Số 66

Ngày 1 tháng 10 năm 2007

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua@hotmail.com


Thư Ngỏ



Ngày vui thường qua mau, thưa bạn.

Cảm giác ấy ngày càng rõ nét trong tôi mỗi lần "giang hồ vặt" về vùng phố Việt miền Nam Cali. Màu nắng cuối hè lóng lánh trên nóc những hàng cọ thẳng tắp. Màu hoa "phượng" tím trong nền trời xanh ngắt khiến lòng chợt bâng khuâng nhớ tới màu hoa lục hà trên sông, màu đổ quyên bên bờ suối quê nhà. Và riêng lần đi này, trong cái nóng 38, 39 độ C, âm thanh giọng nói Quảng Nam đậm đà cùng những khuôn mặt "lạ" của bạn bè ba mươi bốn mươi năm cũ đã đưa tôi trở về quê nhà, giữa lòng phố xưa, trong sân trường cũ.

Trên chuyến bay đầu ngày trở lại nhà, tôi ngồi nhìn tầng mây lênh đênh xám bạc bên ngoài khung cửa phi cơ mà lòng mãi bâng khuâng giữa lằn ranh u uất đi về. Tiếng cười nói chuyện trò, tay bắt mặt mừng của bạn học cũ thời trung học trong buổi dạ tiệc họp mặt Quảng Nam – Ðà Nẳng đêm qua đã sớm là nỗi nhớ. Lớp kỷ niệm tươi non chẳng đè trãi lên phiến tích đời người im tiếng mà lao xao trổi gió lay thức cả một vùng trời phố biển dọc suốt thuở hoa niên.

Ðà Nẳng, nơi cuối cùng mẹ cha đã quyết định dừng chân sau tháng ngày dài bồng bế hồi cư. Thành phố của một lần khóc òa níu áo mẹ buổi sáng đầu tiên đi học. Lòng run sợ đứng trước cửa lớp, quay quắt nhìn mẹ đứng dưới bóng cây mù u từ bên kia sân trường Thạc Gián cũng rộng mênh mông như bầu trời mùa thu bàng bạc trên cao.

Thành phố của thời mới lớn mơ hồ áo ai bay như bướm trắng rộn rã sân trường Phan Châu Trinh, cuống quít chuyến phà qua phố.

Thành phố có sông Hàn chảy qua. Sông lạnh mà nước xanh và biển thì quá gần. Biển bao quanh. Ðứng bên ni Hà Thân, ngó qua bên tê Hà Thân, nước xanh như tàu lá... Ðứng đó mà ngửi được mùi biển mặn trong gió. Mùi muối nồng nàn từ Tiên Sa, Mỹ Thọ, Mỹ Khê, Phú Lộc, Thanh Bình theo gió bay về. Dòng sông đưa người từ biển về không dài lắm, vừa kịp để lòng vun vội vã bước chân trên dốc Cầu Vồng, chát chát chua chua trái ổi sân chùa Bà Quảng.

Thành phố của những ngày mưa nguồn, bão biển. Gió khơi xa về vần vủ thét gào, xé tả tơi những đám mây thấp trôi nhanh trên nóc hàng phượng dọc bờ sông. Vùng nước bình yên cuối giòng chợt dâng trào sóng cuộn như đại dương cuồng nộ ngoài kia. Nước nguồn. Giọt núi rừng truyền kiếp cưu mang chợt một ngày nhớ biển kéo nhau về đồng bằng, hiếp đáp dòng sông bình yên êm ấm đôi bờ.

Khu xóm đạo Thanh Bồ với những con đường cát xám ngấm sũng giọt trời. Bầy con trai tinh nghịch vin vai đạp xe hàng đôi, rủ rê nhau chọn lối đi xa theo con-đường-có-bông-có-hoa qua Trẹm, oằn lưng đạp xe qua con dốc bên hông Bưu Ðiện trể nãi đến trường.

Thành phố của thời kỳ biến động, chiến tranh. Những thằng bạn cùng tắm một dòng sông. Lớn lên. Có đứa bõ đi, sôi nổi lòng trai oằn vai mối thù vay mượn, mép rừng xó núi vào cuộc máu me giải phóng phân tranh. Bên ni, bên tê, những đứa trẻ lớn lên, nhận chịu làm thân gạch lót đường cho lịch sữ bi thương.

Nhớ mãi buổi chiều cuối cùng trước khi vào lính, ly cà phê Thanh-Long đắng lòng góc phố. Gió tháng Chạp cuồng quay bên ngoài vách núi Sơn Trà u hoài ánh hải đăng chớp tắt. Trong nhạt nhòa mưa, thành phố chợt xa vời con dốc dài tóc xõa lối về.

Gã lính sông hồ những đêm chập chùng cuối biển hay từ một dòng sông rất xa vẫn mãi nhớ về ánh đèn bờ vịnh phố xưa. Nhớ về những sợi tóc mai ấp ủ thơ ngây cho mắt em đăm đắm tự tình là ngọn hải đăng sáng hoài trong hồn anh bão lộng.

Cơn bão tình yêu thổi suốt qua cuộc đời chung, qua cuộc bể dâu oan nghiệt chia lìa đôi lứa. Ðôi mắt tình yêu đẹp tuyệt trần buổi sáng cuối một mùa xuân định mệnh, rưng buồn lời hẹn chờ chung thủỵ Ðôi mắt đã giữ ấm lòng, mớm sức cho từng ngày tù tội. Là ánh đèn chong rực sáng chân trời tự do phía ngoài, bỏ lại sau lưng vùng cửa biển u hoài, vần vũ triền miên cơn hồng thuỷ tai ương đã huỷ diệt đảo lộn tất cả giá trị và cuộc sống bình yên của con người...

Trong tiếng động cơ rập rềnh ngái ngủ, tôi loay hoay với những ý nghĩ buồn vui.

Nghĩ tới hai người lính già HO đánh cờ tướng trong khu thương xá Phước Lộc Thọ. Họ ngồi trầm ngâm giữa khu phố chợ bán mua nhộn nhịp, bên mấy ly trà đá đã cạn từ lâu. Nghĩ tới những đứa bé tung tăng theo cha mẹ mua sắm cho niên học sắp đến. Nghĩ tới tấm hình người linh mục đang bị lao tù trong nước vì muốn tìm quyền lên tiếng nói nhân bản cho mình và người khác. Nghĩ tới lòng can đảm và nỗi cô đơn của số ít người như ông mà cảm nghe lòng mình hổ thẹn. Giữa lòng dân tộc đọa đày, con người vẫn chưa hoàn hồn về năm tháng kiệt quệ đói khổ nên đầu tắt mặt tối mưu sinh giữ lấy nồi cơm trắng và cho cuộc sống riêng mình ngày càng khá hơn. Từng viên gạch lót đường về phương nhân bản tình người đang được từng bước bước lên mà có ai hay ? Tôi không muốn nghĩ vậỵ Và như thế, sự hy sinh cao cả đang được tìm thấy và biết ơn... Tôi muốn nghĩ tới một ngày những người-Việt-cao-qúy đó sẽ không còn cô đơn.

Thân chúc bạn đọc những ngày thắm tình Thu.



Phan Thái Yên
Ban Biên Tập Giao Muà


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Không Có Em ______Hàn Thiên Lương
2. Bên Em Biên? Vân~ Gọi ______Quang Phục
3. Ðồi Trăng ______Sông Cửu
4. Nhật Thực – Tình Ta ______Trương Du Tử (2007)
5. Vu Vơ ______Nam Thảo
6. Em Là ______Sương Anh
7. Mười Năm ______Việt Dương Nhân
8. Ta Khẻ Gọi Tên Em ______Phan Tưởng Niệm
9. Trăng Viễn Xứ ______Song An Châu
10. Paris Quê Hương Tôi ? ______Tôn Thất Phú Sĩ
11. Có Một Lần ______Kim Thành
12. Thu Lạc Em ______Triều Phong
13. Ngỡ Thu ______Mạc Phương Ðình
14. Mỗi Ðoạn Ðường Ðời ______ Mynh Hứa
15. Chỉ Một Mình Em Hiểụ ______Hoàng Yến
16. Anh Nhớ SaìGòn ______Nhật Hạ SG
17. Thương Dung Khúc ______Khóc_Cười
18. Quê Khóc Gọi Ta Về ______Dòng Sông Nhỏ
19. Em Cứ Ðể ______Vành Khuyên
20. Nỗi Nhớ ______Trần Hoan Trinh
21. Nhẹ Bước Ðời Im ______Thy Lan Thảo
22. Những Bữa Cơm ______Bùi Ngọc Hiệp
23. Áo Trắng ______Quên
24. Như Tranh ______Chu Kỳ Thư
25. Chí Cốt ... ______Hố Chí Bửu
26. Ðộc Hành ______Vân Hà
27. Tôi Về Gửi Nhớ Trên Ðê ______Ðông Hòa
28. Ðất Lạ Ngày Qua ______Trần Văn Lương

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Mai Ly Tập II _______ Việt Dưong Nhân
2. Bờ Lau Cát Lở 24 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành
3.Ðâu Dễ Gì Quên ___________ Vành Khuyên
4.Chập Chùng Bóng Núi 14(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn
5.Thế Ðứng ___________ Trần Thành Mỹ
6.Lai Rai Ba Sợi Buồn Tình Nản Ghê ___________ Huân Long
7.Mẹ Tôi và bí ẩn tâm linh ___________ Kim Phương Oanh
8. Ðuờng Về ___________ Linh Lan
9.Riêng Nỗi Ðau Còn Ở Lại ___________ Hoa Bằng Lăng

III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

IV . Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật - Hà Huyền Chi và Nguyễn Ðăng Tuấn _______ Giao Muà
2. Trang Nhà Lê Anh Chí _______ Giao Muà
3. Ðổi Ðời - nhà văn Ðinh Lâm Thanh _______ Giao Muà

V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Không Có Em 
 
Không có em anh làm thơ ai đọc
Ngỏ đi về im vắng tiếng em ca
Anh mãi mãi tìm em chiều xế bóng
Tiếng thơ buồn bay lạc nẻo trời xa!

Không có em mùa thu sang rất sớm
Lá vàng rơi che kín  lối em về
Vầng trăng khuyết tỏ mờ soi lối nhỏ
Anh thẩn thờ thương tiếc mối tình quê!

Không có em cõi đời luôn cô đc
Vui làm sao khi vắng biệt nụ cườỉ
Ðâu còn nghe lời em ngâm khe khẻ
Rất tuyệt vời âm hưởng thoảng xa xôị

Không có em bút nghiên sầu cạn mực
Nàng thơ xa thi sĩ cũng buồn tênh
Ðêm khó ngủ giữa canh trường thao thức
Ước tao phùng... mng mị mãi chông chênh!

Không có em anh chẳng về bên xứ cũ
Bến đò xưa  đâu có cuc tao phùng?
Vì con nước đưa thuyền xa bến mng
Mãi tìm nhau mờ khuất cõi mênh mông.

    		
Hàn Thiên Lương 
Mục Lục


2. Bên Em Biên? Vân~ Gọi Chiều dân` xuống em ngôì dây trươc' biên? maí toc' bông`xoã nhẹ bờ vai . Ngan` con song' xô tran`, ngâp. baĩ như em giờ nhung nhớ một ngươì xa . Trơì dân` tôí em ngôì dây truoc' biên? môi em thâm` nhăc' khẽ môt. ngươì xa . Tinh` anh dó giờ dây hai lôí rẽ con` chut' gì xot' laị cho em . Trơì dân` sang' em ngôì dây trươc' biên? anh' trăng tan` khuât' dan.g lan` mây . Tinh` em dó vân~ như ngaỳ mơí găp. vân~ âm thâm` nhung nhớ một minh` anh. Quang Phục
Mục Lục


3. Ðồi Trăng Ðồi trăng Nghiêng bóng sương mờ Trăng chờ aỉ Trăng bơ phờ kém vui Ðừng khóc Em... Khổ vẫn cười Nước mắt đâu tưới sạch Ðời đau thương! Ðói nào Bằng đói quê hương Khát nào Bằng khát tình thương giống giòng! Ðêm Ca-Li Nhớ Sài Gòn Mất tên quên mất Lối mòn nhà Em... Hỏi Trăng? Trăng đứng lặng yên Nửa bên đồi sáng Nửa triền Núi Ðen... * Vô tình chưa - Chú dế mèn Vui chi mà chú Thổi kèn...dưới trăng!? Ðêm trăng Black Moutain San Diego Sông Cửu
Mục Lục


4. Nhật Thực – Tình Ta Nhật Thực – Tình Ta, em biết không!? Thì thôi em nhé! chớ bận lòng! Em như vầng nguyệt, lung linh quá Người tựa ánh dương, chói mắt trông . Trái Ðất ngày qua, khô cằn nhớ Thái Dương ngày lại, ấm áp mong Hôm nay ba đứa, chung đường thẳng Nhật Thực – Tình Ta, em biết không!?

Trương Du Tử (2007)

Mục Lục


5. Vu Vơ Giữa bảo tố trong đêm tôi với bóng Nghe gió gào khua động cả trần gian Rừng cây khuya như tỉnh giấc mơ màng Nghiêng ngữa dậy trong màn sương hốt hoảng Tôi là kẻ của cô đơn phiêu lãng Mình một mình ôm kiếp sống lang thang Tìm đâu ra bao đổ vở hoang tàn! Tim tan nát hồn ai bay thấp thoáng Tôi là kẻ của mây chiều bảng lãng Dật dờ trôi theo cánh nhạn thê lương Về biển khơi mờ mịt sóng trùng dương Thương cho kiếp số phù sinh cô quạnh Tôi là kẻ của hôn mê khờ dại Có những chiều mơ giấc mộng bay xa Ðời phiêu lãng tim còn yêu em mãi Làn tóc thơm môi thắm đỏ mặn mà Tôi là kẻ của đêm trăng huyền dịu Trải chiếu mời trăng xuống giỡn cùng ta Thề trăm năm ân ái cũng chưa nhiều Ta chết ngất bên mình trăng ẽo lã Tôi là kẻ của tuyết rơi sương phủ Lạnh lùng chim côi ủ rủ bên trời Thêm lây lất một đêm dài chưa ngũ Thuyền viển phương chưa đủ một ngày trôi!

Nam Thảo

Mục Lục


6. Em Là Em là...người con gái Việt nam Thuộc dòng dõi da vàng Châu Á Bởi cuộc đời biển dâụ..đất lạ Nay em là...cô gái Paris ! Dẫu quê hương xa lắc đường đi Nhưng mãi nhớ về nơi đất Việt Từ thuở nhỏ đi học - đọc, viết Lịch sử nhà-văn-nhạc-truyện-thơ Bởi tính hay ưa mộng với mơ Thêm nưã...Seine trữ tình - lãng mạn Ðã cho em rất nhiều say đắm Nên hay thường ngắm cảnh làm thợ.. Cũng như anh tháng ngày mong chờ Ðược về thăm nơi quê hương cũ Hình chữ S - biển xanh quyến rũ Bao bọc quanh hòn ngọc viễn đông Ðiạ lý Việt Nam em thuộc lòng Không khác gì "Le Coq - La France"* Mỗi khi nhìn sóng nước lăn tăn Là hồn thơ trào dâng theo bút... Anh và Em - tứ thơ cao vút Viết miên man ngàn ngút trời mây Cho thi ca rạng rỡ ngày dài Cùng năm tháng - không phai tình Việt! (*Le Coq : con gà, La France : nước Pháp _ Con Gà là biểu tượng cuả nước Pháp có từ thời cổ, thời đại Gaulois) Sương Anh
Mục Lục


7. Mười Năm Mười năm vật đổi sao dời Mười năm có biết bao lời bớt, thêm Mười năm chẳng phút dịu êm Mười năm đời vẫn đảo điên quay cuồng Mười năm "đóng" biết bao tuồng Sang, hèn, vinh, nhục, ghét, thương, giận hờn. Mười năm, giờ một bóng đơn Nghe hồn buốt giá giữa cơn nắng hè. Mười năm sóng gió giạt xô Thuyền nan nhồi dập nhấp nhô giữa dòng Quê hương dõi mắt ngóng trông Mười năm nay vẫn còn mong mỏi chờ Cộng thêm hăm ba năm mơ : Trở về bến cũ, cặp bờ sông xưạ Ðưa tay hứng giọt nước mưa Hớp vô một ngụm cho vừa dạ đây !! Paris, hạ_thu giao mùa 6.9.2007) Việt Dương Nhân
Mục Lục


8. Ta Khẻ Gọi Tên Em Ghế đá lạnh. Chiều tan trường . Rộn rã tuổi học trò thơ ngây . Ôi ! đẹp quá ngôi trường xưa - sao chừ như xa lạ thoáng chút buồn - nhìn mái tóc sương pha ! Mới hôm nào !Chừ như thấy thật xa dòng chữ nhỏ mỗi ngày in trang giấy lá tình thư ta trao em ngày ấy bút mực nào còn đậm nét tình say ? Tiếng cười đùa - em cô bé thơ ngây áo dài trắng tung bay giờ tan học ta hôn khẻ không gian theo suối tóc và ru hồn trong giấc ngủ mơ say . Mới ngày nào giọng thỏ thẻ còn đây em - cô bé nữ sinh tròn mười tám đôi ánh mắt là nguồn sao trong sáng ta lặng thầm nghe tim đập cuồng quay . Ghế đá cũ trong sân trường còn đấy dấu hình em soi bóng nắng lung linh ta khẻ gọi tên em trong trống vắng dù bên ngoài con nắng cứ lặng thinh !

Phan Tưởng Niệm
Mục Lục


9. Trăng Viễn Xứ Ðêm đông mờ nhạt ánh trăng vàng Nghe sầu viễn xứ mỗi đông sang Và hồn buốt giá trong trăng lạnh Ðau mãi trong lòng buổi ly tan. Ai về quê cũ cho tôi nhắn Nhớ quá vầng trăng ở quê nhà Ánh trăng huyền diệu trên cành lá Lóng lánh sương đêm, chiếu sáng lòạ Trăng xứ người vầng trăng không tỏ Bởi ánh đèn đêm đã nhạt nhòa Và áng mây chiều vươn khói tỏa Trăng buồn viễn xứ mấy đông quạ Người đi xa cách hoài thương nhớ Tiếng chày giả gạo, tiếng hò lơ Của cô thôn nữ đầy duyên thắm Dưới ánh trăng vàng quá nên thơ Bao năm xa xứ mãi mong chờ Ngày về, bầu rượu với túi thơ Thả thuyền lờ lững trên sông nước Say dưới trăng vàng thỏa ước mợ GA, Jan. 17-2007 Song An Châu
Mục Lục


10. Paris Quê Hương Tôi ? Hai mươi bảy năm ... đời trầm lặng Paris nhẹ gót bước phong trần Mưa nắng hai mùa thêm tuyết phủ Quên ngày vượt biển lắm gian truân Quê hương qua rồi cơn ác mộng Dòng sông Seine cứ ngỡ dòng HƯƠNG Lững lờ nước chảy xuôi về bến Êm ái trong tim rất lạ thường Paris là thơ trong ảo giác Thân tình gìn giữ khoảng đời tôi Phải chăng có lẽ duyên trời đất Sống giữa Paris tưỡng SaiGon Vẫn có lúc thấy buồn ray rức Ðôi khi muốn quên cả Việt Nam Chỉ sợ mai này thân thành bụi Hồn về quê cũ biết nương đâu Nhớ quá nhiều lúc đứng ngẩn ngơ Xa trông ngọn núi ... núi xa mờ May ra còn có con diều giấy Ðể tôi thả mộng nhớ Quê nhà Sực tỉnh lòng đau thấy thẹn thùng Trong tôi chỉ có một QUÊ HƯƠNG Ngày mai đất nước thanh bình lại Tôi sẽ về theo dưới bóng cờ Cờ vàng phất phới bay trong gió Vàng cả trời thu cả nước NAM Tôn Thất Phú Sĩ Paris Sept. 2007 ___________________________________________________ Paris my homeland Twenty seven years--- silent life Paris lightly steps with ups and downs Rainy sunny seasons ađed snow covering Forgot the hard day fleeing by seạ My country met no more nightmare Seine river current thought as Perfume river Water lightly ran downstream to terminal Softly in heart very extraordinarỵ Paris is poem in imagination Affection was kept in my life span Probably destiny is given by God Live amidst of Paris but thought in Saigon. Even though sometimes I felt very sad Sometimes I like to forget Vietnam So fearful that this body become dust Soul back to native land where I can board. Too much missing at times I stood dozing I watch far mountain peak… dim mountain far Luckily there is a paper kite For me to dream missing native land. Awaken I feel myself shameful In my life there is a native land Tomorrow the country becomes more peaceful I will go back under flag color. Yellow flag flies in wind Yellow covers autumn sky in Vietnam. RGC 12-09-2007 Tôn Thất Phú Sĩ

Mục Lục


11. Có Một Lần Có một lần chia tay đành đoạn Môi miệng cười tim lại nhói đau Con dốc đứng ngăn chi hai ngả Vẫy tay chào nghe đã nhơ´ nhau Em bước đi bóng mờ che khuất Anh cúi nhìn lưu luyến bàn tay Mây trên cao bỗng khóc vỡ bờ Mưa ướt đẩm đôi vai bé nhỏ Này em hỡi xin quay mặt lại Cho anh nhìn nét ngọc trong thơ Cho anh mơ sẽ có một ngày Em mãi mãi cuồng si trọn kiếp Hãy nói đi em , mau cho kịp Dẫu chiêm bao nước mắt chảy dài Dẫu gót hài dẫm nát hồn anh Trên đau khổ phút giây tận thế Anh không thể, em ơi không thể Nhắm mắt nhìn bóng tối trùng vây Tóc em gầy là dây tơ buộc Tháng ngày anh còn lại nơi này Anh sẽ thổi bay đi mộng ảo Nhốt mặt trời rạng rỡ trong thơ Cho trăn trở đi vào quên lãng Ru tình anh một thuở đi tìm... May 2007
Kim Thành





Mục Lục


12. Thu Lạc Em mùa gió thu về lạc mất em vàng rơi lả tả rớt bên thềm hè đi tràn ngập lòng lưu luyến thu đến bâng khuâng dạ nhớ thêm có phải thuyền em không đậu bến hay là trần thế vắng người quen thu đừng quyến rủ em tôi nữa quyện ánh trăng tà tiếng nhạc đêm

Triều Phong
Mục Lục


13. Ngỡ Thu Lá vẫn chưa vàng sao đã thu ta nghe chiê`u lạnh gởi sương mù đợi em mà ngỡ mùa xưa lại ngày vẫn trôi đau bóng ng?c tù đêm qua hương cúc lẽn qua song thoảng gió xa xăm một dấu tình đời mỏi chân giày, sông đã cạn thân mòn xuôi ngược với lênh đênh nắng vẫn đầy sân sao đã thu bên kia nỗi nhớ nắng tương tư xôn xao câu hỏi không lời đáp chưa đủ người quên khúc tạ từ đêm nay hương cúc nhạt bên đời nghe lặng thầm ai giấu nỗi vui gót nhẹ người về khua nhịp guốc mùa thu vừa gửi bóng mây trôi .

Mạc Phương Ðình
Mục Lục


14. Mỗi Ðoạn Ðường Ðời Ðường đời chân bước miền tục lụy Vất vưỡng đi vào cuộc tỉnh say Dáng ai xiêu vẹo bên trời lộng Phố buồn giọt rượu với tháng ngày Chiều nay vàng lá thu thay áo Hồn lạnh vào đêm giấc miên trường Dĩ vãng trôi theo dòng năm tháng Tình em tim ấm mãi còn vương Mây xám bay ngang trời hoa mộng Nỗi niềm lay động gió muôn phương Mùa thu vàng sắc thơ tôi rụng Rơi xuống dòng đời khóc tang thương Bể dâu sóng bạc mờ nhân ảnh Nhìn đời mái tóc đã điểm sương Dáng em năm cũ còn nguyên vẹn Thơ tôi vương vấn niềm cố? hương Trái tim co bóp màu máu đỏ Dòng nhớ chảy vào mạch quê hương Hà Nội, Sài Gòn bao năm cũ Hồn Việt sống theo mỗi đoạn đường. 9/2007 Mynh Hứa
Mục Lục


15. Chỉ Một Mình Em Hiểụ Em! Anh tin chỉ một mình em hiểu, Những bài thơ viết mãi vẫn lưng chừng, Với cả niềm đau của lịch sử chung, Và cuộc đời riêng điêu linh khôn tả, Xin đừng đọc với tinh thần xa lạ, Khi mình mang cùng dòng máu Việt Nam, Quê hương thanh bình? Ðầy dẫy lầm than. Bà Tư đầu làng còn buôn bán nhỏ, Chú Hai Giồng Trên tàn cơn binh lửa, Bây giờ trở về chạy Honda ôm, Cô Hoàng diệu hiền là giáo sư Văn, Sau năm bảy lăm bán buôn hành tỏi, Ngày anh bỏ quê lòng buồn rười rượi, Nói dối Mẹ già đi làm ăn xa, Thế mà đã hơn ba mươi năm qua, Anh chưa trở về lòng luôn khắc khoải, Em cứ đợi chờ hết thời con gái, Quá khứ nghĩ về đau nhói con tim, Quê hương Việt Nam còn Mẹ, còn em, Anh không thể về! Em ơi! Không thể! Duyên thời ngây thơ đã đành dang dở, Dù tận đáy lòng anh đâu lãng quên. Rồi anh sẽ về tạ lỗi cùng em, Tạ ơn Mẹ già dày công sinh dưỡng, Tạ ơn đất trời bốn phương, tám hướng. Tình thương quyện tròn hai chữ Việt Nam, Anh tin rằng: Em hiểụ Phải không em? Anh chỉ trở về ngày cờ vàng lộng gió… Hoàng Yến

Mục Lục


16. Anh Nhớ SaìGòn Viết Theo Ý Thơ Một Người Bạn Ngày xuân qua đị..đến ngày rằm Lộc xuân vẫn còn đang tươi thắm Anh nhớ Sài Gòn _Anh nhớ lắm Ðến bao giờ anh chạm mắt Sài Gòn Nắng có còn trải trên con đường cũ Bến Bặch Ðằng một buổi tối không trăng Chúng mình đứng bên nhau yên lặng Nhưng trong lòng dậy sóng yêu thương Ðường mình qua còn in dấu chân quen Cành hồng nhung thắm đỏ tặng em đây Tay trong tay mình bên nhau chiều ấy Cho em thương yêu nhung nhớ tràn đầy Anh hứa cùng em hái lộc xuân này Phút giao mùa rộn rã tiếng pháo vui Mong em có một mùa xuân tươi đẹp Anh ôm em quên đi những ngận ngùị Nhật Hạ SG


Mục Lục


17. Thương Dung Khúc Em bây giờ khác Dung khúc cũ ( * ) Thoắt mười năm hồn lặng như tờ Tóc thôi rẽ đường ngôi yểu điệu Môi thôi hồng đưa đẩy nhịp mơ Ta cố hiểu thời gian là vậy Cuộn sóng đời vồ vập hồn ngoan Bãi xưa giờ ngút ngàn lau sậy Thiên di em lận đận truông ngàn Em đã hết trăng sao vờn mộng Bây giờ cơm áo nặng vai suông Chiều xứ khách se chùng gió lộng Lá thở dài cảm phận lá buông Ngày tháng theo nhau xuôi bất tận Ngoãnh lại mười năm lạnh giang hà Thời gian khắc vết niềm di hận Sóng vỗ nghìn trùng mang em xa Chim chóc xưa đầu thai mấy kiếp Phố đón đưa dâu bể khôn lường Tim chực vỡ, chân đi lạc nhịp Ta bây giờ chết lặng lời thương Dung hôm nay đời hằn vết trán Dấu chim in đuôi mắt không ngờ Ðêm soi bóng khóc hồn biển cạn Tường thì câm như nỗi đợi chờ Dấu kín niềm riêng, em đứng dậy Vùi xưa, em nhẹ bổng gót hài Gió chở bình yên lòng tin cậy Dọn lòng tha thiết một tình mai * * * Dung khúc ngày xưa chàng thi sĩ Phụng hiến tình thơ nét dại khờ Dung khúc riêng ta lòng đố kỵ Trách mình mấy bận mãi ngu ngơ Nào phải so đo từng con chữ Chính ta ngóng đợi phút hoàn nguyên Tạ người linh thiêng thêm trăm tuổi Ngó lại trần gian… chuyện nhãn tiền Em mãi là em Dung khúc cũ Khác gì đâu, có tội gì đâu Lòng vẫn thủy chung sau bão lũ Cho tình độ lượng suốt nghìn sau . ( * ) Dung Khúc - Nguyễn Tất Nhiên Khóc_Cười


Mục Lục


18. Quê Khóc Gọi Ta Về Quê khóc đêm, vạc sành ru mái rạ Hát câu tình, cha nhớ mẹ không nguôi Gió mồ côi ngủ vất vưởng lưng đồi Nằm chiếu đất cỏ xanh vuông một bóng Quê bạt gió, chiều liêu xiêu đưa võng Ðẩy tiếng lòng kẽo kẹt phận ca dao Mặt trời loang tím xiêm áo lụa đào Bầy sáo nhỏ co ro thềm bụi lấm Quê ưỡn mình, trưa hầm màu tre thẩm Ngỏ về làng cô lử sợi nắng rơm Cọ sừng, con nghé ọ giục hương nồm Xua hiu quạnh yên giấc nồng tuổi nội Quê bóng cả một đời thầm mong mỏi Bước chân trần rong ruổi dọc triền đê Hoa bần dại, níu tuổi thơ nguồn cội Ngập phù sa phương đó rủ ta về 20.09.2007 Dòng Sông Nhỏ


Mục Lục


19. Em Cứ Ðể Em cứ để cuộc đời trôi đi, trôi đi Trôi về đâu, dù là vô định Lắm khi chẳng biết đang sống vì lẽ gì Ðau lòng nhìn con người vô nhân tính Em cứ để cuộc đời chua cay, chua cay Tìm về một chốn an lành thật không tưởng Ai mà biết cuộc đời đưa tới chỗ này Tất cả trên con thuyền trôi không định hướng Em cứ để cuộc đời qua mau, qua mau Như khổ đau rồi như những vết nhàu Trên vai áo em hôm nay, hôm qua Thời gian sẽ ủi phẳng lại, sẽ nhạt nhoà Kiếp người rồi cũng sẽ qua, em ạ Vành Khuyên


Mục Lục


20. Nỗi Nhớ Bỗng gặp em về trong giấc mộng Áo vàng bay tha thướt phố chiều Anh gọi khẻ nghe tim mình rung động Tên em dài như cả một trời yêu Bỗng nhớ hết những tháng ngày thơ dại Chiều tan trường bước chân nhỏ mau mau Thành phố đó em một thời con gái Mới nhìn nhau đã vội vã cúi đầu Bỗng thấy lại bờ sông xưa hoa mộng Chiều đong đưa theo sóng vỗ chân cầu Em đi về thả tóc bay lồng lộng Mãi mơ màng theo nước chảy sông sâu Tay năm ngón xoa hòai vùng tóc rối Anh ngu ngơ chẳng biết nói năng gì Em trong trắng như thiên thần vô tội Anh bàng hòang hóa đá bước chân đi Em tinh khiết mà anh thì bụi bặm Em đài trang anh là kẻ phong sương Sợ lời nói làm tình em vấy bẩn Nên lặng câm đi theo hết con đường Và cứ thế rồi xa rời mãi mãi Như hào quang em bay vút trời cao Anh âm thầm với mối tình vụng dại Ôm nỗi buồn và nỗi nhớ xanh xao . Trần Hoan Trinh


Mục Lục


21. Nhẹ Bước Ðời Im * Gieo chi giống đắng giữa đời mê Một thoáng người ơi ! Ngược bước về Chiều xuống âm thầm mờ nhạt nắng Chút lòng thương nhớ, chút tình quê Ngọt ý quay về khó lắm không Ở trong tâm nắng sắc tươi hồng Từng đêm lối cũ đường quen thuộc Thuyền cách bờ xa mắt dõi trông Xới đất trồng chi cây rẽ phân Sao không ướp mật ngọt căn phần Viết lên những chữ buồn thương đó Em có chia đều, chẻ ý cân !? Ta nhận câu thơ thật dễ dàng Gió yên, sóng lặng, chuyến đò ngang Ðời ta quen bước đường phân lối Chẳng thấy hồn se- dẫu núi ngàn Em cứ đùa vui trên lối em Một thời hạnh phúc nhịp đều tim Em khoe chi để lòng ta tủi Tại số nên đời vẫn bóng đêm Gieo giống chi rồi ý băn khoăn Mắt buồn theo bóng chiếc đò ngang Hình như có chút buồn ray rứt Chiều xuống em ơi! Nắng sắp tàn... Thy Lan Thảo


Mục Lục


22. Những Bữa Cơm Trên bàn ăn Nhiều món ngon thừa mứa Thương những ngày Nước muối nấu canh rau Bữa cơm nào Trong tháng năm khốn khó Em nêm thêm Vị ngọt của hương tình Thương nhau quá Em cùng anh chia sẻ Phần thức ăn Ngon dở của cuộc đời Ta tiếp nhận Một bàn ăn số phận Luôn bày ra Cay đắng lẫn ngọt bùi Những vị đời Tưởng mất Còn nguyên đó Không thể gởi cho người Mình chia sớt Em ơi . Bùi Ngọc Hiệp


Mục Lục


23. Áo Trắng Sao em bỏ chiếc áo dài mầu trắng ? Khoác vào người áo sặc sỡ thêu hoa Dù mầu mè, dù rực rỡ chói nhoà Chỉ thoang thoảng như giọt sương trên lá Thưở chúng mình học trò trong cư xá Áo trắng tinh, guốc mộc dẫm đá vàng Tiếng guốc khua thành một chuỗi thênh thang Lòng mê mẫn nên trễ giờ vật lý Kính lục lăng phân mầu quang phổ ký: Tím, xanh, lam... Chàm, đỏ, cam, với vàng Bức xạ mầu độ daì sóng miên man Khi tổng hợp lại cũng thành mầu trắng Trót mang bệnh Sống chỉ nhờ thuốc đắng Kiếp phù du Nay nhớ, mai lại quên Chỉ biêt' rằng lòng trót dại đã mềm Theo chiêc' áo lụa tơ mầu trăng trắng tặng L2 Quên


Mục Lục


24. Như Tranh Buổi sáng, khuyên reo nơi cửa đông Mời em đi dạo nắng tơ hồng Bình minh thơm ngát hương con gái Gót chạm tinh sương rẽ cỏ bồng Ngọ sang hiu hắt điệu à ơi Phượng khóc như gieo lệ mặt trời Em bước qua thềm hương phấn cũ Hạ nồng hôn ấm gót chân lơi Chiều rót hoàng hôn tím dặm trường Em về, guốc mộc hát thân thương Chiều nghiêng cánh bướm tung tăng lượn Ngõ lý hiền hoà ôm nắng vương Ðêm ngủ hồn nhiên giấc nguyệt thanh Ánh trăng thần tích lướt qua mành Bên song, miên thoại lời cây cỏ Em có mơ cùng gió quẩn quanh ? Chu Kỳ Thư


Mục Lục


25. Chí Cốt ... tặng sachilệ Xòe bàn tay – có ngón dài ngón ngắn Bạn trên đời, đếm được mấy ngón tay Thằng ngạo mạn nên cuối đời tay trắng Thằng mộng cao nên ngả máng trợt dài Tình tri kỷ - có ngươi là chí cốt Nhưng thương mầy ở xa quá H. ơi ! Thời chinh biến- tao với mầy là một Hào sảng ngất trời – khinh mạn cuộc chơi! Ngày hai đứa cùng sẻ chia ấm lạnh Mầy nhường tao - chịu thua thiệt một mình Gian hùng động não chứ không động thủ Thà bầm mình không than khóc linh tinh.. Giờ biền biệt – canada tuyết lạnh Những đêm buồn ngồi khóc bạn tri âm Tao cũng thế - tàn cuộc chơi – hiu quạnh ! Rượu thâm giao – tao cất lại - để dành. Ðêm trăng sáng – tao với mầy say sỉn Choàng vai nhau đi dưới phố không người Thằng hát tiếng Anh - thằng ca vọng cổ Thiên hạ ngủ khì – còn lại mình thôi Nhớ mầy quá – tao chửi thề : thằng đĩ Về đây con. Hai đứa nhậu tưng bừng Sát háng mỹ châu - mút mùa lệ thuỷ Tao hét hò mà nước mắt rưng rưng.. 27/8/07 Hố Chí Bửu


Mục Lục


26. Ðộc Hành Mình tôi dạo bước công viên Lang thang chợt nhớ triền miên …tới người. Âm thầm chiếc lá rơi rơi Ngu ngơ đếm mãi, tình ơi ,mấy mùa. Thu về ,nhánh muộn lưa thưa. Cành trơ ,nhớ lá,ngày đưa tiễn buồn. Tôi về, với giọt mưa tuôn . Tình xa chất ngất, từ muôn kiếp nàọ Mưa phùn, gió vẫn lao xao. Mình tôi nhẹ bước, sợ đau lá vàng. Mưa phùn thu phân 23/9/07 Vân Hà


Mục Lục


27. Tôi Về Gửi Nhớ Trên Ðê Tôi về gửi nhớ trên đê Nghe hồn thương mãi về em hôm nào Bình yên ngọn gió vẫn xao Tình yêu vẫn đó chìm vào nét hoa Măc đi , ngày tháng cứ qua Xin em câu nói để hoà lời yêu Tình đầy trong mộng ban chiều Thả thêm cánh bướm thật nhiều ước mong Kết thêm vạn cánh hoa hồng Ðể nghe khe khẽ tiếng lòng em say Xin rằng , nắm lấy bàn tay Dìu em điệu nhảy hồn đầy đam mê Em ơi duyên đã tìm về Tóc tơ hạnh phúc lời thề với nhau Bước trên ngõ phố xôn xao Vang trong tiếng pháo cúi chào Mẹ Cha Dâng lên thành kính ngàn hoa Em cười trông thật mặn mà nét son Từ đây lời thề đá mòn Có nhau sẽ mãi không mòn lời ru 01.09.07 Ðông Hòa


Mục Lục


28. Ðất Lạ Ngày Qua Dạo: Gập ghềnh xứ lạ đường xa, Giật mình chẳng biết quê nhà chốn nao. Cóc cuối tuần: Thành phố biển gầy trơ thân muỗi đói, Chân chưa trơn đã cạn lối, quay về. Chiều San Felipe, (*) Lê thê ngày tháng muộn. Từ quê hương vay mượn, Ðoàn người luộm thuộm dắt nhau qua, Nắng trong mắt vỡ oà, Tạm quên khúc bi ca đời lữ thứ. Người dân bản xứ, Tuy không cùng ngôn ngữ, màu da, Vẫn vô tình gợi nhớ xót xa Ðến một chút quê nhà đà đánh mất. Ngôi lầu cũ bỏ hoang nằm lây lất, Chữ dại màu viết chật vách tường loang, Xương rồng xanh từng khóm đứng ngổn ngang, Dăm đụn cát xếp hàng ngăn gió mặn. Nhánh phượng đỏ lẻ loi hờn nín lặng, Hoa không tươi vì vắng tiếng học trò, Vắng dòng sông, nên vắng cả con đò, Vắng câu hát, vắng điệu hò khoan nhặt. Người mê mải, nào hay chiều vội tắt, Thêm một ngày nữa héo hắt trôi qua. Mắt chưa quen với khung cảnh nhạt nhòa, Giọt nắng cuối đã xa ngoài vạn dặm. Ðêm đậm đặc như cà phê chảy chậm, Ðường thưa đèn, dọ dẫm bước ngu ngơ. Thân lạc loài trên đất Mễ Tây Cơ, Lòng khách Việt dật dờ theo sóng biển. Con phố chính trải dài nương ánh điện, Người nhìn người, thoáng hiện nét phân vân. Nhạc tưng bừng hơn pháo rộn ngày xuân, Nỗi phiền muộn của thế trần tạm lắng. Lang thang bờ biển vắng, Cát trắng nặng chân bôn, Dăm con gió âm hồn, Bên ghềnh đá dập dồn than trách. x x x Mây cố quận, mấy khung trời chia cách, Tim tha hương, róc rách máu sai dòng. Nước biển này đâu phải nước biển Ðông, Sao vang dội trong lòng âm hưởng cũ. Ðêm gặm nhấm, cố dỗ dành giấc ngủ, Bóng quê xưa như thác lũ xoay vần. Ðã bao lần đất lạ tạm dừng chân, Ký ức lạnh vẫn âm thầm nổi sóng. Cali 8/2007 (*) San Felipe : thành phố nghỉ mát nhỏ của Mễ Tây Cơ, nằm trên bờ biển phía Ðông của bán đảo Baja California, cách biên giới Hoa Kỳ khoảng 186 km về hướng Nam. Trần Văn Lương


Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Mai Ly (tập II)

Việt Dưong Nhân





Chương 1

"Những Cơn Gió Lốc"

Căn phòng chật hẹp, vỏn vẹn để được một chiếc giường nhỏ, cái bàn có hai chiếc ghế đẩu, dưới đất một cái lò dầu hôi, vài cái xoon nhuôm đen cháy, có vài ký lô gạo và chai nước mắm. Nơi đây là hẻm 74, đường Ngô Tùng Châu gần Ngã Sáu Sàigòn. Ðó là phòng trọ của Marie-Thu .

Ðêm mưa gió kinh hoàng đã làm Mai Ly sợ hãi . Em liều lỉnh bỏ chạy đến khi ngả quỵ trên vệ đường. May mắn thay ! Ðêm ấy, Marie-Thu đi ăn cơm khách về khuyạ Ngồi trong taxi Marie-Thu thấy có người đang nằm ngất lịm. Cô liền bảo chú tài xế taxi ngừng lại xem coi có quen không. Marie-Thu che dù xuống xe, đến gần cái thây như đã chết. Nhìn thấy, cô bèn gọi chú tài xế taxi :
- Chú ơi ! Chú xuống xe giúp tôi, con bé này tôi quen biết lắm. Trời ơi ! Mai Ly ! Sao em như thế này ? Chú giúp tôi đem nó lên xe, đưa nó về nhà tôi .
Chú tài xế taxi làm theo lời của Marie-Thu, chú hỏi :
- Cô à ! Cổ còn sống hay chết rồi vậy cô ?
- Còn sống. Nó chỉ bất tỉnh thôị Như vầy là nó trúng lạnh rồi . Nhờ chú phụ tôi một taỵ Về nhà tôi sẽ cạo gió, đấp mền là nó sẽ tỉnh lại chớ không sao đâu .
- Chú tài xế hỏi :
- Sao cô không đưa cổ vô nhà thương ?
- Nhà thương ! Thôi, chú ơi ! Vô nhà thương tốn tiền chết, mà tôi đâu có tiền !
Taxi đã tới hẻm 74 đường Ngô Tùng Châu . Chú tài và Marie-Thu khiêng Mai Ly vô nhà.
Marie-Thu trả tiền, nói cảm ơn chú tài xế. Marie-Thu thay quần áo cho Mai Ly, và lấy dầu cù là cạo gió và đắp mền cho em. Marie-Thu nằm kề bên Mai Ly mà ngủ luôn.
Qua một đêm, trời vừa hừng sáng Mai Ly tỉnh dậy, nằm cựa qua, cựa lại . Bỗng em ngồi dậy thật nhanh, làm Marie-Thu giựt mình ngồi dậy kêu Mai Ly :
- Mai Ly ! Mai Ly ! Em còn bệnh nằm nghỉ đi . Chị Thu đâỵ Em đừng sợ.
Mai Ly nhìn quanh quẩn và đã nhận ra tiếng nói của Marie-Thu, em hỏi :
- Sao em ở nhà của chị ?
- Ờ, tối hôm qua, chị không có đi làm, chị có hẹn đi ăn với bạn ở ngoài bến Bạch Ðằng. Khuya chị về, thấy em đang nằm bên lề ở đầu đường, chị nhờ chú Taxi chở em về đây khuya hôm qua .
Hai tay Mai Ly ôm đầu, nói :
- Trời ơi ! Sao em không chết luôn cho rồi !
- Thôi, em đừng có nói tầm bậỵ Trông em còn mệt lắm, vì em bị trúng lạnh vì mưa gió đó . Chút nữa chị ra tiệm thuốc Tây mua thuốc cảm cho em uống. Em cứ ở đây đi .
Mai Ly thở ra :
- Làm sao được, vì chị còn đi làm nữa mà. Em khổ quá chị ơi !
- Có gì mà khổ em ? Nay mai em khỏe rồi chị đưa em về nhà bà chủ . Còn chị, thì chắc chị nghỉ làm cho Kim Cương bar đấy !
- Sao vậy chị ?
- Chị có mấy đứa bạn rủ đi làm chỗ khác, chỗ này là phòng trà ca nhạc Việt-Mỹ, sang trọng hơn Snack-bar.
- Vậy hả chị ? Còn em, làm sao em dám trở lại nhà bà Kim Cương. Trời ơi ! Chắc bả sẽ đánh em chết quá. Còn không thì bả cũng đuổi em ra khỏi nhà.
- Sao kỳ vậy Mai Ly ?
Mai Ly đôi mắt buồn ứa lệ, nói :
- Vì bà chủ mình, bả gạ em cho lão Thành An, tiền bạc thì lão có tặng cho em hai lần được tám ngàn đồng. Còn giữa ổng với bà chủ mình thì em không biết !
- Ha ! Chị nghĩ ông Thành An đưa cho bà chủ mình nhiều tiền lắm đấy ! Bả lấy cầu gấp mười lần hơn em.
- Cũng có thể lắm chị à ! Vì lần đầu thì ổng đưa cho em, bà chủ lấy đếm được mười ngàn, bả chia cho em bốn ngàn.
- Thấy chưa ? Bả chia sáu bốn mà !
- Và một lần nữa, bữa hôm tự bả đưa cho em. Bả nói là ông Thành An tặng em.
Rồi tối hôm qua bả biểu em đi ăn cơm với ông Thành An.
- Ủa ! Rồi em có đi không ? Mà tại sao em bị ngất xỉu ngoài đường vậy ?
Mai Ly tường thật từ đầu tới đuôị Marie-Thu nghe hết mọi sự. Cô ngước mắt lên trần nhà, thở ra :
- Vậy em ở đây làm cho chị đi . Em chỉ lo nấu cơm và giặt quần o . Chị sẽ trả luong cho em một ngàn đồng mỗi tháng.
- Một ngàn đồng! Nhiều quá chị oi ! Em làm cho bà Kim Cương có sáu trăm. Vậy mà bà ta còn thiếu em gần một tháng lương đó. Rồi còn giấy tờ, tiền bạc và quần áo của em ở nhà bã . Trời ơi ! Làm sao em lấy được đây ?
- Tiền và quần áo có gì nhiều không ?
- Em còn gần một ngàn và bà chủ còn thiếu em hơn nửa tháng lương, quần áo, thì có chút đỉnh thôi .
- Em bỏ hết đi . Quần áo của chị chắc em mặc vừa, còn tiền thì chị ráng đi làm khá, chị sẽ cho lại em. Chị hên quá! Vì chị lãnh lương hết rồi, nên mới cố ý đi xin làm chỗ khác đấỵ

Mai Ly ở nhà Marie-Thu được ba ngày, sức khỏe của em bình phục. Ðến đầu tháng, Marie-Thu dẫn Mai Ly đến tiệm uốn tóc Kinh Ðô gội chải đầụ Làm tóc xong, cả hai ghé Ngã Sáu Sàigòn ăn cơm dĩa .
Sau đó về nhà, tới giờ Marie-Thu sửa soạn để đi làm chỗ mới . Cô sửa soạn xong. Cô gọi Mai Ly đến gần và nói :
- Ðưa mặt đây cho chị diện lên. Nè, lấy cái áo kia mặc thử coi .
Mai Ly ngạc nhiên, hỏi :
- Ðể làm chi vậy chị ?
- Thì thử đi, con nhỏ này !
Marie-Thu cho Mai Ly thử hai ba cái áo dài . Mai Ly mặc không vừạ Rồi quay sang thử áo đầm. Marie-Thu ngắm nhìn Mai Ly :
- Cha ! Bộ đồ đầm này trông em đẹp lắm, mà không thấy nhà quê .
Mai Ly chưa hề mặc áo đầm nên thấy trống dưới cặp giò, hơi khó chịu . Mai Ly định cởi ra, Marie-Thu cản lại :
- Mặc đi, chút nữa đi với chị.
- Ði đâu vậy chị ?
- Thì chị dẫn em đi làm. Chủ nào gặp em là họ sẽ chịu liền. Em đừng sợ, có chị ở bên em. Hơn nữa, em biết nói chút tiếng Anh mà.
- Em sẽ làm gì vậy chị ?
- Thì làm vũ-nữ và chiêu-đãi-viên.
- Vũ-nữ là gì vậy chị ?
- Là mình nhảy đầm, ngồi bàn uống nước với khách.
- Trời đất ơi ! Em đâu có biết nhảy đầm !
- Không sao đâu, từ từ em sẽ biết. Nếu làm có tiền, chị sẽ dẫn em đi học nhảỵ - Sao em sợ quá chị ơi !
Marie-Thu cười :
- Mới thì sợ ngườị Nhưng lâu ngày rồi thì... người ta sẽ sợ lại mình đấỵ
- Rồi em phải đi ngủ với khách sao ?
- Ðâu có cần ‘’cái vụ’’ đó. Mình uống nước, tiền được chia đôi với chủ và còn chút tiền lương nữa . Em đi làm với chị. Em dư sức có ba bốn ngàn mỗi tháng như chơi . Còn vấn đề đi ngủ với khách, là một chuyện khác.
- Vậy hả chị ? Chớ em sợ quá chị ơi !
Tuy Mai Ly lo sợ, nhưng em nghĩ : - Mình không còn cách nào hơn. Chị Marie-Thu có lòng tốt muốn dìu dắt mình. Mình theo chị ấy thử xem. Chớ bây giờ mình như cánh bèo trôi giữa dòng đời, chị Marie-Thu như cái phao cứu vớt mình?
Marie-Thu hối thúc :
- Mai Ly ơi ! Tới giờ rồi, suy nghĩ gì vậy ? Mình đi liền em ơi ! Chỗ này hơi xa, ở tuốt trên đường Nguyễn Minh Chiếu - Phú Nhuận đấỵ Nếu làm được có chut tiền thì hai chị em mình sẽ tìm phòng mướn ở gần đó.

Marie-Thu và Mai Ly lấy taxi đến phòng trà ‘’Orchidée-Phong Lan’’. Ðến nơi, Marie-Thu hỏi chú Năm gác cửa :
- Chú, chú làm ơn cho tôi gặp bà chủ .
- Ờ ! Hai cô đợi một chút. Hôm nay mới khai trương nên bà chủ hơi bận. Ðể tôi vô cho bà haỵ
- Cám ơn chú .
(......)

Bà chủ ra :
- Chào cô Marie-Thu !
- Dạ, chào bà chủ. Bữa hôm em có đến đây xin việc với bà. Bà nói hôm nay mới khai trương. Bà đã nhận em làm. Dạ, thưa bà! Sẵn em có dẫn cô em gái theo, xin bà nhận dùm luôn!
Bà Phong Lan quay sang nhìn Mai Ly, và hỏi :
- Em tên gì, mấy tuổi ? Trông em còn trẻ quá.
- Dạ, em tên Mai Ly, được mười bảy tuổi .
- Cha ! Chưa đủ tuổi ! Nhưng chị nhận tạm. Nếu có ai hỏi, em nói em mười tám tuổi nhé !
- Dạ.
- Thôi, được rồi, vô làm việc đị Này, cô Marie-Thu ! Em Mai Ly có làm đâu chưa ?
- Dạ, có, mà chỉ làm Snak-bar thôị
Marie-Thu sợ bà Phong Lan không nhận Mai Ly, nên bắt buộc cô phải nói láo .
Hôm nay là ngày khai trương phòng trà ‘’Orchidée-Phong Lan’’ nên khách khứa thật đông. Có Tây, có Mỹ và một số khách Việt Nam. Họ toàn là sĩ quan. Bởi bà Phong Lan vừa góa chồng. Chồng bà là một thiếu tá Không Quân đã tử trận sáu tháng naỵ Bà còn trẻ đẹp, khoảng ba mươi tuổi, nước da trắng như bông bưởi, dáng vóc thật sang, ăn nói nhã nhặn - từ tốn.
Trong giờ làm việc, Mai Ly cứ theo Marie-Thu tò tò. Vũ-nữ khoảng hai chục cộ Họ đều lớn tuổi hơn Mai Lỵ Các cô thấy Mai Ly là loại ‘’nai tơ‘’ mới vào đời, chẳng biết gì với cái nghề nàỵ Thỉnh thoảng bà Phong Lan gọi Mai Ly ngồi chung bàn với mấy ông khách Việt Nam, họ là những người bạn của chồng bà .
Làm đúng một tuần, bà chủ phát lương, Mai Ly mở bao thư ra đếm được một ngàn tám trăm đồng, em mừng quá. Về nhà em đưa cho Marie-Thu tám trăm đồng. Xem như trả tiền ăn và ở. Marie-Thu hỏi :
- Mai Ly lãnh được bao nhiêu ?
- Dạ, một ngàn tám trăm đồng.
- Cha, giỏi quá ha ! Ðưa cho chị mượn luôn một ngàn kia được hôn ?
Mai Ly vô tình nói :
- Dạ, em còn sắm chút đỉnh đồ cần thiết.
- Ở nhà chị cái gì cũng có, em cứ lấy xài, quần áo thì em cứ soạn ra mặc. Tại vì chị thiếu tiền nhà mấy tháng, nên chị muốn trả hết cho rồi . Ráng làm vài tuần nữa lãnh thêm, chị em mình sẽ mướn nhà gần đó cho đỡ tốn tiền xe .
- Vậy tiền đây chị cầm đi .

Qua tuần sau, Marie-Thu và Mai Ly đi tìm phòng mướn gần đó. Mai Ly lãnh lương được bao nhiêu là Marie-Thu mượn hết. Hai chị em mướn được một căn phòng ở cùng con đường với phòng trà ‘’Orchidée-Phong Lan’’. Nơi đây rộng hơn, có được hai cái giường, nhưng không chiếu, không nệm, không mền gì hết. Phải đi ra mua đồ cũ ở chợ Khu-Dân-Sinh.
Trôi qua thêm mấy tuần lễ làm việc cho phòng trà ‘’Orchidée-Phong Lan’’ mà Mai Ly không có cất được một đồng bạc nào trong người . Thỉnh thoảng Marie-Thu đem ông kép Việt Nam về..., rồi đem khách Mỹ về... Bấy giờ trong phòng có đủ đồ dùng. Ðã mua được một tấm nệm cũ, chừng nào không có khách Mai Ly mới được ngủ trên giường nệm với Marie-Thu .
Mai Ly bắt đầu hiểu hiểu việc làm. Nhưng em chưa biết nhảy, chỉ nhờ đám khách Mỹ cho em uống nước trà ‘’Sàigòn Tea’’, và thỉnh thoảng cho em tiền pourboirẹ Mai Ly ráng dấu cất, nhưng Marie-Thu cũng lục xét lấy hết, em buồn quá, bèn đi tâm sự với một cô đồng nghiệp tên Simone, gốc người Miên khoảng ba mươi lăm tuổi . Simone nghe qua những lời tâm sự của Mai Ly, chị nói :
- Có gì thì em lại nhà chị ở, chỉ đưa cho chị một ngàn đồng tính chung tiền ăn và ở .
- Dạ, để em tính lạị Nếu em bỏ đi như thế, xem như em là kẻ phụ ơn chị Marie-Thu rồi .
- Ðành vậỵ Nhưng em đi làm kiếm tiền để nuôi thân và nuôi má em. Chớ ở đó con Marie-Thu, nó lấy hết tiền của em thì làm sao còn tiền mà cho má em đây ? Ðến nhà chị ở đi, nó không dám làm gì em đâu .
- Dạ, để em ráng dàng xếp và nói cám ơn chị ấỵ
- Con khỉ. Gặp chị là chị đi tuốt chớ cần gì phải nói cám ơn.
Mai Ly nín thinh, mắt nhìn ra cửa . ..
Dù vậy, Mai Ly cũng báo trước cho Marie-Thu biết là, tuần tới em dọn đi . Marie-Thu làm mặt giận ra vẻ như không đồng ý. Nhưng rốt cuộc cô ta phải chịu .
Vài hôm sau, vào một đêm mưa rơi tầm tã, trời gầm, sấm chớp tứ phương, Mai Ly nằm trằn trọc nghĩ suy cho số phận đời mình. Ðã nửa đêm rồi mà Marie-Thu chưa về nhà... Thịnh, bồ của Thu đến gõ cửa, Mai Ly ra mở cửa và mời Thịnh vô nhà. Ngồi nói chuyện ba loa với Mai Ly, Thịnh đòi ngủ lại . Mai Ly lấy chiếu trải lên chiếc giường không có nệm và thảy một cái mền nhỏ cho Thịnh.
Trong khi Mai Ly đang ngon giấc... Thịnh mò qua giường Mai Lỵ Thịnh muốn hiếp dâm em. Mai Ly sợ quá định la lên, thì anh ta năn nỉ :
- Mai Lỵ.. cho anh đi, cho anh đi mà... Không thì mai mốt mấy thằng Tây, thằng Mỹ, tụi nó cũng ‘’đè’’ em hà . Anh sẽ thương em cho tới chết.
Mai Ly sợ quá, em lấy mền quấn cả người lại, tự than :
- Trời ơi ! Sao tôi khổ quá này trời ! - Anh Thịnh ! Anh là bồ của chị Thu, sao anh làm kỳ vậy ? Xin anh tha cho em. Nếu không, em sẽ cắn lưỡi chết liền bây giờ.
Thịnh nghe Mai Ly nói, ông ta hạ cơn... rồi từ từ nói :
- Thật ra anh cũng không muốn làm thế ! Mà tại Marie-Thu bảo anh phá-trinh em cho lấy hên.
- Trời ơi ! Thật phũ phàng vậy sao anh ? Thôi, em đành giũ áo ra đi ngày mai rồi . Em cảm ơn anh Thịnh đã nói lên sự thật.
Thịnh mặc quần áo vào xong, vừa mang giày vừa nói:
- Marie-Thu có nói với anh, em còn nhỏ, vị thành niên, anh cũng sợ chớ. Nhưng Thu nói, Thu bảo đảm không có sao . Thật anh là một thằng ngu-ngốc đi nghe lời bậỵ Suýt chút nữa em la làng là chết anh rồi . Thôi, anh đi vô trại . Chúc Mai Ly ngủ ngon.

Thịnh đã đi rồi, còn lại một mình Mai Ly ngồi suy gẫm, tự nhủ : - Sao chị Marie-Thu muốn hại mình ? Hay chị ta muốn làm cho bỏ ghét, vì mình sắp bỏ chị ấy ra đi chăng ? Cũng có thể lắm ! Mai Ly đứng dậy thâu gọn đồ đạc bỏ vô bịt ny-lon. Quần áo, em chỉ có một bộ, còn lại là của Marie-Thụ Em ngồi chờ đến hừng sáng, rồi đi qua xóm bên kia . Mai Ly đến nhà chị Simone hơi sớm, em gõ cửa, có con của chị Simone ra mở, và hỏi :
- Chị đi kiếm ai giờ này ?
- Xin lỗi em, chị đến quá sớm, chắc chị Simone còn ngủ ? Em cho chị ra đàng sau bếp ngồi chờ nhé !
- Ðược, chị cứ vộ Chút nữa má em dậy, em sẽ nói lạị
- Em là gì của chị Simone vậy ?
- Em là con trai lớn !
- Em được mấy tuổi ?
- Dạ, em được mười hai tuổi .
- Em có còn đi học không ?
- Có chứ ! Chút nữa em đi .
- Thường thường má em mấy giờ dậy ?
- Tùy bữa, có khi dậy sớm, có khi trễ. Thôi chị vô nhà trước. Nếu chị muốn ngủ, thì chung vô chỗ của em chị ngủ, vì em thức rồi .
Nhà chị Simone là một căn nhà khá rộng, mái lợp tôn, vách lá, sàn nhà tráng xi-măng, một cái giường lớn dể giữa nhà, có màn kéo xung quanh, các con của chị trải chiếu ngủ dưới đất, chỉ một mình chị ngủ ở trên giường. Chị có ba đứa con, không có chồng.
Ðã hơn chín giờ sáng. Simone dậy kéo màn qua một bên, chị dụi mắt ngáp dài, vừa nhìn thấy Mai Ly, chị chưng hửng :
- Ủa, Mai Ly! Em tới sớm dữ vậy ? Ðến chơi hay đến ở đây luôn ?
- Dạ, em đến ở luôn với chị.
- Ờ được.
Simone ngóng cổ hỏi :
- Có đứa nào đó không ? Ði mua đồ ăn sáng đi tụi con.
Một bé trai cỡ tám, chín tuổi trả lời :
- Dạ, mẹ ăn gì ? Có bà cơm tấm còn kia .
- Ờ, Mai Ly thích ăn cơm tấm không em ?
- Dạ, thích.
- Tí à ! Ra kêu hai dĩa cơm tấm chã bì đi con. Rồi qua chú Hai ỨNgọt gọi hai ly cà-phê sữa luôn. Còn tụi con ăn gì, kêu đi .
- Dạ, tụi con ăn rồi mẹ à!
Simone sút miện, rửa mặt xong, chị cuốn mùng mền qua một bên, rồi thót lên ghế đẩu ngồi chòm hỗm, chị gọi Mai Ly :
- Lại đây ngồi em, tụi nó đem cơm tấm vô kìa . Sao mà em lại đây sớm quá vậy ?
- Dạ, tại em ngủ không được.
- Em đi như vầy, con Marie-Thu biết không ?
- Dạ, không.
- Sao vậy ? Ði như thế, rủi nó phao vu em ăn cắp đồ đạt gì của nó là chị bị dính lây đó.
- Không sao đâu chị. Mới dọn về, có đồ gì đâu mà ăn cắp.
- Chị nói trước đó. Thôi, ăn đi .
Chiều tối hôm ấy, Mai Ly cùng đi làm chung với Simone . Vừa đến nơi là Marie-Thu đứng trước cửa, nàng kênh-kiệu, và xông tới, nói với Mai Ly:
- Ê, con kia ! Ði sao không nói tiếng nào với tao hết vậy ? Mà còn ăn cắp của tao năm trăm đồng nữa .
Marie-Thu đưa tay định đánh Mai Ly, Simone kịp đi ra ngăn cản, chị nói :
- Coi kìa Thu, có gì thì nói . Sao em đánh Mai Lỵ Biết có phải Mai Ly lấy không ?
- Nó chớ còn ai vô đây, đồ phản, hứ !
Bà Phong Lan nghe tiếng ồn ào, bà bước ra hỏi :
- Chuyện gì đó các cô ? Có gì thì nói với tôi, sao lại gây gỗ ngay chỗ làm-ăn của tôi, rủi khách tới thấy mất lịch sự không ?
Mọi người đều im lặng, bỏ đi vào trong và tiếp khách. Sự việc xem như không có chuyện gì xẩy ra cả .

Mai Ly làm việc càng ngày càng giỏi, em rất ăn khách ngoại quốc. Họ thường xuyên trở lại cho Mai Ly uống nước trà. Làm mấy mụ sồn sồn sanh lòng ganh ghét em. Chỉ còn lại, chị Simone và bà chủ là thương em. Mai Ly cũng thừa hiểu cái nghề này, em thường nhủ với lòng : Nếu mình còn làm cái nghề này lâu dài, thứ nhứt ; mình hết lòng giúp đỡ các cô mới ra đời, và nếu được may mắn mình có tiền, thì mình nhứt định không làm chủ cái nghề nàỵ Mới ra đời có vài tháng mà đã gặp mấy lần phũ phàng. Rồi đây những tháng năm dài sắp tới sẽ còn bao nghịch cảnh nữa đây ? Thật là chán ngán ! Nhưng biết phải làm gì đây ? Thôi xem như số mệnh, là do bàn tay định mệnh đã đặt cho thân phận của mình rồi, cam đành nhận chịu chớ dám trách ai đây ?

xem tiếp : Chương 2

Việt Dương Nhân


Mục Lục


2. Bờ Lau Cát Lở 24 (Chuyện Dài)

Ðỗ Thành



Từ đó, bóng mẹ hoàn toàn cách biệt. Mẹ về đâu sao chẳng cho tôi biết. Nhiều đêm chỉ mong sao được gặp lại hình ảnh mẹ trong mơ. Ðể mẹ con được hỏi han nhau về những ngày biền biệt. Thản hoặc để được thấy mẹ lúc này thế nào. Niềm cầu ước của tôi chỉ xin mẹ được vãng sanh về Tây phương với Phật. Chả lẽ đời mẹ đã khổ đau quá nhiều mà mẹ chưa vẹn toàn mối nợ lai kiếp của mẹ sao.

Từ đó thỉnh thoảng tôi cũng mường tượng thấy cô, nhưng tôi không sao nhận ra cô được. Trong mơ, cô già quá, tóc trắng như bông và người hom hem như đã chết. Cô không một lời oán hận cuộc đời, nhưng mắt cô buồn vô kể. Cặp mắt vốn đã gian nan giờ lúc nào cũng lem nhem giọt lệ. Cô khóc cho ai, hay cô khóc vì thời thế nhiễu nhương. Tôi gọi cô, cô nhìn tôi xa lạ, cô sợ và khiếp quá rồi nên cô chẳng còn tin vào ai được nữa.

Từ đó mỗi lần Vu Lan tôi luôn là người chạy trốn. Tôi không có can đảm vào chùa để nhận cài lên ngực áo đóa hoa trắng buồn hiu. Tôi không ganh tị với những người hân hoan được cài lên ngực đóa hoa hồng thắm, nhưng tôi biết rằng tôi sẽ vô cùng yếu đuối vì chợt nhớ đến mẹ tôi.

Tuy không vào chánh điện dự lễ, nhưng tôi vẫn quẩn quanh ngoài tam quan chùa. Lắng nghe tiếng chuông ngân nga từ cái tháp tĩnh lặng và những đợt tụng kinh xá tội vong nhân, tôi thấy mắt tôi luôn đẫm lệ. Tôi phải nép mình vào bức tường khi lễ tan vì không muốn ai nhìn thấy tấm lòng tôi bơ vơ vì đau xót.

Tôi bỏ Saigon vội vàng như nắng bỏ buổi chiều rộn rã mà đi. Tôi bỏ con đường ngày nao vẫn hai buổi đi về nôn nao sắp gặp lại mẹ. Tôi bỏ tiếng rao khuya, mùa hoa phượng, nhạc ve kêu mà âm thầm lên Dalat làm lại cuộc đời.

Thời đó xe khách còn phải họp thành đoàn công voa mỗi tuần 2 lần, chờ mở đường rồi mới có lệnh xuất phát cho đi. Tôi theo xe đò Nghĩa Hiệp của tướng Bình Xuyên Bảy Viễn chạy khỏi Saigon rất sớm để lên Biên Hòa chiếm được vị trí xe dân sự hàng đầu. Chờ lăn chờ lóc đến sáng bạch vẫn chưa có chỉ thì cho đi. Những chiếc xe thiết giáp giống con cua sắt chạy qua chạy lại với những anh lính bận rộn tíu ta tíu tít.

Mãi đến 9 giờ hơn, xe mới ùn ùn lăn bánh. Trời Biên Hòa nóng như đổ lửa, bụi bốc hăng hăng, khói xe xả đen ngột ngạt. Tôi chẳng hiểu lòng tôi đang vui hay đang buồn. Sự ra đi của tôi vô cùng phiêu lưu, không một chủ đích rõ rệt. Liệu tôi có chắc sẽ tìm được một chỗ làm để có thể giã biệt hẳn Saigon chăng ? Liệu rồi tôi sẽ ăn đâu ở đâu khi bắt đầu cuộc đời tự lập với hai bàn tay trắng.

Bác bên phía mẹ gọi tôi và tôi đi. Ði để đừng nhìn thấy bất cứ chút gì còn sót lại kể từ khi xa mẹ. Ðoạn đường từ Biên Hòa đi qua Trãng Bom, Dầu Giây tương đối yên tĩnh, nhưng từ Ðịnh Quán trở lên thì phải ngưng nhiều lần. Ngưng vì nghỉ ngơi ăn uống cũng có mà ngưng vì lý do an ninh chờ đợi nữa.

Lần đầu đi ra khỏi thành phố, cảnh nào cũng mới đối với tôi. Những tảng đá cao lêu nghêu gần như chắn ngang con đường xe chạy ở Hưng Lộc, Ðịnh Quán nằm dềnh dàng ra đó. Ngước nhìn lên là một chòi canh bé xíu trông chẳng khác chuồng chim cu, một anh lính ngồi bâng quơ nhìn dãy xe nằm lềnh khênh chờ đợi. Một mũi súng ló ló ra ngoài từ lưng chừng chòi, anh lính đang mở to chiếc máy thu thanh với một lời ca hào hùng nào đó.

Chợt nhiên, tôi tự hỏi anh nhìn gì từ nơi cao ấy. Rồi ý nghĩ lan man đưa tôi đi xa hơn khi tưởng tượng về đêm anh có thấy buồn chăng. Tôi hay có những suy diễn lẩm cẩm như vậy. Phải chăng vì thế mà tôi luôn chuốc nỗi dằn vặt vào lòng. Cụm phố xá nhỏ nhoi quá, chỉ một con đường trải nhựa là chính, còn len lách là các con đường đất đỏ dẫn vào những ổ dân cư xa xăm.

Rải rác toàn rừng cây cao su, chỗ cao chỗ thấp đẹt, chen chúc có dăm ba quán ăn mở đón khách giữa đường. Khách cũng thưa thớt ghé vào, tôi không rõ sao các chủ quán có thể thanh thỏa mọi sở hụi vì buôn bán ế.

Ðoàn xe nằm dài bên lề chờ. Những chiếc xe chở lính hoặc giung giăng cần ăng ten vọt tới vọt lui, tiếng truyền tin rin rít trao nhau. Ai cũng có vẻ sốt ruột vì cái nóng, vì âu lo, vì chỉ mong về tới nơi sớm.

Mãi quá trưa xe mới được khởi hành, chạy cách nhau chừng 5 phút. Xe bắt đầu vào đèo, những con đường dốc quanh co và dầy đặc toàn những cây cao vút. Những ngọn núi âm u đầy đe dọa, có người lao xao kể về chuyện đoàn xe bị chặn chỗ này chỗ kia và dân bị dẫn vào rừng mãi mấy ngày sau mới được thả. Lại râm ran chuyện người này người kia bị giết, bị kết án vì nghi là lính, hoặc hoạt động cho chính phủ v.v…

Tôi nghe mà dửng dưng vì nghĩ rằng giả hoặc có bị lôi vào rừng thì cũng đến thế thôi vì tôi chẳng có gì phải sợ. Trái lại, có khi chuyện không may lại giúp tôi giải quyết được mối ưu tư là chưa biết mình sẽ sống cách nào.

Trở về lại Saigon thì không được nữa rồi vì còn ai đâu là người thân nữa chứ. Còn lên Dalat nhỡ không tìm ra việc làm chả lẽ để ông bác nuôi mãi hay sao. Tôi mới nhận ra mình liều lĩnh quá đỗi, đi mà không có lấy chút mảy may, đi mà chưa lường được những gì đang chờ đang đợi.

Lần đầu tiên, tôi thấy mình yếu đuối vô cùng. Chỗ dựa là mẹ thì giờ bị cất bỏ đi rồi, tôi chưa bao giờ chuẩn bị cho mình một tư thế tự lập lấy thân. Giữa lao đao lận đận như vậy, lạ là tôi không hề nghĩ và trông vào sự giúp đỡ của bố. Tại sao vậy ? Phải chăng vì bố đã xa lánh chị em tôi đến nỗi tôi không còn hình dung ra ngày sống gần và hiện nay khác nhau thế nào.

Xe qua Tam Bố, xe vào đèo Blao, rừng thông bắt đầu xuất hiện với tiểng reo u u như suối ngàn. Trời trưa mà mát, cái mát của vùng cao cách mặt biển hàng nghìn mét. Nắng vẫn lên nhưng màu nắng dịu đi, gió hiu hiu mang theo hơi lành lạnh dễ chịu. Xe ì ạch bò lên đèo, chậm chạp như người tiều phu vác bó củi lớn. Con đường nhựa như dải nhung đen uốn lượn vằn vèo, dăm chỗ dựng đứng quặt nhanh như cái cùi chõ.

Dù máy xe rất mạnh, tuy vậy bác tài vẫn dặn dò anh lơ chừng chừng lo sẵn khúc canh để khi xe khựng là nhảy xuống chêm liền khỏi bị tuột. Ðường xe đi hẹp quá, một bên là vách núi, một bên là hố sâu. Từ cửa xe nhìn xuống thăm thẳm sờ sợ, khách đi xe có người am tường nhiều chuyện quá. Họ chỉ trỏ khúc này khúc nọ đoan chắc là ở dưới vực còn xác xe tuần tiễu hay chiếc xe hàng nào bị lọt xuống mà không sao lấy lên nổi, đành phá hủy hoặc bỏ đó.

Có khách kể lể về số phận của những hồn oan bị tai nạn đây kia. Chứng tích là những cái miếu âm hồn rải rác suốt dọc đoạn đường đèo càng làm cho câu chuyện thêm lâm ly ghê rợn. Có bà khi nghe kể thì lấy bông đút nút tai lại, miệng van xin đừng kể nữa và lâm râm lần tràng hạt khấn.

Trời đang là mùa khô mà róc rách theo các khe vẫn có dòng suối con chảy. Nước trong vắt và ngồi trên xe cũng nhận ra vẻ mát mẻ lành lạnh của con lạch đó. Xe lên đèo Cậu, những xóm nhà định cư của đồng bào Bắc đã lác đác thành hình, một vài gác chuông sơ sài của ngôi giáo đường cũng đã vươn cao lên đó. Những chiếc khăn vuông mỏ quạ, những vạt áo nâu sồng nhẩn nha hiện diện hai bên đường xe qua. Cuộc sống dù muốn dù không cũng phải lo gây dựng lại sau khi họ đã bỏ hết gia tài ở miền Bắc để vào Nam vì ý nghĩa tự do.

(còn tiếp)

Ðỗ Thành
7/03

Mục Lục


3. Ðâu Dễ Gì Quên

Vành Khuyên



OoO

Chỗ ngã sáu CMT8 và đường 3/2 gặp nhau là một nơi tôi đong đầy kỷ niệm , nào là đợi bạn ở đó để cùng đạp đi sinh hoạt chung tại Nhà Văn Hóa Thiếu Nhi trên đường Tú Xương , nào là đợi mấy người bạn khác đi ra từ con đường CMT8 để đi ra Bến Nhà Rồng ngồi tâm sự . Nếu chỉ có như vậy chắc tôi cũng đã quên bén cái trung điểm của các con đường gặp nhau đó . Thật tình là mỗi lần đứng đợi , tôi nép bên đường , nhìn thấy cuộc sống thành phố muôn vẻ , muôn mặt, đôi lúc có dịp tham gia vô đời sống người khác một cách bất ngờ , thú vị lắm .

Băng ngang qua trung điểm đó là đường rầy xe lửa , cái đường rầy này ngó dẹp lép dưới đất vậy mà gây ra bao nhiêu khó khăn cho dân cần lao lắm . Nhất là các anh xe ba gác chở nặng, các anh xích lô chở hàng cao chất ngất . Lần nào như lần nấy , khi những người bạn chưa tới , lúc các xe lâm nạn , chổng xe lên trời , tôi đều vội vã lao ra , dùng hết sức bình sinh của một tiểu thư ra mà giúp , có người thấy vui vì tôi giúp , có người thấy bực vì sức tôi chẳng đâu vào đâu , ra vướng tay thêm , nhưng cũng không nỡ mắng, qua cái nhìn của họ tôi hiểu vậy thôi . Nhưng qua tất cả những điều đó , tôi cơ hồ nhận ra cá tính của mình , một cá tính đã nhiều lần đưa tôi vào những tình huống khó xử , tôi khó lường trước được .

OoO

Ham sinh hoạt quá , tôi rớt đại học những hai năm . Hai năm làm kẻ không nhà, lê la trên khắp các tụ điểm luyện thi , rồi tối đến học thêm Anh Văn chuẩn bị xa xôi cho cái ngày xa xứ, đời tôi lúc đó còn hơn con thuyền không bến . Bến ở đây hiểu theo nhiều nghĩa lắm , bến lâu dài và bến tạm . Dầu gì thì gì , tôi vẫn phải học bằng lòng với điều mình đang có . Tôi đổi chỗ học thêm Anh Văn lia lịa , đi học thiệt nhưng tôi rất ghét chỗ nào làm khó học sinh, vừa học vừa chơi , tiếp thu mới có hiệu quả , đã học cật lực ban ngày , ban đêm học thêm cho sảng khoái mà cứ kiểm tra tới , kiểm tra lui . Trung tâm tôi dừng lâu chút là trung tâm sinh ngữ tại trường chuyên toán Lê Hồng Phong . Hôm đó , đang kiếm xe đạp ra khỏi trường, rõ khổ trường lại cúp điện , chúng tôi đứng chờ có điện lại như hạn chờ mưa , các em giữ xe là học sinh của trường từ chiều , ở lại làm thêm , nghe chừng cũng đã quá mệt mỏi . 15 phút rồi nửa tiếng trôi qua, cuối cùng điện lên , tôi chậm chạp dắt xe ra cũng là người chót bét . Một em trong toán giữ xe kêu lên " Ồ chị , xe chị xẹp bánh rồi , chị về được không ? " Tôi ngớ người , " về sao được mà về !" tôi thì vốn sẳn thích giúp người nhưng rất ghét nhờ người khác , nhưng trong trường hợp này , tôi thật không biết tính sao . Có lẽ mặt tôi thiểu não đến là tội nghiệp , các em vừa cười vừa đẩy nhau giúp tôi , sau rốt , có một em , thật cao ráo , đẹp trai , nhìn tôi chững chạc dõng dạc " đói bụng lắm nhưng bỏ chị cũng tội , chị dắt xe được hông , ngồi sau tui chở về dùm cho " .. Ðúng là tôi chưa từng dắt xe đạp xẹp bánh , ờ mà nếu không xẹp tui đạp chớ cũng đâu bao giờ dắt đâu mà biết .

Tôi dắt xe ra ngoài , đợi em đến rồi ngồi sau xe em .

OoO

Con đường từ trường LHP về nhà tôi cũng xa , tay dắt xe đạp , tay kia tôi hỏi em cho tôi mượn cái bụng ôm cho có thăng bằng . Mỗi lúc có người băng qua đường làm em phải thắng , tôi quen thói thắng dùm bằng cách ôm chặt bụng em , như nhéo vậy , chắc là đau , lần đầu em chẳng nói , lần thứ ba , thật buồn cười , em than " chị một vừa hai phải thôi chị , tui thắng đủ rồi chị " .. tôi mím chặt môi sau lưng em , muốn cười quá mà sợ em chửi ...

Tới nhà tôi , hai đứa rã rời , tôi vào lấy nước em uống, cũng xã giao chút đỉnh cho ân nhân yên lòng với bản thân . Tôi hỏi " có hay coi đá banh hông, chừng nào đi coi , không có chỗ gửi xe , đem lại đây tui giữ dùm cho , coi như huề, chừng nào ở đây tui còn giữ , heng " . Tiếng em vui hẳn, " ờ dậy nha , chị giữ dùm , trời lấy xe lúc tan bóng đá, mệt lắm , đi bộ tới nhà chị coi vậy mà vui " ..

Những ngày tôi biết có đá banh tại Sân Vận Ðộng Thống Nhất , có đi đâu , tôi đều nán lại đợi coi em có tới gửi xe không rồi mới đi . Tôi thấy mình cũng kỳ , em giúp vậy mà ngay cả cái tên cũng không hỏi , tôi mong gặp lại em quá chừng đi .

Một ngày đá bóng khác , tôi đang mơ màng ngủ , tiếng chuông cửa gọi , tôi bước ra ngoài , tóc tai còn nhếch nháng, em cười thật tươi , đi với hai người bạn , tất cả là ba cái xe , hân hoan " chị cho gửi xe nha , gần tới giờ đá , phải chạy rồi " ... tôi mở nhanh cửa cho các bạn dắt xe vào , hỏi " ủa mà tên gì vậy , ba người lấy chung một lần xe, lấy riêng lẽ tôi hông trả xe đâu nha " .. Dắt xe vào trong xong , ba anh con trai chạy thiệt lẹ , em quen tôi không quên ngoái đầu lại nói " tên Phước , chị " .

Ðúng là giúp người , thì có người giúp lại .. tôi thấy thật yên bình khi sống trong một xã hội gồm những con người giàu lòng tương trợ như Phước .

OoO

Một buổi tối , tiếng chuông cửa lại vang , ngày đó , đêm rồi , đâu đá banh , tôi ra ngoài mở cửa , thấy Phước , tôi ngạc nhiên vô cùng " Ủa , Phước , đá banh đâu giờ này mà đi một mình vậy ? " . Phước bẽn lẽn nhìn tôi ra tới tận cửa , Phước ngó tôi hoài không nói gì , tôi tỉnh bơ " Ủa chuyện gì vậy Phước ? " . Phước như lấy hết bình sinh thố lộ " Nhớ quá , lại đây nhìn , tính rủ đi uống nước , đi không ? " Tôi tá hoả , như từ trên trời rơi xuống , kỷ niệm chỉ có thế mà gieo vào lòng Phước một tình cảm chân thành quá đi . Tôi hẹn Phước ngày khác , trước khi về , Phước nắm chặt tay tôi , nhanh miệng " muốn được ôm eo " rồi chạy thẳng .

Tôi một kẻ cũng ít niềm vui , ngoài bạn bè ra , lúc đó tôi cũng chưa rảnh lòng mà thương ai , có tình cảm của Phước , tôi vui lắm nhưng tôi lại buồn ngay , Phước nhỏ hơn tôi ít nhất là 3 tuổi , làm sao đây , có thương được Phước, Phước chấp nhận nhưng còn bạn bè tôi , bạn bè Phước , và xã hội lúc đó , tôi thấy buồn vô cùng . Phước cao lớn , đẹp trai , lý tưởng với tôi vô cùng, dù giữa chúng tôi chưa có gì nhưng tôi có cảm giác đi chung với Phước tôi sẽ hãnh diện lắm ... dầu gì cũng một lần ôm eo mà .

Phước lại thăm tôi mỗi tuần , tôi ngại làm Phước buồn, đi uống nước với Phước , hai đứa kể nhau nghe nhiều chuyện thật vui . Những lần gửi xe coi bóng đá vẫn tiếp tục , lúc có bạn Phước đi chung , Phước ngại chẳng dám nói gì với tôi , để rồi sau khi về , tối đó , Phước đạp xe lại nhà tôi như là nhớ tôi lắm vậy .

Rồi một tối , Phước bước xuống xe ôm chầm lấy tôi thật chặt , năm đó chúng tôi cùng thi đại học , cả hai đều rớt , tôi thì rớt lần nữa, Phước rớt lần đầu , cũng coi như lần cuối , Phước có thể là phải đi nghĩa vụ quân sự , có thể là sẽ đi học chuyên nghiệp .

OoO

Tôi không gặp Phước từ lần thi đó nữa . Phước đi đâu , cũng chẳng buồn coi đá banh để tới nhà tôi gửi xe . Tôi tiếc Phước lắm, tình bạn tình thân chúng tôi đang phát triển dù chưa biết sẽ tới đâu nhưng chân thành và đằm thắm, những lần nắm tay , ngã nhẹ vào vai Phước , dù Phước chẳng dám trao một nụ hôn dù nhẹ nhàng nhưng tôi nghe trong mình sẳn có một sự đón nhận .

Tôi ước gì tôi gặp lại được Phước, ở đâu cũng được , có gia đình rồi , hay chưa có , tôi đều mong sẽ được nắm lại bàn tay của Phước nói lời cám ơn Phước đã để lại trong tôi một tình cảm thanh khiết, trong sạch . Phước làm cho tôi thấy yêu cuộc sống, yêu con người hơn trong cái xã hội đang biến chuyển nhanh chóng muốn hóa thân thành một cái gì to lớn hơn trong tầm nhìn đang có để mong sánh kịp với các quốc gia khác .

Phước ơi , đúng Phước à, đâu dễ gì mà quên hả Phước .

Ở đâu , cũng bình an Phước nhé .

Vành Khuyên




Mục Lục


4. Chập Chùng Bóng Núi 14 (Chuyện Dài)

Thanh Sơn



Anh lại qua một đêm yên tĩnh xen giữa những giấc ngủ chập chờn. Trời tờ mờ sáng, sương còn bủa giăng dầy đặc. Bầu trời vẫn nhá nhem xám, anh nhỏm dậy khỏi chiếc võng dù, uốn xương lưng cho đỡ mỏi. Cổ anh đắng nghét, anh thèm một đuối thuốc đầu ngày, nhưng anh không châm.

Anh sực nhớ bao thuốc QTV do quân đội phát anh đã lấy ra phân cho đàn em hút hết từ đêm qua. Bọn lính đốt nhả khói um, ùn ùn như đầu máy xe lửa. Anh ngồi lặng nhìn họ, chân đưa chiếc võng xê dịch. Người tà lọt thấy lạ vì xưa nay anh vẫn có tiếng là người hút dữ nhứt ở đồn. Hắn nhìn anh đăm đăm, đoán xem ông thày đang toan tính gì vậy.

Anh tà lọt này vốn là người lính “ ba gai “ dạo trước. Ngày mới lên đồn đã bị anh trị đến nơi. Tưởng rằng hắn ta sẽ “ mách bu “ để chạy về thành phố, nhưng anh ta chọn con đường ở lại. Cũng cả năm rồi, hắn được anh tuyển chọn làm cận vệ cho mình, dù chẳng mấy khi đi đâu xa. Hoặc đi kiểm soát quanh đồn, hoặc bủa quân ra phục kích, hoặc kéo nhau vào buôn khi già làng mời. Anh có người lính cũng thích mà anh ta được đi bên cạnh anh cũng vui.

Từ ngày vào buôn gặp Nia, anh đổi tâm tính rất nhiều. Mấy lần Nia nhìn anh hút thuốc cóp cả má, ngón tay vàng chất nhựa, lại khúng khắng ho, nàng đã dặn dò anh : hút thuốc không tốt. Lần đầu nghe, anh cười trêu cô : thế già làng và dân buôn bản hút thì tốt sao. Anh còn chú thích thêm đến phụ nữ và trẻ nít cũng bặp bặp lá thuốc nặng mùi như cần sa nữa chứ. Nia có vẻ giận, bỏ đi không thèm nói năng gì.

Ðến hôm, dự lễ đâm trâu, anh và bọn lính uống dữ và hút cũng dữ. Anh say vì rượu cần, say vì hơi thuốc, lại say vì ánh mắt Nia đá đá nhìn anh, trên đường kéo nhau về lại đồn, anh ho dữ quá. Nia tiễn chân ra tận đầu buôn, nàng chỉ nói lửng lơ một câu : sắp tới mùa lạnh, hút ho dữ lắm. Vậy mà anh đâm suy nghĩ, số điếu thuốc đốt giảm dần rồi đêm qua thì anh chọn con đường không hút nữa.

Anh không rõ tại vì Nia lo cho anh mà anh quyết loại bỏ thú đam mê của người lính đi chăng, hay là tại chính anh nghĩ đến sức khỏe của mình mà anh xa lánh người tình khói sương đó. Anh nghĩ âu cũng phải, cả đồn này trông vào anh, sức khỏe và sự bền bỉ là tối hệ nhất, nhỡ anh đau nằm một chỗ thì trở ngại vô cùng. Nhất là mùa mưa lại sắp tới với những đe dọa giăng giăng khắp trời rừng núi.

Hai thầy trò đứng ở bậc thềm đồn nhìn bao quát xung quanh. Những con đường mòn dẫn xuống thung, mùa khô là lối đi của dân bản, mùa mưa là đường dẫn nước thoát bò ngoằn ngoèo mất hút dưới phía sâu. Sương mù mịt, mùi hăng ẩm và mặn như muối. Lá rừng ướt đẫm dưới ánh sáng yếu ớt vừa nhú lên. Anh nhìn thật xa, ước tính trong đầu một kế sách đối phó và chờ đợi.

Chợt người tà lọt đánh thức anh : ông thày nhìn kìa. Người ấy trỏ cho anh một bông hồng tươi còn ngậm đầy sương giữa vòng concertina lởm chởm. Cánh hoa như dửng dưng với mùi chiến tranh tử khí vẫn rung rinh khi có ngọn gió thổi lay. Những lá hoa khép nép như đôi môi con gái, màu đỏ trung trinh xen lẫn với màu xanh đậm của cuống hoa như một mời gọi bình minh một ngày mới lên yên ắng.

Không nói, cả hai thầy trò cùng say mê chiêm ngưỡng. Rải rác trên mảnh đất quê hương này đã bao lần chộn nhộn khói súng đạn, bom rơi vậy mà những cánh hoa lạc lõng vẫn nở cho đời còn một chút đẹp. Anh nghĩ giá gì đừng có chiến tranh, mọi vùng đều bình yên mỗi ngày thì vui biết mấy.

Người tà lọt tôn trọng sự trầm ngâm của ông thày nên chỉ đứng im để chia xẻ với anh. Ðột nhiên, anh lẳng lặng nhìn về phía buôn nói thầm trong miệng : cám ơn Nia. Tia nắng nhẹ cố xé màn sương chui tọt ra ngoài, thứ ánh sáng vàng chông chênh như hơi nước sóng sánh trên tàu lá.

Một ngày lại bắt đầu. Con đường quốc lộ vẫn lẩn khuất bò chen nhau giữa cây lá và vô cùng vắng vẻ. Chuyến xe đầu ngày chưa qua, người thượng sĩ đang điểm danh toán mở đường và sắp lo làm nhiệm vụ. Tiếng gà men, bi đông chạm khua lách cách, tiếng giày da lộp cộp trên nền đồn, tiếng í ới đùa chọc nhau giữa những người lính trẻ, tất cả hòa thành một hỗn tạp âm thanh ở buổi sáng vừa lên.

Cuộc sống ở đồn là như thế. Một năm 365 ngày quanh đi quẩn lại chỉ có vậy. Những người lính trải qua những ước vọng triền miên nên lấy sự đùa nghịch nhau làm trò vui qua ngày tháng. Thành phố xa quá để mong một lần về phép, tình cảm khô dần đi vì thương nhớ mỏi mòn. Họ chỉ còn thương yêu nhau để xoa dịu đi nỗi buồn dằng dặc. Họ đều nhận chung một điều nếu không giữ được sự thân mật thì khổn nguy sẽ chụp lên đầu tất cả. Hòn đạn sẽ không phân biệt ai thuộc vào tình huống, hoàn cảnh nào. Chúng sẽ ngọt ngào xuyên qua thịt da để hoặc chấm dứt đi một cuộc sống hay để lại những vết sẹo liên miên suốt cuộc đời còn lại.

Ðâu đâu họ cũng thấy dấu vết bạn bè, đồng đội họ ngã xuống. Nơi góc rừng kia, thằng lính vừa cười vui đã vội thở hắt ra. Nơi dốc núi còn lan man hình ảnh làn khói trắng của quả 81 ly của địch và tiếng rên một người lính bị thương. Có chứng kiến cảnh gào la xin được một viên đạn để khỏi bị đau đớn mới thấy mỗi đầu người ở đồn là vô cùng hiếm quí.

Vậy mà mỗi ngày trên khắp nẻo đường đất nước có bao nhiêu trận giao tranh, phục kích, bắn giết nhau chí chóe không rời. Tuổi trẻ bị phí phạm quá nhiều cho cuộc chiến, dù là ở đâu, chỉ có bọn người rất trẻ bỏ tất cả xuôi tay. Chiến tranh có cái giá của nó và chẳng một ai đoán được bao giờ thì là phút cuối.

Tiếng bước chân của toán lính xa dần. Loáng thoáng qua những lớp kẽm gai, anh nhìn những đứa em của anh khuất dần nơi chỗ ngoặt đoạn gần ra quốc lộ. Tự nhiên anh thấy thèm một hơi thuốc quá đỗi. Người tà lọt như biết ý bẽn lẽn móc bao thuốc ra trịnh trọng mời anh. Anh lắc đầu từ chối vì vừa nhìn thấy khuôn mặt Nia lóe hiện ra. Anh quay bảo tên đàn em : thôi ta vào, nắng sắp nóng lên rồi.

Anh trở lại võng. Người tà lọt ghé ngồi nơi thùng gỗ đựng đạn cạnh đó. Lâu thật lâu nghe có tiếng xe đầu tiên ì ạch bò lên đoạn đường đèo. Anh thở phào : hôm nay đường thông suốt.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Thế Ðứng

Trần Thành Mỹ



- Cô dâu chú rể trình diện kìa, đẹp đôi quá, vỗ tay đi, vỗ tay mạnh lên đi, cả phòng tiệc vui vẻ chào mừng.
Ðám cưới thật rình rang sang trọng, khách khứa ăn mặc đẹp, điểm trang lộng lẫỵ Trong đời người, thường chỉ có một lần đám cưới thôi nên ai cũng cố chuẩn bị chu đáọ Mỗi thời mỗi khác, việc tổ chức cũng tiến theo mức kinh tế gia đình địa phuơng.
- Hai cô cậu nầy học giỏi mà còn nhà nề nếp lắm. Nói tiếng Việt rất sỏi, thành thạo không ngọng nghịu, có dấu đàng hoàng, bà Ba nói vói các quan khách được mời cùng bàn tiệc.
- Ðều là người Việt hết, tất nhiên thôi, đâu có gì là lạ đâu . Bà Tín trả lờị
- Có chứ, bà không nhớ sao, chúng mình cũng đã đi dự đám cưới nhà bà trung tá Tri rồi đó. Con cái xứng đôi vừa lứa thật nhưng cả hai đều không còn nói được tiếng Việt nào hết, chỉ dùng tiếng ngoại rất lưu loát trôi chảy trơn tru như người bản xứ. Nếu nhắm mắt lại không nhìn thấy vóc dáng tóc tai, mình khó phân biệt ai là ai .
- Chuyện đó bây giờ là thường bà chị ơi, một ông khách vui vẻ góp ý, tuổi trẻ ngày nay phải hội nhập mới sống được chứ. Không rành tiếng người, nhất là đã mang quốc tịch rồi, đâu có thể để bạn bè chê cười, mắc cở chết luôn.
- Thật ra tôi cũng đang lo đâỵ Mấy cháu nhà tôi dần dần quên tiếng Việt hết. Tôi có nghe nói, Tú tài ở Pháp còn có môn ngoại ngữ nhiệm ý là Việt ngữ nữa, thích chưa . Ở Mỹ Úc,… phong trào học tiếng Việt càng ngày càng phát triển mạnh. Rất tiếc là ở các nước ít người Việt tị nạn sống rải rác khắp nơi, vốn liếng tiếng Việt chắc dần dần rơi rụng héo hon.
- Các con tôi sang đây khá lớn hết rồi nên tôi ít để ý đến chuyện đó. Vả lại cha mẹ lo kiếm sống hụt hơi nên xao lảng theo dõi việc học các con rất nhiều, kể như giao phó cho nhà trường. Nhiều bà con mình ở Việt nam tưởng sang bên đây là có tiền để ngân hàng, nhà lầu xế xịn, con cái sẽ làm kỷ sư bác sĩ dễ dàng. Không ai nghĩ đến con đường đầy chông gai người tị nạn phải trải qua khó khăn biết dường nào .
- Tuổi trẻ cũng thế, con em chúng ta cũng có những ưu tư lo lắng riêng. Nhưng nói chung, thế hệ thời đại nầy, bản xứ hay không cũng cảm thấy bất an, đôi khi bị đe doạ nữa là khác. Có lần đọc báo thấy bên Bĩ, một thanh niên 24 tuổi đã tự đi mua một khẩu súng đi săn rồi nhả đạn vào một cô Thổ nhỉ kỳ và một cô giữ trẻ da màu đi trên đường. Bị bắt, cậu ta còn tuyên bố dự định giết càng nhiều cáng tốt tất cả người ngoại quốc đến đâỵ Biết thế thôi chứ không thể kết luận là có sự tuột giốc đạo đức tâm linh hoàn toàn được, ông Tín nói .
- Như gia đình bà bạn tôi chẳng hạn ở Âu châu, vì lúc mới sang không chịu nổi khí hậu xứ nầy ngã bệnh rồi sau đó bị chứng trầm cảm nặng không nuôi con được. May nhờ một gia đình người địa phương lo giúp. Lúc đầu chỉ đưa đón nhưng sau đó đem về nhà giữ dùm luôn chờ đến khi nào bạn tôi hết bệnh. Nhưng quái ác làm sao, cơn bệnh của bà ấy kéo dài trên hai năm. Sau đó thấy bạn tôi còn yếu ớt quá lại chưa tìm được vịệc làm, kinh tế gia đình còn èo uột vì một người làm mà sáu miệng ăn nên mấy đứa nhỏ vẫn còn được nuôi hộ.
- Vậy là gia đình anh chị ấy có phúc mấy đời mới gặp được gia đình phúc hậụ Các cháu sẽ có dịp tiến nhanh, đở lọ
- Phải thành thật cảm ơn lòng tốt những người giúp mình. Nhưng lắm lúc là con dao hai lưỡi đó.
- Thế là làm sao ? Trong hoàn cảnh bất khả kháng như vậy có quới nhơn phò trợ mà còn đắn đo suy nghĩ gì nữa ?
- Bao nguyên nhân vô hình thấm vào đầu óc trẻ lúc nào không ngờ được, cha mẹ cũng không để ý, choáng váng bởi lòng tốt của ân nhân, có thái độ dễ dãi tin cậy hoàn toàn không ngại giao phó con mình cho người tốt bụng mà quên mất điều căn bản, họ là người khác giống. Có thể vô tình vì ích kỷ cá nhân, hoàn cảnh thật sự khó khăn của gia đình, vì sĩ diện hão, tự ái mặc cảm, lần lựa việc rảnh tay phó mặc đó trở thành thông lệ không cần lưu tâm để ý. Rồi dần dần có thể biến thành một thứ bệnh ghiền đó chị ?
- Tại sao vậy ?
- Bệnh ỷ lại đó. Vả lại các cháu tiếp xúc với lối sống mới rồi, quen nước quen cái với nếp sang trọng “văn minh” ngôn ngữ khác biệt, chỉ mấy nguyên nhân đó thôi cũng đủ làm cho chúng tách rời âm thầm và khó trở về với nguồn cội tổ tiên. Chị cũng thừa hiểu là phong tục tập quán lễ giáo của chúng ta cũng phức tạp cầu kỳ. Hơn thế nữa tiếng Việt ta không dễ sử dụng đâu . Nhiều phụ huynh chẳng hạn cũng đã có thiện chí dạy con bằng karaoke nhưng cách phát âm đúng và hiểu rõ nghĩa đòi hỏi thời gian và công phụ Bao phiền toái đó cũng làm nản chí phần nào giới trẻ ngày naỵ
- Phần đông ở các xứ nhỏ ít người Việt thì phương tiện duy trì tiếng mẹ cho thế hệ sau bị hạn chế rất nhiềụ Lại còn phải cố học để theo kịp chúng bạn nữa, tiếng mẹ đẻ đã là khó học rồi, tiếng nước ngoài dâu dễ nuốt trôi . - Hơn thế nữa, cha mẹ cũng phải vừa hội nhập vừa cố gắng lo cho gia đình và giúp đở cho thân nhân ở quê nhà nên không từ bỏ việc nhận thêm giờ phụ trội hay công việc khác. Còn điều quan trọng nầy nữa, người Việt ta vốn hiếu học nên chịu tảo tần cực khổ chẳng những nuôi con mà còn khuyến khích con ăn học cho đến nơi đến chốn. Do đó việc học ngoại ngữ cho thấu đáo cũng là một bước tiến nhanh vào việc hội nhập thích nghi và leo dần dần vào tầng lớp xã hội cao hơn mà cha mẹ không có cơ hội thực hiện được.
- Trường hợp đổi đời nầy nhiều lắm, nhất là các nước tự do như là Mỹ, Úc, Canada giàu có rộng lớn nhiều tài nguyên, hệ thống giáo dục tân tiến. Không phải chỉ có con những nhà trí thức, giàu có mới có con khoa bảng mà thôị Sang bên đây rồi, "có chí thì nên" thôị Ở vùng tôi cư ngụ đó, nhiều cha mẹ vượt biên chui sang đây phải lo kiếm sống, vốn liếng chữ đâu bao nhiêu thế mà con cái ngày nay cũng ông nầy bà nọ, kỷ sư tiến sĩ,… đâu thua sút một ai . Ngược lại, không phải không thiếu gì nhiều cậu công tử bên nhà sang đây lăn xả vào vòng hưởng thụ ăn chơi xả láng bất cần đời .
- Hết thời
"Con vua thì lại làm vua,
Con sãi giữ chùa lại quét lá đa"
(Ca dao)
Chị nhìn thử lại thành phần xã hội quanh mình đi . Ðừng tưởng bà con ở tỉnh lẻ là quê mùa, khó bỏ cái vỏ chất phác của mình để khoác lên bộ áo thời đại ngang hàng với người dân ở thành, lầm to đấỵ Ngay cả con cái họ cũng dễ dàng hội nhập và đủ tinh thần tự lập ý chí để vươn lên.
- Còn cha mẹ nữa chị ơi ! Sang bên nầy rồi, lắm người cũng đua đòi "được voi đòi tiên". Sung sướng quá rồi mà cũng không vừa lòng, khá giả rồi mà vẫn muốn giàu mạnh giàu mau .
- Ngày nay bao khoái lạc lại được nâng hạng lên, kỹ lục càng ngày càng caọTứ đổ tường tiến nhanh vùn vụt theo đà tiến triển của văn minh khoa học kỷ thuật, có khi còn quá khích hơn thành club, hội, đảng, băng…
- Thời nào theo thời nấy chứ, những thói tục quan niệm lạc hậu thì gìn giữ để làm gì cho tốn công phí sức, một ông khách khác cùng bàn vui vẻ góp chuyện. Mà ở đâu cũng thế, việc gì cũng vừa vừa phải phải thôi, lạm phát có ngày ngồi tù. - Ông thấy không, cờ bạc chẳng hạn từ lâu đã được cổ vũ phát triển mạnh rồi như trước kia thời Bảy Viễn ta có Ðại thế giới ở Chợ lớn bày những cuộc đỏ đen công khaị “ Tài xỉu” chẳng hạn làm cháy túi bao con bạc, có người đã nhảy lầu tự tử vì nợ nần không trả được. Ngày nay văn minh hơn thì có casino, nổi tiếng nhất là ở Monaco hay Las Vegas ở Mỹ. Những chốn ăn chơi như vậy luôn được quảng cáo rầm rộ, dùng mọi mánh khoé phương tiện lôi cuốn “dụ khị” du khách khắp nơi .
- “ Vô tửu bất thành lễ”, “Nam vô tửu như kỳ vô phong” cũng thường là câu nói gối đầu giường của mọi thành phần các ông từ sang trọng đến những tên ghiền bợm rượụ Phong cách thưởng thức , kỷ thuật chế tạo cao đưa rượu lên hàng đầu trong ẩm thực giao tiếp ngày naỵ Biết uống rượu cũng là một cách biết sống .
“Ăn uống miễn theo nơi phép tắc,
Tới lui cho biết lẽ kinh quyền »
( Nguyễn bĩnh Khiêm)
- Còn việc hút xách nữả Hút thuốc, thuốc rê, thuốc lào, thuốc vấn,… không phải là điều cấm kỵ. Có thời kỳ phong trào hút thuốc được xem như dành riêng cho giới phong lưu lịch sự, sành điệu .
Hút á phiện mới đáng sợ hơn, ngồi bên bàn đèn bên ả Phù dung, “nàng tiên nâu” riết rồi thành thân tàn ma dại, bao người ghiền tán gia bại sản thân bại danh liệt mà ghiền rồi đâu dễ chửa dễ chừạ Hậu quả của hút thuốc cũng đang được thế giới nghiên cứu cấm đoán, tùy tình hình mỗi nước có biện pháp mạnh gắt gao đối với giới tiêu thụ. Cay thuốc cũng đã là khó rồi, bây giờ cay nghiện còn khó bội phần.
- Thật đáng thương cho giới trẻ ghiền ma túy ngày naỵ Ảnh hưởng tệ hại của xã hội biến chúng trở thành du đảng lưu manh cướp bóc, không phải tệ nạn nầy chỉ xảy ra ở những nước nghèo đói kém văn minh mà ngược lại đầy dẫy trong các nước giàu có mở mang. Bằng chứng ngay cả cầu thủ bóng tròn, cua rơ xe đạp ở Tour de France, lực sĩ điền kinh,… có người đã chết vì quá liều thuốc kích thích tăng cường sinh thể lực hoặc bị mất huy chương vàng hoàn trả chiếc cúp vô địch. - Văn minh càng cao, cường độ giải trí hưởng thụ cũng leo thang theo, thường là nhanh gấp bộị Khách hàng là vua, ngành quảng cáo đặc biệt sử dụng mọi tuyệt chiêu để phục vụ. Sự cạnh tranh một mất một còn trên thị trường thế giới ngày nay làm nghiêng lệch cán cân quân bình của nền kinh tế hoàn vũ và độ đo đạo đức. Vậy chẳng những “cái học ngày xưa đã hỏng rồi “ mà cái học ngày nay cũng lung lay luôn. Còn con em chúng ta thì saỏ Làm thế nào để ngăn chận ba cái lăng nhăng đó?
- Thật ra thế hệ trước đã có một dĩ vãng văn minh văn hóa Việt còn con cháu ta đâu có được tắm trong nền giáo dục quê hương. Ngay cả tiếng mẹ cũng chưa thông, bập bẹ nhát gừng nói ngang ngang không bỏ dấụ Nền tự do ở các nước mở mang đâu cho cha mẹ toàn quyền đối với con cái, vả lại chúng ta cũng không còn đủ khả năng kiến thức tâm tình để bắt con làm theo ý muốn mình được nữạ Hy vọng là thế hệ sau nầy vẫn còn giữ được giống dòng tên tuổi Việt nam, ý thức dần dần cội nguồn lưu truyền tiếng mẹ.
- Khó thật chứ không phải chơi đâụ Mà bây giờ chơi cũng không dễ huống hồ là học. Người lớn già như chúng ta đây mà lắm lúc chẳng đặng đừng còn bị lôi cuốn nầy nọ. Bao gia đình tan nát vì casino, “khúc ruột ngàn dậm” bị sạch túi đứt ruột vì mê thưởng thức “ chùm khế ngọt”,…Con người mà, vận may cũng thường làm người ta quên đi những điều đáng phải nhớ dù biết rằng “ phước bất trùng lai, họa vô đơn chí ”. Còn bà, bà nghĩ gì mà ngồi cười cười xem bộ đắc chí vậy ?
- Mình tức cười là chúng mình hay lo” chuyện con bò trắng răng” quá. Có rối cũng chẳng đổi được gì thế mà ngồi đứng không yên thấp thỏm cằn nhằn. Sấp nhỏ đi học từ sáng đến chiều, ăn cơm trưa tại trường, về nhà là tắm rửa ăn uống, học bài xem tivi nghe nhạc giải trí. Quá đầy đủ, no cái bụng rồi thì coi chừng bung cái nọ thôị Nhưng mà đâu rồi cũng quen đó. Chúng tôi thì chỉ biết cố gắng lo nuôi, nhắc chừng các con khi thấy thái độ có gì bất thường. Nhiều khi nghe chúng trả lời bằng tiếng Việt pha thêm bao tiếng ngoại, mình lại thấy thương các con và thấy mình có lỗi làm sao .
- Trước kia tôi thích thấy con mình hội nhập nhanh, nói tiếng người rôm rốp, hả lòng hả dạ biết bao . Dần dà mới thấy đó là cái đà phóng nhanh vào nền văn hóa mới để vĩnh viễn xa rời tiếng mẹ. Các con sẽ ngượng ngùng sau nầy khi phát âm tiếng Việt, vấn đề cũng gay go nan giải . Ở các nước ít cộng đồng Việt, việc quên tiếng mẹ xảy ra dễ dàng hơn.
- Có người lý luận rằng lớn lên học lại mấy hồi . Không đúng đâu, mỗi ngôn ngữ đều có đặc tính riêng, không phải tự nhiên không học và hành mà thông suốt được. Ngay cả chữ Nho, Nôm nước ta từ trước đến nay vẫn được sử dụng nhuần nhuyễn hằng ngày mà lắm khi cũng bức óc nhức tai hiểu không hết. Truyện Kiều của Nguyễn Du là bằng chứng rõ rệt. Ngâm, ru, bình, bói Kiều đã ăn sâu vào đầu óc dân ta như là một quyển sách “gối đầu giường” cho mọi tầng lớp nhân dân nhất là miền Bắc. Ðối với thế hệ trẻ, thật không dễ gì nuốt trôi, “thẩm thấu” nhanh điển tích xưạ Chẳng hạn để nói về sắc đẹp của hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân:
“Ðầu lòng hai ả Tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,… »
- Tiếng Việt ta lại thâm thúy, văn chương có khi bác học quá, tưởng dễ học mà không dễ đọc đối với người nước ngoài, tưởng dễ hiểu mà phải để ý từng chữ từng câu, nói chung không thua tiếng nào trên thế giới hết. Hơn thế nữa còn cầu kỳ hoa mỹ hơn qua phép xưng hô quá tế nhị chi ly độc nhất vô nhị nầy thước đo trình độ văn hóa văn minh trong cuộc giao tiếp hằng ngàỵ
- Ðó cũng là một vấn đề khó áp dụng cho giới trẻ ở ngoài nước và cũng để tiện dụng họ thường thay thế » cách xưng hô lòng vòng rắc rối trong tiếng mẹ bằng « I, me, you », « moi toi vous lui elle ».Và để diễn tả nhanh gọn thường nghĩ bằng tiếng ngoại rồi dịch sang tiếng Việt, những từ nào không dịch được thì thay vào tiếng mình đang sử dụng, do đó câu văn « nửa nạc nửa mỡ » rất phổ biến thông dụng cho thế hệ xa quê .
- Nguyên nhân, lý do, tại sao hầu
như mọi gia đình Việt tha hương đều thấm hiểu ít nhiều và phương cách giải quyết cũng không thiếu nhưng việc áp dụng đòi hỏi bao công sức kiên trì tri thức thông cảm khoan dung. Ðiều kiện về kiến thức, thì giờ, sức khoẻ, sinh hoạt, gia đình cần tiên quyết trong việc đầu tư quan trọng nầỵ
Vì thế, vai trò phụ huynh vẫn là chỉ đạo, chủ động không thể xao lãng xem thường. Cha mẹ một phần vì mảnh áo miếng cơm lúc đầu, phần khác tùy hoàn cảnh hiện tại nên thường phó mặc cho xã hội mà họ cho rằng văn minh tiến bộ tự động là môi trường đào tạo hữu hiệu con em ta tiến nhanh thành đạt.
- Sang bên đây rồi, bỏ lại sau lưng tất cả, chúng ta như cây to bị bứng gốc tùy vận rủi may đem đi trồng xứ khác, cây nhiệt đới sang vùng ôn đới với bốn mùa rõ rệt xuân hạ thu đông. Dân ta da mỏng mịn màng nâu vàng như bánh mì dòn khuớu nướng đúng độ không bị cháy xém hay khét đen thủi đen thui như giống da màu hay trắng bệch như bánh mì nướng tạm lần đầu đến khi ăn phải cần nướng lại mới ngon như người da trắng. Dân chưa bao giờ nhìn thấy tuyết băng nên cảm nhận ngay cái lạnh buốt như đồng đâm da xẻ thịt của mùa Ðông như lòng vô nhân của những kẻ máu lươn máu lạnh không có tình người . Còn đối với con em, chúng ta phải có trách nhiệm về chúng, vì chúng cũng đang bị sức ép nặng nề của cuộc đổi đời .
- Bên nhà ai cũng chỉ nhìn thấy cái chớp nhoáng bên ngoài mà khó hình dung được thực tế của người trong cuộc. Thật ra mọi việc trên đời đều có hai mặt giữ thế quân bình như cán cân Tạo hóa .
May mắn cho chúng ta được tiếp cận ngay với nếp sống văn minh tiến bộ nơi các nước định cư làm nền bàn đạp giàn phóng cho chúng ta tìm chỗ tựa nương vươn lên. Hãy nghĩ đến bao thảm cảnh xảy ra quanh ta, những người còn lại nghèo khó ở quê nhà mà sống tương thân tương trợ, đoàn kết đấu tranh vì tự do, công bằng, lòng nhân. Ðã từng đối diện với bao hiểm nguy, thử thách, tủi hờn, có khi vờn cả với cái chết, vậy thì hãy cố gắng làm gì xứng đáng cho đoạn đời sau bằng khả năng tâm huyết của mình, tìm thế đứng cho mình và thế hệ tương lai .
- Kinh nghiệm đã qua là những bài học thực tế giúp ta có tầm nhìn phóng khoáng sâu rộng chín chắn hơn, với lòng kiên trì quyết tâm điều nghiên, ít nhất cũng là điều kiện tốt cho việc phát triển bản thân và gia đình thế hệ trẻ sau nầỵ
- Ðối với con cái không thể nhất tề đặt nặng tập tục « cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy » lệ tam tòng ngày xưa, nên dung hoà cái cũ mới để hội nhập dễ dàng hơn. Nói thế không phải khoán trắng cho con em ta làm gì mặc chúng, cái khó là phụ huynh nên quên bớt « cái ta » to lớn, chịu khó kềm hãm lòng tự ái ích kỷ, đau buồn hầu tìm hiểu hướng dẫn đôn đốc khuyên bảo khuyến khích con em.
Ðừng làm « lính kín » thám tử điệp viên theo dõi con sát nút, càng không nên đóng vai trò công an thổi còi lợi dụng « tu huýt » thị oai phạt con. Cố đặt mình vào tư thế của trẻ và luôn tâm niệm rằng thế hệ đi trước phải là chiếc đèn lồng rọi bước trong đêm cho thế hệ mai saụ Hành động của cha ông là phân bón cho viễn ảnh tương lai con cháu .

Vẫn biết trên đời nầy, sống là tranh đấu luôn, vậy thì có gì phải bận tâm suy nghĩ thắc mắc lo âu những chuyện mù tịt mình không biết nổi, cứ theo gương ông bà ta xưa truyền lại, bỏ cái lạc hậu, điều không thích hợp, khiêm tốn quyết tâm kiên trì học, hành, sửa sai, siêng năng trung thực biết người biết ta hầu tìm được một thế đứng đúng vị trí góp phần vào việc tạo xã hội tốt đẹp hơn, thế giới bình đẳng hợp lý có tình người . Hy vọng !

Trần Thành Mỹ




Mục Lục


6. Lai Rai Ba Sợi Buồn Tình Nản Ghê

Huân Long



Ông già Khản có tật uống là phải uống cho đã. Nhậu khan, nhậu có mồi, nhậu mình ên hay nhậu với bạn, những lúc đó đừng có ai xía vô chọc ghẹo mà mang họa. Khi ngồi vô bàn rồi, cầm cái hũ chìm, ổng tưởng mình đã cầm ấn soái trong tay. Ổng hét rân vợ con chạy có cờ, hối mua thêm nước, hối lấy món cay, giọng nhão nhợt, mặt đỏ lòm như gà chọi.

Ðố ai mà dám trái lệnh ổng, một hai phải làm theo lời ổng ngay. Muốn kêu nài, khiếu nại gì chờ ổng tỉnh hãy hay. Xớ rớ lần chần, là ổng rượt có cờ. Lâu ngày chày tháng, bà vợ biết tánh ổng nên nín nhịn cho qua, cương với ba tên say chẳng khác ngồi nói với đầu gối. Lũ nhóc nhà ổng còn đặc biệt hơn nữa, thấy mẹ muốn sửng cồ, tụi nó áp vô can : thôi mà má, tía còn thú vui gì khác nữa đâu mà má cằn nhằn hoài.

Bà già lại nạt ngang : chả đã ngang như cua, bây lại còn bắc thang cho chả leo nữa. Rồi bà bặm trợn : tao hết tiền rồi, uống nữa biểu chả móc túi ra mua. Bọn nhỏ lẳng lặng rút đi, một lát dìa xách be khác, đầy ắp, mới tinh. Chúng có tài ba gì đâu chớ, chẳng qua chạy ra chú Xồi năn nỉ mua cho tía chúng vui.

Chú Xồi là ông già tàu sang đây lúc đầu đi mua ve chai. Ngày ngày gánh hai giỏ đi cùng làng khắp xóm, cất giọng ê a : de chai pán hôn. Nghe đồn, một lần ổng mua trúng cái bình phích rẻ rề, ai dè bên trong vỏ có dấu vàng lá. Chú bỏ nghề ve chai, mở quán chạp phô cái rột, ai hỏi chú nói “ pà con pên tào cho ngộ tìn “. Chẳng ai hơi đâu dò la xem chiện này thiệt giả tới đâu.

Chú mở cái quán xập xệ bán đủ thứ, từ củ hành, mớ rau, dầu lửa, nước mắm, thậm chí đến nhựt trình cũ, bánh bẻng, xi rô, nước đá. Người trong xóm, ai mua thiếu mua chịu, chú bán hết. Ðược cái bà con kẹt thì thiếu, chừng kiếm được chút nào là trả bớt, chớ ít ai chịu quịt luôn. Chú có bà vợ mập thu lu, bà con gặp khen “ nị, hủ leng “ thiếm mừng lắm, cười rỏn rẻng.

Ðứa con gái chú cũng vào hạng có sắc, người nào ưa thì lăng xăng trêu ghẹo, người nào không có ý tình thì giỡn chơi “ ngộ ái nị, tắc hầm tắc “ bị con nhỏ liếc cái nào cái nấy thiếu điều muốn lọt mương. Khách vô mua hàng, nghe gia đình chú nói chuyện với nhau cứ ngỡ là đám cãi nhau, có người hỏi, chú hề hề cười “ người tào tui dị, hổn phải oánh lộn đâu “.

Cái xóm khi không lọt một nhà người Tàu vô líu la líu lô nghe cũng vui. Thét rồi coi nhau như cùng một gốc. Ðối với gia đình ông già Khản, chú Xồi có nương nhẹ hơn. Biết ổng hay nát rươu, bà vợ cằn nhằn, nên bọn nhỏ ra mua chú bán liền, chỉ qua bữa sau là bà già hết giận chính bả lại tới hỏi : bữa hôm xấp nhỏ mua thiếu nhiêu, tui trả.

Ông già nhậu quắc cần câu mà còn nói mẽ : tao nhậu cho đỡ buồn, rồi mai mốt bây coi. Chả biết bây coi là cái thứ gì, nhưng năm này tháng nọ ổng vẫn tàng tàng như vậy, hổng tấn hổng thối gì hết. Ổng ngồi nhậu một mình thì thôi, còn hễ thoáng thấy ai đi ngang là hét : vô làm một ly rồi đi tụi. Có lần ổng líu lưỡi nói ngược trật lất, “ làm một ly “ thì ổng biểu là “ lì một lam “. Thây kệ ổng, dân chòm xóm ai cũng hiểu hết. Có điều ai ưng đến với ông và tham gia vô bàn tiệc với ổng hay chăng, mới là điều đáng nói..

Khứa Tiên ở liền sau nhà ổng. Tội nghiệp khứa trẻ người non dạ nên sợ ông bằng chết. Hễ bị ổng sên là bắt uống tới bò lê bò càng. Uống đến xoay mòng mòng, cái đầu cà ngúc cà ngắc mà ổng hổng tha. Một hai ổng dọa đòi úp ly ăn vạ. Trò đời mấy cha tự nhận “ là con Ngọc Hoàng “ rất kỵ chiện úp ly. Vì úp cái ly xuống là coi như dứt tình dứt nghĩa, dứt nợ dứt nần. Nữa sau nhà ai có cháy, vợ ai có bịnh, con ai có nguy, cũng kệ muốn xử ra sao thì làm. Ổng hổng khi nào còn bước tới hỏi thăm hay đỡ đần nữa.

Phương chi khứa Tiên lại ngấp nghé cô Xỏn, con gái ổng. Ðiều này chính ổng khơi mào với khứa do một lần chộp được bắt nhậu. Ổng nói đứa nào muốn làm rể tao phải uống cỡ cha vợ, tao mới nghe. Còn không (ổng xua tay rào rào) đi chơi chỗ khác. Khứa Tiên lúng túng, trai nào muốn vợ mà chẳng phải o bế ông già tía. Huống chi cô Xỏn cũng đã ỏn ẻn thưa với anh : tía em say nói ồm oàm vậy thôi, chớ ổng tận tình tận nghĩa lắm. Ðây rồi anh dìa ở rể mới thấy ổng lo lắng hết mình.

Có lần khứa Tiên sang chơi, ông già bận đi đám, bà già gom lời vô : nè mày đừng mau mắn xề vô ổng mà hư thân mất nết đó nghe. Ổng quá đát rồi, buồn thỉu buồn thiu vì tình đời, thế sự nên làm nư mượn ba sợi cho quên. Mày con trẻ, đừng bắt chước mà mang đọa. Tao lỡ rồi, ở với ổng chừng này mặt con, sắp rủ nhau xuống lỗ hết trơn , hổng lẽ bỏ nhau cái rụp mà đi. Chớ nhiều lúc tao chịu đời hết thấu. Chẳng qua tại tao nợ chả nhiều đời nhiều kiếp, trả hoài hổng hết, bây ơi. Chả nắm áo tao trèo trẹo, hồi tao đau nằm một chỗ mong chết phứt cho rồi, chả cứ bò vô năn nỉ : tui hối hận rồi, bà đừng bỏ tui nhen. Tao bắt ổng hứa đừng lai rai ba sợi nữa, ổng sợ tao chết, ổng gật ào ào. Chừng tao mạnh mạnh, chả quên trớt. Thì bởi số tao nợ chả mà.

Cô Xỏn nghe má kể tội tía cản ngăn : chèn ơi, má sao kỳ. Anh Tiên qua chơi mà má đi khai hết tật xấu của tía. Ảnh sợ rồi hổng dám xin cưới con sao má. Cổ nói gọn bâng, như người ta ăn cơm rồi chiêu ngụm nước. Khứa Tiên không có ý đồ đó, cổ biết chắc vậy, nên nói cho vui miệng làm quà.

Có kỳ ông già Khản nhậu điếc điếc rồi, chợt nhớ tới anh con rể tương lai, kêu xổng cô Xỏn đi kiếm bắt khứa về. Con gái cũng ba chưn bốn cẳng dọt, nhưng tìm được Tiên rồi thì xúi anh đi biệt vô rừng đi, chờ tối hãy dìa. Bữa đó, khứa đi mỏi cẳng, buồn tay buồn tình hổng biết để đâu, trời tối mò lết bết về, phải đi vòng lối sau để ông già vợ khỏi thấy.

Cô Xỏn cũng nhóng chờ nên gặp anh ra dấu là ổng say ngủ rồi và nhỏn nhoẻn cười làm duyên với anh. Khứa đi cái rột vô nhà mà còn len lén liếc cô Xỏn lâu lâu một chút. Bất ngờ khứa sụp cái hố, loạng choạng muốn té, cô Xỏn cười rũ rượi, mặt khứa đỏ bừng vì thẹn.

Hồi trước, ông già Khản đâu có bết bát vậy. Chẳng qua, làng buộc ổng ra nhận chức xã trưởng, ổng từ chối hoài hổng được, nên đi đâu cũng xách củ triện theo. Bạ đâu ổng cũng sẵn sàng ghi lời phê và đóng dấu cái cụp, không hạnh nẹ, hay làm khó làm dễ ai bao giờ. Dân thường khen ổng chịu chơi. Ðến thời đổi thay, người ta bắt ổng đi cải tạo, vô trại người ta bắt làm tờ khai lý lịch. Ổng làm tới làm lui mà vẫn bị chê chưa đạt yêu cầu, người ta đòi ông phải khai lý do vì sao nhận làm Xã. Ổng nói hết ý mà họ hổng tin, bất nhân là có cái thằng hồi xưa xin ông chứng nhận là nó đậu bằng gì đó, ổng đòi xem bản chánh, nó hổng có, ổng không ký, thời thế chuyển dời nó tố ông lung tung.

Ông ở tù lâu bằng chết. Ðược thả ra, ông ngơ ngơ ngáo ngáo. Ở tù ổng bị người ta hành, về nhà ông hành vợ con trả thù. Sanh tật lai rai ba sợi từ đó. Tay khu vực lâu lâu tạt ngang hỏi sương sương : nghe nói chú Ba dìa o ép thím quá xá, coi chừng người ta kiểm điểm đưa vô trại lại nghen chú. Ông nghe lỏn tỏn cười ruồi, nói năm điều ba chuyện cho tay “ cá “ bỏ đi. Sau đó ông hăm he vợ con : đứa nào bép xép tâng công tao đập bể mỏ.

Ổng mượn ba sợi để lắng nỗi buồn, thét rồi trở thành người điếc hết sợ súng. Các tay khu vực đổi thay nhau thét cũng lơ là cho qua, mục đích họ còn lo ba chuyện kiếm ăn trọng đại hơn, hơi đâu chấp nê ông già say vì thời cuộc.

Hồi có tin được chấp thuận cho ra đi, ông già Khản nôn lắm. Bàn bạc với vợ thì bà kêu lấy tiền đâu lo lót mà tính chuyện trên trời. Ông càng thất chí dữ hơn, càng đắm chìm vào cái be cho quên, quên hết. Lần lần thời buổi cũng dễ dãi và nhạt đi, các giới chức đổ xô vào những nơi có tiền để hoạch họe, chớ còn gia đình ông còn gì đâu mà họ để mắt tới.

Ông già Khản không làm vương làm tướng ngoài xã hội thì về làm láo ở gia đình. Ông nẹt vợ, nẹt con, thậm chí khứa Tiên chưa là rể mà ổng cũng nạt ngang để lấy uy. Cô Xỏn có khuyên can thì ổng la rầm lên : chưa chi mày đã binh chằm chằm nó, ờ phải mà, chồng mới lo chớ cần lo gì tới tao. Cô Xỏn một hai thưa : tía à, tía say rồi. Ông già Khản càng la lớn hơn : ờ tao say còn biết gì, chỉ có thằng Tiên là tỉnh, hèn gì mày coi nó trọng hơn tao mà.

Cô Xỏn lắc đầu quầy quậy, chịu thua nước buộc tội của tía. Cô lảng lảng bỏ đi, ông già Khản mất đối tượng cũng rỏn rẻn êm cho rồi. Ông loạng quạng định lết ra quán chú Xồi, nhưng chưn ông bết bát quá, đi không vững nên cà ịch cà đụi chun tuốt vô đánh một giấc cho xong. Bà vợ thấy ông xìa xìa cũng tránh né để ổng khỏi câu mâu với bà nữa.

Chỉ một loáng nghe ông ngáy như sấm. Hơi thở ông phì phì như bễ lò rèn. Ông ngủ mê mà miệng vẫn rền rền : tao hổng say, tao hổng say. Bấy giờ, bà vợ và sắp nhỏ mới bắt đầu đi dọn dẹp chén, chai của ông. Trăm lần như một, không hề kêu ca, cằn nhằn. Cô Xỏn rắp tâm binh vực tía nên nói nịnh má : con thấy chưa ai có phước như tía. Ổng nhậu tới bến mà má hổng rên, trái lại còn lo cho tía hết mực.

Bà má nghe con gái khen cũng hãnh diện, nhưng còn làm ra vẻ e lệ : chớ hổng lo, ổng có chịu để yên cho má con mình đâu. Chả thua thịệt ngoài đời nên thua me gỡ bài cào với má con mình. Và để lấp liếm cho qua, bà hối mấy nhỏ : tụi bay lo làm tới đi, còn đi nghỉ một chút. Chiều chả dậy lại hét dọn bàn cho chả bây giờ.

Gia đình ông già Khản như vậy đó. Ông nhậu như trâu uống nước, say lặc lè mà vắng rượu là nhớ. Nhậu rồi cũng bày đặt xổ thơ, ông cất giọng ngâm nhừa nhựa : sự đời một cục rối tinh, lai rai ba sợi buồn tình nản ghê. Nặn mãi mới được một câu có vần có nhịp, ông tỏ vẻ hài lòng. Ði đâu, hay nhậu với ai ông cũng đem ra khoe. Riết rồi ai cũng thuộc, ổng vừa cất lên gần hết câu thì cả bọn nhập vô đồng thanh như hát điệp khúc cuối buồn tình nản ghê, tiếng người cao kẻ thấp, ồ ề, chộn rộn hết nói. Vậy mà vui.

Huân Long




Mục Lục


7. Mẹ Tôi và bí ẩn tâm linh

Kim Phương Oanh



- Mỗi độ Thu về nhìn lá vàng rơi giăng phủ kín lối đi, với những cơn gió thổi nhè nhẹ, hơi se lạnh làm tôi cảm thấy buồn man mác và nhớ mẹ tôi vô cùng. Mẹ tôi mất cũng vào mùa Thu, cách đây đã mười tám năm rồi, nhưng đối với tôi mẹ vẫn luôn hiện hữu và tưởng chừng như chuyện mới xảy ra mà thôi. Không riêng gì tôi có cảm giác này, mà các anh chị tôi cũng vẫn thường nhắc nhở đến mẹ với tất cả tình cảm trân quý. Có dịp gặp nhau, anh chị em tôi luôn nhắc đến kỷ niệm về Bố Mẹ, cuối cùng cũng xoay quanh về Mẹ với những điều khó tin về tâm linh, nhưng lại là sự thật đã xảy đến với gia đình chúng tôi....

Khi còn nhỏ tôi thường được mẹ cho đi theo tới nhà họ hàng vào dịp lễ, tết. Ðến nhà các bác tôi, trong lúc mẹ tôi và các bác trò truyện, nhiều lần tôi nghe các bác nói với mẹ tôi: “Bà chết đi sống lại hoá ra thọ hơn ông nhà bà.” Có lúc tôi nghe bác nói: “Lúc bà chết, ông ấy khóc quá và làm thơ khóc bà nữa!” .... Vì còn nhỏ nên tôi không chú ý mấy đến câu chuyện của các cụ nói với nhau. Khi khôn lớn, mỗi lần nghe các bác tôi nhắc lại những lời nói trên, tôi thắc mắc hỏi lý do nào mà nói mẹ tôi chết đi sống lại, bác tôi bèn kể cho nghe câu chuyện về mẹ tôi.

Tôi sinh ra được tám tháng thì mẹ tôi bị bệnh. Sau mấy tuần lễ ốm nằm liệt giường, một buổi sáng mẹ tôi dậy rất tỉnh táo, khoẻ mạnh, đòi ăn uống và tắm rửa thay giường chiếu sạch sẽ, rồi mẹ tôi dặn dò mọi chuyện trong gia đình. Xong xuôi mẹ tôi cho biết trưa ngày hôm sau người sẽ ra đi. Tưởng rằng cơn bệnh đã khiến mẹ tôi mê sảng nói thế, nào ngờ trưa hôm đó mẹ tôi mặc áo quần chỉnh tề và nằm ngay ngắn trên giường rồi ra đi thật. Cả nhả lo buồn và chuẩn bị tang lễ cho mẹ tôi. Bố tôi cắt đặt mọi việc nhà, chuẩn bị ngày hôm sau sẽ tẩm liệm. Ông nhờ một người bà con ngồi túc trực bên giường để canh xác trong lúc họ hàng tới đông đủ phụ lo cỗ bàn, dựng rạp. Trong lúc ngồi bàn chuyện với khách đến thăm, bố tôi đã làm bài thơ khóc mẹ tôi. Anh chị tôi lúc đó còn nhỏ nên chỉ nhớ được mấy câu, cho tới bây giờ mỗi lần có dịp gặp nhau, tôi vẫn được anh cả đọc cho nghe:

“....Con thơ dậy dỗ bế bồng,
Em về chín suối đau lòng chăng em?”
.....................................................
“Nhớ em trăm thảm nghìn sầu,
Nhớ em đến lúc bạc đầu chưa quên.”

Theo lời kể của bác tôi, đêm hôm trước ngày tẩm liệm mẹ tôi, người anh bà con ngồi canh bên giường. Anh uống rượu say, vào quan tài của mẹ tôi nằm khóc và nói: “Bà ơi! Bà hãy sống dậy đi để lo cho các cô, các cậu còn nhỏ, để con chết thay cho Bà”. Mọi người lôi anh ta ra và trách anh say rượu rồi nói càn!!! Ðến gần sáng, mọi việc đã chuẩn bị xong xuôi, chờ tới giờ thầy cúng làm nghi lễ tẩm liệm. Ngay giờ bắt đầu làm lễ, mọi người ở dưới nhà ngang, nơi để giường mẹ tôi nằm (mẹ tôi mất ở quê), nghe như có tiếng rên khe khẽ. Hốt hoảng vì tưởng con mèo nhảy qua người mẹ tôi nên mới có chuyện này, mọi người vội báo cho bố tôi biết. Cụ bèn đến nơi và sờ người mẹ tôi, thật lạ vì mẹ tôi mất đã cách đêm mà người Bà còn hơi ấm và mềm mại. Lát sau bố tôi xem lại thì thấy cảm giác này tăng dần, ông bèn cho mời ông thầy thuốc đến bắt mạch, đổ sâm cho uống. Bố tôi cho rằng mẹ tôi đã sống lại. Ông không tin theo lời dị đoan nói rằng vì có con mèo nhảy qua người mẹ tôi nên mới có hiện tượng lạ này. Sau khi đổ sâm cho uống, vài giờ sau mẹ tôi tỉnh lại, tuy còn rất yếu nhưng nói được vài câu. Mọi người trong gia đình lúc đó đều nói:thật là điều bí ẩn.không thể giải thích được.

Sau khi mẹ tôi sống lại, bố tôi đem trả lại nhà hàng áo quan đã mua để lo cho mẹ tôi. Vài tháng sau, người bà con đã khóc đòi chết thế cho mẹ tôi đột ngột qua đời. Khi mua áo quan lo cho anh, gia đình lại mua đúng cái mà anh đã từng nằm vào. Thật là sự mầu nhiệm, trùng hợp lạ lùng. Sau khi đã bình phục hoàn toàn, mẹ tôi kể lại cho bố tôi và bà con nghe những những sự việc bà đã nhìn và nghe thấy trong lúc hồn xuất dương:

“Mẹ tôi được bà nội tôi dắt tay đến các cửa quan ở địa ngục (bà nội tôi mất đả lâu rồi). Hai bà đi qua nhiều nơi lắm, thấy có những nơi người bị giam cầm tra tấn, giống như những cảnh bà đã thấy trong những bức tranh treo trong chùa. Bà nội tôi không cho mẹ tôi đứng lại xem, lôi đi và dặn mẹ tôi đừng lên tiếng. Bà nội và mẹ tôi đi qua tất cả chín cửa quan, nơi nào bà nội tôi cũng qùy lạy, khóc xin tha cho mẹ tôi sống thêm ít lâu nữa để lo cho con cái khôn lớn... Ðến nơi thứ chín, có ba vị quan lớn râu dài, mặt đỏ, ngồi trên tòa sen cao, dưới đất trải chiếu hoa, chén đĩa đựng trái cây, trầu cau, ly đựng nước đều bằng bạc cả. Bà nội tôi cũng qùy lạy xin tha cho mẹ tôi được sống thêm lo cho con cái khôn lớn, bà nội tôi cứ qùy và khóc mãi, không chịu đứng dậy... Hai người qùy một hồi lâu thì vị quan ngồi giữa nói với bà nội tôi là ông tạm tha cho mẹ tôi về nuôi con. Quá mừng, bà nội đã dắt mẹ tôi chạy ra xe ngựa để trở về nhà. Về tới cổng nhà, mẹ tôi nói với bà cho mẹ xuống xe để đi tiểụ” Chúng tôi đoán rằng có lẽ lúc mẹ tôi nói với bà tôi là lúc ở nhà nghe được tiếng rên khe khẽ của mẹ tôi phát ra.

Chuyện mẹ tôi chết đi, sống lại, tuy mới nghe có vẻ khó tin nhưng tất cả đều là sự thật. Sau khi mẹ tôi bình phục hoàn toàn và trở lại đời sống bình thường, có nhiều chuyện lạ xảy đến với gia đình tôi nữa. Chính mẹ tôi đã kể lại cho chị em chúng tôi nghe:

....Bố tôi làm việc ở Nam Ðịnh, thỉnh thoảng mới về quê chơi ít ngày rồi lại đi. Riêng mẹ tôi thường về quê và sống nhiều ngày hơn, bao giờ bà cũng đưa chị em tôi cùng về. Hè năm đó nóng hơn mọi năm. Một hôm trời oi bức, nóng nực, mẹ tôi dắt hai chị tôi, lúc ấy còn rất nhỏ, ra cổng nhà đứng hóng mát. Sáng hôm sau ngủ dậy mắt trái của người chị thứ hai sưng vù, con ngươi đỏ ngầu, đau nhức nên chị khóc la dữ lắm. Chờ sáng hẳn, mẹ tôi nhờ người giúp việc chèo đò đưa bà và chị tôi qua sông lên Nam Ðịnh gặp một vị bác sỹ bạn với bố tôi,nhờ ông khám xem chị tôi ra sao và xin thuốc chữa trị. Sau vài lần điều trị, mắt của chị tôi đã không khỏi, mà còn tệ hại hơn nữa, bác sỹ cho biết không chữa lành được. Quá tuyệt vọng, mẹ tôi quay ra chữa thuốc nam cho chị. Trên đường đi hốt thuốc bà gặp một người quen mách cho biết là ở làng bên cạnh có một người lên đồng bóng, cho thuốc chữa khỏi rất nhiều người. Mẹ tôi nghĩ “còn nước, còn tát” nên đã đến nhà người này để xin thuốc chữa con mắt cho chị tôi. Ðến nơi gặp ông Hưu, người lên đồng, mẹ tôi trình bày lý do và xin được giúp đỡ. Ông bày lễ vật và cúng bái xong, một lát thấy người ông cứ lắc qua, lắc lại, rồi ôm mặt khóc hu hu. Khóc một hồi thì ông quay qua mẹ tôi nói rằng: “Con là cô Chín đây, con của mẹ mất đã lâu. Con muốn về nhà báo cho cha mẹ biết nhưng không biết cách nào. Mới đây nhân dịp về nhà, thấy mẹ dắt em ra đường đứng chơi nên con đã dí bông hoa nhài lên mắt em để mong mẹ biết mà tìm đến con...” Khóc xong một hồi thì người lên đồng đưa cho mẹ tôi nước cúng, trái ớt, nhánh tỏi, nói đem về giã rồi đắp lên mắt chị tôi sẽ khỏi. Nói xong thì thăng. Bán tín, bán nghi không biết ra sao, mẹ tôi đánh liều làm theo lời dặn vì theo lời bác sỹ, mắt chị tôi không chữa khỏi được, coi như hư luôn rồi. Sau khi đắp ớt, tỏi cho chị tôi xong, mẹ tôi bế chị nằm ngủ ở võng. Ðến nửa đêm trong lúc mơ màng, nửa tỉnh nửa mê, mẹ tôi thấy một người con gái đứng bên võng nói: “Ðể con ngắt bông hoa nhài cho em.”, Mẹ tôi tỉnh dậy và cùng lúc đó chị tôi khóc thét lên. Mẹ tôi vội vặn lớn ngọn đèn dầu, thấy máu và mủ ở mắt chị tôi chảy ra, bà lau chùi cho chị rồi dỗ chị ngủ tiếp... Sáng hôm sau mắt chị tôi bớt sưng. Vài ngày sau thỉ khỏi hẳn.Thật như là một phép lạ, khó tin nhưng đã xảy đến với người thân của tôi nên từ ngày đó gia đình tôi rất tin tưởng nơi thần linh. Mẹ tôi cho biết chị cả của chúng tôi mất lúc chị mới lên chín tuổi. Chị cảm sơ, trước khi mất đòi ăn nhãn, ăn xong thì hôm sau chị mất. Mẹ tôi khóc nhớ thương chị mãi, nhưng vì chị mất lúc còn nhỏ nên không lập bàn thờ ở nhà chỉ cúng mỗi dịp giỗ chị thôi. Sau chuyện này xảy ra, mẹ tôi đã đến nhà thờ Tổ, nơi thờ cúng chị tôi, xin bát nhang về thờ. Nay bát nhang chính vẫn còn được thờ ở nhà thờ Tổ của giòng họ ở ngoài Bắc.

Sau ngày đổi đời của đất nước, chú Út tôi từ ngoài Bắc vào chơi đã kể lại cho mẹ và chị em tôi về sự linh thiêng của chị Cả tôi, sự linh thiêng đã khiến dân làng rất tin tưởng và hàng năm họ góp gạo đến nhà thờ Tổ, nơi có bát nhang thờ Chị tôi, cùng nhau làm lễ cúng bái, chú tôi kể lại như sau: “ Khi gia đình tôi di cư vào miền Nam sinh sống, nhà cửa bị CS tiếp quản, đóng trụ sở tại đó, tới mùa trái cây như nhãn, mận, ổi, họ leo lên cây hái trái để ăn và đem bán, lần nào trèo cây cũng bị té ngã gãy tay, gãy chân hoặc u đầu, sứt trán, không cách nào leo lên cây được, đêm đến có người con gái lay giường bắt dậy, đòi trả nhà cho bố mẹ Cô. Sau đó có người mách bảo nhà có người chết linh thiêng lắm, đến nơi thờ phượng, khấn vái xin phép hái hoa trái đem bán, nghe lời khuyên, họ mang bông trái cây đến nhờ chú tôi giúp, chú tôi nói, phải có lòng thành, đích thân cúng mới được. Từ đó về sau, mùa nào trái ấy, họ đều đem lễ vật đến cúng chị Cả tôi rồi mới trèo cây hái trái, mọi việc êm xuôi, không bị té ngã nữa. Dân làng ai có chuyện gì đều đến cầu xin chị tôi và đều được toại nguyện cả, nên ai ai cũng tin tưởng lắm”. Chú út tôi còn kể cho nghe nhiều chuyện về sự linh thiêng của chị tôi nữa, chẳng hạn thời giặc Pháp hay về làng càn quét, cướp của, giết người. Mỗi lần nghe báo động có giặc về làng, mọi người bồng bế, gồng gánh chạy loạn, nhiều lần chạy trong đêm tối, không nhìn rõ mặt nhau, trong hoàn cảnh như vậy, chú tôi khấn vái chị tôi phù hộ cho gia đình và dân làng thoát nạn. Thật là mầu nhiệm, chú tôi và mọi người nhìn thấy thấp thoáng phía trước có bóng người con gái cầm đèn soi đường cho mọi người Dân làng cứ lặng lẽ đi theo ánh đèn, bao giờ cũng tránh được giặc Tây, không bị thiệt hại gì cả....

Sau ngày mất nước vài tuần, tôi đến nhà thăm mẹ, đúng lúc đó tôi thấy bà chị dâu thứ đang đứng khóc hu hu trước bàn thờ và người lắc như lên đồng. Mẹ tôi vội thắp nhang và khấn vái rằng, nếu có phải chị Cả tôi về đồng, muốn nhập vào chị dâu tôi thì cho biết chứ đừng hành xác chị tôi nữa, tội nghiệp chị ấy. Sau đó mẹ tôi đưa rượu cho chị tôi uống, khai khẩu. Một lát sau chị dâu tôi ngừng khóc và nói cho biết chị Cả tôi về đồng, nhập vào chị dâu thứ của tôi để nói chuyện, một sự lạ là chị dâu tôi xưa nay đả phá đồng bóng dữ lắm, không tin dị đoan bao giờ, thế mà giờ chị Cả tôi lại nhập vào chị. Chị tôi về đồng và nói rất thương mẹ và các em, nhưng không cứu vãn được vì hạn gia đình phải gánh, cho biết sau này tất cả các em của Chị tôi sẽ sinh sống ở nước ngoài, có cuộc sống hạnh phúc, sung sướng, con cháu thành đạt nơi xứ người. Mẹ tôi nói không tin vì nay em trai, em rể Cô đã đi tù, những đứa ở nhà thì sống vất vả, lo lắng mọi bề, cả nhà đều bị kẹt lại không ai đi thoát ra nước ngoài sinh sống cả, Chị tôi cười và nói cứ tin nơi Chị, sẽ có ngày đó đến với các em của Chị, nói xong thì chị thăng. Sau ngày đó, Chị tôi không về nhập đồng nữa, mọi người trong gia đình cũng quên lãng câu chuyện này. Rồi phong trào vượt biên xảy ra, chồng tôi sau khi đi tù cải tạo được thả về, mẹ chồng tôi giúp vốn đã vượt biên thành công, con các chị tôi cũng vượt biên, tới được đất Mỹ sinh sống...Chương trình ra đi có trật tự được thực hiện, chồng tôi bảo lãnh cho ba mẹ con tôi, gia đình các chị tôi được con cái bảo lãnh, gia đình anh tôi đi diện HO... tất cả năm gia đỉnh anh chị em tôi đều sinh sống ở đất nước tự do này, con cái đều thành đạt, nên người. Bây giờ nhớ lại lại những lời mà Chị Cả tôi về đồng nói lúc năm xưa, không sai điểm nào cả. Vấn đề tâm linh thật khó mà giải thích.

Mẹ tôi sau này về ở với ba mẹ con tôi, bà nói chồng tôi không có nhà, tôi thì “trẻ chưa qua, già chưa tới”, sợ mọi người dòm ngó vì có chồng gửi quà từ Mỹ về nuôi, và lúc đó hai con tôi còn quá nhỏ cần có người chăm sóc để tôi có thời giờ đến trường dạy học. Mẹ tôi sống rất nhân đức hiền từ, hết lòng thương yêu con cái. Mẹ tôi là một bà mẹ quê Việt Nam điển hình với tính tình đôn hậu, chịu thương, chịu khó, hy sinh cả đời lo cho chồng con. Những người quen cần gì, mẹ tôi sẵn lòng giúp ngay. Những người buôn bán hàng rong kiếm sống qua ngày, mẹ tôi mua bao giờ cũng trả đúng giá đòi, không kỳ kèo bớt xén gì cả, nhiều người hoàn cảnh quá khổ, túng thiếu, mẹ tôi còn cho mượn vốn buôn bán, cho vay từ tháng giêng đến ba mươi tết đem trả, qua mùng bốn tết đến mượn lại mà không lấy bất cứ quà cáp gì mà họ đem biếu cả. Mẹ tôi thường nói: “Của trời của Phật, đừng lo sợ mất”, giúp ai được điều gì thì nên giúp với tất cả tấm lòng. Ành hưởng cách sống của mẹ tôi nên tôi và các con cũng học được tính vị tha, thương người của Bà, sẵn lòng vì mọi người. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ tôi to tiếng với con cái hay người ngoài cả, nếu không bằng lòng con cái điều gì, mẹ tôi chỉ chép miệng thở dài thôi. Tôi còn nhớ lúc các con tôi còn nhỏ, con nít ham vui, lười học, nhất là con trai tôi, tối bị cúp điện, thắp đèn dầu, muỗi vo ve bên tai, mẹ tôi ngồi bên cạnh, quạt đuổi muỗi cho con trai tôi học bài, mẹ tôi nói “ráng mà học con ạ, ở đâu, thời buổi nào cũng cần người có học cả, có học không sợ đói, mai đây qua đoàn tụ với bố các con, thấy các con học giỏi bố mới không phàn nàn mẹ con chứ”, những câu nói của mẹ, tôi khó quên được, thật là:

“Một đời gánh nắng, gánh mưa
Mòn vai đời mẹ vẫn chưa yên lòng”

Mẹ tôi dường như biết trước ngày mất. Hai ngày trước khi mất mẹ tôi ngủ trưa và miệng nói chuyện rang rang. Tôi đánh thức mẹ tôi dậy thì Bà nói để yên cho mẹ nói chuyện. Khi mẹ tôi tỉnh ngù, Bà cho biết sắp đến lúc mẹ đi rồi, trước kia được phép sống thêm để nuôi các con khôn lớn, nay là lúc về với Ông Bà, đã tám mươi bốn tuổi rồi, sống vậy là quá thọ rồi. Rồi mẹ kể cho nghe vừa nói chuyện với mấy bà bác, mất đã lâu lắm rổi, các bạn đi chùa với mẹ tôi nữa, các cụ ngồi đầy xe bus chờ mẹ ngoài cổng, mẹ nói chờ mẹ về nhà lấy cây dù rồi sẽ đi saụ...Biết chuyện ngày xưa mẹ đã từng chết đi, sống lại, tôi rất tin tưởng lời mẹ nói là mẹ sắp ra đị...Hôm sau tôi cho dọn dẹp nhà cửa gọn gàng sạch sẽ, những thứ không cần thiết, dẹp lên gác hết cho rộng nhà. Sáng hôm sau anh trai thứ của tôi đến thăm mẹ tôi, gọi anh ra phòng ngoài kể cho anh nghe hiện tượng về mẹ tôi, anh gạt đi và nói tôi đừng quá lo lắng và tin chuyện mẹ nói sắp ra đi, mẹ rất khỏe, không đau ốm gì cả thì làm gì xảy ra chuyện cho mẹ được.Tôi tạm yên lòng, mẹ tôi gọi anh tôi đến, móc túi cho tiền và phân phát cho con cháu hết số tiền đang có, nói tôi đưa bọc quần áo mà mẹ tôi đã sắp sẵn, có cả miếng vàng nhỏ để trong túi nhỏ nữa. Trưa đó mẹ tôi tắm gội sạch sẽ, cho thay giường chiều, giặt mùng màn. Ðến ba giờ sáng, mẹ tôi thức giấc, tôi cũng vừa chợt tỉnh và qua giường Bà nằm, hỏi thăm cần tôi giúp việc gì không, Bà nói :” mẹ mệt qúa, chắc không sống được”, nói xong ngả đầu vào tay tôi, nhắm mắt đi luôn, tất cả chưa đến năm phút đồng hồ!!!! Ôm mẹ trong lòng mà không dám tin là mẹ đã mất, tôi không còn khóc được vì chuyện xảy đến quá đột ngột....

Nghe tin mẹ tôi mất, bà con họ hàng xa gần, xóm giềng tới thăm viếng rất đông, ai ai cũng thương tiếc mẹ tôi và nói : mẹ tôi là người nhân hậu, đạo đức, thương người, sống rất giản dị, cởi mở với tất cả mọi người nên Cụ ra đi dễ dàng, nhanh chóng như vậỵCó những người cháu của Bố tôi với tuổi đời trên dưới bảy mươi, đã khóc mẹ tôi và kể những công đức mà ngày mẹ còn ở quê giúp đỡ con cháu, họ hàng... Ðược biết những chuyện về mẹ mà trước đây tôi chưa bao giờ nghe mẹ nhắc đến, tôi càng kính phục mẹ thêm.

Ðã mười tám năm rồi tôi vẫn luôn nhớ đến mẹ và thấy thật là bất hạnh không còn mẹ để chia xẻ những khó khăn, vui buồn của cuộc đời, được nghe những lời khuyên của mẹ. Nhất là vào dịp lễ Vu Lan, về chùa dự lễ, thấy mọi người được cài bông hồng đỏ trên áo, còn tôi với bông hồng trắng, cảm thấy buồn và tủi thân vô cùng, thật thấm thía với câu thơ của thi nhân:

“Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Như mất cả bầu trời”
......................................
“Nhớ mẹ con nghẹn ngào
Lời ca sầu vút cao
Hoa trắng cài lên áo
Thương mẹ mắt lệ trào”

Mẹ ơi, hôm nay ngồi viết những dòng chữ này về mẹ, con xin nguyện cầu cho mẹ được an nghỉ bình yên. Suốt cuộc đời mẹ đã cho chúng con tình yêu thương vô bờ bến, mẹ là bóng mát dịu êm đã che chở, nuôi nấng con nên người, mẹ là nguồn sống, là tình thương yêu bất tận. Cả đời mẹ hy sinh, chịu đựng, sẵn sàng gánh vác sự khó khăn cho con cái. Con xin gửi đến mẹ lời thơ của Thầy Thanh Trí Cao, nói lên tâm sự của con:
...........................
“Vu Lan ý nhiệm mầu
Báo hiếu nghĩa thâm sâu
Ðời con cài hoa trắng
Mẹ hiền giờ ở đâu

Lạy Phật con nguyện cầu
Cho dù mẹ ở đâu
Trần gian hay nước Phật
Hồn mẹ không khổ đau”

Mùa Thu 2006

Kim Phương Oanh




Mục Lục


8. Ðuờng Về

Linh Lan



( thân tặng tác giả : Việt Nam Quê Hương Tìm lại”
=========================================

LTS – Tác giả là một thân hữu của Ngày Nay, một nữ ký giả của thập niên 60 ở Saigon, hiện định cư tại Houston, Texas.

Tháng Tư muộn... Mùa Xuân mới bắt đầu trở lại Houston. Lại một mùa Xuân và một tuổi nữa. Ba mươi hai tháng Tư trôi qua, thấm thoắt như giấc mộng dài. Tuổi trẻ qua dần theo năm tháng, nhẹ nhàng nhuốm đầy kỷ niệm mỗi đời người. Sáng sớm ra vườn vào hạ tuần tháng Ba, tôi bắt gạêp mùa Ðông đang từ giã. Sương còn đọng trên cây cỏ, mầu xanh trẻ thơ của lá non thoáng nẩy trên những cành khô vừa thức giấc sau giấc ngủ lạnh lùng. Quanh hồ tắm, nụ hoa đủ mầu lấm tấm nổi bật giữa đám lá evergreen. Tôi thích nhấât màu xanh và màu vàng pha trộn lẫn nhau. Tất cả những mầu nhạt đều làm cho tâm hồn nhẹ nhàng, thơ thới. Không khí trong lành buổi sớm tràn lan trong gió nhẹ. Hương xuân tinh khiết bay khắp không gian. Trên cành cây crêpe myrtle, dưới tàn oak, tiếng chim non chiêâm chiếp gọi mẹ, nhắc nhở bữa ăn. Vài con sóc đuôi cờ phe phẩy, mắt tròn xoe tinh nghịch truyền cành. Trời đất dịu dàng quá, nghe như tiếng Xuân đang thì thầm, mát như gió nhẹ lướt trên má, trên môi.
Tôi ngồi xuống bên hồ, đầu gục trên gối nhớ về ngày tháng đã qua. Lòng chợt thấy bồi hồi, xúc động, có điều gì như gợi nhớ, gợi mong. Tôi ra đi ngày cuối cùng bằng tầu biển khi thành phố Vũng Tầu đang bùng lên những đám cháy nhỏ trong từng khu phố hỗn loạn. Lênh đênh trên đại dương, không biết đâu là bờ bến, đâu là nhà, là sống hay là chết. Mười một ngày ngồi bó gối trên một góc tầu nhỏ, tôi thèm một ly cà phê đá đến nghẹn ngào. Có phút tôi chỉ muốn được trở về, được đặt chân trở lại quê hương rồi muốn ra sao cũng được. Nhưng đó chỉ là ước muốn vô vọng. Tầu càng xa tôi càng thấy mất mát vô biên, nước mắt mặn như nước biển, tôi đành nhắm mắt buông cuộc đời trôi theo sóng nước. Ðêm về, sóng trắng xóa hãi hùng, sáng dậy, xót xa chia nhau từng chén cháo, miếng cơm.
Ðảo Guam, rồi căn cứ Anderson, rồi Indiana Gap, rồi New York. Tôi bay đến đó với những tấm lòng xa lạ, với những đôi tay bao dung mở rộng đón chào. Và cũng từ đấy, hơn một triệu người tha hương đã trở thành dân tị nạn trên hầu hếât các quốc gia trên thế giới. Những người còn lại, một số đi vào các trại tù cải tạo, một số bỏ mình trên biển cả, và một số long đong đói khát ở những miền kinh tế mới khô cằn.
Tất cả, một sớm một chiều như đảo ngược... Chuyẹän quê hương tôi đó, đau lòng mà vẫn nhớ vẫân thương. Bây giờ, cuộc cờ thay đổi, đi về thả cửa, nhiêù người đã về hàng năm, nhưng cũng có nhiều người không về, dù chỉ một lần.
Tôi cũng đã một lần về, 31 năm vật đổi sao dời, người cũng vậy, cảnh cũng đã khác xưa. Tôi đi ngang chốn cũ – Hà Nội – Sài Gòn – vội vàng ôm đầy dĩ vãng trong tâm tưởng. Trở về một lần để lên tận miền núi rừng Việât Bắc khi xưa, để thấy lại tận mắt những miền hoang vu, lam sơn chướng khí, những nơi có trại tù đèo heo hút gió giữa nước độc rừng sâu, để xót xa, ngậm ngùi cho thân phận những người trai áo trận, sống chết ở lại với quê hương, để thấm thía những tủi nhục ngút ngàn khi nhân bản con người bị dầy xéo, đọa đầy xuống địa ngục trần gian.
Tôi không đủ thời gian và hoàn cảnh để đi hết những nơi mình mong muốn. Trở về lại Mỹ, tôi ngồi đây, đêm qua trằn trọc, đọc Hương Kiều Loan trong mục Sổ Tay Du Lịch của báo Ngày Nay, viết về tập phim Việt Nam Quê Hương Nhìn Lại (1) đầy hình ảnh của quê nhà, tất cả có sáu tập, Hương Kiều Loan chỉ viếât hai cuốn đầu, tôi xin viếât tiếp về những cuốn phim còn lại, để cho mình và cũng để cho những người chưa trở về, thấy lại một chút dư ảnh của ngày xưa trong giọng đọc lời thơ, tiếng nhạc, tìm lại cho tâm tư một chút gì đầm ấm, nếu không nói là một hạnh phúc nhỏ êm đềm.
Trong không gian tĩnh lặng giữa đêm về sáng, mình tôi trong phòng vắng, lang thang theo tác giả của cuốn phim Quê Hương Tìm Lại.
Tôi bắt gặp Ðà Lạt – Lâm Viên – của những người đã từng sống ở đây, của ngày xưa, của một thời tóc xanh, mắt sáng.
Từ đồng bằng chúng ta quanh co theo đường núi lên cao. Tôi cảm thấy mình đang đi trong phim ảnh, không khí nhẹ hẳn, trong veo... không bụi bậm. Ðịnh Quán, Hòn Chồng, Ðèo Chuối, Miếu Âm Hồn, tới Ðà Lạt trong một chiều mưa lất phất.
“Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ
Mầu lam tím Ðà Lạt sương phủ mờ.”

Ðà Lạt đài các với những biệt thự ẩn sau hoa lá.
Ðà Lạt tình tứ với tiếng thông reo thủ thỉ.
Ðà Lạt oai hùng với chí trai trường Võ Bị
Ðà Lạt trẻ mãi với ngàn hoa, Mimosa, Forget me not.

“Gần nhau xa nhau mấy nỗi.
Hỡi quê hương xứ sương rơi, Ðà Lạt ơi, Ðà Lạt ơi!”

Ðà Lạt độc đáo với nét kiến trúc của Domaine de Marie, hay nữ tu giòng Bác Ái Vinh Sơn, xây cất từ thuở sinh tiền Nam Phương Hoàng Hậu. Ðâu đó, tôi thấy cổng chùa Phật Giáo với hàng cây bao bọc. Chùa nhỏ, tôn nghiêm, tĩnh mạc, như ẩn lánh cõi trần. Chợt nhớ lời ca:
“Ðứng trên triền dốc nhìn xuống đồi thông”

Ðâu đó tôi dừng lại chùa Linh Phước, tu viện nhỏ nuôi các em mồ côi, tật nguyền, thăm các em nhỏ ngơ ngác, các bé gái mặc áo nâu sồng, tóc còn đẻ chỏm ôm chặt con búp bê vừa được phát. Ðâu đó, về để hồn chùng theo dư âm những bản nhạc Pháp ngày xưa trong đêm Gala của cựu học sinh trường Yersin. Chưa hết Ðà Lạt trên Hồ Xuân Hương mây giăng mắc một khung trời. Chợt nghe câu thơ:

“Hôm nay có phải là Thu
Mây năm xưa đã lãng du trở về”

Ðà Lạt còn có mối tình đẹp như thơ của QT., và vẫn còn đẹp đến tận bây giờ. Không biết có ai nhớ những chiều tôi và L.C ngồi bên bờ Hồ Xuân Hương ăn bắp nướng, lạc rang nhìn theo đôi bóng dạo quanh hồ. Ðến ngày nay, ở một miền có tuyết lạnh, con người có già đi theo năm tháng, nhưng tình yêu vẫn không phai. Hàng ngày, có người vợ trẻ ngồi canh điệân thoại để cho chồng yên giấc ngủ trưa.
Tôi miên man theo cuốn phim tới Trại Hầm, Trại Mát, đỉnh Lang-Bian, rồi quán Cà phê Duy Việt. Tới đây tôi ngạc nhiên vì khung cảnh chưa được nhìn thấy trước kia. Ở đây là Thi, là Họa, là Nhạc và Âm thanh lẫn Hình ảnh. Ngày xưa chưa có quán này. Ðầy phòng là những bức thư họa, Anh có, Pháp có, Việt Nam là Quê hương, là chữ Nhẫn thật sắc nét. Mực đậm, rồi nhạt dần, với những dấu chấm phẩy thật gọn gàng.
Phảng phất trong căn phòng khói cà phê thơm ngát khi ngoài hiên mưa rơi tầm tã. Chủ nhân có hình dáng một đạo sĩ ngày xưa. Ông chưa già, khuôm mặt gầy cân quắc, bộ râu dài đã bạc, mái tóc ẩn dưới chiếc mũ đen đội lệch, đôi mắt sáng tinh anh. Một bài thơ sang sảng, một cây đàn cũ, một tách cà phê nóng, lời thơ của ông phiêu diêu theo thời khắc. Khách đến đây có thể là người Pháp, người Mỹ, hay bạn đồng hương. Quán còn có cả tấm ảnh chàng trai trẻ John Kennedy Jr (2) và bạn hữu tới nơi này.
Ðêm quá khuya làm tôi quên giấc ngủ, nhớ câu hát:

“Khách du tìm đến thành phố ngàn mơ
Nhặt hoa thấy buồn lòng không bến bờ”

Thôi chào Ðà Lạt tôi đi Phan Rang, tới Phú Yên Tuy Hoà, qua cầu Ðà Rằng tới thành Ðá Ðĩa, những cái tên dân gian sao mộc mạc chân tình. Biển gió, mây cao, nước trong nhìn thấy cát trắng, vài con thuyền nhỏ thả lưới ra khơi. Hai bên bờ là hàng rơm, mái lá vườn rau, hàng dừa, thẳng cánh cò bay dẫn đến thị trấn Sông Cầu. Qua Quốc lộ 1, đến cầu Ðà Rằng, Bãi Bàng, biển nơi đây có loại cá Hồng nổi tiếng để làm gỏi.
Gặp trường sư phạm Qui Nhơn, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã theo học. Ðây trại cùi Tuy Hòa, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã sống năm 1912-1940.
Rồi Bình Ðịnh với ghe cào nhỏ ra biển. Ruộng muối Sa Huỳnh Quảng Ngãi được be bờ vuông vức, nước biển đã khô, còn lại từng đống muối đã được gom lại. Ðây sông Trà Khúc đặc biệt có cá bống kho tiêu. Ðây Ðà Nẵng với bãi tắm Mỹ Khê mang tên China Beach.
Ðây bán đảo Sơn Trà, phố cổ Hội An.
Tới đây, tôi muốn ở lại đây với thành phố còn nguyên vẹn chưa có dấu vết chiến tranh. Hội An êm ả quá, tôi đi trong lòng thành phố, lạc vào giữa những kiến trúc thuở xa xưa... kèo cột, tường gỗ khắc chữ. Lan can, khúc sân trong nhà, tất cả đều dùng gỗ, không mục nát mà con lên nươc bóng láng. Nhìn lên bảng hiệu hàng ăn, thấy chữ Cao lầu độc đáo Hội An, thấy từng hàng đèn lồng đủ kiểu, đủ mầu sắc treo lơ lửng; có những đêm hội, người ta đã tắt hết điện, chỉ còn lại ánh đèn lồng mờ ảo.
Tôi vào đền thờ Quan Công, mặt đỏ, râu dài, uy phong lẫm liệt. Tôi qua cầu gỗ có mái che, có tiệm bán trong lòng cầu, gặp một ngôi chùa mang tên Chùa Cầu. Tới sông Hoài, một nhánh của sông Thu Bồn có dinh quan Thủ tướng, có chuyện Trương Chi Mỵ Nương.
Sinh trưởng ở Việt Nam, nhưng tôi chưa hề được đặt chân trên hết nẻo quê hương mình. Tôi ngỡ ngàng, xúc động trước những sắc thái khác biệt của từng miền, từng địa danh của đất nước.
Qua đèo Hải Vân mây chạm núi nối liền giữa Quảng Nam, Thừa Thiên, có cảng Chân My, có đồi Hoa Sim, thi sĩ Hữu Loan đã viết: “Chiều hành quân qua đồi Sim”. Tôi đã thấy bà cụ gánh sim đi bán, sim ngọt lắm, ngày xưa chạy loạn tôi đã được ăn, tím cả môi, cả lưỡi. Rải rác bên đường là những quán nhỏ, những quán cắt tóc đàn ông dưới tàng cây mát, gió lộng bốn bề. Lại nhớ Phạm Duy, Thái Thanh trong bản nhạc “Về miền Trung”
Ðây Huế, đất Thần Kinh có Phá Tam Giang chợt nhớ TTT với bản nhạc “Chiều trên Phá Tam Giang”. Huế và vùng Cổ Mộ Huy Hoàng, tôi nhìn Huế để thấy em bé chăn trâu ngồi vắt vẻo, để nghe lại tiếng hò lênh đênh trên sông nước Hương Giang. Ðây Cồn Truồi, chợ An Cựu. Ôi nhớ là nhớ một thuở nào... Ðại lộ Kinh hoàng Quảng Trị 1972. Khói lửa ngập trời... người giết người... Ðau long quá, cố quên mà cứ nhớ đến xót xa. Trời Khe Xanh, Lao Bảo, ngọn gió Lào, người lính trẻ đứng gác trong đêm, tiếng sáo Tô Kiều Ngân trên đồi không đốm thuốc, chiếc trực thăng tản thương, còn vương vết máu của những người con đất nước đã hy sinh. Lại nhớ đến Tấn, phi công trực thăng, em ruột chồng tôi, đã rớt máy bay năm nào khi tuổi còn trẻ, rấât trẻ.
Tôi đứng đây, nước mắt đã cạn. Bên này và bên kia... cầu Thạch Hãn, thị xã Ðông Hà, cầu Hiền Lương Bến Hải...
Thôi đừng đi nữa, những thước phim đã nhắc nhở đủ. Hãy trở về đi, vào miền Nam, về lại thành phố biển Long Hải, Vũng Tầu để hồi tưởng lại ngày cuối cùng nhắm mắt ra đi.
Ngày 10 tháng 5 qua, tôi được nhìn lại Vũng Tầu một lần nữa. Người về từ Vũng Tầu, với những thước phim ghi lại cảnh đời đã quá, để đánh dấu bước thăng trầm của người ở lại. Gông cùm, tù đầy, khốn khó. Những người trai của đất nước, Anh có tội tình gì? Chiến tranh đấy ư ? Hay chỉ là thù hận ngập trời?
Qua ngày, qua tháng, qua năm... trời không tàn nhẫn với tình người nhân hậu. Chúng ta lại gặp nhau ở đây, quê hương thứ ba! Vâng, miền Bắc đã mang tôi vào đời, miền Nam nuôi tôi trưởng thành, và ở đây, chặng đường cuối cùng, mảnh đất này sẽ vùi chôn những gì còn lại, thân xác phàm trần, cả những vui, buồn, cay đắng lẫn hạnh phúc, giầu sang.
Có một điều tôi muốn nói, muốn tâm sự. Một phần ba cuộc đời, chúng ta đã đánh đổi nhọc nhằn, cưu mang đàn con nhỏ, từ thuở còn thơ dại đến tuổi mắt sáng, môi hồng, giờ đã trở thành ngàn dân Việt, tài năng, trí tuệ, thông minh, đã đóng góp hếât khả năng cho xã hội, đã làm sáng ngời ý chí bất khuấât, can cường trước mọi thử thánh, đã vươn cao, cao mãi, vinh danh cho hai chữ Việt Nam. Cũng như tác giả tập phim Quê Hương Tìm Lại, anh đã đem kiến thức, nghệ thuật góp vào những cuốn phim thu lại hình ảnh tuyệt vời của quê hương ba miền. Anh đã đem tâm tình trải thảm cho quê hương. Từng địa danh, từng thắng cảnh đều có đầy đủ sự tích, lịch sử kèm theo rõ ràng. Thêm một điều quan trọng, dù đã đi xa cả nửa vòng cầu, xem xong tôi vẫn cảm thấy quê hương – thật gần gũi, đầy tình tự – ở cả trong tôi, vì đâu đó tôi thường bắt gặp những giây phút của riêng mình, trong hình ảnh, kỷ niệm xa xưa còn ẩn trong tiềm thức.
Ðêm nay, thức trắng theo những cuốn phim về phương trời cũ, có cả những nẻo đường mà dù là người dân Việt, tôi vẫn chưa hề có dịp được đặt chân. Xin cảm ơn công trình người làm phim, xin cảm ơn tiếng nói chân thành đôn hậu đã đem lại cho tôi những tin yêu và hy vọng khi tâm hồn xa quê chợt giao động chưa tìm được bình yên.

www.huyhamedia.com
Peterphamedu1@Yahoọcom
(2) Con trai cố tổng thống John F. Kennedy

Linh Lan




Mục Lục


9. Riêng Nỗi Ðau Còn Ở Lại

Hoa Bằng Lăng



Ầm, ầm..những tiếng động kinh hoàng vang lên trong 10 giây đã mang đi không biết bao nhiêu cuộc sống yên ấm gia đình của bà con ven cầu Cần Thơ . Ông lão bảy mươi tuổi đi lang thang khắp ngõ trên hẻm dưới để tìm thằng Sáu con ông. Bà Tư bên kia nhà ông dũng nằm liệt một chỗ từ tối qua đến giờ .Cứ khóc ngất rồi lại tỉnh, miệng bà Tư luôn hỏi thằng Út nhà bà đã về chưa . Bà con chòm xóm không dám trả lời sự thật cứ bảo rằng thằng nhỏ đang phụ người ta cứu người làm sao về được. Không ai dám kể với mẹ con bà rằng..từ nay đứa cháu nội trong bụng con dâu bà chẳng bao giờ thấy mặt cha nó nữa . Cây cầu đã lấy đi sinh mạng cha nó rồi!

Nhớ ngày nào đó khi khánh thành xây dựng, ông lão bảy mươi kia mặt mày hồ hởi lắm lắm. Lão nói cả cuộc đời lão chưa bao giờ tưởng tượng có một cây cầu bắc qua sông Cần Thơ nàỵ Lão không ngờ lão còn sống sót để chứng kiến cái ngày bà con xóm ven chài của lão có con cầu bắc qua sông. Người dân vùng lão sẽ bớt cực chừng nào . Ngày đó lão dắt tay thằng con trai duy nhất của lão đến chỗ người ta để xin được vào xây cầu . Bà con ở xóm trên làng dưới ai cũng làm như thế. Ai ai cũng hãnh diện vì mình có con em phụ tay vào xây cây cầu mơ ước của dân miền Tâỵ. Ðể rồi cớ ngờ đâu cái ngày này xảy ra! Giờ lão không làm gì nữa cả….lão chỉ đi tìm thằng Sáu con lão về mà thôi ..Lang thang suốt đêm, lão lại cố gắng gào lên Sáu ơi con ở đâu ....Sao lão chẳng nghe một tiếng đáp nào át cái giọng khàn đục của mình cả vậy nhỉ..Chỉ có tiếng nấc và tiếng nấc mà thôi ….

Cầu sập rồi . Gương mặt thất thần, một người thanh niên trẻ tuổi chỉ thốt lên được như thế. Anh không thể nhớ ra mình là ai nữa . Anh chỉ thấy quanh mình những cánh tay đầy bùn lấm lét, những tiếng rên rỉ vì đau đớn, những thân thể bầm nát, những dòng nước chảy xoáy và những đống bêtông cốt thép… Anh là người vừa được cứu sống!

Các nhà chức trách đang tìm nguyên nhân vụ sập cầụ Hình như đến bây giờ vẫn chưa có ai lên tiếng tự nhận trách nhiệm của mình với người dân cả !?!… Mất cha mất chồng mất anh mất em, có ai trên đời này có thể chịu một lúc nhiều nỗi đau như thế không chứ . Chỉ sợ rằng thời gian cũng sẽ trôi qua, mọi người dần dần sẽ quên đi vụ sập cầu kinh hoàng này…Chỉ còn người dân ở lại với nỗi đau chẳng bao giờ ngoai nguôi . Xót xa thay!

Hoa Bằng Lăng




Mục Lục


III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu,

Thu sầu mộng, chôn kín nỗi buồn trong màu lá, lá đổi màu chênh chếch bóng cô đơn. Ðã có biết bao nhiêu thi nhân cảm mến cái đẹp của mùa thu, và thố lộ tâm tình qua từng bài thơ ? Tình chúng ta hình như cũng bắt đầu chuyển màu theo những chiếc lá vàng rơi , có phải chăng tất cả đều là ảo mộng trên thếgian này không anh ?

Anh cho em nỗi buồn
Man mác lá thu rơi
Tất cả như suôi nguồn
Về với gió mây trời

Tìm đâu ngày tháng cũ
Con đường tình ta đi
Lá vàng như êm ngủ
Không còn tiếc nuối gì

Thu ôm mộng yên ngủ đến bao giờ đây ? Như em ôm mộng đong những giấc mơ đầy . Từng đêm vắng, từng chuỗi ngày dài trôi qua, em cảm thấy mệt nhoài và muốn buông xuôi tất cả anh ơi .

Ước chi có phép nhiệm mầu đưa anh về bên em để cách ngăn không còn. Chờ đợi nhau cho ngày tàn tháng mục, chờ đợi nhau đến bao giờ đây anh ? Không có những kỷ niệm, những câu nói dỗ dàng yêu thương của anh, chắc có lẻ em đã ngả gục từ lâụ

Cho em đôi cánh thiên thần
Ðể con tim hết ngại ngần bên nhau
Cho vơi đi hết niềm đau
Ðể mây chở hết cơn sầu bay xa
Xin cho nhau những nhánh hoa
Hương say ngào ngạt ngọc ngà yêu thương

Thu vàng lên mắt nâu, cùng thu em đếm lá vàng, những chiếc lá thu phong tan tác trong trời gió lộng, để thấy nỗi nhớ dâng cao . Mong chờ một ngày nào đó anh và em sẽ cùng nhau thăm lại rừng thu muôn sắc . Ðể nỗi cô đơn không còn vây kín trong tâm hồn nhỏ bé nàỵ

Viết Cho Giao Mùa Oct. 2007
DHH
~~~~/~~((@

Mục Lục


IV . Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________



1. Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật - Hà Huyền Chi và Nguyễn Ðăng Tuấn



Giao Muà trân trọng giới thiệu Buổi Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật vào lúc 6 giờ chiều ngày thứ bảy 29 tháng 9 năm 2007 tại Panther Trace Clubhouse, Riverview, Florida

2 tập thơ Hà Huyền Chi
CD nhạc Nguyễn Ðăng Tuấn
tranh họa Vũ Quang Minh

http://www.phanchautrinhdanang.com/BAIVO2007/SHNT/sinhhoatVHNT.htm

Mục Lục


2. Trang Nhà Lê Anh Chí



Giao Muà trân trọng giới thiệu Trang Nhà Lê Anh Chí :

Mục đích chính của Trang Nhà này là khảo luận về Văn học, văn chương , lịch sử. Trang Nhà gồm ba phần sau :
1. Văn học, lịch sử, văn chương : những bài đoản luận
2. Thơ : hầu hết những bài thơ này làm vào năm 1976 . . .
3. Gia Phả họ Lê , làng Nhân Mục(Hạ-đình), huyện Thanh-trì, tỉnh Hà Ðông . Có thể xem phần này như sự góp mặt vào các Trang Nhà Gia Phả trên Internet.

Trang Nhà www.LeAnhChi.com và www.KienTanh.com do cùng một người biên tập.

Mục Lục


3. Ðổi Ðời - nhà văn Ðinh Lâm Thanh



Giao Muà trân trọng giới thiệu chuyện dài Ðổi Ðời của nhà văn Ðinh Lâm Thanh, một cây bút của Giao Muà

THAY LỜI TỰA

Khi tuyệt vọng người ta thường mong một sự đổi đời để giải quyết gấp rút nhu cầu vật chất hiện tại hay tìm yên tĩnh cho cuộc sống nội tâm trong tương lai. Bình thường ước muốn của con người có thể xếp loại tùy theo từng môi trường và hoàn cảnh xã hội : Có kẻ mơ viễn vông một cuộc đổi đời, vượt ngoài tầm tay như trúng lô độc đắc, lấy chồng hoàng tử, cưới vợ công chúa…trong lúc đa số người nghèo, chỉ mong một sự thay đổi nhỏ bé và tầm thường chung quanh đời sống hằng ngày của họ. Ví dụ, cái bình thủy đối với những người từ lúc sinh ra chỉ biết nước lạnh ao hồ, hay chiếc xe đạp là một vật đổi đời của những kẻ đi bộ hàng chục cây số. Với cô gái quê, đôi khi thực tế hơn, họ mong một người chồng giàu để sớm chấm dứt những ngày nghèo nàn khổ cực nơi thôn xóm.

Ðổi đời là một ước nguyện, người nào cũng cầu mong những điều tốt đẹp để kéo số phận hẩm hiu của mình ra khỏi cảnh khổ lầm than. Chẳng có ai muốn đổi đời để biến thành kẻ trắng tay ăn mày bị gậy, rời bỏ quê cha đất tổ lang thang tìm đất dung thân. Nhưng đối với Miền Nam, ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một đại họa do trời đổ xuống ! Hai triệu cướp núi từ khố rách áo ôm, chỉ trong một đêm, đã trở thành những tên tỷ phú đỏ. Loài thú xác người nầy thừa thắng xông lên, dùng súng đạn để ‘đổi đời’ bằng những trò xảo thuật, biến hàng chục triệu gia đình từ người xuống chó, rồi đày họ lên rừng sâu nước độc hay phủi tay đẩy xuống tận biển Ðông.

Mực mở mắt chào đời trong một gia đình công chức của chế độ cũ và tên cán bộ Việt Cộng xin nó về không ngoài mục đích xẻ thịt đánh chén. Chuyện ân oán giữa chó và người đã giải quyết tại tòa án âm phủ sau khi cả hai cùng xuống địa ngục. Mực đầu thai lên Pháp trở thành Boby, loại chó kiểng, được một gia đình người Việt giàu tiền ít chữ mua về. Cuộc sống nhung lụa bắt đầu từ đây nhưng nó vẫn đau lòng trước thảm cảnh gia đình người chủ thiếu hẳn căn bản đạo đức. Boby phải ra đi và số phận đã đưa nó vào một gia đình nông dân người Tây vừa trở thành triệu phú, ở đây, chủ lẫn chó đã sống những ngày huy hoàng dành cho một cuộc đổi đời đúng nghĩa. Nhưng tiếc thay Boby bị bắt trộm trong chuyến du lịch qua Hoa Kỳ và ngay sau đó rơi vào một gia đình chắp nối của đôi vợ chồng già Việt-Mỹ. Ðời nó đến đây tưởng chừng an phận cho tới ngày nhắm mắt, nhưng giữa đường gãy gánh. Boby may mắn bước vào một gia đình vừa định cư tại Mỹ, nó bằng lòng trong vòng tay yêu thương của những người HO còn giữ được bản chất, tình cảm và tập tục Việt Nam. Nhưng cuối cùng vẫn là số mệnh, đời nó đã bị kết thúc tàn nhẫn bởi một tay đồ tể hàng xóm. Boby trở về Âm phủ với chồng hồ sơ tội ác trên dương thế và Diêm Vương quyết định đưa ra tòa đại hình những tên tội phạm đang gieo tang tóc thương đau cho toàn thể dân tộc Việt Nam.

Người viết căn cứ vào những sự kiện có thật để dựng thành truyện hư cấu, kể cuộc đời phiêu bạt của một con chó từ Ðông sang Tây, trải qua dưới nhiều mái nhà mà chủ nó ít ra đã hơn một lần biến đổi theo thăng trầm thời cuộc, để từ đó, Boby sẽ gởi đến độc giả trên ba trăm năm mươi trang giấy những vui buồn trong bảy gia đình của những người ‘được’ và ‘bị’ đổi đời sau ngày trời sập tại Miền Nam.

Vài trăn trở suy tư kèm theo những nụ cười chua chát…người viết trân trọng gởi đến quý độc giả qua những nhân vật xuất hiện trong Ðổi Ðời : Từ bộ mặt kiêu căng tự đắc của kẻ thắng trận, huênh hoang thỏa mãn với ai ra đi vì kinh tế, đến đau thương tang tóc còn lại trong lòng người mất nước….Và một điều đáng buồn hơn nữa, ba mươi hai năm sau, những nạn nhân bị đổi đời trong ngày trời sập, có kẻ vẫn khóc thầm cho số phận quê hương nhưng cũng lắm người trở về gập mình trước quân thù vì chút bả danh lợi !

Ðiều ước mơ của người viết, hy vọng độc giả sẽ tìm thấy hình ảnh mình qua một vài nhân vật trong truyện, để thương, để nhớ một thời vang bóng và cũng để xót xa cho thân phận của những người phải bỏ nước ra đi. Hoặc có thể, qua những mẫu người trong đây quý vị dễ dàng nhận diện kẻ thù đang có mặt chung quanh, chúng đang đội lốt trá hình dưới danh nghĩa người tỵ nạn. Ngoài ra tâm niệm cuối cùng của người viết là hy vọng những bạn trẻ trưởng thành sau năm 1975, có một lúc nào đó, sẽ tìm thấy trong bức tranh Ðổi Ðời nầy những gì đã xảy ra cho đất nước và dân tộc Việt Nam, là lý do để giải thích cho các bạn, tại sao cả triệu người phải bỏ nước ra đi !

Ðinh Lâm Thanh
Chicago, 02 Sept. 2007

Mục Lục


V . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bùi Ngọc Hiệp, Chu Kỳ Thư, Dòng Sông Nhỏ, Ðóa Hoa Hồng, Ðông Hoà, Hàn Thiên Lương, Hoàng Yến, Hồ Chí Bửu, Huân Long, Kim Thành, Kim Phương Oanh, Linh Lan, Mynh Hứa, Nam Thảo, Nhật Hạ, Phan Tưởng Niệm, Quang Phục, Quên, Song An Châu, Sông Cửu, Sương Anh, Thy Lan Thảo, Tôn Thất Phú Sĩ, Trần Thành Mỹ, Trần Văn Lương, Triều Phong, Khóc_Cười, Trương Du Tử, Vân Hà, Việt Dương Nhân, đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 66 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua@hotmail.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

ebay hit counter

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors