Số 64
Ngày 1 tháng 8 năm 2007
Nguyệt San Giao Mùa
P.Ọ Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Một chuyến đi ...
Thấy gì Nghĩ gì ?
Tôi vừa kết thúc chuyến đi dài trở về miên quê biển. Gần bốn tháng trời hòa mình vào gió biển, hơi nước trùng khơi, mang mang kéo chiếc cáp treo băng qua eo biển sang bên kia hòn du lịch.
Giá cả 100.000VN/người, mỗi chiếc ca bin chứa đủ 8 mống. Người qua kẻ lại nhởn nhơ, chủ yếu từ sáng sớm kéo dài đến quá chiều. Buổi tối và đêm, chẳng biết có ai còn đi về qua nơi ấy, bởi vì trời tối hù, tôi chẳng nhận ra hình dáng cái ca bin lặc lè trên dây cáp nữa.
Có một điều tôi tự hỏi mình, người ta đi tìm gì ở bên ấỵ Nghe nói Hòn Một bây giờ đã xây thành một hệ thống khách sạn tráng lệ, tiền thuê mỗi đêm đến 600 MK. Chỉ các bậc vương tôn công tử, nhiều tiền lắm bạc, mới sang đó để đốt bớt đồng tiền. Còn người bình thường có theo cáp treo qua cũng gọi là xem chơi cho biết. Vì cáp treo chỉ lơ lửng trên không để thiên hạ nhắm nhìn.
Duy có ban đêm thì may ra đảo du lịch mới tưng bừng náo nhiệt, còn sáng về thì mọi cuộc vui đã tàn đi, sự uể oải sau một đêm dài nung nấu, bỗng xẹp đi như chiếc bóng xì hơi. Vậy mà ai cũng náo nức bỏ ra 100.000VN sang đó để nhìn được thứ gì không biết.
Có người lúc đi dùng cáp treo, nhưng về oải qua lại đòi đi bằng tàu nước. Giá như đi cả hai chuyến bằng tàu thì giá nhẹ hơn nhiều, có khi còn đỡ làm con người chao đao sợ hãi nữa, nhất là bọn trẻ con, khi cáp treo lủng la lủng liểng trên mặt biển.
Dạo tôi về đúng lúc biển mở Festival, được xưng tụng bằng tiếng ngoại cho oai, song hỏi thì ai cũng băn khoăn không biết giảng ra sao nữa. Lễ hội kéo dài một tuần, có khai và bế mạc. Các công ty đầu tư làm ăn bị òn ỉ bỏ tiền ra hỗ trợ để rồi kêu, nặng nhất là anh Intel và Sanest.
Loáng thoáng có cả trưng bày sản phẩm công nghệ hay mỹ thuật của Pháp, Nhật, Ðại Hàn. Có anh dựng cả một công trình hoành tráng ở bãi biển để chỉ làm nơi chọn hoa khôi một đêm, và sau đó lại xóa dỡ sạch để trả lại cho biển cái vẻ êm đềm truyền thống.
Vui nhất là có ông tây bà đầm đến dự hội bằng áo dài lệt xệt VN. Ngồi nghe ca hát chẳng hiểu mô tê ất giáp gì sất, mà lịch sự thấy vỗ tay cũng vỗ ào ào. Biển chưa dứt hội thì Huế, Dalat lại thập thò mở hội. Và Hội An cũng đang lả lướt mở Festival, mục đích theo nhau câu dầm khách phương xa kiếm đồng tiền du lịch.
Y hệt như nhau có nhạc múa, xe hoa, có thuền bơi, hát ca trù và trình diễn xe xích lô dạo phố. Ca sĩ tận thành phố đổ xô về mua vui và nhón cái cát xê rồi về. Hơi hướm lễ hội sau vài đêm lại im lìm như cũ.
Quê biển trái nghịch cực kỳ. Có một dạo cấm tiệt xích lô lảng vảng các khu phố biển để rồi mùa Festival lại khuyến khích sửa sang và cho xe sắp hàng diễn hành mới lạ. Vốn liếng bỏ ra o bế cho xe là ở tự mỗi người, song được tiếng thì người tổ chức hoàn toàn thụ hưởng. Tôi mới thấy không đâu sướng bằng người cầm quyền ở đất nước tôi.
Trị An, Yaly, trăm con đập thủy điện đều kêu dân đóng góp, hứa hẹn rằng hoàn thành thì điện sẽ đầy đủ thiên thu. Thế nhưng Trị An xong, Hòa Bình xong, trăm nơi khác xong mà lưới điện vẫn khi lóe, khi tắt. Nghe ngóng ra mới biết xi măng Trị An bị ăn bớt nên lắm chỗ đã lở rồi. Và ngúc ngắc dân vẫn cứ ngỏng đầu chờ bóng điện.
Dạo tôi ở bên nhà, rất ồn ào cái chuyện nước tương. Các quan kiểm nghiệm đã thấy sự vi phạm tẩn đẩu tận đâu từ thời vua Bảo Ðại còn mặc quần thủng đít, nhưng các ngài sợ nói ra sẽ thiệt hại cho các nơi làm, nên im ỉm ngày này sang năm khác. Ðùng cái, ai đó la toáng lên ăn nước tương có chứa chất gì đó sẽ bị bệnh ung thư, quan này đổ cho quan kia và phủi tay cái rụp.
Khổ cái là ông chủ là người dân cứ phải bưng kín miệng chịu đòn, trong khi đầy tớ dân thì bình chân như vại.
Bây giờ, tôi đã trở về bên nàỵ Bạn có hỏi tôi thấy gì, nghĩ gì sau chuyến đi, tôi chỉ biết âm âm ư ư than : sao mà dân ta khổ thế.
Thanh Sơn
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Chút Quà | ______Mạc Phương Ðình | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Có Phải Em Là ... | ______Kim Thành | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Một Lần Ði | ______Tôn Thất Phú Sĩ/RGC | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Chữ Tình | ______Hà Khánh Phương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Ban Mai Xanh Hà Nội | ______Nhật Hạ SG | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Mưa Tháng Tư | ______Phan Tưởng Niệm | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Viết Cho Ba Ngày Father's Day | ______Thy Lan Thảo | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Lỗi Lầm Rồi Em Ơi ! | ______Hồ Chí Bửu | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Mẹ Là Muà Xuân Bất Tận |
______Nguyễn Phan Ngọc An | 10. 15 tháng 7 |
|
______Chu Kỳ Thư | 11. Tỉnh Thức |
|
______Sông Cửu | 12. Nhớ Hạ Xưa |
|
______Hàn Thiên Lương | 13. Sợi Nhớ |
|
______Vân Hà |
14. Người Ðàn Ông |
|
______
Vành Khuyên |
15. Hạ Ðến Rồi |
|
______Hương Việt |
16. Champs-Élysées Về Ðêm... |
|
______Sương Anh |
17. Giờ Giã Biệt |
|
______Nguyễn Trường-An |
18. Dẫu Ngày Mai Anh Trở Lại
|
|
______Lê Miên Khương |
19. Tặng Người Học Trò Gặp Trong Quán Bia
|
|
______Trần Hoan Trinh |
20. Tôi Ðọc Thơ Em |
|
______Nam Thảo |
21. Chuyện Của Mấy Người |
|
______Lê Hưng Tiến |
22. Trên Bàn Tay Xa Nhau |
|
______Ngô Hữu Ðoàn |
23. Mệt |
|
______Chu-Thụy-Nguyên K.24
|
24. Thoáng Sầu Thôn Vỹ Dạ |
|
______Ðông Hòa |
25. Bước Chân |
|
______Ðỗ Thành |
26. Như Áng Mây Trời |
|
______Mynh Hứa |
27. Con Mơ Về Mẹ |
|
______Hoàng Yến |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Mai Ly (kỳ 11) _______ Việt Dưong Nhân |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 22 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Kẻ Giết Mướn 4(tiếp yheo và hết) ___________ Ðinh Lâm Thanh |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 13(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Tôi Ra Biển Bắc ___________ Tôn Thất Phú Sĩ |
| 6.Ðộc Thoại ___________ Hà Khánh Phương |
| 7.Ðôi Bờ ... Xót Xa ___________ Nguyễn Phan Ngọc An |
| 8. Chương Trình Thơ Nhạc - Hà Huyền Chi ___________ Tuong Long |
| 9.Chiêu Niệm ___________ Thủy Lan Vi |
| 10.Một Lần Thi Vấn Ðáp ___________ Trần Thành Mỹ |
| 11.May Mắn ___________ Vành Khuyên |
| 12.Tình Sầu ___________ Huân Long |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV . Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Tập thơ Bến Ðợi - Tôn Thất Phú Sĩ và Kim Thành _______ Giao Muà |
| 2. Thơ Nhạc: Vương Ngọc Long - Mai Ðức Vinh _______ Giao Muà |
V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
| 1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập |
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Việt Dưong Nhân
Việt Dương Nhân 2. Bờ Lau Cát Lở 22 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Ðỗ Thành Ðinh Lâm Thanh
Ðinh Lâm Thanh
4. Chập Chùng Bóng Núi (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Thanh Sơn
Tôn Thất Phú Sĩ
Tôn Thất Phú Sĩ
Hà Khánh Phương
Hà Khánh Phương
Nguyễn Phan Ngọc An
Nguyễn Phan Ngọc An
8. Chương Trình Thơ Nhạc - Hà Huyền Chi Tuong Long
Tuong Long
Thủy Lan Vi
Thủy Lan Vi
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
Vành Khuyên
Vành Khuyên
Huân Long
Huân Long
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
IV . Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. Tập thơ Bến Ðợi - Tôn Thất Phú Sĩ và Kim Thành
2. Thơ Nhạc: Vương Ngọc Long - Mai Ðức Vinh
V . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Chương 11
Bà Kim Cương và Mai Ly ngồi trên chiếc xe du lịch. Chú Thản cho xe trực chỉ vào Chợ Lớn. Ðến ngả tư đường Ngô Quyền - Ðồng Khánh, chú dừng lại và nói :
- Thưa bà, tới rồi .
- Ờ, chú Thản đợi một chút, để tôi vào nhà hàng xem coi . Nếu có ai đưa về thì chú khỏi đợi .
- Dạ.
Bà Kim Cương bảo Mai Ly :
- Con xuống xe vào với bà.
Mai Ly nhủ : - Chắc có người mời, chớ đâu phải mình với bà chủ đi ăn thôi ! Em hỏi :
- Dạ, thưa bà, bộ có ai ăn cơm với mình phải không ?
- Ờ, chút nữa rồi sẽ biết !
Mai Ly xuống xe, rồi bước theo bà chủ . Vào nhà hàng Bát-Ðạt. Nhà hàng Bát-Ðạt là một trong những nhà hàng Tàu sang trọng nhứt nhì miệt Chợ Lớn. Vừa vào là có chú bồi bàn đưa hai người vô thẳng phía bên trong. Một ông ăn mặc chỉnh tề đứng dậy tiếp đón nồng nhiệt. Bà Kim Cương gọi cậu chạy bàn. bà nói nhỏ :
- Cậu làm ơn ra xe tôi, cậu nói với chú tài xế về sớm, khỏi cần đợi tôi . Chút nữa sẽ có người đưa tôi về. Cảm ơn chú.
Khi nhìn thấy ông Thành An, trên gương mặt bà Kim Cương hớn hở tươi cười . Còn Mai Ly vừa thấy ông Thành An thì em sửng sốt. Sự bất mãn hiện rõ trên gương mặt em. Nhưng em chẳng biết làm sao đây ?
Ông Thành An mở lời :
- Dạ, mời bà và cô ngồi .
Ngồi vào bàn, bà Kim Cương khơi chuyện :
- Ông Thành An từ Hồng Kông mới về, chắc công việc làm ăn khắm khá lắm chứ ?
- Dạ, được được. Xin lỗi bà chủ. Có phải cô Mai Ly đây không ?
- Dạ, đúng. Mai Ly ! Con còn nhớ ông đây không con ?
- Dạ, con nhớ mài mại .
- Ông đây đã biếu quà cho con đó.
Mai Ly chợt nhớ đến mười ngàn đồng mà em được bốn ngàn. Nhờ vậy mà em đem về cho má. Em nhìn ông Thành An với lòng biết ơn, nói :
- Dạ, con cám ông nhiều lắm.
- Không có chi ! Không có chi ! Mời, mời bà chủ và cô Mai Ly dùng, để đồ ăn nguội sẽ mất ngon.
Bữa cơm Tàu thật là thịnh soạn, đắt tiền. Có những món ; súp vi-cá, bồ câu hầm yến trong trái dừa tươi, nấm đông-cô bào-ngự.. Ăn xong, còn sớm, ông Thành An đề nghị :
- Bà chủ cho phép tôi mời bà với cô Mai Ly đi phòng trà nghe nhạc...
Bà Kim Cương mỉm cười :
- Ông Thành An à ! Thay vì mình đi phòng trà thì về bar tôi cũng có nhạc, có đủ thứ rượu Tây và có cả hoa tươi đẹp nữa .
Ông Thành An cười híp mắt :
- Dạ, thưa bà, hoa nào đẹp ở đâu thì tôi chưa thấỵ Chỉ có hoa ‘’Mai Ly’’ trước mắt tôi là đẹp nhứt rồi .
Mai Ly vẫn ngồi yên, em không nói một lời . Bà Kim Cương đá chân em :
- Kìa Mai Ly ! Sao con không nói gì hết vậy ? Ông đây khen con đẹp đó.
- Dạ, cám ông.
Mai Ly nhìn nơi khác, trong lòng buồn bã và chán nản vô cùng. Bà Kim Cương hỏi ông Thành An :
- Sao, ông có đồng ý với tôi không ?
- Dạ, dạ. Tôi đồng ý chớ . Ði mà có cô Mai Ly thì ở đâu tôi cũng đi mà.
Ông Thành An gọi tính tiền và nói nhỏ với cậu bồi bàn ra bảo tài xế của ông cho xe lại trước cửa nhà hàng. Ra xe bà Kim Cương ngồi đàng trước với tài xế, bà để Mai Ly ngồi đàng sau với ông Thành An. Trong lòng Mai Ly ngổn ngang như tơ vò chỉ rối . Vì vừa mất tiền, lại nghĩ đến Hoàng, nghĩ về mẹ, em chẳng thèm để ý gì đến ông Thành An.
Hơn mười giờ đêm, bầu trời đêm nay cao và trong, mây xanh biếc, có đầy những vì sao lấp lánh cùng vầng trăng sáng lờ mờ hơi khuyết, có lẽ trăng mười tám ? Cảnh vật nên thơ huyền ảọ Nhưng trong lòng Mai Ly thì đen tối như trời giữa đêm ba mươi .
Xe đã đến trước cửa Snack-Bar Kim Cương. Trong Bar còn năm sáu ông khách người Mỹ đang mơn trớn, cợt vờn, cười giỡn rộn rã với các cô chiêu-đãi-viên, hòa nhập cùng tiếng nhạc nghe nhức cả đầu . Sự xô cửa vào :
- Xin các cô chỉnh tề, bà chủ về, hình như có kéo khách về nữa đó.
Bà Kim Cương, ông Thành An và Mai Ly cùng vào, bà Kim Cương đến chào mấy ông khách người Mỹ. Sau đó, bà gọi Sự :
- Sự ơi ! Ðóng cửa tắt đèn đàng trước, không nhận khách nữa . Mai Ly ! Mời ông Thành An vào trong góc salon kia đi con.
Bà đến hỏi ông Thành An :
- Dạ, ông Thành An uống chi đây ?
- Dạ, uống cái gì cũng được... à, mà bà chủ có Champagne không?
- Có chớ . Lúc nào cũng có để dành riêng cho khách quý.
- Vậy, tốt quá ! Tốt quá ! Mời cô Mai Ly nhé. Gặp lại cô tôi vui lắm...
Mai Ly chưa bao giờ biết uống rượu . Ðêm nay là lần đầu tiên em uống Champgnẹ Uống chưa hết một ly mà em đã thấy choáng váng mặt mày rồị Ông Thành An thấy Mai Ly hơi saỵ Ông thừa cơ hội nắm tay em, ông tiến lần lên choàng qua vai . Bà Kim Cương giả vờ làm lơ . Trong Bar còn vài người khách và mấy cô chiêu-đãi-viên, chỉ có Suzan-Trang và Marie-Thu để ý bàn tán, xù xì, nhìn liếc, cười cười ở phía góc trong. Bà Kim Cương đến gần, nói :
- Hai cô kia ! Ở đây ngủ hay về ? Ðứa nào muốn về thì về. Còn ở lại thì lên lầu ngủ đi . Dưới này để tôi lo nghe hôn !
Marie-Thu đùng lên nói :
- Dạ, thưa bà. Còn hơi sớm, xin phép bà cho tụi con đi ra ăn cháo trắng hột vịt muối ở hẻm Phan Ðình Phùng gần chợ Bàn Cờ. Chút nữa tụi con sẽ trở lại đây ngủ . Ðược không bà ?
- Ờ, đi đi để trễ .
Suzan-Trang và Marie-Thu đi nhanh ra lấy xích-lô đạp đến hẻm Phan Ðình Phùng. Vừa ngồi trên xích lô, hai cô nói về Mai Ly, Marie-Thu thở dài :
- Chắc đêm nay con bé Mai Ly sẽ rơi vào tay khứa lão ấy rồi .
- Cái đó là cái chắc rồi, mầy khéo lo làm chi .
- Ờ, chờ xem ! Tao thấy con bé đó nó gàn lắm đấy, không dễ dàng như mầy nghĩ đâu .
- Tao với mầy đánh cá hôn ?
- Thôi, tao không thích cá con khỉ mốc gì ráo . Tới rồi, xuống ăn lẹ rồi về.
Mây đen phủ ngập cánh đồng
Làm sao nhìn thấy sắc hồng trời đêm !
Quang cảnh Snack-bar Kim Cương, khách đã về hết chỉ còn lại ông Thành An, Mai Ly và bà chủ . Trên gương mặt Mai Ly buồn lo đủ thứ. Ông Thành An hỏi :
- Cô Mai Ly có thích đi du lịch không ?
- Dạ, dạ đi đâu ?
- Ði Hồng Kông với tôi . Tôi sẽ lo cho cô tất cả.
Mai Ly nhìn bà chủ, như có ý hỏi : - Sao ông này mời con đi du lịch ở Hồng Kông ?
Bà Kim Cương trả lời thay cho Mai Ly, bà nói :
- Mai Ly bằng lòng đi con, ông đây quý mến con lắm.
Mai Ly cảm thấy mệt mỏi và nghĩ tới chuyện mất tiền, cộng thêm hình bóng của Hoàng vẫn còn ẩn hiện trong trí óc em. Em từ từ đứng dậy, nói :
- Dạ, thưa bà. Xin phép bà cho con đi ngủ . Chào ông, và cám ơn ông có hảo ý.
Ông Thành An có vẻ lúng túng, nhưng không có cách nào giữ Mai Ly ở lại được. Ông nói :
- Chúc cô ngủ ngon.
Bà Kim Cương tiếp lời :
- Ðể cho Mai Ly đi ngủ . Còn ông Thành An ở lại thêm một chút nữa . Mình sẽ đàm chuyện làm ăn. Nếu có trễ cũng không sao, chú tài xế vẫn đợi ông mà.
Mai Ly lên phòng thảy cái ví tay, lột đôi giày, em buông mình xuống giường ôm chiếc gối, mà nước mắt ràn rụa tuôn ra . Dưới nhà còn ông Thành An và bà Kim Cương, ông Thành An mở lời :
- Bà chủ à ! Tôi thích cô Mai Ly lắm, làm sao bà giúp tôi ?
- Ông đừng lo, Mai Ly, nó hơi khó. Nhưng nếu nó khó mà ông được nó mới là quý chớ. Hơn nữa, Mai Ly chưa đủ mười tám tuổi . Từ từ tôi sẽ bẻ nó.
- Dạ, bà chủ có đầy kinh nghiệm mà. Vì tháng sau tôi sẽ trở lại Hồng Kông. Nếu bà chủ giúp được. Tôi sẽ đem cô Mai Ly đi cùng. Và tôi sẽ hậu tạ bà chủ...
Ông Thành An nói tới chỗ hậu tạ, trong lòng bà Kim Cương như bắt được vàng. Ðôi mắt bà sáng lên và vui vẻ hơn, bà ta không để lỡ cơ hội, bà nói :
- Ông Thành An à ! Tôi biết ông là người giàu nhứt trong giới xuất nhập cảng, mà còn có nhà băng riêng nữa . Tôi xin đề nghị với ông chuyện nho nhỏ này, mong ông sẽ không từ chối !
- Dạ, dạ bà chủ cứ nói .
- Thật ra Mai Ly mới mười bảy tuổi . Nên trước khi nó đi với ông ra ngoại quốc, tôi sẽ lo giấy tờ thêm cho nó một tuổi để đúng luật. Vậy ông có thể giúp Mai Ly một số tiền không ?
- Dạ, được ! Dạ, được !... Mà bao nhiêu vậy bà chủ ?
- Khoảng năm chục ngàn đồng thôi .
- Dạ, được được. Vậy mai tôi bảo chú kế toán sẽ đem lại cho bà chủ . Bà chủ ráng giúp tôi nha .
- Lẽ đương nhiên, thành công ông đừng quên ơn tôi là đủ rồị
- Dạ, cám ơn bà chủ trước, nếu thành công thì sau này tôi sẽ hậu tạ cho bà chủ rất to .
- Ông nhớ nghẹ
- Nhớ chớ. Bây giờ tôi xin phép bà chủ tôi về. Tuần tới tôi sẽ mời bà chủ và cô Mai Ly đi dùng cơm nữa nhé .
Ông Thành An đứng dậy và mò mò trong túi áo veste lấy ra cái bao thư, ông nói :
- Tôi nhờ bà chủ trao lại cô Mai Ly cái nàỵ Chào bà chủ tôi về.
Sau khi ông Thành An ra về. Bà Kim Cương đóng cửa và khóa lại đàng hoàng. Bà ta ngồi xuống salon mở bao thư ra, bên trong có mười ngàn đồng và một danh thiếp : -
Cô Mai Ly, tôi gởi tặng cô chút quà, mong sẽ gặp lại cô . Tôi có rất nhiều cảm tình riêng với cô, và muốn cưới cô làm vợ. Bà Kim Cương thấy có được mười ngàn, bà ta mỉm cười, nói một mình: - à ha ! Keo này mình trúng mối lớn rồi, con bé Mai Ly bị mình móc lại hết tiền. Nay sẵn có số tiền của khứa Thành An, mình giả đò bắt đền tiền nó bị mất, và tặng thêm cho nó một chút nữa là nó sẽ nghĩ mình thương nó thiệt và nghe lời mà chịu ưng lão Thành An. Kỳ này con chạy trời cũng không khỏi tay bà con ơi ! Thôi, đã khuya mình đi ngủ, ngày mai dậy rồi sẽ haỵ Mình lại sắp có năm chục ngàn nữạ Lảm nhảm một mình bà ta lên phòng, trong lòng bà rất là vui sướng .
Tiếp chương 12
(con` tiếp)
Thuở ấy, dân hai miền ngóng trông vào những tấm bưu thiếp như trẻ mong quà. Sự may rủi đến với người này, song lại dường như hờ hững với kẻ kia . Có bạn nhận được luôn mấy tấm trong một tháng, có người càng mong tin càng mất tịt đi đâu .
Của đáng tội, chính quyền mới tiếp thu đã làm xáo trộn văng tí mẹt lên hết. Người Hà Nội bị đưa giãn ra tận nơi nảo nơi nào, còn người mãi đâu thì được đưa về phường phố. Mỗi cuộc chiến thắng đều có việc đền ơn trả nghĩa đi kèm, huống chi phiên hiệu đấu tranh giai cấp càng phải được thực thi chu đáo .
Nếp sống con người bị cày xới, hất tung lên. Những giày dôn, áo hộp đều bị đem dấu chôn hay cất xó hết. Cả một thành phố thanh lịch giờ chỉ còn duy nhất một nếp áo nâu sồng hay màu đen ảm đạm. Người Hà Nội ớ ra để nếm thử quả chua vừa được trao đến tận taỵ
Những tấm bưu thiếp vượt trùng dương mang theo số phận bọt bèo trong tự thân mỗi cái . Hằng tuần, phi cơ của Ủy Hội Kiểm Soát Ðình Chiến bay ra bay vào, ôm những tâm tình của bên này trao lại cho bên kia .
Dù chỉ là những lời thăm hỏi lẫn nhau, song đâu phải mọi tấm bưu thiếp đều được giao đi tất. Có tấm bị những đầu óc địa phương rà rà kiểm duyệt, đong lượng từng chữ xem có ý đồ gì lươn lẹo dấu bên trong, mà hỡi ơi, những bộ óc xăm xoi đó vốn rất là nông cạn hay quá đa nghi hơn Tào Tháọ
Ðã mấy lần tôi nhận được bưu thiếp của mẹ gửi cho . Tiếng mẹ thất thanh như trách tôi lơ là với bà. Nào phải tôi hờn giận mẹ đâu, nhưng dăm tấm bưu thiếp mẹ gửi, may ra chỉ đến tay tôi được một.
Nâng niu cầm lời mẹ trong tay, cố phóng mắt tìm xem mẹ gửi gấm lời thầm lặng nào giữa những dòng hiển hiện ra đó. Mẹ đã cẩn thận dùng viết chì kẻ nhỏ lại những dòng in sẵn có để cố viết cho tôi thêm được dài hơn. Mẹ đánh đố với đất trời với ý nghĩ may ra thằng con nhận được, mẹ con sẽ gặp được nhau dài thêm một tẹo .
Ôi, lòng bà mẹ Việt Nam rách nát theo quê hương. Mẹ nói bâng quơ mà tôi thấy mẹ đau vô cùng. Gần mười năm trời, mẹ ngậm đắng tủi hờn, chỉ mong một chút lòng chung thủy của bố, vậy mà bố nỡ đành dính đến chuyện vợ nọ con kia . Mẹ thất vọng tràn trề.
Trong một bưu thiếp, tôi còn thấy nét chữ lạ. Cũng quều quào như chữ mẹ viết cho tôi . Nhưng mẹ chua giải thích thêm : cô viết cho con đấỵ Ôi, bà cô của tôi, lòng thì rộng mà hẩm hiu sao bám theo mãi, hai người đàn bà này sao trời nỡ bắt tội lềnh khênh.
Cô bảo : quê ta hồi này lạ lắm. Người ở đâu về, đông lắm cháu ơi . Cô với mẹ cố hỏi nhau xem họ hàng thân thuộc của họ thế nào, xong không sao biết được. Có người đã hỏi ngược mẹ con sao lại về đâỵ Cô chỉ nói có bấy nhiêu mà sao nghe thật nhức nhối . Hóa ra cái sự kêu gọi nhau ở lại hay quay về chỉ là câu mời chào giai đoạn. Khi mọi cửa ngõ thông thương đã bị khóa chặt lại thì người ta bắt đầu căn vặn nhau lý do vì sao ở hay đi .
Tôi thương mẹ, và lo, lo vô cùng. Máu nói thẳng tiêm nhiễm từ miền Nam của mẹ liệu có để mẹ thảnh thơi nơi quê nội dài lâu, hay sẽ thành cái vạ khi mẹ thẳng lòng suy xét các việc. Tôi sực nhớ đến gia tộc nội, ruộng chẳng nhiều song với vùng quê nghèo cũng coi được là có. Lại thêm từ ngày các bác và bố tôi bận việc khác thì cô phải cáng đáng hết cả .
Cô đã phải gọi người làm chia rẽ mùa màng hay nhờ anh này, người kia lân cận giúp cấy gặt lúa nhà . Tôi e thời buổi sẽ gây ân oán cho cô . Thế gian nhiều bạc bẽo, liệu chín lần cô giúp ai mà chỉ một lần thôi cô không giúp nữa, họ có để tâm rắp đàn hạch cô chăng.
Ở cái thôn bé tí tẹo, nép mình co quắp này, người nào ác tâm đủ làm tình làm tội người lành, huống gì lại có kẻ vẫn mang sẵn trong người niềm hận thù cố chấp. Ơi, thế thì đến bao giờ cô mới được hóa kiếp nợ trần gian. Cuộc thay đổi nào chẳng có thời gian để ân đền oán trả, nhất là khi sự việc này còn được khuyến khích để đánh gục đi cái sót lại của “ ngày xưa “.
Thế rồi, việc thông tin giữa hai miền bằng những tấm bưu thiếp cũng lặng lẽ bị triệt tiêu hồi nào chẳng rõ . Chỉ thấy một lần nào mọi người lo lắng hỏi nhau : này hình như họ không còn cho tình cảm lại qua nữa . Và cứ như vậy, tình trạng âm âm u u loang rộng, loang rộng đến vô cùng. Như mảnh sành lia trên mặt nước, mảnh sành chìm còn nhìn được chút tăm, việc ngưng cho trao đổi bưu thiếp lại hoàn toàn vô minh vắng lặng.
Cũng chợt một ngày nào, những đứa con, đứa em, người chị, người bà đã mỏi mắt chờ để rồi tin không đến nữa, không bao giờ đến nữa . Trời vẫn nắng, những con bướm vẫn nhởn nhơ, mà chỉ các dòng chữ thì không còn qua lại . Ai cũng thấy tức tủi, ngậm ngùi, cổ khô, miệng đắng, những quả bồ hòn như có một lực nào tống chặt vào họng nhau, không ăn cũng bắt phải ăn, không muốn cũng bắt phải muốn, không thích cũng bắt phải nhận.
Kể từ đó, đất nước đã phân biệt rõ rệt thành hai miền. Người bên ni hoàn toàn mất hẳn người bên đó . Tôi mất tuột mẹ, mất tuột cô, mất tuột Hà Nội, mất tuột Nghi Tàm, mất tuột cả Bắc Ninh. Nhưng đau nhất là tôi biết được bố không còn nhớ gì đến tôi nữa .
Ðêm từng đêm tôi ngủ nấc lên khi làng chàng nhìn bóng mẹ, bóng cô về trong mợ Riêng bóng bố thì không gặp, bố đã hoàn toàn là của một gia đình khác…
(còn tiếp)
7/03
Ngày 20 tháng 8, John lên máy tiếp xúc với Big Michael :
- Cho ông hay tất cả đều được sắp đặt đúng theo kế
hoạch.
- Nghĩa là thi hành đúng vào ngày mai ? Ngay lúc Rick tổ
chức sinh nhật cho con trai ?
- Ðúng, sau khi xong việc tôi sẽ báo cho ông haỵ Ông cho
tôi số điện thọai riêng để nếu cần có thể liên lạc dễ dàng.
- Ðược, ông ghi nhớ lấy, không được viết ra giấỵ
- Vâng, tôi nghe .
- Số……
- Cám ơn Big Mike .
Chấm dứt chuyện với Big, John xuống hầm lấy chiếc valise ra xe và chạy thẳng đến nhà thờ .
Nhà thờ giờ nầy vắng không một bóng người, John xách chiếc valise vào thẳng tòa giải tội, dùng điện thoại cầm tay gọi cha xứ :
- Alo, ông là linh mục ?
- Vâng chính tôị Cha Peter
- Thưa cha, tôi muốn xưng tội !
Ðầu giây kia nghe cha Peter ngập ngừng :
- Sao xưng tội giờ nầy ? Tôi có chương trình hằng tuần.
- Thưa cha, tôi gấp lắm.
- Ðược ông cứ đên nhà thờ bấm hai lần chuông tôi sẽ
ra ngaỵ
- Tôi hiện đang đợi cha trong tòa giải tội !.
Rất ngạc nhiên nhưng bổn phận của một linh mục, ngài gấp cuốn sách đứng dậy bước nhanh qua nhà thờ. Ðến tòa giải tội ngài thấy một người đang quỳ sẵn bên trong :
- Nhơn danh Cha và Con và Thánh Thần. Có phải ông là
người vừa điện thại cho tôi ?
- Ðúng vậy, thưa Cha .
- Ông muốn xưng tội ?
- Ðúng.
Sau vài câu kinh đọc thầm trong miệng, cha Peter hỏi :
- Trước khi xưng tội, ông đã suy xét tội lỗi của mình và đã thật lòng ăn năm về những lỗi lầm đã phạm ?
John đáp không suy nghĩ :
- Suy xét thì có, nhưng ăn năn thì không !
Hơi ngạc nhiên trước câu trả lời, nhưng cha Peter vẫn ôn tồn :
- Nếu ông muốn được tha thứ, trước hết phải ăn năn việc
làm sai trái của mình và hứa sẽ không còn tái phạm nữa .
- Thưa Cha, có sai trái hay không thì chưa rõ, nhưng phải
chừa không tái diễn nữa thì không được !
- Sao vậy ông ?
- Vì ngày mai tôi còn phạm lại tội nầỵ
Vị linh mục thật thà :
- Thực ra có nhiều tội, người đàn ông đã thề hứa khi vào
tòa giải mà vẫn tái phạm liền sau đó. Nhưng ông biết, lòng Chúa nhân từ, Ngài đều tha thứ nếu mỗi lần đến đây biết nhận lỗi sám hối ăn năn.
John phấn khởi :
- Như vậy tốt lắm.
- Thế ông đã phạm tội gì ?
- Giết người, và ngài mai còn phải giết thêm một người
nữa !
Nghe đến đây, cha Peter hốt hoảng :
- Ồ không ! tưởng là những tội bình thường của điều răn
thứ sáu . Không ngờ…
John thắc mắc :
- Ðiều răn thứ sáu là tội gì ?
- Thứ sáu chớ làm sự dâm dục…
Sực khám phá ra điều gì, linh mục hỏi :
- Như vậy chắc ông không phải người có đạo ?.
- Tôi không phải người công giáo, thưa Cha .
- Làm sao giải tội cho ông bây giờ !
- Thì cứ xem tôi như người có đạo vậy !
- Phép giải tội là một đặc ân Thiên Chúa dành cho người
đã chịu phép rửa tội .
- Sao rắc rối quá vậy, cứ rửa tội trước cho tôi rồi giải tội
sau có mất gì đâu .
Lần đầu tiên trong đời gặp một trường hợp quá đặc biệt cha Peter ôn tồn tìm hiểu :
- Thưa ông, trường hợp của ông quá đặc biệt, xin vui lòng
cho tôi biết rõ thêm phần nào .
John trình bày :
- Thưa Cha, tôi không theo đạo nào cả . Trong đời đã ba
lần giết người và ngày mai còn giết người thêm một lần nữa .
- Ông có thù oán sâu đậm với những nạn nhân ?
- Không ! nghề của tôi là giết mướn. Ai thuê tiền thì ra taỵ
- Tại sao lần nầy ông….hối hận và muốn xưng tội ?
- Nói hối hận và muốn xưng tội cũng không đúng.
Vị linh mục hết kiên nhẫn :
- Thưa ông, thế ông muốn gì ?
- Muốn có cơ hội gặp riêng cha để phó thác một việc .
- Tại sao chọn tôi ?
- Tôi nghe người ta nói luật giáo hội áp dụng với các linh
mục rất chặt chẽ.
- Nghĩa là ?
- Các linh mục sau khi ngồi giải tội cho con chiên đều bắt
buộc phải giữ bí mật cho đến chết những gì họ đã tiết lộ cho linh mục, phải vậy không cha ?
- Ðúng vậỵ
- Tốt, như vậy tôi chọn cha để phó thác một việc.
Cha Peter thẳng thắn trả lời ngay :
- Tôi không nhận, vì không muốn cùng ông nhúng tay trực
tiếp hay gián tiếp vào tội ác cũng như bao che những gì ông đã, đang và sẽ làm.
- Thưa cha không đúng vậy .
- ?
John nói nhỏ :
- Ngày mai tôi được lệnh giết một gia đình gồm hai vợ
chồng và một đứa con trai mười tuổị Nhưng tôi đã đổi ý, có thể chỉ giết một mình người cha và tha tội chết cho hai mẹ con.
Vị linh mục mỉm cười :
- Ông nói vậy không nghe được chút nào, giết hại người ta
mà ông bảo tha tội chết.
John cắt ngang :
- Cha hiểu làm sao cũng được, tùy chạ
- Rồi sao nữa ?
- Người ta đã đưa trước ba triệu dollars cho tôi, bảy triệu
còn lại sẽ giao ngay sau khi bắn gục nạn nhân.
Cha Peter dứt khoát :
- Không thể được ! Như vậy tôi đã gián tiếp giết người .
- Thưa cha, việc ám sát đã được thỏa thuận và tính toán
kỹ càng. Cha nhận giúp tôi hay không, tôi vẫn giết người như thường.
- Có cách nào để tránh việc nầy không ?
- Không, nếu không thi hành tôi sẽ bị giết. Nghĩa là trước
sau gì cũng phải có án mạng. Nạn nhân hay chính tôi, một trong hai người phải chết theo hợp đồng !
Cha Peter cố gắng thuyết phục :
- Cố gắng liên lạc với người trả tiền yêu cầu hủy bỏ xem
sao .
- Chắc chắn không được.
Cha Peter im lặng, không còn lời nào có thể thuyết phục được John. John nóng lòng lên tiếng :
- Tôi nhờ cha làm một việc thiện.
Cha Perter nghe nói đến việc thiện, hỏi ngay :
- Việc gì tôi có thể làm được cho ông ?
- Tôi đem sẵn theo đây ba triệu tiền mặt ứng trước vụ sát
nhân. Nếu ngày mai bất trắc tôi chết, nhờ cha giao số tiền nầy cho một người . Trường hợp tôi thành công sống sót, tôi sẽ tự tay đem thêm để đủ số mười triệu, và cũng chỉ giao lại cho người nầỵ
- Tôi chưa hiểu, xin nói rõ :
- Ðây là số tiền người ta mướn tôi giết nguyên gia đình ba
người . Nhưng tôi sẽ giết một mình người cha, số tiền nầy nhờ cha cất kỹ và chỉ giao cho người con trai khi nó trưởng thành. Ðây là sự tin tưởng tuyệt đối của tôi với một linh mục.
- Sao không giao cho mẹ nó mà phải qua tôi ?
- Tôi sợ mẹ nó lấy số tiền nầy và sẽ tái giá, đời nó sẽ khổ
sau nầỵ
- Ðể tiền lại cho ai ?
- Con nạn nhân, ngày mai cha sẽ biết nạn nhân là ai .
Bây giờ cha Peter bắt đầu hiểu sự việc :
- Giết cha lấy tiền thưởng để lại cho con nạn nhân ?
- Ðúng vậỵ
- Tại sao ?
- Tôi bắt buộc phải nhúng tay vào việc nầỵ
- Bây giờ ông thấy hối hận ?
- Cũng không đúng hẳn.
Cha Peter suy nghĩ một hồi :
- Thật khó nghĩ . Ông để tôi xin ý kiến ngài tổng giám mục.
- Không ý kiến gì cả . Cha đã nhận tiền thì phải thi hành
đúng theo lương tâm và giáo luật. Valise đựng ba triệu dollars đang nằm dưới chân và tôi để lại đâỵ
Nói dứt câu, John đứng dậy vội vã bước ra tòa giải tội, đặt cha Peter trước một chuyện đã rồi .
Cha Peter đứng dậy chưa kịp phản ứng gì, John đã ra khỏi cửa . Ngài cúi xuống bàn qùy, chiếc valise lớn đang để lại đó. Biết làm sao bây giờ, cha Peter đành xách vào trong cung thánh và mở ra xem. Valise đầy ắp tiền giấỵ Ngài đóng lại để vào tủ khóa cẫn thận rồi quay ra trước bàn thờ, nhìn lên tượng Chúa than thở :
- Lạy Chúa, người ta đã đặt lên vai con một thánh giá
quá nặng. Con phải làm sao bây giờ ?
Hôm sau, ngày sau 21 tháng 8, John thức dậy thật sớm cải trang thành James người thợ bánh, lái xe qua nhà vợ con nạn nhân trước khi đến nhà hàng.
Khu vực ra vào nhà hàng đã được phong tỏa và kiểm soát chặt chẽ. John vào bằng cửa sau dành riêng cho nhân viên và người giao hàng. Thu hồi khấu súng tiểu liên dấu kín trên hệ thống thông hơi xong John vào phòng vệ sinh kiên nhẫn đợi James. Gần đến tối, James vừa bước vào đã bị John đánh thuốc mê với một liều lớn, chỉ vài giây James bất tĩnh được John dựng ngồi yên trên bàn cầu . John khóa trái cửa phía trong, nhảy ra và ung dung trở vào phòng đang chứa bánh sinh nhật.
Thừa lúc nhân viên an ninh đi vệ sinh, John dấu súng vào trong chiếc bánh và lấp lại bằng kem, chỉ chừa một lổ nhỏ vừa đúng để lòn ngón tay trỏ vào bóp cò.
Công việc xảy ra tốt đẹp. Ðến giờ cắt bánh, John châm mười ngọn nến, khi đèn điện trong phòng tiệc đều tắt John đẩy xe bánh ra giữa phòng. Rick, vợ và đứa con đang tươi cười nhìn chiếc bánh vĩ đại đặt biệt làm riêng cho dịp lễ . John đẩy xe đến thật gần Rick hướng mũi súng vào ngay đầu và bóp cò. Năm viên đạn vụt ra khỏi nòng súng đâm ngay vào giữa trán nạn nhân. Rick gục ngay tại chỗ . Số đạn còn lại trong nòng súng dành riêng cho vợ con nạn nhân, John hướng mũi lên trần nhà bắn xối xã, cốt gây náo loạn quan khách đám an ninh và phục vụ để tiện đường thoát thân. Cởi bỏ bộ áo trắng phục vụ, John thoát nhanh khỏi nhà hàng bằng lối sau . Cảnh sát siết chặt vòng vây thì John đã thoát ra được bên ngoài, ông ta vào trong một chiếc xe cách đó vài trăm thước để quan sát việc cấp cứu .
Mười phút sau John điện thoại cho Michael :
- Công việc xong xuôi, nhưng có một việc…
Big vội cắt ngang :
- Việc gì ?
- Tôi chỉ giết một mình Rick.
Big hét lên trong điện thoại :
- Vợ con nó sao ?
John thản nhiên :
- Tôi tha chết.
Tiếng hét càng dữ dội hơn :
- Ai cho phép ?
- Chính tôi .
- Tôi sẽ giết ông tức khắc.
John chặt lưỡi :
- Ðừng vội, ông không giết được hay nói đúng hơn ông
không bao giờ dám đụng một sợi lông chân của tôi .
Big phát điên trong máy :
- Ðể xem, đồ khốn nạn. Tôi sẽ giết ông ngay !
- Khoan đã, ông giết chết tôi, ông đâu biết chỗ vợ con
đang ở .
- Sao, ông nói gì ?
- Tôi đã bắt cóc vợ con ông sáng nay, ngay lúc ông vừa
lên xe đi làm.
Bây giờ đến lượt Big hoảng hốt :
- Ông đã làm gì vợ con tôi ?
- Ông an tâm không có gì nguy hiểm. Vợ con ông là khách
của tôi .
- Ông nói láo .
John lấy máy ghi âm, bấm nút cho Big nghe giọng nói của vợ và con gái ông. Vợ Big xác nhận đang ở trong một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi và được đối xử như thượng khách. Bà còn khuyên ông đừng lo lắng gì, bà sẽ được tự do sau khi John lên máy baỵ
- Với mục đích gì ? Ông cần đòi thêm bao nhiêu ?
John bình thản trả lời :
- Một, để ông không thể phản bội bằng cách thanh toán
hay bán đứng tôi cho cảnh sát. Hai, buộc ông phải giao đủ số tiền bảy triệu còn lạị Ba, để tôi an tâm lên đường ra khỏi nước Mỹ. Mục đích không phải đòi thêm tiền bạc gì cả !
- Lấy gì bảo đảm an toàn cho vợ con tôi ?
- Lời nói của tôi .
Big hoài nghi :
- Không thể tin một người như ông. Tại sao ông không thi
hành lệnh tôi giết sạch cả gia đình ?
- Tôi thấy chỉ cần giết Rick đã đủ . Vợ con nó vô tội . Giết
hai người nầy không ích lợi gì ?
- Tại sao ông đổi ý ?
- Chuyện riêng của tôi .
Hai người im lặng vài giây, John lên tiếng trước :
- Chắc ông vừa nghe bản tin ngắn và biết chắc chắn Rick
đã chết. Ðối với tôi xem như hết chuyện. Ðúng 12 giờ khuya nay, ông giao nốt số tiền còn lại . Sáng mai trước khi bước chân lên phi cơ, tôi sẽ cho ông địa chỉ để ông đón người nhà về.
- Không được, phải thả ngay vợ con tôi trước khi nhận số
tiền còn lại .
John cười :
- Tôi đã nói, bây giờ chính tôi ra lệnh chứ không phải ông.
Cứ tin tôi, tôi giữ vợ con ông vì lý do an toàn cho tôi mà thôi .
- Làm sao tin được.
- Con người dù xấu xa đến đâu cũng có lúc vì một lý do
nào đó họ trở nên lương thiện, hay ít ra cũng làm được một vài việc gì tốt đẹp
- Với ông thì lý do gì ?
- Tôi đã không nỡ tâm giết chết vợ con Rick thì chắc chắn
không làm gì phương hại đến vợ con ông. Tin tôi đi .
Big xuống nước :
- Tôi tin tình cảm trong con người ông đã thức tĩnh, xin
ông hãy thương đứa con gái của tôi .
- Ðược tôi sẽ giữ lờị
Ngày sau trước khi ra phi trường, John ghé qua nhà thờ để chiếc valise đựng bảy triệu trong tòa giải tội, mở điện thoại gọi cha Peter :
- Thưa cha, tôi là người hôm qua đã nói chuyện với cha .
Bây giờ cha ra tòa giải tội nhận gấp chiếc valise đựng tiền. Chừng một giờ nữa, tôi sẽ gọi lại để nói chuyện rõ ràng hơn.
Không đợi cha Peter lên tiếng, John đã cúp máỵ
Làm thủ tục xong, John gọi cha Peter :
- Thưa cha, tôi xin tiếp câu chuyện.
- Ðược ông cứ nói .
- Tôi sẽ lên máy bay trong chốc lát, vĩnh viễn đi xa và
không bao giờ trở lại đất Mỹ . Tôi sẽ thay họ đổi tên làm lại cuộc đời mới thật lương thiện. Tôi hứa với cha không bao giờ giết người nữạ Từ nay tất cả mọi người sẽ không kiếm ra tôi kể luôn cả cha . Mong cha giúp cho đứa trẻ . Nó chính là con trai của Rick Jackson.
Cha Peter sung sướng :
- Như vậy ông bắt đầu sám hối ăn năm về tội lỗi mình đã
phạm ?
- Cũng có thể một phần như vậỵ
- Nếu ông thực tình ăn năn sám hối và sẽ từ bỏ những
xấu xa ngày trước thì trên nguyên tắc tôi có thể tha tội cho ông. Hy vọng ở một nơi nào đó, khi tâm hồn nổi loạn ông nên đến với thánh đường, nơi đó ông sẽ tìm được sự an lành trong tình thương của Thiên Chúa .
- Cám ơn cha .
Chiếc phóng thanh thông báo cho những hành khách có chuyến bay đi Thượng hải chuẩn bị ra cổng số… John gọi cho Big :
- Chào Mike, tôi đã lên máy baỵ Vợ con ông hiện đang ở
tại số…..đường…..thành phố…. Ông đến đón về. Nhớ đừng làm khó gì những người tôi đã thuê để hầu hạ phục dịch cho vợ con ông. Tôi đã thanh toán tiền bạc sòng phẳng với họ. Nếu ông muốn biếu thêm thì tùy ông. Chào Big Mikẹ
John tắt máy, nhìn ra ngoài cửa sổ, máy bay đã lên cao . John lim dim đôi mắt tự hỏi : Không lẽ hình ảnh hai mẹ con Rick đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời của mình chăng ?
dinhlamthanh@hotmail.com
(Bến Nước Ðục, xuất bản 2005)
Kỳ 13
Anh đứng nhìn bao quát khắp đồn. Bụi bay mù mịt lẫn với tiếng trực thăng phành phạch trên đầu . Lời thỉnh nguyện của anh đã được cấp trên lưu ý đến nên mấy hôm nay trút xuống vòng rào cơ man đồ vật dùng vào việc phòng thủ . Anh cám ơn già làng đã nghĩ thương đến anh, đã truyền lại cho anh những điều già lo sợ.
Ðám lính lăng xăng thu dọn hàng tiếp tế, chỗ này một tốp đang giăng thêm vòng kẽm gai, chố kia bộ phận truyền tin đang gài thêm hệ thống ăng ten để làm tai mắt cho một lần thử lửa . Cái đồn chim cu chót vót trên đầu núi giờ búa xua những cọng thép vung vẩy lên trời, chẳng khác những cái râu con bạch tuộc thập thò ra khỏi hang đánh hơi mọi sự.
Anh nghĩ trong bụng : qua đợt này phải thay nhau cho đàn em xuống núi một lần. Tội nghiệp họ đã sát cánh với anh lâu quá rồi nên chắc là nhớ thành phố . Vả lại, họ còn mẹ cha, anh chị, lại còn cả người yêu hay những mối tình bỏ vương vất lại nơi xa, giá như không có chiến tranh khổ đau nào đâu giăng giăng như vậỵ
Họ còn tuổi trẻ, còn nhiều mơ ước ngày mai, cả một đời miệt mài, làm sao chịu cho thấu . Buổi sáng, buổi trưa, buổi chiêu, buổi tối, nằm trên cánh võng dù, anh nhắm mắt mà đầu óc luôn xà quầng vì họ. Anh điểm mặt từng người để xem có dấu vết thấp thỏm nào chợt lóe ra chưa . Họ vẫn âm âm u u như bao tầng địa ngục, vẫn lửng lơ như con cá lội nước trong, anh khẽ khàng nhận trách nhiệm về mình.
Anh cố lần dò hỏi, tìm hiểu xem họ đang nghĩ gì, nhớ gì, nhưng chịu . Họ kín tiếng quá, chẳng nghe một lời thở dài . Anh tôn trọng sự riêng tư của họ, tôn trọng cái giây phút họ ngồi mắm môi viết những lá thư trên cái ba lô thay bàn và cái bút chì cụt đến không còn cụt hơn nữa .
Họ viết ngập ngừng, họ viết thoăn thoắt, hay xoành xoạch viết rồi lại vò viên vứt bỏ ngaỵ Anh không hề hỏi họ viết cho ai, về đâu, nói gì hay than gì trong đó. Nhưng anh biết chắc một điều là ai cũng nhớ, nhớ một nỗi nhớ mung lung, như anh.
Cả năm trời rồi, anh không ra khỏi đồn. Anh chia xẻ tâm tình và nỗi cô đơn với lính. Người thượng sĩ phụ tá cứ nhắc nhở anh : thiếu úy nên về thăm cô ấy một chút đi . Anh bật cười hỏi vui : cô ấy là cô nào vậy, bố ? Rồi khều khào anh đổi đề tài sang chuyện khác. Hun hút như cánh rừng trước mặt, mù mịt như bóng dáng hòa bình.
Tay lính hôm nao cự nự anh, nay được làm tà lọt cho anh, thấy ông thầy đăm đăm nên rụt rè nhắc : lâu quá không nghe ông thầy tính dzìa thăm nhà. Chữ nhà anh ta dùng chẳng biết là nói đến gia đình cha mẹ, hay là thứ “ nhà tôi “ như thiên hạ vẫn nói, anh bâng khuâng tự hỏi vậỵ Tuy nhiên anh cũng đáp : cám ơn chú, nhưng anh làm gì có “ nhà “ nào để về đâu .
Nói xong anh mới thấy hớ, không dưng đi vạch lưng cho người sờ . Nhưng rồi anh lại nghĩ ở trên cái chuồng chim cu này, nếu không tin nhau để cùng chia xẻ tâm tình với nhau thì còn biết than thở với ai .
Ðột nhiên, anh thấy tim thắt lại . Hình bóng Nia vừa thoáng hiện qua trí anh. Cái cô gái trong buôn lúc nào cũng theo bên anh kè kè hỏi đủ chuyện. Cô xin anh kể cho nghe về vùng đất sinh ra anh và còn tọc mạch hỏi dò anh chuyện khác nữa . Anh chưa dám tin là cô có tình ý với anh, song nghe những câu cô dặn dò nhắc nhở, anh thấy lòng âu yếm của cô đặt vào anh quá nhiều .
Lần nào già làng gọi, chưa vào đến buôn thì đã gặp cô . Mặt tươi như hoa, cô chào anh lí nhí . Anh tiếp xúc với già, cô lẩn vẩn bên cạnh. Cô như ơ thờ, song anh biết là cô chăm chú dõi theo . Khi những tin tức gay cấn già làng thỏ thẻ để anh lưu tâm thì anh thấy cô thở dài nhè nhẹ.
Ðã nhiều phen, anh tự hỏi tại sao giữa rừng già, nương bản lại có một bông hoa dị thảo mọc lên đẹp vậỵ Cô nền nã quá, mong manh như sợi tơ mà lòng tràn trề tình cảm. Cô thường cố lưu giữ chân anh đi sót lại sau cùng và lời cô run run nhắc anh phải đề phòng mọi việc. Cô nói với anh về mùa mưa sắp đến, về con suối bị tràn ngập cắt đường, về những hồn ma bóng quỉ nhìn nhỏ đến đồn anh.
Cô không tố cáo với anh một rắp tâm nào rõ rệt, song cái tên Y Sê, Y Brom được nhắc đến nhiều lần. Như vậy là cô lo cho anh quá đi chứ . Tình cảm nào đã cho anh hưởng ngoại lệ đến vậỵ
Anh nhớ lại lần đầu gặp cô bên bờ suối . Cô đang đùa giỡn với các bạn, chợt thấy đám lính đi qua, ai nấy đều thẹn thò khép nép. Anh nhận ra ngay nên lệnh cho bọn đàn em tạt ra xa . Anh ôn tồn xin lỗi đám nữ về tội phá vỡ niềm vui của họ. Cô nhìn anh ngạc nhiên, một tình cảm chợt lóe .
Từ đó lúc nào gặp, cô cũng chào anh trước. Hôm buôn mở hội làng, đơn vị anh đến dự dù chưa được mời . Anh ủy cho lính gánh theo quà cho ngày hội . Những gói thuốc QTV, những hộp trái cây lương khô, sữa cho người già và trẻ em, thịt hộp cho thiếu nữ . Già làng đã cởi mở để bọn lính hòa chung với buôn bản.
Lính anh hồn nhiên tham dự nhảy múa với các cô, có cậu hăng còn lên hát “ nếu mai anh đi, liệu em còn nhớ đến gì không “, chắc là sơn nữ chỉ nghe líu lo chẳng hiểu, vậy mà ai cũng toác miệng cười . Bọn trai bản uống rượu dữ thật, bọn lính và anh vốn là sâu rượu thành đô cũng bị say túy lúỵ Ðược cái, say thì có say mà chẳng tay nào dám bờm xờm gái bản. Anh đã dặn : đừng làm họ mất lòng tin, hãy quí nhau để tình thương được bền vững. Trong con mắt anh ngày đó, cái chuồng chim cu của anh có yên được chăng là chính cái buôn này làm chỗ dựacho mình.
Thế nên anh trân trọng và chẳng chút dè chừng với một ai . Trai buôn tay nào thích tập bắn, anh dạy họ cầm súng, anh cấp đạn cho họ thử . Cô có vẻ không ưng, nhưng anh vẫn làm theo ý mình. Hôm Y Sê, Y Brom bỏ làng, cô gái báo cho anh trước nhất và hỏi thêm : anh có sợ không. Anh tê tái lòng mà phải nói cứng : mặc họ chứ, họ muốn đánh thì mình phải cự lại .
Cô lại hỏi thêm : nhỡ mất mát xảy ra . Anh ngần ngừ một lúc rồi cũng nói : con người có số cả, chết thì ở đâu mà chả chết. Anh thấy cô phủi tay lia lịa, nói lầm thầm, chắc là cô xin Giàng hất đi lời nói gở của anh.
(còn tiếp)
30-04-1975
Ðã hai mươi chín năm rồi mà tôi tưởng chừng như mới ngày hôm qua . Theo thông cáo của Uỷ ban Nhân dân thành phố HCM , tôi trình diện đi học tập cải tạo vào ngày 01-06-75 . Thông báo phổ biến cần đem theo lương thực ,đồ dùng cho đủ một tháng nên ai cũng tưởng lầm mình đi một tháng rồi về . Sau hơn một năm tập trung cải tạo tại trại Tân Hiệp Suối Máu Biên Hoà, cán bộ Công Sản giải thích " : nhân dân bảo các anh đem lương thực một tháng chứ đâu bảo các anh cải tạo một tháng, sau một tháng lương thực các anh mang theo đã ăn hết, nhân dân tiếp tục nuôi các anh để các anh được cải tạo tiếp, khi nào các anh tốt thì nhân dân sẽ để các anh về " . Bấy giờ chúng tôi mới hiểu ra thời gian cải tạo không có hạn định và thấm thía câu nói chí lý của ông
Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu : : “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm ”.
Ngày ngày chúng tôi lao động, đào mương, đào giếng, làm nhà để ở, làm chuồng để nuôi heo, làm rẫy phát vồng trồng rau muống, tối tập họp học chính trị, làm kiểm điểm, lấy lời khai để xếp loại về tội ác của chúng tôi đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Thời gian như vậy cứ trôi qua trong lo âu, trong sợ hảị
Thế rồi vào một buổi tối, dưới ánh trăng rằm của đêm Trung thu 76, sau bửa cơm chiều với mỗi người được phát cho một chén bobo và một con cá khô kho mặn, có lệnh tập họp toàn trại để điểm danh. Lần tập họp nầy có điểm đặc biệt là tất cả phải đem theo hành lý cá nhân. Chúng tôi nghĩ là có sự kiểm soát hành lý, nhưng sau khi điểm danh xong, một Thượng uý VC tuyên bố đêm nay có biên chế, nghĩa là có sự chuyển trại . Một danh sách được đọc, từng người một khi nghe tên phải ôm hành lý đứng riêng dưới gốc cây , thành hai hàng dọc. Tổng cọng 42 người, trong số đó có tôị Lòng ngổn ngang trăm mối , tôi không biết mình sẽ bị đưa đi đâu . Có người tưởng được cho về. Nhìn chung quanh thấy toàn những người có “đầy nợ máu với nhân dân ”, tình báo, an ninh, tuyên uý, chiến tranh chính trị, đơn vị trưởng , tôi kẹt là đã khai đơn vị cuối cùng là trưởng phòng 4 LỰC LƯỢNG THUỶ BỘ ( Một đơn vị ác ôn đối với bọn chúng ". Tôi tự hiểu ra mình bắt đầu sống một cuộc sống khổ ải hơn. Chúng tôi sắp hàng haị Bốn Bộ đội miền Bắc, người miền núi, giọng nói eo éo điếc cả tai, cầm súng trong tư thế nhả đạn dẫn chúng tôi đi về một căn nhà trống : ” Các anh im lặng, không được quan hệ , mỗi khi muốn di chuyển đi đâu phải xin phép, nếu tự ý rời khỏi láng, bắn chết tại chỗ . Chúng tôi ngồi im, mỗi người một suy nghĩ, miên man trong đầu những dấu hỏi ? chúng đưa mình đi đâu đêm nay? làm sao liên lạc được với gia đình để cho biết mình đã rời khỏi Suối Máu BIÊN HOÀ . ”Ánh trăng chiếu dọi xuống chui qua hàng cây già, trải một màu vàng êm dịụ Phi trường Biên Hoà hiện rất rõ trong tầm mắt tôi .
Ðến nửa đêm, mỗi người được phát một túi lương khô và một bi đông sắt loại Trung Cọng đựng nước uống. Hai chiếc xe vận tải Molotova bịt bùng, nguỵ trang bằng sơn và lá cây rừng đã sẳn sàng. Chúng tôi bị trói từng hai người lại với nhau bằng cái còng số 8. Tất cả lên xe, cảnh vật im lìm, chỉ nghe tiếng hối thúc la hét của các tên bộ đội . Trong xe nóng như cái hầm lửa mặc dù ngoài trời đang mát dịụ Cái màn phía sau xe đã kéo xuống, tôi không còn thấy được gì bên ngoàị Xe bắt đầu chuyển bánh, phía ngoài toàn tiếng reo hò của bộ đội, giọng Bắc chua cay như xé lòng chúng tôi . Mấy thằng Nguỵ nầy đem bắn bỏ, nuôi chúng nó làm gì cho phí cơm " . Xe di chuyển một khoảng thời gian dài chúng tôi vẫn không thể đoán được chúng đưa đi đâu . Thần kinh căng thẳng, chúng tôi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng xe vấp phải một ổ gà và ngừng lại . Tiếng chân bộ đội chạy qua lại, hình như đông lắm. Giọng Bắc mà mỗi lần nghe tôi phải rùng mình, lại reo lên :” Ðến rồi, đem bọn nó xuống ". Tiếng lên đạn của các khẩu AK như chừng sắp sửa bắn ai . Mà bắn thật, vài tiếng súng nổ trong đêm khuya tĩnh mịch .Chúng tôi nghĩ rằng chúng đem chúng tôi đi thủ tiêu . Tiếng đọc kinh và cầu nguyện của vài người bạn tù làm cho tôi lạnh người . Tử thần đang vờn chúng tôi như mèo vờn chuột. Tôi nhắm mắt, trong bóng tối ghê rợn, đoán chắc là mình sắp chết , chợt nghĩ đến vợ con , gia đình Ba Mẹ và các em :” Ba Mẹ và các em đều đã di tản ngày 29. Vợ con tôi không đi theo, ở lại chờ chồng chờ chạ Còn tôi ,vợ con kẹt ở SAIGON ,sau 30-04-75 tôi rời đơn vị về đoàn tụ với gia đình được một tháng rồi chừ vĩnh biệt sao”..? Trong hoàn cảnh này tôi mới hiểu được giờ hấp hối là gì, mới biết đươc cái suy nghĩ của một tử tội trước giờ bị hành quyết . Tôi nghĩ đến hình ảnh vợ tôi ,cô bé học trò dễ thương mà một thời tôi ngẩn ngơ trồng cây si theo hàng phượng vĩ . Cô nữ sinh Ðệ nhất C ấy đã yêu chàng thuỷ thủ phiêu bồng ,cho tôi dệt thơ bằng sóng biển, bằng tiếng hát học trò, bằnh hình ảnh con tàu ra khơi, bằng những lá thư tình sưởi ấm tim tôi trong những tháng ngày lênh đênh với một Hải Trình dài hun hút. Từ đáy lòng ,tôi gọi tên vợ tôi, tên các con tôi theo dòng nước mắt chảy ngược về tim... Tôi cũng nghĩ đến mối tình đầu học trò thơ dại mà tôi đã để lại cho trường Phan Châu Trinh yêu dấu cất giữ giùm tôi, mối tình với con đường Hùng vương mỗi chiều tôi lặng lẽ đi qua, đi qua một mình cho hết thời trung học... Có tiếng khóc chung quanh tôi . Lòng tôi quặn đau như chưa từng đớn đau như thế. Sông biển đưa tôi đi, không lẽ tuổi đời mới 30 sông biển lại gọi tôi về . Người tù cùng khoá chung còng số 8 với tôi là một dân biểu của Việt Nam Cọng Hoà . Anh tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, một thời làm phó Quận, sau về ứng cử dân biểu đơn vị Qui Nhơn. Anh ngồi bất động từ lúc lên xe đến giờ . Khi nghe tiếng súng nổ, anh chửi bằng tiếng Pháp, anh chửi bằng tiếng Anh, rồi đột nhiên anh chửi bằng tiếng Việt. Tôi vội lấy tay bụm miệng anh: “Anh phải coi chừng, chúng nó nghe được, ghép vào tội phản cách mạng thì anh đừng hòng gặp lại vợ con”. Anh nói: ”Bố nó , bây giờ cũng sắp chết rồi ”. Ðang lo âu tôi bỗng bật cười : ”Sắp sửa chết chứ chưa chết, vẫn còn hy vọng mà ”. Anh yên lặng, hình như tôi đã truyền được một chút hy vọng vào anh.
Trong giờ phút nầy rất cần hy vọng, cho dù là một chút hy vọng mong manh để thay đổi cái chết thành cái sống. Chúng tôi muốn sống để thấy cái tức tưởi của chiến tranh, cái phi lý của bom đạn, để thấy tại sao lại có sự đầu hàng nhục nhã ê chề. Chúng tôi muốn sống không phải để đội đá vá trời, chúng tôi muốn sống để sau nầy nhìn và hiểu được, tại sao và tại sao thế nầy, tại sao với một đoàn quân hùng mạnh như thế đó, với tinh thần chiến đấu dũng cảm mà bao nhiêu chiến trận đã ghi công, trong tay khẩu súng vẫn còn ghì chặt, lòng tràn đầy nhựa sống, trí óc sáng như trăng rằm, tim vẫn in đậm lá cờ Tổ Quốc màu vàng ba sọc đỏ thân yêu mà chúng tôi phải ở trong tình trạng như thế nầỷ Tại sao ? Tại sao ?
Tôi để hồn mình phiêu du vào một chân trời xa thẳm, nơi đó không có chiến tranh, không có hận thù, không có những bất công của xã hội, không có người hành hạ người . Tôi chợt thấy thanh thản trong cái chết, lòng hướng về tương lai đầy tình người, tình nhân loạị....
Ngày tôi vào Hải Quân, mẹ tôi buồn lắm nhưng không ngăn được lòng yêu giang hồ phiêu bạt của tôi . Mẹ cho tôi một lá bùa, xin của một vị sư nào đó. Mẹ nói : “mạng con mạng thuỷ mà con đi lính thuỷ thì thế nào con cũng bị nguy hiểm vì nước, con cất kỹ bùa nầy để lấy cái linh thiêng mà gìn giữ mạng sống “. Tôi không tin nhưng vẫn nhận để mẹ yên lòng. Mẹ ơi! Không lẽ lời vị sư nào đó nói đúng, nhưng con không chết vì nước sông, nước biển mà chết vì nước Việt của con, của mẹ và của mọi ngườị Tôi lần tay vào cổ cầm chắc lá bùa tôi thường đeo cho mẹ vui . Tôi phải sống, niềm tin và hy vọng tràn ngập trong tôi, tôi phải thắng Thiên Mệnh. Còn bao nhiêu việc phải làm, bao nhiêu mộng ước chưa thành, còn tình nghĩa với vợ tôi, còn trách nhiệm và bổn phận với con tôi . Tuổi đời ngoài ba mươi, tôi chưa muốn chấm dứt tại đây . Tội buột miệng gọi “ Me”. như thời còn bé dại . Ðột nhiên hình như có sự thay đổi gì, các bộ đội nhảy lên xe và xe lại chuyển bánh. Tôi không biết xe lại chở mình đi đâu nữa đâỵ
Trời bắt đầu sáng, những tia sáng chiếu rọi vào những khe hở. Sau một đêm dài trí não bị tra tấn, những khuôn mặt tiều tuỵ bơ phờ hiện rõ dần trong thùng xẹ Tôi mặc kệ bọn ác quỉ , chúng muốn gì thì muốn, bắt đầu thấy đóị Tôi uống một ngụm nước trong bi đông mang theo . Dòng nước lạnh mát trôi dần vô cổ họng đang khô vì thần kinh căng thẳng. Tôi ăn một mẫu lương khô, loại lương khô của Trung Cọng, bộ đội dùng để băng rừng băng núi vượt tuyến vào Nam. Ðến giữa trưa xe dừng lại ?tại một khu rừng. Chúng tôi được xuống để làm vệ sinh cá nhân. Tôi thầm đếm, hai xe còn đủ 42 ngườị Vậy lúc tối chúng bắn doạ thôi, uy hiếp tinh thần tù nhân cho khủng hoảng trước khi đưa đến trại khác, tôi nghĩ vậỵ Chúng dẫn tất cả đến một cái hầm cho chúng tôi làm vệ sinh cá nhân tập thể . Hơn 10 tên bộ đội vây quanh, cầm súng chĩa vào chúng tôi trong tư thế nhả đạn. Giọng Bắc của tên cầm đầu lại eo éo nổi lên nghe như tiếng cô hồn từ địa ngục vọng về: ”Các anh khẩn trương giải phóng chỉ được 10 phút nhé, “nên " xe biên chế tiếp ". Một người tù tiếu lâm dịch nguyên câu nói sang tiếng Việt... Các anh làm vệ sinh nhanh lên, chỉ được 10 phút thôi, phải lên xe đi tiếp. Tôi nhìn quanh khu rừng, định vị trí mình đang ở đâu nhưng đành chịu . Những hàng cây cổ thụ cao tít che khuất ánh mặt trời . Bây giờ chúng tôi đã hết sợ, nghĩ rằng chúng doạ thôi, chưa thủ tiêu mình. Trong cái thùng xe bít bùng nầy, khí hậu thay đổi đột ngột, sáng sớm lạnh vì hơi khí của rừng già, chừ lại nóng bức như một buổi trưa mùa hè Sài Gòn. Màn đêm bắt đầu buông xuống. Chúng tôi đã vào thành phố, nghe được tiếng kèn inh ỏi của xe cộ qua lại, tiếng nói cười của khách đi đường. Chúng tôi yên tâm, thở phào nhẹ nhỏm. Xe ngừng, cánh màn cửa được vén lên, chúng tôi từng cặp một xuống xe sắp hai hàng dọc. Ðây rồi, Bến cảng Sài Gòn, bến Bạch Ðằng của tôi, vài con tàu không đi được, còn nằm lại dọc theo bờ sông. Xa xa Hải quân công xưởng chìm trong ánh điện mờ. Nơi đây ngày trước mỗi chuyến tuần dương, tôi theo con tàu đi có vợ con đưa tiễn, xong công tác tôi theo con tàu về, vợ con đón đợi, trong nụ cười, trong vòng tay thân yêu . Tối nay, cũng bến cảng tàu nầy, cũng dòng sông nầy, con tàu ngày trước còn đây nhưng màu cờ đã đổi và tôi tay trong tay với người bạn tù đồng hành. Cảnh vật im lìm lạnh ngắt .Tôi cô đơn trong nỗi buồn vô tận. Từ Biên Hoà về Sài Gòn, một đêm một ngày xe chạy quanh co .Bị hù doạ, trấn áp tinh thần ,chúng tôi ai nấy đều bơ phờ bạc nhược. Bỗng hai bóng người tù trong chúng tôi chạy ù ra sông, nhảy xuống nước với tiếng hú thảm thiết. Hai thân người bị kẹp giữa thân tàu và thành cầu, máu đỏ loang cả một khoảng sông đen ngòm. Hai người bạn tù đả tự tử . Không biết cả hai đồng ý cùng chết hay là một người muốn chết kéo theo một người không muốn chết trong cái còng số 8. Chúng tôi nghẹn ngào trong uất hận. Tôi thẫn thờ nhìn qua ánh đèn mờ hai cái xác trôi trong vũng máụ Vẻ mặt của những tên bộ đội lạnh như tiền . So sánh giữa người và vật, giờ phút nầy con vật còn hơn chúng tôi . Hai anh bạn tù, hai chiến hữu của tôi mà tôi chưa biết tên , không chịu nổi cảnh nhục nhã này đã ra đi trong cái bất khuất của người lính VIỆT NAM CỌNG HOÀ . Lòng tôi chua xót. Tổ Quốc sẽ ghi tên anh, lịch sử sẽ viết tên anh bằng chữ HOA để tô thắm cho giòng máu anh hùng của dân tộc Việt. Tôi tự thẹn với lòng, ngậm ngùi nhìn hai cái xác vẫn bềnh bồng bên cạnh thân tàu, cúi đầu chào vĩnh biệt, ghi hình ảnh đau thương vào tận trái tim chai đá .
Tất cả rồi cũng phôi phai, tất cả rồi cũng tan vỡ, tất cả rồi cũng chán chường, chỉ có kỷ niệm là vĩnh cửu . Với tôi , kỷ niệm luôn luôn là nỗi nhớ trong lòng, dù là kỷ niệm đau thuong . Tôi đang tìm lại một khoảng đời rất ngắn trong những năm tù dài .Tôi Ra Biển Bắc là một cuộc hội ngộ giữa tôi và con tàu, cùng biển trời mênh mông của ngày trước đầy mơ ước vào tuổi đang trưởng thành. Biển bây giờ thu hẹp, nhỏ bé trong một khoang tàu, với tấm thân nhục nhã, ê chề, uất hận. Mỉa mai thay,chính con tàu ( hiện nằm lầm lỳ trong một cầu tàu của Hải quân công xưởng, đổi tên là Xưởng Sửa Tàu TP. Hồ chí Minh) ngày xưa đưa tôi đi để gìn giữ vùng biển của Miền Nam thân yêu sẽ đưa tôi ra biển Bắc để đi vào chốn tù đày của một người lính bại trận. Chúng tôi lần lượt hai người một vẫn trong cái còng số 8 được đưa xuống một chiến hạm của Hải Quân VNCH để lại vào giờ phút chót. Chiến hạm mang tên là Hộ Tống Hạm HÀ HỒI số 13. Tên và số tàu vẫn không thay đổi, chỉ có lá cờ trên đài chỉ huy là đổi thaỵ Tôi rùng mình khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng bay phất phơ trong gió, thấy lòng mình quặn đau
Một sớm một chiều màu cờ của miền Nam đã không còn nữa . Tôi vẫn muốn đi trong mơ để không nghĩ đây là sự thật. Chúng tôi đi qua một hành lang để xuống một căn hầm trước mũi tàu . Tôi thoáng nhìn thấy những nhân viên cũ mà chúng gọi là những Hải quân Ng?uy được giữ lại để truyền nghề cho các bộ đội của Hải quân Nhân dân. Các hầm tàu chứa đầy gạọ Thì ra anh em miền Bắc giàu có, cái gì cũng hơn miền Nam gấp bội, từ cái TV, tủ lạnh đến cái đài, tốt, đẹp và nhiều vô số thứ khác ...nhưng chỉ có thiếu gạo mà thôi, nên anh em miền Bắc chuyển gạo từ Nam ra Bắc để nuôi nhân dân Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt, cái nôi của nhân loại và đỉnh cao của trí tuệ loài người !!! Cái hầm nhốt chúng tôi trên chiến hạm là một cái hầm để chứa sơn tu bổ tàu của ban Vận chuyển, nằm trước mũi, cạnh một cái phòng nhỏ nuôi 3 con heo . Xã Hội Chủ nghĩa, cái gì cũng quý, từ cọng rau muống đến chén bobo , lúc nào cũng lo cho nhân dân, nhất là giai cấp công nhân, do đó bất cứ ở đâu hay bất cứ chỗ nào cũng có thể làm nơi cải thiện cho đời sống. Tôi nghe nói ở Sài Gòn bây giờ các nhà cao ốc, các cao tầng, cách mạng tiếp thu, vừa ở vừa trồng rau muống, nuôi heo gà. Tôi không tin nhưng bây giờ chính mắt tôi đã thấỵ Con tàu đẹp đ~ẽ ngày xưa, oai nghi ngày trước, sau một năm giải phóng trở nên loang lỗ, không được sơn phết .Tất cả tiện nghi làm đẹp con tàu bị tháo gỡ, bây giờ lại thêm một chuồng heo . Phòng nhốt tù cạnh chuồng heo và người tù cải tạo không thể nào quí bằng con heo ! Sau khi đã vào vị trí, mỗi người nhận một khoảng nhỏ trên sân tàu để nghỉ ngơi , tất cả được tháo còng. Tự do ôi tự do ! Hai tay bây giờ được thong thả, không dính liền với người khác. Chỉ một chút tự do thôi nhưng sao thấy thoải mái lạ lùng. Ðang được hồi sinh lại thì tôi thấy đóị Vừa đúng lúc đó, mừng làm sao, hai thuỷ thủ nhà bếp khiêng vào để giữa phòng một nồi cháo trắng còn nóng. Mùi thơm dịu của chất gạo thật hấp dẩn. Lâu ngày rồi không được ăn gạo, chỉ toàn bobo thôi, bây giờ mọi người được một tô cháo ăn với vài miếng dưa leo ướp muối . Tôi nghĩ rằng tất cả cao lương mỹ vị trên đời nầy không bằng một góc nhỏ của bữa ăn hôm naỵ Bên kia, 3 con heo ủn ỉn rống to đòi ăn. Thế là nồi cháo còn bao nhiêu hai người thuỷ thủ nhân dân đổ cho 3 con heo háu ăn. Tô cháo vội chạy vào bao tử chúng tôi như vào cõi hư không. Mỗi người tiêu chuẩn chỉ một tộ Nhìn 3 con heo ăn sồng sộc tôi thấy cuộc đời bao nhiêu nỗi đắng caỵ
Gió sông thổi vào bốn cửa tròn hai bên thành hầm tàu mát rượi lòng của kẻ lưu đàỵ Tôi nằm dài thoải mái chờ đợi một chuyến hải hành, không biết đi về đâu, đến bến bờ nào . Tôi chẳng cần nghỉ đến nữa, nhắm mắt mơ màng tìm một giấc ngủ, giữ gìn sức khoẻ để chịu đựng những gian khổ sẽ đến. Mọi người đều lặng im, cùng một tâm trạng, cùng một lo âụ Bỗng nhiên nghe ai hát đâu đây bài hát quen thuộc ngày nào . Anh bạn nằm bên cạnh nói nhỏ với tôi : ”Ðiếc không sợ súng, chắc có ai điên rồi, nguy hiểm quá, bọn chúng nghe được, hát nhạc vàng đồi truỵ, ghép vào tội phản cách mạng thì chỉ có " ..... Anh bỏ lửng và lắng nghe:
Nếu em không là người yêu của lính
Ai đem cành hoa rừng về tặng em
Ai băng gió sương cho em đợi chờ
Và những lúc đêm về, ai kể chuyện đời lính cho em nghẹ
Hỡi ... hỡi ... người em gái Gia Long ơi!
Hỡi ... Ngươị em mến thương tôị..
Tiếng hát của một anh bạn tù, còn trẻ như tôi . Có lẽ anh khủng hoảng tinh thần nên không còn biết sợ là gì, tiếng trong và ấm lạ lùng. Tiếng hát đủ cho mọi người nghe trong cái hầm bịt bùng . Tôi quên cả khổ đau, chợt thấy lòng mình man mát nhớ về những mộng đẹp của thuở xa xưa . Nỗi lo lắng không còn nữa, tôi buột miệng hát theo nho nhỏ về mối tình đẹp như một bài thơ đã đưa tôi vào kỷ niệm. Rồi tôi thiếp đi trong sự chờ đợi con tàu chuyển mình âm thầm lưu đày tôi ra biển Bắc. Một hồi còi vận chuyển đánh thức tôi dậỵ Sau vài giờ mê man vì mệt mỏi, nhìn qua các cửa tròn, phía ngoài trời đã rạng đông. Con tàu vào nhiệm sở vận chuyển, tiếng máy chánh hoà với tiếng sóng dội đập vào thành tàu nghe rì rào tạo thành bản nhạc của trùng dương. Tôi tưởng tượng mình đang theo con tàu trên dòng sông Sài Gòn và con tàu từ từ đi, oai nghiêm, hùng vỉ lướt qua cầu tàu trước Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Thuỷ thủ đoàn trong bộ quân phục tiểu lễ HQ dàn chào , trắng tinh màu sóng biển. Chúng tôi nghiêm chỉnh chào Quốc kỳ và cờ Tư Lệnh HQ , để giã biệt Sài Gòn vào đại dương mênh mông. Ngang qua bến Thủ Thiêm, tàu tiến ra biển dọc theo sông Lòng Tảo, vượt qua Nhà Bè, từ từ ra cửa Tiểụ Biển miên man xanh một màu trải rộng trong tầm mắt, ánh nắng đầu ngày ấm lòng kẻ ra khơi . Tôi đang mơ nhìn ngọn núi Vũng Tàu, chợt tỉnh mộng... cảm thấy buồn tênh. Giấc mơ cho tôi sống lại một khoảng thời gian, một khoảng đời ngang dọc biển Ðông. Tôi đâu có thể ngờ có những giờ phút đau thương nầỵ Vài con chuột to như bắp tay từ các hầm chứa gạo đuổi nhau kêu chí choé kéo tôi về với thực tại đen tối . Mọi người cũng im lặng, ngơ ngẩn nhìn nhau như thầm hỏi " ngày mai, ngày mai ...sẽ ra sao”?. Tàu hình như đã ra khỏi cửa Tiểu, con tàu trường mình lắc lư nhẹ nhàng như chiếc vỏng đong đưa . Chỉ có một chút vậy thôi mà phần lớn các bạn tù bắt đầu chảy mồ hôi trán, mặt trắng xanh . Những ngày ăn uống kham khổ, lao động chân tay nặng nhọc, thân hình ốm teo, làm sức chịu đựng không còn nữa . Vài người đã nôn mửạ Nôn mửa là bệnh hay lây, thấy một người nôn mửa trong lúc say sóng, ngửi cái vị chua, cái mùi nồng tanh, cọng thêm với mùi con tàu không thể nào không nôn mửa theo . Từ chiều hôm qua đến giờ chỉ có tô cháo, đâu còn gì trong bụng để oẹ ra nên miệng mọi người nôn ra toàn những nước vàng làm hôi hám cả hầm tàụ. H`ầm nhốt chúng tôi, ngày trước, là một kho sơn nằm ngay trước mũi tàu . Khi tàu chạy, mũi tàu là nơi bị lắc nhiều nhất. Tội cho những ai dễ bị say sóng, nằm ở hầm nầy thì xem như là đi vào địa ngục. Con tàu mỗi lúc một xa bờ .Không ai còn sức nghĩ bây giờ tàu chở mình đi đâu . Tất cả nằm im bất động, co ro như những xác không hồn. Mỗi lần biển động, sóng càng lớn tôi càng thấy đói . Tôi khó chịu không phải vì sóng mà vì đói . Ước gì bây giờ có một chút gì ăn cho cái bao tử bớt cồn càọ Những tiếng rên của những bạn tù giống tiếng rên của những người bệnh nặng. Có nhiều người không dậy nỗi để đi làm vệ sinh cá nhân. Hầm tàu có một mùi hôi hỗn hợp, khó chịu ,làm mình ngất ngư . Thức ăn hôm nay vẫn thùng cháo và cá khộ Tôi khuyên mọi người hãy cố gắng ăn, dù biết ăn vào sẽ bị nôn oẹ ra . Phải ăn để khỏi hại bao tử sau nay . Trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê như vậy, hơn chín ngày đêm vượt sóng với vận tốc ước chừng hơn 15 hải lý 1 giờ , con tàu có thể qua Phan Thiết để hướng vào Cam Ranh, Nha Trang . Rồi sau mấy mươi ngày lênh đênh, con tàu bắt đầu bớt lắc lư, mọi người cảm thấy dễ chịu, có thể ăn được một chút cháo . Sóng đã nhỏ dần, tôi đoán chừng con tàu ghé một bến nào đó. Bầu trời thu hẹp qua cửa thông hơi, nhỏ quá, tôi không thể định được vị trí. Ước chừng, ước chừng vậy thôi, chúng tôi ở trong vùng biển Ðà Nẳng. Tàu cập bến, đám tù hồi sinh. Thức ăn hôm nay được cơm trắng, cũng chỉ một tô thôi . Thịnh soạn hơn, có thêm một miếng thịt heo mỡ nhỏ xíu bằng ngón tay và vài muổng nước béọ Bây giờ đã hết say sóng, thân hình được cân bằng, không đong đưa, ăn uống ngon lành, từ một góc nào đó, giọng hát yếu ớt của anh chàng ca sĩ bất đắc dĩ lại vang lên đem đến nụ cười tuy héo hon hơn nhưng cũng đủ ấm lòng người trong cơn khốn khổ .
“Ra khơi, biết mặt Trùng Dương, biết trời mênh mông, biết trời viễn vông, biết ta Hãi Hùng. Ra khơi, thấy tình thế giới, thấy mộng ngày mai, thấy niềm tin mới ...". Ra khơi, ra khơi trong cái hầm tối tăm đầy mùi ô uế nầy, nào có thấy gì Trùng Dương bao la đâu . Biết là sóng miên man vỗ, biển miên man xanh nhưng đời vẫn cứ khổ, vẫn chưa qua được một giấc mộng Hải Hùng ”. Tình thế giới, mộng ngày mai, niềm tin mới ...Bây giờ tôi chỉ mong sống cho qua một kiếp ngườị Còn nặng nợ với vợ con, với gia đình, tôi cầu mong một đấng linh thiêng nào đó cho tôi giữ vững được niềm tin để tôi làm tròn bổn phận ,một niềm tin nhỏ nhoi trong cái tình người của NHÂN LOẠI
Ðang vô cùng khó chịu với mùi hôi chua ,sung sướng thay, chúng tôi được một ân huệ trước khi tiếp tục chuyến viễn du . Tất cả mọi người được giặt giũ, tắm rửa trong một căn phòng bịt bùng vừa đủ 10 người đứng. Một vòi nước chảy liên tục, chúng tôi tắm tập thể, giặt giũ áo quần và làm vệ sinh cái hầm giam. Tôi cảm thấy thoải mái dễ chịu một phần nào, tuy hoàn toàn không biết gì bên ngoài, không biết mình đang ở bến cảng nào . Thôi mặc kệ, tôi nghĩ ,cứ tận hưởng giờ phút Thiên Ðường nầy để lấy lại tinh thần mà tiếp tục sống, tiếp tục trả nơ . MÁU cho Nhân Dân Xã Hội Chủ Nghĩa Anh hùng .
Ngày N+ 20, sau ngày rời bến cảng Sài Gòn, chúng tôi được cán bộ cho biết đang nghỉ tại Ðà Năng, đúng như dự đoán. Có lẽ bây giờ đang cập tại cầu Toà Thị Chính Ðà Nẵng cũ . Chúng tôi chia thành 4 tổ, mỗi tổ 10 người để học tập chính trị. Hầm tàu được chia làm 4 góc cho 4 tổ sinh hoạt. Anh Dân biểu và anh chàng hay hát nhạc vàng ở cùng trong tổ với tôị Anh hát nhạc vàng tên là Phạm văn Chính, Sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, ra trường năm 1965, làm việc trong ngành tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Hai chúng tôi cùng tuổi, là hai tên trẻ nhất trong đám tù. Thế là chúng tôi thành đôi bạn. Mỗi đêm anh thường hát nho nhỏ cho tôi nghe, giọng anh ấm trầm ru nhẹ hồn tôi vào những giấc mơ đẹp. Mỗi bài hát đưa tôi vào một khoảng không gian va thời gian của từng kỷ niệm để cứ tưởng mình đang sống vào ngày tháng đó.
Tôi đang ở Ðà Năng nhưng không được nhìn thành phố thân thương của tôi, nơi tôi lớn lên trong sự thương yêu đùm bọc của mẹ cha, vui buồn theo từng mùa phượng vỷ nở hoa, tiếng ve sầu rên rỉ , mùa thi cử, mùa chia tay tạm biệt , mùa của những trang lưu bút ngày xanh. Trang lưu bút ngày xanh... con gái cũng như con trai lúc nào củng mở đầu bằng dòng chữ thật đẹp và thật dễ thương trên trang giấy học trò: Hè đã đến, phượng đỏ nỡ đầy sân trường, tiếng ve sầu báo hiệu một mùa chia tay, biết nói gì đây, xin gởi về bạn niềm lưu luyến: TUỔI HỌC TRÒ:
“Hôm nay đây mình vui trông thấy nhaụ Bên tiếng ca tiếng đàn vượt trời cao”. Anh Chính hát bài Tạm Biệt của Lam Phương cho tôi sống lại một thời của trường lớp, của bảng đen, của thầy cô, những ngày đi cắm trại ở bãi biển Mỹ Khê với cô Diệm, những đêm văn nghệ cuối năm do trường tổ chức . Nhớ hồi đó, Ngô nguyên Phúc, bạn cùng lớp Ðệ Nhị ban B với tôi, hát bản Ðường Lên Núi Rừng làm rung động trái tim cô học trò nhỏ lớp Ðệ Tứ. Sau nầy có dịp gặp lại anh chị, tôi cười đùa: “Ðường Lên Núi Rừng sao hãi hùng, ôi gió lộng, muôn tiếng động , trong tiếng nhạc làm vấn vương cô Nường “. Anh hát cho chị nghe Ðường Lên Núi Rừng rồi từ đó đi trên con đường nầy để vào tình yêu lứa đôi . Nhớ những ngày kỷ niệm Quốc Khánh, suy tôn Tổng Thống Ngô đình Diệm, xe hoa rước đèn đi khắp thành phố. Năm nào xe hoa của trường Trung Học Công Lập Phan Châu Trinh cũng được chấm ưu hạng. Nhớ thầy Trần đình Hoàn, anh ruột bạn cùng lớp với tôi , Trần đình Dinh, hai tay đánh nhịp cho học trò hát mà như múa võ Sơn Ðông: “Ðường ta đi vui thênh thang hoa lá reo cười, một niềm tin ta dâng lên 26 tháng 10, ngày toàn dân chào đón hiến pháp, hưởng tự do trong nền Cọng Hoà, ngày toàn dân được no ấm Tự Do . Ta là người dân Việt, đây giòng người anh dũng , ta nhớ ngày hôm nay, no ấm là từ đay ”^.. . Tôi bỏ ra ngoài vấn đề chính trị, không phê phán, để hồn đi vào những năm tháng dân miền Nam sống trong thanh bình, hạnh phúc, ấm no . Một trời thương nhớ đầy kỷ niệm trở về trong tôi, như là cái phao cho người sắp chết đuối, đã giúp cho tôi nghị lực tranh đấu với cuộc đời hẩm hiu trong một kiếp lưu đàỵ
Thời gian được nghỉ bến, chúng tôi cũng phải học chính trị. Những bài học cũ rích từ trại giam Biên Hoà. Các cán bộ quản giáo nhè nhè nói dốc mỗi buổi sang:”' Lao động là vinh quang, Ðế quốc Mỹ là kẻ thù số 1. Chế độ Xã Hội Chủ nghĩa ưu việt là đỉnh cao của trí tuệ loài người “. Nghe riết đến chán ngấy và buồn cườị Lại còn mỗi đêm phải họp tổ để kiểm điểm và làm tự khaị Tờ tự khai không biết làm mấy chục lần. Chúng cố chờ mình khai không đúng với tờ tự khai trước một chút để cho là mình nói dối, rồi tiếp tục điều tra, hỏi cung và phân loại đối xử .
Ngày N+ 25, con tàu rời bến, xa dần Ðà Nẳng thân yêụ Tàu ra cửa biển Sơn Trà nơi Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải đồn trú. Ngày đầu nhập ngũ vào đây, lòng tôi ham mê trời biển bao la, giang hồ khắp mọi nơi, mọi miền, phiêu lưu như con dế mèn thuở nhỏ của Tô Hoài, với biết bao mộng ước sáng ngời của tuổi 20... Con tàu lầm lủi đị.. Tàu ra cửa biển Thuận An, tàu lướt qua cửa Việt, tàu vượt vĩ tuyến 17, tàu ra biển Bắc mang theo những thân xác rã rời, những mãnh hồn tan nát. Chiến tranh và hoà bình trong một nước Cọng Sản như Việt Nam nước tôi là triền miên trong đau khổ . Cầu mong đây chỉ là một thời suy mạt của vận mệnh đất nước giống như những thời suy mạt trải dài trong lịch sử Việt Nam. Tổ tiên ta đã bao lần đập tan những chế độ độc tài khát máu để đưa đất nước đến phú cường thịnh vượng. Hồn thiêng sông núi, những bậc tiền nhân anh hùng đã gầy dựng từng tấc đất cho Việt Nam mến yêu sẽ hun đúc cho những thế hệ mai sau xây dựng lại cơ đồ. Lịch sử sẽ không tha tội cho đám con cháu Cọng Sản phản bội Tổ Quốc. Trong tôi vẫn luôn luôn có một niềm tin vào tương lai với một nước Việt Nam Ðộc Lập, Tự Do và Thịnh Vượng.
Qua cửa sổ tròn, tôi thấy bầu trời đã tím ngắt, sóng càng lúc càng nhiều, con tàu lắc lư, âm thầm đưa : TÔI RA BIỂN BẮC
PARIS - Avril - 2004
Anh,
Ðêm nay, lại một đêm nữa – điều mà em rất sợ - gần như là kinh sợ thì đúng hơn, đêm không ngủ được. Có thể là em trở bệnh, mấy ngày nay em nghe trong người không được khỏe, vì tinh thần không được thoải mái, không được vui cho nên cơn bệnh lại kéo về, và cũng một điều dễ hiểu là em nhớ anh. Thư nầy em viết cho em cho chính tâm tư em đang xao động. Một mình nơi căn gác nhỏ, đã gần 3giờ sáng rồi, khí trời quá nóng, mặc dù là không có nắng mặt trời . Em đơn độc quá ! Chung quanh em có bao người muốn kết thân. Suốt tuần lễ, em bận rộn cả tuần lễ, lịch lúc nào cũng kín, hết họp cho những buổi văn hóa nghệ thuật, lại cơm khách, lại họp, lại dự tiệc cưới, tiệc mừng sinh nhật, đến đầy tháng, rồi thôi nôi, rồi kỷ niệm ngày cưới … tất cả vì mọi ngườị Có khi một ngày phải khổ sở dự hai, ba đám tiệc và phải chia giờ để chạy … show … để những người trân quí mình không phiền trách. Tất cả vì mọi ngườị Nhưng cho em thì không ! Bạn bè thân sơ quá đông, nhưng tri kỷ thì lại không ! Nhưng từ bạn theo em nghĩ đâu có đơn thuần dễ tìm đâu, phải là đồng cảm mọi việc có thể đồng cảm được thì đó mới là bạn đúng từ bạn. Suy nghĩ nầy của em có đúng không anh, và có quá khắc khe lắm không anh? Chung quanh em, giờ nầy tất cả đều êm vắng, mọi người mọi thứ đều đã ngủ kể cả vạn vật cỏ câỵ Mà sao em vẫn ngồi đây, vẫn ngồi bên chiếc laptop, tay thoan thoắt vô thức từng con chữ, có khi không nhận ra mình viết có đúng từ , có sai lỗi chính tả không, những lúc như thế nầy, em giống người cõi trên, không nhận biết mình đang nghĩ gì và làm gì đúng hay sai .
Như vậy, em đang ở trạng thái gì vậy anh?
Em có bị khùng không vậy anh ?
Em tự hỏi rồi em tự trả lời . Em đã mất phương hướng tình cảm. Có ai cùng trong khoảnh khắc tình cảm nhất định như em bây giờ có thể sẽ hiểu dùm em hơn.
Còn riêng anh, giờ nầy anh đang làm gì? Cũng làm việc, cũng ăn, cũng nghỉ, cũng ngủ, và biết đâu chừng anh đang vui chơi một nơi nào đó. Cũng vì quá vui cho nên anh đã quên em, dù quên trong giây phút nào đó – cũng là quên. Ngược lại, em không giây phút nào quên anh, cho dù em đang làm bất cứ điều gì, đang vui, buồn gì cũng nhớ đến anh. Em khờ quá phải không anh? Ðâu có ai kiểm soát hay đóng khung bắt em phải nhớ phải thương anh bất kỳ giờ nào, vậy mà sao em không thể không nhớ đến anh. Dù trong giấc ngủ, em cũng mơ thấy anh, anh luôn khuyên em phải cố lên, phải khỏe mạnh, phải vượt qua mọi thứ để sống, phải nhiều nghị lực để sống cho dù ngày mai có chết, thì hôm nay vẫn can đảm chấp nhận mọi thứ đến với mình. Nhưng em, em yếu đuối, không lạc quan như anh, chỉ một giây phút ngắn ngủi vui cười thì liền đó vạn nỗi sầu kéo theo về . Tạo hóa ban cho em nhan sắc làm gì, cho em mọi thứ vật chất bề ngoài hơn người, nhưng cũng bắt em chịu quá nhiều đau khổ. Cái đau khổ riêng em không thốt thành lời, không khóc thành tiếng. Sao em không thể sống mà bất chấp mọi thứ, không thể sống buông thả, em chỉ là một phụ nữ sống trong khuôn phép lễ giáo gia đình. Rồi mai nầy, em âm thầm lìa xa những mong muốn, những đam mê, những thèm khát mà thời gian qua, thời gian đã nhẩn tâm và tàn bạo đánh cấp tuổi trẻ của em. Em kêu gào, em giận dữ, em níu kéo, nhưng thời gian ... thời gian sao mà vô tình và độc ác quá vẫn vô tâm mà nhạo báng tuổi trẻ qua đi của em. Thời gian đã bỏ em mà đi qua ... đi qua mãi ... em đã qua cái tuổi xuân thì mà nỗi cô đơn trống vắng trong tâm hồn em vẫn cứ đeo đẳng mãi theo em với một nỗi niềm riêng em mang.
Em nghe tim mình buốt đau, cái đau thể xác lẫn tâm hồn !
Thôi thì mỗi con người, mỗi định số đã trót lỡ vương mang làm sao thay đổi được. Em đêm nay, ngồi buồn viết những dòng tâm sự của riêng em, chắc gì anh có đọc đến, hay anh có biết rồi cũng chỉ một câu an ủi không làm sao xóa hết nỗi đau dùm em.
Ngày xưa, Ba em đã ngăn cấm không cho em vướng vào nghiệp văn chương :
- Con gái mà viết văn, làm thơ, đời sẽ khổ.
Em chỉ còn biết thốt thành lời :
- Ba ơi, đã mấy mươi năm qua, đời con đã khổ quá nhiều rồi, Ba ơi !!!
04/4/2004
Tùy bút :
Vào cuối thu khí hậu có phần mát mẻ dễ chịu, Hương bước ra phía ngoài hành lang hóng gió, nàng thấy trong lòng phơi phới thay cho một ngày nhọc mệt hôm qua…Hương thầm ao ước : Phải chi cha mẹ nàng ấm êm hạnh phúc thì đâu có cảnh nàng sống riêng với cha còn mẹ phải sống riêng với đứa cháu của nàng !
Hương thương yêu cha mẹ đừng đành bó tay không giải quyết được gì vì cha mẹ nàng đã sống ly thân khi nàng mới lên 10 tuổi . Mẹ nàng, một người đàn bà phúc hậu nhu mì luôn luôn chịu khó chịu cực vất vả buôn bán nuôi đàn con dại . Nàng có hai chị gái, một anh trai, một em trai, cha nàng trước đây là Phó giám đốc Hải Quân Công Xưởng tại tỉnh Gia định, thành phố Sài Gòn. Ðã một thời ông du học nước ngoài nên ông nói được 5 thứ tiếng: Anh, Pháp, Ðức, Nhựt, Trung Hoa rất lưu loát. Bây giờ ông đã trên 70, thỉnh thoảng ngồi nhắc lại dĩ vãng ông ngậm ngùi nuối tiếc và buông chuỗi thở dài áo não …
Năm 1962, một năm kỷ niệm đau buồn cho gia đình Hương. Cha mẹ ly thân, người chị thứ hai của Hương qua đời sau cơn bệnh hơi lạ thường. Chị thứ hai của Hương năm ấy vừa tròn 18 tuổi, sau hai hôm chị bệnh trên gò bàn chân nổi lên một cái mụt nhỏ bằng đầu đũa, mẹ nàng không đem chị vào bệnh viện chữa trị lại nghe hàng xóm mách bảo đem chị đến một thầy lang để thổi bùạ Ba ngày sau bệnh không thuyên giảm và chị đã trút hơi thở cuối cùng vào giữa trưa ngày 6/2/1962. Lúc ấy cha nàng đang làm việc ở Sài Gòn, anh trai nàng thì đang đi thi Trung học Ðệ nhất cấp tại Bình Long…Gia cảnh đơn chiếc chỉ còn chị cả, mẹ và Hương cùng cậu em út vừa lên 7 tuổi . Chiều hôm đó được tin chị mất cha tức tốc về nhà, còn anh trai nàng ngày hôm sau cũng về đến.
Ngày lễ an táng chị tại nghĩa địa Việt Hoa, không hiểu vì sao ông thầy tụng kinh tự tay ném cả gói đồ nào là tượng phật, chuông mõ, hương đèn xuống mộ chị…đến khi đất đã lấp cao ông sực nhớ vội xăn tay áo toan dùng cuốc đào mộ lên để lấy lại những vật quý đó. Cha Hương vội ngăn cản :
- Con tôi đã chết rồi ! xin ông hãy để nó được nằm yên
Ông thầy tức tối lồng lộn nhưng cũng phải khuất phục vì tất cả mọi người không ai cho ông làm việc thất đức đó !
Hàng đêm hồn chị hiện về khóc lóc thảm thương trước hàng cây trứng cá trước hiên nhà, hàng xóm đã nhìn thấy nhiều lần và chính Hương cũng đã thấy, mẹ đi xem thầy họ bảo :
- Số nữ này không phải người của dương gian, cô ấy là tiên bị đọa, cô ấy trong sạch đến phút về trời xin đừng đau khổ mà hãy cầu nguyện thật nhiều cho cô ấy được nhẹ nhàng về cõi Phật…
Hương ngồi thật lâu trên bục cửa, nàng cố động não để nhớ về những hình ảnh xa xưa mà thời gian khó thể xóa mờ trong ký ức…Gió chiều hiu hiu thổi, những làn hơi buốt lạnh bắt đầu thấm vào da thịt, Hương mơ màng gởi hồn về cõi xa xăm ngày cũ …
Ngày ấy, chị thứ hai của Hương vừa tròn 15 tuổi, trong lớp học mà cha nàng vừa là giáo sư vừa là Hiệu trưởng có một chị tên Thiên Hương vừa bị bệnh qua đời . Các bạn báo tin, vì có nghịch ý nên chị hai cuả nàng trả lời hờ hững “ vậy hả, kệ họ”. Cha nghe được câu này dùng đòn gánh đánh chị đến ngất xỉu, bao nhiêu người can ngăn cha vẫn không hả giận còn quất luôn cả vào họ…Sau trận đòn thập tử nhất sinh chị ngã bệnh đến hai tháng sau mới khỏe . Chị là trụ cột của gia đình, hàng ngày chị phải vào vườn chặt củi, hái trái cây mang ra chợ bán, chị phải gánh một ngày cả mấy chục đôi nước cho gia đình nấu nướng tắm giặt mà gót chân chị vẫn đỏ như son, mẹ thường đùa với chị :
- Xuân Hương à ! Con làm việc vất vả quá mà sao gót chân cứ đỏ như son, mẹ tưởng tượng con là tiên chứ không phải người phàm Xuân Hương ạ !
Chị bật cười khanh khách :
- Mẹ nói lạ, con là con của mẹ mà ! Nếu con là tiên con phải về trời phải không mẹ ? nhưng mà con không thích về trời đâu vì con thương mẹ và em Giáng Hương lắm. Nói rồi nước mắt chị ứa ra, Giáng Hương cũng òa lên khóc, mẹ thì sụt sùi lấy khăn tay lau nước mắt !
Bây giờ chị đã nằm yên dưới lòng đất lạnh, mười tám tuổi xuân không có một mối tình, không có người yêu . Chị không đẹp lắm nhưng trắng trẻo tươi mát, hồn nhiên như ánh trăng rằm, rạng rỡ như nắng hồng giữa buổi bình minh. Chị không vướng nợ trần ai, không vướng mắc tình yêu để nhẹ nhàng về cõi phật…Hồn chị giờ này phiêu dạt nơi đâu ? Chị có thấu hiểu cho em, Giáng Hương thương nhớ chị vô cùng ! Nàng gục đầu vào đôi bàn tay nức nở, màn đêm đã phủ kín không gian tự bao giờ !
Sáu năm sau ngày Xuân Hương mất, Giáng Hương đi lấy chồng, người nàng lấy không phải là người nàng yêu …Năm 16 tuổi nàng quen một người sĩ quan không quân nhân dịp nàng đi thăm các tiền đồn và ủy lạo chiến sĩ cùng phái đoàn. Nơi đây nàng đã gặp Hiển, một thanh niên người Bắc trang nghiêm thanh tú – Trên chuyến bay định mệnh chàng phi công đã xúc động khi đỡ nàng lên phi cơ, Giáng Hương tha thướt trong chiếc áo dài Cristal màu đỏ bó sát thân, Giáng Hương đã bắt gặp ánh mắt say đắm của Hiển trao gởi nàng làm Hương choáng ngợp. Giáng Hương còn nhớ rõ, lúc ấy Hiển chuyền tay lái lại cho phi công ngồi bên, chàng bước đến chỗ Hương trò chuyện, phi cơ ồn quá Hương không nghe được gì, Hiển rút trong túi ra một mảnh giấy trắng, dùng bút để viết chuyện trò với Giáng Hương – Hương và Hiển trao đổi qua những dòng chữ chứa chan tình cảm, hồi đó tự dưng Hương viết trong giấy tên mình là Trang Thiên Tâm, cái tên mà Hương thích từ lâu, nghỉ rằng sau này có cơ hội làm gì đó sẽ dùng tên này là bút hiệu – Phi cơ từ từ hạ cánh, đã về đến phi trường Vũng Tàu, Hương bâng khuâng giây phút rồi nhẹ nhàng bước ra khỏi phi cơ, Hiển vội vã bước theo nàng, cầm tay Hương hôn nhẹ, chàng xin Hương địa chỉ, Hương vui vẻ chập nhận cho chàng địa chỉ, trong lòng Hương đang dâng lên một cảm tình rào rạt, Hiển khôi ngô tuấn tú, điềm đạm và thừa lịch sự với phái nữ …
Từ sau ngày đó, Hiển thường xuyên thư từ và đến nhà thăm Hương, chàng mang những món quà từ Ðà Lạt về tặng nàng – Trong niềm trân quý chân thành Hiển và Hương đã yêu nhau tha thiết, chàng mời Hương đến gia đình thăm mẹ và chị gái của chàng.
Rồi đông qua, xuân sang, hạ đến, chàng biền biệt tăm hơi, người con gái ngây thơ đã thấm thía nỗi đau của tuổi đầu đời ! Nàng quên ăn bỏ ngủ, đêm chong đèn thao thức suốt năm canh…Hiển ơi, sao anh nỡ phụ em, anh nỡ bỏ em, em nào có tội tình chi để cho anh phụ bạc ? Ðã nhiều đêm Hương khóc thầm, khổ đau đã khiến nàng trở nên lầm lì ít nói, còn đâu vẻ hồn nhiên nhí nhảnh ngày nào…Nàng bắt đầu mượn thơ làm bạn, mượn trăng làm đèn hầu vơi bớt nỗi ưu phiền đang trĩu nặng lòng riêng …
Tưởng đã yên với những bất hạnh đầu đời, nhưng rồi định số an bài, nàng quen Quang, một sĩ quan của trường tình báo . Quang hết lòng yêu mến Giáng Hương và xin cho bằng được để cưới nàng – Hương từ chối vì chưa quên được Hiển, một chiều Hương nhận được một lá thư Quang gởi về nội dung “ Ðời binh nghiệp anh không biết được ngày mai còn mất, xin Hương bằng lòng cho anh làm lễ hỏi rồi chừng nào em cho phép dù là mấy năm sau mới tổ chức đám cưới anh cũng bằng lòng – nếu em từ chối lần này nữa thì coi như cuộc đời anh đã đi xuống vực sâu, anh sẽ chờ Hương đến thăm anh, nếu em thương anh thật tình và đồng ý lời cầu xin của anh, trên tay em sẽ cầm một trái chanh màu xanh, bằng ngược lại trên tay em sẽ cầm một chiếc khăn màu đỏ, như thế anh sẽ hiểu được ý em và Hương ơi anh sẽ chết”… Hương đọc thư nước mắt rưng rưng, nàng cầm lòng không đặng rủ Xuân Mai cùng xóm đi tiền đồn thăm Quang, đến nơi nàng không cầm gì cả nhưng Xuân Mai đã đọc thư của Hương nên khôn khéo cầm theo trái chanh màu xanh, đến cổng quận Xuân Mai tung trái chanh lên trời, Quang đã thấy và mừng rỡ ra tận cửa quận đón hai người vào – Mặt Quang còn đỏ bừng vì men rượu đêm qua, chàng tưởng Hương tuyệt tình nên vùi đầu vào men rượu để tìm quên…
Một tiệc cưới linh đình vào giữa mùa thu 25/8 Âm lịch, ngày lên xe hoa cũng là ngày xót xa nhất, Giáng Hương đã khóc thật nhiều cho mối tình đã mất, tất cả chỉ còn dư âm chua chát mà thôi ! Hiển ơi, giờ này anh ở đâu ? chắc anh đang hạnh phúc ấm êm với người trong mộng ước…riêng em, ngày hạnh phúc cũng là ngày tan nát cõi lòng em ! Quang vô tình chẳng hiểu nỗi đau sâu kín của Hương, chàng liên tục nhảy đầm với các cô dâu phụ, điều đó đã làm Hương bất mãn và tự nhủ thầm “ mặc kệ, ra sao thì ra”…
Quang là sĩ quan trẻ, năm ấy vừa tròn 25 tuổi, Giáng Hương 17 tuổị Sống với nhau một thời gian Hương mới rõ Quang ăn chơi bay bướm không thiếu món gì, tính tình thì nóng nảy hung hăng và ngạo mạn đã vài lần làm phiền lòng cha mẹ Hương. Nàng khổ tâm quá, nàng đã tự rước tai họa cho mình vì với bản chất Quang nàng sẽ là người bất hạnh !
Chuông reo ngoài cổng, người đưa thư mang đến cho nàng một lá thư…Nhìn nét chữ quen thuộc ngoài phong bì Hương giật bắn cả người…Thư của Hiển… Nàng vội vàng xé bao thư và hấp tấp đọc như sợ ai giành mất của mình – Bỗng Hương khóc nức nở chạy nhanh vào phòng đóng sập cửa lại …Quang đi công tác xa, Hương về chơi với cha mẹ nên mới may mắn nhận được lá thư này – Muộn màng rồi Hiển ơi, em nào có biết nỗi cay đắng cuộc đời anh hơn một năm qua, em tưởng anh đã phụ em rồi ! Nào ngờ phi cơ trúng đạn và anh sa vào tay giặc, bây giờ anh vượt ngục về với em thì hỡi ơi còn gì nữa đâu ngoài tấm hình hài phản bội trên xác thân mục nát tủi hờn…Nàng nghĩ đến cái chết ! Ðúng, chỉ có cái chết mới nguôi được niềm đau và chuộc tội cùng chàng. Xin hãy tha thứ cho em !
Tiếng gõ cửa nhè nhẹ, Hương uống vội 10 viên thuốc ngủ xong ra mở cửa cho mẹ vì nàng biết giờ này mẹ chờ nàng ra ăn cơm tối – mẹ nhìn Hương lo ngại, sắc mặt bơ phờ thiễu não của nàng làm mẹ lo lắng…Mẹ hỏi Hương không trả lời mà chỉ khóc, những giọt lệ thương đau kia cũng chẳng vơi được nỗi chất chứa trong lòng Hương – Mẹ ơi, chỉ khoảnh khắc nữa thôi con chẳng còn nhìn được mẹ thân yêu, chẳng nói được một lời nào nữa ! Nàng khóc ngất, mẹ sinh nghi la hoảng lên gọi xe đưa nàng vào bệnh viện…Thế là nàng lại sống, một cuộc sống ngục tù, một cuộc sống mong manh hơn loài cỏ dại mang trên mình bản án phụ tình…
Lá thư thứ hai Hiển gởi về sau khi Hương trả lời dối chàng là cha mẹ sắp đặt chuyện hôn nhân nên xin chàng tha tội và xin hẹn kiếp lai sinh trùng phùng…Lời thư đầy khổ đau báo hung tin người anh tử trận tại Long Thành, “ trong một lúc mà trái tim hai lần tan vỡ, anh chết, người yêu phụ bạc, tôi có còn gì đâu là niềm tin để sống, đã mất em vĩnh viễn rồi ! Tâm ơi, đây là lời nói cuối cùng và cũng là lá thư cuối cùng ! vĩnh biệt em…”
Một đêm kia trời nổi cơn bão lớn, sấm chớp rền vang cả một góc trời, Hương thu mình co ro trong chiếc chăn run rẩy…cũng mưa gió như mọi lần sao hôm nay nàng thấy khác lạ, lo sợ hồi hộp vô cùng ! Ðã lỡ kiếp tằm trong bến đục, chỉ còn mong tái tạo cõi lai sinh, nàng nửa mê nửa tỉnh thiếp dần trong giấc ngủ cô đơn…
Hiển mở cửa bước vào, chiếc áo trận dính đầy máu đỏ, chàng lặng lẽ nhìn Hương trong giấc ngủ chập chờn, đưa tay vuốt nhẹ tóc nàng, đặt lên mái tóc một nụ hôn buồn rồi âm thầm bước ra cửa…Chàng đã đi, đi thật xa…Hương choàng tỉnh, nàng hoảng hốt tông cửa chạy ra sân. Bầu trời tối đen như mực, sấm chớp vẫn lập lòe, cả không gian đang chìm ngập trong biển đêm ghê rợn ! Hương rùng mình sợ hãi chạy vội vào nhà, rõ ràng nàng vừa gặp Hiển trong mơ – chàng đã gặp việc chẳng lành, máu thấm đỏ chiến y, chàng không nói một lời nào, đôi mắt buồn vời vợi…
Sáng hôm sau Hương tức tốc về Ðà Lạt tìm tin tức Hiển, gia đình cho biết chàng đã rớt máy bay trong một phi vụ và không tìm thấy xác ! Hương đau đớn tột cùng, nàng tưởng tượng vừa gây ra tội ác…Hiển chết là hết tất cả rồi ! nàng không còn cơ hội chuộc lại tội phụ tình, muôn thuở không còn gặp mặt người yêu !
Chị của Hiển trao cho Hương một phong bì dán kín – Nàng mở ra xem, dòng mực còn mới nguyên, nét chữ thân thương còn đây mà anh giờ đã ra người thiên cổ ! Hương còn biết than thở cùng ai cho vơi bớt cơn bão lòng đang dâng lên ngùn ngụt ! “ Em chối bỏ tình tôi vì chữ hiếu, hay vì tôi không xứng đáng để em yêu, hay vì tôi là kẻ đến buổi chiều, chậm chân bước người kia về buổi sáng, bao nhiêu mộng tan vào mây khói trắng, bao nhiêu mơ chấp cánh vút xa rồi, tình yêu đó còn gì nữa em ơi, Vũng Tàu, Ðà Lạt ngàn đời chia ly…” Hương gục xuống ôm ngực, hậu quả ngày nay là do nàng gây ra, nàng không thể phủ nhận điều đó ? Ðã vay thì phải trả, nàng biết suốt cuộc đời còn lại nàng sẽ chẳng bao giờ tìm được tình yêu !…
Sau ngày được tin Hiển mất, Hương như người vừa rớt xuống vực sâu, thoi thóp từng giờ, lúc nào cũng hình dung Hiển đang bên cạnh trách hờn bằng đôi mắt lặng buồn ! Hương không chịu nỗi với những đêm dài vô tận, nàng không sao ngủ được…Hình ảnh người yêu cứ chập chờn đâu đó, nàng vùng dậy trong đêm khuya mượn bút mực trải niềm u uất, nàng làm thơ cho Hiển, cho người tình muôn thuở của nàng – Những bài thơ từ tận cùng trái tim nàng gởi qua vài tờ báo – Tờ Phụ Nữ Diễn Ðàn và tờ Phụ Nữ Ngày Mai do bà Bút Trà là chủ nhiệm, đã đăng những bài thơ thương tâm đó, lúc đầu nàng dùng bút hiệu Trang Thiên Tâm, nhưng nàng đau đớn khóc hoài nên nàng đổi lại là Uyên Thi…
Ba tháng sau đó Quang buộc nàng phải theo chàng ra sống nơi đơn vị mới, một tỉnh lỵ nhỏ nhoi xa lạ và buồn tẻ – Trong cuộc đời mới nàng đã gặp lắm bão giông, đã đo lường được trái tim Quang và bản chất của chàng…Hương biết chắc sớm muộn gì nàng cũng phải chia tay !
Năm 1971, người chị cả của Hương qua đời, được tin như sét đánh Hương bàng hoàng khăn gói về quê để kịp đưa tiễn chị lần cuối cùng ! Chị hạ sanh bé gái được hai hôm, hoàn cảnh đơn chiếc, anh rể tối ngày lân la rượu chè lại thêm tật bồ bịch lăng nhăng – anh ta đi suốt đêm đến sáng mới về, chị nghe mấy con heo trong chuồng đói la suốt đêm nên cằn nhằn anh rể, anh ta lớn tiếng gây sự và thách thức, chị tức lên máu sản hậu chận và chị đã tắt thở sau 5 ngày nằm bệnh viện…bỏ lại 4 con thơ, đứa nhỏ nhất vừa tròn một tuần tuổi !
Anh rể họ Trần … nhẫn tâm mang tình nhân về ngủ trong phòng khi xác chị vừa nằm yên trong lòng đất được 3 hôm. Hồn linh vất vưởng chị hiện về báo oán, chị bẻ tay mụ tình nhân và nói rằng : “ Vì mầy mà con tao khổ, vì mầy mà tao xác phải lìa thân” mụ ta hoảng vía kinh hồn xúi ông anh rể bán nhà dọn hết đồ đạc đi nơi khác…
Ngày giỗ thất tuần của chị, anh rể bưng một mâm trầu cau xin cha mẹ vợ cho anh được tái hôn vì lý do con dại, hoàn cảnh gà trống nuôi con, nhưng thật sự mẹ ruột anh đã lãnh nuôi đứa bé mới sinh, còn 3 đứa lớn sống với bà ngoại – Người anh rể tán tận lương tâm, hậu quả phải lãnh…thời gian sau mụ vợ kế mỗi lần gây lộn là phang anh bằng ghế, bằng cây đến sứt đầu đổ máu, anh ta càng ngày càng tàn tạ, mỗi lần tình cờ gặp, Hương thấy tội nghiệp nhưng nhớ lại chị mình chết oan uổng dưới bàn tay ác độc của anh ta, tự dưng Hương nguyền rủa “đáng đời cho kẻ bất nhân”.
Thời gian lặng lẽ trôi đi, các con của Hương đã lớn, đứa nhỏ nhất vừa tròn một tuổi thì chiến tranh lan tràn trên khắp nẻo quê hương, đâu đâu cũng sặc màu khói súng và máu người, Hương bồng bế con lánh nạn…Nàng đã trải qua biết bao cái chết, biết bao tai nạn mà có lẽ đời thường không ai tưởng tượng nổi ! Về với mẹ cha như cái xác không hồn, vá víu cuộc đời, nương tựa song thân để còn đủ nghị lực nuôi đàn con dại…nàng khổ cực thế nào cũng không than thở, chỉ mong các con khôn lớn nên người – Rồi chiến trận 30/04/1975 bùng nổ, tất cả mọi người bị vào tù cải tạo, Quang cũng thế…
Hương yên lòng với số phận đã an bài, ngày ra chợ buôn bán, chiều về lo cho con – Cuộc sống cũng tạm đủ vì Hương rất lanh lẹ tháo vát hội nhập cuộc sống mớị Lúc đầu Hương chỉ buôn bán thuốc tây lẻ, quần áo, chút ít vải vóc, sau đó nàng mở một sập vải lớn, cuộc sống khá ổn định.
Năm 1982 anh trai nàng đi tù cải tạo về, thực chất là ở tù Cộng Sản, anh hoạt bát giao tế giỏi và chịu lao động nên chỉ 6 tháng sau ngày ra tù anh được trả quyền công dân và đóng ghe hành nghề đánh cá trên biển…Ba tháng sau anh chính thức đứng tên chủ tàu và cho hai con trai của Hương làm thuyền viên tuy rằng chúng còn rất nhỏ – Năm 1983 anh cho tàu vượt biển tìm tự do mang theo hai đứa con của Hương đến miền đất hứa hầu giúp cháu mình tìm tương lai sáng sủa hơn – Trên đoạn đường đại dương muôn dặm, tưởng bao phen đã làm mồi cho cá sấu, cá voi…may thay vẫn còn hồng ân cứu mạng đưa ba cậu cháu đến bến bờ tự do…
Từ đó cảnh nhà đơn chiếc hơn, mẹ ăn chay niệm Phật tu hành sớm tối để cầu nguyện cho bá gia, cha về hưu không làm việc nữa, Hương thu xếp cho cha sống với mẹ con nàng nơi một căn nhà mới, mẹ sống căn nhà cũ với đứa cháu lên 10 con gái của người chị đã mất.
Ngày tháng lặng lẽ trôi, cây Quỳnh Hương đã mấy mùa thay lá, Dạ Lý Hương đã mấy đợt héo tàn, Hương vẫn âm thầm kéo lê kiếp tằm kéo kén nửa vời chửa xong – Niềm vui duy nhất cho nàng đủ nghị lực chống chọi với đời là mẹ, mẹ hiền hòa, mẹ từ bi nhân đức là tấm gương sáng chói lọi trong đời nàng – Hương đã là phật tử, là tín đồ lâu nay cũng là nhờ tấm gương của mẹ soi đường dẫn dắt nàng đi…
Một sáng mùa đông, sương mù còn đẫm ướt ngàn cây cỏ, một hung tin đến với nàng ! Mẹ ngã té dưới nền hoa và hôn mê sáu hôm liền. Hương hết lòng chạy lo cho mẹ nhưng đành chịu thua định mệnh – Mẹ trút hơi thở cuối cùng vào ngày 14/11/1989 Âm lịch – Mẹ ra đi mang theo bao hờn tủi vì suốt đời hy sinh cơ cực chỉ mong một điều được chết sau cha dù một năm để được đền bù, để được thơ thới tâm hồn bởi mẹ khổ với cha quá nhiều trong quãng đời chung sống !
Ngày Mẹ vĩnh viễn ra đi là ngày Hương đau đớn nhất, nàng ngất lịm dưới nền hoa bên quan tài của mẹ, nàng nghe như ai xé tim mình tan thành mảnh vụn – bầu trời như không còn ánh sáng, vạn vật chẳng hồi sinh và nàng…như chẳng còn tồn tại giữa thế gian – nàng bất tỉnh, bên tai còn nghe văng vẳng tiếng kêu cứu “ chú Ðệ, dì cháu bất tỉnh, chú kêu dùm bác sĩ gấp chú ơi …”
Trưa chủ nhật 24/6/2007 một buổi sinh hoạt văn học diễn ra nhộn nhịp tại hội trường Vivo, trung tâm sinh hoạt văn hóa của thành phố San Jose thuộc miền Bắc Cali - Ðược biết cùng ngày có rất nhiều sinh hoạt , nhưng niềm lo lắng của BTC và tác giả đã nhẹ nhàng khi thân hữu đến lần lượt tham dự đầy cả hội trường.
Một chương trình rất phong phú, nhịp nhàng, linh động và trọn vẹn điều khiển bởi MC Nguyễn Phan Ngọc An cũng là người tổ chức buổi ra mắt sách. Từ nghi thức chào cờ mặc niệm, giới thiệu quan khách cũng như chương trình văn nghệ phụ diễn thật đều đặn và mạch lạc, ít khi thấy trong một buổi sinh họat văn học nào từ trước đến naỵ
Phần lớn những khách tham dự là văn thi hữu, một số đại diện hội đoàn, báo chí truyền thanh, các cựu quân nhân trong binh chủng và các thân hữu yêu mến Hà Huyền Chi . Họ đã bỏ các buổi sinh hoạt trùng giờ khác để đến với tác giả, trong đó có người đã bay từ Hawaii sang khi được BTC báo tin ngày ra mắt sách, đó là nhà văn Lâm Ðộc Hành.
Mở đầu phần chính của chương trình, nhà thơ kiêm Giáo Sư, Giám đốc trung tâm Vivo Ngô Ðức Diễm chào mừng quan khách tham dự, ông đã nói lên tình cảm ưu ái của riêng ông dành cho tác giả cũng như trân quý những thân tình bằng hữu đã bỏ những niềm vui cuối tuần của tập thể của gia đình đến với tác giả và BTC.
Nhà thơ Dương Diên Nghị trong phần giới thiệu tác phẩm – Ông đã nêu lên những đặc tính tiềm tàng chất chứa trong 2 tác phẩm The Best of Hà Huyền Chi đã bộc lộ tâm hồn cao đẹp của tác giả, một chiến sĩ nhảy dù yêu nước, yêu văn thơ đã thành danh từ mấy thập niên qua, buổi ra mắt sau cùng trước khi ngưng nghỉ cầm bút đã làm xúc động quan khách tham dự.
Nhà văn Diệu Tần Nguyễn Tinh Vệ trong phần giới thiệu tác giả - Ông đã cho quan khách biết rõ hơn về thân thế và cuộc đời kiên cường đáng quý của tác giả Hà Huyền Chi, ông nói lên những tình cảm sâu xa từ những độc giả yêu thơ HHC và từ những đàn em yêu quý niên trưởng HHC trong binh chủng nhảy dù mũ đỏ, ông không quên nhắc đến 24 tác phẩm để đời mà HHC là một cây bút không mệt mỏi suốt quá trình làm thơ .
Phần văn nghệ với chủ đề Thơ Nhạc Hà Huyền Chi đã được MC Nguyễn Phan Ngọc An khéo léo linh động xen kẻ vào chương trình nên đã giữ được quan khách ở lại đến giờ phút chót, một chương trình văn nghệ thật hấp dẫn với những bài thơ của tác giả, và với những bản nhạc của nhiều nhạc sĩ nhưng đặc biệt nhất là hai bản nhạc Lệ Ðá thơ HHC do nhạc Sĩ Trần Trịnh phổ nhạc và Quá Phụ Ngây Thơ thơ HHC do cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc, hai bản nhạc đã đưa thơ HHC chấp cánh bay vào nền trời âm nhạc Việt Nam đưa tên tuổi nhà thơ Hà Huyền Chi nổi bật lên từ mấy thập niên qua – Ca sĩ và nghệ sĩ trình diễn đều là những giọng ngâm tiếng hát tuyệt hay cuả miền Bắc Californiạ
Những nụ cười những bàn tay thân thương trìu mến ôm chặt tác giả HHC - Những tiếng lòng phơi bày cảm xúc qua cử chỉ qua ngôn từ dành cho tác giả ở lần ra mắt sách cuối đời của tất cả thân hữu đã làm cho nhà thơ Hà Huyền Chi cảm động vô ngần.
Trong buổi ra mắt sách, ngoài phần yểm trợ của hầu hết báo chí và truyền thanh, truyền hình vùng Bắc Cali còn có sự bảo trợ của nhà nhiếp ảnh Hoàng Hoa Studio một DVD lưu niệm cho tác giả HHC.
Buổi ra mắt 2 Tập Thơ Ghé Một Chân của Hà Huyền Chi chấm dứt sau phần cảm tạ của Ban Tổ Chức và phần chụp ảnh lưu niệm với tác giả .
Một khách tham dự nhận định: Ðây là một buổi sinh họat văn học có một chương trình thật đặc sắc từ nội dung đến hình thức - Một buổi sinh hoạt thật thành công với nhiều cảm tình của người tham dự dành cho tác giả Hà Huyền Chi và Ban Tổ Chức.
*
Tuổi thơ của tôi êm đềm như giòng nước con kênh trước nhà , con kênh với nước phèn trong vắt khi thủy triều lên và khi ròng sát đáy trơ màu sình đen , Bên kia bờ là những đám lá dừa nước được trồng dọc theo bờ ôm lấy ranh nhà Ông Ðốc Phủ Tường kéo dài ngang qua nhà Bác Tám Hải , Bác Năm Cần ..Ðólà.hình ảnh rất quen thuộc từ ngày tôi còn bé ; chiều chiều tôi theo Ông Nội tôi ra chơi ngoài ngỏ dưới hàng hoa Ngọc Cẩn trồng leo làm hàng rào , một loại hoa chùm rủ xuống màu trắng chen lẫn màu hồng phấn để đổi thành màu đỏ khi gần tàn , mỗi khi chiều xuống , hoa toả ra một mùi hương thoang thoảng rất dễ chịu
Ông Nội tôi thường ngồi trước cổng nhìn về hướng bờ sông , thuở bé tôi không thể thấy được tầm nhìn của ông , vì bên kia bờ sông là nhà Ông Ðốc Phủ Tường , con đường trước nhà Ông Phủ là trục lộ chính dẫn lên Sài Gòn , trên con đường nầy cách tỉnh lỵ hơn 3 Km là làng Tân Niên Trung , nơi Ông Nội tôi đã tạm cư tại đây , sống bằng nghề dạy học , hưu trí ra làm làng , giữ chức Hương Cả sau lên đại Hương Cả , với một thời gian dài hơn nửa đời người , cuộc sống của Ông tôi đã gắn bó với làng Tân Niên Trung . Ðể rồi sau năm 1945 , có vài vụ khủng bố trong làng , nạn nhân bị giết chết trên ngực áo có kèm theo một bản án , tội phải chết là tội chỉ điểm làm tay sai cho Pháp , mà đâu phải người chết nào cũng làm tay sai chỉ điểm đâu , có người vì con em làm việc trong tòa Bố hay đi lính gạc thường ra tỉnh thăm con em ...để rồi phải nhận chịu một bản án mà cái chết thường rất dã man , Hai tay bị trói thúc ké ,đầu bị đập bằng cuốc , hay ngực bị đâm bằng boa nha , có người bị cắt lưởi , mổ bụng ...hình thức cái chết thường rất đa dạng mà người chứng kiến không khỏi không kinh hoàng ...
Chức Ðại Hương Cả trong làng chẳng qua là một chức vị cố vấn cho Ông Hương Cả người đứng đầu trong ban hội tề trong làng , thừơng là những vị Hương Cả đã lớn tuổi muốn thôi việc quan về nghỉ hưụ Ông Nội tôi thường chỉ xuất hiện trong nhà làng vào những dịp lể Tết , hay thù tiếp phái đoàn thăm viếng , thanh tra từ tỉnh đến , nhưng Ông Nội tôi không muốn chứng kiến cảnh trái tai gai mắt mà bọn người tự mệnh danh là cách mạng đã gây ra bằng những cuộc thảm sát trong địa phận làng ông cư ngụ , ông cảm thấy mình bất lực , và cảm thấy rất khó chịu khi phải nhìn thấy thằng Ðực trước kia giữ trâu cho Ông Cai Tổng Trà , Thằng Trọn , tá điền của Ông Giáo Huỳnh , nói chung , những thằng chẳng ra gì của xả hội làng nay thỉnh thoảng đêm về mang súng , mang mả tấu , lấy máu người để tự tạo nên quyền thế .
Từ năm 1948 , Ông bỏ làng dời nhà vô chợ Gò Công . Có tránh được cái gai mắt , nhưng lòng ông vẫn thương vẫn nhớ , mặc dù ở đó tài sản ông bỏ lại không còn gì để tiếc . Ông nhớ cái không khí nhà làng , bên cạnh có cái hồ nước , cái ao làng mà mỗi buổi chiều , gái trai kẻo kịt gánh đôi nước sóng sánh đùa giởn bên nhau , ông nhớ đôi trâu già của vợ chồng anh Ba Quý , người tá điền trung thành của gia đình vẫn thường nằm nhơi cỏ bên khóm tre Mạnh Tông , nước bọt thắm đầy cả mỏm , ông nhớ đến những chiếc xe hơi từ hướng Sài Gòn trở về Gò Công rẽ vào làng , nếu không phải là con trai của Ông Hương Sư Kỷ thì cũng là con của Ông Giáo Huỳnh , họ làm việc ở Sài Gòn , đôi tuần về thăm nhà vào những ngày cuối tuần , và hầu hết những người nầy trước kia đều là học trò của Ông nội tôi , thuở bé tôi chỉ biết lẽo đẽo theo bên ông hỏi hết cái nầy đến cái nọ , những lúc ngồi một mình , ông vuốt râu chầm chậm , mắt mơ màng , hình như có một cuộc sống từ xa xưa đang gợi lại ở lòng ông . Những buổi cúng đình mà ông là người chủ toạ , sau khi tắm gội sạch sẻ , ở nhà ông mặc áo dài khăn đống chỉnh tề , sang đình làng trang nghiêm thỉnh sắc , sắc thần của vua ban được đựng trong một hộp gổ sơn son đỏ chói , ông trịnh trọng thắp ba nén nhang to vái lạy trước bàn thần , sau đó với đôi tay kính cẩn ông trịnh trọng mang họp sắc thần ra cho mọi người được nhìn thấy rồi mới thong thả mở hộp sắc thần , một thếp vải điều có viết chữ nho màu nhủ ghi tên vị thần được vua ban sắc .Ông xổ thẳng xắp nhiểu cho mọi người xem rồi cẩn thận xếp các thứ vào hộp để tại vị như lúc ban đầu .
Ba đêm hát bộ ( bội ) cúng thần , đích thân ông cầm chầu , tuồng hát thường cũng là ý kiến của ông đóng góp , thường phải có vở tuồng "Ngủ sắc châu " mà ông rất thích , Ông tôi thường nói , vở tuồng nầy không thấy ghi trong các pho truyện Tàu nhưng mà tình tiết rất hấp dẫn; tôi biết được những điều nầy là cũng nhờ chạy chơi quanh quẩn trong nhà nên được nghe những lời đối đáp giữa ông Nội và Ba tôi .
Lúc đó Ba tôi vì làm ăn thất bại , thua buồn ở nhà coi như tạm nghỉ hưu non , sáng nào cũng vậy , sau khi ăn sáng xong , từ nhà dưới ba tôi lên nhà trên , làm công việc lau bàn thờ , đôi câu liển , và các bộ ghế cẩn xa cừ ...Trong thao tác quen thuộc hàng ngày , Ba tôi vừa làm , miệng vừa trò chuyện với Ông Nội tôi .Ông tôi ngồi trên bộ ván gỏ , một bàn tròn mặt cẩm thạch được kê sát bên , Ông tôi thường ngồi nói chuyện với ấm trà nóng . Câu chuyện thường xuyên được nhắc lại vẫn là câu chuyên lấy bối cảnh từ làng Tân Niên Trung , tôi nghe quen tai đến thuộc lòng , từ tên tuổi các bậc trưởng thượng , đến các sự cố xảy ra trong làng , tôi đều nghe rỏ dù không từng biết mặt , không từng chứng kiến , chuyện gia đình của Ông Hương Sư Kỷ là học trò của Ông Nội tôi , Ông Hương Sư có hai người con song sanh là chú Khương và Chú Vi , hai chú nầy cũng là học trò của Ông Nội tôi , lần hai chú cùng thi sơ học , đậu bài viết vào oral ,Chú Khương vô thi trước , sau đó tới chú Vi , Giám khảo Tây rầy rà quá , cho là gian lận thi giùm , Chú Khương phải trở lại phòng , giám khảo Tây trông thấy hiểu ra cười ngất . Thường câu chuyện giữa ông và Ba tôi không ngoài triết lý " Thiện ác đáo đầu chung hữu báo ..."làm thiện gặp lành , làm ác gặp dử , những người có danh phận , về làng cũ thăm lại thầy xưa , cũng được Ông tôi nhắc tới nhiều lần , nhất là người học trò câm mà Ông tôi dạy viết rành rẽ chữ quốc ngử , thời thập niên 1930 mà Ông tôi làm được việc nầy thật đáng hoan nghênh . Chú câm sau lên Sài Gòn làm việc , hàng năm đến Tết vẫn về thăm làng cũ , cũng trà bánh kính viếng thầy xưa , người học trò nầy đến thăm thầy không chuyện trò rôm rả như những người thành danh khác , mà câu chuyện diễn ra trong khung cảnh trang nghiêm , thầy viết câu hỏi , trò viết câu trả lời ...
Tôi sống êm ả dưới mái gia đình cho đến năm 18 tuổi , sau khi học xong trung học , tôi phải lìa quê lên Sài Gòn tiếp tục học , tôi lớn dần lên theo từng khúc quanh của lịch sử xả hội , năm thi trung học đệ nhất cấp tôi còn làm đề luận , bình giải lời của Ngô Tổng Thống phát biểu trước nông dân của một tỉnh miền Tây , để sang năm đệ tam tôi phải chứng kiến cảnh những học sinh cùng trường hô hào bỏ lớp , ủng hộ hội đồng quân nhân cách mạng , phá bỏ tàn dư của chế độ gia đình trị , đả đảo Thầy Ðài ,tổng giám thị đương nhiệm , một vị giáo sư khả kính của Trường Trung Học Gò Công nói riêng , và của tỉnh Gò Công nói chung , Bởi Thầy còn là giáo sư Pháp Văn của nhiều trường tư thục khác trong tỉnh , tôi lãng đãng đi dọc theo hành lang trường ghi nhận những khuôn mặt phản thầy , sau nầy lớn lên tôi mới thấy tội nghiệp cho những người đó , trong đó cũng có nhiều người học cùng cấp với tôi , tuổi trẻ bị CS xúi dục , lợi dụng tình hình chính trị bất ổn ở trung ương , bọn CS nhân cơ hội tạo cảnh xáo trộn , gây hiềm khích chia rẻ để đạt mục đích phá hoại của chúng , sau vụ nầy tôi nhớ là tôi có viết một lá thư gửi cho người anh thứ ba của tôi , trước đây anh là giáo sư Việt Văn của trường , động viên khoá 16 Thủ Ðức , ra trường được bổ nhiệm về trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp , làm huấn luyện viên vũ khí , Trong thư , tôi cũng kể rõ những khuôn mặt gọi là lảnh đạo học sinh làm cuộc "cách mạng " cho trường , mà những người học trò nầy hầu hết đều là học trò cũ của anh tôi ; tôi còn nhớ mấy tuần sau tôi nhận được thư của anh tôi từ Bà Rịa gửi về , bây giờ sau gần 40 năm , tôi vẫn còn nhớ một câu trong bức thư anh viết ..." Anh rất vui mừng khi biết em đứng bên lề cuộc biểu tình của trường , Anh mong rằng em sáng suốt nhận định đúng hướng đi của mình , những vị thầy của trường đều là những bậc khả kính...
Là con út trong gia đình với một anh và bốn chị , người chị thứ hai lớn hơn tôi 15 tuổi , người anh thứ ba của tôi sau nầy là thầy dạy việt văn của tôi năm học đệ lục , thuở tôi còn bé , các anh chị của tôi lên Sài Gòn học , còn tôi ở lại nhà , tình thương của Mẹ dành hết cho tôi , thuở chưa đi học , tôi vẫn thường lẽo đẽo theo bên Mẹ , đi đâu mẹ cũng dắt tôi theo , về cúng giổ bên ngoại ở làng Bình Xuân , đi Sài Gòn chửa răng , đi chợ hàng ngày ...Ði chợ về nhà là tôi cũng quanh quẩn trong nhà bếp , có lẻ cũng vì vậy mà công việc bếp núc đối với tôi không có gì là lạ , tôi vẫn thường phụ mẹ lặt rau , nhóm bếp , những buổi mưa dầm , mẹ đi chợ về sợ tôi chạy chơi dẫm bùn sình , người thường lựa hai con tôm đất thật to , ngang tầm vóc nhau , đặt mỗi con vào một cái dĩa kê sát vào nhau , mẹ tôi đổ nước vào một cái dĩa , đặt cho hai con tôm châu đầu vào nhau , để trên bộ ván tạp cạnh bếp , tôi ngồi chăm chú theo dõi hai con tôm chuyền nước , dĩa nước đầy dần cạn và dĩa cạn dần đầy , cứ như vậy mà hai con tôm chuyền nước qua lại , tôi ngồi nhìn say mê , đến khi nồi cơm cạn , lửa được dập tắt , chỉ còn lại bếp than hồng thì hai con tôm cũng được mẹ tôi dùng que xỏ lụi , nướng chín trên lửa than hồng , mùi tôm nướng thơm lừng ,thịt tôm dai , ngọt ngào .Sau nầy trên bước đường xuôi ngược trong quân ngủ; những lúc rổi rảnh nhớ về mẹ thì hình ảnh hai con tôm chuyền nước lại hiện ra trong trí của tôi ; trò chơi nầy tôi ít có dịp thấy lại khi tôi lớn , nhớ lại tôi thương mẹ tôi vô cùng , nhà nghèo , mẹ bày cho trò chơi đơn giản mà rất hấp dẩn.
Từ cổng trại giam Nam Hà đi vô sân trại , phòng của tôi nằm bên tay phải sau một giếng nước đường kính khoảng 10 mét, trại nằm ở lưng chừng dãy núi đá vôi mà tạo được một giếng nước to rộng như vậy thì không phải là chuyện dễ , bởi nước sông , công tù mà . Nước dưới đáy trong veo , thường mực nước chỉ lên từ một tới hai tấc nước , buổi chiều đi lao động ở thung về , tù chúng tôi vẫn tập trung quanh miệng giếng để tắm , gào múc nước tự làm lấy , nước lại cạn nhanh , thường phải chờ nước rịn ra mới đủ mà tắm tiếp , mùa mưa thì dễ chịu hơn , mực nước cao hơn .
Buổi chiều sau khi điểm danh vào buồng , tôi thường đứng hút thuốc bên cạnh khung cửa sổ với song sắt to bằng cổ tay , tôi đã từng qua nhiều trại tù , chuyển qua nhiều buồng , nhưng chỉ có buồng nầy là có một khung cửa sổ đặc biệt , phải nói là cửa rất rộng , cao khoảng 3 thước , ngang phải 2 thước , nếu đứng từ bên ngoài nhìn vào , thì cửa trông giống như cửa sắt của chuồng gấu hay chuồng cọp của sở thú Sài Gòn . Nhìn qua cửa sắt , bên ngoài là một triền dốc thoai thoải dẫn xuống một thung đất mà trên các thung đất nầy , các đội tù canh tác rau màu , dùng làm thức ăn cho trại , xa hơn chút là một giòng sông hẹp chảy ngoằn nghoèo theo triền núi , đây là nơi phát nguyên của con sông Ðáy ; buổi chiều trời chưa tối hẳn , nhưng thường có sương mù , chập chờn trên sông là mấy thuyền con đánh dậm , mà nhịp khắc gỏ vang đến phòng nghe rõ lồng lộng , thỉnh thoảng cũng thấy được một vài con cá nhảy vụt khỏi mặt nước rơi vào lòng thuyền , xa xa là miếu Ba Cô , dân ở đây kể lại , miếu được dựng lên để thờ oan hồn của ba cô gái thác oan , mà xác trôi tấp vào đây , mấy lúc rổi rảnh , nhiều anh em tù cũng lội đến đây khấn vái , đêm về phòng cầu cợ..
Chiều nào tôi cũng đứng nhìn cảnh vật rất quen thuộc , đêm dần xuống , cảnh mờ sương thật buồn ...Trước mắt tôi , nhiều khi tôi không còn thấy thuyền đánh dậm , thấy miếu Ba Cô , mà tôi lại thấy Sài Gòn . Sài Gòn không phải của riêng tôi , cũng không phải của riêng ai , với tôi , Sài Gòn rất dễ thương dễ nhớ , Sài Gòn với tôi có nhiều kỷ niệm , kỷ niệm thời đi học , thời đi lính ... Tôi như nhìn thấy con đường Cường Ðể vẫn hàng cây rợp bóng , đối diện cổng trường Dược Khoa là cổng vào trường Văn Khoa , qua khỏi cổng là một bãi đậu xe nằm dưới bóng mát của một tàng cây phượng , ngày còn ôm cặp đến đây tôi vẫn cảm thấy bồn chồn vào mỗi buổi trưa khi trời mưa vừa ngớt hột , nắng rực rở của Sài Gòn trở lại sau cơn mưa , tôi vẫn muốn rời khỏi lớp ra ngoài hành lang sau giảng đường 4 để ngắm cảnh nắng lên sau cơn mưa , nhưng lại sợ thầy phiền .
Từ phía hành lang sau giảng đường 4 , đứng tựa lan can nhìn xuống sẽ thấy toàn cảnh bải giữ xe , nhất là gần mùa thi , hoa phượng vỹ trổ hồng rực rở cả một góc trời , khi cơn mưa vừa ngớt hột , hoa lá cây phượng còn trĩ u nước , nắng buổi trưa lại rực rở sau cơn mưa , từ trên nhìn xuống , ánh nắng phản chiếu lấp lánh qua những giọt nước tụ trên lá , trên hoa , đẹp vô cùng , tôi vẫn thường lãng mạn đứng cả giờ nhìn hoa phượng lấp lánh giọt nước mới mưa , đôi lần cô bé có cặp mắt màu nâu cùng lớp bắt gặp , bé cười chọc tôi
- Anh đang làm thơ hay đang ngắm chân dung mỹ nhân nào đấy .
Cuối năm 1974 tôi từ Pleiku về phép , ghé qua trường cũ tìm cô bé mắt màu nâu , vừa quẹo vô cổng trường , tôi sửng sờ như muốn khựng lại , cây phượng của tôi đâu rồi , bải đậu xe đâu rồi , cảnh cũ thay thế bằng một giảng đường hiện đại đang xây dở dang . TÔi gửi xe vội vàng vào một bải tạm bên hông trường, bước vội lên lầu hai , cô bé cũng vừa từ trong lớp bước ra , mừng vui tay trong tay dìu nhau đến đứng tựa lan can phía sau giảng đường , cùng nhìn ra hướng đường Cường Ðể , mất cây phượng , tôi thấy lòng tôi thoáng buồn như vừa đánh mất một cái gì mà tôi biết sẽ không bao giờ tìm lại được .
- Trường mình từ trước đến nay vẫn chưa có làm lể cấp phát văn bằng cử nhân , tiến sỹ. giảng đường đang xây sẽ khánh thành vào niên khoá 75 - 76 , tất cả các cô cậu cử , ông bà nghè của các niên khoá trước đều sẽ về đây để dự lể phát bằng , sẽ được mặc áo mảo cử nhân , tiến sỹ , sẽ được chụp ảnh kỷ niệm cho bằng thích . Cô bé tựa sát bên người tôi , khẻ giải thích về sự hiện diện cửa ngôi giảng đường mới xây
- Chừng đó anh xin về phép với em nghe anh , chúng mình sẽ cùng mặc áo , cùng chụp ảnh , vui lắm nha anh ! .
Hồi kẻng báo ngủ vang lên , đột ngột cắt mất hình ảnh Sài gòn đang sống dậy trong tôi .Kẻng ơi là kẻng , hàng ngày cứ phải nghe kẻng , con người rồi trở thành quán tính như con chó trong thí nghiệm tiết tâm linh của nhà nghiên cứu Nga , kẻng báo thức , kẻng tập họp , kẻng đi lao động , kẻng giải lao , kẻng báo động , kẻng ngủ ...
Tôi vào mùng , mắt vẫn còn ráo quảnh , vì chứng mất ngủ , tôi nhớ tới ông nội tôi , chiều thường ra ngỏ ngóng về hướng làng xưa , tôi nhớ tới hai con tôm đất vỏ nướng cháy đen , thịt săn cứng lại , gạch tôm béo thơm ngon vô cùng , nhớ tới con bé mắt màu nâu , với niềm mơ ước sẽ được sóng đôi cùng mặc áo cử nhân , ngày tháng đã được xác định rỏ ràng mà nay trở thành viễn mơ ...
Tôi nhớ tới mẹ tôi , giờ nầy , ở quê nhà , buổi tối sau khi đốt nhang bàn thờ ông bà xong , có lẻ bà ra đứng dựa cột trước hiên nhà , mắt nhìn về phương Bắc , nơi có đứa con trai út của bà đang sống cảnh tù đày tại đó , đứa con út , còn là niềm hy vọng rất lớn của gia đình và của riêng bà , mà đã 7 , 8 năm vẫn biền biệt không về , Mẹ tôi chắc sẽ ứa lệ khi nghĩ đến tôi , bà không có cách nào để chia sẽ được những nổi khổ cực cùng tôi , và nhất là bà không hiểu rõ tôi bị tội gì mà phải bị lưu đày ra đất Bắc ...
Viết Tại KỲ ÐÀ ÐỘNG
Ðầu Xuân 1999
( Houston - 6 - 3 - 99 )
Thân tặng cậu bé Nguyễn Thành Hào, Cần thơ, nhân kỳ thi Trung Học đệ nhất cấp năm 1959, năm thi cuối cùng có vấn đáp ngoại ngữ Pháp Anh.
11-08-01
‘’Thi ơi là thi, sinh mi mà làm chi, bám thì ồn ào, rớt thì thì thào, buồn vui vì mị"
Bài hát nầy reo vang mỗi lần hoa phượng nở báo hiệu mùa thị Là học trò ai cũng phải qua giai đoạn hồi hp, bứt rứt, bồn chồn, lo âu nầỵ Thật sự đi học cũng không dễ đâu, không như " chăn trâu sướng lắm chứ’’, ‘’ngồi mình trâu phất ngọn cờ cao và miệng hát nghêu ngaọ.."
Ngày xưa, để chọc đùa các cậu được dồi mài kinh sử, các cô thường ngâm:
" Ai ơi đừng lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm."
Lầm to đãy! Ai đã từng đi học tất phải công nhận có mài quần ở ghế nhà trường bắt buc phải "nấu sử xôi kinh". Có những đêm dài thức trắng, những quyển sách dầy cm chi chít chữ hình nuốt thật khó trôi, những bài toán bài văn khó giải khó bình, thêm vài thứ tiếng bể đầu bẻ miệng.
Học thì phải "gạo", nếu không thì "lúa" vậỵ Vì
"Thi không ăn ớt thế mà cay!"
Ngay như "gạo ci" cũng không dám vỗ ngực tự xưng mình "lão thông kinh sử", Nói đến thi cử còn nói đến việc rủi may, "Hoc tài thi mạng"! Thi viết đã là khó rồi huống hồ lối thi tiếp xúc trực diện, ngắn ngủi, mặt giáp mặt gay cấn : thi hạch miệng.
Nhớ lại hôm âý, đang xem danh sách thí sinh vào vấn đáp trước cửa phòng thi, tôi giật mình khi nghe ai hỏi:
-"Chị cũng thi phòng nầy à?"
Ngạc nhiên quay lại, trước mặt tôi là một quân nhân chỉnh tề, vui tính. Chưa kịp có phản ứng nào, anh ta lại bồi thêm:
-"Thi gì mà quái gở quá, đc lập rồi mà còn bắt thi tiếng thuôc địa, nói phải chu môi cong miệng, xì xịt chán "bỏ xừ" phải không chị ? "
Bở ngỡ chưa kịp hoàn hồn, anh lính yêu nước không vẻ ba gai nầy thấy mình sáng giá, hóm hỉnh tiếp tục pháo thêm:
‘’ Hôm nay không biết gặp ai, sừ đầm nào đây, khó dễ thế nàọ Có nhiều vị "coller" thí sinh nổi tiếng đó chị? Trúng tủ thì dễ, ớn"chào cờ" như "trời trồng" quá, kết quả thì "trợt vỏ chuối"" như bỡn chơi". Ðố chị biết đi lính thì giỏi môn gì nhất?"
Không chờ tôi trả lời, anh vi tiếp:" Toán đó chị vì tiền lính là tính liền mà.
Còn về "vỏ cá bự lại rẻ" (vocabulaire), theo tôi, chỉ cần học ba đng từ chính yếu quan trọng là "avoir, être, faire". Sống ở đời cốt yếu biết mình "là" ai, "có" gì, "làm gì", điều râu ria pha đị
Tiếng gì mà chia đng từ bao nhiêu thì (temps), bao nhiêu cách (mode) lại phải đổi theo ngôị Tiếng Việt ta dễ chưa, Phú quí sanh lễ nghĩa, càng văn minh càng rắc rối phức tạp quá."
Còn định thao thao bất tuyệt, chợt thấy bạn đang băng qua sân, anh xin lỗi hấp tấp chạy gặp. Hú hồn! một bài học vỡ lòng cho cô giám khảo trẻ dạy tiếng ‘ọt đơ’ ! Còn loay hoay với ý nghĩ ng nghĩnh thú vị hàm xúc thì tiếng trống thùng thùng vang lên cho thí sinh vào lớp.
Cuc sát hạch trôi nhanh sắp dứt. Còn người cuối cùng. Thủ tục xong, tôi nhìn lên trùng ánh mắt anh. Cúi mặt anh như người máy trả lời câu hỏi mở màn. Anh đọc bài với một giọng nghèn nghẹn như con trai bể tiếng tay khẽ run có lẽ giận mình bị l tẩy hay saỏ một ý nghĩ thóang qua, mỉm cười tôi nhìn anh vô tư như chưa bao giờ gặp gỡ, bắt anh chia hai đng tự ‘’thì làm" ở ba thể "không có, có, không". Như thầm hiểu ý và cũng ngầm minh chứng Trời cao có mắt, người thành thật luôn được đền bù, anh tròn mắt tự tin. Riêng tôi vui mừng thầm thấy tên anh trên bảng đỗ.
Kỷ niệm đầu đời dạy và học của một cô giáo trẻ bàng bạc không quên !.
Hắn ước gì bưu điện chấp nhận đưa thư đến địa chỉ hắn muốn, chi phí bao nhiêu không thành vấn đề.
Cả đời hắn chỉ muốn gửi thư cho một người, cho tới hơi thở cuối cùng trên trần gian này, chỉ có người đó làm hắn quan tâm cho dù người đó có đi về tận chân trời góc bể .
Khi nghe điều đó, bạn hắn trố mắt " ông nội khùng à, vâng cứ đặt thiệp và bông hoa qua mạng rồi người ta ăn không tiền của ông nhé, khùng không đúng chỗ "
Hắn nghe bạn nói rồi làm lơ, hắn vẫn hiểu hắn đang làm gì .
Người phụ nữ đồng nghiệp cùng phòng nghe hắn thố lộ, rơm rớm nước mắt , rồi nhỏ nhẹ " người có lòng như ông đến thế là cùng, nếu ông không muốn FBI theo dõi ông thì đợi tôi thất nghiệp tôi mở một dịch vụ như thế, dù chỉ có một khách hàng như ông tôi cũng mãn nguyện "
Hắn cười người đàn bà chả biết đang chọc hắn hay đang thông cảm cho hắn trước mặt .
Hắn sống như không sống những ngày nhớ tới người đó mà không chuyển gì được . Hắn sống như thật là sống những ngày hắn sắp xếp được thời gian thăm lại người ấy . Cuộc đời oái ăm, những ngày thật sống không có bao nhiêu .
Nơi hắn muốn bưu điện đưa thiệp tới là một góc nhỏ trong một nghĩa trang thành phố nơi những ngôi mộ tới hơn 20 năm trời, ông nội hắn, người duy nhất hắn biết khi hiểu được làm con người trên thế gian này .
Hắn không có gia đình, không biết cha, biết mẹ, hắn vẫn biết hắn còn may mắn biết bao khi vẫn còn một nơi dù chỉ là một nấm mồ để được trở về và nhớ đến như thế .
Miệng hắn mở ra một nụ cười toại nguyện .
Trời vẫn mưa lắc rắc, song xem ra anh đã chấp chổm muốn về. Tôi đang nằm trong vòng tay anh, hơi hướm anh còn lảng vảng quanh đâỵ Thấy anh lạnh nhạt, tôi dè dăt hỏi : sao thế.
Anh ngần ngừ một lúc lâu lắm mới nói : ta ngưng ở đây thôi, để bận khác còn có dịp anh trở lạị Phải dè xẻn để phòng khi đói lòng. Tôi giận dỗi ngay, như vậy là anh không thương tôị
Thế nhưng tôi không cản. Tôi lỏng vòng tay ra cho anh ngồi dậỵ Thấy đôi mắt thăm thẳm vô hồn của tôi, anh vuốt ve : chúng mình lén lút với nhau, phải chừng mực, em ạ. Tôi quay vội đi, dứt khoát, dù nặng lòng.
Ðến lượt anh tần ngần một lúc, rồi nhét vội áo sơ mi vào quần, muốn đị Không hiểu sao tôi lại bảo anh : ngồi xuống đi, em pha cốc cà phê cho ấm bụng rồi hãy về. Anh rụt rè, tôi tấn thêm : bề gì cũng muộn rồi, giờ anh có về thì chắc chị ấy cũng đã ngủ.
Anh nhăn mặt lại có vẻ bực. Tôi bạo dạn nói tới luôn : đàn bà nhạy cảm lắm, anh về trễ là họ khắc biết số phận họ đã mong manh. Tôi nói mà đôi mắt ráo hoảnh, nhưng thực ra trong lòng đang sướt mướt.
Anh cấm cảu trách : làm gì thì làm đại cho rồi, còn ngâm nga ca kệ. Tôi thấy buồn. Mới hôm nào anh xun xoe bên tôi, ca hết nước hết cái, nào là tôi duyên dáng, nào là tôi bảo hoàng, nay chừng như mọi lời đều xổ toẹt.
Tôi định sửng cồ với anh, song nghĩ lại không có lợi nên thôị Tôi bỏ ý định pha cà phê, để mặc anh ra về. Anh quay đi, có lẽ thấy hơi tàn nhẫn, nên nói nhóng lại : mai anh lại đến. Tôi để cho câu anh nói trôi tuột theo dòng nước mưa chảy ở ống máng bên ngoàị
Anh đóng sầm cửa lại, căn phòng thoáng rộng tuênh toang. Mưa bên ngoài cửa kính mà trong này tôi thấy ớn lạnh. Nước mắt tôi ứa ra, ứa ra, chùi không kịp, lã chã hoen trên mặt. Tôi lấy tấm náp kin lau lên mắt, màu chì đen hoen ra, như một vết cứa rất sâụ
Buồn. Tôi pha cốc cà phê cho riêng tôị Ðặt cái lọc lên cốc sành, tôi nghe từng giọt rơi tong tong, dù chất men dầy không cho nhìn được gì cả. Bởi vì đó là những sợi lòng tôi bắt đầu bứt rụng trong tôị
Tôi uống nguyên chất đắng đen vào miệng. Cho đắng cay trôi tuột vào mình. Cho nôn nao vùi tôi vào nhộn nhạo của chất kích thích đầu óc. Tôi mụ đi trong đau khổ tột cùng, vỡ tan hoang từng mảnh tình sầu nãọ
Tôi chán tôi, tôi chán căn phòng, tôi chán cả cuộc đờị Lận đận luôn bám vào tôi khắt khe và dai dẳng. Tôi không tin số phận mà nhiều lúc cũng ám ảnh sao xui xẻo cứ đến với tôi hoàị
Những giọt mưa gõ lanh canh, hơi nước làm mờ cửa kính. Tôi nhìn xuống vườn, mọi thứ đều sũng nước, đôi chỗ đọng vũng chảy như con lạch. Tôi ngao ngán làm sao, chỉ muốn chạy ra mưa đầm mình như ngày bé. Nhưng lại sợ, sợ ướt áo, sợ cảm lanh, sợ bệnh.
Người ta đau ốm còn có người săn, kẻ đón. Còn tôi nếu bệnh chỉ nằm choèo khoeo một mình. Như anh, có chị, còn tôi có aị Tôi tủi phận mình nên bật lên khóc thành tiếng. Nhớ lại chiều qua, anh đưa tôi đi mall, tôi hỏi đùa anh : hôm nay ngày gì, anh có nhớ.
Anh trợn trừng nhìn tôi, lạ lẫm. Tôi cười cười : anh sợ à ? Anh nhau nhẩu đoảng : đếch gì mà sợ, nhưng tôi biết anh đang co mình vào vỏ như con ốc mượn hồn. Tôi rành rọt kể với anh : cách đây một năm ngày này anh làm quen em.
Tôi định nói thêm về kỷ niệm, nhưng anh cấm cảu gạt phắt : tưởng là gì, thế cũng kể. Tôi hụt hẫng, cảm thấy mình như lọ hoa bỏ quên trong phòng bắt đầu héọ Tôi im bặt, nhưng phụng phịụ
Anh lại gắt lên : đi chơi với nhau mà nhắc dĩ vãng, buồn bỏ mẹ. Nói rồi, anh rút nhanh điếu thuốc từ túi quần ra châm hút. Anh hít một hơi dài và nhả khói bay tùm lum. Giá dạo trước thì tôi đã ngửi mùi thuốc thấy hay hay, song chiều qua khói thuốc lại làm tôi sặc sụạ
Tôi ho nhiều tràng dài, cơ hồ trong bụng có gì muốn xổ tung hết rạ Tôi cố bụm miệng ngăn cơn ho, anh bẽn lẽn muốn di điếu thuốc dưới chân dập tắt. Tôi ngăn lại : không sao đâu, anh. Tại bất chợt, em chưa quen.
Vừa nói, tôi vừa ngáp ngáp liên tục để dằn cơn khó chịu xuống. Nuốt mà nước mắt, nước mũi trào ra hàng hàng. Anh hoảng hốt : em cảm rồi, ta về thôị Tôi định nói với anh, tôi chẳng đau ốm gì cả mà chỉ quặn thắt vì lời tàn nhẫn của anh.
Từ xưa đến nay, anh vẫn thế. Anh độc đoán trước quyết định của mình. Anh muốn tôi lúc nào cũng phải thọ ơn anh mới được. Chỉ trừ khi hai đứa nằm bên nhau, thủ thỉ thù thì lời yêu đương nồng thắm thì anh mới ngọt ngào với tôị
Còn khi việc xong, tôi chỉ là mớ giẻ rách quấn chân anh. Trong tim óc anh, duy nhất chỉ còn có chị. Một lần, tôi gạ gẫm : bữa nào anh giới thiệu em với chị để chị em quen nhaụ Anh la toáng lên : đừng có điên, bộ muốn đốt nhà tôi chắc. Tôi không phản ứng mà sao lòng nát vụn từng hồị
Phải rồi, chị mới là nguồn vui duy nhất của anh, còn tôi bất quá chỉ là cọng rơm, nhánh cỏ khi anh lỡ đường ghé lại, anh thi ân sao thì biết thế. Những đêm nằm một mình, tôi hận mình, sao không dám đương đầu với anh một lần cho tỏ.
Tôi ngại gì mà chẳng dám chất vấn anh : nếu anh coi rẻ tôi thì sao ngày ấy anh đeo tôi dữ thế. Tôi nằm lăn lộn trong ý nghĩ của mình, đắm đuối vì tâm tư sâu lắng, chỉ mong trời mau sáng để gọi cho anh.
Ðáng lý tôi phải gọi ngay trong đêm, khi lòng còn sôi sục, khi trí còn đớn đaụ Nhưng tôi lại ngại đánh thức anh dậy giữa đêm khi anh trong vòng tay chị. Tôi thương anh mà nào có ai thương tôị Vậy mà tôi cứ đành gặm nhấm nỗi cô quạnh của mình.
Ánh nắng vừa lên, tôi gọi cho anh. Từ chỗ anh đang làm, chứ không dám gọi về nhà. Nghe tiếng tôi léo nhéo trong phôn, anh bẳn tiếng : cô định làm gì thế, tôi đang bận mà làm tôi đứt quãng công việc.
Tôi xìu như cái bong bóng bị mũi kim đâm vàọ Cái bong bóng bị mũi kim chọt còn kêu bụp lên một tiếng, chứ tôi im ỉm như tờ. Tôi nấc lên, chỉ kịp nói vói theo : em chợt nhớ anh. Rồi không nói được gì thêm nữa vì lệ đã dàn dụa lấm lem.
Không chờ anh gác máy, tôi buông ống nói vào đé nhựạ Lòng u u như tiếng vọng của đường dây đột ngột lăn đị Ðầu tôi lảo đảo, xoay vù vù như chong chóng, tai ù điếc thậm tệ, môi khô đắng, cổ nghẹt lạị
Ngay hôm đó, tôi thu dọn đồ đạc cá nhân, trả lại chỗ trọ và bỏ đị Âm thầm, một mình, dấu cả anh, dấu mọi người, chân bước đi nặng chịch.
Khi chuyến xe rời bến, trời bỗng đổ mưạ Tôi có thoáng thấy anh, nhưng quay tránh đị Xe ra khỏi nhà ga, tăng dần tốc độ. Con đường trước mặt dài thật dài…
Anh Yêu Dấu,
Ta cố đốt màn đêm u tối
Gọi bình minh mở lối bay về
Ðâu là những thoáng đam mê
Trói đời nhau lại cận kề môi hôn
Những chiếc hôn nồng nàn ngọt lịm của những lúc hai ta bên nhau có làm anh nhớ đến em không ? Yêu để nhớ hay yêu để quên thời gian ? Tình yêu có phải là một liều thuốc phiện mà ai ai cũng cần phải có nó ? Và làm sao ta gìn giữ tình ấy mãi đẹp trong nhau hỡi anh ?
Ừ tình chung lấp hồn khô cạn
Bao năm rồi có chán nhau không
Còn chăng là một tấm lòng
Nung sôi kỷ niệm cho nồng ảo say
Viết tình thơ gió lay cơn mộng
Trong ngỡ ngàng trống rỗng vì đâu
Ðời chia trăm nhánh thương đau
Ta trong hụp lội bể dâu trăm chiều
Có mấy cuột tình trọn vẹn như ta mong muốn ? Có mấy cuộc tình vĩnh viễn trong nhau ? Tình yêu anh cho em hôm nay có khác gì tình yêu của ngày hôm qua không ? Cuộc đời sao lắm bể dâu, tình ta sao mãi nhuốm sầu hỡi anh ? Những nỗi buồn vô cớ sao cứ mãi vây quanh bên em, viết những giòng chữ cho anh, mong rằng sẽ vơi đi một chút thương nhớ. Và mong rằng chúng ta vẫn còn là của nhau, hãy tiếp tục cho nhau nụ cười anh nhé .
Một lần nào tao ngộ
Quyến luyến một chữ thương
Dạ hương tấu nghê khúc
Chung gối mộng vô thường
Ủ say từng lời nói
Nồng ấm những men cay
Tưởng chừng như sóng gọi
Chất ngất giấc mơ đầy
Viết Cho Giao Mùa August 2007
DHH
~~~~/~~((@
Ban Biên Tập Giao Muà vưa nhận được tập thơ Bến Ðợi do hai nhà thơ, nhà văn Tôn Thất Phú Sĩ và Kim Thành, cộng tác viên thường trực của Giao Muà trong nhiều năm qua gửi tặng. Sách dày 207 trang, do nhà xuất bản Select Graphics and Printing, ấn hành năm 2007. Sách không đề giá bán. Xin liên lạc đến :
Tác Giả: email: kimthanh@cox.net
website: www.kimthanh.net
Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả Giao Mùạ
Thân
Mời các bạn xem
Suốt Ðời Anh
thơ : Vương Ngọc Long
nhạc : Mai Ðức Vinh
hoà âm : Giang Ðông
ca sĩ : Thụy Long
http://www.youtube.com/maiducvinh
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Chu-ThụY Nguyên, Ðinh Lâm Thanh, Ðóa Hoa Hồng, Ðông Hoà, Hàn Thiên Lương, Hà Khánh Phương, Hoàng Yến, Hồ Chí Bửu, Huân Long, Hương Việt, Kim Thành, Lê Hưng Tiến, Lê Miên Khương, Lưu Trần Nguyễn, Mynh Hứa, Nam Thảo, Ngô Hữu Ðoàn, Nguyễn Phan Ngọc An, Nguyễn Trường An, Nhật Hạ, Phan Tưởng Niệm, Sông Cửu, Sương Anh, Tương Long, Thủy Lan Vi, Thy Lan Thảo, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần Thành Mỹ, Trần Hoan Trinh, Vân Hà, Việt Dương Nhân đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 64 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà
