhiệt đi trong mưa tuyết để mua quà Christmas tặng nhau. Rồi nhìn thấy trên giường ngủ có tờ báo Mỹ với ảnh mầu vụ thảm sát Mỹ Lai. Tôi liên tưởng tới chuyện Quân Ðội Pháp và bà mẹ Gio Linh, tới bọn buôn súng đạn, buôn tin tức, làm giầu trên đầu người dân Việt Nam. Bài hát là lời hỏi của lũ con và sự trả lời của người cha vừa đi xa về. Bài này được thu vào băng nhạc Jo Marcel trong năm 1970.
KỂ CHUYỆN ÐI XA
(New York 1970)
Cha ơi ! Cha ơi !
Cha đã đi nhiều ! Ði những nơi nào ?
Cha biết những gì ? Kể chuyện con nghe
Cha biết những gì ? Kể chuyện con nghe.
Con ơi ! Con ơi !
Cha đã đi từ ruộng đồng quê ta
Lê gót trên hè của nhiều kinh đô
Châu Á đông người, ở rồi ra đi
Âu, Mỹ xa vời, tạt về Châu Phi
Nhưng con ơi !
Cha đã đi nhiều mà chẳng bao nhiêu
Cha đã la cà mà chẳng đi xa
Con muốn nghe, thì kể chuyện cho nghe
Con ới ! Con ơi ! Con ơi ! Con ời !
Cha ơi ! Cha ơi !
Cha đã đi nhiều ! Ði những nơi nào ?
Nghe thấy những gì ? Kể lại con nghe
Nghe thấy những gì ? Kể lại con nghe.
Con ơi ! Con ơi !
Cha đã nghe toàn là lời cao sang
Nhân Ái, Nhân Quần ngập Ðại Tây Dương
Cha đã soi mình vào dòng sông Seine
Ôm ấp nhân tình ở ngọn Effel
Nhưng con ơi !
Trong lúc xuân tình vừa bừng hơi men
Cha bỗng se mình vì chợt nghe lên
Tiếng khóc la rền của Mẹ Gio Linh
Chen tiếng vô tình của bọn yêu tinh
Buôn súng buôn tiền, làm giầu lên trên
Thân xác dân hiền. Cuộc đời như điên
Nghe súng bom liền, nổ từ hai bên
Nghe tiếng dân mình chửi bọn lưu manh
Nghe thuế điên cuồng (cùng) thịt gạo leo thang
Con ới ! Con ơi ! Con ơi ! Con ời !
Cha ơi ! Cha ơi !
Cha đã đi nhiều ! Ði những nơi nào ?
Trông thấy những gì ? Thuật lại con nghe
Trông thấy những gì ? Thuật lại con nghe.
Con ơi ! Con ơi !
Ðêm Giáng Sinh nào ở miền Tân Châu (1)
Cha đứng trên lầu chọc trời trông theo
Dân chúng ra vào, quà tặng khen nhau,
Chơi tuyết bên cầu, trẻ đùa xôn xao
Nhưng con ơi !
Trên những hoa đèn chập chờn công viên
Bỗng thấy in hình một miền tre xanh
Ðôi bé quê mình quỳ gục trên mương
Anh lớn tay choàng chịu đạn cho em
Vết máu trên đường, một tràng liên thanh
Ôi ! Mỹ Lai thành quà tặng No-en
Cho những thiên đường của từng con em
Trong những gia đình gọi là văn minh
Con ới ! Con ơi ! Con ơi ! Con ời !
Cha ơi ! Cha ơi !
Cha đã đi nhiều ! Cha đã đi nhiều
Cha nhắn nhe gì ? Ðể tụi con nghe
Cha nhắn nhe gì ? Ðể tụi con nghe.
Con ơi ! Con ơi !
Cha muốn thưa rằng : Ðịa cầu xoay nhanh
Kiếp sống thanh bình, người người mưu sinh
Sao nước non mình còn nhiều điêu linh
Ai đã cố tình đẩy cuộc đua tranh
Ðem cháu con mình làm vật hi sinh
Ðất nước hai miền chật chội oan khiên.
Ôi con ơi !
Cha có đi tìm một niềm vui riêng
Cũng thấy thẹn thùng vì tội gom chung
Thế giới lẫy lừng để một quê hương
Chua sót vô vàn ! Thật là vô lương
Cha muốn thưa rằng : Người Việt đau thương
Thế giới âm thầm, thủ phạm lâu năm
Con ới ! Con ơi ! Con ơi ! Con ời !
Con ơi ! Con ơi !
Thế giới bên ngoài, cha đã đi nhiều
Nhưng cha có đi hoài, chỉ buồn thêm thôi
Cha có đi hoài, chỉ buồn thêm thôi
Chỉ buồn thêm thôi
Chỉ buồn... thêm... thôi !
----------------------------------------
(1) New Continent = USA
Bài "hát vào đời" thứ hai được soạn ra khi có biến cố người hùng trong trắng Hà Thúc Nhơn, dám đứng lên chống bọn tham nhÀũng rồi bị chúng giết đi. Ðó là bài DẠ HÀNH. Ðây là một trong bộ ba LĨ HÀNH-XUÂN HÀNH- DẠ HÀNH.
LỮ HÀNH là cuộc lên đường bất tận. XUÂN HÀNH là cuộc đi trong chật hẹp một đời người. DẠ HÀNH là cuộc đi trên đường Việt Nam có bạo tàn và tham nhũng vây quanh người đi..
DẠ HÀNH
(Saigon-1970)
Người đi trong đêm tối, trong đêm thâu,
Trong đêm vắng, trong đêm sâu
Trong đêm dầy, trong đêm dài Việt Nam, hự ! (1)
Người đi giương đôi mắt, khua đôi tay,
Ðưa chân bước trên chông gai,
Trên đất gầy, trên vũng lầy bùn nhơ, hự !
Người đi không ai dắt, không ai đưa
Như đui mắt, đi bơ vơ
Ði trong vòng vây quanh của bầy ma, hự !
Bầy ma chuyên uống máu nơi dân đen
Moi tim óc bao thanh niên
Ăn linh hồn, ăn da thịt Việt Nam, hự !
Bầy ma giơ tay níu, giơ tay mua
Giơ tay đón, giơ tay đưa
Giơ tay dọa không cho người vượt qua, hự !
Bầy ma giơ tay kéo, giơ tay ôm
Lôi ta cúi, lôi ta khom
Như con vật cong lưng bò trong đêm, hự !
Thế nhưng người là NGƯỜI nên không chịu làm thú
Thế nhưng người là NGƯÔƠI nên không sợ loài ma
Người đi, đi đi lên ! Người đi, đi đi lên
Người đi tìm ánh sáng mặt trời
Thế nhưng người là NGƯỜI nên không chịu làm thú
Thế nhưng người là NGƯỜI nên không sợ loài ma
Người đi, đi đi lên ! Người đi, đi đi lên
Người đi tìm ánh sáng trời lên.
Người đi trong đêm súng, trong đêm bom,
Trong đêm máu, trong đêm sương,
Trong đêm buồn, trong đêm hận thù vương, hự !
Người đi mang nước mắt, đeo khăn tang
Nhưng la hét, nhưng kêu vang
Trong ô nhục, trong muôn vàn hờn căm, hự !
Người đi trong kinh hãi, trong cô đơn
Nhưng đi tới, nhưng đi vươn
Ði ra ngoài, đi ra ngoài màn đêm, hự !
Bầy ma thêm hung dữ, thêm hung hăng
Thêm ngoan cố, thêm nhe răng
Thêm điên cuồng, thêm căm người hùng anh, hự !
Bầy ma giơ tay đánh, giơ tay phang,
Vung cây súng, vung thanh gươm
Không cho người, không cho người vùng lên, hự !
Bầy ma vung tay giết anh thanh niên
Trong đêm trắng, trong đêm đen,
Trong đêm tàn, nhưng soi bật niềm Tin, hự !
Thế nhưng người là NGƯỜI nên không chịu làm thú
Thế nhưng người là NGƯỜI nên không sợ loài ma
Người đi, đi đi lên ! Người đi, đi đi lên
Người đi tìm ánh sáng mặt trời
Thế nhưng người là NGƯỜI nên không chịu làm thú
Thế nhưng người là NGƯỜI nên không sợ loài ma
Người đi, đi đi lên ! Người đi, đi đi lên
Người đi tìm ánh sáng trời lên.
------------------------
(1) sau mỗi câu hát là có tiếng "hự", tức là tiếng đấm vào lưng.
*
* *
TÌNH CA MỘT MÌNH
1968. Trên con đường đời Việt Nam nói chung có biết bao nhiêu là khó khăn và trên con đường riêng của tôi có biết bao nhiêu là hệ lụy, sau mười năm gần gụi nhau, đã đến lúc mà tôi và Nàng Thơ của tôi phải chia tay nhau. Trước đây, nếu tôi soạn những tình khúc có thật, dành riêng cho một người tình, tạm gọi là những bài tình ca đôi lứa thì bây giờ, tôi soạn Tình Ca Một Mình. Bây giờ thì thực sự là chia phôi rồi! Có hứa hẹn đừng xa nhau thì cũng phải tới lúc có người qua cầu, và tôi nghĩ rằng cũng chẳng còn gì nữa đâu để mà gọi mãi nhau... Thế nhưng còn nhiều lắm, còn quá nhiều dư âm của cuộc tình, cho nên tôi sẽ khản tiếng kêu lên gọi hồn người bằng những tình khúc đầy ắp kỷ niệm xưa...
NGHÌN TRÙNG XA CÁCH
(Saigon-1969)
Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi
Còn gì đâu nữa mà khóc với cười
Mời người lên xe về miền quá khứ
Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu
Ðứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu
Sẽ có chẳng nhiều đớn đau
Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu
Có lũ kỷ niệm trước sau
Vài cánh xương hoa nẵm ép trong thơ
Rồi sẽ tan đi mịt mù
Vạt tóc nâu khô còn chút thơm tho
Thả gió bay đi mịt mù
Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi
Còn gì đâu nữa mà giữ cho người.
Trả hết về người chuyện cũ đẹp ngời
Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui
Lời nói, lời cười
Chuyện ngắn chuyện dài
Trả hết cho người, cho người đi
Trả hết cho ai ngày tháng êm trôi
Ðường em đi trời đất yên vui
Rừng vắng ban mai, đường phố trăng soi
Trả hết cho người, cho người đi
Trả hết cho ai cả những chua cay
Ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi
Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người
Trả nốt đôi môi gượng cười
Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi
Còn lời trăn trối gửi đến cho người
Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời
Ðường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người.
Từ nay trở đi, tôi sống với kỷ niệm và không một lúc nào tôi ngưng soạn tình ca một mình, khi thì mượn lời thơ của các thi sĩ, khi thì do chính tôi soạn cả nhạc lẫn lời. Dù trong lòng đầy ắp kỷ niệm nhưng khi cất tiếng hát bài NGHÌN TRÙNG XA CÁCH tôi muốn trả hết cho người yêu những kỷ vật xưa như tập thơ tình hay xác bướm khô, hoặc mớ tóc nâu mà nàng đã dùng -- tôi tưởng tượng -- chiếc dao vàng của Ðoàn Phú Tứ để cắt ra tặng tôi trong một ngày sinh nhật. Hoặc xin được trả lại những vết chân trên con đường Duy Tân cây dài bóng mát là nơi tôi thường đưa nàng đi học, với bài TRẢ LẠI EM YÊU. Trong bài này, tôi cố ý mượn lời nói của người trai phải đi lính và xa người yêu để bắt toàn thể thanh niên lúc bấy giờ phải hát mối tình của tôi...
TRẢ LẠI EM YÊU
(Saigon-1971)
Trả lại em yêu, khung trời Ðại Học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát
Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt
Trả lại em yêu, khung trời mùa Hạ
Ngọn đèn hiu hiu nỗi buồn cư xá
Vài giọt mưa sa hôn mềm trên má
Tóc em thơm nồng, dáng em hiền hoà.
Anh sẽ ra đi về miền cát trắng
Nơi có quê hương mịt mù thuốc súng
Anh sẽ ra đi về miền mênh mông
Cơn gió Cao Nguyên, từng đêm lạnh lùng
Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó
Ðem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ
Ðem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ
Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về.
Trả lại em yêu con đường học trò
Những ngày Thủ Ðô tưng bừng phố xá
Chủ nhật uyên ương, hẹn hò đây đó
Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt
Trả lại em yêu mối tình vời vợi
Ngôi trường thân yêu, bạn bè cũ mới
Ðường buồn anh đi bao giờ cho tới ?
Nỗi đau cao vời, nỗi đau còn dài
Trả lại em yêu ! Trả lại em yêu !
Mây trời xanh ngát...
Tiếp tục nói về con đường tình của mình, tôi có bài hát cho những mối tình của thư sinh, của nữ sinh...
CON ÐƯỜNG TÌNH TA ÐI
(Saigon 1970)
Con đường nào ta đi, với bàn chân nhỏ bé
Con đường chiều thủ đô, con đường bụi mờ
Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ
Bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi
Con đường trời mưa êm, chiếc dù che mầu tím
Môi tìm làn môi ngon, nhưng còn thẹn thùng
Con đường về ban trưa, tới nhà hay vào lớp
Con đường của đôi mình, ôi chuyện tình thư sinh.
Thế rồi cuộc đời là những cuộc tình chia xa
Ði lạc vào những phía không đường về
Ðứng ở ngoài đầu rừng, đứng ở đầu con sông
Nhớ về con đường cũ mênh mông, mênh mông
Hỡi người tình học trò hỡi người tình năm xưa
Bóng người từng in dấu trên đường mờ
Có thuộc vạn nẻo đường, có ngại ngùng nên quên
Nhớ hoài con đường cũ không tên.
Con đường mộng hoa xưa, vẫn từng đôi từng lứa
Con đường vào mộng mơ, con đường mặn mà
Hỡi người tình Văn Khoa, bóng người trên hè phố
Lá đổ để đưa đường hỡi người tình Trưng Vương
Hỡi người tình Gia Long, hỡi người trong cuộc sống
Con đường này xin dâng cho người bình thường
Hỡi người tình xa xăm, có buồn ra mà ngắm
Con đường thảnh thơi nằm nghe chuyện tình quanh năm.
Tình ca một mình là những bài hát của kỷ niệm. Kỷ niệm trên bãi cát bên bờ trùng dương như bài NHA TRANG NGÀY VỀ hay kỷ niệm trên đồi hồng Dalat trong bài CỎ HỒNG.
NHA TRANG NGÀY VỀ
(Nha Trang-1969)
Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya
Tôi đi vào thương nhớ, tôi xây lại mộng mơ năm nào
Bờ bi-en sâu, hai chúng tôi gần nhau
Ðêm xưa biển này, người yêu trong cánh tay
Ðêm nay còn cát trắng, đêm nay còn tiếng sóng
Ðêm nay còn trăng soi, nhưng rồi chỉ còn tôi
Trên bãi đêm khóc người tình.
Cát trắng thơm tho, lùa vào trong nắm tay
Nào ngờ cát úa tuôn ra dần dà chẳng có hay
Ân tình trong lúc đôi mươi
Bao giờ cũng vẫn mau phai
Cho ngàn thông réo tên ai, từ đó
Lớp sóng mơn man thịt mềm, da ngát hương
Nào ngờ sóng cuốn trôi đi lầu vàng trên bãi hoang
Khi tình tôi chít khăn tang
Ai gào ai giữa đêm trăng
Cho từng lớp sóng kêu than : Ôi !
Nha Trang ngày về, ngồi đây tôi lắng nghe
Ðê mê lòng tôi khóc, như oan hồn trách móc
Ôi trăng vàng lẻ loi ! Ôi đời !
Trời bi-en ơi ! Không cố nuôi tình tôi
Nha Trang biển đầy, tình yêu không có đây
Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát
Chui sâu vào thân xác lưu đầy
Dạ tràng ơi ! Sao lấp cho vơi sầu này ?
Với hai bài NHA TRANG NGÀY VỀ và CỎ HỒNG, có vẻ nhạc tình cảm tính đã hơi ngả qua nhạc tình dục tính rồi đó ! Ðó là dấu vết của thời đại hơn là dấu vết cuộc tình.
CỎ HỒNG
(Dalat-1970)
Rước em lên đồi, cỏ hoang ngập lối
Rước em lên đồi, hẹn với bình minh
Ðôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép
Hãy vứt chiếc dép, bước đi ôm cỏ mềm
Ðồi êm êm, cỏ im im, ngủ yên yên, mộng rất hiền
Giọt sương đêm còn trinh nguyên
Nằm mê man chờ nắng sớm lên, rước em lên đồi tiên
Ðồi nghiêng nghiêng, cỏ lóng lánh,
Rồi rung rinh, bừng thoát giấc lành
Trời mông mênh, đồi thênh thênh
Cỏ chênh vênh chờ đôi nhân tình
Rước em lên đồi xanh ! Rước em lên đồi trinh.
Mời em lên núi cao thanh bình
Cỏ non phơn phớt ôm chân mình
Mời em rũ áo nơi đô thành
Cùng ta lên núi cao thanh thanh
Em ơi ! Ðây con đồi dài, như bao nhiêu mộng đời
Nghiêng nghiêng nghe mặt trời yêu đương.
Níu em trên đồi, cỏ thơm mùi sữa
Níu em yêu ngồi trên bãi cỏ non
Giương đôi tay ôm thân tròn ơn mưa móc
Hãy xoã mái tóc, rũ trên vai anh mòn
Ðồi quen quen, cỏ ngoan ngoan, tưởng mơn man làn tóc rối mềm
Rồi nghe thêm lời van xin
Từ trong tim hoặc dưới suối tiên, ngã êm trên cỏ hoang
Trời trong em, đồi choáng váng, rồi run lên cùng gió bốn miền.
Cỏ không tên nằm thênh thang, rồi vươn lên vì ta yêu nàng
Hỡi ôi con đồi ngoan ! Hỡi ôi cỏ hồng hoang !
Cỏ xanh đổi sắc theo nhân tình
Mặt trời cũng đứng soi tia lành
Cỏ hoang xao xuyến trên ngọn ngành
Ðỏ như trong giấc mơ lung linh
Em ngoan như tình nồng, em bao la mịt mùng
Em thơm như cỏ hồng em ơi !
Người bạn tình của tôi là một người rất yêu thơ và đã viết tới 300 bài thơ để tặng tôi. Tiếc thay, tôi không đem theo được với tôi trên bước đường lưu vong này. Trước khi xa nhau, nếu chúng tôi gặp nhau thì thường thường là để nói chuyện về thơ hay về nhạc. Cũng vì Nàng yêu thơ cho nên nếu có những bài thơ hay của thời trước hay của thời đó là tôi phổ nhạc để tặng Nàng. Bài TÓC MAI SỢI VẮN SỢI DÀI là sự phát triển của một câu ca dao miền Nam mà Nàng đọc cho tôi nghe lúc đó.
TÓC MAI SỢI VẮN SỢI DÀI
(Saigon-1969)
Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc
Thuở ấy anh vừa thôi học xong
Yêu anh, yêu anh em làm thơ
Yêu em, yêu em anh soạn nhạc
Thuở ấy thơ còn non mùi sữa
Thuở ấy tiếng đàn nghe vụng quá
Cho nên không khoe nhau bài thơ
Cho nên không khoe nhau bài nhạc
Ở nhà mẹ dạy câu ca
Mang ra cho nhau nghe nhé
Ở nhà mẹ dạy câu ru
Mang ra cho nhau ghi nhớ.
A à ! Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo
Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi.
Từ đó ta thành đôi tình nhân
Từ đó ta cùng vui tình xuân
Yêu nhau, yêu nhau theo thời gian
Xa nhau, xa nhau theo mộng tàn
Từ đó em làm dâu người ta
TừỔđó anh thành anh nghệ sĩ
Em thôi, em thôi không làm thơ
Em yên, em yên vui chuyện nhà
Còn đời người bạn năm nao
Trôi theo, trôi theo cơm áo
Cười đùa đàn địch xôn xao
Nhưng không quên câu hoa héo.
A à ! Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo
Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi.
Ðời sống trôi hoài không nghỉ ngơi
Ðời sống kéo dài cõi trần ai
Con tim, con tim gieo ngàn nơi
Anh yêu, anh yêu cũng nhiều rồi
Lòng vẫn thương người em tu-oi thơ
Lòng vẫn nhớ tình duyên ngày xưa
Bao nhiêu, bao nhiêu thiên Trường Ca
Không qua, không qua câu Mẹ hò
Ngày nào Mẹ dạy câu ca
Ðôi ta ru nhau trong gió
Ngày rày đọc lại câu thơ
Mưa rơi, mưa rơi trên má.
A à ! Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.
Sau khi soạn những bài réo gọi kỷ niệm nhẹ nhàng, tôi còn réo gọi kỷ niệm với những nói chua sót, tang thương. Tôi mượn bài thơ tình đầy chết chóc của thi sĩ Pháp Guillaume Apollinaire để soạn ca khúc :
MÙA THU CHẾT
theo thơ Guillaume Apollinaire
(Saigon-1970)
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho : Mùa Thu đã chết rồi !
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, đã chết rồi
Em nhớ cho, em nhớ cho
Ðôi chúng ta
Sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
Trên cõi đời này, trên cõi đời này
Từ nay mãi mãi không thấy nhau
Từ nay mãi mãi không thấy nhau
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho : Mùa Thu đã chết rồi !
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rẵng ta vẫn chờ em
Vẫn chờ em, vẫn chờ em
Vẫn chờ.... đợi em !
Bài thơ này đã từng ám ảnh tôi hồi thập niên 50 khi tôi còn là sinh viên học nhạc tại Pháp. Ðược phổ nhạc thành một ca khúc Việt Nam, mang ngữ thuật nhạc trẻ, vào năm 1970 này, bài khúc MÙA THU CHẾT nối lại truyền thống soạn nhạc mùa Thu của các nhạc sĩ lãng mạn trước đây, lần này thì ở một xúc cảm cao độ nhất. Vì nó khóc một cuộc tình có thật. Từ nay trở đi, hoặc tôi phổ nhạc những bài thơ chết chóc của các thi sĩ Việt Nam như ÐỪNG BỎ EM MỘT MÌNH, TÌNH HỜ, CHUYỆN TÌNH BUỒN... hoặc tôi dựa vào một câu thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử để soạn bài :
GIẾT NGƯỜI TRONG MỘNG
(Saigon-1970)
Làm sao giết được người trong mộng
Ðể trả thù duyên kiếp phũ phàng.
Giết người đi ! Giết người đi !
Giết người trong mộng đã bội thề
Giết người đi ! Giết người đi !
Giết người quên tình nghĩa phu thê
Giết người đi ! Giết người đi !
Giết người trong mộng đã đi về
Giết người đi ! Giết người đi !
Giết người như loài bướm đong đưa
Giết người đi ! Giết người mơ !
Giết tình thơ ! Giết người trong mộng mơ.
Làm sao giết được người trong mộng
Ðể trả thù duyên kiếp phũ phàng.
Nhưng người ơi ! Nhưng người ơi !
Sao người trong mộng vẫn hiện về ?
Nhưng người ơi ! Nhưng người ơi !
Sao người trong mộng vẫn say mê ?
Ơi người ơi ! Ơi người ơi !
Sao tình trong mộng vẫn ê chề ?
Ơi người ơi ! Ơi người ơi !
Sao mình trong mộng vẫn ngu si ?
Ơi người ơi ! Ơi người ơi !
Thôi đành thôi, thôi đành thôi
Giết người trong mộng mơ.
Làm sao giữ được người trong mộng
Ðể được tình yêu, dẫu bẽ bàng.
Giết người trong mộng ?
Hay giữ người trong mộng ?
Giết người trong mộng ?
Hay giữ người mộng mơ ?
Ðây là lúc ca sĩ Lệ Thu nổi tiếng qua những bài như NGẬM NGÙI, MÙA THU CHẾT... Tôi dùng tên nàng để soạn một bài hát khóc mối tình của tôi.
NƯỚC MẮT MÙA THU
(Saigon 1970)
Nước mắt mùa Thu khóc ai trong chiều
Hàng cây trút lá nghĩa trang điù hiu
Từng chiếc từng chiếc lệ khô vàng héo
Buồn thương từng kiếp nằm trong mộ réo tên người đời quên
Nước mắt mùa Thu khóc than triền miên.
Nước mắt mùa Thu khóc trong đêm dài
Mùa mưa chới với tiếng mưa buồn rơi
Người xây ngục tối tình yêu lừa dối
Giọt mưa tìm tới để chia lầm lỗi với người hoài trinh
Nước mắt mùa Thu khóc cho cuộc tình.
Nước mắt mùa Thu khóc cho hạnh phúc
Mỏng manh vụt đến rồi tan tàn (như trăng thanh)
Nước mắt nào nguôi khóc cho đời mất thần linh
Rồi, người xa người (tôi xa tôi).
Nước mắt mùa Thu khóc than một mình
Một đời ca sĩ hát trong buồn tênh
Giọng ca buồn bã vào trong đời úa
Thời gian còn đó còn thương còn nhớ hoài
Trời ơi nước mắt mùa Thu khóc thân phận mình.
*
* *
TÌNH CA MÙA HẠ
Cũng thuộc trong dòng nhạc tình chết chóc như vậy, tôi còn soạn những bài không được phổ thông lắm như YÊU LÀ CHẾT Ở TRONG LÒNG, NỖI BUỒN CÓ TÊN... Và vì có lúc hát lên những bài tình ca mùa Xuân, tình ca mùa Thu, tình ca mùa Ðông rồi, bây giờ tôi soạn tình ca mùa Hạ trong đó, cũng giống như trong bài CỎ HỒNG dục tính có nhiều hơn là ở trong nhỦưng tình ca của những mùa yêu đương khác.
Mùa Hạ là mùa hoa phượng. Vào lúc trời đất ấm áp nhưng lòng mình thì giá lạnh, tôi soạn PHƯỢNG YÊU, cũng là để kể lại cuộc tình vừa qua của tôi.
PHƯỢNG YÊU
(Saigon-1970)
Yêu người như lá đổ chiều đông
Như mây hồng chưa tím
Như con chim khóc trong lồng
Như cơn giông đêm hè
Tình ta nức nở canh khuya
Yêu người như suối cuộn rừng sâu
Như con tầu say gió
Như con giun ngước lên trời
Yêu trăng sao vời vợi
Làm sao sao nói được tình tôi.
Yêu người ! Yêu Phượng !
Yêu hoa đầu mùa
Yêu mầu rực rỡ, yêu em mù loà
Yêu bằng tiếng nói đơn sơ
Yêu người, yêu cả cơn mơ dụt dè
Yêu bằng gió núi qua khe gập gềnh
Yêu bằng tiếng hát yêu tinh
Yêu người xong, chết được ngày mai
Yêu như loài ma quái
Ði theo ai tới chân trời
Ði không ngơi kêu gào
Làm sao tránh được tình yêu.
Yêu người, yêu có một lần thôi.
Xin yêu, dù gian dối
Xin yêu tôi, dẫu nghi ngờ
Khi bơ vơ còn nhiều
Thì đâu chối bỏ tình yêu.
Trong ba bài tình ca mùa Hạ sau đây thì có bài nhàn nhã và lười biếng, có bài nồng nực và cháy bỏng hơn bài PHƯỢNG YÊU. Bài NGÀY THÁNG HẠ còn đôi chút lãng mạn tính nhưng hai bài HẠ HỒNG, GIÓ THOẢNG ÐÊM HÈ đã ra khỏi loại nhạc tình cảm tính của tôi để mang khá nhiều nhục tính.
NGÀY THÁNG HẠ
(Saigon-1971)
Ngày tháng Hạ, mênh mông buồn
Lòng vắng vẻ như sân trường
Hàng phượng vĩ cũng khác thường
Nhỏ tia máu trên con đường
Ngày tháng Hạ, lê thê dài
Lòng nín lặng như khung trời
Trời cao ngất vươn lên hoài
Nhà nghiêng xuống muốn khóc ai.
Ngày tháng Hạ, trưa ngủ kỹ
Theo tiếng nhạc ve sầu đưa
Cây lá già trong tuổi thơ
Bờ dốc mòn theo tưởng nhớ
Ngày tháng Hạ, nơi rừng rú
Trên cánh đồng hay Thủ Ðô
Buồn kéo dài như đường tơ
Vạt nắng chiều vẫn còn chờ.
Ngày tháng Hạ, loanh quanh về
Nơi góc vườn hay trên hè
Bờ sông vắng, neo con thuyền
Dòng nước đứng trong êm đềm
Ngày tháng Hạ, mưa gieo buồn
Nơi phố nhỏ hai linh hồn
Nằm nghe tiếng tương lai rồn
Rồi bỗng thấy biết tiếc thương.
HẠ HỒNG
(Saigon-1972)
Mùa hè đi qua như làn gió
Mùa hè trong ta đã đỏ hoe
Mùa hè đôi ta bỦôc lửa cháy
Lửa thiêu trái đất này
Mùa hè con tim đã toả nắng
Mặt trời trong ta đã ngồi cao
Mùa hè mưa rơi cũng đỏ máu
Và nhuộm hồng trăng sao.
Ðôi ta chỉ có một mùa Hè thôi
Ðôi ta chỉ có một cuộc tình thôi
Mùa Hè vừa tới nơi rồi
Mùa Hè vừa tới rồi đi
Ðôi ta chỉ có một mùa mà thôi
Ðôi ta chỉ có một lần đời vui
Mùa hè nhuộm sắc đêm hồng
Mùa hè làm sáng tim đen.
Mùa hè cho khô những giọt nước
Lệ buồn trong đôi mắt ngủ yên
Tình nồng như hoa ngát nửa đêm
Dù rằng sẽ chóng tàn
Mùa hè thiên nhiên như tỉnh giấc
Mùa hè đưa ta tới hồng hoang
Trần truồng yêu nhau trong trời đất
Mùa hè của uyên ương.
Ðôi ta chỉ có một mùa Hè thôi
Ðôi ta chỉ có một cuộc tình thôi
Mùa Hè sưởi ấm ta rồi
Dù rằng lửa tắt ngày mai
Ðôi ta chỉ có một mùa mà thôi
Ðôi ta chỉ có một lần đời vui
Mùa hè ngày tháng chưa già
Mùa hè hạnh phúc đôi ta.
GIÓ THOẢNG ÐÊM HÈ
(Saigon-1970)
Gió thoảng đêm hè, gió thoảng về khuya
Gió gập cô bé lúc tuổi xuân thì, giấc ngủ không mơ
Cô bé học trò, đến tuổi học trò
Gió thổi căng tròn dưới lồng ngực son
Gió rồn tim xuống, gió lạnh tâm hồn
Gió là nụ hôn làm cho cô bé nức nở nhiều hơn.
Gió thoảng đêm hè thương nhớ người đi
Nhớ người tình tơ, nhớ người tình thơ
Nhớ cuộc tình xa
Ngày tháng hè là những ngày thương nhớ
Gió để cho đời man mác buồn tênh
Những cuộc tình trinh sẽ còn mỏng manh
Hỡi cô em, lúc xuân xanh đa tình
Gió thoảng đêm hè, gió càng về khuya
Gió càng thương nhớ
Gió chỉ vô tình, gió gợi buồn thương
Cô bé một mình sẽ ngủ một mình.
Gió thoảng đêm dài muốn
là niềm vui, muốn là ân ái
Gió chẳng nên lời, gió chẳng là ai
Ðể ru cô bé giấc ngủ không vui.
Anh Yêu Dấu,
Nếu có thể nói, em đang thèm những giọt cà phê đen, đắng, nhỏ trên môi em, để được nếm lại những
vị đắng, ngọt trên môi nhau, và để nói thêm tiếng yêu thương, có lẻ sẽ rất thú vị phải không anh ? Em thầm cám
ơn anh, đã tập và cho em biết những hương vị lạ lùng ấỵ Thoạt đầu, em không khỏi cảm thấy khó chịu vì những
vị đắng như thuốc bắc, để rồi, lần lần những vị đắng ấy là những vị ngọt làm mềm môi em một cách quyến
rũ.
Em còn nhớ, một đêm hẹn hò nơi quán cà phê, ngồi nghe nhạc, chuyện trò với anh, làn khói thuốc bay bay, em
không dấu được những nỗi khó chịu, anh đã nhận ra điều ấy,
Anh mĩm cười, dịu giọng nói khẽ : " Này cô bé của anh ơi, bé có biết, không có gì thú bằng, ngồi đếm
những giọt cà phê từ từ nhỏ xuống, như đếm thời gian trong sự chờ đợi người yêu, và thuốc lá là bạn đồng
hành không thể thiếu, cũng như anh không thể thiếu em trong cuộc đời này . Không gì thú vị bằng ngồi nhâm nhi
một ly cà phê và thả hồn theo làn khói thuốc baỵ Có lẻ đó là lúc tâm hồn của anh rất thoải mái và bình lặng nhất.
cho dù Anh biết cô bé của anh không thích, nhưng mong rằng cô bé sẽ thông cảm và hiểu cho anh, cô bé có biết, qua làn khói thuốc, cô bé của anh nhìn rất dễ thương không? mà này, hay là em thử cùng anh nếm những giọt cà phê, để
biết rằng vì sao nó lại làm cho các ông thích "
Em nũng nịu tiếp lời : " thuốc em sẽ không bao giờ nếm, em mong rằng sau này, từ từ anh bớt hút lại, và sẽ có
một ngày, mắt em không còn cay vì khói thuốc nữa, đêm nay em sẽ cùng anh chia sẻ hương vị của ly cà phê này "
Và rồi cô bé nhăn nhó vì vị đắng ấy, nhưng ngày lại ngày nó đã thấm mềm trên môi cô bé lúc nào không hay,
có phải chăng, tình yêu cũng thế ? là những vị đắng, ngọt trên môi nhau ? để em nhớ hoài những đêm hẹn hò bên
anh, nghe những tình khúc Lê Uyên Phương, Vũ Thành Anh, Từ Công Phụng, Ngô Thuỵ Miên và để chúng ta cùng ngồi
ngẫm nghĩ lại cuộc đời, cuộc tình, và để tâm hồn của chúng ta kết hợp lại thành một.
Làm sao em có thể quên được những bản nhạc tình, anh hát tặng em, tiếng đàn guitar vẫn quanh quẩn đâu
đây, như những lời mời gọi yêu thương nồng nàn nhất .
Ngồi uống ly cà phê
Bên những nỗi đê mê
Những chuổi buồn hoang phế
Gởi lại ánh trăng thề
Giọt đắng ly cà phê
Anh đã làm em mê
Nụ hôn tình anh gởi
Quên mất cả đường về ....
Viết Cho Giao Mùa
March 2004
~~~/~~((@
Thoắt cái, chúng ta sang năm mới Tây, và cũng đã sang năm mới Giáp Thân Ta. Thời gian đúng như vó câu qua cửa sổ...
Năm mới Tây, gặp nhau, tay bắt mặt mừng: "Happy New Year!" (ai cũng chúc "Happy New Year!" cả, chẳng lẽ mình nói "Chúc Mừng Năm Mới", dù giữa người Việt ta với nhau, nghe lạc lõng quá, nên cũng "Happy New Year!" luôn cho hòa đồng, vui vẻ cả làng). Nhưng sang năm mới Ta, lại chúc nhau: "Chúc Mừng Năm Mới" (các cánh thiệp Xuân gửi nhau có phần văn vẻ hơn: "Cung Chúc Tân Xuân").
Ở Mỹ, tiếng Anh tiếng Việt đề huề, chúng ta dùng tùy thời, tùy cảnh, tùy người.
Trẻ học tiếng Việt
Các cháu bé ngày nào tẻo teo, đến phòng mạch thập thò đứng ôm chân mẹ, nay đã lớn vượt, cao hơn cả bác sĩ. Cháu này Alex, cháu kia Michael, Jessica, ... Thế cũng phải, để các cháu đi học thày giáo, chúng bạn còn dễ gọi tên. (Nhưng ở nhà có thêm tên Việt cũng tốt.) Nhiều người lớn chúng ta, khi nhập tịch, vì công việc làm ăn, cũng lấy thêm tên Mỹ. Bác Peter Nguyên, chị Janice Tuyết, ..., nhìn hồ sơ nhiều lúc thuận tên nào tôi chào hỏi tên nấy.
Khám bệnh cho các cháu, tôi hay quen miệng hỏi:
Cháu có nói tiếng Việt không chị nhỉ? Chà, nhanh thật, ngày nào đến đây nó nhỏ xíu, nay đã 16 tuổi rồi.
Cháu nó nghe được tiếng Việt, nhưng không nói được bác sĩ ạ. Bảo chúng nó tập nói tiếng Việt ở nhà, chúng nó lười, cứ tụm lại là nói tiếng Mỹ với nhau cả ngày.
Nghe thế, tôi lại thường khuyên cháu:
Cháu ạ, cháu phải tập nói tiếng Việt ở nhà chứ. Ai cũng cần biết rành ít nhất hai ngôn ngữ. Cháu xem kìa, mấy cô làm việc cho bác sĩ, nói được ba thứ tiếng: Anh, Việt, và Tàu. Không thì bác sĩ không mướn. Cháu lớn lên, chỉ biết mỗi tiếng Anh thôi, đâu có hơn gì ai, ở Mỹ đây ai cũng nói tiếng Anh cả. Cháu thấy, bác sĩ dùng tiếng Anh với cháu, dùng tiếng Việt với mẹ cháu.
Thế mà nhiều cháu chúng nghe, lần sau đến đã thấy nói tiếng Việt. Có lẽ người bác sĩ ở một vị thế dễ khuyên bảo. "Bác sĩ khuyên cháu hộ, tôi nói nó cứng đầu chẳng ngấm lời tôi", câu này bác sĩ nào cũng đã từng nghe.
Học một ngôn ngữ không dễ, giúp các cháu thông hiểu, nói được tiếng Việt, vừa giữ lấy cội nguồn Việt, còn để cảm thông với bố mẹ, và sau ra đời thêm dễ dàng trong cuộc sống. Tôi vừa gặp trường hợp một cậu con, bất hòa với bố mẹ, vì cậu ta chỉ nói tiếng Anh, bố mẹ nói tiếng Việt, cha mẹ con cái không hiểu và thông cảm nhau.
Xem bệnh xong, nếu có ít phút rảnh rỗi, tôi cũng thường chuyện trò thêm vài câu bằng tiếng Việt với các cháu, để các cháu thấy tiếng Việt thân thuộc.
Người lớn học tiếng Anh
Tôi còn nhớ ngày ở trại tỵ nạn bên Phi, có bà giáo người Mỹ dạy Anh văn thiện nguyện. Bà giáo chăm, ngày nào cũng đến dạy. Trại đông người, nhưng lớp học Anh văn thưa thớt, còn ngoài sân đánh volley vòng trong vòng ngoài, chẳng mấy lúc vắng. Nhiều người chặc lưỡi: "Lo gì, sang Mỹ, ở với Mỹ, chỉ sáu tháng là nói tiếng Mỹ như gió".
Tôi có người bạn thời trung học nay làm kỹ sư, từ nước ngoài sang định cư ở Mỹ đã hơn sáu tháng. Câu chuyện giữa hai người bạn sau mấy chục năm chưa gặp lại:
Thế giờ ông đang làm gì?
Tôi đang học trường câm điếc?
Xin lỗi ông?
Thì trường câm điếc Anh ngữ "English as a second language" (Anh văn, sinh ngữ thứ nhì) ấy mà.
Tội nghiệp bạn tôi, đã đến "ở với Mỹ" hơn sáu tháng, vẫn xem mình còn câm điếc, chưa nói tiếng Mỹ như gió.
Tất nhiên, lớp Anh ngữ "English as a second language", nhiều người chúng ta đã theo học, dạy chúng ta loại Anh ngữ thực dụng, cần để dùng trong đời sống hàng ngày.
Tại phòng mạch, các bác sĩ cũng có thể chỉ dẫn các vị bệnh nhân của mình học loại Anh ngữ thực dụng cần thiết này.
Mấy ngày nay tôi đau cổ, lấy đại "Ampi" có sẵn ở nhà xài thử. Sao bữa nay người tôi nổi đầy mẩn đỏ, ngứa ngáy quá.
Bác có đem chai thuốc theo không, bác cho xem.
May quá, tôi có đem theo đây.
Thuốc trong chai này là "Septra DS", đâu phải "Ampi" bác.
Tôi có biết đâu, tưởng thuốc trụ sinh nào cũng là "Ampi".
Thuốc cũng như người vậy bác à, chúng có tên riêng của chúng. Không phải trụ sinh nào cũng là "Ampi". Từ nay trở đi, bác đừng dùng loại trụ sinh "Septra" nữa nhé. Bác nhớ lấy tên thuốc này, để cho các bác sĩ khác cùng biết.
Tôi gặp không ít những người bệnh trụ sinh nào cũng gọi là "Ampi" như vậy. Rất nhiều khi, biên toa thuốc trụ sinh cho người bệnh, bác sĩ chúng ta cứ lẳng lặng trao toa, không giải thích thuốc tên gì, dùng làm gì. Lỡ có phản ứng phụ do thuốc gây ra, người bệnh đi khám rủi quên đem chai thuốc theo, sẽ rất khó cho việc định bệnh.
Nhiều lần, trong lúc thăm khám, tôi thấy vết sẹo mổ cũ trên bụng vị bệnh nhân, hỏi:
Trước bác mổ gì vậy?
Tôi mổ bướu trong bụng.
Bác có biết bướu cơ quan nào, lành hay độc?
Tôi không biết nữa. Ông bác sĩ trước xem tôi bảo tôi mổ thì tôi mổ.
Việc xin hồ sơ cũ để tìm hiểu và tiếp tục theo dõi vấn đề không phải lúc nào cũng dễ (vị bác sĩ ấy đã dọn đi chỗ khác rồi, đã về hưu, ...). Lỡ ung thư thì sao! Hình như tinh thần "thuốc Bắc" làm hại người bệnh nhân Việt Nam ta khá nhiều. Trước thày thuốc Bắc bảo, đem bọc thuốc này về sắc mà uống, thận yếu đấy, người bệnh cứ thế đem thuốc về sắc uống, không buồn hỏi tên thuốc là gì, trong thuốc có những chất gì, tác dụng ra sao, thì nay, bác sĩ Tây y bảo mổ bướu trong bụng, cũng vui vẻ đi mổ, không thắc mắc đây là bướu cơ quan nào, lành hay độc, sau mổ theo dõi ra sao, ...
Mỗi lần có dịp nói chuyện với các bác sĩ đàn em, ra trường ở đây, họ lại kêu trời: "Khám, chữa bệnh cho các bác bệnh nhân Việt Nam mình khó quá anh ạ. Tên bệnh các bác không biết, tên thuốc các bác không nhớ, kể bệnh không phân thành từng vấn đề rõ rệt, việc nọ cứ xọ việc kia. Rồi bệnh cường giáp trạng hyperthyroidism hay bệnh suy giáp trạng hypothyroidism đều gọi là bệnh ‘bướu cổ’, mà khám thấy cổ có bướu đâu; phim vú mammogram thì gọi ‘phim ngực’, phim ngực ‘chest X-ray’ lại gọi ‘phim phổi’. Nhiều lúc nghe các bác ấy kể bệnh, đầu óc em nó cứ quay mòng mòng, không biết đâu mà lần".
Họ học ở đây, thực tập với những bệnh nhân người Mỹ kể bệnh rành rẽ, thuốc men thuộc tên, nay đột nhiên tiếp xúc với những người bệnh Việt Nam, họ cảm thấy khổ sở là phải. Nhưng, tre già măng mọc, đây là những người bác sĩ trong tương lai sẽ lần lượt thay thế các thế hệ bác sĩ đàn anh, chăm sóc người bệnh của cộng đồng Việt Nam. Các bác sĩ đàn anh có lẽ cũng nên sửa soạn dần người bệnh nhân Việt Nam giúp họ.
Thế nên, gần đây, khi giảng giải vấn đề bệnh tật cho các vị bệnh nhân, tôi thường mở đầu với câu nói nhật tụng: "Chị Nancy M. này, bệnh tật nó cũng như mình ấy mà, mỗi đứa nó có một cái tên, vừa tên Việt vừa tên Mỹ, chị cố nhớ cả tên Mỹ của nó nhé, lỡ có lúc phải vào phòng cấp cứu còn biết cách kể bệnh. Không phải phòng cấp cứu nào cũng có sẵn bác sĩ Việt Nam mình". Rồi tùy trường hợp bệnh, tôi tiếp:
Chị bị cảm thường, "cold" thôi, 1 tuần 10 ngày nó sẽ hết.
Anh bị cúm rồi, mùa này "flu" đầy, có nhà bị "flu" sắp lượt.
Tôi nghĩ cháu nó bị sưng phổi, "pneumonia", để mình làm cái phim ngực "chest X-ray" xem có đúng không.
Năm ngoái, bác chụp phim vú mammogram tháng nào nhỉ? Ung thư vú, "breast cancer", nhiều ở người trên 50, bác nhớ đi chụp phim vú mammogram hàng năm.
Siêu âm ultrasound cho thấy chị bị sạn túi mật, nếu đau dữ nữa, chị vào phòng cấp cứu, nói bị "gallstone", bác sĩ phòng cấp cứu sẽ hiểu ngay.
Chị có bướu lành tử cung "fibroid" khá lớn, lại hay ra máu, chắc bác sĩ phụ khoa thế nào cũng khuyên chị mổ. Bướu này không phải ung thư, "cancer", mổ xong thường thì thôi, không cần theo dõi hay làm gì thêm.
Phim chụp "Cat scan" đầu của anh bình thường, không có bướu óc, "brain tumor" đâu mà sợ. Tôi nghĩ anh bị chứng nhức đầu căng thẳng, "tension headache" thôi.
Cháu bé trước có bị suyễn, "asthma", không?
Thử máu cho thấy chị có bệnh cường tuyến giáp trạng, "hyperthyroidism", tuyến giáp trạng chị làm việc mạnh bất thường, nên chị xuống cân, hay mệt mỏi, hồi hộp. Ðừng gọi bệnh "bướu cổ", ở đây bác sĩ Mỹ họ không hiểu.
À, cám ơn bác đã đem thuốc lại tôi xem. Bác đang uống thuốc Synthroid, để chữa bệnh suy tuyến giáp trạng, "hypothyroidism". Lần trước, bác không đem thuốc theo, nói bị bệnh "bướu cổ", tôi không đoán được bác có bệnh gì. Ðây, xin chỉ bác xem cái hình tuyến giáp trạng, Mỹ họ gọi là "thyroid gland". Bác nhớ lấy tên bệnh nhé: suy tuyến giáp trạng, "hypothyroidism". Tôi biên tên bệnh xuống cho bác giữ bỏ vào ví, cả tên Việt lẫn tên Mỹ.
...
Mùa Xuân là mùa các cây non nảy vươn mầm sống, trong ngôn ngữ chúng ta hãy sửa soạn cho các thế hệ tương lai.
Phở Gà, Nước Béo
- “Còn tôi, thì cho một tô gà da đùi, hai cái trứng non và vài thìa nước béo! À, nhớ cho mấy ngọn hành trần nữa nhé”
- “Thôi đi ông ơi! Vừa mới thông tim, máu đầy những mỡ mà còn bầy đặt nước béo với trứng gà”.
Ông chồng yêu đời cười cầu tài:
- “Thì đã có mẹ nó lo. Y Tá lưỡng quốc chứ bộ chơi à”.
Ðây chẳng phải là mẩu chuyện ít nghe thấy ở cõi đời này. Mời nhau đi ăn, ai cũng dè dặt ngại ngùng, nhất là tiệc tùng cưới hỏi. Quanh đi quẩn lại cũng vẫn mấy món béo ngậy những bơ, những mỡ, những thịt. Thì ra con người bây giờ lo tìm cách làm sao ăn ít đi, chứ không như một vài động vật lo kiếm không đủ thực phẩm để ăn.
Mỡ béo là thực phẩm nhiều người e ngại nhất.
Nghĩ cũng tội nghiệp cho những tảng mỡ hồng hào, đẹp mắt này. Không có nó thì làm sao có làn da mịn màng, mát rượi của những ngón tay thon cho người tình nắm; lấy gì để cấu tạo màng tế bào; lấy gì để chuyên chở các sinh tố hòa tan trong mỡ cũng như cung ứng năng lượng cho nhu cầu của cơ thể. Chất béo cho số năng lượng nhiều gấp đôi chất đạm, chất tinh bột. Và nhiều ích lợi khác...
Nhưng nhiều béo thì lại mập ù. Ðàn bà mập đùi mập mông, đàn ông mập bụng, thứ tự tượng trưng cho trái lê, trái táo. Mập thì cũng xấu đi, mất eo, mất õng ẹo. Nhưng ngại hơn là chất béo đóng vào thành động mạch, làm tắc nghẽn, xơ cứng.
Ði thăm ông bà Tây y mà được báo rằng máu có nhiều cholesterol là nhiều người chẳng thấy vui gì. Lại có than phiền, kể lể. “Chị ơi, em chẳng dám ăn bún bò Huế nữa đâu, bác sĩ bảo em phải kiêng vì cái LD nó cao mà HD lại thấp. Em chỉ ăn với chị bữa nay thôi nhé. Rồi kiêng cho tới tuần saụ”
Hai cái LL, HH này là cái gì nhỉ?
Anh hai HDL là cholesterol Hiền lành. Nó không gây đóng mỡ mà lại còn mang cholesterol vào gan rồi đưa ra ngoài. Cho nên ai thấy nó trên con số 45 là mừng húm như trúng xổ số tombola. Còn đứa em song sanh LDL thì Láo lếu, Lì lợm. Nó mà cao trên 160 là tim mạch đi đong dễ như chơi. Má chúng, chị cholesterol, chỉ số càng thấp càng tươi mát, dưới 200 là lý tưởng tuồng Tầu.
Mấy bà nội trợ hồi này hồ hởi rủ nhau mua dầu thực vật về xào rau, chiên cá. Các bà tránh mỡ heo, mỡ bò như tránh tà ma, ôn dịch. Như vậy cũng tốt đi. Vừa rẻ tiền vừa an toàn xa lộ vì thực vật không có cholesterol.
Mà đúng ra, ta cũng chẳng cần phải ăn nhiều thực phẩm có bà má cholesterol lắm chuyện này. Cơ thể ta với lá gan kí rưỡi có khả năng tạo ra được hầu hết số lượng cholesterol cần thiết. Ðủ để là thành phần của kích thích tố nữ cho quý bà quý cô có vòng số một nhô to như sân trực thăng trên hàng không mẫu hạm; cho quý ông có nhiều testosterone mà “đêm bẩy ngày ba, vào ra không kể”...
Nói đến chiên cá lại nhớ đến việc các ông các bà thầy dùi y học mũi lõ mắt xanh cũng như da vàng tóc đen. Hồi này các trự đăng đàn báo nghe, báo đọc hơi nhiều: để cổ võ bá tánh “giảm nhục, tăng ngư”. Coi bộ các bạn ta trúng mối, lượm nhiều hoa hồng xuất cảnh cá ba sa Cần thơ, Bà Rịa hoặc cá mèo Vĩnh Ninh, Nam Ðịnh.
Nhưng thực tâm mà nói, ăn cá cũng có nhiều cái lợi. Cá nằm trong nước, ăn rêu ăn rong hoặc “cá lớn nuốt cá bé”, nên cũng ngon thịt hơn mà lại dễ tiêu. Rồi lại có nhiều chất béo hiền hòa, những Omega-trois, Omega- six - neuf, ... (Omega-3; 6 – 9, ...). Các ông bà nghiên cứu thì cứ quả quyết là omega hạ má cholesterol cũng như dẹp bớt nàng LDL Lếu láo trong máu. Một tuần mà làm hai lần hoặc cháo cá quả gia truyền Văn Quang hoặc gỏi cá lá xung Tâm Lý Chiến Ðại Úy Cường là số dách. Mẹ con nhà Cholesterol, LDL là cứ tha hồ theo nhau mà xuống dốc.
Mấy ông kiểm soát thực phẩm xứ Cờ Bông cũng như các tay đầu tư đông bạc hồi này chiếu tướng các nhà sản xuất thực phẩm kiểu “Mì ăn liền” hơi nhiều. Món ăn làm sẵn mua xong vừa ăn vừa thổi. TV dinner đông lạnh về nhét vào lò vi ba dăm phút là sẵn sàng cho việc “cơm nước xong, trời vừa tối”. Bát chén giấy, ăn xong vứt bỏ. Chẳng phải lách cách nấu nướng bếp núc. Chẳng phải rửa chén rửa bát.
Xong bữa, vợ chồng phưỡn bụng ngồi coi phim bộ tới khuya chẳng cũng thư giãn hay sao! Mời nhau thêm lon nước ngọt nhiều đường, thùng pop corn đầy bơ. Ðể lâu lâu “Tay ải tay ai” thì lại càng thơ mộng, động tình. Việc gì phải Viagra hoặc Hawai, Alaska cho tốn tiền mà lại còn sợ bị không tặc hiểm nguy. Chỉ tội lên cân cũng lẹ.
Nhưng...
Ông cố đạo Tây Ban Nha thật nát chuyện. Tại sao lại đặt ra những NHƯNG, những NẾU trong ngôn ngữ Việt Nam cho cuộc đời thêm phức tạp.
Vâng, nhưng những món ăn làm sẵn, ăn liền này chúng cũng bố lếu bố láo lắm cơ. Chất mỡ đã béo ngậy mà muối biển cũng mặn như... muối. Mà con người ăn vào lại khoái khẩu mới chết chứ. Nên muốn-ăn-thêm. Nào French Fries, nào Fried Chicken, ... Toàn chiên bằng chất béo có hại “trans fatty acid” không à! Cái anh du kích ác ôn này là vua phá hoại, chuyên gia đặt cốt mìn dọc theo xa lộ tuần hoàn đấy. Quý ông bạn dân CIA, bà cớm FBI, Cảnh sát khu vực cần canh chừng chúng cẩn mật.
Và các quan kiểm soát thực phẩm đã cảnh giác nhà sản xuất đổi cách nấu chiên, các tay đầu tư dọa rút vốn. Bộ con dân hiền lành của người ta mà cứ nhè đầu độc mãi thì đâu có được. Coi chừng kẻo mập phì cả nước bây giờ!!! Lại còn nghẹt tim, tai biến não, ...
Các ông Y tế chỉ thị là chỉ nên ăn 30% tổng số chất béo một ngày. Sữa thì skim milk, gà bỏ da, trứng bốn trái một tuần. À, cái vụ trứng gà này thì các ông bạn Tiên Chỉ, chiếu trên thủ lợn, gan bò cần nhớ nhé. Kẻo quý hiền thê lại phải nhắc chừng.
Ôi! cái ông đốc tờ này cũng nhiêu khê, lắm chuyện. Vợ mình như cái thùng tố nô thì khen đẹp rối ra rối rít. Mà cứ bầy đặt nói chuyện kiêng khem, ăn uống. Kệ chúng tôi. Ngon miệng là tôi... cứ sơi. I don’t care! Que sera, sera!!
Cứ ăn cho sướng miệng các cụ ạ. Phở tái mà không có tí nước vàng béo ngậy thì thà ăn cháo trắng với muối vừng. Thịt bíp tếch toàn nạc thì khác gì nhai miếng bông gòn trong miệng, nuốt mãi không trôi. Phải không ạ... thưa các cụ!! (xin cho tràng pháo tay)
Vâng thì tùy cụ.
Chỉ ngại là ông Tobia với tấm vé tầu đang đứng đợi trước cửa, chờ giờ vào đón. Hoặc chú đốc Nguyên sẵn sàng thông mạch máu, rồi nhẹ nhàng đếm bạc, bỏ ngân hàng.
Ai buồn, ai vuỉ!
Texas, tháng 7/03.
Cuối tuần mời các bạn nghe:
Nhạc Hoàng Kim Chi: Trên Ðường Nắng Phai
http://www.vietnhac.org/members/hoangkimchi/TrenDuongNangPhai.wma
Nhạc Phan Ni Tấn
http://www.xuquang.com/naman/NhacPhanNitan.htm
Thư Gởi Ban Mê Thuột - thơ Ðặng thị Quế Phượng, nhạc Phan Ni Tấn
http://students.washington.edu/huynt/Media/TGbmt_Feb1404.swf
Hạt Xuân - nhạc và lời Phan Ni Tấn
http://students.washington.edu/huynt/Media/HX_Feb1404.swf
Qua Mấy Trời Sương Mưa của Hoàng Lộc@
http://www.xuquang.com/naman/NVK%20Ben%20Taỵhtm
Bài viê't của nhà biên khảo Nguyễn Vy Khanh @
http://www.xuquang.com/naman/NVK%20bio.htm
Thơ Trần Hoan Trinh [trên bục gỗ thầy chứng minh toán nhưng thầy còn...@
http://www.xuquang.com/naman/THT%20Trom%20Hoa.htm
Một bài hát mới của Mai Dức Vinh [con chim ngứa cổ hát chơi từ Canada :-)] @
http://saigonline.com/mdv/music/CanhPhuongNamXua.mp3
Ðiạ chỉ cuả toà báo:
VietHomeMagazine
1340 Tully Road # 301
San Jose, CA 95122
tel 408-971-6057
Email: VietHomeMagazine@cs.com.
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, Bích Hằng, Bích Xuân, CC, Cát Biển, Chấn Vũ, Châu Thái Lê, Chu Kỳ Thư, DHH, Ðỗ Thành, Hà Nguyên Du, Hương Kiều Loan, Lâm Huân, Lạc Duyên, Nguyệt Trinh, Nguyễn Hữu Viện, BS Nguyễn Văn Ðức, BS Nguyễn Ý Ðức, Ngô Thy Vân, Ngọc An, NDTrọng & Thanh Ðan, Nhược Thu, Nnguong, NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Sông Cửu, Sương Mai, Tâm Thư, TH, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần Nhất Lang, Trần Công Nhung, Trần Hoan Trinh, Trần Kiêu Bạc, Trường Ðinh, Viễn Phương, Việt Dương Nhân, Việt Hải, Võ Ðình Tuyết đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 23 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
TrungKy@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua2002@aol.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua2002@aol.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: TrungKy@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà