Số 67
Ngày 1 tháng 11 năm 2007
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Bạn quý,
Ði trong đời, có bao giờ bạn dừng lại và tự hỏi bạn đang đi tìm gì không ? Hạnh phúc , có thể bạn đã có hay từng có; con cái, chắc chắc bạn cũng đã có cho tới tuổi này, sự thành đạt, sự mãn nguyện trong một số lãnh vực trong đời sống riêng ? Thành thật chúc mừng bạn, bạn có nghĩ bạn còn đi tìm gì nữa không ?
Nếu câu hỏi đó được hỏi ngược lại tôi, tôi sẽ nói cả cuộc đời này, tôi đi tìm lòng nhân, không có tấm lòng đó từ tôi và từ mọi người trở lại với tôi, đời sống này là vô nghĩa. Bạn hỏi vì sao ư ?
Từ thuở sơ sinh, bạn đã hiểu lòng nhân là gì đâu? Nếu không muốn nói từ khi bắt đầu nhận biết mình là một cá nhân độc lập trong xã hội bạn bao giờ cũng muốn tỏ ra tính cách của mình với mọi người xung quanh. Bạn có học được lòng nhân từ gia đình và từ xã hội hay không điều đó quan trọng lắm. Thử hỏi trong một gia đình và trong một xã hội chỉ toàn tranh chấp và tị hiềm, lòng nhân bạn học ở đâu. Nguồn gốc của bạn sẽ nói cho mọi người biết rất nhiều. Nói như thế không có nghĩa bạn không học được lòng nhân. Tự giáo dục mình về lòng nhân là hoàn toàn có thể , dù nguồn gốc bạn không mạnh về lòng nhân nhưng khả năng tự nhận thức có thể bồi đắp cho bạn tấm lòng đó. Như vậy cả hai nguồn bên ngoài và bên trong là cái lõi vô cùng quan trọng cho bạn thu nhận và tự bồi đắp mặt mạnh về lòng nhân của mình .
Bạn tin không, đi trong đời tôi chỉ tìm có chừng đó. Trong mọi bài viết , tôi chỉ kết luận không trực thì gián hai chữ lòng nhân. Ðọc ở đâu tôi cũng liên kết với hai chữ đó, nếu không có, bài viết nào đó tôi đã đọc với tôi vô nghĩa và không để lại chút vương vấn nào.
Mỗi bài mở đầu của tôi lần nào cũng cám ơn các anh chị cộng tác viên về tấm lòng nhiệt tình cùng đi với BBT trong suốt chặng đường vừa qua, nhìn lại, tôi thấy nể các anh chị nhiều hơn và tự cho mình may mắn đã có cơ hội đi cùng với các anh chị lâu như vậỵ Xin cho tôi thay mặt BBT, một lần nữa, cảm tạ vô vàn tấm lòng đó từ các anh chị.
Cuộc đời dành cho mỗi người trong chúng ta một con đường, có vui, có buồn, có cay đắng, có ngậm ngùi, tôi đang tập nhìn những đau buồn bằng lòng nhân mình có được để có thể mỉm cười đi tiếp con đường còn lại .
Tháng 11 với những lặng lẽ và náo nức của mùa Lễ Tạ ơn, cảm ơn Ðời cho toàn thể gia đình Giao Mùa một tháng nữa cùng nhau .
Trân Trọng .
Vành Khuyên
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Ðể Dành | ______Vân Hà | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Dòng Thơ Lục Bát | ______Mạc Phương Ðình | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Con Sóc Nhỏ - Mùa Thu và Em | ______Hoàng Yến | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Một Ngày Không Có Anh | ______Hà Khánh Phương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Rồi Mai Mốt | ______Phan Tưởng Niệm | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Buồn Như Lá Thu Phai | ______Nhật Hạ SG | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Thu Vàng | ______Sương Anh | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Thu Chết | ______Nguyên Thạch | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Giọt Thu Sầu |
______Bảo Trân | 10. Tù Không Gian
|
|
______Nam Thảo | 11. Tiếng Hát |
|
______Sông Cửu | 12. Em Gần Em Xa |
|
______Thy Lan Thảo
| 13. Bến Sầu |
|
______Hàn Thiên Lương
|
14. Ðêm Giao Bôi
|
|
______
Bùi Ngọc Hiệp |
15. Nếu Ngày Mai ...
|
|
______Lê Minh Thủy |
16. Ðô Thị Chiều Mưa
|
|
______Khả Nhi |
17. Dấu Chân Thu |
|
______Nguyễn Phan Ngọc An |
18. Tâm Khúc
|
|
______Khóc_Cười |
19. Mơ Tình Tiền Sử
|
|
______Mynh Hứa |
20. Ðêm Một Mình..
|
|
______Hồ Chí Bửu |
21. Chiếc Áo Bà Ba |
|
______Lê Miên Khương |
22. Người Xa |
|
______Triều Phong Ðặng Ðức Bích |
23. Thu Viễn Xứ |
|
______Song An Châu |
24. Chờ |
|
______Cung Trần |
25. Tình Sử Của Ta |
|
______Nguyễn Trường An |
26. Chép Chép
|
|
______Lê Hưng Tiến |
27. Tiếng Thét Oan Hồn / Tiếng Khóc Quê Hương. |
|
______Chu BáÐằng /Vân Hà
|
28. Bẽn Lẽn |
|
______Ðông Hòa |
29. Tâm Tình |
|
______Ðỗ Thành |
30. Em Ru Tôi Ngủ |
|
______Nguyễn Hải-Bình |
31. Rơi |
|
______Vành Khuyên |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Mai Ly Tập II _______ Việt Dưong Nhân |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 25 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Ngày Tháng Còn Lại (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ðinh Lâm Thanh |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 15(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Tai Vách Mạch Tường ___________ Trần Thành Mỹ |
| 6.Chuyện Tình Qua Internet ___________ Hà Khánh Phương |
| 7.Vết Nứt Và Cánh Cửa Tự Do ___________ Nhật Hạ SG |
| 8. Sự cô đơn và khát vọng đợi chờ trong thi phẩm BẾN ÐỢI ___________ Lê Miên Khương |
| 9.Cành Hoa Trăm Tuổi Không Tàn ___________ Nguyễn Phan Ngọc An |
| 10.Còn Một Giò ___________ Huân Long |
| 11.Một Mình ___________ Vành Khuyên |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc
_______ Ban Biên Tập
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Việt Dưong Nhân
Việt Dương Nhân 2. Bờ Lau Cát Lở 25 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Ðỗ Thành 3. Ngày Tháng Còn Lại (chuyện dài nhiều kỳ) Ðinh Lâm Thanh
Ðinh Lâm Thanh
4. Chập Chùng Bóng Núi 15 (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Thanh Sơn
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
Hà Khánh Phương
Hà Khánh Phương
Nhật Hạ SG
Nhật Hạ SG
8. Sự cô đơn và khát vọng đợi chờ trong thi phẩm BẾN ÐỢI
Lê Miên Khương
Lê Miên Khương
9. Cành Hoa Trăm Tuổi Không Tàn Nguyễn Phan Ngọc An
Nguyễn Phan Ngọc An
Huân Long
Huân Long
Vành Khuyên
Vành Khuyên
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
IV . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Mai Ly (tập II)
Chương 2
Phấn son đã điểm trang rồi
Mặc cho cát bụi phủ đời Mai Ly
Bây giờ than thở làm chi
Thân hoa bạc mệnh trọng...khi nghĩa gì !
Hơn một tháng, Mai Ly ở nhà Simone mọi sự êm đềm. Mai Ly trả mỗi tháng một ngàn đồng ăn và ở . Còn dư chút ít tiền, em sắm thêm hai chiếc áo dài màu hồng phấn và màu vàng hột gà, và cái quần và vài bộ đồ ngủ . Em cố gắng làm vài ba tháng nữa là sẽ về thăm má. Ðã qua tháng thứ ba, em để dành được ba ngàn đồng, em dấu trong xách áo quần, lại bị ai ăn cắp mất hết. Em không dám nói với ai, vì sợ, nếu nói ra là họ đuổi em đi . Tối đi làm mặt mày em buồn hiu . Bà chủ lấy làm lạ, bà gọi em vô văn phòng, hỏi :
- Sao chị thấy Mai Ly buồn quá vậy ? Có chuyện gì hoặc có ai hăm dọa gì em, nói cho chị biết để coi chị có thể giải quyết gì cho em không ?
- Dạ, không có gì hết chị à !
- Không có gì mà em muốn khóc kìa .
- Ðể hôm khác em sẽ nóị Thôi, để em ra làm việc.
- Ờ, nhớ nghe hôn, nói cho chị nghe, chị giúp cái gì được thì chị giúp, chớ em đừng có sợ ai ở đâỵ Chị hiểu biết tâm tánh của mỗi cô làm ở đâỵ Em mới ra đời, còn non nớt, lại trẻ đẹp thì có sự ganh tị là lẽ thường. Thôi, em đi ra làm việc đi .
- Dạ, em cám ơn chị nhiều .
Làm việc đã hơn ba tháng, Mai Ly đã hiểu biết nhiều, em tập tành nhảy chập chửng vài ba điệu . Tiếp khách và cách nói chuyện rất thu hút, nhứt là khách Mỹ và Tâỵ
Rồi biến cố lật đổ trào Ngô-Ðình-Diệm xẩy ra vào tháng mười một, năm 1963. Tất cả phòng trà đều bị đóng cửa . Chỉ còn Snack-bar là cho mở . Lệnh giới nghiêm mười hai giờ khuya, các cô vũ-nữ trở thành chiêu-đãi-viên. Snack-bar mọc lên như nấm, quân đội Mỹ lang tràn khắp miền Nam Việt Nam. Phòng trà "Orchidée-Phong Lan’’ cũng biến chuyển theo thời thế. Mai Ly vẫn còn làm nơi đó, và vẫn cầm cự ở nhà chị Simone .
Một thiếu tá Mỹ, tên là Larry Coper thuộc binh chủng Không Quân, trạc tuổi bốn mươi . Người rất lịch sự. Ông đeo đuổi Mai Ly suốt mấy tháng naỵ Mỗi lần ông đi bay về, ông thường ghé "Orchidée-Phong Lan’’ cho Mai Ly uống nước trà và luôn luôn có mang quà tặng. Lâu ngày Mai Ly thấy lòng mình có rất nhiều cảm tình với ông.
Nhân dịp Tết dương lịch 1963-1964. Larry mời Mai Ly đến nhà ăn Tết dương-lịch.
Larry lái chiếc xe Jeep... chạy đến nhà Simone rước Mai Lỵ Ông chở Mai Ly chạy thẳng đến một biệt thự thật lớn, ở số... đường Hoàng Hoa Thám (Chi Lăng). Tường cao cổng kín, có dây kẽm gai rào chung quanh và có lính gác, vô ra rất nghiêm nhặt. Lần đầu tiên Mai Ly đến nhà của người Mỹ, quang cảnh trang hoàng theo lối Mỹ. Vì đã qua một tuần lễ Giáng Sinh nên đèn hoa vẫn còn, để tiếp tục ăn Tết dương-lịch.
... Tiệc tưng bừng, nhạc Mỹ ầm ầm. Khách khứa cả trăm ngườị Nửa đêm khuya họ chúc tụng nhau mừng năm mới . Nhạc bắt đầu nhỏ lại, quan khách từ từ ra về. Ngoại trừ còn những người ở chung nhà . Larry, là người xem như chức vị cao nhứt ở đó . Ông mướn cái biệt thự cùng bốn người sĩ quan, thuộc cấp úy, họ chia tiền nhà và họ mướn bồi, bếp, tài xế, và lính gác. Ðêm nay Mai Ly ở lại với Larrỵ..
Biển đời lớn rộng mênh mông. Mai Ly như chiếc thuyền con biết bến nào để cặp vào cho yên ? Lòng tự nhủ : Ðêm nay mình trao thân cho người yêu mình, và mình cũng thấy yêu người . Dù lớn tuổi như người cha, nhưng tình yêu không tuổi tác. Larry sẽ làm người tình và cả người cha của mình, có lẽ mình sẽ được sung sướng và hạnh phúc ?
Ðêm hôm ấy, Mai Ly ngả vào vòng tay yêu thương của Larrỵ Sau cuộc giao hoan, Larry sợ quá. Vì chàng không nghĩ rằng Mai Ly còn trinh-trắng... Sáng hôm sau, ông đưa Mai Ly vô bệnh viện Mỹ khám Bác sĩ . Sau khi bác sĩ khám xong, ông ra ngoài nói nhỏ với Larry :
- Dạ, thưa Thiếu Tá, lần đầu tiên giao hoan, nên cô bị ra máu đấy thôi, chứ không có gì lạ cả, xin Thiếu Tá đừng lo .
Nét mặt Larry nửa vui, nửa lo . Vì Mai Ly chưa đủ tuổị Sau đó, chàng đưa Mai Ly về nhà chị Simone để thanh toán tiền bạc và lấy tất cả đồ đạc trở lại nhà chàng.
Chiều vào bàn ăn, Larry giới thiệu hết mấy người ở trong nhà :
- Ðây là cô Mai Ly, bạn gái của tôi . Kể từ hôm nay, cô được quyền ra vào tự do nơi căn nhà này và cô cũng có quyền nhờ bảo khi cô cần.
Larry ra lệnh từ trên xuống dưới . Mọi người đều vui vẻ nhận lệnh. Qua hai ngày sau, Larry tặng cho Mai Ly mười ngàn đồng và một cái đồng hồ có gắn hột xoàng chung quanh. Mai Ly mở ra thấy, em mừng quá và vội vã xin Larry về thăm mẹ.
Mai Ly về tặng cho mẹ em năm ngàn đồng và nói :
- Má à ! Bây giờ con làm khá lương rồi, con sẽ lo cho má đầy đủ, má khỏi làm gì hết. Mỗi tháng má ăn xài bao nhiêu ?
Bà Hùng châu mày nhìn Mai Ly :
- Má có ăn xài gì đâu, má ráng làm bánh cho có chút tiền dư để hậu thân.
- Con hiểu rồị Nhưng má cho con biết rõ để con lo liệu .
- À, nếu con muốn... Ối, má ăn xài cao lắm là năm trăm đồng một tháng.
- Văy thì con bảo đảm cho má một ngàn rưỡi mỗi tháng, và con ráng cần kiệm có dư, con sẽ cất lại căn nhà này cho có đủ tiện nghi để má ở sướng thân hơn.
- À, nè, nè. Cái gì cũng từ từ, chớ con đừng có ráng sức quá rồi sẽ sanh bệnh đó à nghe .
- Không đâu má à ! Công việc của con cũng nhẹ nhàng chứ không có nặng nhọc đâu, má đừng có lo .
Mai Ly vui mừng trò chuyện cùng với mẹ em. Tới xế chiều em trở lại nhà của Larrỵ Trong một tuần lễ tiệc tùng mỗi đêm. Larry hết phép, chàng phải đi baỵ Larry âu yếm dặn dò Mai Ly :
- Em cứ an tâm ở đây, anh đi bay tuần sau anh sẽ trở về. Mọi việc gì cần, thì có chú Jo, Bill đâỵ
- Dạ, cám ơn anh. Em sẽ ở đây chờ anh trở về. Chúc anh đi bình an.
Tưởng đâu dứt kiếp phong trần
Nào ngờ giông bão đến gần đời hoa !
Ngày qua ngày trôi chậm, đã hơn mười ngày mà chẳng có tin tức gì của Larrỵ Mai Ly thấy lòng vừa nhớ, vừa lo cho chàng. Chiều thứ bảy, Jo vừa vô thấy Mai Ly đang đứng ngoài sân. Jo nói :
- Cô Mai Ly ! Chút nữa Larry sẽ về tới đó.
- Thật không ? Này, anh Jo ! Anh biết tin hồi nào vậy ?
- Hôm quạ Tôi quên nói lại với cộ
Trong lòng Mai Ly mừng vui, vội vàng vô nhà, lên phòng trang điểm sơ lạị Bàn cơm đã dọn sẵn. Mấy cậu cấp úy đã đủ mặt, họ đứng ngồi nâng ly khai vị đợi Larry về ăn cơm chung. Ðã hơn tám giờ tối rồi mà vẫn chưa thấy Larry về.
Chuông điện thoại reo, Jo nhấc lên :
- A-lô ! Jo nghe đây !
- Al-ô ! Jo đó hả ? Tôi là Garry Peter đâỵ
- Chuyện gì đó Garry ?
- Cô Mai Ly có nhà không ?
- Có, mà chuyện gì, sao mầy không nói ?
- Rất tiếc, Larry đã bị thương rồi !
Jo im lặng vài giây, Garry nói tiếp :
- Jo, mầy cho tao nói chuyện với cô Mai Lỵ
Jo nhìn Mai Ly, cậu hơi ngần ngại, rồi nói :
- Cô Mai Ly ! Có bạn của Larry muốn nói chuyện với cộ
Mai Ly có linh cảm việc không lành, đến cầm điện thoại :
- A-lô ! Mai Ly đâỵ
- Chào cô Mai Ly ! Tôi là Garry bạn của Larry, xin cho tôi báo tin buồn... Larry bị rớt máy bay, nhờ dù bật ra thoát được, nhưng bị gãy một chân, đã đưa gấp về Mỹ rồi . Cô cứ an tâm ở lại đó. Larry có nói với tôi, là tôi sẽ thay thế lo cho cô tất cả .
Mai Ly đau điếng người, nghẹn cổ không nói được lời nào, vứt điện thoại xuống, em chạy thẳng lên phòng ôm mặt khóc nức nỡ, và nói một mình : - Thôi hết rồi ! Ông trời sao cay nghiệt gieo chi cho đời mình những cảnh tang thương ly biệt như thế này !
Trong căn biệt thự sang trọng, không khí chìm lặng, mọi người đều buồn bã, bàn cơm đã nguội lạnh không ai muốn ăn. Jo lên phòng Mai Ly, cậu gõ cửa, gọi :
- Cô Mai Ly ! Mở cửa, Jo đây !
- Cửa không khóa, cứ vô đi .
Jo đến gần Mai Ly và an ủi :
- Cô Mai Ly à ! Cô xuống ăn cơm, cả nhà đang đợi cô đó . Chuyện như vậy rồi, cô có buồn khóc cũng không thay đổi được tình thế.
- Vâng ! Anh xuống trước đi, tôi sẽ xuống liền.
Mai Ly thất thiểu bước chầm chậm từng nấc thang lầụ Vào bàn ăn, em nuốt không trôi, nước mắt cứ tươm ra mãi . Bữa cơm gần xong, giọng nói nghẹn ngào của Mai Ly, em nói :
- Bữa cơm cuối cùng đêm naỵ Xin chúc tất cả an lành, vì sáng mai tôi sẽ ra đị
Jo vọt miệng :
- Cô đi đâu ? Garry bảo chúng tôi giữ cô ở lại với bất cứ giá nào . Cô mà đi, tụi tôi sẽbị trách đấy ! Làm gì làm cũng phải chờ Garry về, ông sẽ tính saụ
Mai Ly cố nén đau thương, nói tiếp :
- Jo, Bill... đừng lo, không hề gì đâụ Larry đã bị tai nạn về Mỹ rồi, tôi ở lại đây làm gì ? Mong các anh hiểu dùm tôi hơn.
Jo xoa hai bàn vào nhau và nói :
- Thì cô nán chờ Garry về đâỵ Chắc mai hay mốt gì nó về đó cô à !
Mai Ly tiếp :
- Không. Tôi không thể ở lại, tôi đã nhứt quyết rồị
Jo hỏi :
- Mà cô đi đâu, ở đâu ?
- Các anh lo gì. Tôi còn chút tiền, sẽ tìm nhà hay phòng trọ mướn ở, có khó gì đâu . Chào các anh tôi đi ngủ .
Tôi bỏ Saigon một cách vội vã như người chạy trốn nợ và thêm phần liều lĩnh nữa . Gọi là vội vã vì mong chong chóng đi khỏi nơi đã để lại cho tôi quá nhiều kỷ niệm về gia đình, và nhất là về mẹ tôi . Những lần đi ngang qua cây me già cao ngất, nơi khi gia đình còn thịnh, mỗi ngày Tết bố tôi thường kết nối nhiều bánh pháo dài dằng dặc kéo dài suốt từ gốc đến lưng chừng thân câỵ Ðúng mùng Một, bố nhờ người giúp việc châm ngòi để nghe pháo nổ dòn tan và lâu lắc, sau đó thì xác pháo ùn đỏ cả một vùng. Xác pháo này qua mùng Bốn, bố tôi phải tặng ít tiền để nhờ các chị lao công quét đường dọn sạch hộ .
Còn gọi là liều lĩnh vì trong tay không có một mảnh bằng, việc học dở dang, lại không có tiền thì biết lấy gì ăn, lấy gì sống. Nhưng ở lại Saigon cũng không hơn gì, vẫn là đi ăn nhờ thiên hạ, những người từ tâm chừng mực không thể nuôi tôi lâu dài .
Ấy vậy mà dạo đó tôi phải chờ đến hơn 3 tháng để Công An điều tra rồi mới cấp giấy thông hành cho đi . Ông anh bên họ mẹ tình cờ nghe được tin em gái mất đã về thăm gặp tôi, thấy thương tội đứa cháu bơ vơ, đã đề nghị tôi lên Dalat ở với ông. Thuở đó ai muốn lên miền Hoàng Triều Cương Thổ không phải dễ, phải có thân nhân bảo lãnh và nộp đơn tại Dalat để nơi đây phối hợp điều tra với tại sở của người xin đi, nếu thấy được, mới thuận.
Ông bác tôi làm kế toán cho khách sạn danh tiếng ở Dalat, chủ là người Pháp. Khách sạn nằm bề thế trên một vùng đồi rộng ngay trước bờ hồ vào thành phố. Thế nhưng để việc xin cho tôi đi được kết quả, bác tôi lại kết hợp đứng đơn cùng người tôi gọi bằng chú (vợ ông là con của mợ dâu mẹ tôi, tôi phải gọi bằng dì) đang phục vụ trong binh đội Ngự Lâm Quân, vậy mà Công An vẫn giữ đúng thủ tục cứu xét kỹ càng rồi mới ký giấy phép.
Tôi xa Saigon bằng xe đò Nghĩa Hiệp, luôn được ưu tiên xếp hàng đầu vì vai trò của chủ nhân hãng xe vốn là tướng Bảy Viễn rất nổi danh về kinh tài thời đó . Lần đầu được làm chuyến đi khỏi thành phố, giã từ phố xá từ 3 giờ sáng, tôi thấy lòng hân hoan vô cùng, dù ra đi chẳng có lấy một cái áo len để mặc lạnh.
Xe tới ngã ba Biên Hòa phải đỗ lại sắp thành đoàn công voa, chờ mở đường mới khởi hành. Mãi hơn 9 giờ sáng, chuyến đầu tiên mới được lệnh lăn bánh, liền theo sau mấy chiếc xe nồi đồng chạy mở đường. Xe qua những vùng định cư mới mẻ của đồng bào từ Bắc vào, kéo dài suốt từ Hố Nai, Trãng Bôm, Dốc Mơ, Dầu Giây lên tới Gia Kiệm, Phương Lâm, Ðịnh Quán.
Trời sáng gió lồng lộn, xe chạy mở hết cửa nên ai cũng thấy mát mẻ. Lại thêm một lần xe phải ngừng ở Ðịnh Quán, được nhìn những tảng đá to lù lù chấn ngang bên đường, tôi cảm thấy con người quá nhỏ nhoi trước thiên nhiên nhiều quá. Tôi ngước lên đám đá lổn nhổn rải rác chen giữa những tàng cây cao vút giữa rừng cao su trong khi nhiều khách đi xe có lẽ quen lệ nên rời xe xuống tấp vào các quán xá cạnh đó chờ xe chạy lại .
Tôi cũng xuống xe nhưng không vào các tiệm, lững thững đi dài theo ven đường. Con đường quốc lộ 20 nhỏ xíu bò ngoằn ngoèo qua hai bên rừng cao su như một con trăn mềm len lách đó đâỵ Chợt tiếng lảnh lót của máy truyền thanh từ trên chót vót một tảng đá vang ra, tôi trông lên chỉ thấy một chòi canh che bằng lá cheo leo trên đó. Một dáng lính ló ra nửa người với một mũi súng lập lờ kiểm soát suốt con đường từ tảng đá cao .
Tôi không hiểu người lính ngồi trên đó hằng ngày thấy gì, nghĩ gì giữa cảnh vắng vẻ của quốc lộ và sinh hoạt lẻ tẻ của quán xá xung quanh. Bỗng nhiên, tôi chợt hỏi bâng quơ về những ngày không có xe lại qua thì anh thấy thế nàọ Ðúng là những ý nghĩ vẩn vơ của một người trai đang lớn chỉ mới được ra khỏi thành phố lần đầu .
Ðợi mãi rồi cũng có lệnh cho xe chạy lại . Từng chiếc lại từng chiếc chạy cách quãng nhau khoảng 5 phút, sau cái vẫy tay của người lính đứng cạnh xe thiết giáp. Công voa bắt đầu vào đoạn đèo, khí hậu mát dần, các loại cây nhiệt đới cũng thưa và mất hẳn để thay thế bằng những ngọn thông kim réo rắt.
Tâm hốn tôi lâng lâng khó tả, gió len vào lòng xe thốc tháo, vài khách loạt xoạt lôi áo len ra mặc. Tôi hơi co ro một chút, cơn đau phổi từ ngày săn sóc mẹ, tuy đã được chữa trị tạm ổn, nhưng vẫn khiến tôi lo lắng, tôi sợ cái lạnh sẽ làm tôi đau khi mới chân ướt chân ráo lên sống nhờ nhà bác sẽ là điều không haỵ Cho nên tôi có ý muốn kéo cửa xe lên cho ấm, nhưng cái bà đi buôn ngồi sát phía ngoài không ưng vì lấy cớ bà ăn trầu cần để cửa xe mở cho bà phun quết trầu ra ngoài .
Tôi ôm sự bực bội thầm kín trong lòng. Ấy vậy mà khi bà phun nước trầu đỏ thế nào để gió thổi tạt ngược vào xe nhuộm đỏ một khoảng áo sơ mi trên ngực tôi thì bà lại cười hề hề lấy lòng ngay được. Tôi quá chán khi phải đối đầu với thế sự bên ngoài trong khi suốt thời ngồi ghế nhà trường tôi vẫn ngây thơ tin tưởng toàn nét đẹp.
Xe lên đèo Blao, nhiều tầng đường trải nhựa đen gối lên nhau lớp lớp như dải nhung khiến xe lên một độ cao nhìn xuống còn thấy đoạn đường vừa bỏ lui dưới đó . Xe vào phố, thị xã loe hoe thưa thớt, loáng thoáng nhiều căn nhà ở rải rác, xây cất bằng những thân gôc thông xẻ đôi úp đưa sống ra phía ngoài và lợp tôn, trông ướt át ủ rũ vì sương chưa tan hết. Nhiều đoạn bát ngát những đồi trà với từng từng chồi cây nhu nhú đều trên mặt đất đỏ quạch.
Có lúc xe lướt qua một vườn trồng cây canh ki na hay một trại xao lá trà với vài dáng người dân tộc đứng bặp tẩu nhìn đoàn xe lướt qua . Một tháp giáo đường nào đó vọt lên khỏi hàng cây để rồi khi xe chạy qua thì thấy lừng lững cái gác chuông nặng trĩu nằm im lìm ở một góc. Khu hành chánh nằm bên phải chiều xe chạy trên một khoảnh đất rộng đang xây cất mới, có cả một vùng hồ đào với chiếc cầu gỗ nhỏ cong cong làm theo kiểu cầu Thê Húc ở Hà Nội .
Xe chạy nhanh qua khu trường Nông Lâm Súc rồi lại thong dong trên đoạn đường trống. Lại rừng thông, lại đèo dốc, những cái tên nghe mường tượng như một an phận mê tín. Ở vài đoạn nguy hiểm, đường ngoặt gắt như cùi chõ, xe phải tống ga để vượt lên, vụt qua chiếc miếu bên đường, có bà đi buôn trên xe chắp tay xá chưa kịp thì xe đã chạy qua mất dạng. Suốt con đường quốc lộ, từ Biên Hòa lên đến Blao càng lúc càng nhiều loại miếu thờ nàỵ Nguyên do vì đường hẹp, xấu và xảy tai nạn nhiều, những oan hồn uổng tử được địa phương lập nơi thờ, ở các đoạn đèo nên số miếu càng nhiều lên. Thỉnh thoảng xe cũng chạy qua những cái xác xe đụng vỡ nát đặt chỏng gọng tại chỗ chẳng ai thu dọn, hẳn nhiên khách đi xe oang oang giảng giải về những tin mà họ thu lượm được từ tận đâu chẳng cần ai hỏi cũng kể.
Xe qua miền đèo Cậu, quốc lộ trống trơn khoảng khoát mà lại lắm tai nạn, nguyên do vì đường trơn nên tài xế nhiều khi xoay trở không kịp khi bất ngờ gặp một tay lái ẩu . Ðất đỏ au, nhiều khoảng núi sạt lở vì những trận mưa qua và nhiều đoạn nước chảy ồ ồ như suối .
Ðoàn công voa vượt qua Dziring (sau đổi thành Di Linh), chỉ một dãy nhà sát bên đường, còn thì trùng trùng rừng và đồn điền. Thành phố còn nhỏ hơn Blao nhiều, lối xây cất cũng như nhau với loại vách bằng gỗ thông úp bề sống đưa ra phía ngoài . Phố xá chắc chỉ có vài con đường tráng nhựa, còn là đường đất đỏ nện kỹ. Có lẽ đêm mưa to nên cống rãnh hai bên đường vẫn còn những lượng nước đỏ ngầu chảy xiết.
Qua những chiếc cầu, nước cuồn cuộn cũng đỏ như vậy, cuốn theo lá rừng nhộn nhạo trồi sụt lên nhau . Tới đây, khách đi xe đã nhốn nháo chừng như sắp đến bến cuối, tự dưng tôi cũng choàng dậy sau một lúc ngật ngừ, ngủ chẳng ngủ, thức chẳng ra thức. Bà khách gây lấm áo tôi thấy vậy nên nói bâng quơ : sắp đến Dalat rồi, chóng quá . Cái tiếng khen chóng quá của bà mà với tôi thì thật dài quá đỗi, mông tôi đã tê, lưng đã mỏi và thêm nỗi háo hức thức chờ giờ ra đi làm tôi mệt đứ đừ .
Thôi thì cũng vui vui một chút vì sắp đến cái nơi định mệnh của mình. Tôi cũng có một chút lo âu vì không biết ngọn ngành đường đi nước bước ra sao nên hỏi thăm bà khách. Bà chỉ vẽ cho tôi về bến xe, về thành phố Dalat và còn hứa hẹn với tôi sẽ chỉ cho tôi thấy cái khách sạn bác tôi đang làm. Bà nói thêm cho tôi yên chí : từ bến xe cậu có thể thả bộ đến nhà bác cậụ Rồi bà tủm tỉm cười : tiện thể để cậu xem phố xá Dalat luôn cho biết. Chợt bà nhìn thấy vết đốm nơi ngực áo tôi, bà lại bẽn lẽn ngỏ lời xin lỗi lần nữa .
Sự chộn rộn của khách trên xe tưởng là chỉ vài khắc thì đến Dalat, nào dè cũng gần 2 tiếng đồng hồ sau thì xe mới bò nốt con đèo cuối cùng tên là Prenn để bắt đầu đổ dốc vào bến. Trước mắt tôi một vùng hồ rộng loang loáng với nhà thủy tạ cất trên mặt nước sát bờ. Bà khách chờ xe xuôi theo con dốc xuống tận con đường sát ven hồ thì lay tôi chỉ về một tòa nhà nguy nga như dinh thự mà bảo : đấy cái khách sạn mà cậu hỏi là chỗ này đâỵ
Xe chạy vòng một đoạn hồ, qua một nhịp cầu xi măng sơn trắng rồi leo lên một đoạn dốc ngắn và phố Dalat hiện ra . Xe chạy bọc theo khu phố buôn bán vòng ra phía sau một dãy nhà, đỗ vào cái bến con sũng nước. Dalat vừa qua cơn mưa nên đường còn đọng vũng. Tôi chờ các bà tranh nhau xuống xe, ríu rít nhận lại hàng rồi tôi mới bước xuống sau cùng.
Tiếng thông reo vi vút như dang tay chào đón tôi . Cái rét len lén chui vào lay động từng làn da thớ thịt tôi làm tôi run từng chặp. Ðồn cảnh sát con con ngay tại bến chẳng thấy ai hỏi han gì, có lẽ tại họ yên chí là ai lên được tới đây thì đều được xem là lương thiện, có giấy bảo lãnh cả nên họ không cần quan tâm nữa .
Tôi khựng lại một lúc vì không biết đi hướng nào . Tôi chợt thấy những con đường trước mặt nhỏ nhoi hệt như trong phim có lần tôi xem về một thành phố ở bên Pháp nào đó. Cũng là con phố hẹp, giá như hai xe chạy song song nhau không lọt, dẫn vào dãy nhà lô nhô thòi thụt như mẩu bánh mì nướng kỹ .
Tuy đã được bà khách chỉ cho, tôi vẫn phải hỏi thăm mới tìm ra đường về nhà bác. Cái kiểu nói " cậu có thể đi bộ " hóa ra bước mỏi cả chân thì mới tớị Ðó là chưa kể những đoạn ngoằn ngoèo và lội dốc mà cái bụng chẳng có gì từ khuya đến giờ bò lên được chẳng phải dễ .
Tôi bước vào khu dành cho nhân viên của khách sạn, đang hỏi thăm thì bác đã nhận ra gọi tôi : cháu lên rồi à, sao không báo thư cho bác. Tôi trình bày lý do nhận giấy cho phép của Công An vội quá nên không kịp làm gì nữa lo mua vé xe đi ngaỵ
(còn tiếp)
7/03
Vừa về đến nhà, Thủy vội khóa cửa và đi thẳng vào phòng ngủ . Nàng trút hết áo quần trên người, đến trước kính và ngắm lại thân hình của mình thật kỹ . Ðây là lần giải phẫu thẩm mỹ thứ ba kể từ ngày nàng đặt chân đến Vancouver, thủ đô phía tây của Canada . Hai lần trước cách đây mấy năm, nàng đến mỹ viện để xóa các vết nhăn ở trán, hai bên khóe mắt, rút bỏ phần mỡ dưới cằm và giải phẫu nâng bộ ngực lên. Nhưng lần nầy Thủy nhất quyết giải phẫu toàn bộ hình dáng bên ngoài để kéo lại số tuổi của nàng đang bước nhanh vào thập niên thứ sáu .
Thủy biết mình vẫn còn rất đẹp, nhất là sau những lần giải phẫu trước. Nét đẹp trang trọng của một mệnh phụ phu nhân, một người đàn bà đứng tuổi, nhưng mỗi lần ngắm mình trong kính, nàng vẫn giật mình vì những chứng tích tuổi già mỗi ngày càng đậm nét trên gương mặt. Thủy muốn thời gian phải dừng lại trên cơ thể của nàng ở khoảng bốn mươị Mặc dù Tâm phản đối, nhưng một khi đã cương quyết, nàng nhất định bay qua Houston một tuần lễ để hoàn tất những điều ước mơ . Lát nữa Tâm đi làm về, mọi việc xem như đã rồị Thủy biết chắc chồng nàng sẽ buồn và đau lòng hơn là giận hờn trách móc, nhưng không thể làm gì một khi nàng đã quyết tâm.
Một điều hiển nhiên nhưng nàng không dám nghĩ và nhìn thẳng vào sự thật, việc sửa lại toàn bộ khuôn mặt, giải phẫu thân mình, nâng cao bộ ngực lần nầy không ngoài mục đích làm vui lòng Hải . Nàng phải đẹp và phải trẻ trở lại cốt để xóa tan những mặc cảm chênh lệch về tuổi tác mỗi khi cùng Hải dạo phố. Hơn nữa, để cho Hải đạt được cảm giác trọn vẹn trong những lần ái ân gần như miễn cưỡng mà nàng đã bắt gặp, Hải thường nhắm mắt để tự đánh lừa mình khi phải ôm ấp một người đàn bà có số tuổi gấp đôi .
Nghe tiếng xe của Tâm, nàng vội mặc áo và bước ra mở cửa . Vừa trong thấy Thủy, Tâm hơi sửng sốt giây lát nhưng giọng nói vẫn bình thản như thường lệ :
- À, em mới về.
Vừa nói vừa quan sát Thủy, rồi tiếp :
- Nhìn thoáng qua trông em trẻ như con Hồng.
Nàng đánh trống lãng :
- Anh về từ bệnh viện hay phòng mạch ?
- Hôm nay vắng khách, về sớm, vòng qua chợ mua ít
thức ăn.
Vừa trao cho Thủy bịch giấy, Tâm tiếp :
- Suốt tuần qua ăn tiệm, định hôm nay ăn cơm nhà thì may
quá em đã về.
Thủy xách bịch giấy vào nhà bếp vừa suy nghĩ vừa ngạc nhiên trước thái độ của Tâm. Lẽ ra phải có những cái nhìn soi mói hay vài lời trách móc hờn ghen. Nhưng không, chồng nàng hoàn toàn dững dưng trước thay đổi đột ngột của nàng. Thủy đã chuẩn bị đón nhận những phản ứng thường tình của một người đàn ông khi khám phá ra vợ mình làm đẹp cho một người thứ ba . Nhưng ngược lại không có gì xảy ra đối với chồng nàng. Thái độ dững dưng nầy nhắc nhở nàng về Tâm, một người đàn ông kín đáo, trí thức, khoan dung, sống nhiều về nội tâm, trung thành với vợ con, là người đã đem lại hạnh phúc cho nàng trên ba mươi năm naỵ Thủy biết nàng có lỗi nhiều với chồng con, nhưng không còn con đường nào khác để quay trở về với Tâm khi nàng đã ngang nhiên bên cạnh Hảị Nàng đã tìm được những đam mê chăn gối thật tuyệt vời ngay từ lần đầu hiến dâng cho Hải . Cảm giác mới lạ và quyến rũ của Hải đã đưa nàng vào mê hồn trận đồng thời đẩy nàng xa dần những thói quen chăn gối nhàm chán của Tâm.
Người chồng nào cũng muốn vợ mình mãi mãi trẻ đẹp. Hai lần giải phẫu trước, chính Tâm đã khuyến khích và đích thân đưa nàng qua tiểu bang Texas. Nhưng lần này chồng nàng không bằng lòng vì một lý do đơn giản : Tâm đã có lần bắt gặp Thủy cùng Hải cặp tay ôm nhau trong một khu phố bình dân. Hình ảnh một chàng trai trẻ cùng vợ mình âu yếm đi ra từ một rạp chiếu bóng rẻ tiền, nơi dành cho những cặp nhân tình đến đây tâm sự, bù đắp những nhớ nhung hơn là thưởng thức phim ảnh trên màn bạc. Lúc đầu Tâm nhất quyết không thể chấp nhận và tha thứ hành động nầy, chàng sẽ có thái độ cứng rắn với nàng, một người đàn bà đã có chồng hai con lại công khai nơi công cọng với một nhân tình trẻ, tuổi chỉ bằng con gái của mình. Nhưng nghĩ lại, chẳng được ích gì khi tình cảm của nàng đối với chàng đã đi vào đường hẹp không lối thoát. Thật vậy, gần một năm nay Tâm thấy Thủy đã có những gượng ép trong chăn gối với chàng. Thậm chí đôi lúc đang trong vòng tay chồng, nàng nhắm nghiền đôi mắt và gọi thầm tên của một người khác ! Bây giờ thì chàng vỡ lẽ, đó là Hải, người con trai đã thực sự làm chủ đời nàng. Từ đó những háo hức thèm muốn với Thủy cũng từ từ buông xuôi trong con người của Tâm.
Tâm biết, một khi tình yêu vợ mình đã khoát áo ra đi theo tiếng gọi con tim, khi thân xác nàng đang chìm đắm trong mê muội với người tình mới thì không còn con đường nào níu kéo Thủy trở về. Nhất là quay về người chồng già với những gối chăn cổ điển, những nếp sống nhàm chán từ hàng chục năm quạ Tâm đắn đo suy nghĩ về mối tình tay ba giữa chàng, Thủy, Hải và chấp nhận một đổ vỡ thật sự. Chàng sẽ âm thầm chọn lấy phần thua thiệt. Chẵng buồn níu kéo làm gì, một khi tâm hồn của nàng đã hướng trọn về một người khác. Trong yêu đương miễn cưỡng giờ đây, chàng chỉ làm chủ được thân xác nàng một cách nhạt nhẻo mà thôi .
Tâm, con trai út trong một gia đình giàu có tại Miền Trung. Cha là sĩ quan hồi hưu . Mẹ làm chủ nhiều cơ sở thương mãi tại thành phố Ðà nẳng. Sau khi tốt nghiệp đại học y khoa chàng phải vào phục vụ trong quân đội theo lệnh tổng động viên. Qua thời gian huấn luyện căn bản quân sự tại Thủ-Ðức, Tâm mang cấp bậc trung úy và được bổ nhiệm về trường Võ Bị Sĩ quan Ðà lạt với nhiệm vụ bác sĩ điều trị .
Ðược giáo dục trong những môi trường tốt, Tâm một người trí thức, mẫu mực, tác phong đạo đức trong cuộc sống bình thường hằng ngày với bạn bè, đồng nghiệp và ngay cả trong đời sống vợ chồng với nàng. Từ những ngày sống hạnh phúc với nàng tại Ðà lạt, ba năm lao động trong các trại cải tạo cho đến thời gian nằm nhà chờ ngày xuống tàu vượt biên, Tâm đã trải qua nhiều hoàn cảnh tình huống khác biệt nhau, nhưng con người và tâm hồn vẫn không thay đổi, chàng vẫn bình thản, kín đáo . Trước những giờ hấp hối của Miền Nam, trả lời câu hỏi của Thủy về số phận tương lai, Tâm đáp vắn tắt rằng, tình thế đã được an bài từ trước không thể làm gì hơn. Nếu chúng ta không chấp nhận những thay đổi tại đây thì hãy ra đi và làm lại cuộc đời ở một phương trời nào đó, dù bắt đầu từ con số không nhưng sẽ tìm lại được những gì đã mất.
Về phần Thủy, một thời được xem như hoa khôi của Viện đại học Ðà lạt, mái tóc dài, khuôn mặt đài các, phảng phất nét đẹp tây phương với một thân hình cân đối tuyệt mỹ . Con cưng của một gia đình triệu phú, tốt nghiệp tú tài Pháp, tiếp tục ban văn chương Âu Mỹ tại Văn khoa, Thủy là thần tượng của hàng trăm thanh niên thuộc viện đại học Ðà lạt, của hàng ngàn sĩ quan tương lai đang thụ huấn tại các trường Cảnh sát, Chiến tranh chính trị và Võ Bị. Nàng thông minh, đẹp, quý phái, thừa điều kiện để chọn cho mình một người tình, một người chồng theo ý muốn. Ðã hai mươi hai mùa xuân qua, nàng vẫn chưa dứt khoát đưa tay đón nhận chiếc nhẫn nhưng đã nổi tiếng lãng mạn qua những mối tình vụn vặt của thời cắp sách đến trường. Hình ảnh những người đàn ông đã đến với nàng chỉ lướt qua thật nhanh, mong manh như đám mây trước gió như cơn mưa rào vội vã và nàng chỉ hời hợt giữ lại trong đời như những kỷ niệm. Những vòng tay ôm ấp, những nụ hôn đến và đi một cách nhẹ nhàng như cảm giác của một cuộc tình khai vị, không mặn nồng cũng không cay đắng. Những khai vị đầu đời nầy chưa đủ sức dẫn nàng đến đam mê tình yêu hay buộc nàng phải chấp nhận cay đắng tình lụỵ
***
Ðà lạt, quê hương xứ núi sương mù thật quyến rũ với những đường dốc xuyên qua phố cũ trầm lặng, với những đồi thông nhỏ bao quanh hồ nước tình tứ trong xanh. Trời về chiều sương phủ xuống thung lũng, từ rừng thông đến mặt hồ, thành phố ẩn hiện trong một màu trắng huyền ảo tuyệt vời .
Ðà lạt, thành phố của mơ mộng, tình yêu, của gian nhân và những người yêu thơ yêu nhạc. Những ai đã ở đây, chiều phải khoát áo xuống phố, châm điếu thuốc, thả bộ một vòng đi tìm vị đắng, tìm nàng thơ ý nhạc trong những quán café trữ tình.
Nằm khuất trong khu phố nhỏ nhưng những ai đã đến Ðà lạt đều biết Café Tùng, chủ nhân thường tổ chức những chương trình ca nhạc vào chiều thứ bảỵ Nơi tập trung một số ca nhạc sĩ chuyên nghiệp lên từ Sàigòn cũng như những ca nhạc sĩ tài tử địa phương, họ đến giúp vui bằng những ca khúc trữ tình mới sáng tác. Chính những ca khúc tình yêu, những giọng hát điêu luyện truyền cảm của những người không thuộc giới nghệ sĩ chuyên nghiệp là một quyến rũ đặc biệt của quán.
Từ lúc Thủy xuất hiện, quán càng thêm lôi cuốn khách đến đây, vừa thưởng thức thơ nhạc, vừa được chiêm ngưỡng tận mắt nàng tiên bằng xương bằng thịt. Chỗ ngồi của nàng được chủ quán và khách trang trọng dành riêng ở ngay giữa phòng, sát bên dàn nhạc của các nghệ sĩ. Dưới ngọn đèn màu hồng nhạt, nàng nổi bật như một thiên thần đang ngồi mẫu để người ái mộ chiêm ngưởng.
Tại quán nầy, một buổi tối cuối thu năm 1971, Thủy đã gặp Tâm trong chương trình ca nhạc đặc biệt của TCS có sự góp mặt của cô ca sĩ lập dị với mái tóc dài và thường đi chân trần. Trái với những người Thủy thường gặp tại đây, Tâm tỏ ra lạnh lùng khi nghe Hoàng, chủ quán săn đón :
- Anh giới thiệu em, bác sĩ Tâm làm việc tại trường Võ Bị,
lần đầu anh đến đâỵ
Quay quay sang Thủy, Hoàng trịnh trọng :
- Giới thiệu anh, Thu Thủy người đẹp, hoa khôi của thành
phố.
Không vồn vã bắt tay nàng như mọi người, Tâm chỉ khẻ gật đầu đáp :
- Hân hạnh !
Dứt câu Tâm quay qua nói chuyện với mấy người đứng bên cạnh. Câu trả lời lộc cốc và thái độ ngạo mạn của Tâm khiến Thủy nổi giận, nàng quay nhanh vào chỗ ngồi thường lệ dành cho nàng. Trong suốt chương trình nhạc Thủy vẫn ấm ức vì lần đầu tiên, nàng gặp một người đàn ông ngạo mạn và bất bình thường. Phải, bất bình thường thì đúng hơn vì từ trước đến nay chưa có người đàn ông nào dám xem thường nàng đến vô lễ như vậỵ Vừa giận vừa tức nhưng trong suốt buổi trình diễn ca nhạc, nàng thường liếc trộm về hướng của Tâm và thấy chàng vẫn bình thản hút thuốc, lâu lâu ghé tai qua chuyện trò với mấy người ngồi bên cạnh, tuyệt nhiên không chú ý đến nàng như những người khác.
Gần về khuya trời bỗng dưng đổ mưa, nước xối xả trút xuống mái tôn lấn át tiếng kèn tiếng nhạc và lời ca . Chương trình phải tạm ngưng, nhiều người ân cần đề nghị đưa Thủy về nhưng nàng từ chối và ngồi nán lại bên quầy rượu . Khi tất cả đi xong, nàng hỏi chủ quán áo mưa và chiếc dù rồi từ giã Hoàng bước ra sân.
Thủy ra đến dốc đường bỗng nghe tiếng xe hơi dừng bên cạnh, tiếp đến một giọng đàn ông :
- Trời mưa quá, tôi đưa cô về .
Nhận ra Tâm đang lái chiếc xe jeep quân đội, cơn giận nổi lên, nàng nói lớn át cả tiếng mưa :
- Tôi không cần !
Tâm vẫn ôn tồn :
- Coi chừng trúng mưa sẽ bị cãm.
Không thèm trả lời Tâm, nhưng tự ái đã được vuốt ve phần nàọ Thủy tức cười trong bụng về giọng điệu của một bác sĩ, nàng bớt gay gắt :
- Bệnh hay không chẳng ăn nhằm gì đến ông !
- Ðúng, không ăn nhằm gì đến tôi . Nhưng tôi và cô cùng đi về một hướng, tôi đi bằng xe hơi còn cô thì đi bộ dưới cơn mưa lớn. Nếu ai biết hoặc ai thấy họ xem tôi là người không biết trọng đàn bà. Xin cô nghĩ rằng, trong trường hợp như thế nầy bất cứ ai cũng có bổn phận phải đưa cô đi một đoạn đường.
Thủy không trả lời, vẫn tiếp tục đị Lần nầy Tâm nói lớn gần như ra lệnh :
- Cứ xem như tôi và cô chưa bao giờ gặp nhau, mau lên
xe tôi chở đi !
Vừa tiếp tục bước Thủy thầm nghĩ, cứ lên xe thữ xem chuyện gì sẽ xảy đến. Nàng không trả lời Tâm, đưa tay xếp dù và bước về hướng xẹ
Suốt quãng đường về đến nhà Thủy, Tâm vỏn vẹn chỉ hỏi một câu :
- Nhà cô ở đâu .
- Số.....đường Ðoàn thị Ðiểm.
Sau đó, hai người không nói tiếp gì cho đến lúc xe đưa nàng về đến tận nhà .
(còn tiếp)
Trời khởi sự mưa, mới lắc rắc những hạt đầu tiên thôi mà đã nghe đập ầm ầm lên mái đồn. Mưa núi vẫn vậy, hạt thường to có lẽ vì tập trung quá nhiều hơi nóng gắt. Mái tôn bốc hơi ngùn ngụt, cái nóng se sắt ngột ngạt của sức nhiệt cuối cùng bỗng vỡ bung một lúc. Ðến khi những hạt mưa rơi đều bị gió xoắn bay tứ phía thì cơn nực mới hạ dần rồi chỉ còn nghe tiếng đập dai dẳng trên nóc.
Chưa gì nước đã tuôn ồ ồ từ các đường rãnh dẫn thủy tận đồi cao đổ xuống lũng, thoáng một cái nước đã xóa sạch con đường mòn, nơi dân bản vẫn dùng làm con lộ giao thông. Làn nước đỏ quạch từ đâu ào ạt cuốn băng lẫn với cây rừng nghe rầm rầm nơi vực suối . Anh và đám lính kéo nhau ra thềm đồn nhìn chỉ thấy toàn nước là nước bao la .
Ðồng thời anh nghe lòng nôn nao như có ai thúc giục, một cảm giác mà anh thoáng bắt gặp mỗi khi sắp đụng trận. Anh ví như có lò lửa đang đốt ngấu nghiến trong anh, nhìn đâu cũng mù mịt mây trắng dầy như tảng cơm sượng. Anh đưa tay tư lự rờ lên cằm, những sợi râu cứng còng mọc lởm chởm như một rào kẽm gai phòng thủ .
Anh gọi người thượng sĩ đại đội đến với anh, cả hai cùng chuyên chú nhìn vào tấm bản đồ ghi chi chit màu viết chì mỡ . Anh chấm chấm đầu ngón tay vào những tọa độ đã đánh dấu sẵn, thảo luận nho nhỏ với vị phụ tá. Cả hai đều tỏ vẻ thành khẩn như nhau .
Một dự đoán chặt chẽ càng lúc càng bám lấy anh để nhất quyết đêm nay thế nào cũng xảy biến cố. Mùa mưa kéo về là thời gian địch quyết nhổ đồn. Anh nghĩ đến những đứa em sẽ phải trải nguyên một mùa nhọc nhằn chiến trận.
Anh nhớ lá thư ngắn chiều qua Nia gửi đến cho anh : đồn anh nên thận trọng, em nghe như đang có một âm mưu rất gần. Vợ và con bọn Y Brôm, Y Sê đột nhiên lộ vẻ mừng lạ lắm. Anh thầm cám ơn cô gái bản, cho dù cô không nhắc nhở anh thì anh vẫn phải lọ Cuộc sống ở đồn nào phải chỉ có anh mà còn nhiều đồng đội khác. Nhiệm vụ của anh là phải bảo toàn mạng sống họ (cũng chính là giữ mạng sống của anh), uy tín của quân đội nằm trong sự đứng vững hay không của căn đồn nàỵ
Lá cờ thiêng liêng là dấu hiệu biểu tỏ ta còn giữ vững được quốc lộ, phải làm sao cho nó vẫn được giương cao trên cột chứ không thì hỏng hết. Con đường nuôi sống bà con cũng là cái xương sống để giữ cao nguyên toàn vẹn. Ngày nào đường bị cắt thì sự sống sẽ trở nên nhốn nháo ở miệt cao ngaỵ Anh biết như thế nên dù ít được quan tâm tiếp liệu những món anh đòi hỏi thì anh vẫn phải phục nguyện lời thề khi ra trường.
Theo anh nghĩ địch chưa đủ mạnh nên họ mới dùng nhiều tiểu xảo để lung lạc đồn anh. Chúng dựa vào sự mù mờ của dân bản để đồn thổi lên tài năng thần thánh của họ, một mặt để lôi kéo thêm trai bản đi núi theo họ, một mặt để mượn bản buôn làm cái loa dọa dẫm bọn anh.
Nếu tất cả những gì họ nói đều trúng phong phóc thì họ đã úp bọn anh lâu rồi . Ðâu phải chờ đến mùa mưa mới ra tay, chẳng qua họ cũng biết bọn anh không phải là hạng chết nhát, nên dựa vào thời gian cây lá mọc um tùm mà len lách bò vào động thủ . Họ là thứ vỏ quit dày thì bọn anh cũng là móng tay nhọn, vờn nhau để tranh sự tồn vong.
Ðồn anh có kẽ hở là trụ nguyên tại chỗ dễ cho họ trinh sát đặt tọa độ tiền pháo hậu xung, song ngược lại vũ khí đạn dược dồi dào và lực lượng yểm trợ luôn sẵn thì chướng ngại có khi trở thành ưu điểm cũng nên. Vả chăng từ thời gian gần đây, anh đã cho vá lại những khoảng hổng của lớp rào phòng thủ, những chỗ mà bọn thú ăn đêm bị vướng đã gây đứt đoạn, giờ trông là trùng trùng vòng kẽm gai chằng chịt.
Bàn thảo xong, anh chia công tác cho vị phụ tá chỉ huy một toán, còn anh thủ một toán. Anh không ban bố lệnh chi tiết mà chỉ thúc giục đàn em ăn chiều sớm để nghỉ ngơi còn đương đầu với địch.
Trời càng lúc càng mưa nhiều . Tiếng sấm rần rần như phá vỡ núi non và đồi đất liệng xuống suối . Khi bóng tối nhập nhoạng thì tia chớp chạy ngoằn nghịt trên đầu, chốc chốc sét lại đánh âm vang tóe lửa .
Như kế hoạch, đích thân anh dẫn một toán ra nằm kích ở giữa đồn và con đường đến bản. Lớp kẽm gai được nhấc ra và rào kín lại lặng lẽ . Anh rải bọn lính lan tràn dưới các gốc cây nằm nép ụ như đám đất, poncho trùm kín mặc cho mưa gõ khắp người .
Trời tối dần, chỉ còn mưa túc tắc, sấm lai rai nhưng chớp không thấy nữa . Cám ơn thiên nhiên đã xóa dấu vết bọn anh để địch yên chí lính đồn co ro vào thế thủ . Những sợi mưa lạnh lẽo thật buồn, người lính ướt át và ngứa ngáy khi có giọt xen theo kẽ nhựa chui vào lưng gáy làm buốt tê ê ẩm.
Ðời lính gian lao khổ cực, nhưng ai cũng xem như số phận của mình nên chẳng hề than van thắc mắc. Bình thường ở đồn đôi khi họ cũng thầm than hay so sánh khi nghĩ tương quan khác nhau giữa người lính đồn lẻ với thành phố kiêu sa . Song khi trách nhiệm đã quàng lên thực tế thì họ không còn toan tính chi khác. Vì họ biết chỉ một giây lơi là đời họ có thể bị xóa sạch, nếu có sống sót thì cũng không lành lặn châu thân.
Cho nên những tị hiềm hay than vãn họ chôn dấu hết để giữ cho thân mình vẹn toàn. Nếu họ lo thì phía đối thủ cũng lo, vì cả hai đều biết đánh đấm với nhau thật là cay đắng và khó nhọc. Họ từng nghe các tù binh thố lộ thượng cấp của họ dặn dò và phân biệt trận chiến của từng binh đội : dễ nhất là chạm trán với Mỹ, kế đến là Ðại Hàn, còn cay chua là đối đầu với ngụỵ Cái tiếng ngụy đối phương dùng không phải để coi nhẹ mà để cho các chiến binh phải nhận rõ thế khó khăn mà liệu giữ mình.
Có thể nói trong trận chiến hai bên gầm gừ nhau như hai con hổ đói . Bởi vì cả hai đều nắm rõ tâm tư và thủ đoạn của nhau nên không đụng thì thôi đã đụng là long trời lở đất. Cơ man này thấy rõ sau mỗi trận địa tan hoang, cảnh đổ nát vãi vương, mà người thắng lẫn kẻ thua đều thấy đau lòng xót dạ.
Từng cá nhân dù bên này hay bên kia đều nhận ra tình trạng mình là một mắt răng của guồng máy, có muốn nhả ra từ chối tham dự cũng chẳng ai cho, nên húc lẫn nhau với ước vọng sao cuộc chiến này sớm kết thúc.
Ðêm hoang liêu tịch mịch, gió lướt thướt như bước chân thần chết đi kiếm mồị Những giọt mưa lộp độp rơi khô khan xuống đất rừng. Mây đen ngòm u ám, trông bốn phía chẳng thấy rõ vật chi . Người lính thấy môi se lạnh ngắt, thèm một hơi ấm của khói thuốc mà không ai dám châm đốt.
Báng súng ướt nhẫy trong tay, vô tình chạm vào ổ cơ bẩm hay đầu nòng thì nghe lan man lạnh toát. Thời gian chờ đợi lê thê chậm chạp, chẳng ai đoán được tối hay đêm đang buông phủ quanh đồi . Mọi ước đoán đều mơ hồ và chẳng một ai nghĩ là sớm hay khuyạ Ðâu đây chốc chốc sột soạt tiếng thoát chạy, chẳng ai hiểu đó là con hoẵng hay giống thú vào lủi vội vào rừng.
Anh nằm im như xác chết, mắt cay xé bên cạnh lũ em. Anh ngúc ngắc mấy phen vì con gì bò dưới nách áọ Anh cố nhướng về phía đồn, chẳng thấy gì. Anh xoay về phía bản, cũng tình trạng như vậỵ Cả hai mù mù mịt mịt trong bóng tối bao la .
(còn tiếp)
Thuở nhỏ còn đi học, mỗi lần phạm lỗi, thầy cô thường hay bắt phạt bằng cách quay úp mặt vào tường. Thế giới có bảy kỳ quan mà Vạn lý trường thành là mt. Muốn trút bầu tâm sự, người ta thường thì thầm thủ thỉ to nhỏ riêng tư, không muốn kẻ khác lạ nghe lén, dèm pha, dòm ngó. Ðể rào trước đón sau cho thêm vẻ đậm đà thân thiết, bí mật được niêm phong đóng khằng cẫn thận, ta mới thu hết tàn hơi thì thào suỵt nhỏ:’ Coi chừng tai vách mạch rừng đó’. Ðiều nầy chứng tỏ tường vách thật gần gũi, liên quan mật thiết với cuc sống con người .
Thật vậy, tường có bằng gạch đá, kiên cố vững bền, vách đất dù trn bằng rơm rạ thô sơ, hai loại tường giàu sang nghèo khó nầy có công dụng như nhau, ngăn chận, cách chia, bảo vệ, cấm đoán, ủi an, vỗ về, mt người bạn trung thành thầm lặng. Ðó cũng là sự phối hợp công sức của trí óc với bàn tay nung đất nước tạo ra thành phẩm. Trơ trơ như gạch đá, bạc trắng như vôi, tường vách như thu tất cả vui buồn hoạt cảnh chung quanh Không biết có tâm linh hay sức cảm thông hiểu biết, tường vẫn là chứng nhân lịch sử cá nhân gia đình đất nước như ông gác cổng già hay chị vú thân thương...
Nhìn những bức tường nung đỏ, loang lổ rong rêu, ta hình dung như đó là mồ hôi, nước mắt đọng khắc trn lẫn máu đào của người dân thắm nhuần trong ấỵ Ðứng xa ra quan sát những lằn vôi trắng đục như xương, mục bể nát rơi thành bụi mỗi lần gió thổi, từng mảnh bén như khúc xương sẫm màu bị gảy, ta thầm phục và cảm nhớ công ơn tiền nhân bao thuở .
Có những bức tường lưu dấu ghi danh sách sử như Vạn lý trường thành Trung quốc, tiêu biểu rõ rệt nhất thời cực thịnh của chế đ quân chủ chuyên chế, thiên tử thế thiên hành đạo . Kiến trúc vĩ đại nầy thể hiện biểu dương quyền uy tối thượng tt đỉnh, ngược lại cũng tàng ẫn tính yếu đuối, lo sợ, tham lam, ích kỷ, đc tôn của con người .
Sau thế chiến thứ hai, bức tường ô nhục Bá linh chia đất Ðức ra hai miền Ðông Tây khác tuyến. Cùng mt nước dân mà trở thành thù địch, tường quê hương phải trái thuc về ai ? Mỗi lần khóc thở than quay vào tường hay trở mặt, và do ai gây nỗi thảm thương nầy!
Không khác chi sông Gianh trước kia, cầu Hiền lương trên sông Bến hải trước 75, dạng hai chân trên hai vùng đất nước, cũng thoi thóp thở than trong bóp nghẹt, sông vẫn trôi mà hồn ở bên nàỏ Từng chứng kiến bao người vượt trốn, thảm cảnh tương tàn vì ni chiến vô tâm. Rồi như mọi việc trên đời có hợp có tan, năm 89 tường Bá linh sụp đổ . Ý thức hệ lại mt lần biến thể, tường mất đi nhưng kỷ niệm khó vơi .
Sang Trung đông, ‘Tường Than khóc’ Jerusalem (mur des Lamentations), đây không phải là bức tường ghi dấu đau thương mà là nơi hành hương cầu nguyện. Vậy mà đây cũng là chứng tích rẻ chia hai dân tc Israel Palestine xâu xé bắt buc sống gần nhaụ Gần đây nhất, tường Afghanistan lịch sử, dân đạo Hồi Taliban dùng mìn hủy diệt tượng Phật Bamyan mấy ngàn năm.
Chưa kể đến những bức tường bốn mặt, cung cấm ‘harem’ giam hảm trong lầu son gác tía bao phi tần cung nữ, hẩm hiu sống cô đơn đến suốt cuc đờị ‘Cung oán ngâm khúc’ của Nguyễn gia Thiều đã thống thiết nói lên nỗi lòng ai oán đó.
Những trại giam tù binh, lò thiêu người tập thể bằng hơi ngạt của Hitler, vết ô nhục trong sử sách loài người, những trại tập trung học tập cải tạo cọng với mồ chôn diệt chủng ở Kosovo , tường Tháp đôi Nửu ước sụp đổ do khủng bố ngày 11-09-01 đã làm cho con người choáng váng, sững sờ.
"Ngày xưa bia đá thì mòn,
Ngày nay bia miệng vẫn còn trơ trơ"
nhắc cho ta nhớ đến những bức tường mi-ni, m bia ở các nghỉa trang khắc ghi kỷ niệm, quá khứ, đánh dấu sự vĩnh viễn ra đi trở về lòng đất m? , sống gởi thác về của thân phận con ngườị
Nghĩ cũng lạ, tường thuc loại vô tri vô giác thế mà cũng được người đời nhân cách hóa có tai . Thường nói chung ở đời ai cũng thích nói năng, than thở, phân trần hơn lắng nghe . Còn tường luôn im lặng, chăm chú không suy suyển,’ nghe như chọc rut tai làm điếc’, chẳng bao giờ trả miếng dù có vang di âm thanh mà không bao giờ bi phản.
Nếu không là bạn tâm giao sao mỗi lần buồn khóc, ta thủng quay gục vào tường kẻ lể, nức nở, không là người an ủi vỗ về sao ta đâu ngại trút cạn tâm tự Tường còn tượng trưng gia đình nên mang cho ta ấm cúng đoàn kết tự tin, ngăn chận kẻ bất lương, chở che phong sương mưa gió. Làm trang giấy cho ta ghi lên nổi niềm tình cảm, giải tỏa phẩn uất, buồn vui, trung thành không phê phán.
Vậy tường là gì, là aỉ Có phải như Alfred de Musset đã ví mt cách tuyệt vời:
"Objets inanimés, avez-vous donc une âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer?"
(Hởi vật vô tri vô giác, bạn cũng có linh hồn; hồn bạn quyện chặt vào hồn chúng tôi,và bạn cũng có sức mạnh để thương yêụ)
Cũng như tường vách, xin hãy trả lại cho thế nhân giá trị tinh thần trung thực để trang bị và xác tín tầm suy nghĩ, điểm tựa hướng đi, biến cuc đời biết xẻ chia thông cảm, đùm bọc, đầy nghĩa tình người, có hồn đáng sống.
Chúng tôi quen nhau cũng khá lâu, thư đi thư về, thư qua thư lại, những đổi trao gần như là xói mòn vào tận tâm tư của mỗi chúng tôị Còn gì mà chúng tôi không tỏ rõ cho nhau nghe đâu, từ chuyện lớn đến việc nhỏ, nhất nhất buồn vui gì cũng nói ngay, chỉ sợ ngày mai rồi sẽ không nói được y như vậỵ
Và bây giờ, sau mấy năm tìm hiểu, chúng tôi quyết định gặp mặt nhaụ
Hôm nay, trước giờ đến chỗ hẹn, chúng tôi còn gọi cho nhaụ
Bên kia đầu dây nói, giọng của Trung Kiên vang lên đầy tự tin:
- Nguyệt Yến, chúng mình đến điểm hẹn nhé.
- Vâng, em đến ngay mà.
- Em nhớ cho anh màu áo để nhận diện.
- Em sẽ mặc áo trắng, trên ngực áo cài hoa hồng đỏ.
- Sao hoa hồng đỏ?
- À, vì em còn mẹ.
- Vậy anh sẽ mặc áo đen và trên ngực áo sẽ cài hoa hồng trắng, vì anh không còn mẹ.
- Ðúng như vậy anh Trung Kiên nhạ
-OK.
.....
Cách mấy tiếng đồng hồ sau, tại điểm hẹn, Trung Kiên ngồi trong quán cà phê, tay cầm chiếc ảnh nhỏ của Nguyệt Yến xem lại cho có xem, chớ thật ra gương mặt của cô bạn gái Nguyệt Yến đâu còn lạ gì qua tâm não của anh nữạ Một ngày không biết bao nhiêu lần, anh đã ngắm nhìn bạn gái qua tấm ảnh nhỏ lấy ra từ mạng intenet, và có lẽ không thể nào không nhận ra cô bạn gái ngay bây giờ. Qua ảnh, Nguyệt Yến khá đẹp, với mái tóc dài đen mượt, gương mặt trắng mịn thanh tú, đôi mắt thì đẹp làm sao, nhưng với ánh mắt lại buồn da diết. Gương mặt và ánh mắt có thể làm tê dại những ai trong tuổi yêu đương khó tránh khỏi xao xuyến cõi lòng, dù ở hạng tuổi nàọ
Ðã quá hơn ba mươi phút, vẫn chưa thấy ai mặc áo trắng cài hoa hồng đỏ xuất hiện. Vì Trung Kiên ngồi ở vị trí dễ nhìn người đối diện, nhưng ngược lại khó có ai nhìn thấy anh vì chỗ có lẽ hơi khuất. Mãi ngóng tìm hình dáng người thương sao chẳng thấy, anh lại suy nghĩ miên man và mặc cảm cho thân thể mình, tuổi “hơi quá già” so với người yêu, da lại đen nhánh như người Phi Châu, bàn tay trái co cứng lại không duỗi ra được vì bị tai nạn nghề nghiệp ngày trước, thì làm sao xứng với một người đẹp như Nguyệt Yến? Tội cho em yêu quá đi thôị Anh như cây thông già cằn cỗi không biết sẽ gục ngã bởi cơn gió giông ngày nào, thì làm sao mà mơ ước cùng em đi trọn hết đoạn đường tình còn lạị Anh quyết định, và vội khoát chiếc áo ca rô vào, luôn thể anh gở bông hoa hồng trắng ra khỏi ngực áo anh. Quá chua sót cho thân phận, anh ngồi nép mình vào tận góc cùng, và chỉ mong cho mình tan biến đi, để khỏi nghe lòng đau nhói vì mặc cảm thân mình quá xấu xa, sẽ gây buồn chán cho người mình yêụ
Anh không đành lòng nhìn thấy em thất vọng, anh không muốn thấy em buồn, anh không muốn thấy gương mặt em gợn nét ưu tư phiền não, em còn quá trẻ, em phải được vui tươi và hạnh phúc, và anh, anh muôn ngàn lần không, anh không được phép làm em đau khổ.
- Hãy tha lỗi cho anh, Nguyệt Yến ơi! Anh không thể, không thể em ơi!
Và anh đau đớn tột cùng dứt khoát rời khỏi ghế, đi nhanh vào cuối phố không nhìn lại phía sau lưng một lần.
Anh đang chạy trốn một tình yêu, một tình yêu thánh thiện chỉ muốn cho người mình yêu tìm được hạnh phúc hoàn hãọ
Tạm biệt em yêu !
Tạm biệt Nguyệt Yến.
Mãi mãi tạm biệt người tình internet.
Bao giờ anh nhận được tin em lập gia đình, anh sẽ gởi lời chúc mừng.
Xin chào em.
Anh cúi đầu đi qua con đường dài hun hút, nắng chiều nhạt màu, bóng anh nghiêng ngả đổ.
.....
Cô gái ngồi trên xe lăn, có mái tóc dài đen huyền đối nghịch với gương mặt trắng đẹp của cộ Thỉnh thoảng cô gái liếc nhìn chiếc đồng hồ nhỏ đeo ở cánh tay để trần trắng mịn.
Gương mặt cô gái thoáng buồn, chiếc xe lăn không đến nơi hẹn, mà ngừng lại cách đó khoảng vài chục mét ở một xe nước míạ Uống nước và chuyện trò với cô chủ quán vui tánh:
- Em đẹp quá, chị là phụ nữ mà còn phải mệ
- Chị nói quá, làm em ngượng.
- Nhưng sao em lạị..
Cô gái buồn buồn trả lời :
- Lúc nhỏ em bị sốt tê liệt, mặc dù gia đình đã hết lòng cứu chữạ
- Từ đó đến nay, em tiếp tục điều trị ?
- Lúc năm tuổi em không đi lại được, bây giờ có thể lần theo đồ vật trong nhà để đi từng bước, nhưng khi ra ngoài phải xử dụng xe lăn.
- Em đã lập gia đình chưa ?
- Dạ chưạ
- Cũng đâu có gì đáng ngại nếu gặp được người chồng thật sự yêu thương em.
- Chắc em không dám nghĩ tới chuyện đó nữạ
Cô gái là Nguyệt Yến.
Lớn lên trong sự thương yêu của gia đình, nhưng lúc nào cô cũng sầu buồn và luôn mặc cảm cho thân phận tật nguyền của mình. Cô chỉ còn biết tìm vui qua trang thơ văn internet. Rồi một ngày cách đây mấy năm, một lời thư gởi đến cho cô, xin được kết bạn, ôi, sao mà hạnh phúc quá, còn có người làm bạn với một kẻ cô đơn đầy mặc cảm bệnh tật. Xin hãy tha thứ cho em, em đã dối không tiết lộ sự khuyết tật về mình, Và những ngày tháng qua đi trong sự cởi mở, khuyên nhủ nhau chân thành. Ðến ngày cả hai như hiểu và thương nhau từ kiếp trước, đã nhận lời sẽ đi đến hôn nhân. Hôm nay là ngày hai người hẹn gặp để trao nhau những toan tính cho mai sau quyết định ngày thật sự sống chung.
Nhưng bây giờ, Nguyệt Yến lại lo sợ, ngày mai biết có còn nguyên vẹn mảnh tình khi anh biết mình khuyết tật như vầy ? Cô thấy tủi hổ cho thân mình. Thân tàn tật làm sao lo tròn trách nhiệm đối với chồng, với con, mà chỉ là gánh nặng cho người mình yêu thôị Cô mãi ray rức về sự im lặng vì bệnh tật của mình. Ðây có phải là sự dối trá đối với người mình yêu không ? Hay chỉ muốn thử thách lòng can đảm của cô với người yêu cộ
Nhưng rồi cũng vì mặc cảm một chân mang tật teo cơ, cô quyết định không thể nào chấp nhận để phiền lụy cho người thương, thà cô âm thầm rút lui trước, chứ không để khó xử cho người cô yêụ
- Trung Kiên ơi, anh ơi ! Em dù có vạn khổ nghìn sầu vì phải quyết định xa anh, em cũng không thể để cho anh mang gánh nặng vào đời anh mãi được. Anh phải được hạnh phúc, anh phải gặp một người vợ hoàn toàn về thể chất cũng như về đức hạnh. Em xin rút lại lời hứa ngày nào với anh là chấp nhận làm vợ anh(anh đâu biết em mang tật) Anh hãy cho em xin lỗi anh vậỵ
Tạm biệt anh, tam biệt !
Cô vội mặc vào người chiếc áo khoát hoa sặc sỡ những màu, cánh hoa hồng đỏ cũng được cho vào túi áọ
Cô cho chiếc xe lăn đi nhanh.
Có tiếng của chị chủ hàng nước mía :
- Còn tiền thối lại, cô ơị
Nhưng cô không quay lạị Ðôi dòng lệ tủi thân phận lăn dài trên đôi má xinh đẹp của cộ Ngày nào được tin anh lập gia đình và sống hạnh phúc bên vợ đẹp con ngoan là ngày đó em sẽ gởi lời chúc mừng đến anh.
Anh hãy hiểu cho em, xin anh hãy quên chuyện tình mình, chuyện tình qua internet.
Trời bỗng đổ cơn mưa giông, cô gái đáng thương cô đơn âm thầm, đi trên chiếc xe lăn dưới cơn mưa bắt đầu nặng hạt.
12/9/2006
Trong một đêm sau khi say khướt trở về nhà anh ta gây chuyện và đánh cô, vì sợ bị đòn cô đã chạy ra ngoài, anh ta đóng cửa và nhốt cô ở ngoài đường, một vài người hàng xóm ra nhìn, nhục nhã, đau đớn và xấu hổ, cô chợt nghĩ giá như mình là một người đàn bà hư hỏng, không có trách nhiêm với chồng con thì những trận đòn như thế này cô xứng đáng gánh chịụ Cô lê những bước chân nặng nề ra phường và nhờ Công An vào giải quyết, khi công an vào anh ta mới cho cô vào nhà.
Ðêm đó cô viết một lá đơn xin ly hôn và đưa cho anh ta ký , một tuần lễ trôi qua, anh ta đã năn nỉ xin lỗi và hứa đủ điều, cô đã bỏ qua và tiếp tục sống những ngày vô vọng
Chỉ được một thời gian thôi thì đâu lại vào đấy, một lần nữa anh ta gây gỗ xong thì đập phá dàn máy hát của gia đình, lúc ấy cô nhìn thấy Mẹ mình rơi lệ, lòng cô đau đớn vô cùng, những đớn đau cô có thể chấp nhận và chịu đựng được tất cả, nhưng nhìn Mẹ buồn như thế cô thấy mình là một đứa con bất hiếu, cô chỉ muốn chết cho xong một kiếp người
Lần này cô ra tòa và nhờ giải quyết ly hôn, sau một tháng thì tòa mời, anh ta lại bắt đầu năn nỉ cô nghĩ anh ta có thể là một người chồng không tốt nhưng vẫn là người cha tốt nhất của các con mình
nghĩ thế một lần nữa cô lại bỏ qua
Những ngày sau đó là những ngày của địa ngục trần gian. Khi cô đi làm được tiền thì vấn đề kinh tế gia đình lại đẩy về hết cho cô, từ việc ăn học của con, mọi việc chi tiêu trong gia đình đều do cô gánh vác.
Bạn có thể tưởng tượng cô ấy nhìn như một tiểu thư , nhỏ nhắn yếu đuối, nhưng trong gia đình cô đã làm tất cả những việc của một người đàn ông, sửa điện, sửa ống nước, thay mái tôn, chống dột , quét vôi sơn cửa, cả những việc của một người thợ hồ, cô đã làm tất cả chỉ vì hà tiện cho kinh tế gia đình mà thôị
Và từ một cô gái ngoan hiền giờ đây cô đã không còn ngoan ngoãn nghe lời chồng, cô hung hăng khi anh ta có ý định đánh cô, cô không còn chăm sóc chồng và một điều đáng nói là tình yêu cô dành cho chồng đã chết trong lòng cô rồị
Nhưng khi chỉ còn một mình với bóng đêm, những giọt nước mắt âm thầm rơi, cô đau đớn khi thấy mình đã trở thành một con người khác, không phải là chính mình, điều đó cô không hề mong muốn.
Và cho đến giây phút này thì cánh của tự do đang dần dần hé mở cho cuộc đời của cộ Một chút lo lắng, một chút bồi hồi, nhưng cô tin rằng cô sẽ vững vàng bước quạ
Xin cuộc đời hãy mở rộng đôi tay đón cộ
Xin mọi người hãy luôn mỉm cười cùng cộ
Cầu mong những ngày sắp tới sẽ là những ngày đầy nắng ấm cho cuộc đời cộ
Chân thành cảm ơn các bạn đã đọc bài viết nàỵ
(Ðọc tuyển tập Bến Ðợi - Thơ Kim Thành & Tôn Thất Phú Sĩ, nhà in Select Graphic & Printing Inc., Hoa Kỳ, 2007)
Trong ngổn ngang thi phẩm thời nay (ở Việt Nam có hơn 700 tập thơ ra đời mỗi năm, ở vùng Quận Cam California nghe nói có tới vài chục thi sĩ trên một cây số vuông !), thời mà thơ rẻ rúng không người mua, in ra chỉ để tặng bạn bè, tập thơ Bến đợi ra đời như luồn gió mát trong không khí nóng nực mùa hè.
Tập thơ khổ 14 x 21cm, dày 207 trang, có tranh minh họa, có những bản nhạc (phổ thơ Kim Thành và Tôn Thất Phú Sĩ (TTPS)), được trình bày rất trang nhã, biên soạn công phu, không có lỗi chính tả như ta thường thấy ở một số tập thợ
Ðọc tập thơ « Bến Ðợi » xuyên suốt gần 40 bài thơ của Kim Thành (không kể 40 bài phụ họa và cảm xúc của người em TTPS)(1), chúng ta thấy được nỗi lòng ai oán đầy thương nhớ xót xa của người quả phụ đối với người chồng tiền định đã vĩnh viễn ra đi xa lìa cõi thế.
Cách đây khoảng một năm rưởi, tình cờ người viết bài này có đọc được một bài bình thơ rất hay của Phan Thái Yên trên nguyệt san điện tử Giao Mùa: « Kim Thành…Người sương phụ làm thơ » (2). Ðọc kỹ xong bài đó thì tôi biết chắc chắn nhà thơ Kim Thành đó là cô giáo đã dạy Pháp văn cho tôi thuở xưa ở trường trung học Phan Châu Trinh Ðà Nẵng những năm 1962-63 ! Sau đó tôi đã vào đọc tất cả các bài thơ của cô, in ra trên giấy, và trong mấy ngày liên tiếp đã đọc trên đường đi làm bằng xe lửạ Lúc đó tôi đã trao đổi thư với cô : « Thơ của cô hay quá, vì ngoài tài làm thơ của cô ra, có lẽ vì chính cá nhân cô đã trả một giá quá đắt : mất vĩnh viễn một người chồng thủy chung, yêu thương nhau từ thuở còn rất ngây thợ Sự mất mát to lớn đó, cái đau đớn vô cùng tận đó đã bắt cô phải trang trải lòng mình trên giấy dưới dạng thơ cạ Chắc chắn là cô cũng đã yêu thơ từ lâu rồi, nay đúng là dịp để cô bày tỏ nỗi lòng của mình trước tan tác của sinh ly, của đớn đau thương nhớ ngút ngàn với người tình si đã để cô ở lại một mình ».
Trong tập thơ «Bến Ðợi » này có thêm một số bài thơ mớị Ngoài một vài bài viết kỷ niệm thời sinh viên Ðại Học Sư Phạm Huế, thời đi dạy học trường Phan Châu Trinh Ðà Nẵng và Võ Tánh Nha Trang, hoặc tâm sự với người em TTPS, hoặc về nóng bỏng thời sự (Em bé Iran), mừng ngày con đi lấy chồng, tất cả các bài thơ còn lại đều nói đến tình cảm đau xót nhớ thương người chồng mến yêu đã mất. Ðúng như tựa đề của tập thơ, sự trông chờ, mong đợi một tương phùng bên kia thế giới là sợi dây xuyên suốt mấy chục bài thợ Một cuộc hẹn hò tương lai được loan báo, như cuộc gặp gỡ định mệnh của hai tâm hồn trước đây năm mươi năm. Bến đợi, bến bờ đợi mong, bến giang đầu, bến mộng, bến mơ, bến đỗ …là những chữ được lặp đi lặp lại nhiều lần như một khẳng định cho cuộc hẹn hò sắp tới đó.
Tâm trạng của người quả phụ Kim Thành có thể so sánh với nỗi lòng Lê Ngọc Hân công chúa khóc vua Quang Trung Nguyễn Huệ (Ai tư vãn) hoặc Phạm Thái khóc Trương Quỳnh Như, hoặc người vợ canh cánh ngóng chờ chồng trong Chinh Phụ Ngâm :
Mặt biếng tô miệng càng biếng nói
Sớm lại chiều dòi dõi nương song
Nương song luống ngẩn ngơ lòng
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai ? (Chinh phụ ngâm, Ðoàn thị Ðiểm diễn nôm)
Vâng, có những con người sinh ra đời là để gặp nhau, có lẽ là do số trời định trước như vậy :
Em đang đi giữa trời Hai Tháng Tám
Ngày Anh vào đời rộn rã yêu thương
Của Mẹ của Cha và gió muôn phương
Anh đã đến chờ em Anh đâu biết
(Anh vội để một vần thơ đâu đó)
Quen nhau ở lứa tuổi vị thành niên, lớn lên bên dòng sông Hàn, rồi những tháng năm cùng theo học Ðại Học Sư Phạm Huế bên con sông Hương, Bến Ngự trữ tình, họ đã yêu nhau và kết duyên cầm sắt :
Ta gặp nhau năm mười bốn tuổi
Một sáng mùa xuân
Nắng vàng rực rỡ
Mắt anh cười không gian rộng mở
Thầm chuyên chở một tình si (Ngồi tiếc ngẩn ngơ)
Họ đã sống rất hạnh phúc, hạnh phúc đến nỗi nàng không cần phải làm thơ « ngày xưa em không làm thơ/Bởi anh là cả trời mơ bên mình » (3) (Mất anh em làm thơ). Rồi bỗng một hôm em trở thành quả phụ, người yêu dấu đã đành đoạn cất cánh bay xa biền biệt, để lại trần gian những tiếc nuối khôn nguôi :
Anh ơi bây giờ
Em ngồi tiếc ngẩn ngơ
Nghe mưa rơi rụng ngoài song cửa
Nghe những giọt buồn rớt quanh đâỵ.. (Ngồi tiếc ngẩn ngơ)
Nếu Xuân Diệu xưa kia hăm hở rạo rực, mê đắm cuồng nhiệt, vội vàng giục giã yêu như sợ thời gian xuân trẻ sẽ trôi đi nhanh chóng, thì người con gái xứ Quảng, tuy cũng có trái tim lửa cháy như bị hạn hán chỉ chờ cơn mưa lũ dâng trào, chỉ chực để «được» vỡ đê, lại có cái say đắm đằm thắm :
Và từ đó
Ta thương nhau thắm thiết
Chia sẻ mỗi buồn vui
Tình đầu đâu hay biết
Ðời vũ khúc rong chơi cùng năm tháng
Ðem vô thường bỏ lại sau lưng (Ngồi tiếc ngẩn ngơ)
Anh đã đến cùng em không hẹn trước
Mùa xuân nào cỏ xanh mượt bờ dâu
Mây trên cao bỗng vội vã tan mau
Và nắng mới trải dài bao mộng ước (Cảm tạ tình anh)
Hai năm sống ở Paris sau khi rời quê hương và trước khi tìm về miền đất hứa Cali là những ngày « lênh đênh nơi xứ lạ » nhưng vô cùng thi vị. Paris ngày tháng cũ bên người yêu dấu đã để lại trong tâm tư của người sương phụ biết bao hồi tưởng, chập chờn ký ức khó quên. Nàng trở lại đây «sau hai mươi sáu năm dài », tâm hồn héo úa, ứa lệ bước trên những con đường thơ mộng một thời chung bóng mà giờ đây chỉ còn là kỷ niệm. Hai mươi sáu năm, mái tóc bồng bềnh buông thả đôi vai ngày xưa nay đã « hai màu » theo với thời gian. « Lòng buồn như bia mộ », nàng bàng hoàng rung cảm đau đớn nhớ lại cái « thưở trầm hương » đã qua không bao giờ trở lại :
Anh, em đã trở lại Paris
Sau hai mươi sáu năm dài
Cùng anh
Vượt trùng dương tìm đất hứa
Hai mươi sáu năm em già hơn trước
Một mình, trống vắng
Tóc hai màu khó che dấu nét phôi phai
Em trở lại đây
Không có đợi chờ
Lòng buồn như bia mộ
Nhớ bước chân anh trên từng viên gạch cổ
In dấu mỗi lần qua
Nhớ nụ cười anh ôm kín nỗi lo xa
Những tháng ngày chúng mình lênh đênh nơi xứ lạ
Anh, em đã trở lại Paris
Ði giữa mưa gầy Tháng Bảy
Kỷ niệm chập chùng trang ký ức
Mắt cay cay cơn huyễn mộng trùng phùng (Em đã trở lại Paris)
Yêu người yêu cả đường đi lối về. Vương quốc tình ái hồn nhiên đằm thắm một thời Paris mà nàng trân trọng, chỉ là một nối dài của tình yêu cọng hưởng với người tình đầu tiên và mãi mãi ngàn saụ Nàng đã trải lòng mình, qua lời nhắn nhủ, san sẻ cùng người em rất thân thương TTPS :
Em sẽ nhận ra
Trong bao la
Từ thinh không vọng lại
Ðiệu ru buồn u uẩn của sinh ly
Em sẽ nhận ra
Căn nhà đó Beautreillis một thuở
Sau cánh cửa mở hờ
Là một trời dấu yêu ấp ủ
Là hương đêm tỏa ngát đóa diệu kỳ
Và em ơi!
Hãy cúi xuống
Hôn dùm chị bờ rêu phong trước cổng
Nhặt hộ anh viên sỏi đá ngậm ngùi (Nhớ nghe em)
Mùa thu tháng mười đi qua từng chân tóc rụng với nỗi nhớ mù khơi, nàng gửi hồn mình theo cánh nhạn bay xa :
Em ngồi đây, héo nụ cười
Tháng mười vàng trổ nghe buồn mang mang
Chìm theo cánh nhạn về ngàn
Tóc em rụng xuống sợi nào cũng anh (Mất anh em làm thơ)
Cũng có khi, trong nỗi buồn chất ngất bóp chết con tim, không biết bám víu vào đâu, Kim Thành đã vô lý, rất tình, trách cứ người yêụ Và cái nũng nịu hờn dỗi « vô lý đó » đã làm người đọc càng thêm thương cảm :
Lời thề đó năm mươi năm chưa đủ
Anh hãy đền em những ngày tháng cũ
Hãy đền em giờ đây tàn bóng đổ
Em bơ vơ nỗi nhớ buốt hồn đau (Bỗng một hôm)
Tương tư khắc khoải đợi chờ, đìu hiu trong ốc đảo cô đơn, thuyền lạc bến đi không tới bờ, đàn đứt dây cung giai lạc điệu, một mình bâng khuâng trong ảo giác chập chờn ẩn hiện :
Cơn gió nhẹ theo mây vờn tóc rối
Là cơn mưa dội mát đến vô cùng
Vỗ về ta qua từng giờ hấp hối
Biến ngục tù thành hải đảo hoang vu
-------------
Ðêm xanh xao buồn lênh đênh bất tận
Ðời theo đời lận đận kiếp phù vân
Nỗi khắc khoải xoáy mòn tim nhức nhối
Ta mệt nhoài ôm bóng tối vây quanh … (Một cõi chập chùng)
Ðể rồi nước mắt âm thầm chảy ngược vào tim. Tưởng gần gũi trong gang tấc mà xa cách vời vợi ngàn trùng. Ám ảnh, thao thức, gợi nhớ, suy tư, mộng mơ …đã hạ sinh được những vần thơ u uẩn, tràn đầy nước mắt, thấm đẫm lòng người :
Ðêm hôm qua em nằm yên không ngủ
Nghe nhạc buồn em ngỡ bước chân anh
Bỗng tinh tú vỡ tan từng mạch máu
Anh xa xôi cũng chưa hết ân cần
Tình anh đó…hồn em như bối rối
Nước mắt nào nghe cay chát bờ môi
Anh run sợ, « đừng em ơi đừng khóc
Tội nghiệp em đau nhức trái tim anh » (Cảm tạ tình anh)
Thỉnh thoảng đâu đó ta lại bắt gặp cái sắc sắc không không thoáng đượm chất Thiền :
Em đứng nơi đây ngóng đợi gì
Tìm anh? Anh đó mãi tìm chi
Hồn ta một phiến ngàn dâu bể
Ðổ xuống đời nhau vạn kiếp sau (Ðếm sao)
Hoặc thiết tha réo gọi và chơi vơi trong cái vô định của cuộc đời không biết sẽ trôi về đâu :
Mùa thu đến trời vẫn cao vời vợi
Anh, Phổ Hà, dòng sông mãi trôi xa
Xin chớ phôi pha
Hỡi trầm luân em nương tựa
Ðưa hồn thơ đến tận cửa u linh
----------
Trong tỉnh lặng đìu hiu
Tiếng kinh cầu vọng gọi
Ta giật mình tự hỏi
Cõi chập chùng hay ngõ cụt không tên (Một Cõi chập chùng)
Không lẳng lơ như Thị Màu, đoan trang chung thủy với tình yêu, Kim Thành đã không chấp nhận thái độ mà cô cho là chao qua chao lại trong tình cảm của nhân vật CHỊ RÊU trong phim « Phố Hoài » của đạo diễn Song Chi (4) mà hai cô trò đã có dịp trao đổị Ðó là cái rigueur morale mà cô vẫn nuôi dưỡng cho quan niệm tình yêu của mình.
Tình yêu như cây lớn, như biển cả, là cội nguồn tươi mát, là động lực thúc đẩy sáng tạo, mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng trái tim đa cảm đi tìm không tưởng :
Chiếc lá lìa cành đi đâu mà vội
Ðời biển dâu tôi đứng ngóng từng giờ
Những đợi chờ dường như dài bất tận
Ðể bao lần trăng tròn khuyết thương mong
--------------
Câu thơ viết đọng tình theo hơi thở
Bay bơ vơ tìm bến mộng đầu non
Ngõ đường cùng chạm bàn tay tượng đá
Trời ơi trời… tôi gục ngã tương lai (Buồn vui mưa nắng)
Dòng thơ Kim Thành đôi khi biến động nhẹ nhàng trong nỗi buồn xa vắng vướng vất ít nhiều chút tình hoài cổ Bà Huyện Thanh Quan :
Vẫn một vầng trăng treo giữa trời
Tình mình nay đã cách đôi nơi
Bến đợi thuyền neo chờ cổ độ
Chẳng biết chừ sóng vỗ nơi mô
Phố xưa một thoáng trầm hương cũ
Ðã phủ rêu phong luống ngậm ngùi
Phủi bụi trần gian anh lạc cảnh
Em hồn đơn lạnh ngóng trăng rơi… (Trăng và tôi)
Nhưng có lẽ bài thơ buồn nhất, cô đơn nhất, là bài thơ tác giả đã viết như một tình thư gửi người dấu yêu khuất bóng, biền biệt chân mây, trong Ngày Tình Yêu :
Ngày Valentine buồn hiu hắt
Tình xa bay tận cuối chân mây
Anh có biết em đang lệ đổ
Ngồi vỗ về nỗi nhớ khôn nguôi
------------
Màu thời gian xanh xao tàn úa
Tiếng chuông buồn réo gọi âm xa
Tim thức giấc hay tim đã chết ?
Giữa khô cằn sỏi đá trơ trơ (Tình cuối chân mây)
Anh đã bỏ đi, đã lỗi hẹn, nhưng tình anh thì trước sau « mãi mãi không phai ». Ta thấy Kim Thành là người có cái may mắn được lá bùa tình yêu chiếu mạng, nâng niu che chở suốt một đờị Phải chăng cái may mắn đó đã làm cho sự mất mát càng to lớn hơn và nỗi đau càng thêm vô cùng ?
Anh Hoàng Tử không chỉ ngày gặp gỡ
Tóc điểm sương vẫn gối mộng từng giờ
Ðời sỏi đá anh dìu em sánh bước
Trải muôn hoa ta luân vũ nghê thường
Những đứa con mình kim cương ngọc quí
Là kho tàng anh để lại cho em
Cảm tạ tình anh một đời chung thủy
Cảm tạ tình anh ơn phút tình cờ (Cảm tạ tình anh)
Trong khát vọng đợi chờ, nghi vấn thường đặt ra, ta bắt gặp những tiếng thở dài đâu đó, trong mơ hồ một cõi ngóng trông :
Bến đợi bây giờ ở nơi đâu ?
Người ơi có biết em đang sầu
Nhìn bốn phương trời xa xa lắc
Chỉ thấy một màu thương nhớ thương… (Nghe hồn bay bổng)
Giấc mơ Ngưu Lang Chức Nữ cũng chỉ là một hy vọng viễn vời trong mênh mông vũ trụ, thời gian xâm thực làm hao mòn lòng tin nơi cuộc gặp gỡ cuối cùng :
Hỡi cánh gió thả trôi niềm mơ ước
Chở giùm ta cầu Ô Thước sông Ngân
Chút trần ai tơ vương còn sót lại
Giấc mộng hờ không dấu vết ăn năn…
-----------
Tháng Bảy mưa ngâu
Giọt buồn rơi rất khẽ
Trên tàng cây xanh lá
Ướt sũng trái tim đau
Em ngước mặt nghe hồn băng giá
Nhìn trời cao chẳng thấy bóng thương yêu (Tháng bảy mưa ngâu)
Nhưng cuối cùng thì Kim Thành vẫn « ta chừ vẫn đợi ». Ở đây không có sự suy tính, mà là một khẳng định vô cùng lãng mạn hướng về tương lai mờ mịt :
Tình rơi rụng, một cung đàn đứt phím
Tím một góc trời tím bước đi hoang
Chiều buông lơi nhìn dòng sông nước chảy
Nước chảy qua cầu sỏi đá buồn đau
Nước chảy qua cầu ta chừ vẫn đợi
Vịn cuộc đời đi cho hết trăm năm
Bâng khuâng gì những xa tít mù tăm
Mưa, mưa mãi mưa hoài mưa chẳng tạnh (Ta chừ vẫn đợi)
Với tập thơ Bến Ðợi, tác giả Kim Thành không tìm cách cách tân thơ, không làm dáng, làm điệu bộ như một số nhà thơ (lớn hoặc nhỏ), không dùng ngôn từ lắc léo hay lòe loặt với những xuống hàng, chấm câu cầu kỳ. Dễ đọc dễ hiểu, có biên độ xúc cảm lớn vì chân thật, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh màu sắc như hội họạ Ðặc biệt thơ gây xúc động mạnh mà vẫn không làm người đọc có cảm giác quá than khóc ảo não : một ngữ ngôn biết tự điều tiết lờị Tập thơ Bến Ðợi có nhiều bài đạt tới đỉnh cao, rực rỡ sáng. Có những câu trong bài «trung bình» cũng rất tài hoạ Về kỹ thuật thuần túy : có những câu thơ lục bát hoặc song thất lục bát gieo vần không tuân theo luật lệ cố hữu (ngay cả những tác phẩm lớn cổ điển cũng ít có 100% đúng luật !), nhưng sự «nhảy rào» này không làm tổn hại chất thơ, ngược lại đã làm tăng lên sự uyển chuyển nhịp nhàng, thể hiện biệt tài riêng của tác giả ! Nguồn thơ có sức xúc cảm lay động lớn và giàu nhạc điệu khiến ta dễ dàng chấp nhận và quên đi cái máy móc khư khư cứng ngắt của kỹ thuật. Mục đích của thơ không phải là diễn tả mượt mà tình cảm của trái tim sao ?
Mấy ai trong chúng ta nhớ và thuộc lòng hàng trăm hàng nghìn bài thơ của các tác giả nổi tiếng như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Tế Hanh,…Có ai nhớ được vài câu bản dịch tiếng Việt của Tỳ Bà Hành trong sự nghiệp thơ đồ sộ của Bạch Cư Dị đời thịnh Ðường ? Có thể chúng ta thuộc một vài bài, có thể một vài câu (trong một bài) của một tác giả nào đó. Như vậy, trong thực tế, câu thơ đóng vai trò rất quan trọng trong một bài thơ, cũng như một bài thơ (chất lượng) đối với một tập thơ (số lượng). Trong ý nghĩa này, thơ tình Kim Thành có những bài rất hay (Em đã trở lại Paris, Mất anh em làm thơ, Ngồi tiếc ngẩn ngơ, Bổng một hôm, Cảm tạ tình anh, Ðếm sao), một ngày nào đó có thể được sắp vào kho tàng văn học sử thơ tình Việt Nam, theo thiển ý người viết bài này (cũng như bài “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan viết cho người vợ trẻ bị chết đuối). Những bài thơ vừa kể trên của Kim Thành (5) làm người đọc xúc động vô cùng vì lời lẽ chân thật thiết tha, chữ nghĩa kén chọn, súc tích mượt mà nhưng bình dị, nói lên được nỗi lòng u uẩn thương nhớ chất chứa đầy kỷ niệm của nhà thơ với người chồng đã khuất. Ðặc biệt bài “Em đã trở lại Paris” đã làm người viết choáng váng, đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, mà lần nào cũng “mắt cay cay“ như một câu trong bài thơ đó.
Paris, tháng 9 / 2007
(1) Vì bài viết giới hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến thơ Kim Thành mà thôị
(2) Phan Thái Yên, « Kim Thành…Người sương phụ làm thơ », nguyệt san Giao Mùa (có in lại ở phần cuối tập thơ nầy).
(3) Tất cả các câu viết nghiêng là trích thơ Kim Thành, trừ khi có chú thích khác.
(4) Phim Phố Hoài kể chuyện anh Dậu học giỏi con nhà nghèo, sau mấy chục năm du học thành danh ở hải ngoại, về lại thành phố tuổi thơ Hội An, tìm lại nhà thầy giáo cũ để trả ơn nghĩạ Dậu và người chị (Rêu, con gái của thầy) nhắc lại những dĩ vãng êm đềm trong khung cảnh đặc biệt của phố Hộị Một phim đầy thơ tính.
(5) Website thơ Kim Thành : « www.kimthanh.net »
Tùy bút
Từ ngàn xưa đến nay , con người sống được tới tuổi 70 đã được gọi là thọ nên có câu tiền nhân để lại “ thất thập cổ lai hi”- Vũ trụ dường như cũng có phần tiến triển đổi thay nên đôi lúc có những người thọ đến 80 hoặc 90, nhưng hầu hết họ kéo lê tuổi thọ trong già yếu bệnh hoạn lê thê hay bất đắc chí chán nản chờ ngày về với tổ tiên thôi … Nhưng tại thành phố văn hóa miền Bắc Cali có một nhà văn thơ nữ đã thành danh từ mấy thập niên qua, bà sống khép kín trong cảnh cô đơn với tuổi đời chồng chất – Thơ văn bà đã tung bay khắp vòm trời hải ngoại hiện nay và cả trong nước thời đệ nhị Cộng Hoà … Ðến nay bà đã 96 tuổi vẫn miệt mài làm thơ, viết văn, soạn kịch, chủ trương những tuyển tập viết chung, tổ chức những buổi sinh hoạt, những buổi ra mắt sách, gần đây nhất là bà đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “ BÌNH NGÔ ÐẠI CÁO” và cuốn truyện ngắn “ BÓNG CỚ NUƠNG TỬ” hiện vẫn chưa trình làng cuốn này vì mới vừa in ấn xong.
Cụ bà Trùng Quang, chúng tôi trân trọng để viết về bà, một nữ lưu hiếm có trong trời đất, triệu người may ra được một mà thôi …
Bà sinh năm 1912, bà viết văn làm thơ từ trên nửa thế kỷ tại Hà Nội, bà sinh trưởng tại miền Bắc và thú vui của bà từ dạo còn xuân thời là viết văn và làm thơ tiêu khiển nên đã không ít báo chí thời đó biết đến tên tuổi của bà.
Sau khi bà di tản từ Bắc vào Nam, bà cư trú tại thủ đô Sài Gòn, thời gian di tản bỏ hết tài sản lại miền Bắc, bỏ hết những người thân yêu, mất quê hương yêu dấu nơi đã sinh trưởng ra bà, nơi cho bà bao kỷ niệm thân thương, bà đau buồn sinh bệnh và từ đó người thi văn sĩ này đã dường như mất trí nhớ , các Bác Sĩ chẩn đóan bà bị bệnh thần kinh nên đã làm thủ tục đưa bà sang Nhật chữa trị.
Thời gian sống tại nước Nhật bà đã học nói tiếng Nhật và viết Nhật Ngữ như những sinh viên du học thời đó. Ðặc biệt hơn bà đã bỏ công sức nghiên cứu về văn hóa nước Nhật, nhất là về tư tưởng và đời sống của giới phụ nữ Nhật – Bà đã thụ huấn tròn khóa học làm “ nhân hình” búp bê tại nước Nhật và đã thành công được khen ngợi từ những giáo sư chuyên nghề mỹ thuật đã dạy nghề cho bà.
Về lại Sài Gòn sau hai năm học nghề học chữ và di dưỡng tâm thần tại Nhật, cũng là một điều rất đặc biệt là khi bà nhìn được nền văn hóa của nước người, ý chí và niềm tin thúc đẩy tâm hồn yêu chuộng văn hóa đến tột đỉnh, bệnh thần kinh đã chấp cánh xa bay, trả lại cho bà những ngày tháng xa quê tâm hồn bình yên . Khi về nước bà sáng lập ra xưởng làm búp bê tại thủ đô Sài Gòn cốt để tuyên truyền và vinh danh tà áo dài của phụ nữ Việt Nam vì tất cả hình dáng búp bê đều phục sức bằng chiếc áo dài tha thướt của quê hương Việt Nam, do đó bà mới chủ tâm đặt tên là xưởng Búp Bê Văn Hóạ
Lúc đó vào thập niên 50 - 60, bà gia nhập thi đoàn Quỳnh Dao, một thi đoàn toàn là nữ giới là thi nhân do bà Cao Ngọc Anh sáng lập - Vào thời đó, thơ văn rất được trọng vọng nên bà được mọi người mọi giới quý trọng – Cho đến ngày nay học viên của bà phần đông định cư các nước trên thế giới và Hoa Kỳ, quý trọng yêu thương bà có dịp là tìm đến thăm viếng bà – Ðó là niềm an ủi cho bà vui trong cuộc đời còn lại .
Thời gian trôi qua trong niềm vui hàng ngày chăm sóc và dạy kềm nghề nghiệp cho học sinh, bà cũng quên đi nỗi trống vắng trong tình cảm riêng tư, bà đúng là một người phụ nữ tiết hạnh khả phong, ở vậy thờ chồng, làm việc lợi ích cho xã hội, bà chưa hề để mang một tai tiếng gì dù là một góa phụ cô đơn khi tuổi còn xuân sắc – Nha Tiểu Công Nghệ và Nha Mỹ Thuật của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thời đó thấy sự thành công của Búp Bê Văn Hóa và thấy được tài năng của bà đã mời bà cộng tác với chính phủ để mở thêm các cơ sở lớn rộng hơn nhưng bà đã từ chối, bà sống khiêm cung, không tham vọng, chỉ vui với những gì chính bà đã tạo rạ
Với bản tính hoạt động tích cực vào lãnh vực văn hóa nghệ thuật nước nhà, sau nhiều năm công nghệ Búp Bê đã thành công bà đứng ra sáng lập trường dạy về nữ công gia chánh với tiêu đề “ Trường nữ công “PHƯƠNG CHÍNH” ngay tại thành phố hoa lệ Sài Gòn .
Trường Phương Chính chuyên dạy Việt Ngữ, Sinh Ngữ, Nữ Công, về nữ công có các lớp : May, thêu, làm bánh, nấu ăn, cắm hoa, đàn Piano, trang điểm, uốn tóc… Bà còn mở thêm các lớp dạy Anh Ngữ, Pháp Ngữ và Nhật Ngữ … các lớp đều có các giáo sư chuyên môn phụ trách giảng dạy - Tổng cộng có 15 giáo viên phụ trách trường Phương Chính. Trường Phương Chính thời ấy đã được Bộ Quốc Gia Giáo Dục khen thưởng và công nhận ngang hàng với các trường Trung học dạy chữ, bà đã được lãnh ba bằng khen ngợi vinh danh từ các đơn vị cao cấp của chính phủ VNCH - Bằng cấp tốt nghiệp của trường Phương Chính có giá trị qua các nước Tây Âu như nước Pháp chẳng hạn. Trường Phương Chính ban ngày chuyên dạy về những môn học trên, ban đêm còn dành thì giờ dạy thêm chữ quốc ngữ cho trẻ em và cả phụ nữ nhà nghèo không có tiền và không có phương tiện đến trường ban ngàỵ
Nói về nữ văn thi sĩ Trùng Quang thì ai cũng một lòng thương kính và ngợi khen, một tâm hồn phụ nữ Việt Nam hiếm có, một tinh thần cao quý vững chãi khác nào nam nhi chi chí , cuộc đời bà đã dành trọn cho văn hóa cho nghệ thuật đến tuổi 96 vẫn không ngừng hoạt động mà lại còn hoạt động thật tích cực… Ðã nhiều lần bà bàn thảo với nhóm chị em phụ nữ chúng tôi những hoài bão trong thâm tâm mà bà chưa thực hiện hoặc không thể thực hiện một mình với số tuổi quá cao, chúng tôi ai cũng nể phục tâm hồn cao cả của bà và luôn xem bà như người mẹ thương kính của mình.
Trong suốt thời gian xây dựng và phụ trách xưởng Búp Bê Văn Hóa và Trường Nữ Công Phương Chính, trường đã đào tạo thành công, thành danh rất nhiều học viên, có những người du học nước ngoài thỉnh thoảng về thăm bà trong tình thương yêu tôn kính, nhưng mọi việc có bao giờ được êm xuôi mãi như hoài bão trong tim óc con người, rồi bà cũng phãi khăn gói ra đi tìm tự do, tìm đất sống nơi phương trời vô định … Bỏ tất cả vì lý tưởng chung, vì thời cuộc đất nước, bà ra đi với hai bàn tay trắng, hiện nay căn nhà của bà với 4 tầng lầu tại thủ đô Sài Gòn vẫn còn đó nhưng đã thay tên đổi chủ từ dạo bà bỏ nước ra đi cách nay gần 30 năm dài đăng đẵng.
Người phụ nữ tài hoa này khi vượt biên đã được tàu Pháp cứu vớt đưa về nước Pháp cho định cư tạm, tên gọi con tàu là “Tàu Ánh Sáng”- Vào đảo được mấy ngày bà bị chứng bệnh tê thấp đau nhức cả người không hoạt động đi đứng được, bà chỉ còn một hoạt động duy nhất bằng tim óc và bàn tay năng nổ cho văn học nước nhà, thế nên thời gian còn nằm trong bệnh viện bà đã viết nhiều bài về giá trị cho cuộc chiến Việt Nam, cuộc nội chiến tương tàn nồi da xáo thịt lẫn nhau, một cuộc chiến đã làm đau thương chủng tộc, đau đớn trái tim bà trong suốt thời gian cư ngụ trên đất Pháp - Ðặc biệt bà đã phụ trách một mục quan trọng trong tờ báo bán nguyệt san tại miền Ðông nước Mỹ với tiêu đề “ NGÀN TRÙNG XA CÁCH HỎI TIN NHAU” trong mục này bà luôn luôn viết về những giai đoạn thăng trầm khổ đau của người Việt Nam khi Sài Gòn thất thủ, những câu chuyện thật đã xãy ra cho cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm không ít người Việt lưu vong rơi lệ !
Một thời gian dài định cư tạm nơi nước Pháp, bà được sang Hoa Kỳ và từ đó bà lại tiếp tục nghiệp văn thơ, viết với cả sự say mê không giả tạo, ngoài những giờ giấc dành cho sinh hoạt bản thân bà còn dành thì giờ đi học các lớp ESL và College của các trường Anh Ngữ tại miền Bắc California, một ý chí đáng khâm phục, một tâm hồn luôn muốn vươn lên và tiến thân không ngừng nghỉ, bà chỉ mới bỏ trường khi tuổi đang dần vào cửu thập niên. Bà đã làm nhiều bài thơ xướng và được các thi hữu nhiệt tình họa lại, có khi đến cả 60 bài họa lại từ các tác giả quý mến bà.
Bà đã chủ trương cuốn thơ “Ðồng Tâm Hội Bút” năm 1987 gồm 142 tác giả tham gia phần đông là những thi nhân đã thành danh của nhiều thập niên quạ Năm 2003 bà đã được lãnh giải thưởng danh dự với bài văn “ VIẾT VỀ NƯỚC MỸ” do tờ Việt Báo Kinh Tế miền Nam Cali tổ chức – Năm 2004 bà cho xuất bản cuốn “BÌNH NGÔ ÐẠI CÁO” đây một thành quả hiếm hoi trên vũ trụ này khi một con người hăng say làm việc văn hóa với số tuổi 94 - Cuốn Bình Ngô Ðại Cáo ghi chép về danh nhân Nguyễn Trãi, viết về thành tích chiến thắng chống xâm lăng của ông - Khi bà cho trình làng đã được đông đảo độc giả khắp bốn phương ủng hộ nên hiện tại không còn và có lẽ trong thời gian gần đây bà sẽ cho tái bản theo yêu cầu của một số đông độc giả gần xạ Kềm theo cuốn sách còn có một bức tranh đúng theo văn bản bằng chữ Hán - Bản chữ Hán này được các chuyên gia sưu tầm tại viện Bác Cổ bên nước Pháp.vì khi quân đội Pháp rời Việt Nam đã mang theo tất cả tài liệu văn học Việt Nam về nước Pháp - Ðây là một công trình gía trị văn học mà chắc chắn đồng hương hải ngoại phải khâm phục ý chí vượt bực của bà, mấy ai cuộc đời gần một thế kỷ mà vẫn không ngừng hoạt động.
Năm nay 2006 cụ lại bỏ công sức chủ trương cuốn truyện ngắn “ BÓNG CỜ NƯƠNG TỬ”gồm tất cả tác giả là nữ giới khắp nơi đóng góp những truyện ngắn, tùy bút, bút ký, hồi ký … Nội cái tên của tuyển tập văn này cũng đã nói lên cái ý chí bà Trưng, bà Triệu oai phong lẫm lẫm trong nội tâm bà - Dự tính bà sẽ cho trình làng vào đầu năm 2007 vì mấy tháng vừa qua bà bị té thang lầu chấn thương phần xương phải nằm điều trị mất 3 tháng liền tại bệnh viện miền Bắc California - Bà còn đang dự tính tiếp tục thực hiện cuốn 2 với những cây bút nữ giới đông đảo hơn, chúng ta hãy chờ xem người phụ nữ tài hoa này bao giờ mới chịu ngưng nghỉ hoạt động cho nền văn hóa Việt Nam, phải thành thật mà nói rằng bà Trùng Quang là một biểu tượng đáng quý và hiếm có trong nền văn học Việt Nam, bà xứng đáng là người mẹ tinh thần cao cả của lớp tuổi hậu sinh chúng tôị
Tôi xin thay mặt một số anh chị em thi văn hữu thân thích để viết bài “ CÀNH HOA TRĂM TUỔI KHÔNG TÀN” nhằm mục đích vinh danh nhà văn nhà thơ tài hoa Trùng Quang cả một đời dành cho sự nghiệp văn chương Việt Nam, bà mãi là một đóa hoa thơm trong làng văn học đến trăm tuổi vẫn không tàn.
Sau đây thân mời quý độc giả thưởng thức một vài bài thơ tiêu biểu qua bút pháp của nữ văn thi sĩ Trùng Quang :
Bài thơ độc vận
“ Vườn ai hoa bưởi đã thơm lừng
Biếc nụ tầm xuân hoa nhớ không ?
Tản mạn phương trời mây trắng lướt
Mầu cờ ươm nắng gió bay tung
Con thuyền hồ hải đương đầu sóng
Tìm bến phương nào nước ngọt trong
Tâm hướng chẳng phai mầu sắc cũ
Chén mừng xuân mới tạm vui chung
Vui chung để nối tình đồng đạo
Gốc bể chân mây bước não nùng
Mài kiếm nhìn trăng nào mấy kẻ ?
Cùng chung tâm tưởng chuyện non sông
Sương nhuộm mái xanh, đầu trắng bạc
Biển trời man mác ngẩn ngơ trông
Mười hai con giáp lần thay đổi
Chả lẽ riêng mình … con số không ?
Kià trẻ nhỏ vui chơi ngựa gỗ
Khoe tài quyết chí vượt tây đông
Lòng em hãnh diện về thanh sử
Oanh liệt ngàn xưa … giống Lạc Hồng
Này tích vua Hùng xây dựng nước
Trưng Vương, Triệu Nữ với Quang Trung
Ngây thơ ta ước như con trẻ
Hay cũng vô tri tựa gốc tùng
Sừng sững đầu ghềnh đùa cợt gió
Dở, hay, thành, bại… cũng là không
Nhưng ôi ! Người chẳng là cây cỏ
Khối óc, con tim nặng trĩu lòng
Dám chắc ngày mai trời lại sáng
Vườn nhà lựu thắm lại lên bông
Trùng Quang 2000
Ngắm trăng nhớ bạn Quỳnh Dao
Trăng vẫn là trăng của chúng ta
Mỗi tuần mười sáu tại quê nhà
Diễm kiều khung biếc treo gương ngọc
Thanh nhã đài hương tỏa ánh ngà
Ngấn bạc hàng hàng gieo biển sóng
Tia vàng lớp lớp đọng ngàn hoa
Ðêm nay sương lạnh ngùi thương nhớ
Sầu ngập tình thơ nét bút nhòa .
Trùng Quang 1990
Trăng sáng tình quê
( bát cú thiên hoàn thuận nghịch)
Nhớ ánh diệu huyền soi bước ta
Nhớ gương hiền dịu ngự muôn nhà
Hòa sương thu biếc nơi lều cỏ
Ẩn khói xuân xanh chốn tháp ngà
Ngọc rắc vườn thơ Quỳnh trắng nụ
Son tô xứ mộng Cúc vàng hoa
Hương quan dài giấc mơ canh vắng
Chốn cũ người xưa nét chẳng nhòa
Chốn cũ người xưa nét chẳng nhòa
Bao mùa lá đổ mấy mùa hoa
Bến quê trăng lạc sương mờ trắng
Quán khách đèn chong tuyết úa ngà
Hỏi bóng còn tròn in đáy nước
Và tơ vẫn mảnh lướt bên nhà ?
Gió đàn vang mãi cung phiêu hận
Dằng dặc đêm trường ta với ta
Dằng dặc đêm trường ta với ta
Ngẩn ngơ nghĩa nước với ân nhà
Thôn xưa xán lạn khung mây gió
Lối cũ thanh tao nét ngọc ngà
Cám cảnh ly hương sầu kết trái
Chờ tin phục quốc bút lên hoa
Thái bình một dải chung dòng biếc
Ðôi mảnh trời chia khói sóng nhòa
Ðôi mảnh trời chia khói sóng nhòa
Gốc đào đã trổ mấy lần hoa
Gió sương còn vững trang thơ gấm
Sắt thép nào nghiêng cán bút ngà
Úa cánh sao khuya thuyền cách bến
Tím phương trời lạ khách xa nhà
Lòng mang nặng mối hờn ly quốc
Gió hắt hiu sầu theo bước ta
Gió hắt hiu sầu theo bước ta
Dẫu coi bốn bể cũng như nhà
Vương tơ tằm nhớ cành dâu biếc
Tung cánh chim thương cội trúc ngà
Man mác bầu không mây dựng lũy
Dạt dào gương nước sóng sôi hoa
Mười phương chín hướng đầy nhung nhớ
Trải mấy thời gian cũng chẳng nhòa
Trải mấy thời gian cũng chẳng nhòa
Vườn hương lan huệ lộng màu hoa
Chọn câu hiếu nghĩa làm khuôn mẫu
Giữ nếp thanh cao thế ngọc ngà
Cách núi chia sông chung xót nước
Rời Nam lià Bắc những thương nhà
Giờ đây bao nẻo đường chia ngả
Ta nhớ người xa … ai nhớ ta ?
Ta nhớ người xa … ai nhớ ta ?
Vương vương giao cảm đến muôn nhà
Trang thơ son mộng thêm màu thắm
Vườn hạnh trăng mơ tỏ ánh ngà
Trời biển tâm tình trao cánh nhạn
Ðông Tây thương nhớ mượn tờ hoa
Tinh cầu dù xẻ làm đôi nữa
Thì khối băng thanh cũng chẳng nhòa
Thì khối băng thanh cũng chẳng nhòa
Giữa trời thuần khiết một khung hoa
Những mong nhạc trổi nơi ngàn tiá
Hằng ước thơ bay chốn đỉnh ngà
Chưa đủ cang tràng xây dựng nước
Thời mang tâm não điểm tô nhà
Mai kia gió chuyển sang chiều mới
Trăng lại cười duyên với chúng ta
Trùng Quang 1985
San Jose California Xuân Ðinh Hợi 2007
Ðã ba mươi hai năm rồi, anh mang cái giò lủng lẳng đó như một nghiệp. Có một thời, người ta cấp cho anh một đôi nạng, anh dùng để di chuyển, nhưng trong một chuyến đi buôn, anh bị bọn quản lý thị trường đập tơi bời đến gãy luôn cặp nạng. Từ đó, anh quẳng luôn chúng đi để nghiền ngẫm nỗi đau bị đời bỏ bê, hành hạ.
Từ xa xưa lắm rồi, anh là lính miền Nam. Anh đăng vào ngành thiết giáp, đội cái mũ bê rê đen ngồi trong xe nồi đồng, có súng to đùng chĩa ra trước, coi gồ ghề dữ tợn. Vậy mà rồi mấy tay
“ ve chai “ cũng mò mò dện một trái B-40 vô đốt cháy tiêu chiếc xẹ Anh đang lái tiến hùng dũng bỗng nghe cái chân rát rạt và ngọt ngào, ngó lại máu đổ xối ra, ngỡ là đi đoong liền một khị
Song cái số của anh chưa hết nghiệp, nên dù ngất đi tới mấy ngày, rồi cũng sống lạị Có điều là cái giò bị xển thì mất tiêu luôn, vì bác sĩ điều trị nói là không giữ được bởi nhiễm trùng nặng quá. Kỳ đó, anh bị thương trong trận Mậu Thân khi cố giải tỏa khu gia binh Thiết Giáp miệt Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.
Lây lất được giải ngũ, lãnh tiền thương phế binh dài dài, đùng một cái năm 75 mấy tay “ ve
chai “ chớp chính quyền, anh mất hết. Không lương, không nhà, gia đình bị đuổi đi, còn bị chửi là“ ngụy “, bị hăm he đủ thứ. Anh phải làm đủ mọi nghề để mưu sinh.
Anh gom góp được món tiền cho vợ đi buôn sang tay ở chợ. Ðứng đầu chợ, ngồi cuối phố, ngong ngóng ai bán gì thì mua kiếm chút lời, bị xua đuổi như ma, như tà, công an dẹp bên này thì nhảy qua bên kia lề để thành dân phường khác, dây dưa sống. Món nào lớn vốn thì gọi bạn sang tay, kiếm tí chia lời, người ta bảo đó là lối buôn nước bọt.
Dạo đó, “ ve chai “ ở Bắc vào ùn ùn, thấy thứ gì của miền Nam cũng tấm tắc khen và hối hả muạ Miệng thì nói ngoài đó gì cũng có, song tranh nhau gom đủ thứ mang về. Dân miền Nam trong cảnh nước mất nhà tan, thân còn chẳng tiếc, tiếc chi ba cái món của cải ngày xưa, nên có gì đem ra chợ tất tần tật. Những chuyến xe bít bùng chở hết của nả các công sở chạy ngày đêm ra Bắc, nhưng miệng thì chửi “ ngụy “ làm nô lệ cho ngoại bang.
Ðã bao lần vợ và anh bị kêu ra khóm học tập. Họ kiểm điểm gia đình anh về cái tội con buôn phe phẩy, chây lười lao động. Họ bắt anh chị chụp hình như tù đeo số và cho dán ở phường, ở chợ để bêu riếu vợ chồng anh.
Thời đó, anh không đởm lược cũng không được, vì nếu không làm thì lấy gì bỏ vào mồm. Lại thêm, anh muốn làm người công dân bình thường mà nào họ có cho đâụ Tới nơi nào họ đều xua như xua người bịnh hủi, người bị HIV. Họ nhiếc, họ mắng, họ lôi quá khứ của anh ra để làm cho anh tối mày, tối mặt. Cho nên họ nói mặc họ, phê bình chán cũng thôi, vợ chồng anh cứ bám cứng thành phố để lo nuôi bọn con ăn học.
Bọn con nít trong xóm gặp anh đều hát ghẹo ồm ồm : còn một giò đi lái xe ôm, còn một giò đi mót cơm rơị Anh khổ nhứt khi mùa hè về vì bọn nhóc được nghỉ học, chúng nhởn nhơ khắp nơi, anh bước chân ra đều miên man đụng đầu chúng. Bọn con cán bộ thật mất dạy, chúng lấy đá chọi vô chân anh rồi chạy để anh đuổi theo bất lực. Cha mẹ chúng có thấy cũng chẳng rầy lạ
Anh cam chịu nỗi đời hẩm hiu không than van, oán hận. Nhiều khi tủi thân, anh chỉ âm thầm khóc một mình. Thời ăn bo bo, bột mì, anh đau lòng vì bọn con anh ăn không nổị Tay chưn tụi nó mụn mủ mọc tràn, các ngón run run, kẽ tay chìa bè ra, không khép lại được. Anh nghĩ ăn còn chẳng có, lấy đâu ra vi ta min uống để mụn tan đị
Chẳng còn điều gì anh chẳng làm, kể cả đi ăn mày, ăn xin. Nhiều đồng bạn anh đã chuyển sang nghề hát dạo, kết nhóm nhau thành một băng hát rong. Người đàn, kẻ đập xèng xèng, ca những bài xưa lơ xưa lắc. Kẻ dễ dãi thì lơ là cho thương binh chế độ cũ kiếm tiền, kẻ độc ác thì dọa dẫm giờ còn đem nhạc vàng ra hát hỏng.
Ðộc chiêu nhất là bọn bộ đội nhân dân. Chúng thích các bài ca tâm sự lính đòi anh hát bằng được. Thằng nào thằng ấy nghe dẩu mẹ miệng ra, nốc rượu như nước lã. Bọn công an đến kiếm chuyện, mấy thằng quân đội nạt đuổi đi, loạng choạng đập cho chạy không kịp. Cùng là lực lượng quân sự với nhau mà thằng áo cứt ngựa coi thằng bò vàng khinh như chó. Anh nhẫn nhục hát theo sự yêu cầu, nhặt từng tờ bạc sờn mòn về chiu chắt nuôi con.
Anh đau nhất là ngày vợ anh cũng bỏ đi nốt. Cô ả chịu khổ không xuể nên có thằng lao công biên chế gạ gẫm là cuốn gói xéo ngaỵ Mấy đứa nhỏ níu kéo kêu má ơi, má hỡi, nhưng đàn bà khi đã khăng khăng thì chịu, chẳng làm sao nói điều hơn thiệt. Anh cắn chặt môi đến rớm máu, bật lên nỗi chua cay như xát muối vào lòng.
Vậy mà anh cũng trụ lại nổị Bọn nhóc lớn lên, học xong cấp 2 là bổ nháo bổ nhào đi làm. Công việc toàn là thứ vứt đi, làm phu quét đường hay dọn vệ sinh khu phố. Bọn cầm quyền dỗ ngon dỗ ngọt phải chịu khó nhận thử thách, dốc tâm lao động thì lần hồi mới được cất nhắc việc nhàn hơn. Song lời hứa của “ ve chai “ có họa là lập thiên lập địa lần nữa cũng không có.
Bọn trẻ đi làm, anh trơ trọi một mình. Cứ lê cái giò cà nhắc đi khắp nơi như một chứng nhân thời đạị Gần gần đây, anh nghe đồn có ông quan phe mình được bà con ở nước ngoài tin tưởng gửi tiền về giao toàn quyền lo việc giúp đỡ phe tạ Anh nôn nao hỏi thăm để mong được nhận chút ơn mưa móc đó. Khốn nỗi là ông quan ở mãi tận đâu đâu, anh dò hỏi được thì ông đã đi sang vùng khác.
Anh không tin là phận hẩm hiu đeo đuổi anh hoàị Nhưng dường như duyên anh còn lềnh bềnh nơi đầu nguồn cuối lạch sao đó, mà đợi chờ hoài vẫn chưa thấy tăm hơị Một vài lần, anh mon men đến các nhóm đoán là đồng đội ngày nàọ Anh chưa ghé vào đã nghe các bố huyên thuyên trận này, trận nọ. Bố nào cũng phồng môi trợn mắt kể thành tích ngày xưa, lại kháo tin ông tướng này tướng nọ đang mon men về gần đất nước làm cách miệng.
Cái hôm đọc tờ báo nghe nói ông tướng tàu bay vừa về thăm quê nhà. Anh muốn chửi um khi nhìn bộ râu cá chốt của lão xun xoe trước cán bộ. Mẹ, cái thằng ăn tục nói phét, cuỗm cả vợ đàn em mà còn vênh váo nhặng lên. Anh nghĩ cỡ thằng đó chỉ nên vùi đầu xuống bùn cho đỡ nhục, trăm voi không được tẹo nước sáo, hùng hùng hổ hổ rồi cút bỏ mặc đàn em. Nay lại ti toe nịnh cái lũ ngày xưa đã bị chính hắn mở mồm chửi vung vít.
Cuộc đời là như vậỵ Tiếc là miền Nam vô phúc có lũ tướng phường tuồng, nhi nhô tranh nhau bả danh lợi, khi thấy không xong là cun cút chạy nhanh. Những thứ đó anh coi là rơm là rác, phí lời chửi vì chúng có nghe đâụ
Bởi vậy, anh thủ chặt một giò, nhảy lình xình cho trải đời, trải kiếp. Anh không hề khoe về binh chủng ngày trước của anh, những vinh quang đó giờ còn đâu nữa mà khua môi múa mép. Hoang phế một thời giờ có nhắc chỉ thêm chua xót mà thôi, triều đại đã qua như một trận cuồng phong kéo qua, chẳng còn để lại mảy may nào nữạ
Anh cúi đầu lặng thầm trong bóng đêm. Thành phố chưa tàn một ngày lăn lộị Chỗ của anh là gầm cầu bỏ ngỏ đã lâụ Nhát chân cầu cụt lêu vêu như một vết chém chặt lìa quá khứ với hiện tại giờ đây, cách nhau một trời một vực. Cái đế cầu còn cụt ngủn lặc lè, anh có ý nghĩ như đó là cái giò của anh chỉ sót lại một, cũng lặc lìa, loi choi như thế.
Anh ôm câu ca : còn một giò đi lái xe ôm, còn một giò đi mót cơm rơi mà nước mắt chan hòa tự lúc nàọ
Bạn bảo tôi là một người độc lập vô cùng, vâng tôi cũng thấy thế nhưng bạn có ngờ đâu tôi rất phụ thuộc vào người khác.
Này nhé , ngày còn bé, tôi ngủ chung với người chị rất siêng học, cái bà này học hơn tôi hai lớp , sáng nào bả cũng dậy sớm học bài xa xả , bài bả mà bả đọc riết tôi thuộc luôn, còn thuộc hơn bài của mình dù đang ngủ, lúc bả chuẩn bị đi học, tôi mới lò mò dậy đánh răng rửa mặt đưa tay cho bả dắt tới trường.
Năm 1974 bả thi đậu vào Gia Long, nở mày nở mặt, ba tôi lúc đó đã đe tôi thi đệ thất mà không đậu cuốn gói ra đường ở. Cái đời gì kỳ , học dở hay học giỏi mà do mình định được tôi đã làm, nhiều lúc tôi nghĩ nó do cái số phận nhiều hơn là do sự cố gắng ở cá nhân. Như tôi đây , học dở thế mà lúc sắp vào lớp 6 người ta bỏ thi đệ thất , trước năm của tôi, ai cũng phải thi lên lớp 10 , tôi may mắn được miễn thi , có thi cũng rớt mợ nó rồi chứ không mong gì đậu vì tôi có coi bài thi năm đó , khó chết.
Những ngày đó , hễ chị tôi dậy học , tôi còn chưa dậy , chị tôi có mệt mà ngủ , tôi còn thấy thích vì ơ , bả học giỏi thế còn chưa dậy học mình mắc chi phải dậỵ
Cuộc sống tôi lúc đó rất tự do , tôi chẳng phải phàn nàn điều gì, ăn ngủ học tùy ý tôi muốn à.
Qua tới đây lúc 24 tuổi tự tôi phải tạo dựng lấy tương lai mình một cách đúng nghĩa, tôi thấy mình cần có trách nhiệm hơn, tôi ở một mình , chả còn nhìn thấy ai mà noi gương, tôi thấy nó buồn bã làm saọ
Lúc có gia đình, tôi cũng đâu có ngờ tôi trở lại với tính cách phụ thuộc vào người khác , hễ chồng tôi chưa dậy đi làm tôi cũng chưa ra khỏi giường, ơ , ổng làm giờ còn sớm hơn mình còn chưa dậy , mình cũng bao nhiêu việc phải làm trước khi đưa con tới chỗ gửi nhưng mệt quá , dậy sớm chi mắc công.
Buồn cười ha , tôi chưa bao giờ bảo tôi tự tôi phải dậy vì tôi cần dậỵ Sáng nay tôi nhận ra điều này vì chồng tôi đã đi làm trước tôi cả 2 tiếng, tôi thấy nó lại trống trải làm sao , tôi lồm cồm dậy, nhà vắng tanh, thay tả cho con rồi đưa đến chỗ gửị
Tôi tự hiểu rằng, dù tôi có tự lập , độc lập tới đâu , tôi vẫn cần , rất cần những người xung quanh để tự nhìn lại mình , có họ cuộc đời tôi khởi sắc hơn và nhờ họ , tôi biết tôi là ai mỗi ngày , dù nói thật, có người tôi rất ưa, có người tôi không nhưng tất cả họ làm nên bộ mặt xã hội tôi đang nhìn thấy và tôi không vì những hình ảnh không vừa lòng mình mà quên đi cuộc đời rất là sinh động đang diễn ra hàng ngày xung quanh tôị..
Cho Một Ngày
Anh Yêu Dấu,
Anh thắp nến để soi đường em đi, cũng để nhìn em rõ hơn
" Ta nhìn cho rõ mặt người
Mai sau ta chết nụ cười mang theo
Mộ ta nằm dưới chân đèo
Ngậm sương nhìn núi mây treo ngang đầu
Ngày em áo thắm cô dâu
Một lần qua đó kẻo đau hồn này
Áo em trắng quá như mây
Là màu áo cưới, hồn này áo tang "
Có phải đó là những lời trăn trối hay là một lời nhắn gởi mà tất cả mọi người trên thế gian này rồi cũng sẽ quay Về Nguồn ?
Những họp tan, ngăn cách là lẽ đương nhiên, nhưng đôi khi con người ta không chấp nhận nó mà chỉ cho là mộng. Mộng ảo, mộng tưởng của cuộc đờI, để thấy rằng, cho rằng anh vẫn còn hiện hữu trong trái time m, và mãi còn ở quanh đâỵ Dầu gì d di nữa, em cũng sẽ :
....Không mặc áo trắng ngày vui ...
Em sẽ chôn kín ngủ vùi cùng đông ....
Ðể nghe tuyết phủ riêng lòng ...
Ðể chia ánh nến ngược giòng thời gian
Sẻ chia tâm sự đôi hàng ...
Cùng anh thơ thẩn cùng nàng Nguyệt Nga
Từ trong cõi vắng nơi xa ....
Một vì sao lạ ngọc ngà ...nhìn em
Hãy tiếp tục nhìn em đi anh, để trong mắt em có cả bầu trời đầy saọ Những vì sao sáng mà có lần em đã thức trắng một đêm nhớ anh.
Nhớ để thấy rằng mình được yêu, nhớ để biết rằng trong trái tim anh có em. Hạnh phúc, hạnh phúc lắm đúng không anh ? Cho dù đã có lần anh thấy " lạc nhịp "
Biết em còn có mong chờ .
Ta đưa em đến bất ngờ thoáng qua .
Áo em trắng quá một tà .
Gửi em chút nhớ gọi là gửi em ...
Anh đã biết là em mong chờ, thế mà anh vẫn cứ để em chờ mãi thế này, chưa về lại bên em. Anh phải đền em những gì nào ?
Cho em chút nắng dịu êm ...
Nồng trên đôi má hồng thêm áo tà ...
Viết Cho Giao Mùa Nov.. 2007
DHH
~~~~/~~((@
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu sau đây : Bảo Trân , Bùi Ngọc Hiệp, Chu BáÐằng , Cung Trần , Ðinh Lâm Thanh , Ðóa Hoa Hồng, Ðông Hoà, Hàn Thiên Lương, Hoàng Yến, Hồ Chí Bửu, Huân Long, Khả Nhi , Lê Minh Thủy , Lê Hưng Tiến , Mynh Hứa, Nam Thảo, Nhật Hạ, Nguyên Thạch , Nguyễn Trường An, Nguyễn Hải-Bình , Phan Tưởng Niệm, Song An Châu, Sông Cửu, Sương Anh, Thy Lan Thảo, Trần Thành Mỹ, Triều Phong Ðặng Ðức Bích , Khóc_Cười, Vân Hà, Việt Dương Nhân, đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 67 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà
