Số 55
Ngày 1 tháng 11 năm 2006
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Bon chen. Tất tả. Hùi hụi. Lụp chụp. Ðầu óc quay mòng mòng vì công việc, bills, thời gian, xăng nhớt, xe cộ, trả nợ, thăm viếng, ma chay… Ðiên cái đầu. Sầu mớ tóc. Quên, quên hết.
Sực trông lại, con số 11 lù lù trên quyển lịch đã mòn dần. Hai con số lêu nghêu như cặp sào hay cặp cà kheo của người làm xiếc. Chợt nhớ ra lại cuối năm đó nghe. Và năm lại sắp hết. Vèo như tiếng lá mùa thu. Mùa thu ơi, em chết rồi hay còn đó… Mùa thu ơi, em còn đó hay chết rồi ?
Huyễn hoặc. Hư và thực. Có và không. Dòng nước luôn chảy xiết. Mây trên trời bay cao. Bao năm rồi xa nhà ? Chịu. Tâm trạng con người vô cùng phức tạp. Mung lung nhớ. Mệt nhoài buồn. Người ta hay nói : ở bên này, ở bên kia. Tại sao lằn ngăn cách cứ vô cùng sâu thẳm.
Mùa thu lá vàng rơi, những chiếc lá vàng rơi màu úa. Giờ chỉ mới đổi một hai hôm trước, còn mới quá. Nhưng đêm thì đã dài hơn kể từ khi mùa hè chưa qua. Vậy mà ai cũng châu chẫu chờ. Giờ này bên nhà đang làm gì. Mùa xưa còn lảng vảng bay đâu đó hay đã hết.
Tháng 11. Vậy là năm lại sắp hết. Nhìn lại sau lưng, tuổi đã nặng vai. Mới hồi nào tóc xanh, mắt ướt. Còn bây giờ : mối gỏi chân chồn. Ngựa nản chân bon. Lưng còng, tóc bạc. Những can chi lẫn lộn, những Giáp Ất om sòm.
Tết này lại có bao nhiêu người về thăm bên nhà. Mỏi mệt vì giá vé thường được các hãng môi giới du lịch tăng cao vì nhu cầu dồn dập.
Tôi nghĩ chẳng có hãng hàng không nào biết Tết với nhất là cái gì cả. Thậm chí họ đánh đồng sòng ráo là Chinese New Year. Vậy thì tại sao lại tăng giá vé lên ? Thì đấy, ngày Tết ở đây tất cả đều vẫn phải đi làm. Mọi người đành ngậm ngùi ăn Tết âm thầm trong từng gia đình riêng lẻ.
Cho nên ai cũng chăm chăm về để tìm một chút hương xuân nứt chồi đâm nụ. Về để có dịp ăn tiêu, khoe khoang, để người nhà mình vui nhưng người xung quanh nghẹn ngào chua xót.
Ôi thời gian …
Thanh Sơn
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Hoang Lộ Muà Thu | ______Nguyễn Phan Ngọc An | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Buồn Ơi ... Thôi Hãy Ngủ | ______Dòng Sông Nhỏ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Tự Nhiên | ______Tôn Thất Phú Sĩ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Em Ở Bên Kia Xa Thật Xa | ______Kim Thành | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Cuả Một Thời | ______Mạc Phương Ðình | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Mưa !!! | ______Khóc_Cười | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Tạ Ơn Mẹ | ______Ðinh Lâm Thanh | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Mừng Lễ Tạ Ơn | ______Vành Khuyên | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Lên Ðường |
______Bảo thị vị Giang san | 10. Ðà Nẵng Ơi! |
|
______Trần Thiên Ấn | 11. Cuộc Tình Ðã Vỡ |
|
______Nguyễn Hải-Bình | 12. Những Cánh Thư |
|
______Hồng Phúc | 13. Ðêm Giao Mùa |
|
______Sông Cửu |
14. Trăng Nguyền |
|
______Phan Tưởng Niệm |
15. Em Về Gợi Nhớ Tình Quê |
|
______Thy Lan Thảo |
16. Tạ Ơn Mẹ
|
|
______Vũ Ðình Trường / Thanh Thanh |
17. Một Vì Sao Vỡ |
|
______ Ngô Minh Hằng / Thanh Thanh
|
18. Hà Nội Thu Về |
|
______ Ðông Hòa
|
19. Trên Nỗi Tình Người 5 |
|
______Phan Bá Thụy Dương |
20. Thu Ðó Em |
|
______ Việt Hà |
21. Chim Oanh |
|
______Hàn Thiên Lương |
22. Thu Hoài Niệm |
|
______Việt Dương Nhân
|
23. Thu Buồn |
|
______Nam Thảo
|
24. Lửa Sân Si Tắt |
|
______Phi Ðiểu
|
25. Trái Tim Bên Trái Chờ Thu
|
|
______Trần Kiêu Bạc
|
26. Tết Trung-Thu Cho Kẻ Lưu-Cư
|
|
______Nghiêu Minh
|
27. Tình Anh Lính Biển |
|
______Hoàng Yến
|
28. Ðêm Sài Gòn Nhớ Cali
|
|
______Nhật Hạ SG
|
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Mai Ly (Truyện Dài) _______ Việt Dưong Nhân |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 14 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Chuyện Vợ Con ___________ Trọng Văn |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi (Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Một Ngày Muà Thu ___________ Nguyễn Phan Ngọc An |
| 6.Ra Ngõ Gặp Gái ___________ Vành Khuyên |
| 7.Gơi Chút Hương Xưa ___________ Trần Thành Mỹ |
| 8.Chuyện Ngày Xưa ___________ Phan Tưởng Niệm |
| 9.Chân Trời Xa Xôi ___________ Nam Thảo |
| 10.Kỷ Niệm Với Nguyễn Ðức Sơn ___________ Bùi Ngọc Tuấn |
| 11.Ma Gốc Cây Trà ___________ Nguyễn Vi Túy |
| 12.Bạn ___________ Hoa Bằng Lăng |
| 13.Hoài Khúc Xưa ___________ Ðông Hoà |
| 14.Chuyện Tình Qua Internet ___________ Hà Khánh Phương |
IIỊ Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV. Nghiên Cứu________________________________________________________________
| 1. Nữ Sĩ Vi Khuê _______ Lê Xuân Nhuận |
V. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Muà Thu Trong Thơ Nhạc Nghiêu Minh _______ Giao Muà |
VI . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Việt Dưong Nhân
Việt Dương Nhân 2. Bờ Lau Cát Lở 14 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Ðỗ Thành Trọng Văn
Trọng Văn
4. Chập Chùng Bóng Núi (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Thanh Sơn
Nguyễn Phan Ngọc An Nguyễn Phan Ngọc An Vành Khuyên
Vành Khuyên
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
Phan Tưởng Niệm
Phan Tưởng Niệm
Nam Thảo
Nam Thảo
10. Kỷ Niệm Với Nguyễn Ðức Sơn Bùi Ngọc Tuấn
Bùi Ngọc Tuấn
Nguyễn Vi Túy
Nguyễn Vi Túy
Hoa Bằng Lăng
Hoa Bằng Lăng
Ðông Hoà
Ðông Hòa
Hà Khánh Phương
Hà Khánh Phương
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
IV . Nghiên
Cứu_____________________________________________
Lê Xuân Nhuận V. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. Muà Thu Trong Thơ Nhạc Nghiêu Minh
VI . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
-
Chương I
Lạc Loài
Tuổi thơ vắng mẹ, mất cha
Trời đêm lẻ bóng, mắt sa lệ sầu
Ðường trần biết phải về đâu ?
Bốn bề mây xám phủ màu tang thương.
Thân sao thân quá đoạn trường
Tìm đâu nơi chốn tựa nương bây giờ ?
Nhìn lên cất tiếng kêu Trời :
Thấu chăng cái kiếp lạc loài, bơ vơ !
*
Hoàng hôn ngả xuống chân trời, ánh nắng tỏa ra một màu vàng đăm, cánh đồng lúa bao la bát ngát và mùi rơm rạ tỏa hương thơm ngào ngạt, chim kết nhau từng đàn bay về tổ, khói lam chiều nhè nhẹ bay ra từng mỗi căn nhà. Quang cảnh trời chiều im lặng, những động vật đều về chuồng, thỉnh thoảng còn xót lại vài cánh chim lạc đàn bay lẻ tẻ. Riêng bé Mai Ly còn ngồi một mình bên bờ ao. Ao nuôi cá
tra cách nhà em độ vài trăm thước. Bé ngồi yên lặng, lâu lâu thấy em vẫy tay một cái, miệng lẩm bẩm chẳng biết em nói gì. Hễ mỗi lần em vẫy tay là em cười hắc hắc và thích thú lắm. Thì ra bé Mai Ly đang xí gạt bầy cá tra bằng mấy cục đất nhỏ. Vì mỗi lần em liệng mấy cục đất xuống ao là bầy cá cứ tưởng đồ ăn nên chúng trồi lên để dành giựt. Em mãi đùa vui với bầy cá mà trời đã sụp tối. Em sực nhớ, rồi đứng lên chạy về. Về đến nhà bị anh Hai đánh một trận đòn sưng đít.
Mai Ly, đứa bé mất cha từ thuở mới lên năm, mẹ đi tái giá lúc em bảy tuổi. Em ở lại với hai anh và một người chị. Nhưng vài năm sau người anh thứ ba, tên Hữu lên Sài-gòn tìm việc làm để sinh sống, người chị cũng đi lấy chồng xa nhà. Em sống với người anh cả và chị dâu. Ôi, thảm thương cho cảnh chị dâu em chồng !
Hằng ngày Mai Ly cắp sách đến trường. Sau giờ học em về nhà phải trông chừng các cháu và luôn luôn bị đánh đập...
Vào một buổi trưa chúa nhựt, hai vợ chồng Hà đi ăn giỗ, Mai Ly ở nhà trông hai cháu, bé Châu và bé Thu, lỡ để bé Châu té u đầu. Xế chiều anh chị Hà về. Vợ Hà vừa ẵm bé Châu thì cặp mắt chị ta trợn lên nhìn chầm chập vào Mai ly và la hét :
- Mai Ly ! Sao bé Châu thế này ? Con quỉ, đồ ăn hại. Mầy đi không ? Ði ra khỏi nhà này mau lên. Ðể tao kêu anh Hai mầy. Anh ơi ! Coi nè, con quỉ Mai Ly nó để bé Châu té u đầu nè. Anh thấy chưa ? Ðuổi nó đi ngay. Nếu không thì tui sẽ bỏ nhà đi đó.
Hà về còn đứng ngoài vườn để ngắm nghía hoa trái. Bỗng dưng nghe vợ hét la và mét em mình. Anh không biết ất giáp gì cả, anh bèn gọi Mai ly và cũng hét theo vợ :
- Mai Ly ! Lên ván cúi xuống mau.
Anh ta đi lấy cây chổi lông gà cán mây nhịp nhịp trên bộ ván gỗ và gằn giọng, hỏi :
- Tại sao ở nhà làm té em ?
Hà đập mạnh roi vô đít em mình và lập lại câu nói vừa rồi của vợ :
- Con quỉ, con quỉ. Mầy thật là con quỉ chỉ ở đây ăn hại mà thôi. Mầy đi cho khuất mắt tao. Nếu không thì có ngày tao sẽ giết mầy...
Hai vợ chồng hè nhau mắng nhiếc, đánh đập mà không cho Mai Ly phân trần được một lời nào. Bấy giờ em chỉ lau nước mắt, em khóc hết nổi, vì roi vọt hằng ngày chắc em cũng đã quen nên lì đòn.
Ăn cơm xong, mọi người đều đi ngủ. Mai Ly nằm trong mùng trên bộ ván nhỏ phía dưới chái nhà sau, em tủi thân khóc thút thít, thao thức không làm sao ngủ được, tự nhủ : "Bị đòn hoài ăn thua gì. Nhưng hôm nay họ mắng nhiếc và còn đuổi mình nữa. Vậy thì mình phải đi. Nhưng Trời ơi ! Ði đâu, khi trờì tối như thế này ? Nhưng mình phải đi. Dù có chết cũng đi". Nước mắt cứ tuôn ra, Mai Ly kéo vạt áo lên lau, rồi sực nhớ đến mẹ cha, em khóc âm thầm trong bóng đêm. Làm sao ai hiểu được con bé mới có mười hai tuổi đang nghĩ gì ? Em kêu hét trong lòng : "Má ơi ! Má đâu rồi ? Ba ơi ! Ba đâu rồi ?" Mai Ly sực nhớ đến người cha đã chết, mộ chôn cách nhà không xa lắm, em lẩm bẩm : "Sao mình không ra ngủ với ba ? À há, mình đi ra ngoài mả ngủ với ba. Mình phải đi chớ biết làm sao bây giờ ?". Mai Ly nhè nhẹ ngồi dậy. Vì cả nhà đều đang ngủ say. Em lén lấy cái túi rút bằng vải trong tủ nhỏ gần đó, em gom vài bộ đồ cũ xì nhét vô, rồi quơ lấy cặp-táp có mớ tập học và sách vở trong đó. Em không dám đi ra cửa trước, vì sợ gây tiếng động thì sẽ bị đòn thêm nên em bò sát mặt đất mà lần mò ra đằng sau nhà bếp. Nơi đó có một lỗ để cho con Mi-Nô ra vào. Con chó Mi-Nô đang nằm ngủ dưới sàn ván, nó nghe mùi Mai Ly, nó đứng dậy ngoắt đuôi từ từ đến gần, Mai Ly lấy tay vuốt nó và chỉ như bảo nó trở về chỗ cũ. Mi-nô ngoan ngoản và tuân lệnh. Trong nhà vẫn lặng im, Mai Ly yên lòng ép mình bò ra lỗ chó. Thoát ra khỏi căn nhà ấy, lòng em thấy nhẹ nhàng, mặc dù rồi đây chẳng biết ngày mai này đời em sẽ ra sao ?
Ngoài trời đêm nay không trăng, cũng chẳng có một vì tinh tú, cả khung trời tối đen như mực. Nhưng Mai Ly tin tưởng là sẽ có ba em ngoài nghĩa địa, em ráng mò lần đến nơi lòng cảm thấy mừng mừng, tủi tủi. Ngồi bên mộ cha, em khóc thút thít, gọi : "Ba ơi ! Con đây nè. Hồi chiều anh Hai đánh mà còn đuổi con đi. Không có ai thương con bằng ba đâu. Má thì đi lấy chồng khác rồi. Con ghét thằng cha đó lắm. Ba về rước con đi với ba nghe ba !". Bất chợt trong đầu bé Mai Ly nhớ đến truyện "Phạm Công Cúc Hoa" trong lòng em lóe lên một chút hy vọng. Nghĩ rằng ba em sẽ hiện về bên em. Nhưng chờ hoài chẳng thấy gì. Trời về khuya đã hơn nửa đêm rồi. Mai Ly quá mệt mỏi, em lấy tay đẩy mấy cục đất to qua một bên và lấp sơ sài cho mặt đất bằng lại, kéo cái túi rút kê dưới đầu làm gối nằm bên mồ cha mà thiếp đi một giấc tới hừng sáng.
Giựt mình thức dậy mà đầu óc em còn bàng hoàng như vừa nằm mơ, tự hỏi : "Bây giờ mình đi đâu ? Ai chứa chấp mình ? Có ai mà thương hại mình bây giờ ? Trời ơi ! Còn phải đi học nữa chớ ?"... Nhiều câu hỏi trong đầu Mai Ly, rồi em ngồi dậy đi từ từ ra chợ Bình Chánh. Ðến giờ vào lớp học, ông thầy giáo Quân vừa thấy em. Ông sửng sốt nhìn, rồi từ từ đến gần Mai Ly, hỏi nho nhỏ :
- Mai Ly ! Sao áo quần và đầu tóc em dơ quá vậy ? Nếu ngày mai mà em còn dơ như vầy là thầy đuổi ra khỏi lớp đó nghe hôn.
Mai Ly nhìn ông thầy giáo với đôi mắt thật buồn mà trong lòng em mong mỏi sự cứu giúp. Nhưng rồi em im lặng cố nuốt đôi dòng lệ
. Em không nói được một lời nào, lòng cảm thấy xấu hổ với bạn đồng lớp. Cả ngày hôm đó, đầu óc em không hiểu gì bài giảng của thầy, em cứ lo ra, lòng nhủ : "Rồi đây mình sẽ ở đâu ? Làm sao tắm rửa thay quần áo và còn giặt đồ nữa. Trời ơi !".
Tiếng trống trường trổi lên thùng thùng... thùng.
Giờ tan học, trống liên hồi
Cổng trường khép kín, đất trời mênh mông
Bà con, cô bác thật đông
Mà sao như thể đời không có người.
Tà dương lặn khuất sau đồi
Màn đêm buông xuống phủ đời bé thơ.
Sau khi tan học, Mai Ly ra khỏi cổng trường, em suy nghĩ mãi, lại thêm phần khát nước và đói bụng. Em đi thẳng đến phông-tên nước công cộng đưa hai bàn tay nhỏ bé ra hứng nước uống rồi em nhìn phía góc chợ có đống rác người ta chưa hốt, em bước sang qua và ngồi xuống bươi xới tìm đồ ăn. Trong lòng hy vọng sẽ có cái gì dùng được. Bỗng em vui lên, vì tìm được hai trái chuối rụt đã thâm kim. Em vừa lột ra thì có mấy chục con kiến kim đen, em lấy tay phủi phủi và bắt buộc em phải dành ăn với chúng nó. Hỡi ơi !
Ðời ỷ mạnh hiếp yếu !
Mai Ly dùng hai trái chuối tạm qua cơn đói, em lẩm bẩm : "Nếu bầy kiến lớn như mình, thì mình sẽ bị thua chúng nó rồi, vì tụi nó đông quá mà !". Mai Ly động lòng tại vì em mà chúng nó bị đói. Tuy hối hận nhưng sự việc đã rồi.
Cứ nghĩ mãi về mấy con kiến mà trời đã sụp tối. Mai Ly vẫn còn ngồi ở góc chợ, em nhìn qua phía tay phải có vài thớt thịt trống, em đến đó trèo lên nằm. Mùi tanh tanh dưới thớt thịt bay thoang thoảng bên mũi, nhưng em bất cần. Muổi bắt đầu ngửi mùi da thịt người, chúng nó bay đến nghe vo vo. Ðêm nay Mai Ly làm mồi cho bầy muổi đói !
Thân nhỏ bé nằm chèo queo, co quặp lại như con tôm càng kho Tàu. Ðôi mắt lim dim mà hai tay em cứ quơ qua quơ lại đập muổi. Tuổi còn ngây thơ nên giấc ngủ đến với em rất dễ dàng nhanh chóng. Em phó mặc cho muổi mòng hút máu.
(Còn Tiếp)....
Thỉnh thoảng tôi cũng chợt nhớ đến góc hồ nhà của cậu nơi quê mẹ. Cái hồ đó những ngày được bố cho về tắm vẫn được bố cõng trên lưng lội ra rất xa, dạy tập bơi cho tôi. Bố ôm ngang hông, thả lỏng cả tay chân bảo tôi đập cho nổi trên mặt nước.
Tôi rất mực làm theo lời bố. Suốt cả một mùa hè bố gửi tôi tại nhà mợ dâu của mẹ để thằng bé học bơi, nhưng rồi cái đầu nặng nề tăm tối vẫn không cho tôi làm trọn lòng ước nguyện của bố. Tôi đã làm hết cách, từ bám vào cọc cầu, đến ôm thân cây chuối, thậm chí cho chuồn chuồn cắn rốn đến lở cả ra, mà tay vừa buông khỏi cọc cầu thì chìm lỉm ngay tức khắc.
Có hôm sặc nước trợn trừng trợn trạo, nếu cậu không vội nhảy ào xuống đón đỡ thì có khi bố về tôi cũng đã chẳng còn. Cậu cao to dềnh dàng, người đẹp phương phi như tây, quê mẹ ai cũng trầm trồ vẻ sang cả của cậu. Ông bà có của nên cậu học xong chẳng phải làm gì. Giá như chịu đi làm thì ít ra cũng có được cái chân ông thông, ông phán. Nhưng cậu bảo chán ngấy cảnh “ sáng vác ô đi, tối vác về “ nên cậu về quê an nhàn cho được việc.
Ngày ngày cậu vác cần ra ngồi câu dăm con cá, mục đích lấy vui chứ không thiết có món ăn. Vậy mà cậu là tay sát cá, giật lên y như có con chép, con rô to kềnh bóng nhẫy. Cậu gỡ cá ra khỏi lưỡi câu và vứt lên khoảng sân gạch phía sau, cá giẫy đành đạch. Cậu hay gọi tôi ra ngồi cạnh, nhìn cậu câu. Cậu ngồi đó mà tâm hồn để mãi tận nơi đâu.
Hồ là một góc của hồ Tây, được bao gọn bằng khu vườn nhà ông bà, nhưng nhìn ra vẫn bạt ngàn rộng rãi. Cậu hay khoe chỗ hồ này vô cùng lý tưởng, nó đem lại cho ta sự phóng khoáng, tiêu diêu. Cậu nói những điều mà tôi chẳng thể nào hiểu nổi. Cậu bảo câu là câu thời câu thế, chứ nào phải câu để mưu lợi danh chi.
Thấy năm phen bảy đỗi, tôi lụp chụp học bơi hoài không được, cậu chê bai thằng cháu sao có cái đầu quá ngu. Thế rồi cậu lại bảo ngu cũng phải, chứ khôn quá lại thấy chán phèo. Cậu nói những lời lộn xộn mà với sở học lớp tư thì tôi làm sao hiểu cho ra.
Thời gian ở quê mẹ, ông bà cứ giữ chịt tôi ở nhà ông bà. Tối đến, tôi lên nằm trên gác. Ðó là một gian xây gạch lớn, có bực thang xây đi riêng. Giường chiếu chẳng có, cậu cháu bò lăn dưới sàn. Gió lồng lộng đập vào bằng nhiều hướng vì gác không có che chắn gì hết.
Nhà ngoại ở cạnh nhà ông bà mợ dâu chỉ cách một thủa vườn con, nhưng không lần nào tôi ngỏ lời xin về bên ấy mà được chấp thuận. Tôi nằn nì hỏi thì cả ông bà lẫn cậu đều bảo : cháu về bên ấy chẳng ai lo đâu, bà dì và các dì đều bận suốt ngày, rồi cháu sẽ chán ngay thôi.
Cậu bảo đây là gác Nghinh Phong nên cần để gió muôn phương tuôn vào. Cậu lại bảo để thông thoáng như vậy thì căn gác mới được kiết hanh. Những đêm trăng sáng, tia vàng lọt tuốt vào trong nhà. Cậu cháu nằm nhìn chếch lên còn bắt gặp chút mỏm trăng lấp ló ở đầu gianh. Cậu hay hát ông ổng câu “ trăng bao nhiêu tuổi già, núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non “. Tôi mù tịt, cứ giương đôi mắt thao láo, chẳng hiểu trời trăng, ất giáp gì ráo.
Trở về Saigon, chợt nhớ về mảnh hồ, lòng lại gợn lên bao rung động. Tôi hỏi mẹ về căn nhà của bên ngoại, mẹ bảo mẹ chẳng hiểu nữa. Tôi biết mẹ dấu tôi, mẹ không muốn khơi lên nơi thằng con lòng sân hận với bên ngoại. Mẹ chỉ bảo : ông bà là vai lớn, nhưng quí mẹ tựa như con. Ông bà đã nuôi mẹ từ tấm bé. Ông ngoại mất sớm, bà dì thì muốn cắt đứt mọi tình cảm gia đình. Mẹ xa quê đã lâu nên ai làm gì mẹ cũng chả để ý.
Quê mẹ là làng hoa. Thuở còn học ở Hà Nội, tôi đều nghe khen về hoa Nghi Tàm, Nhật Tân. Tết nào dân Hà Nội cũng rủ nhau về đặt hoa từ sớm để có gốc đẹp. Gần giao thừa, người 36 phố phường đánh xe lên đẵn nguyên cả gốc đào về chưng điểm cho mùa xuân sắp tới. Có nhà đặt gốc chiếm cả một góc phòng khách, có nhà tỏa chật cả trên gác thượng. Dân Hà Nội đón xuân bằng hoa như điềm lành.
Tôi ít nhớ về vườn hoa quê mẹ mà lại để ý nhiều về lò đúc gạch thủ công ở đây, dù chỉ duy nhất một lần tôi được biết đến. Tôi hỏi ông bà, thông tin chỉ nhỏ nhoi là “ mẹ anh đã từng làm thợ đúc và khuân gạch vào lò nung một dạo “.
Dĩ vãng lờ mờ chỉ có vậy. Nhưng tại sao nó lại được cất giữ trong ký ức tôi mãi không buông. Về Saigon tôi nhắc với mẹ về lò gạch. Mẹ lại cũng chỉ thở dài và dấu nhẹm điều gì. Sau này, lớn khôn hơn tí nữa, mẹ mới gạt nước mắt nói với tôi : mẹ không muốn nhớ vì đau lòng lắm.
Dạo về ở gần cô, tôi cũng đem chuyện hỏi cô. Cô một mực khen mẹ : chị ấy chả biết giận ai cả. Tâm cứ như vị bồ tát. Ai hành hạ gì rồi cũng bỏ qua, xí xóa được. Bà dì anh đã bán mẹ cho cái lò thổ tả đó để bị ê chề vì tiếng là làm dâu cho họ mà suốt đời rặt làm mướn không công. Nếu bà dì ruột không cứu mẹ anh thì e bây giờ mẹ anh vẫn còn trọn đời ở đó mãi.
Tôi ứa nước mắt khóc vùi. Vậy mà sau này bà cùng các dì bán tống bán tháo căn nhà ngoại đi, kêu cứu mẹ xin vào Saigon thì mẹ vẫn đưa tay ra vớt. Mẹ đưa bà và các dì vào, lo dựng gả các nơi và tất cả dắt díu nhau về cù lao Biên Hòa sinh sống, mẹ mới tạm yên lòng.
Năm Biên Hòa bị nước sông Ðồng Nai dâng ngập khắp cù lao, mẹ hoảng hốt lo. Nước vừa rút đi, mẹ đã băng lên xem sự thể ra sao. Mẹ về mặt mày tươi rói vì mẹ gặp bà và các dì chẳng hề hấn chi. Tôi mới thấy lời cô ví mẹ như một vị bồ tát là quá đúng.
Không riêng gì thân thuộc trong nhà, đến người làng người nước cũng vậy, hễ ai cần gì đều được mẹ giúp. Nếu là người quê mẹ thì mẹ tự động làm, còn nếu là người quê bố thì mẹ nhỏ to xin bố tiếp tay. Bao nhiêu người đã vào Nam nhờ dịp đó, căn nhà gia đình tôi luôn là trạm tiếp đón đầu tiên cho tất cả, để rồi sẽ chia bay tản mác khắp mọi nẻo đường.
Duy chỉ có cô tuy bao lần được mẹ mời mà không khứng đi. Mẹ cứ than : người dưng nước lã thì mình thuyết phục được, còn cô thì cứ như cây cổ thụ bứng mãi không lên. Mẹ đốc thúc bố, bố lắc đầu chịu. Cô suốt đời bám lấy mái tổ gia đình, thay nam nhân giữ gìn hương hỏa.
Chỉ riêng một lần cô hở lời, tôi thoáng chộp được. Cô than là vào miền Nam gần với nơi người ấy đã bò đi, e một lần nào đó nhỡ được tin người ta đã có vợ thì cô lại thất vọng não nề. Tôi dấu điều này trong lòng, ngay cả với cô.
(còn tiếp)
7/03
Ở cái thế hệ cha mẹ của mình, thì vào lứa tuổi 17-18 chắc đã lập gia đình và có con cái cả rồi! Chứ ngày nay thì khác hẳn, rất nhiều cô/cậu trên ba, bốn chục tuổi mà vẫn còn độc thân và được tự do nhông nhổng. Ðấy cũng là một điều nhức đầu cho các cụ trông có cháu để bồng bế. Khuyên con mình đi lập gia đình là chuyện hằng bữa và thậm chí, còn nhờ bạn bè của con thúc giùm nữa. Bài thơ sau đây là những lời thúc hối:
Thúc bạn cưới vợ
Nầy bạn quý mến của tôi
Ðã trên ba chục tuổi rồi còn đâu?
Hãy lo cưới vợ cho mau
Ðể cô bạn gái chờ lâu rất phiền!
Nghe qua cô ấy cũng hiền
Ðược thêm răng khễnh có duyên lắm mà
Thế là số dách rồi nha
Chần chờ chi nữa kẻo già cả hai?
Thời nay ai đợi mối mai?
Về xin bố mẹ định ngày giùm đi
Chớ nên chậm trễ mà chi
Tuổi xuân qua vội mấy khi đợi mình?
Dù có bặm trợn mức độ nào, mấy cậu cũng vẫn khớp trong lần đầu tiên trình diện bố/mẹ của cô bạn gái mình, cảm giác đó được thố lộ như sau:
Ra mắt
Em à, anh nói em nghe
Nhà em lễ giáo khắt khe vô cùng
Lần đầu gặp mặt anh run
Ấp a, ấp úng, sợ thun cả … người!
May là anh cứ mãi cười
Mẹ khen: “Thằng đó vui tươi, hiền lành”.
Ai dè anh thuộc ma lanh
Phá hơn là quỹ! Sắp thành yêu tinh!
Dù gì bố mẹ đã tin
Dâng cô con gái đẹp xinh của mình
Phen nầy em chớ van xin
Chờ anh ... mần thịt! Khiếp kinh chưa nào?
Ðối với mấy cô, một khi đã chấm được người vừa ý thì có lẽ áp lực gia đình khá mạnh mẽ và đôi lúc đợi hoài lại chẳng thấy người tình ham vui của mình ngõ lời trước, nên đành phải liều lĩnh một phen như trong bài thơ nầy:
Ngõ cưới
Anh ơi cha mẹ thúc hoài
Mà nay hai đứa cũng ngoài ba mươi
Nghe đây: anh hỏng được cười
Bao giờ anh mới ngõ lời hỏi em?
Không thèm, nhất định không thèm!
Hôn nhân ai để cho em nói bừa?
Rút lời em lại hay chưa?
Cầu hôn thì phải chừa phần cho anh.
Tim em sắp vỡ tan tành
Anh hù em sợ tái xanh mặt mày
Cái anh nầy chỉ giỏi tài:
Ghẹo người kiểu đó? Có ngày đứng tim!
Cuối cùng thì ngày cưới cũng tới. Chúng ta thường thấy những bài thơ hay nhạc khúc rất là dễ thương và vui nhộn được dùng để diễn tả cái ngày trọng đại nhất trong đời của những cặp tình nhân, nhưng đối với các cô/cậu khắc khẩu thì hình như chẳng có ngày nào mà họ tránh được việc cãi vã:
Ngày cưới
Bà con hai họ hôm nay
Ðến đây đông đủ mừng ngày đôi ta
Thành duyên chồng vợ đấy mà
Sao anh vẫn ngỡ như là chiêm bao?
Ðể em thử nhéo anh đau
Thì anh sẽ biết cái nào thật hư
Từ nay anh bị cầm tù
Em người giữ ngục: đánh nhừ anh luôn!
Tưởng em là kẻ phải buồn
Lúc anh nổi hứng... si cuồng thì nguy!
Tốt hơn em hãy nghĩ suy
Nếu ngoan, anh sẽ không truy tội nầy.
Anh thì chỉ có nói hay
Ðợi khi đụng trận: đọ tài thấp cao?
Mình nên hoãn lại, cãi sau
Mau lo chuẩn bị ra chào bà con.
Ðược lại làm tới, sau khi cưới/gả xong, thì mấy cụ lại đòi có cháu. Khổ nỗi ai cũng thích cháu trai hết, mà còn muốn nó giống mình nữa mới kẹt:
Trông cháu
Bà ơi mình đợi bấy lâu
Lần nầy con gái qua cầu thiệt nhe
Tụi mình đánh cá thử nè
Khi nào thì mới được nghe tiếng bà?
Ông làm tôi cảm thấy già!
Cuối năm có cháu bế là sướng thôi
Ðể tôi móc nối chị sui
Tụi mình đốc thúc ngược xuôi mỗi ngày
Tới khi chúng nó lọt tai
Sanh ra một đứa cháu trai mập lù.
Thôi đừng có quá tròn nu
Giống anh sui đấy, lù đù mất hay
Ít ra cũng cở tôi nầy
Lẹ làng, lanh lợi cả tay lẫn mồm.
Thế là bước qua một giai đoạn mới trong cuộc đời. Không sớm thì muộn vì áp lực hai bên nội/ngoại mấy cậu phải ra đủ mọi chiêu thức độc đáo nhất để bà xã của mình sớm sanh con, cho ông bà có cháu bồng bế. Chuyên gì xảy ra trong giai đoạn đó đến lúc đơm hoa kết trái? Thì xin dành lại cho các anh chị dồi dào kinh nghiệm và mạnh miệng hơi diễn tả… Nhưng theo tôi thấy thì lúc có mang, mấy cô được nuông chiều nhiều nhất. Ðó cũng là cơ hội tốt để tha hồ vòi vĩnh những món quà mà bình thường hơi khó đòi, như bài thơ kế tiếp:
Có mang
Sáng sao nôn ọe kỳ ghê?
Cả tuần liên tiếp ẩm ê nguyên người!
Thiệt mà! Ở đó anh cười?
Bộ anh không thấy em lười biếng ăn?
Hỏng chừng em có mang chăng?
Vài tuần như thế, dần dần hết thôi!
Bắt thường anh đó anh ơi
Sanh con anh thử nói coi thưởng gì?
Gái thì chẳng có cái chi
Trai anh sẽ thưởng 1 li (hột xoàn)
Con nào thì cũng là con
Phạt anh nếu gái phải còn gấp ba.
Có con tốn kém lắm nha
Carat đủ lớn em à đừng tham?
Nhớ nhe có hứa có làm
Sanh xong không có? Cắn c… ằm anh luôn!
Chắc chắn quý vị nào đã có con thì khó mà quên được cái cảm giác đứa bé trong bụng cựa quậy. Nhiều đứa rất nghịch ngợm, chúng đợi đến khuya lúc mọi người đi nghỉ ngơi thì lại bắt đầu trồi lên phá phách như vầy:
Bị con đá
Anh xem con quậy như vầy?
Trồi lên, lộn xuống bên nầy, bên kia
Ðó coi nó đá em kìa
Ước gì trong đó có bia che nè?
Ráng ngoan, đừng đá mẹ nhe!
Bả cằn nhằn mãi, mình nghe nhức đầu!
Ðợi đi hỏng có lâu đâu
Ra đây chơi đá túc cầu sướng hơn.
Anh ơi nó thụi từng cơn
Giữa đêm mà nó vẫn còn phá em!
Nếu mà biết trước hỏng thèm
Tin anh xúi dại, lỡ mềm lòng nghe!
Hay là em cứ lên xe
Anh rồ tiếng máy è è thử xem
Không chừng nó sẽ say mềm
Cho em được ngủ qua đêm ngon lành.
Thuở xưa, lúc đi sanh, thường thường chỉ có người mẹ vô nhà thương thôi, còn người cha bận đi làm cho đến chiều mới về thăm vợ, con. Còn bây giờ khác hẳn, nhiều người cha có mặt trong phòng sanh để chứng kiến con mình chào đời và đôi khi người cha còn được bế con trước người mẹ nữa:
Con nè
Con nè nó giống em ghê
Mắt, môi, mũi, miệng khỏi chê chổ nào
Cưng không? Anh nói sai đâu?
Nhẹ tay bế nó sát vào người đi.
Nó nhìn dáo dác tìm chi?
Mau lên em cứ nói gì thử coi
Chắc là nó nhận ra lời
Tụi mình khua mép, khua môi mỗi ngày
Nhìn xem, anh nói đúng ngay
Nó cười mình đó! phục tài nó chưa?
Em la anh cứ nói bừa?
Chuyện nầy nghe nhắc từ xưa rồi mà.
Bây giờ trẻ con rất lanh lợi, có lẽ vì được cha mẹ chú ý và nói chuyện với chúng thường xuyên từ lúc còn trong bụng, nên chúng có thể nhận được tiếng của cha/mẹ mình ngay từ lúc lọt lòng như đã nhắc đến trong bài thơ trên. Bên các nước tây phương, thì chuyện chăm sóc con cái là bổn phận của cha lẫn mẹ, do đó việc người cha thức đêm để thay tã, pha sữa và cho con bú cũng rất bình thường:
Dỗ con (1)
Anh ơi con ướt/đói rồi
Anh qua thay tã giùm coi anh à
Rồi pha bình sữa nóng nha
Nhớ ngâm nguội bớt đem qua đút liền
Giống cha đòi hỏi liên miên
Mỗi đêm mấy chập nó phiền làm sao!
Anh lo cho nó mau mau
Chứ ồn ào quá ai nào ngủ ngon?
Tại anh đòi phải có con
Thì xin chịu khó, để còn sanh thêm
Bằng không chắc chẳng ai thèm
Nặn ra cho nó đứa em đâu à.
Thực ra tôi không cố ý bôi bác mấy bà, ban đêm nằm đó sai chồng lo cho con, nhưng có rất nhiều gia đình, cả hai vợ chồng đều phải đi làm, lúc sanh con người mẹ chỉ xin tạm nghỉ việc khoảng 6 tháng đến 1 năm. Trước khi có thể trở lại sở, thì phải tập cho con dứt sữa mẹ. Ðó là trách nhiệm của người cha vì mấy đứa bé rất là tinh khôn, nếu được ngồi trong lòng của mẹ, chúng thà nhịn đói, khóc la rùm beng chứ dễ gì chịu bú bình. Nghe nói cũng không khó, nhưng thử qua mới biết! Ðôi khi thấy con không chịu bú người cha quá sốt ruột và phải kêu gọi cầu cứu.
Dỗ con (2)
Mình ơi qua phụ đi mình
Chắc con khát sữa, khóc inh ỏi rồi
Anh vừa thay tã đó thôi
Em cho nó bú thử coi thế nào?
Thằng nầy xấu đói làm sao
Nó y như mẹ ồn ào quá đi
Anh đâu biết nó bị gì!
Dỗ hoài không nín chắc vì đòi em.
Mình ơi bế nó thử xem
Người không nóng sốt, cả đêm khóc hoài
Lớn thì nó sẽ biết tay
Giống chi hỏng giống? Giống ngay rộng mồm!
Nhiều người trong số chúng ta, từ sáng sớm đã gởi con vào nhà trẻ, đến chiều tối mới đón về nên việc con tập bò, tập đi có thể xảy ra từ khi nào cũng chẳng hay! Ðến lúc nhìn lại thì nó đã chạy tưng tửng rồi! Hai bài thơ sau đây viết lại cảm giác của một vài cha, mẹ được may mắn chứng kiến giây phút con mình mới biết bò hay chập chững những bước đầu:
Con biết bò
Em ơi con mới biết bò
Giống như con chó bốn giò thương ghê
Ảnh cười đắc ý hả hê
Mau mau hãy cố lẹ về để xem
Nhớ đừng trễ quá nhe em
Coi chừng nó mệt không thèm bò đâu?
Ảnh đang gù gật cái đầu
Chắc là trúng ý hay sao em à
Kỳ nầy chắc sướng rồi nha
Chổ nào cũng tới! Úi cha nguy rồi
Phen nầy nó phá cho coi
Chắc mình dọn dẹp đã thôi em à!
Con biết đi
Anh ơi con biết đi rồi
Bước đâu hai bước lại thôi ảnh ngồi
Ảnh bò tới phía chiếc nôi
Vịn vào chiếc ghế để rồi đứng lên
Lần theo đồ đạc cạnh bên
Lẹ làng ảnh bước bấp bênh muốn nhào
Úi chà định chạy thật sao?
Ðúng như mẹ nói hồi nào thuở xưa
Anh vừa chập chững buổi trưa
Xế chiều lại chạy ngã bừa tứ tung
Phen nầy giữ nó mệt khùng
Té lên, té xuống: anh hùng tỉnh bơ!
Bình thường, mấy bà rất thích đi mua sắm, đến lúc có con thì được thêm một lý do chính đáng để đi shopping thường xuyên hơn:
Mua sắm cho con
Ðể em đề nghị thử nhe
Hôm qua trong sở có nghe nói là
Lúc nầy đồ rẻ lắm đa
Nên anh chịu khó ở nhà giữ con
Em đi coi thử có còn
Cái gì mua được cho con anh à
Nhớ là anh hứa chẳng la
Em đi tới xế chắc là về ngay.
Em đi mua sắm mỗi ngày
Còn bao nhiêu thứ chưa xài vứt đi
Ham ba đồ rẻ làm gì?
Con mình chóng lớn khó bì được size
Ðồ mua chất đống nằm hoài
Nếu không quá rộng thì sai trái mùa
Gặp chi em cũng hốt dùa
Thật là phải nói anh thua em rồi!
Ðối với trẻ con, phá phách là chuyện không cách chi tránh khỏi! Bài thơ sau đây diễn tả một vài lối nghịch rất thông thường:
Con phá (1)
Con ơi, con phá quá nè
Vách tường vẽ đủ mầu mè hết trơn
Ba cho giấy lại chẳng sơn
Phen nầy lỡ má nổi cơn lôi đình
Chắc là tội khó có xin
Bằng không má trách ba bênh con hoài
Úi chà quần áo của ai
Con không đụng tới, chơi ngay áo dài!
Má vừa sắm đó để mai
Mặc đi đám cưới, như vầy nguy to
Thôi rồi đít phải lót mo
Ðiệu nầy bả đánh mình bò càng luôn!
Các cậu thì hay phá đồ điện hơn, chúng ta nên cẩn thận bằng không có thể nguy hiểm đến tính mạng:
Con phá(2)
Úi chà, sao phá phách quá đi?
Con làm bể nát cái tivi!
May là nó ngã chưa đè trúng
Bằng không con dẹp đép còn gì?
Giống ai mà lại nhanh nhẹn quá?
Tay chân chụp, hốt khỏi ai bì
Phen nầy má dũa mình thê thảm
Bả về mình biết phải nói chi?
Xê ra, hãy tránh xa chổ đó
Ðể ba dọn dẹp ngay tức thì
Nè ôm bình sữa, nằm lên ghế…
… Quay qua, quay lại ảnh ngủ khì.
Bình thường lúc chưa có con bừa bãi cũng không sao, chứ có con rồi nên ngăn nắp một chút, bằng không món nào vô tay của mấy cô, mấy cậu tí hon ấy, thì cũng kể là tiêu tùng! Chẳng hạn như vé xe lửa nguyên năm, trị giá trên cả ngàn dollars đã bị cắt vụn trong một vài giây:
Con phá(3)
Anh xem con phá quá nè!
Nó đi cắt nát vé xe lửa rồi!
Em vừa mua đó anh ơi
Cho nguyên năm đấy, giờ coi vụn vằn!
Phải em có nắp, có ngăn
Chắc đâu đến đỗi, thôi cằn nhằn chi?
Lỡ rồi, la chẳng lợi gì
Lần sau em cất kỹ thì không sao.
Cho em đánh nó thật đau
Ðể cho nó sợ lần sau biết chừa
Phá thì cũng phá vừa vừa
Giống ai nghịch quá, mẹ thua con rồi!
Thách en đánh nó thử coi?
Láng giềng nghe được thì ngồi tù nhe
Nhìn xem nó bừa bãi nè
Giống chi hỏng giống? Ai dè giống hư!
Con gái thường thì vào khoảng 9 tháng đến 1 năm đã nói sõi, trong khi con trai hơi chậm hơn! Tùy có đứa kêu ba trước, có đứa kêu má trước. Trong trường hợp nầy, tôi hơi thiên dị một tí: cho thằng bé gọi ba trước vì mấy ông cũng có phần chăm sóc con mà:
Con biết kêu ba
Mình ơi con biết kêu ba
Nghe sao thương quá, úi chà đã ghê!
Thấy chưa, cho bỏ tật chê
Con mình chậm nói, ai dè lanh thay
Hỏng chừng đợi tới ngày mai
Nó kêu được má thì hay quá chừng
Chắc anh cõng nó trên lưng
Nó khôn, nó biết anh cưng nó nhiều
Ðược anh chăm sóc, nuông chiều
Cho nên nó xạo, kêu: Ba, Ba hoài
Em đừng đi shop hôm nay
Dại con kêu má, thử tài xem sao?
Trẻ con bên đây không kêu má, mà chúng thường kêu mẹ bằng Mum:
Con kêu mum
Anh ơi con mới kêu Mum
Mới vừa nghe đó, không nhầm được đâu
Ôi trời mình đợi bấy lâu
Mới nghe một tiếng Mum đầu dễ thương.
Thấy chưa? Anh chớ khinh thường
Nó khôn, nó biết, em thương nó mà
Ðể em đi shop lẹ nha
Mẹ mua, mẹ sắm nhiều quà cho chơi
Nhớ nhe, phải biết nghe lời
Ðừng bày, mẹ dẹp hụt hơi mỗi ngày
Chiều về nhớ phải thật hay
Kêu: Mum, Mun nữa chẳng sai tiếng nào?
Nếu tiếp tục viết về đề tài nầy thì chẳng biết đến bao giờ mới hết! Việc chăm sóc trẻ con chắc chắn là một trong những kinh nghiệm rất khó quên. Có một điều mình nhận thấy là sau khi làm cha, làm mẹ thì chúng ta mới thấu hiểu phần nào công lao của bật sanh thành:
Công lao cha mẹ
Thấy chưa mình đã nói rồi
Có con vui lắm nhưng hơi cực à
Nhỏ thì nó đói khóc la
Mỗi đêm mấy chập khó mà ngủ yên
Ðến khi đi/đứng hơi phiền
Ðụng chi cũng phá, tới phiên dẹp khờ!
Nhưng nhìn con trẻ ngây thơ
Bao nhiêu khó nhọc lu mờ, nhạt phai.
Ðến khi từng trải mới hay
Công lao cha mẹ những ngày xa xưa
Hỏi chi có thể sánh vừa?
Núi cao? Biển rộng? cũng chưa đọ bằng.
Với kinh nghiệm đời cũng như kinh nghiệm viết kém cỏi, tôi đã mạo muội gieo những vần thơ thô sơ, mộc mạc nầy với hy vọng là chúng có thể mang đến cho độc giả một vài nụ cười thoải mái trong những giây phút giải lao. Biết đâu nó lại gợi lên cho các anh chị khác: cảm giác ngứa ngáy tay chân nghề nghiệp để họ viết ra thật nhiều bài dài lê thê, lếch thếch kể chuyện từ cái thuở mới hẹn hò cho đến lúc được làm Nội hay Ngoại cho chúng ta nghe, lúc ấy tha hồ mà đọc mệt xỉu nhỉ?
Xin hẹn gặp lại.
Vậy mà có một lần anh phải đối đầu với một trường hợp lạ kỳ. Nó ví như anh đang ăn miếng cơm bỗng nhá phải hạt sạn quá cứng. Không những hạt sạn làm mẻ răng anh mà còn nằm kẹt trong kẽ, không sao cạy ra nổi.
Anh vẫn nghĩ chiến đấu với địch thiệt vô cùng nguy hiểm mà không khó. Giữa hai lằn ranh sống và chết, người ta chỉ có một chọn lựa duy nhất là phải thắng để sống còn. Nhưng chiến đấu với phe mình thì phải làm sao đây. Chẳng lẽ trừ khử nhau đến tận cùng tần số để rồi lúc nào cũng sẽ có một hố sâu mơ hồ hiện diện giữa hai bên. Còn nếu không cứng rắn với nhau thì sao gọi là kỷ luật nữa.
Trong chiến tranh, tự thắng để chỉ huy đành rồi, nhưng cũng cần phải thắng cả những đầu gấu dưới quyền thì mới duy trì được an ổn. Kỷ luật có cao thì mệnh mình mới vững, còn thả lỏng buông rơi thì có một ngày nào đó tai họa sẽ đến nơi. Ở cái đồn cheo leo này, tai họa không phải chỉ riêng cho một người mà là cho tất cả.
Chiều hôm đó, ông thượng sĩ thường vụ vào báo với anh về một người lính mới lên đồn. Anh đã lệnh cho trình diện ngay, nhưng ông thượng sĩ xin để nán lại vài ngày nữa. Ông này viện lý do anh lính mới lên vùng xa lạ nên chưa quen, ông xin để uốn nắn anh ta vài hôm trước khi để anh vào gặp thượng cấp.
Loăng quăng quanh đồn, anh có thoáng thấy anh lính này. Lính với tráng gì mà áo quần loạc choạc, tóc tai bù xù, thái độ nghênh ngang. Ðã lỡ cho phép người phụ trách kỷ luật đồn lo sự việc, nên anh lờ đi như không thấy. Tối đến, chú tà lọt của anh lại to nhỏ về lời huênh hoang của anh lính mới lên. Ðầu anh như có ai cầm búa gõ ong ong trong đó, mắt anh muốn đổ lửa, miệng đắng ngắt.
Anh lính mới tuyên bố vung vít trong đồn chậm lắm chỉ một tháng lại ra đi. Cho nên anh ta xem như đây là một kỳ đi nghỉ dưỡng. Anh lính đã được ai đó hứa hẹn sẽ kéo về lại thành phố như gia đình anh muốn. Và hẳn nhiên anh lính ương ngạnh với hết mọi người. Anh giận lắm, coi như vừa bị cái tát vào mặt
Ngay đêm sau, anh loan cho đồn là tin tình báo cho biết địch sẽ đánh nhổ đồn đêm nay. Anh bèn cắt đặt mọi bộ phận sẵn sàng nghênh tiếp. Anh chỉ định thượng sĩ dẫn một toán ra bên ngoài, nằm chặn đường qua lại của địch. Còn phần anh dẫn một toán khác làm lực lượng đánh thẳng vào hướng địch tiến quân. Anh thản nhiên giao cho anh lính mới khẩu súng và ém anh ta vào một vùng nguy hiểm nhất.
Ðêm âm u rùng rợn, rừng im ắng lạnh lùng. Ai cũng hồi hộp chờ đến nén đi tiếng thở lớn. Nửa đêm, đạn nổ long trời, ngay chỗ anh lính mới bị địch tràn ngập và hô xung phong náo loạn. Hai bên giao tranh dữ dội, mặt trận có vẻ gay go. Cuối cùng thì địch bất ngờ vội vã rút lui, tiếng anh oang oang ra lệnh truy kích và sau đó cho kiểm điểm thiệt hại. Có lẽ kế hoạch nhổ đồn bị lộ nên địch chưa làm được gì, đành bỏ rơi dự định.
Khi đàn em của anh đi thu lượm đồng đội thì thấy anh lính mới khiếp quá đã nằm chết giấc bên bờ hố đầy bùn. Anh cho lịnh xốc anh ta lên đem về đồn cứu tỉnh lại. Anh lính bàng hoàng, mắt lấm lét nhìn quanh mình. Anh ân cần hỏi han về đường đi nước bước của địch, anh lính không làm sao thuật nổi.
Anh em cứ nhìn nhau nhếch mép cười. Vị thượng sĩ thì gật gù như gõ nhịp. Anh vẫn thản nhiên và tỏ ra vui mừng khi thấy không có thiệt hại cho phía ta. Anh còn nói đùa với người lính mới : chắc địch nghe cậu mới lên đồn nên tổ chức chào mừng một chút cho vui.
Về sau, khi niềm vui đã bén, tình nghĩa đã sâu, anh lính mới rụt rè khẩn xin anh một lời tạ lỗi. Anh vui vẻ nói chẳng có gì. Ðến ngày trình diện, thái độ anh lính mới đã tỏ vẻ khuất phục, quần áo vén gọn, đầu tóc cắt ngắn. Anh lính làm động tác chào kính thật nghiêm trang, anh ân cần mời người lính ngồi.
Hai thầy trò to nhỏ tâm sự với nhau. Anh lính nói mà đầu cứ cúi gục. Anh phân giải tận tình. Anh lính chùi nước mắt mà thú thật với anh lời gia đình hứa khi anh lên đường đến đồn. Anh buồn chán vô cùng, tiếng gọi quân đội là nơi trui rèn người trai thời chiến mà rải rác đó đây vẫn có những trường hợp bao biện cho nhau.
Từ đó, anh lính xin ông thầy cho theo sát một bên để học hỏi. Anh vui vẻ nhận lời, hai người như bóng với hình luôn bên nhau. Trong một lần ngồi với nhau phía sau đồn, khẩu súng đặt trên đùi, dõi mắt nhìn con đường mòn dẫn xuống suối, anh lính đã tỏ hết điều anh ta nghĩ.
Anh lính mới tỏ vẻ hối tiếc về những ngày sống vô tích sự bên cạnh mẹ cha. Anh ta cũng nhận ra sự tẻ nhạt của thành phố khi chiến tranh xảy ra mà cứ dửng dưng coi như chuyện ở đâu đâu. Bỗng dưng anh cảm thấy chán cái nếp sống đã đẩy đưa vào hẹp hòi, ích kỷ. Anh lính quyết tâm tổ chức lại đời sống cho có ý nghĩa và đạt tới mức giá trị hơn.
Hai thầy trò đã hòa chung nhau một nụ cười cởi mở giữa nắng chiều đang nhạt dần nơi chốn đèo cao.
(còn tiếp)
Bút ký :
Cứ mỗi năm đến ngày 11 tháng 9, ngày tang thương của nước Mỹ, là lòng nàng đau xót khôn nguôi, người yêu của nàng cũng giã từ nàng ra đi vĩnh viễn sau ngày đại nạn của Hoa Kỳ mấy hôm, cho nên đối với nàng ngày 11/9 là chứng tích muôn đời, ngày kỷ niệm cho cuộc tình đã mất…
Cho dù qua bao xoay vần, thay đổi của tháng năm, lòng nàng vẫn nhớ vẫn thương hình bóng cũ, có ai hiểu thấu tận trái tim mình bằng chính mình… Sau khi chàng nằm xuống, nàng đã tự nhủ chạy trốn tất cả mọi cảm tình xung quanh, hãy sống những tháng năm còn lại cho chàng dù trong nhức buốt cô đơn ! vì nàng hiểu ra rằng nàng đã dự phần, nàng là một trong nhiều nguyên nhân đưa chàng tới cõi nghìn thu vĩnh biệt !
Hơn ba năm, nàng sống âm thầm lặng lẽ kể từ ngày chàng bỏ ra đi, những cuộc vui, những buổi họp đàn, văn chương thi phú, ít ai thấy nàng tham dự như trước…
Một tâm khúc cho người tình đã khuất, nàng nghĩ thế và viết trang thiên nhật ký này cho chàng, dù biết rằng chàng không còn hiện hữu trên thế gian này nữa, nhưng tâm linh chàng sẽ đọc và hiểu cho nàng, tha thứ cho nàng…
Ngày đó, một ngày rất xa xôi với ký ức đang ngập tràn kỷ niệm…Một chiều thơ nhạc ra mắt tập thơ của thi sĩ Vũ Băng Ðình đến từ một tiểu bang xa, đang chương trình nhộn nhịp thi ngâm thì chàng đến với hai người bạn, với dáng dấp cao lớn, trán rộng, mái tóc gợn quăn, nước da trắng, chàng là hiện thân của những mẫu người trí thức, bảnh trai…Nhìn chàng giây phút lòng nàng đã thấy cảm mến một mẫu người yêu lý tưởng, nhưng đó chỉ là thoáng qua, nàng vẫn giữ cho mình sự nghiêm trang xa lạ khi Hùng và Văn giới thiệu chàng với nàng để quen biết…
Ngày 2/8/1997, nàng không bao giờ quên ngày kỷ niệm này, chàng lên bục ngâm thơ, giọng chàng sang sảng tràn đầy sức sống, một giọng Bắc Hà Nội trữ tình, tha thiết như tâm tình chàng đang trao gởi vào thơ…Chiều đó, thay vì đi dự một party của trường, nàng đã vui lòng theo lời mời của chàng và hai bạn, nàng đi dự một đám cưới của bạn thân chàng. Bốn người trên một chiếc xe, chàng luôn miệng nói cười vui vẻ, âm vang suốt cả đoạn đường dài, nàng đã nhận thức được nơi chàng vẻ hồn nhiên yêu đời, dường như cuộc sống chàng không có điều gì khổ tâm lo nghĩ ?...
Chàng làm MC chương trình đám cưới, chàng nói chàng cười, chàng kể chuyện tiếu lâm trong những giờ phút chờ khách đến đông đủ, con người chàng trông bặt thiệp lạ lùng – Tàn tiệc, chàng và hai bạn đưa nàng về lại chỗ lấy xe của nàng, chàng xin số phone của nàng và cầm tay nàng hôn từ giã.
Sáng hôm sau, chàng gọi hẹn nàng tại nhà hàng gần nơi nàng cư ngụ, chàng đã mua sẵn một chai dầu thơm Chanel 555 loại đắt tiền đem tặng nàng và nói “ Tôi tặng cô vì thích được tặng, chứ không trông mong được làm quen với cô, vì thân tôi thấp hèn, đâu dám ước mơ làm quen nữ sĩ” chàng cười rất tự nhiên nhưng hàm chứa một sự thân thiện chân thành mà nàng đã cảm nhận được ! nàng chưa hề gặp ai tặng quà cho bạn gái mà lại có những ngôn từ lạ lùng, bất cần đời như thế, nàng cũng cười vui trả lời “ Tôi thật chưa thấy ai lạ lùng như anh, trông anh thật lựu đạn, nhưng tôi thích cái tính tình lựu đạn của anh” chàng cười ha hả quên cả người xung quanh đang nhìn chàng…ở chàng toát ra sự kiêu kỳ, bất cần và bộc phát nhưng vẫn không thiếu sự trân trọng và tế nhị với nàng cũng như với bạn bè – Nàng thích những người đàn ông có cá tính như thế và sau hai tháng tìm hiểu cặn kẻ về đời tư, biết chàng đang sống độc thân, làm việc cho một hãng điện, nàng đã chấp nhận tình cảm và chàng đã không ngần ngại đưa nàng đến nhà gặp các chị gái của chàng…
Ngày tháng trôi qua, những buổi văn chương thi phú, những cuộc hội họp, những party đều có mặt chàng và nàng – nàng đã khám phá ra chàng là một tâm hồn thơ, chàng viết toàn thơ tình lãng mạn, thương đau, bị phụ bạc ! có những bài thơ chàng viết khá lâu vào thập niên 60, 70 chàng vẫn còn lưu giữ, thì ra hai tâm hồn đồng điệu, nàng đã giới thiệu chàng vào các hội thơ và bạn hữu của nàng.
Từ đó, chàng đã có một bút hiệu, tên thật của chàng chỉ dùng trong hãng xưởng và gia đình chàng mà thôi…tất cả bạn bè văn chương thi phú chỉ biết chàng qua một từ ngữ dịu dàng “ Yên Bình”, bút hiệu mà nàng đã thân yêu đặt cho chàng trong một khắc chàng cỡi mở tâm tình về những đoạn trường cay đắng của đời chàng, nàng ước ao cho những bất hạnh phôi pha và cho tâm hồn chàng lắng đọng nên chọn tên ngọt ngào đó đặt cho chàng – Chàng đã trân trọng nói rằng “ chỉ khi nào anh chết đi, chứ anh còn sống là cái tên YB là của anh, không bao giờ thay đổi” !
Trong cuộc sống đầy bon chen, lừa lọc, chàng vẫn không màng lợi danh, tiền bạc, chàng đi làm ngày thường, cuối tuần mời nàng đi xem phim, đi bát phố, chàng không tiếc với nàng một món gì nàng thích, không có tiền mặt chàng cà thẻ, chàng vẫn thường nói “ sống mà keo kiệt, chết có mang theo được không”, chàng nghèo nhưng hào phóng, nàng thấy thế càng thương và không bao giờ phải để tốn kém cho chàng quá đáng – một lần nàng dự định đi New York ra mắt sách, chỉ mới bàn là chàng đã ra dịch vụ cà thẻ mua vé máy bay cho nàng mà không cho nàng hay – Sau đó vì công việc hãng xưởng bề bộn, nàng hủy bỏ chương trình đi New York, thế là chàng mất toi 500 mỹ kim…chàng không tiếc cũng không buồn mà chỉ cười hề hề coi như tháng đó kỵ tuổi không đau bệnh thì phải mất tiền, thế thôi !
Hai người thương yêu nhau chân thành, bạn bè thường khen tặng đẹp đôi mỗi khi chàng và nàng xuất hiện một nơi nào, thật thế, với dáng dấp rất đẹp, ăn mặc chải chuốt cẩn thận, chàng là mẫu người chưng diện rất bắt mắt đàn bà phụ nữ, nhưng chàng đã nói với nàng nhiều lần “ không ai bằng em cả, anh rất hãnh diện khi được đi chung với em” nàng cũng thấy lời nói chàng rất thật qua cử chỉ chàng dành cho nàng trong những buổi tiệc đông người, nàng cũng có cái kiêu kỳ riêng của nàng, cho nên ai cũng thấy rõ hai người là một cặp tình nhân rất đẹp đôi và mọi người vẫn chờ đợi được một ngày uống ly rượu chúc mừng…
Nàng về quê hương thăm cha một tháng, không ngày nào chàng không gọi phone về hỏi han mọi việc, đến nỗi cuối tháng nhận cái “ bill” hơn 500 đồng tiền gọi VN – Chàng rất chu đáo trong mọi sinh hoạt, ngày lễ, ngày tết, ngày sinh nhật, ngày Valentine , ngày Mother’s day không bao giờ chàng quên tặng quà cho nàng dù là món quà đắt giá hay là một đoá hồng tươi…Sự trân quý chàng đã dành cho nàng rất sâu đậm trong trái tim rạn vỡ của chàng :
Chỉ một ngày thôi, không gặp em
Ðã nghe sầu lắng tận trong tim
Bao năm tôi sống đời cây cỏ
Chỉ một ngày thôi…vạn nỗi niềm…
Viết thiên nhật ký này lòng nàng chùng xuống, kỷ niệm mối tình như mới hôm qua, nàng không quên từ một cử chỉ nhỏ của chàng từ thương yêu hay giận hờn trách cứ…Chàng thì muốn phô trương cho mọi người biết tận tường tình cảm của chàng dành cho nàng, nàng thì trái lại, dè dặt kín đáo, trước mặt mọi người chỉ giới thiệu là bạn thân, nàng cũng có cái lý của nàng, một lần đổ vỡ đã cho nàng kinh nghiệm trong cuộc sống lứa đôi, phải tìm hiểu thật kỹ bản chất người bạn đời, lỡ lầm lần nữa là hết cuộc đời…vì lẽ đó, nàng chưa bao giờ công nhận điều gì khác hơn là bạn thân, quá lắm là bạn trai mà thôi – Chàng vẫn biết nàng không dễ gì chấp nhận cuộc sống chung khi chàng chỉ hai bàn tay trắng cho dù chàng dành cho nàng cả một khối tình yêu chân thật tận con tim :
Hơn nửa đời mưa gió
Hơn nửa đời lầm lỡ
Tôi còn có gì đâu ?
Mái tóc đã hai màu
Linh hồn đang rạn vỡ
Nhưng phải chăng ?
Tim tôi còn máu đỏ
Nên đã yêu em như đợi tự nghìn xưa
Nên đã yêu em…lắng đọng lời thơ
Bằng lòng không em ?
Tôi xin quỳ đôi chân đã mỏi
Dâng cho em mảnh đời còn lại
Dù có …muộn màng…
Chàng đã đưa nàng đi thăm nhiều danh lam thắng cảnh của hai miền Nam Bắc California, rỗi ngày nào là lấy xe chở nàng đi khắp mọi nơi, đến nhà bạn thân ở Okland, San Francisco, Sacramento tổ chức ăn uống, tiệc tùng, chàng không bao giờ để bạn bè thiệt thòi, chàng luôn bỏ tiền ra thết đãi… Chàng đưa nàng đi Canada, Siattle và vài nơi trong nước Mỹ, đến đâu chàng cũng bặt thiệp làm quen dễ dàng với mọi người xung quanh, chàng có nhiều đức tính tốt, cương trực, thẳng thắn, giúp đỡ mọi người nhưng trái lại chàng có vài tính xấu như hút thuốc, một tuần phải nhậu với bè bạn một hay hai lần, tính quá ngay thẳng của chàng đôi khi dễ mất lòng người, nhưng nếu ai hiểu chàng sẽ thấy rõ chàng đúng là bậc nam nhi không yếu hèn nhu nhược, không sợ hãi một áp lực nào, không bao giờ biết luồn cúi nịnh bợ một ai
Chàng giận nàng nhiều phen vì khi quen chàng, nàng vẫn còn vài ba người theo đuổi, nàng luôn tránh né không thể hiện tình yêu thương đối với chàng trước thiên hạ, có lẽ nàng không thấy hãnh diện khi đi song đôi với chàng ? ï Chàng nghĩ thế và tức giận chia tay nàng – tưởng nàng sẽ chạy đi tìm kiếm chàng, nàng im lặng và chấp nhận chia tay. Thật tâm nàng rất thương yêu chàng nhưng có lẽ do nàng khó tính, nàng muốn người mình yêu phải toàn bích, nàng muốn chàng là mẫu người ít nói, khiêm nhường, nàng muốn chàng không là người ăn chơi, hút thuốc, uống rượu
Hai năm chia tay, chàng và nàng vẫn thường xuyên gọi phone thăm nhau, an ủi và nhắc nhở giữ gìn sức khởe, thỉnh thoảng nàng nấu món gì ngon vẫn mang đến cho chàng dùng, họ xem nhau như bạn thân, nhiều lúc máy computer của nàng trục trặc, nàng gọi là chàng đến ngay dù đang bề bộn công việc nhà hay sở làm, chàng sẽ xin hãng về đi Bác Sĩ là xong ngay.
Một ngày nọ, chàng gọi điện thoại bảo nàng chờ chàng xuống nhà mời nàng đi ăn, hai người cùng đi chung một chiếc xe của chàng. Xe không vào tiệm ăn mà lại chạy thẳng đến Macy’s.- Nàng ngạc nhiên “ Ở Macy’s có gì mà ăn, sao lại vào đó?” Chàng không nói không rằng, chỉ cười và im lặng chạy vào parking đậu xe.
Chàng nắm tay nàng hỏi nhỏ : Em có nhớ hôm nay là ngày gì không ?
Nàng giật mình : Ô, hôm nay là ngày 25 tháng 7 – Ngày sinh nhật của em.
Chàng bẹo vào má nàng : Em thật hư, ngày sinh nhật cũng không nhớ nữa, vào đây anh mua quà Birthday tặng em… Và chàng mua một chai dầu thơm Red Door hiệu Elizabeth Arden loại lớn tặng nàng. Chiều hôm ấy chàng không đi làm, khai bệnh và chở nàng đi chơi biển San Francisco. Trên đường đi chàng hỏi : Em bây giờ ra sao ? Anh không được diễm phúc săn sóc cho em những lúc em đau ốm như ngày nào, anh buồn lắm, nhưng định mệnh buộc thế, em chê anh thì đành phải xa nhau, tuy lòng anh lúc nào cũng hướng về em cả…Chàng nói câu đó xong thì thở dài, nàng chợt nhớ lại chuyện đã qua khoảng hai năm về trước. Nàng đau nặng, hai chân bị sưng đỏ từ đầu gối, nàng không đi được, hàng ngày chàng đến săn sóc cho nàng, lo cho nàng ăn uống, thậm chí lo luôn việc vệ sinh cá nhân cho nàng, chàng cõng nàng đưa ra xe đi bệnh viện, đến bệnh viện chàng lại cõng nàng vào bệnh viện, một tháng trời như thế, bao nhiêu là vất vả chàng vẫn cười vui hân hoan khi được săn sóc nàng… Nàng nhìn vào mắt chàng lúc ấy đang u sầu như có một màn mây buồn giăng phủ, mắt nàng cũng long lanh đôi dòng lệ, tại sao hai đứa vẫn thương nhau mà phải xa nhau ? nàng nghĩ thầm, phải chăng vì cái tôi hai người quá lớn, vì tự ái, vì tự trọng chấp nhận xa nhau để trái tim hai người cùng nhức buốt !
Chiều hôm đó, trước phút chia tay chàng không hôn nàng như những ngày tháng còn yêu thương nhau, chàng nghiêm nghị bắt tay nàng và chúc nàng tìm được người xứng đáng hơn chàng rồi lặng lẽ lái xe đi với đôi mắt buồn dịu vợi ! Cầm món quà sinh nhật trên tay nàng không ngăn được giọt lệ, xa nhau không ai lo cho chàng miếng ăn thức uống, chàng gầy ốm đi nhiều, nhưng chàng vẫn không quên ngày sinh nhật của nàng…
Một cảm nhận của vô thức báo cho nàng biết không có ngày đoàn viên cùng chàng qua những bài thơ mang đầy hình ảnh của sự trối trăn, của người sắp xa lìa trần thế, một lần nàng đi về Việt Nam, nàng đã biết không còn chàng để đưa nàng ra phi trường nữa, nàng nhờ hai người anh thân quen trong làng văn thi phú đưa nàng đến phi trường. Khi hành lý đã lên xe thì từ đâu chàng xuất hiện, nàng phân vân không biết tính lẽ nào trong giây phút nhưng rồi lý trí buộc nàng phải cho xe chạy, chàng chạy theo sau đến tận phi trường, khi hành lý của nàng đã gởi xong sắp sửa chào hai người anh đưa tiễn thì chàng bước vào, cả ba người cùng tiễn chân nàng đến cửa cuối cách ly. Chàng nói nhanh và thật nhỏ “ Anh chờ em đến trọn đời” rồi chàng ứa lệ bước nhanh đi trong dòng người chen chúc xô bồ, nàng nhìn theo đến khi chàng khuất dạng, tận cõi lòng nàng dâng lên niềm lưu luyến vô bờ, không biết rồi…ngày mai sẽ ra sao ? Chàng vẫn không thể quên nàng khi nàng đã thẳng thắn chấp nhận chia tay chàng và bài thơ mới tuần trước chàng gởi tới, nó theo nàng trên chuyến bay, nó là niềm xao động khiến nàng quên ăn bỏ ngủ, nàng như có một linh tính cực mạnh về tâm linh, nàng về thăm gia đình mà lòng dạ không yên, khoảng đường dài trên phi cơ đã cho nàng thuộc lòng bài thơ chàng gởi cho nàng trong bài thơ như có điềm chẳng lành :
“ Tình trong tim chẳng thể nhòa, thì thôi vậy nhé tôi xa bụi hồng, còn chi đâu nữa mà mong, còn gì đâu nữa đành xong một đời, thoáng trong mơ có nhớ người, xin em gửi gió cho tôi một lời, thinh không tôi sẽ mĩm cười, ngàn năm mây trắng cuối trời mây bay”
Lá thư này đã hành hạ nàng hơn hai tuần tại quê nhà, nàng buồn và ray rứt khôn nguôi, nàng chả thiết tha gì món ngon vật lạ, không bước ra khỏi nhà, không màng chi bè bạn tới thăm…rồi một đêm khuya khi nàng đang trằn trọc, điện thoại reo vang, nàng nhấc lên nghe “ Xin cho tôi gặp cô N gấp, tôi từ Mỹ gọi về”nàng hồi hộp lạ thường, tiếng người đàn bà trong phone nghe rất lạ, nàng chưa kịp trả lời thì đầu giây kia đã nói tiếp “ xin vui lòng cho tôi gặp cô N gấp, tôi có chuyện rất quan trọng” nàng vội nói “ tôi đây, thưa bà có chuyện gì cần đến tôi ?” Ðầu giây điện thoại nói gấp gáp “ N hả, em có thể về Mỹ ngay không, chị Thanh đây, H ngày mai mổ tim, nó nhắn em về Mỹ gấp”. Chị gái của chàng nói trong phone, nàng rụng rời tay chân vì biết mổ tim rất nguy hiểm, mất mạng như chơi… Nàng vội vàng đổi vé về gấp nhưng không có chỗ đành chờ đến 2 tuần sau mới có chỗ cho nàng về Mỹ. Bốn hôm sau, nửa đêm phone reo, giọng chàng cứ tưởng như tiếng nói từ oan hồn vọng về, thều thào hổn hển “ em ơi, anh H đây, mổ tim xong rồi, anh thoát chết rồi, mong em về gấp”, dù biết trong tình trạng cấp bách thế nào nàng cũng không thể về Mỹ ngay được, hơn một tuần sau đó nàng lên phi trường và về với chàng, mong được săn sóc chàng với cả niềm thương yêu còn chất nặng trong tâm.
Chàng vừa mổ tim được gần 2 tuần, nghe nàng về vội mang hai nạng khập khểnh bước ra sân đón, da chàng xanh mét, tái nhợt… Miệng cười méo xệch nhưng trong mắt tràn niềm vui, chàng nói giọng thật yếu ớt “ Mừng quá, anh mừng quá, em đã về với anh”, chàng di chuyển trên hai nạng rất khó khăn, trông mà tội nghiệp chàng quá ! Ngày nào oai phong, bây giờ thê thảm như thế…
Hai năm xa nhau vì cái tôi, vì tự ái, bây giờ người yêu của nàng ra nông nỗi như vậy, trái tim nàng se sắt lại, phải lo lắng cho chàng để bù đắp những khổ đau xưa, nàng săn sóc người yêu từng ly từng tí, không cho chàng ăn những thứ có thể làm cương mủ vết thương, lồng ngực chàng bị cưa đôi, vết thương rất nặng không giữ gìn kỹ lưỡng chết như chơi !
Chàng thì coi thường tính mạng mình, mới mổ tim chưa trọn 3 tuần đã đi dự đám cưới con gái anh chi Nhạc Sĩ Lynh Phương, đi nạng mà dành nàng lái xe, lên sân khấu với hai chiếc nạng để giới thiệu những bạn thân văn thi hữu và người yêu chàng tham dự. Nàng xót xa khi nghe giọng chàng run run và yếu ớt hẵn không giống như những ngày nào chàng sang sảng trên sân khấu với vai trò điều hợp chương trình. Nàng nhớ rất rõ về chàng, về tình yêu chàng đã dành cho nàng, bất cứ một buổi nào dù văn chương thi phú hay đám cưới chàng luôn coi nàng là đề tài quan trọng, luôn nhắc đến nàng, giới thiệu nàng và đọc thơ tặng nàng trên sân khấu. Chàng trân trọng nàng như thế, tình yêu chàng trao trọn cho nàng nên hai năm tạm xa nhau chàng thực tế vẫn không thấy quen ai, duy có một lần vì tức giận nàng chàng quen một người đàn bà tương đối khá đẹp, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn chàng chia tay, chàng có tâm sự trên phone với nàng “ Anh chỉ tôn trọng người chân chính, đàng hoàng, anh khó lòng chấp nhận những người đàn bà không đoan chính, quan hệ bừa bãi, nên anh đã chào chia tay cô ta”…
Ngày tháng lại trôi qua lạêng lẽ, hai người vẫn sống cô đơn trong nhức buốt, nhưng trong lòng ấm áp vì thường xuyên gọi phone thăm hỏi sức khỏe, thỉnh thoảng mời nhau đi ăn, lái xe đi vòng vòng thung lũng hoa vàng. Chàng thường đùa với nàng “ Cuộc đời anh chẳng còn ý nghĩa gì nữa, người ta sợ chết chứ anh thì mong chết đi cho khỏe tấm thân”, nàng thương xót vô vàn nhưng chỉ âm thầm câm lặng vì giữa hai người khoảng cách tình yêu đã bị thời gian ngăn đôi, hai năm là một bức tường vô hình khiến cả hai luôn bị mặc cảm nên không người nào có thể hạ mình, người nào cũng phải làm ra vẽ ta đây cao thượng, ta đây bất cần !
Yên Bình ! Trong lúc đang viết những dòng tâm khúc này gởi đến anh, gởi về nơi xa thẳm muôn trùng, “ngàn năm mây trắng” như anh đã để lại cho em thì em gặp Ðỗ Bình, bạn thân của anh từ Pháp qua, Ðỗ Bình đã làm em xúc động đến rơi nước mắt, anh ấy nói rằng “ Thời gian Yên Bình qua Pháp, trong buổi tổ chức họp mặt đón Yên Bình trên 300 người, Yên Bình cứ luôn miệng nhắc NA, luôn miệng giới thiệu về những tác phẩm của nàng mà chàng mang theo qua Pháp, cử chỉ trân trọng thương yêu tuyệt vời này đã khiến Ðỗ Bình không thể nào không xúc cảm và không thể quên được một tấm chân tình quá đẹp của đôi bạn thân”. Nàng ngồi lặng yên, hình dung lại người xưa, nước mắt rưng rưng, tâm tư nặng trĩu, anh có còn đâu cho em tạ lỗi, nào phải em chê anh không xứng đáng mà không dám giới thiệu là người yêu hay người tình, hoặc công khai trước mọi người. Chẳng qua vì là người đàn bà đã một lần gãy đổ tình duyên, em chấp nhận sống cô đơn đã 20 năm qua, trái tim nguội lạnh mất rồi, lời tình đôi khi nghe như một biến cố thương đau, dù em hiểu anh rất yêu em, anh rất xứng đáng với em nhưng em vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng, anh vẫn còn những cá tính mà em mang ấn tượng không phai nhòa từ người chồng cũ của em : Uống rượu, hút thuốc … Anh tha thứ cho em khi xác thân anh đã vui cùng mây gió mà em còn nhắc đến chuyện xưa, làm người không ai toàn bích cả nhưng với em thì khó lòng hạnh phúc với người chồng uống rượu, hút thuốc hơi nhiều …
Những ngày tháng chăm sóc, cơm nước cho chàng qua cơn mổ tim nguy kịch, chàng đã tạm khỏe nhưng cứ thường ỷ lại sức mình luôn tự lái xe không giữ sự an lành cho vết thương xẻ đôi lồng ngực, nàng thấy đã gần 3 tháng săn sóc chàng, nàng cần phải đi xa một chuyến, nàng làm văn học mà khi bạn hữu phương xa tổ chức cho nàng, nàng không thể bỏ cuộc, thế là nàng xin phép chàng đi một tháng vì ra mắt sách của nàng hai nơi, luôn tiện thăm chị dâu và các cháu. Chàng một mình ở nhà tung hoành, mời bạn đến nhậu, uống toàn rượu đắt tiền, không thèm uống bia, những món nhậu thì toàn là lạc xưởng, gà chiên và các món đầy những chất béo … Uống rượu, hút thuốc, lái xe, ăn nhiều chất béo, những thứ ấy làm tim chàng thêm một lần thắt nghẹn, bà chị cả hoảng sợ chở chàng trở lại bệnh viện O’ Conor, nơi mà ba tháng trước chàng đã mổ tim tại đây. Bác sĩ sau khi khám nghiệm lại đã bảo chàng thứ năm đến mổ lại lần hai, chàng về nhà gọi phone kêu nàng về gấp, lúc đó là thơì điểm gay go nhất, hai tòa cao ốc thương mại của Hoa Kỳ bị khủng bố oanh tạc dữ dội, người chết, cảnh máu lửa chan hòa cả một thành phố lớn, hàng ngày nàng chạy ra phi trường mong tìm chuyến bay trở về với chàng nhưng đều thất vọng, chiều tối nhìn trên màn ảnh cảnh điêu linh tàn phá chết chóc của hàng vạn người dân vô tội mà nước mắt chan hòa :
Cảnh tang thương dâu bể
Lòng nàng cũng nát tan
Hai tháp cao sụp đổ
Người chết sếp thành hàng
Người yêu miền Tây Bắc
Em dạ thắt tâm can
Ðất bằng đang dậy sóng
Biến cố ngập gian san
Ðường bay ngưng hoạt động
Làm sao về hỡi chàng !
Ðêm hôm đó chàng gọi phone bảo là Bác Sĩ hoãn ca mổ lại thứ hai, nhắn nàng cố gắng về đưa chàng đến bệnh viện. May mắn cho nàng hôm sau đường bay bắt đầu làm việc lại trong tư thế duyệt xét thật kỹ những hành khách lên tàu, có mấy người hành khách bị giữ lại khi vừa bước qua phòng cách ly vì nhìn tổng quát giống bọn người khủng bố, da đen, râu xồm xoàm, mắt láo liên nhìn chằm chằm vào kẻ khác – Mọi người hành khách cứ đưa mắt dáo dác nhìn hết người này sang người nọ, ai cũng một tâm trạng lo âu nếu chẳng may có bọn khủng bố len lỏi làm hành khách lên máy bay thì tai họa đến cỡ nào …Thật là một chuyến đi hồi hộp, lo lắng hiện rõ từng nét mặt hiện diện.
Nàng về đến phi trường SJ lúc 8 giờ tối, chàng và anh trai nàng đi đón, anh trai nàng mang theo một chai rượu tây loại hảo hạng tặng cho chàng, chàng cười vui nhận và nói “ Sao anh biết ý em thế, em rất thích loại rượu này nhưng sẽ để dành khi nào khỏe mạnh mới uống”.
Chỉ một đêm tâm sự sau cùng, hôm sau đưa chàng vào bệnh viện mổ lại tim không ngờ chàng đã ra đi vĩnh viễn ! Chị chàng và nàng đưa chàng đến bệnh viện, chàng thay đồ bệnh nhân và đưa quần áo, giày của chàng cho nàng và bảo “ Em để ngoài sau cốp xe được rồi, sau 7 tiếng đồng hồ anh tỉnh dậy rồi thay quần áo về nhà cho tiện, đừng đem vô nhà cất mất công”. Lúc chiếc xe đẩy chàng lên bàn mổ, chị gái chàng và nàng phải ra ngoài, nàng nhìn theo chiếc xe mà lòng chua xót, lúc nãy đôi mắt chàng nhìn theo người chị gái buồn vời vợi, nàng đọc được trong đôi mắt ấy một viễn ảnh chia ly ! Nàng đi gần xe hơn nhưng chàng không nhìn nàng mà chỉ nhìn người chị gái với đôi mắt như thế …
Lên bàn mổ từ 7 : 30 sáng, đến 11:30 khuya vẫn bặt tin, không ai cho nàng biết về tình trạng của chàng, bao thân nhân đã lần lượt nhận người nhà chỉ còn nàng và người chị của chàng trơ trọi giữa đêm khuya với tâm tư chết điếng. Một y tá bước ra nói gấp gáp bằng tiếng Anh “ bệnh nhân nguy kịch, hãy vào nhìn mặt lần cuối cùng”. Hai chị em chạy vội theo khóc òa lên, chàng chỉ còn là cái xác không hồn, toàn thân lạnh giá, máy đo tim chỉ chạy cầm chừng theo nhịp của máy trợ tim, nàng sờ mũi, chàng không còn thở nữa, thôi rồi… muôn thuở biệt ly ! Nàng khóc ngất ! Cuộc đời nàng lại thêm một lần đưa tiễn người yêu về với nghìn trùng ! Năm xưa nàng không trực diện cái chết của người tình đầu, bây giờ nàng đứng đây nhìn chàng nằm đó, không còn nói với nhau một lời nào nữa, thân xác kia đã trở về cát bụi … mãi muôn đời chẳng còn gặp nhau trên cõi dương gian, chàng ra đi quá sớm với tuổi 56 đang tràn trề sức sống và tình yêu, chàng ra đi để lại bao tiếc thương cho người thân và bằng hữu !!!
“ Anh có nghe không, lời em tha thiết
Ðắng cay nào hơn khúc nhạc chia ly
Buồn nào hơn kẻ ở tiễn người đi
Ðể vĩnh viễn không bao giờ tương hội !”
Chàng đã ra đi vĩnh viễn sau ngày đại nạn Hoa Kỳ 9/11/2001, ngày đưa tiễn chàng rất đông bằng hữu đến tiễn chàng lần cuối, thân xác chàng hỏa thiêu trở về cát bụi, những bài thơ tiễn, những tâm tình phút cuối đã làm rơi lệ bao người, chàng nằm yên lặng như lắng nghe với đôi mắt nhắm nghiền chấp nhận giã từ trần tục, rời xa kiếp sống của loài người, nợ áo cơm chàng trả lại nhân gian …ra đi với hai bàn tay trắng !
Ðã 4 năm Yên Bình về với thiên nhiên , với cỏ cây hoa lá, hài cốt chàng được thân nhân mang về Việt Nam cho cô con gái thờ phượng, chàng đâu ngờ con gái chàng vẫn bình yên mà chàng lại sớm ra đi ? Căn bệnh nan y dai dẳng của người con gái đầu lòng đã khiến chàng đau đớn triền miên lo cho sinh mạng của con mình nhiều tháng năm mất ăn, mất ngủ, nào ngờ … Yên Bình ! Tên của anh vẫn là Lê Xuân Hàm, và bút hiệu Yên Bình kia đã theo anh vĩnh viễn.
Trời lâm râm sương mù, mùa thu buồn vô hạn, thi nhân thường hoài cảm với mùa thu và thi nhân cũng từ giã mùa thu ! Bên vầng trăng ảm đạm đêm nay, một người đang khóc cho một người, nàng mượn ánh trăng thu viết gửi chàng trang tâm khúc của tâm tư, rồi mai đây đời trôi dạt về đâu nàng cũng thấy ấm lòng vì nàng biết cuộc đời như áng phù vân, hãy trao tặng nhau những gì cao đẹp nhất của tâm hồn mà ta có được …
mùa thu 2006
10/01
Gia đình tôi là gia đình buôn bán nhỏ. Nhà tôi nằm ngay trên con đường nhỏ dẫn tới một cái chợ cũng không nhỏ ngay trong vùng, chắc bạn cũng hiểu là từ nhà đi ra ngõ cơ may gặp toàn phụ nữ nhiều hơn, có phải không? Bà nội tôi lúc đó cũng gần 60 nhưng còn tiếc việc, sáng sớm nào cũng tất bật dọn hàng ra chợ trong khi tôi còn đang ngủ say. Tôi hay đóan ngày bán hàng của bà ế ẩm hay đắt hàng vào nụ cười bà có được trên môi nhiều hay ít sau một ngày, tôi cũng còn đóan điều đó vào cái câu bất hủ của bà nếu bà không nói chi cả ngoài cụm từ "ra ngõ gặp gái" vào cuối ngày .... Lúc đó tôi chỉ hiểu đơn giản nếu bà mong ra ngõ gặp đàn ông thì hơi khó, chứ chợ búa, ngày nào như ngày đó, mong gặp phụ nữ thì khác chi khỏi mong. Sau này tôi mới hiểu là gặp phụ nữ như có vận đen dù không tin. Mà cũng kỳ, có ngày bà tôi cũng gặp phụ nữ mà đắt hàng đấy thôi, dù tôi chưa bao giờ hỏi có phải những ngày vô tình ra ngõ gặp đàn ông mà bà ế hàng hay không. Cũng chả lạ, buôn bán đắt hàng hay không là điều sống chết, nếu mà cái điềm cho mình biết ngày của mình xuông xẻ, trọn vẹn, mình vui và thoải mái hơn chứ phải không ạ?
Tôi đã mang cái niềm tin đó vào đời, lạ lùng là tôi tin vào điều đó đến vô cùng. Càng lớn, tôi càng lười học, ngày nào ham chơi quá học qua loa bài cho xong nắm ý chính, cô mà có kêu lên trả bài học thuộc lòng không xong thì cứ moi óc ra xem sáng sớm ra ngõ đi học gặp bà nào cho đỡ tức. Có ngày đúng, có ngày không, tôi cũng chả màng lắm nhưng những ngày tôi muốn tin thì y chang ngày đó gặp phụ nữ à nha.
Khi đã ra khỏi trung học, tôi thi đại học ba lần không đậu, những ngày thi, chưa đến độ phải nhờ anh nào trong xóm đi vào cho hên nhưng tôi cứ thấy anh nào đứng ngay đầu xóm là lật đật mau mắn đi ra đi thi cho hên, cho dù cũng lập cập quần áo dày dép chưa thẳng ngay lắm, chủ yếu là có lòng tin cho mình trong ngày thôi mà ..
Thi làm gì đậu nổi, tôi chỉ học trung bình khá, người ta lấy điểm tôi cao hơn các diện khác vì ba tôi trong quân ngũ chế độ trước, thế thì có cả chục anh đứng đầu ngõ, tại sao tôi không thể tin là mình cũng không đậu nổi đâu mà cần làm gì ...
Vậy rồi tôi quên, quên nhưng chuyện khác tới, nhà tôi nộp giấy tờ đi xuất cảnh, ngày nào phải lên chầu chực, đút lót hay liên hệ với người ta, là ba tôi cứ đợi ông hàng xóm đi uống cà fê về chuẩn bị đi làm rồi đi ra liền ... Có ngày được , ngày không, nhưng nhà tôi cũng phải đợi những tám năm mới đủ giấy tờ đi nhập cư, hông lẽ tại lỗi của những ngày không gặp đàn ông khi ra ngõ chắc ...
Mà ngộ nha, tôi rất thích ăn ổi, răng sún hết mà cũng nhè ổi mà gặm, bà hàng xóm bán ổi không ưa phụ nữ có mang hay con nít con gái mua mở hàng, vậy mà có bữa bà nói với tôi mua giúp mở hàng món ổi, ngày nào tôi mở hàng, bà bán ổi chạy lắm.
Thật ra thì có bữa tôi làm gì có tiền, bà cứ với tôi lại đòi tôi mua, có ngày má tôi đi ngang bà bắt má tôi trả tiền tôi thiếu dù tôi đã dặn bà để đó tôi lo sau vì tôi chỉ muốn làm phước cho bà mở hàng thôi ...
Cũng là cái niềm tin phụ nữ hay không phụ nữ mà ra ...
Khi mình tin gì thì cái niềm tin đó nó chế ngự mình.
Giờ tôi ra ngõ toàn gặp xe hơi, ráng nhìn bên trong xem ông hay bà lái coi ngày của mình đúng là xui hay hên hay không nhưng cứ ra đường lớn là quên bẳng ngay, tại phải tập trung lái xe mà, ngày nào xui thật xui tôi mới ráng moi óc mình ra truy coi đã gặp bà hàng xóm nào ban sáng vậy.
Ðời vẫn trôi, tôi đã lớn hơn, giờ biết coi ngày kỵ, tháng hạn, cũng tự an ủi mình ít nhiều mỗi khi không may mắn ...
Vậy bạn bảo tôi tin hay không tin vào cái chuyện "ra ngõ gặp gái" ?
Tùy bạn đi nhé.
Nhìn trên văn đàn thế giới có rất nhiều thi sĩ nổi danh, phụ nữ cũng góp phần không nhỏ, thể văn vần nầy lúc đầu chỉ dành cho giới thượng lưu trí thức dần dần đã phổ cập hóa để phù hợp với mọi thời đại, tầng lớp dân gian. Ở nước ta cũng thế chẳng những nổi tiếng trong nước mà còn làm nở mặt ở nước ngoài như Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc đĩnh Chi với bài thơ chữ "Nhất", Nguyễn Du với tuyệt tác Truyện Kiều. Về phái nữ các bà Ðoàn thị Ðiểm, huyện Thanh Quan, Hồ xuân Hương, Sương nguyệt Anh, Manh manh, ... đã tô điểm thêm sắc thái sinh khí làng thơ. Thế mà thú thật cho đến ngày nay vẫn chưa tìm được ai như nữ sĩ Hồ xuân Hương.
Thời phong kiến Nho học thịnh hành, bà đã bị người đương thời đả kích phê phán gắt gao, lên án vì lối diễn tả táo bạo châm chọc chống đối không khoan nhượng, lối hành văn "thô tục" tầm thường, không cầu kỳ bóng bẩy kiêu sa nhiều điển tích, tư tưởng thì quá ư phóng khoáng đc đáo châm biếm khó lường manh nha tinh thần cách mạng bức phá xiềng mủ trói chụp hủ tục phi lý gắt gao. Hơn thế nữa, bà bị xem như là người bị dồn ép uất ức không thoả mãn hận đời nên thay vì nhả ngọc phun châu thì nhả đc phun tục vậy .
Chủ đề thường chú trọng đến những vấn đề bị cấm đoán, có nghĩ mà chẳng ai dám nói ra, những vật dụng quen thuc, mật thiết với cá nhân đến nỗi mà người Việt ta chê "dơ" "bẩn" thô tục e ngại gợi lên. "Quân tử" khác với " tiểu" nhân, quí phái cách biệt với thường dân theo các học giả đương thời là thế đấy! Vua Lê thánh Tôn cũng đã tự ví mình trong bài thơ "Con Cóc" tuy có bình dị nhưng vẫn nghiêm chỉnh kiêu kỳ trau chuốt như
"Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi,... .Chốn nghiêm thăm thẳm mt mình ngồi ", và bài "Người bù nhìn" cũng cùng quy hướng.
Sau nầy với loại thơ trào phúng vẫn chưa ai đạt tới cái đanh đá chưởi đổng ngạo đời, lối văn thâm sắc, chính xác căng thẳng kích thích tưởng tượng gợi cảm tạo hình. Trước kia thơ của bà còn bị "phong toả" trong chương trình giảng dạy chính thức nhưng trên thực tế thường được thuc lòng rỉ tai nhau đùa phá đố vui .
Ðề tài thật gần gũi dễ tìm ai cũng biết như " Cái quạt" " Bánh trôi nước",...Bà huyện Thanh Quan có bài " Qua đèo Ngang" nổi danh thi sĩ, bà Xuân Hương với bài "Ðèo Ba Di" làm lắm bà đỏ mặt nhiều ông cứng người . Trong ngày du Xuân, trò chơi đánh đu
" Trai ôm gối hạc khom khom cật"
"Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng", bình dân thể thao thế mà ngòi bút bà cũng gây lắm người lên cơn sốt.
Vịnh các nhà sư "hổ mang",
"Ðầu thì trọc lóc aó không tà",
"Vải mập hai bên sáu bảy bà’’,
tủi hờn cho thân phận lẻ mọn
"Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,"
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung’’
những chủ đề rắc rối u uẩn này đâu xa lạ gì với chúng ta đâu, vậy mà bút họa của bà cũng bị các nhà đạo đức tẩy chay !
Bị lên án gắt gao là ni dung luôn đầy ẩn ý trần tục khiêu dâm không trong sạch, đó là lập luận của những nhà văn hay chữ giỏi chứ còn đối với đại đa số chúng ta nếu phải trả lời câu đố về xuất vật:
Phành ra ba góc da còn thiếu,
Xếp lại đôi bên thịt vẫn thừa"
là "cái quạt" thế là trúng y bon, chẳng sai . Còn ai muốn nghĩ quanh quẩn tròn méo gì thì do riêng cá nhân người phân tích tưởng tượng nghiền ngẫm suy ra tùy hứng . Người Việt ta ai chẳng có lần ăn thử bánh trôi nước nên khi đọc
" Thân em thì trắng lại thì tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non,
Lớn nhỏ mặc dù tay kẻ nặn,"...
thì đoán ngay là bánh gì rồi .
Vả lại nếu lấy tục tả tục, thanh tả thanh thì chẳng khó gì chứ còn dùng thanh mà tả tục quả là tuyệt hảo .
Ý thơ đã bị chỉ trích nặng nề lời thơ cũng không được tha, kém tao nhã, thô bỉ, không trang trọng, quí phái, ít thi vị, tầm thường, đôi khi trịch thượng, hỗn láo, xấc xược phàm phu tục tử. Như là:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung’...’
’Ấy ấy đi đâu lũ ngẩn ngơ’’
Lại đây cho chị dạy làm thơ ‘’ ...
Thể thơ còn giữ nề nếp thất ngôn tứ, bát cú, nhưng âm vận là những tên du kích sở trường bắn sẻ như vần " eo ", ‘’on’ đt kích qua vần " iêu", ồ ạt tấn công bằng " à " " ùng "ồng" .... Niêm luật không chê được, rõ đúng cách nhưng vần thật hóc búa rắc rối khó họa.
Hơn thế nữa, cú pháp còn rất đa dạng như đọc ngược cũng được đọc xuôi cũng thông. Tuyệt nhất là lối lái chữ, đc nhất vô nhị trên thế giới, lối " hồi mã thương" của Nhạc phi, chiến thuật bẫy chông trên sông của Trần Hưng Ðạo. Thưởng thức thơ bà, người đọc phải cẩn trọng nếu không, vô tình lẹo lưỡi nói lái thì lắm lúc người đọc đứng tim, người nghe cườị..tá hỏa như " Ðứng tréo’’(đéo trứng) trông theọ.." "chiếc diều ai nó ‘’ln lèo" ( lẹo l..).
Thật sự cho đến ngày nay chưa tìm thấy được mt nhà thơ như bà . Chẳng những bà đã sử dụng tuyệt xảo mọi bút pháp, bà đã biết phong phú hóa, viễn tượng hoá, biến thiên hóa ý thơ thành những câu đố dí dỏm hóm hỉnh trào lng, bài toán hóc búa, đề luận khó bình .
Ngày xưa chúng ta há chẳng đã hãnh diện về Trạng Quỳnh vẻ giun, Mạc Ðĩnh Chi phê ngang mt gạch được phong làm sứ thần hai nước, vậy ngày nay nếu có cuc tranh tài thế giới chắc chắn nữ sĩ sẽ đọat giải Nobel vì đã phát minh sáng kiến công thức "biến tục thành thanh".
Có dịp đọc qua quyển sách tiếng Hòa lan viết về Việt Nam trong đó tác giả có đề cập vài hàng đến bà "thiên về mặt khiêu dâm ". Thế mới thấy " tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đường", và tiếng oan còn vượt tường âm thanh phóng xa gấp bi. Bị cấm học trong trường, chưa được phổ biến rng rãi, dịch ra tiếng ngoại quốc, thế mà cái bí mật ẩn tàng "thạch trung ẩn ngọc" nầy vẫn bị bật mí, hiểu lầm! Thời đại nầy, kỹ thuật truyền thông tiến b hiện đại tân kỳ, nhiều việc mà trước kia bị cấm đoán còn được trình bày nhan nhản chi li trắng trợn chấm phá phóng đại tuyệt kỷ. Nạn khiêu mãi dâm bành trướng hoành hành sâu rng cho đến trẻ em cũng không được buông tha. "Cơn lốc nhân tai" đó đã làm đảo điên bao chính phủ, tổn danh hạ bệ bao tai to mặt lớn điển hình ở Bỉ có vụ Dutroux, Clinton ở Mỹ ...
Ðọc kỹ lại, phải công nhận là vòng quạt đề tài của bà rng mở, phong phú vừa tinh tế không bc l công khai, vừa lịch lãm cô đng gói ghém trong thể thơ ngắn gọn. Với nhận xét có chiều sâu nhạy cảm bà đã lồng vào thi phú tính thực tiễn, mt khía cạnh mới tả chân, chẳng hạn về nhu cầu căn bản cần thiết của con người như ăn, nghỉ, giải trí và sinh lý truyền giống để sinh tồn . Vấn đề nào cũng cần được thực hành đúng phương pháp, mỹ, nghệ thuật và "tấm lòng son". Ăn chẳng hạn, bài "Bánh trôi nước", không những chỉ để mà sống, cách trình bày hình thức màu sắc "trắng"" tròn" cũng góp phần không nhỏ vào cái "khoái" nầy. Về phần nghỉ ngơi, "Cái quạt" đâu thể thiếu trong mọi xứ, nhà nóng bức, dĩ nhiên là
" Chúa dấu vua yêu cũng cái nầy" . Giải trí nữa rất cần ai cũng thích, du lịch thưởng ngoạn là việc thường tình trong các nước văn minh ngày nay, vì vậy
" Hiền nhân quân tử ai mà chẳng, "
"Mõi gối chồn chân vẫn muốn trèọ"
Nếu quả thật thơ bà có nhiều ẩn ý thì lối nói bóng gió úp mở của bà có mấy ai làm được, vừa thư thái bén nhạy cợt nhả bâng quơ bông đùa vừa chuẩn xác, đầy suy tính như trong mt ván cờ tướng, thí quân song xa pháo trùng hay chiếu tướng . Thơ bà như " trái cấm" thơm ngon, trái bom định hướng, bàn tay sắt bọc nhung, chiếc gươm treo kiếm sĩ, tay ấn cao của các bậc "magie" phù thủy, "hấp tinh đại pháp" của cô gái đầy ni lực thâm hậu, mt giàn phóng tư tưởng qui mô theo mt quỹ đạo hẳn hoi trực chỉ đến mục tiêu không lệch hướng .
Trên mt thế kỷ qua, tưởng đã đến lúc chúng ta nên lần giở lại những trang thơ cũ, khêu sáng ngọn tim đèn bằng tư thế nhìn khách quan vô tư khoáng sảng, đính chính sai lầm xuyên tạc, thẩm định lại vai trò vị trí, tự hào đã có mt nữ thi hào có mt không hai trên thi đàn hoàn vũ .
Bỉ 19-12-2000
chuyện ngày xưa - nghĩa là chuyện đã qua - đã thuộc về dĩ vãng . Chuyện tôi viết ra đây là chuyện đã xưa và xưa lắm rồi - Tuy đã xưa nhưng kỷ niệm luôn gắn sâu vào tiềm thức tôi - nhiều lần tôi muốn cố quên nhưng tôi không thể quên được - Chuyện của một chàng học trò khờ khạo lại yêu " nhầm" cô giáo dạy Việt Văn - cô giáo ấy còn rất trẻ - trẻ lắm . Gọi là cô giáo nhưng nếu nhìn qua, người ta cứ nghĩ cô là học sinh của lớp .
Năm ấy, cô là một giáo sư mới ra trường - có lẽ cô khoảng hai mươi hai, hai mươi ba là cùng - còn tôi là chàng học sinh đi học trễ , nên hai mươi tuổi rồi mà còn ngồi lớp mười hai .
Có lần sau tiết học, cô hỏi chúng tôi
-" Các bạn hiểu thế nào về tình yêu ? " -. Chúng tôi im lặng – cô tự trả lời :
- “ Tình yêu là sự kết hợp của hai trái tim và sự đồng cảm của hai tâm hồn - Tình yêu nó không có hình dạng - nó là vật vô hình - nó đến lúc nào chúng ta cũng không biết và nó đi lúc nào chúng ta cũng không hay - khi nói đến tình yêu thì không nói đến địa vị, giai cấp, tuổi tác - nghĩa là không có sự so đo tính toán vv..."-
Giọng nói của cô trầm ấm và dễ thương chi lạ - Bất chợt tôi thấy tim mình đập loạn xạ - tôi thầm nghĩ : không lẽ đúng như lời cô giáo vừa giảng - tôi đã yêu rồi sao ? - mà yêu ai ? - tôi cứ sững sờ ngắm nhìn cô giáo rồi khe khẽ gọi thầm tên cô : Băng Tâm - Cùng lúc đó, cô giáo lại nhìn thẳng vào mặt tôi khẽ hỏi :
-"Anh Phan , anh đang mơ mộng gì đó , anh có nghe tôi giảng ? Anh có điều gì thắc mắc thì cứ hỏi" .
Không biết động lực nào thôi thúc, chứ tôi là dạng học sinh nhút nhát của lớp - nghĩa là thuộc loại học sinh cầu an: " im lặng là vàng ", vậy mà hôm nay, tôi đã đổi quan điểm -: " nói là kim cương" - nên mạnh dạng đứng lên hỏi một câu mà cả lớp cũng không thể ngờ được :
- " Thưa cô ! cô bảo tình yêu là không có sự phân chia giai cấp và tuổi tác ? Vậy thì một nam học sinh có thể yêu cô giáo của mình ?" - Một phút im lặng , - cô nhìn tôi thật lâu rồi nói :
- " Anh quên một điều mà tôi đã nói : - Phải có sự đồng cảm của hai tâm hồn " . Tôi ngồi xuống im lặng và cô cũng im lặng - Tiếng kẻng trường tan.
Buổi chiều hôm ấy, tôi về nhà cứ ngẩn ngẩn, ngơ ngơ - em gái tôi dọn cơm, vào phòng gọi tôi ra dùng bửa. Tôi bảo em tôi :
- " Anh không đói ". - mẹ tôi tưởng tôi bệnh, vội vàng chạy vô đưa tay rờ tráng tôi hỏi nhỏ :
- " Con bệnh phải không "
- " Dạ không, mẹ cứ yên tâm , để con nằm nghỉ một chút ". Mẹ tôi vừa ra khỏi phòng , tôi đứng dậy đóng cửa lại, và soi mặt mình trong gương - tôi thấy tôi - mặt mày hốc hác lạ ! –“ Có thể nào mình đã yêu cô giáo mình chăng ?” - tôi tự hỏi .
Cả năm học đó, mỗi lần đến giờ cô dạy là tim tôi rung động, hồn tôi xốn xang - vắng cô một một ngày, lòng tôi thấy nhớ nhớ - và nhớ chi lạ - Nhiều đêm nằm một mình thao thức - gác tay lên tráng , tôi cứ mơ mơ, tưởng tưởng ; " ước gì có cô nằm bên cạnh " và từ đó tôi bắt đầu tập làm thơ tình - Những dòng thơ khi đó tôi đã làm cho cô bằng những hoài vọng ước mong -
" Ta còn lại đêm nay -
Bầy sao hôm thơm ngát -
Ta còn một tiếng em -
Xin đừng làm rơi mất ".
Hoặc bằng những lời oán trách , kêu thương :
" Trong sương đêm cuộc đời
Tôi thấy mình lạc lõng
Ðứng chơi vơi giữa trời
Trong cơn lốc cuồng xoay "
Hay có những buổi trưa tan trường , tôi đứng đợi tìm cô - bóng hình cô nào thấy - tôi thơ thẩn lấy bút đề thơ:
" Trong ánh nắng dịu hiền
Tôi thấy em hiện diện
Vươn vòng tay ôm trọn
Chỉ là khoãng hư không "
Rồi năm tháng đi qua , tình yêu thầm lặng của tôi cứ mỗi ngày mỗi sâu đậm - Ngày nào không gặp cô là tôi thấy nhớ .Năm cuối của bậc trung học , tôi quyết định ra đi làm người lớn - có nghĩa là sau khi đậu xong mảnh bằng tú tài phần hai , tôi không đi vào đại học mà đi vào quân trường - tôi mong sau ngày ra trường, tôi sẽ nói rõ tình cảm của tôi cho cô - Trước một ngày tôi ra đi, tôi đã chép lại tất cả những bài thơ tình mà tôi đã làm và gởi tặng cho cô . – Bốn năm vào quân trường với bao niềm nhung nhớ chất đầy .
Ngày tôi ra trường là ngày tôi vui mừng vô hạn - những ước mơ - những trăn trở sau những tháng ngày mệt nhọc nơi chốn quân trường - tôi mong thời gian đi qua thật nhanh để tôi về thăm cô - tôi sẽ nói hết nỗi lòng nhớ thương của tôi đối với cô .
Vừa về đến nhà, tôi đã hỏi ngay em gái tôi - " cô gíao Băng Tâm còn dạy ở trường mình không em ? " - Em tôi im lặng - vào bàn học lấy ra một phong thư đưa cho tôi, rồi im lặng bỏ đi _ Tôi vội vàng xé thư ra đọc : " Chào Quân ! khi Quân đọc lá thư này là tôi đã đi xa - thật xa - Tôi sẽ về một vùng đất mà tôi hằng mơ ước - Tôi vẫn biết tình cảm của Quân dành cho tôi thật nhiều - nhưng tôi không thể chấp nhận được Quân ạ ! - Tôi cảm ơn những bài thơ tình Quân đã viết tặng tôi - Tôi thú thật là rất nhiều cảm động - vì cảm động nên tôi sợ gặp lại Quân nên tôi phải dứt khóat ra đi - vì nói thế nào , tôi vẫn còn là một người phụ nữ Việt Nam - một người đàn bà Á Ðông nên không thể bước qua vòng lễ giáo - " Sư vi phụ mẫu -Thầy là cha mẹ " . Xin Quân hiểu cho - Chúc Quân vui vẻ trên con đường Quân đã chọn- Thân chào : Cô giáo Băng Tâm "
Ðọc xong thư, tôi thấy bầu trời mờ tối - Vậy là hết - tất cả đã không còn gì - còn lại chăng chỉ là màn đêm cô tịch – ngày hôm sau, tôi cũng lẵng lặng ra đi về vùng chinh chiến.
Hơn ba mươi năm trôi qua - kỷ niệm xưa vẫn luôn in hằn trong ký ức - tôi luôn mong một lần gặp cô trở lại, nhưng cô đã ra đi biền biệt chưa một lần trở lại quê nhà
Chiều nay, bầu trời sao tím lạnh ? Sao con phố buồn thiu ? và sao lòng tôi thấy nhớ chi lạ - Nhớ ai ? - tôi nào biết - Bỗng dưng tôi gọi thầm – Hà Thị Băng Tâm ./.
Ðêm đã về khuya. Bên ngoài bầu trời tối đen. Ánh đèn vàng ngoài kia mù mờ, yếu đuối, không đũ sức soi sáng con đường bị sương sa phủ đầy.
Trong căn phòng nhõ, tiếng tích-tắc cũa chiếc đồng hồ quả lắc đang nhịp đưa thời gian vào thanh vắng.
Trong những giây phút lặng nín của địa đàng, tiếng hát của Thái Thanh oằn oại nức nỡ từ chiếc máy cassette ở đầu giường của tôi phát ra:” Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi nước ra đời người ơi! À ạ ơi, tiếng ru muôn đời…” Âm thanh của tiếng hát dật dờ bay xuyên qua lặng lẽ như những sợi tơ đang rung rẩy, khóc tiếc cho một cỏi hư vô dĩ vãng.
Tiếng hát Thái Thanh làm da thịt tôi rởn ốc.
Tôi bổng nhớ đến tiếng ru ngập tràn tình thương yêu dịu vợi của mẹ tôi. Người từ đâu hiện đến vuốt ve lấy tâm hồn cô đơn của tôi.
Mẹ tôi đã thương yêu tôi, quên thân khổ cực nuôi dưỡng tôi cho đền ngày tôi khôn lớn. Người mẹ hiền của tôi đã bỏ đời ra đi vĩnh viễn lúc tôi còn phải sống trong cảnh dải dầu mưa gió ở chân trời xa xôi nầy. Một kỹ niệm mà tôi sẽ mang theo trong hồn tôi cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời là kỹ niệm ngày mẹ tôi dẫn đưa tôi đi học lần đầu ở trường trung học Nguyển Ðình Chiểu, tỉnh Mỹ Tho. Người dẫn tôi đến tận lớp học để giao tôi cho cô giáo mặc dù lúc đó tôi đã lớn rồi. Sau đó, mẹ tôi ôm tôi, hun lên hai má tôi thật mạnh, vừa bước ra cửa vừa ngoái lại dòm tôi. Lần đầu tiên trong đời phải bị chia ly với mẹ, tôi nhìn theo mẹ một cách đau đớn và khóc ròng trước mặt của bao nhiêu học sinh khác trong lớp.
Tôi bổng thấy yêu quê hương tôi như yêu thương nồng độ ngọt ngào từ những giòng sửa của mẹ vốn đã ăn sâu vào từng thớ thịt trong cơ thể của tôi. Linh hồn của mẹ Việt Nam và của người mẹ hiền như mãi mãi quyện theo từng hơi thở của tôi, kết tụ ở trái tim tôi một hạt ngọc lưu ly vô giá.
Không gian trầm lặng của đêm khuya bổng bị những tiếng pháo ăn mừng của ai từ đâu nỗ rền trời ngoài kia, làm rạn nứt một cách tức tửi. Những chiếc pháo bông đủ màu sắc được ai bắn xẹt lên cao, vẻ lên khung trời tối những hình thù tan nát, chói chang, phù du.
Tôi đứng dậy bước lại kéo chiếc màn cửa sang một bên để nhìn rỏ thêm những ánh sáng bay xẹt tứ tung. Tôi muốn nhìn những vệt sáng trong đêm khuya nầy để trốn chạy một cơn gió lốc đang xoáy hút tôi vào lỗ đen vô tận của dày vò, tra tấn triền miên vì thời cuộc.
Một chiếc pháo bông nỗ trên trời, rồi để lơ lững bay bay một trái hỏa châu. Tôi hình dung đến những trái hỏa châu bay bay phủ đầu chung quanh những tiền đồn của các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong những đêm lạnh mùa đông trên các vùng đồi núi cao nguyên đất Việt thương yêu ngày nào.
Những trái hỏa châu vẩn bay bay như những người lính nhãy dù của Việt Nam Cộng Hòa năm xưa, lững lơ dưới những cánh dù căng gió trên nền trời Việt Nam yêu dấu.
Cơn gó lạnh từ đâu rít rú như những oan hồn uổn tử khóc than, kéo về luồn qua các khe cửa hở. Tôi lạnh, bước lại vặn cao lữa lò sưởi. Tôi chợt thấy bụng đói như cào. Tôi đành vô bếp nướng hai lát bánh mì sandwich ăn với bơ cho đở lòng. Ăn xong và sau khi cạn một ly nước lạnh, tôi thấy yên chí. Ăn no, được sưởi ấm: thế là đầy đủ quá rồi. Còn có ngũ kỹ hay không, xưa nay đối với tôi vẩn không phải là vấn đề quan trọng.
Tôi tự thấy mình đã được may mắn quá nhiều. Dù bạc mạng và đứng vào hạng không ra gì ở xứ nầy, tôi cũng được Thần Hoàng Thổ Ðịa nơi đây phò hộ nên được may mắn hơn một vài người đồng hương ở nước nầy. Còn nói đến người VN trong nước, chắc tôi có thể được may mắn hơn nhiều. Dù Sài-Gòn và những thành phố nào đó trên quê hương ngày nay có hào nháng, se sua gì đến đâu đi nữa, tôi tin tưởng trên đất nước ta giờ nầy vẩn còn có biết bao nhiêu người Việt Nam nhiều khi muốn ăn cho đở đói mà không có gì để ăn, muốn sưởi ấm lúc cơ hàn vẩn không sao có cơ hội đó. Tôi thì có đủ cả. Dĩ nhiên đó là những cái đũ đối với tôi mà thôi. Tôi nhìn xuống, nhìn ngang, nhìn lên, nhìn xiêng xiêng, rồi nhìn lại tôi. Tôi tự thấy thỏa mãn với cái vị trí vô cùng may mắn của tôi.
Tôi không muốn để ý tới bất cứ những gì liên quan đến ganh đua với ý nghĩa giành giựt, mặc dù cả đời tôi vẩn chủ trương “Sống Là Phải Tranh Ðấu”. Tôi an phận theo tình và lý của cuộc đời với quan niệm: định mệnh là cái gì vừa có vừa không.
Những ngày tháng lưu vong trôi qua sao nhanh quá! Không biết nó đi nhanh là tại vì mình phải đi làm quần quật mỗi ngày để kiếm miếng ăn nên quên nó đi nhanh, hay là mình không thèm để ý đến nó. Tuy nhiên, dù thời gian có đi nhanh thế nào đi nữa, nó cũng không thể làm cho hình dạng của con người Viêt tỵ nạn chúng ta thay đổi một cách nhanh chóng được. Qua một thời gian ngắn không có dịp gặp những người thân quen, nay được gặp lại ai cũng ngỡ ngàn với nhau. Nhiều người đã thay đổi sắc diện như: tóc bạc, mặt cóp, da cằn, vết nhăn đầy trán. Có người thay đổi một cách lạ kỳ: đó là sự mất hồn trên gương mặt bơ vơ.
Tôi nhớ một ngày sang Paris gặp lại một người bạn. Anh nhìn tôi một hồi lâu rồi kêu Trời:” Trời ơi! Sao trông bồ già dử vậỷ”. Thực ra cái thời tiết lạnh lùng ở xứ người cũng không thể làm mình già nua nhanh như vậy. Cũng như đối với thời gian. Tôi tự hỏi:” Có phải chăng căn bệnh nội tâm mà nhiều người Việt lưu vong chúng ta mắc phải, đã làm cho ta già nua, đổi hình, đổi dạng một nhanh chóng?”
Âu lo về hiện tại và tương lai cho những người thân thương, cho mình, và cho quê hương, cọng với những nỗi sầu buồn đối với tình nhân thế, tất cả đã làm cho nhiều người phải bị hao mòn, cằn cổi như những cây già trong cơn mưa bảo, như những hòn đá đầy rong rêu lạnh lùng trơ lặng nằm yên dưới sương rơi tuyết đổ dải dầu.
Như quả bong bóng bay dật dờ trong gió bay, có những lúc lạnh lùng nơi quê người, tôi thích một mình ngồi cô đơn thả hồn về kỹ niệm để gặp lại được những khuôn mặt thân quen của bạn bè thuở còn xanh tóc ở quảng đời chỉ có cười đùa cả ngày lẫn đêm. Tôi cảm thấy thương nhớ những thằng bạn xấu số hơn mình dù là cái số long đong nơi xứ lạ không biết bao giờ. Cứ hết mùa xuân nầy đến mùa xuân khác, tôi vẩn còn đây làm kiếp đời của một loài chim biển triền miên kêu than trên dòng sông nước lạnh mù sương.
Có lần tôi gặp một người đồng quê trong một buổi chiều đông. Chúng tôi bị lạnh tê cả tay chân, rủ nhau vào chỗ ấm. Chúng tôi nói chuyện gẩu từ Ðông sang Tây, từ Putin đến Bush, từ Iraq đến Iran. Lần mòn rồi hết chuyện. Người đồng quê xoa hai bàn tay cằn cổi với nhau, thở dài với tôi trước khi chia tay:” Làm người Việt Nam khổ quá anh ơi! Mong kiếp sau tôi khỏi làm người Việt Nam nữa!”.
Tôi mỉm cười. Anh bái-bai tôi.
Tôi nhìn theo anh đang quẹo vào một cái quán đầu đường, thì thầm với mình:” Good Luck cho anh!”
Tôi thọt hai tay vào túi áo cho đở lạnh, nhanh bước trên con đường đầy tuyết phủ mà tự nhiên cảm thấy không đồng ý với người bạn đồng hương vừa mới gặp. Tôi lại mong kiếp sau lại được sanh trở lại làm dân a-na-mít nữa. Người đời thường nói :”Hết cơn bỉ cực đền hồi thới lai”. Có kẻ dử nào mà lột da sống đời đâu mà sợ! Nếu kiếp sau được đầu thai làm dân Tây, rủi ro không dám ăn mấm ruốc, mấm tôm, thì thế gian và cuộc đời nầy có còn ra cái nghĩa lý gì nữa!
Có nhiều buổi chiều mưa tôi lang thang một mình không biết về đâu. Trong hơi lạnh của những giọt mưa chiều lớt phớt, tôi chợt nhớ đến những ngày tháng tôi được đổi ra Ðà Nẳng và Huế một thời gian, lúc còn trong quân ngũ.
Ðà Nẳng trong mùa mưa gió bảo cũng có cái hơi lạnh buốt rét nầy. Trời mưa có khi liên tiếp ngày nầy qua ngày nọ. Huế cũng có những ngày mưa rơi lâu dài tầm tả như muốn khóc thương thời vàng son oanh liệt. Tôi có một thằng bạn người Huế. Có lần nó dẫn tôi ra Huế chơi. Tôi thích ngũ đò trên sông Hương mùa mưa. Trái với thiên hạ, vì tôi thích những tiếng mưa rơi trên mui đò thay vì trên lá, và ngồi nhìn mưa giăng trên trời, rồi rơi rơi lên sóng nước. Có lần ngồi nhậu trong một quán gần cầu Trường Tiền. Thằng bạn có một tâm hồn nghệ sĩ loại ba-trợn như tôi, bổng nhiên tâm sự cùng tôi:” Mấy em gái Huế nhiều em đẹp rụng rời. Kiếp sau tao chỉ muốn làm hạt cát nằm trên cầu Trường Tiền cho những nàng nữ sinh Ðồng Khánh qua lại dày vò lên thân xác!”.
Ði chơi với bạn nhà binh thật là vui nhộn, vì tình tếu của nhau, những câu chuyện tào lao, những lời nói tục mà thanh có duyên. Tình lính là một thứ tình tính liền, mút mùa và là một thứ tình không tính tóan. Tôi có một thằng bạn, mỗi lần kêu la-ve, cứ bảo:” Cho tôi 100 chai 33 nữa đi!”. Cứ như vậy mà nợ nần của nó như chúa chởm mỗi tháng.
Hôm nay thân phận của những người lính nầy ra sao? Nghĩ đến đây tôi bổng thấy lòng quặn thắt.
Tiếng pháo ngoài kia vẩn còn nỗ. Những tia sáng đủ màu như ánh hào quang vẩn còn bắn vọt lên vòm trời đêm. Tôi lại bước ra đứng bên cửa và đứng ở nơi đó lâu lắm. Tôi đứng nhìn vào khoảng không đen tối sâu thẩm để chờ thấy những tia sáng mầu nhiệm từ những trái pháo bay nỗ về khuya.
London
Ngôi nhà gỗ mầu xanh với hàng hiên cao khỏi mặt đường chừng ba bốn bậc thang, cửa sổ đóng, ngôi nhà trông tối lạnh. Nguyễn Văn Xô dắt tôi tới đó, anh đứng chờ, không nói. Tôi dựa lưng vào vách tường ngôi nhà đối diện nhìn sang. Lòng bàng hoàng khôn tả. Nguyễn Ðức Sơn, đã từng ở đó, sống những ngày tháng với trí tưởng mênh mang, với tâm tình sôi nổi. Nơi anh đã viết những bài thơ, những truyện ngắn rất Nguyễn Ðức Sơn, cực hay. Ngôi nhà gỗ mầu xanh thuộc về một người chú họ của Sơn, anh đến đây, ở với gia đình ông, rồi yêu cô em họ. Mối tình đã làm ông chú nổi giận, la mắng nặng lời. Sơn bỏ đi.
Rừng núi Ðơn Dương trùng trùng điệp điệp, đẹp như một thế giới bị văn minh bỏ quên. Con đường Ðà Lạt đi Phan Rang, khi vượt cao độ 1.700 mét ở Cầu Ðất xuống, nhập với con đường từ Tùng Nghĩa băng qua, chạy thêm chừng hai cây số, qua sông Ða Răng đến đập Ða Nhim, xuôi đèo Ngoạn Mục đổ xuống Sông Pha, rồi đâm về hướng Ðông ra biển, đến Phan Rang. Chỗ hai quốc lộ gặp nhau ấy là quận lỵ. Phố chính là khúc ngã ba quốc lộ đi Phan Rang đến gần bờ phía đông hồ Ða Nhim, phố chính thứ hai là con đường ngắn từ khoảng ngã ba quốc lộ chạy qua chợ Ðơn Dương đến bờ Tây hồ Ða Nhim.
Con phố ngắn ấy tên là đường Nguyễn Công Trứ. Ngôi nhà của ông chú Sơn ở gần cuối đường này. Từ nhà chú Sơn, đi thêm khoảng nửa cây số nữa, khi vừa qua khỏi cây cầu bắc ngang con suối nhỏ là nhà tôi. Từ đó, con đường chạy dọc theo chân núi, qua những đồng dâu, trái thơm ngào ngạt, những vườn rau xanh mướt, những vườn hồng nặng trái, trước khi chấm dứt ở bờ Tây đập Ða Nhim. Ðơn Dương, Ðơn Dương, "dòng nước Ða Nhim như dòng thơ, rừng núi Ðơn Dương như thành lũy".
Ðơn Dương - Cầu Ðất là vùng đất rất lạ lùng, nhiều người tới đó rồi suốt đời mang theo trong hồn mầu trắng của sương mù, mầu xanh của rừng thông, mùi thơm của dâu chín, mầu hồng của hoa đào rực đồi rực núi, những vườn rau nõn nà, những đám lửa cháy rừng bập bùng trên sườn núi đêm mùa hè, những con đường khúc khuỷu, quanh co bất ngờ. Nguyễn Văn Xô sinh ở đó, nguyền không bao giờ rời đi, Phùng Quyên bỏ đi rồi lại phải trở về, Nguyễn Ðạt không ngừng viết những bài thơ tuyệt vời của rừng thông bên sân ga vắng ("Mùa hạ vừa qua tôi có về Ða Thọ - Cây cối đứng dậy quanh nhà ga - Ngủ một đêm sáng hôm sau tôi đi nữa - Rừng thông sửng sốt đứng ngây mình"), Vũ Ðức Nghiêm ghé qua rồi suốt đời cũng không ngừng gọi người yêu dấu ở Ðơn Dương. Tôi rời Ðơn Dương để có những ngày còn nhìn thấy trong trí tưởng thời trẻ tuổi đứng trên đầu núi giữa những vùng sương mù và những đêm mùa đông nghe gió vật vã, quằn quại tìm nhau trên mái nhà, rú gào thảm thiết... Còn Sơn ra đi với một mối tình đớn đau, không đường về.
Sơn ở đó, viết những bài thơ tuyệt trần nhưng tôi xúc động hơn hết khi nhìn thấy ngôi nhà ấy lần đầu tiên, sống lại một phần cảm giác đớn đau, của mối tình đắm say, nồng cháy và vô vọng của Sơn với người em gái họ mà Sơn viết lại trong một truyện ngắn tôi cho là hay nhất của anh. Tôi hỏi Nguyễn Văn Xô về cô em họ ấy, anh nói cô gái rất đẹp, dáng cao, da trắng, tóc dài, lúc đó đã xuống Sài Gòn học rồi, thỉnh thoảng lắm mới về thăm nhà. Tôi không bao giờ gặp người em họ làm điên đảo tâm hồn, đời sống của Sơn. Một đêm Giáng sinh ở Ðà Lạt, trời lạnh buốt, Nguyễn Ðạt và tôi đi lang thang ngoài đường, vừa run lạnh vừa đọc thơ Nguyễn Ðức Sơn. Tôi biết Ðạt có về Ðơn Dương coi ngôi nhà gỗ mầu xanh nơi cô em họ Sơn cư ngụ.
Tôi đọc Sơn và yêu thơ văn của anh từ lúc Sơn còn ký tên là Sao Trên Rừng. Thật ra lúc đầu tôi rất ghét cái bút hiệu này. (Tên gì vớ vẩn, nghe cải lương. "Sao Trên Rừng" có thể hiểu là "ngôi sao đơn độc ở trên rừng núi hoang sơ", mà cũng có thể hiểu là "vì sao lại bị đày ở trên rừng núi cô đơn?"). Tuy nhiên thơ văn anh hay quá sức, riết rồi tôi thấy thân thiết với cái bút hiệu đó của Sơn. Rồi từ khi Sơn dùng tên thật làm bút hiệu thì thơ văn Sơn cũng biến đổi thêm, sâu thẳm, huyền hoặc, bát ngát mà cao ngạo ngỗ nghịch. Thơ Sơn thoát một cách tự nhiên, bởi vì tâm hồn, con người Sơn đã thoát thật sự, không phải kiểu cách, ép buộc chữ nghĩa, làm dáng của nhiều người làm thơ khác.
Hai bài, "Ðêm khơi" thời trước, ký tên Sao Trên Rừng, và "Nhắn", thời sau, ký tên Nguyễn Ðức Sơn, hé cho ta thấy cái diễn tiến trong cách bày tỏ tâm tưởng của Sơn:
Ðêm khơi
Lênh đênh thuyền dạt xa miền
Nửa đêm bừng tỉnh man thiên một trời
Trăng lên thượng đế đi rồi
Hỏi mây thái cổ con người vân vi
Lối mòn cỏ mộ xanh rì
Ngoài ra còn chẳng có gì nữa sao
Ðảo buồn thổi gió lao xao
Ngàn xưa còn tiếng thì thào biển khuya
(Sao Trên Rừng)
Nhắn
Mai sau người nhớ đến ta
Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi
Ðường xa xin chớ bồi hồi
Mồ hoang nhảy đại lên ngồi đi cha
(Nguyễn Ðức Sơn)
Hãy đọc những vần thơ của Sơn, khi đọc xong, xin đừng nói gì thêm, cũng xin đừng hỏi gì nữa, vì thơ Sơn đã đến gần chỗ vô ngôn, nói gì nữa cũng chỉ làm tan biến những ý không lời:
Mang mang
Tôi về lắng cả buổi chiều
Nghe chim ăn trái rụng đều trong kinh
Còn một mình, hỏi một mình
Có chăng hồn với dáng hình là hai
Từng trưa nằm nghỉ đất dài
Phiêu phiêu nhẹ cái hình hài bay lên
Tiếng ru em
Buồn sao như là héo hon
Ðồi nghe ú ớ hãy còn sơ khai
Nghe đời đau quặn trong thai
Tiếng ru chan chứa đêm dài còn mang
Anh chưa nắm tay em
Anh chưa nắm tay em mà muốn chết
Trong khu rừng huyền hoặc của chiêm bao
Ôi! Hạnh phúc mong manh như sắp hết
Giữa đêm nào trăng thở quá xôn xao
Anh quỳ xuống dưới vòm trời khao khát
Dù thật lòng em chưa muốn cho xem
Ðời anh đó đâu lớn bằng hạt cát
Ðã vô tình vương ở gót chân em
Tôi quen Sơn ở nhà Hồ Thành Ðức và Bé Ký, một mùa hè từ Ðơn Dương về thăm nhà. Rồi trở thành bạn anh. Mùa hè ấy, chiều nào Sơn cũng đến chơi, hai đứa tôi ngồi cả buổi chiều trước hiên đọc thơ, nói chuyện văn chương, nhắc đến núi rừng Ðơn Dương-Cầu Ðất, nơi cả hai đứa tôi đều cho là chốn đẹp nhất trên thế giới. Nơi Sơn dừng chân để rồi nhận mối thương lòng không bao giờ nguôi. Nhắc nhở đến vùng rừng trăng sương khói mịt mù ấy, là đi về một cõi tuyệt vời của vọng tưởng. Hết mùa hè, tôi sẽ lại về Ðơn Dương đứng trên sườn non vắng nhìn xuống quận lỵ dưới thung lũng sâu, nhìn xuống hồ Ða Nhim mịt mù sương khói, nơi tôi đang ở, nơi Sơn không thể quay về.
Những người hàng xóm đưa mắt ngạc nhiên nhìn Sơn với chiếc nón mê, với áo chùng lam cửa Phật, đạp một chiếc xe đạp rất cũ đến nhà tôi ngồi chơi mỗi ngày, đến tận chiều tối, đều đặn. Họ không biết rằng Sơn đã phải đạp xe hơn mười cây số, suốt từ một ngôi chùa ở bên kia Gò Vấp đến tận Xóm Vẹc để chơi với tôi. (Xóm Vẹc với nhà văn Triều Ðẩu cặm cụi ngồi viết Trên vỉa hè Sài Gòn, với nhà văn Trúc Sĩ, vượt tuyến qua Lào vào Sài Gòn năm 1956 mỗi tối đọc thơ vang xóm, nơi tiếng đàn của anh em Vũ Ðức Nghiêm thánh thót mỗi chiều, nơi Võ Phiến cư ngụ đôi năm mà hàng xóm vẫn không mấy ai biết ông là nhà văn, nơi Thái Lăng Nghiêm trầm ngâm triển khai chủ thuyết Duy Dân của Lý Ðông A. Mé bên kia đường Trần Quang Diệu thì có vợ chồng Hồ Thành Ðức - Bé Ký, có Trần Dạ Từ - Nhã Ca, cách một quãng ngắn là nhà Phan Nhật Nam).
Nơi đó có phở gà Nam Xuyên, và rất nhiều món ăn ngon khác mà tôi lại chỉ có thể mời Sơn uống cà phê đá buổi chiều ở phở Lý Quảng, vì Sơn (và cả gia đình anh) ăn chay trường. Ðến một hôm, nói mãi Sơn mới nhận mấy trái bí tôi lấy của mẹ tặng anh, để mang về luộc cho con ăn. Một ông sư phiêu phiêu hốt hốt mà vợ con đùm đề, mà mọi người vẫn thấy tự nhiên như ngày như đêm. Một ông sư không thật sự tu hành mà còn sư hơn cả nhiều ông sư chính cống. Tôi thuở ấy, nhìn Sơn mà vẫn nghĩ anh là một hóa thân của Lý Bạch, khi Lý Bạch đã quên hết cả rượu để chỉ còn thơ, độc nhất thơ, thuần tinh thơ, không gì khác.
Vì thế càng chơi với Sơn tôi càng nhận rõ rằng, ở Việt Nam tuy có rất nhiều người làm thơ hay, nhưng chỉ có ba người thật sự sống cuộc đời thi sĩ, họ và thơ là một, ngoài thơ ra họ không có gì khác, không còn gì khác, không muốn gì khác, không là gì khác. Sơn là một, hai người kia là Bùi Giáng và Trần Tuấn Kiệt. Ðó là chỉ ở miền Nam mà thôi, còn miền Bắc thì từ năm 1954 không còn ai biết làm thơ nữa, chỉ có những người viết khẩu hiệu và làm vè mà thôi, đến người đọc thơ còn không có nổi, nói chi tới thi sĩ!
Một buổi tối gần đây, trong lúc ngất ngư chuếnh choáng, tôi buột miệng nói điều này với một tài tử ngạo mạn khác: Phan Nhật Nam. Nam đang rót rượu, tay bỗng run lên, chai đụng vào ly lanh canh, nói: "Mẹ! Ông nói sướng quá, những ông khác làm thơ rất hay, nhưng họ vẫn còn đời sống, ba ông này không còn đời sống nữa, chỉ còn thơ".
Mỗi buổi tối mùa hè ấy, khi Sơn đạp xe đi rồi, tôi bàng hoàng hồi lâu. Nguyễn Ðức Sơn, kẻ hý lộng quỷ thần ngôn ngữ đó ư. Kẻ có đôi mắt nhìn thấu suốt lẽ nhân sinh, giỡn chơi với chữ nghĩa, hiển lộng cái thần của thơ dưới cái vẻ giả trá của hình ảnh táo tợn, của lời lẽ ngang tàng đó ư.
Mùa hè năm sau, khi tôi về Sài Gòn, Sơn đã đưa gia đình anh về lại Bảo Lộc. Rồi sau này không còn gặp Sơn nữa tôi vẫn bàng hoàng mỗi lần đọc lại những bài thơ anh viết, mỗi lần nghe có người nhắc tên Sơn. Tôi biết, sau hơn ba chục năm, chúng tôi sẽ còn có dịp gặp nhau lần nữa. Lần này, biết đâu chừng cả hai chúng tôi sễ có dịp trở về Ðơn Dương nhìn lại ngôi nhà cũ, đắm mình lần nữa giữa rừng trăng sương khói của núi đồi Ðơn Dương-Cầu Ðất. Nguyễn Văn Xô bây giờ ra sao? Mấy năm trước, tôi được tin Xô ngồi trước chợ Ðơn Dương vá giầy dép khi không còn được phép dạy học nữa. Người kể chuyện nói Xô ngồi trước chợ vá giầy, cười rộng miệng, ngâm thơ, ngạo nghễ như hảo hán thời Xuân Thu. Khách vá giầy luôn gọi anh là "thầy", rất kính nể. Chao ơi! Kẻ sĩ đời nay vẫn còn bị đọa đày đến thế sao? Năm nay không biết Nguyễn Văn Xô còn được ở đó không nữa? Phùng Quyên có còn trầm ngâm giữa rừng thông Cầu Ðất? Không biết bây giờ ai ở ngôi nhà gỗ mầu xanh đường Nguyễn Công Trứ? Ngôi nhà đó còn không? Cô em họ ngày xưa bây giờ lưu lạc phương nào? Cô có còn nhớ tới Sơn và những bài thơ anh viết không? Còn Sơn, Sơn vẫn phiêu phiêu hốt hốt ở Phương Bối Am. Dù đời sống vô cùng gian nan vất vả, Sơn vẫn còn thơ, Sơn vẫn là thơ.
Nhìn lại lịch sử, nhân loại còn gì đâu. Duy chỉ còn thơ mà thôi. Trong đó có thơ Nguyễn Ðức Sơn, riêng một cõi ?
Thơ gửi Nguyễn Ðức Sơn
rượu rót ra ba chén
một đặt mời vầng trăng
trăng lên đêm bàng bạc
một uống lòng mang mang
bằng hữu phương nào nhỉ
không cùng soi ánh trăng
rừng xưa mù sương núi
vời vợi ngoài trùng dương
rượu uống như nước mắt
lòng có nghìn dao đâm
trăng sâu trong đáy chén
rượu sầu men trăm năm
chiều xưa về góc núi
đứng trông mù sương bay
gió đêm gào qua mái
còn lộng cuồng đêm nay
trong núi có thơ cổ
gió huyền hoặc ngân lời
đêm soi mình trên vách
thấy những dòng mây trôi
rượu uống thêm hai chén
lòng già thêm muôn năm
bên trời cùng một lứa
nhớ nhau lệ đầm đầm
thời loạn làm thi sĩ
thơ thành lời tiên tri
tịnh khẩu đi vào núi
giỡn vầng trăng dưới khe
rượu rót thêm ba chén
uống cạn lòng mang mang
đọc lời thơ thuở nọ
sương đêm nhoè bóng trăng
truyện ngắn
Năm đó, nhân kỳ nghỉ hè tôi được thằng bạn rủ về vui thú đồng quê nhằm thay đổi không khí - chứ năm nào cũng Vũng Tàu rồi Ðà Lạt thì chán chết. Tôi đồng ý ngay khi nghe kể, nhà nó có đồn điền trồng trà ở Bảo Lộc, Lâm Ðồng, đến đó tha hồ ăn trái cây và đuổi bắt thú rừng, ở thử vài ngày nếu không thích thì vẫn còn có thể đổi ý bằng cách đón xe đò đi tiếp lên Ðà Lạt.
Tôi với Luân là hai thằng bạn thân, thân nhau vì tình bạn thì ít mà vì “quyền lợi” tối tăm với nhau thì nhiều. Trong lớp, Luân học rất bết, nhưng được bố mẹ chu cấp đầy đủ nên lúc nào trong túi cũng rủng rỉnh đồng ra đồng vào, khác hẳn tôi lúc nào cũng là con trai “bà cả đọi”, nhiều lúc nhịn đói đến lớp vì không có cả tiền để mua sôi ăn sáng! Vì có điều kiện như vậy, nên những lúc làm bài kiểm trong lớp, dù là bài kiểm tháng, tôi cũng đều có quà hậu đãi của nó, vì đã lén lút giúp nó làm bài.
Lúc ấy tôi cũng láu cá lắm, bài kiểm thì chỉ cần một chầu nước mía, hay bò bía lúc ra chơi, còn bài thi cá nguyệt thì phải “triều cống” cho ra trò, đàng hoàng hơn gấp bội. Nhờ chịu khó học gạo nên nhiều năm tôi được bạn bè tin tưởng và bầu làm trưởng lớp. Tôi lại thường làm xong bài rất sớm, thày cô lại tín cẩn nhờ đi thu bài của những đứa đã làm xong, nên tôi rất dễ dàng thẩy giấy nháp gà bài cho nó. Thêm nữa, tôi không bao giờ giúp cho nó có điểm khá, mà chỉ ở mức trên trung bình, nên kế gian này không bao giờ bại lộ.
Hôm hai đứa ra bến xe đò mua vé để đi Lâm Ðồng, tôi an tâm lắm vì biết đây là dịp để nó “trả lễ”, vì không những tôi gà bài cho nó suốt năm mà còn viết cả thư tình dùm cho nó nữa. Trong lớp ngồi bàn đầu có cô bé tên Thanh Vân, người ở xứ nào lên trọ học ở đây tôi không rõ, nhưng nước da “bồ quân” ngâm ngâm nâu của nàng đã là cái hố cách biệt khá sâu đậm đối với làn da trắng các cô nữ sinh ở Saigòn. Ai chê thì cứ, nhưng Luân thì mê lắm, có lẽ cả hai cùng cảnh ngộ đều sống kiếp xa nhà, và lúc nào cũng ca cẩm là kẻ thiếu tình thương... nên dễ đồng cảm chăng? Trước ngày về quê mấy hôm, lúc ra chơi Luân lén nhét vào sách của Vân để dưới hộc bàn một lá thư tình, thư ấy do tôi viết nên tôi biết rõ sự thất vọng sau đó của Luân. Chẳng là vì Luân đã đi khá xa với một đề nghị thật táo bạo, khi mời Vân cùng về Lâm Ðồng nghỉ hè với nó và tôi. Tôi an ủi nó rằng không phải nàng chê, nhưng là thân con gái ai dám mau mắn nhận lời “ăn ở chung” một cách đường đột như thế, với lại về nhà nó còn có bao thứ bất tiện khác, thà rằng cứ để hai đứa mặc quần đùi trần xì ra mà đá dế còn vui sướng hơn...
Khi xe ra khỏi Saigòn, cái thoáng mát vì nhà cửa thưa thớt và các vùng cây xanh đã làm hai đứa tôi khoái chí lắm, và say sưa vẽ vời ra đủ thứ chuyện khi đặt chân đến nhà Luân. Lúc xe chạy ngang qua nghĩa trang Quân Ðội, chỉ vào bức tượng người lính đang ngồi ôm súng, tôi nói:
-Tao nghe người ta kể bức tượng này linh lắm, vì người lính ngồi tạc tượng này đã chết và nhập hồn vào... Ông ấy thường hiện ra vào lúc chập tối...
Luân có vẻ không ưa chuyện ma:
-Thôi bỏ đi mày ơi, nghe kể mấy chuyện ấy ghê bỏ mẹ! Ðêm về không ngủ được...
Biết nó không thích nhưng tôi vẫn cố kể:
-Nghe nói có xe đò chở bắp cải từ Ðà Lạt đi ngang qua đây, thấy người lính cầm súng ra chặn xin bắp cải. Ông tài xế cho liền, nhưng sáng hôm sau người ta phát giác ra trên mỗi ngôi mộ đều có bẹ cải... Chuyện đó chưa ghê bằng chuyện do chính một ông Trung tá kể trên báo, xe jeep chở ông ta về Saigòn dự lễ Quốc Khánh, khi đi ngang bức tượng, người tài xế buột miệng nói: “Ông Thầy à! Ước gì em được ngồi như bức tượng này”. Ngày hôm sau, vào khoảng 8 giờ tối chiếc xe jeep này chở ông tá trở về đơn vị, vừa đi qua bức tượng Thương Tiếc chưa đầy hai trăm thước thì bị Việt cộng bắn lén, ông lính tài xế bị trúng đạn vào đầu chết ngay không một lời trăn trối, chiếc xe bị lật chổng bốn vó lên trời mà ông tá lại không bị hề hấn gì...
Luân gạt ngang:
-Chuyện về bức tượng này thì còn nhiều lắm, mày có kể đến mai cũng chưa hết chuyện đâu! Thôi kể chuyện khác đi!
Thế rồi nó đổi đề tài ngay:
-Nhà tao rộng lắm, nhưng phải đi vào đó khá xa nên tao đã dặn thằng em mang ra đầu đường hai chiếc xe đạp. Một chiếc tao chở nó, còn chiếc kia thì mày đèo hai cái túi đựng quần áo...
Tôi bị cuốn hút ngay vào điều nó nói:
-Em mày có một đứa mà làm sao nó có thể đưa ra đầu đường được những hai cái xe đạp?
-Hì hì, như thế là mày chẳng biết gì về dân ruộng, tụi nó có thể vừa đạp xe và tay kia dắt theo thêm một chiếc khác dễ dàng... Ðể tao kể cho mày nghe, thằng em của tao thần sầu lắm, khi nghe tiếng dế gáy, nó còn định hướng được chính xác nơi dế ở để rón rén đến thộp gáy một cách dễ dàng. Còn nếu mày muốn đi bắn chim, thì nó sẽ dạy mày cách làm tràng ná và bắn, vì nó bắn “tin” lắm, mỗi lần buông đạn là có chim rớt xuống liền...
-Thế em mày có biết cách bẫy thú không? Tao thích mấy con thú còn sống, chứ chết rạt như chim thì chán lắm!
-Mày khỏi lo, cái đó là nghề của nó, nó mà không luôn tay bẫy mấy con chồn con sóc thì cây trái trong vườn bị lũ này ăn sạch. Có lần nó còn bẫy được cả khỉ con, mang về nuôi thật đã hết sức!
Tôi đâm ra khoái và có cảm tình với những hình ảnh vẽ vời của Luân về thằng em đa tài này. Tôi định bụng sẽ nhờ nó bắt cá, tìm chim, rồi đem về Saigòn nuôi chơi, dù ở nhà tôi cũng đã có sẵn hàng chục con cá đá và mấy con chim bốn màu. Ðang mơ tưởng về “chiến lợi phẩm”, xe chợt ngưng giữa đường để đón thêm khách, tiếng lao xao chào hàng của mấy đứa nhỏ bán mía ghim và bưởi bóc vỏ đỏ au đặt bên cạnh dĩa muối ớt làm tôi phát thèm nhỏ dãi:
-Ê Luân ơi! Mua cho tao mấy miếng bưởi Biên Hòa...
-Mua làm mẹ gì, chờ về đến nhà tao một mình mày muốn ăn mấy trái cũng được! Bưởi này không ngọt đâu, nó phải là bưởi vàng và tép lớn ăn mới đã, thứ này mua chỉ uổng tiền!
Tôi bực mình, tính móc tiền ra mua nhưng lại sợ nó giận nên lại thôi, định bụng khi nào xe nghỉ trưa ở giữa đường sẽ xuống mua xoài khô, chôm chôm tróc, và mít Tố Nữ để ăn một chầu cho đã. Nghĩ vậy nên tôi lặng thinh giả vờ kéo vành mũ che xuống mắt để ngủ, nhưng không ngờ ngay sau đó tôi đã thiếp đi vì suốt đêm qua không chợp mắt vì lo liệu đủ thứ cho chuyến đi.
Thằng Luân kể cũng ác, khi xe ngừng ở trạm nghỉ nó cũng mặc kệ để tôi ngủ, mãi cho đến khi xe sắp chuyển bánh đi tiếp thì tôi mới giật mình thức giấc, định mua với cái bịch chuối khô cũng không kịp! Tôi tính la làng, thì nó đã dúi vào tay tôi một phong kẹo chuối khô loại thượng hảo hạng, chưa ăn đã thấy mùi thơm xông lên nghẹt mũi. Nó cười cười bảo:
-Thấy mày ngủ say tao để cho mày ngủ. Với lại mấy thứ này ở nhà tao đầy ối mà lại còn tươi ngon. Mày mà thấy mấy loại chuối hay xoài khô họ phơi ngay giữa đường lộ, bụi bậm và ruồi muỗi bao quanh thì mày sẽ thất kinh không bao giờ dám ăn đâu!
-Thế thì tại sao mày còn mua kẹo chuối cho tao?
-Kẹo chuối đỡ hơn vì họ phải làm khi chuối còn tươi, rồi sấy ép bằng máy nên đỡ dơ hơn...
Nghe nó nói tôi cũng đâm ra nản, hết dám ăn, vội nhét phong kẹo vào cái túi treo trước ghế.
Qua khu vực có nhiều núi đá nằm chồng chất lên nhau trông rất ngoạn mục, Luân bảo ông tài xế ngừng xe để cho hai thằng leo xuống. Chưa đặt chân xuống đất đã thấy thằng em của Luân toe toét cười dắt hai chiếc xe đạp đến gần bên. Tưởng nhà nó ở gần ngoài đường lộ, ai dè tôi đạp sặc gạch đến cả nửa tiếng mới thấy nó nói “sắp đến rồi”! Càng đi sâu vào bên trong, nhà cửa càng thưa thớt, và đường đất hẹp dần, xa xa là những dãy núi cao trồng toàn là chuối và chập chùng rừng cây.
Căn nhà của bố mẹ Luân quả thật rộng rãi so với các căn nhà ở thành phố, nhưng vẫn ngập đầy vẻ quê mùa và mộc mạc. Trời đã về chiều, gió mát thổi rần rật, trên trời từng đàn chim kéo nhau về tổ kêu quang quác, dưới nhà bếp sau vườn thì đang tỏa lên luồng khói trắng của bếp lửa cho bữa cơm chiều.
Bố mẹ Luân niềm nở và vui vẻ hết sức, hai ông bà rất vui khi nghe Luân giới thiệu tôi là trưởng lớp, học giỏi, và luôn chỉ dẫn cho Luân khi “không hiểu bài”. Thằng em tên Khôi của Luân cũng vậy, hớn hở ra mặt khi biết tôi có nhiều sở thích giống như nó, và còn lén rủ tôi đi tắm suối ngay sau khi ăn xong bữa cơm chiều.
Bữa cơm chiều thật thịnh soạn, toàn là những thứ tươi ngon như cá rô chiên chấm với nước mắm tỏi, canh chua cá lóc, và đặc biệt nồi cơm trắng tỏa hương thơm vì mẹ Luân để lá dứa thơm vào nồi khi cơm sắp chín. Ăn xong, đúng như Luân nói, trên bàn đủ thứ trái cây mà tôi ưa thích, ngoài chuối và xoài còn có cả chôm chôm và ổi. Khi ra sân thăm vườn, Luân chỉ cho tôi mấy gốc mít trĩu nặng trái vàng, nó nói ngày mai sẽ hái xuống để đãi tôi ăn, rồi còn chỉ thêm mấy gốc cây na, cây mãng cầu đầy trái chín nứt vỏ khiến tôi thèm nhỏ dãi. Phần lớn đất của gia đình Luân đều dùng để trồng trà, với những cây trà cao hơn đầu người và um tùm như những bụi rậm. Chỉ có khu vực gần nhà mới trồng cây ăn trái, và một số cây có hương thơm ngào ngạt là ngâu và nhài. Lợi tức của gia đình Luân có được là từ những gốc trà, loại trà lá tươi được chuyển thành từng bao tạ ra bến xe để người mua mang về bán lẻ tại các chợ.
Ðáng lẽ tôi nhận lời đi tắm suối với Khôi, nhưng Luân cản nói tôi đang mệt lại ăn no không nên đi tắm, nhất là tắm suối, nước chảy xiết rất dễ gặp nguy hiểm. Luân kể cho tôi nghe vụ một tay thanh niên trong vùng lên rừng đốn tre về lợp nhà, khi kéo tre qua suối, phần mệt, phần bị nước bất thần đổ xuống sau cơn mưa lớn nên đã cuốn phăng đi tất cả, khiến anh bị một thân tre vát nhọn đâm thủng từ ngực trước ra sau, trông rất rùng rợn! Mục đích của Luân kể chuyện là để tôi bỏ ý định đi tắm, nhưng câu chuyện chết người này lại làm tôi ớn lạnh và cụt hứng ngay tức thì!
Buổi tối hôm đó hai đứa nằm bên nhau kể lể biết bao chuyện, tôi thì kể đến cây trái vườn tược, còn Luân thì cứ lải nhải mãi về mối tình của nó và Thanh Vân, riêng thằng Khôi em Luân thì đã ngủ khò từ lúc nào không ai hay biết.
Rồi cũng đến lúc Luân say ngủ ngáy khò khò, chỉ còn riêng tôi trằn trọc mãi không ngủ được vì lạ nhà, lạ chỗ. Tôi mở mắt thao láo nhìn lên trần nhà mái lá, và chung quanh chỉ toàn là bóng tối mờ mờ, nhờ ánh sáng lù mù của chiếc đèn dầu để trên bàn. Ðã thế, tiếng kêu rỉ rả của đủ thứ côn trùng, và tiếng động của mấy con thú ăn đêm, lại càng làm tôi cảm thấy khó ngủ!
Hồi chiều ăn uống nhiều thứ quá, bây giờ tôi thấy chột bụng muốn tìm chỗ để “thả bầu tâm sự”. Tính khều Lâm dẫn đường, nhưng thấy nó ngủ say như chết nên thôi. Tôi đành vén mùng chui ra ngoài, cầm chiếc đèn dầu bước ra sân, đi đến chỗ có cái chòi mà nó đã chỉ tôi vào lúc đi thăm vườn. Còn một quãng nữa mới tới cái cầu tiêu, nhưng chợt nhớ đến câu chuyện người chết bên suối, tôi lại không dám đi thêm, lủi vội vào gốc mít gần đó, tụt quần để làm một bãi cho rồi.
Tôi định làm lẹ rồi dọt trở lại nhà, ai dè cái chứng đau bụng lâm râm lại bắt tôi ngồi rặn tới nín lui một hồi mà vẫn chưa xong! Ðã thế, một luồng gió bất chợt lại thổi tắt đi ánh sáng của ngọn đèn dầu mà tôi đang để dưới đất! Tôi lâm vào cảnh dùng dằng nửa ở nửa về, và để trấn áp nỗi sợ tôi bèn nhắm chặt mắt để không phải nhìn thấy cảnh vật chung quanh. Cũng may vừa lúc ấy tôi lại hết cơn đau bụng, cúi xuống chùi vội bằng mấy mảnh giấy báo để sẵn trong túi, và khi ngẩng lên thì tôi giật mình hoảng hốt đến thất kinh khi thấy bóng một cô gái đang cúi người rón rén tiến đến gần.
Dáng cô gái ấy tôi trông rõ ràng lắm nhờ ánh trăng vằng vặc, và dù cô ta có cố cúi gập người xuống đi lủi vào mấy gốc cây tôi cũng thấy trên tay cô này đang cắp một cái rổ. Tôi nghĩ đây là kẻ đi hái trộm trà, nhưng không hiểu sao cô ta lại tiến gần đến chỗ nhà chòi, nơi có đặt cái cầu tiêu? Ðang lúc cô ta tiến đến, thì tôi cũng hoảng hồn đứng lên phóng chạy. Và thật kỳ cục, thay vì chạy về phía nhà, tôi lại chạy ngược về phía cô ta đang đi đến.
Vừa chạy được mấy bước, thấy mình đã sai đường, tôi liền quay phắt lại, nhưng không còn kịp nữa, cô gái và tôi đã cận kề và chỉ còn cách nhau trong gang tấc. Tôi thật sự đứng tim, nhưng cô gái trái lại, lại rất điềm tĩnh, cất tiếng chào:
-Có phải anh là bạn của anh Luân mới từ Saigòn lên đây chơi phải không?
Tôi quay lại, định thần nhìn kỹ mặt người vừa lên tiếng nói.
Ðó là một cô gái có mái tóc thề còn rất trẻ, dáng vẻ quê mùa nhưng lại có vẻ hiền hậu dễ coi. Ở cái vùng quê này, được như thế phải gọi là đẹp, là “hết xẩy con cào cào”, tôi cảm thấy mạnh dạn hơn vì bất ngờ được cô gái đẹp hỏi thăm, run run đáp lại:
-Cô là ai mà biết tên tôi?
Cô gái đưa tay lên vén mái tóc thề, cười thành tiếng:
-Ở đây ai lạ đến là “hàng xóm” biết liền. Anh ở lại chơi có lâu không?
Tôi không trả lời câu hỏi của cô gái, mà hỏi ngược lại:
-Cô chưa cho tôi biết cô là ai, và đêm hôm khuya khoắt lại vào đây làm gì?
-Em... đi tạt ngang đây thôi, chột bụng... tính vào nhờ đỡ nhà cầu của anh Luân...
Tôi tin lời giải thích của cô gái lắm, vì chính mắt tôi đã thấy cô len lén phóng chạy vào nơi nhà cầu này, và trên chiếc rổ của cô chẳng có một thứ gì. Tin vậy nên tôi nói vội:
-Vậy cô vào nhà cầu đi...
Cô gái lí nhí tiếng cám ơn rồi bỏ cái rổ xuống đất, đi về phía nhà cầu. Khi bước đi mấy bước trở vào nhà, tôi còn nghe rõ tiếng kẽo kẹt khi cô gái khép lại cái cửa đan bằng tre dựng ở trước cầu tiêu.
Sáng hôm sau, khi đang ngồi ăn khoai lang luộc còn nóng hổi, tôi đem chuyện đêm qua kể cho Luân và Khôi nghe. Nghe xong cả hai anh em nó đều im thim thít, chẳng hề hưởng ứng đến một câu. Biết có chuyện gì mà nó muốn dấu, tôi bèn rủ nó ra gần phía nhà cầu, trước là nhờ nó lấp dùm cái đống phân, sau là có cớ để hỏi thêm chuyện. Ðến nơi, tôi thấy cái rổ vẫn còn bị bỏ lại trước cửa nhà cầu, chứng tỏ điều tôi kể cho anh em nó nghe hoàn toàn là sự thật!
Luân thấy tôi cặn vặn mãi mới thú thật, nhưng bắt tôi hứa là không vì chuyện này mà bỏ ngang kỳ nghỉ hè trong khu vườn nhà nó. Vì muốn nghe câu chuyện, tôi mạnh miệng hứa ẩu để cho nó an tâm.
Luân kể, cách đó mấy năm trong vùng này có một cô gái tên Xuân bị mất tích. Lúc ấy cô mới 16 tuổi và được coi là hoa khôi trong vùng, ai cũng yêu mến nhờ tính nết hiền hậu, đoan trang. Nhà nghèo, nên bất cứ ai trong vùng thuê làm việc gì cô cũng đều nhận lời cả. Riêng nhà Luân cũng thỉnh thoảng thuê cô đến hái trà, nhất là vào những tháng cận tết. Luân cũng thích Xuân lắm, cứ chờ đến dịp là lân la ra gạ chuyện, và để cho Xuân rảnh tay rảnh miệng, Luân còn hái phụ thêm cho đủ số.
Khi Xuân mất tích, nhiều người nói là cô đã bỏ lên thành phố kiếm việc, riêng Luân lại nghi ngờ có chuyện không may đã xảy đến cho Xuân, vì bỗng dưng trong xóm cũng có mấy thằng con trai ưa quậy phá mất dạng! Sự việc trôi dần vào quên lãng, cho đến khi một gốc trà nằm gần con suối của nhà Luân bỗng dưng khô héo. Ðây là một cây trà đã khá già, tàng lá xum xuê đến độ không nhìn thấy gốc, cây được trồng gần suối, có hơi nước quanh năm dễ gì bị khô héo, thế mà nó lại chết queo như có người bứng gốc!
Những gốc trà ở xa như thế này rất ít khi được bố mẹ Luân để ý, nhưng có lần Khôi đi tắm suối về kể, thì hai người mới đến coi. Ðến nơi, sau khi phát quang hết đám lá trà khô dưới gốc, họ khám phá ra có đống đất bị mối đùn lên trông y như một ngôi mộ. Nghĩ tổ mối là nguyên nhân làm cây chết, bố Luân bèn lấy xẻng phá nát đám đất đùn, ai ngờ dưới đám đất ấy lại lòi ra một xác người!
Cảnh sát được gọi đến điều tra, và người ta nhận ra ngay đây là Xuân, cô gái đã bị mất tích cách đây mấy tháng. Xuân đã bị hiếp đến chết, với bộ quần áo nâu bị vứt chôn bên cạnh, và pháp y không tìm ra được bất cứ thương tích nào trên bộ xương nằm co quắp của nàng. Họ đoán Xuân không chống cự để mong tìm cái sống, nhưng bọn hiếp dâm vì muốn thoát tội nên đã chôn sống nàng, lúc nàng còn đang rũ mệt!
Gia đình của Luân cũng bị rắc rối với cái xác chết tìm được dưới gốc trà. Luân và Khôi bị gọi lên thẩm vấn suốt nhiều ngày liền, nhưng thời điểm Xuân bị giết Luân đang trọ học ở Saigòn và được nhà trường chứng thực nên tạm thoát, riêng Khôi lúc đó mới có 11 tuổi nên được coi là chưa đủ sức để cưỡng hiếp và giết chết Xuân! Sau đó cuộc điều tra tập trung vào ba người thanh niên đột ngột biến mất khỏi khu vực, mà người nhà nói là đã lên Saigòn tìm việc và trọ học. Thế nhưng cuộc điều tra đi vào chỗ bế tắc, vì cho đến nay cảnh sát cũng chẳng thể nào tìm ra ba người thanh niên ấy.
Nghe xong câu chuyện tôi thấy tội nghiệp cho cô gái xấu số này quá sức, nên bảo Luân đem mấy cây nhang đến bên suối để cắm lên nơi đã tìm thấy xác chết của nàng. Tôi nói với Luân:
-Cô ấy có vẻ quyến luyến mày lắm, nên hiện ra ngay lúc mày mới đặt chân về đây. Nhớ lại dáng vẻ của cô ấy sao tao thấy quen quen hình như đã gặp ở đâu... Chết cha rồi, cô ấy giống hệt Thanh Vân, thảo nào mà mày mê nó muốn chết... và học hành chẳng ra gì suốt mấy năm qua...
Sáng nay đọc báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn thấy tên bạn được giải thưởng của Nhà Trắng! Bỗng dưng mình hét lên “U chua choa, ông bạn đại hàn dân quốc đây nè! Ông này giỏi thiệt!”. Nhìn lại tên người trong báo ta không biết mình có lầm không, bởi ta chỉ quen gọi một câu “ Hi anh TK” khi liên lạc mà thôi. Có lẽ nào ta vô tình như vậy! Vô hình trung, ta chợt nhìn vào tấm kiếng trước mắt, thật ngạc nhiên làm sao khi thấy mắt mình đang long lanh!!
Tháng tháng ngày ngày, mở mắt ra … với tay bật cái tivi … miệng ngáp ngắn ngáp dài … nhìn lên đồng hồ treo tường… giật thột cả mình… chân nọ xọ chân kia, miệng uống vội ly sữa … chạy xuống nhà bếp …vội làm cơm cho cả nhà… đưa con đến trường … thở hổn hển … và “nhe răng” ra cười với đồng nghiệp… phone reo liên hồi…màn hình máy tính chớp nháy liên tục…..nhìn lên đồng hồ….mệt nhoài thở dài…về nhà … tắm rửa…lại lo cơm nước và với tay bật cái ti vi…Có ai đang không giống như ta lúc này không nhỉ?!? Ðể đôi khi chạnh lòng vô tình tự hỏi xem rằng mình là ai ? Mình đang làm cái gì thế này không nhỉ…. Rồi lại ngồi buồn ngân nga câu hát của Trịnh thay cho cái nỗi lòng mình...Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loay hoay cho đời mỏi mệt *
Nhớ lần nào đó, mấy người bạn mới sáng sớm phone lại hãng hỏi tỉnh rụi “sáng nay em dắt anh đi uống café chứ, mừng em được đăng báo trên trang nhất”. Mình chưa hết ngạc nhiên thì bạn bè lại phone chúc mừng vì thấy “cái bản mặt bà trên báo SG xem chừng cũng không đến nỗi tệ “. Lúc đó, ta chỉ thấy vui vui vì bất ngờ bạn bè báo tin chứ không chưa thấm được niềm vui của kẻ vui lây cùng thành công của bạn như lúc này. Phải chăng trong cuộc sống hàng ngày, ta thường để ý đến mấy người thân xung quanh ta. Kẻ lấy được chồng, kẻ cưới được vợ khi tuổi xế chiều. Có người lại sanh được em bé sau mấy năm bí rị, niềm vui càng nhân đôi… Với bạn bè giao tiếp đôi khi mình bỗng dưng như kẻ vô tình mà quên rằng người đời cũng gọi đó là bạn! Có ngờ đâu sáng nay, tâm hồn ta bỗng trở nên vui lạ thường vì biết tin về bạn. Ôi thì ra con tim mình vẫn còn đó như thưở nào…Thế mà ta cứ ngỡ rằng con tim mình bị “công việc hóa” mất rồi!
Ngẫm nghĩ mà thấy đáng yêu thay! Xin cảm ơn người đã vô tình cho ta cảm nhận được cái tâm tình của chữ bạn trong cuộc sống ồn ào hôm nay.
Sài Gòn, tháng 09/2006
(*) Câu hát được tác giả hiệu chỉnh theo bản gốc “Một cõi đi về“ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Thế là hoàng hôn trôi đến , khoả lấp những ánh sáng mặt trời . Còn gì đây hở em … một ngày xưa buồn … một ngày mà định mệnh thật tàn nhẫn … mang em đi vào vô định . Hai mươi mấy năm của cuộc vĩnh hằng em tìm thấy gì ! …Nơi ấy có gì cho em vui chăng ….hay giây phút của cô đơn ….đầy ảo ảnh . Những chiếc lá vừa rơi chậm ..như muốn xoay theo suy tư mộng mị , huyền ảo ……đen mờ và cô tịch
Ðêm nay , một mình lê bước trên vỉa hè , từng bước lạc vào khu phố xưa , nhà em kia …im lìm cánh cổng , tiếng vọng khô khan của những bước châm dậm trên đá , lặng mình hướng mắt nhìn phía xa , những ngọn đèn đường màu vàng tối lung linh như mời mọc . Thoang thoảng tiếng ru buồn của gió dưới trăng khuya… nghe lòng sâu thẳm hoang tưởng trong giấc chiêm bao .
Ðêm trăng này , ta nhìn xa thẳm
Tưởng nhớ về xa thuở thơ ngây
Nhớ đôi mắt em đen lóng lánh
Như sao khuya toả ánh dưới mây
…
Ngoài kia gió vẫn còn đem sương lạnh đến .Tôi lẩm bẩm một bài tứ tuyệt , giọng ngâm ….tiếng em quen thuộc trên vườn hoa …tôi muốn quên đi ngày xưa ….quên một mảnh hồn của một kiếp người xa xôi , mắt nhìn sâu lên mây lên những ánh sao trời , rồi thoáng một câu hỏi sẽ bao giờ quên được em ….quên ngày xưa trong định mệnh , chiếc lá tình cờ rụng xuống mang những giọt nước ươn ướt . Bồi hồi buồn bã , ôi ! Có lẽ cuộc đời này luôn là chuổi bất hạnh của tôi …Ðưa tay tôi vịn lấy bờ tường ngày cũ bây giờ đẫm sương tối mờ , đầy rêu phong bám chặt … thảng thốt vang trong tôi tiếng em ho …thật chậm ..ngắt khoảng …
Tôi nhớ ngày xưa bên người ấy
Dựa tường rêu vuốt đoá tường vi
Nghe tâm tư chừng như ngọc rớt
Thoảng trong tim sầu ngất lên mi
........
Bây giờ có lẽ nơi ấy xa em đang ngủ ngon …. giấc của nghìn năm không trở lại . Ôi , em ơi dòng sông tình ái xưa ấy không hề có lỗi lầm ….phải không em , chuyến đò đời này tôi không còn thấy em , đành về lại và ngủ mơ trong vùng ký ức , mắt rưng rưng nỗi niềm . Mùa đông sắp đến …không lâu nữa , tôi sẽ lại đến mộ em cài lên hoa trắng , và rơi một mối sầu ướt mộ …… Em ơi ! Thế là suốt cuộc đời này ….tâm hồn và hư mộng sẽ đem tôi đến bên em hằng đêm …Và …..
Trong giấc ngủ ước mơ tình ái
Một tình yêu dệt chữ trăm năm
Muốn được làm dòng sông vang hát
Ðể ru em giấc ngủ thu ngàn
.........
09.10.06
Chúng tôi quen nhau cũng khá lâu, thư đi thư về, thư qua thư lại, những đổi trao gần như là xói mòn vào tận tâm tư của mỗi chúng tôi. Còn gì mà chúng tôi không tỏ rõ cho nhau nghe đâu, từ chuyện lớn đến việc nhỏ, nhất nhất buồn vui gì cũng nói ngay, chỉ sợ ngày mai rồi sẽ không nói được vậy.
Và bây giờ, sau mấy năm tìm hiểu, chúng tôi quyết định gặp mặt nhau.
Hôm nay, trước giờ đến chỗ hẹn, chúng tôi còn gọi cho nhau.
Bên kia đầu dây nói, giọng của Trung Kiên vang lên đầy tự tin:
- Nguyệt Yến, chúng mình đến điểm hẹn nhé.
- Vâng, em đến ngay mà.
- Em nhớ cho anh màu áo để nhận diện.
- Em sẽ mặc áo trắng, trên ngực áo cài hoa hồng đỏ.
- Sao hoa hồng đỏ?
- À, vì em còn mẹ.
- Vậy anh sẽ mặc áo đen và trên ngực áo sẽ cài hoa hồng trắng, vì anh không còn mẹ.
- Ðúng như vậy anh Trung Kiên nha.
- OK.
.....
Cách mấy tiếng đồng hồ sau, tại điểm hẹn, Trung Kiên ngồi trong quán cà phê, tay cầm chiếc ảnh nhỏ của Nguyệt Yến xem lại cho có xem, chớ thật ra gương mặt của cô bạn gái Nguyệt Yến đâu còn lạ gì qua tâm não của anh nữa. Một ngày không biết bao nhiêu lần, anh đã ngắm nhìn bạn gái qua tấm ảnh nhỏ lấy ra từ mạng intenet, và có lẽ không thể nào không nhận ra cô bạn gái ngay bây giờ. Qua ảnh, Nguyệt Yến khá đẹp, với mái tóc dài đen mượt, gương mặt trắng mịn thanh tú, đôi mắt thì đẹp làm sao, nhưng với ánh mắt lại buồn da diết. Gương mặt và ánh mắt có thể làm tê dại những ai trong tuổi yêu đương khó tránh khỏi xao xuyến cõi lòng, dù ở hạng tuổi nào.
Ðã quá hơn ba mươi phút, vẫn chưa thấy ai mặc áo trắng cài hoa hồng đỏ xuất hiện. Vì Trung Kiên ngồi ở vị trí dễ nhìn người đối diện, nhưng ngược lại khó có ai nhìn thấy anh vì chỗ có lẽ hơi khuất. Mãi ngóng tìm hình dáng người thương sao chẳng thấy, anh lại suy nghĩ miên man và mặc cảm cho thân thể mình, tuổi “hơi quá già” so với người yêu, da lại đen nhánh như người Phi Châu, bàn tay trái co cứng lại không duỗi ra được vì bị tai nạn nghề nghiệp ngày trước, thì làm sao xứng với một người đẹp như Nguyệt Yến? Tội cho em yêu quá đi thôi. Anh như cây thông già cằn cỗi không biết sẽ gục ngã bởi cơn gió giông ngày nào, thì làm sao mà mơ ước cùng em đi trọn hết đoạn đường tình còn lại. Anh quyết định, và vội khoát chiếc áo ca rô vào, luôn thể anh gở bông hoa hồng trắng ra khỏi ngực áo anh. Quá chua sót cho thân phận, anh ngồi nép mình vào tận góc cùng, và chỉ mong cho mình tan biến đi, để khỏi nghe lòng đau nhói vì mặc cảm thân mình quá xấu xa, sẽ gây buồn chán cho người mình yêu.
Anh không đành lòng nhìn thấy em thất vọng, anh không muốn thấy em buồn, anh không muốn thấy gương mặt em gợn nét ưu tư phiền não, em còn quá trẻ, em phải được vui tươi và hạnh phúc, và anh, anh muôn ngàn lần không, anh không được phép làm em đau khổ.
- Hãy tha lỗi cho anh, Nguyệt Yến ơi! Anh không thể, không thể em ơi!
Và anh đau đớn tột cùng dứt khoát rời khỏi ghế, đi nhanh vào cuối phố không nhìn lại phía sau lưng một lần.
Anh đang chạy trốn một tình yêu, một tình yêu thánh thiện chỉ muốn cho người mình yêu tìm được hạnh phúc hoàn hão.
Tạm biệt em yêu !
Tạm biệt Nguyệt Yến.
Mãi mãi tạm biệt người tình internet.
Bao giờ anh nhận được tin em lập gia đình, anh sẽ gởi lời chúc mừng.
Xin chào em.
Anh cúi đầu đi qua con đường dài hun hút, nắng chiều nhạt màu, bóng anh nghiêng ngả đổ.
.....
Cô gái ngồi trên xe lăn, có mái tóc dài đen huyền đối nghịch với gương mặt trắng đẹp của cô. Thỉnh thoảng cô gái liếc nhìn chiếc đồng hồ nhỏ đeo ở cánh tay để trần trắng mịn.
Gương mặt cô gái thoáng buồn, chiếc xe lăn không đến nơi hẹn, mà ngừng lại cách đó khoảng vài chục mét ở một xe nước mía. Uống nước và chuyện trò với cô chủ quán vui tánh:
- Em đẹp quá, chị là phụ nữ mà còn phải mê.
- Chị nói quá, làm em ngượng.
- Nhưng sao em lại...
Cô gái buồn buồn trả lời :
- Lúc nhỏ em bị sốt tê liệt, mặc dù gia đình đã hết lòng cứu chữa.
- Từ đó đến nay, em tiếp tục điều trị ?
- Lúc năm tuổi em không đi lại được, bây giờ có thể lần theo đồ vật trong nhà để đi từng bước, nhưng khi ra ngoài phải xử dụng xe lăn.
- Em đã lập gia đình chưa ?
- Dạ chưa.
- Cũng đâu có gì đáng ngại nếu gặp được người chồng thật sự yêu thương em.
- Chắc em không dám nghĩ tới chuyện đó nữa.
Cô gái là Nguyệt Yến.
Lớn lên trong sự thương yêu của gia đình, nhưng lúc nào cô cũng sầu buồn và luôn mặc cảm cho thân phận tật nguyền của mình. Cô chỉ còn biết tìm vui qua trang thơ văn internet. Rồi một ngày cách đây mấy năm, một lời thư gởi đến cho cô, xin được kết bạn, ôi, sao mà hạnh phúc quá, còn có người làm bạn với một kẻ cô đơn đầy mặc cảm bệnh tật. Xin hãy tha thứ cho em, em đã dối không tiết lộ sự khuyết tật về mình, Và những ngày tháng qua đi trong sự cởi mở, khuyên nhủ nhau chân thành. Ðến ngày cả hai như hiểu và thương nhau từ kiếp trước, đã nhận lời sẽ đi đến hôn nhân. Hôm nay là ngày hai người hẹn gặp để trao nhau những toan tính cho mai sau quyết định ngày thật sự sống chung.
Nhưng bây giờ, Nguyệt Yến lại lo sợ, ngày mai biết có còn nguyên vẹn mảnh tình khi anh biết mình khuyết tật như vầy ? Cô thấy tủi hổ cho thân mình. Thân tàn tật làm sao lo tròn trách nhiệm đối với chồng, với con, mà chỉ là gánh nặng cho người mình yêu thôi. Cô mãi ray rức về sự im lặng vì bệnh tật của mình. Ðây có phải là sự dối trá đối với người mình yêu không ? Hay chỉ muốn thử thách lòng can đảm của cô với người yêu cô. Nhưng rồi cũng vì mặc cảm một chân mang tật teo cơ, cô quyết định không thể nào chấp nhận để phiền lụy cho người thương, thà cô âm thầm rút lui trước, chứ không để khó xử cho người cô yêu.
- Trung Kiên ơi, anh ơi ! Em dù có vạn khổ nghìn sầu vì phải quyết định xa anh, em cũng không thể để cho anh mang gánh nặng vào đời anh mãi được. Anh phải được hạnh phúc, anh phải gặp một người vợ hoàn toàn về thể chất cũng như về đức hạnh. Em xin rút lại lời hứa ngày nào với anh là chấp nhận làm vợ anh(anh đâu biết em mang tật) Anh hãy cho em xin lỗi anh vậy.
Tạm biệt anh, tam biệt !
Cô vội mặc vào người chiếc áo hoa sặc sỡ những màu, cánh hoa hồng đỏ cũng được cho vào túi áo.
Cô cho chiếc xe lăn đi nhanh. Có tiếng của chị chủ hàng nước mía :
- Còn tiền thối lại, cô ơi.
Nhưng cô không quay lại. Ðôi dòng lệ tủi thân phận lăn dài trên đôi má xinh đẹp của cô. Ngày nào được tin anh lập gia đình và sống hạnh phúc bên vợ đẹp con ngoan là ngày đó em sẽ gởi lời chúc mừng đến anh.
Anh hãy hiểu cho em, xin anh hãy quên chuyện tình mình, chuyện tình qua internet.
Trời bỗng đổ cơn mưa giông, cô gái đáng thương cô đơn âm thầm, đi trên chiếc xe lăn dưới cơn mưa bắt đầu nặng hạt.
Anh Yêu Dấu
Những năm tháng trôi qua là một kho tàng chứa đựng bao kỷ niệm yêu thương, vui buồn, sướng khổ giữa hai chúng ta, xin anh hãy trân trọng yêu quí nó như anh đã từng yêu quí em. Xin cảm tạ anh đã cho em biết thế nào là giá trị của tình yêụ Những nụ hôn nồng cháy, những đêm trăng dịu hiền, để chỉ thấy giữa đất trời chỉ có mình ta thôị
Con đường nào tiễn bước chân hai đứa, giòng sông nào soa dịu nỗi đau của anh và em. Giòng sông anh mến, anh thích, và đã ghi thành thơ :
Giòng sông nơi đây chia 2 thành phố
Mặt nước mơ màng nặng một lòng thương
Ta đứng bên bờ nghe hồn nức nở
Ta đặt tên là giòng nước sông Tương
Vâng, đúng thế anh ạ, nỗi buồn của anh cũng như nỗi buồn của em :
Có những giòng sông cô đơn lạnh lẻo
Lẳng lặng buông mình chan chứa niềm thương
Ôm vạn vết đau nghe buồng tim vỡ
Vời vợi nỗi sầu, như nước sông Tương
Hè đi, thu đến, những chiếc lá thu vàng hình như cũng đã cảm thông được những thăng trầm của cuộc sống. Làm sao giữ mãi được một cuộc tình xinh đẹp ? Làm sao mãi yêu nhau như những ngày đầu ? Cho dù ra sao đi nữa, em cũng xin cảm tạ những yêu thương anh đã dành cho em. những đóa hồng tình yêu tươi thắm trong vườn yêụ
Xin cảm ơn anh nụ hôn nồng nàn
Cho môi em mềm cho mắt em say
Xin cảm ơn anh vòng tay êm ái
Dìu bước em vào hạnh phúc ngất ngây
Tình yêu như trái cấm, thu hút ta vào đam mê, anh có biết chăng em rất sung sướng và hạnh phúc khi đi bên anh ? Hãy yêu nhau cho trọn bốn mùa anh nhé :
Hãy cùng lá thu dệt bao mơ ước
Ðợi tuyết đông về ấp ủ niềm thương
Mong mùa xuân sang ta cùng sánh bước
Hạ đến nắng vàng xóa hết buồn vương
Xin gởi đến anh những giòng chữ nhớ nhung, lời yêu thương vụng dại từ nơi con tim bé nhỏ . Cầu mong tình ta mãi đẹp như những áng mây xanh lam bên trời, mãi cứ bay vô tư, mãi cứ phiêu lưu khắp lối .
Viết Cho Giao Mùa
November 2006
-DHH
~~~/~~((@
Lê Xuân Nhuận
TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn cuả sông Hương, cạnh mé Tây cuả đầu cầu Trường Tiền, đối-diện đại-khách-sạn Morin bên kia đại-lộ Duy Tân.
Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung cuả cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh, xuýt-xoát Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á (Radio France-Asie) cuả Pháp ở Sài-Gòn, nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.
Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức đọc chậm cuả Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày cuả đồng-bào Miền Trung, và cuả những người ở phiá ngoài Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.
NGOÀI những tiếng hát cuả các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca cuả toàn dân, giọng bình và ngâm thơ cuả các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát cuả các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ cuả mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến cuả Service d'Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính cuả Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc cuả người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức, vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý nghiã của câu văn.
Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên cuả một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài . Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh "nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu". Ðó chính là cô xướng-ngôn.
SAU ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội cuả tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời .
Do đó, tôi quen biết "nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu". Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng nói trời cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.
Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ cuả nàng hồi đó chỉ là tâm-tình cuả bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như "con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô".
*
TÔI thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.
Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo "Ý Dân", là người chọn chủ-nghiã cộng-sản để chống chủ-nghiã thực dân, và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo "Công Lý", là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo cuả Nguyễn Bách Khoa . Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập "Tiếng Nói cuả Dân Nghèo" cuả Vân Sơn PMT (Phan Mỹ Trúc). Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ sĩ thân-nhân ấy cuả Vi Khuê . Tôi tiếp xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong "Con Thuyền Không Bến" cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cưả Thiền trong "Không Bến Hạn" cuả Huyền Không.
Tôi ủng hộ cả hai đường lối phuc-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính cuả người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà cuả các chính-trị-gia không cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Dọ
Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà đế-quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử "Trai Thời Loạn" để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có các ông Cao Văn Chiểu, Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả rạ
Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn "Xây Dựng", xuất-bản các tác-phẩm cuả mình và cuả các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên (Phan Nhật Hiến) bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị (Bùi Chánh Thời) cũng nhảy lên chiến-khụ
Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.
*
THÁNG 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya (Ðái Ðức Tuấn) và Nhất Lang thì đồng-hoá sĩ-quan.
Ngoài việc viết bài cho báo "Tiếng Kèn", cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài "Tiếng Nói Quân Ðội" tại Miền Trung.
Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở cuả Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.
Thay chỗ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời . Tôi đưa Văn Giảng lên thay .
Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề. Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia cầu Trường Tiền; cặp Châu-Kỳ--Mộc-Lan cuả giới ca-nhạc, cũng như Hoàng-Pha--Phương-Khanh cuả giới văn+thơ, cũng đã từng ở đâỵ
*
RỒI thoả-ước Geneva ra đờị
Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: cô Thiên Hương, con gái cuả nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; cụ Võ Thành Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào cảnh-sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên bờ hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng cuả người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và ông Nguyễn Quốc Ðịnh, Trưởng Phái Ðoàn thuộc chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thưà-nhận việc đất nước bị qua-phân.
Thủ-tướng Ngô Ðình Diệm cử ông Trần Văn Ðỗ đến thay . Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc Nam.
*
ÐẠI-TÁ Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là trung-tướng Nguyễn Văn Hinh (con của cựu thủ-tướng Nguyễn Văn Tâm, thân Pháp), mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì thủ-tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại nàỵ Theo kế-hoạch riêng cuả cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô "Ðả Ðảo" cùng với trứng thối và cà chua . Câu hỏi nổi bật là "Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia ?" Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi .
Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác tác-động tinh-thần này .
Thành Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc sông Hương; nhà ông Ngô Ðình Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam sông Hương. Bộ-phận "Tiếng Nói Quân-Ðội" cuả tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai .
Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có cố-vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vàọ
Ở Quảng-Trị, một đơn-vị vũ-trang cuả Ðảng Ðại-Việt ly-khai lập chiến-khu chống lại chính-quyền Diệm. Ðổ máu giữa những người không-cộng-sản với nhau .
Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi . Tôi không theo đảng nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Diệm, với chủ-trương "Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng", để được sự giúp-đỡ cuả Hoa Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã diù dắt Tây Ðức, nâng nhấc Nhật Bản, và cứu vớt Ðại Hàn. Trung-tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam--Ngãi, đã phát-biểu với trung-tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi ông lái xe ra đón Tố vào: "Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục vụ cho thằng nghèo!"(!)
Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngộ
Bộ Tham-Mưu cuả Xương không tin-tưởng ở tôị Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội -- dân-chúng gọi là "Ðài bí-mật" -- để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.
KHÔNG còn bị cấp trên ràng buộc, tôi công-khai dùng "Tiếng Nói Quân Ðội" để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa Kỳ.
Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh cụ Ngô Ðình Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên ông Ngô Ðình Diệm, ngoại trừ một số ít trong giới Ky-Tô-Giáo có đọc tờ báo "Tinh Thần" thời-gian gần đó.
Chương-trình phát-thanh cuả tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng cuả Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc "Ðài bí-mật" thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.
Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Ðài "của tôi" và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân Lực đã đứng hẳn qua phiá Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói cuả mình, chống lại phe yếu thế Hinh--Xương.
Tòan-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.
Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vùng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi ngườị
*
TRONG những tháng ngày gay cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời . Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê cuả giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca . Nhưng "nàng bồ-câu" vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu óc tôi đã bỏng rát những tính-toán mưu-mô, thân xác tôi đã bầm dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư giãn cho những căng thẳng thần-kinh.
*
THỦ-TƯỚNG Ngô Ðình Diệm thắng phe Hinh+Xương.
Hoa Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại đại-khách-sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A . Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ đại-tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa Kỳ T.R.ỊM. Lớp dạy tiếng Anh cuả tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua đài phát-thanh cho thính-giả Việt-Nam.
*
ÐẠI-TÁ Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho thiếu-tướng Lê Văn Nghiêm.
Ðại-úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thaỵ Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm "Nắng Chiều" là "Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng" theo lệnh cuả Hùng. Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hằng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc cuả mỗi nước, và đặc-tính cuả mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày . Giáo-sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thợ Trình-bày "Mục Th- Ca" cuả tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh (Tôn Nữ Kim Ninh).
*
Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị cuả người Thượng nổi lên. Chính-quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt "Thượng Tự-Trị" về tập-trung ở đầu cầu Nam Giaọ. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu cầu Phú Cam. Hùng kiêm-nhiệm Nha nàỵ Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây .
Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.
Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ, được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.
TRONG những năm trẻ-trung cuả nền Ðệ-Nhất Cộng-Hoà ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài cuả mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.
Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay chân thân-tín cuả Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi .
Ông Ngô Ðình Khôi, bào-huynh cuả Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô Ðình Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ông thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vưà lòng thế-gia . Huống chi các "Cố Vấn" hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhâp-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chóp lưỡi đầu môi: "Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!" Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.
Trung-tướng Thái Quang Hoàng thay thế Lê Văn Nghiêm.
Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài cuả tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ anh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v... trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâụ
Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui . Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.
Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: "May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!" Ðến sở, tôi hỏi đại-úy Hùng thực/hư thế nào; ông liền gọi điện-thoại cho Quân-An, và cơ-quan này đến bắt tôi . Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi cuả tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Ðài Quân-Ðội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trờị
NGÀY xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn.Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù cuả Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái cuả tấm huy-chương.
Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cưu-Hoàng Bảo Ðại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại diễn-đường Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay . Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðậu Tiến Mai vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữạ Bác-sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với bác-sĩ Trần Kim Tuyến, Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu (tức cơ-quan Tình-Báo Trung-Ương) thuộc Phủ Tổng-Thống, thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây đối-lập cuả chế-độ đương-quyền.
Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung. Có người nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơ trong đó có câu "Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!" Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập "Ánh Trời Mai" của tôi, v.v...
THẾ nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ thi+ca+nhạc+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hoà-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn cuả tôịHọ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị cuả Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghiã cuả sự hiện-diện cuả Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi .
Vi Khuê thì trầm lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng cuả Ðàị Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư ...
THẾ rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.
Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình, vận-động đồng-bào hưởng-ứng đầu-phiếu truất-phế Bảo Ðại; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ "Gươm Chính-Nghiã" đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ "Tuần Trăng Mật" vinh-danh tình yêu vợ+chồng, lấy hứng từ Luật Gia-Ðình cuả bà Ngô Ðình Nhu ...
Tôi giữ mục "Vườn Thơ" trên "Rạng Ðông" cuả Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ cuả các bạn gần xa và cuả chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, Quốc Dân..ở Ðà Nẵng, đồng nhóm Xây Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v... ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục "Hội Thơ" trên Văn-Nghệ Tiền-Phong cuả Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát phát hành. Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v...; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Hữu Ðỗ, Tuyết Lộc, Hoài Tâm, Hương Thu, Khang Lang, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, Kim Lan, v.v...; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn vị về, Hồ Ðình Phương từ Long An ra ...
Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: "Xây Dựng" cuả tôi được nhìn-nhận là một cành cuả Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.
Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa . Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà Lạt sương mù, bỏ lại "chuồng bồ câu" trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng cuả những ai ai ...
*
SAU khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập Ðạo Ðức cuả Ngô Tổng Thống cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở cuả anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san "Phục Vụ" mà tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v...; tôi đã liều-lĩnh công-khai nêu lên một số khuyết-điểm cuả chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập vào Lễ Hai Bà Trưng, năm 1960. Biến-cố này gây chấn-động cả Miền Trung. Kết-quả là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu ...
Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên "vùng nước độc và nguy-hiểm" với bụi đỏ mù trờịÐời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được ấn-hành thành tập "Với Thượng-Ðế", tập thơ thứ bảy cuả mình.
*
QUA đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệụ Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay ...
GIỜ đây, tôi trở về Huế lạịNgồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã quạ
Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang...; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh...; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi ...; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên...; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm--Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương...
Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình cuả Huế, Anh-Ðộ Ðỗ Cẩm Khê cuả Ðà Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền Chi từ sau khi nàng lấy chồng.Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi .
Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ lên Bến Ngự để anh gặp Nhã Ca, và buổi sáng củ-mật kia Hy Văn Mộng đến tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn...
Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân.Nhưng Vi Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôị Trong cuốn lưu-bút "Kỷ-Niệm Vàng" mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc "anh gánh dưa" một đồng mới toanh mà Vi Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nàọ Hình ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An Cựu vàng rực muà luá gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn cuả tôi với người bạn thân ấy cuả nàng.
Giờ đây Thành Huế đã bị tước mất một phần cái địa-vị thủ-phủ cuả Miền Trung, hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi, Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ, các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa ...
Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế nàỵMỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.
Liệu những biến-thiên cuả cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Ðồng-Bào, cho Quê-Hương?
Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đâỵ
Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đường - cũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ sót lại trong thời buổi mới - sự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi ...
1973-75
Kính gởi đến quí vị và quí thân hữu yêu nhạc,
Chương trình nhạc chủ đề tuần này:
Muà Thu Trong Thơ Nhạc Nghiêu Minh
được phát thanh trên hệ thống Radio VNHN
xin bấm vào đây để nghe:
www.geocities.com/nghieuminh/MuaThuTrongThoNhacNghieuMinh.mp3
Thân Chúc quí vị và quí bạn có những ngày "Mùa Thu Thiên Ðường" trong " Muà Thu Xanh "
Nghiêu Minh
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bảo thị vị Giang san, Bùi Ngọc Tuấn , Dòng Sông Nhỏ, Ðinh Lâm Thanh, Ðông Hoà, DHH, Hàn Thiên Lương, Hà Khánh Phương , Hồng Phúc, Hoa Bằng Lăng, Hoàng Yến, Khóc_Cười, Kim Thành, Lê Xuân Nhuận, Nam Thảo, Ngô Minh Hằng, Nghiêu Minh , Nhật Hạ SG , Nguyễn Hải Bình, Nguyễn Vi Túy , Nguyễn Phan Ngọc An, Phan Bá Thụy Dương, Phan Tưởng Niệm, Phi Ðiểu, Sông Cửu, Thanh Thanh, Thy Lan Thảo, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần Thiên Ấn, Trần Thành Mỹ, Trần Kiêu Bạc, Trọng Văn , Việt Hà, Việt Dương Nhân, Vũ Ðình Trường đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 55 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tới. Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương lai.
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà