Số 24

Ngày 1 tháng 4 năm 2004

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua2002@aol.com


Thư Ngỏ



Khi gió lạnh tháng ba ngừng thổi, mưa tháng tư đến lất phất nhẹ nhàng, tưới xuống vùng đất khô, nâu, cứng, làm mềm mặt đất. Hoa bắt đầu nở trên nền cỏ xanh, lá non đâm chồi, bướm lượn, chim sẻ nhảy nhót trong vườn, bầu trời xanh không gợn mây. Tất cả báo tin nàng xuân lại về tràn ngập niềm tin mới. Sao trong làn nắng mới, gió xuân hây hây thổi lại lao xao gợn kỷ niệm tháng tư năm xưa? Tháng tư, tháng dời đổi của hai mươi chín năm trước. Tháng tư nóng hổi, tháng tư náo động, tháng tư lo sợ, tháng tư chia lìa, nước mắt rơi, tương lai mờ mịt, người đi tới vùng đất lạ, người ở lại xa lạ với các đường đổi tên, thành phố đổi chủ. Rồi năm này qua, năm kia đi, tháng tư lại về, tháng tư trong nỗi nhớ, tháng tư chập chờn vắt trán suy tư, tháng tư nhẹ đưa tiếng thở dài ... Tháng tư đền rồi trôi qua. Mùa sang mùa, tháng tư nhú lên những mầm non mới, vô tư như hoa nở, bên cạnh những cây tre tuổi xuân đã cỗi, từ tốn lặng ngắm bóng mình bên sông, chịu đựng, chấp nhận ... Tháng tư về đẹp quá với niềm tin thắm quá, như muốn xoá mờ đi những tháng tư phập phòng lo âu. Tin tưởng, hy vọng vẫn lớn mạnh mà kỷ niệm thì không bao giờ xoá ra khỏi ký ức con người.

Cùng gió tháng tư, mưa xuân vun xới cây xanh lớn lên, nhưng cũng bồi đắp đất cho những cây yếu, tưởng chết được mọc lại tươi tốt. Tháng tư về như nhắc nhở: người ơi chớ quên tháng tư năm xưa, chớ quên sự khó nhọc, niềm lý tưởng khi ra đi! Xin đừng quên những người ở lại, đừng quên văn hóa của một thời, những tim óc đã chuyển đạt tư tưởng, đừng quên nhạc vàng viết ra từ cảm xúc yêu, thương, buồn, giận, âu lo hay hy vọng của người dân miền Nam trong thời chiến. Hãy chăm sóc, vun trồng những tư tưởng, những tình cảm ấy, hãy dạy dỗ con cháu cho chúng biết lịch sử thế hệ người Việt đầu tiên nơi quê người, hãy ghi lại, hãy nhớ, hãy kể chuyện, xin đừng phụ những người chịu đựng tù tội, những người nằm xuống vì hai tiếng tự do, mà chúng ta hưởng đầy tưởng như không còn quý nữa.

Tháng tư như sự tuần hoàn của tạo hóa, lại về để chúng ta lại nhớ, ươm mầm, vun xén và hy vọng!

Trần Viết Minh-Thanh
BBT Nguyệt San Giao Mùa


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Như ______CC
2. Ở Trời Ta, Biển Khác ______Nguyễn Ðăng Tuấn
3. Có Phải ______Cát Biển
4. Chuyến Ðò Ngang ______Ngô Thy Vân
5. Lỡ Yêu ______Xuân Phương / Hoàng Mai Phi
6. Tôi Vẫn Nợ Anh ______Châu Thái Lê
7. Ðời Thì Ðẹp ______ Tôn Thất Phú Sĩ
8. Bài thơ tình tóc rối ______Nguyên Khoa
9. Chút Riêng Tôi ______nttn
10. Hành Lạc Từ ______Nguyễn Du
11. Hành Lạc Từ ______Trần Nhất Lang dịch
12. Mưa Trong Mắt Người ______l.t quỳnh hương
13. Giữa Dòng ______Tâm Thư
14. Trăm Năm Sau ______Nguyệt Trinh
15. với tình như lúa phơi mao (*) ______hà nguyên du
16. Sinh Nhật Vầng Trăng ______Phạm Vũ Anh Nam
17. Chìm Lắng Một Cung Ðàn ______Trần Kiêu Bạc
18. Cõi Hư Vô ______Nguyệt Ca
19. Với Huế ______Chu Kỳ Thư
20. Tiên'g Hát ______Sông Cửu
21. Tháng tư ,hăm tám ______Vũ Thị Thiên Thư
22. Bên Sông ______Trần Hoan Trinh
23. Hận Sông Ba ______Nam Phong
24. Ða tạ những vần thơ ______Ngọc An
25. Biển tình ______Uyên Thi
26. Bình Minh trên Vịnh Cựu Kim Sơn ______Nguyễn Hữu Viện
27. Hỏi Thăm ______Sương Mai
28. Buồn Em ______Trần thị Hà Thân
29. Xuân ______Nguyễn Quốc
30. Nghe Như Là Xuân ______TH

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Nghĩa Thật Của Tiếng Cười _______ Sông Cửu
2. Tuổi Mộng ___________ Tôn Thất Phú Sĩ
3.Mùa Nước Lũ ( kỳ 21) ___________ Trần Công Nhung
4.Cây đa bến cũ (kỳ 3) ___________ Thanh Sơn
5.Tuổi Già ___________ Ðỗ Thành
6.Khám Phá ___________ Nguyệt Trinh
7.Tập truyện rất ngắn ___________ Vũ Thị Thiên Thư
8.Chúng Tôi và một chuyến đi chơi: Quốc Tử Giám (tiếp) ___________ Hương Kiều Loan
9.Cánh Áo Màu Rêu ___________ Phan thái Yên
10.Chuyện Dài Nụ Hôn ___________ Việt Hải
11.FLORIDA - Vùng Nắng Ấm ___________ NDTrọng & Thanh Ðan
12.Thư Gửi Thiên Kim ___________ Nguyễn Thị Vinh

III . Ngàn Lời Ca (kỳ 15)________________________________________________________________

1. THƯƠNG CA CHIẾN TRƯỜNG BÀI HÁT CHO QUÊ HƯƠNG TỒI TỆ _______________________________ NS Phạm Duy

IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

V. Nghiên Cứu________________________________________________________________

1. BỆNH NGÓN TAY BẬT _______ Bác sĩ Nguyễn Khắc Ðoan
2. Thể Thao và Sức Khỏe: Chạy Marathon _______ Bác sĩ Phạm Văn Hoàng

VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Trang Nhà Sương Mai _______ Giao Muà
2. Nguyệt San VietHome Magazine - _______ Giao Muà
3. Câu Chuyện Thơ Nhạc _______ Giao Muà

VII . Nhạc __________________________________

1. Nhạc : 1. Tháng Tư Buồn _______ Nguyễn Nam Việt

VIII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Như ....! 

 
Buồn như cổ thụ ngàn năm đứng 
Chờ gió em về khản tiếng ru
Buồn như thiếu phụ tìm gương cũ
Lược cùn tay vụng rối canh thu
 
Tình như lá cuối xa cành  vội  
Trụi luĩ hồn cây xám thân gầy
Ừ ta viên cuội im lìm ngóng
tìm mãnh trăng em tắm mặt hồ 
 
Hồ Như sương nhuốm muì hương cỏ 
Ðêm vọng sáo diều tiêu khúc ngân  
Hồ như lá khẽ ru thềm nhớ ;
trên tóc em chờ ngọn gió thu 
 
Rồi như sỏi đá vô tư  đợi
uá cả muà thơ rách mặt trời
Xin hãy là mưa vuì nhân thế 
Cuốn dìm viên cuội xuống hồ trăng 
 
Tình Như rất đẹp từ xưa lắm 
nên gió hay về đọng nguyên âm
nên môi huyền sử màu rất thật 
Tình như ..Như đã …Ðã mặc trầm ! 
 
03 Feb 2004

CC 
Mục Lục


2. Ở Trời Ta, Biển Khác ngực máu đỏ râm râm người qua đời xoáy tận lẫm lũi hồn nát đâm trái tim lừ lừ khất nghìn cõi nghìn khuất xa từ trời ta, biển khác mở mắt tầm báng pha khi nằm im hoáng đô. ở giữa đời ta đâu xào xáo bao tân khô? nghìn dấu nằm chất nhau hóa ta, điều đã một nguyễn đăng tuấn
Mục Lục


3. Có Phải Phải chăng cánh lá vàng làm muà thu chứa chan Hay nhạc sầu nhung nhớ mà tơ chùng ngổn ngang Phải chăng ánh mặt trời làm mùa hè rực rỡ Hay bởi lòng nung nấu mà say thấu cung mơ Phải chăng tự đáy lòng người còn bao ước mong ngọn suối tình tha thiết nên mãi miết chờ trông Phải chăng vì tuyết trời làm muà đông giá băng Hay đắm chìm cô lẻ cửa không hé mời trăng Phải chăng bởi mai vàng về muà xuân điểm trang toả hương đời dào dạt tình xanh ngát nồng nàn ? 2/22/04 Cát Biển

Mục Lục


4. Chuyến Ðò Ngang- Ðôi ta chung mộng hải hồ Chung niềm mơ ước hẹn hò ra khơi Viễn du khắp bốn phương trời Cánh buồn tung gió phất phơi mây ngàn Tình ta thêu dệt mộng vàng Rồi em lỗi hẹn bẽ bàng tình anh Sóng tình sóng bạc tan nhanh Anh đi trong nắng hanh hanh chiều tàn Tiễn em qua chuyến đò ngang Em về bên đó đâu màng đến tôi Tim tôi em dẫm nát rồi Giết người áo trắng trên đồi cát xưa Ðêm nay sao mọc lưa thưa Trăng ngà khuất bóng hàng dừa đứng im Thinh không vắng lặng muôn chim Như trêu như ghẹo trái tim nghẹn ngào Xa xa sóng nước dạt dào Từng cơn sóng vỗ dâng cao đôi bờ Cánh buồm lướt sóng nhấp nhô Tình em gian dối biển hồ buồn lây

Ngô Thy Vân

Mục Lục


5. Lỡ Yêu Gặp người dù lỡ yêu người Muốn yêu lại lỡ vì người đã yêu Lỡ yêu không vẹn tình yêu Ðễ người yêu lỡ u buồn vì yêu Lạy trời cho được người yêu Ðễ người yêu lỡ ít nhiều còn yêu Bao năm lầm lỡ vì yêu Cho dù yêu lỡ , yêu thì cứ yêu .... !!! Yêu người không lấy được người Người không yêu lại vì người đã yêu Yêu thầm không vẹn tình yêu Yêu người không được cũng yêu thương người Trăm năm vẫn cứ yêu người Dù rằng người chẵng yêu người đáng yêu Yêu người dù không được người Người không yêu lại cũng là người yêu Yêu thì ai vẫn cứ yêu Yêu người không được người yêu thương người Trăm năm vẫn cứ yêu người Ðáng yêu thì cứ yêu người cứ yêu tháng hai /2004

Xuân Phương / Hoàng Mai Phi

Mục Lục


6. Tôi Vẫn Nợ Anh Ðâu phải đợi tháng tư để trở về con đường lịch sử bên trong nỗi sầu viễn xứ tôi mang nặng hình hài của một tháng tư có mẹ bế con trốn đạn bên công sự nhìn đoàn người hốt hoảng chạy về nam có trẻ thơ dọc đường số bảy kinh hoàng khóc ngất trên xác mẹ bởi vú ngưng giòng sữa có những tay, chân, đầu lâu, thây người sấp, ngửa ám ảnh trọn đời, ôi một thuở can qua ! có đôi chân anh đo suốt hai chiều ngang, dọc Sơn Hà Chương Thiện, U Minh, Bình Long, Quảng Trị ... chặng đường nào đôi chân anh bỏ lại ? bên rừng cao su bốc cháy ? dưới chiến hào đạn pháo mưa sa ? đôi chân anh bỏ lại cho đôi chân tôi được chạy một ngày tháng tư vượt lửa khói mịt mù hai mươi chín mùa tháng tư ai quên ai nhớ ?! mà anh thì nhắm mắt vẫn không quên lòng đất nào trên quê hương mầu mỡ được vun bón bằng xương thịt đôi chân anh còn đó đọa đày từng hơi thở trên quê hương nức nở khóc tình người chiều hôm kia có ai qua phố chợ gặp chiếc áo hoa rừng vá trăm mảnh tả tơi đồng đội anh, có người thay áo mới hai mươi chín năm, không ngắn cho một cuộc đời một cuộc đời đắm chìm trong bóng tối tàn cuộc rồi, tức tưởi - quê hương ơi ! chiều hôm kia có ai qua phố chợ nghe lời ca nức nở kẻ ăn xin kẻ ăn xin vì quê hương trả nợ bị lãng quên trong bóng tối một mình những gì hôm nay tôi còn được thấy không nhờ anh chưa hẳn đã có đâu con, cháu tôi, có đứa kỹ sư, bác sĩ hiểu chăng cha, chú nó nợ ngập đầu ?! ( Những Buổi Chiều Thân Phận ) tpbvnch.tripod.com/docongdanh.jpg tpbvnch.tripod.com/nvviet.jpg - March/07/04 Châu Thái Lê
Mục Lục


7. Ðời Thì Ðẹp Từ độ quen nhau đã biết rồi . Nhìn em chỉ thấy nụ cười thôi . Trái tim dấu kín điều chưa nói . Ẩn những ân tình trên bờ môi . Ngọn lũa hồng phơi phới trong lòng . Thương em thương cả nét mi cong . Tình yêu đến tưỡng như vô tận . Mỗi một ngày là một niềm vui . Ðời thì đẹp nhưng không vĩnh viễn . Như lá vàng rơi ghế công viên . Trời không yên trong ngày mưa bão . Tiếng hát nào còn mãi ngàn sau . Ðôi khi trộm nhìn em ta thấy . Ðôi mắt ngây thơ đã đổi màu . Mái tóc em xanh ngày son trẻ . Bỗng thành mây trắng thoáng bay mau. Cuối đời giấc ngủ không còn mộng . Trời vẫn xanh xanh mãi trong hồn . Bỏ lại dằng sau tình diu vợi . Hạt bụi mờ trong cỏi hư không . Tôn Thất Phú Sĩ

Mục Lục


8. Bài thơ tình tóc rối - Che nhau về trên lối đuờng quen in bóng chung yêu nhau nào có tội mà đôi lứa nguợng ngùng Mây bay thời áo trắng trong ngần mắt thủy tinh hoài nghi hoài im lặng trên sân nắng vô hình Tóc xanh thì trinh nữ quyến rũ tình đôi ta huơng yêu mùi hoa buởi tím thuơng tím hoa cà Những mùa vàng khép mặt nỗi nhớ về đêm đêm có điều gì níu chặt trong nụ hôn ngọt mềm Ddưa em về trên lối che nhau vào bài thơ bài thơ tình tóc rối nhớ nhau đến bây giờ .|. Mar.17.04 nguyên khoa
Mục Lục


9. Chút Riêng Tôi tôi đi tìm lại chút riêng tôi một chút riêng tôi của một thời còn mơ còn mộng còn tin tưởng vào một ngày mai đầy vui tươi ... ooOoo đã bao năm tháng tưởng đã quên tưởng đã ngán ngẩm chuyện bên lề tưởng đã nhủ lòng không còn thiết những chuyện không đâu ... chuyện không tên một hôm "thức dậy" bỗng nhìn quanh để rồi tự hỏi cớ sao đành buông tay thả lỏng phủi sạch nợ ... trần gian tuy kiếp sống mong manh ??? ooOoo tôi trở lại tìm chút riêng tôi một chút riêng tôi để mà rồi tìm chút yêu thương chút hy vọng tìm lại chút gì ... ... chút cái "tôi"! ooOoo tôi mong tìm lại chút riêng tôi một chút riêng tôi để mà rồi ... 10 March 2004 http://www.umich.edu/~nga/nttn.html nttn
Mục Lục


10. Hành Lạc Từ BÀI II Sơn thượng hữu đào hoa, Xước ước như hồng ỷ. Thanh thần lộng xuân nghiên, Nhật mộ trước nê trĩ. Hảo hoa vô bách nhật, Nhân thọ vô bách tuế. Thế sự đa suy di, Phù sinh hành lạc sự. Tịch thượng hữu kỹ kiều như hoa, Hồ trung hữu tửu như kim ba. Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp. Ðắc cao ca xứ thả cao ca. Quân bất kiến Vương Nhung nha trù thủ tự tróc, Nhật nhật cối kê thuờng bất túc. Tam công đài khuynh hảo lý tử, Kim tiền tán tác tha nhân phúc. Hựu bất kiến Phùng Ðạo vãn niên xưng cực quý, Lịch triều bất ly khanh tướng vị. Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không, Thiên tài đồ lưu “Trường Lạc Tự”. Nhãn tiền phú quí như phù vân, Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân. Cổ nhân phần dinh dĩ lũy lũy, Kim nhân bôn tẩu hà phân phân. Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ, Sinh tử quan đầu mạc năng độ. Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan, Tây song nhật lạc thiên tương mộ. Nguyễn Du

Mục Lục


11. Hành Lạc Từ bài II Triền non rợp bóng hoa đào Ðẹp xinh như lụa đỏ mầu thắm tươi. Sáng xuân hoa mỉm miệng cười Chiều hôm rơi rụng nằm nơi đất lầy. Ðời hoa không quá trăm ngày Trăm năm, nhân thế mấy ai tuổi này. Việc đời luôn vẫn đổi thay Phù sinh một kiếp, cứ say thỏa lòng. Tiệc vui người đẹp hoa nhường Trong vò rượu quí ánh vàng long lanh Dập dìu tiêu sáo chậm nhanh Dịp vui hiếm có, thỏa tình hát ca. Vương Nhung lo đếm thẻ ngà (1) Ngày ngày tính toán, biết là đủ đâu? Ðài nghiêng mận chết từ lâu Bạc vàng tiêu tán người sau hưởng phần. Họ Phùng tuổi lão giầu sang (2) Mấy triều khanh tướng còn vang tiếng đời Ðỉnh chung rồi cũng buông xuôi Duy bài “Trường Lạc” để đời ngàn năm. Công danh tiền bạc phù vân Người nay lấy chuyện cổ nhân gẫm cười. Tha ma kẻ trước chôn vùi Bây giờ thiên hạ ngược xuôi nhọc lòng Ngu, hiền một nấm mồ nông Tử, sinh muốn tránh cũng không được nào. Vui chơi dăm chén rượu đào Hoàng hôn bên cửa rót vào hiên tây. (1) Vương Nhung người đời Tấn, nhà giầu nhưng biển lận, ngày nào cũng cầm thẻ ngà trong tay để tính toán. Trong nhà có cây mận rất ngon, bán quả sợ người ta lấy giống nên dùi nát hột rồi mới bán. (2) Phùng Ðạo người đời Ngũ Ðại, tính chất phác, văn hay, làm khanh tướng dưới bốn triều Ðường, Tống, Hán, Chu. Tự đặt tên là Trường Lạc Lão, có làm bài Trường Lạc Lão Tự Sự kể chuyện mình thờ bốn họ, sáu vua.
Trần Nhất Lang dịch





Mục Lục


12. Mưa Trong Mắt Người Có bao giờ bên ấy Nhìn những hạt mưa rơi Nghe từng giọt dài ngắn Như hợp tan trong đời Có bao giờ anh thấy Hạt mưa trong mắt người Long lanh nhưng bất động Vương vấn lệ không rơi Sóng nào hai lối rẽ Trên bờ biển chơi vơi Như dòng đời hai ngã Trăm năm mãi xa vời Có bao giờ anh đếm Thu rơi bao lá vàng Những hạt sương lưu lạc Ngày mai rồi cũng tan Có bao giờ anh kiếm Thiên đường suốt đời mơ Bóng ảnh hồn hoang tưởng Sỏi đá cũng hư vô
l.t. quỳnh hương


Mục Lục


13. Giữa Dòng giấy không thể giải niềm riêng, giấy trắng tay muốn ghi, viết chẳng được . Xoay vòng lẩn lộn ngôn từ, môi thơm mặn đắng thương, yêu, đợi, chờ ... hóa kiếp hư không người đi, về, thản nhiên chia sợi nhớ dòng sông đời chẳng nở lạnh lùng, trôi sớt niềm riêng, buồn ngã nghiêng một thuở quên giận hờn, quên mất cả ... cái tôi! người đi, về, thản nhiên đưa tay đón vòng ân tình của ngày cũ dấu yêu đôi mắt quầng thâm chẳng thèm trách oán điểm môi cười, xoa dịu vết tích yêu! như chẳng thể - giận người dưng . Chẳng thể! người lên ngôi! Tôi lạc . Rớt giữa dòng chiều bên người, chiều biển dâng sóng vỗ đôi vai gầy thêm nặng gánh . Ði rong ... lật tới lui ... cũng chỉ tờ giấy trắng ngược thời gian tìm giọt nắng . Mưa bay nhè nhẹ, người đưa tay lau giọt đắng ngã ba đời ... ai tránh khỏi - kiếp say ?! March 01/ 2004 Tâm Thư



Mục Lục


14. Trăm Năm Sau /* cảm tác từ After a Hundred Years tác giả: Emily Dickinson */ trăm năm một giấc hao gầy còn ai biết được nơi nầy là đâu chia ly buổi ấy nhuộm sầu cõi trầm nhập định một màu bình yên chín tầng cỏ úa ưu phiền âm dương lãng đãng khói huyền tịch u mộ bia hiu quạnh mây mù thương người nằm đếm tuổi phù du qua gió mùa hạ chí đồng xa ngậm cười mặc tưởng hương hoa lạnh lùng bao dung nhặt mảnh khôn cùng rơi từ ký ức muôn trùng phôi pha (Jan. 23, 2004)
Nguyệt Trinh

Mục Lục


15. với tình như lúa phơi mao (*) với tình như lúa phơi mao mà cơ man gió mưa ào ạt tuôn mà giây phút ngọ giăng buồn mà thời khắc tý ngọn cuồng phong qua mà bông ngậm khí âm tà mà khô khát giọt sữa ngà thơm em mà đau lép hạt cổ kim mà thương tình thất mùa chiêm ...mùa đời * ( phơi mao : luá trổ bông chờ ngậm sữa) hà nguyên du

Mục Lục


16. Sinh Nhật Vầng Trăng em có vui khi kề vai hạnh phúc đôi chân ngoan điệu vũ một vầng trăng ánh sao băng vừa lóe sáng cuối chân trời giòng tóc mở em buông lơi ngày sinh nhật anh sẽ đến như vần thơ lửa rực dậy sóng trùng dương đánh thức một cơn mê rưng rưng linh hồn anh hôn khẽ lên mi em có dụ dỗ anh uống hơi thở ngọt ta luân vũ giữa vườn hoa đầy nắng ôi hoang mang mật ngọt cánh môi người trút áo thiên thần em ngư nữ nghiêng vai ta chẻ mộng chập chùng con sóng dữ vì có em anh dệt thơ trải mộng hái gió thêu mưa buông cánh rộng qua trời anh muốn về trên bến đỉnh bình yên cho đắm chìm một đời qua rất nhẹ sóng nhạc lung linh giọt nắng cuối hè chiếc lá xanh xao hoang phế cả cơn mê loài gió lạ đi qua rèm thưa hạnh phúc tiếng nấc ngọt ngào tay áo mỏng mân mê rạo rực môi ngoan em đổ vạ gió thu buồn ngày tháng chắp nối những manh đời qua em có ngại riêng anh ta sẽ bước thênh thang từng phiến gió tay đan tay dù có cách xa đời sinh nhật vầng trăng mùa cũ đã chơi vơi lần này nữa hãy cùng anh phiến loạn ý thơ trong suốt chén lưu ly lấp lánh vòng tay ôm ngộp thở áng tinh cầu môi thảng thốt gọi tiếng yêu người cuối gió sinh nhật vầng trăng xin em hãy về mau và cho qưên đời sóng vỗ mưa giông tay măng muốt vuốt chập chùng thung lũng mộng vũ điệu nghê thường đêm sinh nhật cuồng say nàng tố nga xưa lạc bước giữa bụi hồng ta chỉ sợ ước mơ này ảo mộng dòng nước dật dờ quán gió phù du con chim xanh bay về miền quá khứ bỏ lại tiếng kêu thê thiết một linh hồn trăng/nga/nguyệt/cuội/anh/cây đa cô đơn . Phạm Vũ Anh Nam



Mục Lục


17. Chìm Lắng Một Cung Ðàn Ðàn sáu dây, mình vẫn chỉ một mình Âm giai thứ nên lòng thêm hiu tắt Giá đêm nay ôm đàn mà khóc được Dẫu có ngàn dây, đàn cũng chỉ hư không ! Nước mắt không rơi, đàn còn vọng âm thanh Thương người ngồi ôm đàn trong khoảng tối Trông chờ ai mà đêm dài ngóng đợi ? Âm vực cao chìm lắng nốt trầm buồn Ðàn dậy lên từng giọt giọt mưa tuôn Không khúc Chiêu Quân, không Thúy Kiều bạc mệnh Ðàn gọi nhau giữa khung trời lưu luyến Trãi khắp không gian đầy ắp phiến u sầu Ðàn thả cung buồn, em ngơ ngác về đâu Hay vẫn cô đơn hát bài ca cũ ? Tìm nơi đâu cung đàn xưa đã lỡ Ðàn sáu dây,mỗi đứa mãi một mình! ( California)

Trần Kiêu Bạc
Mục Lục


18. Cõi Hư Vô Thả một phút đi hoang Trăng gió gió trăng . Anh đókhông , không có Xui chi em lạc đường . Ðêm dài với giòng thơ Thoáng mơ hồ suy tư Thoắt cúi mặt thở dài Anh gần mà ở đâu ? Thơ thẩn với thẩn thơ . Một lần em đuổi bắt . Chợt là anh rất thật Hư vô mãi hư vô . Riêng tặng AT

Nguyệt Ca


Mục Lục


19. Với Huế Bước đi giữa Huế mà nhung nhớ Một Huế xưa ... xa một nẻo trời Gợn gợn dòng Hương muôn sóng vỗ Thuyền về bến nớ có chơi vơi ?? Bông sứ thềm ai tươi mấy thuở Ðình vua, miễu chúa gót ai qua ? Bước đi với Huế ngùi thương nhớ Nắng rụng hoàng hôn nhạt nhạt hoa Ngự Viên, lối trúc phơi hiu quạnh Ghé để lòng thăm phút hẹn đầu Thành quách mờ mờ sương gió lạnh Trâm vàng, khánh ngọc tiếc thương nhau Bước đi cùng Huế, tương tư Huế Ðỉnh Ngự hồn nhiên luyến Ngọ môn Kìa nhạc lòng buông cung lặng lẽ Ai về gác tía khóc thềm son ?

Chu Kỳ Thư

Mục Lục


20. Tiếng Hát . Anh căn lều dưới bóng cây . em dựng chòi bên bờ suối . hai đứa ngồi nhìn chiếc lá vàng trôi . em hỏi anh suối cười hay khóc sao cứ róc rách vơi đầỷ! một đôi chim trời đậu trên sườn đồi hót lời chú thích : cây có cội – nước có nguồn . suối cười chào mầm non ! khóc thương chiếc lá xa cành ! người khóc khi ly xứ . như tiếng cười em cứ rưng rưng... · Em biểu anh làm thơ , nói về dòng sông rẽ thành chín nhánh . về chiếc cầu không có dòng sông . về bến nước thiếu mất con đò. mối hận chia phôi. Nỗi niềm thương nhớ . có lẽ anh chỉ quen tả cái nhức nhối trong quá khứ cái hão huyền trong hiện tại lạc mất chủ đề hướng về đất Mẹ tương lai . . . · Cũng may! lời ca “ . . .Việt Nam . . .Việt Nam . . . ” phát ra từ những chiếc “mô-tô-hôm” của đoàn trại dội vào đồi núi rền rền ... làm những tia máu trong anh bỗng nóng bừng lên mặt anh dắt tay em chạy về phía có lửa cháy . Anh vừa chạy vừa hát . Em cũng hát . Lều nào cũng hát. Lùm cây, thảm cỏ đều cất tiếng hát : - “Việt Nam . . .Việt Nam . . . - Việt Nam . . . muôn đời !” Trại Hè TN Nam California 2003

Sông Cửu

Mục Lục


21. Tháng tư ,hăm tám Chới với đôi bàn tay bấu hụt Nghiệt ngã dòng đời giông tố xô Lang thang chân bước mưa mù rớt Hốt hoảng nguyện cầu ...như giấc mơ Xin cho tỉnh giấc cuồng phong nộ Thấy lại mây trời xanh ngắt bay Níu lấy hoàng kim ...bong bóng vỡ Mõi mòn mưa lệ đôi mắt cay Em nhé về đi đôi cánh nhỏ Nắng xuân chưa rạng đã phôi phai Miên man trăm nẻo đường trăn trở Chết tự bao giờ hoa chưa khai Chia tay cuối dốc mù sương khói Lặng lẽ quay nhìn theo bóng côi Em nhé lau nhanh dòng lệ nổi Về đâu nắng đã tắt chân trời

Vũ Thị Thiên Thư

Mục Lục


22. Bên Sông Ngươi đi qua cầu sương còn bay Ta ngồi bên sông nhìn sông đầy Bập bềnh bập bềnh con sóng vỗ Ta buồn vô cùng ngươi có hay Ta với ngươi cách biệt đã lâu Từ thuở ngươi đi chẳng quay đầu Ta đứng bên này ta gọi gió Gọi hoài nào thấy bóng ngươi đâu Giữa phố phường ta làm ngu phu Bỏ bên tai thế sự hồ đồ Mặc đứa bon chen , thằng cơ hội Sống lạnh lùng như bậc chân tu Ta tài hèn kiếm gãy gươm rơi Ngươi giận ngươi sinh bất phùng thời Bỏ biển lên rừng mơ tráng sĩ Ta bên hiên vắng đếm sao trời Ngươi cứ cười khinh bạc thế gian Rồi trách ta tâm cạn chí tàn Rượu uống cả ngày say tuý luý Ðêm nằm thao thức bến Ô Giang Ngươi đi qua cầu nghiêng đôi vai Ta đứng bên sông nhìn sông dài Bồng bềnh bồng bềnh con thuyền nhỏ Ngươi bỏ đi rồi ta còn ai ! Trần Hoan Trinh

Mục Lục


23. Hận Sông Ba Người nặng tình yêu cho đất nước Bao giờ quên được hận Sông Ba Chia ly bờ cõi sầu tan tác Nước Việt nghìn năm thấm lệ nhòa… Pleiku sương lạnh trời Tây Nguyên Chiến sĩ hiên ngang chẳng lụy phiền Cất bước oai hùng theo nhịp trống Một thời thanh sử dễ nào quên ?… Ngày ấy xông pha với Tiểu Ðoàn Máu đào loang đỏ dòng Dakpla Chư Pao lệ nhỏ hờn ai oán Gởi sóng trùng dương nỗi xót xa… Ngồi đây mà nhớ mãi Hàm Rồng Vùng đất cơ đồ rạng núi sông Thung Lũng Hồng nửa đêm thức giấc Nghẹn ngào nhìn máu lệ pha hồng ! Lòng dân ngậm nuốt đau hờn tủi Chỉ phút giây bình địa Củng Sơn Tướng lãnh chạy dài lên dốc núi Bỏ tàn quân thảm hại đau buồn … Sài Gòn đẹp mãi cho non nước Một thuở thanh bình ta ấm thân Cơn gió bạo cường tràn nỗi tức Mất rồi dòng nước mát trong ngần ? Ðịa danh muôn thuở đất Sài Gòn Xưng bá xưng hùng ngôi Ðế Vương Hòn ngọc viễn đông ngày ấy đã Ngậm ngùi đưa tiễn kẻ lên đường ! Nỗi đau đã thấu chín tầng mây Bỏ súng quy hàng buổi sáng nay Cả một đời sống cho nghiệp võ Ðể mang nỗi nhục tháng năm dài ! Máu đào loang đỏ bên dòng nước Vũ trụ quay cuồng dưới ánh sao Hàng vạn sanh linh đang nuối tiếc Còn đâu lựu thắm với hoa đào ? Quê hương rên xiết lời ai oán Một dãy sơn hà đẫm khói sương Tai họa ngày nay, ai biết được Tại trời hay tại lũ ma vương !? Uất hờn đôi mắt hằn tia máu Ðêm vắng Sông Ba hiện bóng trơi Chẳng hẹn cùng nhau ngày gặp lại Còn may mắn đó … cũng do trời… Giang san là của người dân Việt Ðừng để ngậm hờn cho cổ nhân Ðừng để Tổ Tiên niềm nuối tiếc Mấy ngàn năm hùng mạnh dân, quân … Ly hương nhớ lại thêm buồn tủi Thương những oan hồn thây chất thây Hăm chín năm rồi, ai nhớ, hỏi ? Xường chồng như núi tự xưa rày ! Lời nguyền xin gởi lũ ma vương Một sáng cờ bay ngập phố phường Nước Việt reo vui mừng phục quốc Ma vương nhục nhã, nép bên đường… ( cảm xúc bài Ðêm Sông Ba của Thy Lan Thảo)

NAM PHONG

Mục Lục


24. Ða tạ những vần thơ Tôi là kẻ đa sầu thêm đa cảm Ðọc dòng thơ mà thương cảm cho đời Là thi nhân tình thơ gởi muôn nơi Xây ước vọng trong vòng tay ảo tưởng… Tôi là kẻ tương lai không định hướng Hồn mênh mang lưu luyến mãi phương trời Buồn lê thê thay cho những cơn vui Ðêm nhòa lệ tiếc ngày thơ êm ấm… Tôi là kẻ cũng một thời xuân thắm Ba mươi năm nhớ mãi một chân trời Là kiếp tằm từng nhỏ lệ rơi rơi Ngày nào đó…cũng hương phai sắc úa ! Tôi là kẻ gửi tình qua cánh gió Vẫn bơ vơ trong sương khói bão bùng Tìm trong mơ tổ ấm để nương thân Trời mưa lũ…tìm đâu tia nắng ấm ? Tôi là kẻ hơn nửa đời chiếc bóng Sống âm thầm chấp nhận một thân đơn Lấy thơ, văn để che lấp tủi hờn Mượn giấy bút thay cho lời tình tự… Tôi và bạn hình như chung tâm sự Cùng gian nan, đơn độc giữa xứ người Một loài hoa chẳng trọn nụ cười vui Nên giao cảm qua lời thơ nức nở… Nếu ai đó đọc vần thơ tôi gửi Cảm thông cho nỗi khổ kiếp con tằm Nhả đường tơ tâm huyết chốn thi, văn Chỉ mơ ước một giây…người toại ý…

Ngọc An

Mục Lục


25. Biển tình Gửi đến người… Một mối tình muôn thuở chẳng thành Dài như biển bao la như núi Tựa chiếc nôi biển cả quê hương Dạt dào ân ái Dồn dập yêu thương Mặn mà chung thủy Vô vàn vấn vương Biển những chứa yêu thương Thương yêu bao giờ cạn Biển giữ dùm ân ái Ái ân mãi vơi đầy Biển đừng cho ta thấy Khô cạn tình thủy chung Biển vấn vương những sóng Vấn vương hoài nhớ mong Từ lòng biển trắng trong Một khối tình cay đắng Từ lòng biển giận hờn Những đớn đau dồn dập Từ lòng biển thì thầm Nhớ…nhớ ai tha thiết Biển ơi…nào có biết ? Người mang hận tình ta Một nấm mồ êm ả Vùi mối tình hư vô… Ðêm nay – Người ơi ! Người êm đềm giấc ngủ Ta ôm hận vỗ về Hồn anh đi đâu đó ? Ta mòn mõi đợi chờ Người ơi ! Thương tự bao giờ Ðể ta ôm mãi giấc mơ suốt đời Ðến, đi, đến chẳng đến nơi Ai dìu ai hết…đoạn đời của nhau !… Uyên Thi

Mục Lục


26. Bình Minh trên Vịnh Cựu Kim Sơn Kính gởi Cụ Lê Kim - Trần Trọng Khiêm (1821 - 1866) - Người Di dân Việt tiền vệ tại Mỹ … Thân tặng hơn 1.500.000 Việt kiều tại Hoa Kỳ … Bình minh Cựu Kim Sơn (0) Thủy mạc Vịnh tuyệt tác Dòng nước ấm sóng gợn Bờ biển thoải dốc hơn Thoáng cánh buồm Lê Kim (1) Di dân Việt tiền vệ Tiên phong đất mới tìm Cali theo cánh chim * * * Ðịnh cư chàng di dân Người tìm vàng Tây tiến Trăm năm sau di tản … Tù chính trị thuyền nhân (2) Cựu Kim Sơn bình minh Bùi Viện sau Lê Kim Yết kiến Tổng thống Grant Xin chuyển giao kỹ thuật Bùi Diễm xin không thành Viện trợ chiến tranh quân sự Việt Nam hóa chiến tranh ! Cơ Thạch … chẳng gặp thời Cơ Thạch … lỡ cơ hội Thiên Thạch … lỡ vận hội (3) Muốn sang trang sử mới Lịch sử vết tình cờ … Mối giao tình Mỹ -Việt Chối từ trăm năm sau Lịch sử dấu ngẫu nhiên … Một chuyện tình Việt - Mỹ Chối từ trăm năm sau Hơn triệu người định cư Ðường di dân thiên lý Bình minh Cựu Kim Sơn Người di dân Lạc Việt Ðầu tiên trên Cali Ngược dòng Mississippi Lên phía Bắc Louis Tây tiến đi tìm vàng Bản Tình ca Suzan (4) … Bình minh trên Cali Người di dân Chim Việt Ðổ Thung lũng Hoa vàng Lên Thung lũng Hoa nắng (5) Nam tiến tìm Thông Tin Kia kinh tế tri thức (6) Lòng khát khao cầu tiến Bill Nguyen 7 đốt cồm (7) * * * Người Việt đến Hoa Kỳ Ðầu tiên đến Cali Bờ Sacramento Quá khứ vào Tương lai Bài học La Fayette (8) Trở lại cố hương Quay về Ðồng Tháp Cùng Thiên Hộ Dương Nghĩa quân chống Pháp Tháp Mười hy sinh (9) … Thuyền viễn xứ buồm say Hoa Trinh nữ trong mộng (10) Bến bờ âu lo đẩy Tình hoài hương vơi đầy * * * Bình minh Cựu Kim Sơn Thủy mạc Vịnh tuyệt tác Mình ta ta đứng đây Bậc Thầy (1) kia mạo hiểm Nét cọ vẽ hoàng hôn Trời xanh Tự do cánh Cò bay lả tầm nhìn Khói chiều lam chân mây Nét cọ bậc Thầy đây Mầu thời gian … hướng dương Suy tư lòng khấn nguyện Cố hương trời viễn phương Bức vẽ một thần tượng Chàng di dân Lê Kim Người đi hàng tiền phong Người đi hàng tiền vệ Con cháu mai sau theo … 0. Sans Francisco … 1. Lê Kim - Người di dân Việt đầu tiên tại Mỹ Lê Kim tên thật Trần Trọng Khiêm (1821 - 1866) - không những ông đến Hoa Kỳ mà lại còn theo đoàn người tìm vàng Tây tiến về California. Ðó là thời điểm của năm 1849, năm sau California mới chính thức trở thành Tiểu bang thứ 31. .. 2. Sau Biến cố Lịch sử 30/04/1975 di tản … tù chính trị thuyền nhân …HO 3. Ðầu thập niên 1870 sứ thần Bùi Viện dẫn phái bộ đi tàu biển mất ba tháng sang Hoa Kỳ yết kiến Tổng thống Grant tại Hoa Thịnh Ðốn để xin viện trợ chuyển giao kỹ thuật. Thời điểm 1970, đại sứ Bùi Diễm đi máy bay chỉ mất có một ngày cũng không thành trong việc xin Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ quân sự. Sau 1976, ông Nguyễn Cơ Thạch … Meteor từng làm Bộ Trưởng Ngoại giao vừa có ý định bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ thì bị giới bảo thủ Hà Nội khai trừ … và Tổng Thống Jimmy Carter quay qua với Trung quốc với chuyến đi của Ðặng Tiểu Bình … 4. Bài ca nổi tiếng "Oh! Suzannah" OH, SUSANNA (Stephen Foster) Ðừng khóc nữa, Xu - Gian! Ðể anh đi Tây tiến đào vàng Chờ anh vài năm anh sẽ trở về Vàng đầy túi Anh sẽ cất nhà cho em ! Em Xu - Gian yêu quý chờ anh ! …. I come from Alabama with my banjo on my knee Ím going to Louisiana, my true love for to see It rained all night the day I left The weather it was dry The sun so hot, I froze to death Susanna, don't you cry Oh, Susanna, oh don't you cry for me For I come from Alabama with my banjo on my knee I had a dream the other night when everything was still I thought I saw Susanna a-coming down the hill The buckwheat cake was in her mouth The tear was in her eye Says I, Ím coming from the south Susanna, don't you cry I jumped aboard de telegraph and trabbled down de [ribber,]* De 'lectric fluid magnified [and killed five hundred nigger.]* De bull-gine bust, de horse run off, I really thought Íd die I shut my eyes to hold my breath, Susanna, don't you cry. "Oh! My Suzannah! I soon will be in New Orleans, and then Íll look around And when I find Susanna I will fall upon de ground And if I do not find her, [dis darkiéll surely die]** And when Ím dead and buried, Susanna don't you cry. ( For political correctness, I suggest : * [wire], *[killed hundreds in de firẹ] **[I know Íll surely die] ) 5. Silicon Valley, Sunny Valley 6. Information Technology (IT), Knowledge Economy 7. La Fayette nhân vật lịch sử trong chiến tranh giành Ðộc lập Hoa Kỳ 8. Năm 1855 Lê Kim - Trần Trọng Khiêm quay về cố hương, ở miền Nam. Người đứng ra khai phá lập nên làng Hòa An Ðồng Tháp.. Năm 1864, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây, Nam kỳ, Lê Kim cùng Thiên Hộ Dương và nghĩa quân chống Pháp xâm lược đặt căn cứ ở Ðồng Tháp Mười. Tướng Pháp De Lagrandière đem quân đàn áp ác liệt ở Tháp Mười, Lê Kim hy sinh tại trận năm 1866, chưa tròn 45 tuổi… 9. Bill Nguyen , CEO & President www.seven.com 10. ý thơ Robert Frost : “ … Mayflower in a dream ..” Nguyễn Hữu Viện Cali, Xuân 1996 .... Paris Xuân 2002

Mục Lục


27. Hỏi Thăm gửi HL Anh về thăm Phố Cổ Con cọp trở về rừng Từng gốc cây nhánh cỏ Có khác gì xưa không? Anh về thăm Phố Cổ Cha mẹ già mỏi trông Thằng con trai xa vắng Giọt nước mắt vui mừng Anh trở về Phố Cổ Ði qua những phố xưa Những rêu phong ngày cũ Có dạn dày nắng mưa ? Anh về qua Phố Cổ Có thăm lại con đường Năm xưa ngày hai buổi Mòn gót theo người thương Anh về thăm Phố Cổ Có ghé thăm sông Hàn ? Những con thuyền to, nhỏ Sáng chiều còn dọc ngang ? Anh về thăm Phố Cổ Có thăm bạn bè xưa Có cùng nhau cạn chén Ðã nghiêng ngả đủ chưa ? 02/29/04 Sương Mai

Mục Lục


28. Buồn Em buồn tìm em một chổ này chổ ngày xuống thấp mây là đà bay tháng ba sao có những ngày đường xa sương lạnh lòng tay ai chờ buồn tìm em đậu vai gầy cho tình đứng ngó mà đầy vô ngôn như sáng tối thoáng trong hồn như con đường ngợp nỗi buồn đó đây buồn nào bằng buồn hôm nay buồn nào bằng triệu hắt hiu phương này buồn nào bằng buồn hôm nay thôi chịu vậy - anh của ngày em thương ! 19.03.04 Trần Thị Hà Thân

Mục Lục


29. Xuân Xinh xinh mô(t cánh Ðào Uyển chuyển Trúc lao xao Âm thầm lệ Mai ướt Nhẹ nhàng Cúc thanh tao. Nguyễn Quốc (Paris)

Mục Lục


30. Nghe Như Là Xuân Nghe như đất trời giao hòa Xôn xao cành lá chắc là Xuân sang Nghe như mây cũng ngỡ ngàng Ðan từng cụm trắng mơ màng chờ Xuân Nghe như lòng bảo đôi lần Rộn ràng lòng hỏi ... nghe gần lại xa Nghe như hồn bỗng ... nhưng mà Vẫn còn thơ thẩn la cà ở đâu ? Nghe như gió nói từng câu Dạt dào tình nắng Xuân mau trở về Chờ đưa đông giá lê thê Chờ Xuân nồng thắm vỗ về tâm tư (Mar04) TH

Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Nghĩa Thật Của Tiếng Cười Trong Ca Dao Thằng Bờm.

Sông Cửu



Nghĩ về nhạc cảnh “Thằng Bờm” của Phạm Duy do Trung Tâm Paris By Night trình diễn.

Thằng Bờm
Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mẹ
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim. Bờm rằng, Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi . . .Bờm cười
( Ca Dao )

Ðêm ba mươi tết, các em nam nữ thanh niên ở Hội Thánh kéo đến nhà tôi đợi đón giao thừa. Chị xã tôi nướng bánh phồng, lấy trà mứt ra, đem chiếu lại video tape “Paris By Night 44” cho các em vừa ăn, vừa xem, vừa chờ không giờ chào năm mới. Trong Paris By Night 44 có tiết mục ca vũ nhạc “Thằng Bờm” do nhạc sĩ Pham Duy dựa theo bài ca dao Thằng Bờm của Việt Nam. Vở nhạc kịch do nghệ sĩ Kiều Hưng thủ vai Phú Ông và nghệ sĩ Ái Vân đóng vai Thằng Bờm cùng một số vũ công múa phụ họa theo động tác bò, trâu, cá mè, rừng lim, chim đồi mồi . . .

Nghệ thuật dàn dựng, biểu diễn đương nhiên là professional rồi. Tôi, nhà tôi và các em cùng xem, ai cũng khen Ái Vân đẹp trai, diễn viên múa rất hay . . . Nhưng xem xong các em lại không chịu dừng ở đó. . . Trong khi chờ đợi lân trên TV múa đón giao thừa, các em “bắt” tôi nói thêm về ý nghĩa của bài ca dao “Thằng Bờm” cho các em nghe. Tôi viện cớ gần đến không giờ rồi, chờ lúc khác. Nhưng kỳ thật thì theo nhận xét riêng tôi là vở hoạt cảnh đã đánh mất ý nghĩa thật của tiếng cười thằng Bờm trong bài ca dao. Nói rõ hơn là nhạc cảnh dàn dựng cố tình tạo thêm cho Phú Ông cái cười hả hê khi lấy được cái quạt và nụ cười háu ăn của thằng Bờm lúc đổi được quả xôi ( đúng là nắm xôi) có hơi kỳ kỳ . . .Sự thêm thắt, trộn lộn hai cái cười nầy chẳng những không đúng theo ý bài ca dao mà còn làm nghĩa thật của nụ cười thằng Bờm mà tác giả bài ca dao đã lưu truyền lâu đời trong dân gian Việt Nam bị mất đi.

Phần đông người Việt chúng ta đều biết bài ca dao “Thằng Bờm”. Nhất là bọn nhóc con tụi tôi hồi nhỏ, đứa nào cũng thuộc, vì vần điệu ngôn ngữ của nó dễ đọc, dễ nhớ. Người lớn thích nó, nhớ nó vì nó chứa đựng được hàm ý sâu xa mà khi mở đầu trình diễn vở nhạc cảnh Thằng Bờm, MC Nguyễn Ngọc Ngạn giới thiệu đó là “nhân sinh quan” của Phạm Duy: Thú an nhàn còn quan trọng hơn giàu sang . . .” Nhưng rất tiếc là khi xem xong vở nhạc kịch Thằng Bờm thấy nó không thể hiện được nội dung nầy. Nếu không muốn nói là nó làm đảo ngược lại.

Người ta nghe bài ca dao, nhớ bài ca dao Thằng Bờm vì nó là một câu chuyện rất ư ngộ nghĩnh. Sự đổi chác từ cao xuống thấp lạ đời của Phú Ông thật ngộ nghĩnh và tiếng cười không nén được của thằng Bờm vỡ ra ở cuối bài ca dao thật hồn nhiên mà cũng thật bất ngờ.
“Phú Ông xin đổi nắm xôi Bờm cườị”
Tiếng cười sau cùng của thằng Bờm, theo tôi, nó là đáp số cho ý nghĩa bài ca dao nầy. Tuy nhiên, tiếng cười vốn mang nhiều ý nghĩa, cho nên ta không lấy làm lạ khi có người hiểu lầm thằng Bờm. Bằng chứng là trong “nhạc cảnh Thằng Bờm” có viết thêm cho thằng Bờm một câu (Ái Vân) hát: “Quạt mo có mát mà không có no”? Một em sinh viên (em Keren Nguyễn) nhận xét: Nếu cái quạt mo nầy chỉ để quạt cho mát thì Phú Ông cần gì phải tốn công sức của cải nhiều để theo thương lượng nài xin đổi với thằng Bờm? Chỉ cần sai một tiếng, đám đầy tớ theo hầu hạ Phú Ông sẽ ra vườn chặt tàu cau cắt cho ông ta hằng trăm cái quạt một lúc. . .

Thắt nút câu chuyện là cái quạt mo thằng Bờm. Tại sao Phú Ông mê mẩn cái quạt ấy? Phải bỏ của, bỏ công nài nỉ thằng Bờm đổi cho bằng được. Phú Ông có đổi được không? Giải đáp nầy là cái cười thằng Bờm.
“Phú Ông xin đổi ba bò chín trâu”
Bờm vẫn nhất quyết: “Rằng chẳng lấy trâu” Vậy mà Phú Ông vẫn cứ òn ỷ:
“Phú Ông xin đổi một xâu cá mè”
Lẽ ra đến đây là Bờm cười rồi. Bởi vì kiểu thương lượng đổi chác ngược đời của Phú Ông. Ba bò chín trâu Bờm còn chẳng ham, huống gì một xâu cá mè? Trẻ con cũng biết, giá trị xâu cá mè thấp hơn trăm lần ba bò chín trâu. Vậy mà người sáng tác ca dao Thằng Bờm vẫn để cho thằng Bờm nén cười và từ chối rằng “Bờm chẳng lấy mè”. Phú Ông cũng chẳng chịu hiểu, cứ nghĩ rằng ta giàu có, muốn gì cũng được. Phú ông tiếp tục ngả giá “Một bè gỗ lim”, rồi “ con chim đồi mồi”, sau cùng lại xin đổi “nắm xôi”. Giá cả cái quạt mo qua con mắt Phú ông hết xuống lại lên, hết lên rồi xuống . . . đến còn “một nắm xôi” Bờm không còn nhịn được nữa. Bờm cười (dưy nhất trong bài ca dao chỉ tả tiếng cười một lần của thằng Bờm)

Tiếng cười của thằng Bờm, khiến cho người ta hiểu ra sự nghĩ suy phi lý của Phú Ông. Tiếng cười chê chính Phú Ông không hiểu được giá trị những gì mình có. Lại càng không biết rõ giá trị cái mình muốn. Tiếng cười xác quyết dứt khoát đối với những câu từ chối “Bờm rằng Bờm chẳng lấy . . .” Tiếng cười thằng Bờm nói lên cái quý giá của “Chiếc Quạt Mo” của chỉ riêng Bờm có. khác với các loại quạt khác, kể cả quạt trầm, quạt giấy hoa của các đầy tớ theo hầu hạ quạt mát cho Phú Ông. (Theo trong nhạc cảnh Thằng Bờm trình diễn)

Tôi nghĩ, bài ca dao tuy đơn giản, nhưng không dễ hiểu hết giá trị chiều sâu của nó. Ðây là câu chuyện vui, nhưng ý nhị, hàm xúc được tác giả sáng tác bằng một bút pháp tinh luyện, tự thân nó đãõ là một hoạt cảnh sôi động rồi. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thật sinh động. Thằng Bờm chỉ thể hiện trong một câu chối từ lập đi lập lại Bờm chẳng lấy . . .Bờm chẳng lấy . . . tới cái cười ở cuối bài ca dao. Bờm ung dung tự tại cầm quạt phe phẩy trong cảnh an nhàn. Xung quanh thằng Bờm là Phú Ông múa may với biết bao của cải toan tính. Ðọc giả có thể tưởng tượng Phú Ông xun xoe quanh thằng Bờm; ngó dọc, ngó ngang, ngẩng lên, khom xuống, theo từng thứ vật mà ông ta đưa ra thương lượng “xin đổi”. Trong nghệ thuật kể chuyện tác giả đã tạo ra chi tiết gây cười mà lại dồn nén tiếng cười. Bờm cứ khư khư lập lại câu chối từ, mặc dù sự việc đã đáng cười. Câu chối từ của Bờm nghe rất ngây thơ mà lại lập lờ, lập lửng. (Bờm rằng Bờm chẳng lấy cái nầy, biết đâu chừng Bờm chịu lấy cái khác? ) Cuộc mặc cả cứ kéo dài, lôi cuốn bởi những chi tiết chừng như vô lý. Những điều nầy, theo tôi, tác giả tạo thêm một thủ pháp độc đáo “đánh lừa” gây động não cho người đọc, người xem. Nếu Bờm cười ngay từ lúc Phú Ông xin đổi “một xâu cá mè” thì ai cũng hiểu nghĩa tiếng cười thằng Bờm hết. Nhưng Bờm vẫn cứ cứng đơ “Bờm rằng . . .” Tác giả dân gian cứ tiếp tục dồn đống của cải trái ngược của Phú Ông để thu hút sự chú ý của đọc giả vào đó. Bị định hướng tâm lý cộng thêm kiểu nói lấp lửng của Bờm khiến người đọc cười là Bờm ngốc. Cuối bài ca dao Phú Ông đột ngột đưa ra đòi đổi “nắm xôi” và cũng đột ngột “Bờm cười” (Lưu ý, Bờm chỉ cười thôi). Chi tiết nầy gây hiệu quả đôi. Thứ nhứt nói lên sự ham muốn mù quáng của Phú Ông lên đến tột đỉnh buộc Bờm phải cười. Thứ hai những ai đã cười Bờm ngốc, càng cười đắc ý hơn, vì Bờm đã ngốc lại còn “ham ăn” như trong vở ca nhạc cảnh doTrung Tâm Paris By Night trình diễn.

Thế mới biết ca dao tục ngữ dân gian bao giờ cũng thâm thúy. Ðằng sau thằng Bờm vờ ngốc đến hài hước ấy là một triết lý “Kẻ ham giàu sang khó mà hưởng được an nhàn” Cho nên ai hiểu được Bờm thì gật gù tâm đắc, ai chưa hiểu thì tự nhiên cười mình mà không biết. . .

* Sáng mồng một, các em thanh thiếu niên đến nhà tôi chúc tết, cũng lại bàn cải nhau về ý nghĩa của tiết mục nhạc cảnh Thằng Bờm. Ðể khỏi thất hứa đêm hôm qua, tôi viết tặng các em bài thơ nhân xem nhạc cảnh Thằng Bờm của Paris By Night 44 với tựa đề là: Tiếng Cười Thằng Bờm để nói lên phần nào ý nghĩ của tôi về nghĩa thật của tiếng cười trong ca dao thằng Bờm :

Tiếng Cười Thằng Bờm
Bờm rằng Bờm chẳng thích đâu
Cá mè, lim quí, bò trâu, đồi mồi
Phu Ông dụ đổi nắm xôi
Bờm phe phẩy quạt mỉm môi Bờm cười
Bờm cười cho một kiếp người
Suốt đời đánh mất nụ cười Trời ban
Bờm cười lắm kẻ giàu sang
Muốn đổi thanh nhàn – lội biển mò kim

Trần gian bảy nổi ba chìm
Bởi lợi – danh - người khó tìm – an vui.

California, Ðầu năm Giáp Thân 2004

Sông Cửu


Mục Lục


2. Tuổi Mộng

Tôn Thất Phú Sĩ



QUÊ NỘI

Quê Nội tôi nằm bên giòng sông Hương, nước nguồn từ núi Ngự Bình xuôi chảy về giòng sông chính trước khi ra biển, giòng nước chảy ngang qua Nam Hòa đem phù sa bồi đắp thành một làng nhỏ về phía tả ngạn tên gọi là làng Chuồng, tôi không hiểu tại sao gọi là làng Chuồng, một lần nào đó, tôi hỏi Nội tôi, thưa Nội, tại sao gọi là làng Chuồng, Nội nói, cháu để ý thấy bữa cơm nào nhà mình cũng ăn cá chuồng chiên, bởi vì làng ta là một làng đánh cá, chuyên về đánh cá chuồng. Buổi sáng tinh sương người dân chài đưa ghe ra biển, buổi chiều ghé về đầy ắp cá chuồng, do đó từ thuở xa xưa đã có tên là làng Chuồng, (cá chuồng là loại cá mình nhỏ và dài, có hai cánh, sống ngoài biển và di chuyển từng đàn, bơi xuôi theo con nước, chốc chốc lại bay là là trên mặt nước, cá chuồng được mổ bụng lấy hết bộ lòng, nhồi hành, tỏi, ớt rồi gập con cá lại, sau đó cột chặt bằng lá hẹ và đem chiên, ăn với nước mắm nhĩ rất là bình dân và ngon). Gia đình bên Nội tôi sinh sống ở đây trong thời kỳ Việt Minh, sau đó trở về Huế, Huế mới chính là quê Nội, nơi đây có nhà thờ lớn của tổ tiên, nằm gần cuối đường Bạch Ðằng, trước mặt là Ðông Ba với dòng sông nhỏ uốn quanh, khu vườn nhà tôi rộng lớn được bao bọc bởi hàng rào giâm bụt, đầy cây ăn trái, vú sữa, mãng cầu, măng cụt, mít, ổitrái cây bốn mùa, mùa nào cũng có trái chín để cúng tổ tiên, nơi đây tôi được sinh ra và lớn lên trong thời thơ ấu, và mái trường đầu đời của tôi, ê a học đánh vần chữ Quốc ngữ, ngôi trường nhỏ nằm cạnh bờ sông, tôi đã học từ lớp Năm đến lớp Nhất bậc tiểu học, truờng tên là trường THẾ LẠI THƯỢNG.
TÔI ÐI HỌC
Khu nhà tôi ở nằm cuối nhánh sông từ chợ ÐÔNG BA chảy về, muốn qua sông chỉ có một chiếc cầu độc nhất là cầu ÐÔNG BA, phần đông là nhà lá, xen lẫn vài mái nhà ngói đầy rong rêu, ngôi nhà thờ Tộc tôi vươn lên từ luỹ tre xanh, mái ngói cong cong chạm những con rồng uốn khúc, ông Nội tôi đã mất lâu rồi, ngày xưa ông làm Thượng Thư bộ Lễ triều Nguyễn, do đó ai cũng gọi bà Nội tôi là Mệ Thượng Lễ. Gia đình tôi gồm ba má và đứa em trai thua tôi 3 tuổi, được Mệ Nội cho ở phía sau nhà thờ. Ba tôi được về làm Chef gare xe lửa HUẾ, mẹ ở nhà đi chợ nấu cơm, chiều chiều chờ Ba về trên chiếc xe đạp cũ kỹ lúc nào cũng có một chút quà nhỏ treo tòn ten truớc ghi đông xe, thường thường Ba ghé tiệm Lạc Sơn bên khu chợ từ cầu Tràøng Tiền quẹo trái mua nửa con vịt quay. Tôi thích nhất là vườn cây măng cụt, mỗi trưa hè, gió hiu hiu mát, tôi trèo lên cây măng cụt hái trái ăn, lựa những trái có nhiều tai vây quanh một chùm như một cánh hoa mai, bao nhiêu tai thì trong có bao nhiêu múi. Giòng sông êm đềm chảy, uốn quanh xóm nghèo, tôi cùng lũ trẻ trong xóm chơi đùa bơi lội, tuổi thơ êm ả trôi theo giòng sông, và mùa hè năm nay tôi đã lên lớp 6 (1949), cả nhà chuẩn bị cho tôi nhập học trong mùa tựu trường sắp đến.

Rồi một buổi mai hôm ấy, nắng dìu dịu chảy dài trên sông vắng, vài đám lục bình hững hờ trôi, gió đầu thu quyện lấy bước chân non, thằng bé con lên 6 những tưởng như mình đã lớn lắm rồi, quần sọt, áo che-mi trắng, mang giày tây, vai mang cạc tắp. Ngỡ ngàng theo mẹ, chân run run trên con đường quen thuộc, tim hồi hộp như sắp làm một việc gì quan trọng. Mẹ tôi miệng cười tươi, mắt âu yếm nhìn con, như thầm bảo, can đảm lên, can đảm lên con: Hôm nay tôi đi học.
TRƯỜNG LÀNG TÔI, KHÔNG GIÂY PHÚT TÔI QUÊN
Ngôi trường tôi là một mái đình làng, nơi đây được thơ Oâng Thần Lang và để hội họp đình đám trong những ngày lễ, sau nầy trong làng sửa chữa lại thành một gian nhà dài, chia ra làm 5 lớp học và một văn phòng, tấm bảng màu vàng được treo lên: TRƯỜNG Tiểu Học THẾ LẠI THƯỢNG. Tôi được vào học lớp Năm (5) là lớp nhỏ nhất, dành cho những học trò vừa mới biết đánh vần chữ Quốc ngữ, sau năm năm học từ lớp Năm đến lớp Nhất thì thi bằng TIỂU HỌC. Ngôi trường xa bờ sông và ẩn trong một khu vườn đầy hoa dại, học sinh toàn trường lúc đó vỏn vẹn chừng 50 đứa, lớp của tôi hình như đã chiếm 20 đứa rồi, cả trai lẫn gái học chung. Cô giáo trạc tuổi Mẹ tôi, nhưng không hiền và dễ thương bằng Mẹ, cô bắt học trò phải ngồi ngay ngắn, không được cúi sát vào tập vở và nhất là không được nói chuyện hay khóc nhè.Thời thơ ấu giờ đây xa quá, tôi còn nhớ mang máng có lần tôi đang ngồi học, tập đánh vần và học thuộc lòng câu: Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn, thằng nhóc ngồi bên cạnh không biết vì sao thúc cùi chỏ vào bụng tôi, giận quá, tôi thoi vào mặt nó một thoi, bị chảy máu răng, nó la làng, thế là tôi bị bắt quì, có một điều thật ốt dột, trong lúc quì tôi tè trong quần lúc nào không hay, nước tiểu chảy dài trên nền gạch, cô giáo phải thay quần áo cho tôi (mẹ rất cẩn thận lúc nào cũng bỏ một bộ đồ phòng hờ trong cặp), lau sạch sẽ và cho tôi trở lại chỗ ngồi).

Cứ như thế, tôi lớn lên theo ngày tháng, từ lớp nầy lên lớp khác, thời thơ ấu vô tư, hái hoa bắt bướm, chuyền từ cành cây nầy qua cành cây khác như con khỉ con, hái ổi non, me chua, khế ngọt, chà là, dái mít, những trưa hè thả diều, bắt dế, cởi truồng lội qua sông hái trộm nhãn lồng trong khu vườn cổ kính Tôi thích nhất là bài học thuộc lòng: Ai Bảo Chăn Trâu Là Khổ, Không, Chăn Trâu Sướng Lắm chứvà bài Buổi Tối Gia Ðình: Cơm nước xong trời vừa tối, cả nhà ăn uống ngon miệng no nê, cha me, ï con cái trên thuận dưới hòa, một nhà đoàn tụ sum họp với nhau, thì dẫu cơm rau cũng thú vị lắm trong sách QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ lớp DỰ BỊ của TRẦN TRỌNG KIM do NHA HỌC CHÁNH TRUNG PHẦN ấn hành. Và quyển TOÁN ÐỐ của TRẦN TIẾU. Thú vị nhất là hàng năm, năm nào cũng như năm nào tôi cũng được lãnh phần thưởng, Ba Mẹ được mời tham dự, phần thưởng làm tôi ngạc nhiên là lần nào tôi cũng nhận được các món quà mà mình ưa thích và ao ước được có nhưng Ba Mẹ không bao giờ mua cho. Sau nầy lớn lên tôi mới biết những phần thưởng đó do Mẹ mua và gởi nhà trường để phát cho tôi. Mẹơi! Sao Mẹ dễ thương vậy!, Mẹ đã hiểu lòng con từ thuở ẤU THƠ và sau nầy khôn lớn, khi con bước chân vào đời, Mẹ là kim chỉ nam, là niềm khích lệ, là nguồn an ủi cho con trong suốt cuộc đời nổi trôi, giờ đây nơi cõi Vĩnh Hằng nào đó, Mẹ vẫn chờ con để con về bên Mẹ tìm lại dòng sữa Mẹ ngày xưa.

Năm tôi học lớp Nhất, năm cuối cùng của bậc tiểu học, một biến cố đau thương đã xảy ra trong thành phố Huế, ai đã từng sống với Huế, chia từng nỗi niềm thương đau với Huế, làm sao quên được trận lụt năm 1953, trí óc non nớt của tôi không làm sao phai nhạt được cảnh thương tâm xảy ra lần đầu tiên trong đời. Cái đêm hôm đó, dân Huế ngủ một giấc dài, bừng con mắt dậy cả thành phố ngập trong mênh mông nước, nước lũ đục ngầu đầy phù sa, từ trên nguồn NGỰ Bình đổ xuống, cuốn bao nhiêu xác chết của người, thú vật và cây rừng, nhà cửa theo giòng nước trôi ra cửa biển THUẬN AN. Nước lên dầnlên dầnnước ngập mái nhà, xung quanh là biển nước, chỉ thấy trơ trọi vài ngọn cây cổ thụ. Ba ôm tôi, Mẹ bồng em tôi, gia đình nhỏ bé của tôi chơi vơi ngồi trên nóc nhà thờ, sợ quá tôi ngủ thiếp đi, thằng bé con mới 9 tuổi đầu không đủ can đảm để nhìn cảnh tượng nầy, và cũng không hiểu được, nhờ phép lạ nào đó đã cứu gia đình tôi trong tình trạng thập tử nhất sinh nầy.

Từ đó, Ba có ý định bỏ HUẾ ra đi, nơi chôn nhau cắt rún nầy không an toàn, Ba tôi nói như vậy, Ba lặn lội vào ÐÀ Nẵng, một hôm tôi nghe Ba thì thầm nói với Mẹ, Ba đã từ nhiệm ở Gare xe lửa và đã xin được việc ở KHO BẠC ÐÀ NẴNG. Mẹ tôi suốt một đời chìu theo ý Ba, chưa bao giờ thấy Mẹ phản đối điều gì khi Ba đề nghị. Mẹ thu dọn hành trang, chờ cho đến cuối năm học, tôi thi đậu được văn bằng Tiểu Học, niềm vui đầu tiên của tuổi học trò vừa đến thì tôi phải xa quê, gởi lại cho quê Nội bao kỷ niệm êm đềm, mái nhà thờ thân yêu, giòng sông tuổi dại mà nơi đây tôi đã lặn ngụp bơi lội, điểm khởi hành cho một đời làm thuỷ thủ, đam mê Biển rộng Sông dài để bây giờ xa rồi vẫn còn luyến tiếc ngẩn ngơ.

Chuyến xe lửa HUẾ- ÐÀ NẴNG, qua Trùi, qua Lăng Cô, xuyên đèo Hải Vân, băng qua hầm Sen dài hun hút, tiếng còi chói tai, khói than khét ngẹt. Xa rồi! Xa thật rồi! Quê tôi, khi lớn khôn đôi lúc chạnh lòng nhớ lại, tôi đã viết cho Quê Cha tôi vần thơ vụng dại nhưng đấy là bao niềm nhung nhớ về chốn xưa.

Êm ái làng tôi nắng mới reo
Mái ngói thay cho mái tranh nghèo
Vài chiếc thuyền con tìm bến đậu
Bên bờ sông vắng nước trong veo
Tiếng ai trò chuyện như hơi thở
Làn gió mơn môi mắt đợi chờ
Hàng dừa xanh như tình ai đó
Gọi tôi về tìm lại những ngày THƠ.
QUÊ NGOẠI ÐÀ NẴNG DẤU YÊU
Cách thành phố Ðà Nẵng 40 km về phía Nam , thành phố Hội An nhỏ bé nằm ven theo giòng sông THU BỒN, nước trong veo lững lờ chảy xuôi về biển cửa ÐẠI. Quê Ngoại của tôi, nơi đó, Mẹ tôi, cô gái nhà quê dịu dàng thuỳ mị được sinh ra và lớn lên trong tiếng xào xạc của hàng dừa xanh, luôn luôn thầm thì với gió biển hiền hòa, muôn đời thuỷ chung với đất Quảng. Mẹ tôi, cô con gái độc nhất trong gia đình nên được ông bà Ngoại tôi cưng chìu. Thời đó, ít có người con gái được cắp sách đến trường, sự học hành dường như để dành cho con trai, nhưng ông bà Ngoại cũng làm một chức quan cho nhà nước bảo hộ Pháp, nên mẹ tôi vẫn được theo bọn con trai học hành thi cử, mẹ tôi đã đậu được văn bằng Tiểu học Pháp rồi Mẹ không đi học nữa, vì muốn học lên phải đi xa, Mẹ sợ xa gia đình nên phải ở nhà giúp bà Ngoại tôi làm vườn, trông nom vựa lúa nương dâu. Cuộc sống êm ả thanh bình một thời gian dài trong khoảng đời con gái của Mẹ. Tôi nhớ có những đêm name úp đầu vào ngực mẹ để nghe mẹ kể chuyện: ngày xưangày xưaMẹ chưa gặp Ba, Mẹ thích những đêm trăng sáng theo bà Ngoại đi xem hát tuồng ở một rạp hát đầu làng, Mẹ mơ Mẹ là công chúa ngủ trong rừng, chờ hoàng tử đẹp trai đi săn bắn ngang qua thức Mẹ dậy. Tôi ngây thơ hỏi Mẹ, hoàng tử có phải là Ba không?. Mẹ cười vuốt tóc tôi và im lặng không nói gì, tôi cũng không hỏi thêm Mẹ nữa, nằm im trong lòng Mẹ, ngủ lúc nào không hay. Tôi ngủ theo giấc mộng lành của Mẹ.

Cuộc sống thanh bình kéo dài không được bao lâu. Chiến tranh lan tràn đến quê Ngoại, Việt Minh tràn về, ban đêm đi ruồng bắt những người Quốc Gia để thủ tiêu. Ông Ngoại tôi đành bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ ruộng vườn nương dâu, đưa gia đình về Ðà Nẵng. Mẹ rời quê ra đi khi tuổi đời vừa mới lớn. Mẹ nói, hôm lên xe đò đi Ðà Nẵng, Mẹ đã khóc sưng mắt và nhịn ăn một ngày, nhưng cuối cùng mẹ rất là vui, vì chuyện xa quê đưa Mẹ vào một cuộc tình thơ mộng. Ba từ Huế, Mẹ từ Hội An, hai người thân yêu nhất đời tôi đã gặp nhau trên bờ sông HÀN. Bờ sông HÀN thân thương đã kết tu Ba và Mẹ để sinh ra tôi. Sau nầy tôi lặn ngụp vui đùa suốt thời trẻ thơ bên bờ sông kỷ niệm nầy. ÐÀ NẴNG dấu yêu! Con đường Ðộc Lập dài nhung nhớ, Cổ Viện Chàm huyền bí âm u, biển Thanh Bình vi vu tiếng thông già, cầu Vồng lên cao xuống thấp trong những ngày cùng lũ bạn đua xe đạp, con đường Hùng Vương hun hút theo mối tình đầu vu vơ , tất cảtất cả là những cánh hoa hạnh phúc cho tôi về một vùng trời bao la gấm vóc của một thời đầy tương tư: THỜI TUỔI DẠI dưới mái trường PHAN CHÂU TRINH.

Ba ra Hà Nội thi Tú tài, trên đường về Huế ghé Ðà Nẵng, Ba đã gặp Mẹ. Mối tình của Ba Mẹ, tôi không biết được nhiều. Ba chỉ cười khi Mẹ nhắc đến, còn Mẹ thì kể rất ít. Khi còn sinh thời, hai người cứ nhỏ to với nhau chứ không nói lớn nên tôi không biết gì thêm, nhưng tôi nghĩ thời nào cũng vậy, tình yêu nó nhiệm màu và xét cho cùng, muôn thuở nó vẫn giống nhau, dù hình thức nầy, hình thức nọ, tuỳ theo phong tục tập quán, nhưng tận đáy lòng hai kẻ thương nhau, yêu nhau thật sự vẫn là thương nhớ, đợi chờ, giận hờn, hy sinh, tha thiết, cũng là nhịp đập của hai con tim. Tuy Mẹ kể sơ qua nhưng tôi nghĩ mối tình Me Ba thơ mộng lắm, tiếc là trong GIA PHẢ nhà tôi chỉ có một đoạn ngắn viết về mối tình nầy. Tôi đọc Gia phả, tôi tức lắm bởi vì đoạn nầy là đoạn quan trọng đối với tôi, thế mà Ba viết ngắn quá, Ba viết: Tôi quen vợ tôi tình cờ trên bờ sông Hàn ÐN trong một chiều có nhiều gió của mùa Thu năm 1942, tôi và nàng không nói nhiều chỉ biết đi song song bên nhau dọc bờ sông. Cuối đông 42 chúng tôi làm đám cưới, sau đó, tôi đưa vợ tôi về làng Chuồng, và chúng tôi có đưá con trai đầu lòng sinh 01 Oct 1943., tôi vừa đậu Tú tài và đang xin việc làm.

Trời ơi! Ba đậu Tú tài mà sao Ba ít chữ quá! Mối tình của Ba Mẹ chỉ vỏn vẹn có bấy nhiêu chữ hay sao? Sau nầy lăn lộn nhiều, bầm dập nhiều trong tình trường, tôi thủ thỉ hỏi mẹ: Tại saỏTại saỏBa viết ít vậy. Mẹ cuời, lúc nào Mẹ cũng nở nụ cười dễ thương để trả lời, Ba nói ít nhưng làm nhiều, Ba không quen nói nhiều vì tính Ba nhát lắm chứ không giống như con, cái miệng bô bô nói thật nhiều nhưng là chúa làm biếng. Tôi cười trừ vì tôi biết không ai hiểu tôi bằng Mẹ.

(còn tiếp)


Tôn Thất Phú Sĩ
7/03

Mục Lục


3. Mùa Nước Lũ ( kỳ 21)

Trần Công Nhung


Lúc trở về, hai người cùng đi bộ. Thảo hỏi Nam, thư gởi Mẹ có chuyện gì không. Nam cho biết đã kiếm được nhà dưới Chợ Dinh nên báo để Mẹ ra xem. Thảo cũng mừng và hỏi thêm :
- Nhà rộng không anh, ngói hay tôn ?
- Nhà tôn, ba phòng, khá rộng, có vườn.
- Anh nhắm Mẹ có thích không ?

Lần thứ hai nghe Thảo gọi bà Nhiêu bằng Mẹ, Nam cảm động, choàng tay qua vai Thảo:
- Anh nghĩ, Mẹ sẽ bằng lòng.
- Giá bao nhiêu anh ?
- Ba mươi lăm ngàn.
- Mẹ làm sao đủ tiền ?
- Tháng tới Mẹ ra lãnh tiền tử tuất của Ba.
Ði được nửa đường Nam hỏi :
- Em mỏi cẳng chưa ?
- Dạ chưa, anh mỏi không ?
- Anh có đi suốt đời cũng không mỏi.
- Anh thiệt khéo nịnh dễ sợ. Chiều ni mình làm chi anh.
- Em muốn đi chơi Cồn Hến không ?
- Ở mô anh ?
- Ðứng trên chợ Ðông Ba nhìn chéo thấy một cồn nổi, đó là Cồn Hến. Sông Hương tới đập đá gặp Cồn Hến rẽ hai, xuống Vĩ Dạ nhập lại rồi về biển Thuận An.
- Răng kêu Cồn Hến ?
- Cồn có nhiều Hến, dân ở cồn chuyên sống về nghề đãi hến. Hến cồn ngọt thịt, cơm hến nhờ vậy mà nổi tiếng.
- Ði, em mượn xe chị Hiền, hai đứa hai xe cho khỏe.
- Có bao giờ em nghe anh than mệt vì chở em không ?
- Nhưng em ngồi để anh đạp em không đành.
Về phòng gặp Hiền, Hiền chào hai người :
- Cuối tuần vui quá há, chào anh Nam.
- Chị Hiền cũng mới đi về ?
- Tôi qua phố mua mấy thứ lặt vặt.
- Tụi này định rủ chị đi Cồn Hến chơi. Ði chị.
- Tôi đi cả buổi mới về, hai người cứ tự nhiên.
- Chị cho Thảo mượn xe đạp được không?
- Ừ, lấy đi đi.

Thảo nói cũng đúng, mỗi người một xe, đạp nhẹ nhàng hơn. Tất nhiên chở nhau thì có cái thú riêng. Lúc qua Ðập Ðá, hai người phải dẫn xe đi bộ. Mùa lụt năm rồi làm lở sạt hết kè đá, đường không thể đạp xe. Mặt đường, đá từng tảng lởm chởm, xe đạp dắt tay mà cứ nhảy cà tưng. Nam dặn Thảo :
- Thảo cẩn thận nghe, em mang guốc coi chừng té. Lúc nãy để anh chở, giờ phải dễ đi hơn không.
- Không sao, em đi được.
Thỉnh thoảng Thảo mất thăng bằng như muốn chúi người xuống, Nam phải la lên. Tự nhiên Nam đâm lo, Thảo mà té là dập mặt. Nam buộc phải dừng lại.
- Thôi em thả xe ra, để qua một bên, anh đưa em qua rồi anh lui lấy xe. Em đi vầy anh hồi hộp lắm. Nghe anh đi, dừng lại.
Thảo không biết phải làm sao đành nghe lời Nam. Nam tay dẫn xe tay đưa cho Thảo vịn.
- Em nắm chặt cánh tay anh mà đi. Biết vầy đừng rủ em đi Cồn Hến cho xong.
Thấy Nam lo lắng, Thảo cảm động nói nhỏ:
- Anh, em đi được, anh đừng lo.
- Em nắm chặt tay anh.
- Nè, em bóp ri anh không đau hả.
- Ðau chi, em mà té xuống anh mới đau.

Thảo tưởng như vừa uống một liều thuốc kích thích tim.
Tim Thảo đập nhanh hơn. Thảo muốn bày tỏ những suy nghĩ, những rung động tự đáy lòng mình với Nam mà không biết làm cách nào. Hễ vào chuyện là bị Nam dẫn đi một mạch, Thảo như cánh chim bé nhỏ lạc giữa rừng hoang.

Qua được đoạn đường đá lở, hai người dừng lại thở hổn hển. Nam nói :
- Em nghỉ ở đây, chờ anh trở lại lấy xe.

Thảo đứng một mình, nhiều người qua lại cứ nhìn nhìn, nhất là mấy chàng trai nhìn chằm hăm. Thảo tự hỏi không biết mình có cái gì mà họ nhìn dữ vậy. Nam không bao giờ. Nam thích ngắm những cái mà người khác không để ý tới, những ngón tay ngập ngừng, mấy sợi tóc mai lảng đảng.
Lúc Nam trở lại, Thảo nói :
- Em thấy anh cực nhọc với em quá.
- Còn hơn để em té xuống cho thêm rầy rà. Thôi lên xe đi.

Ðường rộng ít xe, hai người đạp sóng đôi, thỉnh thoảng Nam liếc sang ngắm vóc dáng Thảo. Ði bộ, Thảo có vẻ lớn khổ, nhưng ngồi xe đạp, Thảo như một nữ sinh bé bỏng. Gần tới trường tiểu học Vĩ Dạ hai người rẽ theo một lối ra bờ sông. Trong khi chờ đò, anh chị dựng xe đứng ngắm dòng sông trong xanh êm đềm. Không biết Nam đang nghĩ gì. Thảo thấy người thư thái nhẹ nhàng, trái ngược với lúc qua Ðập Ðá. Thỉnh thoảng một cơn gió bất chợ hất tung vạt áo sau, Thảo vội đưa tay chụp lại. Thảo hỏi Nam:
- Khi chừ anh nghĩ chi rứa ?
- Anh hát .
- Em có nghe chi mô ?

Nam quàng tay qua eo Thảo kéo một cái rõ mạnh.
- Em thật thà quá đi. Ðến bây giờ anh vẫn chưa thực hiện điều đã hứa với em.
Thảo ngạc nhiên :
- Anh hứa chi mà chưa với rồi ?
- Lúc đi chơi đồi Thiên An, anh nói sẽ tìm cho em một "Tà Áo Tím".
- Ðược rồi, em sẽ thực hiện lời hứa của anh.
Nhanh như gió thổi Nam hôn xuống bàn tay Thảo :
- Ðò sắp qua, mình chuẩn bị. Em lên trước, anh đưa xe lên sau. Bên Cồn có nhiều quán chè, em muốn ăn chè gì ?
- Anh ăn chi em ăn nấy.
- Nói xong Thảo mỉm cười và liếc qua Nam.
- Giỏi lắm.
- Chẳng lẽ có ông thầy như anh mà không học được gì ? Nhưng chạy một vòng chơi đã anh.

Nam Thảo đạp xe theo con đường đất nhỏ chạy quay co, xóm này qua xóm kia, có những chỗ tre phủ kín đầy, tưởng như đi trong đường hầm. Thôn quê ít thấy trẻ nhỏ tụ tập ngoài đường như ở thành phố. Mỗi nhà một vườn riêng, họ sinh hoạt trong yên lặng. Lúc trở lại đường cũ, Thảo Nam ghé vào quán chè nghỉ mệt.
- Em ăn chè Khoai Sáp nghe. Khoai Sáp bùi và ngon. Chè Bông Cau cũng thích.
- Xong mình kiếm một bến nào đó ngồi chơi.
- Ờ, hay lắm. Mà em không sợ người ta nhìn em sao ?
- Thôn quê, người hiền lành chớ đâu có quỉ như mấy ông thành phố. Lúc nãy em thấy phía dưới có bến đẹp ghê.

Rời quán, hai người đạp xe xuống xóm dưới. Một cầu ván cách mặt nước chừng vài gang tay, xa bờ chừng vài sải, mãi tít đằng lùm tre phía xa mới có đôi ba chiếc đò chụm mũi vào nhau. Trên bến một cây Sung thân khá lớn, nằm ngả ra mặt sông.
- Em bỏ guốc ra, đi khỏi trợt.
- Thường người ta ra đây làm gì hả anh?
- Lấy nước, tắm giặt.
Thảo nắm chặt tay Nam khom người chao chân xuống nước :
- Mát ghê anh.
- Em ngồi xuống rửa chân đi. Anh muốn ngắm...
- Dơ quần hết.
- Chỗ khô kia sạch, vén áo ra trước, ngồi xuống khua hai chân trong nước.. Anh lên trên bến ....

Thảo ngoan ngoản làm theo lời của Nam, nàng kéo cao hai ống quần rồi nhúng cả hai chân xuống nước. Cảm giác mát lạnh làm cho Thảo khỏe hẳn người. Trên bờ, Nam đang đứng ngây ra nhìn. Biết Nam hay "viễn vông", Thảo đã quen không còn ngại như thuở ban đầu. Trong khung cảnh hoang dã Nam mới thấy cặp chân của Thảo trắng đẹp làm sao. Nam chợt nhớ ra đã đọc đâu đó một tác giả cũng cho nhân vật của mình nhìn trộm người con gái đang rửa chân bên cầu ao. Màu trắng làn da pha màu áo, vỡ tan lung linh đáy nước. Cảnh thật nên thơ.

Sau buổi đi chơi Cồn Hến, Thảo Nam thỏa thuận dành thì giờ cho mùa thi mãn khóa. Ai cũng nghĩ là mình sẽ đậu, tuy nhiên phải đậu cao mới mong gần nhau được.

Nhà bà Ðiền đã đông, lại không có phòng riêng, suốt ngày tiếng cối xay đậu, tiếng cười nói của người vào ra, chỉ còn lúc đêm khuya mới yên tịnh. Nam thường đem sách vở ra các trụ đèn ôn tập hoặc thức vào lúc mọi người đang ngủ say để học bài. Thảo thì thong thả hơn, có chỗ ở riêng nên chuyện bài vở không vất vả, nhưng dạo này Thảo hay lo ra. Không biết nay mai việc thay đổi như thế nào. Một điều cũng làm Thảo suy nghĩ mà không tiện nói với Nam. Thảo cảm thấy dường như Loan có tình ý với Nam. Sự săn sóc của bà Ðiền đối với Nam cũng làm Thảo tin điều mình nghi là đúng. Loan không đẹp bằng Thảo nhưng lại thường xuyên gần Nam, ai mà biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Ðể xua đuổi những ý nghĩ tối tăm, Thảo hỏi Hiền:
- Chị Hiền ơi, ra trường chị thích làm ở mô ?
- Thì dĩ nhiên là Bệnh Viện Trung Ương. Làm ở đây mình còn có cơ hội học lên.

Thảo phục Hiền hết mức. Hiền luôn luôn nghĩ đến chuyện học hành để tiến thân. Con gái rồi ai cũng lấy chồng nhưng mình có một nghề vững chắc, một học vấn cao, thì cuộc đời sẽ đẹp hơn. Thảo thấy mình nhiều khó khăn, hoàn cảnh gia đình, những ngày sắp đến mẹ con chưa biết sao, rồi cuộc đời làm vợ, làm mẹ cũng thấp thoáng gần kề. Những lúc nghĩ quẩn, Thảo lại thích có bạn để gợi chuyện san sẻ, hoặc gặp Nam để tâm tình.

- Em cũng mong như chị Hiền nhưng chắc khó mà đạt.
- Thì người ta vẫn bảo học tài thi phận, hơi đâu Thảo lo.
Thảo nghe có lý. Việc gì cứ suy tính chuyện chưa đến, nghĩ chi cho mệt. Suốt mấy tuần Nam Thảo không gặp nhau. Chiều nay Nam đạp xe qua báo cho Thảo biết bà Nhiêu ra lãnh tiền và đã mua được nhà. Nghe tin, Thảo vừa mừng vừa bối rối. Thảo chợt nhớ đến hoàn cảnh mình.
- Giờ Mẹ mô anh ?
- Mẹ vô lại Ðà Nẵng rồi.
- Sao anh không báo cho em thăm Mẹ. Có tin gì của Má không ?
- Má vẫn bình thường. Má nhắn em ráng lo học đừng có mà ham chơi.
- Thì khi mô Má không nói rứa. Chừng nào Mẹ dọn ra Huế ?
- Chắc trở về Ðà Nẵng Mẹ thu xếp rồi dọn ra nay mai.
- Thảo nói với vẻ mặt âu lo :
- Em không biết Má răng đây ?
- Thì Má cũng ra luôn, Mẹ nói cứ ở rồi nộp đơn xin nhà trại di cư, thế nào cũng được.
Thảo lặng thinh một lúc rồi bảo Nam:
- Lần sau anh nhớ phải cho em thăm Mẹ.
Thấy Nam không nói gì, Thảo nhắc lại :
- Anh có nghe em nói không ?
- Ðược rồi, lần này mẹ không có thì giờ, hai nữa anh cũng không muốn làm em bận rộn thêm.

Thực tình Nam thấy, mỗi khi đầu óc lu bu rối rắm thì chuyện "gió trăng" cũng không thú vị gì. Dạo này phải lo kết thúc chương trình, lại còn lớp vẽ, lúc đầu tưởng là chơi cho vui, té ra cũng không đơn giản. Thảo nhìn Nam có vẻ nghi ngờ.
- Hay có gì anh muốn dấu em?
- Không có gì đâu, với lại cứ lo chạy lui chạy tới công chuyện của Mẹ anh cũng mệt nên không nhớ gì hết.
- À, dạo này anh còn học vẽ không ?
Thảo chuyễn đề tài làm Nam hứng chí :
- Còn chớ, mà khó ghê. Tưởng học vẽ bàn tay hóa ra phải học đủ thứ. Nay anh đã qua vẽ phong cảnh bằng màu nước. Thích lắm Thảo à, sau này có dịp, em cũng nên học.
- Thôi, em thích học đàn. Có cây đàn mình tập hát cho vui.
- Em nói đúng, em học Mandoline, một cây Mandoline chừng hai trăm thôi.
- Nói vậy chớ bây giờ mình còn nhiều chuyện phải làm.
Yên lặng một lúc, Thảo hỏi Nam :
- Anh, em hỏi thiệt anh, nếu chuyện nhà cửa xong xuôi, Má ở chung với Mẹ, còn em?
Nam bật cười :
- Bộ em không ở với Má à ?
- Nhưng mà như vậy thì kỳ lắm người ta nói.
- Nói gì, thuê nhà ở chung không được sao ? Thôi em đừng nghĩ ngợi, để đó rồi tính. Với lại anh cũng đang hỏi thủ tục xin nhà cho Má.
- Làm răng xin ?
- Có giấy chứng nhận Di cư là được. Việc này nhờ Cha giúp. Thôi, anh về, còn phải chạy muợn ít tài liệu "tâm lý trẻ em".

Thảo chưa biết rồi sẽ thế nào nhưng theo ý kiến Nam thì cũng ổn. Lo lắng chỉ thoáng qua chốc lát, thực tế lại đưa hai người trở về với bài vở. Thời gian chẳng còn bao lâu nữa.

Trong dư luận của lớp giáo sinh đã xầm xì nhỏ to về đề thi và các nhiệm sở. Anh chị nào cũng hy vọng chọn những trường gần nhà. Nếu phải đi các tỉnh thì vất vả lắm. Nhiều người hồi giờ sống bên cha mẹ, chưa biết tự túc cho cuộc sống của mình nên e ngại. Nam thì khác, gần nhà để tiện nhiều việc, nếu không, chàng cũng xoay sở được dễ dàng. Khóa Sư Phạm đã kết thúc, Nam có nhiều hy vọng được chọn nhiệm sở. Thảo cũng đã thi ra trường. Hai người vừa trút đi gánh nặng suốt một năm dài. Nhưng, trước mắt lại mở ra nhiều sự đổi thay chưa biết như thế nào.

Trần Công Nhung



Mục Lục


4. Cây đa bến cũ (tiếp)

Thanh Sơn



Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Ca dao Việt Nam

Không biết có phải vì vô tình chăng mà hai bên bờ con sông đều có một cây đa cao vút. Những sợi đa như những nhũ đá chảy dài xuống lòng thòng. Cứ nhìn ngọn gió lao xao trên đầu ngọn đa là người ta đoán được mùa nào đang đến. Mùa xuân thì lá cây ít lay động, lá mơn mởn nhựa tươi. Mùa hè chỉ những ngọn lá tít trên cao mới hơi se se lay nhẹ, còn lá dưới thấp vẫn im lặng như tờ. Mùa thu lá nhoè đi và lướt thướt như có mùi ẩm ướt, đêm đêm gió lăn tăn như thay lá rủ rỉ rù rì. Rồi khi mùa đông đến, lá co ro như dấu mình trong rét và thỉnh thoảng những cơn gió ào ào đưa cái lạnh từ lá lan ra mãi nơi xa.

Ngày còn đi học, Mơ sợ cây đa lắm vì trông lúc nào nó cũng um tùm, âm u làm sao ấy. Giá như chỉ một mình Mơ phải đi về, qua lại bên sông thì chắc Mơ chẳng bao giờ dám đi học. Nhưng nhờ theo chân các bà đi lễ, vừa đi vừa nghe các bà cầu kinh, nên Mơ cũng vững dạ mà đi. Lâu dần rồi cũng quen, cho dù có gặp những ông bình vôi vỡ hay những ông lò hư cũ được người hai bên sông đem quẳng bừa dưới gốc, Mơ cũng chẳng còn thấy sợ nữa. Lại có lần Mơ thấy đám trai trẻ trong vùng leo chót vót trên ngọn đa, ngồi vắt vẻo chuyện trò inh ỏi; có đứa lại nắm dây đa mà thả trượt nhanh xuống thì Mơ cho rằng cây đa cũng chỉ là một thứ cây như các loài khác, có gì đâu mà phải hãi hùng. Ấy nhưng qua lời mẹ dặn : con gái đừng bắt chước trèo đa mà bị quở báng nghe con; có người đã phải vác con đến cửa thánh kêu xin van mãi mới khỏi, Mơ đâm ra chả hiểu thế nào với thế nào.

Bây giờ về ở nhà, Mơ vẫn để ý dõi theo tiếng gió từ cây đa thổi vào xóm để mà đoán già đoán non xem sinh hoạt của trường bên kia sông đang ở vào giai đoạn nào. Kìa cái tiếng khe khẽ như hơi thở ra nhè nhẹ, Mơ chắc nịch là Tết vừa qua và trường bắt đầu vào học lại. Ôi, cái tuổi học trò sao mà đáng yêu thế. Những dịp này chắc bạn bè cũ ai cũng tranh nhau kể lại những ngày nghỉ Tết thú vị vừa qua : mặc quần áo đẹp gì, tiền lì xì được ban nhiêu, theo cha mẹ đi chúc những nơi đâu, bánh trái đã ăn những thứ gì. Ấy là cuộc sống của đám trẻ bên đó, chứ còn xóm Mơ ở bên này thì nào có biết Tết là gì đâu. May lắm ngày hôm đó ai ai cũng được nghỉ không phải ra vườn rồi túm tụm nhau bên ấm nước nước vối gọi là vui với năm mới thế là đã tốt rồi.

Ðến khi Mơ nghe tiếng ve râm ran kêu và cái nóng lắt lay làm sần da nổi ngứa là lúc Mơ nhớ đến ngày tan trường. Mơ tự hỏi ai sẽ còn tiếp tục theo học và ai cũng sẽ phải dời xa trường như Mơ. Nỗi buồn buồn vẫn dai dẳng bên cạnh Mơ như thế.

Về ở nhà, Mơ đã nghĩ sẽ được ngủ nướng thêm mỗi sáng một lúc và tối đến sẽ được đi nằm sớm vì không phải lo học hay làm bài. Ấy vậy mà nào có thực hành được đâu. Những dạo ấy là lúc nỗi nhớ trong Mơ càng tăng lên mãnh liệt, nó khiến Mơ như thấy đang thiếu thiếu một vật gì. Vào giường rồi mà vẫn cứ lo không biết mình có quên gì chăng. Rồi giấc ngủ cứ chập chờn đứt quãng, mơ với thực lẫn lộn. Lúc Mơ thấy mình vẫn còn là học trò, lúc lại thấy mình bỏ học đã lâu. Có khi mơ thấy mình đang đọc bài trong lớp, tỉnh ra còn thấy miệng chóp chép đọc bài. Sáng tinh sương, như đã thành lệ, dù cho đang say sưa giấc điệp đến đâu, nghe loang loáng tiếng chuông nhà thờ vẳng sang là nháo nhào choàng dậy. Lóp ngóp ra sau nhà rửa mặt, xúc miệng như ngày nào. Ba chân bốn cẳng lăn vào bếp tìm gói cơm mẹ đơm sẵn, thấy không có, mới biết mình bị hẫng. Thế là Mơ tẽn tò bò lại vào giường, để hồn lan theo tiếng kinh lan xa dần về phía bến đò, mà không sao ngủ lại được. Mơ cứ bị ám ảnh như thế đến cả năm sau mới lắng quên dần. Chợt có hôm thấy mẹ băn khoăn thở dài khi nghe tiếng chuông nhà thờ điểm, Mơ phải làm như vui lên để mẹ khỏi áy náy.

Rồi tuổi trẻ qua đi. Áo Mơ mặc đã ngắn cũn, ngắn cỡn. Có cái mặc chẳng còn che kín đủ cả người. Dù cố vén víu thế nào thì vẫn hở rốn ra, Mơ thẹn quá, nhất là khi bỗng dưng gặp ai cùng đi làm vườn về cứ lom lom nhìn vào khoảng rốn hở. Quần Mơ mặc cũng chẳng kém; cái nào cũng chỉ đến giáp ống chân, nên trông cứ như đi mượn quần người. Mơ lo nếu cứ chóng lớn như thế này thì lấy gì mà mặc. Mẹ đôi lần đã phải tháo bớt một vài cái áo, cái quần để đùm đơm cho Mơ mà cũng không sao chạy theo kịp với cái đà cao lớn nhanh của Mơ.

Song phần lo của Mơ chỉ có một, mà phần lo của mẹ lại gấp đến mấy lần. Bà nhìn cái khoảng hở trước ngực của Mơ mà vừa lo vừa sợ. Bà biết con bà đã dần dần trở thành một thiếu nữ, chứ không còn bé bỏng nữa. Khoảng ngực hở kia là ước hiệu của một người có khả năng làm người mẹ, nhưng mà lo cho con có được một tấm chồng thì liệu bà có khả năng không ? Chẳng lẽ cứ để con luông tuồng hang hở, liệu sự thiếu e dè này có ngăn được những kẻ có tà tâm. Mơ thương mẹ quá, suốt đời mẹ không lúc nào được yên ổn. Mẹ càng lo, người mẹ càng quắt đi, tóc mẹ càng xác xơ như bụi cỏ thiếu nước. Ðêm đêm Mơ đã nghe tiếng mẹ thở dài. Mẹ buồn cho số phận, hay mẹ đang đuối lòng vì bất lực. Mơ cứ ước ao sẽ giúp gì được cho mẹ để mẹ bớt khổ thì Mơ cũng không dám từ nan; nhưng nhìn đi nhìn lại Mơ cũng chẳng biết làm gì.

Một lần, Mơ đã thủ thỉ với mẹ : u này, hay là u để con đi làm, nhà đỡ được một mối lo. Mẹ tròn mắt nhìn Mơ. Mẹ hỏi : con định đi làm gì, ở đâu ? Ai đã ướm hỏi thuê mướn con hay sao mà con hăng hái thế. Mơ thưa lại : nào con có biết ai muốn thuê con đâu; làng ta ai cũng nghèo như nhau cả thì ai còn thuê mướn con cái của nhau làm gì. Song chẳng lẽ cứ quanh quẩn thế này để rồi lần lần chết đói cả. Hay là mẹ cho con lên phố, may ra kiếm được việc gì chăng. Mơ thấy mẹ chưng hửng, mẹ trả lời dứt khoát : không, con không phải đi đâu hết. Con có biết đường nào ra phố đâu mà học đòi. Người ta khôn gấp bao nhiêu lần con mà còn lận đa, lận đận. Ngữ con ngây ngây, ngô ngô, chỉ tổ cho mẹ mìn dụ dỗ. Ðừng đi con ạ. Con cứ ở nhà với u, đói cùng đói, no cùng no, có mẹ có con, đỡ đần nhau lúc tối lửa tắt đèn. Con đi rồi, một thân một mình, ai ở sẵn bên để khuyên giải, chỉ bày cho con. Phố xá, người thanh thì ít, cạm bẫy thì nhiều, con khó mà xét định được đâu là thực, đâu là giả. Rồi dẫu con có muốn đi cũng phải có cái áo cái quần lành lặn, con gái lớn lên phải kín đáo dè chừng. Con nhìn lại con xem, liệu đã lành lặn để yên tâm lên phố chưa. Mẹ chỉ sợ con lớ ngớ, không phải đầu lại phải tai; con mà có bề nào chắc u không sống nổi. Nói rồi hai mẹ con cùng ôm lấy nhau mà khóc. Mơ sợ quá, Mơ liên tục xin lỗi mẹ. Mẹ phải bảo : con không có lỗi gì cả. U khóc vì u bất lực, không che chở, nuôi nổi thân con. U cầu xin cuộc đời mẹ con ta rồi có ngày sẽ bớt khổ. Mẹ nói rồi lại nhìn về phía góc nhà, nơi có tấm ảnh lờ mờ đặt thờ cha. Mẹ lâm râm lời gì đó trong miệng. Mơ nghe như tiếng gió thoang thoảng trên đầu ngọn đa cạnh bến đò.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Tuổi già

Ðỗ Thành

Bước sang cái Tết năm nay, ông lên chẵn 70, cái tuổi mà ai cũng trầm trồ là xưa nay hiếm. Ðó là tính tuổi theo dương lịch, chứ nếu tính theo âm lịch, thì tuổi ông lại phải cộng thêm 2. Sở dĩ có sự rắc rối loanh quanh đó là vì ông được sinh vào khoảng 24 tháng Chạp âm, nên dù chỉ còn vài hôm qua năm mới, nhưng ông vẫn phải chịu oan thêm 1 năm. Thuở bé, cả nhà ai cũng đinh ninh ông là tuổi Tuất, thế nhưng trong khai sinh, cụ đẻ ra ông đã cẩn thận ghi rõ cả ngày dương lẫn ngày âm, nên không thể sai trệch đi đằng nào được. Vậy ông đúng là tuổi Dậu, người thì bảo ông là con hùng kê rất oanh liệt, nhưng ông thì tự cho mình là con gà nuốt giây thun vì suốt đời chả làm nên tích sự gì. Ðối với ông, tuổi hiếm hay không chẳng quan trọng gì mấy vì có làm gì thì cũng chẳng còn sức đâu để mà làm. Càng ngày ông càng giống như cỗ xe chạy quá lâu nên rệu rạo hết cả. Ông thường cho rằng con người khi đã bước vào tổi 70 là coi như cúp bình thiếc hết rồi. Ðó là cái tuổi thuộc vào hàng tri thiên mệnh, bắt đầu biết rất rõ về sở ưu lẫn sở đoản của mình, và đã có thể tính dần cái ngày về với đất.

Mấy ngày đầu năm, một vài bạn bè gọi thăm ông. Người ở mãi tận Florida, người dưới " Eo Ê ", người trên Minnesota, người ở Texas, quanh đi quẩn lại chỉ là những câu hỏi : " năm mới chúc cụ sức khoẻ, đã có may mắn gì chưa ? " Kế đó hỏi han nhau hiện làm gì. Khi nghe ông cho biết ngày ngày vẫn đi cày cái " dốp " thì bạn bè ai cũng giẫy nẩy kêu lên " trời ơi ! sao cụ chưa chịu nghỉ đi cho khoẻ; còn ham chi chốn công danh mà lăn xả vào. Với tuổi cụ bây giờ có rửa tay gác kiếm cũng chẳng ai chê. Phương chi anh nào từng đi tù Cộng Sản về, chẳng nói ra ai cũng hiểu là đều nghễnh ngãng tâm thần ráo nạo rồi. Thẹn thùng gì mà cụ không chạy cái " eo phe ".

Ông thương bạn, quí bạn, rất cám ơn lòng săn sóc của bạn bè. Song mỗi người một hoàn cảnh, ai chẳng mong tìm lấy chỗ nhàn, chỗ khoẻ; mà với ông chuyện đó dẫu có cà kê dê ngỗng kể lể ra, chưa chắc bạn bè thông cảm để hiểu cho. Nhớ dạo mới sang, ông cũng đã có một thời gian xin hưởng trợ cấp xã hội rồi. Dạo ấy ông còn ở mãi tận đất Vạn Hồ, cộng đồng ta không có mấy, nên hễ mỗi lần vào chợ đưa cái " phút tem " ra, thấy ai cũng chăm chăm nhìn, thẹn quá. Người Á Ðông vốn lùn và trẻ dai, mấy tay tây đầm già Mỹ nào biết đâu như thế, họ cứ nghĩ mình dựa dẫm vào xã hội, làm các ông bà ấy sốt ruột đùng đùng. Trong tâm tư , họ cứ cho là mình lạm dụng trên đồng tiền thuế của họ. Thành ra, để tránh cái sự nhột nhạt này, ông đã chọn việc đi làm. Lâu ngày thành quen, giờ giá nghỉ việc ở nhà chắc không biết làm gì cho hết thời gian rỗi rảnh.

Vả lại nghề của ông cũng chẳng phải lên thác xuống ghềnh gì cho cam, cũng chẳng phải vác thân khổ sai đi làm không công như ngày còn bị tù Cộng Sản thì có gì phải ngại kia chứ. Rồi mỗi năm lần mò một ít, nay ông cũng đã tích luỹ ra một số " krê đít " khá rồi. Trời cho ông mạnh tay khoẻ chân, chỉ thêm vài năm nữa là đủ số chỉ tiêu cần thiết, rủng rỉnh có được tí lương hưu, có sống dai cũng không đến phải nhờ vả cháu con, hoặc có đi chơi đâu dài lâu cũng chẳng lo ai hỏi han hay bị trừ trợ cấp.

Hiện ông đang làm cho một cơ sở người già. Các ông bà trọ nơi đây trước cũng đã có nghề này, nghề nọ, giờ về hưu sẵn của, nên con cái gửi vào đây. Sẵn phòng, sẵn tiện nghi, sẵn bác sĩ, sẵn bệnh xá, từng chút được chăm nom, nên các cụ chỉ lo ăn nghỉ, làm các việc lặt vặt, hoặc giải trí suốt ngày. Có người khoe đã ở đây cả chục năm rồi. Ngày ông mới về nhận việc, xem ra các ông bà hưu không có cảm tình lắm. Không dưng ở đâu một anh Á Ðông chui tọt vào nơi sinh hoạt rặt toàn người da trắng. Thế nhưng ông chả lấy thế mà mặc cảm vì trước ông đã chán vạn anh, chị ghé vào làm, rồi chẳng ai trụ được lâu. Người nhanh thì chỉ dăm tháng, người lâu dễ cũng đến một năm rồi hoặc tự ý xin đổi, hoặc là khách hàng xin đổi. Ðến khi sở cử ông về, sở cũng chẳng dấu diếm gì việc này, ngược lại sở còn hi vọng là ông sẽ cáng đáng được trách nhiệm.

Vậy mà thấm thoắt ông về làm tại nhà già này cũng đã ngoài 2 năm rồi. Hai năm trời, lái xe đi về trên xa lộ 880 nối qua xa lộâ 17 Nam hay Bắc, mùa nắng cũng như mùa mưa, trời rét cũng như trời nóng, một cách đều đặn, cần mẫn, bây giờ thì ai cũng trở nên quen với ông. Ðã có những cuộc tỉ tê trao đổi vụn vặt khi chờ xe hay chờ người nhà đến đón, nên dần dà ông cũng hiểu được một số các ông bà hưu. Họ đã chào hỏi ông, đôi khi nhờ vả chuyện này, chuyện khác. Ðến nay chắc chẳng còn ai xa lạ gì ông nữa. Gặp nhau đã chào hỏi thân thiết, có lúc còn pha trò dăm câu ba điều.

Oâng làm " xi kiu ri ti ", gọi cho văn vẻ là như thế. Ta có thẳng tuột gọi là bảo vệ cơ quan, hãng xưởng cũng xong. Thản hoặc có ai nữa xách mé gọi là gác gian cũng tốt. Cho dù dưới danh xưng nào thì cũng phải cày ra hồn mới có đồng lương. Oâng chẳng nề hà gì về tên gọi nghề nghiệp, cứ lo cắm cúi vào việc làm để lĩnh đồng tiền lương thiện thì thôi. Việc của ông là mỗi đầu giờ đi rảo khắp lượt một lần, xem có cửa nẻo nào quên chốt, hay là có cụ ông, cụ bà nào buồn tình không ngủ được, lang thang giữa các hành lang, thì gọi báo cho " nớt " đưa họ về lại phòng. Các cụ ở một mình, nhớ con, nhớ cháu, nhớ nhà, nhớ bạn nên lẩn tha, lẩn thẩn.

Có lần đang nửa đêm, một cụ ông tưởng đã sáng đến gõ ồm ồm vào cửa kính đòi ông mở để vào điểm tâm. Oâng phải ôn tồn chỉ vào đồng hồ treo cạnh đó cho thấy kim chỉ con số 12, bấy giờ cụ mới xin lỗi trở về phòng ngủ lại. Cũng có hôm một cụ bà cứ đi qua đi lại giữa hành lang lúc 3 giờ sáng, dáng băn khoăn tìm kiếm vật gì. Oâng đến hỏi mới biết cụ đang tìm khoá xe để xuống xem có ai nghịch phá xe cụ không. Chừng hỏi ra mới biết con cháu cụ sợ cụ lái xe không còn vững nên đã gọi tặng cho hội phước thiện từ đời nảo đời nào. Aáy thế, tuổi già thường lẫn lộn, chuyện này nhớ sang chuyện kia, thành ra như người mất trí nhớ. Có va chạm vào thực tế đó, ông mới thấy tội nghiệp cho các cụ. Mới hồi nào các cụ còn trẻ bay nhảy nhiều, lo toan trăm thứ, tâm trí lúc nào cũng căng thẳng vì cuộc sống, vì việc làm, nhà cửa, mưu sinh nên nay tuy về hưu rồi mà vẫn bị ám ảnh đến thành lẩm cẩm. Thấy người rồi lại nghĩ đến ta, ông không biết liệu khi đến tuổi bằng các cụ, ông có giống như các cụ hiện nay chăng ?

Phải nói là đời sống tại đất Mỹ lúc nào cũng đầy đủ tiện nghi và thừa thãi. Thế nhưng cũng chính cuộc sống này làm cho con người lúc nào cũng phải chạy thi với đồng hồ. Cho nên tình cảm lâu dần trở nên khô kiệt, mà những triền phọc, câu thúc vẫn chẳng chịu buông tha. Ngẫm lại cuộc sống của các cụ ta bên nhà sao mà ung dung, nhàn nhã thế. Gì thì gì, các cụ cũng đủng đỉnh, nhẩn nha. Sáng ra phải nhâm nhi chung trà rồi có làm gì mới làm. Bây giờ mà tìm ở đây cho được một dáng dấp cụ ông khoác cái áo " ba đờ xuy " trên vai, sáng dậy lơ mơ ngồi thưởng thức trà, chắc là hiếm. Phải chăng môi trường nào sẽ tạo ra một thời đại con người thích hợp với không, thời gian ấy. Hay là vì ở bên ta cuộc sống luôn bấp bênh, nên có quần quật lắm cũng không thể xoay chuyển được. Chi bằng cứ lẩm rẩm mà lo, được đến đâu hay đến đó, trời sinh voi sinh cỏ, có lăng xăng thì cũng đến vậy thôi.

Hơn hai năm trời vào ra nơi nhà nghỉ dưỡng, ông dần dần biết được một số lai lịch của các cụ sống tại đây. Có cụ là người Hung đã từng cùng với gia đình bị giam trong trại tập trung của Ðức. May mà được người Mỹ giải thoát kịp thời trước khi bị đưa vào lò thiêu, di dân sang Mỹ, đi làm, cưới vợ, bây giờ nghỉ hưu một cách an toàn. Có cụ là người Nhật sinh ra tại Mỹ năm xảy ra chiến tranh phải theo gia đình vào nơi tập trung chỉ định. Bây giờ nghĩ lại các cụ còn thấy lạnh người. Chiến tranh là như thế, không có tình cảm, không có du di, không có gượng nhẹ. Sau này chính phủ Mỹ đã có lời xin lỗi, song vết thương nào chẳng để lại di chứng âm ỉ trong tâm. Có cụ thời oanh liệt đã làm việc khắp các trung tâm hạch nhân, nay cao tuổi chẳng còn nhớ chút mảy may gì về thời gian ngày trước. Các cụ trở thành những con người hiền lành, dễ dãi và nhẫn nhục, suốt ngày củ mỉ, cù mì.

Nhà nghỉ rất chú trọng đến sinh hoạt tâm linh và giải trí cho các cụ. Thế nhưng có sự chăm chút nào thay thế được tình cảm gia đình. Nhìn bóng dáng các cu,ï khi nắng lên, một mình đi men theo lối mòn trên dốc, lẽo đẽo đi tìm một khuôn mặt người thân, mới thấy các cụ lẻ loi quá đỗi. Chả trách có cụ cứ ngồi hàng giờ trên ghế, nhìn theo những chiếc xe chạy nơi đường nhỏ quanh co, mà không biết mình đang chờ ai, đang đợi việc gì. Có cụ yêu thích hoa, tối ì ạch bưng chậu ra, sáng lích kích khuân vào, nhẫn nại như con ong đi tìm mật. Có cụ rảnh rang ngồi đan hết món này đến món khác, từ lời chào mừng treo trước phòng, đến miếng lót dưới bình hoa, để mong kéo thời gian ra khỏi nỗi nhàm chán buồn dằng dặc.

Mỗi năm vài bận, vào các ngày lễ, phép, con cháu từ đẩu từ đâu kéo về ở vui với các cụ. Các cụ mừng được dăm hôm như người trúng số. Nhưng khi chúng lại ra đi thì các cụ ủ ê như người vừa xuống khỏi chiếc xe đông. Các cụ hết trông mây lại ngắm gió, như cố tìm một vật vừa đánh rơi. Thỉnh thoảng nhà nghỉ có tổ chức các buổi hoà nhạc, khiêu vũ hay trình diễn mua vui, nhìn các cụ ông cụ bà dìu nhau trong tiếng nhạc, nhịp tay theo tiếng hát, dõi theo các cháu múa, mới thấy lòng khát khao ham sống của các cụ dâng cao biết bao.

Thế nhưng khi mùa đông đến, các cụ rơi rụng dần. Chỉ trong vòng vài hôm đã có ba bốn cụ theo nhau về với đất. Aûnh các cụ được treo lên để thông báo cho nhau về sự ra đi này. Thì mới đó ông còn thấy dáng các cụ chậm rãi đẩy chiếc ghế tập đi, hay ngồi chiếc xe lăn chạy điện; thế rồi hôm sau đã nghe tin các cụ qui tiên. Sự mất mát bất ngờ dẫu xem là đương nhiên mà sao vẫn gây ra trong ông nỗi ngậm ngùi thương tiếc. Sự đời có có, không không; ai sinh ra chẳng qua cầu lão, bệnh, tử; vậy mà sao vắng đi một khuôn mặt hay một dáng người, ông cũng thấy bâng khuâng. Phải chăng vì hơn 30 năm chinh chiến ở bên nhà, cảnh chết chóc đã tràn đầy khắp ngõ nên bây giờ nhận thêm một con người từ giã ra đi, ông cũng lây buồn như chính gia đình người quá vãng.

Tuổi già của con người ví như sợi dây đàn căng quá cỡ. Chỉ cần một cơn gió thoảng cũng đủ làm xao động phím tơ. Ðể rồi thương cho người, thương cho chính mình. Ðêm năm canh nằm gối đầu lên cánh tay nghe mỏi nhừ xương thịt. Tiếng côn trùng rỉ rả, như ai oán than van. Chợt nhớ một tiếng thạch sùng chép miệng của những ngày nằm giam trong trại tù, phân vân không biết ngày nào về mà vẫn còn sợ. Chợt nhớ ngày nào người nôn nả trốn trại để rồi bị bắn chết bên rào, ôi ! sao kiếp tù binh chịu nhiều thảm thương cay đắng đến thế. Bây giờ ông may mắn hơn nhiều người, còn được sống những ngày cuối đời trong tự do, song mỗi khi nhớ lại không khỏi bùi ngùi, cay đắng.

Tuổi già thường trở nên đổi tính. Có người cho đó là dối già, theo ông phải nói là rối già mới đúng. Ðầu óc quên quên nhớ nhớ, rối nùi như cuộn chỉ tháo tung. Người trở nên khó tính cằn nhằn. Kẻ trở thành trầm ngâm suốt ngày không ra tiếng. Con cháu đứa nào chịu được thì gượng nhẹ chiều theo. Ðứa giận lẫy đem bỏ vào nhà già, dưỡng lão. Ông ước gì một ngày nào đó nếu có phải xuôi tay, xin cũng được bình thản ra đi. Xin đừng kéo dài thời gian bệnh hoạn. Xin người ở lại đừng bịn rịn, đớn đau. Tàu đã đi, ắt phải có bến đến, mỗi toa chuyên chở theo bao tình cảm cuộc đời. Xin mọi người hãy như khách ngao du khắp chốn một sớm về quê hương yên nghỉ giấc nam kha.

Ðỗ Thành
10/01


Mục Lục


6. Khám Phá

Nguyệt Trinh



Lời thoại đầu:
“tôi đâu biết thịt da là sông núi
chia biệt người ra từng xứ cô đơn”


Ðó là hai câu thơ do Bạch Tuyết ngâm, trước khi vào sáu câu - một bài vọng cổ. Tôi nghe đã lâu và hoàn toàn không còn nhớ nội dung bài hát, bài hát tên gì, ở đâu. Nhưng tôi chắc đó là một bài ca rất hay. Hai câu thơ mở đầu tuyệt vời đến thế lẽ nào bài hát lại dở. Hai câu thơ luôn ám ảnh tôi. Mỗi con người là một vũ trụ riêng lẻ. Từng thể xác là một khối đơn phương, nơi linh hồn tá túc. Biết đến bao giờ con người ta mới khám phá hết vũ trụ của nhau ?

Once upon a time, khi từ giã mối tình cũ của mình. x hỏi tôi lý do, vì sao. Ðến giờ phút đó mới hỏi . Nếu sớm biết thì đâu chia tay như vậy. Câu trả lời ngắn gọn cho qua truông của tôi đại khái, "Anh chưa discover T. hết." x bảo tôi, như thế hoàn toàn bất công. Cả đời mình, chưa chắc mình discover mình nổi. Làm cách nào đòi hỏi người khác discover mình hết. Nhiều năm sau tôi mới thấu đáo và cảm ơn câu nói đó. Nói chi đến phần hồn kỳ bí diệu vợi. Thể xác sờ sờ bằng xương bằng thịt mà người ta còn chưa khám phá nổi. Như căn bệnh tiềm ẩn nằm im sâu năm nầy qua tháng nọ mà người ta không hề hay biết. Ðến khi nó tự bộc phát. Chờ đến khi phát giác ra thì khá muộn màng. Hiểu như thế, tôi bớt [đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác], mỗi khi khám phá ra thêm một điều nữa về mình. Và những người chung quanh.
* * * * *
Tin "Donna trở lại" khiến mọi người chẳng những xôn xao không kém hôm nhận tin bả từ chức, mà còn lo âu ra mặt. Phản ứng đầu tiên là ùng ùng dọn dẹp sạch sẽ giang sơn của mình. Từ trong ra ngoài cực kỳ thứ tự ngăn nắp. Nó biểu hiện nơi làm việc của tầng lớp viên chức gương mẫu. Thậm chí, dọn sạch sành sanh tất cả các hồ sơ riêng tư, tàn trử trong máy. Toàn bộ thư từ, tranh ảnh, nhạc nhẽo, truyện trò, thơ thẩn, game ghiếc, v.v... kéo từ Internet hoặc email hết năm này tháng nọ liền được chuyển sang tất cả đĩa vuông đĩa tròn. Không còn bất cứ tàn tích gì của những giờ phút chém vè, nhàn rỗi. Có kẻ còn bỏ công trang trí. Ðặt thêm bình hoa, treo con khỉ vải, chưng chú gấu bông, bầy đĩa kẹo đầy màu sắc, v.v... Hoặc áp dụng cả phong thủy nơi cơ ngơi của mình để mong gặp nhiều may mắn. Chẳng hạn, treo bức tranh bự tảng thần có hình quả núi hùng vĩ ngay bức vách sau lưng chỗ ngồi. Ðó là biểu hiện của sự chống lưng. Tức là, đường công danh quan lộ sẽ vững như thiết thạch. Hoặc đặt tấm gương to tướng chình ình chiếu thẳng ra cửa. Tấm gương thay thế giòng sông. Nước biểu hiện cho tiền tài. Ở đâu có nước ở đó có tiền. Nhiều nước nhiều tiền. Có nghĩa, chỗ ngồi ở đây sẽ hái ra tiền. Tuy nhiên, tấm gương còn có công dụng khác nữa. Ðặt nó chiếu ra cửa để ai xuất hiện, chủ nhân sẽ thấy mà đón tiếp. Ví dụ ông xếp bà xếp chẳng hạn. Lỡ ổng bả lù lù trong lúc chủ nhân mãi mê đọc báo trên màn ảnh nhỏ thì thật là điều không hay.

Sau màn đổ xô dọn dẹp là tổ chức một buổi Mừng Ngày Tái Ngộ/Welcome Back xôm ra phết. Sáng điểm tâm bầy ba bàn la liệt thức ăn nước uống. Mỗi người mang theo một phần đóng góp. Ai không mang thì đóng tiền cho người khác lo. Luật thành văn ở đây là vậy. Memo broadcast gửi đi trước hai tuần. Ðiểm tâm sương sương là thế. Tuần sau, thêm buổi ăn trưa tập thể, China Buffet - All You Can Eat. Song, đó chỉ là bề ngoài. Bên trong xù xì to nhỏ, âm thầm cầu cứu Head Hunters, thêu rồng vẽ rắn trau chuốt lại tờ Résumé, phóng thư xin việc trên các mạng lưới.

Thấy thiên hạ rộn ràng nàng muốn tham gia cho vui. Song, chẳng biết dọn dẹp gì hơn. Nếu không thứ Sáu thì thứ Hai. Trước hay sau ngày nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ phép, lúc nào nàng chẳng làm Tấm Cám một lần. Chùi dọn đẹp mắt từ trong ra ngoài. Donna từ chức hay tái chức thì bốn mét vuông của nàng cũng đâu vào đó quanh năm suốt tháng. E không còn gì để bầy vẽ thêm nữa. Ngoài vật dụng cá nhân thì các ngăn tủ, mặt bàn, trên kệ và cả dưới đất chất đầy chất đống giấy má hồ sơ. Ðó là những đống lập trình dầy cồm cộm, bản nầy mẫu kia cao ngời ngợi, lủ khủ xấp báo cáo đầy chữ ký của ông lớn bà nhỏ. Ðôi lúc nàng muốn vứt bỏ bớt, nhưng lại đắn đo e ngại khi cần sẽ không có.

Ai cười chê nàng "làm việc bằng sách," nàng đành chịu. Không thể việc gì cũng nhồi nhét hết vào đầu óc. Lúc bí biết tìm đâu ra ngay. Lấy ai mà hỏi. Ai rảnh rỗi ngồi đó chờ trả lời câu hỏi của nàng? Do đó, nàng cứ thủ bí kíp cho chắc ăn. Lật cẩm nang trước cái đã. Tìm không ra mới cầu cứu cao nhân. Cẩm nang bí kíp của nàng là hai chiếc kệ nặng trĩu sách và các bộ dữ liệu. Có quyển nàng chỉ xem qua vài lần. Có quyển hơn năm năm chưa giở lại. Nhớ ngày đầu đến trình diện nhiệm sở, nàng vừa nhún nhẩy trên đôi giầy cao gót mũi vuông, vừa sung sức kéo chiếc vali. Donna tròn mắt ngó theo chiếc mini jupe mềm mại đong đưa rất trẻ trung của nàng. Ðôi mắt dừng lại nơi chiếc vali.
- Dọn nhà hả cô bé ? (Are you moving in, honey ?)
Gia tài lỉnh kỉnh mỗi thứ một chút ráng dồn nhét hết vào vali. Khi đổi sở mới, nàng cố gắng mang tất cả báu vật đến một lần. Khỏi mất công nay tha vật nầy, mai xách món kia lắt nhắt. Của hồi môn nặng nhất là đống sách vở giấy tờ. Hai quyển tự điển to tổ bố chiếm cả góc tư va li. Góc kia là mấy quyển sách và một số tài liệu đóng thành tập gọn ghẽ. Bên nầy là ấm pha nước nóng, cùng một số vật dụng linh tinh như mug, ly, tô, đĩa, một bó muỗng đủa dã chiến ăn xong thì vứt, v.v... Thức ăn gồm vài cup mì ăn liền, pistachios, trà, chocolat, oatmeal, golden raisins. Ðồ dùng cá nhân đầy đủ từ kem đánh răng, lotion, cây lược, băng vệ sinh. Ngoài ra còn có hộp Kleenex, chai Windex, cây chổi lông gà, và chai Room Spray. Riêng cây đèn để bàn, đôi dép ngủ, chiếc áo len, tấm chăn mỏng, và con búp bê nhắm mắt mở mắt nàng mang sau vì vali hết chỗ chứa. Vật bất ly thân như chục viên Tylenol và Albuterol, ống bơm suyễn và bàn chải đánh răng thủ sẵn trong ví. Như thế tạm đủ tiện nghi cho một ngày làm việc dài hơn tám tiếng. Năm ngày một tuần. Thêm những buổi on-call đột xuất. Lúc nàng sắp sửa dọn mở vali thì tên đồng nghiệp mon men thò đầu tóc chờm bờm vào:
- Ðựng gì mà xách tới vali lận ?
- Bí kíp. Cần thì mở ra coi. (Just some references. In case I need them).

Tên đồng nghiệp nhún vai, chỉ lên mớ tóc bù xù như ổ quạ của hắn.
- Ở đây làm việc bằng óc, không phải bằng sách !

Thằng cha cà chớn. Không biết tài nghệ và di truyền thông minh cỡ nào mà lớn lối phát nực. Rổn rảng điếc tai, nhưng khi bí lù tên "làm việc bằng óc" lại vác mặt qua mượn nàng mấy quyển sách để dò nầy dò kia. Cứ tưởng thằng chả chỉ làm việc bằng óc. Té ra cũng cầu cứu sách vở như kẻ tập tễnh lơ tơ mơ trong nghề như nàng. Lúc ấy, kinh nghiệm chỉ bằng cục cứt mũi thì nàng thủ sách vở là điều dĩ nhiên. Cho đến bây giờ cũng thế mà thôi. Nhất là ở đất nước nầy. Tiếng nói là tiếng nói của người. Chữ nghĩa là chữ nghĩa của người. Nếu không muốn bị đào thải thì phải học hỏi [không ngừng]. Huống hồ cho dù tiếng nói của mình, chữ nghĩa của mình đi chăng nữa, còn phải học hỏi đời đời. Thời buổi nầy là thời buổi mà mọi việc mọi thứ đều có thể dã chiến, Do It Yourself. Ở thời buổi mà tiện lợi là điều kiện chủ yếu hàng đầu thì quả tình: Học thầy không tầy học sách. Sư phụ sẵn ở đâu cho thọ giáo vài chiêu ? Không thể mỗi chút mỗi hỏi cho chủ đuổi về vườn sớm. Tự túc/tự học hỏi là khả năng đầu tiên mà công việc nàng đòi hỏi. Ở đây chẳng có huấn luyện, chẳng có tập sự gì cả. Cùng lắm là thẩy cho đống sách hoặc bộ dữ liệu tràng giang đại hải để tự mày mò tra cứu.

Tên "làm việc bằng óc" đã chuyển qua Asian Division bên Nhật cách đây ba năm về trước. Vợ hắn làm việc trong quân đội. Nghe nói, ai làm ở đó cứ vài năm phải đổi căn cứ một lần vì vấn đề an ninh quân sự. Hắn bảo, vợ đổi đi đâu hắn theo đó. Sở nàng có hợp đồng lâu đời dài hạn với một số đơn vị trong quân đội, cho nên việc thuyên chuyển của vợ hắn có lẽ ảnh hưởng đến hắn không đáng kể. Hễ vợ hắn thay đổi căn cứ nào thì hắn lại xin dời đến một division tại địa phương đó của sở. Song, lần ấy lý do duy nhất chẳng phải vì vợ hắn chuyển căn cứ như mọi khi. Mà vì, hắn bị Donna cách chức.

Ðó là thời hoàng kim, Donna tung hoành làm mưa làm gió nhất. Người đàn bà nhỏ con nhưng nói ra sấm, khạc ra lửa. Không có năm nào mà bả không sa thải nhân viên. Bả nổi tiếng tàn bạo vì vậy. Lúc nhận nàng vào làm, Donna phán một câu xanh rờn.
- Tôi tuyển dụng cô được thì tôi cũng có thể đình chỉ công tác cô bất cứ lúc nào. Do cô không làm được việc hoặc do cô không muốn làm việc !

Tin "Donna trở lại" khiến nàng xôn xao không kém hôm nhận tin bả từ chức. Song, nàng lại không lo lắng quá đáng như mọi người ở đây. Nếu Donna muốn đuổi nàng thì bả đuổi từ lâu. Nếu sở nàng muốn, họ có thể sa thải bất cứ nhân viên nào [tất nhiên trong đó có nàng] để cắt giảm và cân bằng ngân sách. Nàng cũng lo. Nàng cũng sợ khiếp vía. Tuy nhiên, việc gì đến nó đến. Nàng lo lắng chỉ mệt thân vô ích. Hơn nữa, ông xếp của nàng cho biết, lần nầy Donna trở lại chỉ với tư cách một cố vấn độc lập để phụ giúp ổng và xếp lớn điều hành một số công việc. Tức là, công việc của nàng, công việc của mọi người chẳng có gì thay đổi. Nàng vẫn làm việc và báo cáo trực tiếp với ông xếp. Không phải dưới trướng Donna. Song, dù bả không trực tiếp chỉ huy ai, dù bả không thể tàn nhẫn sa thải ai như xưa, nhưng bả có thể dòm ngó và nêu ý kiến đề cử. Ông xếp năm lần bảy lượt hỏi nàng, sự trở lại của Donna có khiến nàng e ngại, có khiến mọi người không thoải mái. Ván đã đóng thuyền, còn hỏi nàng làm gì. Nay mai Donna sẽ trở lại nơi nầy. Chẳng lẽ câu trả lời của nàng, câu trả lời của mọi người thay đổi được gì hay sao ? Nói chung, nếu e ngại thì nàng chẳng còn ở đây đến ngày giờ nầy.

Nơi nầy hoặc bất cứ nơi làm việc nào khác cũng đều cần một thủ lĩnh ưu tú như Donna. Tài năng của bả không ai có thể phàn nàn. Cho dù bả từng quá khắt khe, nặng nhẹ với nàng và các đồng nghiệp của nàng. Dù nàng từng cho rằng mình là người bị hất hủi và bị đầy ải trù dập nhiều nhất. Dù sao đi nữa, cũng không thể phủ nhận Donna ngoài hoàn thành xuất sắc chức năng của mình, bả còn là một người lĩnh đạo rất tốt và khá tế nhị. Chẳng hiểu vừa đánh vừa xoa hoặc thưởng phạt công minh mà Donna thường quà bánh cho mọi người. Dù gì cũng vậy, Donna đã tạo cho nơi làm việc có cái hồn sinh hoạt tập thể và lề lối làm việc đầy tổ chức. Sau khi Donna vắng mặt, nơi nầy dần dần trở nên tẻ nhạt. Không còn ai nghiêm khắc nhắc nhở rầy rà. Không còn quà bánh hoặc những buổi ăn sáng ăn trưa chung với nhau. Thậm chí, những ngày lễ lớn không ai màng tham gia. Mọi người thật sự có cảm giác thoát nạn. Tất cả đều thoả mãn khi thụ hưởng những giờ phút lè phè chém vè nhàn rỗi vì không còn ai dòm ngó, răn đe. Song, chẳng bao lâu mọi người đều nhận ra đó không phải là điều đáng mừng. Vì cái không khí nơi làm việc chết nó biểu hiện tổ chức đang chờ ngày giải tán. Có làm việc mới có phát triển. Hai điều nầy tỷ lệ thuận với nhau. Không có phát triển thì con người dễ trở nên ù lỳ nhàm chán và lần hồi biến thành vô dụng. Nàng đâm tiếc nhớ thời gian làm việc bù đầu rối óc dạo trước. Trong không khí tuy rượt đuổi cực kỳ căng thẳng, nhưng không thấy mình vô tích sự vì mỗi người mỗi việc đều có tầm quan trọng riêng.

Hôm nghe tin Donna xin nghỉ vô thời hạn để chữa bệnh, nàng bâng khuâng không ít. "Xin nghỉ vô thời hạn," tức là bệnh tình đến hồi nghiêm trọng. Bệnh gì mà Donna giấu bấy lâu nay ? Bề ngoài sốc vác đầy năng lực của bả chẳng cho thấy bệnh hoạn gì cả. Bả đi đứng lanh chanh, miệng nói tay làm dữ dằn đến nổi mọi người gọi lén bả "A super hyper woman." Nghĩ cho cùng, chằng ăn trăn quấn tay bằng miệng, miệng bằng tay cũng đến lúc phải bó tay đầu hàng số phận. Cao cường cách mấy cũng không qua vòng sinh lão bệnh tử. Bao nhiêu ấm ức hờn giận trong lòng nàng chợt tiêu tan trong phút chốc. Nàng ngẩn người thật lâu trước tấm thiệp tập thể, dành cho Donna. Nàng không biết viết gì hơn ngoài ba chữ "Already missed yoụ" Ðại khái, . Con người nàng cục mịch cộc cằn không thích ve vuốt người khác. Ngọt ngào với xếp càng không nên. Người ta lầm tưởng nàng nịnh nọt đã đành, bản thân nàng cũng thấy mình hèn mọn. Song, những lúc như thế nầy, nàng khó giấu nổi lòng mình. Ở đây người ta coi bả như thần. Ai khép nép o bế ai thì mặc người ta. Khi làm việc chung, nàng cứ lầm lầm lũi lũi lỳ lợm. Ðôi lúc cứng đầu chống đối ra mặt. Có lẽ vậy mà chướng mắt bả chăng ? Ðâu phải nàng ghét hoặc kình đố gì bả hay bất cứ ai. Tính nàng không hùa, không bè phái. Nàng tin vào khả năng của mình hơn là bè đảng, dựa hơi dựa hám ai. Bao nhiêu năm trời làm việc chung, nàng gặp bả còn nhiều hơn gặp người thân, bạn bè của nàng. Làm sao không mến tay mến chân. Ðành rằng bả khó khăn tàn bạo, nhưng nhờ thế nàng tiến bộ. Thầy khó trò mới nên. Bả có nhiều điều thật hay cho nàng noi theo. Thật ra, con người nàng rất tình cảm. Song, nàng mến nàng phục nàng để trong lòng. Nếu bả không xin nghỉ để chữa bệnh, nàng sẽ chẳng hề nói những lời đằm thắm như thế nầy. Nàng cứ nghĩ đó là những lời cuối cùng ...

Như thường lệ khi viết thư hoặc gửi thiệp cho ai, cuối thư cuối thiệp nàng vẽ cặp kính toét miệng cười thay cho chữ ký của mình. Ðại diện con nhỏ bốn mắt là nàng. Nàng còn ịn môi vào đó để ấn dấu son của mình như gửi nụ hôn đến người dễ mến. Sau đó, nàng ngậm ngùi gửi riêng email cho bả,

"Donna mến,
Tôi thật sự nhớ tiếng chìa khóa leng keng thật tế nhị khi bà đến gần. Tôi hiểu, bà là một người có hoài bão rất lớn, và cố gắng mọi sức để đạt nguyện vọng của mình. Do đó, bà luôn mong mỏi điều hoàn mỹ trong công tác đến độ khắt khe triệt để. Tuy nhiên, tôi thật sự học ở bà rất nhiều điều quý giá. Tôi thành tâm ngưỡng mộ điều ấy, cũng như biết ơn bà dẫn dắt. Một lần nữa, cám ơn bà đã cho tôi cái công việc mà tôi từng mơ ước nầy. Cầu chúc bà tận hưởng con đường du hành như ý muốn của mình."

Vỏn vẹn chỉ có thế. Nàng không dám đá động gì đến bệnh tình của Donna cả. Bả cố tình giấu giếm làm sao nàng có thể tự nhiên viết lời chúc "may mắn," hoặc "mau lành bệnh." Tuy nhiên, căn bệnh đàn bà tai ác từ đó ám ảnh nàng ghê ghớm.
* * * * *
Trước đây nàng ít để ý đến người đàn bà ấy. Dòm ngó người khác là điều tối kỵ. Nhất là với người kém may mắn thì vô tình hay cố ý cũng đều đáng trách. Song, sau biến cố "Xin nghỉ vô thời hạn" của Donna thì nàng tự cho mình có quyền tìm hiểu về căn bệnh đàn bà đó. Và nàng không ngại ai trách, không ngại ai giận hành động hơi bất lịch sự của mình. Donna đã bị bệnh, người đàn bà ấy cũng bị bệnh. Thì cả nàng, biết đâu lúc nào đó nàng sẽ ngã bệnh như họ. Do đó, nàng cố chuẩn bị tinh thần. Dọn lòng chấp nhận điều khủng khiếp đến với mình mà mình không bao giờ mong mỏi.

Thế là bất cứ ở đâu, mỗi khi gặp người đàn bà ấy cho dù ngoài hồ bơi, trong phòng tắm tập thể, hoặc tại một góc sauna, nàng cũng không ngừng kín đáo liếc đôi ngực tròn trĩnh của bả. Dường như bả biết, nhưng không hề khó chịu. Ngược lại, bả có vẻ hãnh diện với nụ cười nhẹ nhàng. Chỉ cách đây ba tháng, gò ngực khêu gợi ấy còn là một vùng da thịt phẳng lì. Nham nhỡ mấy vết sẹo tàn nhẫn để lại sau một cuộc giải phẩu, hoặc hai ba cuộc giải phẩu đau đớn. Ðau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn. Không cần hỏi, ai cũng đoán đó là vết tích tàn khốc của ung thư ngực. Biết bao nhiêu lần nàng tránh không nhìn vào nỗi bất hạnh ấy của người đàn bà. Cho dù lắm lúc ngồi đối diện chỉ cách bả gang tấc trong phòng sauna. Nhưng hôm nay, nàng không còn nhịn nổi. Cả buổi nàng cứ bám theo, tìm cơ hội gần gủi bả. Ðến khi chỉ còn hai người, nàng mới chực mở miệng. Có lẽ đọc được mắt nàng, nên bả lên tiếng trước.
- Mới mua nè cô. (Just bought it)

Nói xong, bả tự chỉ vào ngực mình. Nàng cố lấy giọng tự nhiên thân thiện.
- Oh, vậy à ? Xinh lắm.

Người đàn bà nhìn nàng, niềm tin hiện nơi khoé mắt đến nổi quên cám ơn lời khen của nàng.
- Thiệt không ? Tôi cũng nghĩ vậy. Y thuật thật tuyệt vời.

Nàng gật gù, đoạn chỉ vết xâm trên da người đàn bà.
- Sao lại xâm ?
- Oh, tại tôi muốn. Ðầu ngực phải có quầng thâm chứ. Không có kỳ lắm. Nhìn quái dị sẽ khiến người khác sợ. Y thuật hiện nay có thể tái tạo ... đầu ngực. Quầng thâm buộc lòng phải xâm.

Nàng ngập ngừng chỉ vào chỗ núm cau nho nhỏ.
- ... Không tái sinh được sao (recycle) ? Lấy cái cũ gắn qua chẳng hạn ... Cắt bỏ ngực, nhưng giữ lại ... nầy được chứ ?

Người đàn bà phá lên cười ngặt nghẻo một cách hồn nhiên.
- Tức cười quá. ihihihi. Cô nói như chuyện lắp ráp trong nhà máy. ahahaha. Y học, phẩu thuật đâu phải đơn giản như body shop/junk yard, hễ tận dụng được gì thì tận dụng tới cùng. Thân thể con người mà cô làm như đồ lạc soong. ahahaha.
- Sao không ! Tui thấy ông kia bị vợ thẻo chim người ta còn gắn lại được.
- Ổng khác tôi khác. Ðâu phải chuyện nào cũng giống chuyện nào. Trường hợp của tôi hoàn toàn không nên. Tế bào ung thư có thể còn trong đó. Cả bộ ngực đành vứt bỏ thì tiếc gì cái nầy.

Nàng không nén tò mò.
- Ðụng chạm thì sao ? Có cảm giác không ?
- Ai mới được ? Tôi ... chắc có cảm giác chứ. Dù sao nó cũng là da thịt của mình. Người ta kéo da thịt từ bụng và hông đắp lên cho đủ. Bên trong là túi nước biển ... đầu ngực thì lấy da thịt gần vùng háng ở đùi. Nhìn nè, mình mẩy tôi đầy cả thẹo. Khổ lắm. Kinh nghiệm thương đau, you know ... (painful experience).

Vừa nói, bả vừa vạch chỉ lung tung. Nhưng nàng không dám nhìn. Nàng bồi hồi thương người đàn bà. Nàng vờ cúi mặt ho vài cái, đoạn ngẩng lên nghe bả kể lể.
- Ý chí tôi rất mạnh. Mình thấy nó cảm giác thì có cảm giác. Phải tin như vậy mới sống nổi. Còn ảnh ... tôi không chắc. Có thể vì yêu tôi, ảnh cho rằng có cảm giác. An ủi cho tôi đừng tủi. Nhưng dù sao cũng đỡ hơn nhẳn thín trơn tuột. Phải không ?

Nàng vô cùng giận mình đặt câu hỏi quá đáng. Sau vài phút im lặng thống hối, nàng chống tay lên cằm. Dịu dàng.
- Ðừng lo. Còn mạnh khoẻ, còn ... là quá tốt. Ngực của bà bây giờ xinh ghê lắm. Nhìn thật hấp dẫn. Tôi nghĩ ổng rất thích. Bây giờ người ta ... thiếu gì.
- Nhưng ...

Biết người đàn bà sắp nói gì, nàng bèn chận họng bả.
- Ðừng nói thêm. Bà không nói làm sao tôi biết. Phải không ?

Nàng không dám hỏi thêm gì nữa dù trong lòng còn nhiều thắc mắc. Làm đẹp là đặc quyền của bất cứ người phụ nữ nào trên đời nầy. Ðã là phái đẹp thì không thể để mình xấu được. Có câu nói đại loại như, "Chẳng có người đàn bà nào xấu cả. Chỉ có người đàn bà không biết làm đẹp !" Ðành rằng đẹp tự nhiên bao giờ cũng quý hơn. Nhưng không có nghĩa, cứ phải nằng nặc "Trời sinh sao để vậy !" Nàng cau mày khó chịu không ít khi nghe những lời xầm xì về người khác như thế. Xấu cũng chê, đẹp cũng chê. Là sao ? Trường hợp người đàn bà nầy càng đáng thương hơn. Bả đã một lần chống chọi nổi thử thách mà trời đất bất công với bả. Thì nên cố gắng lần nữa để có thêm tự tin. Trấn an bà ta như thế, nhưng nàng lại suy nghĩ mông lung. Người đàn bà có thể sẽ hài lòng, hãnh diện khi có gò ngực tròn trĩnh xinh xắn. Cho dù qua bàn tay nhân tạo. Song, nếu người đàn bà không có núm cau nho nhỏ thì tâm sinh lý bị ảnh hưởng thế nào ? Nó là vùng nhạy cảm nhất của người phụ nữ. Trong giờ hưng phấn, nó là dấu hiệu cho biết hồn xác bắt đầu nhập cuộc. Nếu người đàn bà mất núm cau, tức là mất đi một phần rung cảm nơi hồn xác mình ? Nếu thế thì cô đơn biết bao nhiêu.

Cho đến bây giờ, nàng chưa bao giờ tin Donna là người chiến thắng đã đánh gục Ung Thư. Nàng thương bả vô hạn khi nghĩ đến vùng thịt da chằng chịt đầy vết sẹo. Từ hôm trở lại làm việc, Donna thay đổi thật nhiều. Ðầu tiên là cách ăn mặc. Giản dị gấp mấy ngày trước. Dáng nhỏ bé xanh xao khiến nàng vương vấn nhiều hơn. Y chang một bà Tàu nàng gặp lớ ngớ trên Chinatown. Nét chân quê của người phụ nữ Á Ðông đầy nét chịu đựng khiến nàng mềm lòng. Ở họ toát ra chút gì hiền hòa, quê hương. Nơi đời sống hội nhập văn minh nầy, hình ảnh lạc lõng ấy thân thương vô vàn. Biết bao lần nàng đăm chiêu như thế. Mừng rỡ như khi vô tình bắt gặp chung trà sứ hoặc chiếc ấm đất thân thuộc nằm chơ vơ chung quanh các món hàng xa hoa hiện đại. Sự thay đổi ở Donna không chỉ qua hình dáng sắc vóc mà thay đổi hoàn toàn cách làm việc, xử sự. Bả hòa đồng, trò chuyện thăm hỏi hơn xưa. Ðó là những trao đổi về đời sống, ngoài lề công việc bù đầu rối trí ở sở. Thỉnh thoảng rủ mọi người đi ăn. Có lần dành cả trả tiền cho nàng và một đồng nghiệp.
- Nhiều tôi bao không nổi. Hôm nay chỉ có ba người mình. Ðể tôi tự nhiên nhé.

Nàng rất ngán cảnh đưa tới đẩy lui chia nhau cục kẹo. Tất nhiên, nàng sẽ mời bạn trước. Nhưng nếu, bạn có nhã ý nhường nàng thì câu nệ gì mà nàng không nhận lời để bạn yên lòng. Trong trường hợp nầy, nàng sẽ lủm cục kẹo cho bạn vui cái đã. Sau nầy có dịp tất nhiên nàng sẽ mời lại bạn. Cứ hồn nhiên thong thả thì dễ dàng cho nhau biết bao nhiêu. Việc gì mà đắn đo suy nghĩ. Hôm nay người nầy đãi thì ngày mai người kia. Ngại ngùng lôi kéo chỉ thêm phiền. Gây ngượng ngập lúng túng cho nhau. Mất thời gian vô bổ. Tên đồng nghiệp ấp úng từ chối. Xong, đưa mắt nhìn nàng cầu cứu. Nàng thấy mình cần chủ động, chấm dứt cái vòng lẩn quẩn.
- OK. Hôm nay Donna trả. Lần sau tui nha.

Dù tự nhiên cách mấy nàng cũng không khỏi ngỡ ngàng. Donna rộng rãi, ai cũng biết bả sộp. Nàng không ngỡ ngàng khi bả dành trả tiền. Nàng ngỡ ngàng ở thái độ thân thiện bình dị của bả. Trước đây bả hách dịch, luôn giữ khoảng cách với mọi người. Từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác. Nàng chợt nhớ khi trở lại làm việc không bao lâu, Donna liền bảo.
- Bây giờ tôi không như trước đâu. Chẳng dại gì làm việc điên khùng bán mạng. Không bỏ ăn trưa, đến sớm về trễ nữa. Hôm nay không xong thì ngày mai. Chẳng nên tự hành xác. Mình sống bao lâu, tại sao không tận hưởng đúng đắn. Sống nhẹ nhàng hơn.

Có phải đó là lời trấn an kín đáo nhưng khẩn khoản từ thâm tâm bả, "tôi đã thay đổi, không còn khó khăn hắc ám như xưạ" Có phải vì chết đi sống lại nên bả nhận ra chân giá trị đời nầy ? Hoặc hối hận khi xưa quá hách dịch với mọi người ? Gì gì đi nữa, bả cũng nhắc nhở nàng nên yêu quý cuộc sống mà mình thụ hưởng từng giờ từng ngày. Thử hỏi, sau khi chen lấn, sân si, tị hiềm, làm khó làm dễ nhau thì còn lại gì ở đời nầy. Nói ra khác nào triết lý, lẽ sự cùn, đạo đức giả. Song, nàng suy nghĩ quanh quẩn câu hỏi ấy và thử đặt câu trả lời. Thử áp dụng xem có sống vui hơn, sống ý nghĩa hơn không. Những gì yêu thích, nàng cố gắng tận hưởng, theo đuổi. Chẳng phải to tát gì. Có thể chỉ là những việc bình thường như ăn cái bánh nàng chọn, uống ly trà nàng thích. Nhưng, tận hưởng trọn vẹn chứ không chỉ vội vàng qua truông cho xong. Sáng mai dậy, chưa chắc nàng có thể làm nổi điều mình mong muốn. Dù là điều vô cùng bé mọn. Mấy tháng nay, nàng ít dùng thang máy. Thay vào đó, nàng leo cầu thang nhiều hơn. Hơi mệt nhưng vui. Nàng không lỳ lợm đứng chờ thang máy, mà nhún nhẩy từng bước xuống thang lầu. Giầy cao gót nhịp nhàng trên nền xi măng thật trẻ trung đầy sức sống.

Mỗi sáng, một giờ lái xe từ nhà đến sở là khoảng thời gian êm ả tuyệt vời nhất của nàng. Niềm vui nho nhỏ đầu ngày là tắm gội sạch sẽ thơm tho. Fresh make-up, áo quần thẳng thóm, lái xe đến Dunkin Donuts. Bước xuống xe, bước lên tiệm mua ly café. Xong, lại bước ra tiệm, bước vào xe. Vừa lái vừa hưởng thụ café và con đường tinh mơ đến sở. Cảm giác thong dong tràn trề sức sống thật vô cùng thú vị [so fresh and so energetic]. Lúc ốm đau bệnh hoạn, nằm trên giường mới thấy thèm thuồng đời sống tầm thường nầy vô kể. Hôm nào không đi làm, nàng đâm nhớ cái routine đó. Nhớ ly café buổi sáng biết bao nhiêu. Tuyệt nhiên, không phải nàng ghiền café. Nàng nhớ là nhớ bước ra bước vào. Bước lên bước xuống. Mở cửa đóng cửa. Bấm nút thả nút. Cầm lên đặt xuống. Nhớ bước chân nhí nhảnh, nhớ mắt môi tươi mát của mình, và câu chào hỏi vui vẻ mở đầu ngày. Ðó là giờ phút hồn nhiên, không vướng bận. Như người bạn đáng mến bảo, "Có lẽ thời gian từ nhà đến sở là của chính mình." Nàng chớp mắt. Ðó là nỗi niềm của bất cứ một người xa xứ nào ở đây. Ðêm ngày lầm lũi, vùi đầu cố hòa nhập vào đời sống giữa những người rất ư xa lạ. Trách nhiệm tại sở, bổn phận ở nhà nhào xốc lắm lúc không còn thời gian cho mình nữa. Ðôi khi nghỉ ở nhà hóa ra còn bận bịu túi bụi hơn. Lời người bạn tâm sự thật gần gũi. "Cái xứ này, công việc nó làm mình quên đi thời gian dành cho chính mình ! Mình xoay quần theo sáng tối ! Có những lúc nằm nhà thấy lạc lỏng, muốn đi làm ... Có lẽ đó là "ađicted cái routine" như T. đã nói. Cũng như T., tôi sáng sáng ngừng mua ly café lên xe nhâm nhi và nghe nhạc, hút điếu thuốc ... Có lẽ thời gian từ nhà đến sở là của chính mình. Không biết T. sao ? Chứ tôi thì không thích đưa mình vào một khuôn khổ nhất định. Ðời có bao nhiêu lâu đâu mà phải bận bịu với mấy chuyện không đâu. Miễn sao, sống cho mình vui mà không tác hại đến người khác là được. Khi nằm một mình trong 4 bức tường, chung quanh chẳng thấy ai, lúc đó mới thấy thấm thía cuộc đời !"

Nói qua nói lại, nói tới nói lui cũng là cái tôi lẻ loi đáng thương của con người. Thấy vậy mà nó cô đơn khôn cùng. Cả cái vui cái buồn đôi lúc khó ai có thể chia xẻ nổi. Lúc bình thường đã thế, huống hồ khi hoạn nạn ốm đau.
* * * * *
Bên ngoài trời đang mưa to. Gió mưa suốt từ chiều chưa dứt. Sấm sét rền vang giữa tiếng rên xiết thảng thốt khi hồn xác đôi tình nhân đang đến hồi tột đỉnh. Hòa cùng tiếng kèn báo động phòng trộm đạo (anti-theft alarm) từng hồi từng chuỗi thất thanh.
- Shit !

Chàng buông miệng chửi thề khi trút hơi thở thống khoái cuối cùng. Ðoạn, đổ ập trên người nàng. Cả hai bật người chất ngất. Hai giòng huyết quản nóng hổi len lõi hòa quyện đến chốn tận cùng. Trong đó có 35g máu của chàng. Mỗi lần ra, chàng cứ kể lể nó là 35g máu của chàng. Chẳng biết đúng hay không, nhưng nghe chàng khoe khoang đến phát sick. Nàng liền trả treo "Quý giá quá, sao anh không giữ lại làm củạ" Chàng cười cười đểu giả. Ðuôi mắt lẳng lơ vô kể.

Môi vồ vập môi. Một lúc sau, chàng vẫn nằm êm đềm trên mình người yêu dấu. Nhắm nghiền mắt tận hưởng. Miệng ứ ự thật hư bên tai nàng. Nàng vuốt lưng người yêu, hôn vai chàng dịu dàng.
- Ði đi anh. Xuống bịt miệng nó lại nha.
- Kệ nó cưng.
- No. Ðiếc tai chịu không nổi anh à. Xe anh thật dỗm. Em đi ngang ho vài cái, nó cũng hú thảm thiết. Hung dữ giống anh vậy nè. Miệng anh hỗn như quỷ, chửi thề tùm lum. Em ghét anhhh.

Nàng nhéo má vuốt mũi người yêu. Ðoạn đưa tay chập môi chàng lại cho nó trề vễnh như mỏ vịt. Chàng ú ớ không nói được vì bị người yêu bịt mồm bịt miệng. Cựa quậy thoát không nổi, chàng bèn cốc nhẹ đầu nàng âu yếm. Nàng buông tay, chu mỏ đánh chụt lên môi chàng. Kèn báo động vẫn ré lên giật ngược giật xuôi. Nàng hoảng hốt lay người yêu.
- Ði đi anh à. Nó kêu nữa kìa.

"Shut that f. alarm off !!!" Hét xong, chàng vùng dậy vào buồng tắm. Không quên ôm nàng hôn ngấu nghiến thêm lần nữa. Nàng lao theo người yêu. Thuận tay giật tốc tấm khăn lông đầy tàn tích mang đi. Khi nàng từ buồng tắm bước ra thì chàng đang nằm quay mặt ra ngoài hút thuốc. Nàng nhào đến hù người yêu.
- Hù ! Sướng quá ha. Nằm đây hưởng thụ một mình.

Chàng quay lại nhoẻn cười. Chồm người dụi điếu thuốc, đoạn kéo tay nàng.
- Lên đây nằm với anh.
- Nữa ? Nằm nữa ? Lười piếng wuá.

Nói thế, nhưng nàng nhẩy phốc leo ngồi trên bụng chàng. Xong, hạ người tới trước. Ngực nàng nhí nhảnh cách mặt chàng trong gang tấc.
- Cho anh nữa nè.

Chàng trân trối nhìn lên. Hai con ruồi đậu trên ngực nàng lay động khiêu khích trước mắt chàng thật dễ nóng. Thịt da đàn bà mũm mĩm thương lạ. Chàng mê muội mất rồi. Dạo nầy người yêu chàng sao sao, khó giải thích. Bỗng dưng trở nên hào phóng lạ lùng. Trước đây bủn xỉn. E e ấp ấp. Che che đậy đậy. Giấu như mèo giấu cứt khiến chàng đôi lúc nổi điên. Bây giờ chàng chẳng cần òn ỉ dụ dỗ hoặc làm mình làm mẩy. Nàng tự động nạp mình. Nói đúng hơn, nàng tấn công chàng tới tấp. Áo ngủ mỏng càng mỏng. Lắm lúc nàng nhồng nhộng từ nhà dưới lên nhà trên cho chàng há hốc ngơ ngẩn. Hai con ruồi cứ thế nhún nhẩy thách thức. Rồi nàng vờn chàng như mèo vờn chuột. Hỏi những câu hỏi đâu đâu. Khó trả lời. Như lúc nầy đây, nàng đang chế ngự chàng. Tất nhiên, sau đó sẽ đặt câu hỏi mà chàng cho là vớ vẩn để vờn chàng. Chàng không chịu đựng nổi nữa. Chỉ muốn tận hưởng thịt da đàn bà êm ái đang quyến dụ trước mắt. Chỉ muốn ngấu nghiến tơi tả hai con ruồi mềm mại kia. Chàng hé môi, tay giơ lên. Nàng né người thần sầu.
- Khoan ! Trả lời em đi ... Nếu em không có ngực thì sao ? Nếu ngực em man-made thì sao ?
- Man ! Lại câu đó nữa. Em còn câu nào khác không ? Trời ơi, làm ơn đừng hỏi câu đó nữa mà.

Nàng khoanh tay, xụ mặt.
- Thì anh trả lời em đi. Em không hỏi nữa.
- Anh trả lời em rồi. Still loving you. Ðâu phải người khác bệnh thì mình cũng bệnh. Em đừng đi bơi nữa. Thấy bà đó em lại sợ ... rồi về nhát anh.

Nàng muốn khóc. Chẳng bao giờ chàng trả lời nổi cho nàng yên tâm. Câu trả lời của chàng đơn giản vậy sao. "Still loving yoụ" Nàng nghe như trong tuồng cải lương hay trong phim ảnh. Ðọc trong truyện. Em có mệnh hệ nào, dù em thế nào anh cũng yêu em suốt đời. Nghe không ổn chút nào cả. Nó sách vở, sến là sến thí ghê. Nó cliché, như con vẹt học thuộc lòng. Làm gì mà "Still loving you" chứ. Bụng chàng nghĩ gì thì nói huỵch tẹt cho rồi. Tại sao không thành thật ?
- ... Anh không hiểu ... Không phải T. sợ ...

Nàng cắt ngang câu nói, nằm vật xuống giường. Quay người ra sát mé. Kéo chăn che kín đầu cổ. Chàng thở dài, vắt tay lên trán. Nàng đổi cách xưng hô, tức là nàng sắp sinh sự. Từ tên đến "tui," đó chỉ là thái độ ngang bướng nhất thời. Nhưng, từ "em" xưng tên, nghĩa là ở đây không có sự đùa giỡn nhằng nhì. Câu chuyện đến hồi nghiêm trọng. Lại còn trùm mền, chắc sắp có ác chiến xảy ra. Nàng lo sợ hão. Chuyện tào lao ở đâu mang về rồi tự làm khổ mình. Làm phiền người khác. Chàng nhức đầu nhiều về chuyện đâu chẳng ra đâu nầy. Cố trả lời cho nàng vui, nhưng nàng vẫn không hài lòng. Chuyện bây giờ lo chưa xong, nàng đòi lo tới chuyện ngày mai. Làm sao chàng trả lời nổi. Chàng quay sang nhìn người yêu xót xa. Chồm đến giở chăn mền ra, đoạn vuốt khẽ lưng nàng.

- Em ... giận nữa hả ? Em à ... Em hỏi thì anh trả lời rồi. Em muốn anh nói gì nữa bây giờ ? Nếu không tin thì em đừng hỏi nữa. Em hỏi hoài anh cũng trả lời có câu đó thôi à. Em muốn anh nói thế nào cho em vui thì anh sẽ nói như vậy. Em làm ơn chỉ giùm anh đi ... Chuyện trước mắt, lo không biết giữ được job hay không. Hay ngày mai sở đuổi. Ðó, mấy cái đó sao em không lo giùm anh thử. Em à, trời kêu ai nấy dạ. OK ? Ðến lúc bệnh thì bệnh. Mình chịu thôi. Chuyện chưa đến, anh không biết mình sẽ phản ứng thế nào. Thì làm sao nói với em được. Chuyện không có em lo làm gì. Nếu em sợ thì đi khám thường xuyên. Anh dắt em đi, OK ? Em muốn tìm hiểu thêm cũng tốt. Nhưng lo lắng quá đáng thì không nên. Anh không muốn em suy nghĩ, sợ hãi vẩn vơ. Tới đâu hay tới đó. Anh ở đây với em, không có gì phải lo cả. Em ! Nghe anh nói không cưng ?

Nàng nằm lặng yên nghe người yêu. Lời lẽ nghiêm trang chừng mực khiến nàng suy nghĩ. Chàng nói đúng, không sai mảy may. Giọng quan tâm thật ấm áp. Song, nàng vẫn chưa hoàn toàn yên tâm. Nhưng thôi, chính nàng còn chưa biết mình sẽ chống đỡ thế nào. Làm sao có thể đòi hỏi chàng giải đáp. Hoặc giả, câu trả lời của chàng sờ sờ ra đó, vô cùng đơn giản. Mà nàng lại tìm kiếm sâu xa những điều lắc léo. Có những điều đáng lo trước mắt tại sao nàng không lo ? Nền kinh tế xuống dốc thảm hại, bạn bè của nàng, bạn bè của chàng hiện nay mất việc rất nhiều. Công việc của nàng đang bắt đầu bấp bênh. Chừng hai năm nữa thôi, khi hệ thống mới được lấp đặt để đưa PeopleSoft vào sản xuất, tất nhiên sở nàng sẽ có một cuộc thanh lọc đáng kể. Biết đâu nàng sẽ nằm trong số nhân viên không may mắn bị sa thải.

Nàng chớp mắt. Tự hứa từ nay sẽ không khơi lại vấn đề đâu chẳng ra đâu nầy. Nàng không muốn chàng đau đầu mệt óc về những chuyện như thế nầy nữa. Dành thời gian vui với nhau là hơn. Nghĩ cho cùng, sự việc vừa qua thật sự khiến nàng thay đổi nhiều. Nàng đã ít gìn giữ khó khăn với chàng. Nàng lo sợ ngày mai lỡ bệnh hoạn ... Khi ấy muốn yêu, yêu không nổi. Muốn cho lấy gì mà cho. Muốn khoe khoang, chẳng còn gì để khoe khoang nữa. Rồi sẽ tức tưởi tiếc nuối, lúc còn vui không vui cho trọn. Lúc cho được, không cho hết. Nàng chợt thương người yêu lạ. Thương mình lạ, và thấy lòng xao xuyến khó tả. Giọt nước mắt rơi trên gối êm đềm. Nàng kéo tay người yêu đặt lên ngực mình. Cầm bàn tay ấy dẫn dắt cho nó xoa nồng nàn ngực mình thật lâu. Chẳng hiểu bàn tay ấy thấu hiểu tâm tư nàng hay không mà nó nâng niu thế kia. Mỗi lúc mỗi dồn dập bấu nhéo da thịt nàng sung sướng tột cùng. Các ngón tay chàng rạo rực trên đầu ngực nàng đê mê khiến nàng cong người uốn éo. Chịu hết nổi nàng vùng dậy ngồi lên bụng người yêu lần nữa. Lại hạ ngực, hí hửng khoe hai con ruồi săn cứng trước mặt chàng. - Muốn làm gì em làm đi ...
- Từ từ cưng. Mới ra mà, ra nữa sao nổi. Chết anh à ... - Vậy thì ... ru em ngủ đi.

Nói xong nàng chồm đến vuốt ve vầng trán người yêu. Nàng dí tay sỉ sỉ vào đó, "Em ghét anh. Em ghét con Khỉ mắc dịch nầy lắm" trước khi cúi hôn môi chàng đắm đuối. Ðoạn, đẩy ngực tới trước. Chàng cọ mũi vào.
- Suốt đêm nha.

(Nov. 28, 2003)

Nguyệt Trinh
11-2003





Mục Lục


7. Tập truyện rất ngắn

Vũ Thị Thiên Thư



1 Ðám táng Việt kiều

Cả khu chợ quận Bến Cát xôn xao, tiếng trống kèn thê thiết, cổ áo quan nằm trong rạp che màn trướng sặc sỡ, người ra vào tấp nập, ăn uống linh đình, cười nói xôn xao ..
- Chết hồi nào vậy ?
- Ai biết, chở về hôm qua
- Chết ở đâu ? đám táng linh đình quá mạng .
- Nghe đâu bên Mỹ lận, bang Ca li gì đó
- Bên Mỹ mà chở về đây chôn ?
- Ư ! thì có tiền làm gì chẳng được. Hồi đó tiệm vàng, chồng khối cây đi vượt biên, tiền của làm gì cho hết.
- Trẻ hay già?
- Nhìn hình kìa,cai’ mặt trẻ măng thôi, băng đảng thanh tóan bắn nhau,chết tốt .
- Thật là phí đời
- Phí tiền của thì có , cả trăm triệu chớ ít ỏi gì, sống chẳng giúp ai, chết còn thêm vướng bận

2 Chiếc áo
Nóng, sức nóng điên cuồng, ngột ngạt, không khí như trong lò nướng bánh, và tôi có cảm tưởng mình là thỏi bơ đang chảy theo , tôi đã quên [ hay vì lâu nay đã quá quen sống,ăn,thở trong hệ thống điều hòa không khí !! ]
Tôi bước vào gian hàng góc Lê Lợi và Nguyễn Huệ , không khí mát mẻ, dù là nhân tạo, thật dễ chịu, nhìn thoáng qua những cây thuốc lá ,hàng rượu Cognac xếp ngay ngắn trên kệ
- Cô cho tôi hai cây thuốc lá, và hai chai rượu đó
- Ở đây chỉ bán cho khách hàng Việt Kiều thôi, bà hãy ra ngoài chợ kia mà mua

Tôi nhẹ nhàng dỡ chiếc nón rơm ra, quạt ngang mặt , nhìn thẳng vào đôi mắt cô bán hàng và lập lại
- Tôi muốn mua hai cây thuốc lá Salem Light, và hai chai rượu Hennessy VSOP , tôi chỉ mang theo đô la và Passport của công dân Hoa Kỳ ,thưa cô có bán không ?
- Ô! Xin lỗi, bà là Việt Kiều ...

3 Hành lý
Phi trường Tân Sơn Nhất , phòng chờ đợi .
- Hai Bác đi về đâu vậy ?
- Chúng tôi đi Canada
Người nhân viên kệ nệ mang hai cái xách tay xuống,
- Bác ơi! Bác ngồi xe lăn mà mang theo gì nặng quá vậy ? cháu bê không nổi nữa thì làm sao bác xách ??
- Thì đã có nhân viên hãng bay lo .
- Cái xách tay nầy nặng quá, nhưng cháu chỉ có thể gởi cho bác đến phi trường O’Hare ở Chicago thôi , sang đó rồi bác nhớ phải xuống lấy hành lý ra rồi mới tiếp tục chuyển máy bay đi tiếp nhé.

Phi trường Narita Japan
Tôi ngồi xuống, bảy tiếng đồng hồ chờ lê thê, đang lim dim tựa lưng vào thành ghế , chợt nghe tiếng cười nói bên cạnh, nhìn về nơi phát ra, hai khuôn mặt lớn tuổi trông ngờ ngợ, họ đang ăn uống cười nói vui vẽ, giấy gói vung vãi, xong lại dắt nhau tíu tít đi về phía hành lang , như ánh đèn chợt lóe sáng trong tôi , hai ông bà ngồi xe lăn vào phi trường Tân Sơn Nhứt cùng chuyến đi đêm qua , họ đang tung tăng bước ....

4 Cô dâu
- Chị về đâu vậy ?
- Tôi về Indiana
- Em mới đi lần đầu sợ quá chị ơi!
- Máy bay cũng êm ,chỉ có lúc lên xuống thì hơi mệt thôi
- Em đi xe còn ói mữa, đi máy bay xa quá, không biết có sao không .
- Cô đi du lịch một mình ?
- Dạ chồng em bảo lảnh em đi đoàn tụ
- Sao anh ấy không về đón cô đi ?
- Dạ ảnh bận đi làm
- Chị ơi em sợ đến không dám đi vệ sinh nữa
- Trên phi cơ có phòng vệ sinh phía sau đó, cô cần thì cứ tự nhiên dùng.
- Vào đó rồi làm sao ?
- Thì cô cứ làm những gì cần thiết, nhớ gài cửa lại
- Gài làm sao ??

Tôi nhìn cô gái, thầm nghĩ, cô có đùa với tôi không , bây giờ tôi làm sao với cô đây? Cô thật sự không biết hay đang chơi trò ngớ ngẩn?? Nhìn xuống tay cô đang nắm chặt xấp giấy tờ, cái túi xách tay cặp kè bên mình, cô nhìn nửa quê nửa thật
p - Hải quan có xét không chị?
- Khi xuống phi trường thì phải xuất trình giấy tờ để vào thôi
- Em không có gởi hành lý vậy có phải xuống chổ đó không ?
- Cô không gởi thì có thể đi thẳng ra ngoài làm thủ tục,kông cần xuống làm gì
- Vậy thì đi đâu ?
- Tôi nghĩ là cô ra hải quan, có nhân viên ở đó họ sẽ làm thủ tục .
- Họ có mặc quần áo như ở đây không ?
- Cô nói đồng phục phải không ?
- Dạ, thì giống như mấy người hải quan ngoài đó
Tôi lắc đầu nhìn cô , tôi bây giờ chính là người ngơ ngẩn ...

5 Cửa khẩu
- Cô mang hành lý gì theo vậy ?
- Chỉ là chút quà bánh sách vở thôi
- Tôi nói ...để khỏi mất thời gian ...và để cô đi cho nhanh chóng dễ dàng nhé ...
- Kín kín nhé !

Tôi nhìn theo ngón tay chỉ về phía người nhân viên hải quan đứng bên cạnh máy X-ray , anh ta chắp hai tay xau lưng , lòng bàn tay mở rộng , ngữa ra ... Tôi nhìn lại hành lý, mấy thứ bánh mứt Mẹ dúi vào, gởi chút hương Tết cho bầy cháu ở xa, mấy quyển sách cũ mua hôm lang thang hè phố, mớ DVD mang về cho em, hắn nhớ nhà da diết, thèm một chút tiếng nói thân quen.. .Tôi lặng lẽ mở xách tay ...mấy tờ giấy bạc xanh xanh ...

6 Chuyến xe
Tôi nhìn vào khỏang trống trước mắt , nơi mà chuyến xe bus sẽ đỗ lại đón hành khách như người nhân viên chỉ dẫn .
Nắng trưa lấp lánh, những giọt mồ hôi , tiếng của cháu nhẹ nhàng
- Cháu đưa Mợ về thành phố luôn, không phải chờ đợi nữa
- Không cần đâu con, Mợ có thời gian mà, con cứ về đi
Chiếc xe vừa vào đến bến, đòan người đang ngồi im lìm bên lề đường bỗng như hồi sinh, ngọn sóng ào lên hai cánh cửa chưa kịp mở ra , hai mợ cháu nhu bọt sóng lăn theo, cái xách tay méo mó , nhìn lại vành nón tả tơi , Tôi nhìn cháu
- Mợ à , không còn chổ ngồi nữa, cháu đã cố gắng
- Thôi con về đi ,không sao , để mặc Mợ , đứng một chút ...

7 Tấm ảnh
- Cô chụp lại và rữa tấm hình nầy cho tôi được không ?
- Dạ bác muốn cỡ nào ?
- Cỡ hình chân dung được rồi
- Dạ, được cháu làm xong thì vài ngày nữa bác tới lấy nhé .
- Mai có được không ?
- Gấp quá vậy bác
- Mốt là đám táng cháu rồi cô ơi !
Người đàn bà đội cái nón lá tả tơi thất thiểu đi trong nắng trưa, hào quang lấp lánh .

8 Phạm nhân .
- Tên họ ?
- Nguyễn Thị Xuân Mai
- Mấy tuổi ?
- Mười tám

Tôi bấm máy, thẳng mặt , ngang , cái bảng đen mang những con số , khuôn mặt lạnh tanh . Người ra , người vào, tên họ, những tên gọi đẹp như hoa, tên khác như may mắn , chỉ thấy những nét hằn sâu . Tôi ỗng dưng sợ hãi cái nghề tay trái mang thêm chút lợi tức vào mớ lương thầy giáo ít ỏi không đủ nuôi thân .Ngưng một chút, thay phim trong máy , gọi thêm người vào , cô bé nhỏ nhắn, mặt cúi gầm , tôi kê máy lên mắt , Tiếng tên công an lạnh như băng
- Tên họ ? ngước mặt lên
- Lê thị Mơ

Tôi nhìn vào đôi mắt long lanh,cái nhìn trong suốt ,cô bé mấy máy đôi môi
- Thưa thầy
Cái máy ảnh trên tay tôi như nghìn cân nặng .

Vũ Thị Thiên Thư




Mục Lục


8. Chúng Tôi và một chuyến đi chơi: Quốc Tử Giám (tiếp theo)

Hương Kiều Loan



Hình ảnh và bài: (photo by HKL)

Ðầm Sen Văn Miếu



4. No rồi, chúng tôi muớn hai xe xích lô để vừa đi vừa ngắm phố phường. Xe xích lô ở HàNội rộng hơn ở Sàigòn, ngồi đuợc hai người khá thoải mái nếu thân không phải là bồ tuợng. Không như xe xích lô ở miền Nam, đã chật hẹp, lại còn có cao tễnh lên, ngồi chênh vênh chả giống ai.

HàNội vẫn mang những nét cổ xưa như một thành phố lùi lại cả thế kỷ. Nếu so với những nuớc láng giềng như Mã Lai, Tân Gia Ba, Thái Lan… mà chúng tôi đã có dịp ghé qua, thì HàNội và các nuớc láng giềng đã cách nhau một trời một vực về sự tân tiến của họ, vì mấy nước đó đã bắt kịp đà văn minh của thế giới. Anh Tuyên cho biết chính phủ cấm sưả chữa xây cất nhà mới cao ba bốn tầng trong khu vực 36 phố phường của thành phố, vì chính quyền muốn giữ nét độc đáo để hấp dẫn du khách ngoại quốc đến thăm viếng VN. Muốn nhìn những đổi thay, thấy nét văn minh thì phải ra ngoại ô, mấy năm gần đây nhà cửa cất lên như nấm. Ðúng như vậy, chúng tôi mấy ngày truớc khi đi chơi vùng Nghi Tàm đã thấy những toà nhà cao 5 hay 6 tầng, xây kiểu mới, kiến trúc như những dinh thự của các nuớc tân tiến, trông thật là nguy nga. Thì ngay sát vách, vẫn còn di tích của sự nghèo khó bên cạnh, là những ngôi nhà thấp bé, lụp xụm, khép nép dựa tuờng vào ngôi biệt thự kia, những ngôi nhà này thuờng có các mái ngói cũ kỹ, vá víu, mẻ vỡ, nhiều căn còn là mái tôn hay mái lá, đôi khi bên cạnh những ngôi biệt thự tráng lệ, lại là ao rau muống..v...v... Sự tuơng phản quá cách biệt và khác biệt đã khiến tôi nhìn mà đau lòng.

Bạn bè khuyên về VN, nên về vào dịp gần Tết sẽ vui và đẹp, khí hậu mát dễ chịu. Biết như thế, nhưng chúng tôi chỉ về được mùa hè, vì chỉ dịp này mới đuợc nghỉ ba tháng rong chơiø như học sinh, thầy cũng như trò mà thôi! Ðã bị cái thiệt là vé mua dịp hè rất đắt. Lại còn cái xui là khí hậu ở VN oi bức khó chịu hết chỗ nói, vừa oi, vừa nồng vừa hâm hấp, mắt kiếng cứ phải lau hoàì, nếu không sẽ mờ như khói chả thấy đườg đi.















Lối vào Văn Miếu photo : HKL)

5.

Vừa xuống xe, anh chàng đã vội chạy qua bên kia đuờng mua 6 chai nước suối, tôi vội xí ngay chai hai lít cho chắc ăn. Dù phải xách nặng hơn, nhưng kinh nghiệm mấy ngày qua đã cho biết, khát nuớc như dân du mục ngoài sa mạc, mồi hôi thì đổ như tắm, nên lúc nào cũng cần tu nuớc. Tôi ôm khư khư chai nước cứ như thần giữ của vậy.

Chúng tôi phải mua vé vào cửa. Qua cỗng chính, trên cổng có chữ Văn Miếu . Hai bên cổng có hai câu đối viết chữ nho, hình như mới đuợc son phết lại vì thấy nuớc sơn còn mới. Khu nội tự của Văn Miếu Quốc Tử Giám tôn nghiêm được ngăn cách với bên ngoài bằng gạch bao quanh. Anh Tuyên cho biết là chia Quốc Tử Giám làm 5 lớp không gian khác nhau, mỗi lớp đựợc giới hạn bởøi các tường gạch và có các cửa thông nhau: Một cửa chính và hai cửa phụ hai bên với cáøc kiến trúc chủ thể là: Cổng Văn Miếu, cổng Ðại Trung, Khuê Các Văn, Cổng Ðại Thành, khu điện thờ, cổng Thái Học… Qua cổng tam quan vào khu thứ nhất gọi là khu Nhập đạo. Ðây là không gian cây xanh và thảm cỏ. Con đường lát gạch chính giữa dẫn đến khu cổng Ðại Trung vào khu thứ hai, hai bên có hai đường nhỏ dẫn vào hai khu của Thành Ðức và Ðại Tài v..v….anh giải thích như vậy cho chúng tôi biết.

6. Mới chỉ đi qua cái cổng đuợc một quãng ngắn mà tôi tuởng như mình lạc vào một thế giới khác, xa cách hẳên thế giới nhộn nhịp buôn bán bên ngoài, dù chỉ cách nhau có bức tuờng gạch cũ đen với rêu phong đuợc xây bọc quanh vùng Văn Miếu. Có lẽ cái êm ả, tĩnh lặng, thêm vào cây cối xanh mát, thảm cỏ non, rồi lớp cỏ tóc tiên đuợc trồng bọc riềm cho từng khu vực của những thảm cỏ, trông thật đẹp mắt và duyên dáng, khiến tôi thấy yêu thích nơi này một cách lạ lùng. Mọi góc cạnh đều tươm tất sạch sẽ. Thật là điều đáng khen cho những người có phận sự giữ khu vườn tược của Văn Miếu.

(còn tiếp nhiều kỳ)

Hương Kiều Loan




Mục Lục


9. Cánh Áo Màu Rêu

Phan thái Yên



Mình về bỏ đó chiêm bao
Không còn bụi phấn bám vào tóc sương
Áo em bay trắng đêm buồn
Tiếc ngơ ngẩn một thiên đường đã xa

Trần hoan Trinh

Hắn cài vội tấm bảng tên bằng giấy bìa vừa làm xong lên ngực áo bạn trong lúc Tùng vuốt mái tóc bồng thúc giục.
- Lẹ lên, bả đang đi tới kìa.

Thằng Tùng sửa mấy sợi tóc rủ trước trán lần chót, tay ôm chồng sách dày, lấy dáng đi về phía đầu sân bóng rổ. Cô giáo dạy nữ công từ phía văn phòng đi chậm rãi dọc theo sân bóng đến lớp dạy ở cuối trường.
- Xin lỗi có phải cô tên là Trâm?

Cô giáo mới còn trẻ, đẹp quí phái trong chiếc khăn quàng lụa vàng óng nắng mai. Cô quay nhìn gã học trò lạ mặt, lắc đầu, tia mắt đọng lại trên tấm bảng tên Minh cài vội trên nắp túi áo.

Trước sự im lặng nghiêm trang của cô giáo trẻ, thằng Tùng lúng túng ngoái nhìn đám bạn đang đứng chờ quanh cột bóng rổ rồi thu hết can đảm lôi ra tập truyện Vòng Tay Học Trò của NTH.
- Truyện hay lắm, em đem tới cho cô đọc.

Cô giáo bật cười, đưa tay lấy tấm bảng tên trên áo thằng Tùng cất vào sổ điểm.
- Truyện ni cô đọc rồi. Em cất đi mà làm gối đầu giường. Nhớ lấy bảng tên thiệt ra mà đeo. Coi chừng thầy Tâm Giám Thị bắt gặp, phạt cấm túc thì đừng đổ hô cho cô nghe chưa.

Cô quay lại nhìn nhóm học trò đang đứng bối rối.
- Nếu các em kiếm được cho bạn cái áo len cổ cao nữa thì sẽ giống Minh hơn.

Thằng Tùng hoàn hồn, đứng ngẩn ngơ nhìn theo cô giáo bước khuất vào lớp học.

Hắn trêu bạn.
- Ê Tùng, mày tỏ tình với cô sao tướng giống như khi bị kêu lên bảng không thuộc bài vậy.
- Tại bả thơm lựng làm tao quỷnh quá quên hết điều định nói. Mầy ở đó mà nói dốc. Hay lắm thì cỡ gà mắc mưa chớ không hơn gì tao đâu.

Bầy học trò con trai theo sau tiếng trống tan chơi trở về lớp học. Hắn làm mặt tỉnh mà trong bụng lo bấn khi thấy ông Tâm Biệt Ðộng Quân đi ngược chiều. Ông thầy giám thị cao-bồi dừng lại trước mặt hắn, đốt thuốc, nhẩn nha thở khói. Ông nhìn đôi guốc tam tài hắn đang mang, lắc đầu ra vẽ chán nản rồi bỏ đi không nói một lời, miệng dấu nửa nụ cười. Có tiếng nói cười khúc khích của đám con gái ban A ngồi ở dãy bàn đầu cạnh cửa ra vào lúc hắn bước ngang qua lớp họ. Lòng quay quắt muốn liếc nhìn một lần, một giây thôi, đôi môi đang nở nụ hồng tươi tắn. Vậy mà hắn đành tiếc rẻ ngoảnh nhìn khoảng trời xanh trên nóc hàng phượng ngoài sân. Thằng Tùng khều vai hắn.
- Người đẹp du ca đang nhìn theo mầy kìa.

Hắn nghĩ tới buổi hát chiều nay, tự nhủ lòng, cúi đầu bước nhanh vào lớp.

Lớp học cuối năm uể oải giờ Triết từ chương tẻ nhạt. Thằng Hoành vuốt tóc, ôm vở đứng dậy. Hắn vừa bị đuổi ra khỏi lớp vì tội làm ồn. Ông thầy giảng triết mà gần như đọc nguyên văn từ sách giáo khoa của một vị linh mục. Quyển sách được tái bản hàng chục lần không thêm bớt, đã giúp hắn bày ra trò chơi mới để giúp bạn bè qua cơn buồn ngủ. Mỗi lần thầy bắt đầu một đoạn giảng mới, thằng Hoành lật sách, lên giọng ê a đọc.
- Sách Trần Văn Hiển Minh, chương thứ... đầu bài... trang... dòng...

Ông thầy không dấu được nét bực tức, quay lưng viết câu hỏi bài luận triết mới lên bảng. Nhanh như sóc, thằng Tiến rón rén bước đến bên cửa sổ nhảy ra ngoài không một tiếng động. Xóm nhà lá cuối lớp thèm thuồng nhìn bạn thong dong đút vở túi quần, trốn học đi rong.

Hắn cố gắng chống chọi cơn buồn ngủ. Giọng đọc ông thầy khô nứt, rời rạc mớ triết thuyết chủng viện, cứng ngắc và giáo điều, càng làm cho mắt hắn muốn ríu lại. Hắn tiếc rẻ nghĩ đến thầy Trần Thông dạy Việt Văn hai năm trước. Người học trò của Lê Tuyên khi giảng về Cung Oán Ngâm Khúc cho đám học trò mười lăm mười sáu đã thao thao bất tuyệt về sự thăng hoa của tình yêu trong ẩn ức xác thân và đợi chờ chiếc bóng. Bóng trăng đọng lầu Tây sầu ướt giấc viễn mơ. Và đêm trong trùng điệp đêm nên mộng mị cũng xa vời. Hắn giỏng tai há miệng nuốt từng lời từng chữ lãng đãng cổ thi điển tích.

Ðầu dãy bàn cuối lớp vẫn trống trải bóng dáng cao lớn của Hi. Người anh cả đi Võ Bị của hắn tử trận tuần trước. Lũ trẻ chúng tôi sống lần lữa với tờ giấy hẹn nợ cuối cùng để rồi sẽ phó mặc cho số phận hay đối đầu với sự lựa chọn đanh đá. Chỉ vài tháng nữa nhiều đứa sẽ vào lính sớm chuyện chiến chinh, đứa tiếp tục học hành, đứa quay bước đi theo những hoài bão riêng. Thôi hãy sống cho hết mùa cuối học trò. Làm tờ báo học trò cuối cùng. Hát những bài du ca cuối cùng. Uống với nhau những ly café cuối cùng. Trốn học với nhau thêm vài lần sau cuối. Chờ đợi nhau thêm vài lần cho trót chuyện thương yêu trên bến phà sớm mai, góc vắng sân trường, quán chè trong chợ.
Tan buổi học trưa, thằng Tùng kiếm hắn rủ rê.
- Chiều nay mày muốn cúp hai giờ sau tới nhà con Xinh ở cư xá Duy Tân với tao không?

Nghĩ tới nụ cười tinh quái của cô chị, Phượng Sao Mai, hắn lắc đầu từ chối.
- Mầy không nhớ lần bị con Phượng hù ông già về bất tử, làm bộ tử tế dẫn hai đứa ra trốn sau chuồng gà sao? Ngày hôm sau gặp con nhỏ ở Hội Việt Mỹ tao chỉ muốn độn thổ.
- Thôi đừng giấu tao nữa! Canh me người đẹp du ca thì nói đi. Khi nào thì đám hát rong của tụi mày xong hát với hò ở bệnh viện?

Hắn ngồi lên yên sau chiếc Suzuki của Ðạt, nói lảng.
- Nhớ ghé trường khoảng tám giờ. Tối nay tụi mình ở lại làm báo, ráng quay ronéo cho xong để đóng tập. Hết tiền uống café rồi.

Căn phòng nhỏ gần cổng trường phía văn phòng bề bộn giấy in và dụng cụ làm báo. Một nhóm học trò con trai vừa kéo ra khỏi phòng, đứng chuyện trò dưới hàng hiên. Trời đã tối. Ðêm tháng chạp se lạnh. Ánh đèn dọc theo đường Nguyễn Hoàng loáng thoáng sương mù.

Có lẽ thằng Tùng không có chuyện hứng khởi để kể cho bạn bè về buổi hẹn với con Xinh lúc chiều. Nó đang lôi Vân Hương và mối tình-đầu-không-suy-tư của nó ra để giải thích về tâm lý con gái. Năm đệ tứ khi thằng Tùng theo gia đình ra Ðà Nẵng thì cô bạn học láng giềng Vân Hương của nó không lâu sau đó cũng rời Quảng Ngãi ra Huế. Hai đứa nhà ở chung sân, chơi đùa với nhau từ nhỏ. Năm đệ ngũ, từ một lúc nào đó thằng Tùng không nhớ rõ, hai đứa trở thành bồ bịch. Từ đó nó thôi không ra đứng tắm giỡn mưa dưới máng xối đầu hiên nhà. Qua màn mưa, hai đứa thỉnh thoảng liếc nhìn nhau từ khung cửa sổ. Ðôi mắt con Hương đẹp long lanh. Nó cảm thấy xao xuyến lạ thường. Một buổi trưa, thằng Tùng lén ra hè nhà lấm lét đọc tập truyện tình dục chép tay bạn nó chuyền cho thì bất ngờ con Hương sà đến hỏi han. Thằng Tùng quýnh quáng giấu tập truyện sau lưng trong lúc con Hương tò mò gắng giành cho được. Lúng túng con Hương ngã chồng lên người. Ðôi môi mềm của con Hương chạm lên miệng nó. Thằng Tùng tê lên như bị điện giựt. Lúc nó tỉnh ra thì con Hương đã giật được tập truyện chạy biến vào nhà. Buổi tối hôm đó, thằng Tùng ráng ngồi học bài mà lòng chẳng yên. Nó sợ con Hương đưa tập truyện cho mẹ thì chỉ còn nước bỏ nhà mà đi. Ðang ngồi lo lắng thì khuôn mặt con Hương đột ngột xuất hiện phía ngoài cửa sổ. Con bé không nói không rằng, quăng tập truyện xuống bàn rồi quay mặt bỏ đi. Từng ngày qua, con Hương nhìn thằng Tùng như người không quen biết. Nó bước theo sau con bé đến trường về nhà như hình với bóng mà chẳng dám mở miệng nói lấy một lời. Nó sợ. Nó khổ sở. Phải chi con Hương quay lại, mắng nhiếc trách móc để nó có dịp đối thoại phân trần thì có lẽ lòng nó nhẹ nhàng hơn nhiều. Hai tuần lễ trôi qua, dài thê lương như thế kỷ. Một buổi tối, lòng buồn, thằng Tùng đứng lặng lẽ bên hè nhà tìm ngóng bóng dáng Vân Hương. Con bé từ đâu đó bước khẽ đến trước mặt nó, không nói một lời, nhón chân hôn thoáng lên môi nó rồi ù té chạy vào nhà. Hắn sững sờ đê mê, lòng phiêu diêu hạnh phúc.

Thằng Tùng hút một hơi thuốc dài, thở khói.
- Kinh nghiệm cho tao biết là khi một đứa con gái làm mặt tỉnh là lúc em đang nóng lòng chờ đợi để được ngã vào vòng tay của mình.

Thằng Ðồng châm chọc.
- Ngã vào vòng tay hay cúi xuống xách guốc đa-kao rượt mình chạy không kịp thở? Nói tóm lại, kết qủa cuộc hành quân chiều nay là phe địch vô sự tỉnh bơ, còn phe ta thì bị cho leo cây.

Thằng Tùng ậm ừ chống chế lúc bầy con trai cười vang. Hàng phượng sân trường rủ lá im lìm trong bóng đêm. Từ sau buổi sinh hoạt du ca ở bệnh viện về, lòng hắn vẫn bàng hoàng xao xuyến. Bầy trẻ em nạn nhân chiến tranh, ngỡ ngàng lỗi nhịp, vỗ tay theo tiếng hát của những người bạn mới. Hắn ngồi ôm vỗ về một bé trai khoảng bốn tuổi bị cụt cả hai chân vì miểng bom. Ðôi nạng gỗ nhỏ bé như món đồ chơi trái mùa nằm buồn bã trên nền xi măng. Cô bạn học duyên dáng như cánh sen trong chiếc áo len màu xanh rêu. Nàng thắp sáng ngọn nến hồng, cắm trên chiếc nạng. Nàng cúi xuống. Nụ cười đụng lên khuôn mặt xanh xao của đứa bé vừa tìm được niềm vui hiếm có. Ánh nến vờn lung linh trên môi hồng, lên vầng trán thanh xuân. Hắn chợt nghe mình cất cao lời hát. Những mái đầu cúi xuống. Từng đôi mắt nhắm lại để nhìn sâu hơn vào hồn. Cúi xuống cho tắt nụ cười, cho chút da thịt người trong tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang...

Hắn bước chậm rãi về phía bóng tối cuối dãy hành lang. Có tiếng ai gọi, cấp bách.
- Người đẹp du ca tới kìa!

Bầy con trai đứng yên như tượng đất dưới mái hiên trường. Cô bạn học trò lách mình qua cổng khép hờ. Hắn bước vội ra khỏi vùng bóng tối, đi về phía nàng. Họ đứng trước mặt nhau. Chiếc áo len màu rêu trên tay cô gái. Trên tay hai người. Nàng nhìn hắn, môi cắn nụ cười lặng lẽ, bước đi. Chiếc áo màu rêu chạm ấm lên môi như một nụ hôn. Hắn sững sờ trông vời theo tà áo trắng vương vấn lòng đêm.

(từ Mùa Trăng Ướt)

Phan thái Yên




Mục Lục


10. Chuyện Dài Nụ Hôn (tiếp)

Việt Hải



@ Nụ hôn trong âm nhạc:
Khi nụ hôn được nâng lên hàng nghệ thuật thì nó có vai trò thẩm mỹ như một bức tranh đẹp, một tác phẩm điêu khắc đầy giá trị hay một bản nhạc tình ca rung động con tim, trong ý nghĩa đó nhạc sĩ Văn Phụng đã sáng tác nhạc phẩm "Hôn nhau lần cuối", phổ từ thơ của Nguyễn Bính. Nguyễn Bính vốn là thi sĩ của sự lãng mạn trong tình yêu và của nụ hôn trong văn học:
"Cầm tay, anh khẽ nói:
Khóc lóc mà làm chi?
Hôn nhau một lần cuối
Em về đi, anh đị.."
Bài "Trả lại em yêu" mà nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác cho thấy nụ hôn đượm phần rất ngọt ngào và rất âu yếm:

"...Trả lại em yêu, khung trời mùa Hạ
Ngọn đèn hiu hiu nỗi buồn cư xá
Vài giọt mưa sa hôn mềm trên má
Tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa.
...
Trả lại em yêu con đường học trò
Những ngày Thủ Ðô tưng bừng phố xá
Chủ nhật uyên ương, hẹn hò đây đó
Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt..."

Trong bài "Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu" nhạc sĩ Nam Lộc cho những lời ca rất nhẹ nhàng, nhưng xao xuyến về nụ hôn:
"Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh
Như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh
Nhớ khói bay lạc vấn vương
Cho hơi ấm lên môi người
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường
Làn mây yêu thương
Vướng trong hồn em
Người mang cho em nghe quen môi hôn ngọt mềm ..."

Nhạc sĩ Lam Phương cho nụ hôn lên ngôi tình ái trong bài "Mùa thu yêu đương" như sau:
"... Mùa thu ơi
Paris dệt mộng tình si
Khi nghe người đi vào đời,
Thấy lòng như bớt đơn côi
Bờ môi em là nguồn tin yêu đắm đuối
Ngày thuyền tình vào bến mới
Ta sẽ cho nhau tình yêu tuyệt vờị.."

Nhạc sĩ Mai Ðức Vinh sáng tác bài tình ca "Giọt nước mắt Paris", phảng phất nụ hôn xưa:
"...Yêu nhau chi để đôi tim tan nát
Khóc cho lệ tình hay nước mắt hôn em
Hôn hay không hôn hai điều chọn lựa
Ðã hôn nhau rồi sao nỡ bỏ đi
Yêu hay không yêu cho lòng trăn trở
Ðã yêu nhau rồi một đời mãi mãi yêụ.."

Nhạc sĩ Lê Quang sáng tác nhạc phẩm hôn trong con tim cô đơn là bài "Hôn em trong giấc mơ":

"...Ðến một lần đến người hỡi
Hãy hôn em con tim buốt giá
Khóc một mình khóc rồi lại khóc
Nắng lung linh chờ anh mình em
Ước một điều ước nhỏ bé
Hãy hôn em dù trong giấc mơ
trong giấc mơ anh hãy hôn em..."

Trong nụ hôn gởi theo gió, mang nét mãng mạn của bờ môi đắm say trong thơ Hiền Vy, nhạc do Nhật Vũ và Ðỗ Quân:
"... Môi em
mọng đỏ như mơ
Cho anh nhờ gió...
gởi hờ nụ hôn
Hôn rồi,
ra ngẩn vào ngơ
Lòng anh vương vấn ...
thẩn thờ ... đắm saỵ.."
(Nụ hôn gởi gió)

Hai nhạc sĩ S. Farina & L. Ratner sáng tác bài "Kiss me in the rain", do Barbara Streisand hát, VH phỏng dịch từ bản Anh ngữ. Nụ hôn tình tứ khi tình yêu thể hiện dưới cơn mưa của hai kẻ yêu nhau:

"...Hôn em về dưới mưa
Hãy mang em về tuổi dại
Trở về bao kỷ niêm ngây thơ
Hôn em về dưới mưa
Hãy mang em về tuổi dại
Với cảm giác ngày xưa
Mình không bao ngại ướt..."

Trong bài tình ca thật nồng nàn "Love me with all my heart" được phỏng dịch như "Yêu em bằng tất cả con tim", nụ hôn được mô tả như điều nhớ nhung theo từng ngày tháng trôi qua:
"Yêu em xin yêu em
bằng tất cả con tim anh yêu
Hãy yêu em bằng tất cả con tim,
hãy nhớ đừng quên
Hãy hứa với em muôn điều
Là anh trao em thật nhiều nụ hôn
Cho suốt muà Ðông,
sang mùa Hè, rồi mùa Thu đến..."

Nhạc sĩ Leo Sayer sáng tác bài ca thật trữ tình "When I need you", được chuyển dịch là "Khi anh cần em". Nụ hôn được Leo Sayer đề cập lãng đãng qua lời ca tiếng hát, anh đề cao tình yêu như nụ hồng hôn lên trên rèm mi:
"Khi anh cần em
Hãy khép bờ mi khi anh đến bên em
Ðó là những gì anh muốn trao cho em
Chúng ta gần nhau qua hơi thở
Khi anh yêu em
Dang tay anh muốn ôm em vào lòng
Anh chẳng đoán nổi bao nhiêu
tình yêu anh đã dành cho em..."

@ Nụ hôn qua danh ngôn:
Nụ hôn được phát biểu hay được ghi nhận vào sách vở, nụ hôn đã đi vào văn học qua nhiều thể loại văn chương khác nhau. Sau đây là những câu nói nhận xét xa gần liên quan đến nụ hôn:
"Khi con tim tràn đầy thì đôi môi phải mở ra". J. S. Hoffman
"Nụ hôn đầu đời là nụ hôn dễ chịu và khó quên".
Lucy Montgomery
"Hai tâm hồn đang yêu nhau luôn luôn đón nhận nụ hôn và sự trìu mến trao nhau". Emily Erickson
"Tôi trao em một bờ môi, nhưng nếu em trao tôi cả hai bờ môi, con tim tôi sẽ bị chao đảo". Francois René Leblanc
"Hãy cho tôi nụ hôn và sự tưởng tượng sống với nụ hôn đó". Louis Armstrong
"Nụ hôn ngọt ngào ngày đầu ta trao nhau lại đắng cay như lần cuối ta chia tay". Boris Pasternak
"Ðời sống cần nụ hôn và nụ hôn cần đời sống". Victor Hugo "Người đàn ông nhớ mãi lần làm tình đầu tiên, người đàn bà nhớ mãi nụ hôn ban đầu". Thomas Wyatt
"Mặt trời lặn và mọc theo luật lệ thiên nhiên, còn con tim tôi sống và chết theo luật lệ của nụ hôn tình ái". James Appleton
"Hãy trao nhau nụ hôn nồng ấm để mình sẽ không bao giờ xa nhau". Jane Ashford
"Tình yêu bên bờ môi là chuyện ái tình dịu dàng và đáng nhớ nhất trong hạnh phúc lứa đôi". Jeanette Dubois
"Nụ hôn là bản tình ca ngọt ngào và là vũ điệu dịu dàng trên bờ môi của người mình yêu". Melody Fields
"Cám ơn anh cho em một tâm hồn trong sáng, một con tim chung thủy và một nụ hôn ngọt ngào nhất vì đó là một tình yêu bất diệt". Esther Austin

@ Nụ hôn qua các áng thơ chọn lọc:
Thơ văn Việt Nam về nụ hôn nhiều lắm. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết ngắn tôi đan cử một số các nhà thơ tiêu biểu mà tôi có dịp đọc thơ họ:
* Hồng Vũ Lan Nhi, Fountain Valley:
Nhà thơ nữ chất chứa đầy ắp những vần thơ tình yêu trong con tim thật e ấp. Khi lần đầu người nữ được người nam hôn, con tim xao xuyến và người nữ bật khóc. Tôi yêu đặc tính lãng mạn này của người con gái Việt Nam:
"Nụ hôn đầu, ôi, sao đắm say
Em úp mặt vào đôi bàn tay
Chẳng biết vì sao Em lại khóc
Cho môi hồng thấm lệ tràn đầy"
(Nụ hôn đầu)

Và tôi gọi chị là "nữ hoàng của thơ hôn" bởi vì chị có quá nhiều thơ hôn mà bài viết này đã lấy làm chủ đề:
"Nhìn em tươi mát nụ cười
Lòng anh chao đảo đứng ngồi không yên
Thèm hôn vào cánh môi hiền
Thèm được ôm bờ vai mềm nhung tơ"
(Tình chờ)

@ Cao My. Nhân, Lawndale:
Hãy đọc bài thơ thật trữ tình, thật lãng mạn đượm nét trẻ trung trong âm hưởng dễ thương của nhà thơ nữ CMN:
"Xin đừng hôn mãi tay anh,
Tưởng như chia xẻ tâm tình của em
Yêu thì... hãy nhớ nhung thêm
Thương nên mới chịu ngày đêm xa vời"
(Chia xẻ)

Nàng thơ ru hồn lãng đãng, chơi vơi với người tình qua những ý thơ nhẹ nhàng, lưu luyến khi mùa xuân yêu đương trở về:
"Người yêu hỡi, sao anh yên lặng thế
Mặt trời chưa tắt hẳn trên môi em
Màu đỏ thắm phía chân mây biến mất
Rất nồng nàn hôn lấp tiếng gọi tên"
(Mặt trời xuân)

@ Huệ Thu, San José:
Nàng thơ của vùng trời Ðà Lạt năm xưa nhớ nhung nụ hôn ngày cũ cô đọng bên bờ môi nhung nhớ:
"Lạ lùng sao mới chia tay
Hơi hương nào thoảng như ngày chưa tan?
Hỏi thăm đá, hỏi thăm vàng
Quên đôi môi lạnh, hỏi chàng ở đâu?
Con đường không rộng mà sâu
Nụ hôn để lại, giang đầu ngẩn ngơ...
Bây giờ, tất cả là mơ
Vầng trăng mới tỏ đã mờ trong sương..."
(Nụ hôn để lại)
Huệ Thu

@ Sương Mai, Sacramento:
Bài thơ sau đây thật dễ thương mang tính chất nũng nịu của nụ hôn vội vã từ người con gái gốc Tây Ðô:
"Có câu lục bát rất... tình
Cũng tình như thể em, anh vậy mà!
Mà nè, hôn... lẹ đi nha
Kẻo thiên hạ thấy, rồi... xa cũng đành
...
Gởi cho nhau một chữ tình
Trái tim là của riêng mình nhé anh
...
Kiếp nào xưa đã gặp anh
Mà bây giờ không đành lòng xa
Thôi thì em nói thiệt nha
Tại em trót lỡ... yêu mà, anh ơi!
Nói ra chỉ sợ anh cười
Giữ trong lòng lại đứng ngồi không yên..."
(Lục Bát Sương Mai)
Sương Mai

@ Bích Khuyên, Tulsa:
Nàng thơ của vùng Tây Nam Hoa Kỳ kể về chuyện tình và nụ hôn dấu yêu của thuở ban đầu:
"Một ngày anh nói: "Ðã yêu em!
Người mộng từ lâu anh kiếm tìm"
Ðôi trái tim yêu rung nhịp đập
Nụ hôn in dấu lên môi mềm
...
Bây giờ gặp gở ở nơi đây
Anh, áo phong sương nét dạn dày
Em, tháng ngày qua hương phấn nhạt
Nụ hôn năm ấy chẳng phôi phai".
(Nụ hôn tình đầu)
Bích Khuyên

@ Hà Huyền Chi, Lacey:
Nụ hôn HHC đong đầy hơi ấm yêu đương của hệ phái Karma Sutra. Vâng, hôn là ngôn ngữ thương yêu thay lời nói:
"Ôm ghì cơn bão trong tay
Níu hơi thở gió cho mây bàng hoàng
Môi anh thơm ngát son nàng
Tay trong tay nhớ hồn tan trong chiều
Phút giây yên lặng nói nhiều
Kho tàng ngôn ngữ thương yêu đâm thừa
Say mềm trăm nụ hôn mưa
Khi về em có ngẩn ngơ như chàng?"
(Bão đầy)
HaHuyenChi

@ Ðạm Thủy, Seattle:
Từ vùng Seattle mưa nhiều, tuyết phủ, Ðạm Thủy gởi nụ hôn bâng khuâng trong tâm hồn:
"Hôn em, sao chớp mắt nhìn
Môi em trầm quế, hương tình chơi vơi...
Quyện hồn, thu nhỏ khung trời
Trăng sao bẽn lẽn, buông lơi mây hồng"
pp (Nụ hôn trao em)
Ðạm Thủy

@ Lê Quang Sỹ, San José:
Nụ hôn như mật ngọt, kỷ niệm như dịu dàng từ dĩ vãng hiện về:
"Một nụ hôn ngày nào
Trên vành môi dịu ngọt
Môi và môi thật gần
Dính nhau thuở ban đầụ.."
(Còn nhớ nụ hôn)
Thơ Lê Quang Sỹ

@ Vương Vũ Hoàng, Washington, DC.
Nếu có nụ hôn đầu say đắm thì nụ hôn cuối hãy cho tâm tư rã rời, đắm say:
"Ta hôn nhau lần cuối
Cho đôi môi rã rời
Ai biết mình nghỉ chơi
Thôi duyên mình vĩnh biệt..."
(Hôn nhau lần cuối)
Vương Vũ

@ Xuân Ðào, Palo Alto:
Hôn cho trời đất quay cuồng, hôn cho tình yêu nồng cháy và hôn cho đôi môi ngây ngất muôn đời:
"Hôn cho trời đất quay cuồng
Trao môi ngây ngất trao luôn tâm hồn
Tình đầu dính chặt nụ hôn
Khép bờ mi kín tình chôn muôn đờị.."
(Nụ hôn nỗi nhớ)
Xuân Ðào

@ Ðường Sơn, Melbourne, Australia:
Nhà thơ vùng trời Victoria, châu Úc, quyện nụ hôn qua lời thơ chút vấn vương, chút e ấp nhẹ nhàng:
"Vén tóc em hôn trán
Cho tình mãi thiên thần
Khép mắt, anh hôn má
Tình mãi mãi thật gần"
(Duyên mình)
Ðường Sơn

@ Lê Duyên Thùy Trang, Boston
Nhà thơ của miền New England, Boston giá lạnh diển tả nụ hôn khiến cho con tim nhung nhớ. Lòng nhiều bồi hồi, nhiều trăn trỡ và ôi, nhiều luyến tiếc:
"Nếu vắng anh đời thiên thu giá lạnh
Ngày Ðông dài ai sưởi ấm nụ hôn
Nếu vắng anh tình buồn dâng xao xác
Ðể chiều về ai thấm ướt bờ môi"
(Nếu Vắng Anh)
LD Thùy Trang

@ Việt Hải, Los Angeles:
Nếu thi nhân J.G. Holland nói: "Trái tim không có giới hạn tuổi yêu đương" thì nỗi lòng tác giả được mô tả trong bài thơ
"Lần đầu hôn em":
"Lần đầu anh ghé hôn môi,
Làm con én lượn bồi hồi xôn xao,
Mùa xuân lành lạnh năm nào,
Vầng trăng e ấp, ánh sao sáng ngần,
Ðôi môi gắn bó lâng lâng,
Bông hồng nở nhụy, bâng khuâng chim trời,
Hôn em ngôn ngữ thay lời,
Nụ hôn ngây ngất suốt đời miên man,
Giờ đây đông đã sắp tàn,
Mùa xuân lại đến chứa chan nỗi lòng,
Bao năm ghi nhớ tuổi hồng,
Chim trời trở lại, hoa hồng trổ bông,
Nhụy vàng, hoa đỏ ửng hồng,
Hồng như môi cũ để lòng vấn vương".

Trên bờ môi yêu dấu, văn nhân J. S. Hoffman đưa ra hình ảnh của nụ hôn yêu đương chín mùi: "Khi con tim tràn đầy thì đôi môi phải mở ra", kỷ niệm trong nỗi xúc cảm của tác giả dâng tràn lên qua bài "Môi yêu":
"Môi em ngần ấy dễ thương,
Ðể anh say đắm vấn vương tâm hồn,
Chiều nay lòng bỗng bồn chồn,
Bởi vì môi ấy lỡ hôn anh rồi,
Thôi rồi nếu đã hôn môi,
Xin hôn thắm thiết mãi thôi nhớ hoài,
Ngất ngây giây phút kéo dài,
Thảo nào ta mãi hôn hoài môi yêu".

Nụ hôn là biểu tượng cho tình yêu con người, nụ hôn được nhiều sách vở tôn vinh như một bộ môn nghệ thuật cần thiết (Sách đã dẫn "The art of kissing"). Ngày nào trái đất còn xoay, nhịp tim vẫn còn đập, nhân loại sẽ còn mãi yêu nhau. Bài viết này đã duyệt qua một chuỗi đề mục liên quan đến nụ hôn, ví dụ như thuở ban sơ con người đã yêu nhau để cho nụ hôn ra đời. Qua bao năm thăng trầm trên mặt địa cầu, nụ hôn theo đà tiến hóa của nhân loại, nụ hôn được cải tiến cho thích hợp với thời gian và không gian của xã hội loài người, dù lối hôn hít tiên khởi của người Nhật bản hay lối hôn chà sát đầu vào nhau của dân Eskimo đến nụ hôn "mút lưỡi" theo lối Pháp đầy quyến rũ, khi mà những cái lưỡi đi hoang trong biên cương của sự tìm nguồn hạnh phúc say đắm. Nụ hôn đã được nuôi dưỡng, được trân trọng lưu giữ trong cuộc sống này, nhất là trong các địa hạt phim ảnh, âm nhạc, sách vở hay trong thi ca. Người ta tri ân nụ hôn trong dịp lễ lạc lớn có tầm vóc quốc gia như lễ tình yêu Valentine, Mother's Day hay Father's Day.

Những vần thơ hôn đã trình bày ở phần trên xin được kết thúc bài viết về "Chuyện dài nụ hôn" tại đây.

Việt Hải
Los Angeles




Mục Lục


11. FLORIDA - Vùng Nắng Ấm

Nguyễn Ðức Trọng và Thanh Ðan



Tôi đã đưa nhà tôi đi khắp 3 góc của nước Mỹ, California, Washington, Maine, và bây giờ chỉ thiếu cái đuôi phía Ðông Nam này nữa là đủ toàn bộ 4 góc của cái quốc gia rộng lớn này. Ðây là chuyến đi cuối năm, tháng 11/2003 trước khi bước vào mùa lễ Tạ Ơn, mừng Chúa Giáng Sinh và đầu năm 2004. Thời tiết bên miền Ðông Bắc đã trở lạnh, nhưng hy vọng dưới Florida vẫn còn ấm, chỉ ngại có gió lớn và mưa rơi rãi rác mà thôi. Ðến đâu hay đến đó, đã tính đi thì cứ đi, tuỳ cơ ứng biến là hay nhất. :)))

Chúng tôi rời Virginia qua phi trường Dulles lúc 6:30 sáng và xuống đến Fort Lauderale lúc 8:45am, sớm hơn thời khoá biểu 10 phút. Tụi tôi đi hãng máy bay Jet Blue, bay direct và giá vé là $153. Những hãng máy bay khác thường là phải chuyển tiếp qua một phi trường và tổng số giờ cho toàn thể chuyến bay thườong là từ 6 đến 7 giờ. Lần sau quý bạn có dịp đi đâu thì nhớ check xem có hãng Jet Blue bay đường bay mà bạn muốn đi không, nếu có thì bạn nên chọn hãng này vì nhiều lý do như sau: service rất khá, các ghế đều đồng hạng, các ghế ngồi đều bọc da, mỗi người có truyền hình riêng ngay trước mặt, và sướng nhất là khoảng cách để chân thật rộng. Những người bạn của tôi đã từng đi Jet Blue đều xác nhận như thế. Lâu lâu quảng cáo cho Jet Blue một chút nghe các bạn. :)))

Chuyến đi này kéo dài chỉ có 6 ngày Nov 7-12,2003. Cũng may là mới 9 giờ sáng đã xuống đến Florida nên kể như còn nguyên ngày. Vội vàng ghé hãng thuê xe, chất hành lý, và quẹo ra đường trực chỉ Orlando. Mới đầu tính tiết kiệm nên đi xa lộ I-95, nhưng chỉ sau 30 phút là tôi quyết định chuyển vào xa lộ I-91 Florida Turnpike dù phải trả tiền mãi lộ dọc đường. Bên ngoài xa lộ I-95, thiên hạ chạy xe khiếp quá, xe truck thật đông đảo, đường thì lại cong quẹo, sửa chữa và xây thêm khắp nơi. Số tiền mãi lộ (toll fee) vào khoảng $12 nhưng thật đáng đồng tiền, vì đường láng o, thẳng tắp, và hầu hết mọi người đều giữ tốc độ 80 mph. Chỉ có 3 tiếng rưỡi là tôi vào địa phận của thành phố Orlando. Thấy có cây xăng và có tiệm Wal Mart bên đường, tôi liền quẹo ngay vào. Một phần vì gần hết xăng, và cũng muốn mua một ít đồ cần dùng. Không ngờ cái tiệm Wal-Mart này lớn quá, không những chỉ bán quần áo và đồ dùng trong nhà, họ bán luôn đồ hộp, rau cải, thịt cá, và nguyên một lò bakery tại chổ luôn. Cái tiệm thật là mênh mông, và tôi đi một vòng thật nhanh, thấy giá bán thấp hơn vùng tôi đang ở Springfield, Virginia khoảng từ 15 đến 30%. Rẻ không ngờ được!

Mò mẫm trên bản đồ một hồi, tôi cũng tìm ra cái khách sạn Marriott. Không ngờ khách sạn lớn kinh đến như vậy, có đến 28 tầng, mấy cánh khác nhau, số phòng có lẻ phải đến 2,000 phòng là ít. Nhân viên khách sạn đi đâu cũng gặp, và họ cho tụi tôi hai phòng nằm ngó thẳng ra cái lagoon (hồ bơi) rộng lớn, gần đó là hồ bơi trong nhà, phòng tắm hơi, đấm bóp, đủ thứ chuyện. Ba ngày ở đây tắm ở hồ bơi, và ngâm nước nóng mỗi sáng thật tuyệt vời.

Dù được người bạn cho vé đi xem Sea World, cũng như cho biết là chỉ tốn có nửa tiền nếu muốn đi Disney World, Epcot Center, Magic Kingdom, tôi cũng phải đau lòng mà từ chối vì biết hai ông bà nhạc của tôi không đủ sức để đi xem các nơi ấy, tham dự những trò chơi, cũng như cái màn xếp hàng. Cuối cùng tôi chọn đi hai nơi là Splendid China cho ngày thứ nhì ở Florida, Gatorland cho ngày thứ ba. Ðây là hai nơi mà ít du khách đến xem, cũng như ít người VN nào tại Orlando đề nghị. Có nhiều người ở đây cả chục năm cũng chưa đặt chân đến. Tôi lấy làm lạ, và nghĩ là chắc phải có điều chi đó ở hai nơi này mới khiến bà con VN mình chê không đi.

Vì đi lạc đường ngày hôm qua, nên tôi được biết là mình có thể mua vé vào các nơi du lịch tại các discount office. Kết quả là tôi chỉ phải trả $19 một vé để vào Splendid China Park thay vì $27 cho một người, bao gồm luôn bữa ăn tối. So với vé vào Disney World là $50. Tôi và ông nhạc ghé vào cái mini market kề bên mua hai ly cà phê lớn và một cái bánh apple strudel để nhâm nhi trên đường đi. Khi hỏi giá và được biết chỉ tốn có $3, ông nhạc tôi phải la lên sao rẻ quá, vì ở tiệm 7-Eleven gần apartment bên Virginia tụi tôi phải chi ít nhất là $6 cho cùng ba món này.

Splendid China Park nằm trên một khu đất rộng 76 acres, trong đó các thắng tích của nước Trung Hoa được tạo lại với một tỷ lệ nhỏ hơn như 1/25, 1/30, v.v. Ngay tại cổng là tượng phật Di Lạc phơi bụng ngồi cười thoải mái, kế đến là một hoa viên kiểu mẩu như ở Tô Châu. Ở thành phố Portland, Oregon cũng có lập một Chinese Garden với kiểu mẩu này nhưng nhỏ hơn, và vé vào cửa để xem là $6. Hoa viên này, các gian hàng bán đồ kỷ niệm, nhà hàng ăn đều nằm bên ngoài cửa soát vé. Chỉ mới đi được một góc phía ngoài, ông bà nhạc tôi đã đầu hàng, xin được ngồi nghỉ và quyết định leo lên shuttle mà đi thăm vòng quanh toàn khu như kiểu "cởi ngựa xem hoa". Chúng tôi đi xem các động đá với những tượng phật ngồi, nằm đứng thật đẹp nổi tiếng tại các tỉnh Sơn Tây, Cam Túc, Thiểm Tây, v.v. Thích nhất là xem Leshan Grand Budha Statue cao đến 6, 7 thước so với tượng thật cao 70 thuớc. Cảnh hùng vĩ nhất là khu Stone Forest. Ðây là vùng rừng kết hợp bằng cái núi đá của tỉnh Vân Nam tiếp giáp Việt nam mà nhà văn Hoàng Ly đã lấy làm bối cảnh của những câu chuyện đường rừng của ông. Trong truyện "Giặc Cái" thì phải, ông gọi nơi đây là Thập Vạn Ðại Sơn. Ðể kiến thiết Vạn Lý trường Thành Great Wall, 6 1/2 triệu viên gạch nhỏ được gắn liền với nhau để tạo một bức vách dài 1/2 dậm. Cũng với các vọng lâu (cổng gác), cửa thành, đường đi bên trên ,v.v. Cung điện hoàng gia ở Bắc Kinh (Tử Cấm Thành), cung điện mùa hè, thái miếu, các đền đài, chùa nổi tiếng đều được trưng bày bên những lối đi quanh co. Ðể tôi nhẩm lại các nơi mà tôi đã xem qua ngoài những gì đã kể ở trên:
- tượng phật ngàn tay
- terra cotta warriors (cổ mộ với hàng ngàn tượng người ngựa)
- chùa Ðại Từ Ân ở Trường An
- chùa Phật Sơn ở Quảng Châu
- chùa ở lưng chừng núi
- chùa cao 9 tầng bằng gổ Yingxiăn Wooden Pagoda)
- chùa Thiếu Lâm
- lăng Tôn Dật Tiên trên đồi Hoàng Hoa Cương, Quảng Châu, cũng là nơi an nghỉ của liệt sĩ Phạm Hồng Thái
- cảnh Tây Hồ
- điện Potala của Ðức Dalai Lama ở Tây Tạng
- gia trang và đền thờ Khổng Tử
- cửa Ngọc Môn Quan, cửa Sơn Hải Quan của Vạn Lý Trường Thành
- thôn làng của các sắc dân thiểu số như Miêu, Bài, Dao, Mường, Thái, ...
- đền thờ Hồi giáo mà vua Càn Long nhà Thanh xây cho quý phi Hương Hương vì cô ta nhớ nhà, và cũng để nhìn thấy nụ cười của cô nàng
- và nhiều nơi khác nữa.

Một ngày có 3 màn trình diển trong rạp hát về sinh hoạt, y phục, ca hát, nhảy múa, hát xiệc (acrobat) của các sắc dân sống trong lục địa Trung Hoa. Hai show đầu dài 45 phút, màn cuối cuối dài 90 phút. "Rất đáng đồng tiền bát gạo" đó là lời phê bình của ông bà nhạc của tôi dành cho cảnh vật và 3 shows này. Trong nhiều màn xiếc thăng bằng trên cao, bà nhạc tôi cứ than là sao tụi nó chất bàn ghế chi mà nhiều quá, những tiếng rên "Oh my God ... Oh my Gọd!" của các bà Mỹ vang lên hà rầm chung quanh tôi. Sau cuối một màn trình diễn, thiên hạ vỗ tay không tiếc, ai nấy đều hít hà khen thuởng.

Nhưng, sau khi xem hết các nơi, thưởng thức món ăn trong nhà hàng thì tôi hiểu tại sao ít người viếng thăm nơi đây, và cũng không ai muốn giới thiệu bạn bè mình đi viếng. Có nhiều lý do:

- các nhân viên phục vụ không vui vẻ, niềm nở;
- các kiến trúc không được bảo trì thoả đáng nên nhiều chổ đã phai màu, gảy đỗ, bụi cỏ mọc đầy không ai cắt xén, rêu phong, đầy bụi vì chỉ có le que hai ba người chăm sóc;
- thức ăn tại nhà hàng quá dở;
- nhiều tiết mục đã bị cắt bỏ, tea house và Suzhou Restaurant đóng cửa;
- điện nước thì hà tiện nên nhiều khu vực tối om khi chiều tối; ....

Ðây là đặc tính chung của người Tàu là chỉ biết làm cho hay, cho đẹp vào những ngày đầu, còn không biết chuyện bảo trì và phát triển như của Hoa Kỳ. Splendid China xem thì thật thích thú cho những người biết phần nào về lịch sử, văn hoá Trung Hoa, nhưng lại thật chán cho các con em sinh ra và lớn lên ở ngoại quốc. Riêng tôi, thăm nơi nầy đã giúp tôi nhìn thấy phần nào các di tích Trung Hoa mà trước nay tôi chỉ biết qua sách vở, truyền hình. Nếu giới chủ nhân Splendid China không chịu cải thiện, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu khu vực này bị đóng cửa một ngày gần đây.

Gatorland là nơi nuôi hàng ngàn cá sấu (crocodile thì dài hơn và aligator thì ngắn hơn), một chuyến xe lửa chạy vòng quanh, thêm vài loại thú, chim chóc cho tăng thêm phần ồn ào, rồi màn đánh vật với cá sấu, cho sấu ăn bằng cách câu với thịt gà. Các em nhi đồng trông rất thích thú và vui vẻ nơi đây. Riêng tôi được nhìn tận mắt cả một bầy hồng hạc, một giống hạc càng ngày càng hiếm trên thế giới.

Những ngày thăm viếng tại Orlando, thời tiết từ mát đến ấm, lâu lâu lại có gió và mưa lất phất. Tụi tôi không có dịp đi ăn các nhà hàng VN nơi đây vì hai vợ chồng người con nuôi của ông bà nhạc tôi không cho chúng tôi đi ăn bên ngoài. Anh chị là người Huế và đãi chúng tôi toàn các món ăn đặc biệt của người sông Hương. Ðây là lần đầu tiên tôi ăn món bánh nậm, bánh bèo Huế ngon như vậy. Ngoài ra còn món bún bò, bún thịt nướng cũng hết xẩy. Bảo đảm bạn sẽ làm hai tô là ít. Nếu các bạn có dịp về Orlando thì cuối tuần ghé ngang Hội Quán Hương Giang ủng hộ. Nhóm bạn Huế và thân hữu thành lập hội quán này nhằm giúp đở đồng hương VN tại Orlando như tổ chức các lớp tiếng Việt, huấn nghệ, phòng đọc sách, và lâu lâu lại có những chương trình văn nghệ bỏ túi.

Ðến ngày thứ tư (Nov 10,2003) tụi tôi rời Orlando để trở lại Fort Lauderale Hôm nay tôi mới có dịp đi trở lại khu vực downtown Ft Lauderale, và thấy là các building văn phòng thương mại mọc lên khắp nơi, đường xá mở rộng hơn nhiều so với lần tôi ghé thăm vào năm 1993. Con đường Las Olas Blvd với các hàng quán thật bắt mắt dọc bên đường trông giống như khung cảnh ở các thành phố ven biển bên Âu Châu. Dọc bờ biển là con đường đi bộ lát gạch đỏ rộng rãi, cùng những phương tiện cho người tắm biển chẳng thua chi Waikiki bên Hawaii. Chiều nay ngoài biển gió thổi kinh người, cát bay đầy trời, thật là khổ khi phải đi ngược chiều gió. Nhưng dù cho gió lớn, và đôi lúc có mưa, trời vẫn ấm áp.

Sáng ngày thứ năm, tụi tôi lo dậy sớm ăn sáng và chạy ra bờ biển để bắt kịp chuyến đi cruise 10 giờ sáng của Jungle Queen Riverboat. Chuyến đi kéo dài 3 tiếng đi ngược vào trong đất liền, qua các dãy nhà của những tay triệu phú Hoa Kỳ, các tài tử màn bạc, v.v. Nhìn thấy những chiếc yatch trị giá cả 40, 50+ triệu tôi cũng phải lắc đầu chào thua cách tiêu tiền của các tay nhà giàu này. Trên các sông rạch của Ft lauderale, bạn có thể đi chơi suốt ngày trên các chiếc thuyền bọc kiếng trong gọi là Water Bus, chứa khoảng 30 người, mà chỉ tốn có năm tì. Chiếc tàu ghé một đảo nhỏ có tên Jungle Boat Indian Village, trên đó cũng có cá sấu, các màn đánh vật giữa người và cá sấu, các loại chim và khỉ tí hon bé hơn bàn tay. Ðảo này cũng là nơi ăn tối của những người tham dự các buổi dinner party do công ty này tổ chức. Trong lúc đang đi chơi trên đảo, có một con thú xổng chuồng. Hình dạng nó giống như con dinosaur thời tiền sử, nhưng nhỏ hơn, chừng 1m, và không kém phần rùng rợn. Các chú nhóc và ngay cả người lớn cũng phải nhảy nai chạy tránh con thú. Sau đó nó đã bị bắt lại và cho vào chuồng (xin xem hình cho biết).

Sau chuyến cruise trên Jungle Queen Riverboat, tụi tôi nhảy vội lên xe phóng về hướng Miami để viếng thăm shopping nổi tiếng Bayside Market Place. Tại đây vào những ngày cuối tuần thì khó mà chen chân, các ban nhạc và ca sĩ tha hồ mà hát hò trên sân khấu dựng sát bờ nước. Mặc dù cũng là khu vực du lịch, nhưng giá cả tại Orlando chỉ bằng phân nửa so với khu vực Miami. Các nhà hàng đều nằm ở tầng hai, và bọc kín nên khi đi bên dưới bạn sẽ không thấy mùi chiên xào chi hết. Vì không có thời giờ tôi đã bỏ dự tính đi bát phố ở Downtown Miami, và South Miami Beach.

Chúng tôi trở lại Virginia vào ngày thứ tư 16/11/2003 sau 5 ngày hưởng nắng ấm của Florida. Về đến phi trường, ai nấy đều lạnh run và chỉ muốn quay lại Florida thôi. Dù thời gian đi thăm có ngắn ngủi, nhưng tôi nhận thấy là giá sinh hoạt ở Florida vẫn còn thấp so với vùng thủ đô Washington DC, hay California. Giá nhà chỉ chừng 1/3 so với HTD, hay chỉ 1/4 so với thung lũng điện tử San Josẹ. Cho nên không ai ngạc nhiên khi thấy phe ta ngày càng đổ dồn về Florida, vì khí hậu ấm áp như ở Nha Trang, giá sinh hoạt thấp, và nhất là có rất nhiều công việc làm không đòi hỏi chuyên môn tại vùng Orlando. Hảng xưỡng cũng đổ về khá nhiều bên vùng vịnh Mexico. Orlando đang cất thêm một convention center rất lớn, và trong tương lai các buổi hội họp có thể sẽ được tổ chức tại đây thay vì ở Las Vegas. Lý do là Orlando có số lượng khách sạn dư thừa, có nhiều nơi giải trí lý thú, nhiều thắng cảnh cho thân nhân người đi hội họp và giá cả lại rẽ. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta tổ chức đại hội Thụ Nhân toàn thế giới ở đây thì cũng có lý lắm.
Mời các bạn vào xem hình ảnh chuyến đi Florida này tại:
http://communitywebshotscom/albụm/102493025DnLnmX

Nguyễn Ðức Trọng và Thanh Ðan




Mục Lục


12. Thư Gửi Thiên Kim

Nguyễn Thị Vinh



Thay Lời Bạt
Tập truyện ''Ðàn Chim Việt'' của Việt Dương Nhân
*
Thiên Kim thân mến,

Ðọc bản thảo Ðàn Chim Việt của mẹ cháu, nhà văn Việt Dương Nhân, hầu như cốt truyện nào cũng mang hình bóng ít nhất một người làm thơ, dăm ba người ngâm thơ hoặc nhiều người thích thơ; truyện nào của mẹ cháu, nói cho cùng rồi cũng hướng tới một chất thơ, mà tôi tạm gọi là thơ của đời sống, nằm ở ngoài mọi ch" nghĩa: Mong sao con người được tôn trọng và cùng sống tử tế với nhau, dù ở quê nhà hay quê người. Nhưng chính Thiên Kim, một đôi cánh trong đàn chim Việt, đã giúp mẹ cháu viết nên một bài thơ xuôi, mang tên Mây Vẫn Còn Bay, khiến người đọc như tôi hết sức bồi hồi. Cảm động trước một tình mẫu tử vừa thiêng liêng, vừa cao đẹp. Nơi mà người mẹ bị cuốn hút vào trăm công ngàn việc của cuộc sống tỵ nạn, thể nhập và đấu tranh; có việc cần phải làm gấp, có việc nên làm và có việc chưa cần lắm, để cuối cùng mang trong lòng một niềm ân hận khôn nguôi: "Con mình đã mất tiếng Việt!". Dường như mẹ cháu, nhà văn Việt Dương Nhân, chỉ mới tiếc cho năm mươi phần trăm gốc Việt nơi Thiên Kim mà bà đau lòng như vậy; nói chi các bậc cha mẹ khi thấy con mình, Việt ròng mà mất gốc, thì sự áy náy hẳn sẽ vô cùng mạnh mẽ hơn? Con cháu, của nh"ng người Việt nặng lòng với quê hương, bản quán, mà lại không ăn một món ăn Việt nào, không nói được tiếng Việt, không viết được ch" Việt, nếu học cao bất quá họ trở thành các chuyên viên, các nhà trí thức Anh, Pháp, Mỹ, Ðức, Na Uy... gốc Việt; trong khi các bậc sinh thành ao ước họ trở thành các nhà trí thức, các chuyên viên Việt Nam ở nơi đất khách. Nh"ng cuộc rời làng, xa nước nào mà không có sự hy sinh, mất mát? Có nh"ng thứ mất đi, của đời làm cha mẹ, để đổi lấy sự tự do, no ấm và học hành cho chính mình và trên hết là cho con cháu. Nhưng mất luôn cả "tâm hồn Việt" thì mục đích ban đầu "vì tương lai của thế hệ sau" cuối cùng sẽ chỉ là niềm tiếc hận mãi?

Thiên Kim thân mến, cháu và nh"ng ai như cháu, tìm về tiếng Việt là tìm về với người Việt, trong đó có mẹ cháu, là tìm về nước Việt, nơi cháu đã được sinh ra, nơi mà dòng s"a của mẹ cháu có cả mùi gạo hẩm, cơm ôi, lẫn mùi thơm của gạo Tám Thơm, Nanh Chồn, Nàng Hương; nghĩa là có cả đau khổ lẫn hạnh phúc.

Cảm ơn cháu, Thiên Kim ạ, tâm hồn cháu như phù sa sông Cửu, đã bồi thêm đất hạnh phúc cho mẹ, cho nhiều người khác, trong đó có tôi; với hành trình ngôn ng" Việt, của cháu từ năm lên sáu, đứt quãng rồi nối tiếp không dễ dàng, tới năm ba mươi tư tuổi, giả dụ chỉ với một câu: "Con thương má nhiều lắm!!", bằng ch" Việt nguệch ngoạc của cháu, cũng đã là một câu thơ; và với tôi, nó trở thành bài thơ vì hai cái chấm than (!!).

Tôi, may mắn thay, đã được đọc vài bài thơ cháu viết bằng Pháp văn, trôi chảy và trong sáng, hàm chứa một Tấm Lòng yêu con người và cuộc sống. Mấy bài thơ đó hay, nhưng chưa làm tôi xúc động bằng nh"ng câu của Thiên Kim, một người con chúc mẹ năm mới sức khỏe, may mắn và hạnh phúc. Lời chúc, nghĩ cho cùng, chính là tên gọi khác của ước mơ. Mơ ước đẹp của Thiên Kim, mà cô giáo Phương Khanh đã ghi lại: ''Em hỏi Kim học tiếng Việt để làm gì? Kim trả lời, học ch" Việt để đọc sách của chị và muốn biết nh"ng gì chị viết...''. Cảm ơn nh"ng thầy cô giáo tiếng Việt ở nơi đất khách, mất bao thời giờ, công sức đôi khi cả tiền bạc riêng tư, chỉ để nhận lại một niềm vui toát ra từ nh"ng trang vở học trò: "Hãy nói và viết tiếng Việt như ăn Phở, như ăn Chả Giò, tự nhiên như tình yêu của người Mẹ Việt giành cho mình". Nhiều người nước ngoài còn đi học nói và viết tiếng Việt. Cao hơn n"a, họ còn dịch sách Việt qua ngoại văn, chuyển Truyện Kiều sang Ðức ng", Anh, Pháp văn; có người còn vào Thư viện Quốc Gia Pháp để tìm cho ra nh"ng tác phẩm của Vũ Trọng Phụng chưa in thành sách; có là người Việt hay không, chưa hẳn đã tùy thuộc vào việc nói sõi tiếng Việt và viết rành ch" Việt! Là hay không là, người Việt, ở chỗ có tìm về tiếng Mẹ Ðẻ hay không. Không gần gũi với Tiếng Mẹ Ðẻ thì dễ dàng xa cách với Tình Mẹ? Không nhất thiết đều là như vậy... Nhưng chắc chắn, theo nh"ng gì tôi thấy được ở cuộc sống, sẽ không có một tình Yêu Nước gắn bó và nồng nàn!

Thiên Kim thân mến, trong các bài thơ của cháu mà tôi được đọc, nhiều, rất nhiều câu hay, bởi "văn hóa là sự hợp tác", như:
"...Nous nous aimons
C'est la seule loi
A laquelle nous obéissons
Et nous sommes libres
De notre choix
Toi et moi,
Unis pour la vie!.."
(Trích "Je t'ai attrapé" của Kim Agnès Hiver.)
Tôi đã tạm thoát dịch, theo cảm nhận, được gói tròn như sau:
Nguyện theo một luật Thương Yêu.
Ðời ta hòa hợp với nhiều tự do.

Thiên Kim thân mến, lẽ ra tôi phải viết một bài Bạt cho cuốn sách Ðàn Chim Việt này về tác phẩm hoặc tác giả, theo đúng nghĩa một bài viết ở sau mỗi cuốn sách, nhưng chính mẹ cháu đã tự viết Bạt rồi, qua bài Mây Vẫn Còn Bay, người đọc đã thấy ở nơi mẹ cháu một tình thương nước, xót người đầy nỗi đau khổ: "Mình làm mẹ mà con mình không biết nói được tiếng của mình. Thật là đáng trách!'' và với niềm hạnh phúc: ''Không, không. Con không quên đâu Má ơi!''. Không quên là có nhớ, nhớ đến lời ru, tiếng nựng của mẹ khi mình còn thơ ấu, nhớ đến giọng nhắc nhở, la rầy của mẹ khi mình lớn lên cùng với nhiều sai sót vô tình hoặc cố ý. Thế nên, cách yêu mẹ hay nhất là yêu Tiếng Mẹ Ðẻ, có thể Thiên Kim và ai đó chưa chia sẻ với tôi về cách nói trên, tôi vẫn xin cảm ơn tất cả, mà trước hết là cảm ơn "Ngàn Vàng", Thiên Kim Agnès Hiver.!

Na Uy Oslo, mùa Tuyết, tháng 1, năm 2004.

Nguyễn Thị Vinh




Mục Lục


III . Ngàn Lời Ca (kỳ 15)__________________________________________

15 . THƯƠNG CA CHIẾN TRƯỜNG BÀI HÁT CHO QUÊ HƯƠNG TỒI TỆ

Nhạc Sĩ Phạm Duy



Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nộị
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn nàỵ Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đờị
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, Californiạ Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...

Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứụ

Tác phẩm chọn lọc:

Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)

THƯƠNG CA CHIẾN TRƯỜNG BÀI HÁT CHO QUÊ HƯƠNG TỒI TỆ


Với "tâm phẫn ca", tôi đưa ra những lời phản kháng: Vạch mặt bọn cường đạo quốc tế đạo diễn vở BI HÀI KỊCH. Phẫn nộ trước trò NHÂN DANH chủ nghĩa, hoà bình, nhân loại để giết lẫn nhau. Mỉa mai trong CHUYỆN HAI NGƯỜI LÍNH. Thở dài với chuyện BÀ MẸ PHÙ SA. Thét lên rồi phát điên vì TÔI KHÔNG PHẢI LÀ GỖ ÐÁ. Cuối cùng tuyên bố Trời Phật Thánh Thần đều bất lực trước cái chết của NGƯỜI LÍNH TRẺ... Những tiếng nói thật về thân phận người lính Việt Nam như vậy cũng có những người khác nói lên, nhất là những thanh niên đang phục vụ trong Quân Ðội. Một bài thơ nhan đề TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI của một người lính chiến tên là Linh Phương, đăng trong góc nhỏ của một tờ báo hằng ngày được tôi thêm lời, thêm ý để thành bài :

KỶ VẬT CHO EM
theo thơ Linh Phương
(Saigon-1971)
Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại ?
Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về
Anh trở lại, có thể bằng chiến thắng Pleime
Hay Ðức Cơ, Ðồng Xoài, Bình Giã
Anh trở về. anh trở về, hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn mùi tang trắng.
Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại ?
Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn phủ kín hồn anh
Anh trở về, bờ tóc em xanh
Chít khăn sô trên đầu vội vã, em ơi !
Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại ?
Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về
Anh trở về, đây kỷ vật, viên đạn đồng đen
Em sang sông cho làm kỷ niệm
Anh trở về, anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về, bại tướng cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá.
Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại ?
Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về
Anh trở về nhìn nhau xa lạ
Anh trở về dang dở đời em
Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen
Cố quên đi một lời trăn trối, em ơi !
Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại ?
Xin trả lời. xin trả lời. mai mốt anh về.

Ngoài những bài phản đối chiến tranh một cách trực tiếp như vậy, còn có những bài thơ phản đối chiến tranh một cách gián tiếp. Ðó là những bài thơ mong ước hoà bình mà bài KHI TÔI VỀ của Kim Tuấn -- một sĩ quan trong Quân Lực -- do tôi phổ nhạc vào 1968 là một ví dụ. Ðây cũng là lời lẽ của một người lính Việt Nam chứ không phải lời lẽ của một ngưòi dân thường.

KHI TÔI VỀ, KHI TÔI VỀ, KHI TÔI VỀ...
theo thơ Kim Tuấn
(Saigon 1968)
Khi tôi về, con chim câu nằm trong tổ ấm
Dây thép gai đã hết rào quanh đồn phòng ngự
Và người lính đã trở về cày đám ruộng xưa...
Khi tôi về, con diều bay, đùa bay trong gió
Chốn quê nhà trên thảm cỏ xanh
Có lũ trẻ để bụng lòi rốn đen, cười thanh bình...
Khi tôi về, có con trâu rung mõ xa xôi như trong giấc mộng
Khi tôi về, với hai tay tôi níu con tim tôi ôm lồng ngực
Khi tôi về, giọng hát ru nối lại dĩ vãng trầm trầm như chưa tắt thở
Có người rủ nhân loại đi xem địa ngục, mà không ai trả lời.
Khi tôi về, mẹ già vừa tóc bạc, đôi mắt nhìn xa xôi
Mẹ tôi ngóng tương lai và quên hết ưu phiền.
Con cò lại bay trên đồng ruộng xanh
Tre già bảo nhau cúi đầu trầm ngâm cùng mùi khói lam quen thuộc.
Con cò lại bay trên đồng ruộng xanh
Tre già bảo nhau cúi đầu trầm ngâm cùng mùi khói lam quen thuộc.
Khi tôi về, tôi đi thăm bờ sông thuở nhỏ
Tôi sẽ buồn vì chuyện ngày xưa
Tôi sẽ khóc vì chuyện quê hương
Bao lần đau khổ bao lần cay đắng.
Quê hương tôi là ở đó
Quê hương tôi ngày còn bé tôi lớn lên bằng lời ru
Và bằng tình thương bằng hờn căm và bằng tủi hờn.
Khi tôi về, con chim ca lời ca tình ái
Lũ thiếu nhi đã hát mừng cho đời thịnh trị
Dù còn yếu cũng nhoài mình vồ lấy tình yêu.
p Khi tôi về, khi tôi về, cuộc đời xuôi chẩy
Bóng trăng xưa soi trên lối mòn
Có rừng cây ấm vì nhiều thương nhớ
Có người yêu cũ nằm chờ bên gối
Và khi thức dậy tôi tìm thấy tôi
Và khi thức dậy tôi tìm thấy tôi
Và khi thức dậy... tôi tìm... thấy... tôi.

Tôi gọi chung tình hình của Việt Nam trong khoảng 1968-1972 bằng bốn chữ "quê hương tồi tệ" và trong bối cảnh bi đát này tôi cho in một nhạc tập nhan đề THƯƠNG CA CHIẾN TRƯỜNG. Thi sĩ Ngô Ðình Vận có chung ý nghĩ nên gửi cho tôi hai bài thơ để phổ nhạc.

TÌNH KHÚC TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TỒI TỆ
theo thơ Ngô Ðình Vận
(Saigon-1971)
Gửi tới em ! Gửi tới em ! Gửi tới em !
Một hạt mưa lẻ loi trong đêm tối, mưa bay dài
Gửi tới em ! Gửi tới em ! Gửi tới em !
Một giọt mưa, hạt nước mắt
Hạt nước mắt hiếm hoi trong đời này !
Gửi tới em ! Gửi tới em ! Gửi tới em !
Một đốm lửa lạc loài
Ðiếu thuốc trên môi, lập loè trong giông bão
Gửi tới em ! Gửi tới em ! Gửi tới em !
Hơi thở này nồng nàn, ta yêu nhau đắm say (ơ ơ ờ)
Gửi tới em ! Gửi tới em ! Gửi tới em !
Những gì còn sống sót trên đời như hơi ấm tuyệt vời
Ta ôm em và tan loãng trong không gian lưu đầy.
Gửi tới em ! Gửi tới em ! Gửi tới em !
Em có nghe xào xạc ? Tiếng lá bay xào xạc
Tiếng gió đêm buồn buồn
Lang thang trên muôn vàn đỉnh cây
Hạnh phúc nào không tả tơi đắng cay ?
Hạnh phúc nào không tả tơi đắng cay ?
Hạnh phúc nào không tả tơi đắng cay ?

THẦM GỌI TÊN NHAU
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG TỒI TỆ
theo thơ Ngô Ðình Vận
(Saigon-1971)
Thầm gọi tên mày !
Thầm gọi tên tao !
Thầm gọi tên nó !
Những thằng tốt đen trong cuộc đời
Những thằng lính non hay già rồi
Gọi tên mày !
Gọi tên tao !
Gọi tên nó !
Gọi tên nhau, tên nhau.
Thầm gọi tên mày !
Thằng bạn của tao !
Mày vừa ngã xuống
Chiến trường núi cao nơi địa đầu
Thung lũng sâu nơi Hạ Lào
Gọi tên mày !
Gọi tên tao !
Gọi tên nó !
Gọi tên nhau, suốt đời !
Tao gọi tên mày !
Tao gọi tên tao !
Tao gọi tên nó !
Chiến tranh ơi ! Mỗi cuộc đời nắm trong chiếc thẻ bài
Mày ơi, vợ con mày đâu, bạn bè mày đâu ?
Tao gọi tên mày !
Tao gọi tên tao !
Tao gọi tên nó !
Lũ chúng ta biết du dương, mến quê hương, biết đau thương
Có anh em, có con tim, biết đau thương, biết cả thù oán.
Thầm gọi tên mày !
Thầm gọi tên tao !
Thầm gọi tên nó !
Giữa làn gió đêm trong rừng già
Hay dưới mưa trên vỉa hè
Gọi tên mày !
Gọi tên tao !
Gọi tên nó !
Gọi tên nhau, tên nhau !
Thầm gọi tên mày !
Thằng bạn của tao !
Mày vừa ngã xuống
Hỡi mày chết đi cho người đời
Còn sống yên trong nụ cười
Gọi tên mày !
Gọi tên tao !
Gọi tên nó !
Gọi tên nhau, suốt đời !

Nhưng nếu cần phải đánh giá từng bài trong loại ca khúc được gọi là "thương ca chiến trường" hay là "bài hát trên quê hương tồi tệ" thì bài thơ TƯ—NG NHƯ CÒN NGƯỜI YÊU của Lê Thị Ý do tôi phổ nhạc vào năm 1971 phải là bài ca não nùng, đau thương và chua sót nhất. Bài này mô tả cảnh người goá phụ đi lĩnh xác chồng từ nơi chiến địa trở về.

TƯỞNG NHƯ CÒN NGƯỜI YÊU
theo thơ Lê Thị Ý
(Saigon-1971)
Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy, hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi goá phụ nhạt mờ vết son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu.
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều sót sa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ôi thèm nụ hôn quen
Chong đèn hẹn sẽ đêm đêm đợi chờ
Bây giờ anh phủ mầu cờ
Bây giờ anh phủ mầu cờ...
Em không nhìn được xác chàng
Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu !

Trong tập THƯƠNG CA CHIẾN TRƯỜNG được ấn hành lúc đó, có bài thơ MẦU TÍM HOA SIM của thi sĩ Hữu Loan, phản ánh sự chua sót của người bộ đội trong kháng chiến có vợ trẻ bị chết bom. Bài thơ được phổ nhạc với cái tên ÁO ANH SỨT CHỈ ÐƯỜNG TÀ, một ca khúc được coi như một "thương ca chiến trường".

ÁO ANH SỨT CHỈ ÐƯỜNG TÀ
theo thơ Hữu Loan
(phổ nhạc từ lâu - phổ biến tại Saigon năm 1971)
Nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi
Nàng có đôi người em có em chưa biết nói
Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh...
Tôi là người chiến binh xa gia đình đi kháng chiến
Tôi yêu nàng như yêu người con gái tôi yêu
Người con gái tôi yêu, người con gái tôi yêu.
Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân
Bùn đồng quê bết đôi giầy chến sĩ
Tôi mới từ xa nơi đơn vị về
Nàng cười vui bên anh chồng kỳ khôi
Thời loạn ly có ai cần áo cưới
Cưới vừa xong là tôi đi.
Từ chốn xa xôi nhớ về ái ngại
Lấy chồng chiến binh mấy người ở lại
Mà nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ, bé bỏng chiều quê.
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ miền suôi
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ miền suôi
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ miền suôi
Hỡi ôi ! Hỡi ôi !
Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ vàng
Chiếc bình hoa ngày cưới
Ðã thành chiếc bình hương
Nhớ xưa em hiền hoà
Áo anh em viền tà
Nhớ người yêu mầu tím
Nhớ người yêu mầu sim.
Giờ phút lìa đời
Chẳng được nói một lời
Chẳng được ngó mặt người...
Nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi.
Nàng có đôi người em có em chưa biết nói
Tóc nàng hãy còn xanh, tóc nàng hãy còn xanh
Ôi một chiều mưa rừng trên chiến trường Ðông Bắc
Ba người anh được tin người em gái thương đau
Và tin dữ đi mau, rồi tin cưới đi sau.
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Rồi mùa Thu trên những dòng sông
Những dòng sông, những dòng sông làn gió Thu sang
Gió rờn rợn qua mộ vàng
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đoàn quân, những đoàn quân và tiếng quân ca
Có lời nào ru ời ời :
À ơi ! À ơi ! Áo anh sứt chỉ đướng tà
Vợ anh chết sớm, me già chưa khâu
Những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim
Ðồi tím hoa sim, đồi tím hoa sim
Ðồi tím hoa sim, đồi tím hoa sim.

CHIẾN CA
Sau thời gian soạn thương ca chiến trường thì xẩy ra mùa hẻ đỏ lửa 1972. Tôi tạm quên những bài hát cho quê hương tồi tệ để soạn cho Không Lực Việt Nam những bài tích cực hơn như : ÐIỆP KHÚC TRẦN THẾ VINH, VÙNG TRỜI MANG TÊN TA, LÊN TRỜI, TRONG BÃO CÁT MƯA RỪNG v.v...
ÐIỆP KHÚC TRẦN THẾ VINH
Này mặt trời nhỏ bé phương Nam
Mặt trời từng sưởi ấm cô đơn
Cho ta bay ngang qua lửa đạn
Cho quê hương yên vui ngày loạn
Này mặt trời hãy khóc đi thôi
Vì người tình của nắng lên ngôi
Con chim xanh bao la tình người
Thành vị thần : TRẦN THẾ VINH ơi !
Này Thần Ðất giữ dùm thân tôi
Ngăn xâm lăng dưới đất trên trời
Này Thần Gió giữ hồn cho tôi
Xin dâng cho Tổ Quốc muôn đời.
Này bầu trời, này ánh trăng xanh
Này cả rừng sao sáng lung linh
Nghe anh VINH đêm đêm hiện hình
Trên quê hương trong cơn chuyển mình
Này cả dòng sông nước chia ngăn
Một người hùng gẫy cánh cho dân
Xin nhân danh yêu thương vẹn toàn
Hẹn một ngày thống nhất quê hương.
Này Thần Ðất giữ dùm thân tôi
Ngăn xâm lăng dưới đất trên trời
Này Thần Gió giữ hồn cho tôi
Xin dâng cho Tổ Quốc muôn đời.

Này người tình yêu dấu không tên
Phận đàn bà cuộc chiến trao duyên
Quân xâm lăng gây nên sự tình
Không ai mang khăn tang một mình
Này người tình hãy nín đau thương
Vì người dù xa vắng giai nhân
Nhưng quê hương ta thêm thần tượng :
Một người hùng trần thế vinh quang.
Này Thần Ðất giữ dùm thân tôi
Ngăn xâm lăng dưới đất trên trời
Này Thần Gió giữ hồn cho tôi
Xin dâng cho Tổ Quốc muôn đời.

Rồi tôi phổ thơ của Phạm Lê Phan thành 16 chiến khúc của Trường Ca CHIẾN CA MÙA HÈ. Tôi còn đem bài thơ MƯỜI HAI THÁNG ANH ÐI của Phạm văn Bình làm thành bài hát HÀNH TRÌNH ANH THỦY QUÂN LỤC CHIẾN. Tôi gọi tất cả là chiến ca.

HÀNH TRÌNH ANH THỦY QUÂN LỤC CHIẾN
(MƯỜI HAI THÁNG ANH ÐI)
theo thơ Phạm Văn Bình
Tháng giêng suôi quân ra Huế
Cố đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều, em vắng bóng
Tóc thề đã quấn khăn tang
Tháng hai về trấn ven đô
Chong mắt hoả châu, giữ cầu
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn mầu.
Ba lô lên vai, tới miền Tây Ðô
Quê hương em xanh, xanh rợp bóng dừa
Ðêm ngủ bìa rừng, thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng, này lúc sang mùa
Bây giờ trời mây vào hạ
Xa thì xa vẫn chưa quên.
Sang Thu mưa ngâu, nước mù bay mau
Ô hay sao ta trong lòng rưng sầu
Tráng sĩ xưa hề vượt cầu sông ấy
Người đứng đầu sông, người cuối sông này.
Bây giờ còn đâu huyền thoại
Hằng Nga của em bé thơ
Tất cả bầu trời thơ ấu
Ai làm tháng Tám cằn khô
Tháng Chín ta về Cửu Long
Vú sữa căng của mẹ hiền
Anh đi cho đồng tươi thắm
Tặng em này chiến công vang.
Về Cà Mâu, một phong thư
Gửi cho em lời gió thưong mây
Lời chim nhớ rừng, lời ta chờ nhau
Cuối năm mùa Ðông đan áo
Cuối năm trời đã lạnh rồi
Thiên hạ thì may áo cưới, ta thì hẹn tới mai sau.
Hoa mai nở đầy, em đang chờ đợi
Mười hai tháng rồi, dài ước mơ say
Nhớ má cho hồng, nhớ môi em ngọt
Anh về cùng em, vui đón giao thừa.

CHIẾN CA MÙA HÈ, thơ của Phạm Lê Phan do tôi phổ nhạc là một trường ca gồm 16 đoản khúc.
CHIẾN CA MÙA HÈ
theo thơ Phạm Cao Phan
PHẦN I : TRỊ THIÊN
1.- Qua Cầu Ái Tử
2.- Bên Giòng Thạch Hãn
3.- Lời Dặn Dò
PHẦN II : TAM BIÊN
4.- Suối Trăng Hờn
5.- Ðêm Hội Máu
6.- Một Tình Thiêng
PHẦN III : BÌNH LONG
7.- Ðêm Hội Pháo
8.- Bất Khuất
PHẦN IV : CHIẾN THẮNG SAU CÙNG
9.- Ðưa Mẹ Về
10.- Trị-Thiên Yêu Dấu
11.- Ðưa Mẹ Về
12.- Hội Gió Trường Sơn
13.- Ðưa Mẹ Về
14.- Sữa Trắng Rừng Xanh
PHẦN KẾT : MẶC NIỆM
pp 15.- Mặc Niệm
16.- Xin Tha Thứ
* * *

Phạm Duy

Mục Lục


IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Có những muộn phiền vướng hoài không muốn thả
Có những âu lo, quằn chĩu cả tâm hồn
Có những bàng hoàng đọng mãi trong mắt nâu
Có những hờ hững, buông lơi chiều tím nhạt

Anh Yêu Dấu,

Và ta đã có gì để luyến tiếc cho nhau, sau những lần giận hờn, có phải chăng ta yêu nhau nhiền hơn, ta thương nhau nhiều hơn ? Chiều vàng buồn tênh, khi anh không còn ở bên em, tiếng chim như chẳng còn muốn hót, và mây tím hình như đang giăng kín cả bầu trời, để thầm mời những trận mưa quay về cho hiu hắt mảnh tình nhaụ Có bao giờ anh có những thoáng ưu tư, thẫn thờ như em không ? Có bao giờ anh sống và tìm về hạnh phúc của hai ta không ? Những kỷ niệm hai đứa đã chung nhau tạo ra, những đêm khuya, hai đứa lang thang cuối phố, uống chung nhau một ly cà phê, để thấy đời đậm đen như đêm tối, những gói mì gói cũng đủ làm hai ta ấm lòng, và có những đêm hai ta hấp hối trong hơi thở, trong cơn mê, tất cả có còn là những kỷ vật của riêng anh, riêng em không anh nhỉ

Những phím sầu, vẫn vang vội trong trái tim bé nhỏ của em, có lẻ vì em yêu anh nhiều, có lẻ vì em sống cho tình yêu chúng ta nhiều, nên hoá thành những trận cuồng phong, bão tố. -Dể rồi lặng câm như sỏi đá, mặc cho những buốt giá bao phủ. Sương có mờ, trăng có khuất, nhưng nỗi nhớ về anh vẫn quay quắt trong em, cho dù em đã cố chôn vùi vào lãng quên, nhưng giấc ngủ mỗi đêm vẫn đưa anh về lại bên em. Hương vị tình yêu là thế phải không anh ? Là ngậm ngùi, là nhung nhớ, là chất ngất những cơn đau trong tâm hồn của nhaụ Tại sao tình yêu chúng ta không giản dị, bình thường như bao người khác ? Không biết tại sao, và cũng không hiểu tại sao, chỉ biết là em lại yêu anh, yêu anh nhiều lắm lắm....

Em sầu muộn cho ngày thêm dài ra, em cô đơn nhìn những áng mây mù đi hoang. em ngu muội và bất lực trước tình yêu của anh. Mãnh lực tình yêu đã cuốn đi mất những cứng rắn, kiên cường của bản lãnh ngang bướng trong em. Em thế đó, em làm anh điên đầu, hay anh làm em tức tưởi khóc thầm mỗi đêm ? -Dể rồi lại quên hết khi chúng ta đàm thoại với nhaụ Ghét anh vô cùng, ghét anh kinh khủng, nhưng lại vẫn nhớ về anh ...

Em mong rằng thời gian sẽ không là những con dao dày xé tâm hồn hai chúng ta, em mong rằng sự thử thách sẽ không đày đọa tình yêu chúng ta, và em trông chờ ngày sum họp để em được nghe những lời tình tự nơi môi anh, và được làm con mèo con bé nhỏ trong vòng tay yêu thương của anh... " Yêu em lắm lắm " ....phải thế không anh ?

Lời yêu thương nồng nàn
Uống cạn trên môi nhau
Lời yêu thương vô vàn
Cho mắt em thôi sầu

Mùa xuân về trước ngõ
Chim chóc hót đùa vang
Lời tình anh khẽ tỏ
" Yêu em như mây ngàn "

Mong tình thắm niềm vui
Ru em giấc ngủ vùi
Quên đi niềm trăn trở
Xóa tan những ngậm ngùi

Viết Cho Giao Mùa
April, 2004

DHH
~~~/~~((@

Mục Lục


V . Nghiên Cứu_____________________________________________

1. BỆNH NGÓN TAY BẬT

Bác sĩ Nguyễn Khắc Ðoan



(Trigger finger)

Lạ, sao lại gọi là bệnh ngón tay bật? Ngón tay bật (trigger finger) là bệnh khiến ngón tay ta bật như cò súng.

Ngón tay cử động khó khăn, muốn cong ngón tay lại, ngón tay như bị kẹt, muốn duỗi ngón tay ra, cũng chẳng dễ. Cố sức duỗi thẳng ngón tay xem có được không, thì thình lình, ngón tay bật ra, đến tách cái, khiến khớp xa (distal interphalangeal joint) của ngón tay bị đau. Khi sờ thử chỗ gốc ngón tay, nơi khớp bàn tay và ngón tay (metacarpo-phalangeal joint), thấy chỗ này nổi cục, ấn vào thì đau.

Ðấy là bệnh ngón tay bật. (Mỹ họ thực tế, một số bệnh xảy ra giống cái gì, họ đặt luôn tên bệnh theo cái đó, cho tiện việc sổ sách, nôm na và dễ hiểu. Tên chính thức của bệnh ngón tay bật, “Stenosing tenosynovitis of the flexor tendons”, ôi, lôi thôi, dài dòng).

Nguyên nhân và triệu chứng

Mọi cử động trong thân thể chúng ta không khác gì sự chuyển vận của một bộ máy cơ khí, có điều uyển chuyển hơn nhiều. Thần kinh (nerve) điều khiển bắp thịt (muscle), bắp thịt chuyển động, rồi truyền những chuyển động này qua các sợi dây gân (tendon), tức đầu của những bắp thịt. Các sợi dây gân mới kéo những khớp xương, khiến khớp xương chuyển động theo. Mọi việc xảy ra nhanh chóng và nhuần nhuyễn, do thế chúng ta đi đứng và cử động uyển chuyển, trông không giống Robocop.

Trong các ngón tay ta cũng vậy. Có những sợi dây gân co (flexor tendons), chạy dọc theo lòng các ngón tay để giúp ta cong các ngón tay lại, và những dây gân duỗi (extensor tendons) chạy dọc theo lưng các ngón tay giúp ta duỗi thẳng ngón tay ra. Ðặc biệt những dây gân co của mỗi ngón tay (có bổn phận giúp ta cong ngón tay lại) phải chạy qua một đường hầm (tunnel), còn gọi là màng bao gân (tendon sheath), trong có những hệ thống ròng rọc (pulleys). Các ròng rọc này mang nhiệm vụ giữ chắc những dây gân co sát vào ngón tay, khiến chúng không bị lỏng lẻo.

Mọi chuyện êm xuôi không sao, những sợi dây gân co cứ việc chạy trong các đường hầm qua những hệ thống ròng rọc của chúng thoải mái, ta co duỗi ngón tay tùy ý, và đã không có chuyện để nói. Song khi vì một lý do nào đó, dây gân co ngón tay bị sưng lên, cồng kềnh, khó chạy qua những ròng rọc, lúc ấy, bệnh ngón tay bật xảy ra. Ngón tay ta bật, bật.

Bệnh nhẹ hay nặng tùy mức độ gân sưng ít hay nhiều. Nhẹ nhất, gân co ngón tay sưng ít thôi, vướng vào các ròng rọc không nhiều, ta vẫn co duỗi ngón tay được như thường, tuy không thực sự thấy thoải mái, và ngón tay trông hơi mập mập. Ngược lại, khi gân co ngón tay sưng nhiều quá, to bự lên thành một cục (nodule), ngón tay ta sẽ kẹt cứng luôn, không duỗi ra được. Giữa hai thái cực này, tức lúc gân co có sưng song sưng vừa phải, nhẹ không còn nhẹ, mà nặng cũng chưa hẳn nặng, ngón tay bật, bật khi ta cố duỗi nó, tạo cảm giác đau ở gốc ngón tay, truyền dọc lên ngón tay. Sờ chỗ gốc ngón tay, nơi khớp bàn tay và ngón tay (metacarpo-phalangeal joint), thấy chỗ này nổi lên một cục sưng và đau.

Sao lại có căn bệnh quái ác này, khiến nhiều người mất vui? Bệnh sưng các dây gân hay xảy ra ở những phụ nữ đứng tuổi, có khi gây do bệnh tiểu đường, hoặc bệnh thấp khớp rheumatoid (rheumatoid arthritis), ... Không cứ gì các ngón tay, bệnh sưng các dây gân có thể xuất hiện tại tất cả mọi khớp trong cơ thể, song khi bệnh ở những khớp khác, nó ít gây triệu chứng. Khi bệnh sưng gân đến thăm khớp ngón tay, nó tạo chứng ngón tay bật, chỉ vì những dây gân co ngón chạy trong các đường hầm qua những hệ thống ròng rọc, và khi gân sưng, nó vướng vào những ròng rọc này.

Chữa trị

Có hai cách chữa bệnh ngón tay bật: một là giúp cho dây gân co ngón tay giảm sưng, hai là cắt bỏ ròng rọc ràng buộc nó, khiến nó dù sưng, vẫn chạy đi chạy lại được không bị vướng.

Nếu ngón tay bạn mới dở chứng trong vòng 3 tháng trở lại, và bật nhẹ thôi, ta có thể thử dùng thuốc chống sưng không có chất steroid (nonsteroidal anti-inflammatory drugs, như các thuốc Ibuprofen, Naproxen, Relafen, ...) giúp dây gân co ngón tay bớt sưng, bạn bớt đau.

Tuy nhiên, việc dùng thuốc thường không mang lại hiệu quả mong muốn, trừ trong những trường hợp rất nhẹ. Nếu thế, ta chích thuốc có chất steroid vào màng bao gân (tendon sheath) bọc quanh gân co (tức đường hầm trong đó gân co ngón tay chạy đi chạy lại). Khi chích thuốc steroid như vậy, bác sĩ nên cẩn thận, chỉ nên chích thuốc đúng vào bao gân, tránh chích ngay vào gân co, vì thuốc steroid có thể làm dây gân yếu đi và đứt, nếu lỡ chích nhầm vào dây gân.

Sau khi chích thuốc 2 tuần, vẫn không ăn thua, ngón tay bạn vẫn bật, và gốc ngón tay còn đau, cái đau lan lên ngón tay, hoặc triệu chứng làm bạn phiền muộn đã hơn 3 tháng, ngón tay bạn thường xuyên bị kẹt, cách giải quyết tốt nhất là giải phẫu. Giải phẫu xẻ đôi cái ròng rọc khiến dây gân khỏi bị vướng khi chạy qua nó (division of the pulley). Ðây là cách chữa mang lại kết quả 100%, và có thể làm với gây tê tại chỗ (local anesthesia).

Tóm lại, cũng như sự trị liệu các bệnh khác, cách chữa bệnh ngón tay bật tùy tình trạng nặng nhẹ của bệnh. Giống người lính trận ra chiến trường, biết người biết ta. Dùng súng lục bắn xe tăng, chắc chẳng ăn thua, ngược lại, sử dụng đạn đại bác để bắn một mục tiêu không đáng, chỉ tốn đạn lớn lúc chưa cần thiết.

Bác sĩ Nguyễn Khắc Ðoan, Houston, Texas

Mục Lục


2. Thể Thao và Sức Khỏe: Chạy Marathon

Bác sĩ Phạm Văn Hoàng



Kỳ này, mời quí độc giả đọc bài viết của Bác sĩ Phạm Văn Hoàng, về một đề tài lạ và thú vị.

Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức

Mọi người Việt chúng ta đều biết sức khoe quý hơn vàng, sống khỏe hơn sống lâu. Nhưng trong xã hội Hoa-Kỳ ai cũng quá bận rộn về sinh kế, làm việc quá cực nhọc, tinh thần căng thẳng, lại thêm ăn uống không điều độ và kém giữ gìn. Vì thế hầu hết chúng ta gặp khó khăn trong việc bảo vệ sức khỏe.

Hiện nay bệnh phì nộn (mập không cân đối với tuổi tác và sức vóc) đã trở thành cái dịch. Hơn một phần ba dân số Hoa-Kỳ cân nặng trên mức trung bình. Càng phì nộn tuổi thọ càng giam vì phì nộn là bạn thân của nhiều bệnh tật. Ai cũng biết lên cân thì dễ nhưng sụt cân thì khó. Nếu đi hoặc chạy bộ trên đường phẳng, cơ thể của ta mất đi 100 calories cho mỗi dặm. Như vậy, muốn xuống một cân phải đi bộ hoặc chạy 36 dặm!

Chúng ta đều biết ích lợi của thể dục thể thao. Thể dục thể thao làm sụt cân lượng và giảm bớt chất béo trong cơ thể con người. Nếu chúng ta thể dục thể thao đều đặn, những bệnh như cao máu, tiểu đường, mạch máu não, tim không được thông, v.v., có khi không cần thuốc để chữa trị.

Thể dục thể thao còn làm tăng sức đề kháng của cơ thể. Hiện nay, người ta biết bệnh ung thư sợ thể dục thể thao! Các phát minh khoa học gần đây nhất cho thấy nếu vận động nhiều như chạy bộ chẳng những làm tăng dưỡng khí cho các tế bào tim, não, giúp tăng trí nhớ, chống lão hóa, tăng tuổi thọ, mà còn làm cho các tế bào não nảy nở thêm, đặc biệt tế bào ơ phần dưới của não bộ, hypothalamus. Khi mới sinh ra, tế bào trong cơ thể con người đều tăng trưởng. Chỉ có các tế bào não vẫn giữ nguyên số lượng, cha mẹ sanh ra có bao nhiêu thì con dùng bấy nhiêu thôi. Con số này có hơn một tỉ. Với thời gian và tuổi tác chồng chất, số tế bào này lần lần giảm đi. Sau bốn mươi tuổi, cứ mỗi mười tuổi thọ chúng ta mất đi 5% tế bào nãọ Những phát minh y học quan trọng trong các năm vừa qua đã cho biết như thế.

Thể dục thể thao còn làm cho tinh thần bớt căng thẳng, ngủ ngon, nhất là có tác dụng điều trị bệnh suy nhược tinh thần còn hơn thuốc men. Ðối với phụ nữ, thể dục thể thao giúp cho việc sinh nở dễ và mau hơn. Trên đây là sơ lược về ích lợi của thể dục thể thao trong việc bồi dưỡng và bảo vệ sức khỏe. Nhưng muốn hưởng được những ích lợi đó phải thể dục thể thao liên tục. Môn thể thao chúng tôi nêu ra đây là chạy marathon.

Lịch sử

Từ "marathon" rất quen thuộc trong giới thể thao thường nghe, nhưng đa số chúng ta không rõ từ này có từ bao giờ, xuất phát ở đâu, và nghĩa rõ rệt như thế nào.

Khoảng 490 năm trước Tây lịch, sau khi quân Hy Lạp đánh thắng quân Ba Tư, anh lính truyền tin Hy Lạp tên Philippides được lệnh chạy về thủ đô báo tin thắng trận cho vua Hy Lạp. Philippides phải chạy băng qua cánh đồng Marathon để về Athene, một đoạn đường dài hơn 42 cây số. Anh đã chạy không nghỉ. Báo cáo xong anh ngã quỵ, chết vì kiệt sức.

Về sau này từ "marathon" được dùng để gọi các cuộc chạy đua việt dã bền sức. Và marathon trở thành môn thể thao quan trọng nhất, được đưa vào Thế Vận Hội Olympic năm 1897 ở Hy Lạp. Ðoạn đường dài chính thức của bộ môn marathon là 42.195 cây số hay là 26.385 dặm.

Hiện nay thì môn chạy marathon không những chỉ có tổ chức ở Thế Vận Hội Olympic mà còn ở các nước và các thành phố lớn trên khắp thế giới. Marathon lâu đời nhất trên thế giới và cũng là lâu đời nhất ở Hoa-Kỳ là Boston Marathon, được tổ chức từ năm 1897. Nhưng cái marathon có đông người tham dự nhất là London Marathon (hơn 80.000 lực sĩ khắp thế giới ghi tên). Marathon nổi tiếng nhất thế giới được tổ chức ở New York. Ở Việt Nam, marathon đầu tiên được tổ chức tại Sài Gòn năm 1996. Năm sau (1997) dự định tại Hà Nội, nhưng vì ít người tham gia nên ban tổ chức đã hủy bỏ và từ đó đến nay Việt Nam không tổ chức được cuộc chạy việt dã marathon nào hết.

Thể lực và trang bị

Marathon là môn thể thao mệt nhọc đòi hỏi bền sức. Vì vậy muốn tập luyện có kết quả, chúng ta phải hội đủ các điều kiện thể lực và trang bị như kể ra dưới đây:


1. Nên khám sức khỏe trước, dù cho khỏe mạnh:
- Nam: trên 45 tuổi
- Nữ: trên 55 tuổi
- Người có bệnh tim, áp huyết cao, mỡ cao
- Người hút thuốc lá
- Người nặng cân và ít hoạt động.

2. Nên theo chương trình tập với một cường độ trung bình, rồi tăng từ từ, đều đặn cho cơ thể thích ứng lần lần. Khi thấy choáng váng, nhịp tim đập không đều, khó thở, tức ngực thì phải ngưng tập ngay.

Những ai đang uống thuốc trị áp huyết cao, cần theo dõi nhịp tim. Nên biết nhịp tim tối đa của mình:

Nhịp tim tối đa = 220 – (trừ) số tuổi. (Thí dụ: Tuổi 60, nhịp tim tối đa là: 220-60=160.)

Tuổi càng cao nhịp tim tối đa càng xuống thấp. Muốn được an toàn khi chạy marathon, nên giữ nhịp tim 10 nhịp dưới nhịp tối đa.

3. Thể dục thể thao có tác dụng như chất insulin. Những người có bệnh tiểu đường, vận động nhiều có thể làm độ đường xuống thấp. Vì vậy, khi chạy nên đem theo kẹo hoặc nước ngọt. Nếu thấy choáng váng, toát mồ hôi thì ăn kẹo hoặc uống nước ngọt (giống như đổ xăng khi xe đã hết xăng!).

4. Ðiều kiện sức khỏe đã hội đủ, nên mua sắm các trang bị sau đây để luyện tập:
- Giày: Phải là giày chạy bộ. Phải có ít nhất là ba đôi để thay đổi mỗi ngày, tránh không để bàn chân bị cấn vào một chỗ nào trong giày. Giày chạy phải lớn hơn giày thường mang nửa (1/2) số (thí dụ, giày đi làm số 8 thì giày chạy phải số 8 1/2).

Nên đến các hiệu chuyên bán đồ thể thao để mua đôi giày đầu tiên. Tại đây có các chuyên viên giúp ta chọn đúng đôi giày chạy bộ. Họ nằm nghiêng trên mặt sàn để nhìn hai bàn chân ta khi mang giày nện xuống mặt đất như thế nào: nghiêng bên trong, bên ngoài, ở trước mũi hay ở gót giày, v.v.. Họ có thể phải chêm thêm miếng da trong đế giày để điều chỉnh bàn chân. Như vậy, khi chạy lâu, chạy nhiều mới đỡ đau chân. Nên nhớ, khi ta chạy, mỗi cái nện gót chân xuống mặt đường gây chấn động bằng cơn động đất 4.0 theo Richter scale. Chạy xong một cuốc marathon, một lực sĩ đã nện gót chân 40.000 lần như vậy xuống mặt đất.

Ðôi giày không nên dùng quá 6 tháng hoặc chạy quá 300 dặm vì đế giày sẽ cứng đi, không "hút" bớt được chấn động. Như vậy không nên mua giày quá mắc, vì chạy vài lần là phải vứt đi.

- Vớ: Nên dùng loại vớ dày. Khi mang, lộn bề trái ra ngoài cho lằn may không cấn vào chân. Móng chân phải cắt, dũa thật sát, nếu ta không muốn mất một hay hai móng sau khi xong một cuốc marathon!

- Quần áo: Nên mặc quần ngắn, mỏng nhẹ, có túi (để mang theo giấy tờ cần thiết và chút ít tiền bạc, nếu rủi ro bị té ngã, bị thương, ngất xỉu, v.v., nhân viên trên xe cấp cứu biết mình là ai, mặc dù áo có đeo bảng số). Áo mũ thì ban tổ chức phát trước khi chạy. Nên mang theo beeper hoặc điện thoại cầm tay – nếu có – phòng khi cần thiết; hoặc đeo theo walkman radio hay cassette nhỏ cầm tay để nghe trong khi chạy. Nên dùng "band-aid" dán vào hai núm vú phòng khi chạy áo sẽ cọ vào trầy, chảy máu, mặc dù là đàn ông!

Tập luyện

Marathon là môn thể thao bền sức, đòi hỏi cố gắng, thật sự là một "khổ luyện".

Muốn luyện tập có hiệu quả tốt, nên thu xếp giờ giấc. Giờ tốt nhất là vào sáng sớm, xe cộ còn ít, không khí bơt ô nhiễm. Các bà, các cô nên lựa chỗ, đường an toàn khi chạy.

Trước và sau khi chạy xong, nên kéo dãn các bắp thịt ở chân và đùi để tránh bị vọp bẻ (chuột rút). Nên xác định trước khoảng cách sắp chạy. Cố gắng chạy cho đến mức. Tùy theo tuổi tác, sức khỏe của mỗi người, bắt đầu nên chạy từ từ. Khi thấy mệt, hơi thở ngắn, tim đập nhanh, nên giảm tốc độ và đi bộ cho cơ thể quen dần với sự mệt nhọc. Cơ thể con người là một kỳ quan, càng tập luyện, càng bền sức, càng dẻo dai.

Nên chạy một tuần bốn lần. Nhưng khi đau ốm, cảm cúm phải nghỉ ngơi. Từ từ tăng dần khoảng cách và thời gian chạy. Cứ hai hoặc ba tuần tăng thêm một dặm. Dù cho đã chạy kha rồi cũng không nên chạy quá 40 dặm một tuần.

Theo tuổi tác, sức khỏe và sự chuyên cần luyện tập, có thể chạy mỗi lần từ 15 đến 20 dặm sau 6 tháng hoặc một năm. Khi đã chạy được đến 20 dặm thì biết chắc rằng mình co đủ sức để chạy suốt cuốc marathon mà không bỏ cuộc!

Ðiều quan trọng nhất là phải nhớ uống nước cho đủ khi tập luyện cũng như lúc chạy marathon thật sự. Không đợi khi thấy khát nước hoặc khô môi mới uống nước. Nên hiểu nếu cơ thể mất 1/10 lượng nước, ta sẽ mất 30% khả năng chạy (khi chạy marathon, ban tổ chức phát nước gatorade hoặc nước cam ở mỗi trạm cách nhau 1 dặm).

Việc ăn uống trước khi chạy cũng rất quan trọng. Vài ngày trước khi chạy marathon nên ăn cẩn thận, nhất là ngày chót, cần thức ăn có nhiều calories (carboloading). Nhưng ba giờ trước khi chạy không nên ăn thêm. Nếu không sẽ bị ói trong lúc chạy. Cẩn thận hơn, nên uống một viên thuốc trừ tiêu chảy trước khi chạy – nếu không muốn đã chạy rồi mà còn bị Tào Tháo đuổi theo sau!

Chạy marathon
Khi chạy marathon, trong khoảng 5-6 dặm đầu là thời gian "warm-up", chân cẳng bị đau nhức. Nhưng liền sau đó cơ thể bat đầu tiết ra chất endorphine làm giảm bớt đau.

Từ đấy cho đến các dặm thứ 19-20 là giai đoạn "second wind". Lực sĩ sẽ chạy hăng hơn.

Nhưng cũng từ đây cho đến hết các dặm đường còn lại, cơ thể như chiếc xe hết xăng, vì kiệt sức, rã rời, đau nhức. Những người chạy marathon gọi đó là "hit the wall" (tình trạng bị dồn ép vào chân tường). Lúc đó lực sĩ chỉ chạy bằng ý chí mà thôi – nếu không muốn bỏ cuộc (marathon nào cũng có ít nhất 25% ngươi bỏ cuộc).

Nhưng thật kỳ lạ, khi người chạy trông thấy băng vải ghi: "Finish/Arrivée" treo ngang đường với nhiều bong bóng đủ màu, nghe tiếng nhạc hùng trổi lên chào đón lực sĩ sắp đến mức kết thúc thì cơ thể lại nổi hang lên, cố gắng mang tấm thân đã kiệt sức vượt qua lằn sơn trắng, để được nghe tiếng hoan hô, vỗ tay, nhất là nghĩ sẽ được người đẹp nào đó len qua hàng rào người ôm và choàng mề đai vào cổ!

Chạy xong một cái marathon, chúng tôi tự bảo đây sẽ là lần chót, sẽ không bao giờ dại dột thêm lần nữa. Nhưng vài tháng sau, khi nhận được thư mời dự chạy marathon ở một thành phố khác vào năm tới, chúng tôi lại "hăng hái" ghi tên để tiếp tục chạy nữạ (Nên nhớ: trong một năm không được chạy quá HAI marathon.)

Ðến ngày hôm nay chúng tôi đã chạy gần 20 marathon ở khắp năm châu, lục địa. Nghĩ: "Ðiên thật"!

Bác sĩ Phạm Văn Hoàng

Mục Lục


VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________



1. Trang Nhà Sương Mai


Thân mời các bạn ghé thăm trang nhà của thi sĩ Sương Mai, một cây bút thường trực của Giao Muà tại:

http://www.trinhnu.net/Hoa/TocTien/suongmai/

Mục Lục




2. Nguyệt san VietHome

Giao Muà vừa nhận được Nguyệt san VietHome số tháng 3 do chị Ðỗ Mùi gửi tặng. Báo in mầu giấy láng từ trong ra ngoaì, baì vở nhiều tiết mục: khoa hoc, van học, nhiếp anh? y tế, gia chánh...... Người chủ trương là chị Ðỗ Mùi, một khuôn mặt quen thuộc trong lĩnh vực báo chí.

Ðiạ chỉ cuả toà báo:
VietHomeMagazine
1340 Tully Road # 301
San Jose, CA 95122
tel 408-971-6057
Email: VietHomeMagazine@cs.com.

Mục Lục




3. Câu Chuyện Thơ Nhạc

Mời các bạn nghe Câu Chuyện Thơ Nhạc do chị Bích Huyền thực hiện :

Ðóa Mộng Ðầu
Nghe thơ : Lưu Trọng Lư
Nghe nhạc : Phạm Duy ,Y Vân

Chị Bích Huyền biên soạn với bài viết của Ðặng Tiến .
http://saigonline.com/mdv/BichHuyen/LuuTrongLu.wma
Chị Bích Huyền cũng xin cảm ơn tất cả sự cộng tác quí báu của QUÍ VĂN THI NHẠC SĨ với C/C Thơ Nhạc

Thân
Mai Ðức Vinh

Mục Lục


VII. Nhạc : 1. Tháng Tư Buồn

Mục Lục


VIII . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : CC, Cát Biển, Châu Thái Lê, Chu Kỳ Thư, DHH, Ðỗ Thành, Hà Nguyên Du, Hương Kiều Loan, l.t. quỳnh hương, Nam Phong, Nguyên Khoa, Nguyễn Quốc, Nguyễn Thị Vinh, nttn, Nguyệt Trinh, Nguyễn Hữu Viện, BS Nguyễn Khắc Ðoan, BS Phạm Văn Hoàng, Ngô Thy Vân, Ngọc An, NDTrọng & Thanh Ðan, Nguyệt Ca, Nhược Thu, NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Sông Cửu, Sương Mai, Tâm Thư, TH, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần thị Hà Thân, Trần Nhất Lang, Trần Công Nhung, Trần Hoan Trinh, Trần Kiêu Bạc, Uyên Thi, Việt Dương Nhân, Việt Hải, Vũ Thị Thiên Thư, Xuân Phương / Hoàng Mai Phi đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 24 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua2002@aol.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua2002@aol.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: TrungKy@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà