Số 39

Ngày 1 tháng 7 năm 2005

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua2002@aol.com


Thư Ngỏ



Tháng trước, tình cờ đọc được một mẫu tin ngắn trên Internet về một số báo Xuân ra đời đã mấy chục năm quạ Vội vã gửi thư cho một người bạn chưa quen biết để xin lại môt đoản văn ngắn đăng trong số báo này mà mình đã viết nhưng không còn giữ lại. Những kỷ niệm cũ đã lần lượt hiện về khi đọc lại những giòng chữ khi mới rời xa Huế và xa rời một bóng hình yêu dấu ở một vùng cát trắng. Thấm thoát mà đã mấy chục năm trời ròng rã.

Muà hè năm nay, nghe tin các bạn cũ sẽ họp mặt vào tháng 7 này tại ngôi trường thân yêu mà mình dã trải qua 4 năm trời với những kỷ niệm gắn bó một đờị Những ngày tháng tuy vất vả nhưng cũng là những ngày tháng không thể nào quên. Một số nhỏ ra đi, tìm cuộc sống mới ở nước ngườị Phần lớn ở lạị..hai hoàn cảnh sống trong mấy chục năm qua, chắc chắn đã có nhiều thay đổi, nhưng trong tâm tưởng, tình bạn hữu vẫn luôn luôn tồn tại, vẫn gắn bó từ những tâm hồn cách xa ngàn dặm.

Mong mỏi cuộc họp mặt lần đầu sau bao nhiêu năm xa cách sẽ không là một diễn đàn để tranh cãi chính trị và đả kích cá nhân như một số trường hợp đã xảy ra trong quá khứ. Mong mỏi những tâm hồn Việt Nam trong những giờ phút tái hội trong khung cảnh trường cũ thân yêu sẽ tìm lại những cảm tình đã phai lãng, những kỷ niệm nho nhỏ đã mất đị

Gẫm cho cùng, dân tộc nhược tiểu chỉ là một con cờ trong ván cờ của những thế lực trên thế giớị Cho nên những hành động và ý thức hệ cũng phụ thuộc nhiều về những "bàn tay" bên ngoài để thay đổi sao cho hợp với những lợi ích cá nhân của họ. Chỉ mong mỏi là chúng ta, luôn mãi nhớ tình người Việt Nam, để tiếp tục giữ mối tự hào với truyền thống chối bỏ những chủ nghĩa phi dân tộc và cố gắng trong những tháng ngày còn lại của đời mình, đóng góp một chút gì đó cho quê hương.

Ðinh Ðặng Trường Như
BBT Nguyệt San Giao Mùa


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Chân Dung Tôi ______Nghiêu Minh
2. Mẹ Là Nắng Sưởi Hồn Con Giá Lạnh ______Phan Tưởng Niệm
3. Nỗi Nhớ Khôn Rời ______Thy Lan Thảo
4. Tha Thiết ______Hoàng Yến
5. Ngày Cuối Cho Em ______Phạm Vũ Anh Nam
6. Con Nhớ Ngày Cha Ði Tù ______Bích Ngọc/Thanh Thanh
7. Sao Băng ______Lạc Duyên
8. Ðôi Lời Chị Nhắn Người Ta ______Châu Thái Lê
9. Tình Ðã Xa Rồi ______Vành Khuyên
10. Lại Mãi Xa Xôi ______Lê Du Miên
11. Hạnh Phúc Thật Gần ______Niệm Nhiên
12. Ði Tìm Nửa Phần ______Nguyên Ðỗ
13. Father’s Day ______Ngọc An
14. Chiếc Lá Cuối Cùng ! ______Sông Cửu
15. Mong Một Lần Chim Gãy Cánh Phù Vân ______Tôn Thất Phú Sĩ
16. 15 Tháng 7 ______ Chu Kỳ Thư
17. Buồn Vui Thêm ______Mạc Phương Ðình
18. Những Ngày Ðã Qua ______Nguyễn Hải-Bình
19. Chút Tình Cho Nắng Tây Ninh ______Trần Kiêu Bạc
20. Chỉ Có Em ______NNgương

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Khúc Cây Biết Khóc _______ Ngọc An
2. Vài ý kiến về Hồ Xuân Hương ___________ Bích Hà
3.Quê Hương Ngút Ngàn ___________ Trần Thành Mỹ
4.Cây đa bến cũ (kỳ 14) ___________ Thanh Sơn
5.Hội Ngộ Nam Phong tại Nam Cali ___________ Việt Hải
6.Ngày trở về của Phạm Duy ... ___________ Phạm Quang Tuấn
7.Bên Kia Là Phía Mặt Trời Mọc ___________ Phan Tưởng Niệm
8.Duyên Số ___________ Quang Ngọc
9.Nhánh Cỏ Hương ___________ Vành Khuyên
10.Bí và Hạnh Phúc ___________ Niệm Nhiên
11.Những Bài Thơ Tôn Thất Phú Sĩ ___________ Doãn Quốc Sỹ
12.Tự Tình Vu Vơ ___________ Hoa Bằng Lăng
13.Tiếng Khóc Nỉ Non ___________ Ðỗ Thành

III . Ngàn Lời Ca (kỳ 30)________________________________________________________________

1. Truyện Kiều Và Tôi _______________________________ NS Phạm Duy

IV. Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

V. Nghiên Cứu________________________________________________________________

1. "Tiếng Hót Loài Chim Di" hay lời chân ái từ Song Nhị _______ Phan Bá Thụy Dương
2. Tuổi trẻ và đề tài "chết" _______ Bác sĩ Thái Minh Trung

VI. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. NAVASA 2005 National Conference _______ Giao Muà
2. www.NamHaFlorist.com _______ Giao Muà

VII . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Chân Dung Tôi
 
 

Tôi nhìn tôi trong gương 
Thấy hết những con đường 
Thấy hết những phố phường
Và tôi thấy em

Tôi nhìn tôi trong gương
Thấy trái chín quanh vườn
Thấy thú dữ khu rừng
Và tôi thấy em
Trong trái tim tôi


Tôi nhìn tôi trong gương
Như nhìn tên tử tội
Theo Chúa lên đồi Sọ
Ðeo Vòng-Gai-Xót-Thương
 

Tôi nhìn tôi trong gương
Bổng cười nhăn xám hối
Thiên đường không còn chổ
Nên về lại trần gian

Ðể yêu em
Tôi nhìn tôi trong em
Có tiếng hát Vô Thường
Có tiếng hát Tin Mừng
Và tôi thấy bóng tôi
Hạnh phúc thật con người

   
Nghiêu Minh 
Mục Lục


2. Mẹ Là Nắng Sưởi Hồn Con Giá Lạnh Chiều hôm ấy con đi - rời đất mẹ Tiếng nhạc buồn hiu hắt buổi chia lỵ Ðôi mắt mẹ nhòa rơi dòng lệ đổ, Dấu chân xiêu nghiêng ngã bước phân kỳ. Mẹ là nắng sưởi hồn con giá lạnh, Mẹ là mây che chắn nỗi đời trôị Tuổi ấu thơ Con đã mất cha rồị Năm tháng cũ giờ tan vào hư ảọ Chiếc nón lá một đời che vất vả, Chiếc áo nghèo năm tháng trải con đị Nơi quê người trong giấc mơ đêm ngủ, Con lắng nghe tiếng mẹ gọi thầm thì. Phan Tưởng Niệm
Mục Lục


3. Nỗi Nhớ Khôn Rời * Chiều nay mưa gió giăng cùng khắp Chầm chậm mình ta lái xe về Thứ sáu, cuối tuần buồn muốn khóc Mưa tuôn ướt nhớ, thắm tình quệ! Freeway mờ mịt dòng xe chạy Ðèn lái nháy màu đỏ nhớ thương Mưa ướt lòng ta, thương nhớ mãi Chút tình kỷ niệm chốn quê hương! Tháng tám, Gò Công trời còn nắng Thư nhà chị kể chuyện năm nay Hạn hán, lúa mùa hoang đất trắng Dân nghèo xơ xác với thiên taị.. Lớp học thầy cô lên bục giảng Mà tâm động tưởng buổi cơm chiều Gạo chưa mua đủ cho con nhỏ Tiền lãnh ra trăm thứ phải tiêụ.. Bàn ghế lớp buồn im bụi phủ Học trò bỏ học kiếm sinh nhai Cô giáo bỏ trường đi bán rượu Miếng cơm, manh áo sống qua ngàỵ.! Chị bảo nhờ em gửi chút quà Chút tình, chút nghĩa ở phương xa Mẹ vui gượng sống cùng con cháu Ðủ thuốc, cơm no, ấm cửa nhà... Chị ơi! Ðất lạ trời xa xứ Tuần lễ năm ngày nợ áo cơm Cuối tuần ngồi viết thư cho mẹ Còn lại cho con - trắng ý buồn... Tuổi đã sương pha, con thơ dại Một thời chinh chiến, cảnh lao tù Thời gian đâu dễ chi ngừng lại Nhìn con mà nhớ tuổi ngày thơ Ta vẫn trong dòng xe tiến bước Gió mưa vẫn ngập trắng freeway Ðất nước quê mình ai biết được Người xa vạn dặm vẫn thương về.! Hoa nở tươi và lúa sẽ xanh Cờ vàng kiêu hãnh, đẹp như tranh Chị ơi! Em sẽ về quê cũ Ðất nước thân thương ngọt dịu lành... Thy Lan Thảo
Mục Lục


4. Tha Thiết Mưa chiều Seattle bay bay, Ðem em xa ta ngàn dặm dài, Trở về đêm lạnh nghe nhung nhớ, Ai kề bên mà tay nắm taỷ Thời gian dần trôi nghe hơi quen, Em ơi! Ðôi ta còn nợ duyên, Nguyện suốt cộc đời chung thuỷ mãi, Ðừng nói câu ân nghĩa đáp đền. Ta dở dang còn em trái ngang, Khơi làm chi nữa đám tro tàn, Quên đi quá khứ bao hờn tủi , Bỏ lại sau lưng hận bẽ bàng. Ðừng trách dòng đời sao nghiệt ngã, Long đong rồi tiếp nối gian nan, Gặp lại trễ tràng nhưng hạnh phúc, Gìn giữ nghe em! Kẻo lỡ làng. Yêu em! Yêu lắm tình chân thật. Ðừng giống người ta lắm dối gian, Mái ấm không đắng caynước mắt Tha thiết cầu mong được vẹn toàn.

Hoàng Yến

Mục Lục


5. Ngày Cuối Cho Em * một ngày cuối tháng Năm em ạ anh nhớ em trong mộng tưởng mới chiều nắng dịu trôi qua viền sóng biển căn nhà gỗ chênh vênh trên triền cao bồn nước jacuzzi sủi bọt mùi hương loài hoang thảo giòng nhạc trữ tình quyện vào tiếng sóng đôi ngọn nến chờ đêm về-cho em ly rựơu màu hổ phách lưng chừng khoảng không gian mềm như giải lụa hơi thở cành hồng thoáng qua khung cửa phải chi anh có em trong vòng tay !!!! trong cô tịch lặng lẽ ngọn lửa hồn anh vụt cháy anh chờ em trong thiên đường mộng tưởng cho hai đứa mà thôi chiều xứ Việt xa xôi mưa đầm ngày tháng mỏi muốn ôm em trong vòng tay môi hôn cuồng vã cho nhau đắm đuối lời thơ trẻ nhỏ bò trên trang giấy ngu ngơ như chú còng không vẽ nổi đường đi có vệt sóng nào loang thẳng không em ??? thơ tình anh viết khờ khạo như thế !!! hãy trả lời anh đi muốn cùng anh dạo quanh phi thuyền mặt trời bỏng nóng môi hôn ngày cuối tháng Năm xin dành cho em có nụ tình yêu chia khoảng đất trời khu vườn riêng cho đôi chúng ta 053105

Phạm Vũ Anh Nam

Mục Lục


6. Con Nhớ Ngày Cha Ði Tù Con nhớ ngày cha đi tù mắt mẹ ướt thâm quầng đêm khó ngủ gặm củ sắn mẹ dành cho chưa đủ con đói cha ơi! Trạc phân bò năm ấy đội qua sông nước ngập ướt tràn xuống môi con mặn sông vô tình vẫn trôi bình lặng bão tố cha ơi! Bão tố tơi bời! Lũ lụt đi qua, rơm ướt mẹ phơi cong người xuống, mẹ gồng trên vai hẹp gánh cả giang sơn, đầu trần, không dép mẹ thẫn thờ, lảo đảo gọi tên cha Năm tháng đi qua, năm tháng đi qua mẹ vẫn nép cuộc đời trong rơm rạ con giấu tuổi thơ vào nỗi buồn lớn quá gánh tháng ngày tát cạn biển thời gian NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC English version: THE DAYS DAD GOT IMPRISONED How harrowing were the days dad got imprisoned: Mom could hardly sleep, got her eyes wet, rings wizened. Gnawing the tiny rootstock Mom spared for me: how sad! I was so hungry, dad! The cow feces I bore on my head across the river, Wetted, dripped from the basket, salted my lips. The heartless stream was still flowing to make me shiver. Oh dad! such storms had risen to break life into chips. After the flood, mom dried the damp hay nearly kaput; Humping her back, she carried on either slender shoulder The burden of family responsibility, bareheaded, barefoot; She staggered, listlessly calling for dad, the householder... Months had thus slipped away, and years gone by; Mom still hid and rested her life in thatch, straw and slimẹ I concealed my youth in such sadness as the immense sky, Shouldering my days struggling to drain the sea of timẹ member, PEN Center USA Thanh Thanh
Mục Lục


7. Sao Băng Anh đếm sao trời trong mắt em Ðêm nay trăng sáng tợ hoa đèn Em mơ hạnh phúc nhìn sao rụng Một dãy ngân hà vướng tóc em Anh đếm sao trời từng cánh rơi Em tôi ngoan quá mỉm môi cười Bảo trăng không sáng bằng sao sáng Vì mắt em cười trong mắt tôi Nên không cần biết .. có hay không Chỉ thấy sao rơi chợt má hồng Người ta bên ấy đang nhìn trộm Sao nhột .. làm sao rụng xuống lòng .. Là cánh linh hồn tôi phiêu bạt Lấp lánh muôn màu sáng trên cao Trong mắt em trôi giòng sông bạc - Ðường đời ta ước mơ ngàn sao ... Lạc Duyên
Mục Lục


8. Ðôi Lời Chị Nhắn Người Ta Em lau dòng nước mắt nghe chị nhắn đôi câu ngày mai đi xứ khác chắc không thường về đâu ! ngày mai trời Ðài Bắc biết có nhiều bão giông làm chim non phiêu bạt chị bay vào long đong lỡ sanh thời quốc nhục khôn lớn đành gia vong thôi thì công dưỡng dục trả bằng kiếp má hồng ngày mai em ở lại chăm sóc giùm mẹ cha ngày mai em ở lại xin nhắn giùm người ta hãy hận đời đen bạc hãy giận mình trắng tay Nguyệt Lão giờ đã khác ghen ghét người không may Nguyệt Lão giờ đã khác se duyên đi nước ngoài ngày mai em ở lại xin nhắn giùm người ta thời đại này đã khác con gái đành xông pha thời đại này đã khác em nhắn giùm người ta tạo hoá giờ đã khác an bài bằng đô la ... người ta ơi ...người ta ...! Em lau dòng nước mắt trăng ngoài kia sắp tàn gió ru buồn hiu hắt trăng gió chờ ly tan mai nhìn trăng Ðài Bắc nhớ trăng gầy Hậu Giang .... mai này đêm Ðài Bắc gió đùa cánh hoa tàn ... - Những Chiều Thân Phận - May 17/05 Châu Thái Lê
Mục Lục


9. Tình Ðã Xa Rồi Em trở về chốn xưa mà sao em khóc Chân bước ngập ngừng, cứ ngó lại không đi Nghĩ đời trước kia ôi sao mà khó nhọc Có lấy chồng thì rồi cũng chia ly Em xa xứ, xa anh vì lẽ đó Một lẽ rất thường tình, manh áo, miếng cơm Vì lẽ sống vì công bằng vì danh dự Làm thân trâu xứ người anh có biết chăng ? Lúc em trở về anh quần là áo lụa Vẫn tâm sự với em lương ba cọc , ba đồng Nhưng nhờ vợ , đời sống có khá giả Nếu mà không đời cũng đã long đong Ôi thương quá tấm thân không là liễu Một việc làm , một chỗ để tới lui Vợ lo hết , tối về chỉ ngủ thôi Ðơn giản vậy nên anh đâu còn biết .. Em sáng tối khuya những ngày biền biệt Mặt trời không thấy đâu ,mặt trăng thấy hoài Thức là ngủ , ngủ là thức , chẳng phân biệt Người quen ngoài đường cũng nhìn như chẳng thấy ai . Cái đời tha phương nó vậy anh ạ Em chẳng trách đời, em chỉ trách em thôi Ấy mới đó mà ba thập niên rồi anh nhỉ Nhắm mắt cái nữa , em bỏ cuộc đời trôi Còn chi nữa tình mình trao ngày ấy Cái ngày em tuyệt vọng , anh khố rách áo ôm Nay em chẳng là ai , anh cũng chẳng cần em Nên cả hai cũng chẳng có gì phải ôm đồm Thôi thì vậy cứ để tình ta xa Anh nhé . 6/1/05 Vành Khuyên
Mục Lục


10. Lại Mãi Xa Xôi trời bên ấy, hôm nay có gì khác ? mà ta nghe ngơ ngác ở trong lòng mây có về ngủ trên bờ tóc * dài như sông, thuyền trăng ta neo đợi, giữa trờị Mong ! ! trời bên ấy, hôm nay , như lạ nắng sao vàng, sao như tím * như xa * nắng không hồng như ngày đầu, ta tìm đến mà như buồn * làm nặng trĩu cõi hồn ta trời bên ấy hôm nay, gío nổi ? thổi ta bay, như chiếc lá vô tình ! dẫu vẫn biết muôn đường đi rồi cũng * đưa về cội !!! nên ta chờ Người, ở nơi đó . U minh ! trời bên ấy, hôm nay mưa đổ ? kéo nỗi buồn ta, về gõ phím tơ chùng ! Người có còn hát khúc không tên cũ ? mà sao ta nghe thinh lặng, mãi vô cùng * mạc tư khoa ơi, mưa ơi ! Vắng nhỉ ? biển chiều nay không thấy bóng dáng Người tập theo ai, ta biết yêu mưa từ dạo đó ! mưa *yêu rồi *mà Người * lại mãi xa xôi ! Lê Du Miên

Mục Lục


11. Hạnh Phúc Thật Gần Bạn hỏi tôi : " Tìm nơi đâu hạnh phúc ?" "Ðịnh nghĩa là gì ? Ảo ngữ thôi ư ?" Bao mơ ước vẽ tươi màu hạnh phúc Hờ hững dòng đời cuốn ước mơ trôi Ðể thất vọng về phủ giăng bóng tối ! Bạn hỏi rằng : " Chắc tôi buồn số phận ?! Bất-hạnh cuộc đời, khuyết-tật tấm thân !?" Chân tật nguyền, tôi xem như hạnh phúc Ðôi nạng gỗ làm bạn đường tri kỷ Mỗi bước đi tôi có chổ tựa nương Người nhìn tôi, mắt eđè kỳ thị Nhánh từ tâm, trong tôi, trổ thêm chồi Người nhìn tôi, mắt ẩn niềm thương tội Tôi mỉm cười ưu ái với tha nhân Ðừng hỏi tôi: "Sao không buồn số phận , Bất-hạnh kiếp người , khuyết-tật tấm thân ?!" Chân tật nguyền , với tôi , là hạnh phúc ! Khi mọi người lo vội vã bước nhanh Cố chạy theo thời gian từng giây phút Tôi chậm chân , bước sau dòng người vội Ngắm cuộc đời , nhìn hoa cỏ , trời xanh Nghe tiếng chim ríu rít hót trên cành Và an nhiên môi cười , tôi thanh thản Bạn băn khoăn "Tìm nơi đâu hạnh phúc ?" Mãi đi tìm , bạn chỉ đuổi bóng thôi ! Vì cuộc sống hiện hữu từng giây phút Những nhiệm mầu không hư ảo xa xôi Nên hạnh phúc, quay về tâm sẽ thấy !
Niệm Nhiên





Mục Lục


12. Ði Tìm Nửa Phần Ði tìm mãi một nửa phần linh thể Lạc nhau từ muôn kiếp chẳng thành công Cứ tưởng như chợt thấy bóng bạn lòng Cứ ẩn hiện lập loè đom đóm mãi Mơn mởn như chiếc lá xanh mềm mại Ngày Xuân về khoe sắc nắng bình minh Ðoa trà mi, cánh huệ trắng tươi xinh Ốc đảo mộng, ảo ảnh vùng sa mạc Ta là ta chẳng phải là ai khác Nửa hồn này thiêu thiếu mãi long đong Chắc Ly Tao đã điểm mặt gieo vòng Giam hãm lại gông tù cho nhân thế Ði tìm mãi một nửa phần linh thể Mảnh hồn ta khao khát nắng hạn khô Em ở đâu, ta đợi đến bao giờ Tìm nhau mãi cho đến ngày tận thế?
Nguyên Ðỗ


Mục Lục


13. Father’s Day Năm nào tháng sáu ta rong chơi Ánh nắng chiều nghiêng dưới mặt trời Ðuổi bướm vờn quanh hàng dậu tím Thả diều theo ngọn gió chơi vơi… Lần lửa bao mùa xuân nở hoa Mấy đông trở giấc đọng sương pha Thả trôi mơ mộng vào hư ảo Ôm chuổi ngày buồn…lẫn xót xa ! Tháng sáu nào mưa bão ngút ngàn Tiễn người chiến sĩ vượt quan san Ðưa người yêu mến về lòng đất Ta đã một thời lệ chứa chan … Tháng sáu này ta đếm tủi hờn Cha vào huyệt lạnh với cô đơn Hôm nào bên cửa Cha còn đứng Vẫy vẫy tay chào…để tiễn con ! Tháng sáu con buồn tim tái tê Còn đâu Cha đứng đón con về Âm dương cách biệt rồi Cha nhỉ ? Vĩnh viễn ôm sầu trong giấc mê… Con thấy Cha từ trong bóng đêm Bạc phơ mái tóc, ngủ êm đềm Nghìn năm một cõi vào vô tận Nhớ đến Cha lòng chua xót thêm ! Từ đây cho đến cuối đời con Một bóng đơn côi giữa xứ người Con khóc khi đời dâng bão tố Con cười…nhưng giọt lệ đầy vơi… Father’s Day 2005 Ngọc An



Mục Lục


14. Chiếc Lá Cuối Cùng ! “Nhớ họa sĩ Lê Trung” Người họa sĩ dầm mình trong tuyết đổ vẽ chiếc lá “ mùa Ðông” giống hình mảnh trăng non soi trên dòng suối biếc chàng vẽ miệt mài . . .vẽ tha thiết … mặc cho gió tuyết lao xao gào thét lắc lư bao chiếc lá úp mặt xa cành ! Người con gái mang căn bịnh “trái ngang” nằm nhìn định mệnh oái oăm xuyên qua vầng sáng ảo mờ bên song… loang lổ nàng đếm từng cánh lá rơi rơị . . để quên lời hứa nguyện .... ngẹn ngào ! “Chúa ơi! Nếu tình con không rời rã Xin cho chiếc lá cùng con còn gặp được mặt trời lên!” Bình minh những sợi nắng giăng ngang khung thủy tinh cô gái vét cạn thị lực mong manh nhìn chiếc lá xanh còn treo giữa trời tuyết đổ nàng mĩm môi thầm gọi tên người yêu trong nỗi bồi hồi xúc động. . . tuyệt vời "Anh ơi! chiếc lá chơi vơi chưa nỡ lìa cành Sao mình lại đành xa nhaủ!" * Ba mươi năm sau trong phòng trưng bày “tội ác tình yêu” có một người đàn bà ngất xỉu trên vai chồng khi xem bức tranh “Chiếc Lá Cuối Cùng" với dòng chú thích: "người họa sĩ tài hoa vẽ bức họa năm xưa đã chết đứng - vì cóng - bên cửa phòng bệnh viện dưới gốc cây “mùa Ðông” để nuôi ước vọng cứu sống được người yêu của mình! Mùa Ðông người Việt ly hương thứ 30
Sông Cửu

Mục Lục


15. Mong Một Lần Chim Gãy Cánh Phù Vân Anh vẫn đi Ði xa xóm nhỏ Với nắng nồng oi bức toả ven sông Theo con nước trong như dòng nước mắt Nước xuôi nguồn chảy ra biển xa xăm Tàu anh đi Ðêm hải hành thức trắng Ánh trăng huyền và sóng biển lăn tăn Có bao giờ chạnh lòng anh nhớ Người em gái Chẻ sợi tóc mềm ra làm hai phần nhỏ Nửa thương mình và nửa nhớ đến anh Anh là chim Hải Âu bay muôn hướng Bay bay hoài không mõi cánh phù vân Gió và sóng đưa con tàu đi mãi Không ngại ngần Chim sải cánh bay theo Em ức lắm Có một lần tâm nguyện Gãy cánh chim trời Ðể anh rơi vào một góc yêu thương Thôi , như vậy nghĩa là em ích kỷ Nghỉ riêng mình Mà không biết thương anh Anh lỡ sinh trong kiếp bồng bềnh Em chấp nhận yêu người anh thuỷ thủ Cho anh đó Những gì anh mơ ước Em xin làm người thiếu phụ bên song Ðêm đêm nghe hơi thở khắp thôn làng Nghe tiếng hát ru con Ngọt ngào xa vọng lại Ngày anh đi con bê vàng ngơ ngác Ngóng anh về Con bò sữa đứng trong sân Anh cứ hẹn ngày mai Rồi ngày mai nửa Có một người tựa cửa mỏi mòn trông Bỗng một hôm mùi hương thơm trong gió Lòng nôn nao Theo lối cũ anh về Chợt thức giấc Thì ra Người trong mộng Em buồn vui BIỂN vẫn thế ... một màu Paris 04 /Juin/2005 Tôn Thất Phú Sĩ

Mục Lục


16. 15 Tháng 7 Ngày lịm vào mồ đêm rộng mở Mang mang tiếng cú vọng phân ưu Ai khơi tim nến soi trăn trở Ai thổi giùm ta ngọn gió thu Nơi đây mộ chí màu đen thẫm Bia trắng như xương trắng mục hòm Có lũ côn trùng nằm gậm nhấm Nỗi niềm trên thi thể còm nhom Tay gõ không gian chạm vách buồn Ha ha ! hồn khản chuỗi cười suông Lửa ma trơi loé xanh rờn rợn Ai thắp giùm ta chút khói hương Trăng rơi trên thơ xưa một đêm Chao ôi ! thi lệ não nùng thêm Hì hục ngựa già tha cỗ ván Mặc ta nằm lặng, xác kề bên Ta leo chót đỉnh tháp chuông cao Gọi vía người yêu - hồn cõi nào ? Người ở bên đâu dòng lưỡng ngạn Ta cười với gió rít nao nao Xoè tay hứng giọt mưa phương bắc Chợt nhớ lệ người thẫm mái tây Khẽ đếm thời gian vòng trái đất Một lần ước được ngược vòng quay Ta chạy trong sương đuổi bóng mình Bóng xuyên vùn vụt cõi vô hình Ðêm nay, Chúa Phật đi đâu cả Hoang miếu âm hồn động hiển linh Chu Kỳ Thư


Mục Lục


17. Buồn Vui Thêm vui một chút hay buồn thêm một chút mới biết đời là những chênh vênh em đi ngõ vắng trời heo hút còn lại ai đâu để dỗ dành dẫu say không đủ làm khuây được có thể còn vui lúc ngủ quên có thể đau thêm từ vết xước cứ khoét sâu dần trong trái tim từ trong xa vắng nghe tê tái nào những ngọt ngào bỗng lạnh tanh còn đó nỗi buồn em bỏ lại rồi như chiếc bóng cứ lanh quanh tưởng vui một chút, mà quay quắt cứ ngó lên tường để thấy em dại ngó làm chi cho ruột thắt nụ cười thôi đành là bóng đêm muốn buồn một chút mà không được bước tới chân va những gập ghềnh vui thêm một chút mà không được ngoi dưới vũng đời ráng bước lên

Mạc Phương Ðình
Mục Lục


18. Những Ngày Ðã Qua Nắng hạ về ngang lối Hoa rụng trước dậu thưa Tôi tìm về dĩ vãng Lạc đường trên lối xưa: Anh chìm trong sóng mắt Sân trường chiều cuối thu Ðời anh vào ngã rẽ Dìu em vào lãng dụ Hàng dừa xanh Bãi Trước Ðón cuộc tình đôi ta Sóng triều lên dưới bãi Ðưa anh vào động hoạ Dạt dào trên sóng nước Ðắm chìm trên cỏ thơm Ðường vào suôi bến ngọc Thơm ngát một mùi hương Những năm dài huơong lửa Những ngày tròn lứa đôi Những vòng tay hạnh phúc Ngỡ cuộc tình lên ngôị/ Nhưng rồi em chợt tỉnh Nhung lụa thuở đôi mươi Ðưa em vào lối cũ Tình mình đành chia phôị Anh nhìn em quay gót Lãng du vào đắm say Chúc em tròn hạnh phúc Quên chuyện mình hôm naỵ Anh tìm về dĩ vãng Em đi vào tương lai Ba mươi năm chợt thoáng Chuyện mình nay đã phaị.. Atlanta-Montréal, Vào Hạ 2004

Nguyễn Hải-Bình
Mục Lục


19. Chút Tình Cho Nắng Tây Ninh Câu hát cũ : " Tây Ninh nắng nung người " Chưa nói hết tình người trong khoảng nắng Cần tìm đâu chút sắc màu lãng mạn Xin mời về soi nắng mới Tây Ninh Chút nắng hồng trong tiếng hót chim xanh Chút giọt thủy tinh trên má nàng thôn nữ Chút nắng êm gọi tình người xa xứ Chút nắng buồn rớt lại buổi hoàng hôn Có ai chờ ai mắt đỏ chiều buông Xin nắng đừng đi nhìn nhau cho rõ Bên vạt nắng tình người như mở ngõ Trong vạt áo còn giấu nắng tương tư Nắng lên rồi đời đã thật từ mơ Nếu có nắng nung người như câu hát Xin hiểu Tây Ninh không mơ mà có thật Nắng nung tình người đậm mãi tin yêu ( 3/18/05)

Trần Kiêu Bạc
Mục Lục


20. Chỉ Có Em những tháng ngày này buồn tẻ chỉ mong em nằm cạnh bên từ hai bên bờ tóc chẻ cột giùm nhau sợi nợ duyên chỗ đất, trời này lạ lẫm chỉ mong em ngồi kề bên đời nhiều mưa nguồn chớp bể chia nắng, mưa chẳng thể quên đời sống vốn trôi thật chậm lặng lờ bao chuyện buồn tênh mình giống nhau chỗ lận đận chỉ mong em cùng kề bên cuộc sống này thật muôn mặt chỉ khuôn mặt em dễ thương sống gần hết cuộc tất bật mới dám mơ một đời thường chỉ dám mơ một đời thường mà em là một chân dung cho một cuộc đời mộc mạc và một tình yêu trễ tràng

NNgương
Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Khúc Cây Biết Khóc

Ngọc An





Từ trong khu nghĩa địa trên đường Alumrock và Capitol Avẹ Dung băng qua lộ đến chỗ parking lot lấy xe, đứng tựa mình vào hông xe ngẩn ngơ nhìn bầu trời xanh đang gợn chút mây hồng, đẹp như bức tranh thủy mạc, tự dưng lòng Dung thấy nao nao buồn, nỗi nhớ mẹ cha canh cánh bên lòng, nỗi xót xa cho thân phận, nỗi thương người yêu bạc phước nên lòng buồn rười rượi, mới đó mà thắm thoát đã 3 năm Tùng nằm yên dưới lòng đất lạnh, Tùng ơi, anh vẫn sống mãi trong em, em đã hứa một đời sống bên anh thì âm dương cách trở cũng không làm cho em thay lòng đổi dạ…ba năm rồi anh biết đó, không một ngày nào Dung không đến thăm anh, than thở, tâm tình với anh , anh không trả lời em như những ngày yêu nhau xa cũ nhưng em biết anh nghe những gì em nói, em biết anh đang nhìn em tha thiết, và anh buồn khi em từ giã ra về…cuộc đời em còn sống gượng nơi đây là chỉ mong chờ một ngày tìm gặp được mẹ cha bên nửa vòng địa cầu xa thẳm cũng như hàng ngày đến thăm anh , nhìn anh nằm yên ngủ, một giấc ngủ dài thiên thu không trở dậy ! Ðang miên man với những suy tư nhung nhớ về quá khứ trong lòng, Dung chợt giật mình vì phía trước có tiếng gọi : Ba Mẹ chờ con với…và một cô bé tuổi chừng 12 tíu tít chạy lại bên Cha Mẹ, ông bà hôn hít cô bé ẵm lên xe với nụ cười rạng rỡ trên môi …tâm hồn Dung chùng xuống và quay quắt nhớ đến mẹ cha nơi quê hương vạn dặm, không biết còn sống hay đã vĩnh viễn chia xa !

Hồi ức Dung sống dậy như chuyện mới hôm qua, hồi đó Dung cũng có Mẹ có Cha, năm 12 tuổi nàng cũng sống cảnh êm đềm hạnh phúc bên gia đình thân thương, Cha Mẹ lúc nào cũng nuông chiều yêu thương nàng. Bỗng một ngày không ai ngờ trước được, chiến tranh lan tràn thôn xóm, Dung thất lạc mẹ cha, chạy theo đoàn người tị nạn chiến tranh, trôi dạt về vùng đất khô cằn, sỏi đá sống nhờ vào tình thương của những người cùng chạy nạn với nàng. Từ đó cuộc đời Dung như khôâng còn ý nghĩa, năm năm trời vất vả gian nan Dung đã lớn khôn trong sự tủi hờn, nghèo đói, trong nỗi cô đơn cùng cực, và vào một đêm mưa to gió lớn Dung nghe có tiếng người chạy rần rật bên ngoài , họ ào vào nhà kéo tuột Dung ra khỏi nhà, nói gấp gáp :
- Ði, đi mau lên !
Dung ấm ớ :
- Ði đâu hả bác Ba, cô Tám ?
- Ði vượt biên – Bác Ba trả lời
Dung lo sợ :
- Cháu không đi đâu, cháu sợ lắm, hơn nữa cháu không có tiền để trả họ
Cô Tám ngắt lời :
- Tiền bạc gì mà lo, có ông bà chủ Phát Ngân và hai cậu con trai lo tất cả rồi, đi mau đi em…

Dung đưa mắt ái ngại nhìn ông bà chủ Phát Ngân và hai người con trai đang tươi cười gật đầu chào thân thiện với nàng, trong lòng thấy vững tin, nàng lên tiếng cảm ơn và thu xếp vài bộ áo quần theo chân ho, ï một chuyến đi bất ngờ, một chuyến đi định mệnh…Lần cuối nhìn lại quê hương trong màn đêm dày đặc, nơi đó cha mẹ nàøng không hiểu sống chết ra sao vì từ 5 năm trôi dạt nàng không tìm được một tin tức gì về mẹ cha nàng ! nước mắt Dung tự nhiên tuôn trào như một lần vĩnh biệt người thân yêu, vĩnh biệt quê hương yêu dấu … Một bàn tay nắm nhẹ vào cáùnh tay Dung kéo vội đi, một giọng nói nhẹ nhàng trầm ấm :
- Cô đừng lo, Cha Mẹ tôi là tỷ phú nơi đây, chuyến đi này có quan chức địa phương lo hết rồi , cô cứ yên tâm theo chúng tôi…
- Xin cảm ơn anh thật nhiều, nói xong Dung thoăn thoắt theo chân người thanh niên là con trai ông bà Phát Ngân và đúng lúc ấy một loạt súng nổ liền 3 phát, trước mắt Dung là 2 chiếc ghe nhỏ chờ sẵn – Ðoàn người khoảng 25 người tranh nhau leo lên 2 chiếc ghe nhỏ, tách bờ ra khơi….Trong ánh đèn mờ mờ của chiếc ghe, Dung nhìn lén mặt người thanh niên, với sống mũi cao, gương mặt vuông chữ điền, biểu lộ tính hiên ngang trung thực và đầy nghị lực, tự nhiên mọi lo lắng tiêu tan trong lòng Dung, nàng e lệ mĩm cười vì thoáng qua trong hồn một cảm tình vương vấn nhẹ nhàng như mặt hồ đang gợn sóng li ti, nàng mơ ước chuyến đi định mệnh này sẽ đưa nàng đến một chân trời đầy hương hoa rực rỡ.

Chiếc tàu lớn đang đợi sẵn , từng người tuần tự lên như không sợ hãi mộät ai bắt bớ, đúng là có sự bảo vệ an toàn cho chuyến vượt biên này, Dung yên tâm ngồi xuống và nhắm mắt lại thả hồn về cha mẹ, con xin mẹ cha tha lỗi cho con , nếu trời thương con đến được bến bờ tự do, con sẽ trở về tìm ra Cha mẹ và chúng ta sẽ đoàn tụ với nhau ! những ngày lênh đênh trên biển, người thanh niên con ông bà chủ luôn kề cận và săn sóc nàng , lo cho nàng từng miếng ăn thức uống, không ngớt hỏi han an ủi nàng, Dung cảm thấy một tình cảm thương yêu đang nẩy nầm trong tim, nàng cầu xin mau chóng đến bến bờ để ước mơ thành sự thật…

Tàu chạy được bảy ngày đêm ròng rã thì gặp hải tặc Thái Lan, chúng bắn súng thị oai bảo tàu dừng lại, bọn người tị nạn trên tàu hốt hoảng không biết phải làm sao ? Bọn hải tặc ép sát tàu chỉa súng vào mọi người, trên tàu không có vũ khí chống đỡ, đàn ông bị bọn hải tặc vứt xuống biển, đàn bà bị chúng hiếp dâm, xéù toang quần áo, cảnh tượng hỗn loạn thô bỉ xãy ra trước mắt Dung…lúc đó mọi người chạy tán loạn, mạnh ai lo mạng sống của mình, bọn hải tặc đứng ngay trước mặt, không ai còn có thể giúp đỡ ai được nữa…Dung sực nhớ cái miệng khoang thuyền, nơi hàng đêm người thanh niên lo sẵn một chiếc chăn ấm đưa nàng vào đó ngủ qua đêm, Dung chạy vội đến miệng khoang thuyền chui nhanh vào, tim nàng như muốn ngừng đập khi bàn tay chạm phải một người đang ngồi trốn trong đó, Dung chồm người định chạy ra ngoài nhưng người ngồi trong đó đã kéo nàng ngồi lại và đưa tay bịt miệng nàng khi nàng hoảng hốt định la bởi trong lỗ hang miệng khoang thuyền tối tăm không nhìn thấy gì cả…Dung hồi hộp lẫn lo sợ đến chết điếng, lo lắng lũ hải tặc bước đến miệng khoang tàu thì tính mạng chẳng ai còn. Ðiềàu lo sợ ấy cũng không tránh khỏi, chúng la hét ầm ĩ tìm đến miệng khoang tàu lôi nàng và người đàn ông ra, người đàn ông té xấp xuống mạn thuyền , bọn hải tặc nả liên hồi những phát đạn vào ông ta, còn Dung thì chúng chồm đến xé toang quần áo, đè xuống khoang thuyền hãm hiếp, thõa mãn xong thú tính chúng cầm dao mã tấu rạch nát bộ ngực trắng hồng của Dung, lúc ấy người đàn ông tỉnh dậy vung đôi tay dựt con dao mã tấu văng khỏi tay tên hải tặc và ông gục xuống bởi vết thương hai chân quá nặng, bọn ác ôn một lần nữa dùng con dao đó chặt đứt đôi cánh tay của ông ! Dung rú thêm thãm thiết vì vừa nhận ra người đàn ông đó chính là người con trai của ông bà chủ Phát Ngân, người đã dìu dắt lo lắng săn sóc nàng bao ngày qua trên đường vượt biển ! Ðôi ngực máu đỏ tuôn tràn nhưng Dung không đau đớn bằng nhìn người thanh niên kia ngất lịm trên vũng máu với hai tay bị chặt đứt nằm lăn lóc bên cạnh – Dung không còn khóc được nữa, máu ra nhiều quá và nàng cũng ngất lịm đi…

Khi Dung tỉnh dậy, ngơ ngác nhìn bốn xung quanh, người anh cả con ông bà chủ Phát Ngân và là anh trai của người thanh niên bị bắn và bị chặt đôi cánh tay trên khoang thuyền đêm qua, nàng mường tượng thời gian vì không còn biết là đã mấy ngày qua rồi, người anh bước lại gần Dung khóc nức nở và thuật lại sự việc xãy ra trên tàu cho nàng biết cặn kẽ :
- Cô Dung, cô tỉnh lại tôi mừng lắm, chuyến tàu vượt biên đầy máu và nước mắt này đã khiến tôi thành kẻ mồ côi, em trai tôi thành tàn phế nặng nề, cô thì tàn một đời hoa ! ôi đau đớn quá cô ơi !

Dung lặng người không nói được, lát sau nàng cố gượng hỏi người anh :
- Trời ơi ! ông bà chủ…trời ơi, em trai của anh…còn bao nhiêu người trên tàu ? - Không còn một ai, chúng xô cả xuống biển sâu kể cả những đàn bà bị chúng hãm hiếp, tôi may mắn thoát chết là vì tôi có mặc theo mình chiếc áùo phao, khi tình thế hỗn loạn tôi cặp theo bờ thuyền núp dưới nước nên thoát được …tôi không thấy được hết những gì xãy ra trên tàu chỉ nghe tiếng người rớt xuống biển và tiếng khóc la vang dậy, một lát sau có chiếc chiến hạm đếán và lũ hải tặc vội vàng lên ghe của chúng chạy hết . Tôi mon men leo lên tàu, trước mắt tôi chỉ còn hai xác chết nằm bất động, cô và em trai tôi – Tôi khóc ngất lên khi biết cha mẹ và tất cả đã chìm dưới lòng đáy biển , em trai đã chết không toàn thây và cô cũõng đã chết ! Tôi la gào thật to, tôi khóc thật to… chiến hạm đã dừng sát chiếc tàu và vài người nhảy qua hỏi tôi tự sự, tôi run rẩy thuật lại sự việc xãy ra, họ vội đến bên hai xác người, lật ra và bế xốc lên chiến hạm, đồng thời kéùo tôi cùng lên chiến hạm của họ – Họ bảo tôi yên tâm, họ sẽ cứu mạng hai người sắp chết này và cho tôi ăn mẫu bánh mì , uống một ly sữa bảo tôi nhắm mắt ngủ, họ cho tôi bộ quần áo để thay, đắp cho tôi tấm chăn thật ấm vì tôi đã ngâm mình dưới nước suốt hai giờ liền – Họ rất tốt, họ đã cứu sống cô và em trai tôi, nhưng đau đớn quá cô ơi, em tôi chỉ còn là một khúc cây biết nói biết khóc mà thôi !

Dung đau lòng tột độ, nàng biết người thanh niên tốt bụng kia đã vì nàøng màø ra nông nỗi, nếu nàng không chui vào chỗ ẩn nấp của anh ấy thì dễ gì ai phát hiệän ra, nếu không vì lương tâm đạo đức khi đang nằm trên vũng máu đào vẫn hiên ngang dựt con mã tấu trên tay tên hải tặc thì anh đâu phải mất đôi cánh tay – tất cả quá lớn lao cho cuộc đời nàng, quá ân sũng cho cuộc đời nàng, Dung phải làm sao đây để đền đáp trong muôn một … Nàng chỉ biết khóc và khóc thật nhiều , cuộc đời nàng đau thương gian khổ đã nhiều nhưng chưa bao giờ tàn khốc như ngày hôm naỵ Một khúc gỗ chỉ biết khóc , trời ơi, trời ơi …

Ba tuần sau Dung được xuất viện và được người anh chăm sóc cẩn thận – nàng đã hồi phục sức khỏe, người anh và nàng được chu cấp hai phòng kế bên nhau trong một gian nhà 40 căn dành cho gia đình binh sĩ chiến hạm Hoa Kỳ – Ðiều mong ước đầu tiên của Dung là xin người anh cho nàng đến thăm người em đang còn nằm bệnh viện – trên đường đến bệnh viện Dung hỏi tên người anh và tên người em để tiện bề xưng hô khi gặp mặt người em – nàng được biết người anh tên Thông, người em tên Tùng – Ðến nơi Dung lảo đảo tưởng như sắp quỵ xuống nền gạch, Tùng chỉ còn là một khúc cây với đôi mắt đẫm lệ ! Dung ôm chặt lấy Tùng hứa với chàng suốt cuộc đời còn lại Dung sống cho Tùng, chăm sóc Tùng, thương yêu Tùng vì chỉ có Tùng mới là lẽ sống cho Dung, một người phụ nữ vô phần và bất hạnh !!!

Thắm thoát rồi Tùng cũng đến ngày xuất viện, sáu tháng qua không ngày nào Dung không đến thăm Tùng, nước mắt khổ đau của hai người đã chan hòa cho nhau, họ đã thật sự hiểu và thương yêu nhau – Sáu tháng qua, nhiều lần Thông tỏ tình yêu thương Dung nhưng đều bị nàng từ chối, tâm hồn Dung quả là một thiên thần, tình cảm Dung là một tấm gương sáng ngời nhân thế . Ngày mai chuẩn bị cho Tùng về nhà, Thông nhẹ nhàng nói với Dung :

- Dung à ! anh thật tình yêu Dung, thời gian gần gũi anh không thể dấu lòng, em đừng mặc cảm gái hư rồi vì hải tặc – tai họa chứ nào phải tại em ? Thương em không hết mà Dung, anh và em sẽ chăm lo cho Tùng chu đáo và cả ba chúng ta sống nơi đây một thời gian nữa, chính phủ Hoa Kỳ sẽ nhận chúng ta vào Mỹ.

Dung trả lời thẳng thắn :
- Không đâu anh Thông – Dung đã nguyện một đời sống chết bên Tùng – ân tình anh ấy dành cho em lớn hơn cả núi non – cao hơn cả mọi thứ trên đời – em yêu anh ấy ngay từ khi gặp gỡ ban đầu trên chuyến vượt biên – xin anh hiểu cho em – chỉ có Tùng mới là nguồn sống của em, anh hai ơi, xin anh nhận nơi em một lạy này gọi là đền đáp ân tình của anh, một lạy này nữa để xin từ chối tình yêu của anh, em luôn quý trọng anh, xin anh giữ mạng sống cho Tùng, anh hiểu mà, Tùng sẽ chết khi không còn có em bên cạnh, em mong đến ngày vào Mỹ chúng em sẽ tổ chức đám cưới, chàng rể ngồi trên chiếc xe lăn và cô dâu đứng sau lưng ôm choàng chàng rể, em tin chắc chưa có một đám cười nào như thế, hãnh diện cho em, sao ta không làm những việc mà thiên hạ không làm được hở anh hai ? Thông nghẹn họng không dám nói gì nữa, lặng lẽ cùng Dung lái xe đến bệnh viện đón Tùng về, Tùng được cấp một xe lăn loại rất tối tân nên chàng xê dịch qua lại rất dễ dàng
– Dung dành được ở bên Tùng chăm lo, Thông ở phòng bên kia – Ðêm đêm Thông qua phòng Tùng ở đến gần sáng, những ánh mắt , những ngôn từ bóng gió những cử chỉ tha thiết ân cần của Thông dành cho Dung không qua được cặp mắt của Tùng, chàng đau khổ âm thầm và chỉ biết khóc những lúc Thông đã về phòng riêng và Dung mệt mỏi ngủ say bên cạnh chàng.

“ Anh có còn gì đâu mà làm khổ đời em, Dung ơi”…lời nói nhẹ như hơi gió thoảng, nước mắt Tùng tuôn trào ướt đẫm khuôn mặt Dung, nàng giật mình tỉnh dậy hoảng hốt ôm lấy Tùng, an ủi chàng mọi lẽ vì cho rằng chàng đau đớn cho tấm thân tàn phế thảm thương kia chứ nào biết đâu từ tận cùng sâu thẳm trái tim đang rướm máu từng cơn, Dung đâu biết là Tùng đã hiểu chuyện tình cảm của Thông dành cho Dung – còn gì để anh sống nữa Dung ơi, thân anh không còn là con người, tim anh đang dãy chết…Tùng gục xuống bên Dung nghẹn ngào tức tưởi !

Một tháng sau cả ba người được chính phủ Hoa Kỳ làm thủ tục nhận vào nước Mỹ, được chính phủ cấp cho một căn nhà 3 phòng tại vùng Bắc Cali, Thông đi làm cho một hãng Tiện, Dung đi làm cho một hãng Ðiện Tử – ngày ngày họ thay phiên nhau săn sóc cho Tùng – Một hôm Tùng lâm trọng bệnh, cơn sốt hoành hành thân xác, chờ mãi cũng không thấy anh và vợ về như mọi ngày – đã 9 giờ đêm Tùng suy nghĩ mãi không hiểu vì sao cả hai không về như thường lệ, đầu óc quay cuồng không còn tỉnh táo… Tùng cố xê dịch chiếc xe đến bên tủ thuốc , chàng lắp chiếc tay giả vào mà từ khi được cấp đến nay chàng không hề xử dụng bởi bất tiện vì chàng không thể lắp vào một mình, chàng gắn sơ cánh tay mặt vào rồi với tay lên tủ thuốc lấy nguyên típ thuốc an thần của Dung uống cạn, Tùng viết lại mấy dòng nguệch ngoạc trước khi lìa xa cõi trần đau thương, lìa xa Dung yêu quý và anh Thông người anh một mực kính thương của Tùng…viết xong Tùng bỏ chiếc tay giả ra và nước mắt tuôn trào !

“ Dung yêu quý ! anh đi đây, điều anh mong ước duy nhất là em đừng khóc để anh đi được nhẹ nhàng, em ơi ở đời đâu ai khen một cặp rể dâu tật nguyền mà đẹp đôi, mà xứng lứa, anh mong sau khi anh đi rồi em hãy cùng anh Thông có một đám cưới và chung sống bên nhau thật hạnh phúc” Tùng khóc nức nở và lịm dần vào cõi hư vô…bên ngoài có tiếng xe cứu thương ngừng ở cửa, họ dìu Thông vào nhà, chàng sơ ý trong lúc làm việc nên bị máy tiện dập đứt một bàn tay đã băng bó xong từ bệnh viện Basscom trở về – Thông bước lần đến kêu Tùng dậy, chàng ngỡ ngàng khóc ngất , lá thư tuyệt mệnh của Tùng, trời ơi, em tôi !!! Tùng đã chết , tim đã ngừng đập, nước mắt còn ướt đẫm trên má trên mi , chan hòa trên ngực áo – Dung từ ngoài bước nhẹ vào như những lần nàng đi làm về sợ phá giấc ngủ của Tùng, hôm nay là lần đầu tiên nàng làm thêm giờ overtime vì hãng có nhiều hàng cần gấp – Dung nhìn thấy anh Thông đứng chết sững, Tùng thì nằm bất động, nước mắt ràn rụa trên thân người lạnh ngắt ! Lá thư kia… Dung chết lặng , xung quanh nàng bầu trời tối xẫm lại, nàng té xuống nền gạch và không còn biết gì nữa !…
NGỌC AN đầu thu 2004

GIỚI THIỆU SÁCH :

Tuyển tập Thi Văn HOA VÀNG, một cuốn sách văn học có giá trị, gồm 50 tác giả hải ngoại thành danh từ nhiều năm qua – Xuất bản năm 2003 tại Thung Lũng Hoa Vàng - Bìa đôi 4 màu – dày 435 trang – giấy vàng hoa tiên .
Giá bán : Hoa Kỳ : 15 USA – Các nước : 20 USA
Liên lạc Ngọc An : (408) 829-2145
Email : ngocan06@yahoọcom

Ngọc An


Mục Lục


2. Vài ý kiến về Hồ Xuân Hương: Hãy trả Hương về với mùa Xuân

Bích Hà



Lâu nay tôi muốn góp thêm một suy tư, một phần nào nhận thức cá biệt của mình đối với một nữ thi sĩ nổi tiếng trong văn học sử, được truyền tụng vì những bài thơ rất đặc biệt khác thường của bà. Ðó là thi sĩ Hồ Xuân Hương,

Ðến nay, tiểu sử của bà vẫn chưa được xác định rõ, thân thế vẫn còn mịt mờ vì chưa có một tài liệu nào đích xác chứng thực về cuộc đời và thơ văn của bà _Chúng chỉ được sao chép, truyền tụng trong nhân gian như những giai thoại rất dí dỏm, lý thú về một người đàn bà khác thường, cùng với những bài thơ kỳ lạ, ỡm ờ, tinh quáị Các nhà nghiên cứu đoán, bà là con gái Hồ Phi Diễn, một ông đồ nghèo bỏ quê nhà là Nghệ An, (làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu) ra dạy học ở Hải Dương. Khi trưởng thành, có thời gian bà sống ở Hà Nội, dựng ngôi nhà tranh rất nổi tiếng, đặt tên là Cổ Nguyệt đình, ngoảnh mặt ra Hồ Tâỵ Ðây là nơi bà thường ngồi đọc sách, làm thơ, dạy học trò và xướng ngâm với các bạn bè tao nhân mặc khách. Hai chữ Hán: Cổ và Nguyệt ghép lại thành chữ Hồ, có nghĩa là cái nhà của cô gái họ Hồ. Vì trong dân gian có truyền tụng vài bài thơ cho là của bà xướng họa với Chiêu Hổ, nên họ cũng đoán rằng, bà sống đồng thời với Chiêu Hổ (1768 -1839) khoảng vào cuối đời Lê, qua Tây Sơn tới đầu nhà Nguyễn. Qua tập Lưu Hương ký mới đây được phát hiện công bố năm 1963, là văn bản duy nhất đề tên tác giả là Hồ Xuân Hương, người ta tìm thấy có một bài thơ gởi cho văn hào Nguyễn Du(1766-1820) nên biết được bà cũng có giao tình với văn hào nầỵ Rất tiếc bản chính này, sau đó cũng thất lạc vì chiến tranh, chỉ còn những bài thơ được sao chép lại.

Thời đại của bà, hầu hết các văn bản lưu truyền được chép bằng tay, sao đi chép lại nhiều lần, thật khó xác định bài nào là thật, bài nào là giả. Ngay cả tác phẩm nổi tiếng như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, cũng không tránh khỏi hiện tượng có nhiều bản sao khác nhau, hoặc bị mất mát, sửa đổi ít nhiều khi sao chép. Các bản diễn dịch Nôm từ tác phẩm nổi tiếng như Chinh phụ ngâm bằng Hán văn của Ðặng Trần Côn, cũng chịu những số phận nghiệt ngã tương tự. Kẻ bảo bản dịch này của Ðoàn thị Ðiểm, kẻ cho là của Phan Huy Ích. May mà con cháu của Phan Huy Ích (Phan Huy Chiêm) đã đứng ra bỏ công nhiều năm (1926) tranh luận trên văn đàn, báo chí, để dành lại tác quyền cho tổ phụ. Phan Huy Chiêm đã trưng ra được nhiều văn bản dữ kiện rất tín nhiệm, đó là bản dịch Nôm chính của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, cùng một bài thơ chữ Nho, chép trong gia phả của dòng họ Phan ở làng Thầy (Quốc Oai, Sơn Tây). Phan Huy Ích, tác giả của bài thơ này, làm đến chức Lễ bộ thượng thư, kiêm chương nhạc chính ty Thụy nham hầu thời Tây Sơn (Quang Trung 1788-1792), từng đi sứ sang Tàu, nổi tiếng về tài học thuật và đối ứng, từng được cùng xướng họa thơ với vua Càn Long. Trong bài thơ ấy của Phan Huy Ích (bài này được chép cả trong bộ Dụ am ngâm lục của Phan Huy Ích) ông có nhắc đến việc là: chính ông trong lúc rảnh rỗi, đã phiên dịch Chinh Phụ Ngâm của Ðặng Trần Côn thành khúc mới, gọi là Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc. Các học giả và các nhà khảo cứu đương thời, sau nhiều năm tranh luận và xem xét các bằng chứng, mới khẳng định rằng: bản hay nhất đang lưu hành, đích thực của Phan Huy Ích.

Trường hợp của Xuân Hương, cũng vì thiếu bằng cớ và tài liệu chính xác để truy cứu, trong quá khứ, chắc không khỏi có nhiều người đã lợi dụng điểm này, để tha hồ bịa đặt, sáng tác bậy bạ, tục tĩu, bắt chước na ná lối làm thơ ỡm ờ hai nghĩa, viết điều này, nhưng ám chỉ việc khác của bà, gán cho thơ tồi này là của bà viết. Nếu kẻ hậu thế như chúng ta, cũng vì lý do không có tài liệu gì đích xác, để vin vào đó mà phủ nhận, mặc cho nhân thế nhắm mắt tin những bài thơ dâm dục này là của Xuân Hương thật, thì oan ức cho phẩm giá và tài năng của thi sĩ. Chúng ta thử đọc vài bài tồi, trong số những bài rất nhảm nhí đã được nổi tiếng vì còn lưu truyền đến ngày nay nhờ ăn cắp tên tuổi của Xuân Hương như bài Ðánh cờ người, hoặc bài vịnh Ông quan võ:

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết
Ðể đôi ta quyết liệt một phen
Quân thiếp trắng, quân chàng đen
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên
Hai xe hà, chàng gác hai bên
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý
Ðem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu
Thua thì thua quyết níu lấy con
Khi vui nước nước non non
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà (Ðánh cờ người)

_Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn
Ðầu đội nón da loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn rủ thao đen (Ông quan võ)

Hai bài này nham nhở sỗ sàng, gây cho người đọc một cảm giác khó chịu, vì cái lối tìm thỏa mãn khoái lạc hạ cấp, qua cách xử dụng văn thơ khiêu dâm không lành mạnh chỉ có thể là của loại người bình dân ít học, bị dồn nén ức chế tình dục lâu ngày, đâm ra khủng hoảng sinh lý trầm trọng, vì lý do đó, nên cái tính giống nam nữ và cái chuyện phòng the kia, luôn luôn ám ảnh, chiếm lĩnh hết cả đầu óc tâm hồn và tư tưởng, nhìn bất cứ đồ gì, vật cảnh gì, cũng mơ tưởng hình dung ra nó, đến nỗi phát tiết ra cả thơ văn.

Trong Quốc triều chánh biên, thời Gia Long, có đoạn chép về thói “sùng phụng dâm từ” của dân chúng, thấy ghi như sau:
_”Ngài (vua Gia Long) bàn việc chánh trị với các quan, nhơn nói đến chuyện dân gian hay sùng phụng dâm từ. Thống chế Hoàng Công Lý tâu rằng: ”dân trong kinh thành cũng hay tin chuộng đạo ngoài, thường thổi còi và đánh thanh la; xin ngài thần định luật điều nghiêm cấm”.

Có lẽ trong câu trên, vua tôi nhà Nguyễn đang bàn luận về văn chương lãng mạn,về đạo Thiên Chúa giáo và âm nhạc của người Pháp, đang bắt đầu theo thương thuyền và các giáo sĩ du nhập vào nước tạ Vua Gia Long và triều thần lúc ấy, đang có ý thảo luận sửa soạn viết những dự luật ngăn cấm những chuyện đó.

Trong sự sùng phụng ”dâm từ” đang bị chính quyền để ý tới, không biết có những bài thơ của bà không? Tình dục chỉ là lẽ thường của bản năng sinh sản của con người, nhưng loại thơ tiềm ẩn đề tài như vậy, do một phụ nữ viết vào thời điểm đó, là điều vô cùng kỳ lạ, chắc chắn sẽ gây nhiều dư luận ồn ào, những đả kích dữ dội to lớn. Vậy thì các văn sĩ, nhà mô phạm, và các bậc trí thức thời đó, có ai viết những bài thơ phản bác hay không? Sao chỉ có vài câu của Chiêu Hổ mà thôỉ

Dân Việt ta thường phản ảnh tâm tình mộc mạc của họ qua ca dao, trong mấy ngàn câu tục ngữ ca dao, là loại văn chương bình dân truyền khẩu, chỉ thấy dân ta thuộc và nhắc nhở đến Truyện Kiều, thứ được gọi là văn chương bác học của người trí thức, mà chẳng tìm thấy một câu nào liên quan, nhắc nhở đến Xuân Hương, người được coi là hiện tương kỳ lạ của xã hội thời ấỵ Dân ta tuy không có quyền lực, nhưng cái bia miệng của họ cũng ghê gớm lắm, nếu Xuân Hương mà lẳng lơ đĩ thõa, thì vài chục câu ca dao, thế nào cũng được sáng tác truyền khẩu để tặng cho bà.

Ngay đến đàn ông, như văn hào Nguyễn Du, là người được xem như sống cùng thời với bà, trong tác phẩm Truyện Kiều (Ðoạn trường tân thanh), cũng chỉ dùng điển tích, hoặc mô tả bóng gió xa xôi, ẩn dụ kín đáo hoa mỹ, để nói về chuyện tình dục như: “ong bướm lả lơi, dập diù lá gió cành chim, mưa Sở mây Tần, trăng, hoa xưa ong cũ, ân ái chan chan, vành ái ân, chén quỳnh giao hoan…..”

Ông đã dùng từ ngữ thanh cao, điển cố nhã nhặn kín đáo, để diễn tả chuyển đạt đến người đọc, cái hình tượng ẩn dụ của chuyện tình dục, một nhu cầu tự nhiên tất có xưa nay của tình yêu và con ngườị
_Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên

Vẻ đẹp thân thể trần truồng trắng trẻo lúc Kiều tắm, được ông tế nhị và chắc đã cân nhắc rất kỹ rồi mới viết, so với thời đại chúng ta đang sống có phim ảnh, báo chí, internet.. đầy rẫy những hình ảnh nam nữ 100% khỏa thân, bị nhìn riết thấy quen đến mức trở nên bình thường_ thì ông đã tả quá sơ sài, nếu chỉ dựa vào nghĩa đen, chưa chắc đã hiểu ông miêu tả cái gì. Ấy vậy, mà đã một thời bị các cụ ta xưa, xem là sexy hết cỡ thợ mộc, liệt kê Truyện Kiều vào loại nguy hiểm cho sự giáo dục con cái nên cấm con cái không được đọc. Nhất là không được bắt chước Thúy Kiều, buổi tối lợi dụng lúc cha mẹ đi ăn tiệc ở đâu đó vắng nhà, hăm hở: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đến chơi nhà chàng Kim Trọng; hoặc chưa hỏi ý kiến cha mẹ đã tự ý đính ước hôn nhân với chàng. Thế nên ca dao có câu:

_Ðàn ông chớ kể Phan Trần
Ðàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều

Ở Úc thời nay, các bậc cha mẹ Việt Nam, đối với các con gái, dưới tuổi vị thành niên (cỡ tuổi của Thúy Kiều lúc chưa bán mình chuộc cha nên phải đi lang bạt kỳ hồ), dù đang ở thế kỷ thứ 21, cách niên đại của Hồ Xuân Hương hơn 200 năm, chắc chắn ai nấy cũng hết lòng trông nom, đưa đón, giữ gìn con gáị Sau khi tan trường hoặc dự party với bạn bè xong, thì chầu chực ngoài cổng, đón chúng ngay về nhà, không cho chúng có cơ hội đi lang thang, nhất là đến nhà bạn trai chơi một mình_thế nên, đối với cách xử xự khó khăn với con cái của các cụ, chúng ta cũng rất là thông cảm. Ðứng về diện tâm lý của người làm mẹ, nếu Xuân Hương có con, tất nhiên bà phải giữ tư cách của một người mẹ, phải có một mẫu mực, một tiêu chuẩn đạo đức tối thiểu nhất định nào đó, để khả dĩ còn có thể bảo ban giáo huấn con cáị Ai lại chẳng muốn bảo vệ danh dự, thể diện của mình và gia đình? chắc chẳng ai thích, có một người mẹ hoặc người thân, tối ngày dư thì giờ, cố ý tận dụng bản lĩnh văn tài, ra sức nặn óc, nắn nót tìm từ, viết thành những bài thơ hai nghĩa; nghĩa kia ẩn dụ, bóng gió đầy dục tính, ám chỉ đến những tác động phòng the, hoặc mô tả cái giống tính không mấy gì đẹp đẽ kia, mà văn hóa Tây- Ta nghìn năm xưa đến nay, đều cho là nên tế nhị, che đậy cất kỹ nó sau những lớp áo quần đẹp đẽ, cho dù chúng, không hơn không kém, chỉ là một bộ phận của cơ thể. Ấy vậy làm sao ta có thể tin rằng: một phụ nữ sống cách đây hơn 200 năm như Xuân Hương, trong một xã hội gò bó phong kiến, luôn bắt buộc người phụ nữ phải sống ép mình trong những tiêu chuẩn và luật lệ của gia tộc và xã hội, lại có can đảm, ngang nhiên phóng túng đi ngược lại văn hóa và thuần phong mỹ tục của xã hộỉ

Những thơ tồi tệ như thế, không nên gán cho Hồ Xuân Hương vì chúng trơ trẽn, khác biệt hẳn với phong cách trong sáng và khẩu khí thanh cao nhã nhặn phóng khoáng của bà, chúng ta thấy thể hiện qua bài thơ Mời trầu: đây là lời bà nhắn nhe rất khéo léo, lịch sự với bạn trai, chắc là chỗ quen biết nhau khá thân mới xưng tên như thế: “Em vẫn tiếp đãi chàng ân cần, chính tay em têm trầu mời chàng ăn đó nhé. Nếu thực lòng nghĩ đến duyên nhau, xin chàng nồng thắm lại (lá trầu xanh khi nhai chung với cau và vôi thì trở thành màu đỏ thắm, tượng trưng cho tình nồng ấm) Ðừng xé lẻ phụ nhau, bạc bẽo như vôi, xanh như lá trầu khi để riêng rẽ, không có tình chung:

_Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Ðừng xanh như lá bạc như vôi

Hoặc bài vịnh bánh trôi nước, nghĩa ngầm nói tới thân phận bạc bẽo chìm nổi của phụ nữ, tuy trắng trẻo xinh đẹp nhưng không làm chủ được đời mình, phải tùy thuộc vào định mệnh, (rắn nát mặc dù tay kẻ nặn), nhưng vẫn cố giữ tấm lòng trinh bạch, sắt son:

_Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Tấm lòng son ở đây, nhắc ta đến thân phận phụ nữ và đường hôn nhân kém may mắn của bà, tương truyền rằng một người tài hoa như bà, phải làm vợ lẽ. Người ta đoán như vậy vì bài thơ:”Lấy chồng chung” được cho là của bà viết.

_Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công

Dân gian có lưu truyền bài thơ Khóc Tổng Cóc (Cóc là tên cúng cơm xấu xí, cha mẹ gọi lúc ông còn bé để ma quỉ khỏi quấy phá. Tên thật của ông là Nguyễn Công Hòa, làm chức phó Tổng, nên người ta gọi là Tổng Cóc) nhiều người cho bài thơ này bà làm để khóc chồng, nên suy ra bà là vợ lẽ của Tổng Cóc:

Chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi!
Thiếp bén chuyên chàng có thế thôi!
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhỉ
Ngàn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

Văn hóa Tây hay Ta, xưa nay đối với người đã khuất, đều tỏ lòng thương tiếc với sự tôn trọng, nhất là người đó lại là chồng của mình. Chẳng ai vô lễ, làm thơ thương tiếc chồng mà lại xử dụng những tên cúng cơm xấu xí ra miệt thị, diễu cợt chồng đã khuất của mình bằng: “Cóc, nhái ” bén”, “nòng nọc”, chẫu “chuộc”( tức là bêu cả họ nhà Cóc). Xuân Hương thông minh có học, không có lý do gì tự bôi tro trát trấu vào mặt mình. Theo lẽ đó, bài này không phải do bà viết.

Người ta cũng đồ đoán bà làm lẽ ông Phủ Vĩnh Tường, vì dân gian có bài thơ: Khóc ông Phủ Vĩnh Tường, nên thiên hạ vơ luôn ông này vào làm chồng của bà:

_Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi
Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời…

Ðây chỉ là một bài thơ khóc ông quan Tri phủ Vĩnh Tường, phủ Vĩnh Tường trước đó được gọi là huyện Tam Ðái, mãi đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) mới đổi thành phủ Vĩnh Tường, thời gian này, bà hoặc đã quá lớn tuổi hoặc là đã mất, không thể làm lẽ của bất cứ ông tri phủ nào của phủ Vĩnh Tường được.

Trong cuốn Quốc sử Di biên được viết vào khoảng 1851 (đời Tự Ðức) của thám hoa Phan Thúc Trực; Ông này sinh dưới thời Gia Long 1808 mất năm 1852, mười lần đỗ tú tài nên được gọi là Thám mười, mãi đến cuối đời Thiệu Trị mới ra làm quan (1847). Có đoạn chép câu chuyện xảy ra khoảng năm 1819 ( Kỷ Mão gần cuối đời Gia Long):

_ “Xuân Hương là thiếp của quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần phúc Hiển. Bà Xuân Hương vốn giỏi văn chương và chánh sự nên người đương thời khen là nữ tài tử. Quan Tham hiệp thường sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài, thủ hạ đem lòng thù ghét vu cho tội tham nhũng vì thế bị giam(1718) và sau đó bị án tử hình(1819).”

Có người cho rằng, Tham hiệp trấn Quảng Yên Trần Phúc Hiển chết vì bị nghi là vây cánh của Nguyễn Văn Thành và con là Nguyễn văn Thuyên, nên bị thủ hạ của Lê Văn Duyệt kiếm cớ tiêu diệt, vu cho tội tham nhũng.
Có phải Xuân Hương trong đoạn sử mà thám hoa Phan Thúc Trực đã viết ở đoạn trên, đúng là thi sĩ Hồ Xuân Hương chăng? Xưa nay, các nhà khảo cứu vẫn cho là bà mất vào khoảng 1818-1820, có thể nào bà cũng bị xử tử chung với chồng hay không? vì sau đó không có tin tức gì về bà nữa.
Vụ án của cha con Nguyễn văn Thành có dính dáng đến thơ văn, nên chẳng may nếu Xuân Hương và chồng bà, có giao hảo với đám văn nhân người Thanh hoá mà Nguyễn văn Thuyên cho mời vào, họ sẽ bị nằm trong danh sách những người tình nghi có âm mưu làm phản để soán đoạt ngôi vua.
_Ðại Nam thực lục chứng rằng: trong khoảng đời Gia Long, Hiệp trấn Sơn Nam Thượng tên là Trần Ngọc Quán (ông là bạn của nữ sĩ, người Nghệ An hay lui tới Cổ Nguyệt Ðường, tụ tập làm thơ và có mấy bài xướng họa thơ với Xuân Hương ghi trong Lưu hương ký) trước làm cai bạ ở Quảng Ðức (sau đổi là Thừa Thiên). Tháng 2 năm Ất Hợi (1815) được bổ nhậm chức Hiệp trấn Sơn Nam thượng làm quan ở đó 3 năm thì mất (tháng 5 năm Mậu Dần 1818) tức cũng chết vào khoảng thời gian xảy ra vụ án soán đoạt ngôi vua trên.

Sử sách cho ta biết, Nguyễn Văn Thành là một công thần hàng đầu của triều Nguyễn, từng vào sanh ra tử giúp vua Gia Long, ông có ý muốn phù trợ cho con của hoàng tử Cảnh (sau khi từ Pháp về, đã mất vì bệnh đậu mùa năm 1801 khi đang giúp cha trấn giữ thành Gia định) là hoàng tôn Ðán lên làm thái tử (tức muốn lập dòng trưởng), nhưng vua Gia Long không bằng lòng, lại nghi ngờ ông có dụng ý lập Ðán còn nhỏ tuổi để sau này dễ bề khống chế, chuyên quyền. Con trai của Nguyễn văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên, thi đỗ cử nhân, thường hay làm thơ ngâm vịnh và giao du với những văn nhân thi học sĩ thời bấy giờ.

Quốc triều chánh biên chép việc ấy như sau:
“Tháng 4, thâu ấn Chưởng trung quân của Nguyễn văn Thành, giam con Thành là Nguyễn văn Thuyên vào ngục. Nguyên có người tỉnh Thanh (Thanh Hóa) là Nguyễn Thương Hiệu làm gia khách Nguyễn văn Thuyên, Thuyên có làm một bài thơ giao cho Hiệu đem ra Thanh (Thanh Hóa) để mời bọn Nguyễn Ðức Khuê, thơ rằng:

Văn dạo Ái Châu đa tuấn kiệt
Hư hoài trắc dục cầu tỵ
Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác,
Thiện tướng phương tri Ký bắc kỳ.
U cốc hữu hương thiên lý viễn.
Cao cương minh phượng cửu thiên tri
Thử hồi nhược đắc sơn trung tể
Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky”.

Nghĩa là:
Ðồn rằng châu Ái lắm anh tài
Chiếu trống, lòng riêng những đợi hoài
Ngọc phát non kinh nào giấu mãi
Ngựa kỳ nội ký mấy người hay
Hương thơm hang thẳm, bay ngàn dặm
Phụng đậu gò cao tiếng khắp nơi
Trong núi có ai là tể tướng
Ra tay giúp đỡ chuyển cơ trời

Bài thơ có mấy câu thời đó cho là rất ngông cuồng này, bị các đối thủ (ám chỉ Lê văn Duyệt) vốn ngầm đố kỵ công lao của Thành, vu cho Thuyên âm mưu tạo phản, soán đoạt ngôi vua, giam Thành và mấy người con ở trong trại quân Thị trung. Lê Văn Duyệt khảo tra Thuyên, bắt phải nhận tội phản nghịch. Khi đình thần tra án rồi, Thành nói với Thống chế Hoàng Công Lý rằng: “Án xong rồi, vua khiến tôi phải chết, nếu không chết thời không phải tôi trung”. Liền uống thuốc độc tự tử, còn Thuyên sau đó cũng bị giết (tháng bảy 1817). Cái tài của Xuân Hương về văn chương, và chánh sự, chồng lại ưa sai Xuân Hương can dự vào những chuyện bên ngoài trong thời điểm nầy thật là nguy hạị

Sự khác biệt giữa người này và người kia, chúng ta có thể nhận định được, qua phong cách cá nhân như tư tưởng, lời nói, văn chương… văn chương là phạm trù đặc biệt, có thể trưng bày biểu hiện tư duy của con người nên qua tác phẩm, người ta có thể đánh giá, nhận định được ý thức về luân lý, xã hội của tác giả, kể cả tâm hồn cùng trình độ văn hóa lẫn nền giáo dục mà người đó đã được đào tạo và hấp thụ. Ðối với vài bài thơ chế giễu, nghịch ngợm có thể đã do bà sáng tác lúc còn nhỏ tuổi, được các nhà phê bình xưa nay cho là bà có hơi hám của một phụ nữ có cá tính phóng túng. Nhưng thiết nghĩ Xuân Hương là người học rộng, văn chương tài trí hơn người, bà được chồng ủy nhiệm cho xem xét và xử các vụ kiện tụng của dân chúng (cho dù chỉ đứng sau lưng chồng), tất bà phải tinh thông văn hóa, lễ nghi, đạo nghĩa, không thể là người viết ra được lối văn chương nhảm nhí, phàm phu tục tử, lộ liễu đến độ tục tĩu, mà đem so với lối văn chương của bà trong tập Lưu hương ký, thì một trời cách biệt. Chúng ta hãy đọc thử bài thơ bà viết cho Nguyễn Du trích trong tập này, cùng bài đề vịnh Hạ long (bài này là một trong sáu bài, được tìm thấy in đằng sau cuốn điạ dư cũ của tỉnh Quảng Yên lưu trữ trong thư viện Pháp) văn chương mẫu mực thanh tao, không mảy may giống chút nào với lối văn bình dân ít học của bài quả mít, con ốc nhồi, khóc tổng Cóc chẳng hạn…:

Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu
(Nhớ bạn cũ, viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu)(Hầu, Nghi Xuân, Tiên Ðiền Nhân)

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong

Ðề Vịnh Hạ Long

Ðộ hoa phong

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong
Tiệu bích đan nhai xuất thủy trung
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển
Sơn hình tà kháo thủy môn thông
Ngư long tạp xử thu yên bạc
Âu lộ tề phi nhất chiếu hồng
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy tinh cung
Qua vũng hoa phong
Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong
Ðá dựng bờ son mọc giữa dòng
Dáng nước lần theo chân núi chuyển
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông
Cá rồng lẫn nấp hơi thu nhạt
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc
Ðâu nào là chốn thủy tinh cung?

Với những bài mang tính cách dâm thư thô thiển, thiếu nghệ thuật, không thể gọi là tác phẩm văn chương được, nhất là, vô bằng vô chứng lại gán cho một người có học như nữ sĩ Xuân Hương là tác giả, thì phụ nữ chúng ta nên ra sức giúp bà bảo vệ danh giá của người phụ nữ Việt Nam, chớ để mấy ông Ðồ gàn học dốt thi trượt, phá phách ngổ ngáo, thiếu suy nghĩ, bỡn cợt trêu ghẹo Xuân Hương, làm bại hoại danh tiết, bôi bát tâm hồn thanh tao khẳng khái của bà. Tuy thi sĩ đã chết rồi, chẳng thể đội mồ sống dậy để biện hộ cãi vã lôi thôi, xét về mặt tâm lý, hãy tưởng tượng Xuân Hương phải đối phó thế nào, khi bà xuất hiện ở những lúc họp mặt văn thơ tao đàn, những buổi đám giỗ của gia tộc, khi mà mọi người nhìn mặt bà thì liên tưởng ngay đến những bài thơ cùng hình tượng của những cái ẩn dụ kia?
Cứ xem mấy bài tả cảnh, chỉ khéo léo mượn cớ tả cảnh đẹp thiên nhiên, tâm ý chỉ để mô tả bộ phận sinh dục, hoặc những tác động tình dục, như bài Hang cắc cớ, hang Thánh Hoá. Ðộng Hương Tích, Ðèo Ba Dội (còn gọi là đèo Tam Ðiệp giáp giới Thanh Hoá và Ninh Bình), Ðá ông chồng bà chồng…

_Khéo léo bày trò tạo hóa công
Ông chồng đã vậy lại bà chồng
Từng trên tuyết điểm phơ đầu bạc
Thớt dưới sương pha đượm má hồng
Gan nghĩa dãi ra cùng tuế nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông (Ðá ông chồng bà chồng)

_Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ lét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Ðầm đìa lá liễu hạt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo (Ðèo Ba Dội)

Bài Ðèo Ba Dội này, John Balaban một thi sĩ Mỹ nổi tiếng và là giáo sư ngành văn học Anh- Mỹ của North Caroline university, từng sống ở Việt Nam, nói và đọc được tiếng Việt. Ông John Balaban đã dịch thơ của Xuân Hương sang tiếng Anh và cho xuất bản cuốn Spring Essence: The Poem of Ho Xuan Huong (xuất bản tháng 10/2000) bán rất chạy tại Hoa Kỳ. Khi được chương trình Fresh air của đài phát thanh NPR (Hoa Kỳ) phỏng vấn, Ông John Balaban nói rằng: ”vì Xuân Hương thường làm thơ hai nghĩa nên câu đầu của bài Ðèo Ba Dội, nếu thay dấu sắc vào chữ ” đèo “ thì sẽ có nghĩa là “to have sex” và đó là ý Xuân Hương muốn nói đến”. Tuy cách thêm thắt dấu vào chữ nghĩa của ông, làm cho nhiều người Việt giật bắn cả mình, nhưng nó chứng minh cho thấy, ông nhạy bén về chuyện sex hơn các nam văn nhân Việt Nam nhiều, và bạo dạn hơn khi cứ tự nhiên mà nói đến chữ ấy, vì tìm trong tất cả bài bình giảng thơ cho là của Xuân Hương, xưa nay không thấy bất cứ ai đề nghị đề cập đến cách thêm dấu như thế, vì nó làm cho chữ ấy, lộ liễu quá sức mình. Người Việt đa số thích vòng vo tam quốc, ”nói cái nọ, dọ cái kia” ”úp úp mở mở”, chứ không nói huỵch toẹt thẳng thừng như người Mỹ. Mấy trò chơi chữ nói lái như trong bài Chùa Quán sứ, Sư hoang dâm…cũng là trò tinh quái của mấy ông bình dân học vụ, chứ người phụ nữ Việt không trâng tráo cỡ đó, nhất là Xuân Hương, người biết đặt tên cho nhà của mình là Cổ Nguyệt đình, tên văn hoa đẹp đẽ như vậy, ngôi nhà khó có thể là chỗ ngồi đọc và sáng tác những loại văn chương nhảm nhí đến thế.

_Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kình tiểu để suông không đấm
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo (Chùa Quán Sứ)

_Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo
Thuyền từ cũng muốn về Tây trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo (Sư hoang dâm)

Có người cho rằng, bà phản kháng sự thối nát của xã hội trong đó có cả tôn giáo, khi dè bỉu một vài nhà sư không giữ giới luật. Nhưng những câu nói lái tục tĩu như vậy, tự bản thân nó cũng đã là một thói xấu xa thối nát của xã hội rồi, nhất là xuất phát từ cái tâm, từ trái tim của một người phụ nữ, nên cái lý luận kia cũng không chấp nhận được. Nguyễn Du nói: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Người có cái tâm tối hù như vậy, hẳn không thể là bạn của cụ được.

Cũng có người cho rằng: bà dùng cách vẽ vời tồng ngồng tô hô trong thi văn của mình, để bẻ gãy khuôn khổ chật hẹp gò bó của lễ nghi phong tục, là hình thức để bà thực hiện và tranh đấu cho quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ, chống đối lại sự đàn áp thống trị của đàn ông và gia quyền, đả kích sự đạo đức giả của tầng lớp trưởng giả, và đồng thời cũng chính là cách bà tranh đấu cho quyền được hưởng hạnh phúc ái ân của chính mình.

Thiết nghĩ: những bài thơ nham nhở thô bỉ, chỉ gặt hái được sự miệt thị, khinh thường của người đọc người nghe, chứ chẳng thể làm gì hũu ích để tích cực góp phần xây dựng cải tạo được xã hội, đừng nói chi đến việc tranh đấu cho người này, hay tranh đấu cho ý thức nọ.

Bích Hà
7/03

Mục Lục


3. Quê Hương Ngút Ngàn

Trần Thành Mỹ



Nhìn những chòm cây trơ cành trụi lá hiên ngang lượn gió rung rinh trong sương sớm, tôi chạnh nhớ đến quê hương nắng ấm xa vờị Ngày còn đi học, lướt qua những thiệp chúc Tết với rặng núi đầu đi tuyết vạn niên, những ngọn thông xanh thi gan cùng tuế nguyệt, tưởng tượng được sống mt lần ở vùng núi đồi tuyệt đẹp nầy lắm lúc cũng đưa hồn mình vào giấc mng tuyệt vời.

Thật ra lần đầu tiên vào mùa Ðông, ngắm những cánh đồng được phủ lên tấm thảm trắng phau, nóc nhà choàng lớp tuyết dầy, hàng cây đi nón cùng màu trong bầu trời mờ khói, Tạo hóa như họa sĩ tài ba khắc họa muôn hình trên cửa kính, nhà kiến trúc phù thủy bằng cái búng tay biến cảnh vật thay dạng đổi hình. Nhìn tuyết rơi tựa hồ những mãnh bông gòn bay bay, nhè nhẹ đáp trên cành cây cỏ lá như những nàng tiên nữ nhẹ gót giáng trần khoảnh khắc biến tan. Mặt trời ló dạng, những cây thủy tinh tuyết với bao hình thù kỳ ảo lung linh lủng lẳng trên khung cửa, cây cành, máng xối, ct trụ, tháp chuông, giọt vắng giọt dài như chuổi hạt kim cương lóng lánh, ngấn lệ của cô gái trong đêm vu qui từ giả. Cây cối mang lúp trắng với nữ trang băng rực rỡ như cô dâu ngày cưới trinh khiết giữa khung cảnh trang trọng uy nghiêm trầm mặc. Thỉnh thoảng mt làn gió nhẹ thoáng qua cũng đủ làm rúng đng không gian gây những mãnh vở như những vì sao băng sao xẹt. Ðẹp thật cảnh trí mùa Ðông xứ lạ, nhưng đối với người phải tha hương, cái lạnh ngắt như đồng thắm từng thớ da mảnh thịt nầy phản ảnh rõ nét hơi nồng ấm của quê hương. Sắc đẹp trinh nguyên của tuyết băng, ‘tài tình chi lắm cho trời đất ghen’ ví như bùn trắng cũng bị bôi bẫn tả tơi chảy re như bt bánh ít pha hơi nhiều nước. Tuyết xứ nào điểm tô xứ nấy hòa hợp với cảnh trí thiên nhiên riêng. Không thể mặc áo ngự hàn dầy ấm trong mùa nắng nóng như áo mỏng te đâu che nỗi cơn buốt giá mùa Ðông.

Sao mà nhớ quê hương mình cũng đầy ơn mưa móc, đẩm nước sông nước suối ngọt ngàọ Ðại dương đưa gió mát rì rào mang lâm thủy sản tràn đầy, phóng tầm nhìn về trời cao bể rng. Dân xứ lạnh thèm hơi nắng ấm, ta dư thừa nên quên hưởng diễm phúc trong tầm taỵ Thiên nhiên quả ưu đải giang sơn ta nhiều thật, vị trí bao lơn dài hướng ra biển khơi lồng lng điểm tô bằng vịnh Hạ long, kỳ quan tuyệt đẹp, đảo lớn nhỏ Trường sa, Hoàng sa, Phú quốc chôn giấu bao sản phẩm khó tìm. Thềm lục địa nhú nhô ‘mìn’ dầu hỏa, cát Cam Ranh nỗi tiếng lắm kẻ trầm trồ, mậu dịch tranh giành. Hồng Hà mạch sống của miền Bắc nghìn năm văn vật, cun sóng đỏ từng phá đê vở đập như chiến thắng Ðiện Biên Phủ làm quân Pháp mt lần chết cạn. Sông Hương miền Trung yễu điệu bên lăng tẩm vàng son, nguy nga, cỗ kính là ‘‘nỗi nhớ thiết tha về mt cái đẹp nào đó, hương thơm của hoa cỏ, sự yên tĩnh của tâm hồn khi nhìn dòng nước biếc trong xanh’’. Miền Nam, sông Cửu Long không dài rng như Mississipi Mỹ, hùng vĩ như sông Nil Ai cập, huyền bí như Hằng Hà (Gange) Ấn Ð, với chín cửa như nãi chuối Ba Hương, như rồng mang nước ngọt, phù sa đắp đồng bằng phì nhiêu mầu mỡ. Mủi Cà mau nhô dần ra biển cả như chiếc gươm thần Hồ Hoàn Kiếm rạch xuyên sóng cả vẫn không ngăn nỗi bọn hải tặc giết người vượt biển tìm tự dọ Hãy ngửa mặt nhìn trời xanh trong vắt đếm sao đêm. Không phận thuc người mà vòm trời chẳng của riêng aị Những ngọn đèn trời như hải đăng soi tàu tìm bến, cặp mắt long lanh huyền ảo của các nàng tiên nữ múa khúc Nghê thường. Có thể là tia pháo bông trong ngày đại lể hay hoa đăng trên nước. Hoặc giả đó là bóng đèn mờ mờ ảo ảo chớp tắt trong các dạ vũ Crazy Horse hay Holiday on Icẹ..Lặng lẽ liêu trai hơn là đom đóm trên cành bần về đêm ven sông dẫn ghe thuyền về bến, hay những ngọn đuốc dọc đìếm canh tượng trưng quyền uy của thời vàng son cũ. Huyền diệu thay vỏng trời lồng lng mà khó có gì lọt khõi lưới thiêng, ‘thiên vỏng khôi khôi , sơ nhi bất lậu’.

Qua quá trình lịch sử, phải công nhận ít có dân tc nào dựng giữ nuớc đầy kỳ công như Việt Nam. Có phải chăng huyền sử đẹp Con Rồng Cháu Tiên là ngọn đuốc soi đường rọi sáng niềm tự hào dân tc ? Công cuc cách mạng chống xâm lăng là ngọn lửa hồng cao đ nung nấu lòng ái quốc của toàn dân. Ngay cả ni chiến tương tàn cũng đã mt lần nới rng quê hương thêm miền Nam mầu mở. Vó ngựa bách chiến bách thắng Thành Cát Tư Hản không dẩm nát nỗi cỏ nước Nam thành bình địạ Ngoại bang có đày đọa dân ta lên rừng kiếm ngà voi, xuống biển tìm ngọc trai, khai phá đồn điền cao su, cà phê trong vùng rừng thiêng nước đc, đó chỉ trui luyện thêm lòng người như thép được tôi ròng. Thâm đc chia rẻ ba miền Nam Trung Bắc vẫn không làm mất gốc dân ta hoặc xóa luôn tiếng Việt. Mng bá quyền xưa nay không dễ thực hiện nổi ở nước kiên cường nầỵ Bạn thù khổng lồ cũng khổ lòng vì không thể lấy thịt đè người, ‘’đặt đâu ngồi đãy’’mt cách trắng trợn công khaị Gót chân xâm lược qua tiếng thét ‘’Sấm đng Nam bang’’của nhà Mản Thanh cũng được trả đủa bằng đòn tấn công bất ngờ ‘’Vũ hóa Bắc hải’’ của vua Quang Trung Nguyễn Huệ. ‘’Vỏ quít dầy móng tay nhọn’’, ‘’châu chấu đá voi’’ là chuyện có thật xảy ra !

Nhìn những trái táo bôm đủ màu mượt mà bóng bẩy sao mà thèm bao loại ổi dòn rụm ngòn ngọt chua chuạ Cầm trái chuối già cong như lưởi liềm mà ngẩn ngơ nhớ đến bao nhiêu loại khác quê mình mật tươm vàng lịm. Vùng nhiệt đới trái đâu đâu cũng có, rau chẳng thiếu thứ chị Hải sản tràn đầy, rừng chằng chịt gổ, cây, giây quí hiếm. Nhìn xuống chân, hoa dại cũng khoe sắc thắm không thua hoa kiểng được chăm chút tinh vị Chim trời cá nước dư thừa, hạnh phúc trong tầm tay, thế mà dân ta chưa trọn hưởng ! Dãi sơn hà gấm vóc từng là mồi ngon cho bao kẻ ngó người dòm muốn nuốt chửng bẹp đè khai thác. Luận điệu cáo già bao giờ cũng cao cả, nào là dạy lễ nghĩa cho dân tc ta mà quên rằng ngay cả nữ nhi ‘’khuê môn bất xuất’’, vì nợ nước thù nhà đã dám cưởi voi xua họ cuốn cờ chạy không còn manh giáp ; nào là đem ánh sáng văn minh, cách mạng tự do rọi vào ‘dân ngu khu đen’ của thực dân củ, mớị Ý thức hệ choảng nhau cũng được vung vít trùm chăn cho xứ ‘’kém mở mang’’ ! Thói thường quyền lợi của đàn anh to mạnh đại cường là hệ trọng, sá chi nhu cầu đích thật của xứ nhược tiểu èo ut cần phát triển viện chị’’Tay làm hàm nhai’’, không có thành công nào mà không trầy vi tróc vảy, hy sinh. Kẻ yếu thế luôn thấp cổ bé miệng chả bù cái lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng như La fontaine đã viết : ‘’La raison du plus fort est toujours la meilleurẹ’’

Bìết thế, là dân Việt, tất nhiên phải tự hào được sinh ra trên mảnh đất hình chữ S đẹp xinh từ ảỉ Nam quan đến mũi Cà maụ Công dựng, giữ nước của tiền nhân phải cố gắng duy trì, phát huy hầu lưu lại cho thế hệ tương lai cái gia tài trọn vẹn. Tấc đất hơn cả tấc vàng, đất quê hương vô giá vì được tạo dựng bằng xương máu đoàn kết thủy chung của mt dân tc hiếu hòa do sống còn luôn đương đầu với hiểm họa thiên nhiên và nhân tai ‘cá lớn nuốt cá bé’. Bài học kinh nghiệm mười thế kỷ thuc Tàu, gần trăm năm thuc Pháp, bao lần bị lệ thuc ngoại bang vì ‘cỏng rắn cắn gà nhà’ đã nói lên tinh thần tương thân tương trợ, ‘lá lành đùm lá rách’, bất khuất truyền thống của tiền nhân. Ngay cả dân tha hương còn vẫn luôn hướng về tổ quốc mong có ngày đoàn tụ góp phần.
Vậy, ai để thất thoát mất mát mt mảnh phần đất nào, dù lý do gì đi chăng nữa, vẫn mang ti nặng không thể biện minh tha thứ được. Lịch sử biến chuyển nay trồi mai sụt, đoàn kết chia ly như bể hoạn của cuc đờị Cần biết người biết ta như ông cha ta thuở trước, đừng đứng núi nầy trông núi nọ mà chuốc lấy nhơ danh. Phải tập trèo cao té nặng mới biết ‘’đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông’’ và nhận chân rằng không có gì bất biến, vĩnh hằng như ngọn Everest không còn giữ ngôi vị bá chủ đc tôn.

Không có cuc Nam tiến chẳng hạn thì hình thể nước mình là củ khoai môn chứ đâu mang dáng dấp mt thiếu nữ ngực nở eo thon xinh đẹp. Sống là tranh đấu, và thắng không hiểm nguy, tất chiến thắng không hiển vinh (? vaincre sans péril, on triomphe sans gloirẹ). Xây nhà đã là không dễ, bảo quản càng khó khăn hơn huống chi lập quốc. Tình trạng của Israel, Palestine hiện nay há chẳng làm thế giới bàng hoàng, vở mng. Hơn thế nữa, dựng nước là công của tiền nhân tiên khởi, giữ nước thuc bổn phận thế hệ kế tiếp. Chỉ biết khư khư giữ như của riêng, thừa hưởng vô trách nhiệm, không để hết tâm trí vào việc làm dân giàu nước mạnh, đó đã là ti đối với tổ quốc rồi huống hồ bán nước, để mất đất ngấm ngầm hay bắt buc, hành vi phản quốc nầy không thể nào dung thứ được. Mẹ Việt Nam trên bốn nghìn năm tuổi, từng tự hào có đàn con hiếu thảo can đảm sống còn bảo vệ phụng dưởng chăm lo.

‘’Mẹ già như chuối Ba hương,
Như xôi nếp mt, như đường mía lau’’.

Mẹ cũng tựa như hóa đá ‘Hòn vọng phu’, dựa Trường sơn nhìn ra biển cả cầu cho trời yên sóng lặng để đàn con vượt trùng dương có ngày vinh hiển trở về. Mẹ cũng đã khổ đau vì đàn con tương tàn tương sát,
‘’Ðáng lý ngọt bùi chung vị hưởng,
Cớ sao xương thịt nở quên tình !’’

Bọc trăm trứng đâu thế nào hoàn hảo, tất nhiên có trứng ung, trứng thối, bể, ngon. Những đứa con khôn ngoan biết nghỉa có tình, chung sức lại chở che mẹ đừng để mang thương tích. Gia tài của mẹ không ai được quyền cắt xén, chiếm dành, trả nợ. Nhà vừa cháy phải hô hoán lên cứu hỏa như cờ đến tay phải phất vì cơ may ít đến hai lần. Không nơi nào đẹp hơn quê hương xứ sở, và đã là con người ai chẳng thắm thía ngâm nga :

‘’Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn’’.

Harelbeke 28-02-02

Trần Thành Mỹ



Mục Lục


4. Cây đa bến cũ (tiếp)

Thanh Sơn



Cây đa bến cũ con đò khác đưa.
Ca dao Việt Nam

Kể từ hôm trẻ trong xóm được kết vào đội ngũ, các gia đình đâm thưa hẳn sự hiện diện của các em tại nhà. Trường học, đoàn thể lôi tuột các em ra khỏi bàn tay của mẹ chạ Sinh hoạt thiếu nhi làm cho các em quên đi mái gia đình mà chỉ còn biết dốc lòng cho tổ chức. Các em cắm trại, các em hò hát, nay liên hoan, mai mít tinh, tuổi thơ đánh mất đi vẻ hồn nhiên, hiếu thảo.

Gia đình nào tỏ vẻ lo ngại, muốn cầm giữ các em ở nhà, các em đã chẳng nghe lại còn đi báo cáo với đoàn thể. Rồi các anh, các chị hướng dẫn các em đường bước đấu tranh với gia đình. Gặp gỡ bạn bè sao vui quá, tương lai vẽ ra vô cùng cao đẹp. Người ta nói với các em về lòng yêu nước, về sự hi sinh dù phải chết để lý tưởng hoàn thành.

Trong đầu óc các em lúc nào cũng hiện lên những tấm gương sẵn sàng giết giặc. Các em đã bắt đầu học việc đem truyền đơn đi rải gần đồn, kêu gọi thân binh về hàng hay lập công chuộc tộị Các em trở thành những giao liên đi nhận nghe tin tức khắp nơi, từ ta đến địch và báo cáo với các anh, các chị trong mỗi lần sinh hoạt.

Ngày một ngày hai, bầu máu trong tim các em được hâm nóng bởi những gương anh hùng tí hon quyết làm rạng danh nòi giống. Ở chỗ này kể về một em lén chui vào đồn giặc lấy súng đạn đem về nộp phía tạ Ở chỗ kia kháo về một em nghe ngóng thu thập về số quân trong đồn rồi về tỉ mỉ kể cho các anh chị biết, đêm đó quân ta đã nhổ băng cái bốt giặc đóng gọn gàng và hẳn nhiên em cung cấp tin đã trở thành anh hùng giết giặc.

Sinh hoạt thiếu nhi vui quá, có bè có bạn, có ca hát duyệt binh, có múa và vỗ tay khen tặng. Các em đều muốn ở cạnh nhau suốt đêm với anh chị hơn ở gia đình. Một vài ông cha, bà mẹ tìm cách cản ngăn thì đều có anh chị đến tận gia đình giải thích. Ðã xa rồi thời những đứa bé phụ thuộc gia đình. Ðã xa rồi quyền năng của những đấng mẹ cha ảnh hưởng lên con cái.

Những buổi tối, Mơ chăm lo cho mẹ giữa tiếng bập bùng của những hồi trống ếch. Mơ thoáng lo lo về hiện tượng thay đổi nàỵ Nhiều gia đình xì xào con cái đã bỏ rơi cả việc thờ phụng Chúạ Tiếng chuông nhà thờ bên kia sông thưa hẳn những hồi rung, và nếu có được gió thoảng đưa sang cũng không còn nghe thanh thả, hân hoan như dạo trước. Những ngày lễ cuối tuần luôn được sắp xếp cho một sinh hoạt đoàn thể nào khác, khi là hội hè phụ nữ, lúc thì bàn bạc xóm thôn. Chẳng ai dám hé môi phàn nàn một tiếng.

Lâu dần Mơ cũng thấy thấm thía buồn. Mặc dù Mơ không là dân xứ đạo, nhưng cái vẻ trầm trầm im lặng, vắng tiếng đọc kinh buổi tối như xưa, khiến Mơ thấy như một cái gì vừa xa, vừa mất.

Ðôi lần Mơ gặp các em đi sinh hoạt hội họp về, chưa kịp hỏi han thì các em đã chất vấn Mơ sao ít thấy tham gia vào các buổi họp đoàn. Mơ nại cớ mẹ bệnh, chẳng có ai trông nom nên phải ở nhà giúp mẹ. Các em chừng có vẻ không thuận tình.

Chính Mơ cũng tự dặn dò mình phải thận trọng. Mỗi lời nói, mỗi cử động đều được cân nhắc kỹ càng, tránh tạo nên sự chú ý của người nghe, dù lớn, đồng trang hay nhỏ. Mơ trở nên ít nói, dè dặt, nghe nhìn nhiều hơn nóị Càng lúc Mơ càng có cảm tưởng cô xa lìa cuộc sống thanh thản dạo xưạ Những lúc đó, hình ảnh những buổi sáng tinh mơ thức dậy, lìa nhà theo đò sang sông giữa những tiếng kinh cầu khoan nhặt, Mơ thấy sao khung cảnh lung linh đó dung dị mà trìu mến vô biên. Bây giờ, con sông vẫn còn đó, bóng ngôi giáo đường bên kia sông vẫn lung lay theo gợn sóng mỗi khi có cơn gió lăn tăn, nhưng sông đã trở thành im vắng, im vắng như những tâm tình dồn nén trong lòng.

Xóm thôn đã đổi thay, nhưng lòng người dường như thành phân tán. Ðến bao giờ xóm Mơ mới trở lại như xưa ?

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Hội Ngộ Nam Phong tại Nam Cali

Việt Hải

Trong tuần lễ Chiến sĩ Trận vong tại Hoa Kỳ khí hậu tại nam Cali thật lý tưởng như chuyển đổi từ xuân sang hạ, thời tiết có nắng hanh vàng, tháng năm có ngày lễ Mẹ, ngày Phật đản và Memorial daỵ Những sinh hoạt trong cộng đồng của người Việt như hội ngộ, họp mặt chung vui được diễn ra sinh động tại nhiều nơị Chúng tôi bộ ba thành viên của tuần báo Cali Weekly có Vương Trùng Dương, Nguyễn Ngọc Chấn CNN và Việt Hải đã góp mặt tại Hội trường Châu Ðạo Cao Ðài Nam Cali, trong thành phố Westminster.

Nam Phong là một nhóm văn học gồm các văn thi hữu tại hải ngoại, họ định cư rải rác trên các quốc gia như Canada, Hoa Kỳ, Úc châu, Na Uy và Ðức quốc. Trong ngày Hội Ngộ hôm nay cũng là buổi giới thiệu các tuyển tập Hoa Vàng và Nam Phong và dịp ra mắt sách của hai thi văn sĩ Nguyễn Hữu Nhật và Nguyễn Thị Vinh.

Bắt đầu buổi lễ thi văn sĩ Cù Hoa Phong đến từ Houston đã điều khiển lễ chào quốc kỳ Mỹ Việt do sự kết hợp của các ca nghệ sĩ trong ban Tù Ca Nguyễn Xuân Ðiềm cùng hai chị Ngọc An và Hồng Vũ Lan Nhi ca hai bài quốc ca Mỹ Việt được cất lên vang dội hội trường. Tiếp theo là phút mặc niệm tưởng nhớ các chiến sĩ bỏ mình vì tổ quốc Việt Nam, cho người Việt vong thân vì lý tưởng tự do dân chủ, cũng như những chiến sĩ văn hóa đã ra đi mà lý tưởng của họ là một lòng đóng góp miệt mài trong tiến trình gây dựng, duy trì và bảo vệ tiếng Việt của chúng tạ

Sân khấu đã sôi động dưới sự điều khiển nhịp nhàng của các nữ thi nhân từ nam, bắc Cali với Nhất Phương, Ngọc An và Kim Oanh. Nhất Phương như nghề của nàng đọc thuộc làu hai bài thơ dài thòng của hai thi sĩ đến từ phương trời Na Uy, nửa vòng trái đất từ Bắc Âu xa xăm. Như vai trò trưởng nhóm văn đàn Nam Phong, thi sĩ Ngọc An thay mặt ban tổ chức ngày hội ngộ chào đón sự hiện diện của cử tọa, dù ngắn gọn nhưng đầy sự thân tình.

MC Kim Oanh giới thiệu đại diện chủ nhà là ông Nguyễn Lý Sáng, hội trưởng Tây Ninh Ðồng Hương Hội cũng như kiêm chủ nhiệm đặc san Tây Ninh Quê Tôị Trong phần phát biểu, ông chia vui và chúc mừng nhóm Văn Học Nam Phong ra đời tại hải ngoại như một sự đóng góp vào việc giữ dòng văn học nối tiếp. Trong niềm hy vọng như vậy ông mong mỏi những người trẻ thuộc thế hệ sau sẽ nối gót ngọn đuốc văn học tại hải ngoạị

Chương trình Nam Phong được tiếp tục với văn thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật lên sân khấu phát biểu cảm tưởng. Anh nói về tập hợp Nam Phong như phong hóa của Việt Nam, cần duy trì và phát huy chữ Việt và nền văn học Việt Nam có giá trị lâu bền, vốn nhân bản đã trường tồn qua bao thời gian, nhất là sự thử thách sau 1975. Bằng ngôn ngữ dí dỏm bằng những ví von, vui tươi bằng mũi kim châm chích một thể chế đi ngược lại ý nguyện của quần chúng..

Tôi có dịp đọc tác phẩm “Tiếng Việt Hay Quá!” của NHN, nó là một lượm lặt những ý tưởng tại sao anh gắn bó với Việt ngữ. Từ nét uyên thâm, súc tích trong phạm vi văn học nghệ thuật, tiếng Việt ra đời vì đáp ứng nhu cầu của người dân Việt. Ði từ những bài Tiếng Mẹ Ðẻ, Biết Ơn là Văn Hóa, Thơ Diễm Lệ,... đến Dòng Thơ Hồ Xuân Hương, Cùng Nhau Vui Hát,... là những dòng văn về những tình tự dân tộc của tiếng Việt mến yêu, cho văn học Việt Nam thăng hoa mãi mãi trong lòng mỗi chúng tạ

Trở lại sân khấu, để thay đổi không khí MC Kim Oanh giới thiệu màn hợp ca giúp vui của ban Tù Ca Nguyễn Xuân Ðiềm trình bày một khúc ca vinh danh quê hương Việt Nam. Ban Tù Ca NXÐ đến với Nam Phong qua sự giới thiệu của tác giả Cù Hoa Phong Houston. Những giọng ca đượm tình tự quê hương của ca sĩ Thanh Liễu, Kim Ngọc và đôi song ca Xuân Thanh + Lan Hương cho những tiết mục xen kẽ thật hài hòa trong chương trình.

Trong phần trình bày kế tiếp của nhà văn nữ Bích Huyền về điểm sách, chị bàn nét tổng quát về nội dung và hình thức. Chị chia vui vì sự ngồi lại giữa các nhà văn kỳ cựu như Nguyễn Thị Vinh, Hà Bỉnh Trung, Trùng Quang, Hà Thượng Nhân, Doãn Quốc Sỹ, Cao Tiêu, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh,... và nhiều hội viên của thế hệ trung một rưởi, nhưng lại thiếu thế hệ số haị Tôi đồng ý với diễn giả là tại các đại học lớn của Mỹ ngày hôm nay ví dụ các em tại Harvard, Princeton, Cornell, Yale, Stanford, Georgetown, hay USC, UC Berkeley, UC Irine, UC Los Angeles các nhân tài Việt Nam viết văn Anh ngữ xuất sắc không thiếu, có em thành công trong lãnh vực viết văn, viết báo Mỹ hay làm phóng viên cho các đài truyền thông của Mỹ. Các thế hệ đi trước hãy nhìn lại tiềm lực này, hãy dang tay đón nhận trong một mô thức kết hợp thực tiễn nào dó cho các em thoãi mái khi quay về với cộng đồng. Ngôn ngữ là hàng rào cách ly thì ngôn ngữ cũng là tiếng nói thông cảm. Tiếng Việt mà tôi tiếp xúc với hai nhà văn Doãn Quốc Sỹ đỡ đầu cho nhóm Thân Hữu Thi Văn Ðồng Tâm và Nguyễn Hữu Nhật, một trong các thành viên chính của nhóm Văn Học Nam Phong chia sẻ tâm tư là tiếng Việt không khó học vì bản chất giản dị, đại đồng phổ thông của xã hội làng mạc Viêt Nam và tiếng Việt không phân biệt biên giới tuổi tác và màu dạ Tôi đã từng chứng kiến những người Mỹ da trắng nói sành sỏi chuyện văn chương Viêt Nam đến độ ngạc nhiên, từ việc bàn về thơ Kim Vân Kiều, rồi ngâm nga cả bài "Qua Ðeo Ngang" bằng giọng bắc, hay hát ru em bằng những câu đồng dao nam kỳ lục tỉnh, tôi vô cùng kính phục vì họ hiểu văn hóa Việt Nam, họ đào sâu kiến thức về văn học Việt Nam vì năng khiếu và thích thú. Ðiều này cho kỳ vọng rằng có nhiều con em chúng ta sẽ tri ân vốn liếng văn học Việt Nam đã có từ ngàn năm quạ

Kế đến là phần ngâm thơ của nghệ sĩ Phi Loan với tiếng sáo quê hương Ngọc Nôi, MC Kim Oanh giới thiệu diễn giả trong nhánh gia chủ là ông tổng thơ ký đặc san "Tây Ninh Quê Tôi" Nguyễn Văn Quí, ông là người thích viết lách, có bút hiệu là Quí Văn. Vâng, ông rất quí văn và trân trọng với văn chương, ông trình bày cảm nghĩ khi đọc quyển tuyển tập Nam Phong.

Ông Quí Văn bằng giọng nói khiêm cung, ông không cho ông là người trong giới văn chương, nhưng vì thích đọc sách, ông lướt qua mục lục sách tìm thấy nhiều nhà văn lớn như nhà văn còn sót lại của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn Nguyễn Thị Vinh, hay nhà văn sáng lập ra văn đàn Sáng Tạo Doãn Quốc Sỹ, hoặc nhạc nhà văn gốc quân đội Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh,..
Ông nói:
“Tuyển tập Nam Phong gồm có những chuyện tình đầy nước mắt, có những chuyện tình cho thấy đời là những đóa hồng, có chuyện ma đọc thấy rờn rợn như là thần thoại… Có sử liệu về đất “ Nghìn năm văn vật” cũng như biến cố đau thương 1945. Ðiều cần nêu lên là những nhân vật trong các cốt truyện gồm đủ thành phần trong xã hội bao gồm trước và sau 1975 trong nước và hải ngoạị Ðộc giả trẻ tuổi sẽ bị lôi cuốn bởi cái lãng mạn của tình yêu, tuổi lớn hơn sẽ tìm lại được cảnh ngộ của chính mình đã trải qua, đã chứng kiến hoặc đã từng nghe kể mà đến bây giờ ấn tượng vẫn còn như là có gì đẹp bằng nhường miếng cơm trong cơn đói để “ Giữ cho nhau vàng ngọc của tâm hồn”
Ông trích thơ từ sách khi dẫn dụ:

“Tuyển tập đã phản ảnh nhiều cuộc đời xuôi theo vận nước nổi trôi, như bốn câu thơ sau đây đã nói lên được :
“ Chúng ta, tất cả người vong quốc
Thảm họa, cơ trời lạc bốn phương
Từng mảnh hồn đau lià tổ ấm
Gian nan, phiêu bạt …lẽ vô thường !”
Bởi biết lẽ vô thường nên có hai câu thơ nghe như một công án thiền :
“ Dòng đời trong lẫn đục
Thuyền dong vỗ nhịp ca”
Nhưng làm sao có thể rời thế tục, vậy hãy mượn rượu và thơ để cân phân Thiện, Ác :
“ Ví thơ cũng sắc như đao kiếm
Thì hãy vung lên diệt bạo tàn
Ví men mà biến thành cam lộ
Ta rưới tình thương khắp thế gian”
Tiếng nói sau cùng vẫn là của tình yêu, của nụ hôn ban đầu không sao quên được. Qua đoạn thơ cho ta thấy Anh ngữ đã bị tiếng Việt ta đồng hoá mất rồi :
“ Nhìn người tóc muối tiêu màu
Còn tôi tóc đổi màu brown auburn
Mắt thì vẫn sáng thằng Bờm
Làm sao quên được nụ hôn ban đầu !”.

Sau ông Quí Văn cho dòng cảm nghĩ là tới màn giúp vui văn nghệ và ban tổ chức mời thực khách dùng buổi ăn trưa thanh đạm trong lúc cùng thưởng lãm chương trình văn nghệ. MC Ngọc An giới thiệu thi ca sĩ Tường Vy lên sân khấu giúp vuị Nói về người thi sĩ chẳng may của cuộc đời này là cả một nổ lực phấn đấu không ngừng với cuộc sống và cô dùng văn thơ để làm nguồn vui thanh thản tâm hồn. Tường Vy là người thi sĩ của vùng phố núi mù sương Ðà Lạt, cuộc đời cô là một sự màu nhiệm trong ba năm liên tiếp 1985 - 86 - 87, cô bị tai nạn xe lật xuống đèo, cô bị chứng động sọ não nên bị mất trí nhớ và mất 1 con gái đi chung xẹ Một hôm cô trượt té bị đâp đầu vào tường, lạ lùng thay phép nhiệm màu đó mang cho cô trí nhớ trở lạị Khi sang Mỹ, cô đi làm lái xe trên freeway, xe gặp tai nạn bị đè bẹp dúm lại, nhân viên cấp cứu phải cưa xe mang cô ra, cô bị liệt nằm một chổ. Với bản năng sinh tồn cô ráng luyện tập đi đứng trở lại để hôm nay cô đứng trên sân khấu này, đem tiếng hát quê hương ca tặng cho tất cả chúng ta bài tân cổ giao duyên, bài "Lòng Mẹ". Khán giả cho tràng pháo tay lớn đón chào khích lệ thi ca sĩ Tường Vỵ

Kết tiếp là phần trình bày của ca sĩ Bảo Nam, chị thuộc gia dình Gia Long Nam Calị Các hội viên Hội Gia Long đã đến chung vui khá nhiều, người cất tiếng MC giới thiệu trong chương trình, người ca hát, ngâm thợ Chúng tôi nhận thấy các ca sĩ cùng các nghệ sĩ trong ban Tù Ca thay phiên giúp không khí văn nghệ sống động thêm. Ngày hôm nay tôi được biết thêm đôi song ca Xuân Thanh + Lan Hương, cùng Kim Ngọc. Quý anh chị ca sĩ trong ban Tù Ca hát hay mà qua sự tích cực và nhịp nhàng của chị Thanh Liễu, phu nhân của anh Nguyễn Xuân Ðiềm, đã đem tiếng hát vang xa nhiều nơị Rồi người ca sĩ "cây nhà lá vườn" trong nhóm Nam Phong là Duy Văn Hà Ðình Huy cất tiếng hát rất "bắt giọng" nghe như chuyên nghiệp. Anh cũng là đồng nghiệp trong giới báo chí. Anh là chủ báo Ðời Mới tại bắc Calị Ngoài ra chúng tôi thấy có nhà văn Ðỗ Tiến Ðức, chủ nhân nhật báo Thời Luận tại Los Angeles. Nhà báo Lương Thành Nỉ viết cho Saigon Post. Nhà văn Nguyễn Ngọc Minh đại diên cho báo Mõ Nam Cali, rồi hai đại diện của website SaiGonGate là Nguyễn Kim Ðào và Nguyễn Hoàng Thục Ðoan, và đại diện cho đặc san Việt Học là chị Nguyễn Kim Ngân cũng góp mặt chia vuị Những phút cuối chương trình ca sĩ Bảo Nam trở lại sân khấu và Ban Tù Ca đã hát vang những bản tình ca của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và ngâm bài thơ của Ngọc An viết để tiếc thương nhân tài Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Khi nghe nhạc của anh giờ đây chúng ta ít nhiều có những ý niệm đẹp về người ca nhạc sĩ tài hoa đã ra đi vĩnh viễn.

Nhìn chung trong khung cảnh của số cử tọa đông trong hội trường, tôi nhận thấy nhiều vị thân hào nhân sĩ địa phương nam Cali là như quý giáo sư Lê Văn Ba và phu nhân, GS Lê Tinh Thông của đài Little Saigon, nhà văn Duy Lam, nhà văn Trần Thy Vân của Văn Bút Nam Cali, nhà văn Việt Dương Nhân từ Paris sang, GS Nguyễn Thành Long của Hội Hòa Hảo Nam Cali, GS Nguyễn Văn Giàu của Hội Long Xuyên, tiến sĩ Mai Thanh Truyết của Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Mỹ tại Hoa Kỳ, GS văn chương Nguyễn Văn Sâm của Viện Viện Học và cũng là phó viện trưởng Viện Ðại Học Cao Ðài trước 75, soạn giả cổ nhạc Hà Nguyên Du, hiền tài Hồ Văn Hòa, hiền tài Phạm Văn Khảm thuộc Châu đạo Cao Ðài Nam Cali, thành viên Tây Ninh Ðồng Hương Hội là Hà Vũ Băng và Huỳnh Văn Mâng, chị Cát Ngọc và Lương Mỹ Hạnh của Hội Thân Hữu Marie Curie, nhà văn Hà Phương Hoài từ Chicago, thi sĩ Vũ Tiến Thăng đến từ Houston, thi sĩ Thanh Quang, thi sĩ Kim Nguyên và Ðồng Văn, BS Peter Morita, nhà văn Phan Diên từ Bakersfield, nhà văn Ðặng Phú Phong, nhà văn Lâm Xương Yên,... Còn khá nhiều người chúng tôi không nhớ hết. Phần lớn họ sinh hoạt trong lãnh vực thi ca, giáo dục, văn học và nghệ thuật.

Phần nhạc đệm ngoài hai nhạc sĩ Nguyễn Xuân Ðiềm và Ngô Tín của ban Tù Ca giúp sân khấu vui cùng tiếng nhạc, chúng tôi không quên ghi nhận thêm hai anh văn nghệ sĩ trong nhóm Thanh niên Ðại Ðạo Cao Ðài Nam Cali lo âm thanh và nhạc cụ Ngô Thiện Ðức và Phạm Ngọc Tú phụ trách phần nhạc đệm one-man-band organ. Người nghệ sĩ tài hoa xin ghi nhận nữa là tiếng sáo Ngọc Nôi, anh phụ trách kèm tiếng sáo cho các mục ngâm thơ suốt chương trình.

Về sự hiện diện của các tác giả trong buổi lễ ra mắt sách có những vị là: Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Lý Tưởng, Cù Hòa Phong, Dương Viết Ðiền, Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Hữu Nhật, Hà Ðình Huy, Việt Hải, Hồng Vũ Lan Nhi và Ngọc An.

Một lần nữa ban tổ chức xin chân thành cám ơn sự hiện diện của tất cả quý vị và đã chia sẻ những lời khích lệ cho Nam Phong vững tiến trong những số kế tiếp. Buổi sinh hoạt văn học chấm dứt lúc 6 giờ chiều cùng ngàỵ chúng tôi ghi nhận những người cầm bút chia tay trong tình bằng hữu thân thương lưu luyến.

Việt Hải
10/01


Mục Lục


6. Ngày trở về của Phạm Duy trong bối cảnh âm nhạc Việt Nam

Phạm Quang Tuấn



Việc nhạc sĩ Phạm Duy hồi hương gây nhiều tranh luận sôi nổi trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại cũng như ở trong nước. Hầu hết những bài báo hải ngoại và một số bài báo trong nước nhìn việc này qua lăng kính chính trị. Một số bài cũng nhìn vào khía cạnh tình cảm cá nhân của một ông già trở về quê hương sinh sống. Tuy nhiên, bài này sẽ hoàn toàn không đề cập đến những khía cạnh đó, mà sẽ tập trung vào mặt âm nhạc, văn hóa của chuyến hồi hương nàỵ

Tự nó, việc Phạm Duy trở về không có ý nghĩa nhiều về mặt âm nhạc. Nhưng nếu sự hồi hương của Phạm Duy dẫn tới việc nhạc của ông (sớm) được lưu hành và phê bình, bàn luận ở trong nước, thì có thể sẽ có những hậu quả quan trọng cho nền tân nhạc Việt Nam. Ðó mới là điều giới nhạc Việt Nam quan tâm.

Trước hết, tôi xin bàn về vị trí của nhạc Phạm Duy trong âm nhạc Việt Nam. Nền tân nhạc Việt Nam thường được coi là “chính thức” khai sinh khi nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên đi khắp nước diễn thuyết và trình bày những ca khúc của ông vào năm 1938, tuy rằng nhiều nhạc sĩ đã bắt đầu viết ca khúc theo thang âm Âu châu vài năm trước đó, nhưng chưa có cơ hội phổ biến. Vậy cứ cho rằng tân nhạc có một lịch sử khoảng 70 năm. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, ba nhạc sĩ thường được coi là nổi bật nhất là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn.

Theo thiển ý, chỗ đứng của Văn Cao không vững vàng bên cạnh hai người kiạ Tuy ông là người đa tài, tiềm năng của ông đã không được thể hiện xứng đáng vì những hoàn cảnh lịch sử, chính trị. Những tác phẩm của ông làm thời trẻ còn quá cổ điển, quá Âu tây (dù đã dùng ngũ cung Việt Nam trong bài Thiên thai), chưa phát huy đến nơi đến chốn tính thẩm mỹ Việt Nam, chưa độc sáng và thoát ra khỏi cái khuôn mẫu “dĩ Âu vi trung”. Lê Thương mới thực sự là nhạc sĩ đáng kể với những đóng góp vô cùng quan trọng và giàu tính dân tộc qua ba bản Hòn vọng phụ

Nhưng Lê Thương hơi kém về lượng. Trịnh Công Sơn mới chính là đối thủ của Phạm Duy về số lượng và tính cách độc sáng. Nếu Phạm Duy là người đã đem dân ca VN vào nhạc, thì Trịnh Công Sơn là người đã đem hồn thơ, và quan trọng hơn, đem những suy tư của người Việt trẻ đô thị, vào nhạc. Mỗi nhạc sĩ đã sản xuất trên dưới một ngàn tác phẩm.

Trong nghệ thuật, cũng như trong khoa học, số lượng không phải là điều quan trọng, mà quan trọng là sự đặc sắc và khai phá. Có những người có thể viết cả ngàn bài thơ, bản nhạc, mà thế giới không biết họ là ai và cũng không cần biết, vì những thơ nhạc đó chỉ là rập theo khuôn mẫu của kẻ khác. Có những người (như Lê Thương trong tân nhạc hay Mendel trong khoa học) chỉ có vài ba bản nhạc hay một khám phá mà đủ để có chỗ đứng trong lịch sử. Nhưng những nghệ sĩ lớn thường có số lượng đồ sộ, vì nghệ thuật là cả cuộc đời của họ, và họ không thể ngừng sáng tác. Và do đó Trịnh Công Sơn và Phạm Duy là hai cột trụ của tân nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20.

Tính cách của hai nhạc sĩ này hoàn toàn khác nhaụ Trong khi Trịnh Công Sơn tập trung vào một phong cách riêng, với những giai điệu dựa trên âm giai E minor đặc thù của chiếc tây ban cầm, kể lể suy tư suốt mấy trăm tác phẩm, thì Phạm Duy, trái lại, như một con bướm bay từ vườn này sang vườn khác. Trịnh Công Sơn tinh khiết, Phạm Duy xác thịt. Trịnh Công Sơn là mặt trăng, Phạm Duy là mặt trờị Trịnh Công Sơn trừu tượng, Phạm Duy cụ thể. Trịnh Công Sơn đơn điệu đơn sắc, Phạm Duy đa điệu đa sắc đến cùng cực. Trịnh Công Sơn có chỗ đứng vững chắc, Phạm Duy luôn luôn đi trong cuộc hành trình. Không có đề tài nào mà Phạm Duy không thí nghiệm, từ cái dơ dáy của Tục ca tới cái hồn nhiên của Bé ca và cái cao siêu của Ðạo ca, thuần khiết của Thiền cạ Phạm Duy như một đứa trẻ năm tuổi, chạy chơi tung tăng trong vườn hoa của cuộc đời và của nghệ thuật, khi thì bắt bướm, khi thì vọc bùn, hoàn toàn không cần biết cha mẹ răn đe la mắng, cứ thích gì là làm nấỵ Và may mắn cho chúng ta, một trong những cái Phạm Duy thích làm là... viết ca khúc!

Nhưng điều đáng buồn là, trong khi Trịnh Công Sơn được chính thức vinh danh, nhạc của ông được phê bình, bàn luận, in và phổ biến, thì nhạc Phạm Duy bị cấm đoán, không ai được nói tới trong nước. Dĩ nhiên, một số ca khúc Phạm Duy vẫn được hát trong các phòng trà, phòng khách. Nhưng khi sự lưu hành hoàn toàn dựa vào thị hiếu của công chúng như vậy, mà không có sự phê bình bàn luận chuyên nghiệp hỗ trợ, thì không thể bảo đảm rằng những tác phẩm giàu nghệ thuật nhất, trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ và đa dạng của ông, có cơ hội được sống.

Trong mọi bộ môn nghệ thuật, thị hiếu của công chúng không bao giờ là thước đo của giá trị nghệ thuật. Những tác phẩm thực sự độc đáo và tầm cỡ thường khó làm quen, và cần sự bàn luận, phê bình của những người có trình độ để khơi óc tò mò của công chúng và nhẹ nhàng dẫn dắt họ đi vào tác phẩm. Thử hỏi thời nay nếu chương trình trung học không dạy về truyện Kiều thì sau vài chục năm còn có ai cảm nhận nổỉ Dĩ nhiên, khi công chúng đã được giới thiệu và tác phẩm bắt đầu trở thành quen thuộc, thì nó sẽ đi vào lòng người một cách sâu đậm và lâu dài hơn những tác phẩm kém giá trị.

Cũng vậy, thành phần nhạc Phạm Duy hiện được lưu hành một cách tự phát và không chính thức chỉ là một phần nhỏ, vài chục bài tình ca, trong một sự nghiệp đồ sộ và đa dạng. Ðó là những tác phẩm bắt tai nhất của Phạm Duy, đánh vào những cảm xúc thông thường của lòng người bằng những kỹ thuật căn bản. Những bản nhạc ngắn với cấu trúc ABA, âm giai trưởng hoặc thứ của Âu châu, trở về chủ âm thường xuyên để ve vuốt lỗ tai, lời lẽ ướt át, tuy không đến nỗi “sến,” nhưng thường cũng chỉ ở mức độ cảm nhận trung bình của thanh niên thiếu nữ thành thị. Những tác phẩm đó, theo tôi, không cho một hình ảnh chính xác và đầy đủ về nghệ thuật của Phạm Duỵ

Nói chuyện về Phạm Duy với một người trẻ ở miền Bắc, hay sinh ra ở miền Nam sau 1975, ta thường nghe những ý kiến như sau: “Có gì đâu, chỉ vài bài tình ca lỗi thời”, “Tôi không thấy nhạc Phạm Duy hay ở chỗ nào,” “Không làm tâm hồn tôi rung cảm gì cả”, thậm chí “Nhạc Phạm Duy nghe thấy sến!”. Hẳn những thính giả miền Nam và hải ngoại ái mộ Phạm Duy nghe vậy sẽ rất kinh ngạc, nhưng những người am hiểu một chút về sự cảm nhận âm nhạc và nghệ thuật nói chung thì không ngạc nhiên với những phản ứng ấỵ Chúng xuất phát từ sự thiếu quen thuộc của những người mới chỉ nghe vài bản tình ca Phạm Duỵ

Sự cảm nhận âm nhạc, nói cho cùng, dựa vào sự quen tai: về phương diện âm thanh thì quen với cung cách giai điệu, thang âm, tiết tấu, tiến trình hòa âm; về ca từ thì quen với từ ngữ, hình ảnh. Trừ phi có học lý thuyết âm nhạc, cái mà hầu hết thính giả Việt Nam không có điều kiện, còn thì sự quen tai là tất cả. Nghe đi nghe lại một số bản nhạc cho đến khi những đường nét giai điệu hằn vào trong óc như vết rãnh của bánh xe bò trên đường đá, nhất là khi đầu óc còn non nớt mềm dẻo và đá còn là đất, đó là tất cả sự đào tạo âm nhạc của hầu hết thính giả Việt Nam.

Trong cái khung cảnh âm thanh rất hạn chế đó, yếu tố ca từ nổi lên chiếm phần quan trọng. Mà ca từ thì tùy thuộc rất nhiều vào thời đại, vào bối cảnh xã hội chính trị. Khi nhạc của một nhạc sĩ bị cấm đoán trong ba mươi năm, qua một cuộc đổi đời về xã hội chính trị, sự cảm thụ tác phẩm của nhạc sĩ ấy trong một thế hệ mới sẽ không dễ. Tân nhạc Việt Nam, do đó, là một tập hợp của những phong trào, biến cố phù dụ Bộ phận nào lỡ đánh rơi là mất, không tìm lại được nữạ Sự cấm đoán nhạc Phạm Duy trong 30 năm qua, một sự nghiệp làm gạch nối liên tục suốt từ những năm đầu của Tân nhạc cho đến bây giờ, do đó, là một vết thương trầm trọng của tân nhạc VN.

Một lý do nữa của sự phù du của tân nhạc Việt Nam là nó bị quá coi rẻ trong nền giáo dục âm nhạc. Trong khi nhạc cổ điển Tây Phương luôn luôn được coi là tuyệt đỉnh nghệ thuật, ở cả miền Nam và miền Bắc trước và sau thống nhất, và được giảng dạy trong các nhạc viện, và nhạc truyền thống dân tộc cũng được chú trọng (tuy nhiều khi “phát triển” sai cách và bị ép theo khuôn mẫu Tây phương), thì tân nhạc phổ thông hoàn toàn không được chú ý, kiểu như nhạc jazz bị giới nhạc hàn lâm Tây phương lơ là coi rẻ trong đầu thế kỷ 20. Vì sự lơ là đó mà hầu như không có một sự liên tục nào trong tân nhạc Việt, cứ mỗi thế hệ lại chạy theo những thời trang mới nhất nhập cảng từ ngoại quốc, như một đám bèo bọt trên sông đi từ vũng xoáy này sang vũng xoáy khác.

Muốn có một sự tiến bộ và mở mang liên tục, mỗi thế hệ nhạc sĩ cần học hỏi từ các thế hệ đàn anh. Phải có những bài bàn luận, phê bình, khảo cứu về cách viết nhạc, để xem những người đi trước đã có những sáng tạo gì về kỹ thuật cũng như nội dung, những gì đặc sắc, những gì Việt Nam. Học hỏi để bắt chước và phát huy những cái hay, hoặc để tránh bắt chước một cách vô tình nếu ta muốn đi tìm con đường mớị

Hiện nay, thay vì học viết ca khúc từ các đàn anh nhạc sĩ Việt Nam, các nhạc viên phải học từ các nhạc sĩ Âu châu thời cổ điển. Ðành rằng, ở một trình độ căn bản, ca khúc Việt Nam cũng giống ca khúc thất cung Âu châu, nhưng đó chỉ là trình độ nhập môn. Ca khúc xuất phát từ ngôn ngữ, mà tiếng Việt khác hẳn với các loại tiếng Âu châu về âm thanh. Những ngũ cung các miền Việt Nam, những luyến láy theo dấu của các địa phương VN, đem tới cho ca khúc Việt một sắc thái đặc biệt không nước nào có.

Phổ thơ sang nhạc là một hoạt động căn bản của nhạc sĩ khắp các nước, nhưng với các thể thơ Việt Nam dựa lên âm điệu lên xuống, luật bằng trắc và những thể thơ riêng, hoạt động ấy có những vấn đề rất đặc biệt. Trải qua mấy thế hệ, các nhạc sĩ tìm cách giải quyết và áp dụng nhiều cách khác nhaụ Mà về phương diện đó thì Phạm Duy là bực thầỵ Thử xem ông phổ câu ca dao
Trèo lên cây bưởi hái hoa

và hớn hở nhắc đi nhắc lại chữ “trèo lên” để vươn lên gần hai bát độ, ngân nga nũng nịu kéo dài dấu hỏi trong chữ “bưởi”, thì mới thấy tài năng tuyệt diệu của ông trong cách biểu diễn tình cảm qua âm điệu và làm chủ ngôn ngữ Việt Nam. Tác giả bài này đã bàn thêm về nghệ thuật phổ thơ của Phạm Duy trong một bài khác [1] <#_edn1>.

Như đã nói ở trên, những tình ca ngăn ngắn của Phạm Duy viết trong thời ở miền Nam, tuy rất thịnh hành và được lưu hành không chính thức vì dân chúng quá thích nên không ngăn được, không thể coi là những đóng góp quan trọng nhất của Phạm Duỵ Không có tình ca Phạm Duy thì cũng có tình ca của nhiều nhạc sĩ khác, còn mùi mẫn, ướt át cảm động hơn. Dĩ nhiên, nhiều người khác, kể cả nhạc sĩ Phạm Duy, có thể không đồng ý với ý kiến này!

Vậy những bản nhạc nào biểu hiện cho sự đóng góp lâu dài của Phạm Duy vào kho tàng âm nhạc Việt Nam? Tác phẩm của Phạm Duy quá đa dạng để mọi người có thể đồng ý về sự lựa chọn. Riêng tôi, tạm để ra ngoài những tác phẩm có tính cách thời sự khó lòng được lưu hành trong tương lai gần (tuy nhiều bài rất giá trị về mặt nghệ thuật), và cũng xin tạm không nói đến Minh họa Kiều còn cần thời gian để đánh giá, tôi xin đưa ra vài ví dụ tiêu biểu sau đây:

1. Dân ca (mới). Ðiều này ai cũng biết. Nét đặc biệt của Phạm Duy là đã đem dân ca vào dòng chính của tân nhạc, với những âm điệu hấp dẫn, mới mẻ mà vẫn đầy bản sắc Việt Nam. Tối thiểu, dân ca Phạm Duy là chiếc cầu để người trẻ thành thị đi về với dân ca truyền thống nguyên thủỵ Nhưng còn hơn nữa, dân ca Phạm Duy làm thăng hoa dân ca truyền thống, làm nảy nở những tinh hoa của nó. Nghe một bài dân ca Phạm Duy như Ðố ai, Quê nghèo, Người về, Ngày trở về, Bài ca sao, người thành thị không chút nào cảm thấy cố gắng phải “tìm về bản sắc dân tộc” để “ra vẻ Việt Nam”, mà cảm thấy cái bản sắc ấy tự nhiên nảy nở throng lòng họ và lôi cuốn họ, chẳng kém, hoặc còn hơn, là khi nghe một bản nhạc thời trang ngoại quốc. Ít có nhạc sĩ VN khác nào làm được điều đó.

2. Những tình ca quê hương: cũng tương tự như dân ca, nhưng phát triển thêm một nấc về tầm cỡ, nghệ thuật và cảm xúc. Cách phân loại của tôi hơi khác với của Phạm Duy, tôi xin đặt vào loại này những bản như Về miền Trung, Tình ca, Tình hoài hương, Chiều về trên sông... Ðây là những tác phẩm điêu luyện, có tầm cỡ, độc đáo, bố cục chặt chẽ mà lại không khả đoán, ra ngoài khuôn sáo của các bài hát bình thường, mang nhiều âm hưởng ngũ cung dân gian, và tràn đầy tình quê hương, thích hợp và cần thiết cho mọi thế hệ người Việt.

3. Hai bài trường ca Trường ca Con đường cái quan và Mẹ Việt Nam. Ðặc sắc nhất, theo thiển ý, là tác phẩm Mẹ Việt Nam.[2] <#_edn2> 21 ca khúc trong Trường ca này được dàn dựng chặt chẽ, nối kết với nhau bởi một ý tưởng rất đẹp và sâu sắc, dùng chất liệu thần thoại và lịch sử của dân tộc, để nói lên những khát vọng hòa bình, cảm thông và đoàn kết của cả một dân tộc. Không hiểu những khát vọng phi chính trị, rất chính đáng và rất hợp thời này có được chính quyền sớm hiểu và cho phép phổ biến không? Hay là vì nó xuất phát từ trong một trái tim “ngoài vòng kiềm tỏa,” chứ không phải từ một ban tuyên giáo hay trường chính trị nào đó, nên sẽ bị cấm đoán mãỉ Nếu vậy thì thật đáng tiếc.

4. Mười bài Ðạo ca, phổ nhạc Phạm Thiên Thự Về mặt âm nhạc thuần túy, cũng như về mặt kết hợp giữa nhạc điệu và ca từ, tôi nghĩ rằng đây là một kiệt tác của Phạm Duỵ Ông đã dùng những kỹ thuật về tiến trình hòa âm và chuyển thể của âm nhạc Tây phương một cách điêu luyện để diễn tả những tư tưởng thiền và đạo rất Việt Nam.

5. Những bài khác có tính cách khai phá kỹ thuật, thử nghiệm với những âm điệu lạ tai, nhưng vẫn thành công rực rỡ trong việc chuyển tải cảm xúc: Ðường chiều lá rụng, Mộng du, Tóc mai sợi vắn sợi dàị

6. Những ca khúc phổ thơ sử dụng những kỹ thuật đặc sắc để thích ứng với ngôn ngữ và thể điệu thơ Việt: Thuyền viễn xứ, Tiếng sáo thiên thai, Nụ tầm xuân...

Không biết bao giờ nhạc Phạm Duy mới được chính thức lưu hành và tự do bàn cãi tại Việt Nam. Nhưng một ngày qua mà chưa được hát, chưa được bàn, là thêm một mất mát cho nền âm nhạc Việt Nam, vốn dĩ chưa có gì phong phú.

------------------------------------------------------------------ [1] <#_ednref1>Phạm Quang Tuấn. Nghệ thuật phổ nhạc của Phạm Duỵ Thế Kỷ 21, đăng lại ở www.tuanpham.orgphothọhtm.

[2] <#_ednref2>Phạm Quang Tuấn. Introduction to Phạm Duýs “Mẹ Viet Nam”, http://www.tuanpham.org/EnglishLyricsFull.htm#MVN0.

Phạm Quang Tuấn




Mục Lục


7. Bên Kia Là Phía Mặt Trời Mọc

Phan Tưởng Niệm



Quân lững thững đi vào con hẻm Duy Tân - con hẻm mà ngày xưa mỗi lần Quân về phép đã vội vã đi thật nhanh để vào gặp Yên Dung - vợ chàng. Bây giờ cũng con hẻm đó nhưng nó hình như đã xa lạ. Những khuôn mặt thân quen đã không còn nữa, thay vào đó là những con người mà chàng chưa hề quen biết. Ðứng trước ngôi nhà của chàng và Yên Dung đã từng chung sống bên nhau, giờ đã thay đổi chủ. Một phút ngậm ngùị

Quân gõ cửa, gặp người chủ nhà mới, chàng hỏi thăm về người chủ nhà cũ - vợ chàng, người đàn ông – chủ nhà mới cho chàng biết là ngôi nhà này được ủy ban phường Trần Hưng Ðạo cấp cho ông ta vì ông ta là một cán bộ phường, và ngôi nhà này làø “của thằng sĩ quan ngụy bị bắt đi cải tạo rồi”.

Vậy thì Yên Dung đã đi đâu rồỉ Và em đang ở nơi nào hả Yên Dung ! , cuộc sống của em ra saỏ Hơn tám năm trong trại tù cải tạo anh nhớ em và con vô cùng. Em chưa một lần thăm anh, nhưng anh chẵng trách em đâu, vì anh biết em rất khó khăn trong cuộc sống, hơn nữa khi anh ra đi, con của chúng ta cũng mới vừa đầy tháng tuổị Nỗi khổ này anh rất thông cảm cho em– Quân lang thang qua con phố buổi trưạ Nhìn con phố ngày xưa, lòng Quân cảm thấy xót xạ

Quân qua con đường Phan Thanh Giản, đến nhà Quang – bạn chàng. Ngôi nhà đóng cữa im lìm. Chàng gõ cữạ Một người đàn bà bước ra :
“ Chào ông, ông hỏi aỉ”
“ Xin lỗi bà, tôi muốn hỏi ông Quang – Nguyễn thanh Quang, còn bà đây là…”
“ Dạ tôi là vợ anh Quang, mời anh vô nhà, anh Quang đi về thăm mẹ ảnh bị bệnh, có lẽ cũng sắp về rồi đó, anh” . Thật Quân không ngờ, người đứng trước mặt chàng là Thanh Thanh
– Nguyễn thị Thanh Thanh, cô nữ sinh hoa khôi của trường Nữ Trung Học Qui Nhơn ngày nàọ Tám năm trôi qua biết bao thay đổi, cảnh đời cũng như con ngườị Nhưng rồi Quân thầm nghĩ : “Mình cũng chẵng khác gì Thanh Thanh đâu ! Cô nàng đã không nhìn ra mình đó sao”. “ Bà… cô…bà… là Thanh Thanh?”
“ Dạ, nhưng ông là ai, tôi nhớ như quen quen”
Quân gượng cười, một nụ cười chua chát:
“ Tôi…anh…là Quân đây, Thanh Thanh không nhìn ra anh saỏ Tất cả giờ đã thay đổi quá rồi phải không Thanh?. Anh đã không nhìn ra Thanh và Thanh cũng không nhìn ra anh, không biết Quang thế nàọ Một thoáng sững sờ, . Thanh hỏi Quân trong sự ngạc nhiên tột cùng:
“ Là anh sao Quân, thật em không ngờ là anh ! Anh thay đổi quá Quân à.”
“ Thanh cũng vậy, cũng thay đổi lắm… tất cả đã thay đổi rồi phải không Thanh”
“ Dạ ! em nghĩ vậỵ Quang cũng thay đổi lắm, anh ấy già đi nhiều và từ ngày ảnh đi “ cải tạo” về hay suy tư, không còn vui cười như ngày xưa”.
“ Cười sao được hả Thanh, sau bảy lăm chúng ta đã tắt nụ cười rồi Thanh, à ! Quang về khi nào vậy Thanh?”.
“Aûnh về đã được gần một năm rồi anh .Thời thế đã đổi thay, em nghĩ các anh hãy vui lên mà sống., đừng nên bi quan, chán nản nữạ Hãy xây dựng lại cuộc đời mới anh ạ. Cái gì đã qua chúng ta nên để nó qua đi, nghĩ đến buồn lắm”.
“ Ðúng, chúng ta hãy vui lên để mà sống”. Quân chỉ còn biết than thầm với chính mình:
@

Gặp lại bạn bè sau bao tháng năm xa cách, đêm nay hai bạn ngồi bên nhau tâm sự suốt đêm thâụ Ôân lại những kỷ niệm xưa, lúc hai đứa còn ngồi ở bậc trung học, rồi vào quân ngũ, rồi ra chiến trường, rồi vào nhà tù “cải tạo”. Tất cả, tất cả đã hiện về qua từng ký ức.
Ngày xưa, bạn bè gặp nhau vui đùa như pháo nỗ. Mày mày, tao tao cụng nhau từng ly rượu ấm. Còn bây giờ, chỉ có chén trà xanh hớp từng ngụm nhỏ – âm thầm ,lệ đắng nghẹn ngàọ Trong nỗi buồn miên man, Quang hỏi bạn:
“ Quân ! bạn có dự tính gì cho tương lai sau khi bạn gặp lại vợ bạn?”
“ Mới ra trại nên cũng chưa có tính toán gì hơn là tìm mẹ con của Yên Dung, sau đó vợ chồng sẽ thão luận. Cuộc sống bây giờ khó khăn lắm phải không Quang”
“ Ðiều đó thì chắc bạn đã đoán được, nhưng chúng ta cố vương lên giành sự sống nghe Quân. Ngày mai bạn lên vùng kinh tế mới Gia Châm, nếu gặp được Yên Dung, tôi nghĩ bạn nên đưa vợ con về đây sống với vợ chồng mình rồi tính sau, chứ ở kinh tế mới khổ lắm. Lúc Yên Dung đi kinh tế mới, vợ chồng mình có khuyên Yên Dung đừng đi mà Yên Dung cứ bảo : “ em xung phong đi kinh tế mới để anh Quân sớm được thả về, vì cán bộ phường bảo vậy”, vợ chồng mình đã nói hết lời mà Yên Dung chẵng nghe, thật tội nghiệpYên Dung”.
Màn đêm buông xuống, gió khuya thổi lành lạnh. Hai bạn cứ ngồi say sưa trò chuyện. Cơn gió rít qua, mái tôle khua động, thằng bé con của Quang giật mình thức giấc khóc thét làm chấm dứt câu chuyện của hai ngườị Quang đi vô buồng ngủ – nằm xuống bên cạnh thằng bé, ôm con vào lòng, vuốt ve con ngủ. Bên ngoài, Quân vẫn còn ngồi bên tách trà xanh đã nguội lạnh từ lúc nào, chàng đang mơ tưởng đến ngày mai gặp lại vợ con, nỗi mừng vui biết kể sao cho xiết.
@
Chuyến xe cuối đã đưa Quân đến thành phố Pleiku và rồi chàng lại lên một chiếc xe khách tồi tàn khác để đến vùng Kinh tế mới Gia Châm. Ngồi trên xe, chạy qua con đường mà ngày xưa Quân đã từng đến qua những lần hành quân. Những địa danh : Pleime, PleiYik, Lệ Minh, Thanh An, Thanh Giáo,Hàm Rồng lại hiện về trong trí óc Quân. Bạn bè năm xưa cùng chung đơn vị và biết bao chiến sĩ của tiểu đoàn 3/41/22 BB đã nằm xuống trên mảnh đất khô cằn này, nhìn lại những nơi đóng quân xưa, lòng Quân cảm thấy bùi ngùị Ðại Hản – Phan đình Thành, người anh cả của tiểu đoàn, người sĩ quan hai mươi chín tuổ,i xuất thân từ khóa 22A Võ Bị Ðà Lạt, như mới ngày nào đang xuất quân tiến chiếm đồi Lệ Minh và rồi đã anh dũng nằm xuống nơi chiến trường khi vừa chiếm trọn mục tiêu ; Xích Thố – Nguyễn Xích Hùng , thằng bạn từ hồi còn ngồi trên ghế trung học Cường Ðể, thằng bạn đào hoa nhất lớp, lượm đâu được bốn câu thơ mà đã làm cho các em nữ sinh điên đảo: “ Ta còn lại đêm nay/ Bầy sao hôm vừa tắt/ Ta còn một tiếng em/ Xin đừng làm rơi mất” , đang oai hùng chống trả địch quân với chiến thuật biển người trên đồi Thanh Giáo, bằng phương pháp cuối cùng là gọi pháo binh, phi cơ oanh tạc lên chính điểm đóng quân của mình để rồi cùng chết với kẻ thù, bỏ lại người yêu – cô bé Bắc Kỳ nho nhỏ – Khỗng bạch Yến của trường nữ trung Học Trinh Vương ; Hắc Sơn – Trần Ngọc Triêm chết tức tửi trên chiếc thiết vận xa M113 bởi một quả súng cối của địch quân, bỏ lại người vợ trẻ vừa mới sinh đứa con đầu lòng mà Triêm chưa biết mặt con mình ra sao ! ; Hoàng Ðạo – Từ Thái Lai đã nằn xuống nơi chiến trường Thanh An, bỏ lại mẹ già và một tình yêu vừa chớm nỡ – cô nữ sinh thôn dã : Nguyễn thị Hồng Loan của quận lỵ nhỏ bé Phù Mỹ trong một lần hành quân Mỹ Chánh mà hai người đã gặp. Còn! và còn biết bao hình ảnh gợi lại trong trí nhớ Quân,

@ Theo sự chỉ dẫn của bác tài xế xe đò, Quân theo con đường đất đi về phía dãy nhà tranh nơi có văn phòng của trụ sở thôn để vào hỏi thăm tin tức mẹ con Dung. Buổi chiều không làm việc nên trụ sở đóng cửa, gặp một người đàn bà lớn tuổi đang đi trên đường, Quân chận lại hỏi thăm mới biết trước đây mẹ con Yên Dung cùng ở chung xóm với bà, và bà ta nói với chàng :
“Câu chuyện dài dòng lắm, mời cậu ghé nhà tôi, tôi sẽ kể hết cho cậu nghe”
“ Dạ ! cảm ơn bà”. Quân bước theo người đàn bà lạ. Ðến nha,ø người đàn bà lại bảo chàng:
“Mời cậu vô nhà, uống nước, nghỉ mệt rồi tôi sẽ kể chuyện cho cậu nghe”
Ngồi trong nhà tranh đơn sơ, Quân chờ đợi người đàn bà kể về chuyện của vợ con mình, lòng chàng đang hồi hộp, đầu óc cứ suy nghĩ miên man:
“ Thưa bà ! Tôi đang nóng lòng muốn biết về tin tức của vợ con tôi, xin bà nói chọ Hơn tám năm rồi tôi không biết gì về mẹ con nàng”.
“ Bây giờ, trời đã chiều chắc là cậu về cũng không còn kịp xe, tối nay mời cậu ở lại đây chơi với vợ chồng chúng tôi, chờ ông nhà tôi về rồi chúng tôi sẽ nói tường tận cho cậu biết, đừng nôn nóng. Thế nào cậu cũng phải ở lại thôi, vì ngày mai còn có việc cho cậu làm đó.”
“ Tôi phải làm việc gì, thưa bà !”
“ Rồi cậu sẽ biết”
Buổi chiều xuống dần, ánh nắng đã tắt hẳn, dù sao thì tối nay Quân cũng phải ở lại nơi nhà người đàn bà này thôi, vì vậy nên nằm trên chiếc võng con chàng ngủ say lúc nào không hay, đến khi nghe tiếng người đàn bà gọi chàng dậy dùng cơm, thì chàng mới biết là mình đã ngủ một giấc dàị Một người đàn ông đã lớn tuổi, có lẽ là chồng người đàn bà bảo chàng:
“ Cậu dậy rửa mặt rồi vào dùng cơm”
“ Dạ ! cảm ơn bác”

Cơm nước xong, vợ chồng nguời đàn bà mời Quân ra sân ngồi mát.Ðêm nay là đêm trăng rằm nên ánh trăng rất rõ, cơn gió mùa hè thổi qua từng cơn nhẹ man mát. Bắt đầu câu chuyện, người đàn ông đưa tay chỉ về ngôi nhà bên cạnh bảo với Quân:
“ Ngôi nhà này là nhà của mẹ con cô Yên Dung đấy, Mẹ con cô Yên Dung đối với vợ chồng tôi như con cháu trong nhà, có gì đều san xẻ cho nhaụ Chúng tôi nương tựa với nhau mà sống trong gần bảy năm naỵ” Bỗng nhiên giọng người đàn ông lạc đi, xúc động:
“ Tội nghiệp ! tội nhgiệp lắm cậu ơi !”
Trong lúc người đàn ông kể chuyện thì người đàn bà không ngăn được dòng lệ, từng tiếng nấc lại vang lên. Quân chưa hiễu chuyện gì nhưng lòng chàng cũng cảm thấy nao naọ Người đàn ông kể tiếp:
“ Vợ chồng tôi và mẹ con cô Yên Dung lên vùng kinh tế mới này đã hơn bảy năm nay, nghĩa là sau khi cậu đi ở tù gần một năm”. Người đàn bà chen vào:
“ Xuỵt ! cải tạo ông à !”. Người đàn ông phản bác:
“Ở tù chứ cải tạo gì, chúng nói cho tốt thôị Cải tạo là cải tạo cái gì? Ai làm gì mà cải tạo, cải tạo gì tới hàng chục năm mà không cho người ta biết cải tạo về việc gì?. Người đàn bà cảnh giác chồng:
“ Nói nhỏ nhỏ đi ông, coi chừng bọn nó nghe được không hay, nhất là đề phòng thằng Công An Phong đó, nó nghe được là mình đi ở tù thôi”. Người đàn ông tiếp tục câu chuyện:
“ Khi mới lên đây tôi có hỏi cô Yên Dung– cô lên đây làm gì cho khổ, nhất là trong nhà không có đàn ông, làm sao lao động. Cô bảo – Cô lên đây là vì chồng cộ Cán bộ phường nói – nếu cô chịu đi kinh tế mới thì chồng cô sẽ được thả về sớm, nên cô phải đi thôị Mới đầu lên đây chúng tôi khổ lắm, mỗi tháng chúng tôi chỉ lãnh được mười ký gạo, còn lương thực thì tự túc, có rau ăn rau, có cá ăn cá., thiếu cơm gạo chúng tôi phải đào củ mì, củ chuối sống tạm qua ngàỵ Con anh – cháu Minh thì chẵng học hành gì, vì có trường đâu mà học, hằng ngày theo mẹ ra đồng làm ruộng, vô rẫy đào củ mì, củ lang. Một ngày, cách đây một năm, cháu bị bệnh sốt xuất huyết, không thuốc thang chạy chữa nên cháu đã ra đị Sau khi cháu Minh chết, cô Yên Dung như người điên loạn, không còn làm việc gì nữa, thấy vậy nên vợ chồng chúng tôi mới dẫn cô qua ở bên nhà chúng tôị Mỗi tối cô Yên Dung thường qua nhà cô nhan khói cho cháu Minh, nhưng rồi một hôm – cách đây khoãng nửa năm, cô Yên Dung đi qua nhà cô thắp nhang, lâu quá mà không thấy về , vợ chồng tôi cầm đèn qua gọi cô về, thì phát giác cô đã nằm chết trên giường từ lúc nào rồi,. Vợ chồng tôi và bà con thôn xóm chôn cất mẹ con cô Yên Dung sau vườn nhà cô, bàn thờ thì vợ chồng tôi hàng ngày nhan khóị Chúng tôi nghĩ, ngày nào cậu ra khỏi tù thì sẽ lên đây, điều này quả không sai, bây giờ tối rồi, sáng mai chúng tôi sẽ dẫn cậu qua nhà thăm mộ mẹ con cô Yên Dung.”

Nghe những lời của người đàn ông kể lại, lòng Quân đau xót vô cùng, Chàng không ngờ, ngày chàng trở về lại là ngày tang thương dâu biển . bao năm sống trong nhà tù “ cải tạo” chàng cứ nghĩ là Yên Dung đã phụ chàng, điều này chàng cũng không trách gì Yên Dung, vì ngày chàng ra đi, Yên Dung chỉ là người con gái hai mươi tuổi vừa rời ghế nhà trường , theo chồng chưa đầy một năm. Tiền bạc, của cải chẵng có gì để lại choYên Dung, trong lúc Yên Dung còn mang nặng một đứa con thơ vừa tròn tháng tuổị Nếu vì hoàn cảnh mà Yên Dung bước đi bước nữa thì đó cũng là điều tất nhiên không có gì để Quân oán hận. Nhưng nay đã khác, Yên Dung không phụ chàng mà nàng đã chết vì muốn chàng sớm trở về đoàn tụ cùng mẹ con nàng, nên nàng đã nghe theo lời xúi bảo của những tên vô nhân mà mẹ con nàng phải bỏ xác nơi rừng thiêng , nước độc. Bỗng nhiên Quân tự hỏi – ngày mai này ta phải làm gì đâỷ Cuộc sống của ta còn có nghĩa gì khi mà vợ con đã chết, gia đình đã tan nát.Không phải chỉ một gia đình ta chịu cảnh đoạn trường này, mà phải nói biết bao gia đình gặp cảnh tang thương như gia đình ta sau năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm– hàng trăm ngàn, hàng triệu không chừng ! vậy ta phải làm sao để đồng bào ta thoát cảnh đọa đày nàỷ Chỉ còn con đường duy nhất là dấn thân cho đại cuộc. Vâng ta phải dấn thân cho đại cuộc

@ Ðứng trước mộ vợ con, Quân không sao ngăn được dòng lệ, nước mắt chàng chảy xuống xót thương cho thân phận của mẹ con Yên Dung và cũng xót thương cho thân phận bà con nơi vùng kinh tế mới rừng thiêng, nước độc nàỵ Và biết đâu đó, nơi những vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh khác, hàng ngàn người dân đang sống trong đọa đày cơ cực bởi chính sách độc tài đảng trị, đưa đất nước đến cảnh đói khổ, bần cùng . Cả đất nước này rồi sẽ ra saỏ Khi mà bọn quỷ đỏ đang đè đầu, cưỡi cổ người dân. Ðầu óc Quân mông lung nghĩ ngợị

Ðứng trước bàn thờ, nhìn tấm hình Yên Dung nở nụ cười tươi, tấm hình mà Yên Dung đã tặng Quân lúc mới yêu nhau làm Quân xúc động vô cùng - Trước khi trở lại thành phố biển Qui Nhơn để lo cho một cuộc sống mới, Quân ân cần gủi gấm mộ phần mẹ con Yên Dung cho chú thím Dậu – tên của vợ chồng người đàn bà tốt bụng, và chàng hẹn một ngày trở lại vùng kinh tế mới này hốt cốt cho mẹ con Yên Dung . Tuy mới quen nhau, nhưng buổi chia tay không sao ngăn được dòng lệ. Về lại Qui Nhơn, Quân đã kể hết mọi chuyện cho vợ chồng Quang nghe, Thanh Thanh cảm thương bạn, nước mắt nàng cứ tuôn chảy, nàng không ngờ số phận của Yên Dung lại thảm thương như vậy . Mới ngày nào hai đứa còn cắp sách đến trường tung tăng chạy nhảy, mỗi lần ra ủy lạo nơi đơn vị của Quân, Thanh Thanh đều bảo Yên Dung: “ hãy chuẩn bị tinh thần nghe em gái, đừng có run đấy em ạ !” và rồi nhiều lần Thanh Thanh cũng trêu chọc Yên Dung: “yêu ai mày không yêu, yêu chi cái anh chàng đen thui, đen thủi như ông Hynos vậyYên Dung” và Yên Dung đã trả lời với Thanh Thanh “tao yêu cái đen thui, đen thủi , cái ông Hynos đấy mày ạ !”

Một buổi chiều lang thang qua con đường biển, ghé vào ngôi trường xưa củaYên Dung. Chiếc ghế đá năm xưa mỗi lần về phép Quân thường ngồi chờ Yên Dung tan trường, giờ vẫn còn nằm in bóng mà Yên Dung thì đã đi rồị Kỷ niệm xưa hiện về qua từng ký ức, như mới hôm qua đây thôi – em thơ ngây, nhỏ bé trong chiếc áo dài trắng trinh nguyên và rồi những lá tình thư ta trao gửi cho nhau trong tình yêu thánh thiện, bây giờ đã qua rồi có còn chăng chỉ là trong mộng tưởng:
“ Ghế đá lạnh. Chiều tan trường. Rộn rã/ Tuổi học trò thơ ngâỵ Ôi đẹp quá/ ngôi trường xưa, sao chừ như xa lạ?/ Thoáng chút buồn – ngày tháng đã đi qua/ mới hôm nào giờ như thấy thật xa/ dòng chữ nhỏ mỗi ngày in trang giấy/ lá tình thư ta trao em ngày ấy/ Bút mực nào còn đậm nét tình say / Tiếng cười đùa – em cô bé thơ ngây / Aùo dài trắng tung bay giờ tan học / Ta hôn khẻ không gian qua suối tóc / và ru hồn trong giấc ngủ đêm say /Mới hôm nào giọng thỏ thẻ còn đây / em cô bé nữ sinh vừa mười tám / Trong ánh mắt là vườn sao trong sáng / Ta lặng thầm nghe tim đập cuồng quay / Ghế đá cũ trong sân trường còn đấy / Dấu hình em soi bóng nắng lung linh / Ta khẻ gọi tên em trong trống vắng / Dù bên thềm con nắng cứ lặng thinh .”( Thơ: PTN)

* * * Thấm thoát mà Quân nương tựa với vợ chồng Quang đã gần ba năm, hằng ngày chàng thuê xích lô chạy kiếm sống, tối về nhà vợ chồng Quang nghỉ. Cứ thế mà tháng ngày dần trôị Một hôm chàng bàn với vợ chồng Quang là muốn lên lại vùng kinh tế mới Gia Châm thiêu xác mẹ con Yên Dung rồi đem hài cốt về chùa thờ để mẹ con nàng khỏi tủi phần hồn, ý kiến này đã không được vợ chồng Quang chấp thuận, vì cho rằng Yên Dung mới mất, phần xác thịt chưa tan phải chờ thêm một thời gian nữạ Nghe lời vợ chồng Quang nên Quân cũng bỏ đi ý định thiêu xác vợ con, nhưng mỗi tối chàng thường vào chùa cầu nguyện cho mẹ con Yên Dung được sớm siêu thoát. Cuộc đời cứ vậy lẵng lặng trôi qua, nếu một ngày không gặp lại Trần văn Tâm, người bạn học cũ đã xa trường từ năm lớp đệ tứ. Tâm bảo với Quân :
“ Cuộc đời của chúng ta đành chấp nhận với cuộc sống ngựa trâu này sao Quân? Chúng ta phải làm một cái gì Quân ạ ! Chúng ta không bận bịu gia đình thì sợ gì chứ ” “ Chúng ta phải làm gì đây hả Tâm?”
“ Chúng ta phải làm những gì mà đất nước cần, đồng bào chúng ta cần. Ðó là canh tân đất nước khỏi cảnh đói nghèo lạc hậu, giải phóng đồng bào khỏi cảnh gông cùm xiềng xích bởi chủ thuyết độc tài, độc đảng.
“ Bằng cách nàỏ”
“Gia nhập vào tổ chức”
“Tôi không nghĩ điều đó, và không làm nỗi điều đóù”. Thật ra Quân không phải là người ươn hèn khiếp nhược, trong thâm tâm Quân đã nghĩ điều đó từ ngày biết được mẹ con Yên Dung đã không còn sống trên cõi đời này, nhưng Quân chưa thực hiện được mộng tưởng của mình là vì Quân chưa tìm được tổ chức, hơn nữa trong cuộc đời quá nhiều cạm bẫy, lừa lọc – nhất là đối với kẻ thù đầy thủ đoạn xảo trá nên Quân phải đề phòng, với một người bạn như Tâm đã gần hai mươi năm mới gặp lạị Tâm bảo với Quân:
“ Tôi biết bạn đang do dự vì bạn chưa tin tôi, điều đó cũng đúng thôi, vì gần hai mươi năm chúng ta mới gặp lại kia mà. Nhưng rồi thời gian sẽ chứng minh con người của tôi, tôi mong một ngày chúng ta sẽ gặp lại và cùng bước chung trên một con đường chúng ta muốn đi”.
“ Tâm à ! vấn đề không phải tin, hay không tin mà là tôi đã quá mõi mệt. Hơn tám năm nằm trong trại tù, vừa về thì hay tin vợ con không còn nữa, đầu óc tôi không còn nghĩ gì khác hơn là tìm miếng cơm , manh áo tạm sống cho qua ngày, việc đời tôi không màn đến. Xin Tâm hiểu chọ”
“ Chuyện đất nước là chuyện chung, tôi không nài ép bạn, nhưng tôi mong có những người hợp tác cùng chung chí hướng để giải thoát cuộc đời khổ cực của đồng bào ta ra khỏi gông xiềng độc tài, áp bức.”
@ @ @
Sau ngày gặp lại Tâm, và nghe những lời Tâm nói, tâm hồn Quân cứ dằn vặt, chàng không biết có nên dấn thân vào con đường mà Tâm đã vạch? Hay cứ sống lẵng lặng cho qua tháng ngàỵ Một đêm sau khi lễ phật xong, Quân vào phòng nghỉ của thầy Thích Nguyên Hải – Vị sư trù trì của chùa Long Quang và cũng là người bạn học chung lớp với Quân ở bậc trung học. Trong lúc chuyện trò Quân có đặt vấn đề và nêu ra những điều Tâm nóị Sở dĩ Quân dám nêu vấn đề của Tâm nói ra vì Quân biết thầy Thích Nguyên Hải và vị chân tu đáng kính lại là người đệ tử của Hòa Thượng Huyền Tôn – vị hòa thượng đầy đức độ. Thượng tọa Thích Nguyên Hải nói với Quân:
“ Trước khi các anh muốn làm điều gì thì nên nghĩ cho kỷ, vì đây là việc hệ trọng đến sinh mệnh. Tôi hỏi anh, các anh chiến đấu bằng phương thức nàỏ Quân sự hay chính trị ? Quân sự các anh có gì ? Nhân lực các anh được bao nhiêu người, vũ khí các anh có được bao nhiêu xe tăng, đại pháo ? Chính trị ư ? bằng phương thức kêu gọi toàn dân tổng nổi dậỷ Thời buổi này có ai dám ra đường biểu tình? Tất cả đều vô ích, hy sinh tính mạng vô nghĩạ Tôi nói điều này để anh suy ngẫm: nếu anh muốn trồng cây thì anh phải chờ có mưa rồi mới gieo hạt, còn bây giờ trời đang nắng hạn mà anh gieo hạt thì làm sao nẫy mầm, tôi nghĩ : anh gieo bao nhiêu nó sẽ chết bấy nhiêu chứ không thể nào sống được đâụ Những điều gì các anh nghĩ, chúng tôi cũng đã nghĩ, nhưng chúng tôi đang chờ cơn mưa, ít nhất cũng là cơn mưa ràọ Tinh thần của Phật giáo là vô uý – không tham sống sợ chết – Cái chết của thầy Thích Thiện Minh và sự tù đày của các thầy Quảng Ðộ, Huyền Quang, Trí Siêu, Tuệ Sĩ các anh cũng đã thấy rồi chứ !”.
Những gì thầy Thích Nguyên Hải chỉ giáo Quân suy nghĩ rất nhiều, tất cả là những lời vàng ngọc, thời buổi hôm nay, chúng ta chiến đấu là phải chiến thắng chứ không thể bảo : “không thành công thì thành nhân được”. – Sự hy sinh phải gặt hái được thành quả, có như vậy sự hy sinh mới không bị uổng phí.
@ @ @
Thanh Thanh đi họp nhân dân ở Phường về bảo với Quân và Quang :
“ Anh Quân, anh Quang ! em đi họp, ông Phường trưởng cho biết là Công An tỉnh mới bắt được một số “phản động”, trong đó có ông gì tên là Tâm…à…à …Trần văn Tâm là tỉnh trưởng Bình Ðịnh tự phong, còn nhiều người liên hệ chờ khai thác sẽ bắt tiếp. Nghe Thanh Thanh nói, Quân cảm thấy xốn xang, mới cách đây mấy ngày Quân còn gặp Tâm nơi bải biển Qui Nhơn, Tâm đã nói nhiều điều yêu cầu Quân gia nhập tổ chức để lo đại cuộc. Tâm cho biết là ngay tại tỉnh Bình Ðịnh, tổ chức đã xây dựng xong “ Liên đoàn 18 Biệt Ðộng Quân” hoạt động trong vùng từ Tuy Hòa, ra đến Phú Phong, Bình Ðịnh và Quảng Ngãi, không lẽ chỉ trong phút chốc mà bị tóm gọn sao ? Không biết với sự tra khảo ác độc của kẻ thù Tâm có chịu đựng được ? Nếu Tâm chịu không nỗi có khai ra mình ?. Thoáng suy nghĩ, Quân vội vã vào chùa Long Quang gặp thầy Nguyên Hảị Sau khi kể rõ mọi việc mà Quân nghe được từ Thanh Thanh, Quân hỏi thầy Nguyên Hải:
“ Thưa thầy ! như vậy thì tôi phải làm saỏ Thầy nghĩ anh Tâm có thể khai những lần gặp tôi ?
Một phút suy nghĩ, thầy Nguyên Hải bảo Quân:
“ Không nên chần chờ nữa, anh thu xếp đi ngay”. Thầy kéo học bàn lấy giấy ra viết, viết xong thầy đưa cho Quân và căn dặn:
“ Anh cất lá thư này cho kỷ, và theo địa chỉ trong thư, anh vô Ghềnh Ráng hỏi một người tên Hoàng – Nguyễn văn Hoàng, khi gặp anh ta, anh ta sẽ nói“ Gió biển động mạnh” anh trả lời “ có lẽ cấp mười đấy”. Ðó là ám danh để nhận diện, anh Hoàng sẽ lo cho anh, anh phải tìm đường đi thôị Nếu đi được thì tốt, còn không đi được thì đó là phương cách “ vào tù để trốn tội”. Ðiều quan trọng là anh phải thiêu hủy hết giấy tờ tùy thân của anh, và nếu bị bắt thì phải khai tên họ , lý lịch khác – Tội vượt biên nhẹ hơn tọâi “ phản động “ gấp trăm lần. Tôi nghĩ lần này anh Tâm khó thoát tội tử hình, chúng giết để răn đe, thật tội nghiệp một người vì dân, vì nước”. Về nhà , không gặp vợ chồng Quang, Quân vội vã viết vài dòng để lại: “ Quang , Thanh Thanh thân mến ! vội vã ra đi không có lời từ biệt, xin hai bạn thông cảm, mong một ngày gặp lại . Chúc hai bạn và cháu Nhật an lành. Thân chào: Quân”
@ @ @
QUI NHƠN NĂM 2004
Quân đẩy chiếc vali nhỏ vào lại con hẻm Duy Tân – con hẻm mà cách đây mười tám năm, Quân đã vội vã ra đi không một lời từ biệt, hôm nay quân trở lại con xóm nhỏ này với bao nỗi niềm cảm xúc. Con xóm vẫn như ngày xưa chẵng có gì thay đổi, có thay đổi chăng là lớp nhỏ bây giờ đã lớn ; lớp lớn bây giờ đã già và lớp già thì đã có một số người ra đi về miền miên viễn.
Tuy cách xa đã mười tám năm, nhưng vị trí ngôi nhà của vợ chồng Quang, Quân còn nhớ rõ. Ngôi nhà được xây lại khang trang hơn, to lớn hơn . Bỗng Quân chợt thấy buồn buồn vì thoáng nghĩ đến vợ con, tuy Quân đã gởi tiền về nhờ Quang thiêu xác mẹ con Yên Dung đem về chùa, nhưng sao lòng Quân vẫn cảm thấy một niềm thương cảm.
Vợ chồng Quang gặp lại Quân thật là một sự bất ngờ, vì Quân trở về mà không báo trước, mấy năm gần đây Quân thường gởi tiền về giúp vợ chồng Quang và chú thiếm Dậu ở kinh tế mới Gia Châm và hàng tháng đều gọi điện thoại về thăm hỏi, nhưng chuyến đi về này Quân không thông báo là để tạo sự bất ngờ cho vợ chồng Quang, hơn nữa Quân cũng không muốn hai bạn phải bận tâm việc đưa đón và nhất là chàng đi về với một điều hệ trọng mà tổ chức đã giao nên chàng không muốn chuyện ồn àọ Bây giờ Quân trở về với giấy tờ tùy thân không còn là Nguyễn Hoàng Quân , mà Quân đã thay tên đổi họ từ lúc còn ở trên đảọ Hiện tại tên họ của chàng là Phan Trọng Nghĩa, kỷ sư điện toán.
Thanh Thanh ôm chầm lấy Quân mừng rỡ, không quên lời trách nhẹ:
“ Sao anh về mà không báo cho vợ chồng em hay, để vợ chồng em đi đón”
“ Anh muốn tạo sự bất ngờ hay hơn, hơn nữa anh có việc phải ở lại Sài Gòn hai tuần nên không muốn làm phiền hai ông bà”
“ Vậy anh về bao lâu rồỉ”
“ Hai tuần rồi, công việc đã xong nên anh ra thăm vợ chồng Thanh , cháu Nhật cùng thăm hai mẹ con của Yên Dung và có lẽ anh không thể lên Gia Châm thăm chú thím Dậu được, nhưng anh có mang quà về cho chú thím, chắc phải nhờ Thanh Thanh mang lên giùm.”
“ Dạ! để em mang lên cho”.
Buổi tối, Quân một mình vào chùa thăm thầy Nguyên Hảị Sở dĩ Quân không muốn cho Quang biết công việc của Quân làm là vì Quân không muốn cho bạn khó sử khi biết chàng làm một điều quá hệ trọng và Quân cũng chưa muốn Quang tham gia vào tổ chức là vì Quân nghĩ đến Thanh Thanh và cháu Nhật – con của vợ chồng Quang và chàng cũng nghĩ đến cái chết của mẹ con Yên Dung, sự ly tán của gia đình chàng.
Gặp lại Quân thầy Nguyên Hải cũng thật bất ngờ, biết bao tâm sự nói sao cho hết. Sau cuộc mừng vui,thầy Nguyên Hải mới đi vào vấn đề:
“ Anh về lần này có mục đích hay chỉ về thăm, anh thấy tời tiết như thế nào, sắp mưa chưả Bao nhiêu năm rồi chúng tôi chờ anh về cấy lúa đấỵ Hai tuần nay anh ở Sài Gòn tìm hiểu chắc anh đã biết – trời sắp mưa và trái cũng sắp chín.” “ Dạ ! thưa thầy, hôm nay tôi về cũng vì việc trọng đại đó, nhưng chúng tôi cũng chờ thỉnh giáo ý kiến của thầy xem nó có phù hợp với ý kiến của anh em bên đó?” “ Theo ý kiến của các anh thì công cuộc đấu tranh phải như thế nàỏ”
“ Thưa thầy, chắc thầy đã biết, ở hải ngoại hiện có hàng trăm tổ chức đấu tranh nhưng mỗi tổ chức đi theo đường lối riêng nhưng tựu trung cũng đều là muốn giải thể chế độ hiện hữu đem tự do, dân chủ cho toàn dân”. Suy nghĩ một giây, thầy Nguyên Hải hỏi Quân:
“ Tổ chức của anh như thế nào, và quan điểm hành động ra saỏ”
“Dạ ! Ðây là một đảng hoạt động bí mật từ năm một chín tám hai, nhưng mới ra mắt công khai hoạt động mấy tháng naỵ Quan điểm của tổ chức là canh tân con người Cộng sản rồi canh tân đất nước”
“ Thế nào là canh tân con ngườỉ”
“ Thưa thầy ! Như chúng ta đã biết, trong cuộc đấu tranh hiện tại, chúng ta không thể dùng vũ lực mà chỉ có phương pháp chính trị. Nhưng chính trị bằng cách nàỏ Ðó là một nan đề. Hiện nay, ai cũng biết là chủ nghĩa Cộng sản đã rửa mục ,một số quốc gia Á Châu vẫn còn níu kéo chẳng qua vì quyền lợi cá nhân. Từ nhân dân đến những đảng viên, đa số họ đã hiểu rõ chủ thuyết Cộng sản đã lổi thời, không còn thích hợp nhưng họ còn chần chờ, do dự chưa dám phản tĩnh. Do đó, từng bước chúng ta thuyết phục họ thay đỗi con người họ từ đầu óc Cộng Sản trở thành đầu óc tự do, dân chủ. Rồi từng bước , chúng ta lợi dụng những con người Cộng sản này, đòi hỏi cấp lãnh đạo Cộng Sản phải thực thi những quyền tự do căn bản của con người như: quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do ứng cữ và bầu cữ. Theo quan điểm của tổ chức, chúng ta lấy người Cộng sản tiêu diệt đảng Cộng Sản như các nước Ðông Aâu và Liên Sô, muốn làm được điều đó, chúng ta phải kết hợp trong và ngoài: Bên trong là đoàn bẩy; bên ngoài là lực đẩỵ Ðoàn bẩy phải cần lực đẩy, nhưng có lực đẩy mà không có đoàn bẩy cũng vô dụng; có đoàn bẩy mà không có lực đẩy cũng kém hiệu quả. Do đó chúng ta phải phối hợp trong và ngoàị”
Suy nghĩ một chập lâu, bỗng thầy Nguyên Hải nỡ nụ cười tươi:
“ Ðúng, đúng , đó cũng là quan điểm của giáo hộị Như các anh ở bên ngoài cũng đã nghe đựơc sự đấu tranh của các thầy trong nước. Chúng tôi cũng kết hợp trong ngoài như các anh vậỵ Các anh thấy đó, các đại lão hoà thượng, thượng toạ đạo cao đức trọng có ảnh hưởng với quốc tế thì đấu tranh trực diện với nhà cầm quyền Cộng Sản, còn một số lại ẩn núp trong giáo hội “ quốc doanh” để hoạt động. Bên ngoài nhìn vào là hai giáo hội mâu thuẩn nhau, nhưng thật ra chỉ là một. Bấy lâu nay, trong nước đấu tranh mạnh mẽ được cũng là nhờ bên Hải ngoại lên tiếng, làm thế giới động tâm nên chính quyền Cộng Sản không dám mạnh tay với những người đối kháng trong nước. Các anh về trình bày với các anh bên đó, là ở quốc nội đã có chúng tôị”
“ Dạ! chúng tôi nhận ý kiến của thầy và cũng xin tạm biệt thầy, vì có thể ngày mai tôi sẽ trở vô Sài Gòn và khoảng vài ngày nửa là trở lại Hoa Kỳ.”
@ @ @
Ngày mai này Quân lại phải vào Sài Gòn để chuẩn bị cho chuyến bay trở về Mỹ sau ba tuần lễ trở vềâ Việt Nam, vì vậy nên chàng đã thức suốt đêm trò chuyện cùng vợ chồng Quang, nhìn cuộc sống của vợ chồng bạn không lấy gì làm khá giả lắm, dù rằng trong những năm qua chàng đã gởi về giúp vợ chồng Quang một số tiền không nhỏ để xây cất lại nhà cữa và mưu sinh, do vậy chàng cũng có ý thắc mắc:
“ Quang à ! Mình nhớ là đã gửi về cho vợ chồng bạn một số tiền cũng không nhỏ dể xây dựng lại căn nhà cho khang trang và làm ăn , sao mình thấy vợ chồng bạn cũng còn khó khăn quá vậy”. Thanh Thanh cướp lời chồng:
“Dạ ! cũng nhờ số tiền của anh gửi về nên chúng em cũng sửa lại nhà cửa và cho cháu Nhật tiếp tục vào đại học. Hiện cháu học ở Sài Gòn, ở nhờ nhà một người bạn thân. Sở dĩ chúng em không xây cất lại ngôi nhà cho khang trang như lời anh căn dặn là vì có một lý do”. Quân thắc mắc:
“ Lý do !”
“ Dạ ! Số là như thế này, chúng em có một chị bạn rất thân. Vợ chồng em và vợ chồng anh chị ấy coi nhau như chị em ruột, sau năm bảy mươi lăm, chồng chị đi “ cải tạo”, chị ở nhà nghe theo nhà nước, tình nguyện đi kinh tế mới để chồng được về sớm, không ngờ chị lên vùng kinh tế được mấy năm thì con chị bị đau bệnh chết, còn chị thì bị thằng công an xã cưỡng hiếp, không may chị có mang nên không dám ở lại vùng kinh tế mới chờ chồng. Do đo,ù chị về gặp bọn em thú thật, chỉ nói chị xấu hổ quá, muốn tự tử nhưng dù sao thì cũng có đứa con trong bụng. Hơn nữa, chúng em cũng khuyên giải chị rất nhiều và tìm cách đưa chị vào Sài Gòn sống với người chị bà con của em để chờ ngày sinh nở. Chúng em thấy chị ấy khổ cực quá, mẹ cút, con côi miếng ăn không có, cái mặc cũng không , con nhỏ tay bồng, tay bế thì làm được gì vói thời buổi gạo châu, củi quế nàỵ Vì vậy, sau khi anh đi rồi, gủi tiền về cho chúng em, thay vì chúng em cất lại ngôi nhà cho khang trang, chúng em bớt số tiền đó mua cho mẹ con chị ấy một căn nhà nhỏ để có chỗ nương thân và giúp cho chị ấy một ít vốn để nuôi con, hiện nay, con chị ấy cũng đã lớn và cũng học đại học, một khoa với cháu Nhật, còn chị thì may gia công tại nhà”. Im lặng một hồi lâu, Quân khẻ bảo:
“ Sao trường hợp của chị ta giống trường hợp của mẹ con Yên Dung quá vậỷ Chị ta ở Sàigòn? Thanh cho anh địa chỉ, ngày mai vô Sài Gòn tiện anh sẽ ghé thăm và giúp đở cho chị ta một ít vốn.”. Quang nhìn vợ một cách dò xét. Thanh Thanh thản nhiên nói với Quân: “ Ðược rồi, ngày mai chúng em sẽ vô sài Gòn đưa anh về Mỹ, sẵn thăm cháu Nhật luôn, chúng em sẽ đưa anh đến thăm chị ấy”. Quang nhìn vợ trân trốị
Chuyến tàu hỏa tốc hành S1 đã đưa vợ chồng Quang và Quân đến Sài Gòn vào buổi sáng, khi mặt trời còn ngái ngủ, Quân thuê taxi đưa vợ chồng Quang về khách sạn . điểm tâm xong, Thanh Thanh đưa ý kiến:
“Ðể tranh thủ thời gian, chúng em đưa anh đến thăm chị bạn em và cháu Nhật – cháu Nhật đang ở trọ học chung cùng con chị ấỵ
Thanh Thanh đưa Quang và Quân vào một hẻm sâu, nằm sau lưng bệnh viện Nguyễn văn Học , quận Bình Thạnh. vào một ngôi nhà gỗ mái lớp tôlẹ Ngôi nhà tuy không rộng rãi lắm, có vẽ là chật chội nhưng cách xếp đặt trong nhà ngăn nắp sạch sẽ. Bên cạnh cữa sỗ, một người đàn bà trung niên đang ngồi may vá, tiếng máy may kêu cạch cạch từng hồi, khách đã vô đến nhà mà người đàn bà cũng còn chưa haỵ Ðến khi đứa con trai từ dưới nhà bếp nghe tiếng có người lạ bước lên chào hỏi, thì người đàn bà mới quay ra cửa, nhìn thấy vợ chồng Quang mừng rỡ:
“ Trời ! ông, bà vô khi nào vậy, chắc mới vô chuyến tàu sáng naỷ”. Nhìn ra phía cữa thấy bóng Quân nên khẻ hỏi tiếp:
“ Còn anh này là….”
“ Bạn xem có nhớ ra aỉ”. Người đàn bà cố nhìn thật kỷ Quân và trong lúc đó Quân cũng nhìn thật lâu người đàn bà. Chàng quay qua phía vợ chồng Quang như dọ hỏi, nhưng rồi im lặng. Phút chốc, Thanh Thanh lên tiếng:
“ Anh Quân từ Mỹ về đó”. Người đàn bà sững sờ, chỉ thốt một câu rất nhỏ :
“ Thật là Quân sao… trời Ơùi !”. Một phút nghẹn ngào, người đàn bà đứng chết lặng. Trong khi đó, Quân cũng bàng hoàng không biết người đứng trước mặt mình là aị Như thấu hiễu sự thắc mắc của Quân, Thanh Thanh lên tiếng:
“ Anh Quân ! Anh nhìn kỹ có còn nhớ là aỉ”. Quân nhìn Thanh Thanh rồi im lặng.
“Thật sự anh không nhìn ra ai sao anh Quân”. Thanh Thanh hỏi Quân. Quân chỉ còn biết trố mắt nhìn người đàn bà. Thanh Thanh nhỏ nhẹ nói với Quân:
“Anh Quân ! Xin anh thông cảm mà tha lỗi cho vợ chồng em. Thật ra Yên Dung chưa chết, ngôi mồ mà anh thấy trên vùng kinh tế mới Gia Châm là do vợ chồng em và chú thím Dậu xếp đặt cho Yên Dung, sau khi cháu Minh chết và tai nạn xãy ra cho Yên Dung, Yên Dung đau khổ lắm, cứ muốn tự tử chứ không dám sau này gặp lại anh, vì lẽ đó mà chúng em mới bầy ra kế này, cốt là để anh về tuy có buồn nhưng không phải thương hận và khó xữ cho Yên Dung. Người đàn bà đã được chúng em trích tiền của anh gửi về, giúp đỡ chính là Yên Dung đó anh Quân. Có điều chúng em không nói tiền đó là của anh, tránh đi sự mặc cảm của Yên Dung, và từ bấy lâu nay, chúng em cũng không cho Yên Dung biết là anh ở Mỹ, nhiều lần Yên Dung có hỏi, nhưng chúng em bảo không biết”
Sau phút giây bàng hoàng, Quân hướng về người đàn bà nhỏ nhẹ:
“Yên Dung em ! Bây giờ cái gì qua, thì hãy cho nó quạ Chúng ta cũng đã già rồị Anh không ngờ ngày hôm nay còn gặp được em, anh ngỡ như mình đang nằm chiêm bao vậy, gần hai mươi năm ở nước ngoài anh vẫn sống cô độc, mỗi lần nghĩ đến em và con anh buồn chán vô cùng, anh chỉ biết lao thân vào công việc chứ không còn nghĩ gì khác. Thôi thì bây giờ em đừng buồn nữa, coi những gì đã xãy ra chỉ là tai nạn, từ nay vợ chồng chúng ta sẽ sống bên nhau cho trọn cuộc đời này”
Sau phút giây xúc động, Yên Dung lao vào người Quân ôm thật chặt và khóc nức nỡ. Bên góc nhà, cậu thanh niên con của Yên Dung đang cúi mặt ngậm ngùị Quân thoáng nhìn kẻ gọi : “ Cháu đến đây, bác hỏi chuyện này”. Cậu thanh niên bước đến bên mẹ. Quân hỏi vợ:
“ Cháu tên gì vậy em? “
“ Em đặt tên cho con em cũng là Minh, để tưởng nhớ con của chúng ta”. Nhìn cậu thanh niên, Quân nhẹ giọng:
“ Vậy thì từ nay, con hãy gọi bác là ba nghe Minh” . và chàng nói thêm:
“ Những chuyện của người lớn con cũng đừng nghĩ đến làm gì, từ nay cả nhà chúng ta có ba người như xưa”.
Ðối với Quân , sau ba mươi năm có lẽ đây là ngày vui nhất của chàng, và Yên Dung cũng vậy, phải nói hơn một phần tư thế kỷ, ngày hôm nay Yên Dung mới có nụ cười trọn vẹn. Buổi tiễn đưa Quân trở lại phương trời xa lạ, lòng Yên Dung rộn lên nỗi buồn vui lẫn lộn. Vui vì đã gặp lại chồng sau bao năm xa cách, buồn là vì phút giây gặp nhau quá ngắn ngủi, tuy rằng Quân đã bảo, khi trở về Mỹ sẽ làm giấy tờ bảo lãnh cho mẹ con nàng qua đoàn tụ với chàng, nhưng Yên Dung thấy thời gian sao dài quá.
Tiếng loa phát thanh trong phi trường đã gọi tên chàng lần thứ ba, yêu cầu Quân vào làm thủ tục giấy tờ để máy bay cất cánh, chàng mới bắt tay Quang, chào Thanh Thanh rồi hôn nhẹ vào tráng mẹ con Yên Dung, quay gót đi về phía phòng cách lỵ Thoáng quay đầu nhìn lại, bỗng chàng thấy thầy Thích Nguyên Hải đưa tay lên cao, rẽ hai ngón với dấu hình chữ V, nở nụ cười tươi chào chàng. Một phút dừng lại, chàng cũng giơ tay lên cao chào lại thầy Nguyên Hải cũng dấu hình chiến thắng.

Tiếng động cơ rít lên cao đưa Quân về BÊN KIA LÀ PHÍA MẶT TRỜI MỌC. Nơi đã un đúc Quân trở thành một chiến sĩ đấu tranh cho tự do, dân chủ. Mai này, chàng sẽ trở lại Quê hương trong niềm hân hoan của mẹ con Yên Dung và sự mừng vui của tám mươi triệu đồng bào Việt Nam đang đón đợi : Ngày sụp đổ của chế độ bạo quyền và cũng là ngày bắt đầu canh tân đất nước,

Phan Tưởng Niệm




Mục Lục


8. Duyên Số

Quang Ngọc



Vợ chồng gã xung khắc . Thật kỳ , chồng nói một câu thì vợ tức chịu không nổi nói lại hai câu . Chả phải là vợ gã muốn gã khùng lên nhưng ả ghét bị hiểu lầm , ả bao giờ cũng muốn nói cho chồng hiểu được mình nghĩ gì mới thôi . Thế mới ra lắm chuyện .

Có trách , trách ông Tơ , bà Nguyệt, xe duyên lầm cho gã và ả . Lầm gì nổi , đi mãi tới đường cùng , chả thấy ai , giờ có là hai người xấu nhất trên thế gian này , gặp nhau tại một góc trời, không còn có thể nhìn chỗ nào khác thì gã và ả vốn là của nhau nên mới gặp nhau kiểu đó , còn lạ gì trò đời nữa . Ả trách ông Trời một thời gian rồi thôi không trách nữa . Ả đâm ra tội nghiệp gã , vớ phải mình , một người đàn bà hay nói , không được bao lâu ả lại đâm ra hận gã , hận là tại gã nói ít thôi chứ có phải ả muốn nói nhiều đâu , cái vòng này cứ luẩn quẩn , riết rồi ả chả còn biết trách ai , mà trách cái miệng mình , cái đầu mình , nghe chừng như ả chưa bao giờ muốn làm điều đó , lòng ả ý tốt mà . Có ai hiểu dùm cho ả không ?

Lâu rồi , ả và gã cũng chả thân thiết gì , tại cứ hục hặc mãi chữ nghĩa mà . Nghĩ mà tội , khó lắm mới có 2 mụn con , đó là lúc quẩn , chả muốn đem vạ về nhà , ả và gã ngã vào nhau , dù chỉ một lần trong bao nhiêu năm , Trời Phật hoá thương , cho đại hai đứa bé cho ả và gã bận rộn , bớt cãi nhau cho thiên hạ đỡ tiếng ồn . Không cãi đâu có nghĩa là êm ấm . Ả chỉ bận quá nên không có thời gian mở miệng , gã chỉ mệt quá vì lo tả , sửa cho hai đứa con mà tạm quên cái tính nói nhiều của ả đi , cho ả muốn nói gì thì nói , mệt quá rồi , ông ngã vào có hai lần thì hai lần đúng hai đứa con , thật tình gã cũng công nhận gã có duyên số với ả thật . Thế không thì sao mà cứ buồn chán quá , nghĩ tới chuyện xa nhau là lại có chuyện bị níu kéo khiến gã phải suy nghĩ lại mà ở lại với ả như thế này .

Ả cũng lạ, khổ lắm , mà biết có đi đâu , như lúc chưa chồng, họ hàng anh em người ta khinh cho chứ lại . Qua đây 15 năm , ả cũng vẫn chưa bức ra được cái áo làm một người đàn bà Việt nam , sợ tai tiếng bỏ chồng . Ơ không sống được với nhau thì bỏ chớ còn để làm mắm à . Ả đâu có sợ bỏ , nhưng cũng như những người đàn bà khác , ả thấy tội cho hai đứa con , có bố mất mẹ , có mẹ mất bố , tiền phụ cấp , thăm nuôi , chán bỏ xừ . Á lên nét , cũng thấy khối người được ra phết , nhưng biết người ta có thực không , lại ôm cái gối mơ mà ngủ rồi bỏ cái hiện thực dù có phủ phàng trước mặt đi nữa , ả không nỡ . Ả cười cho suy nghĩ vu vơ của mình , nét là nét , thực là thực , ả lại pha trộn hai thứ vào , thực với chả nét . Có nói ả tửng cũng không quá lời .

Ả và gã , ngày này qua tháng nọ , không cãi nhau thấy buồn , cười với nhau mãi cũng chán . Có người dại miệng bảo , vợ chồng không cãi nhau không phải vợ chồng , đồ cái thằng hâm , thế khó chịu sau lúc cãi nhau có ai khó chịu dùm không cho này .

Ả và gã có lẽ lúc này hơn bao giờ hết tin rằng vợ chồng không là cái gì cả ngoài hai chữ Duyên và Số , ờ phải , duyên nợ và số phận ạ .

Không tin ? Không tin cũng đâu thể làm gì khác hơn đâu .

Cứ nhìn những cặp vợ chồng khác mà coi thì rõ .

Quang Ngọc




Mục Lục


9. Nhánh Cỏ Hương

Vành Khuyên



Người ta không thích em

Dạ đâu sao !

Em nói đại

Không em nói thật mà , này nhé , người ta không thích em mà em không biết thì còn gì để nói nữa đâu , em có biết ai mà ghét , em có biết ai mà giận , mà hờn , thế có dễ chịu hơn không .

Không phải , không phải là bản thân em , mà cây bút của em

Trời chuyện đó còn dễ nữa , ai ghét những gì em viết mà em không biết là ai thì của ai em cũng đọc , không dị ứng ai hết , thế có phải em được nhiều hơn mất nếu em biết ai không thích cây bút em không !

Ờ mà ý anh là sao khi anh nói với em điều đó .
Lạ lùng , người ta không thích mình, em không hỏi tại sao lại cho điều đó là không mất mát gì , vậy em không cần ai suy nghĩ đúng những điều em viết .

Dạ ai cũng có thể nghĩ thế , nhưng với riêng em , không thích cũng là một dạng của sự phê bình , không thích mà không nói đã là một sự tế nhị , thì tại sao lại phải biết ai không thích mình chớ , anh thấy có phải không ?

Cả trăm người viết , nếu mình thích cả trăm người , là điều toàn hảo , mình thích 50 người là điều tốt , mình không thích người nào cả cũng là điều hay , quan trọng hay không là cây bút mình không thích có đi được tới con đường mà mình hình dung trong đầu cuối cùng họ tính đi hay không , hay vì sự hâm mộ không còn , không tồn tại mà họ phải chạy theo thị hiếu , chạy theo những con đường của người đi trước rồi cuối cùng đầu hàng đề tài , đầu hàng chữ nghĩa hả anh .

Anh không biết , nhưng anh cũng lạ tại sao họ phản ứng hẳn với những nội dung em viết .

Cũng không sao đâu ạ .

Em cho đó rất bình thường , bình thường như cuộc sống của em , bình thường như những gì em phải đối đầu trong cuộc đời , anh xem này , hôm qua tình cờ em đọc lại những dòng thư cũ của một người bạn , em ngạc nhiên khi anh này đoán trước được con đường em đi anh ạ .

" ... con người là một sinh vật kỳ diệu luôn luôn tìm hiểu mình và tìm hiểu thế giới xung quanh và có khi suốt cả cuộuc đời họ là những chuỗi ngày tìm kiếm để tìm cho ra được chính mình , được cái " thế giới " của riêng mình . Chính vì thế mà nói chuyện với nhau thì có người thì mở đầu một câu đã trở nên gắn bó , còn có người cả đời gặp nhau mà vẫn cảm thấy chưa hiểu được hết lòng ... "


Tay này hay nhể .


Anh ta tặng em hai bài thơ , hay lắm , anh xem đi

Dòng Sông Mắt Em

Ðâu rồi Cái trong trẻo mắt em
Như dòng sông uống nắng
Ðã tan thành mây hoa

Hồi đó
Anh là thằng bé con
Thích cởi trần đi tắm
Như chú cá biệt tăm
Lặn dưới dòng mơ mộng
Bây giờ
Dòng sông không chảy ngược
Mắt em vờ trôi xuôi
Buồn vui như men rượu
Em đã say hương đời

Dòng sông không tính tuổi
Anh đã ngoài hai mươi
Mỗi sáng nhảy hồ bơi
Mà vẫn thường chết đuối

Có lẽ
Dòng sông là không đáy
Dòng sông là không nguồn
Dòng sông là huyền thoại
Anh vẫn hoài trẻ con

Ðâu rồi
Dòng sông mắt em .

Hắn bảo bài thơ này hắn đã gửi báo nhưng không được đăng anh ạ .

Mà em thấy hắn là thằng hâm , anh xem cái đoạn " Thích cởi trần đi tắm " , ai tắm không cởi trần bao giờ , lúc đó em không thích hắn , cho hắn thằng hâm, em có hiểu hết những gì hắn muốn nói qua bài thơ đó đâu . Nhưng sau này hắn lại là người có lòng nhất với em đấy .

Lúc đã lập gia đình , anh ta an ủi em khi con mất , biết em thích viết và đọc , gửi qua cho em bao nhiêu là sách khi giao lưu văn hoá giữa Mỹ và VN chưa nhiều , em quý đống sách anh ấy tặng lắm .

Có lần em bực khi anh ta hỏi em , " chồng em là kỹ sư à ? "

Em bảo không và cắc cớ " kỹ sư hay không thì có gì khác nhau ? "

Anh ta bảo " Khác chứ , người như em không có dễ mà hiểu được , anh sợ em phải khổ khi những suy nghĩ em có nếu không bị lãng quên mà tệ hơn bị chà đạp thì tội cho em lắm "

Hắn không hâm như em nghĩ ...

Em bảo anh ta , " thế cũng xong, tự em với những suy nghĩ đó phức tạp đủ rồi , người cũng hiểu những suy nghĩ như vậy , e rằng phức tạp lên gấp đôi "

Cô này lắm chuyện thật .

bài thơ thứ hai đây anh bài Nhánh Cỏ Hương em thích nhất
Trong suốt là giọt sương
Dịu mềm như ngọt gió
Ấm nồng tia nắng đỏ
Em là nhánh cỏ hương

Buổi sáng anh đến trường
Giọt sương rơi trên áo
Buổi chiều anh đi dạo
Ngọn gió choàng qua vai

Buổi trưa anh nằm ngủ
Tia nắng đậu hiên ngoài
Tình yêu anh xanh mãi
Em là nhánh cỏ hương

Thời gian không trở lại
Với dòng sông hai lần
Tình yêu là đôi cánh
Vỗ ngược chiều tháng năm .

Anh ta muốn nói gì đấy anh nhỉ , em không hiểu , cái bài thơ cứ sao sao ấy , nhưng em thích anh ta ví con gái là nhánh cỏ hương vì đúng như vậy , yếu mềm và hương tượng cho cái nghĩa hay hay làm sao đó .

Hắn nhất định không hâm như em nghĩ .
Anh ta đã xa rất xa rồi .
Hắn không xa trong tâm lòng em .
Tôi chớp mắt liên tục , nhận ra nãy giờ mãi phủ nhận
mọi điều , tôi không thể phủ nhận hai bài thơ đó , đúng là rất gần và thật gần , có thể nói , bên cạnh trái tim đang đập của tôi , dù tôi đã có lúc không thích , không ưa và có thể nói là tôi đã từng không hiểu nổi hai bài thơ đó nói gì .

Một tình yêu đã xa hay sao !

Vành Khuyên




Mục Lục


10. Bí và Hạnh Phúc

Niệm Nhiên



Buổi chiều tháng Năm trời nắng tươi mịn, không khí dịu mát, bọn trẻ trong khu xóm tủa ra đường chơi đùa . Bí xin tôi cho nhóc con đi đạp xe với mấy tên bạn chung xóm .

Trước khi Bí đẩy chiếc xe đạp ra khỏ nhà, tôi vẫn không quên dặn dò con phải cẩn thận và không nên đạp xe đi xa quá . Bí nhẽo miệng cười, quay lại nói , ngôn ngữ "ba rọi"

- Dạ con biết. Mẹ always say the same thing, con nhớ luôn á.
Tôi cười vì con nhận ra điều lẩm cẩm của mình, nhưng cũng chống chế giải thích
- Tại vì mẹ lo cho Bí, mẹ chỉ có mổi một mình Bí thôi . Bí giả vờ suy tư như người lớn rồi gật gù nói
- Mẹ đừng kêu con là Bí nữa nha , my friends asked me about my nickname Bí , con nói là pumpkin. Tụi nói chọc con là Halloween Pumpkin, I really don't like to be teased . Tên của con là Kelvin hổng phải Bí, hổng phải Pumpkin .

Vừa lúc mấy cậu nhỏ cũng vừa tới, bọn chúng hối Bí đi theo nhóm . Không chờ tôi trả lời hay phân bua gì thêm về cái tên Bí của mình, chú nhóc leo gọn lên chiếc xe đạp . Ðưa người về phía trước, Bí cong lưng cố lấy trớn đạp lên con dốc trước ngõ nhà, và nhập vào đám bạn .

Còn lại một mình, tôi chợt mỉm cười vì cái tên "cúng cơm" của con . Tôi nhớ lúc ấy, khi vừa biết vợ chồng sắp sinh con, Thức, ba của Bí, cứ muốn sinh một đứa con trai, nên không thiết tha gì khi tôi hỏi ý kiến về vài cái tên định chọn cho con gái, anh ấy nói
- Anh để em toàn quyền quyết định tên con gái, nhưng nếu sinh con là trai thì anh sẽ đặc tên là Kelvin .
Thức giải thích
- Tên Kelvin khi phát âm theo tiếng Việt giông giống Kế Vinh, ông bà Nội không biết tiếng Anh thì gọi cháu bằng tên Việt là Kế Vinh. Em nghĩ sao ?
Tôi không những đồng ý, mà còn rất khâm phục vì Thức suy nghĩ hay, dung hoà, lại rất chi tiết .

Nhưng chuyện là vầy, khi chú bé Kế Vinh khoảng bảy, tám tháng gì đó, nhóc con rất biếng ăn . Tôi mua đủ loại thức ăn làm sẵn cho trẻ sơ sinh ở chợ, món nào nhóc cũng không chịu ăn. Nghe bạn bè bày bảo, tôi chịu khó nấu cháo thịt với vài món rau quả khác, rồi xay nhiễn cho con ăn, vậy mà chú nhóc vẫn không thèm ăn . Bé Kế Vinh gầy gò vì kén ăn quá! Một hôm, nấu canh bí rợ cho buổi cơm chiều, sẵn đó tôi lấy một vài miếng bí tán nhiễn cho con ăn thử. Lạ, bé con hưởng ứng ngay . Từ đấy, khám phá ra được khẩu vị của con, cứ vậy mà tôi nấu món cháo thịt hầm với carrot, và bí rợ . Nấu nhừ, sau đó tôi lại cẩn thận xay nhiễn . Món ăn trán miệng cho con, tôi lại nấu khoai lang tán nhiễn, cho thêm chút tí ti đường. Anh nhóc khoái khẩu ăn nhiều và trông mủm mỉm ra . Thấy con ăn được tôi mừng, nên siêng năng làm món hợp khẩu của thằng bé .

Ðiều làm tôi lo là càng để ý thì tôi thấy da của còn ngày càng vàng . Tôi sợ con bị bệnh gan, nên đưa thằng bé đi bác sĩ . Khám bé con xong, ông bác sĩ mỉm cười hỏi tôi thường ngày cho con ăn những gì ? Sau khi tôi liệt kê nào là carrot, khoai lang, bí rợ, thì ông ấy bậc cười thành tiếng . Ngay lúc ấy tôi cũng vỡ lẽ ra rằng trong carrot, khoai lang, bí rợ đều có nhiều sắc tố vàng, vì cơ thể trẻ sơ sinh hệ tiêu hóa còn yếu không lọc được hết sắc tố vàng ấy, nên da của nhóc con cũng dần dần vàng . Vị bác sĩ già vui tính gọi đùa nhóc con là pumpkin boy . Ông còn đùa thêm rằng cũng may thằng bé không thích ăn đậu sweet peas, chứ nếu có thì tôi lại nấu sweet peas đủ món, và bé con sẽ xanh như anh chàng Incredible Hulk .

Từ đó tên Kelvin hay Kế Vinh gì cũng đã bị tôi thay thế bằng cái tên Bí, dễ thương, dù bao lần Thức không đồng ý khi tôi âu yếm gọi con như vậy .

Mới ngày nào Bí nhỏ bé trong vòng tay tôi nâng niu bồng bế . Tôi nhớ những ngày đầu đời, Bí bé sơ sinh nằm gọn trong chiếc khăn cuộn tròn quanh người, ngủ vùi trong một cánh tay bế của mẹ . Khi lớn hơn tí nữa, khoảng hai tuổi, Bí vẫn vòi vỉnh đòi đi "tàu bay" bằng cách nằm xoãi người, thẳng hai chân và dang hai tay như cánh máy bay, Bí nằm gọn trên đôi cánh tay của tôi, và tôi đong đưa Bí từ phải sang trái, thoạt đầu nhanh và cao như đang bay, dần dần chậm thấp và đáp lại như máy bay hạ cánh khi đôi tay tôi mỏi nhừ . Vậy mà, bây giờ Bí đã mười một, mười hai tuổi rồi . Anh chàng cao vượt hơn mẹ hơn cả cái đầu . Chợt bùi ngùi, tôi nhận biết thời gian trôi quá nhanh . Tôi nghe chút tiếc nuối, nhưng không ai có thể nắm giữ được tháng ngày đừng vụt qua, đừng trôi đi . Có lẻ cách nắm giữ thời gian hữu hiệu nhất là sống mổi ngày trong sự tĩnh thức và đối với mọi người bằng trọn vẹn tấm lòng của mình . Tôi nghe hạnh phúc len nhẹ vào tâm . Cảm ơn đời này cho tôi có Bí để tôi biết trân quý cuộc sống, biết ý nghiã sự tận tụy hy sinh của bậc sinh thành để tôi thương quý ba mẹ của tôi hơn . Và, nhất là Bí đã giúp tôi thật sự biết yêu , một tình yêu hoàn toàn vô điều kiện .

Niệm Nhiên




Mục Lục


11. Những Bài Thơ Tôn Thất Phú Sĩ

Doãn Quốc Sỹ



Một hôm nọ nhà thơ Việt Hải có gửi cho tôi dăm bài thơ tiêu biểu cho nhà thơ Tôn Thất Phú Sĩ, mà tôi xin đề tắt là TTPS. Tôi đọc thơ TTPS hôm nay, tôi chạnh lòng nhớ về nhiều năm về trước đây khi anh em bạn bè chúng tôi sinh hoạt thơ văn tại Hà Nội trước 54 và tại Sài Gòn trước 75 .

"Biển" là tên của bài thơ mà nhà thơ của chân trời Ba Lê thơ mộng đã sáng tác để kể về giấc mộng hải hồ của người sĩ quan hải quân VNCH, khi anh vượt muôn trùng, băng đại dương. Dưới đáy sâu của lòng đại dương anh nhắn nhủ ước mơ của mình:
"Biển ơi ! cho ta giòng máu
Giang hồ từ thuỡ me sinh
Ta đi biển xanh màu nước
Ta về biển trắng bạc tình
Trùng dương cho ta gởi lại
Người tình yêu dấu ta thương"

Sự bóng bẩy của thơ TTPS làm tôi liên tưởng đến thơ của Vũ Ðình Liên trong bài "Chi phôi":
"Ở chốn đường khơi ta tưởng đến em
Xa xôi nên lại nhớ nhung thêm
Than ôi phiêu dạt đời mưa gió
Mà chút tình xưa vẫn chẳng quên"
Thơ của Thế Lữ cũng linh động không kém qua những vần thơ xao xuyến:
"Làn gió qua hiên vi vu thổi
Hồn xuân nhuốm thảm chí phiêu lưu
Than ôi ! Mê mãi theo mây nước
Ðâu phải lòng ta chẳng biết yêu"

Nhà thơ R. W. Raymond đặt bài thơ "Bài ca" (Song), tôi phỏng dịch lời Việt như sau, chú thích (1):
"Anh sẽ yêu em vương tình trong gió
Như tình vũ bão, như bền duyên
Ðể xóa tan dâu bể án đường
Ðể không màng lý lẽ đúng sai ?
Dẫu đam mê cơn gió tình trường
Chẳng bao giờ vĩnh viễn yêu đương.

Nhà thơ TTPS của vùng trời đại dương biển mộng cho những sóng gió giữa biển cả trùng dương hay tình cô gái nhỏ dỗi hờn, sự đam mê hải hồ gắng liền với sự thủy chung của người em nhỏ ở hậu phương . Phải chăng tình yêu đông tây của 2 nhà thơ Raymond và TTPS có những điểm tương đồng. TTPS với bài "Trăm Năm Anh Theo Biển":

"Trăm năm anh theo biển
Trăm năm em theo anh
Biển dỗi hờn dậy sóng
Em dỗi hờn lặng thinh

Anh yêu ngàn khơi rộng
Có tấm lòng bao dung
Người yêu anh bé nhỏ
Thương mến màu thuỷ chung"

Nhà thơ Quang Dũng trong bài "Trắc Ẩn" cho thấy sự nhớ nhung giữa hai ngườị Những câu thơ nặng trĩu niềm nhung nhớ như:
"Chiều ấy em về thương nhớ ai ?
Tôi chắc đường đi đã rất dài
Tim tím chiều hôm lên bóng núi
Dọc đường mờ những cánh hoa phaị"

Trong nỗi niềm như nhà thơ Quang Dũng, TTPS ẩn chứa tâm sự trong bài thơ "Anh Ở Bên Này Tuy Rất Xa", nhà thơ TTPS diễn tả ý thơ khi hướng về bên kia bờ đại dương trong năm tháng dài mà lòng cô liêu:

"Anh ở bên này tuy rất xa
Gởi về em gái rất thật thà
Lời thương yêu đó... không dối trá
Từ trái tim hồng anh nói ra

Anh ở bên này tuy rất xa
Bắc thang lên hỏi ánh trăng già
Trăng bao nhiêu tuổi đời cô tịch
Trăng vẫn là trăng riêng của tạ"

Khi lòng trao hẹn ước vĩnh viẽn, nhà thơ Tế Hanh phác họa bài thơ "Tình Yêu và Vĩnh Viễn" mà lời như sau:
"Anh gặp em trong thời biến chuyển
Vừa ban mai sao đã ban chiều ?
Anh biết dù tình yêu không vĩnh viễn
Vẫn đi tìm vĩnh viễn của tình yêụ"

Kế tiếp là bài thơ "Tình Không Biên Giới Không Thời Gian", TTPS nói đến sự kiện đi tìm một tình yêu thiên thu, tựa như nhà thơ Tế Hanh đi tìm một tình yêu vĩnh viễn trong thơ của ông:
"Từ thuở xa xưa đã biết là:
Tình yêu không có tuổi phôi pha
Vừa 16 tình đầu thổn thức
Ðến 60 tim vẫn thiết tha
Ban sơ 16 xinh như mộng
Hai đứa vu vơ bắt bướm hồng
60 rồi trái tim rướm máu
Tình buồn rơi trên lá sầu đông
Dù em có hận hay oán trách
Tình xưa vẫn không chết đâu em
Có gì xa vắng từ sâu thẳm
Thiên thu muôn kiếp vẫn đi tìm."

Mùa xuân về trong thơ Hồ Dzếnh có tình cho nhau trong chờ đợi, mong nhớ suốt thiên thu:
"Anh chờ đợi em suốt bấy lâu
Nhủ thầm: Xuân thắm chả phai đâu
Một khi xuân thắm là mong nhớ
Và cả thiên thu: vĩnh viễn sầụ"

Trong bài "Mùa Xuân Năm Ngoái" TTPS gửi tặng người tình của anh hoa mùa xuân từ năm rồi đến năm nay trong chờ đợi của mộng tình bỏ neo ngóng trông, ý không xa thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh là bao:

"Với tay hái nụ hoa trên cành
Gởi tặng về anh một mùa xuân
Mùa xuân năm ngoái trong như ngọc
Mùa xuân này sao thấy bâng khuâng
... Nghe như chim hót thoáng qua đèo
Một mảnh trời xuân rơi rớt theo
Giọt sương c?òn đọng trên môi mặn
Mà ngỡ tì´nh anh đang bỏ neo !"

Thi sĩ Richard M. Milner của Vương quốc Anh trong bài thơ "Only We", mà tôi phỏng tác ra bài Việt ngữ là "Chỉ Hai Chúng Mình” (2):

"Môi thương ánh mắt chúng mình
Yêu tình sống chết bóng hình có nhau
Em, anh dẫu có thế nào
Ðôi ta duyên nợ tình trao hai ngườị"

Như ý tưởng của Milner, nhà thơ TTPS ngợi ca tình yêu có những mặn nồng có nhaụ Bài "Khi Em Nằm Ngủ" là một giấc ngủ như mơ, nét hồn nhiên khiến tác giả bên đi bao ưu phiền, như thế những ý nghĩ của những vần thơ đông tây có những giá trị chung trong cuộc sống:

"Một ít buồn trong giấc ngủ say
Bỗng dưng thoáng thấy mắt em cười
Như có điều chi em muốn nói
Thẹn thùng đôi má ửng hồng tươi
Có thể em vừa nghĩ đến ai
Anh đi rón rén đến bên giường
Sợ động hồn em lay tỉnh mộng
Hôn nhẹ bờ môi một chút thương
Ngủ đi, em ngủ rất hồn nhiên
Cho anh xin hết những ưu phiền
Hương đêm thoang thoảng mùi hoa dại
Vì ai em phải cứ nằm mợ"

Thơ của Tôn Thật Phú Sĩ mang nét dịu dàng, lời thơ trung thực, mượt mà. Nếu phải đi tìm sự tương đồng về giá trị đông tây, thơ TTPS dồi dào không kém. Và nếu phải đọc những vần thơ tiền chiến và thơ của TTPS thì thơ anh có những nồng nàn chẳng kém người đi trước.

Tôi thành thực chia vui cùng anh cho hình thành tuyển tập những bài thơ Tôn Thất Phú Sĩ .
Houston, 24/05/05

Chú thích:

(1): bài thơ “Song:
Shall l love you like the wind, love,
That is fierce and strong,
That sweeps all the barriers from its path
And reeks not right or wrong?
The passion of the wind, love,
Can never last for long.


RW.. Raymond
(2): bài thơ “Only We”
Lip on lip, and eye to eye
Love to love, we live, we die
No more thou, and no more I,
We, and only we!

Richard M. Milner

Doãn Quốc Sỹ




Mục Lục


12. Tự Tình Vu Vơ

Hoa Bằng Lăng



Em đang vu vơ tự hỏi với lòng mình lúc này anh đang ở đâủ Anh có còn nhớ đến em không hay đang vui với một thoảng tình cờ mới bên mình..

Ngày anh báo anh mới quen một người bạn mới, em không biết tại sao mình buồn bâng quợ Anh nói người ấy chỉ là bạn cùng nghe trò chuyện khi anh đi công tác xa nhà nhưng em vẫn cảm thấy không an lòng.Em thầm trách anh là kẻ không chung tình. Em giận dỗi không thèm email cho anh nữạ Có phải chăng em vẫn là em của cô gái đôi mươi ngày ấy khi mà chúng ta chẳng thể có nhau…..

Ðã bao nhiêu năm rồi kể từ ngày chúng ta biết nhau anh nhỉ. Hình như giờ này con tim chúng ta không còn những vu vơ xao xuyến khi nghĩ đến nhau nữa phải không anh?Thời gian đã làm phôi pha những gì gọi là một thời để nhớ. Bởi không thể nào chăng nước mắt cứ mãi hoen mi người….Biết là như thế nhưng sao hôm nay con tim em lại bất chợt nghĩ về anh khi lang thang dưới cơn mưa buổi sáng. 45 phút nghĩ về một người đã từng làm con tim ta xao xuyến có lẽ không nhiềụ Nhưng có lẽ đối với em, khoảng thời gian sáng nay thật là nhiềụ Một thoáng tự tình vu vơ khi tâm hồn mình buồn tênh…

Ðã qua rồi những ngày em mong chờ phone anh. Mỗi lần thấy số phone lạ trên máy mình em lại bâng quơ chợt nghĩ không biết có phải anh gọi đến. Em thật là ngốc nghếch phải không anh? Em cứ nghĩ cái tình cờ thoảng qua ở tuổi đôi mươi ấy sẽ theo bụi thời gian mà qua đị Em không biết liệu mình còn có nhớ đến anh khi mái tóc em cũng lấm tấm điểm bạc giống anh như bây giờ không nữạ Có lẽ chúng ta không biết trước được chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai đâu nhỉ.Chỉ biết rằng khi lòng mình tĩnh lặng, em chợt nhớ đến anh..Nhớ giọng nói pha cách đầy tinh nghịch của anh. Nhớ cái điệu bộ năn nỉ rối rít của anh khi em giận dỗị Nhớ nỗi lòng ấm ức của anh khi anh hờn dỗi nói anh chưa bao giờ được hôn em một lần.Tất cả chỉ là nỗi nhớ mà thôi phải không anh? Bởi sau khi cơn mưa tạnh, chúng ta sẽ không thuộc về quá khứ nữạ Một thoảng vu vơ tình cờ cũng sẽ biến mất. Một thoảng ngây ngô nỗi nhớ dại khờ sẽ hoàn toàn tan biến vào cõi hư vộ.Chỉ còn lại em và anh của ngày hôm nay mà thôi anh nhỉ? Ngậm ngùi thay…

Hoa Bằng Lăng




Mục Lục


13. Tiếng Khóc Nỉ Non

Ðỗ Thành



Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Khi chị đưa anh đi rồi, không phải chị chỉ khóc nỉ non như lời ca dao đề cập mà thực sự là chị khóc tối mày tối mặt, khóc đến nỗi tưởng có bao nhiêu nước mắt là đều được tuôn ra sạch.

Vậy mà chị vẫn chưa thấy bằng lòng. Bởi vì giá như chị có thể đi thay cho anh được thì chị đã xin giành lấy sự khổ thân ấy cho mình, để anh được ở nhà. Ðàn ông, đàn ang, dù có sống đơn độc một thân, vẫn dễ chịu hơn cái cảnh người đàn bà vò võ trong đêm.

Ðiều này chị đã thỏ thẻ thưa với anh suốt cả tuần dài trước ngày ly biệt, những đêm chồng vợ nằm bên nhau, tay để nhau gối đầu, miệng kề nhau nhận từng hơi thở yêu, nhưng anh đã cố cản chị.

- Anh hiểu lòng dạ em rất mực thương yêu anh, song xưa nay có bao giờ chuyện chiến chinh để giới quần thoa gánh vác. Dường như khi cao xanh sinh ra người đàn ông và người đàn bà, ông đã ngắm chọn và trao vào tay mỗi người một trách vụ. Em phải vui để anh yên dạ lên đường. Cuộc sống vốn bấp bênh, nhưng đâu phải ai ra đi cũng là ngày vĩnh biệt. Em phải tin tưởng là anh bước chân đi nhất định sẽ có ngày trở về.

Những ngày cuối bên nhau, chị đã dành hết tình yêu cho anh. Món ngon vật lạ nào chị cũng chăm lo cho anh, ép anh phải ăn thật nhiều vàọ Anh nôn nao trước ngày giã biệt, còn lòng dạ nào nghĩ đến món ăn, nhưng chị vừa nhu vừa cương, nài nỉ anh, khiến anh cũng chẳng thể từ chối.

Chị bảo : mai này trong gió cát, anh có muốn ăn ngon, ngủ yên cũng chẳng có đâu mà hưởng. Bây giờ anh còn ở nhà, hãy nghe em tẩm bổ để khi đói lòng nguy hiểm, thân có sút giảm đi cũng còn gắng gượng sống được chờ ngày về.

Chị nói năng khéo quá. Anh đã từng chết sững vì những lời ve vuốt đó. Cho nên buồn thì buồn dấu kín trong lòng, còn trước chị anh vẫn gắng làm vui để chị còn tin tưởng. Thế là anh ra đị Tiễn nhau không có một sân ga, một con tàu với hồi còi ly biệt mà sao cái sầu giăng dài như hàng bốn năm chuyến tàu kết chung lại với nhaụ Chị có cảm tưởng như đi hoài vẫn không dứt, mà bước chân càng xa thì nỗi buồn càng nhằng nhịt tơ vương. Tiễn nhau không qua sông mà sao tiếng chèo như khua rộn trong lòng người đưa tiễn để thấy con sóng cứ dềnh lên mãi mãi không ngừng. Chị đưa cho anh cánh hoa bứt bên đường, anh cầm lấy, thiết tha đưa lên mũi ngửi rồi cất vào túi áo trong ngay cạnh trái tim.

Anh bảo : cánh hoa này sẽ suốt ngày theo anh để luôn thấy em lúc nào cũng bên cạnh. Chỉ cần nói thế, chị đã thấy mắt cay giọt lệ tình trường. Cầm tay nhau lần chót, truyền hơi ấm cho nhau, giá như nơi tiễn đưa đừng đông người, có lẽ anh chị đã cúi xuống hôn nhau cái hôn để đời hôm đó. *

Những ngày còn có nhau, còn bên nhau, đi ra đi vào lúc nào cũng thấy mặt. Cần nói, có người nói; cần nghe, có người nghe, ríu ra ríu rít như đôi chim trên cành, như đôi cá dưới aọ Chỉ cần một người cất tiếng “ mình ơi “ là người kia sẵn sàng đáp lạị Ðói no có nhau, ngọt bùi chia xẻ, ngày luôn chấp chới nắng vàng, đêm luôn vẹn tròn giấc mộng.

Dạo ấy chị đã nghĩ giá như anh có việc phải vắng nhà, một ngày, một tuần hay một tháng thì chắc sự cô đơn cũng không kịp bén rễ trong mong đợi của nhaụ Dạo ấy anh đã nghĩ giá như chị có cần về bên gia đình cha mẹ để lo tròn chữ hiếu, cho là một khắc, một giờ hay kéo dài đến mấy tháng, mấy năm thì sầu thương vẫn chưa làm lay chuyển được lòng anh.

Bây giờ anh đi rồi, chị trở về một mình mới thấy cảnh nhà vắng hiu vắng hắt. Mới đó mà chị có cảm tưởng như anh xa cách lâu rồị Ở một góc nhà này anh hay ngồi nhìn mỗi độ mưa rơị Những giọt lá rỏ dài trên lá, chạy loăn xoăn theo mái ranh ngoàị Ở chỗ kia anh vẫn thường chờ sáng lên ngày trước. Oâng mặt trời chưa lên thì anh đã ra khỏi giấc êm.

Bây giờ đi ra đi vô chỉ còn mỗi một mình, chị thấy như căn nhà rộng thêm và thâm u lạnh lẽọ Cái bàn kia mỗi tối anh chong đèn ngồi đọc sách khuya, chị âu yếm khuyên anh đi nghỉ sớm. Rồi anh đã đọc cho chị nghe tích truyện của ngườị Giọng anh bổng trầm như gửi tâm tư mình vào lời tác giả. Vách phên kia anh dán những chót thuốc hút xong, những dấu tích của một đời bình an nhẫn nhục.

Bây giờ anh xa nhà, xác thân anh đã ở ngoài biên ải, nhưng bóng hình anh không tan nổi trong nhớ thương. Chị ngước nhìn lên trính nhà như dõi tìm một câu trả lời về chốn nơi anh đang ở. Vui buồn nào, mong đợi nào, nhớ nhung nào ủ ấp trong anh.

Bây giờ, bây giờ, những cái bây giờ ấy như những mũi kim đâm sâu vào da thịt chị. Từng mảnh âu lo quyện xoáy tâm hồn. Chị thở dài một mình, thầm thốt lên một câu “ giá lúc này anh còn ở nhà “ để rồi thấy má hồng lên e thẹn

* Những giờ khắc trấn thủ lưu đồn, anh như mụ đi vì đợi chờ khắc khoảị Những lúc đối mặt với hiểm nguy, anh tạm quên tất cả rủi rọ Nhưng sau đó khi giặc đã tan, kèn thúc quân ngưng thổi, khi chỉ còn một mình đối mặt với mình, anh vẫn thầm tự hỏi : lỡ khi mình không về… rồi không dám nghĩ tiếp nữa.

Ngoài biên khu tin đi tin lại chẳng dễ gì có đều đặn và nhanh chóng. Ngày càng thêm dài, đêm càng thêm đậm sầu mong. Ðồng đội mới bên nhau chợt vắng đi người này người nọ. Ngoài đầu cầu đã thêm mấy nấm mộ nông, người nằm xuống lẻ loi da diết. Anh nghĩ đến một mai khi hòa bình, liệu ai sẽ nhớ đem những người trên kia về nơi cố quận.

Ðã bao nhiêu lần, anh định viết cho chị lá thự Nhưng chỉ mới dở giấy ra thôi mắt đã nhòa ngấn lệ. Rồi suốt đời thư vẫn chỉ có mỗi chữ “ Em yêu “ để rồi không sao được viết tiếp. Kể nỗi gì bây giờ với người đang chờ, đang đợi phía sau ? Chẳng lẽ kể với nhau về những ngày “ chém tre đẵn gỗ trên ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai “ để rồi đã không ủi an được cho nhau mà còn làm đắm đuối thêm đau xót.

Cho nên anh cứ hẹn, hẹn để rồi không bao giờ thực hiện. Còn chị, cứ chờ, chờ mãi vẫn không có tin. Người ở xa lòng lúc nào cũng như lửa đốt, người ở nhà đứng ngồi chẳng lúc nào yên. Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông , nhớ thương, mong đợi càng ngày càng thêm ngấu như dưa dặm muốị Cơn mưa nào, trận gió nào cũng thấy thấm lạnh và lo lắng cho nhaụ

Vậy rồi cũng có một lần thư anh đến. Chị mừng như bắt được món tiền. Chị nôn lắm, nhưng vẫn phải cố nén, chải lại mớ tóc đã bỏ quên, lau lại khuôn mặt vốn đã hững hờ phế mặc. Anh đi rồi còn ai kẻ ngắm người trông, nay thì tin anh đến, chị phải sửa soạn để đón nhận tâm tình anh gửi chị.

Mình. Thư này anh viết cho mình giữa một đêm vừa ngưng tiếng súng. Nhiều người trong bọn anh đã nằm xuống đâu đâỵ Anh cay đắng khi thấy mỗi ngày lại vắng thêm vài đồng độị Giá bây giờ anh có mặt tại nhà, anh sẽ kể cho mình những gian lao mà cuộc đời dành cho người lính chiến. Cơm chẳng kịp ăn, nước không dịp uống, vậy mà hiểm nguy vẫn luôn rình rập bên mình.

Chiến tranh chẳng có gì là nhân đạọ Mọi người được tập tành, cổ vũ, đôn đốc phải lấy bạo lực để chiếm trọn vinh quang. Trong đầu mỗi người đều được ém vào câu : mình không giết nó, nó sẽ giết mình. Thế nhưng nó đây là ai, mình nhỉ, hay chỉ là những người cùng chung một bọc, cùng một tổ tiên vốn được sinh rạ Vậy mà khi cần chọn lựa giết nhau, họ bạo tàn hơn giặc khách.

Mình phải thấy nhiều anh em chết mà mặt không còn nguyên hình trạng. Máu vãi vương khắp chốn, khắp vùng. Ðến cỏ cây cũng còn vương chút thịt nát bét vấy lên. Ðêm khét lẹt mùi đạn thuốc, đêm lập lòe tiếng pháo dội inh taị Có lẽ nơi bọn anh ở xa quá nên thành phố cơ hồ chẳng nghe, chẳng thấy, chẳng biết gì ráo trọị Giờ này chắc là các rạp hát vẫn đông, các tụ điểm người xem vẫn chen chân vào mua vé, những vũ trường vẫn dồn dập bước chân. Ðiệu luân vũ vẫn dìu nhau vào mộng tình giả dốị Lỡ hôm nào có người lính về thăm nhà, sự hiện diện của họ có khi còn bị dè bĩu hay chỉ được đón nhận một cách hững hờ.

Anh không trách nỗi hẩm hiu của mình. Anh không phân bì với nỗi may của họ hay nỗi lo của mình. Nhưng anh vẫn hỏi rằng liệu mảnh đất chung này chỉ là của những người cầm súng như bọn anh. Liệu đến khi đất chẳng còn giữ được thì tất cả chúng ta còn có dịp để sống như đang sống được chăng ?

Cho nên anh rất thương và tội cho mình. Tuổi xuân đang bừng lên đành phải nén lòng nín chịụ Một trăm người phụ nữ chồng đi chiến chinh đều cảm thấy như chết nửa bên lòng. Cho nên anh vẫn nhớ ngày tiễn chân anh, mình vẫn chẳng nói kể từ phút đó mình sẽ luôn luôn là thân cò gánh gạo bờ sông. Mình không nói hết câu song anh đã biết mình sẽ ôm hoài tiếng khóc nỉ non với cõi lòng nát tan chờ đợị Anh chịu ơn mình, người thương yêu anh nhất đời mà vẫn hi sinh để anh được mạnh dạn bước đị Anh xin hứa với mình sẽ cố sống còn để trở về với mình khi yên cuộc.

Cánh hoa mình cho anh, bây giờ đã hoàn toàn héo úạ Ðã bao lần anh lợi dụng lúc tiếng súng ngưng đem hoa đặt lên ụ phòng thủ phơi cho khô nỏ. Mấy đứa em nhìn anh tủm tỉm cười pha trò ông thầy lãng mạn tuyệt chiêụ Vâng, nếu không thế làm sao anh trụ nổị Bây giờ cánh hoa đó vẫn ở trong túi anh, cạnh trái tim lúc nào cũng hồi hộp đập nhịp. Anh đã cẩn thận tìm mảnh poncho rách để gói cánh hoa, cố giữ cho nó vẹn toàn. Vì thấy hoa là anh thấy mình. Vì thấy hoa là anh nhớ đến những ngày tình yêu còn nóng bỏng.

Lá thư đang tuôn ào ào một mạch, bỗng khựng lạị Chỉ còn vớt vát đọc thêm được một câu : súng lại nổ lên rồi, để anh lo tròn trách nhiêm trước đã. Và hết, hết thật rồi, Trong đầu chị lúc này chỉ còn nghe vọng lại tiếng hò hét, tiếng gươm dao sắt máụ Và những tiếng nổ long trời điếc óc, những tiếng nổ vật ngã cây rừng, những hất tung thịt xương người khắp chốn. Chị lẳng lặng chắp tay cầu nguyện, xin cho anh được bình an, xin cho anh được vẹn toàn, xin cho anh được lành lặn. Rồi nước mắt cứ trào ra, trào ra, hết đợt này sang đợt khác.

Giữa canh khuya, mọi hoạt động như ngưng đọng. Chị nghe rõ tiếng bước chân rón rén của dòng thời gian nén đọng đi quạ Ðêm sâu lắng, đêm mênh mông, đêm hồi hộp, đêm vô cùng. Có tiếng một con cò bay lạc trong đêm cất tiếng kêu bé quá. Chợt dưng chị thấy mình là một thân cò yếu ớt đang cố gánh gạo vượt đèo cao, núi thẳm đi nuôi chồng.

Cái cò lặn lội bờ sông, gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. Và thôi, chẳng còn nghe gì nữa…

Ðỗ Thành




Mục Lục


III . Ngàn Lời Ca (kỳ 30)__________________________________________

30 . Truyện Kiều Và Tôi

Nhạc Sĩ Phạm Duy



Ðôi dòng tiểu sử:
· Tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1921 tại phố Hàng Cót, Hà Nộị
· Ông sinh ra trong một gia đình "làm văn học và trọng văn học" (theo Tạ Tỵ), là con thứ 10 của nhà văn trào phúng xã hội Phạm Duy Tốn. Các anh của ông, (Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng) đều có viết văn, soạn nhạc.
· Thuở nhỏ, Phạm Duy từng theo học các trường Trung học Thăng Long, Cao Ðẳng Mỹ Thuật, Kỹ Nghệ Thực Hành; tự học nhạc năm 1940 và viết ca khúc đầu tay Cô Hái Mơ năm 1942.
· Ông gia nhập đoàn hát lưu động năm 1943, đi hát từ Nam chí Bắc, phổ biến tân nhạc, sau đó tham gia kháng chiến với nhiệm vụ sáng tác và phổ biến kháng chiến cạ Ông cũng đã khởi xướng phong trào phục hồi và phát triển dân ca trong giai đoạn nàỵ Năm 1949, ông kết hôn với ca sĩ Thái Hằng.
· Phạm Duy cùng gia đình vợ vào Nam năm 1951, thành lập ban hợp ca Thăng Long với những thành viên chính là Thái Hằng cùng các anh em trong nhà: Hoài Bắc Phạm Ðình Chương, Hoài Trung Phạm Ðình Viêm và Thái Thanh. Tiếp tục phục hồi và phát triển dân cạ
· Ði Pháp để tìm hiểu và bổ túc thêm nhạc lý Tây Phương năm 1954-1955; ông vừa nhận sự chỉ dạy của nhạc sĩ Robert Lopez, vừa làm bàng thính viên tại Institut de Musicologie, Paris, vừa khởi sự sáng tác trường cạ
· Từ năm 1956 đến nay, ông tiếp tục sáng tác đều đặn: tâm ca, vỉa hè ca, tục ca, đạo ca, hoan ca, và dĩ nhiên tình ca lần lượt ra đờị
· Tháng 4 năm 1975, Phạm Duy cùng gia đình di cư sang Hoa Kỳ và định cư tại Midway City, Californiạ Nhạc sĩ soạn thêm tị nạn ca, ngục ca, Hoàng Cầm ca, thử nghiệm và khảo cứu nhạc đa điệu cùng với con thứ Phạm Duy Cường, viết Hồi Ký...

Nhạc sĩ Phạm Duy hoạt động trong cả ba lĩnh vực : ca diễn, sáng tác và nghiên cứụ

Tác phẩm chọn lọc:

Trường Ca Con Ðường Cái Quan
Trường Ca Mẹ Việt Nam
Tình Ca
Giọt Mưa Trên Lá
Bà Mẹ Gio Linh
Khối Tình Trương Chi
Bên Cầu Biên Giới
Ðố Ai
Bài Ca Sao
Cỏ Hồng
Trả Lại Em Yêu
Con Ðường Tình Ta Ði
Thương Tình Ca
Ðừng Xa Nhau
Kỷ Vật Cho Em
Cô Hái Mơ
Thiên Thai
Ngậm Ngùi
Tiễn Em
Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng
Áo Anh Sứt Chỉ Ðường Tà
Tình Cầm
Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ
và Minh Họa chuyện Kiều (tác phẩm cuối đời và là tổng hợp hành trình nghệ thuật)

Truyện Kiều Và Tôi

Vài Lời Về Nhạc Phẩm Cuối Ðời

Chẳng còn bao lâu là tới năm 2000. Tôi sẽ bước vào tuổi 80 và bước tới thế kỷ mớị.. Lúc đó, để ăn mừng tuổi thọ và ăn mừng một thiên niên mới cũng như để kết thúc cuộc đời ca nhân khá lâu và khá dài của mình, tôi sẽ hoàn tất một nhạc phẩm lớn, mang cao vọng thăng hoa được con đường dân ca tôi đã chọn từ khi mới nhập cuộc đàn cạ Nhạc phẩm đó là Minh Họa Truyện Kiều mà tôi đang từ từ biên soạn.

Tôi chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du để làm tác phẩm cuối đời vì thi phẩm này tiêu biểu cho tâm thức Việt Nam trong khi tôi đã giã từ loại nhạc thế tụïc để đi vào loại nhạc tâm linh. Tôi còn muốn trung thành với lý tưởng điều hợp xã hội bằng âm nhạc cho nên tôi muốn dùng lời thơ vĩù đại của Tố Như và nét nhạc nhỏ nhoi của tôi để làm nơi tự tình cho những ai đã chót lìa nhau, đã chót xa nhau hơn nửa thế kỷ.

Tôi không dám cả gan phổ nhạc tất cả trên 3000 câu thơ của cụ Tiên Ðiền mà chỉ dùng một số câu thơ trong Ðoạn Trường Tảân Thanh để đưa ra bốn cảnh ngộ của Nàng Kiềụ Nhạc phẩm mang tên Minh Họa Truyện Kiềụ Minh họa ởÕ đây -- xin dịch là illustration -- có nghĩa là hiển dương, là làm tăng thêm vẻ đẹp sẵn có của thi phẩm, là làm cho thơ có thêm mầu sắc, có thêm tầm vóc... Một ví dụ nhỏ là trong thơ, cụ Nguyễn Du chỉ có 6 chữ (hay 8 chữ) để tả cảnh hay tả tình như : Cỏû non xanh ngát chân trời hay Buồn trông cửa bể chiều hôm... thì bây giờ trong nhạc, tôi và con tôi là Duy Cường phải dùng giai điệu và hoà điệu để mô tả cái cánh đồng cỏ non của ngày Xuân ấỵ.. hay tả nỗi buồn của Nàng Kiều trước lầu Ngưng Bích...

Minh Họa Truyện Kiều của chúng tôi sẽ gồm có :
Prologue (Giáo Ðầu) giới thiệu không gian, thời gian và nhân vật...
Phần Một : Kiều gặp Ðạm Tiên, tức là gặp số phận mình, số phận của những người tài hoa bạc số...
Phần Hai : Kiều gặp Kim Trọng, nghĩa là gặp tình yêu, nhưng là tình yêu không trọn vẹn...
Phần Ba : Kiều gặp cảnh gia biến, phải bán mình chuộc tội cho cha, rồi gặp toàn người xấu, là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư v.v...
Phần Bốn : Kiều gặp người cứu tinh là Từ Hảị.. nhưng Từ Hải sẽ vì nàng mà phải chết đứng...
Epilogue (Kết) : Kiều gieo mình xuống sông Tiền Ðường... Trong Ðoạn Trường Tân Thanh, cụ Nguyễn Du cho Giác Duyên thuê ngư phủ kéo sẵn lưới để vớt sống Nàng Kiều, nhưng trong nhạc phẩm Minh Họa Kiều này, chúng tôi có ý đặt câu hỏi : Ai là người sẽ cứu sống Nàng đâỷ

Về phần nhạc thuật, trong công việc đưa nhạc Việt Nam từ hình thức đơn điệu (monophonic) lên hình thức đa điệu (polyphonic) mà chúng tôi thử thách trong mười năm qua, bây giờ việc này mới tạm được coi như khá ổn thỏạ Ðó là nhờ ở công phu của Duy Cường, trong gần hai năm, đã đi đi về về Việt Nam/USA để lấy mẫu (sampling) hầu hết các âm thanh của nhạc cụ dân tộc rồi áp dụng vào nhạc phẩm Minh Họa Kiều nàỵ Duy Cường còn thu thanh vài giọng ngâm rất cổ để cho vào tác phẩm cùng với những âm sắc của nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, đàn nguyệt, đàn bầu, trống phách... hoà vào âm thanh của các nhạc cụ Tây Phương. Làm công việc giao hưởng giũa lối ngâm truyền và nhạc cụ tân thời, nhất là với khả năng phi thưòng của computer chúng tôi mời người nghe đi ngược dĩ vãng 200 năm rồi đi tới tương lai cũng 200 năm đang tớị..

Vì phương tiện còn quá eo hẹp, tôi mới chỉ thu thanh được Ðoạn Giáo Ðầu và Phần Một của Minh Họa Kiều để ra mắt khán thính giả. Những phần sau sẽ được thưc hiện sớm hay muộn tùy thuộc vào vấn đề tài chính của chúng tôị Ðoạn Giáo Ðầu và Phần Một của Minh Họa Kiều này đã do những giọng hát của Ái Vân, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Quang và Tuấn Ngọc trình bàỵ Phần ngâm thơ do Thanh Ngoan (Hà Nội) và Ái Vân (San Jose) phụ trách.

Vào chiều thứ Bầy ngày 19 tháng 4 năm 1997, tôi hân hạnh cho ra mắt một phần của bốn bức minh họa truyện Kiều bằng âm nhạc tại nhà tôi ở Thị Trấn Giữa Ðàng. Sau đó là việc tôi đi lưu diễn nhiều nơi trên thế giới với Phần I của nhạc phẩm nàỵ *

Minh Họa Truyện Kiều
Phần Một
(Theo thơ Nguyễn Du)
*
Giáo Ðầu - Prologue
Ðoạn này giới thiệu thời gian, không gian và nhân vật. Có tiếng ngâm Kiều theo lối xưa dẫn vào nhạc thời nay, nhạc tráng lệ tạo không khí thời Trung Cổ... Có pha âm sắc của nhạc Trung Quốc bởi vì đây là thời Gia Tĩnh Triều Minh :
Rằng Năm Gia Tĩnh Triều Minh
(Ngâm)
Rằng năm Gia Tĩnh Triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng...
(Hát)
Rằng năm Gia Tĩnh Triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Có nhà Viên Ngoại họ Vương
Gia tư nghỉ cũng thường thường bực trung...
Một trai con thứ rốt lòng
Vương Quan là chữ nối dòng nho gia
Ðầu lòng hai ả Tố Nga a a a a
Thúy Kiều là chị y ý
Em là Thúy y ý y Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mườị..
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn
Nét người nở nang á a à a
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc
Tuyết nhường mầu da á a à ạ..
Kiều lại càng sắc sảo, lại càng mặn mà
So bề tảøi sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen vì thua thắm
Liễu hờn vì kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tảøi đành họa haị..
PHẦN MỘT
Kiều Gặp Ðạm Tiên

Phần này mở đầu với bài Ngày Xuân Con Én Ðưa Thoi, nhạc vẫn còn vẻ tráng lệ của đoạn giáo đầu vừa rồi, nhưng nó còn là nhạc diễn tảû cảnh mùa Xuân tươi đẹp, có tiếng chim hót, có đàn én bay ngang trời, có nắng của ba mươi ngày cuối Xuân soi trên cánh đồng cỏ non xanh ngát...
Ngày Xuân Con Én Ðưa Thoi
Ngày Xuân
Con én đưa thoi
Con én đưa thoi
Xuân tới Xuân lui
Như én bay ngang trờị
Trời Xuân
Ba tháng Xuân vui
Ánh sáng Xuân soi
Soi sớm ban mai
Soi suốt trong ngày y y y ỉ y vuị..
Cỏ non
Xanh ngát xanh lơ
Xanh ngát xanh lơ
Xanh tới bao la
Xanh tới nơi chân ý y trờị..
Cành lê
Cành lê trắng điểm
Cành lê trắng điểm
Một vài bông hoa
Một vài bông hoạ..

Bài số 3, Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba diễn tả cảnh đông người đi tảo mộ ... Vợ chồng con cái, người thường thì đi bộ, người sang thì đi võng, đi ngựạ.. Nhạc trữ tình, vui tươi, hứng khởị..
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba
(Ngâm)
Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến oanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi ý Xuân...
(Hát)
Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ
Hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến oanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi ý Xuân...
Dập dìu tài tử y ý
Dập dìu giai nhân ý y
Ngựa xe như nước ư ứ
Áo quần như nêm ừ ự..
MUSIC
Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ
Hội là Ðạm Thanh
Gần xa nô nức yến oanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi ý Xuân...
Dập dìu tài tử y ý
Dập dìu giai nhân ý y
Ngựa xe như nước ư ứ
Áo quần như nêm ừ ự..

Ba đoạn nhạc vừa rồi mới chỉ là nhạc tảû cảnh. Bây giờ tới đoạn số 4, Ngổn Ngang Gò Ðống Kéo Lên, tôi thấy phải chuyển qua nhạc tảû tình. Nhạc bây giờ mang thêm lãng mạn tính, tạo không khí âm u của cảnh gò mả... Ðây đó, người ta đốt nhang, đốt tiền giấỵ.. Khói bay, tro baỵ.. Nhạc bình minh, nhạc buổi trưa của các đoạn trước bây giờ chuyển qua nhạc buổi chiều, tạo một chút nao núng trong lòng người nghẹ.. Xin chú ý tới tiếng đàn đoản, đàn tranh.

Ngổn Ngang Gò Ðống Kéo Lên
(Ngâm)
Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng, thoi vàng vó rắc tro tiền giấy baỵ
p (Hát)
Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc ứ ư
Tro tiền giấỵ.. bay
Tà tà bóng ngả về tây Chị em thơ thăn y ý
Giang tảy ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh y ý
Có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ o ó
Nhịp cầu nho nhỏ o ó
Cuối gềnh bắc ứ ngang

Bây giờ là đoạn số 5, Sè Sè Nấm Ðất Bên Ðường, và là nhạc sầu tê tảùị.. Kiều buồn trước một ngôi mộ vô chủ... Vương Quan kể cho chị nghe chuyện đời Ðạm Tiên, khi xưa là một ca nhi nổi danh tài sắc, làm say đắm biết bao khách làng chơị Nhưng kiếp nàng là kiếp hồng nhan, kiếp mong manh, kiếp hoa nửa chừng xuân thoắt gẫy cành, chết đi rồi thì không còn ai nhớ tới nữạ Chú ý : đoạn này dùng tiếng đàn đáy và tiếng phách của HÁT Ả ÐÀỌ..
Sè Sè Nấm Ðất Bên Ðường
(Ngâm)
Sè sè nấm đất bên đường
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
(Hát)
Sè sè nấm đất bên đường
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Ồ sao trong tiết thanh minh
Mà đây hương khói vắng tảnh thế mà ?
Vương Quan xin dẫn gần xa
Ðạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi
Nổi danh tảøi sắc một thì
Xôn sao ngoài ngõ thiếu gì yến oanh
Kiếp hồng nhan
Có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương

Rồi một ngày
Có người khách ở viễn phương
Xa nghe cũng nức tiếng nàng, về chơi
Thuyền tình vừa ghé tới nơi
Thì đà trâm gẫy bình rơi từ bao giờ
Buồng không lạnh ngắt như tờ
Dấu xa ngựa đã rêu lờ mờ xanh...
Khóc than !
Rồi lễ tang !
Bụi hồng !
Một nấm mồ !
Này này là nấm mồ
Này này là nấm mộ...
Trải bao thỏ lặn ác tảø
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm ?
(Kiều khóc thút thít)

Ðoạn số 6, Ðau Ðớn Thay Phận Ðàn Bà là cảnh trước mả Ðạm Tiên, Kiều khóc than cho số phận tài hoa bạc mệnh. Nhạc chua xót, nhạc đau thương...
Ðau Ðớn Thay Phận Ðàn Bà
Sẵn mối thương tâm
Ðần đầm châu sa
Sẵn mối thương tâm
Ðầm đầm châu sạ..
Ðau đớn thay
Phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh
Cũng là lời chung
Phũ phàng chi ?
Bấy hoá công ?
Ngày xanh mòn mỏi
Má hồng phôi pha
Sống làm vợ khắp người ta
Khéo thay chết xuống làm ma không chồng
Nào người phượng chạ loan chung
Nào người tiếc lục tham hồng là ai ?
Ðã không kẻ đoái người hoài
Sẵn đây tả kiếm một vài nén hương
Gọi là gặp gỡ giữa đường
Họa là người dưới suối vàng biết chọ..

Ðoạn số 7, Một Vùng Cỏ Áy Ác Tà. Kiều khấn vái trước mộ Ðạm Tiên rồi rút trâm, viết trên cây, bốn câu thơ ba vần. Bốn câu thơ này không có trong truyện Kiềụ Chúng tôi đã đọc nhiều bài thơ Vịnh Kiều của nhiều văn nhân kim cổ và bây giờ phóng tác ra bốn câu để Nàng Kiều viết ra, vào lúc này, tặng cho người tài hoa mệnh bạc là Ðạm Tiên... Thúy Vân và Vương Quan khuyên chị đừng dư nước mắt khóc người đời xưạ.. Nhạc nhanh nhẹn nhưng vẫn mang mầu sắc u hoàị.. Một Vùng Cỏ Áy Ác Tà
Một vùng cỏ áy ác tà
Gió hiu hiu thổi một và bông lau
Rút trâm cài sẵn mái đầu
Vạch da cây vịnh
Vạch da cây vịnh
Bốn câu ba vần.
(Tiếng người đọc thơ)
Hồng nhan lắm gian truân
Tảøi hoa là mệnh bạc
Suối vàng xương dẫu nát
Mây bạc vữn còn vương
(Hát)
Hồng nhan lắm gian truân
Tảøi hoa là mệnh bạc
Suối vàng xương dẫu nát
Mây bạc vữn còn vương

Chị cũng nực cười
Ô hay ! Chị cũng nực cười
Khéo dư nước mắt
Ô hay ! Khéo dư nước mắt
Khóc người đời xưạ
Hồng nhan tự nghìn xưa
Cái điều bạc mệnh
Có chừa ai đâu ?
Nỗi niềm tưởng đến mà đau
Thấy người nằm đó
Biết sau thế nào ?
Chị nói làm sao
Ô hay! Chị nói làm sao
Một lời là một
Chị ơi ! Một lời là một
Vận vào khó nghẹ
— đây âm khí nặng nề
Chị ơi ! Bóng chiều đã ngả a a
Dặm về còn xạ..

Ðây là đoạn quan trọng nhất của Phần Một, đoạn số 8 mang tên Dễ Hay Tình Lại Gặp Tình... Bởi vì Kiều vốn là một người tình thì Nàng phải gặp một người tình khác là Ðạm Tiên... cho nên hồn ma sẽ xuất hiện. Nhạc từ hiện thực chuyển qua nhạc siêu thực, có thể nghe ra hơi khói, hơi gió, vết chân hồn ma trên thềm rêu phủ...

Dễ Hay Tình Lại Gặp Tình
(Ngâm)
Những đấng tài hoa
Thác là thể phách còn là tinh anh...
(Hát)
Những đấng tài hoa
Thác là thể phách
Còn là tinh anh
Dễ hay tình lại gặp tình
Chờ xem ắt thấy
Hiển linh bây giờ...
. . . . . .
Nói chẳng kịp thưa
Phút đâu trận gió
Cuốn cờ tới ngay
Ào ào đổ lục rung cây
Ở trong dường có
Hương bay ít nhiều ...
. . . . . .
Ðè chừng ngọn gió lần theo, gió lần theo
Dấu giầy từng bước
In rêu rành rành...

Ðoạn số 9 sau đây mang tên Gốc Cây Lại Vạch Một Bài Cổ Thi sẽ cho thấy : Ðể tạ tấm lòng tri kỷ của Nàng Kiều, Ðạm Tiên đã xuất hiện rồi biến đi, khiến Kiều hồn thơ lai láng, lại vạch trên cây một bài thơ nữạ.. Chúng tôi cũng dựa vào nội dung Truyện Kiều mà đưa ra bốn câu thơ khác...
Gốc Cây Lại Vạch Một Bài Cổ Thi
Hữu tình ta lại gặp ta
Chớ nề u hiển mới là chị em
Mới là chị em.
Ðã lòng hiển hiện cho xem
Tảï lòng nàng lại nối thêm vài lời
Lòng thơ lai láng bồi hồi
Gốc cây lại vạch
Một bài cổ thi
Một bài cổ thị..
(Ðọc thơ)
Ðóa hồng mơn mởn đầu cành
Trời làm giông tố
Tan tành kiếp hoa
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh
Khéo là ghét nhau
(Hát)
Ðóa hồng mơn mởn đầu cành
Trời làm giông tố
Tản tành kiếp hoa
Trăm năm trong cõi người tả
Chữ tài chữ mệnh
Khéo là ghét nhau
Khéo là ghét nhaụ..

Cảnh chiều với ba chị em định ra về, thì chợt thấy từ xa, trên lưng ngựa, Kim Trọng lỏng tay cương và đang đi tớị.. Trong đoạn số 10 mang tên Dùng Dằng Nửa Ở Nửa Về này, nhạc trở lại tính chất nhạc đồng quê, êm ả, nhẹ nhàng như lúc đầụ..

Dùng Dằng Nửa Ở Nửa Về
Dùng dằng nửa ở nửa về
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng tay buông khấu bước lần dậm băng
Ðề huề lưng túi gió trăng
Theo lưng có một vài thằng cỏn con
Tuyết in sắc ngựa câu giòn
Cỏ hoa mầu áo nhuộm non da trời
Nẻo xa mới tỏ mặt người
Khách đã xuống ngựa
Khách đã xuống ngựa
Tới nơi tự tình.

Ðoạn số 11, Chàng Vương Quen Mặt Ra Chào là sự xuất hiện của Kim Trọng... Chàng Kim xuống ngựạ.. Vương Quan chào bạn... Hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân khép mình dưới hoạ..
Chàng Vương Quen Mặt Ra Chào
Chàng Vương
Quen mặt ra chào
Khép nép bên hoa
Khép nép bên hoa hai Kiều
Người đâu
Quanh quất đâu xa
Họ Kim tên Trọng
Vốn nhà trâm anh

Trộm nghe
Thơm nức hương lân
Một nền đồng tước
Khóa Xuân hai Kiều
Thật may !
Giải cấu tương phùng
Giải cấu tương phùng
Gặp tuần đố lá
Thoả lòng tìm hoa
Thoả lòng tìm hoạ..

Phần Một sẽ kết thúc với đoản khúc số 12, Tình Trong Như Ðã Mặt Ngoài Còn Ẹ.. với tiếng sét ái tình nổ ra giữa người quốc sắc, kẻ thiên tài là Thúy Kiều và Kim Trọng...
Tình Trong Như Ðã
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa
Xuân lan thu cúc
Mặn mà cả hai
Người quốc sắc
Kẻ thiên tài
Tình trong như đã
Mặt ngoài còn e
Chập chờn cơn tỉnh y ý
Chập chờn cơn mê ê ê
Rốn ngồi chẳng tiện y ý
Dứt về chỉn khôn.
Music
Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa
Người còn nghé theo
Dưới cầu nước chẩy trong veo
Bên cầu tơ liễu y ý
Bóng ý chiều thướt thạ..
* * *
Bố cục âm nhạc trong Phần Một của Minh Họa Truyện Kiều được chia ra ba hành điệu :
Hành Ðiệu Một là những hành âm của cuộc du Xuân, khoan thai, trong sáng rồi cuốn nhanh như tiếng cười giòn giã, biểu hiện một thời Xuân của đời Kiềụ..
Hành Ðiệu Hai là sự hoang mang, nghẹn ngàọ.. biểu hiện những xúc động đầu đời về thân phận mình khi Kiều gặp hồn ma Ðạm Tiên.
Hành Ðiệu Ba là sự trở lại nhạc đề một, tươi sáng, lưu loát... khi Kim Trọng xuất hiện ở cuối cuộc du Xuân.
Trong thi phẩm KIM VÂN KIỀU của Nguyễn Du, đây là phần duy nhất có phong vị cuộc sống tươi vui trọn vẹn. Chúng tôi đã cố gắng diễn dịch ra bằng âm nhạc.



Phạm Duy

Mục Lục


IV . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu,

Những lần gặp nhau, để rồi chia tay có làm anh quay quắt nhớ em như em đã nhớ anh không ? Tình yêu mãi thử thách chúng ta, và hình như nó là một bến bờ xa xăm vô tận lắm. Những nỗi buồn vu vơ cứ mãi chập chờn bu quanh mảnh hồn rách nát của em .

Vui đấy rồi buồn đấy, có nhau rồi xa nhaụ Anh như những làn sóng bạc đầu, đến rồi đi, lôi cuốn em vào biển tình bao la, yêu để mà mơ, và mơ để mà sầụ Và như những con dã tràng cố se tròn mảnh tình trên biển cát, mặc cho những con sóng trôi đến lấp tan, không thương tiếc .

Yêu như biển cát dã tràng
Từng cơn sóng vổ muộn màng nơi nhau
Yêu cho thấm mệt niềm đau
Trùng dương khép kín đời sau vẫn còn

Vẫn còn và mãi còn tiếng yêu anh. anh mãi mãi ngự trị trong trái tim nhỏ bé của em. Cảm ơn anh đã cho em những lo lắng, săn sóc, những nụ cười, những hương yêu nồng nàn, những men tình dịu ngọt, những ảo tình say mơ .

Từ môi êm ái thương trao
Vòng tay ve vuốt dạt dào hương yêu
Tình như cơn gió bao chiều
Lộng muôn câu nhớ chảy đều trong tim
Tình ơi, sao mãi đắm chìm
Và ta sao mãi kiếm tìm lấy nhau

Xin hãy còn yêu, yêu như ngày đầu, yêu trong mê dại, để biết rằng ta còn có nhau . Cho dù mong manh, cho dù thoáng chốc ….

Viết Cho Giao Mùa
July, 2005

DHH
~~~/~~((@

Mục Lục


V . Nghiên Cứu_____________________________________________

1. "Tiếng Hót Loài Chim Di" hay lời chân ái từ Song Nhị

Phan Bá Thụy Dương



Như những lời ru êm đềm, tha thiết, Tiếng Hót Loài Chim Di của Song Nhị đã vượt thoát, vươn lên từ vực thẳm vắng lặng bằng những thanh âm thắm thiết, ngọt ngào. Cũng như Tiếng Hờn Chiến Mã và Về Lối Ði Xưa - 2 thi tập mà tác giả đã cho lưu hành trước đây - sự ra đời của THLCD vừa qua cũng đã được tiếp nhận đầy thiện cảm, nhiệt tình của giới ưu ái, thưởng ngọan thi ca tại miền Thung Lũng Hoa Vàng và các trung tâm sinh họat Văn học Nghệ thuật hải ngọai. Tập thơ dày 214 trang với 80 bài thơ. Tranh bìa là một họa phẩm màu của Trần Hoài. Phụ bản gồm 2 bức tranh của họa sĩ Ðằng Giao và bức Giặt Lụa của Thanh Trí, cùng thủ bút bài thơ: Nếu Anh Còn Trẻ [sáng tác năm 1941] của thi sĩ tiền chiến Hoàng Cầm, do ông chép lại và thân ái đề tặng SN. Bài thơ này do con gái thi sĩ HC sau khi về thăm quê hương, đem sang trao cho tác giả THLCD vào giữa mùa hè 3 năm trước. Thi sĩ HC là một trong những nhân vật chủ yếu như: Phan Khôi, Phùng Quán, Trần Dần, Lê Ðạt, Nguyễn Hữu An…đã bị nhà nước miền Bắc kết tội, thẳng tay triệt hạ vào tháng 6/58 trong vụ án Nhân văn Giai phẩm. Chắc hẳn người đọc chưa quên sự kiện quan trọng trong lịch sử văn học đã gây chấn động lớn lao này. SN tình cờ đọc được vài số NVGP vào năm 1958 sau 4 năm lưu lạc bên Lào cùng với gia đình để trốn chạy thảm họa "cải cách ruộng đất". SN đã say mê đọc các tập san đó khi được anh TKC, một trong những sinh viên Hà Nội đã vượt biên sang Lào sau vụ NVGP trao cho.

Không biết thi văn, bài viết của những vị tiền bối kia đã có ảnh hưởng, tác động gì sâu đậm đến tâm hồn chàng thanh niên trẻ tuồi sớm lưu vong ấy không, mà năm 60 từ Lào về Sàigòn để tiếp tục học hành, anh đã bắt đầu làm thơ, viết văn, làm báo. Từ báo tường, báo học trò, báo sinh viên, đặc san, rồi nhật báo, nguyệt san. Anh đã luôn hăng say hoạt động nghệ thuật, khi với tư cách cộng tác viên, khi với tư cách người chủ trương. Rồi những đam mê thường hằng về văn chương, chữ nghĩa kia như một mục tiêu tối thượng, như một nghiệp dĩ, đã đeo đuổi cả cuộc đời anh. Ở trường học, ở cơ quan, hay trong quân ngũ công việc của anh lúc nào cũng dính liền với báo chí, với thơ. Ngay cả trong 10 năm bị nhục nhằn lao dịch ở các trại tù từ Nam ra Bắc anh cũng âm thầm, lén lút làm thơ. Vừa đặt chân sang Mỹ theo diện H.O chưa được bao lâu, anh đã đứng ra thành lập cơ sở xuất bản Thi Văn Cội Nguồn. Sau khi CN ổn định anh lại tập họp bằng hữu và cùng với nhà văn Trần Anh Lan chủ trương biên tập nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật: NGUỒN. Riêng anh, ít nhất còn đảm nhận thêm việc phụ trách trang VHNT cho một tờ tuần báo ở SJ - CA.

Cảm quan đầu tiên đến với tôi khi đón nhận THLCD là vẻ mỹ thuật, sư trang nhã qua lối trình bày và kỷ thuật ấn loát, do chính tác giả tập thơ sắp xếp chăm sóc. Xen kẽ trong những bài thơ còn có nhiều tranh họa nhỏ, nên thơ - mà giới làm báo, thợ sắp chữ ngày trước thường gọi là vignette, mang sắc thái, thi vị Á Ðông. Khi nói về thơ của tác giả THLCD, một thi sĩ nổi tiếng, đứng tuổi của miền Nam đã từng nhận định:

"Ðã ba bảy lượt giật mình, xúc động trong cõi đi về, rõ ràng ở SN phải có một tâm cảm sáng tạo nhạy bén, góp nhặt chắt chiu từng khổ đau làm thành chất liệu cho thi ca, nghệ thuật khởi lừng hương sắc.. Thơ Song Nhị từ THCM đến VLÐX đã bước sâu vào tư tưởng lạc quan của thân phận con người, dù con người đã mất mát, thua thiệt vì cái ác, cái xấu đang ngự trị. Ý thức tìm về của SN lồng lộng, vượt lên những hệ lụy hiện tại, quá khứ và tương lai, không câu thúc đời thường, bằng cõi tâm không biên giới, hào hiệp, thanh caọ" * DIÊN NGHỊ.

Sau đây xin hãy nghe thêm những lời thẩm định khác của một nhà phê bình hiện cư ngụ gần nơi được mệnh danh là kinh đô ánh sáng bên trời Âu:

"Thơ Song Nhị là loại thơ chiến đấu, không phải cổ vũ đấu tranh vì hận thù mà chiến đấu cho một lẽ sống không còn gian trá, giả hình, một cảnh sống trong tình thương, trong Lẽ Thật, trong cái "ÐẸP" của tình người đôn hậu, thuần nhiên, chiến đấu cho một cảnh đời ngọt ngào ân ái, luôn luôn an bình, hạnh phúc, đâu đâu cũng là Ðất Trời Quê Hương, luôn mùa Xuân hoa nở... Ngoài một số bài ngậm ngùi về cảnh phải "ngã ngựa" và một số bài nói về cảnh "đổi đời tê tái" của CS phủ trùm lên đất nước, nhân dân, nhìn chung, thơ SN luôn luôn nói đến "tình người", không chỉ giới hạn nơi những mối tình tha thiết cao quí ai cũng hằng mong trong cuộc sống hằng ngày (yêu cha mẹ, chồng vợ, con cái, bạn bè, yêu Tổ quốc, nhân dân…) mà còn hướng đến một tình yêu thăng hoa của con người cùng cuộc sống, cuộc đời để cả mặt đất bình yên, cả nhân lọai không còn bóng tối quỷ mạ." * NGUYỄN THÙY.

THLCD gồm nhiều thể loại từ tứ ngôn, ngũ ngôn, lục bát, thất ngôn, bát ngữ, cũng như một ít thơ tự do, phá thể, phá cách… Ngoài ra, trong tác phẩm còn có một số bài Ðường thi anh đã họa lại những bài của các thi hữu… một ít thư họa cùng 4 bài thơ được chuyển sang Anh ngữ. Tác phẩm mới này cũng do Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn ấn hành. THLCD chất chứa đầy những tiếng kêu gọi, mời mọc, gởi gắm thân thương của một di điểu đã phải đành lòng từ bỏ nơi chốn thân yêu cũ, nơi đó đã từng là chiếc nôi êm ấm cưu mang nó suốt nửa cuộc đời.

1. Thân phận, Chuyện mình & Chuyện nước non - qua THLCD.

Xin hãy cùng người viết dành chút ít thời gian tĩnh lặng để đi vào thế giới nhỏ bé riêng tư, cô đọng nhưng đa dạng của tác giả THLCD, để cùng lắng nghe những tiếng lòng vang vọng, bay bổng, lãng đãng trên một chân trời bao la, to lớn hơn của quê hương qua một số bài tiêu biểu đầy âm điệu và màu sắc của SN.

Tôi ngồi giở những trang đời đòi đọan - tìm lại mình trong đống bụi thời gian - buổi mưa nắng nhuốm vàng phai mái tóc - thời binh đao một thuở mãi kinh hòang -… Tuổi lên tám tôi mơ làm chim hót - chạy nô đùa bên khóm trúc bờ ao - đọc từng chữ trang Cờ Lau Tập Trận - học thuộc lòng tình tự mỗi ca dao - Thuở lên mười tôi mơ làm tráng sĩ - tuốt thanh gươm Phù Ðổng vượt băng ngàn - con ngựa sắt vung roi vào chiến trận - lũ rợ Hồ nghìn vạn đứa xác tan - Tuổi thơ tôi bềnh bồng như bọt sóng - lại in hằn thương tích khó mờ phai - cuộc đấu tố, cuộc thanh trừng giai cấp - cướp của giết người giữa chợ ban mai - Nước mắt chảy theo gia tài khánh kiệt - áo mẹ tôi loang máu giữa đấu trường - tôi xé ruột gào lên lời thống thiết - ôi, đồng bào! ôi, Tổ quốc! Quê hương! - Tôi trốn chạy một thời man rợ đó - bỏ xóm làng nơi cắt rún chôn nhau - như cánh chim suốt một đời lưu lạc - mỗi chặn đường mỗi cảm giác buốt đau -… Hai mươi năm mịt mù trong khói lửa - máu chảy thành sông xương trắng bạt rừng - đem dân đen nướng trong lò lửa hận - cả nước thành trại cải tạo tập trung - Tôi lại sống những năm dài quằn quại - lê xác thân tàn tạ chốn lao tù - tuổi xuân tôi tàn phai theo vận nước - tàn theo từng ác mộng chốn thâm u. [trích Ký Ức Những Trang Ðời, trang 46]

Trong dòng sinh mệnh đa đoan, nhiểu nhương của những ngày đầy giao động , lao đao cũ, SN đã nhiều lần phải lẩn trốn những cơn lốc, tai ương ác nghiệt… Anh đã luôn hướng mắt, tìm về miền đất lạ, đất ấm với những hoài bão, tin yêu mới. Từ những ý thơ trong sáng thể hiện qua từng câu, từng chữ trong THLCD, người đọc có thể hoặc nhận ra bóng dáng, cuộc đời mình phản ảnh đâu đó, hoặc được dẫn dụ, lôi cuốn bởi những cảm xúc sâu xa qua những dòng thơ của SN trang trải trên trang giấy. Chính yếu tố này đã khiến độc giả dễ dàng hòa hợp, rung động, và chia xẻ cùng tác giả những niềm hạnh phúc, vinh nhục, khổ đau qua cuộc biển dâu lịch sử, trong cuộc sống thời niên thiếu nhiều mộng mơ cũng như lúc trưởng thành nhiều gian nan trắc trở của anh.

Những nỗi niềm chua xót, đắng cay, ngậm ngùi đó được diễn tả, tô vẽ lại rỏ nét như một định mệnh khắc khe, gần gũi, luôn tiếp cận với một kiếp người long đong, trong một hành trình dai dẳng, của những đổi dời, đi, về, chặng dừng…dường như là chưa trọn vẹn, kết thúc: Quê Hương, Ðất Mới, trong bài thơ tứ ngôn:

Ta từ cõi lạ - một lần đến đây - giữa vòng khép mở - cuộc chơi đã bày - Kìa trên cành nhỏ - bày chim họp đàn - bên bờ vọng động - đoàn người ly tan - Ta từ cõi lạ - một lần đến đây - gieo mầm nhân quả - nhận phần trả vay - Ngày qua theo bóng - đời xuôi theo dòng - bóng đời chập chọạng - phận người rêu rong - Ta từ cõi lạ - một lần đến đây - căn duyên nào buộc - nhân sinh kiếp này - Ngày ta dâng lễ - ngày em đăng quang - đời lôi ta dậy - trả về hồng hoang - Ta tìm muôn dặm - dáng xưa thiên thần - tìm ngày sấm dậy - phút người trao thân - Ta từ cõi lạ - một lần đến đây - ôm toàn hư ảnh - thả vào khói mây - Một ngày ta đến - một ngày ta đi - còn ai níu lại - nói lời biệt ly ? [Chặng Dừng, trang 11]

Người xưa thường nói "trâu chậm uống nước đục". Câu này áp dụng vào trường hợp các anh em H.O. và những người qua sau, tới muộn vào đầu thập niên 90 quả là không sai bao nhiêu.

SN trong giai đoạn tiên khởi mới tới Hoa kỳ đã phải quên mình để tìm kế sinh nhai bằng một nghề xa lạ mà anh chưa từng biết hay trải qua, hầu mong sớm hội nhập, ổn định cuộc sống. Ðồng thời lo tạo dựng nền móng sơ khởi, căn bản, cho thế hệ đầu tiên lập nghiệp trên miền đất mới đang cưu mang họ. Nói một cách cụ thể hơn, có lẽ đó là bầu trời quê hương tạm dung của thế hệ hiện tại và hẳn sẽ là quê hương vĩnh cửu của các thế hệ con cháu nối tiếp trong tương lai:

Hết thời - ngồi vặn bù lon - nghe trong từng khớp - xương mòn tháng năm - nghoảnh lui - tìm chổ xưa nằm - thấy trong tiền kiếp - vết hằn nghiệp oan. [Tiền Thân, trang 112]

Cùng tâm trạng, hoàn cảnh với tác giả THLCD, 4 người thân quen của tôi, gồm 3 sĩ quan cao cấp và một vị tướng lãnh - người nào trước 75 cũng đã từng du học vài lần ở Hoa kỳ và các quốc gia tự do khác, cũng đã rơi vào trạng huống khó khăn tương tự. Sau khi được định cư - có thể vì tuổi các anh không còn trẻ hoặc không có thời giờ, không có hoàn cảnh để vào các trường Ðại Học "hấp" lại, nên đành chấp nhận làm những công việc "nhẹ ký" một chút để lo cho đời sống của vợ con. Chàng phi công hào hoa hay "giặc lái" A37 thì ngày ngày cần cù hành nghề phụ vá vỏ xe hơi cho một người chủ nhỏ vốn gốc Hispanic ở gần French Quarter - New Orleans. Ông cựu quận trưởng vốn là một trưởng khối của Tổng Cục Tiếp Vận an nhiên trở thành người chạy máy sản xuất vật dụng cho hãng Best Buy tại Twin city thuộc tiểu bang Thập-vạn-hồ lạnh lẽo. Anh lính mũ nâu, cựu tiểu đoàn trưởng và nguyên là một thành viên trong phái đoàn liên hiệp quân sự trước đây thì nay vẫn còn ung dung hành nghề dọn dẹp, sửa chửa bàn ghế cho một trường Trung học tại quận Cam - nơi được người ta ưu ái gọi là thủ đô của dân tị nạn. Riêng vị tướng lảnh một sao điềm đạm, ít nói, phục vụ ngành súng to, đạn lớn thì âm thầm sống chết với nghề thợ hàn trong một thị trấn "buồn tênh" gần Foxboro Stadium trên đường số 1 chạy về thành phố nhộn nhịp Boston. Phải chăng sự nhẫn nhục, quen chịu đựng nhiều gian lao trong cảnh bị đày đọa lâu dài nơi các trại tập trung tảy não mà kẻ thống trị gọi là " trại cải tạo" đã làm cho các anh ấy cũng như SN cam phận, bình thản tiếp nhận việc trở thành công nhân trên một nước văn minh, tự do là điều khả thi, chẳng đáng phàn nàn, "lòng" chẳng chút "vẩn vơ" gì về mấy cái lẻ tẻ này, cho dù việc đó có vẻ bất thường, bất an:

Ở đây không khí nặng nề - những thân lưu lạc những nghề cu li -- đường trần dầu dãi quản chi - trả vay vay trả sá gì thiệt hơn - Ðổi đời vời vợi nguồn cơn - nỗi đau nước mất nỗi buồn nhà tan - trời cho thoát cảnh cơ hàn - thoát cơn ác mộng bạo tàn thuở xưa - đã từng sớm nắng chiều mưa - bao năm tù tội còn chưa nản lòng - ngẩng đầu cao với trời không - sá chi hạt bụi bên lòng vẩn vơ. [Một Ngày Bất An Tại Hãng Mỹ, trang 62]

Cùng với phép tạo hình kỳ ảo, SN còn thường sử dụng thủ thuật cắt câu, đặt dấu lặng một cách tinh xảo, đắc điạ. Cộng với nghệ thuật điệp từ do anh khéo léo, cố tình sử dụng để nhấn mạnh, tác động, nên thơ anh càng gây ấn tượng vào thính giác, thị giác của người thưởng ngoạn hơn.

[Chứ không phải loại ngôn ngữ của "người" mà cố thi huynh Bùi Giáng đã phát họa, trêu cợt như: Người điên ngôn ngữ điệp trùng - Dở chừng như mộng dở chừng như mê - Thưa em ngôn ngữ quặt què - Làm sao nói hết nghiệp nghề người điên. * {Người Ðiên]. Mà ở đây - theo tôi, đối tượng trào lộng chắc hẳn không phải là tha nhân vì cố thi sĩ cũng là người hay áp dụng thuật ngữ, thi pháp này trong thơ mình. Hơn nữa, trong giới văn nghệ sĩ miền Nam thời trước và ngay cả những anh chị em miền Bắc hoạt động trong lãnh vực VHNT hiện sống trong hay ngoài nước, có mấy ai không biết về "tâm trí, tính tình chẳng bình thường bao nhiêu" của lão huynh.]

Sự né tránh cách diễn đạt một ý với nhiều từ khác nhau hay phép trùng phức [tautology] này là một ưu điểm đặc biệt nữa mà người đọc thường bắt gặp, khám phá, trong các tác phẩm của SN. Có lẽ mấy điều thẩm định trên cũng là vài nét trùng hợp về những phong cách riêng biệt của tác giả thi tập THLCD mà thi sĩ lão thành - nhân vật chăm sóc, chủ trương tờ Tiền Tuyến trước 75 - muốn đề cập, bày tỏ khi ông viết:

" Song Nhị làm chủ được ngòi bút của mình. Ðọc anh, ta không thể nhầm lẫn với bất kỳ một nhà thơ nào khác." * HÀ THƯỢNG NHÂN.

Nên nhớ nhật báo TT của Hà tiên sinh là một nhật báo lớn, vững mạnh, có số lượng độc giả cao nhất và hơn hết, được phổ biến rộng rãi khắp miền Nam. Trước cuối năm 72, lúc tôi còn phụ trách trang trong, viết feuilleton cho vài tờ báo ngày, quen biết giới phát hành báo chí nên biết rõ việc này. Tờ báo của Hà thi sĩ đã tập hợp, qui tụ một khối lương đông đảo giới viết văn, thơ, bình luận…hữu danh, cùng nhiều ký giả chuyên nghiệp. Chỉ riêng về bộ môn VHNT người ta có thể kể: Phan Lạc Phúc - ký giả Lô Răng, Văn Quang, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Viên Linh, Nguyễn Ðạt Thịnh, Ðặng Trần Huân, Hà Huyền Chi, Du Tử Lê, Tường Linh, Dương Nghiễm Mậu, Lê Tất Ðiều… Chưa nói tới sự cộng tác, đóng góp thường xuyên của các anh em văn nghệ sỉ quân đội, các cây bút dân sự khắp nơi. Dĩ nhiên sự thành công của TT ít nhiều cũng có sự trợ giúp, tiếp sức… của một vị lão thành đáng kính khác: thi sĩ Cao Tiêu.

(còn tiếp nhiều kỳ)

Phan Bá Thụy Dương

Mục Lục


2. Tuổi trẻ và đề tài chết”

Bác sĩ Thái Minh Trung



Quí vị, quí bạn thân mến,

Sức Khoẻ Là Vàng thân gửi đến quí vị, quí bạn bài viết “Tuổi trẻ và đề tài chết” của Bác sĩ Thái Minh Trung, trên Website Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do www.hqtysvntd.org, mục Y Học Thường Thức. [Unicode phía dưới, VNI trong attachment.]

[Trân trọng giới thiệu với quí vị, quí bạn sách "Viết, đọc chữ Việt trên computer và Internet" do Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do (www.hqtysvntd.org) ấn hành. Sách soạn công phu, trình bày mỹ thuật, dày 134 trang, giá US$12.00 (cộng cước phí). Xin liên lạc: YTE Distributors, Inc., P.Ọ Box 2043, Westminster, CA 92684-2043, USA; Tel: (562) 436-2566; Fax: (562) 436- 8998; E-mail: Ytedis@yahoọcom .]

Kỳ này, mời quí độc giả đọc bài viết của Bác sĩ Thái Minh Trung, Associate Professor of Psychiatry, University of California, Irvine Medical School.

Bác sĩ Nguyễn Văn Ðức

--------------------------------------------------------------------------------

Tuổi trẻ là lứa tuổi đang tràn trề sức sống nên ít có ai nghĩ đến cái chết.

Nếu ta sống ở xã hội Mỹ với trình độ y tế cao, thì có thể tuổi trẻ và cái chết là đề tài rất xa lạ. Nhưng mấy năm gần đây, những biến cố như 11 tháng 9, chiến tranh Iraq và sóng thần Tsunami đã cướp lấy cuộc sống không phân biệt già trẻ. Một số lớn nạn nhân sóng thần là trẻ em không đủ sức chống chọi với cơn nước lũ. Hàng ngày trên đài truyền hình Mỹ cũng chiếu hình ảnh những quân nhân hy sinh cho tổ quốc trong đó có những người thanh niên thiếu nữ rất trẻ tuổị

Cái chết của tuổi trẻ làm cho thế hệ trung niên đã từng sống ở Việt Nam nhớ lại chiến tranh Việt Nam một thời đã cướp đi mạng sống của biết bao nhiêu người lính trẻ. Rồi biết bao nhiêu trẻ em vô tội trở thành nạn nhân của bom đạn trong một nháy mắt. Sau chiến tranh, hàng loạt người bỏ nước ra đi với tư cách thuyền nhân hay vượt biên bằng đường bộ sang các nước láng giềng. Người ta ước lượng có tới hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên đại dương cũng như ở trong rừng.

Như thế cái chết không phải đợi tới già yếu hay bịnh hoạn mà có thể đến bất thần ở mọi lứa tuổị

Ở xã hội Mỹ, đa số người trẻ tuổi chết do tai nạn xe cộ hay bị bắn. Ngoài ra, số tử vong đứng hàng thứ 3 ở người trẻ là do tự tử. Nhiều người thắc mắc tự hỏi tại sao những thanh niên thiếu nữ sống trong một xã hội đầy đủ vật chất lại thấy chán đời không muốn sống.

Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến tình trạng suy sụp tinh thần. Nguyên nhân thường xuyên là do sự mất mát về tình cảm. Những hoàn cảnh dẫn đến sự mất mát về tình cảm gồm có: gia đình bất hòa, cha mẹ cãi lộn thường xuyên; cha mẹ đi làm không có thời giờ hỏi han chăm sóc con cái, không quan tâm hay không tìm hiểu về cuộc sống tinh thần và tình cảm của con cái; đứa trẻ bị người yêu tuyệt giao mối quan hệ tình cảm với nó; đứa trẻ thi rớt; v.v., và còn nhiều nguyên do nữạ

Khi đứa trẻ bị mất tình yêu thì lòng tự trọng bị tổn thương. Nó cảm thấy yếu kém so với bạn bè, không có chỗ đứng trong gia đình và xã hộị Khi có những tình cảm như vậy, đứa trẻ dễ bị quyến rũ vào băng đảng. Nó cảm thấy băng đảng chấp nhận nó vì những đứa trong băng đảng đều chia sẻ cái tình cảm bất mãn gia đình và xã hộị Chúng sẽ dễ bị đưa đẩy vào con đường nghiện ngập. Chúng dùng xì ke ma túy để cố lấp cái khoảng trống của tình yêu bị mất. Rồi dần dần xì ke ma túy sẽ dẫn chúng vào con đường phạm pháp. Những đứa trẻ nhập băng đảng có cuộc sống mong manh hơn so với đứa trẻ sống trong gia đình. Chúng dễ tử vong do tranh chấp bắn giết lẫn nhau, do bịnh tật khi chích ma túỵ Ðôi khi chúng vô tình dùng xì ke ma túy quá liều và bị chết.

Những dấu hiệu của đứa trẻ chán đời mà phụ huynh cần biết là:

- Thay đổi cách ăn uống và giờ giấc ngủ
- Không thích giao thiệp bạn bè như lúc trước
- Trốn nhà ra đi hay đi về giờ giấc bất thường
- Thay đổi về cách ăn mặc
- Thay đổi đột ngột về tính tình, cau có, dễ cãi lộn với gia đình
- Bỏ học hành, sa sút hay bị kỷ luật ở trường.

Khi nghe đứa trẻ than phiền muốn chết hay có những lời nói như: “Còn vài ngày nữa thì con sẽ không còn làm phiền hà cha mẹ nữa”, hoặc thấy nó cho người khác những món đồ mà nó thích nhứt thì phụ huynh không nên coi thường.

Ðiều tốt nhứt là phải ngồi xuống nói chuyện với đứa trẻ và đề nghị dẫn nó đến chuyên viên tâm lý hay bác sĩ tâm thần để giúp đỡ nó. Hiện nay ngành tâm lý rất tiến bộ. Chuyên viên tâm lý có nhiều kỹ thuật tâm lý trị liệu để khai mở những uất ức về tình cảm. Ngoài ra còn có những loại thuốc an thần chuyên trị tinh thần sa sút (depression/trầm cảm). Phụ huynh đừng nên coi thường những lời nói như vậy và bỏ quạ Ðứa trẻ sẽ cảm thấy cha mẹ không gần gũi và hiểu được nó và từ đó cảm thấy cô đơn hơn. Khi quá cô đơn và thất vọng, nó có thể có những hành động tự kết liễu cuộc sống.

Tôn giáo có thể giúp gì được trong những hoàn cảnh như vậỷ Những nghiên cứu cho thấy tôn giáo có vai trò bảo vệ cuộc sống và ngăn chận tự tử. Trong những gia đình có tôn giáo, phụ huynh thường có cuộc sống tinh thần cao, họ tôn trọng lẫn nhau và ít cãi lộn và tránh dùng những lời nhục mạ kẻ khác. Cha mẹ thường đề cao tình thương và sư tha thứ chấp nhận trong quan hệ với con cáị Họ ít có cái nhìn độc đoán mà ngược lại chịu khó tìm hiểu con cáị Họ giải đáp vấn đề bằng thái độ dung hòa (compromise) và lấy được lòng con cáị Vì thế đứa trẻ tôn trọng cha mẹ và thành thật trao đổi những khó khăn với cha mẹ.

Ðứa trẻ được giáo dục ở Mỹ không nể sợ cha mẹ như đứa trẻ được giáo dục ở Việt Nam, cha mẹ nói gì con cũng phải vâng lờị Ở Mỹ, đứa trẻ thích lý luận và chỉ chấp nhận những gì hợp lý. Cha mẹ làm đứa con kính phục khi thành thật trao đổi với nó, giải thích phải quấy cho nó nghe, không bắt nó phục tùng ý muốn mình, và trao cái quyền chọn lựa cho nó.

Khi sống trong gia đình có tôn giáo và khi lớn lên được giáo dục bằng tôn giáo thì sự khác biệt giữa hai thế hệ sẽ ít hơn, vì cha mẹ và con cái sẽ cùng nhìn về một hướng. Hai thế hệ có thể có những bất đồng nhỏ nhặt về triết lý sống vì kinh nghiệm và nơi chốn, văn hóa lúc sinh trưởng khác nhaụ Tuy nhiên, với cùng một tôn giáo thì hai thế hệ sẽ cùng nhìn về một hướng. Hướng đó là đời sống tâm linh và tình thương trong sự trao đổi tìm hiểu lẫn nhaụ Khi bậc phụ huynh muốn con cái sống theo ý mình mà không tìm hiểu nhu cầu tâm lý của đứa trẻ thì tình thương đó thiếu sự thông cảm. Khi đứa trẻ chê bai cái nhìn đời của cha mẹ là quá xưa không hợp với khoa học thì không có tình thương dung hòa.

Nếu hai thế hệ chỉ cần biết áp dụng 4 chữ từ, bi, hỷ, xả thì đời sống tinh thần và tình cảm đôi bên sẽ khả quan rất nhiềụ Tuy từ bi hỷ xả là danh từ chuyên môn của Phật giáo nhưng tính chất đó hiện diện nơi mọi người, bất kể tôn giáo nàọ

Từ là lòng từ tốn, dẹp bớt tự ái mình để nghe lập luận của kẻ khác. Nếu cha mẹ hay con cái tự cho là cái hiểu biết của mình lúc nào cũng đúng và người khác thì sai thì sẽ không bắc được nhịp cầu thông cảm giữa hai thế hệ. Ðứng trước một hoàn cảnh, mỗi thế hệ đều có cách nhìn và giải quyết đặc trưng. Nếu tổng hợp được hai cách giải quyết vấn đề thì hai thế hệ sẽ giàu về kinh nghiệm hơn. Bi là khả năng thông cảm được nỗi khổ của kẻ khác. Ðứa trẻ thông cảm được sự hy sinh của cha mẹ bỏ nước ra đi, đương đầu với gian nan khổ sở để nó được một tương lai tốt đẹp. Cha mẹ thông cảm được sự khó khăn của đứa trẻ đang tìm cách hội nhập hai nền văn hóa khác nhau và không bắt buộc nó hoàn toàn phải theo lối suy nghĩ của mình. Hỷ là khả năng chia sẻ niềm vui kẻ khác. Cha mẹ chia sẻ niềm vui của con mình tự chọn hướng đi và nghề nghiệp trong cuộc sống, mặc dù đó không phải là ý nguyện của mình. Ðứa con chia sẻ niềm vui của cha mẹ khi thấy nó thành tàị Sự thành công của mình không phải chiến lợi phẩm cá nhân mà do sự hy sinh nuôi nấng của cha mẹ. Xả là khả năng tha thứ hay từ bỏ cái nhìn ích kỷ cá nhân để chấp nhận cái nhìn tổng quát. Ðể có một giải pháp dung hòa, hai thế hệ cần phải từ bỏ một phần sự cố chấp của mình và tha thứ những ý kiến không thích hợp với mình của thế hệ kia.

Tóm lại, khi tuổi trẻ chấp nhận và sống với đạo lý thì những căng thẳng về tinh thần sẽ giảm bớt rất nhiềụ Sự quan hệ với mọi người sẽ tốt đẹp hơn. Khi sống với đạo lý, tinh thần ta sẽ được đầy đủ hơn. Chính sự đầy đủ đó là yếu tố quan trọng giúp tránh sự suy sụp tinh thần có thể dẫn đến tuyệt vọng và kéo theo cái chết với nhiều nguyên do khác nhau như đã kể ở phần trên.

Bác sĩ Thái Minh Trung

Mục Lục


VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________



1.NAVASA 2005 National Conference



Dear Friends, Affiliates, and Supporters of NAVASA,

The last day to receive the discounted hotel rates is tomorrow, June, 22, 2005. If you have not done so already, please use the following information to reserve your room as soon as possible to ensure your discounted hotel rates! For Reservations please call: 1-800-Hiltons or 703-847-5000. Refer to “NAVASA Conference” to receive the discounted ratẹ You can also make reservation online at www.mclean.hilton.com (use the discount code: NAS)

NAVASA has a limited number of rooms reserved at the Hilton McLean Tysons Corner hotel (7920 Jones Branch Drive, McLean, VA 22102) at a discounted price of $95 per night on Thursday, Friday, Saturday and Sunday nights, $129 per night on Wednesday night. Rooms with discounted rate are limited, and will be available on a first-come first-served basis. Register early to secure these discount rates for your hotel rooms.

After June 22, 2005 NAVASA cannot guarantee the discounted rate of $95/per night. Costs can be as high as $200 per night without the discount. NAVASA encourage everyone to reserve your room before June 22, 2005.

For those that have not register, please do so as soon as possiblẹ There are only 9 days left until registration deadline! You can conveniently register online by clicking on the following link: http://www.navasa.org/National_Conference/2005/conference2005/register.htm

If you need to request a mail-in registration, please contact Linda Hoang at lindạhoang@navasạorg.

Updated information about NAVASA workshop as well as speakers bio has been uploaded onto the Conference websitẹ http://www.navasa.org/National_Conference/2005/speakers.htm

Also please be reminded that NAVASA have set up an online forum to assist conference participants who are looking for roommates. It is an open forum where you can post your contact information so that other conference participants who are also looking for a roommate can contact yoụ The forum is located at: http://www.navasa.org/board/

The Login in name and password is (case sensitive): Lodging

For updated information about NAVASA 2005 National Conference as well as online registration and hotel information, visit the conference website at: http://www.navasạorg/National_Conference/2005/index.htm

Thank you & we look forward to welcoming you to Washington D.C. !

Best Regards,
NAVASA Staff
*********************************************************************************
NAVASA 2005 National Conference
"Empowering the Community Through Giving"
Washington D.C. Metropolitan Area
July 15-16, 2005

Visit www.navasa.org to learn more about sponsorship opportunities

Mục Lục


2. www.NamHaFlorist.com



www.NamHaFlorist.com

Tel: (503) 475-6915

* Starting at $4.
* FREE personalized greeting card.
* FREE digital photo of the recipient (this service is only available in Saigon and within 40 km radius from Saigon).
* Send flowers or gifts to Vietnam within 24 hours.
* Customer satisfaction is our goal.

We have all special items for Anniversary, birthday, thank you, Congratulations, love and romance, sympathy, any other special Occasions:
. Fresh flowers
. Phones
. Cream cakes
. Wines
. Fruit baskets
. Roasted pigs
. Teđy bears
. Formulas
. Parfume

Please visit http://www.namhaflorist.com

Mục Lục


VII . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bích Ngọc, Bích Hà, Chu Kỳ Thư, Châu Thái Lê, Doãn Quốc Sỹ, DHH, Hoàng Yến, Hoa Bằng Lăng, Lạc Duyên, Lê Du Miên, Nghiêu Minh, NNgương, Nguyên Ðỗ, Ngọc An, Nguyễn Hải Bình, Niệm Nhiên, NS Phạm Duy, Phạm Vũ Anh Nam, Phạm Quang Tuấn, Phan Tưởng Niệm, Phan Bá Thụy Dương, Quang Ngọc, Sông Cửu, BS Thái Minh Trung, Thanh Thanh, Thy Lan Thảo, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần Kiêu Bạc, Trần Thành Mỹ, Việt Hải đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 39 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua2002@aol.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua2002@aol.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 


FastCounter by bCentral

Copyright © 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors