Số 34
Ngày 1 tháng 2 năm 2005
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Bạn mến,
Mới đó mà đã tháng Chạp. Mới đó mà một năm nữa lại sắp trôi qua. Những tờ lịch cuối monh manh rơi theo ngày, như ngàn tuyết sương đang tơi tả rụng cùng mùa rồi lụn tàn theo giòng thời gian sinh chuyển.
Cuối năm – ngày cạn – nắng tàn
Một mình nghe nặng thời gian gọi hồn (Bùi Ngọc Tuấn)
Ở đây, giữa buổi chiều tuyết giá phong kín tà huy, dù chút hiu hắt nắng tàn cũng chỉ có trong kỷ niệm. Ngày ra đi theo hoàng hôn rồi trở về với bình minh. Năm tàn theo mùa đông rồi xanh tươi rộ mới với lộc xuân đầu rộn rã tháng Giêng ngoan. Còn ta? Còn lại gì cho ta vào những năm tháng cuối đời? Phải chăng tuổi thanh xuân một thời đã như giòng nước xuôi chảy ra đại dương không bao giờ trở lại ?
Thả vị nhất nhật hoan
Ủy thử cùng niên bi
Vật sai cựu tuế biệt
Hành dữ tân niên từ
Khứ khứ vật hồi cố
Hoàn quân lão dữ suy (Tô Ðông Pha).
Hay là ta bắt chước người xưa?
Cứ vui cho hết một ngày.
Ðể bù trọn một năm đầy héo hon...
Hảy giã từ ngày tháng cũ, hảy để thời gian chào nhau cho năm cũ biền biệt mà trôi mang theo tất cả tuổi đời suy vi hao huyễn. Hảy qua đi năm cũ muộn phiền.
Qua đi cuộc chiến tranh, chết chóc điêu linh , vì con người cuồng điên nhân danh thượng đế. Xin phẳng lặng lại mặt đại dương phẫn nộ để con người được bình tâm trầm mình rũ sạch u mê vào những mùa trăng. Xin tương lai con cháu rực rỡ như mai đào trong nắng xuân tươi. Xin được chút bình yên cho ta. Ðược thong dong trở lại chốn quê nhà mướt xanh khung trời kỷ niệm dù chỉ bằng đôi cánh suy tưởng hoang mang từng đêm mộng.
Và như thế, xin hảy trang trọng chào nhau, cùng đón mùa Xuân đang đến. Từ bất cứ góc trời lưu xứ nào trên mặt đất này, hình ảnh bàn thờ tổ tiên khói hương nghi ngút buổi chiều ba mươi tết hay ánh lữa nồi bánh chưng bập bùng đêm giao thừa của Ngày-Tết-Quê-Nhà vẫn mãi không nguôi trong lòng mỗi chúng ta. Ánh lữa của Hi Vọng một mùa Xuân Mới sẽ đến trên Quê Hương.
Mến chúc quí bạn đọc và thân quyến một năm Ất Dậu an vui, dồi dào sức khỏe, và vạn sự cát tường. Hẹn gặp quí bạn đọc số Giao Mùa tháng 3, 2005.
Phan Thái Yên
BBT Nguyệt San Giao Mùa
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Xuân Sớm | ______Phạm Văn Tiên | |
| 2. Biển Vọng | ______Trần Hoan Trinh | |
| 3. Người Anh Sân Trường | ______Tôn Thất Phú Sĩ | |
| 4. Bụi Hồng | ______Châu Thái Lê | |
| 5. Hương Xuân | ______Trần Hoan Trinh | |
| 6. Ngụm rượu đầu năm | ______Nngương | |
| 7. Xuân Vọng | ______Ðổ Phủ/TyNa | |
| 8. Vẫn Chỉ Là Mơ | ______Thy Lan Thảo | |
| 9. Nắng Có Còn | ______Vành Khuyên | |
| 10. Ðiểm Trang | ______ Thanh Thanh | |
| 11. Vào Xuân | ______Nguyễn hải Bình | |
| 12. Có Phải Em Là Con Gái Bắc | ______Chu Kỳ Thư | |
| 13. Nhớ Mẹ | ______Bích Hà | |
| 14. Quay Lối Về Thăm Phố Biển Qui Nhơn | ______Phan tưởng Niệm | |
| 15. Chớm Xuân | ______Sông Cửu | |
| 16. Buồn Chia Tay Tháng Chạp | ______ Trần Kiêu Bạc | |
| 17. Tình Ta Như Sông | ______Mạc Phương Ðình |
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Việt Kiều Về Quê _______ Hoa Bằng Lăng |
| 2. Thư Tình Muà Dông ___________ Hoàng Yến | 3.Sợi Dây Chuyền Kim Cương ___________ Trần Viết Minh Thanh chuyển ngữ |
| 4.Cây đa bến cũ (kỳ 10) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Triết Lý Củ Khoai ___________ Tôn Thất Phú Sĩ |
| 6.Cô Ðơn ___________ Vành Khuyên |
| 7.Lò Luyện Thép ___________ Vũ Thị Thiên Thư |
| 8.Chuyện Trong Nhà ___________ Ðỗ Thành |
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 25)________________________________________________________________
| 1. Ngục Ca _______________________________ NS Phạm Duy |
IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
V. Nghiên Cứu________________________________________________________________
| 1. Câu Ðối Tết _______ Sông Cửu |
| 2. Không Nên Lạm Dụng KHÁNG SINH _______ Bác sĩ Nguyễn Văn Ðích |
VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Trang nhà Huỳnh Tiểu Hương _______ Giao Muà |
VII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Hoa Bằng Lăng
Hoa Bằng Lăng Hoàng Yến
Hoàng Yến
Trần Viết Minh Thanh chuyển ngữ Thanh Sơn
Thanh Sơn
Tôn Thất Phú Sĩ Tôn Thất Phú Sĩ Vành Khuyên
Vành Khuyên
Vũ Thị Thiên Thư
Vũ Thị Thiên Thư
Ðỗ Thành
Ðỗ Thành
III . Ngàn Lời Ca (kỳ 25)__________________________________________ Nhạc Sĩ Phạm Duy
Phạm Duy
IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
DHH V . Nghiên
Cứu_____________________________________________
Sông Cửu
Sông Cửu. 2. Không Nên Lạm Dụng KHÁNG SINH Bác sĩ Nguyễn Văn Ðích
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðích VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. website www.huynhtieuhuong.org
VII . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Chị tôi xa Sài Gòn đã lâu .Mấy tháng trước chị phone về nhà tâm sự ? Chị nhớ Việt nam quá nhưng tụi nhỏ không ai lo không thể về được em ơi ? .Tôi nói nhớ thì phải về , không về sẽ stress thôi .Chị nói chị sẽ ráng thu xếp .Tháng sau chị lại phone về nói chắc chị phải ráng về em à , chị nhớ quá chịu hết nỗi .Tôi hỏi " Chị đã book vé chưa , ra book vé là về được à ..đừng ngồi mà nhớ nữa " .
Tháng sau , chị về nước !
Lạ quá , sau mấy chục năm xa cách , chị vẫn thế . Cái vai gầy guộc , dáng người vẫn nhỏ nhắn . Chỉ có khuôn mặt già đi qua bao tháng năm thăng trầm của cuộc đời . Cô thiếu nữ má hây hây hồng ,mái tóc đen óng ả mượt mà - một thời con gái ngày xưa của chị - đang đi bên cạnh vòng tay kêu " con chào dì " .Ôi chao ui , cái con bé ngày nào mình còn ẵm trên tay mà lớn thế này rồi sao - tôi chợt thốt lên .Thời gian đã qua đi - hình như hơn 10 năm .....
Ðêm đầu tiên , 2 chị em ngồi soạn hai cái vali đầy ắp , lỉnh kỉnh chocolet - kẹo - xà bông - dầu gội - nước hoa , kem đánh răng ... Tôi nhìn chị và đống hàng tạp hóa , buột miệng hỏi "Chị làm gì mà mua nhiều thứ thế" . Chị ngây ngô trả lời " mình đi lâu về phải có quà cho tất cả bà con chứ ".Thế à , tôi ậm ừ nhìn chị . Việt kiều lần đầu tiên về quê hình như ai cũng thế .Ai cũng xốn xang chuẩn bị quà cáp cho từng bà cô , ông chú ...đến ngay cả những đúa trẻ hàng xóm cũng có những gói kẹo xinh xinh . Có lẽ Sài gòn ngày xưa những thứ ấy không nhiều . Có lẽ Sài gòn ngày xưa lũ con nít nhìn cây chocolet , miệng mút chùn chụt ..ừ mà Sài gòn ngày nay cũng thế thôi - lũ con nít có bao giờ biết hết thèm kẹo không nhỉ ? ?.
Tôi hỏi chị mua tất cả những thứ này thì đi shopping mấy ngày , chị cười kêu cả tháng trời đó em.Trời đất ! Ngày mai tôi chở chị đi về quê , lũ con nít òa ra kêu Việt kiều kìa , VK kìa .Chị - nét mặt rạng rỡ - cười hể hả phát kẹo cho từng đứa trẻ. Tụi nó bỏ ngay viên kẹo hồng vào miệng , u chu choa ngon quá tụi bây ơi , lại xòe tay xin tiếp - tỉnh rụi , đúng theo kiểu trẻ thơ ! Chị lại phát tiếp cho lũ nhỏ , tôi nói ..còn nhiều bà con lắm đó chị, chị cười kệ cứ cho chúng nó ăn cho đã ."Việt kiều lần đầu về nước có khác " tôi lại buột miệng nói ....
Ðến nhà các bà cô , ông chú , chị nâng niu từng món quà trao cho từng người - lại rút thêm tờ 50USD trao cho mỗi gia đình .Ai ai cũng cười hể hả , nói cười hỏi thăm công ăn việc làm gia đình của chị , thiệt là rôm rả ! Tôi thiệt mừng vì chị đã tìm được nụ cười thật sự - vô tình đánh mất trong mấy chục năm qua . Mừng là chị đã về được Sài gòn cho quên đi cái nhớ VN ngày nào cũng dằn xé tâm can chị .
Chúng tôi đưa chị đi chơi Vũng Tàu . Chị đòi trả tiền tour nhưng gia đình tôi không bằng lòng .Tôi không muốn chị là Việt kiều trong gia đình tôi .Tôi biết chị kiếm từng đồng tiền cực khổ như thế nào ở xứ người .Cái cực , cái cô đơn đã làm héo quắt con tim chị mỗi khi chị nghĩ về gia đình ở Việt Nam ?.
Tháng sau chị về nước !
Ðan Mạch lạnh quá .Nhớ SG quá em ơi .Chị lại phone về .Tôi hỏi tình hình ở bên sao rồi, về VN hết tiền rồi phải không ? Chị cười kêu hết thiệt rồi , đang ráng cày ?hùng hục? để sớm có nhiều tiền về thăm quê tiếp ..chứ qua đây ngồi nhớ Sài gòn khóc miết thôi em à . Sài gòn sao ? mấy cậu dì vẫn khỏe chứ ? ? Thương chị quá !
Chị sắp về đó em à? Tôi nhận được phone chị báo như thế . Ừ về thì về , tôi chỉ nói vậy. Mấy tuần sau , mẹ tôi báo chị đã về SG được mấy hôm rồi . Lần này chẳng thấy chị đi thăm hỏi hay đem quà nhiều như lần trước . Ít đi thăm bà con bạn bè nhiều như lần trước?
Tôi chợt buồn tênh .Tôi - kẻ luôn đưa rước bạn bè các nước về Sài gòn ? sao cứ mang canh cánh trong lòng một nỗi buồn . Phải chăng cái tình chỉ dâng đầy khi nó thật sự thiếu vắng ! Lần đầu tiên trở về - khoảng khắc được chờ mong , khắc khoải , tưởng tượng trong suốt bao nhiêu đêm chưa lên máy bay . Òa vỡ , tung hê khi tới phi trường ! Thổn thức nức nở khi gặp lại cha , mẹ , anh chị em sau những năm tháng xa cách .Thiêng liêng làm sao những giây phút đó ! Và ở Việt nam , Mẹ hiền vẫn luôn ngóng mong con trở về. Vẫn nức nở - thổn thức tại phi trường như mọi khi . Chỉ có có hay chăng những giây phút thăng hoa thiêng liêng đó trong tâm khảm của những đứa con trở về sau những ngày tháng xa quê ?!
Anh Vân Hoàng,
Mới 3h PM bên anh thôi mà không gian Virginia đã ngập tràn
bóng tốị Không còn nhìn thấy những cây phong trụi lá trơ
cành dưới bầu trời xám xịt nữạ Không thể nhìn thấy
sân nhà ai ngập xác lá vàng khô chưa quét kịp hôm naỵ Nàng
thu với sắc đẹp úa tàn đã vội vã đi quạ Ðông đến.
Lòng nghe sao mà buồn ảm đạm.
Anh ơi,
Sau một ngày làm việc mệt nhọc ,trở về nhà chỉ mình
với mìnhthôi anh có buồn không? Em vẫn cứ thích hoài câu
thơ nầy:
Dù cho trời rét mấy bên song,
Cũng chẳng bằng khi rét tận lòng.
Em tưởng tượng nhé. Anh vừa về đến nhà. Nấu vội
chút cơm.Ði tắm. Nằm dài ra cho cả người thư giãn. Ăn
uống xong. Ðọc báọ Check mail. Layout tiếp phần tuần báo
của HộịNgồi mơ màng
chờ điện thoại bên Ðông. Ðúng không? Có thể vui hơn
mà mệt hơn là những lúc phải phóng vội xe đi sau khi nhận
phone của Bác Phùng , Bác Dũng , Bác Thông hay là Bác
HảịKhông "ghen " với " các cụ " đó đâụ Chỉ thấy ganh
một chút mà thôịKhông thấy " hoài nghi " đâụ Chỉ nghĩ
ngợi thôịNgười nữ nào mà không như vậy hả anh? Một
chút tình hồng của yêu thương.Một chút
sôi sục hờn ghen trong máu đỏ.Một chút màu xanh hy vọng
trông mong.Một chút vui tươi , êm đềm của mùa thu rực
vàng sắc lá.Anh ngắm đi anh. Ðó có phải là một tổng
thể mang màu sắc hài hoà của vũ trụ và trong cả tim
ngườị Ai nói mùa Ðông xám không đáng yêủCó phải vì
Ðông đến mang theo cái lạnh se sắt thịt dả Em thì cám ơn
mùa Ðông lắm. Chỉ có 90 ngày buốt giá đó. Chúng ta thấy
cần nhau và cần gần nhau biết mấỵ Người vợ hạnh phúc
nào đó đã nói lên kinh nghiệm quí báu trong cuộc sống
lứa đôi như vầy:
Ðêm nằm gối gấm không êm,
Gối lụa không mềm bằng gối tay anh.
Ðấy là một hình ảnh đẹp. Hình ảnh người vợ yếu
đuối nương tựa vào chồng với tất cả lòng yêu thương
và tin cậỵ Hay quá phải không anh? Chiều nay , trên đường
đi làm về lúc
trời nhá nhem tốị Em nhớ đến anh. Anh nói: Mới đây
mà đã gần 30 năm ,tính từ ngày mất nước. Cuộc sống
quê người không mấy thong dong.Tất cả đã muộn màng cho
ước mơ thay đổị Anh không thể nào trẻ lạị Mình cứ bị
quay cuồng giữa dòng đời nghiệt ngã đẩy xộ Không phải
bi quan như một nhà thơ nào đã viết:
Mệt mỏi quá .Mang nổi buồn trọn kiếp.
Chùng xác thân , tê liệt cả tinh thần,
Giọt năm tháng cứ lơi dần cuộc sống ,
Mà đau thương khuấy động mãi không ngừng.
Thôi đừng buồn nữa anh. Ðừng có nghe
người ta doạ "Sau cơn mưa trời lại
bão" rồi lọAnh sẽ hạnh phúc. Anh có tin như
thế không?Trong lúc lái xe em nhìn vào những căn nhà ở hai
bên đường. Người ta kết hoa đèn rực rở .Chuẩn bị
mừng kỷ niệm Cứu Chúa Giáng Sinh. Nhớ lại bức ảnh anh
trong phòng. Buồn quá.!Anh ngồi trầm tư ên ngọn nến cô
độc. Anh nói cô độc giống cuộc đời anh trong những năm
tháng quạ Bây giờ có em rồi anh không thấy vui saỏKhông
thấy hạnh phúc sao anh? Anh à, Mai nầy căn phòng đó không
còn cô độc nữạ Em thích mỗi chiều đi làm về . Sau khi
ăn uống nghỉ ngơị Mình ngồi yên lặng bên nhaụNhạc hoà
tấu mở ra thật nhỏ . Chừng như vọng ra từ trong
tường. Rất trữ tình phải không anh? Căn nhà mình không
phải chỉ sưởi ấm bởi lò sưởi mà còn nồng ấm bởi
tình yêụ Anh có
chịu vậy không?Chắc anh lại chau mày:
-" Thôi! Em làm như mình tuổi còn đôi mươi
ấy"
Anh đừng quên tình yêu không có tuổi. Khi tính ra năm
tháng là lúc tình yêu không còn hoặc có nguy cơ đổ vỡ
rồi đấỵTình yêu chỉ tính bằng nhịp tim thôi.
Anh Vân Hoàng,
Ðêm nay trời lạnh lắm. Không còn bao lâu nữa mình sẽ mãi
mãi ên nhaụDầu đói, dầu nọ Dầu đi đâu: ven gành hay
cuối bãị Nhất định em cũng theo anh.Trong căn phòng anh
không cô độc . Ra
đường mình sẽ sánh đôịVui quá hả anh? Chắc anh lại
cười: Em nói toàn chuyện trên mâỵ
Không đâụ Chuyện trên mây coi vậy mà thú vị. Khi bay qua
anh trong ngày lễ Thanks Giving.Thời tiết rất xấụ Lúc phi
cơ lên cao khỏi những đám mâỵÔ! Một quang cảnh thật là
tuyệt! Một cảm giác thật bình yên. Em nghĩ đến cuộc
đờị Nhiều lắm những đám mây của lo buồn, ốm đau,
hoạn nạn.Nếu mình cúi gậpngười xuống thì nó sẽ chất
chồng lên. Còn nếu mình sống vượt lên trên thì sẽ thấy
đời vẫn đẹp.Thế thôi anh! Hẹn nhau ngày vui ấỵ
Em rất yêu anh.
7/03
Trần Viết Minh Thanh chuyển ngữ
Guy de Maupassant
(1850-1893)
Cô là một thiếu nữ xinh đẹp, dáng dấp đài các, cao sang, nhưng trớ trêu thay định mệnh lại chọn cho cô vào một gia đình công chức tầm thường. Không của hồi môn, thì làm sao có duyên cơ gặp gỡ đàn ông giàu có, danh giá, để được tìm hiểu, yêu đương rồi đi tới hôn nhân? Thế nên cô chấp nhận về làm vợ của một anh lục sự “thường thường bậc trung” tại bộ thông tin.
Tài chánh không cho phép cô ăn diện, và cô lấy làm phiền lòng vô cùng, như thể mình từ một địa vị cao rơi xuống. Dung nhan diễm lệ, dáng dấp kiêu sa, chẳng là những yếu tố khắc phục thứ bậc, tầng lớp mà số phận đã an bài? Tài năng thiên phú, bản năng nhận thức, một đầu óc thích nghi có phải là đẳng cấp duy nhất? Cũng đúng đấy thôi, nhiều người đàn bà dân giả được sánh ngang hàng với những mệnh phụ danh giá nhờ nhan sắc, trí thông minh và phương cách giao tiếp của họ.
Thế nên cô nàng Mathilde nhà ta luôn buồn đời. Ðàn bà đẹp như cô sinh ra là để tận hưởng những cao sang, thanh lịch của cuộc đời. Cảnh nhà nghèo nàn làm cô tủi thân, tường trống không, bàn ghế xục xịch, màn cửa thô thiển. Những gì mà một người đàn bà cùng giai cấp như cô, chẳng mảy may bận lòng, là những mối ưu phiền cho cô . Hình ảnh người đàn bà nội trợ với công việc thường ngày làm cô chán nản, thất vọng, và Mathilde thay bằng những giấc mơ cao vời. Cô hình dung đến những căn phòng yên áng, tường phủ bằng thảm Ba Tư ấm cúng, cao sang, phản chiếu ánh sáng từ những cột trụ bằng đồng sáng loáng, lại có hai anh hầu quần ống chẽn ngủ gà ngủ gật trong ghế bành lớn vì hơi nóng của lò sưởi. Cô trông thấy những hành lang rộng thênh thang, trang hoàng bằng những giải lụa cổ, các kệ tủ xinh xắn tràn ngập vật dụng xinh đẹp, vô giá. Tiếp chuyện cùng các cô, các bà phải là những căn phòng khách thơm mùi nước hoa, và cũng là nơi mà những đàn ông danh giá, lịch thiệp lui tới, những đấng mày râu mà các cô, các bà nào cũng muốn gặp gỡ, và ao ước được họ lưu ý tới.
Tối tối, ngồi đối diện chồng tại bàn ăn, trải cùng tấm khăn từ ba ngày qua, cô dửng dưng nhìn anh, tay mở liểng, miệng thốt lên sung sướng: “À, món hầm tối nay coi ngon quá, anh nghĩ chẳng có điều gì hấp dẫn hơn.” Lúc ấy cô liên tưởng đến những bữa ăn thịnh soạn, với muỗng, nĩa bạc, tường phủ thảm thêu hình các nhân vật cổ xưa, hoặc những con chim kỳ thú trong ngôi rừng thần thoại, bàn ăn bày biện đủ các thức ngon vật lạ, dọn trên những bát dĩa tuyệt đẹp, thực khách chuyền tai nhau những lời hoa mỹ, và được đáp lại với nụ cười mỉm bí mật, tay gắp miếng cá tươi tắn, hồng hào, hay bỏ vào mồm cánh bồ câu dòn tan.
Áo dạ hội, nữ trang đắt tiền là những món mà cô yêu thích nhất, thế mà cô chẳng có lấy một thứ nào! Phụ nữ đẹp như mình sinh ra là để diện những thứ đó vào người cơ mà, cô nghĩ thế. Cô ước ao được người người chiều chuộng, ganh tị, được đàn ông tán tỉnh, khen thưởng. Cô có một chị bạn gái giàu có, quen thời cùng học nội trú, mà giờ cô chẳng còn muốn gặp nữa, vì mỗi bận ra về cô lại cảm thấy buồn. Có bận cô đã khóc mấy ngày liền vì chán nản, thất vọng.
Bỗng một chiều nọ, anh chồng về nhà, mặt mày rạng rỡ, tay cầm một phong bì lớn.
- Ðây, em nè, anh có cái này cho em
Trong phong bì là một thiệp mời với những giòng chữ:
“Bộ Trưởng bộ Thông Tin và bà Georges Ramponneau hân hạnh đón tiếp ông và bà Loisel tại dinh bộ trưởng tối thứ hai ngày 18 tháng Giêng.”
Lẽ ra phải vui mừng, như chồng mong mỏi, cô lại vứt tấm thiếp lên bàn và bảo:
- Anh muốn tôi làm gì với tấm thiếp này chứ?
- Cưng, anh lại tưởng em sẽ vui chứ! Em chẳng bao giờ đi ra ngoài, và đây là một cơ hội em ạ. Anh phải mất nhiều công lao mới được thiệp mời. Ai cũng muốn đi dự buổi tiệc này; họ chọn lựa kỹ lắm, không phải ai cũng có được đâu. Tất cả những ông bà lớn đều có mặt hôm ấy.
Cô nhìn anh với cái nhìn khó chịu, vội cướp lời:
- Vậy thì anh tính em sẽ bận cái gì chứ?
Anh không nghĩ đến điều này. Anh lắp bắp:
- Thì cái áo em hay bận đi coi kịch với anh đó. Áo ấy trông được lắm!
Anh ngưng ngang, chưng hửng, bối rối vì thấy cô vợ đang khóc. Hai giòng nước mắt lặng lẽ rơi từ khoé mắt xuống bờ môi xinh đẹp. Anh lúng túng:
- Gì thế, em sao thế ?
Cố gắng dằn niềm đau khổ, cô trả lời bằng một giọng bình tĩnh sau khi đưa tay lau hai gò má ướt:
- Chẳng có gì cả. Em chẳng có áo đẹp, vì thế em không thể đi dự buổi dạ tiệc được. Anh hãy đưa tấm thiệp mời này cho bạn đồng nghiệp nào ở bộ, mà cô vợ có đủ quần áo hơn em.
Lúng túng, anh vớt vát:
- Nào, nào, Mathilde. Xem nào, một cái áo đẹp, để đi dạ hội, mà em có thể xài vào những dịp khác, một cái áo thường thôi, tốn khoảng bao nhiêu tiền?
Nghĩ ngợi một đôi giây, trong đầu làm vội những con tính, một con số khã dĩ không bị từ chối ngay hay gặp phải phản ứng thảng thốt từ anh chàng lục sự cần kiệm này. Cuối cùng, cô trả lời, giọng ngập ngừng:
- Em cũng không biết rõ, nhưng em nghĩ một cái áo đẹp chắc khoảng bốn trăm francs.
Mặt anh hơi tái đi, vì anh đã để dành đúng khoảng tiền như thế để mua một khẩu súng săn, dự định cùng đám bạn đi bắn chim chiền chiện tại đồng bằng Nanterre trong vụ hè tới.
Thế nhưng anh nói:
- Cũng được. Anh sẽ cho em bốn trăm francs. Mà em ráng mua một cái áo đẹp nhen!
Ngày dạ tiệc đến gần kề mà mặt bà Loisel trông vẫn có nét buồn, lo lắng. Áo nàng thì đã may xong. Nhận thấy điều này, một tối anh hỏi:
- Có điều gì không? Ba ngày nay sao anh thấy em có vẽ lạ, không được vui?
Nàng trả lời chồng:
- Phiền một nỗi là em chẳng có một bộ nữ trang nào cả, chẳng có lấy một viên đá để mang lên người. Coi nghèo nàn làm sao! Chẳng thà đừng đi cho rồi!
- Em có thể cài hoa lên tóc, anh chồng đề nghị. Vào mùa này mà cài hoa thì sang lắm em ạ. Thêm mười francs thôi em có thể mua hai, ba hoa hồng thật đẹp!
Lời anh nói không thuyết phục được cô:
- Không, không được. Chẳng có điều gì nhục nhã bằng mình trông nghèo nàn bên cạnh những người đàn bà giàu sang.
- Ồ, sao em dốt thế! Anh chồng bỗng kêu lên: “Em có bà bạn giàu lắm mà, chị Forestier, sao em không mượn nữ trang của chị ấy. Hình như em thân với chị ấy lắm để có thể tới mượn nữ trang được!“
Cô reo lên, mừng rỡ:
- Ðúng thế, sao em lại chẳng nghĩ ra.
Ngày hôm sau, cô tới gặp bạn, tâm sự với bạn vấn đề của mình. Bà Forestier tới tủ áo có kiếng, lấy ra một hộp nữ trang lớn, trao cho bà Loisel và nói:
- Chị cứ lựa bất cứ món gì chị thích.
Thoạt tiên cô thấy mấy vòng đeo tay, rồi sợi dây chuyền ngọc trai, tiếp đến dây thánh giá lớn cổ xưa, chạm trổ rất khéo léo với những viên ngọc quý. Cô thử lên thử tới trước gương, ngập ngừng, không thể rời chúng ra, mà cũng chẳng quyết định chọn món nào, và cái nào thì đưa trả lại cho bạn. Cô hỏi:
- Chị có món nào nữa không?
- Có chứ. Chị cứ chọn tiếp đi. Mình chẳng biết chị thích cái nào.
Bỗng cô nhìn thấy một hộp bọc xa-tanh đen, trông có một sợi dây chuyền nhận toàn kim cương tuyệt đẹp, tim cô thắt lại trong niềm ham muốn. Cô cầm sợi dây lên mà tay run run. Cô choàng nó vào cổ cao. Ngắm mình trong gương cô chìm trong nỗi sung sướng với hình ảnh tuyệt mỹ của chính mình.
Rồi cô hỏi, giọng hoài nghi:
- Chị có thể cho em mượn chuỗi kim cương này được không?
- Ðược chứ, chị cầm lấy đi!
Cô ôm chầm lấy bạn, hôn lên má bạn như lời cảm ơn chân tình nhất, rồi vội vàng ra về với kho tàng nhỏ trong tay.
Ngày dạ tiệc, bà Loisel thành công rực rỡ. Nàng đẹp hơn hết trong đám phụ nữ, nàng thật kiêu sa, vương giả, cười tươi tắn, dòn tan trong niềm sung sướng. Tất cả những người đàn ông có mặt chiêm ngưỡng nàng, hỏi tên nàng, tìm đến tự giới thiệu. Tất cả những nhân vật lớn trong bộ muốn cùng nàng khiêu vũ. Ngay cả ông bộ trưởng cũng chú ý đến nàng. Nàng khiêu vũ trong mê cuồng, ngất ngây vì vui sướng, đắm chìm trong niềm hãnh diện bởi nhan sắc của mình, nàng như lên chín tầng mây với những lời ngưỡng mộ. Những khát khao từ bấy lâu nay đã được vuốt ve! Thật là một chiến thắng toàn hảo, tuyệt vời, thoả mãn trái tim người đàn bà.
Cô ra về vào khoảng bốn giờ sáng. Chồng cô đã ngủ được một giấc vào lúc nửa đêm trong một căn phòng bỏ trống với ba người đàn ông khác mà các bà vợ cũng đang rất vui với buổi dạ tiệc. Anh khoác lên vai nàng tấm khăn choàng ngoài, tấm khăn tầm thường của một đời sống bình dị, sự nghèo nàn của nó thật trái biệt với cái áo dạ hội sang trọng, đắt tiền. Cô cảm nhận điều đó và muốn thoát khỏi nó, tránh những cặp mắt so sánh của những người đàn bà khác đang được khoác trên vai những tấm khăn choàng bằng da thú sang trọng.
Anh chồng giữ cô lại, bảo:
- Ðợi tí đã nào. Coi chừng bị cảm vì ở ngoài lạnh lắm. Ðợi anh gọi xe về.
Nhưng cô không nghe anh, vội vàng bước xuống cầu thang. Khi họ xuống tới đường cái, thì không còn chiếc xe nào cả. Họ lục loại, tìm kiếm, la lớn vào những chiếc chạy từ tuốt xa trong đêm vắng. Họ đi qua dòng sông Seine, người run lập cập vì lạnh. Cuối cùng trên bến họ tìm được một chiếc xe taxi cổ, cũ kỹ, chỉ thấy ở Paris lúc trời đã tối, như thể chúng cũng biết xấu hổ, không dám chạy vào ban ngày.
Chiếc xe chở họ tới tận cửa, đường Martyrs, và họ mệt nhọc leo vào nhà. Tàn một cuộc vui, cho nàng. Còn anh thì nghĩ, ngày mai lại phải vào bộ lúc Mười giờ.
Nàng dở áo choàng ra, nhìn vào gương để ngắm mình lần nữa trong huy hoàng. Bỗng nhiên cô thảng thốt buông ra một tiếng kêu. Cô không có chuỗi kim cương trên cổ!
Anh chồng, đã thay gần hết quần áo hỏi:
- Gì thế ?
Cô quay lại chồng, la thất thanh:
- Em ... em không có sợi dây chuyền của chị Forestier nữa!
Anh đứng bật dậy, sửng sốt:
- Làm thế nào, làm sao xảy ra được?
Cả hai lục loại trên các lớp áo của cô, áo khoác ngoài, áo dạ hội, các túi áo, họ tìm kiếm mọi nơi, nhưng vẫn không kiếm ra.
- Em có chắc là em còn đeo nó khi rời khỏi tiệc không? Anh chồng hỏi.
- Có, chắc mà, em có sờ vào nó lúc còn ở dinh ông bộ trưởng mà.
- Nếu em làm rơi nó trên đường, thì chúng mình đã nghe tiếng nó rơi trên hè rồi. Có lẽ nó rơi trong xe.
- Có lẽ thế, anh có lấy số xe không?
- Không, thế em có nhìn số xe không?
- Không.
Hai người nhìn nhau, thảng thốt. Rồi cuối cùng Loisel bận quần áo vào và nói:
- Thôi tôi phải đi lại khoảng đường mình đi bộ, xem có thể kiếm ra nó không.
Anh đi ra ngoài. Cô ngồi chờ trên ghế trong chiếc áo dạ hội, không còn sức mà leo lên giường, đầu óc chán nản, hết cả năng sức, không một ý nghĩ.
Anh chồng trở về lúc bảy giờ sáng, anh không kiếm được sợi dây chuyền.
Anh tới sở cảnh sát, tới nhà báo đăng rao vặt, hứa một món tiền thưởng, anh đến công ty xe taxi, thật ra anh tới đó trong niềm hy vọng cuối cùng.
Cô chờ anh cả ngày, trong tình trạng lo lắng kinh hoàng, trước một thảm trạng khủng khiếp.
Trời tối mịt, Loisel mới về đến nhà mặt tái xanh, hóc hác. Anh chẳng kiếm ra gì cả.
“Em phải viết cho bạn em”, anh nói: “Bảo em làm sức cái móc của sợi dây, và đang đợi tiệm sửa, để chúng ta có thì giờ kiếm cách trả lại sợi dâỵ”
Cô lấy giấy bút ra ghi lại những dòng anh đọc cho cô.
Cuối tuần thì họ hết hy vọng. Loisel, nay trông già thêm năm tuổi bảo:
-Giờ thì chúng ta phải tìm cách thay thế sợi dây khác rồi.
Ngày hôm sau họ đem các hộp đựng sợi dây tới tiệm kim hoàng có tên khắc trên hộp. Ông chủ tiệm lục loại giấy tờ và nói:
- Thưa bà, tôi không bán sợi dây, tôi chỉ bán cái hộp thôi.
Họ đi từ tiệm kim hoàng này sang tiệm khác để kiếm một sợi dây chuyền tương tợ, cố nhớ hình dáng nó, mà lòng cả hai kinh hoàng, thảm não. Cuối cùng, trong tiệm kim hoàng khu Hoàng Cung, có một sợi dây, một chuỗi kim cương, trông giống in như sợi dây họ đã đánh mất. Sợi dây chuyền để giá là bốn mươi ngàn francs, và người ta bớt xuống với giá ba mươi sáu ngàn francs. Hai vợ chồng năn nỉ chủ tiệm xin đợi cho ba ngày, đừng bán cho bất cứ ai. Họ cũng giao điều kiện với chủ tiệm phải mua lại sợi dây với giá ba mươi bốn ngàn francs nếu trong trường hợp họ kiếm ra được sợi dây chuyền đánh mất trước thời định là cuối tháng hai.
Loisel có mười tám ngàn francs, gia tài nhỏ ông bố để lại. Anh phải đi mượn số tiền còn lại. Anh mượn một ngàn đây, năm trăm đó, năm chục người nọ, ba francs người kia. Anh ký giấy nợ, sẵn sàng nhận làm những việc tầm thường nhất, mặc cả với các tay vay lãi, với tất cả mọi loại người trong giới cho vay chợ đen. Anh bằng lòng thoả hiệp suốt đời mình, ký giấy nợ mà chẳng biết mình có trả được không, trong nỗi lo lắng viễn tượng tương lai đen tối, khổ cực, những thiếu thốn về vật chất và những dày vò về tình thần mà anh sẽ phải chịu đựng. Trong trạng thái như thế anh đến tiệm kim hoàng, đặt trên quầy ba mươi sáu ngàn francs và lấy về sợi dây chuyền mới.
Ngày bà Loisel đem sợi dây chuyền trả cho bà Forestier, bị bạn ban cho một câu lạnh nhạt:
- Ðáng nhẽ chị phải trả tôi sớm hơn, tôi có thể cần nó để đi dạ hội đấy!
Bà bạn không mở hộp ra, như cô đã lo lắng mãi. Nếu chị ta nhận thấy đó là một sợi dây chuyền khác, thì chị ta nghĩ thế nào về mình đây, chị sẽ nói sao? Chị ấy có nghĩ mình là kẻ cắp không chứ.
Từ đó bà Loisel biết thế nào cuộc đời của khổ cực, lao động. Không ngờ nàng đã can đảm gánh vác bổn phận của mình. Món nợ kinh khủng đó phải được trả và nàng phải dự phần trả món nợ đó. Họ cho con sen nghỉ làm. Họ đổi chỗ ở, đi thuê một nơi tồi tàn hơn trước.
Giờ đây cô làm những công việc nội trợ nặng nhọc nhất, những việc khó khăn nhất của nhà bếp. Cô rửa chén, cào nhọ nồi, soong chảo mỡ mật bằng đôi bàn tay hồng hào của mình. Cô giặt quần áo, ra giường, khăn bàn bẩn, rồi đem phơi chúng trên giây. Trên con dốc sáng sáng, chiều chiều cô gánh nước lên, nếu cần dừng lại bậc tâng cấp thở. Cô ăn bận như dân lao động, tay cầm giỏ, tới từng quầy rau, hàng tạp hoá, hàng thịt, mặc cả từng xu một, bảo vệ đồng bạc khốn khổ của mình.
Mỗi tháng món nợ này phải được trả, lại gia hạn món nợ khác, mua thêm thời gian. Anh chồng làm thêm ban đêm cho các hàng quán, vào tối khuya có khi anh còn chép các bản thảo, mỗi năm xu một bản.
Và cuộc sống như thế kéo dài mười năm.
Tới cuối năm thứ mười, họ đã trả hết, tất cả, với thuế cắt cổ của các tên chủ nợ, và những tiền lời chồng chất lên nhau.
Bà Loisel giờ đây trông già đi. Bà đã biến thành một người đàn bà mạnh mẽ, thô thiển và cứng rắn, một người đàn bà của giới lao động. Tóc rối, váy nhầu, tay đỏ, bà ăn nói ồn ào, thảy từng mảnh nước lớn, cong lưng chùi nhà. Thế nhưng, thỉnh thoảng khi ông chồng đang ở sở làm, bà ngồi tựa nơi cửa sổ và nghĩ đến buổi dạ tiệc huy hoàng đã lâu rồi, buổi khiêu vũ mà bà thật đẹp và được mọi người chiêm ngưỡng.
Nếu đêm đó bà không đánh mất sợi dây chuyền, thì việc gì xảy ra? Nào ai biết được? Nào ai biết được? Ðời thay đổi lạ lùng quá đổi. Không ngờ chỉ cần một việc nhỏ thôi đủ làm cho ta lạc lối hay có thể cứu ta.
Một ngày chủ nhật, bà đi dạo trong vườn Champs Elysée, cho bõ một tuần lao động khổ cực, bà bỗng nhận ra một người đàn bà tay dẫn một đứa bé. Chính là bà Forestier ngày nào, bây giờ vẫn đẹp, vẫn đài các. Bà Loisel cảm thấy xúc động. Mình có nên tới nói chuyện với chị ta không. Chắc hẳn rồi chứ . Giờ đây bà đã trả hết món nợ. Bà sẽ cho bạn biết. Tại sao không?
Bà đến gần bạn.
-Chào chị Jeanne .
Người bạn, chẳng nhận ra bà chút nào, ngạc nhiên thấy trước mình một người đàn bà xa lạ, gọi mình như quen thân lắm. Bà lúng túng:
- Thưa bà, chắc bà lầm, tôi không quen bà.
- Không, chị không lầm. Tôi là Mathilde Loisel đây.
Người bạn buông ra một tiếng kêu thảng thốt:
- Trời ... chị Mathilde, làm sao chị thay đổi dữ vây!
- Ðúng vậy chị ạ, sau lần cuối em gặp chị, đời em thay đổi qua cảnh nghèo khó, mà chị biết không, cũng tại chị đó!
- Ủa, sao có mình trong đó?
- Chị có nhớ sợi dây chuyền kim cường chị cho em mượn đi dự dạ hội ông bộ trưởng không?
- Có chứ!
- Em đánh mất nó.
- Chị nói sao, chị có đem trả mình mà!
- Em đem trả chị sợi dây chuyền giống in sợi chị cho mượn. Thế nên phải mất mười năm vợ chồng em mới trả hết các món nợ. Với chúng em điều này không phải dễ, vì thực sự gia tài chúng em chả có là bao. Nhưng cuối cùng thì chúng em cũng thanh toán được hết món nợ ... Em rất mừng đã hết nợ nần!
Bà Forestier khựng lại:
-Chị nói sao, chị đã mua một sợi dây chuyền kim cương để thế sợi dây của mình à?
- Ðúng thế, chị không hề nhận ra à, hai sợi dây giống nhau lắm.
Bà mỉm miệng cười, một nụ cười hãnh diện mà ngây ngô.
Bà Forestier, xúc động khôn xiết, đưa tay cầm lấy tay bạn:
- Tội cho bạn tôi quá, chị Mathilde ơi, sợi dây của mình là sợi giả mà, chỉ đáng giá khoảng năm trăm francs là cùng.
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Ca dao Việt Nam
Ðang mải miết vừa đi vừa nghĩ, chợt nghe những tiếng súng nổ dòn. Giữa bóng đêm, những tia lửa lao vút vào khung trời tối thẫm, như những vạch tên xoắn xuýt xua đuổi nhau. Mơ sợ đến co người lại, cho tới đêm nay mà chinh chiến vẫn không ngưng. Mơ sợ giặc bên sông sẽ tràn sang phía này, rồi nạn tai nào sẽ xảy đến. Mơ hốt hoảng, nửa muốn đi tiếp, nửa dùng dằng muốn quay về.
Thế nhưng đạn bắn nhiều và liên tục song chẳng có vẻ gì là đánh nhau cả. Bên đồn vẫn trong tình trạng lắng im, trái lại còn như có tiếng ca hát ồm ồm ở đó. Từ khi giặc về đóng đồn vẫn xảy ra những điều tương tự như vậy. Lễ lạc nào họ cũng bày trò ăn nhậu, gây náo nhiệt khắp vùng. Họ ăn uống xong là thi nhau đem súng ra bắn. Những viên đạn không nhằm vào ai, hoàn toàn bay vu vơ trong nền không gian yên tĩnh, tuy nhiên tiếng rít của chúng vẫn khiến cho cư dân hai bên bờ con sông khiếp sợ điếng hồn.
Có lẽ những người lính xa nhà đêm nay cảm thấy tận cùng sự lẻ loi, cô độc. Hình ảnh một làng quê, thành phố nào đó nơi họ đã sinh sống đang có những gia đình, những bà mẹ, những người vợ, những đứa con, bè bạn, anh chị em lo toan, chờ ngóng ngày họ về. Chiến tranh là chuyện của giới cầm quyền đa đoan gây ra, song mấy ông bà ấy nào ai đích thân vào nơi hòn tên mũi đạn, mà chỉ biết quăng ra hết lớp trẻ trai này đến lớp trẻ trai khác lăn vào chốn tử sinh. Ngày ngày phải đối đầu với hiểm nguy, cái chết trong gang tấc, cho nên nhiều khi họ hoá khùng.
Những chiều hành quân, họ vung vít nỗi lo sợ của họ vào thôn làng, đồng ruộng. Họ bắn vào bất cứ nơi nào, vật gì, dù là mục tiêu thật sự hay giả tạo, để thị uy cũng có mà để trấn áp sự chết đang lảng vảng đâu đây chờ đón họ. Cho nên gặp bất cứ ai, già trẻ lớn bé, họ đều nghi là đối thủ của họ. Oan ưng chưa cần biết, họ cứ trói nghiến lại đã, triệt tiêu bớt một mục tiêu có thể là địch thủ của mình.
Chiến tranh là bạo tàn, vô lương, bất nhẫn như thế. Nhân vị con người không bằng một con ngoé, trói xỏ sâu và lôi sềnh sệch đi. Ðem về đồn họ truy xét để tìm ra tung tích đối phương. Nhưng người dân chân chất nào biết đâu huyệt sào của bên kia mà chỉ cho họ để rồi cứ bị tra khảo bằng cách này hay cách khác. Khiến cho người quanh đồn chẳng mấy hôm không phải nghe những tiếng kêu la. Thương nhau chỉ biết âm thầm cùng nhau chia xẻ, vì biết có kêu oan cũng chẳng giúp được cho nhau.
Những người lính xa xứ tìm lãng quên trong bát rượu tiếng cười. Họ ăn uống nhồm nhoàm, phí phạm. Rượu đổ tràn lênh láng khắp nơi, lên đầu, lên mặt, lên khắp nơi những con người nam nữ. Họ hưởng thụ vội vàng sự trác táng để chỉ sợ ngày mai, phút giây liền sau họ không còn dịp được hưởng nữa. Họ say sưa, ca hát, tranh nhau dày vò những thân xác trơ trẽn bày ra không che đậy. Họ như những con thú hoang dã, hành hạ nhau, vật vã nhau, trong thác loạn điên cuồng. Ðể rồi khi say đến tận cùng óc não, chân tay rã rời vì truỵ lạc dâm ô, họ lăn ra ngủ rống lên như bò mộng. Ðó chính là lúc đối phương lẻn vào tấn công họ, bắn tan hoang lều trại họ, đốt kho tàng lương thực họ. Chẳng còn mấy ai đủ tỉnh táo và cường lực để chống chọi lại hiểm nguy.
Trò chơi ú tim của đánh nhau là như thế. Lừa miếng nhau, vật ngã nhau, chẳng ai giữ lời hứa ngưng chiến trong đêm lễ vì chỉ có lúc đó con người mới dễ đưa nhau vào lòng huyệt đen ngòm. Ðã bao nhiêu phen, bên này tố cáo bên kia vi phạm, đã bao nhiêu bót đồn bị nhổ trong những dịp lễ sang. Nhưng cái thói quen tai hại ấy vẫn chưa chịu nhả. Tại con người chán sống hay tại chiến tranh là lừa đảo. Kể ra đêm chuyện phân minh và lịch sự mà gán lên cho cuộc rình rập quật đổ nhau xem ra có là chuyện khôi hài quá chăng.
Ðêm nay, thêm một lần Mơ lại nhận ra cái lẽ đời vô tâm đó. Liệu rồi giây lát đây có sự biến nào sẽ xảy ra cho cái đồn đang diễn tiến ồn ào. Rồi ngày mai khi mặt trời vừa thức dậy, liệu đồn còn lại gì hay sẽ xác xơ như một bãi đất hoang. Những xác chết trẻ măng sẽ rải rác trong đồn hay ngoài hàng rào kẽm. Gia đình nào sẽ có những đứa con mất đi, người vợ nào sẽ không còn thấy chồng về nữa, những đứa con nào sẽ vắng bặt bóng cha.
Ai cũng biết đánh nhau là mất mát, là thui đi hàng lớp lớp con người, đất nước sẽ thiệt đi bao nhiêu nguồn nhân lực, vật lực, tài lực vậy mà sao ai cũng thích đánh nhau. Câu hỏi lửng lơ theo bước chân Mơ như những gáo nước lạnh xối từ trên đầu xuống giữa một đêm băng giá. Mơ cảm thấy mình bất lực quá, nhỏ nhoi quá, chẳng làm sao gỡ được cái lưới nhện oan khiên đang thít dần những mối mỏng manh mà tàn bạo vô cùng.
Súng càng lúc càng nổ dữ. Ðạn bay lên trời càng lúc càng khít đan thêm. Ðèn bên đồn như tăng thêm công xuất, phát ra những tia ma quái chập chờn. Tiếng đú đởn về khuya nghe càng rõ, như tiếng mèo gào trên mái lá gọi nhau, như oan khiên tử thần đang dơ rộng tay chờ đợi. Tiếng nhạc sập sình mở hết cỡ, tiếng ca thi nhau tranh lớn hơn người. Thật là một bức tranh quệch quạc, nhoè nhoẹt chẳng ra sao. Càng về sâu cuộc vui càng thác loạn, tội lỗi càng hoành hành, con người càng mất dần phẩm chất. Tình cờ có ai nhìn vào sẽ thấy như đang sống vào cái thời man dại thuở hồng hoang.
(còn tiếp)
Năm học Ðệ Nhị B (ban Toán), trường Phan châu Trinh Ðà Nẵng, là năm học cuối cùng dưới mái trường thân yêu, vì trường không có lớp Ðệ Nhất, cuối năm thi Tú Tài 1 xong phải chuyển ra Huế học Quốc Học, trường Phan châu Trinh nơi mà tôi đã trải qua một thời niên thiếu đầy mùi vị, cay đắng, mặn ngọt ,học hành , nghịch ngợm, lãng mạng yêu đương, mơ mộng một cuộc đời giang hồ phiêu bạt, thứ gì cũng giõi, ở nhà ba mẹ la rầy nhưng có miềm vui vì tôi chưa biết thi hỏng trong cuộc đời đi học, ở nhà trường Thầy Cô xem như con ngựa chướng, được thầy Hiệu Trưởng thường gọi lên văn phòng để răn đe, đôi lúc gọi tên dưới cột cờ sau buổi lễ chào Quốc Kỳ sáng thứ hai để nghe tôi hứa “em xin chừa " không bao giờ tái phạm , vừa bị thầy cô gọi là học trò xấu, ngay ngày hôm sau tôi được làm chemise môn thi đệ nhất hay đệ nhị lục cá nguyệt, khen chê trộn lẫn như chất bột trộn với đường để làm nên món chè Ngã Năm, món kem ba màu Diệp Hải Dung thi vị hoá đời học sinh của tôi dưới mái trường nhỏ bé, thân thương mà suốt cuộc đời mang theo như một hành trang đầy ắp kỷ niệm cùng với con tàu lênh đênh khắp biển rộng sông dài .
Vào một buổi sáng trong giờ Việt Văn, Việt Văn chia làm hai phần: nghị luận luân lý và nghị luận văn chương . Tôi thích nghị luận văn chương vì thích các bài thơ lãng mạng, trữ tình như mối tình đầu chớm nở với cô bé học sau mình 2 lớp, hoàn toàn không chịu học nghị luận luân lý, khô khan và buồn tẻ . Một hôm không hiểu động cơ nào thúc đẩy, cả lớp im lặng ngồi nghe thầy giảng về Ðạo Ðức trong cuộc sống, tôi bỗng dong tay hỏi thầy : Thưa thầy, Hạnh Phúc là gì ? Em không hiểu . Thầy hình như có cảm hứng với đề tài, thầy giảng thao thao bất tuyệt, cả lớp chăm chú nghe, mặt mày ngơ ngáo trông quan trọng và buồn cười làm sao ! Sau đó thầy liền ra bài tập . Bình giảng câu: “May thay, ngoài Hạnh Phúc ra, đời còn có cái gì khác nữa " .
Thế là cả đám học trò cắm cuối làm bài tập, có đứa còn để trọc, có đứa hỉ mũi chưa sạch, đau khổ bình giải về Hạnh Phúc, cái điều mà chúng chưa ý thức được, hiểu mập mờ, có thằng chưa hiểu được danh từ trừu tượng nầy 1 phần trăm ; hanh phúc là cái bóng mà con người luôn luôn đuổi theo và không bao giờ bắt gặp, hạnh phúc như gió thoảng mây bay, như bóng câu qua cửa sổ v .vlợi . giảng của thầy với nhiều ví dụ, chúng tôi mơ màng hiểu rằng hạnh phúc là cái gì xa xăm lắm, ngoài tầm tay với, không bao giờ tìm được, đó là HẠNH PHÚC . Sau nầy va chạm với cuộc đời, vào sinh ra tử với nghề nghiệp, phiêu bồng khắp đầu non cuối biển, có dịp đọc Kinh Thánh của Chúa, Kinh điển của Phật và nhiều triết lý cao xa khác từ Âu sang Á, Khổng, Lão, Bà La Môn, kinh Koran, kinh Bahai .Tôi suy ngẫm, tìm tòi, rút ra những điều cao siêu, tinh tuý của mỗi triết gia, và cuối cùng đã tự tìm ra cho mình một triết lý hoàn hảo siêu việt nhất, tôi đặt tên cho triết lý của mình là: TRIẾT LÝ CỦ KHOAI . Nó đơn sơ mộc mạc như củ khoai , rẻ tiền như củ khoai, dễ dàng tìm thấy như củ khoai, cụ thể và nằm trong bàn tay mình . Triết lý cao siêu nầy, bao nhiêu tinh tuý màu nhiệm được đơm gọn lại trong một câu mà tôi cho là chân lý bất hụ?" Nếu chỉ là một củ khoai thôi thì lùi trong bếp than hồng, nướng cho thật thơm mà đớp " .
Từ cái triết lý đơn giản nầy, giúp cho tôi thấy được rằng HẠNH PHÚC là cái gì rất cụ thể, rất gần gủi, rất đơn sơ, rất dễ tìm như một củ khoai . Ai cho rằng hạnh phúc là những gì xa xôi không tìm được hay là rất khó mà tìm được thì hãy theo tôi đi tìm hạnh phúc trong triết lý củ khoai của tôi .
Sau khi chiếm miền Nam (30-04-1975 ), bọn Cọng sản lừa gạt Quân, Cán, Chính của chế độ cũ còn kẹt lại phải khăn gói đi học tập cải tạo theo diện 10 ngày hay một tháng rồi về, cả miền Nam mắc bẩy của chúng . Tôi đi trình diện học tập trong diện 1 tháng và được đưa về Suối Máu Biên Hoà, một tháng qua, một năm qua trong lao động nhọc nhằn, trong những đêm ngày khai báo liên miên, bây giờ mới biết ngày về không phải là một tháng mà là vô định . Ðầu năm 77, tôi bị đưa ra Bắc, lần nầy tôi lại được trở về với biển, với người tình muôn thuở của tôi, chúng tôi được trói tay từng hai người một và nhốt trong một hầm tàu, tàu ra khơi ... Bắc tiến .Tôi . bị đày ải từ Hà Nam Ninh đến Cao Bằng, Lạng Sơn, trong rừng thiêng nước độc với những ngày cháy nắng , những đêm lạnh xé da trong manh áo tù không đủ ấm, thời gian trong tù cứ vậy mà trôi qua . Ai cũng nôn nóng lo âu chờ mong ngày được thả, đau khổ vì đói vì lạnh, vì phải lao động trong các hầm mỏ than dọc biên giới Việt Trung, đau khổ vì mỗi đêm khuya phải thức dậy làm tờ tự khai, tự thú điên cả cái đầu, đau khổ vì đời sống vỡ mộng, mõi mòn lo âu cho thân phận mình, cho gia đình, cho cha mẹ, cho anh chị em, vợ con và các người thân . Về sau tù nhiều năm mọi người mới chợt hiểu, đừng có mong ngày về, bọn nó nói phải luôn luôn yên tâm cải tạo, học tập chính trị tốt, lao động chân tay giỏi, bao giờ nhân dân thấy các anh đã trở thành con người mới của chế độ Xã hội Chủ nghĩa thì các anh được nhân dân khoan hồng cho về . Ngày về không biết được, nghĩa là ở tù không có án tù .
Phần tôi sau 6 năm di chuyển từ trại nầy qua trại khác, ngày về mịt mờ xa thẳm, mỗi ngày phải đốn tre, chặt gỗ xây thêm nhà ở, lại làm chuồng nuôi vài ba con heo nhỏ xíu, hột rau muống được phát ra để gieo, phá rừng làm rẫy để trồng khoai mì, cải thiện đời sống cho có một chút ít dinh dưỡng trong những tấm thân gầy còm, các hầm cầu được giữ phân lại để làm phân xanh tưới rau . Tôi cảm thấy có cái gì khác lạ, trong thời gian cải tạo, bao giờ kêu án, mình phải lãnh bao nhiêu năm tù, tôi hoàn toàn không suy đoán được tương lai . Một lần trong khi đào giếng để lấy nước, tôi chỉ bên kia hàng rào kẽm gai đầy mìn và nói với người bạn tù:
“Cứ xem ngọn đồi kia là nơi chôn chúng ta khi kiệt sức lìa đời, bây giờ phải lê lết cho qua ngày tháng, phải tìm những niềm vui nho nhỏ mà ta có thể có được để vui sống, dù sống không niềm tin, không hy vọng , tội gì mà buồn vì buồn cũng vô ích, không giải quyết được gì !” Nghe thế, người bạn tù bật khóc, tôi an ủi và đem triết lý củ khoai ra giảng giải, từ đó người tù trở thành đệ tử của tôi . Về sau nhiều người rất ngạc nhiên vì thấy hai đứa chúng tôi vẫn tỉnh bơ, vui vẽ cười đùa như không phải ở tù, xem đây như nơi tạm trú, là nơi dừng bước giang hồ, tạm nghỉ sau một khoảng đời , mặc dù với ngày tháng đi qua, chúng tôi gầy gò vì thiếu ăn, vì lao động cực khổ, sức khoẻ càng ngày càng vơi đi, chúng tôi vẫn xem những bửa ăn kham khổ là những bửa yến tiệc cao lương mỹ vị, những ngày làm việc nhọc nhằn là những buổi tập thể dục cho thân hình được khoẻ mạnh. Trong lúc lao động trong rừng sâu, bắt được con nhái bé nhỏ, dấu đem về trại, tối đến nướng lên thơm ngậy, xé làm hai, tổ chức một bửa tiệc thưởng trăng , hai đứa bí mật dự dạ hội trong đêm , bên một gốc cây già, gió mát dịu, ánh trăng huyền ảo mông lung len lõi qua hàng thông rừng như an ủi vỗ về, thoang thoảng đâu đây tiếng cười của con thơ, ánh mắt của vợ hiền như triều mến đứa hai đứa vào một khoảng trời thơ .
Sau đó tôi có thêm vài đệ tử xin gia nhập hội triết lý củ khoai, chúng tôi tổ chức được những buổi văn nghệ bỏ túi cấp tốc, bốn năm tù nhân hẹn nhau tại đám cỏ, sau toilettes, giả bộ đi tiểu nhưng chúng tôi mở đại nhạc hội, hát nhạc vàng cho nhau nghe, không biết tại sao tôi lại nhớ đến bài hát mà thầy Hoàng bích Sơn đã dạy cho chúng tôi trong những giờ học nhạc dưới mái trường Phan châu Trinh: Ðường về quê tôi, con đường xa xôi, qua mấy con đò, quanh mấy ngọn đồi cao , tôi hát cho các đệ tử của tôi nghe, lòng dạt dào mơ về quê xưa, nơi có con đò, có hàng dừa xanh, có tình tôi vừa mới lớn . Kể chuyện tiếu lâm về bác Hồ, rồi hát nho nhỏ: Hôm qua em mơ gặp bác Hồ, râu bác dài, bác đạp xích lô , kể chuyện Quỳnh Giao, chuyện Thần điêu đại hiệp , nhiều lúc cao hứng ngâm thơ và ca vọng cổ , cứ như thế mọi nhọc nhằn lo âu biến mất, dù thời gian văn nghệ mỗi đêm chỉ được khoảng 25 phút, thời gian ấn định để được phép đi tiêu, chúng tôi đã tìm được HẠNH PHÚC ở trong tù, Hạnh phúc đó thật đơn giản, thật dễ thương như nụ hôn đầu, như củ khoai ngọt lịm thơm ngon của người dân quê chất phát .Những khi đi khiêng đất, hai đứa hai đầu, gánh nặng quầng cả hai vai nhưng vẫn đánh cờ tướng không bàn, pháo 2 bình 5, mã 7 tấn 6, xa 1 tấn 1 v . v.... chơi mãi thành quen, tất cả đều trở thành cao thủ, Những đêm bị nhồi sọ trong những bài học chính trị : lao động là vinh quang, đế quốc Mỹ là kẻ thù số một, đảng Cọng sản là cái nôi của nhân loại, là đỉnh cao trí tuệ của loài người , chúng tôi ngồi chăm chú nghe nhưng nào ai biết chúng tôi đang đánh cờ. Chợt một anh bạn tù buột miệng la : Chiếu , anh Quản Giáo đang hùng hồn giảng bài súng AK bắn nhào B52 của đế quốc Mỹ, khựng lại hỏi Cái gì thế ? Chúng tôi đáp: “Quản Giáo giảng bài hay quá! Tại sao gọi là CHIẾU ? Chúng tôi giải thich:”' Chiếu là tiếng khen tặng của người miền Nam , cũng như các từ hồ hởi, phấn khởi của người miền Bắc . Anh Quản Giáo hồ hởi, phấn khởi cười xoà trong cái hãnh diện là mình giảng hay . Chúng tôi còn được tổ chức những cuộc đấu kiến, đấu dế, bắt những con đấu thua bỏ vào hộp diêm cho chúng cải tạo ,chúng tôi cố tạo ra những trò giải trí nho nhỏ để quên ngày tháng buồn lo, phương châm theo triết lý củ khoai là KHÔNG: không mong ước, không hy vọng . Không hy vọng thì khỏi thất vọng, không mong ước thì khỏi bồn chồn lo âu . Mỗi khi có được một chậu nước tắm, chúng tôi tận hưởng cái sung sướng đặt biệt, cử hành âm thầm lể tắm trong khoang khoái ,an bình của tâm hồn .
Hạnh phúc không bờ bến . Một vài người trốn tù trong đêm, gặp phải mìn nổ tan xác hay bị bắt lại để được nhốt riêng nơi hầm tối hay bị xử bắn về tội phản cách mạng . Những người tù chết vì bệnh, không có thuốc chửa, xác được bó tròn trong chiếc chiếu khiêng ra ra chôn tận bìa rừng, những thảm cảnh ghê rợn đó không làm cho chúng tôi sờn lòng, đời người cũng một lần chết, cái chết đến với chúng tôi một cách dững dưng . Chúng tôi cố gắng sống trong cái hạnh phúc nhỏ nhoi nhờ triết lý củ khoai tìm được . Cám ơn triết lý củ khoai đã cho chúng tôi nhiều nghị lực qua những năm tháng tù đày, biến nhọc nhằn thành HẠNH PHÚC . Hạnh phúc luôn luôn nằm trong bàn tay của chúng tôi, hạnh phúc là một hiện hữu như củ khoai lang ngon ngọt, hiền lành được nướng vùi trong bếp than hồng, mùi thơm ngây ngất làm ngất ngây kẻ đang đói lòng .
Ra khỏi tù từ giữa năm 81, không biết mình đã học tập tốt chưa, đã trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa chưa nhưng tôi cảm thấy thoải mái sống trong chế độ Cọng sản, bình yên trong một thành phố bị cưỡng bức đổi tên, xung quanh mình mọi người đều thiếu thốn cơ cực, đau khổ với cảnh bị đấu tố, tịch biên tài sản với những chiến dịch đánh tư sản mại bản, đi lao động thuỷ lợi, đi vùng kinh tế moiTơi . cũng cùng chung số phận nhưng thấp kém hơn vì chưa có quyền công dân, cuộc sống vẫn bị quản chế, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần để khai báo hoạt động trong tuần, nhờ triết lý củ khoai tôi vẫn tìm được hạnh phúc thường ngày . Hạnh phúc của mỗi buổi sáng dậy sớm, tập vài động tác thể dục, uống một chén trà nóng cho ấm lòng, nghe lén nho nhỏ đài VOA hay BBC, hạnh phúc khi trao đổi tin tức quốc tế, quốc nội với bạn bè, hạnh phúc nhất là những ngày đi công tác thuỷ lợi, lao động ngoài công trường, trong những lúc được nghỉ ngơi, cởi trần mặc quần xà lỏn nằm phơi nắng, phơi gió hây hây, trăm sự gác qua một bên, chỉ một mình ta với đất trời bao la . Tôi lại đem cái triết lý củ khoai ra truyền bá cho anh em tại công trường để tìm đệ tử, tại đây tôi đã hân hoan cho một đệ tử Cọng sản nhập môn; anh ta là một bộ đội giải ngũ về làm dân với bao năm gian khổ hy sinh diệt Mỹ Nguỵ cứu nước . Bây giờ sau khi giải phóng miền Nam thành công, anh được thưởng huy chương Dũng sĩ diệt Mỹ của bác Hồ và được đưa về làm cán bộ trong công trường thuỷ lợi nầy với ba tháng lương chưa mua nỗi chiếc xe đạp cho con, trong lúc các đồng chí của anh tiếp thu các dinh thự của Mỹ Nguỵ sống một đời sống xa hoa phè phởn . Tôi hỏi anh lý do tại sao ? Anh trả lời: Tớ vì lý do cha mẹ là điền chủ, tuy bị đấu tố tịch thu tất cả tài sản nhưng vẫn còn cái gốc là điền chủ nên tớ chưa được vào Ðảng . Từ đó anh theo tôi học triết lý củ khoai và khen xã hội chủ nghĩa đem đến cho con người sự lười biếng vô cùng tận vì làm nhiều cũng chẳng được hưởng bao nhiêu . Trong chế độ nầy, sự làm biếng cũng là một hạnh phúc nho nhỏ trong tôi, trong anh lính cụ Hồ đệ tử của tôi .
Một buổi chiều, tôi đạp xe đạp đi dạo trên đường Hồng thập Tự, bất ngờ tôi gặp thầy Tòng, còn nỗi vui mừng, có niềm hạnh phúc nào hơn khi gặp lại thầy cũ , vẫn nụ cười muôn thuở, nước da ngâm đen như thuở nào, mái tóc bồng bềnh, lãng tử, hai thầy trò đạp xe đạp song song, chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay, chuyện ngày mai ,tâm sự suốt một đoạn đường dài, tôi mời thầy vào một tiệm ăn nhỏ, hai tô phở nóng như tình thầy trò bỗng dưng gặp lại, hai ly cà phê sữa đá mát rượi như mái trường Phan châu Trinh thân yêu ngày xưa . Tôi hình dung lại những ngày tháng trước, xa quá rồi Kỷ niệm lại về quanh tôi, quanh thầy, hình ảnh người thầy tươi vui sống động, người thầy mặc quần tây dài ống loa đầu tiên trong cái mode tân thời của Ðà Nẵng, người thầy ham mê đá bóng, một thời Ðực 1, , Ðực 2, Tam Lang, Rạng là thần tượng sân cỏ của thầy . Có những lần tôi và bạn bè vui chơi ở Thanh Bồ, chúng tôi không có tiền ăn cà rem, chợt gặp thầy đi ngang qua, tôi lập mưu xì lốp xe đạp, rồi chạy lại thầy xin tiền vá xe, thầy vui vẽ móc bóp cho mấy đồng . Lần sau thằng bạn cùng lớp dùng mưu kế đó để kiếm tiền ăn quà, thầy biết được la rầy cho một trận, thằng bạn mặt đỏ như say rượu, bẽn lẽn cuối đầu . Tuy vậy, thầy cũng thương tình cho mấy đồng với lời rầy la, lần sau không được lập mưu như vậy nữa, xấu lắm, em biết không ? Tình thầy trò lấy gì đong cho hết, biết lấy gì gỡ cho ra . Thầy Tòng! Em ngồi đây viết về thầy thấy lòng vui theo ánh nắng chan hoà, vài nụ hoa vừa chớm nở, tiếng chim ríu rít trong mảnh vườn nhà em, hạnh phúc lan tràn trong ánh mắt, trên môi miệng, trong trái tim không chịu già theo với tuổi đời phôi pha những ngày cuối đông lạnh lẽo tiếp nối những ngày đầu xuân ấm áp của đất trời Paris, em nhớ về thấy với hạnh phúc đó .
Ngày mai lại đi, tôi đã nhận lời lái một chiếc ghe chở người vượt biên, chiều nay đi trên con đường Trương minh Giảng để nhìn lần cuối khu phố đã một thời thân quen với tôi, đi ngang qua khu Ðại Học VẠN HẠNH, tôi chợt nhìn một dáng ai quen quen trong hành lang Ðại Học, hình như người đó cũng nhìn ra tôi, kẻ chạy vào, người chạy ra, tay bắt mặt mừng sau một phút ngập ngừng, bỡ ngỡ ... Sĩ ,Thầy Phạm văn Ấm . Hai tiếng gọi, hai nỗi lòng như nhập một . Thầy bảo: Chúng mình vào quán cà phê bên cạnh nói chuyện . Tôi bao, tôi bao anh .
- Anh uống gì nào ?
Uống gì, tôi thầm nghỉ . Thưa thầy, em đã uống ánh mắt triều mến của thầy, tấm lòng hiền hậu của thầy .
Tôi nghẹn ngào chẳng biết nói gì hơn!
Cà phê, nghe Sĩ ?
Thầy vẫn như từ thuở nào, dáng người nho nhỏ, nghiêm nghị . Cái nghiêm nghị giống như thầy Ngọc, nghiêm nghị của một nhà mô phạm, tiếng thầy vẫn sang sang,ỏ rõ ràng như những lúc thầy dạy Anh Văn . Chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay, chuyện hiện tại, chuyện tương lai, hai thầy trò, hai mái đầu chụm lại, nói gì đây, bao nhiêu lời để hỏi, bao nhiêu câu để trả lời, hai thầy trò tưởng mình đang sống trong mơ .
“ Từ ngày gặp anh nơi Viện Ðại Học Huế rồi anh đi đâu mất, sao vậy anh ? Anh đang học được mà! Tôi đã hỏi Bác Sĩ Lê khắc Quyến, anh Quyến nói anh đã bỏ học để vào học trường Sĩ Quan Hải Quân, anh không muốn làm Bác sĩ à !” Tôi bật cười, thấy thầy đang vui, tôi tếu:
Em đã là Bác sĩ rồi, học làm gì!
Thầy ngac nhiên, tôi giải thích:
Em có thằng em trai, nó lấy vợ, đẻ con, con nó phải gọi em bằng bác, em tên Sĩ, vậy không phải là Bác Sĩ sao ?
Thầy cười xoà: “Anh lúc nào cũng vậy, chỉ biết chọc người khác cười " . Thầy kể tôi nghe: “Thầy vẫn dạy Anh Văn Ðại học Sư phạm Huế, sau nầy tôi vào Sài Gòn dạy Anh Văn tại Ðai học Vạn Hạnh đến bây giờ ”.Thằy nhắc lại: “Ngày xưa anh nghịch nhất trường, anh biết không ? Anh đã phá tôi thế nào ”.Ngày xưa, cái ngày xa lắc đó, lớp tôi có chị Thuý Oanh đẹp, giõi Anh văn, được thầy Ấm cưng . Anh văn tôi chẳng thua gì chị Thuý Oanh, thế mà mỗi lần làm bài tập hay vấn đáp, lúc nào tôi cũng thua chị Thuý Oanh nửa điểm, nhất là những bài thi lục cá nguyệt tôi không thể nào vượt qua được chị Thuý Oanh, tuy lúc nào cũng bị thua trong gang tấc, tôi giận quá, một hôm trong buổi tan trường về, tôi khoá hai xe đạp của thầy Ấm và chị Thuý Oanh, lúc ra về, một nam một nữ, hai xe dính chặt lại không cách nào mở ra được . Thầy nhăn mặt, chị Thuý Oanh khóc, cuối cùng phải nhờ bác Cai trường cưa cái khoá . Không biết thằng bạn nào thày lay mét với thầy thủ phạm là tôi, thầy Hiệu Trưởng Nguyễn đăng Ngọc gọi lên văn phòng ngày hôm sau, thế rồi là phải kỹ luật ...Thầy ơi, em biết thầy giận em lắm nhưng lòng thầy như biển cả, thầy vẫn thương em cho đến ngày hôm nay gặp lai, thầy trò thân ái kể cho nghe lại chuyện ngày xưa thương mến đó . Thầy vẫn ở nội trú trong Viện Ðại Học Vạn Hạnh, thầy không nói chuyện gia đình của thầy và tôi cũng e ngại không dám hỏi, thầy hỏi địa chỉ nhà tôi để đến thăm, tôi nói nhỏ:
“Em ở gần đây nhưng ngày mai em vượt biên " . Thầy cầm chặt tay tôi chúc thượng lộ bình an, thầy nói vài ngày nữa, thầy sẽ đi ngang nhà tôi để dò la tin tức . Xin từ giã người thầy kính yêu, biết đâu đây là gần gặp gỡ cuối cùng . Tôi thấy mắt mình như có hạt bụi bám vào và 2 mắt thầy buồn buồn nhìn vào cõi xa xăm .
Ngày tôi đến tị nạn tại HỒNG KÔNG, tôi có gởi thư về thăm thầy tại Viện Ðại Học Vạn Hạnh nhưng không có trả lời, tình thầy trò mình như một giấc mơ qua . Nhưng dù sao tôi cũng đã đắm chìm trong hạnh phúc của một thuở nào và tôi đã được gọi lại hai tiếng: THẦY ƠI! Tiếng gọi nầy hình như tôi đã bị mất đi từ thuở nào .
Ra đi, mùa Thu năm 81, bỏ lại đàng sau, Sài Gòn ấp ủ hình ảnh của Việt Nam nước tôi . Khi vợ con đến điểm hẹn tại Bà Rịa, gia đình tôi được Công an chở bằng 3 chiếc xe Honda dame đến bãi để từ ghe nhỏ ra ghe lớn lớn . Chủ ghe nói với tôi, ghe dài 12 mét chở tối đa 65 người, khi lên ghe lớn, đúng ghe dài 12 mét , ngang 4 mét, nhưng số người tôi thầm đếm hơn 100 , đứng trên phòng lái nhìn xuống thấy toàn là đầu người với chiếc ghe mong manh trong đêm tối, người Công an lái chiếc ghe đi, hai bên có hai ghe nhỏ hộ tống . Ra đến cửa Vũng Tàu, trời vẫn còn tối, anh ta giao tay lái cho tôi và một gói nhỏ đựng dụng cụ hải hành .
“Bắt đầu từ bây giờ anh lái, chúng tôi hết nhiệm vu” . Anh ta nói xong nhảy xuống ghe nhỏ và quay trở về .
Tài công phụ đâu ? Tôi lên tiếng hỏi:
Chủ ghe trả lời:
“Vào phút chót nó không đi” . Thế là mình tôi trách nhiệm suốt hải trình, chủ ghe lo phần máy . Tôi mở gói đựng dụng cụ hải hành ra: một đèn pin, một ống dòm, một la bàn và một hải đồ . Tôi yên chí nhưng nhìn kỹ lại không phải là hải đồ mà là một bản đồ Sài Gòn Chợ Lớn . Tôi hỏi chủ ghe và được trả lời: “ Bọn nó đưa lộn bản đồ rồi " .-Không sao!
Không khí trong lành của biển, ngọn gió ban mai thổi mát lòng, tôi cảm thấy vui, trong đêm tối theo chòm sao Bắc Ðẩu lung linh, tiếng sóng rào rạt rủ tôi về với trời đất bao la, với bờ bến mộng ngày xưa . Tôi đưa chiếc ghe đi xuôi theo dòng nước, thuỷ triều bắt đầu rút xuống, hạnh phúc trong tôi dâng lên . Rạng đông, mặt trời to tròn bắt đầu mĩm cười với người thuỷ thủ trở về với biển khơi, tôi qua được mạng lưới tuần duyên của Công an biên phòng . Ghe vào hải phận quốc tế, thản nhiên trên đường đào thoát, không lo âu, để trí óc mình sáng suốt đi đúng lộ trình, tự nhũ, mình có cái gì phải lo, bị bắt thì tù lại, ở tù cũng có ngày ra tù, ra tù lại vượt biên, chỉ vậy thôi . Như kẻ ham chơi, thuyền vượt sóng ra khơi như đi du lịch, Tự do ơi! Tự do!
Trước mặt tôi chân trời rộng, tôi đem triết lý củ khoai ra tìm đất sống, dù chết cũng vui, còn hơn những người tù chết trong tay Cọng sản . Tôi không biết cảm ơn ai, cho tôi cảm ơn tất cả, kể cả những người Cọng sản đã đày đoạ tôi suốt gần 7 năm dài, tôi đã thật sự đi tìm TỰ DO, điều mà tôi quyết tâm từ ngày vừa mới ra tù .
Sau bốn ngày lênh đênh, trời yên biển lặng, hải trình tôi đi không lệch một độ . Cái la bàn không xài được, lúc nầy còn cái vốn liếng hàng hải thiên văn đem ra dùng . Tôi đưa ghe vào giữa hải trình của các thương thuyền xuôi ngược, mong là không gặp tàu Liên Sô hay Trung Cọng , tôi bắt đầu thấm mệt sau 4 ngày đêm cầm tay lái . Chiều nay gió đổi hướng từ Tây Nam sang Ðông Bắc, những đám mây bạc cuối chân trời đã bắt đầu đổi màu xám, mọi người đã nằm im không còn nghe tiếng đọc kinh cầu nguyện . Con tàu lặng thinh chỉ còn gió và sóng biển lao xao, tôi thầm nghĩ, đêm nay có bão và con thuyền sẽ đi về đâu ? Trời đã bắt đầu tối, một chút ánh trăng còn sót lại của những ngày gần cuối tháng , đủ soi đường cho con tàu tôi đi .
Ghe cứ lầm lũi theo chiều gió, gió càng lúc càng mạnh, sóng đã phủ mũi ghe, tôi ghì tay lái và bắt đầu cảm thấy chơi vơi , sức người, sức ghe như thế nầy làm sao chống chỏi với trời biển . Chợt từ xa, xa tít trong bóng đêm có chút ánh sáng, niềm hy vọng len lỏi trong tôi, ánh đèn đài chỉ huy đã hiện rõ . Tôi chạy hết tốc lực về phía con tàu, dùng đèn pin để xin cấp cứu, ánh đèn yếu quá nên không nhận được . Một khoảng thời gian qua, tôi đã nhận được tín hiệu con tàu, một chiếc tàu buôn của Pháp xử dụng truyền tin bằng ánh đèn, cho tôi biết đã nhìn thấy rõ chúng tôi và cần gì, có hiểu được tín hiệu qua ánh đèn hay không ?
Còn nỗi mừng nào hơn, tôi trả lời bằng ánh đèn pin yếu ớt . Tôi hiểu, tôi hiểu, tôi xin cấp cứu vì ghe nước vào nhiều đang lâm nguy, chúng tôi là những người tị nạn khởi hành từ Việt Nam . Chiếc thương thuyền Cargo của Pháp đã từ từ hiện rõ trước tôi, bảo chúng tôi đợi để xin lệnh trên . Cuối cùng tôi được phép cặp vào hông tàu, những ánh đè pha sáng rực chỗ ghe tôi và nhiệm sở cấp cứu được thực hiện, chúng tôi lên tàu được bình yên tất cả . Chiếc ghe vượt biên bị đánh chìm, tôi là người lên cuối cùng với cái la bàn kỷ niệm, những tiếng hoan hô vang dậy, mọi người ôm lay tôi, công kênh tôi lên , tôi sung sướng vô cùng, niềm hạnh phúc vô biên, tôi đã đưa 108 thuyền nhân đến bến bờ tự do . Ðêm hôm đó, bão cấp 5, qua cánh cửa kính của căn phòng ấm cúng bỗng tôi rùng mình, hơn 10 năm hải nghiệp, lang thang khắp biển Ðông nầy, lần đầu tiên tôi biết sợ người tình Biển yêu dấu của tôi nỗi giận . Triết lý củ khoai cho tôi một ý chí, một niền tin và hy vọng .
Ðến trại tỵ nạn Hồng Kông, tàu Pháp vớt nên không vào trại Cấm, chúng tôi được cư ngụ tại một khách sạn ở Kao Luong, mỗi ngày được đi dạo phố vài giờ, chờ phỏng vấn để định cư một nước thứ ba . Tôi lại tiếp tục sống với triết lý củ khoai của tôi, tại đây ai cũng nóng lòng, ngồi đứng không yên, mong được định cư sớm, tôi đem triết lý củ khoai ra dụ: “Hãy xem những tháng ngày ở đây như những ngày nghỉ hè dài hạng, cơm nước, áo quần, vật dụng linh tinh không thiếu một cái gì do Toà Ðài Sứ Pháp đài thọ, với tôi chỉ cần một bộ áo quần che thân là lịch sự rồi, sẳn có giáo sư chính cống người Pháp đến dạy Pháp văn hàng ngày, lo học sinh ngữ nầy để xử dụng mai sau, dù có nóng lòng lo âu đến mấy cũng không đi định cư SỚM hơn một giờ ,dù có tà tà bình tâm chờ đợi cũng không đi định cư CHẬM hơn một giờ . Không ai nghe lời tôi, tất cả đều bồn chồn nôn nóng, mỗi chiều tôi lên đồi nằm ngủ, mơ màng theo tiếng gió vi vu, trời nóng, xuống biển tắm, bắt những con dã tràng xe cát mà nhớ biển Ðông, nhớ Huế, nhớ Ðà Nẵng, nhớ Nha Trang cùng các bạn bè thân yêu từ thuở nào . Chiều về ăn cơn thật no, đầy đỷ chất bổ dưỡng , đêm đêm đốt lửa nhắc chuyện Sài- Gòn, tâm hồn vô cùng thảnh thơi, không bận tâm lo sinh kế, không bó buộc thời giờ, không chuyện gì khẩn cấp phải làm, thảnh thơi vui thú, tiền bạc lợi danh không màng, hạnh phúc nhất là không còn gặp những tên Công an khó chịu, tôi tưởng mình đang ở cõi thần tiên . Thời gian ở đây như ngưng lại trong cái huyền ảo của cuộc đời, cuộc sống trở về với thiên nhiên vô tư như trẻ thơ, tôi là người sung sướng nhất trên cõi đời nầy, tôi nâng niu hạnh phúc trong vòng tay, Hạnh phúc … Hạnh phúc . Tôi chợt nhớ bài luận luân lý ngày xưa: “May thay, ngoài Hạnh Phúc ra, đời còn có cái gì khác nữa . Xin thầy dạy Việt Văn ngày xưa nhận nơi đây lòng tri ân của tôi, nhờ bài luận, tôi đã tìm ra kim chỉ nam cho đời tôi: TRIẾT LÝ CỦ KHOAI .
Ðến Pháp giữa thủ đô Paris đồ sộ, tôi đi lang thang tìm việc, qua đây vào mùa Ðông giá lạnh, tuyết giăng đầu, tuyết rơi trên tóc, rơi trên vai, đi hoài đi huỷ tìm chưa được việc, tôi vẫn thấy mình là kẻ may mắn, sung sướng vì đang sống trong thế giới TỰ DO mà nhiều người thèm muốn, bạn bè bà con đang khắc khoải trong gông cùm Cọng Sản, nhiều người đã chết, đã bị cướp bóc hảm hiếp giữa biển Ðông . Từ từ rồi sẽ có việc, mình cứ tà tà hưởng tiền trợ cấp, các con tôi đã được vào trường nhập học với bạn bè, mỗi sáng thức dậy có một niềm vui biết rằng ta còn sống thêm một ngày trong thế giới tự do, trong bình an của tâm hồn, không còn lo âu sợ sệt như những ngày còn sống trên quê hương, nhờ thất nghiệp hôm nay được dậy muộn, trong chăn ấm nệm êm mơ màng nghĩ đến những người bạn thân, đến những ngày rong chơi giang hồ đây đó, lòng hoài hương làm nhiều người khắc khoải thương nhớ khôn nguôi, làm đau nhức con tim của kẻ xa nhà . Riêng tôi, tôi biến thành tình cảm dịu dàng khi nghe một bản nhạc, đọc một bài thơ thanh thản nỗi lòng mà ngỡ mình đang đi vào cõi thần tiên .
Một hôm tình cờ đi ngang qua một Võ đường Thái Cực Ðạo, đứng nhìn các em trong bộ võ phục cổ truyền đang luyện tập, chợt nghĩ tại sao không thử thời vận, tôi tìm đến vị Giám Ðốc xin làm Huấn luyện Viên võ thuật, sau khi nộp hồ sơ, bằng cấp và trắc nghiệm, tôi được thu nhận . Tôi đã có việc làm, tuy là nghề tay trái nhưng thấy bằng lòng và vui vẽ, hàng ngày chơi đùa và luyện tập với các môn sinh,đủ màu da: đen, trắng, vàng... Thế là lòng tràn niềm vui phơi phới, cuộc sống nơi xứ lạ quê người đã bắt đầu thích hợp với chúng tôi, một gia đình nhỏ bé, đoàn tụ, tiếng cười tiếng nói rộn rã vang lên, tôi càng tha thiết với triết lý củ khoai của tôi, gia đình đã an cư, mọi việc đâu vào đấy với đồng lương khiêm tốn mà tôi đã thâu nhập được hàng tháng .
Con tôi đã vững vàng theo kịp được chương trình học, tôi mừng như đã cho được các con tôi đi du học tại Pháp, điều mà tôi thường mơ ước từ thời còn nhỏ . Tôi yêu nước Pháp từ lúc không vào được Ðệ Nhất Quốc Học, phải học ở trường dòng La San PELLERIN Húê, theo các Frerè Sư Huynh mà ước ao một ngày nào đó được vào Ðại Học Paris, bây giờ các con tôi đã thay tôi đi vào con đường tôi ấp ủ ngày xưa, tôi không còn gì ân hận trong khi ngồi ôn lại cuộc đời, cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi, phải chăng cả cuộc đời mình nó đạm bạc, giản dị như một củ khoai, thế mà có người thân yêu nhất của tôi lại chống đối cái triết lý nầy, cho tôi là yếm thế, buông xuôi theo số phận, không có tranh đấu để cho cuộc sống được vươn lên . Nhưng thử nhìn lại xem, nếu triết lý củ khoai của tôi không đúng thì làm sao tôi có được một gia đình hạnh phúc thật sự như hôm nay, thường thường ít người thấy được cái hạnh phúc mà mình đang có, đôi khi còn thả mồi bắt bóng, từ đó tôi rất thương yêu vợ tôi , vì nghĩ rằng trên đời nầy còn có tỷ đàn bà tệ hơn vợ mình gấp trăm lần, không chịu thông cảm với chồng để dắt dìu nhau trong cuộc sống lứa đôi . Vợ tôi tuy không chấp nhận triết lý củ khoai của tôi nhưng vẫ cảm thông và thương yêu chồng, không gây gổ, cằn nhằn, thôi đó cũng là cái Hạnh Phúc cho mình, mong rằng đường dài mới biết ngựa hay .Tôi biết rất rõ, rồi đây con cái trưởng thành, mọc cánh bay đi, hai mái đầu lủi thủi với nhau trong cái nhà hiu quạnh, chắc chắn lúc đó NÀNG sẽ thủ thỉ bên tai CHÀNG: Em phục cái triết lý củ khoai của anh . Tình yêu sẽ đưa chúng tôi vào mộng đẹp .
Mùa Phật Ðản năm 2000, tôi và gia đình đi chùa KHÁNH ANH lễ Phật, chùa Khánh Anh nằm ở ngoại ô Paris, nói là chùa nhưng nó không giống như những chùa ở quê mình, đến đây chỉ lễ bái cúng kiến và hội họp chính trị, tôi không thích mấy . Mỗi lần nghĩ đến mái chùa tôi lại nhớ câu thơ của ai đó : Mái chùa ấp ủ hồn dân tộc , tôi không thể tìm được những hình ảnh mái chùa xưa: chùa Phổ Ðà, chùa Nguyên Thuỷ Ðà Nẵng; Từ Ðàm, Diệu Ðế Huế xa rồi, tất cả đều chìm trong quá khứ mông lung .
Tôi không ngờ, cuộc đời có những cái bất ngờ mà mình không thể ngờ được, tôi đã gặp lại Cô LIỄNG dạy Pháp Văn ngày xưa, các bạn, ai đã học với Cô LIỄNG, vẫn còn nhớ, Cô là một cô giáo hiền, linh hoạt vui tính mà còn là một người mẹ của chúng mình . Cô không bao giờ la rầy học trò, chỉ nhỏ nhẹ khuyên răng khi tụi mình phạm lỗi hay lười biếng học hành, với Cô tụi mình là học trò, là con của Cô, thật sự Cô xem tụi mình là con trong lòng cô giáo hiền . Ngày tôi gặp lại Cô, Cô đã già lắm rồi, hai mẹ con nhận ra nhau trong mùi hương thơm dịu dưới chân tượng Phật, Cô lấy tay xoa đầu tôi, xoa đầu đứa học trò ngỗ nghịch ngày xưa, Cô chỉ nói được: Cô không ngờ . Cô khóc, có lẽ qua hình ảnh của tôi, Cô đã sống lại thời làm cô giáo ngày xưa , cũng giống như tôi bây giờ, đang ngồi viết những dòng chữ nầy gởi đến Thầy Cô và các Bạn, sống lại một thuở vàng son lưu luyến đẹp nhất trong đời: Tuổi Học Trò . Thời Dạy Học .
Chia tay Cô trong lời hẹn gặp lại, ngày mai tôi phải xuống tàu đi công tác, một chuyến viễn duyên lâu 60 ngày để chở lương thực đến bán cho một nước châu Phi . Ngày tôi đi, mưa bay bay như bụi, vương mái tóc tôi, mái tóc ngày hôm qua Cô Liễng, bàn tay mẹ dịu dàng xoa trên đầu con, lòng tôi man mát buồn và mong cho mau kết thúc chuyến hải hành để về tâm sự cùng Cô .
Hai tháng sau tôi về, Cô đã bỏ tôi ra đi vĩnh viễn, còn nỗi buồn nào hơn, gặp lại có một lần là lần cuối rồi xa ngàn đời .
Cô ơi! Người Thầy dạy Pháp Văn đầu đời của con, mỗi mùa Phật Ðản đến, con sẽ về chùa Khánh Anh để thắp hương tưởng niệm Cô, di ảnh và tro cốt của Cô được thờ tại đây . Các bạn thân mến, ai có dịp ghé qua Paris , tìm về thăm Cô, thắp nén hương lòng để dâng lên Người Thầy thân mến .
Tôi mãi mê về dĩ vãng, triết lý củ khoai lại đi lung tung, điều mà tôi muốn nói, tất cả dĩ vãng dù đẹp hay xấu, dù sung sướng hay nhọc nhằn, dù vinh quang hay tủi nhục, tất cả đều qua đi và vẫn đẹp trong lòng ta; là nhớ nhung, là kỷ niệm, hồi tưởng lại để tìm hạnh phúc cho mai sau .
Sau khi đọc triết lý củ khoai của tôi, không hiểu các bạn nghĩ gì, đúng hay sai chuyện không quan trọng, điều mà tôi thường nghĩ đến: “Nếu tất cả sự thật hôm nay là giấc mộng, sáng mai thức dậy thấy mình vẫn còn nằm trong nhà tù Cọng Sản thật là một điều tiếc nuối, bởi vì đó chỉ là một giấc mơ, tại sao ta không mơ một giấc mơ tuyệt đep”. .. .
Nếu các bạn muốn thăm Cô LIỄNG, xin ghé về:
Ðịa chỉ của Chùa KHANH-ÁNH:
14 Avenue Henri Barbusse
92220. Bagneux FRANCE
Tel: 0146558444
Email: khanhanh@freefr.
10/01
Cả đời tôi sợ nhất cô đơn (láo, chỉ mới sống nửa
đời). Tôi sợ đứng giữa đám đông, chung quanh tiếng
cười và niềm vui bao rộng mà tôi chỉ thấy có mình mình,
nỗi buồn và những suy nghĩ riêng mình có . Tôi sợ trong
dancing club, tiếng nhạc, tiếng trống lời ca rộn ràng mà
trong đầu tôi vẫn là những tiếng thở dài . Tìm đâu,
tìm đâu, một con người ,
một niềm tin, một nguồn vui trong cuộc đời giữa cái
xứ sở xa lạ này ... Tôi biết tìm đâu đây ?
Bà chị tôi chẳng bao giờ nghe tôi than nhưng như đi guốc
trong bụng tôi, một ngày chị bảo "Ê Trâm, bạn tao có đứa
em trai bằng tuổi mày cũng chưa bồ bịch gì ráo, tao nói tao
cũng còn có mày chưa có gia đình, nó nói tao hỏi mày, nếu
mày chịu, nó kêu em nó gọi mày, được hông." . Tôi nghe tím
mặt vì tự áị Lâu rồi mới về thăm chị, đây là lời
hỏi thăm hay là sự lo lắng hoặc là một sự cứu rỗi cho
tâm hồn cô đơn của tôi đâỷ. Tôi giả vờ thản nhiên "Nè
chị, bộ trên mặt em , chữ ế rõ lắm sao mà nói gì thấy
ghê, chị bỏ ý định đó đi nha, sẽ nhờ chị khi cần hả."
Nói xong với chị tôi như vậy, tôi nghe có tiếng cười
đắc thắng trong lòng, buồn quá mà danh dự cũng còn giữ
được chút đỉnh, đâu cũng là niềm hãnh diện, đã cô
đơn từ lâu, thêm chút nữa đâu sao ...
Bà chị tôi trấn thêm "Ðợi lúc mày nói chắc em bạn tao
có mấy con rồi, thôi đi shopping hông? " Tôi ra chiều chán
nản, "Chị đi đi, mới đi hôm qua, chỗ nào sale đâu mà mua!"
...
Chị tôi nguýt tôi thật dài "Mày chán thiệt đó, tao còn
chán mày đó, tao đi tí tao về " ...Tôi không vừa "Cám ơn,
cũng chỉ cần chị nói vậy ... " .
Chẳng biết từ bao giờ, tôi tập miễn dịch với những
lời chê bai từ anh chị em, đầu tóc chải cho có lệ, quần
áo cũng mua đấy nhưng chẳng xứng hợp, có lẽ khi tinh
thần không có thì có mặc lụa là chăng nữa con người
cũng trông bệ rạc lắm hay sao ấỵ
Tôi rút ra tờ báo Tiền Phong bố tôi đặt theo tháng từ
trong bàn ra, nằm xuống chiếc ghế salon, mở ngay tìm mục
Kết bạn Thư Tín. May mà bà chị tôi đi rồi ....
Mắt tôi lướt qua hết trang thật nhanh, tôi nhận ra tôi
chỉ coi cho vui, tìm hiểu xem mình đang ở trong tình trạng
báo động nặng nề tới cỡ nàọ Cũng có lúc, tôi thật
quan tâm đến một mẫu rao, không cần là nam hay nữ, những
lời rất là chân tình và ý tứ.
Tôi có nghe và rất tin vào một châm ngôn đại khái là như
vầy khi mình muốn tìm một con người ra sao thì mình hãy
là một con người như vậỵ Tôi biết tôi còn đang đi tìm
chính con người của mình, bản chất, vóc dáng mình muốn
mình có hay muốn đạt tớị Trong lúc này đây tôi còn chưa
biết mình là ai thì làm sao tôi có thể chọn cho mình một
người được.
Cô đơn mãi là cô đơn thôi nhưng đâu cứ phải có một
người bên cạnh là hết cô đơn đâu . Hình như trong tôi
có cái gì trống vắng, 5 năm sau ngày rời quên hương đã
trôi qua, tôi từ một cô gái rụt rè nhút nhát, chẳng
biếtmình sẽ làm được gì trên cái xứ sở này tôi trở
nên dày dạn hơn nhờ vốn sống ngoài đời và từ trường
học.
Ngày mới qua, tôi dán mắt vào những cuốn phim bộ Hồng
Kông , những chuyện bắn giết của xã hội đen, những mối
tình dang dở và trắc trở của những cặp vợ chồng, tình
nhân trong đó. Tính cách của một xã hội phương Ðông
dường như không còn thích hợp với những gì tôi học từ
nhà trường phương Tây nữạ Người phụ nữ phải tự coi
thường mình khi một lần dang dở, phải sống khép kín,
không tôi không nghĩ như vậy, ai cũng hoàn toàn có quyền
tìm kiếm cho mình một cơ hội thứ hai trừ khi mình không
muốn và xã hội không có quyền lên án họ. Tôi tin vậy
đó và rất mạnh dạn bảo vệ ý kiến của mình . Tôi không
muốn học ngành y tá như cha mẹ tôi mong vì tôi không có khả
năng và cuối cùng tôi đã đi theo ngành khác.
Xã hội phương Ðông trong quan niệm của cha mẹ tôi có lẽ
sẽ cho tôi không biết vâng lời cha mẹ nhưng xã hội phương
Tây cho tôi cái quyền tự do hành động theo khả năng và
sở thích của mình. Mong rằng một ngày nào đó cha mẹ tôi
nhìn thấy tôi thành công trên lãnh vực tôi đang theo đuổi
sẽ mừng cho tôi và hiểu được cho tôi tại sao tôi đã bỏ
qua mong đợi của họ .
Vậy mà sao tôi vẫn còn khắc khoải và cô đơn đâ ... 5
năm có đủ cho một cuộc lột xác không ?
Tôi đứng trước mọi người vẫn là cô gái da vàng, mũi
tẹt, nói tiếng Anh không chuẩn. Tôi hiểu dù có vào một
tiệm Mỹ sang trọng đến đâu, tôi có ra vẻ là mình có
tiền, tôi cũng không thể nào quên tôi xuất thân từ một
cô gái nghèo từ một thế giới thứ 3. Tôi thật không
muốn hoàn toàn nhập vào thế giới này, xã hội nàỵ Tôi
như đang trong quá trình gạn lọc, thu nhận những cái mới,
cái đúng đắn, và đồng thời không tự đồng hóa mình
với người dân bản xứ. Tôi đang đứng trước bao nhiêu
là chọn lưạ, quá trình này có khi dài đến cả cuộc đời,
trong đó tôi muốn tôi bao giờ cũng vẫn là mình, một cô
gái Việt Nam nên những trăn trở hiện tại có tính cách
quyết định lắm cho những gì tôi sẽ bảo vệ và những gì
tôi sẽ bỏ đi để cuối cùng tôi không còn thấy sự cô
đơn trong cuộc sống nữa ...
Từ khi định được hướng đi của mình trong đời là phải
gìn giữ bản sắc dân tộc của chính mình ở một xứ sở
xa la , tôi trở nên mạnh dạn hơn khi tham gia vào các cuộc
vui hay hội chợ tại vùng mình đang sống.
Tôi chỉ đi như thưởng ngoạn những lúc có thời gian nhưng
cảm giác lạc lõng vẫn còn đâu đó. Do việc làm và việc
học của mình quá bận rộn tôi chưa tìm được thời gian
cho mình để trở về cội nguồn văn hóa mà từ đó tôi
đã ra đi để có thể sống lại con người của tôi ngày
nào ở quê hương. Ðồng hành với tôi trên những con
đường tới trường và tới sở không chỉ là những bài
nhạc VN, tôi cũng rất ưa chuộng nghe những dòng nhạc tình
cảm ngoại quốc của những ca sĩ rất quen thuộc với tôi
như Gloria Estephan, Whitney Houston... . Tôi hiểu được trong
một vài lãnh vực, tình yêu, tình bạn và đời sống, con
người dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất đều có
tiếng nói chung ..
Tôi bỗng thấy mình trong họ và họ trong mình, những bài
nhạc đã động viên tinh thần tôi, và tôi hiểu ra chẳng
phải mình tôi, ngay cả những người dân ở đây cũng cô
đơn, cũng lạc lốị Tôi dường như đồng cảm hơn với
cuộs sống và cũng từ đó tôi tự thấy sự cô đơn tự
đáy lòng mình bớt dày vò hơn.
Tôi đọc lại những bài thơ mình viết về cô đơn mà
thấy sợ. Tôi vẫn không hiểu sao mình viết vậy lúc đó,
nhưng có lẽ lúc này cô đơn đã bớt nặng nề hơn rất
nhiều nên nổi sợ hiển hiện chăng? Cũng là những dòng
khắc của thời gian trong quá khứ, tôi thật không thể nào
quên được :
Từng mãnh đời vụn vỡ
Trong cuộc đời bơ vơ
Làm nên bao phố chợ
Trong không gian ơ hờ
Ném tôi giữa chợ đời
Cuộc đời cứ thế trôi
Tôi mảnh đời lang bạt
Bị cuốn đi tơi bời
Cho tôi hỏi đời này
Còn bao lâu nữa đây
Chấm dứt mảnh đời tội
Ðang vụn vỡ từng ngày ...
Thật sự, tôi chưa từng nghĩ đến cái chết để trốn
tránh sự cô đơn nhưng nói cho thật lòng, sống mà cô
đơn, lạc lõng, không tự biết mình là ai trong cuộc đời
thì có sống cũng như chết ... nhưng có tệ vậy không ...
Nơi nào đó cõi lòng
Cô đơn vẫn xâm chiếm
Như một tấm khăn liệm
Trải lên xác tâm hồn
Viết vậy rồi thôi, tự nhiên viết ra rồi đỡ lắm. Có
lẽ trở về nguồn gốc, chính là trở vê cách viết và
thể hiện con người mình và tâm hồn của mình bằng chính
tiếng mẹ đẻ .
Có lẽ nhờ vậy mà hôm nay tôi đã bỏ lại được sau lưng
cái cảm giác trước đây:
Cô đơn mãi theo tôi
Như hình và như bóng
Chợt thấy mắt mình nóng
Tôi khóc tội đời tôi ...
Cảm giác cô đơn ấy hôm nay với tôi đã xa thật là xa, xa
lắm rồi ....
- Chấp chú ba diểm . hai cơ .
- Thằng nầy láo thật, mầy dám chấp tao ?
Thằng nhóc nắm chân cái cái ghế đẩu ngã ngang ra , thót lên nhẹ nhàng, tay cầm cục phấn vuông , chà vào đàâu cơ, đặt một tay lên mặt tấm nỉ màu xanh lá cây lót bàn, nheo mắt ngắm trái bi, một tay đở thân cây cơ dài hơn cả chiều cao của hắn, đông tác thiện nghệ, trái bi lăn lốp cốp. hai tiếng chạm nhau, một điểm ghi lên bảng .Người đàn ông bước vào, thong thả giở lấy đôi kính mát, xếp lại đút vào túi áo, chớp đôi mắt cho quen với ánh sáng trong quán. Mê mãi với trò chơi , thằng nhóc không nhìn thấy cái bóng cao gầy từ lâu đứng trong góc theo dõi từng cử động, ông nghĩ thầm “ Thằng nhóc chơi giỏi thật, ngần ấy tuổi đầu, ngữ ấy chắc đã tập tành từ lâu rồi ” . Chờ cho dứt hiệp chơi, ông tiến ra, gở cây cơ, dựng vào giá bên vách nhà, vổ lên đầu thằng nhóc, giật mình , hắn nhìn lên , ấp úng
- Cậu Năm
- Ừ ! về con .
Thằng nhóc lủi thủi theo Cậu về, căn nhà mái tôn khuất sau mấy hàng trứng cá xanh mát . Cậu gọi vào
- Chị Hai, xếp cho Cậu Trọng một ít quần áo, lấy hết sách vỡ, tôi đưa cậu về quê.
- Dạ, Thưa ông Năm mới lên ,Bà chưa về, ông vào nhà ngồi chơi uống nước .
- Tôi không chờ được, chị cứ thưa với bà là tôi ghé thăm, và mang cậu Trọng về quê. Thôi được rồi, để tôi viết cho bà lá thơ, chị không phải bẩm báo gì cả, tôi chịu trách nhiệm, chị không lo.
Chị người làm lo thu xếp sách vỡ, quần áo, cho vào cái túi xách tay. Cầm chiếc nón đội lên đầu, Ðẩy chiếc Lambrette ra cổng, đặt cái túi vào phía trước sàn , đạp cho máy nổ, Cạâu Năm quay lại bảo Trọng
- Con ngồi cẩn thận, ôm chặt cậu, không được ngủ gục , té xuống xe đó.
Trọng riu ríu leo lên ngồi phía sau Cậu Năm, nhìn lại một lần nữa, căn nhà mái tôn trong nắng trưa lấp lánh. Con đường liên tỉnh dẩn về quê ngoại, những ngày giỗ Tết theo chân Ba Má, con dường như thâêm sâu dịu vợi, trong lòng hoang mang. Rẽ vào ngã ba, hương lộ vào làng Bằng Tăng trải đá xanh mưa lầy nắng bụi. Mấy ngọn sao cao vút trước đình làng, nhìn xa ngút mắt.Chiếc xe lao đao tránh từng ổ gà, mùa mưa đã qua từ lâu rồi, để lại vết bánh xe lõm sâu trên mặt đường dài như rồng rắn. Hàng quán xơ xác bên ven đường, cạnh ngôi đình làng ngói đỏ, mấy chiếc xe lôi máy, xe lam, đang chờ khách đậu dưới bóng hàng cây trứng cá, bụi bám đầy, lá xanh đổi sang màu xám ủ rũ
Cây cầu xi măng bắt ngang con sông, nước ròng bày hai bãi bùn đen, chiếc xe khựng lại chân cầu, Cậu trả số, vượt lên , bên kia là khu chợ nhỏ, nhà Ngoại nằm gần cuối dãy phố trên bờ, phía dưới sông lơ thơ mấy căn nhà nửa đất nửa sàn. Cậu Năm dừng xe, Trọng nhìn căn nhà quen thuộc , bỗng dưng muốn khóc, lủi thủi xuống xe theo cậu, bọn trẻ từ đâu túa ra
- Ba về, Ba về
Chúng khựng lại, nhìn thấy Trọng phía sau
- Anh Sậu, anh Sậu …
Cái biệt danh Sáu Sậu do bọn nhỏ đặt thay cho tên gọi. Thằng Nguyên, trên tay còn cầm cái ống thụt bằng tre nhỏ, miệng hỏi
- Anh Sậu về chơi…
- Trọng, vào thưa ông bà Ngoại trước đi
Nhà Ngoại gồm mấy căn liên tiếp , căn đầu là phòng khách , phía sau là văn phòng làm việc của Ngoại, căn kế tiếp là phòng ngủ lớn cho cả nhà, hai hàng divan cẩm lai, ngựa gõ, cuối cùng là mấy cái chỏng cây có thành chắn chung quanh dành riêng cho trẻ con . Nối vào căn nầy là khoảng sân lộ thiên , gồm có bồn chứa nước dùng tắm giặt, dây phơi quần áo. Căn cuối cùng là nhà bếp , nhà ăn .
Bà Ngoại nằm trên võng đưa kẻo kẹt, quyển Sấm Giảng trên tay , ông đang ngồi trên ghế tách cà phê còn bốc khói Mợ gọi Trọng
- Thưa Ngoại đi con .
Quay sang c?u, mợ tiếp lời
- Anh rửa mặt , để em bảo tụi nhỏ làm nước đá
- Phượng đââu rồi ?
- Cô nó ngoài vườn sau .
- Biểu đứa nào kêu Cô vào anh có chuyện cần.
Cậu bước ra phía bồn nước, nhúng cái khăn nhỏvào thau, lau bụi đường trên mặt mũi. Trở vào ngồi cạnh ông , mợ đặt ly nước đá xuống trước mặt, cậu nâng lên môi, hớp nước lạnh chảy vào cổ họng, hơi mát toả ra , quên đi nắng gió khô rát và con đường ba mươi cây số vừa qua . Cậu nhẹ nhàng:
- Ba, chị Ba lo buôn bán suốt ngày. Thằng Trọng lêu lổng, con bắt gặp tại trận nó trốn học đi thụt bi da cá độ ngoài quán, thụt rất lành nghề chứ không phải tay mơ.
- Nó bây lớn thôi đã học đòi, mà làm sao chơi lại được với người lớn?
- Ba chưa thấy, con đứng rình coi, chờ cho nó chơi hết một bàn mà.
- Vậy à !
Bà Hương ngồi dậy, gở cặp kiếng làn xuống, xếp lại quyển Sấm Giảng, xổ mái tóc lấm tấm bạc, vuối lại cho gọn gàng, vòng tay búi lên sau ót. Xỏ chân vào đôi guốc dông, thong thả ra bồn múc nước xúc miệng, rửa mặt, rót một chén trà trong cái vỏ dừa chứa bình tích nước, trở vào ngồi lên đầu bộ ván gõ.
Phượng bước vào, mở chiếc nón lá, phe phẩy quạt ngang mặt
- Anh gọi em ?
- Ưø ! Anh mới bắt thằng Trọng về, giao nó cho cô đó.
- Ðang mùa học, sao anh mang nó về?
- Trốn học thì có, anh mới mét Ba, Chị Ba cứ lo đi làm ăn, giao nó cho người làm, ở nhà tập tành lêu lổng chơi , bi da, cá độ .
- Thật à !
Phượng đặt chiếc nón bên cạnh Bà Hương , thong thả đi lên nhà trên.Trọng ngồi trên bộ ngựa gõ, mặt còn đỏ nắng trưa, cái sắc tay mở rộng, sách vở, quần áo tung toé… Phượng nhìn thằng bé từ đầu xuống chân, màu da mốc cời, cháy nắng, nó là con nhà mà như dân trôi sông lạc chợ, mấy nay tháng không về thăm, đã lớn bộn rồi. Phượng giũ mớ quần áo, xếp lại cho ngay ngắn, lật sách vở ra , xem đã học hành những gì..Xếp các thứ lên kệ, Phượng bảo các cháu
- Mấy đứa chuẩn bị đi tắm
Bọn nhỏ tung tăng đi soạn quần áo, lấy khăn tắm …như bầy ong vở tổ, mỗi đứa mang theo một chồng, Phượng dẩn cả bọn xuống bến sông, con hẽm nhỏ giữa hai căn nhà , tay cầm theo xà bông, bàn chải. Ðặt khăn và quần áo , xếp ngay ngắn thành hàng dài trên cái băng bằng gỗ kê dọc theo vách nhà, bọn trẻ tranh nhau chạy xuống cầu , từng đứa nhảy ùm vào con sông, nứơc bắn tung toé. Chờ cho bọn trẻ bơi lội một lúc Phượng gọi từng đứa vào, thấm xà bông lên bàn chải, chà đôi bàn chân nhỏ, xong Phượng sát xà bông lên đầu, bảo chúng vò tóc cho bọt tung toé, nhúng cái khăn kỳ cọ từng đứa thả cho chúng lặn ra xả tóc cho thật sạch . Trọng là đứa cuối cùng, không quen với lối kỳ cọ, vừa đau vừa nhột, Trọng oằn oại, nhưng Phượng giữ chặt quá, khi buông thằng bé ra thì cả người nó đỏ như con tôm kho tàu. Xong chuyện tắm rửa, mặc quần áo, Phượng mang thằng bé ra cắt sạch hai bàn mười ngón móng tay chân, nhìn vào mái tóc rể tre bù xù cháy nắng Ông Ngoại bảo
- Mai mang nó lại đằng Ông thợ Phát, biểu ổng hớt cua, cho nó mát.
- Tóc nó dài như con xà niêng .Chị Ba con lo làm lụng gì đâu, chẳng có thời gian chăm sóc, cứ giao cho người ăn kẻ làm….
Buổi cơm chiều, ngồi vào bàn ăn cạnh thằng Nguyên, trước mặt là chéùn đủa ngay ngắn, mồi đứa có phần ăn riêng. Trọng quen lối ăn uống tự do ở nhà, ngày nào Má cũng tối mịt mới về, Bao giờ đói thì Trọng gọi Chị Hai xúc một tô cơm, chan canh hay gắp thịt cá rồi ra ngoài ngồi ăn, có khi vừa ăn vừa đá cầu cùng bọn trẻ hàng xóm.Gỉ phải ngồi vào bàn ăn với chén đủa lỉnh kỉnh. Nhìn con nhóc ăn đủa thật gọn gàng, Trọng thấy tay chân mình thừa thãi, nghĩ đến tối nay phải ngủ trên bộ ván gõ , không phải cái giừơng quen thuộc, lại càng thấy nhớ nhà hơn, nước mắt đã muốn trào .
Trên bàn ăn của người lớn, câu chuyện xoay quanh những công việc trong ngày, mọi người dường như quên mất chuyện Trọng về nhà, không nghe ai nhắc tới tiếng nào , Trọng phân vân, không biết cái số phận mình ra sao đây, chờ cho mọi người ăn xong, theo bọn trẻ mang chén dĩa đặt vào thau nước. Tưởng là đi ra ngoài chơi. Dì Phượng gọi trở lại, bảo giúp bọn nhỏ chồng ghế lên, đứa lau bàn , đứa quét nhà, rồi đi rửa mặt, mèn ơi ! sao mà nhiều công tác quá, thì giờ đâu mà chơi ? Tụi nhỏø không thấy phàn nàn gì hết, tụi nó quen việc nên làm nhanh chóng rồi kéo nhau lên nhà trên.
Chạng vạng tối, ngọn đèn dầu leo lét, tiếng guốc lộp cộp, Ngoại bưng ngọn đèn chong đi lên gác, tụi nhỏ lục đục theo sau, mỗi đứa lấy một cái áo choàng màu nâu máng thẳng hàng trên vách, mặc gọn gàng vào rồi đi cúng lạỵThời cúng của Ngoại lâu lắm , cả bọn vào lạy mỗi bàn thờ bốn lạy, bàn thờ Phật, thờ Ông bà, bàn Thông thiên, xong kéo nhau đi xuống nhà ,vào học bài với dì Phượng , Ngoại hãy còn ngồi xếp bằng trên gác lần chuỗi
Bài học với dì Phượng mới là cơ khổ, Dì dạy ở trường tiểu học, và kèm bọn nhỏ học thêm ở nhà, nhưng bài học ở nhà khó hơn, học với Dì thì phải biết, nội cái chuyện viết chữ không ngay hàng đã bị khẻ tay .Trọng khổ sở với Dì, một tiếng nói cũng không được, quen nói chuyện mầy tao với bọn trẻ gần nhà, chưởi thề như chấm câu, ba ngày đầu Trọng buộc miệng nói ra, Dì nghe được, thế là lệnh truyền :
- Ðứa nào đứng g?n bên , nghe một tiếng chưởi thề, không vả miệng thì sẽ bị hai cái.
Bọn trẻ không dám cải lời, dù biết làm Trọng cáu , nhưng lệnh của Dì mạnh hơn , chỉ trong mấy ngày ăn tát, Trọng nuốt bẳng cái thứ ngôn ngữ đầu đường đó. chưa kể cái bệnh nói ngọng, dì kiên nhẩn sửa từng tiếng, nói lắp, cà lam , không sao , Dì bắt lập lại, nói từ từ , không cần phải nói nhanh .Tên tục, biệt danh, chỉ dám gọi lén . Dì truyền lệnh cho cả bọn
- Tên nó là Trọng, goị bằng anh Trọng, dứa nào gọi Sáu Sậu sẽ bị tát .
Tất cả luật lệ Dì Phượng đặt ra, phải ráng mà nghe theo, vì trong các hình phạt quì hương thật là cực hình, một lần Trọng cố thổi cho hương mau tàn, không ngờ Dì khám phá ngay , thế là thời gian phạt tăng gấp đôi .Mẹ Trọng lớn hơn các Cậu , Dì, nên bọn nhỏ, ngay cả đứa lớn tuổi hơn cũng phải gọi bằng anh và xưng em, không được gọi mầy xưng tao, Dì cấm ngặt, mầy tao là ngôn ngữ du côn du kề, anh em phải tương kính, phải giữ lễ độ. Khi có người lớn tuổi vào nhà, luôn chào hỏi theo khuôn phép, khi vào ra chạy chơi phải thưa trình cho đùng lễ nghi .
Ngày cuối tuần, khi Ba Mẹ về thăm, cả nhà đang mừøng, Trọng thấy Ba theo ông ngoại lên nhà trên, hai người ngồi nói chuyện gì lâu lắm. Ba xuống nhà ăn cơm , ở chơi đến chiều rồi từ giã, sau khi dúi cho Trọng ít tiền .Tần ngần đứng nhìn theo cái bóng cao của Ba và vành nón trắng khuất dần, Vậy là tất cả hy vọng được theo Ba về nhà tan như mây khói rồi …
Những tưởng chỉ ở lại dăm tháng cho tròn niên học, không ngờ lại tiếp nối cho niên học tới, nhưng Trọng dần dà quen thuộc với quê ngoại, với mấy anh em cô cậu, cũng chung nhau ngày vui ngày đùa, bên cạnh chuyện học tập hàng ngày, rập vào khuôn phép của Dì Phượng, con nhà nầy không thể thua kém, nhất là khi Dì nổi tiếng trong trường, ngôi trường làng do Ngoại xây từ khi chia dân lập chợ.
Mùa hèø là những ngày thần tiên, Ba Mẹ lại mang các chị gởi về quê ngoại, thế là cả bầy cháu nội ngoại tụ lại hơn chục đứa trong nhà. Mỗi đứa đều có nhiện vụ riêng, Dì Phượng dạy học từ lớp năm cho đến lớp nhất, bộ ván gõ dầy đen bóng, Dì ngồi chính giữa, trước mặt là chồng sách giáo khoa cho cả năm lớp, từ chính tả đến toán pháp, không thiếu một môn nào, đọc chính tả lớp nhất, toán lớp ba , tập viết lớp năm, Trọng nhớ cây thước kẻ nằm trong tay Dì, gỏ nhịp nhàng, mỗi nét phải rõ ràng, chữ t viết gạch đầu, chữ o nét tròn trịa…bọn con trai còn đở hơn , bọn con gái còn phải học may vá thêu thùa, mỗi mũi kim đếm ba canh chỉ, mỗi mũi thật đều, hàng thẳng tắp, thấy tụi nó ngồi gò gẫm Trọng càng tội nghiệp thêm.
Thời khoá biểu hàng ngày , sáng dậy, ăn sáng , vào học cho đến trưa, sau bửa cơm là tất cả được nghỉ, có thể chơi đùa tuỳ thích, chiều chỉ học hai tiếng thôi, buổi tối phải theo Ngoại lên gác cúng lạy, ngày rằm lớn thì phải lạy sám hối, một trăm lẻ tám lạy trước bàn Thông Thiên, ê ẩm cả đầu gối, trẻ con vốn mê chơi, nhiều khi mấy đứa thi nhau lạy cho nhanh, đếm nhảy số, Ngoại bắt được, phải trở lại cung kính, từ từ…
Bên cạnh những giờ giấc chặt chẽ đó, cũng không giam cầm được tuổi nhỏ đi hoang cùng những trò chơi mỗi mùa mỗi tiết. Tháng ruộng cày, đầu mùa mưa, theo Ngoại ra đồng bắt dế, về nhốt trong mấy cái hộp, hàng ngày cho ăn, nghe chúng gáy râm ran. Con dế mọi màu đen nhánh, mỗi lần se sợi tóc, chọc vào râu là sừng sộ sẳn sàng chiến đấu .Con d? l?a mầu nhạt hon, nhìn caí lung nở bè ra, đôi cánh vuông vắn, biết ngay là thứ dữ. Trọng giữ mấy con dế chiến lại, nuôi chúng hàng ngày, lo kiếm cỏ non, sau giờù học là chạy ngay vào thăm. Một hôm, về không nghe tiếng dế gáy, mở ra , hộp trôùng phóc, cả một hàng , không còn con nào, ngỡ bọn nhỏ làm sẩy, không lẽ nào sẩy cả năm con ? Trọng tra hỏi cả bọn, có đứa nào táy máy không, bọn nhỏ ngơ ngác…
- Tụi em cũng đi học như anh mà, hay là anh không đóng kín nắp hộp ?
- Có chứ, hộp đóng kín, nhưng dế biến mất cả . chuyện nầy kỳ thật
- Chuyện gì , mấy đứa cải nhau ?
- Anh Trọng mất hết dế, đổ thừa tụi con
- Bà thả nó chớ mất gì, côn trùng cũng là sinh vật, cũng như con người, bắt giết hại mang tội với Trời Phật.
Trọng ấm ức chui vào góc, thế là toi công, mới gò gẫm mấy thằng bên kia sông, chưa kịp cá độ nào thì mất cả. Buồn mấy hôm rồi cũng qua đi ,còn bao nhiêu trò chơi khác. Lần nầy thì Trọng nuôi cá lia thia. Mấy con cá xiêm màu óng ánh, có con vẫy xanh biếc, có con màu đỏ sậm gần như máu bầm.Trọng phải mang vợt đi bộ tận Rạch Chanh lên vườn nhà anh Tao mới xúc được con nầy. Hôm nọ còn phải đổi con cá đen lấy con cá mái mang chúng về ép. Năn nỉ xin mấy cái keo thuỷ tinh, cẩn thận thay nước, chờ cho đám bọt nổi, thả chúng vào. Lại phải canh chừng mà vớt cá mẹ ra , không thì nó nuốt mất bầy cá con bé tí teo , lo hớt lăng quăng về nuôi chúng ăn cho mau lớn, chuyện nay không khó, đằng sau nhà chú Tám, hàng lu hứng nước mưa chứa đầy lăng quăng, chỉ cần cái vợt và cái keo nhỏ, tha hồ vớt . Bầy cá xiêm trống thì nhốt riêng bên , cắt mấy tấm giấy cứng ngăn lại không cho chúng hăng máu đá bóng, mấy con dữ dằn chúng cắn vào thành keo miệng mồm tơi tả.
Nhưng rồi các trò chơi nào cũng có lúc chán, sau mùa cá, mấy cái keo và bầy cá con được chuyển nhượng cho đám em nhỏ. Trọng lại quay sang nuôi gà nòi chờ Tết mang đi cá độ đá nhau, trong lúc mọi người đang chuẩn bị đón Tết, Trọng lo mài nghệ chuốc cựa, tỉa lông cổ cho con gà nòi. Dự trù mùng hai sẽ ra quân, Con gà nầy loại gà ô, màu đen huyền, mồng đỏ thắm. Ba phải nhờ người mua từ trong Số Hai đường đi Rạch Giá, nghe nói trong đó có trường nuôi gà chiến lắm. Hồi còn ở nhà Trọng thèm thuồng thấy mấy con gà của ông Sáu Thường nhốt trong lồng tre. Chúng nó trông thật oai vệ, hàng tuần ông Sáu mang đi cáp độ, có khi về con gà nhìn tơi tả nằm mẹp mất mấy ngày, thuốc men, nước nghệ, nếu không hồi phục được thì rất giản dị , cho vào nồi nấu cà ri là xong .
Những năm tuổi thơ qua nhanh như giấc mộng, từ buổi Cậu mang về cái lò luyện thép của Dì Phượng, bắt đầu học lớp năm trường làng, đến khi học hết lớp nhất Trọng lại khăn gói về nhà, lần nầy mang theo thằng Nguyên , hai anh em nộp đơn thi vào đệ thất trường tỉnh lỵ , mùa hè ngắn nhất cũng là lúc từ giã ngôi trường tiểu học thân yêu nơi quê ngoại , mang theo kỷ niệm ấu thời, bắt đầu cho những năm trung học, cũng là lúc biết thọc tay vào chiếc xe lam ba bánh chở dầu, xoáy xi lanh xe Honda …ngoài giờ học, chúi vào cái garage theo mấy ông thợ máy … cho đến những năm học cuống cuồng, ngưng chiến, ăn mừng chưa kịp, lại leo thang chiến tranh, cuối cùng rồi đổi dời phiêu bạt, mấy anh chị em như bầy chim tan tác, Trọng về xứ Down Under , Nguyên về Bắc Mỹ vùng bốn mùa rõ rệt, rồi cũng thê nhi, con bồng con bế… khi nhớ đến Dì Phượng và bài học thuở nào, mỗi lần lại hăm he bầy con
- Mấy đứa không nghe lời, Ba đóng thùng gởi về cho Bà , cho tụi bay vô lò luyện thép …
Thằng Nguyên xa nhau nửa vòng trái đất, lần cuối khi công tác, ghé sang thăm anh , hai anh em ngồi nhâm nhi khề khà
- Sậu à ! Anh đòi gởi tụi nhỏ về lò luyện thép ? Cái lò đóng cửa từ lâu rồi, bây giờ thành lò nấu nước đường thì có, anh về lại mà coi, con thằng Ngoan, thằng ranh con, biết Bà cưng, hởø chút Mẹ nó đánh là chạy lại bà bênh, cái thứ gì mình bị Bà cấm khi xưa, giờ thằng nhóc làm tuốt luốt, đã vậy, Bà chẳng những không phạt nó mà còn cười … thiệt là hết ý
Mỗi lần gặp mặt tôi, mợ thường đem chuyện của cậu ra kể lể. Ðã bao nhiêu lần tôi xin mợ tha cho tôi, vì chuyện của cậu là chuyện của người lớn, tôi có nghe cũng chẳng thể góp được lời gì vào. Thiết tưởng chỗ vợ chồng, điều vui điều buồn, có gì thẳng thắn chia xẻ với nhau tiện hơn. Mợ thì không nghĩ như thế, mợ bảo anh bây giờ cũng lớn bộn rồi, nghe được câu chi cũng nhận ra đâu là phải, đâu là trái; phương chi cậu anh với anh đều là cánh đàn ông, chắc khi vui tâm sự với nhau dễ đi đến sự thông cảm. Tôi ậm ừ cho mợ vui lòng, rồi mợ nói gì thì tôi cũng xin nghe, nghe mà để đó chờ một dịp nào tỉ tê với cậu.
Chuyện mợ than vãn về cậu không có gì gọi là lớn, chung qui cũng chỉ than là cậu lớn tuổi rồi mà vẫn ham vui, ít chịu để ý đến việc nhà. Hở ra là cậu đi miết, đánh bè đánh bạn, có khi tối mịt vẫn chưa chịu về. Ðôi khi lại còn say sưa, lè nhè nghe bắt mệt. Tôi định bụng sẽ có lần năn nỉ cậu cho theo để coi cậu đi đến những đâu, làm gì, rồi về thưa lại cho mợ yên lòng, nhưng cứ mở lời là cậu bác đi. Cậu thoái thác : chỗ tụi tao là đám bạn già ráo, gặp nhau là nói chuyện trên trời, sắp nhỏ tụi bay ngồi lâu chịu sao thấu. Nửa chừng đòi về là tao đâm mất mặt bầu cua với bạn. Thôi mày lo kiếm chỗ đồng trang, đồng lứa mà đến chung vui, đừng theo cậu, con à.
Mà lỗi cũng tại mợ tôi nữa. Giận cậu thì có giận mà thương thì cứ thương. Trăm lần như một, mợ cằn nhằn cửi nhửi, vậy mà cậu ỏn ẻn xin mợ ký cho cái măng đa là mợ nói lẫy rồi vẫn đưa. Cậu gọi cái măng đa là giỡn cho vui, chứ vợ chồng giúp nhau chút tiền thì cần gì phải đưa nhau ra bưu điện mua chi phiếu chi cho thất công hổng biết. Mợ móc trong túi ra, ít nhiều hổng để ý, đưa tuột cho cậu, cậu cười ruồi với mợ, thế là lảng lảng đi.
Thời buổi khó khăn, ai tìm ra đồng tiền cũng khó. Huống chi bạn bè cậu đều là những ông bạn cùng lớp, cùng trường, lớn lên ra đời cùng chung đơn vị, đến lúc đi tù cũng lại cụng đầu nhau, thế nên bây giờ ai cũng như kẻ thất thời, gặp nhau cho đỡ buồn giây lát.
Các ông kể lể với nhau chuyện người chuyện ta, chuyện to chuyện nhỏ, chuyện tào lao chẳng có đuôi đầu, gọi là ru cõi lòng nhau giữa cuộc đời thê thảm. Ðôi khi có ai nghe lỏm được ở đâu điều gì đó thì lại rỉ tai phổ biến cho nhau, người tin, người ngờ, rồi chuyện đâu bỏ đó.
Giá như ngày trước, các ông gặp nhau mà suông tuột như hồi này chắc là các ông không trụ nổi. Nhưng bây giờ mà kiếm cho ra chai rượu để nhâm nhi tưởng còn khó hơn tìm đường về thiên giới. Thôi thì ông nào có được món gì, đem theo món ấy, củ khoai, nhúm trà, cái bánh, thanh kẹo rồi họp nhau rỉ rả đốt thời gian. Thản hoặc có ông chẳng tìm ra món chi thì bạn bè gặp nhau vẫn hoàn toàn bình đẳng, chứ không so sánh, cằn nhằn.
Cậu tôi vui bè vui bạn như thế, song chẳng hôm nào vắng nhà. Một phần tại ngán tay khu vực nghi là tính chuyện mờ ám nên nhất thiết dù có trễ tới đâu thì tối cũng cố mà lết về. Mợ nấu ăn, có khi chờ hụt hơi không thấy bóng cậu nên một mình ngồi nuốt cơm, mãi đến khi cậu về lại trách : nhà có hai người, kẻ ăn trước, người ăn sau, sao chẳng chờ nhau lấy thảo. Mợ hấm hứ : ở đó mà chờ, biết ông về khi nao mà đợi. Nói thì nói vậy, nhưng cậu vừa ngồi vào bàn là mợ đã đon đả bưng thức ăn ra. Cậu ăn, mợ ngồi gắp món này món nọ, hỏi đẩy đưa cho cậu vui lòng.
Aên rồi, mợ lo dọn dẹp thì cậu đi làm phận sự của cậu. Cậu rũ giường chiếu, giăng mùng rồi ra mời mợ đi nằm. Cậu ê a hát mấy câu, chừng quay lại hỏi chi đó thì mợ đã ngủ mất. Cậu lắc đầu nhủ : đàn bà ngủ dễ thiệt.
Chuyện trong nhà cậu mợ tôi cứ tới lui như vậy. Nghĩa là có một chút không vừa lòng, có một chút giận hờn, có một chút chê trách nhau, có một chút dỗi ghen, nhưng tuyệt nhiên không vì thế mà tính việc xa nhau cho được. Tôi đến chơi thấy vậy cũng mừng, nhất là đầu trên xóm dưới đã có dăm đám vợ chồng bỏ nhau vì chê bai cảnh đời cùng cực, cậu mợ tôi vậy mà vẫn sống được với nhau là hạnh phúc lắm rồi.
Có một dạo tôi ít ghé thăm cậu mợ. Công việc lu bu khiến tôi mở mắt không ra, còn thì giờ đâu mà đi đây đi đó. Vậy rồi hôm đó bất chợt làm sao tôi lại tạt bước qua. Cậu đang ngồi ăn cơm, mợ kề bên quạt cho cậu. Lỡ bước vô, tôi định lui ra để tránh cậu mợ mất tự nhiên trong cảnh hạnh phúc bên nhau. Nhưng không còn kịp, cậu đã nhìn thấy gọi tôi vào. Mợ vẫn điềm nhiên quạt cho cậu như chẳng có sự e lệ xảy ra. Cậu bảo tôi : chừng nào cưới vợ ráng kiếm một người như mợ nghe con. Bà có giận hờn gì đi nữa thì rồi cũng thứ tha coi như huề. Vợ chồng như bát nước đầy, đói no cùng chịu, vui vầy cùng chia. Sắp nhỏ tụi bay bây giờ lí la lí lắc, bặp vô nhau tưởng một dạ bên nhau, dè đâu một người lỡ sa cơ thất thế là kẻ kia vội đánh bài chuồn. Mày thấy đó, cậu hư biết mấy mà mợ nào có xa cậu được đâu.
Tôi thấy mợ đưa tay nhứ nhứ, song chỉ nhứ vậy thôi chớ không thấy đụng vào đâu. Rồi mợ cứ xuýt xoa : ông làm như ngon dữ. Bữa đó, tôi ở chơi nhà cậu mợ tới khuya. Cậu cứ nhẩn nha ăn, còn mợ cứ đổi tay quạt cho cậu liên hồi. Ðến khi cậu ăn xong, mợ lại bày bàn trà ra để cậu mợ với tôi ngồi uống. Cậu lấy cây đàn cò ra kéo í o, mợ vẫn quạt cả cho cậu với cho tôi. Cậu vừa kéo đàn vừa hát : đêm qua có lũ cò về, bay trên đồng ruộng rủ rê bạn tình. Trăng nhìn trăng cũng lặng thinh. Cò than vãn lấy cuộc tình lẻ loi… Tôi bạo dạn góp ý kiến : cậu hát câu nghe buồn quá. Cậu hỏi lại tôi chứ mày thấy vui nỗi gì, chỉ cho cậu coi. Rồi cậu quay quay cái đầu như hất cái sầu nào đang len lỏi đến. Mợ thấy cậu lắt lay sầu, mợ vội quạt nhanh tay hơn, rồi mợ lấy cái khăn lau lên trán cậu. Lúc đó tôi thấy cậu như người thất thần. Cậu thở dài nặng nhọc, nói bâng quơ mà nghe cay đắng làm sao.
Trời không trăng nên ánh đèn leo lét trông không thực. Chốc chốc tia sáng soi chỗ này chỗ khác trên mặt cậu, tôi thấy như có những vết lồi vết lõm cùng ở khuôn mặt này. Tôi nhìn cậu rất sâu, cậu càng đưa cái nhị nhanh tay hơn, tiếng đàn càng thêm réo rắt. Cậu nghiêng cái đầu như theo dõi tơ đàn, lâu lâu thở ra như trút đi niềm xót xa cay đắng. Mợ tôi và cả tôi cùng nín lặng chờ. Tôi đoán trong lòng cậu đang có những cơn sóng trào lên như bão tố. Nhưng cậu vẫn cứ đàn, tiếng đàn càng hung hăng như gió dồn vào đẩy sóng tăng thêm sức mạnh. Mợ tôi thẫn thờ nhìn cậu như người đang nhập cơn đồng thiếp múa may. Sau cùng thì tiếng thở dài của cậu bật ra khi cung đàn bật lên một nấc cao nhất và tắt lịm. Tôi thấy mồ hôi vã ra nơi trán cậu lấp loáng theo ánh đèn.
Ðó là lần duy nhất tôi gặp sự xuất thần nơi cậu khi đem tâm sự dồn vào tiếng đàn nhị giữa đêm. Tôi chợt hiểu ra tại sao trong con người cậu tôi có những đổi thay mạnh bạo đến vậy. Chả trách gì mợ tôi không làm sao xa nổi cậu, dù cho cậu có lỗi lầm đến thế nào đi nữa.
Tôi ở nhà cậu mợ về, dù trời rất trong, lại có gió, mà vẫn thấy mình ngột ngạt. Tôi đi mang theo tiếng đàn nhị của cậu. Lềnh bềnh câu hát của cậu quấn quít bước chân tôi : ta về đàn chẳng xa ta, ta về đôi mắt nhẩn nha nhìn vào. Thương em số phận ba đào, đàn ta thánh thót, em nào có vui. Cùng em xa vắng nụ cười, tình ơi xa cách một đời cực chưa…
Vâng cái cuộc đời cực chưa đó nó đã vương vấn tôi từ ngày tôi xa cậu. Mỗi lần nghe ai đàn, tôi lại thấy bóng cậu nghiêng đầu kéo cái nhị hôm nao. Nhưng cậu thì không còn nữa. Mợ tôi giờ đây còn có ai đàn để cho nghe khúc tương tư mà nhớ đời.
Bởi vậy tôi cứ thương cho mợ tôi lấy phải người có tâm hồn nghẹ sĩ nên đã dám quên đi để lo trọn đời chồng.
Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nộị
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn nàỵ Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đờị
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, Californiạ Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...
Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứụ
Tác phẩm chọn lọc:
Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)
Ngục Ca
Vào những năm đầu của thập niên 80, đã không có gì gọi là thay đổi lớn trong đường lối hay khuynh hướng sáng tác của tôi cả. Từ 1977 cho tới bấy giờ, tôi đã soạn ra một số bài hát mà tôi gọi là tị nạn ca trong đó, bên cạnh những thảm trạng của chúng ta trong đời sống lưu vong, quê hương được nói tới nhiều nhất... Và chỉ được nói lên với giọng nói mê sảng hơn là với giọng nói yêu đương. Cũng vì thế mà tôi gọi tị nạn ca là những bài hát ảo ảnh quê hương.
Trong khi đắm mình vào đề tài quê hương thì từ quê hương bỗng lọt ra tiếng nói của một người tù làm mọi người -- trong đó có tôi -- sửng sốt. Một tập thơ với nhiều nhan đề : Chúc Thư Của Một Người Việt Nam, Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực, Hoa Ðịa Ngục của một thi sĩ chưa ai biết là ai, đã tới với người tị nạn Việt Nam ở trên thế giới trong hoàn cảnh khá ly kỳ : người thi sĩ gần như ở tù chung thân vì chống đối nhà nước Công Sản này, nhân trong thời gian ngắn ngủi được thả ra, đã ném vào Toà Ðại Sứ
Anh Quốc ở Hà Nội một tập thơ viết tay... rồi tập thơ được ông Ðỗ Văn của Ðài BBC chuyển cho các báo chí Việt Nam ở hải ngoại. Người thi sĩ mang tên Nguyễn Chí Thiện cùng với những bông hoa địa ngục này đã lập tức trở thành hiện tượng nóng bỏng nhất của người Việt Nam từ khi trên một triệu người bỏ nước ta đi...
Lúc đó, trong cơn mê sảng vì coi như đã mất quê hương và với cái nhìn hãy còn chan chứa tủi hờn, tôi vội vàng ôm lấy tập thơ của Nguyễn Chí Thiện và phổ nhạc 20 bài. Tôi gọi những ca khúc này là ngục ca và gọi thi sĩ là ngục sĩ. Hai mươi bài đó là :
1.- Từ Vượn Lên Người, Từ Người Xuống Vượn
2.- Ðảng Ðầy Tôi
3.- Ngày 19 Tháng 5
4.- Xưa Lý Bạch
5.- Những Thiếu Nhi Ðiển Hình Chế Ðộ
6.- Tôi Có Thể hay là Vô Ðịch
7.- Chuyện Vĩ Ðại Bi Ai
8.- Thấy Ngay Thủ Phạm
9.- Nước Ðổng Trác Ðiêu Thuyền
10.- Sẽ Có Một Ngày
11.- Cái Lầm To Thế Kỷ
12.- Ðôi Mắt Trương Chi
13.- Vì Ấu Trĩ
14.- Tia Chớp Này Vĩ Ðại
15.- Ôi Mảnh Ðất Hình Hài Chữ S
16.- Ðất Nước Tôi
17.- Xin Hãy Giữ Mầu Trong Trắng
18.- Biết Ðến Bao Giờ Lời Thơ Của Tôi ?
19.- Trong Bóng Ðêm
20.- Thời Ðại Hồ Chí Minh
Tôi đã cố gắng làm cho ngục ca có nhiều nhạc tính khác nhau. Khi thì chua sót như trong Những Thiếu Nhi Ðiển Hình Chế Ðộ, Chuyện Vĩ Ðại Bi Ai... Khi thì ngạo nghễ như trong Ðảng Ðầy Tôi, Xưa Lý Bạch... Khi thì cười cợt như Từ Vượn Lên Người Từ Người Xuống Vượn, Nước Ðổng Trác Ðiêu Thuyền... Khi thì mãnh liệt như Trong Bóng Ðêm... Khi thì như vè, như ca dao trong Thấy Ngay Thủ Phạm... Khi thì trong sáng, lãng mạn như Sẽ Có Một Ngày...
Ngục Ca được tôi đem đi trình diễn ở hầu hết các cộng đồng Việt Nam trên thế giới cho tới ngày thi sĩ Nguyễn Chí Thiện được thả ra và xuất ngoại thì tôi thôi không trình bày loại ca này nữa...
Với lời hứa luôn luôn khóc cười theo mệnh nước và vì đời sống lưu vong làm cho tôi gần như cạn nguồn sáng tác, sau khi đã hát lên sự đau khổ của quê hương bị kìm kẹp qua nhũng bài thơ máu lửa của Nguyễn Chí Thiện... bây giờ lòng tôi chùng xuống, tôi tìm về những bài thơ có dính líu tới nước Việt Nam khốn khổ khốn nạn của tôi, những bài thơ dịu dàng hơn, ít căm hờn hơn để cho tôi có thể được gần gũi với mảnh đất quê hương mà tôi đang dần dần bị xa lìa, có thể không bao giờ được gặp
lại.
Một tập thơ khác -- cũng là thơ chép tay -- đã đến với tôi, lại là thơ của một người bạn cũ, đã từng cùng tôi đi làm công tác văn nghệ trên những nẻo đường kháng chiến hồi 1946-47, thơ của một kiện tướng
trong vụ NHÂN VĂN GIAI PHẨM, một vụ đấu tranh ôn hoà cho nhân quyền ở Việt Nam hồi cuối 60...
Ðó là tập thơ chui của Hoàng Cầm mang tên ÐƯỜNG VỀ KINH B?C, viết lén lút sau khi thi sĩ cùng các bạn đồng chí hướng như Nguyễn Hữu Ðang, Trần Dần, Lê Ðạt, Văn Cao Tử Phác... bị chính quyền bẻ
bút, đập đàn vì tội chống đối...
Tập thơ giúp tôi soạn ra những bài hát rất ngọt ngào nhưng cũng rất đắng cay mà tôi gọi là HOÀNG CẦM CA.
* * *
Hoàng Cầm Ca
Trước hết, tôi -- và hoạ sĩ Tạ Tỵ -- ngồi nhớ lại những mẩu thơ tình của Hoàng Cầm, soạn ra vào lúc chàng ta mới 17 hay 18 tuổi. Nhớ ra một mẩu thơ ngắn vô đề, tôi bèn phổ nhạc ngay, có thêm thắt vài câu cho đủ nhịp, đủ phách. HOÀNG CẦM CA số 1 này mang tên TÌNH CẦM, nghĩa là ''mối tình của Hoàng Cầm'' hay ''mối tình của người cầm đàn'' cũng được :
TÌNH CẦM
Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với anh
Những khi chiều vàng phơ phất đến
Anh đàn em hát níu xuân xanh.
Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ
Có anh ngồi lại so phím cũ
Mong chờ em hát khúc Xuân xưa.
Nhưng thuyền em buộc trên sông Hận
Anh chẳng quay về với trúc tơ
Ngày tháng tỳ bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ.
Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến Thu xa
Thì đôi mái tóc không còn xanh nữa
Mây bạc trăng vàng vẫn thướt tha...
Còn thơ trong thi tập ÐUỜNG VỀ KINH B?C thì là thơ ẩn dụ, những câu thơ mà nếu đọc lên thì ai cũng thấy bàng bạc hình ảnh và mầu sắc tuyệt vời của quê hương nhưng không ai hiểu Hoàng Cầm muốn nói gì trong đó? Trong những giờ phút lung linh của sáng tạo, tôi bỗng hiểu được ý nghĩa của những bài thơ đầy ẩn ngữ này.
Bài LÁ DIÊU BÔNG là sự đi tìm cái lá bông diêu ở vùng Ðình Bảng (Bắc Ninh), một thứ mỹ phẩm có khả năng tô điểm lại nhan sắc đã mất ở nơi người chị :
LÁ DIÊU BÔNG
Ðứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Ðứa nào tìm được lá diêu bông...
Vài ngày sau em tìm thấy lá
Chị chau mày : đâu phải lá diêu bông!
Mùa Ðông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu nhìn nắng vãn bên sông.
Ðứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay tao sẽ nhận là chồng
Tao sẽ nhận là chồng
Ðứa nào tìm được lá diêu bông...
Ngày cưới Chị, em tìm thấy lá
Chị mỉm cười, se chỉ, cắm trôn kim
Chị đã ba con, em tìm thấy lá
Xoè tay, phủ mặt, Chị không nhìn...
Ðứa nào tìm được lá diêu bông
Thì từ nay tao sẽ gọi là chồng
Tao sẽ gọi là chồng
Ðứa nào tìm được lá diêu bông...
. . . . . .
Từ thuở đó, em cầm chiếc lá
Nơi đầu non cuối bể, em đi
Lời vi vút gió quê lắng gọi
Diêu bông hời hỡi diêu bông
Em đi trăm núi nghìn sông
Nào tìm thấy lá diêu bông bao giờ...
Bài QUA VƯỜN ỔI là hình ảnh của đám dân đen, thấp cổ, bé miệng, ngắn tay... không với tới đuợc những thứ ăn rất tầm thường ở trên cây cao, như ổi xanh, ổi ương chẳng hạn :
QUA VƯỜN ỔI
Cách xa ba bước qua vườn ổi
Chị xoạc cành ngang em đứng trông
Này chị ơi ! Xin chị một quả non
Ổi non, em ơi còn xanh chát a à
Ổi non xanh chát lè.
Cách xa ba bước qua vườn ổi
Chị xoạc cành ngang em đứng trông
Này chị ơi ! Xin chị một quả ương
Ổi ương, em ơi bị chim khoét a à
Ổi ương chim khoét rồi.
Này chị ơi ! Xin chị một quả chín
Ổi chín, em ơi tít ngọn cây a à
Ổi chín quá tầm tay.
. . . . . . . . . . . .
Cách xa ba bước qua vườn ổi
Chị xoạc cành ngang em đứng trông...
. . . . . . . . . . . .
Lẽo đẽo em đi đường mai sau
Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng...
Bài CỖ BÀI TAM CÚC là hạnh phúc xa xưa của dân tộc đã mất... hi vọng có ngày giành lại được hạnh
phúc đó :
CỖ BÀI TAM CÚC
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Chị gọi đôi cây trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa chị tới quê em..
Ghé coi bài, tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa, chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui xấp ngửa
Ổi rơm thơm đọng tuổi xuân thì.
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Ðứa được bài chinh chuyền xủng xẻng
Ðứa thua bài đáo gỡ ngoài thềm.
Ðứa được bài chinh chuyền xủng xẻng
Ðứa thua bài đáo gỡ ngoài thềm
. . . . . . . .
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Em đi đêm Tướng điều, Sĩ đỏ
Ðổi Xe hồng, đưa chị tới quê em
Pháo, Mã ra bài, năm sau giặc giã
Quan Ðốc Ðồng áo đen nẹp đỏ
Xua Tốt điều đè lũ Tốt đen
Thả Tịnh vàng đưa chị võng mây trôi.
Em đứng nhìn theo
Em gọi : Ðôi !
Bài ÐẠP LÙI TINH TÚ là hình ảnh quê hương buồn bã, ngủ vùi, chỉ có con cá là còn thức và dẫy dụa,
khuấy nước, làm tan đi bóng trăng, bóng sao trên mặt ao :
ÐẠP LÙI TINH TÚ
Ta là con bê vàng lạc dáng chiều xanh
Ði tìm sim mà sim chẳng chín
Ta lên đồi thông nằm miếu Hai Cô
Gặm cỏ mưa phùn
Ngoài đồng sương bóng người thấp thoáng
Chiều nay mẹ chẳng về chuồng.
Ta là con chim cu về gù rặng tre
Gọi nắng ấu thơ về sân đất rộng
Mong tin mừng từ những trời xa
Ðưa mây lành về tụ nóc rơm
Ta là con chào mào khát nước
Về vườn xưa hạt nhãn đâm mầm
Ta, cây ổi giơ xương
Chống đỡ mùa Ðông xụp về đánh úp
Ta, cây ổi giơ xương
Chống đỡ mùa Ðông xụp về đánh úp
Ta là con phù du ao trời lận đận
Trên cánh bèo đong gió
Lặn dưới nước tìm sao
Hứng nước mắt con chim vành khuyên nhớ nhà nhớ tổ
Vừa rụng chiều nay, làm dềnh mặt nước gương sen
Ta soi hình vào tận đáy ao đêm
Chỉ thấy mình đạp lùi tinh tú
Ngủ say rồi đôi cá đòng đong.
Bước vào thập niên 90, cùng với sự thay đổi ít hay nhiều tại các nước xã hội chủ nghĩa, Hoàng Cầm và các bạn cùng số phận đã được phục hồi. Anh lại được công khai làm thơ và thơ của anh bây giờ mang nhiều tính chất tâm linh hơn bao giờ hết. Tôi lại được gặp bạn cũ qua thư từ, qua những món quà văn nghệ như thơ và nhạc... Tôi phổ nhạc thêm một bài thơ rất đẹp của Hoàng Cầm :
TRĂM NĂM NHƯ MỘT CHIỀU
Anh đứng đây là đâu?
Là đâu, anh đứng đây là đâu?
Em cười như lá mỏng
Khép cửa vào chiêm bao a á...
Anh đứng đây là đâu?
Là đâu, anh đứng đây là đâu?
Anh đứng đây là đâu?
Là đâu, anh đứng đây là đâu?
Em nói như gió nghẹn
Chiều như mây Thị Mầu
Em nhìn như mưa trắng
Trăm năm bay ngang đầu...
Anh đứng đây là em
Là em anh đứng đây là em...
. . . . . .
Em đứng đây từ bao
Từ bao, em đứng đây từ bao?
Em từ trong lối hẹn
Hé cửa về mai sau a á
Em đứng đây từ lâu
Từ lâu em đứng đây từ lâu
Em đứng đây từ lâu
Từ lâu em đứng đây từ lâu
Anh tới nơi ước hẹn
Chiều nay như thuở nào
Anh nhìn em trong nắng
Trăm năm như một chiều
Anh đứng đây là em
Và em, em đứng đây là anh...
Vài Bài Ca Tị Nạn Cuối Cùng
Thế là sau ba đợt tị nan ca, ngục ca và hoàng cầm ca như vậy, vào năm 1983, nghĩa là sau gần một thập niên bị khủng hoảng, hình như tôi đã có được sự quân bình trong đời sống. Tôi đã trở thành một công dân Mỹ, tôi có thể xin được chấm dứt cuộc đời tị nạn rồi... Tôi soạn một bài hát bình dị, coi như để lại dĩ vãng sau lưng.
RỒI ÐÂY ANH SẼ ÐƯA EM VỀ NHÀ
(Midway City, CALIFORNIA-1983)
Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà
Nhà của đôi ta, xinh xinh nhỏ bé
Có vườn rau xanh ngát ngoại ô
Có mùa mưa hay nắng mộng mơ
Cây me già trong ngõ
Hoa lá đổ về khuya
Mùi hương lối xóm bay đi chàn chề.
Rồi đây anh sẽ đưa em trở về
Về nơi công viên yên vui lặng lẽ
Hãy ngồi đây, ghế đá ngày xưa
Dưới hàng thông có gió lửng lơ
Con chim nào thường hay hót
Con bướm nào thường hay bay
Về đây với những thương yêu hàng ngày.
Về đây với những bước chân trìu mến
Những bước chân êm trên phố phường quen
Nếu mưa rơi sẽ mát lòng em
Về đây ta sẽ tới ngôi chùa cũ
Lắng tiếng chuông xưa, nghe tiếng tình tơ
Bến đò xa, cô lái vẫn chờ.
Rồi đây ta sẽ đưa nhau về nhà
Về miền quê ta thơm tho mùi lúa
Có cầu ao yên giấc ngủ trưa
Có đồi non êm ái cỏ hoa
Con sông nào đưa lối
Tiếng hát nào chơi vơi
Biển Ðông vỗ sóng ru ta bồi hồi
CODA
Biển Ðông vỗ sóng ru ta đời đời !
Bước vào thập niên 90, tôi bước vào mùa Thu của đời mình. Tôi soạn bài TÌNH THU để tặng mình nhiều hơn là để tặng người nghe nhạc :
TÌNH THU
Midway City, California-1983
ÐIỆP KHÚC
Ðã Thu về đó, ới ơ người tình
Ðã già thêm nửa hành trình thương yêu
Ðã nghe nhịp sống, ới ơ đìu hiu
Ðã nghe gần gũi nhạc thiều âm ty.
Tôi đã sống cuộc đời lung linh hiển hiện
Mặt trời lên, rồi chết dưới chân mây
Hoa đang tươi chợt héo hắt trong ngày
Rồi Thu tới cho đời thêm goá bụa
Tôi đã sống một đời thừa thương nhớ
Thừa đôi tay, thừa nước mắt, làn môi
Tôi vẫn hát khi đời câm tiếng hát
Người xa người, và tình sẽ pha phôi.
ÐIỆP KHÚC
Ðã Thu về đó, ới ơ người tình
Ðã già thêm nửa hành trình thương yêu
Ðã nghe nhịp sống, ới ơ đìu hiu
Ðã nghe gần gũi nhạc thiều âm ty.
Tôi đã sống một đời mong manh ảo vọng
Một lần vui bù mấy kiếp thương đau
Con nai tôi thường mắc lưới trong chiều
Hoàng hôn xuống cho thời gian ngã gục
Tôi đã sống một đời thừa sức sống
Tình lên cao, tình cũng đã chìm sâu
Tôi vẫn biết Thu về, tình sẽ chết
Ðời xa đần, và người vốn quên mau.
ÐIỆP KHÚC CUỐI
Ðã Thu vàng úa, ới ơ tình rồi
Tôi còn mê mải cuộc đời đi quanh
Hát lên một tiếng, ới ơ buồn tênh
Tiếng Thu một khúc mà thành thiên thu.
Thế rồi vào đầu năm 90, làn sóng dân chủ dâng lên ở khắp nơi trên thế giới khiến cho những nước có sự kỳ thị màu da như Nam Phi phải thay đổi và các chế độ độc tài, độc đảng Châu Âu thì sụp đổ hoàn toàn với bức tường Bá Linh ô nhục... Biến cố Thiên An Môn ở Bắc Kinh cho thấy chế độ độc tài ở Á Châu sẽ có ngày phải được thay thế bằng chế độ dân chủ. Ðể ''ăn mừng'' sự tiến hoá của nhân loại, tôi soạn bài :
BÀI CA DÂN CHỦ
(Món Quà Tự Do)
Chỉ có là điên thì mới thản nhiên,
Tay ôm tay giữ bạo quyền độc tôn
Nên không nghe tiếng dân ca DÂN CHỦ
Nên không nghe tiếng dân ca DÂN QUYỀN
Mùa Hè Bắc Kinh.
Cả một đời tôi chỉ là lìa đôi
Chia ly ngăn cách bằng bờ tường thôi
Nên tôi sung sướng nghe câu dân chủ
Nên tôi sung sướng nghe câu dân tình
Ðục tường Bá Linh.
Người Tầu già nua cho nên lỡ hẹn
Máu chẩy đầm đià lụt cổng Thiên An.
Người miền Ðông Âu đêm vui Thiên Chúa
Giáng Sinh nhận quà là món TỰ DO.
Chỉ thấy mừng rên nhìn thấy đời lên.
Ðông Âu rét mướt trở về mùa Xuân.
Vươn lên trong tuyết bông hoa dân chủ
Vươn lên không chết bông hoa muôn đời
Ðể Tiệp Khắc vui.
Một mảnh trời Âu từng chịu khổ đau
Bao quanh giây thép tưởng là dài lâu
Con tim êm ái con tim dân chủ
Con tim dân đã xuyên qua lao tù
Hàng rào sắt co.
Vì bạo quyền ngu nên rơi lỗ thẳm
Máu chẩy đền bù lệ cổng Thiên An
Kẻ độc tài quên Ba Lan, không nhớ
Cuối năm nhận quà là chết không mơ !
Chỉ thấy phải xa chủ nghĩa mầu da,
Phân chia giai cấp... chỉ là nhục ô
Vươn lên trong gió, Phi Châu dân chủ
Không phân da trắng hay da đen mờ
Cuộc đời chúng ta...
Rồi thấy thật vui được sống cùng ai
Trong thiên niên mới hoà bình mọi nơi.
Ai vô duyên đó tay ôm chưa cởi
Xin nghe dân hát lên ngôi đây rồi
Mở đường lối mai.
CODA
Xin nghe cho kỹ câu ca DÂN CHỦ
Xin nghe cho kỹ câu ca DÂN QUYỀN
Mùa hè Bắc Kinh
Vượt tường Bá Linh
Trời Tiệp Khắc xanh
Còn nhiều nữa anh !
Còn nhiều nữa em !
Còn nhiều nữa anh !
Thế rồi, đối với tôi, nếu không xẩy ra trong thế kỷ này thì qua thế kỷ 21, bài toán Việt Nam sẽ phải được giải quyết theo chiều hướng tốt.
Từ nay trở đi, tôi quyết định giã từ hai con người tình cảm, con người xã hội để cho con người tâm linh của tôi được ung dung soạn ra những bài hát nhiên hòa, sau khi đã dâng quá nửa đời người để dùng âm nhạc điều hợp con người và xã hội với những bài ca nhân hòa...
*
* *
Anh Yêu Dấu,
Những cánh mai vàng sắp hé nở, tiếng chim hót bắt đầu ríu rít trên cành, và chiếc áo mới cũng đã được cô bé của anh ủi sẳn, để chờ anh về, chờ anh đưa em đi hội chợ xuân, để được nhìn ngắm những đoàn lân nhảy múa vui saỵ Những bài nhạc xuân nồng nàn thắm thiết như: " Ly Rượu Mừng, Xuân Ca, Xuân Này Con Không Về " vẫn là những tình khúc bất hữu để đời từ bấy lâu nay . Những tà áo dài muôn hoa muôn sắc đua chen nhau như một rừng hoa rực rỡ trong trời xuân.
Niềm vui nhất của mùa Xuân, là sao anh biết không ? Là nơi đây sẽ có anh, anh sẽ đi bên em, sẽ đưa em đi lễ Phật, hai ta sẽ cùng nhau thắp hương và hái lộc đầu năm. Em thích nhất xin sâm, bói quẻ đầu năm để cầu vận mệnh của hai ta luôn mãi đẹp .
Mỗi mùa xuân trôi qua, cô bé của anh, lại già thêm 1 tuổi nữa, không biết là em nên vui hay nên buồn ? Nhưng có một điều em biết chắc rằng : " Em mãi là của anh, tình yêu đã nuôi dưỡng con tim và tạo cho em có nhiều nghị lực vượt qua tất cả những thử thách, khó khăn của từng ngày tháng qua, để biết rằng : " Em yêu anh nhiều lắm, và em không thể thiếu anh trong cuộc ssống của em.
Rồi ta sẽ cùng nhau thưởng thức những chiếc bánh chưng với dưa cải, do chính tay của Mẹ em làm, Những mâm mứt gừng, mứt dừa, mứt bí đang chờ đón anh …. Hãy cùng nàng xuân về bên em, về để nối lại nhịp cầu, về để nói lên tiếng yêu …
Hãy cùng cánh én đầu xuân
Hoà chung điệp khúc đơn thuần yêu nhau
Mai vàng đua sắc khoe màu
Muôn tà áo mới thả cầu trao duyên
Cùng nàng bướm trắng hồn nhiên
Nhởn nhơ bay lượn dịu hiền đến bên
Hỏi rằng anh nhớ hay quên
Lời yêu năm cũ với tên người tình
Vui xuân, tràn những bóng hình
Muôn câu chúc tụng duyên mình trăm năm
Viết Cho Giao Mùa
Xuân Ất Dậu 2005
~~~/~~((@
Câu Ðối Tết
Nguyệt San Giao Mùa 2005
Câu Ðối Xuân Ất Dậu
*1.
Tiển Giáp Thân: Nhân lọai chung lòng, chống thiên tai tiểu trừ khủng bố
Ðón Ất Dậu: Năm Châu bền đỗ dựng xây nền Dân Chủ - Tự Do.
*2.
Tống Tề Thiên: Ðại Dương nổi cuồng phong khiến chomuôn dân lầm than vô kể!
Nghinh Thần Kê: Thế giới yêu thương dang tay chia sẽ thấm nghĩa tình người!
*3.
Tiếng Việt là gốc, gốc phải giữ gìn cho bền cho chắc
Chữ Việt là nguồn, nguồn cần gạn lọc, mới ngọt, mới trong.
*4.
Văn Hiến nước nam ngàn đời sáng ngời cùng nhật nguyệt
Giống nòi dâ n Việt trung hiếu - Tiết liệt đẹp mãi với non sông.
*5
Hòa nhập không hòa tan,người Việt Nam giữ phong hóa Việt Nam ngàn năm đậm đà bản sắc.
Bảo tồn không bảo thủ, sống, học hỏi xứ người, ngàn đời không đánh mất bản chất Lạc Hồng.
Thơ Xuân Vui
Xuân Vui Thơ
Thơ Vui Xuân Tết Ất Dậu
GÀ VÀ KHỈ
Chú gà trống Chọi ó o
Chú khỉ bắt chước khẹt khò nháy theo
Chú gà nhìn Khỉ nói trèo
Khỉ ơi! Chú gáy như mèo đòi ăn
Nghe nè . . .Gà lại gáy vang
Bình minh rực sáng dưới hàng cây xanh
Gà liền đập cánh khoe khoan
“Nhờ ta gáy, nắng lên vàng. Thấy chưả”
Khỉ cười: “Ðừng có nói bừa.
Chờ sáng mi gáy… Ðâu lừa được ông?
Thôi đừng rướn cổ phùng lông
Gà nhà bôi mặt. . .
Chổng mòng mòng đá nhau .”
23 th áng Chạp 2004
Sông Cửu
Tiếng Gà Gáy.
Ất Dậu đến, thay ca năm mới
Khỉ gặp gà xởi lởi bàn giao
Cuối năm xuôi xẻo làm sao!
Sóng thần, động đất chết bao vạn người!
Khăp thế giới ngậm ngùi cứu trợ
Chia sớt nhau đau khổ vượt qua
Ðể mùa xuân mãi trổ hoa
Họa thiên tai lại nở ra tình người
Gà nghe báo, rụng rời bủn rủn
Thương nhân quần, cũng lắm tai ương
Ðón Xuân! Gà gáy mở đường
Cất tiếng gọi, tình yêu thương trở về!
“Hởi những bậc chức quyền tước vị
Hãy quan phòng khổ lụy sinh linh
Cầu mong bốn biển hòa bình
Năm Châu hạnh phúc dân tình ấm no!
Ò ó o . . . . Ò o . . . .!!!
Tết Ất Dậu 2005
Quí vị, quí bạn thân mến,
Sức Khoẻ Là Vàng thân gửi đến quí vị, quí bạn bài viết “Không nên lạm dụng kháng sinh” của Bác sĩ Nguyễn Văn Ðích. [Unicode phía dưới, VNI trong attachment.] [Bài sẽ đăng trên Website Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do (www.hqtysvntd.org), mục Y Học Thường Thức.]
[Trân trọng giới thiệu với quí vị, quí bạn sách "Viết, đọc chữ Việt trên computer và Internet" do Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do (www.hqtysvntd.org) ấn hành. Sách soạn công phu, trình bày mỹ thuật, dày 134 trang, giá US$12.00 (cộng cước phí). Xin liên lạc: YTE Distributors, Inc., P.O. Box 2043, Westminster, CA 92684-2043, USA; Tel: (562) 436-2566; Fax: (562) 436- 8998; E-mail: Ytedis@yahoo.com .]
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức
--------------------------------------------------------------------------------
Không Nên Lạm Dụng KHÁNG SINH
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðích
Kỳ này, mời quí độc giả đọc bài viết của Bác sĩ Nguyễn Văn Ðích, để hiểu sự nguy hiểm của việc dùng kháng sinh (còn gọi trụ sinh) bừa bãi.
Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức
Kháng sinh là một nhóm thuốc quý. Từ ngày tìm ra kháng sinh, chúng ta đã chữa khỏi nhiều bệnh nhiễm trùng, cứu được nhiều người, kéo dài tuổi thọ của nhân loại. Kháng sinh đã được coi như “thần dược”, nhưng cũng vì thế mà bị hiểu lầm, coi như có thể chữa được bá bệnh, đưa đến lạm dụng. Sự lạm dụng đưa đến hậu quả tai hại là thay thế các vi trùng nhạy với kháng sinh bằng các vi trùng kháng với kháng sinh. Nếu tình trạng này cứ tiếp tục thì chẳng bao lâu chúng ta sẽ bị tước mất một võ khí lợi hại chống lại vi trùng và sẽ lùi trở lại tình trạng của thời kỳ chưa có kháng sinh!
Kháng sinh là gì?
Kháng sinh là các hoá chất có thể tiêu diệt hoặc kiềm hãm sự phát triển của vi trùng.
Năm 1928, Alexander Fleming nhận thấy rằng vi trùng không thể sống được trong môi trường có loại nấm Penicillium notatum. Ông chứng minh rằng loại nấm này tiết ra một chất có khả năng tiêu diệt vi trùng, gọi là penicillin. Từ 1940, các bác sĩ đã dùng penicillin để điều trị bệnh nhân.
Từ khám phá đầu tiên này, các nhà khoa học đã tìm được các kháng sinh khác từ các loại nấm khác như các kháng sinh aminoglycosides (streptomycin, kanamycin, amikacin, ...) từ các loại nấm Streptomyces; gentamycin từ Micromonospora purpurae có tác dụng đối với các trực trùng gram âm và một số cầu trùng gram dương; các kháng sinh cephalosporins từ Cephalosporium acremonium có tác dụng đối với tụ cầu trùng và các cephalosporin tổng hợp có tác dụng rộng; chloramphenicol từ Streptomyces venezualae có tác dụng rộng nhưng ít dùng vì độc; erythromycin từ Streptomyces erythreus thường dùng cho nhiễm trùng đường hô hấp, v.v..
Penicillin và cephalosporins có cấu trúc chung là vòng beta lactam có đặc tính diệt khuẩn bằng cách phá hủy sự tổng hợp thành của tế bào vi trùng.
Từ chất penicillin nguyên thủy, người ta đã tạo ra các chất penicillin bán tổng hợp bằng cách gắn một số nhóm hoá học vào phân tử 6-aminopenicillamic acid, tạo ra các chất mới như ampicillin, oxacillin, methicillin, ticarcillin, v.v., có thể uống hoặc có thể chống lại men beta-lactamase của vi trùng nên có tác dụng đối với tụ cầu trùng và một số trực trùng gram âm.
Các chất tổng hợp như sulfamides thường dùng trị nhiễm trùng đường tiểu và một số nhiễm trùng khác; isoniazid, ethambutol, pyrizinamide, ethionamide dùng trị lao; sự tổng hợp fluoroquinolones từ acid nalidixic tạo ra một nhóm kháng sinh mới có tác dụng rộng chống các trực trùng gram âm và một số cầu trùng gram dương.
Tác dụng của kháng sinh
Kháng sinh diệt trùng bằng nhiều cách:
- Ngăn cản sự tổng hợp thành của tế bào vi trùng như penicillin, cephalosporin, vancomycin,
- Ức chế sự chuyển hoá của vi trùng như sulfamides, trimethoprim,
- Ức chế sự tổng hợp protein của vi trùng như tetracyclin, aminoglycosides, macrolides (erythromycin…),
- Ức chế sự tổng hợp và hoạt động của acid nucleic như fluoroquinolones và rifampicin.
Sự lạm dụng kháng sinh
Như trên cho thấy, có nhiều loại kháng sinh khác nhau, tác động bằng các cơ chế khác nhau đối với các vi trùng khác nhau. Kháng sinh chỉ có tác dụng với các bệnh do vi trùng (bacteria), không có tác dụng với các bệnh do siêu vi (virus). Ðể điều trị bệnh nhiễm trùng cần biết loại vi trùng gây bệnh để chọn kháng sinh thích hợp. Vì thiếu hiểu biết và vì tin tưởng sai lầm, nên ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển, người ta đã dùng kháng sinh quá nhiều, cả khi không cần thiết, không đúng chỉ định và không đúng cách.
Năm 1954, Hoa kỳ sản xuất 1 ngàn tấn kháng sinh, số này tăng đến 25 ngàn tấn vào năm 1998. Năm 2000, các bác sĩ Hoa kỳ viết 160 triệu toa thuốc kháng sinh cho 275 triệu người dân, một nửa đến 2/3 số toa đó được coi là không cần thiết (theo R.P.Wenzel bình luận trong báo New England Journal of Medicine). Theo R. Gonzales (Clin.infec.Dis, 2001, 23:757-762), 3/4 số kháng sinh dùng ở ngoại chẩn là cho viêm đường hô hấp trên trong khi 60% các trường hợp viêm đường hô hấp trên là do siêu vi, không cần và không điều trị được bằng kháng sinh. Theo Nguyễn kim Phượng và J. Chalker, báo cáo năm 1997 tại 23 trạm y tế ở Hải phòng, 69% bệnh nhân được cho kháng sinh, 71% bệnh nhân không dùng kháng sinh đúng liều lượng và đúng thời gian (dưới 5 ngày).
Tại các nước đã công nghiệp hóa, một nửa số lượng kháng sinh được dùng để nuôi súc vật và thủy sản trong công nghệ sản xuất thực phẩm.
Dùng kháng sinh không đúng sẽ có hại
- Lãng phí, thí dụ các bệnh do siêu vi không chữa được bằng kháng sinh,
- Không khỏi bệnh, thí dụ bệnh nhân bị lao phổi mà lại được chữa bằng ampicillin,
- Chậm chẩn đoán, thí dụ bệnh nhân bị viêm ruột thừa mà được chữa bằng kháng sinh làm sai lạc chẩn đoán,
- Tác dụng độc hại như bị phản ứng mẫn cảm, dị ứng, suy tủy do chloramphenicol, điếc và suy thận do aminglycosides (streptomycin, kanamycin, gentamycin, ...).
Ðề kháng của vi trùng đối với kháng sinh là hậu quả tai hại, rộng lớn và lâu dài cho toàn xã hội.
Tỉ lệ vi trùng kháng thuốc đang tăng nhanh
Người ta đã chứng minh rằng càng dùng nhiều kháng sinh càng sớm xuất hiện các vi trùng kháng thuốc.
Khởi đầu penicillin (giá rất rẻ) có hiệu quả đối với tụ cầu trùng và nhiều loại vi trùng khác. Chẳng bao lâu sau khi được sử dụng, tụ cầu trùng đã kháng penicillin, khiến người ta phải tìm các kháng sinh như nafcillin, methicillin (giá đắt hơn), v.v.. Ngày nay tụ cầu trùng đã kháng cả methicillin (beta lactam). Các tụ cầu trùng kháng methicillin trở thành tác nhân gây bệnh nguy hiểm trong bệnh viện và sau này đã lan ra ngoài dân chúng. Gần đây đã bắt đầu xuất hiện các tụ cầu trùng kháng vancomycin là kháng sinh cuối cùng còn lại để điều trị chúng.
Dùng cephalosporins bừa bãi khiến enterococus trở nên đề kháng và cũng đã xuất hiện các vi trùng enterococus kháng vancomycin. Theo báo cáo của ẠW. McCormick trên báo Nature Medicine, tháng 4 năm 2003, tỉ lệ pneumococus kháng penicillin tăng nhanh ở Hoa kỳ, tác giả dự tính đến năm 2004, 41% pneumococcus sẽ đề kháng penicillin. Tỉ lệ vi trùng lao kháng thuốc tăng cao khiến phải dùng 4 thứ thuốc kết hợp để điều trị bệnh lao.
Các vi trùng kháng thuốc không khu trú ở một dịa phương nào vì với phương tiện giao thông mau lẹ, vi trùng có thể di chuyển đến khắp nơi trên thế giới trong vòng 24 giờ.
Theo D.P. Raymond mỗi năm ở Hoa kỳ có 2 triệu người bị nhiễm trùng vì lây lan trong bệnh viện, hơn một nửa số này là do vi trùng kháng thuốc, gây tử vong cho 70 ngàn người và làm tốn của ngân sách từ 5 đến 10 tỉ đô-la (Seminar Respir. Crit, Care Med. 23 (5): 497-501, 2002).
Vi trùng kháng thuốc bằng nhiều cách:
- Ðặc tính di truyền vốn có của vi trùng,
- Chọn lựa và đào thải: kháng sinh tiêu diệt các vi trùng nhạy với kháng sinh, để lại các vi trùng không nhạy; các vi trùng này được dịp thuận lợi nên phát trtiển mạnh mẽ vì các đối thủ của chúng đã bị tiêu diệt,
- Ðột biến về di truyền trong khi vi trùng sinh sản khiến xuất hiện các chủng mới có đặc tính kháng thuốc,
- Ðặc tính kháng thuốc ở trong gien của vi trùng truyền từ thế hệ trước đến thế hệ sau, nghĩa là lan truyền theo chiều dọc,
- Gien kháng thuốc khiến cho vi trùng có thể giảm sự xâm nhập của thuốc vào trong tế bào vi trùng, phá hủy kháng sinh hoặc thải trừ kháng sinh ra khỏi vi trùng,
- Vi trùng có gien kháng thuốc có thể truyền gien này cho tất cả các vi trùng khác khiến cho sự đề kháng lan rộng theo chiều ngang nghĩa là nhân lên gấp bội.
Các lý do dẫn đến lạm dụng kháng sinh
1. Do bệnh nhân:
Nhiều người tưởng rằng kháng sinh chữa được mọi thứ bệnh nên mỗi khi đau ốm đều nghĩ rằng cần dùng kháng sinh. Có người lại thích tự điều trị, đã tự mua hay tìm kháng sinh để dùng hoặc nghe bạn bè mách thuốc dù rằng những người này không biết gì về bệnh tật và thuốc men. Nhiều người lại không dùng thuốc đúng cách, nghĩa là không uống đủ số lượng phân chia trong 24 giờ hoặc chỉ uống thuốc trong vài ngày rồi bỏ.
Tại các nước đang phát triển, nhiều người không đủ tiền đã phải mua thuốc từng ngày, do đó không điều trị đủ liệu trình. Cũng tại các nước đang phát triển, những người bán thuốc không được huấn luyện về y khoa và thuốc men, tự động chỉ định thuốc cho bệnh nhân, nghiễm nhiên làm nhiệm vụ của thầy thuốc.
2. Do bác sĩ:
Trong thực tế hàng ngày, nhiều khi tuy biết rằng không có chỉ định nhưng bác sĩ vẫn viết toa kháng sinh theo bệnh nhân đòi hỏi vì sợ mất thân chủ. Bác sĩ cũng hay viết toa kháng sinh vì chẩn đoán không rõ ràng, vì thiếu phương tiện chẩn đoán vi trùng học nên dùng kháng sinh, nhất là là loại có kháng sinh phổ rộng để điều trị bao vây, tin rằng làm như thế là an toàn.
Cũng tại các nước đang phát triển có tình trạng bác sĩ bán thuốc cho bệnh nhân nên có thể có sự mâu thuẫn giữa kiến thức khoa học và quyền lợi thực tế. Ở nhiều nơi trên thế giới, bác sĩ được các hãng thuốc chiêu đãi, được mời đi dự các buổi thuyết trình về thuốc do hãng bào chế sản xuất đài thọ.
Không nên lạm dụng kháng sinh
Các nhà chuyên môn đã báo động về hậu quả nguy hiểm của sự lạm dụng kháng sinh từ nhiều chục năm nay. Năm 1981, sau hội nghị ở Santa Domingo, các nhà chuyên môn đã thành lập “Liên Hiệp vì sự Sử Dụng Kháng Sinh Hợp Lý” (Alliance for the Prudent use of Antibiotics) có thành viên thuộc 93 quốc gia nhằm chống lại sự lan tràn của các bệnh do vi trùng kháng thuốc tại các nước đang phát triển.
Năm 2001, Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã đề ra “Kế Hoạch Toàn Cầu để Kiểm Soát Sự Ðề Kháng Kháng Sinh”. Kế hoạch đề cập đến mọi hoạt động y tế của tất cả các quốc gia đã phát triển cũng như đang phát triển:
- Cần giáo dục bệnh nhân về khám, chữa bệnh và dùng thuốc theo sự hướng dẫn của thày thuốc, dùng thuốc đúng cách, đúng liều lượng, đủ liệu trình, không yêu cầu bác sĩ viết kháng sinh theo ý mình (!), không tự chữa bệnh, tự dùng thuốc;
- Bác sĩ cần để thời giờ giải thích cho bệnh nhân về chỉ định của kháng sinh và cách dùng thuốc đúng, cần cập nhật hoá kiến thức y khoa, cần biết rõ tình hình bệnh nhiễm của địa phương, cần thẳng thắn từ chối viết toa kháng sinh theo yêu cầu của bệnh nhân;
- Phải tiến đến sự phân biệt giữa y và dược: bác sĩ không bán thuốc cho bệnh nhân, dược tá, dược sĩ không chỉ định thuốc, phải quy định cần có toa của bác sĩ mới được mua kháng sinh;
- Các hãng bào chế phải tôn trọng những quy định về quảng cáo trong mục đích bảo vệ sức khoẻ của người bệnh, hướng sự quảng cáo vào việc dùng thuốc đúng và có lợi cho bệnh nhân và nền y tế;
- Ngành dược cần cung cấp đầy đủ thuốc thiết yếu, ngăn ngứa sự lưu hành của các thuốc giả, 5% lượng thuốc lưu hành tại các nước đang phát triển là thuốc giả mạo, không đúng phẩm chất, hàm lượng hoặc không có hoạt chất;
- Phòng thí nghiệm phải tăng cường khả năng chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng, giúp chẩn đoán nhanh chóng và chính xác, đo lường độ nhạy của kháng sinh, đo nồng độ kháng sinh trong máu;
- Bệnh viện phải có người phụ trách về dịch tễ, đề phòng lây lan, theo dõi sự áp dụng phương pháp vô trùng và khử trùng dụng cụ, theo dõi tình hình dịch bệnh và sự sử dụng kháng sinh trong bệnh viện; phải có danh mục thuốc thiết yếu và phác đồ hướng dẫn sự điều trị;
- Các trường đại học cần huấn luyện sinh viên đầy đủ về bệnh nhiễm, cách dùng kháng sinh và sự đề kháng của vi trùng đối với kháng sinh;
- Cần tăng cường chủng ngừa các bệnh nhiễm trùng;
- Các nước đã công nghiệp hóa phải xem xét và hạn chế việc dùng kháng sinh trong nông nghiệp.
Nếu ngăn ngừa được sự phát triển của các vi trùng kháng thuốc chúng ta sẽ bảo vệ được môi trường sống, duy trì được sự hữu hiêu của kháng sinh, hạn chế được chi phí về y tế và cứu đươc nhiều sinh mạng.
11 tháng 5 năm 2003
Chào các bạn,
Trang website www.huynhtieuhuong.org đã được updates. Mời các bạn vào xem.
Chúc các bạn và toàn thể gia đình một ngày thật hạnh phúc và vui tươi.
Thân chào,
Huỳnh Tiểu Hương
Quê Hương Charity Center
P.Ọ Box 2010
Santa Clara, CA 95055
Tel: 408-249-4331
www.huynhtieuhuong.org
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Hà, Châu Thái Lê, DHH, Ðỗ Thành, Hoa Bằng Lăng, Hoàng Yến, Nngương, BS Nguyễn Văn Ðích, Nguyễn Hải Bình, NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Phạm Văn Tiên, Phan Tưởng Niệm, Sông Cửu, Thanh Thanh, Thy Lan Thảo, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần Hoan Trinh, Trần Kiêu Bạc, TyNa, Vũ Thị Thiên Thư , đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 34 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về TrungKy@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
TrungKy@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua2002@aol.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua2002@aol.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: TrungKy@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà