Số 69

Ngày 1 tháng 1 năm 2008

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua@hotmail.com


Thư Ngỏ



Bạn thân mến

Sài gòn cuối năm chẳng có gì lạ. Ra đường vẫn thấy bụi. Tan sở thấy kẹt xe. Mưa xuống thấy ngập. Thủy triều lên thấy rác ….Huế thì sao nhỉ? Gọi điện ra nghe người thân nói đúng một từ. Lụt! …

Một năm trôi qua nữa rồi. Ta có thêm cái gì mới không? Bạn có thêm cái gì vui không? Có ai biết không nhỉ? Chỉ biết rằng ở quê nhà đang oằn mình theo từ lụt. Nhà nghèo nghèo thêm. Nhà giàu không biết có bớt giàu thêm không nhỉ. Chỉ biết trẻ con tội lắm. Noel rồi Tết đến, bọn trẻ vẫn còn bì bõm trong nước lụt. Ngày hửng nắng, tụi nhỏ tranh thủ đem sách vở ra phơi …tiếng cười vang góc phố. Người lớn quặn lòng! Chỉ có NGƯỜI LỚN luôn trăn trở.. Một năm qua rồi. 12 số 12 tháng có làm vơi bớt đi những nhọc nhằn 365 ngày không? 12 số 12 tháng có mang cho bạn một năm bình an không? 12 số 12 tháng có cùng bạn làm vơi đi nỗi nhớ quê nhà hay không? 12 số 12 tháng Giao Mùa đã cố gắng đem lại những phút giây chia sẻ thân thương với tất cả tâm hồn bạn đọc gần xa. Và hôm nay đây, Giao Mùa Tháng 1 năm 2008 xin gởi lời tri ân với quí bạn đọc đã ủng hộ Giao Mùa trong những năm qua.

Lời chúc một năm mới thật nhiều thành đạt từ Ban Biên Tập Giao Mùa xin gởi đến mọi người trong số Tất Niên Ðinh Hợi này.

Hoa Bằng Lăng
Ban Biên Tập Giao Muà


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Ý Thức ______Vân Hà
2. Cụng Ly Lần Cuối ______Bùi Chưởng
3. Ðêm Thiền ______Trần Hoan Trinh
4. Giao Mùa ______Ðông Hòa
5. Em Và Biển Cả ______Hoàng Yến
6. Châu Thổ ______Ðỗ Thành
7. Thu Bâng Khuâng ______Song An Châu
8. Thao Thức ______ Nguyễn Thế Hoàng/Huệ Thu
9. Nắng Lên Rồi ______Tôn Thất Phú Sĩ
10. Bài Thơ Buồn Cho Em Bé Iran ______Kim Thành
11. Lệ Sương ______Mynh Hứa
12. Trăng ______Vành Khuyên
13. Muà Xuân Năm Ấy ______Phan Tưởng Niệm
14. Nghĩ Ðến Em ______ Nguyễn Hải Bình
15. Một Ðất Trời, Một Tôi … ______Dòng Sông Nhỏ
16. Ru Tình ______Khóc_Cười
17. Trót Ngỏ Tiếng Yêu ______Hà Khánh Phương
18. Xuân Chưa Về ______Sương Anh
19. Xuân Của Quê Hương ______Tóc Nâu
20. Mùa Sang ______Võ Thị Hà
21. Bất Chợt Vô Tình ______Thy Lan Thảo
22. Thác Lửa ______Hoàng Thuấn
23. Ngược Chiều ______Lữ Thị Mai
24. Cây Ðức Hạnh ______Ðàm Thuỳ Dương
25. Ru Khúc Tình Ca ______Hồng Sang - Nguyên Thạch
26. Ðêm Cửu Long ______Sông Cửu
27. Lục Bát Vương ______Lê Văn Bảo

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Mai Ly Tập II _______ Việt Dưong Nhân
2. Bờ Lau Cát Lở 27 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành
3.Ngày Tháng Còn Lại (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ðinh Lâm Thanh
4.Chập Chùng Bóng Núi 17(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn
5.Bên Dòng Biên Giới ___________ Phan Thái Yên
6.Nụ Cười Bí Ẩn ___________ Trương Anh Quốc
7.Chậu Hoa Tết Trong Trại Tù ___________ Ðỗ Thành
8. Hắn ___________ Hoa Bằng Lăng
9.Con Nước Rong ___________ Huân Long
10.Ăn Tết Hụt ___________ Nguyễn Thế Hoàng
11.Quên ___________ Vành Khuyên
12.Gởi Người Phương Ấy ___________ Hà Khánh Phương
13.Tết Ta ___________ Trần Thành Mỹ
14.Có Một Tình Yêu ___________ Nguyễn Thị Khiêm Nhu
15.Muà Nhớ, Muà Thương ! ___________ Trường Tango
16.Căn Phòng Có Cánh Cửa Hoen Rỉ ___________ Lê Văn Bảo

III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

IV . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Ý Thức 
 
Em muốn xếp, hồn thơ đem đi cất
Bởi đâu còn, ai trân trọng nâng niu
Bởi thơ em, đâu ngà ngọc mỹ miều
Ðâu hấp dẫn để người luôn ôm ấp.

Thơ, như khóe mắt em, hằn nếp gấp
Xếp nhăn nheo, như độ tuổi già nua
Như tình Xuân, khi đã đổi sang mùa
Dù cố níu, Xuân bao giờ trở lại?

Dec-16-07
    		
Vân Hà  
Mục Lục


2. Cụng Ly Lần Cuối tặng Lê Trọng Nghĩa và các bạn đã biết & quí mến Nguyễn Phước Dương Mầy đã ra đi, đi thật hả Dương Mầy đi xa, đi đến miền quan tái Buổi tiển đưa như một lần gặp lại Ở cuối con đường ta lại gặp ta Mới ngày nào mầy cùng tao cụng ly Hơi men hôm nay đã lạt hơn nhiều Vợ con mầy cảm chịu nhiều thua thiệt Ðá cũng đau lòng cũng kiếp đìu hiu Có phải chia li hay mình trở lại ? Về chốn cội nguồn khởi thủy vô minh Trên cao xa có hạt bụi nhân tình Ðã rớt xuống bên này cầu mặc tưởng Cụng ly lần cuối rồi mình chia tay Mầy về cô liêu ôm giấc ngủ dài Ðường còn vạn dặm nhủ lòng sương khói Ừ, ly cuối cùng. Mắt tao cay cay. Paris, tháng 12 / 2007 Bùi Chưởng
Mục Lục


3. Ðêm Thiền Chắp tay tỉnh mặc ngồi thiền Thấy tiền thân hiện thấy tiền kiếp trôi Thấy trong mù mịt luân hồi Cát bay đá chạy một trời hồng hoang Thấy trong sương khói địa đàng Em đòi ăn trái táo vàng trên cây Có con rắn đỏ trợn mày Nhe nanh phóng lưỡi dọa đày đọa em Sóng gào chớp cuộn sao nghiêng Hào quang đỏ chót cuối triền núi xa Rồi ầm ầm động phong ba Cơn hồng thủy lọan sơn hà sục sôi Thấy mình nước cuốn mây trôi Bập bềnh trong cõi đất trời huyền vi Sâu hun hút cửa A tỳ Cũng xa hun hút nẽo về trần gian Ðắm chìm trong khói sương tan Chơi vơi trong ánh trăng vàng chơi vơi Mỏng như lụa nhẹ như hơi Mênh mông một biển mù khơi vô cùng Mặt trời chói sáng trong lòng Thênh thang giữa đám mây hồng đầy hoa Thanh bình trong mỗi sát na Phiêu bồng theo tiếng tình ca ngọt ngào Oâm thơ nằm đợi chiêm bao Ngủ quên trong tiếng mưa rào đầu xuân Nghe em thỏ thẻ xa gần Hồn thanh tịnh lòng thanh tân lạ thường Hoa hồng thoang thỏang đưa hương …….. Trần Hoan Trinh
Mục Lục


4. Giao Mùa ( thuận nghich độc ) Ðông tiễn vẫy chào xuân bước sang Chợt buồn ai đợi đón mai vàng Thương lời trút dại cành huê liễu Nhớ tiếng ru hoài bóng khúc giang Lòng chạnh xót vương chờ gió lệch Trí nung sầu vọng gửi mây hàng Dong đêm mắt nhạt hồn ngần ngại Sương ảo ngập lòng nỗi oán than Than oán nỗi lòng ngập ảo sương Ngại ngần hồn nhạt mắt đêm dong Hàng mây gửi vọng sầu nung trí Gió lệch chờ trôi xót chạnh lòng Giang khúc bóng hoài ru tiếng nhớ Liễu huê cành dại trút lời thương Vàng mai đón đợi ai buồn chợt Sang bước xuân chào vẫy tiễn đông 12.12.07

Ðông Hòa

Mục Lục


5. Em Và Biển Cả Tình em bao la quá, Anh như con cá hồi, Qua nhiều vùng biển lạ, Vẫn về với em thôi! *** Lời ngây thơ em nói: "Mình sẽ mãi chung đôi" Tình em và tình nước, Anh ray rứt cả đời . *** Trường lớp đầy kỷ niệm, Chia ly nào không sầu, Ánh mắt em trìu mến, Càng xa càng thương nhau . *** Xưa anh yêu màu trắng, Tà áo dài nữ sinh, Em yêu anh lính biển, Vì sắc màu nguyên trinh. *** Những ngày biển đợi gió, Tĩnh lặng và nên thơ, Anh thương người em nhỏ, Luôn mỏi mắt mong chờ. *** Dòng thời gian trôi mãi, Tình xưa không xoá mờ, Anh mong ngày gặp lại, Viết cho trọn bài thơ .

Hoàng Yến

Mục Lục


6. Châu Thổ Lục lạc ngựa về trên con lộ Hàng thồ nặng trĩu đau sống lưng Nhẩn nha lội khắp men con suối Mây quyện trên không từng phủ từng Chợ nhóm chiều hôm buồn nhẵn mặt Khói lam đùn tỏa mái nhà thôn Uể oải mồ hôi đều khắp rịn Dừng chân sao vẫn thấy bồn chồn Châu thổ buồn tênh cơn mưa tạt Vò rượu say nằm nghiêng lả lơi Khói thuốc triền miên mùi khê đặc Oang oang giọng nói lẫn tiếng cười Sắc đỏ mặt trời trên gương mặt Chân xòe điệu múa đập sàn kêu Bàn tay uốn lượn sen kín búp Tích tịch tình tang đàn gẩy đều. Ðêm nghe vó ngựa lùa trên ván Lác đác giọt sương rỏ mái tranh Tấc dạ đìu hiu sầu rũ rượi Dập dềnh cơn gió khẽ lay mành Châu thổ sáng ra trời sương đặc Ngựa thồ lại chuẩn bị ra đi Cô gái thập thò ra sân tiễn Ngập ngừng chẳng biết nói năng gì. Ðỗ Thành
Mục Lục


7. Thu Bâng Khuâng Chiều buồn qua phố mờ sương, Nghe thu lá rụng bên đường quạnh hiu. Chia tay mắt ướt một chiều, Còn vương chút lệ, em yêu xa ngàn. Từ ngày phượng đỏ hè sang, Heo may gió thoảng lá vàng rơi rơi. Mấy thu xa vắng em rồi, Bóng câu qua cửa cuối đời lưu vong. Yêu em anh giữ trong lòng, Dù xa xăm mấy cũng không phai mờ. Xa anh, em có đợi chờ, Chờ ngày xum họp dây tơ nối liền ? Chiều GA , 14-10-2997 Song An Châu
Mục Lục


8. Thao Thức Xuân đến lao xao cõi Ðất Trời ...! Hồn Xuân thao thức giữa trùng khơi... Xót xa sĩ khí hờn vong quốc, Chua chát thân danh lạc bước đời ..! Vận Nước đổi xoay, chờ nghĩa dũng, Cơ Trời chuyển dịch, gọi quy hồi. Hương Xuân man mác tình Dân Tộc, Xuân cũ giờ đây vẫn tuyệt vờị.! Nguyễn Thế Hoàng Nữ sĩ Huệ Thu họa : Nghe đng vang vang cả khoảng trời Từ xa nước Mẹ vượt ngàn khơi Rửa tay gác kiếm là hư sự Lấp mắt bưng tai nghĩ uổng đời. Dạo ấy vài tên dù trụy lạc Ngày xưa bao kẻ đã chiêu hồi Non sông gấm vóc ta mừng rỡ Chẳng thể son tô cũng vẻ vờị.! Huệ Thu

Nguyễn Thế Hoàng/Huệ Thu
Mục Lục


9. Nắng Lên Rồi Con Suối mát chảy vào miền ước vọng Tảng đá ngầm không ngăn nổi dòng sông Nước xuôi nguồn tuôn vào vùng biển rộng Ngập đôi bờ xoã cát trắng mênh mông Trong mộng ảo ta đi tìm mặc tưởng Thấy mơ hồ em đứng đó chơ vơ Những xa xôi bỗng như con sóng vỡ Ðưa ta đi vào nỗi nhớ trùng vây Có phải đây là mùa xuân ta đợi Có trời xanh bên những nhánh nhung vàng Ðừng nói nữa em ơi đừng nói nữa Mười ngón tay đan còn lại cho em Lâu lắm rồi vẫn nghe hoài tiếng gọi Mây vẫn bay biền biệt bốn phương trời Ta lãng du thả tầm nhìn mắt ngóng Sóng trong đời vẫn mãi mãi reo vui Giấc mơ dài ta chưa đi trọn vẹn Thương rất nhiều những ước hẹn mai sau Ðường quanh co dù có xa diệu vợi Nắng lên rồi ... tôi đã có tình tôị.. Déc. 2007 Tôn Thất Phú Sĩ
Mục Lục


10. Bài Thơ Buồn Cho Em Bé Iran Hôm nay Ngoài trời lung linh giọt nă´ng Mà lòng tôi sao đă´ng lạ lùng Tôi đã kho´c Suô´t một buổi chiều Vơ´i một con tim tê buô´t Khi nhìn vào gương mặt em be´ Iran lem luô´c Ta´m tuổi Ðau đơ´n khôn cùng Dươ´i ba´nh xe lăn tàn bạo Nghiền na´t ca´nh tay em Không phải một sự rủi ro cầu mong tha thư´ Mà do lòng người thu´ dữ Cạn đa´y từ tâm Ðể ma quỷ dẫn đường Dương những con mă´t a´c nhân Nhìn xa´c thân be´ nhỏ bị đọa đày Em be´ Iran Ta´m tuổi Không dạo chơi go´c phô´ Em đo´i khổ lang thang Trộm miê´ng ba´nh mì sô´ng qua ngày tha´ng Cha mẹ em đâu ? Tôi không biê´t rõ Phật Chu´a ở đâu ? Những dâ´u hỏi nghi ngờ Phật không đủ khả năng Giu´p em thoa´t căn nghiệp chươ´ng Nhưng Chu´a vạn năng Ðịnh đoạt cả từng chân to´c rụng Ngài ở đâu ? Ngài ở đâu mà quay mặt làm ngơ Phải chăng Chu´a đã bỏ loài người * Phật đã bỏ loài người Nên trần gian ma´u tươi tuôn chảy Lạy Chu´a ! Lạy Phật ! Xin tha thư´ cho con Những thă´c mă´c ngu ngơ Thoa´t ra từ tra´i tim chân thật Hỡi em be´ Iran tàn tật ! Giờ đây em đang nghĩ gì Mai đây em sẽ nghĩ gì Khi nhìn vê´t ti´ch đau thương dại khờ để lại Vê´t ti´ch đau thương Mà cuộc đời và Thương đê´ Ðã nỡ dành để tặng cho em February 2006 * Trịnh Công Sơn Kim Thành

Mục Lục


11. Lệ Sương Lá vàng ôm gió thu Bỏ cây đi biền biệt Cây sầu cành trơ xuơng Ðứng run trong chiều tím Âm thầm nhỏ lệ sương Trên đường người qua lại Mịt mờ cả không gian Chẳng ai màng thăm hỏi Tay anh ôm giai nhân Bỏ mặc em gối lẻ Em sầu người xanh xao Từng đêm ôm con nhỏ Lệ chảy giọt đầm đìa Ðèn đêm khơi nỗi nhớ Sao anh nở phủ phàng Dứt ngang tình chồng vợ Mỗi khi con mình khóc Lòng em quặn cơn đau Nhớ những ngày êm ấm Con tập đi chập chửng Anh mừng níu tay em Bảo rằng con giỏi quá Bây giờ anh đi xa Căn nhà ôi hoang vắng Nắng thu màu vàng hoe Nhạt nhòa chiều ảm đạm Sợi buồn vương đó đây Hàng cây run trong gió Thiếu phụ bỏ điểm trang Trẻ thơ bàng hoàng khóc Chỉ bởi một người đi Hởi anh anh có biết. 11/2007
Mynh Hứa





Mục Lục


12. Trăng Ta nhìn trăng khuất sau vòm lá Một ánh trăng khuya rất lạ lùng Chẳng quá lửa mà vàng ươm đến lạ Rải lòng ta một ánh sáng mông lung Kỳ diệu lắm thức đợi trăng không có Nay mở mắt ra trăng đã đấy đợi ta To thật to ánh trăng ngà quá rõ Thật đây mà , trăng gần có đâu xa ... Bao bài thơ , bao thi sĩ cùng trăng Bao cảm tác ta mơ đời không thấy Trăng của bao người , ánh trăng vẫn vậy Vẫn cúa riêng ta , trăng thức đợi một ngày .. Cho đêm qua , trăng thật sáng . 8/30/04

Vành Khuyên
Mục Lục


13. Muà Xuân Năm Ấy mùa xuân ấy giặc về -gieo khói lửa em gái tôi - chết giữa đêm ba mươi đạn pháo rơi - ghim nát khắp cả người ôi !" Giải Phóng "- tuổi đời còn bé nhỏ ? mùa xuân ấy giặc về - gieo tai biến mẹ già nua nuối tiếc - gánh tương lai chạy chinh chiến - vượt sông - đò chìm lĩm " Hạnh Phúc " ơi! - thân mẹ biết về đâu !? mùa xuân ấy giặc về - gieo tang tóc lẻ loi đời cô phụ - ngậm ngùi đau đêm chiếc bóng - thương về vùng " Cải Tạo" " Tự Do " ! - sao năm tháng nỗi hận sầu ? mùa xuân ấy giặc về - mưa gió phủ quê hương tôi lở lói - một màu tang dân tộc đói - lê thân qua xứ lạ " Ðộc Lập " gì ! - bao dòng lệ chứa chan ?

Phan Tưởng Niệm
Mục Lục


14. Nghĩ Ðến Em “Dốc chút tâm tình vơi nỗi nhớ Cho người tôi nguyện vạn kỷ thương” Nguyễn Thế Hùng (1934-2004) Tôi tìm em đường về trên lối cũ Chiều Tiền Giang một sớm qui cố hương Chuyện chúng mình, còn một nhớ mười thương: Tôi gỡ nhẹ vòng tay ngày giã biệt Không còn em, không còn đối mắt biếc Ngày vu qui em khóc giận hờn anh. Cuộc tình này em biết thật mong manh Anh đã nói đời anh là cuối hạ. Em bước đi, đường vào Nam xa lạ Ðể quên anh, vĩnh biệt chuyện ngày xưa… Ðể rồi em vẫn như sống trong mơ Vẫn tìm anh qua dòng thư đẫm lệ Vẫn ngọt ngào, vẫn tình xưa kể lể. Anh ngậm ngùi chon chặt chuyện thương em; Năm tháng qua đi, anh tưởng sẽ quên Về chốn cũ: Vẫn còn em dĩ vãng … Chiều Tiền Giang~2007 Nguyễn Hải Bình
Mục Lục


15. Một Ðất Trời, Một Tôi … * Ngồi tựa cửa nhìn mây trôi cùng gió Co ro lòng hỏi quê cũ tận đâu Ngày viễn xứ nắng tàn vào chính ngọ Mắt buồn so lạc cánh nhạn đông sầu Ðông ban tuyết cho nguyên lòng về đến Phố ngời thương trổ tùng bách chân người Lời chuông đổ nửa đêm tròn cuộc hẹn Ðất với trời bằng một sấp ngửa tôi 04.12.2007 Dòng Sông Nhỏ

Mục Lục


16. Ru Tình Ðánh chén nửa vầng trăng thôi nhé Nửa kia làm võng tự ru ta Có bước xin chân người khe khẻ Vàng rơi chưa chín mộng giang hà Góc hè phố cũ đêm soi bóng Một mãnh ta gầy đọ mãnh trăng Sấp ngữa bàn tay trôi tuyệt vọng Khập khiểng đời treo mộng vĩnh hằng Thần linh bỏ trần gian đi mất Bám víu vào em quên đời hư Hiu hắt che tay ngày giấu mặt Ân sủng dội về đêm trầm tư Có khóc, vai gầy em, ta tựa Áo hoa độn cỏ, gối mơ hiền Sáng mai lệ khô như đã hứa Vòng đời thư thả hẹn tơ duyên Bình sinh ta vốn hiền như đất Rong giạt trần gian chuyện khóc cười Xưa em từng bỏ ta đi mất Bây giờ hạnh ngộ nửa đời xuôi Thao thức trắng đêm cùng trăng lạnh Chuông gió chiêu hồn bao kiếp xưa Guốc mộc nhịp tình em kiêu hãnh Ở lại cùng ta có kịp vừa ??? Khóc_Cười


Mục Lục


17. Trót Ngỏ Tiếng Yêu Một lần trót ngỏ tiếng yêu Là vạn nỗi sầu riêng chịu Sao ai nỡ đành chối bỏ Cho đây u sầu cung điệu Tuổi xuân lỡ mất bao lần Bây giờ bóng chiếc một thân Trăng côi lẻ tiếng trăm năm Lời yêu cũng chỉ nói thầm vô thanh. Hà Khánh Phương


Mục Lục


18. Xuân Chưa Về Nghe người ta bảo đón Xuân mau Nhưng dáng nàng Xuân đã thấy đâu Trời vẫn đang thèm cơn nắng ấm Màn sương giăng khắp lạnh Ðông sầu Chào Mừng Năm Mới đến mà thôi Ðừng tưởng muà Xuân đã đến nơi Rồi mộng mơ hoa mong đón tiếp Nàng Xuân ghé đến vui bên đời Xuân chưa về mà tiếng cười vang Ðường phố pháo hoa nổ rộn ràng Mừng đón ai đâỵ..cây trụi lá Hoa trồng chưa nở sao Xuân sang? Em muốn vén mây anh biết không? Ðể tìm một chút ánh tươi hồng Cho em vạt nắng muà Xuân đến Hong đời ấm áp giưã muà Ðông Paris, 15/12/07 Sương Anh


Mục Lục


19. Xuân Của Quê Hương Xuân của quê hương... bao nhớ nhung! Nắng ấm, trời xanh đẹp vô cùng Dâng bao hương sắc tình Xuân mộng Chim hót vang trời hạnh phúc chung. Bên này, ta vừa bước vào Ðông Lạnh lẻo vây quanh, lạnh cõi lòng... Có chăng hoa sắc đèn treo phố... Gợi chút vui gì thật viễn vông! Lạc lõng tình Xuân, ai biết không? Niềm vui trộn nuối tiếc bên lòng Mỗi năm cứ thế_mùa hoa nở Ta tự hỏi mình : Xuân hay Ðông? Ôi, những mùa Xuân của thế gian Bao nhiêu hoa lá trổ sắc vàng Mà sao không giống Xuân năm cũ Tình khách ly hương... thật bẽ bàng! Paris, 15/12 /07 Tóc Nâu


Mục Lục


20. Mùa Sang Có tiếng ai gọi tên Những sợi len mềm trên vai rợp xuống Mùa trở mình lên luống Vồng khoai tím hoa Nắng liu riu Ôm gió căng lồng ngực vỡ òa Tháng giêng áp má bờ hoa trắng Khăn len ướp nắng Mùa sang. Võ Thị Hà


Mục Lục


21. Bất Chợt Vô Tình -Gửi Hoa Dại tác giả bài Vô Tình Ðường trở lại, bờ đê xanh mướt cỏ Nắng nhạt dần, chiều sắc tím nhẹ buông Cảnh của trường xưa và người năm cũ Ta biết tìm đâu? Chút ý lắng buồn.! Chuông trường còn đó- Lòng ta buốt giá Cũng trên lối nầy- một thuở vào ra Rung đi chuông- nhắc bạn bè trở lại Ðể gặp Thầy, Cô dâu biển cách xa… Hàng cây liêm đã bao mùa thay lá Vết khắc hằn đậm nét tháng ngày qua Những thằng bạn ngày xưa nghịch phá Ðứa mất, đứa còn, lủi thủi mình ta…! Trường xưa đó- Bạn, Thầy đâu vắng cả Chiến trận tàn, có đứa mất xác thân Thầy Cô đi cày, nhớ mùi bụi phấn Ðời đưa đò cũng vương bẩn bụi trần…! Lòng ngập ngừng đường xưa ta riêng bước Cờ đỏ bay bay…tủi nhục phận mình Những chiếc áo dài ngày xưa tha thướt Gió đổi đời xóa hết nét đẹp xinh Chợt tỉnh giấc giữa đêm dài đất lạ Thương quê nhà tâm tối cảnh điêu linh Thy Lan Thảo


Mục Lục


22. Thác Lửa Ðất đốt lửa Lửa đốt nắng. Những ngọn lửa vun vút chạm tới tầng mây Phố nghênh ngang trò chơi thẩm mĩ trên cao cuồn cuộn khói đen khét lẹt Phố vẫn đẹp. Những tầng tro da vàng cuốn lưỡi màu hồng Trần gian thác lửa... Thác lửa trần gian chảy cao vời vợi ngoác miệng đen ngòm thiêu đốt những vì sao. Mà miền đồng nắng vẫn trong veo Nắng thụ thai,nắng vồng lưng múa Bình yên em tôi bình yên thác lửa Thác lửa bình yên thác nước ồn ào. Một trăm năm không xối mòn tầng cao Lửa miệt mài dựng thác Phố nghênh ngang trò mê cung thẩm mĩ Zíc zắc tìm em. Hoàng Thuấn


Mục Lục


23. Ngược Chiều Ngược chiều em Anh về phía mưa giông Chớp nhập nhằng Nối thành zic zắc. Ngược chiều anh Em vùi dưới tấm chăn ngày đắp ngược Chờ nắng giao hoan Lấy nụ cười lấp trò gian díu. …Anh tìm gì trong zic zắc mưa giông? Em nhọc nhằn vì phôi thai của nắng… Ngược nhau Ta đổ nghiêng trên vết trượt cầu vồng!!! Lữ Thị Mai


Mục Lục


24. Cây Ðức Hạnh Cây đức hạnh mọc giữa cổng tình nhân Người đời ươm tưới vun vén bằng nước bọt bằng lưỡi cong bằng miệng rộng Em cay đắng nhận ra mình Không có tên trên chiếc lá nào Dù là chiếc lá đã thoát thai Ôi đức hạnh đàn bà Ôi những khoảng nứt tội danh Sần sùi Bao ánh mắt bao giọng cười bao lời nói Em trèo qua cây đức hạnh thế nhân Ðứng trước cổng tình yêu Hơi mòn kiêu hãnh Anh Chỉ cần một người hiểu Thì bầu trời vẫn xanh Em yêu anh không chỉ với chiếc lá đức hạnh đàn bà 4.2007 Ðàm Thuỳ Dương


Mục Lục


25. Ru Khúc Tình Ca Em hát tình ca chỉ một mình. Bên hàng liễu rũ bóng lung linh. Còn anh mãi ngắm vầng viễn xứ. Tận cuối trời kia biến đổi hình. Gói trọn cho nhau một nỗi niềm. Từ lâu giấu kín mãi trong tim. Yêu nhau tha thiết đành lỗi hẹn. Gọi bóng trăng thề đỉnh bình yên. Chỉ còn thân xác đành lỗi hẹn. Ðợi kiếp sau này được hồi sinh. Anh hát tình ca ru em ngủ. Bên ngọn đèn hồng sáng lung linh. Anh đàn em hát đêm huyền thoại. Năm ngón tay gầy lướt phím tơ. Ðưa nhau vào ngõ hồn tê dại. Ðể cõi lòng em bớt thẫn thờ... Ðâu biết, tình em vẫn đợi chờ. Ba mươi hai năm, viết thành thơ. Tận sâu tiềm thức hằn in dấu. Tình người lính trận đẹp như mơ. Dòng đời, thoáng chốc ngả bóng câu. Tình như luống tuổi,bạc mái đầu. Khi đã trót yêu,em vẫn đợi. Tình anh,ghi khắc tận tim sâu. Tháng Tư. Oan nghiệt,lạc mất nhau. Anh đi biền biệt mãi nơi nao. Thân gái dặm trường,em hụt hẩn. Ðã lạc mất rồịMột vì sao. Ðơn côi,em trỗi bản tình ca. Ba mấy thu tàn...Xuân đã qua. Se thắt tim đau buồn vô vọng. Tơ đàn chùng điệu khúc tình ca. Nỗi niềm, đã dấu kín trong tim. Khối tình sầu muộn,tưởng lặng im. Nay trỗi cơn đaụHương tình muộn. Ðượm màu hoa vỡ máu giòng tim. Thôi ngủ đi em,ngủ đi em. Anh ru em ngủ trọn thâu đêm. Ấp ủ tình buồn bao năm đợi. Vá lại mảnh đời vá con tim... Hồng Sang - Nguyên Thạch


Mục Lục


26. Ðêm Cửu Long Chiều Hạ Cửu Long đồng khô nhóm lửa Khói cuộn tuôn vồng tua tũa ven đê Ðêm về ngắm trăng bốn bề sóng bủa Ðan thảm lụa vàng che góc trời quê. Ðơm đớm bần ve lập lòe đáy nước Ta nhớ con tàu vượt cửa Ba Lai Nhạn kéo sương bay. . . bầy sau bầy trước Bao mùa trăng khuyết mấy độ trăng tròn! Quặn lòng con sông lớn ròng trong đục Vun đắp phù sa cây lúa Tiền Giang Cơn lũ phủ giăng. . . cánh cò lặn hụp! “Con Sáo sổ lồng . . .tung cánh sang ngang” . . . Xuôi dòng Cổ Chiên, Long Tòan, Xóm Ðước Nhớ bến Rạch Gầm, Trà Cú ,Trà Ôn . . . Trai gái dưới trăng “Lâm Thôn”(*)vũ khúc Anh dìu em bước quanh nổng cát tròn. Nhớ từng lối mòn bóng dừa rợp mát Hàng tre xào xạc giấc ngủ trưa Hè Kẻo kẹt võng đưa, lời ai ru khẻ “Nhẹ dạ tin chàng. . . lẽ mọn đời em”! Trở lại Hàm Luông ngủ đêm Chợ Lách Vườn xanh bát ngát trái ngọt Cái Mơn Nằm chờ hồi chuông giáo đường báo thức Nghe con chim quốc. . . gọi nước đầu nguồn . Hè. 2007 _________________________________________________ (*) Lâm-Thôn - Ðiệu vũ dân gian của người Việt gốc Khmer. Sông Cửu


Mục Lục


27. Lục Bát Vương Phân bua thì cũng không thành Thôi thì cứ tạm ở đành vậy xong Số vào phận kiếp long đong Trách sao một mảnh tình cong không còn. +++ Tơ trời lắm sợi còn non Chưa giăng đã đứt, chưa son đã mờ Lắm khi cũng rất tình cờ Gieo câu lục bát vật vờ, người thương. +++ Bây giờ ai nhớ, ai vương ?. 6/12/1007 Lê Văn Bảo


Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Mai Ly (tập II)

Việt Dưong Nhân





Chương 4

Ðầu năm 1964, Quân Ðội Mỹ ồ ạt đổ qua Việt Nam. Việt-Cộng nằm vùng đủ mọi nơi, đủ mọi thành phần, khó biết nơi nào, chẳng biết được ai theo phe ai ? Toàn dân miền Nam sống trong hoang mang hồi họp... Luôn luôn sợ bị đặt chất nổ và pháo kích những nơi công-cộng.

Thường trong tuần, xế chiều Mai Ly đi học thêm tiếng Anh. Em học càng ngày càng khá. Em làm ở một Snack-bar Rừng-Trúc (Forêt de Bambou) gần khu chợ Sàigòn, nơi đó toàn là khách Mỹ và Tây. Rồi một đêm, Mai Ly gặp anh lính Mỹ. Anh ta giận thù ai hay thù Việt-Cộng gì không biết ? Anh chửi bông lông : - Ðồ cứt ! Tất cả Việt Nam chúng bây là thứ cứt, thứ dơ bẩn... Mai Ly nghe và hiểu được. Em nổi máu Dân Tộc lên, bèn chửi lại :
- Nếu tụi bây cho Dân Tộc Việt Nam tao dơ bẩn, thì tụi bây hãy cút hết đi. Về Mỹ hết đi. Chớ tụi bây ở đây, như là tụi bây uống nước tiểu và ăn phân của Việt Nam chúng tao. Anh lính Mỹ bị Mai Ly chửi lại, anh ta tức quá, dựng đứng nói Mai Ly là gián-điệp cho Việt-Cộng. Lính đến ba bốn xe bao vây bắt Mai Ly còng tay. Ngồi trên xe lính Quân-Cảnh Mỹ M.P. Trong khi đó có một ông Việt Nam cũng trọng tuổi, hỏi Mai Ly :
- Nè, tôi hỏi cô, có phải cô làm gián-điệp cho Việt-Cộng không ? Mai Ly ngớ ngẩn ngạc nhiên, hỏi lớn :
- Làm gián-điệp ! Trời đất ơi ! Gián-điệp là gì, con không hiểu ?
- Không hiểu ! Thôi, cô đừng có đùa, hãy nói thiệt đi, chớ về bót là cô bị khai thác mạnh bạo đấy !
- Ờ, thôi. Con hiểu rồi chú ơi ! Vì con vừa chửi lộn với thằng lính Mỹ bên kia kìa. Tại nó chửi tất cả người Việt Nam của chúng ta là đồ dơ bẩn. Con tức quá, máu Dân Tộc của con nổi lên, rồi con chửi lại và đuổi nó về Mỹ. Vì con nói nếu nó còn ở lại đây, thì như nó uống và ăn đồ dơ nhất của Việt Nam. Con nghĩ, vì nó chạm đến tổ tiên, ông bà con. à, mà trong đó có luôn cả chú nữa đó.
Chú thông dịch viên nghe thế, ông cũng nổi máu Dân Tộc lên. Chú nghiêm trang nhìn ông đại úy M.P., chú kể từ đầu tới đuôi. Chàng M.P. lắng tai nghe, mắt nhìn nhìn Mai Ly, chẳng hiểu ông nghĩ gì, mà đầu ông gật gật, ông quay sang bảo lính tháo coòng tay cho Mai Ly, rồi còng tay chàng lính Mỹ kia. Mai Ly được thả dọc đường, em mừng quá vì thoát nạn. Miệng em nói cám ơn lia lịa với ông thông dịch viên và chàng Quân-cảnh M.P...

Mai Ly ngang dọc giữa đời.
Kiêu căng ngạo mạn, tánh trời đặt cho
Rừng đời lớn rộng quanh co
Hùm beo, rắn rít lò mò rình theo.
Mượn da sư tử mang đeo
Phòng khi gặp nạn, móng vèo vươn ra.

Mai Ly cặm cuội đi làm, em rất ngạo mạn, bất cần đời. Bởi mục đích riêng của Mai Ly là phải làm cho có thật nhiều tiền để nuôi thân và nuôi mẹ già.
Thắm thoát trôi qua, vào khoảng giữa năm 1964. Thời buổi loạn ly, lính lùng bắt, xét giấy khai gia-đình lung tung. Mai Ly cứ bị bắt vào hết bót này đến bót nọ. Tại vì em không có giấy tờ. Sau đó, em phải trở về Bình Chánh để nhờ chú Hữu Huỳnh làm cho tấm giấy căn cước trội thêm một tuổi cho hợp lệ với pháp lý hiện hữu.
Sau khi có tấm căn cước hộ thân, Mai Ly đi làm yên ổn hơn. Ði làm dư được chút ít tiền, em có ý muốn đổi căn phòng khác rộng hơn. Vừa có ý nghĩ đó thì có một chàng lính Hải Quân Mỹ cấp bậc Thượng-Sĩ-Nhứt, tuổi ngoài ba mươi, tướng tá cao ráo, khá đẹp trai, chàng rất si mê Mai Ly. Chàng ta đề nghị mướn nhà cho Mai Ly ở.
Từ hẻm Võ-Tánh, Mai Ly dọn qua ‘’Building-Mai-Anh’’, số... đường Nguyễn Công Trứ cạnh Khu-Dân-Sinh, gần chợ Cầu-Ông-Lãnh. Nơi đây là một căn phòng rộng rải, khá trang trọng và đầy đủ tiện nghi. Xem như đời Mai Ly được bước lên từ từ với cái nghề chiêu-đãi-viên Snack-bar. Một nghề xưa như trái đất mà đâu đâu trên thế gian, nước nào cũng có, bất luận xứ nghèo hay xứ giàu... Cô bé Mai Ly lúc bấy giờ không còn là cô bé dịu hiền, nhút nhát nữa. Mà em chẳng còn biết sợ một ai trên cõi đời này. Xem như bé Mai Ly không còn nữa. Cát-bụi-đời đã phủ lấp xác thân em rồi. Lúc bấy giờ, Mai Ly chỉ còn biết em là một đóa hoa đem sắc hương bán cho những lủ ong, đàn bướm mua vui thôi. Mai Ly thay đổi đàn ông như thay áo. Em bắt đầu ngụp lặn trong trụy lạc, bập bẹ hút thuốc, uống rượu. Mai Ly chỉ biết có tiền và những cuộc vui. Còn trái tim của em, có lúc yêu, có lúc thù ghét đàn ông. Bao trận tình ngắn ngủi cứ đu qua, đánh lại. Mai Ly vui bao nhiêu thì cũng buồn bấy nhiêu. Khi tiền bạc thịnh hành, nhờ gặp thời, thì trong lòng của em quay về với những người tình xưa. Nhứt là hình ảnh của Hoàng và Larry. Nhưng trong lúc này thì có chàng lính Hải-Quân, tên Andy. Andy yêu tha thiết Mai Ly nhưng nàng lại dửng dưng đùa cợt, xem Andy như một khách mua hoa hay là một ‘’khách’’ bao tháng mà thôi.
Một thời gian ngắn, Andy chán nản bỏ ra đi. Mai Ly chẳng chút gì tiếc nuối. Em đổi Snack-bar này sang Snack-bar khác. Vì em tự biết mình trẻ đẹp, hấp dẫn, nên đi đến chỗ nào người ta cũng nhận. Suốt mấy năm sống phóng đãng, xem ái tình như món đồ chơi đùa vui mà lại có tiền. Giả chân - chân giả ? Làm sao ai nào hiểu nổi, niềm đau của những cô gái "làng chơi" đây ? "Tay nâng ly rượu, miệng cười mà lệ rưng rưng...".
Rồi những giây phút tâm hồn cảm thấy cô đơn, tim lòng trống vắng. Mai Ly gặp Dzoanh, người con trai Việt Nam, cỡ hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi, giáo sư Anh văn trường Quân-Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa. Chàng lớn hơn Mai Ly tám, chín tuổi. Mấy tháng cặp-bồ với Dzoanh. Ái tình vừa bén lửa thì Dzoanh ngả bệnh. Mai Ly được tin ấy, em đến tận nhà thăm Dzoanh. Hôm ấy, Mai Ly mặc chiếc áo dài trắng, tóc kẹp, không điểm trang chút son phấn nào cả. Trông em như một cô nữ sinh... Mai Ly bước vào nhà thì gặp ngay cha của Dzoanh. Em lễ phép chào, chào đến ba lần mà cha Dzoanh không nhìn, chào lại. Ông còn đưa ánh mắt khinh bỉ em. Tâm hồn Mai Ly trở lại với nỗi niềm đau hận, em thoáng nghĩ đến Hoàng mà lòng tràn ngập mối hận tình năm xưa. Năm phút sau Mai Ly ra về mà nghe tim đau nhói, vì tự biết mình đang yêu Dzoanh tha thiết. Em nhủ : "Làm sao mình làm dâu trong nhà Dzoanh được. Vã lại, Dzoanh là đứa con trai Cả của một gia đình phong kiến lễ nghi. Nếu Dzoanh theo mình, Dzoanh sẽ mang tội bất hiếu. Vì mình là gái bụi-đời cũng chẳng xứng đáng gì với gia đình Dzoanh. Thành kiến, bảo thủ, nho giáo của người Việt Nam rất khắc khe. Vậy mình hãy trốn tránh Dzoanh"...
Mai Ly ra về mà trong lòng như cuồng phong bão tố và tâm hồn bấn loạn. Ngồi trên chiếc xích-lô-đạp đôi dòng nước mắt rớt rơi từng đợt, thầm nghĩ : Dzoanh ơi ! Em phải xa anh ! Em phải trốn anh ! Em biết anh sẽ tìm em, hoặc anh nghĩ là em không có tình yêu với anh. Nhưng hoàn cảnh nào em cũng chịu. Em mong rằng ngày mai hay một thời gian nào đó, anh sẽ hiểu em hơn.
Mai Ly cố gắng quên Dzoanh. Hằng đêm em mượn tiếng nhạc, ánh đèn khuya và rượu nồng để giải sầu.
Lúc bấy giờ, Mai Ly đã đi ra trung-tâm; Nguyễn-Huệ, Tự Do, em xin làm vũ-nữ kiêm chiêu-đãi-viên trong một "Dancing-snack-bar-Eve". Nơi đây, quan khách toàn là người ngoại quốc. Hầu hết, họ là dân đại-thương-gia, công-tư chức cao cấp...
Mai Ly lao mình trong sóng nhạc với ánh đèn màu. Em sống thác loạn quay cuồng để quên đời. Tiền rừng, bạc biển, xiêm-y lộng lẫy. Mai Ly ăn diện sang hơn, nghề nghiệp sành sõi hơn. Em bắt khách bằng đôi mắt lẳng lơ, mơ mộng, gợi lên nét buồn buồn đầy tình tự. Ðôi khi gặp những cánh "bướm đa tình", họ nói yêu em. Mai Ly nâng ly rượu đụng với họ và ngất ngưỡng cười và hỏi : - Anh nói yêu tôi ! Yêu tôi, mà có dám cưới tôi làm vợ không ?
Khách trả lời rằng : "Sao cô đi nhanh thế ?".
- Nhanh à ! Há ! Miệng anh nói yêu tôi, mà lòng anh lại sợ. Có phải không ?
Những bối cảnh đó thường xẩy ra hằng đêm như cái dĩa hát, mà Mai Ly cứ cho hát hoài không thấy rè.
Nghề-nghiệp nào cũng có nguyên tắc riêng để tán khách. Thật buồn cười trong xã-hội mà con người đôi khi bắt buộc phải đóng đủ vai, đủ tuồng trên sân khấu Ðời này.
Như bài "Ðời Lắm Việc" của Ðại Thi Hào Tản Ðà :

"Ðời người như giấc chiêm bao
Mà trong mộng ảo tại sao không nhàn ?
Ðã sanh ra ở nhân hoàn
Lao tâm lao lực một đoàn khác chi ?
Người ông lớn, đứa cu li
Nhọc lòng nhọc xác cũng vì "cái ăn".
Cuộc đời kinh tế khó khăn,
Người đời càng phải nhọc nhằn sớm hôm.
Những người khố rách áo ôm
Mồ hôi đổi lấy bát cơm no lòng.
Người thương mại, kẻ canh nông
Lo tiền, lo thóc, năm cùng lại năm.
Ngày ngày hai buổi đi làm
Cụ thừa trong sở, ông tham trên tòa.
Người khiêu vũ kẻ xướng ca
Cũng là nghề nghiệp con nhà làm ăn.
Người viết báo kẻ bán văn
Sinh nhai cái bút khó khăn lần hồi.
Người đi sông nước ngược xuôi,
Kẻ đêm kim chỉ ngày ngồi vá may.
Kẻ đi đồn thú Ðông Tây,
Người khua chuông mõ ăn mày cửa không.
Người thuyền thợ kẻ gánh gồng
Người canh cửi kẻ bên sông lưới chài,
Cùng trong lao động một đời,
Kể sao cho xiết hạng người thế gian !
Giàu sang chưa dễ ai nhàn,
Nghèo hèn ai chớ phàn nàn làm chi !
Vui buồn ai cũng có khi
Có hoan lạc có sầu bi lẽ thường.
Trăm năm một giấc mơ màng,
Nghĩ chi cho bận gan vàng hỡi ai !"
*
Mai Ly đã ra đến vùng trung tâm Sài-gòn ánh sáng. Nghề nghiệp cứng cõi, thông hiểu và kinh nghiệm khá nhiều về những cánh bướm mua vui. Khách đã mua cái vui từ thân xác và hương sắc của Mai Ly. Thì ngược lại Mai Ly chuốc lấy những nỗi buồn riêng, sau khi trở về với căn phòng trang nhã mà chỉ nhìn chiếc bóng lẻ, hình đơn của mình...
Rồi một đêm đầu tháng, Mai Ly vừa có tiền riêng và vừa lãnh lương. Ðêm ấy, em hơi say rượu, tâm hồn như điên loạn. Về đến căn phòng, nhìn vào gương, soi thấy son phấn lem luốt, nhạt nhòa. Tiền đang có trong xách tay, em mở ra lấy mấy sắp liệng lên trần nhà, làm tiền bay tung tóe khắp phòng. Rồi úp mặt, nằm sắp trên giường khóc nức nỡ và hét lên :
-Tiền ! Tiền ! Tiền ! Em vụt đứng dậy lục lạo trong học tủ, thò tay lấy mấy viên thuốc ngủ cực mạnh định uống để cho ngủ năm bảy ngày... Nhưng bất chợt, em sực nhớ... :
- Má ! Má ! Má ơi ! Con không uống thuốc đâu ! Con còn có má, con phải nuôi má như lời của con đã hứa với má. Nhưng má ơi ! Con buồn quá ! Con cô đơn quá ! Không có ai chân tình với con cả... !
Gào thét một hồi, đến đây Mai Ly giựt mình tự trách :
- Hứ ! Mà mình có chân tình với ai không ? Tại sao mình lại trách người ? Hằng tá đàn ông nói yêu mình. Mình khi dễ họ mà. Mình không tin người, sao bắt người ta tin mình ? Ha ! Cho tình, mà còn chưa được tình. Huống gì mình không cho mà đòi được. Ích kỹ thật ! Ðồ ích kỹ ! Ðồ ích kỹ !
Mai Ly la hét, mắng chửi, tự trách mình, rồi nghe lòng nhớ lại, lảm nhảm :
- Ông Thành An, Larry Coper, Andy, Trần Ðình Dzanh và... Những người đó, họ yêu mình thật. Những tấm chân tình giờ đây đã xa ta rồi. Hãy xóa bỏ và ráng quên đi !
Mấy năm ròng rã, Mai Ly thấy ngao ngán với ánh đèn đêm. Tiền có dư, bồ bao tháng hai, ba trự. Mỗi tháng ít nhứt nàng cũng có khoảng năm, sáu chục ngàn đồng. Mai Ly bỏ "Dancing-Eve" đến đường Tự Do xin làm ban ngày tại "Prince-bar". Nơi đây, buổi trưa toàn là những dân làm văn phòng, họ nghỉ trưa thường ra uống nước và gần đó có hai khách sạn thuộc loại sang; Caravel và Continental.
Mai Ly làm tà tà được mấy tháng, y như cô thư ký "trá hình". Một hôm, nàng gặp lại ông khách quen hồi làm ở " Kim-Cương-bar ", tên Bill cỡ ba mươi tuổi. Bill nói, chàng thích Mai Ly từ lâu rồi. Bây giờ gặp lại Mai Ly, Bill đề nghị sống chung. Mỗi tháng chàng cho ba chục ngàn. Mai Ly thấy chàng ta cũng đàng hoàng nên chấp thuận ngay. Sau đó, hai người đi tìm mướn căn phố lầu ba từng ở gần Cư-Xá-Lữ-Gia (Phú Thọ). Nhưng Bill ra điều kiện, nhỏ nhẹ bảo :
- Mai Ly ! Em về ở với anh như một người vợ, và anh không cho em đi làm bar nữa nhé !
Mai Ly bằng lòng. Nhưng nàng lại đi làm lén ban ngày. Một hôm xui, gặp bạn của Bill. Mai Ly căn dặn là đừng nói với Bill. Nhưng chàng trai kia bênh bạn mà học lại cho Bill biết. Bill giận lắm, chàng chửi thầm :
- Con khốn nạn này thật là xạo, nó sẽ biết tay ta...
Ðến cuối tháng, thừa dịp Mai Ly đi làm, Bill về nhà dọn hết đồ đạc đi vô trại. Chiều Mai Ly về thấy nhà trống trơn, chỉ có chị làm còn ở đó, nàng hỏi thì chị nói :
- Hồi trưa em thấy ông Bill về với hai người bạn bằng xe Jeep. Họ hì hụt dọn đồ. Em không hiểu gì hết !
- Chị có nghe họ nói gì không ?
- Dạ, không.
Mai Ly lên phòng dọn đồ đạc và gọi taxi chở đồ về nhà nàng. Rồi tiếp tục đi làm ban ngày nơi cũ. Một hôm bà chủ cần chiêu-đãi-viên làm đêm, bà hỏi :
- Cô Mai Ly à ! Cô có làm đêm ở đâu không ?
- Dạ, thưa bà, không.
- Trong lúc này, tôi cần "gái" làm đêm, cô có làm được không ?
- Dạ, được. Nhưng em chỉ làm ba đêm trong tuần thôi.
- Ờ, cũng được.

< Sửa đổi: Việt Dương Nhân -- 2/4/2005 6:21:35 AM >

_____________________________
Niềm vui ban tặng cho đời
Nỗi buồn gởi gió mây trời mang đi

Việt Dương Nhân


Mục Lục


2. Bờ Lau Cát Lở 27 (Chuyện Dài)

Ðỗ Thành



Công ơn bác giới thiệu, tôi không dám chểnh mảng. Nhà lại gần trường nên chỉ cần nghe kẻng báo giờ thì bắt đầu ra đi vẫn còn kịp. Ông hiệu trưởng thấy tôi luôn đúng giờ, chăm chỉ và chịu khó nên rất ưng ý.

Tôi làm thư ký cho trường, phụ trách việc giữ hồ sơ học trò, mỗi cuối tuần phải cộng điểm, ghi vào tờ học bạ và đưa các thầy cô ghi lời phê, rồi kịp giao cho các trò đem về gia đình ký. Trường có ban tiểu và trung học, tôi lo phần thông tín bạ các lớp trên, còn các lớp thấp thì giáo viên lớp nào tự lo lấy. Tuy vậy cũng rất bận vì trường đến 8 lớp trung học, mỗi bậc có tới 2 lớp, gọi tên A và B. Cho nên lắm hôm tôi phải trở lại trường làm luôn cả buổi tối mới kịp.

Văn phòng là ngôi nhà thờ cũ, còn giữ nguyên vẹn cái gác chuông nhỏ nhoi trống trơ, làm việc một mình ban đêm cũng vắng vẻ và hơi trợn trợn. Gia đình ông hiệu trưởng cũng ở ngay khuôn viên trường, nhưng chẳng bao giờ tạt sang văn phòng thăm xem tôi làm việc ra sao.

Trời Dalat lạnh về tối, sân trường đầy gốc thông nên gió nghe reo vi vu cũng buồn da diết. Tôi vùi đầu làm cật lực để quên nhớ mẹ, để đầu óc luôn bận rộn không phải nghĩ lung tung, thế mà giữa cảnh âm u bất chợt cũng có lúc thẫn thờ.

Tất cả mọi việc còn mới quá, từ đời học sinh chuyển đột ngột sang bước đi làm, hẳn nhiên tôi còn nhiều bỡ ngỡ, chỉ sợ sai sót làm mất uy tín bác. Cũng may mỗi chủ nhật bác đi nhà thờ, ông hiệu trưởng gặp vẫn tỏ ý khen tôi nên tôi thấy yên tâm.

Rồi thời gian qua nhanh, tháng đầu tiên nhận phong bì tiền lương, tôi cảm động muốn khóc. Nghĩ trong đầu, giá gì giờ mẹ còn và sống bên cạnh, tôi đem về dâng mẹ đồng tiền đầu tiên tìm được, chắc mẹ con sẽ mừng lắm. Tôi run tay ấp cái phong bì về phía trái tim, lắng nghe nhịp đập rộn rã rồi lẩm nhẩm một mình : mẹ ơi, đây là ơn của mẹ.

Nói rồi chợt thấy lệ sắp ứa, tôi vội quay đi để dấu nỗi nhen nhúm trong lòng. Cùng làm với tôi, một cô thủ quỹ nhận tiền học phí và sổ sách thu chi, thấy sự xúc động của tôi, cô ủi an : hồi mới đi làm nhận được lương lần đầu, tôi cũng đã có tâm trạng y hệt như thầy vậy. Cô nào biết tôi buồn vì nỗi khác.

Tôi đem tiền về đưa bác, bác từ chối không nhận. Bác bảo : cháu giữ lấy sắm thêm cái áo, cái quần và áo len nữa để đi làm cho tươm tất. Có lẽ bác thấy mớ trang phục của tôi chưa thích hợp với sinh hoạt của một học đường mà dành để cho tôi cũng nên.

Tôi làm cho trường chưa bao lâu thì xảy chuyện tranh chấp. Nhà xứ muốn lấy lại cơ sở để giao quyền hiệu trưởng cho một cha thực sự, trong khi ông hiệu trưởng lần khân không chịu giao, bọn nhân viên chúng tôi đâm lao đao chẳng biết ngả bên nào.

Ông hiệu trưởng đánh vào tâm lý yếu thế của tôi, cho là nếu không ủng hộ ông ta thì chắc chắn tôi sẽ bị cho nghỉ việc vì ngoại đạo. Tôi ít nhiều cũng chịu ơn ông ngay từ buổi đầu nên có vẻ lấn cấn, tôi đem việc về vấn kế bác. Bác chống tay vào cằm suy nghĩ một hồi thì chỉ vẽ cho tôi : cháu chớ giúng vào can thiệp mà đâm rắc rối lung tung. Cứ điềm nhiên để chờ nhà xứ giải quyết việc trường, nhược bằng nếu cháu bị nghỉ thì bác lại tìm cách xin vào nơi khác.

Tôi vâng lời nên bình tĩnh chờ. Thêm một lần sự may mỉm cười với tôi, tôi vẫn là người không có đạo duy nhất được lưu giữ lại trường. Cha hiệu trưởng mới rất khe khắt và nghiêm nghị, để mắt nhìn bao quát khắp mọi việc ở trường. Nên chỉ sau ngày về phụ trách điều khiển là liên tiếp có mấy giáo viên bị sa thải vì vấp vào những sai sót mà theo ý cha không thích hợp với ngành mô phạm.

Ðiều lạ là số giáo viên bị cho thôi việc đều là con chiên, cho nên có dư luận nói là cha thiên vị, bỏ rơi con Chúa mà giữ người đâu đâu. Chuyện ồn ào thoáng qua rồi cũng dứt, tôi tiếp tục làm cho trường.

Từ ngày cha về, những buổi tối tôi ở lại làm thêm, thỉnh thoảng cha đều ghé đến hỏi han. Khi thì cha đem cho cốc trà, khi thì cha hỏi thăm gia cảnh, cha nghe chẳng nói năng gì song đều đều nâng đỡ tôi bằng cách cho tăng lương.

Trong một lần hàn huyên, tôi trung thực trình bày việc học dang dở, cha lắng tai nghe chăm chú rồi ân cần khuyên : thầy cũng nên tính việc ôn học lại kiếm mảnh bằng, làm việc cho nhà trường cốt yếu là phải luôn tìm cách nâng mình lên, có vậy mới dễ điền khuyết các chỗ hổng khi có dịp.

Tôi vâng vâng dạ dạ, nhưng thấy vô cùng khó. Nỗi đau lìa xa mẹ rồi mất hẳn chỗ dựa còn hằn sâu trong tâm khảm tôi những đường cày xới tung hê lên hết, làm sao tôi có can đảm đi học trở lại. Tôi không câu nệ hay tự ái sợ học trò phát giác rồi trầm trồ nói ra nói vào vì tôi có dạy dỗ ai đâu, nhưng vì chương trình hoàn toàn khác hẳn nhau.

Ngày trước tôi học các môn toàn bằng Pháp Văn, giờ phải đổi sang chương trình Việt, tôi e theo không nổi. Tôi đang quen những danh từ tiếng Pháp, nay phải tập làm quen với tên gọi quỹ tích, cấp số, phương trình, hàng đẳng số, sao mà rối ren điên đầu. Thế nên tôi chần chừ tự hứa hẹn lần lữa, tháng này sang tháng khác, cha luôn dửng dưng mà thực sự là đốt đít tôi từng lúc.

Bên cạnh, bác cũng khuyến khích như vậy. Bác bảo : cháu phải học lại, phải trau dồi để kiến thức ngày một hoàn bị hơn. Con người không chịu tiến thân thì chẳng làm ra trò ra trống gì được, cháu là trai cần phải mạnh dạn và có chí tự lập. Chỉ một ngày đứng lại là thua sút mọi người rồi.

Tôi thì nại hết cớ này cớ nọ để trốn học. Thực tế thì tôi bận thật, phần nhiều phải làm thêm buổi tối mới xong. Bác nào chịu, nên lần lần bác mua cho các sách điện, hóa, toán, văn để tôi đọc cho quen.

Trước những thúc bách liền liền, tôi nghĩ thôi thì học cho rồi, thà lo cố gắng mà thi trượt thì còn có cách tránh né, chứ chưa thử lửa mà đã thoái thác là thừa nhận mình thiếu thiện chí.

Tôi tìm mua quyển chương trình trung học để đặt kế hoạch đánh từng năm. Ðọc xem phần nào mình có sẵn khả năng, phần nào mình phải cày cẩn thận. Ôn tập thì thấy khoản Anh, Pháp đỡ lo lắng, xem ra chưa quên nhiều. Giờ chỉ tập làm quen đánh vật với toán, điện, quang, hóa là xem ra ổn.

Tôi miệt mài học, lại nhờ một người hướng dẫn thêm và năm đó làm đại đơn xin thi bằng trung học đệ nhất cấp. Ngày thi tôi cùng dự với học sinh của trường, cha hiệu trưởng khuyến khích bằng cách lấy xe nhà trường chở tôi và một số học sinh không có phương tiện đến địa điểm thi.

Trải qua bốn buổi, tôi làm bài Văn, Toán và Ðiện, Sinh Ngữ, tôi yên chí ra về. Cha hỏi bài vở làm ra sao, tôi chỉ dám lửng lơ thưa tàm tạm. Thực ra tôi chưa hình dung được liệu có thể qua được kỳ thi hay chăng, dù trong lòng cũng nghi nghi là mình sẽ đỗ.

Hôm xem kết quả, nào ngờ tôi lại đỗ hạng Bình Thứ, cha ngỏ lời mừng tôi. Về đến nhà, bác đã được cha gọi báo nên bác ngỏ lời chúc mừng. Lại thêm một lần tôi muốn khóc, nghĩ giá gì bây giờ mẹ còn để cùng mẹ xẻ chia nỗi mừng thi đỗ.

Sự thành công đem lại cho tôi thêm tin tưởng. Nỗi háo hức học lên cao tràn ngập khắp ý nghĩ tôi. Nhận ra giữa chương trình thi THÐNC và Tú Tài I có nhiều khoản rất tương đồng nhau nên tôi bỏ lớp đệ tam để luyện thẳng vào bậc đệ nhị. Tôi gia tăng sự ôn tập, chăm chỉ trau giồi, cha hiệu trưởng lúc nào cũng đốc thúc để tôi đừng nản chí.

Cha hứa hẹn nếu tôi đỗ Tú Tài 1 thì cha sẽ cất nhắc giao cho ít giờ dạy ở lớp đệ thất và đệ lục để tôi có mức lương cao lên. Cha dí dỏm đùa : để thầy còn tính đến việc lập gia thất nữa chớ. Tôi giật mình mới nhớ là quả mình đã lớn, việc yêu đương vốn kẹt vì còn lo cho mẹ nên cơ hồ tôi chưa dám nghĩ đến. Cho nên cha nhắc nhở làm tôi ngộ như vừa có một luồng gió xuân hây hây chợt thổi về để báo cuối năm sắp đến.

Ðó là thời gian Dalat nở mạnh màu hoa mai trắng rực rỡ. Suốt từ đồi cao len xuống tận bờ hồ, nơi ngôi khách sạn bề thế bác tôi làm đã nở bung màu hoa tinh khiết đó. Ngày thứ năm nghỉ làm, tôi đã bước chân theo từng bậc đá xây để nhìn cho đã màu hoa của trời.

Tết lại sắp về. Giọt thời gian như những tiếng chuông rót vào hồn tôi từng hồi rộn rã. Tôi lần dò vào thủy tạ, đứng ở lan can nhìn xuống hồ Xuân Hương, xem bóng mình in trên mặt nước, thấy bâng khuâng nhiều nỗi khó tả.

Trên hồ, những chiếc pê đa lô nhởn nhơ đạp, gió hồ gờn gợn nắng xuân. Tất cả như nhẹ tênh và tràn đầy hơi thơm ngát. Nắng liếm tít trên ngọn hàng thông như giát vành khăn dây lên tóc thiên nhiên xanh thẳm. Mùi phấn thông sặc sụa bay khắp mặt hồ, sương giăng giăng mù mù như lớp voan mỏng.

Mùa xuân đó lần đầu tôi sống với Dalat. Dần dần tôi tìm hiểu thêm về vùng đất cao nguyên, dù mệt với những buổi đi chân leo hết dốc này đến dốc khác. Biết được thế nào là cánh hoa mimosa, biết thế nào là loại thông này thông nọ. Những buổi sáng thức dậy sương phủ kín núi đồi, những màn sương u u nồng nồng len lách giữa các gốc thông và phả đầy trên vai học trò đến trường.

Tôi bỗng thấy mình lãng mạn. Nghe đâu đây có lời mời gọi nhen nhúm của tình yêu. Dạo đó, tôi rất chăm đi, bất kể lối đường nào, lúc ngược lên Trần Hưng Ðạo xem dinh 2, dinh 3; khi đi vòng theo hồ đến tận Bích Câu hay tạt về Ða Thiện. Tôi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp đỉnh Lâm Viên ngậm sương mù hay tháp trường Yersin nhìn từ sân cù hay từ cầu ông Ðạo.

Dalat đẹp quá, đẹp như cô gái dậy thì có đôi má hồng, tấm khăn san và nụ cười dấu sau vành nón. Ðẹp như những tà áo rộn ràng bay múa lượn của đàn bướm 15, 16 nhởn nhơ. Có lúc tôi ngẩn ngơ trước bức tượng cô nữ sinh đặt cạnh lối vào thủy tạ do trường Việt Anh dựng tặng. (còn tiếp)

Ðỗ Thành
7/03

Mục Lục


3. Ngày Tháng Còn Lại (chuyện dài nhiều kỳ)

Ðinh Lâm Thanh



Một năm sau, vợ chồng Thủy cho ra đời bé gái thứ hai đặt tên Tuyết để niệm thành phố tuyết nầy. Niềm vui lại đến khi Tâm tốt nghiệp Y khoa bác sĩ tại xứ người và chính thức làm việc tại bệnh viện với danh nghĩa bác sĩ điều trị. Chưa có một gia đình tỵ nạn nào nổi tiếng và thành công một cách mau chóng như trường hợp của Tâm và Thủy. Tâm sung sướng nhất, trong một thời gian ngắn hội nhập chàng đã thành công nhanh chóng cả tinh thần lẫn vật chất, ra đường mọi người trọng vọng, về nhà tràn ngập hạnh phúc bên cạnh vợ con. Tính tình Tâm vẫn không thay đổi, lịch thiệp khoan dung và kín đáo. Ngay cả Thủy, hoàn toàn không đoán được những ưu tư thầm kín trong con người Tâm. Một đôi lần Thủy cố tìm hiểu :
- Anh đang toan tính hay có ước mơ gì, em là vợ anh em muốn biết.
Chàng chỉ đáp khẽ :
- Con người không thể sống ích kỷ và tầm thường, chỉ biết miếng cơm manh áo cho bản thân mà còn nhiều bổn phận phải làm.
- Anh nói bổn phận gì ?
- Gia đình, đồng bào và quê hương.
Nàng ngắt lời :
- Gia đình thì đồng ý, nhưng đồng bào và quê hương thì xa vời quá !
- Không đâu em, rất gần gủi nhưng chúng ta không chú ý và chưa làm được gì.
- Ðúng là chuyện ăn cơm nhà vác ngà voi cho người ta !
Tâm phản đối :
- Anh không đồng ý với em trên quan điểm nầy. Ngồi trong bóng tối hưởng lợi mà cứ hô hào tình thâm ruột thịt quê hương thì không thể chấp nhận được. Mỗi người hãy thắp lên một ngọn nến.
- Anh đã tham gia tất cả chương trình cứu trợ phụ giúp đồng hương chưa đủ sao ?
- Ðó chỉ là chuyện nhỏ nhặt.
- Thế anh đang và sẽ làm gì ?
- Bàn tay khối óc anh chưa đủ khả năng để đốt lên ngọn nến nhỏ, nên ngày đêm anh vẫn suy tư.
Không muốn đi sâu vào câu chuyện, Tâm chuyển qua đề tài khác :
- Có những việc người đàn bà không nên tìm hiểu, nhất là người đẹp như em.
- Thế người đàn bà đẹp nên làm cái gì ?
Chuyển câu chuyện về hướng khác, Tâm tiếp :
- Ðể cho người ta ngắm. Ðừng suy nghĩ nữa thêm mệt trí
Thủy cười lớn tiếng :
- Anh lầm rồi, Trời tạo ra người đàn bà đẹp không phải để cho người ta ngắm mà để đem....đau khổ cho đàn ông !
Gật đầu, Tâm nhìn Thủy :
- Em rất có lý, biết bao anh hùng một thời ngang dọc cuối cùng cũng ngã gục dưới tay một người đàn bà đẹp !

Gần ba mươi năm chung sống với Tâm, bây giờ Thủy mới khám phá thêm được một phần bí ẩn trong con người chàng. Tâm còn là người mang nặng tình quê hương, sống xứ nầy nhưng tâm hồn vẫn còn quấn quýt nơi chôn nhau cắt rốn.

Mặc dù bận rộn với chương trình làm việc, những nghiên cứu dở dang, lúc nào Tâm vẫn một người chồng gương mẫu, đầy đủ bổn phận với vợ con. Họ sống hạnh phúc bên nhau. Thủy không còn ước muốn gì hơn ở Tâm, nàng dành trọn vẹn tình yêu cho chàng và hai con gái. Cho đến một ngày tình cờ gặp lại Cường tại thành phố nầy, sóng gió trong lòng Thủy đã bùng trở lại.

Vào một tối thứ bảy Tâm bận trực tại bệnh viện, nàng một mình đến nhà Loan tham gia đêm văn nghệ bỏ túi, do chủ nhà tổ chức hàng tháng. Nơi đây cô bạn Thủy thường luân phiên các buổi ngâm thơ, đọc sách nghe nhạc qua các đề tài về tình yêu, quê hương và thân phận con người. Ngoài những người bạn cùng nhóm còn có sự góp mặt của các ca nhạc sĩ trong vùng hoặc đến từ phương xa. Ðặc biệt hôm nay chủ đề nhạc tình yêu do một thiên tài âm nhạc đến từ Châu-Âu, trình diễn suốt đêm qua những ca khúc của chính tác giả.

Vừa vào đến phòng khách Thủy sửng sốt khi thấy Cường đang nói chuyện với Loan. Nàng chưa kịp phản ứng Loan đã reo lên :
- Sao hay vậy, anh Cường vừa hỏi thăm tin tức, mình chưa kịp trả lời thì bà đã đến, thế anh Tâm đâu ?
Phải định thần một lúc Thủy mới trả lời câu hỏi.
- Hôm nay anh trực ở bệnh viện.
Nghe đến đây Cường thở dài nhẹ nhỏm và bình tĩnh hỏi Thủy :
- Cô và gia đình vẫn bình thuờng ? Có thêm cháu nào nữa không ?.
Thủy biết, trong lòng chàng đang nôn nóng nhưng vẫn ra mặt bình tĩnh để đánh lừa những người đang hiện diện tại đây, nàng chậm rải :
- Cám ơn anh cuộc sống vẫn bình thường.
Tiếng bình thường nàng hơi nhấn mạnh để chàng hiểu rằng nàng vẫn như xưa.
Rồi nàng tiếp :
- Có thêm cháu Tuyết, cả hai đã trưởng thành và đã lập gia đình. Còn anh ?
- Như ngày nào không có gì thay đổi, vẫn trung thành với hình bóng cũ.

Bây giờ Cường đã lộ ra cho Thủy biết, nàng vẫn là người tình trong mộng.

Câu chuyện tiếp tục xoay quanh vấn đề gia đình, bạn bè, vài nếp sống khác biệt giữa Âu và Mỹ. Vài người nôn nóng hối thúc :
- Cô Loan cho khai mạc đi chứ.
Tranh thủ thời gian, Loan bắt đầu chương trình bằng vài câu ngắn gọn giới thiệu Cường :
- Em trai tôi là bạn của anh Cường cùng định cư tại Hòa Lan, nó giới thiệu anh qua hát giúp vui. Sau khi đi một vòng Canada, đây là thành phố chót anh Cường dừng một ngày trước khi trở về lại Hòa Lan
Cường đứng dậy cám ơn, kín đáo nhìn Thủy và lên tiếng :
- Hôm nay đặc biệt tôi xin trình bày, lần đầu tiên, một số bài đã sáng tác trong hai mươi mấy năm qua, viết cho người một thần tượng, hay nói đúng hơn viết cho một người tình.

Vừa nghe giới thiệu, nhiều tiếng thắc mắc bàn tán về người đàn bà con gái diễm phúc nào đó. Tim Thủy như ngưng đập, cảm động và sung sướng đón nhận những lời tỏ tình mà từ lâu nàng mong đợi trong thời gian chuyển tiếp tại Mã Lai.

Gần hai mươi bài hát viết về một chuyện tình vô vọng. Chàng, một nghệ sĩ lang thang, nàng là nàng tiên đã có chủ. Chuyện tình quanh quẩn trong nhung nhớ, hờn giận, ghen tương mà chàng đã sống trọn vẹn với hình bóng cũ với những mơ ưóc viễn vông. Chàng nâng niu ôm ấp trong lòng thú đau thương như một hành trang quý giá để mang theo bên mình suốt đời. Những lời ca tình tứ, những âm điệu tuyệt vời qua giọng hát trầm ấm quyến rũ đã đưa người nghe đi vào thế giới huyền diệu của tình yêu, của đau khổ và của tuyệt vọng. Ðầu óc quay cuồng, nhịp tim như ngừng đập, Thủy tự đặt câu hỏi tại sao ngày xưa chàng không chịu tỏ tình, dù chỉ là một câu nhỏ. Tại sao không hôn khi nàng đã ngã vào vòng tay để rồi ôm mối tình câm đến nay. Hay chàng chỉ mượn hình bóng nàng để thần tượng hóa con người trong mộng, để yêu thương giận hờn và đau khổ như thói thường của những thi sĩ văn nhân.

Cuộc vui nào cũng tàn, tiếng hát tha thiết bao nhiêu cũng phải dừng lại nhường chỗ cho giấc ngủ sau một tuần mệt mỏi. Trời sắp sáng, Loan cám ơn Cường cùng những người đã đến chung vui. Trước khi từ giã, nhiều người ái mộ đề nghị Cường nán lại thêm vài ngày để có dịp nghe một lần nữa những bài hát của chàng, nhưng Cường dứt khoát :
- Chuyến bay đã sẵn, ngày mai tôi sẽ lên đường. Xin cám ơn và tôi không bao giờ trở lại đây để trình bày những bài hát nầy nữa.
Không đợi những câu hỏi, chàng tiếp :
- Sáng tác cho một người và để trình bày một lần rồi cho tất cả vào quên lãng.

Một thắc mắc lớn nhưng tất cả đều tôn trọng mối tình thầm kín của chàng, họ yên lặng ra về. Riêng Thủy cố ý nán lại để ít ra trao đổi vài ba câu với Cường. Bây giờ Loan đã rõ ai là người tình muôn thuở của Cường, nàng dứng dậy cáo lui để hai người tự nhiên ngoài phòng khách.

Cánh cửa phòng ngủ Loan vừa khép lại, Thủy không thể kiềm chế, hai tay ôm lấy mặt khóc ròng lên như một đứa trẻ. Cường vẫn bất động, phút sau chàng tiến đến đặt tay lên vai nàng : - Em cứ khóc một lúc, những buồn tủi giận hờn sẽ theo nước mắt tuông ra.
Thủy càng khóc lớn tiếng, hai vai run rẩy, nàng nói qua nước mắt :
- Anh tự hành hạ mình được ích gì, ngày xưa không chịu nói một câu yêu em. Tại sao vẫn giữ mãi tình yêu với em trong gần ba mươi năm mà không đi tìm ?
- Tại không duyên phận, ông tơ bà nguyệt đã xe duyên lầm, hơn nữa anh không muốn phá tan hạnh phúc của em.
- Lần nầy tại sao anh đến và .....
- Anh có lỗi với em, nhưng anh phải nói ra : Một mai anh chết, anh sẽ mãn nguyện vì đã bộc lộ được những lời yêu đương thầm kín tận đáy lòng.
- Anh ác lắm, anh là người đầu tiên đã cho em biết thế nào là đau khổ của một mối tình không trọn vẹn.
Im lặng một lúc, Thủy tiếp
- Anh đã có gia đình ?
Cường lắc đầu :
- Không ai có thể thay thế được em.
Nàng thổn thức :
- Ðược ích gì, càng gây đau khổ cho anh và ân hận suốt đời cho em.
- Em không có gì phải ân hận, cuộc tình do anh tự dựng lên để ôm ấp, để đau khổ và để được đau khổ một mình.
Trời đã sáng hẳn, Cường dứt khoát chuẩn bị ra phi trường để đi chuyến bay sớm, Thủy muốn được một lần tiễn đưa. Cường an ủi :
- Kéo thêm giây phút bịn rịn rồi cũng ra đi. Thà cứ khóc một lần trong vòng tay nhau còn hơn miễn cưỡng vuốt lệ vẫy tay chào.

Thấm thoát chia tay Cường đã hơn hai năm. Tình chợt sống lại vội vã rồi cũng từ từ theo ngày tháng lùi vào quá khứ. Cuộc sống bình yên trở lại với Tâm và Thủy, cuối tuần họ tham gia các họp mặt văn nghệ bỏ túi hoặc đến tán gẩu ăn uống tại nhà người quen. Ngày Tâm đi làm, Thủy lang thang mua sắm một mình trong các shopping. Thời gian nầy nàng thường thấy một chàng thanh niên còn trẻ, có lẽ tuổi cũng xấp xỉ bằng con Hồng, đang bám sát lấy nàng tán tỉnh làm quen. Lúc đầu Thủy tỏ vẽ khó chịu ra mặt và xem thường những lời tỏ tình nặng mùi cải lương. Nhưng dần dần Thủy cảm thấy thích những lời lẽ rẻ tiền nầy, dù sao cũng tình tứ ngọt ngào đối với Thủy, còn hơn ba mươi năm nàng chưa bao giờ nghe được từ miệng lưỡi của Tâm. Với Tâm, từ việc tỏ tình, âu yến đến những thầm kín ái ân vợ chồng đều giới hạn trong một phạm vi nào đó, mang nặng tính chất cổ điển, trí thức và lễ giáo. Thủy đã nhàm chán những lời nói, động tác thể hiện tình cảm của Tâm, nàng ao ước những gì mới lạ, bay bướm, nóng bỏng và sôi động của nếp sống mới bây giờ, dù đó chỉ là tạm bợ hay giả dối nhưng ít ra cũng đem lại cho nàng những gì nàng đang chờ đợi.

Rốt cuộc nàng chấp thuận những cuộc đi chơi thân mật với Hải và một ngày cuối Ðông, Thủy đồng ý về nhà chàng với những cảm giác nôn nao của một người đi tìm của lạ.

Căn phòng trọ của chàng thật đơn sơ gồm những đồ đạc vật dụng vừa đủ để phục vụ tối thiểu việc ăn và ngủ. Ngoài ra Thủy không tìm thấy một vật gì chứng tỏ chủ nhân của nó thuộc giới trung lưu, trí thức hay văn nghệ sĩ.

Hốt vội đống áo quần cũ liệng ngay vào góc tủ, Hải không để nàng có thời giờ quan sát nếp sống riêng tư, chàng quay lại ôm ngay Thủy dìu nàng ngã xuống giường. Ðã đến đây tất nhiên chấp nhận, nàng nhắm mắt hiến dâng. Hải đưa nàng đi từ từ vào những cảm giác lạ lùng, rờn rợn từ đầu ngón chân đến tận chân tóc, như một luồng điện tăng dần cường độ trong cơ thể, từ những cảm giác nhột nhạt tê mê nầy đến những cơn rùng mình liên tục khác, đời nàng chưa lần nào tìm thấy với Tâm. Hải dẫn dắt nàng đi trong cơn mê, trong rạo rực, trong cồn cào, trong điên cuồng uớc muốn.... Ðến lúc cơ thể nàng nóng như lửa đốt, run lên từng cơn, quay cuồng điên đảo như muốn nổ tung ra từng mảnh, lúc đó Hải mới chịu đưa nàng đến tột đỉnh của ái ân…

Nghỉ một lát, Hải châm điếu thuốc nhẹ nhàng bước về hướng cửa sổ. Thủy vẫn còn nằm bất động, nàng muốn tận hưởng thật trọn vẹn những cảm giác còn sót lại trong từng tế bào, từng sớ thịt của một cơ thể đang chín mùi ở tuổi hồi xuân.

(còn tiếp)

Ðinh Lâm Thanh




Mục Lục


4. Chập Chùng Bóng Núi 17 (Chuyện Dài)

Thanh Sơn



Tiếng máy bay C-123 vẫn ù ù bay quầng quầng trên vùng rừng già dưới cơn mưa lất phất. Dường như nó đánh hơi được một sự gì đó nên không chịu rời vùng. Hai điểm màu đỏ chớp tắt lập lòe ở hai đầu cánh như đôi mắt cú vọ soi bóng đêm. Tiếng liên thanh hai nòng vẫn khẹc khẹc phun những tia lửa đỏ chóe vào đêm khuya, hòa lẫn hơi bò rống nghe rất rợn.

Anh và đám lính phải nằm gục sát xuống để tránh những chớp lửa soi lộ diện. Anh lẩm bẩm rủa cái máy bay chết tiệt làm trở ngại cuộc đón địch của anh. Chả nhẽ nó biết đêm nay đồn anh đang đánh một trận cân não với đám “ ve chai “ nên phá rối.

Chiến tranh ở đất nước này thật kỳ cục, chẳng ai chịu nghe ai, nên nhiều khi vô tình làm phát giác công việc của nhau lộn tùng phèo lên hết. Những chiếc poncho phải cố trải cho rộng để hình dáng người lính bị nhòe đi, không tố giác đây là những thân người mà chỉ còn là mớ rác lá rừng ải mục dồn vón lại.

Một chốc thì có tiếng trực thăng đến hỗ trợ. Hai chiếc UH-1B đập phành phành trong bóng tối, tiếng cánh quạt nghe thật đanh và khô khốc. Hai luồng đèn rọi cực mạnh đan chéo nhau để soi thủng rà kiếm lũ chuột đêm, xỉa xói làm chính cỏ cây cũng run lên vì sợ.

Anh lầu bầu đuổi họ đi, nhưng cổ anh thấp quá, tần số liên lạc không dám nối sợ lộ nên chiếc C-123 và hai trực thăng vẫn nhởn nhơ lượn qua lượn lại bao vùng. Thế này có chết không chứ. Một là địch thấy lộ sẽ đổi ngày tấn đồn hoặc là họ cứ tương kế tựu kế cho rằng cái bọn ở tít trên trời làm gì phát giác ra đường đi nước bước của họ mà lăn xả vào thịt cho rồi.

Anh đâm sốt ruột như có ai cầm bó đuốc, rê đốt tiêu lên phổi, tim, gan, cật. Ánh mắt bọn lính của anh cũng quắc lên dữ tợn. Những ngón tay trỏ lăm lăm đặt nơi cò súng như bắt run lên, những tiếng lầm bầm chửi thế rít lí nhí giữa kẽ răng, anh phải vỗ vào vai người lính cận kề để an ủi và dặn chuyền đến từng người tín hiệu nhẫn chịu này.

Ðột nhiên có tiếng vũng nước bị xé rẹt, ai nấy đều sửng sốt. Con hoẵng, con thỏ hay con gì vừa phóng qua chỗ nước hay là bọn họ đã mò tới ? Ðêm âm u chẳng ai đoán được ra sao. Anh đưa ngón tay trỏ lên môi ghé vào tai tên lính mà truyền đi hiệu lệnh : cẩn thận.

Vu vơ nơi thôn bản có một đường đạn bay vút lên, tiếng kêu nghe luễnh loãng và lụp bụp rất nhỏ. Có thể vì miếng poncho che kín đến mang tai từng người lính nên làm giảm âm thanh của phát súng. Anh đảo mắt một vòng, thẩm định nhanh tình huống. Ðạn nổ ở buôn là thế nào, đáng lẽ nó phải nhắm vào phía đồn mới phải chứ.

Rồi cũng đột nhiên anh nhận ra đấy là điệu giương đông kích tây vốn thường được đối phương áp dụng. Anh còn đang lùng bùng thì quanh phía đồn đã vang lên tiếng bộc phá. Ðạn phóng ào ào, nhiều loạt liên tiếp, vặn bẻ những cành cây đổ nhào kêu răng rắc.

Ðợt tiền pháo hung hãn kéo dài đến nhiều phút, kế đó là tiếng la dậy khắp trời. Tiếng chân người ồ ạt dẵm xé rào, đạn AK nổ dòn như rang bắp. Những ánh lửa lóe lên, hai trực thăng nhận ra sự kiện liền nên châu ngay vào can thiệp.

Anh và đám lính vòng ngoài vẫn cắn răng chờ đợi. Ðến khi đợt xung phong dâng lên tận đỉnh điểm thì lệnh nổ súng bắt đầu. Ðạn từ phía đồn tủa ra, đạn từ ngoài phụ vào, tiếng AK hòa với súng M-16 đập vào nhau chan chát.

Chiếc C-123 giờ đã hợp đồng cùng hai chiếc trực thăng quầng loạn xạ. Những trái sáng quăng ra làm rực đỏ cả một vùng. Hai trực thăng rọi quét đèn rào rào và bắn hàng tràng liên thanh vào phía giặc uy hiếp.

Anh lịnh cho đàn em chống trả hết lực. Trái sáng cho anh nhận rõ hàng ngũ địch, những bước chân rầm rập chạy đạp bừa lên khắp chỗ, vụt hiện vụt biến. Những tiếng B-40 gầm rú kinh hồn, một góc đồn bị đổ ụp xuống. Ðêm sát phạt không nương tay, tàn bạo, độc ác, một hai chẳng ai muốn chịu nhận phần thất bại.

Từng đợt, từng đợt, địch cố ập vào đồn, nhưng chỉ sát vòng rào cuối là bị khựng vì đạn bắn ra không dứt. Ðã có tiếng kêu rên của người ngã xuống, ai gục cứ gục, ai rên cứ rên, còn thì quần nhau chí chết.

Trong đêm tối mà khói bay lan cuồn cuộn, nhấp nhóa dưới ánh hỏa châu, lóe lên sau tiếng nổ bộc pha và trái sáng giăng màn khắp trời. Anh đôn đốc lính bắn phá, tiêu diệt các đợt xung phong của địch, mùi thuốc súng đặc ngòm. Tiếng phóng pháo nghiêng chao rền rĩ, đèn trực thăng truy kích đuổi theo những bóng chạy lẩn chui vào cây rừng.

Cả một cảnh tang thương khốc liệt, màn trời như bị xé toạc bóng đêm, lố nhố người chạy qua chạy lại. Cuối cùng thì im dần, nỗi mệt mỏi đè nặng trong lồng ngực những người lính, những khẩu súng rã rời nằm chỏng chơ bên đùi người chiến binh.

Ðám trực thăng đang bắn ào ào xuống cụm rừng quanh quanh và chiếc C-123 vẫn thả những đợt trái sáng giữ cho tình hình vững lại. Anh lắc đầu rũ bỏ nỗi chán chường đang bám vụn trên người. Bụi trần gian và chém giết rơi lả tả quanh anh. Khói, cây cành ngả trộn với bùn đất, nước mưa thành một hổ lốn tang thương và đổ vỡ.

Ðêm tan dần, cái ánh sáng nhờ nhờ soi quang cảnh sau chiến trận hoang tàn như mộ địa. Vài khẩu súng gãy rải rác đó đây, những xà cột đánh rơi không kịp hốt chạy, những ruột tượng gạo vỡ tung tóe khắp nơi. Anh cho lệnh thu hồi đơn vị.

Ðám lính men theo lối mòn bước trở lại đồn. Khói súng còn vương đầy, mùi thuốc khai quang vừa được ném trong đêm càng làm cho rừng thêm xơ xác. Anh thấy cay nơi mắt vì thiếu ngủ, vì nỗi nhọc.

Anh nghe tiếng rên ở đâu đó. Anh lệnh cho lính ngừng lại và tiến lên quan sát. Một du kích bị thương đang kêu như cha chết, anh men đến nhìn ánh mắt lạc đi của hắn mà khích động. Tên lính theo bên anh định vào đỡ, anh giơ tay ngăn. Không phải chiến tranh làm cho anh thui chột cả tình thương mà vì cạm bẫy chiến trường làm cho anh phải thận trọng. Người thương binh có khi bị làm vật hi sinh bằng cách cho nằm đè lên một trái lựu đạn để khi ai đến cứu thì lãnh vạ lây, đó là điều anh học hỏi thực tế sau những lần nhanh nhẩu làm phúc hão.

Anh bảo cùng người lính lui ra xa và dặn người thương binh lăn trở mình. Chờ khi không nghe tiếng nổ, anh mới cùng đồng đội đến xốc anh bị đạn dậy. Anh để cho người bệnh đu nơi cổ cả hai dìu về đồn. Máu ở chân người bị thương chảy nhiều quá, anh phải hối lấy gạc bó chặt lại.

Ðồn bị suy xuyển một chút nhưng vẫn vững. Khói đạn có ùa vào nhưng cơ sở vẫn còn. Anh đưa tên thương binh để ngồi lên thùng đạn và bảo y tá xem vết thương. Ðiều có thể tin được chăng vì chẳng ai khác đó là Y Brôm ngày nào.

Anh thấy nhói trong lòng, còn Y Brôm thì tránh nhìn anh. Cả hai cùng thấy ngượng. Anh phải giữ bình tĩnh, châm một điếu Quân Tiếp Vụ trao cho bạn cũ. Thái độ vùng vằng lúc đầu, rồi sau cũng nhận, bặp thả khói um trời.

Người y tá xem vết thương xong, tiêm liền hai lọ penicillin để giữ không làm độc và hi vọng không phá nặng. Anh vỗ vai người bạn ngày trước tỏ thân tình. Lòng anh nóng như lửa đốt, anh muốn cấp thời báo với già làng, với Nia, nhất là chị ấy biết tin chồng chị đang ở đây.

Một đợt nước mắt trào ra không kịp giữ. Nhiều người lính ngoảnh mặt quay đi, Y Brôm càng bặp nhanh điếu thuốc tình nghĩa, không nói một lời.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Bên Dòng Biên Giới

Phan Thái Yên



Người thanh niên ngồi yên lặng phía bên này bờ Vĩnh Tế. Cánh đồng lúa bờ Miên mênh mông chảy dọc theo dòng nước, rười rượi cơn gió đi về bát ngát chân mây. Hàng cây thốt nốt xa lắc phía chân trời, xanh thẳm im lìm như hàng nến đứng chờ thắp sáng bóng chiều đang tới. Hay chỉ là nét tàn phai của ngày đang tắt, như hoa dại rũ rượi vàng bên dòng sông đang úa vào đêm.
Dòng biên cương lặng lờ trước mặt và ý nghĩ lao lung về một phương trời huyển mộng khiến anh cảm thấy bồn chồn. Con sóng nhỏ chẻ đôi đàng sau chiếc xuồng máy đuôi tôm làm chao động làn nước đục phù sa và lòng chợt phân vân giữa lằn ranh u uất đi về. Không quá nửa ngày sông, xuôi theo dòng về phía Giang Thành là biển rộng. Biển của những ngày rong chơi. Theo tàu từ Phú Quốc về Rạch Giá, bầy sĩ quan trẻ nhớ bờ háo hức quàng xiên trong quán rượu làm ngượng ngập bước chân tình cờ cô học trò sau buổi tan trường. Mới đó mà đã là kỷ niệm xa vời. Hai năm trong vùng đồng bằng máu me, rài rạc chiến tranh, đã khiến tâm hồn anh cằn cỗi chai lì đi rất vội. Tiếng súng nổ giữa đêm, hằng đêm, xác người chết gục mặt bên bờ kinh, ánh sáng hỏa châu lay lắt rọi. Mặt trời đến đi, chìm đắm. Trong không gian mơ hồ lịm tắt, cánh dù hỏa châu lặng lờ trôi như một nỗi lòng. Tuổi trẻ vội vàng bỏ đi. Mất hút trong đêm, mắt mở trừng về phía màn đen đang phủ chụp cánh rừng tràm nham hiểm và thiếu ngủ. Giữa rình rập canh khuya, họ bơ phờ và trở nên tàn ác như nhau.
Ngược hướng Tịnh Biên, bóng mây không che được dáng núi Thất Sơn, kiêu bạc quàng vai dãi lụa sầu châu thổ. Dòng nước lung lay soi bóng người xưa, bóng thời gian lẩn khuất không trôi. Người đã đến từ một cuối biển Ðông xa hay phải lặn lội qua đôi lần sông mênh mông sau trước? Ðỉnh núi nào người đã đứng vọng một tiền đồ rồi mường tượng tới dòng kinh nối biển? Thoại Hà, dòng sông đào như dải ruột mềm trang trãi tấm lòng quân tử vua tôi, đầm đìa nỗi lòng Vĩnh Tế, cưu mang từng giọt phù sa nặng tình châu thổ đến tận bờ nước Hà Tiên hoang mang biển lớn. Người xưa. Cơ đồ. Mệnh nước. Một thuở biên cương. Trăm năm sau, cõi giang biên âu sầu muối mặt, bơ phờ cơn gió tai ương. Chàng đã đôi lần từ biển đến, lòng lú lấp phiền hà rồi say khướt biếng lười đâu đó cuối dòng để bây giờ, hồn nặng vàm sông bến nước, đứng bên bờ kinh biên giới, tần ngần về một nửa ngày sông. Và cả một đời mình. Phải chăng chỉ để tròn một bước chân vô ích mà lòng thì vẫn nằng nặng ưu tư giấc mộng không thành?

Ðoàn giang đỉnh vào đến vùng sông biên giới giữa Giang Thành và Tịnh Biên từ buổi trưa. Ðồn lính Ðịa Phương Quân, vài năm trước là nơi trú phòng của các đơn vị Biệt Kích Mỹ, nằm bề thế dọc theo bờ Ðông. Cổng đồn uy nghi, cột cờ cao căng gió, và dãy công sự kiên cố đã tạo nên vẽ quắc thước hiếm thấy ở một đồn lính địa phương. Chàng đã quá quen thuộc với hình ảnh sơ sài thấp mọn của những đồn lính dọc theo bãi nước bờ kinh trên nhiều vùng sông rạch miền Nam. Những đồn lính cấp trung đội hoặc đại đội, cùng mỏnh manh vụng về như nhau, với dãy rào phòng ngự tháp canh dựng bằng cây tràm, mái tôn phủ đước khô queo. Tỉnh ngủ vì tiếng máy đoàn tàu đang gầm thét lướt mình, người lính gác xốc súng đứng dậy, đưa tay vẫy chào bâng quơ. Ðôi dép nhựa cũ kỷ vàng ỉn trong chân người nông dân cầm súng hằn nét chấm phá tội nghiệp lên nền đất đen màu mở thiếu người vun xới. Ngoái nhìn bóng người lính cúi đầu đứng bên bờ nước đục, chàng chợt nhớ thành phố đến quay quắt. Cũng như anh, chiến tranh đã bắt tôi phải làm những việc không quen. Dòng kinh trước mặt hun hút đưa buổi chiều vào tối. Lời kinh giảng vương vấn điệu hò nghe cũng buồn như lẽ nghĩa nhân giữa thời tao loạn.
Ðoàn tàu cập quanh chiếc cầu dựng bằng những tấm ri sắt trước sân đồn. Lính lố nhố đứng ngồi, chuyện trò, chờ đợi. Mọi người chăm chú nghe anh lính trẻ đang chỉ tay về phía cái hầm nổi cạnh đồn lính, hứng khởi kể lại chuyện nghe được từ câu lạc bộ.
Khu gia binh trước đây là trung tâm hành quân của các đơn vị Biệt Kích Mỹ. Cái hộp sắt khổng lồ được đắp bít bùng bằng nhiều lớp bao cát, chỉ chừa một cửa ra vào và những ống thông hơi trên nắp. Căn hầm mát lạnh, tối như hủ nút lúc đêm về. Vợ lính chờ chồng đi kích đêm hay những người đàn bà dể tính theo đàn ông vào ngủ ở đó. Trong canh khuya khó thấy mặt người, thân xác buông thả khơi giòng cho ngọn sóng cảm giác trào dâng. Cơn xúc động không thể cắn răng có khi thoát thành tiếng rên gào làm mù lòa những đôi mắt thao thức mở trừng, xốn xang vành tai nghe ngóng. Giữa tối tăm mê đắm, căn hầm trở thành khu rừng nguyên thủy. Bầy thú hoang dã vô luân liếm mép rình rập, đồng lõa đưa nhau đến biên cương mới rợi cảm xúc, vồ vập hơi thở lạ điếng đam mê, tê rần khứu giác.

Cách đồn không xa về phía Giang Thành có một quán nhỏ nằm sát bờ kinh. Tàu thả người sĩ quan và nhóm lính xuống quán cà phê rồi quay ra nằm rải rác hai bên bờ. Ðoàn giang đỉnh đen xám như bầy trâu đầm mình trong nước nghếch mặt nhìn trời, nghe ngóng làm quen cảnh trời nước quen thuộc mà xa lạ. Giòng kinh bất trắc. Cánh rừng lảng vảng rình rập nghi nan. Ðồng lúa dậy thì trổ đòng xanh ngút mắt. Khoang trời nỏn nà mây trắng la đà vướng vất trên nóc hàng cây thốt nốt vàng óng nắng chiều. Bầy vịt trời mỏi cánh, sà thấp rồi mất hút đâu đó giữa đám ruộng nước. Có bóng chim đơn côi soải cánh bay về núi. Chiều rồi. Dòng sông biên giới lặng lẽ như một nỗi buồn rất cũ. Chàng đặt ly cà phê nguội lạnh xuống bàn bên trang sách mở hờ. Ngón tay vô hồn vuốt nhẹ lên hàng chử khắc vụng về trên mặt bàn. Quán Biên Thùy. Chàng chợt cảm thấy lòng mình chênh vênh hụt hẩng như đang bị cuốn xoay, rời rụng trong phố cũ nhạt nhòa mưa. Ở mô rồi người chị của tuổi mười hai. Nước đục bến Bao Vinh đã xa chị xuôi dòng hay đôi mắt đẹp vẫn đượm sầu đời chị đa đoan. Thôi thì ai trong chúng ta cũng có một biên giới của lòng. Nơi dừng lại để hứng lấy trái sầu mà nuôi sống giấc mộng muôn đời chẳng thể hóa thân.

Người chủ quán nhìn ông sĩ quan trẻ với cặp mắt dò xét rồi thất vọng đặt ly cà phê nóng xuống bàn. Người đàn bà son điểm vụng về không che đậy được vết nát nhàu sót lại sau thuở hương phấn vội vàng. Chị nhìn dòng nước bèo bọt trôi xuôi, đôi mắt tô chì đậm đen như bóng tối, gợi chuyện… Hồi đó tàu Mỹ chạy hà rầm. Tui bán bar trong Tịnh Biên, thỉnh thoảng họ chở cả bầy chị em ra ngoài này. Cũng vui... Coi vậy chớ không vắng lắm đâu. Tàu chợ Giang Thành Hà Tiên kéo nhau về gần tới nơi rồi đó. Tới ngày nhóm chợ trời, chợ trâu bò, bên bờ Miên ghe đò lại càng đông hơn. Chút nữa tối trời, dơi rần rần từng bầy bay ra ăn muổi, om sòm lắm. Ai không quen tai, cứ nằm đờ ra đó không ngủ được, nhiều khi bực mình muốn chết... Câu chuyện gần như độc thoại tang loãng theo cơn gió chiều trôi lướt trên dòng kinh biên giới.
Người thanh niên phiền hà nghĩ tới ông thiếu tá già ở bộ chỉ huy lúc chàng đến trình diện vào buổi trưa. Ông ngồi gật gù trên chiếc ghế salon đóng bằng thùng đạn pháo binh. Mái tóc thưa mềm lấm tấm bạc, lơ thơ rủ trước trán, khiến khuôn mặt càng trắng xanh bạc nhược. Ngồi cạnh ông thiếu tá là một người đàn bà đẫy đà son phấn, dáng dấp trịch thượng trong bộ trang phục bốn túi thời thượng. Bà ta ngồi nhẩn nha hút thuốc, lơ đãng nghe ông ba hoa về ngày tháng hải hồ ba gai ba góc, thỉnh thoảng góp tiếng chỉ để khoe khoang thành tích công tác phượng hoàng của mình trên khắp vùng chiến thuật. Câu chuyện theo đuổi trong trí tưởng chàng suốt chuyến giang hành. Sự bí mật công khai có hệ thống và ồn ào như tiếng máy tàu đò khẳm nặng hàng hóa lậu thuế từ Miên nối đuôi nhau trên dòng sông biên giới.

Sự hiện diện bất ngờ của toán giang đỉnh nằm rải rác hai bên bờ khiến đoàn tàu đò, tắc ráng, bớt tốc độ e dè chạy qua. Khoảng sông nhộn nhịp hẳn lên với những chiếc tàu sặc sỡ đỏ xanh chất đầy hàng hoá. Người tài công chậm chạp lái chiếc tàu đò cập vào bến nước trước quán, cẩn thận không để chạm đến chiếc giang đỉnh nhỏ bé mà tua tủa súng đạn quyền uy. Cô gái khoảng ngoài hai mươi với chiếc xách lớn trên tay, từ trong khoang đò nhảy xuống đất, nhanh nhảu bước vào quán.
Cô gái vui vẽ gợi chuyện với nhóm lính Hải Quân tự nãy giờ chỉ ngồi ăn uống nghe nhạc, chơi bida ở góc quán. Ðám lính trẻ thành phố ồn ào cảm ơn về những bao thuốc lá ngoại quốc mắc tiền, món quà hậu-phương-tiền-tuyến từ cô gái buôn hàng chuyến. An tâm với hậu thuẩn vừa đạt được từ đám lính trẻ, cô gái bước ra đầu hiên quán. Nụ cười tươi tắn tắt vội khi nàng chạm nhìn tia mắt nghiêm nghị của người sĩ quan trẻ. Cô tần ngần nhìn quyển sách trên tay người thanh niên rồi quay người đứng lặng yên nhìn khoang đò oằn sắp những bao đường lậu thuế. Cô gái cười bẽn lẽn từ giã người thanh niên. Bước chân nàng cuống quít trên tấm đà gỗ gác chéo lên mũi chiếc tàu đò. Cô tần ngần đứng trên mui tàu, chiếc khăn rằn phủ che một phần khuôn mặt và mái tóc. Ði về mỗi ngày trên giòng kinh quen thuộc đến độ nhàm chán, cô có lòng buồn một lúc nào đó, nghĩ đến những bến sông xôn xao phố lớn, đời mình? Dáng cô gái nhỏ nhoi hằn nét vào quầng mây u xám buổi chiều đang tới. Cơn mưa sắp đến từ phía Thất Sơn. Ngọn núi đơn độc soi bóng xuống miền sông nước quây quần ba nhánh phù sa. Con người trên những dòng sông. Truyền kiếp. Núi biển chia lìa từ thuở khói sóng hồng hoang mơ hồ thanh sử. Những dòng sông chẳng hề gặp nhau, lận đận gian nan như đường chỉ tay in hằn số phận. Con người nổi trôi theo định mệnh u hoài của dòng sông, sống đời khốn khó truân chuyên trên đó, tuôn máu, lệ trào, vất vưởng khóc cười.
Chàng nghĩ đến cô gái tình cờ gặp ở Long Xuyên. Thướt tha tóc dài áo tím, cô gái duyên dáng dể thương như giai nhân xứ Thần Kinh giữa đất Cửu Long. Ngờ ngợ gặp lại người về thăm nhà bên bến lụa, khăn lãnh quấn đầu, mắt huyền sâu bóng nước Châu Giang làm say lòng gã lính giang hồ. Nỗi nhớ một giòng Hương, êm đềm bến nước Kim Luông theo trăng xuôi về Vỹ Dạ đã đắm say lòng Tân Châu Hồng Ngự quyến luyến phù sa. Ðến đây thì ở lại đây. Bao giờ gổ mọc thành cây mới về... Ông quan nhỏ theo Thoại Ngọc Hầu đi mở nước đã ở lại với cô thôn nữ trồng dâu bên bến Châu Giang suốt một đời mình và cháu con sau đó. Có lẽ nỗi nhớ về bóng dáng người xưa bên dòng sông cũ đã sôi sục châu thân rồi trào theo tinh huyết mà đắp bồi dáng tóc làn mi lúc nguôi ngoai đêm sầu châu thổ bên nàng thôn nữ đất tằm tơ.

Chiếc tàu đò rời bến, tăng tốc độ chạy về Tịnh Biên cho kịp tối. Cô gái tươi cười vẫy chào nhóm lính ồn ào đứng bên bờ nước. Từng vầng sóng chia đôi, xô đẩy nhau trào cuốn vào hai bên bờ kinh đất dựng. Dáng chiếc tàu đò cần cù bơi ngược về Tịnh Biên nhỏ dần trong làn nước đục ngầu. Những bóng đời người tất tả xuôi ngược trên dòng nước cuốn. Phút chốc. Chia lìa. Trong chuyến đò hẹp lòng, có lẽ mỗi người khách đã tìm cho mình chổ ngồi riêng rồi nhìn nhau dò xét với nụ cười không dấu được vẽ kịch tính trên môi. Hay như chàng tưởng hăm hở mà thờ ơ với từng mảnh đời người để một chiều biên cương ngồi nhìn bóng mình tan tác âu sầu theo dòng sông kỷ niệm. Chàng đã thả trôi xa tấm lòng trong sáng để đánh đổi điều hình-như-là-bình-yên rồi mơ hồ đợi chờ một hạnh phúc lớn lao không hề đến. Chiều nay, tìm về với biên giới lòng mình, người thanh niên chợt hiểu ra nỗi buồn cũng thật thà và cần thiết như giấc mơ đã đến từ dòng sông của riêng mình. Những điều còn lại, tất cả chỉ là kiếm tìm, quẩn quanh, lầm lỡ... Phố chợ giang biên sầm uất, quán tiệm nhan nhản hàng lậu thuế. Ông thiếu tá già lỡ thời, bám víu đua chen một cách tội nghiệp. Bà đàn bà từ Sài Gòn phái xuống, úp mở mưu toan. Tuyến đường buôn lậu rộn rịp ghe đò, lừa lọc đám người tranh giành nhau sống. Ly cà phê nguội lạnh từ tay cô gái giang hồ về chiều. Bầy dơi chờ đêm mù lòa bay trong bóng tối phủ chụp lên vùng biên giới im lặng. Những đôi cánh không phải của chim. Ðôi mắt đàn ông đàn bà xa lạ nhìn nhau sau đêm động tình. Ðã quá đủ cho một ngày. Vầng dương đã chìm đắm.

Ðoàn tàu lầm lũi đi vào điểm kích đêm giữa cơn mưa vừa đến từ phía núi Thất Sơn. Hàng cây thốt nốt đứng rũ rượi thành vệt dài đen thẩm dọc theo bờ kinh. Trong màn mưa, giòng kinh nhỏ nhoi chợt bát ngát trường giang. Tiếng người lính ca vọng cổ buồn buồn trầm lẫn trong tiếng mưa rơi trên mặt sông. Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát. Mà bóng người xưa còn lẫn khuất giữa sông dàị..Chàng nghĩ đến những cánh dơi ướt trong đêm tối và cảm thấy lòng buồn.

Phan Thái Yên




Mục Lục


6. Nụ Cười Bí Ẩn

Trương Anh Quốc



Tôi đang ngắm những con đò ngược xuôi trên sông Hàn thì điện thoại reo. Ðầu bên kia, giọng nói trong vắt:
- Anh đang làm chi đấy?
- Ði dạo trên bờ sông Hàn nè!
- Anh đi với ai thế?
- Một mình chứ với ai!
- Thế cho em đi cùng với được không?
- Em nói giỡn hoài, em ở xa cả trăm cây số!
- Không đâu, em đến ngã ba Huế rồi nè. Anh đón em nhé!

Tôi định hỏi thêm vài câu nhưng Thủy Nguyên đã cúp máy. Mà cô bé ra đây làm gì? Chẳng lẽ đi công tác, hôm nay cuối tuần mà. Thôi thắc mắc làm gì. Tôi lại chỗ gửi xe, lấy xe máy đi đón.
***
Tôi gặp Thủy Nguyên khi đi thăm Hòn Kẽm Ðá Dừng. Chúng tôi cùng đi trên một chuyến ghe phiên chở đến mấy chục người. Vui không thể tả. Lúc đi, mọi người mang xuống ghe bao nhiêu là trái cây mua ở chợ Trung Phước. Trái cây chợ Trung Phước được lấy từ làng Ðại Bình, mà trái cây của làng Ðại Bình thì ngon hết biết.

Dù là đất miền Trung nắng lửa nhưng Ðại Bình trồng được đủ loại cây trái của Nam bộ, cả xứ lạnh Ðà Lạt hay Sa Pa. Chôm chôm, sầu riêng, măng cụt... đủ cả. Nhưng ngon nhất vẫn là đặc sản vùng núi miền Trung: bòn bon. Trái bòn bon Ðại Bình chua chua ngọt ngọt ăn quên thôi. Cả đoàn vừa ăn trái cây vừa đàn hát vang cả một khúc sông rộng.

Thích ngắm cảnh sông nước hơn, tôi ra mũi ghe, bắt chéo chân ngồi nhìn những rặng tre xanh ngút ngàn hai bên bờ sông Thu Bồn. Ghe chui qua cầu Nông Sơn, cây cầu do tình thương của người dân khắp nơi đóng góp. Phía xa xa là ngọn núi Cà Tang cao vút.

Kia là bãi bồi Ðông An cát cao ngất, còn đây Tí lở Tí bồi. Tí lở là sườn núi, Tí bồi là bãi cát vàng mênh mông. Giữa miền trung du nhưng có những làng sống trên sông nước. Những đứa trẻ chạy nhảy, nô đùa trên cát. Chiều xuống, người ta cặp ghe vào bãi bồi để nấu nướng. Có bà cụ chỉ tấp ghe vào chỗ khuất tránh gió thổi lửa nấu cơm. Cảnh nghèo đơn sơ trông đến se lòng. Nhưng nghèo mà yên bình quá! Những cô gái gánh nước tưới bắp, rồi gánh nước về nhà. Trước lúc về bao giờ các cô cũng tắm ngoài sông, cứ để quần áo mỏng ướt dính da, dấu chân in trên cát, bóng đổ dài trên cát.
Hai bên bờ sông, những triền bắp xanh mát mắt đang mùa trổ bông, hương bắp ngây ngất. Tôi nhớ câu hát ru em của mấy đứa nhỏ hàng xóm thuở nào: Chèo ghe bẻ bắp bên sông/ Bắp chưa có trái bẻ bông đem về...
- Sao anh ngồi có một mình?
- Anh ngắm cảnh. Mấy khi được ngắm cảnh đẹp như thế này.
- Anh lãng mạn quá ha? Anh ở xa tới phải không?
- Cũng không xa lắm đâu. Qua bên kia đèo là tới làng anh - tôi chỉ tay về hướng đèo phía đông - Em có biết làng Gia Cát không?
- Gia Cát? Em cũng ở làng ấy!

Tôi tròn xoe mắt. Cô bé cũng ở làng mình? Sao mình không biết ta? Tôi cố vắt óc. Chịu. Tôi nhìn cô bé một lượt. Ở làng mình có cô gái đẹp thế mà mình lại không biết, tệ hết sức tệ!

Nhưng tôi liền chống chế. Vì mình đi xa, lâu lâu mới về quê chơi vài ngày, khi về đi thăm lại bạn bè cũ và bà con cũng không hết, nói chi biết thêm ai. Mà tôi chỉ biết lớp lớn hơn mình thôi. Lớp nhỏ hơn một vài năm còn biết chứ hơn nữa thì chịu thua.
- Anh xin lỗi, nhà em ở xóm nào?
- Em là con út của chú Năm xóm Cây Khế đó anh!
Tôi nhớ ra rồi. Xóm này trái đường nên tôi cũng ít khi qua lại. Nhưng ai chứ chú Năm thì tôi không sao quên được. Chú ấy thường cắt tóc cho tôi lúc nhỏ. Nhà chú xa nhưng chú hớt tóc đẹp nên con nít xóm tôi rủ nhau qua nhà chú hớt. Tôi nhớ khi qua nhà chú Năm có thấy đứa con gái tóc lơ thơ và vàng hoe như râu bắp, duy chỉ có đôi mắt sáng và đen như hai hột nhãn. Chắc là cô bé này chứ ai vô nữa. Ai dè bây giờ đã trở thành một thiếu nữ đẹp mặn mà thế này!
***
Chiều tà, tôi cùng đoàn người vượt đèo. Thủy Nguyên không đi bằng ôtô của cơ quan nữa mà cùng đi xe máy với tôi để ngắm cảnh. Tôi đi sau cùng và đi chậm. Mọi người lao vút lên đèo rồi biến mất, chỉ còn hai đứa tôi. Thật vắng vẻ. Ðến đỉnh, xe đang chạy ngon ơ, tôi cho xe chạy chậm rồi dừng lại.
- Vụ gì á? Vụ gì á?
Tôi không trả lời. Sao cứ nghĩ xấu cho con trai hoài! Tôi chống chân đứng im ngắm cảnh từ đỉnh đèo Le thơ mộng, rất chi là thú vị. Tiếng chim kêu ríu rít. Núi rừng xanh bạt ngàn. Cũng thật lạ, hai con suối cùng xuất phát từ đỉnh Hòn Tàu nhưng một dòng đổ về hướng tây là suối nước nóng Tây Viên, còn đổ về phía đông là dòng nước mát hiền hòa.
Hoàng hôn buông xuống, ánh nắng liếm trên lưng sườn núi, tắt dần trên những cánh đồng với con đường quanh co đẹp như bức tranh thủy mặc. Cảnh đẹp mà ngày xưa nhà thơ Khương Hữu Dụng đã từng dừng chân mở quán nước lưng đèo để nuôi hồn thơ.
Nắng tắt, tiếng chim núi gọi bầy, sương là là đỉnh đèo. Thủy Nguyên ngồi sau không nói gì, hình như là mắc cỡ với câu nói ban nãy. Ðèo lộng gió. Cái gió se lạnh trong sương chiều. Tóc Thủy Nguyên cứ cứa vào mặt khiến tôi không cầm được lòng mình.
- Cho anh mượn cái tay.
- Mượn làm chi?
- Cầm!
- Lạ lắc mà cầm!
Tôi thò tay ra sau, nắm lấy tay Thủy Nguyên. Bàn tay trong gió lạnh ngắt. Thủy Nguyên giật tay lại nhưng không rút khỏi được bàn tay khỏe mạnh của tôi nên cứ để yên. Bàn tay ấm dần lên rồi nóng bừng. Má Thủy Nguyên áp vào vai tôi cũng nóng bừng.
- Anh cầm lái hai tay đi, đến khúc cua rồi kìa!
- Té thì té chung, lo gì.
Tôi vẫn cầm tay Thủy Nguyên nhưng cho xe chạy thật chậm, thật chậm. Chậm thế mà Thủy Nguyên cũng sợ, cứ ôm eo tôi cứng ngắc... Ở phố tấp nập, Thủy Nguyên đâu dám ôm tôi như vậy.

Qua hết đèo, tôi đưa Thủy Nguyên đi ăn nghêu sò ốc hến ở bờ sông Hàn. Sau đó chúng tôi đi dạo. Nghe nói bên bán đảo Sơn Trà đẹp lắm, tôi hỏi đường rồi chở Thủy Nguyên ra đó. Lượn quanh bờ biển một vòng, gió biển mát rượi, đến bãi cát trắng chúng tôi dừng lại, ngồi uống nước dừa ngắm biển mà chẳng nói gì với nhau, đến khi sóng biển cao dần, bọt nước bắn lên tận chỗ ngồi mới giật mình nhìn đồng hồ.

10 giờ rưỡi phải về vì Thủy Nguyên còn phải đến nhà cô bạn trên tận Hòa Khánh. Xe mới qua cầu Sông Hàn một đoạn thì nổ lụp thụp như hụt hơi rồi từ từ dừng lại. Xuống kiểm tra, hết xăng. Cây kim xăng xe thằng bạn bị kẹt, xăng cạn mà kim vẫn báo đầy. Tôi dắt, Thủy Nguyên đẩy một đoạn khá xa mới có chỗ bán xăng lẻ.

Ðến ngã ba Huế đã 12 giờ kém. Thủy Nguyên gọi điện mấy lần cho bạn đều không có tín hiệu. Có lẽ cô bạn đã khóa máy và ngủ mất rồi. Bây giờ thì biết ngủ nơi đâu? Con trai lăn lóc đâu cũng được, con gái tìm chỗ ngủ thật khó quá. Không còn cách nào khác tôi phải chở Thủy Nguyên tìm khách sạn cho cô nghỉ qua đêm.

Trúng mấy hôm hội chợ hàng Việt Nam - Lào - Thái Lan, đi đến gần chục khách sạn mới có một phòng trống. Gửi xe rồi mang giỏ xách lên tận lầu 4, chân tôi mỏi rã rời, lại quá buồn ngủ. Nhưng tôi còn phải đi gần chục cây số nữa mới đến nhà thằng bạn để ngủ nhờ. Tôi gọi trước cho nó. Chuông réo hoài mà không ai bắt máy. Thôi rồi, nó cài chế độ rung chứ không để chuông. Giờ này chắc nó cũng ngủ co giò từ lâu, cuối tuần uống vô mấy chai, ngủ say có sóng thần đổ vô nó cũng không hay.
- Thôi cho anh ngủ lại đây sáng mai anh đi sớm, được không?
- Ðược, nhưng chỉ có một chiếc giường, anh phải nằm dưới đất!
Dưới đất cũng được, miễn có chỗ ngủ. Trời lạnh, tôi lấy tấm chăn đắp rồi nằm thẳng cẳng. Thủy Nguyên tắm rửa xong, lên chiếc giường nệm dày trải vải trắng muốt. Cô nằm được một lát thì kéo chiếc chăn tôi đang đắp:
- Lạnh quá, không có mền em ngủ không được!
- Có một chiếc thì làm thế nào? Hay là chúng mình đắp chung? Thôi chúng mình đắp chung nhé!

Tôi lên giường nằm. Thủy Nguyên lấy vội chiếc gối để giữa và cấm tôi không được quay mặt vào trong. Hai chiếc lưng cũng không được chạm nhau. Ai vi phạm sẽ bị phạt. Tôi chưa nghe Thủy Nguyên nói sẽ phạt gì thì mắt đã díp lại, không còn biết trời trăng mây gió gì nữa.

Ðang ngủ ngon thì có gì đó chạm vào hông khiến tôi tỉnh giấc. Quay lại, môi tôi chạm đôi môi mềm mại. Lòng rạo rực, tôi hôn Thủy Nguyên một nụ hôn thật ngọt. Thủy Nguyên cũng đáp lại bằng một nụ hôn thật ngọt. Bản năng đàn ông trỗi dậy, bàn tay tôi vụng về vuốt ve đôi gò má, mân mê cái cổ thon dài rồi nong dần xuống, mở cái cúc áo. Tôi trườn qua khỏi cái gối lúc nào không hay. Ðôi vòng tay tôi ghì chặt, tôi cũng được ghì chặt, hơi thở cả hai càng lúc càng gấp. Bàn tay tôi đang chu du thì Thủy Nguyên kêu lên:
- Dừng lại!
- Sao vậy?
- Anh có... yêu em không?
Câu hỏi làm tôi giật thót. Tôi lấy lại bình tĩnh bằng cách hít thật sâu rồi thở chậm, đều. Tôi mở mắt nhìn Thủy Nguyên. Cô cũng từ từ mở mắt nhìn tôi. Nếu trả lời không thì tôi sẽ làm cho Thủy Nguyên buồn. Nhất định là vậy. Nếu trả lời có là tôi dối lòng mình. Tôi đã yêu một người, một người tôi chưa được cầm tay, mấy năm rồi cũng chưa gặp mặt nhưng tôi cứ nhớ cứ thương, cứ chờ đợi và tin tưởng dù rằng chưa hứa hẹn gì với nhau.

Mà sao tôi lại hôn một người con gái tôi chưa yêu thế này? Tôi vừa hôn một cô gái mà mình chỉ mới thinh thích bởi vẻ đẹp đằm thắm, cách nói chuyện thông minh và hài hước. Tôi luôn dặn với lòng mình là sẽ dành nụ hôn đầu đời cho người mình yêu kia mà. Tôi thấy mình có lỗi với chính mình, với người mình yêu. Tôi nhớ lại lời cô ấy: “Nếu chỉ một việc nhỏ anh làm cho em buồn thì coi như những gì từ trước đến nay anh có làm cho em vui đến mấy cũng bằng không...”.

Tôi không muốn mất người tôi yêu, tôi không thể làm cho người tôi yêu buồn. Tôi không muốn người tôi yêu giận. Tôi tự hỏi có phải Thủy Nguyên dễ dãi quá hay không? Tôi lại không ưa người dễ dãi. Dễ dãi với mình thì cũng dễ dãi với người khác thôi. Nhưng với sức mạnh của một người con trai thì liệu cô gái chân yếu tay mềm kia không dễ dãi có được không?

Câu hỏi ấy càng gợi thêm trí tò mò và kích thích sự khám phá nơi tôi. Thế mà giờ đây chỉ có tôi và Thủy Nguyên trên chiếc nệm trắng muốt và êm ái trong một căn phòng đã khóa cửa trong, không thể có người thứ ba nào biết được. Và tôi cũng là một đứa con trai bình thường, cũng đầy tò mò và khao khát!

Sáng sớm mai tôi lại đi rồi và sẽ đi rất xa, chắc gì sau này có dịp gặp lại Thủy Nguyên, càng không thể có cơ hội bằng vàng nằm cùng với cô trên chiếc giường nệm trắng muốt như thế này một lần nữa. Ngón tay tôi đưa lên môi lúc nào không hay. Tôi dằn lòng, không thể, nhất định không thể! Tôi nghiến hai hàm răng, cắn phải ngón tay đau điếng, một lúc sau nghe người mình dần dần hạ nhiệt. Rồi tôi thì thầm:
- Nếu là có?

- Thì em sẽ là... của anh!
- Nếu là không?
- Không yêu mà như thế này hả?

Thủy Nguyên giận dỗi đẩy tôi một cái thật mạnh làm tôi lăn tròn. Ðột ngột tự ái của tôi bùng lên, sức mạnh của đứa con trai trỗi dậy. Tôi chồm lên cô như hổ vồ mồi. Nhưng tôi lại kịp đưa ngón tay lên miệng cắn thật đau một lần nữa. Thật trớ trêu. Sao người nằm đây không phải là người tôi yêu để tôi nói lời yêu thương ngàn lần, để tôi không phải kìm nén sức trai, để rồi tới đâu thì tới! Sao lại không phải chứ? Sao lại không phải chứ? Tôi càng nhớ người yêu quay quắt. Tôi cắn tay thật mạnh một lần nữa rồi nằm yên cho cơn đau lan tỏa khắp cơ thể. Khá lâu, chợt có ngón tay mềm mại gãi gãi vào lưng tôi.
- Bộ nhớ người yêu à?
Tôi không quay lại mà chỉ gật gật đầu.
- Chứ người yêu anh ở đâu, xa lắm hả?
- Xa lắm. Xa mà anh không bao giờ gặp được. Anh xin lỗi em. Anh không muốn lừa dối em (tôi biết rằng trước một người con gái mà nói về một người con gái khác là thằng ngu nhất trần đời nhưng không hiểu sao miệng tôi cứ nói, không dừng lại được), anh càng không muốn dối người anh yêu. Người ấy đã lâu rồi anh chưa gặp mặt, anh cũng chưa được cầm tay, chưa một lần hẹn ước nhưng anh luôn nhớ luôn thương và anh sẽ chờ cô ấy suốt đời...
- Hoang đường, thật là hoang đường!
Tôi cũng nghĩ là hoang đường. Tôi ước là hoang đường. Tôi cũng muốn quên đi lời dặn của cô ấy để bây giờ khỏi phải cắn mãi ngón tay đau! Nhưng biết làm sao bởi tình yêu bắt nguồn từ nhiều thứ, trong đó có cả niềm tin.
***
Sáng ra khi xuống trả phòng, cô nhân viên khách sạn nhìn chúng tôi cười cười đầy tình ý. Chúng tôi nhìn nhau cũng cười cười. Không ai biết chúng tôi cười gì. Chỉ có ánh đèn trần phòng 404 mới biết.

(Nghi Sơn, tháng 4-2006)

Trương Anh Quốc




Mục Lục


7. Chậu Hoa Tết Trong Trại Tù

Ðỗ Thành



Trời ui ui không chút nắng mà hết sức ngột ngạt Rét thì đã hẳn, nhưng cái rét giữa núi rừng càng thẩm thấu hơn. Sương mù vốn đã dầy đặc khó thở, càng ở thâm sâu càng đặc quánh và nặng khó thở hơn. Bọn tù chúng tôi cũng đã vêu vao lại càng vêu vao tợn. Thấm thoắt cuối năm lại về rồi mà tơ hao việc được thả về vẫn còn lảng vảng dạo chơi mãi tận đâu xa lắc, chưa có lóe chút sáng nào hết.

Những buổi sáng cả bọn vẫn phải thức dậy sớm chuẩn bị đi làm. Lon gô kêu leng keng, xộc xà xộc xệch như bọn hủi. Thằng nào cũng lẩm rẩm trong bụng nỗi nhớ nhà và xót xa cho thân phận mà phải dấu bưng không nói. Ai cũng sợ lời phát ra chẳng những vô duyên còn làm xao động tất cả nỗi lóng ngóng mong sum họp vốn đã lụi tàn theo ngày tháng.

Ấy vậy mà rồi bỗng nhiên trong đám tù lềnh khênh đi ra trại có tiếng ai đó la hoảng nhè nhẹ : lại Tết nữa rồi. Tiếng kêu trầm thống như tiếng con hươu tơ vừa bị trúng mũi tên hay như con hoẵng non vừa bị ông ba mươi ngoạm vào cổ. Chẳng những nó đánh thức những tế bào vốn sật sừ vì thiếu ăn, nhọc mệt mà còn lây sang đám cai tù đang xách súng lẽo đẽo dẫn bọn tôi đi lao động sáng nay.

Thằng lính ranh chửi um rất tục : mẹ chúng mày, thân tù chẳng lo còn bặng nhặng kêu tết với nhất. Giọng nó rất hằn học và như một tập quán thường lệ, thằng nhãi kéo lạch xạch cò súng khẩu AK nghe rốp rốp. Bọn tù chúng tôi quá quen với những thái độ lên gân hống hách này nhưng nghĩ chẳng dại “ ách giữa đàng quàng vào cổ “ nên cứ lẳng lặng bước đi.

Chừng thấy sự im thin thít của chúng tôi làm cho thằng lính mất oai đột ngột nên nó sủa tiếp : bố tiên sư chúng mày, nếu chẳng mắc đọa vì lũ tù thì giờ ông đã về dự Tết với u, có đâu lếch thếch dắt chúng mày như dắt chó. Chúng tôi hiểu ra và thấy thương cho nó hơn là trách.

Phải rồi, bọn thất trận chúng tôi bị băm vằm, hành hạ nào có gì lạ, nhưng bọn vệ binh là kẻ coi canh chúng tôi mà vì trách nhiệm vẫn phải ngong ngóng dạc dài đi theo thì đáng tội nghiệp thực. Chiến thắng cả bao ngày tháng rồi mà lời hứa cho một lần về phép vẫn chưa đến phiên họ làm sao hắn chẳng bực.

Trong đầu óc từng thằng lính trẻ con hẳn đã nghĩ chỉ yên độ dăm ba hôm là đứa nào cũng ào ào về quê hết thảy. Thôi thì ba hoa đủ thứ chuyện để kể với thày u, với người yêu nhỏ nhoi chờ chờ đợi đợi. Vậy mà phép đâu chửa thấy, lại ngang nhiên bị đày ải vào chốn rừng không mông quạnh này, ngày lê la vác cái súng đi, tối khắc khoải vì nhớ thương cô quạnh.

Ðối với bọn tù, tiếng kẻng oang oang xé màn sương sớm là lại một ngày vắt sức ra trả nợ cuộc thua, còn bọn hắn là kẻ đang nao nức với hào quang chiến thắng sao cũng hẩm hiu nào khác thân tù. Chúng tôi bị thất hứa tàn nhẫn đã đành, nhưng những lời ngon ngọt hứa hẹn để bọn trẻ hăng lên đường sao cũng vội nhanh lơ là đi thế.

Mấy tháng rồi, chúng tôi không được một lần tiếp tế nên thằng nào thằng ấy đói dài ra. Không một ai còn tin ngày về gần gụi, anh em đã có lúc sửng cồ nhau, tưởng có thể ăn thua đến chí mạng. Con người bị kềm chế dễ trở thành bức bách, nói chơi với nhau có thể dẫn đến loạn đả nhau. Khiến có tay phải bảo ban nhau : mình đã sa cơ đừng làm trò cười cho họ nữa.

Sáng nay lại một lần lời nhắc nhở của một anh suýt đã thành cái ung cho cả đám. Nhìn cặp mắt lừ lừ của bọn vệ binh, ai cũng phải giữ mình. Tránh voi không xấu mặt, nhất là gặp thứ voi điên, nên bọn tù đều nín thở qua sông. Có trách thân, oán thượng cấp thì cũng chẳng làm sao được. Thân thì đã trong tù, còn thượng cấp thì giờ ở tận đâu đâu ngó ngàng gì tới nữa. Bọn chúng tôi thua hận đau đã đành, còn đám vệ binh chiến thắng ngẫm ra có hơn gì chúng tôi đâu.

Cả bao ngày lầm lũi dãi dầu mưa nắng, bị cơn sốt quật lên quật xuống liên miên, có những thứ từ thuở nào giờ chưa từng để mắt đến thì nay thấu suốt không ai bằng. Những lá giang, cải trời, sâm đất lâu dần ai cũng biết, đi khổ sai chẳng ai bảo ai cũng dấm dúi hái xách về. Lại thêm nấu hà thủ ô hay các loại lá thổ tả nào đó uống thay trà và cho đen tóc, toàn những món lỉnh kỉnh để tự đánh lừa mình đừng quá mong ngày về mà nản.

Buổi chiều dù thân xác rã rời cũng bon chen “ cải thiện “ linh tinh với lon gô bắc thay nồi, hầu có thêm chút sức mà qua ngày đoạn tháng. Chẳng nói ra, ai cũng mong ngày tư ngày tết, trại cho nghỉ mấy hôm, nhưng trông như trông hạn chẳng nghe ai đá động gì hết. Mặt các tay quản giáo khó đăm đăm, bí xị tựa anh bị táo bón, lầm lầm lì lì. Có anh ánh lên được chút tia nhìn thương hại thì cũng vội xóa bay xóa biến ngay kẻo bị phẩm bình gay gắt giữa nhau.

Chúng tôi bị bao vây bởi trùng trùng dò xét, tệ hại hơn lại còn bị dòm dỏ bởi những chiếc “ ăng ten “. Dạo thịnh trị, ta đã sợ bọn nuôi ong tay áo, giờ thân tù với nhau lại đi tâng bốc kẻ giam giữ mình. Nhiều thằng đã ngấm ngầm đi mach lại để mong được về sớm, song đời nào họ cho nó về sớm uổng đi. Thằng đó đã táng tận lương tâm một lần tố cáo anh em thì khai thác nó sẽ còn nhiều lần khác tâng công nữa chứ. Phải giữ nó lại lâu hơn để còn moi móc thêm nhiều điều, cho nên có họa dại mới đi làm bọn theo voi hít bã mía.

Thậm chí anh em ngồi nói chơi với nhau thôi, chẳng động chạm đến ai, vậy mà ngay hôm sau bọn cai tù đã tỏ. Nhẹ thì xa xôi bóng bẩy dằn mặt nhau chơi, nặng thì bắt nghỉ, đưa cả lũ ra hội trường bắt ngồi nghe chửi. Ðại để là : bọn mày ngoan cố vô cùng, đảng đã tha cho tội phản quốc còn bày điều nói xấu đảng. Ngữ chúng mày chỉ có nước đem bắn bỏ cho xong. Bọn tù không hé môi, song ai cũng hiểu là họ chẳng nghĩa hiệp gì, chẳng qua tại vì sao đó mà họ đành để lại cái gai đâm nhói vào mắt họ thế thôi.

Thời gian lượn lờ, càng cuối năm bọn tù càng hết sinh khí. Tay chân người nào cũng nặng chình chịch hơn mang cùm, miệng đắng khô, cổ vươn ra như cổ rắn. Sương càng ngày càng dầy, mặn mặn mùi sương muối, bước vào cỏ nghe sàn sạt nhói buốt, nhìn khắp quanh chỉ có núi với rừng. Giữa mung lung sầu hận, bọn chúng tôi đã có người vắt ra thơ, nhưng dấu còn hơn của gì khác.

Hẳn nhiên đó là những lời thơ tâm sự, nhưng chắc lọt đến tai bọn quản giáo là khó được yên. Cho dù chỉ là những lời than thống khổ về một kiếp đọa đày có thực hay một cảnh ngộ rành rành. Bọn “ ăng ten “ nhân thấy Tết đến nơi càng xục xạo dữ. Chúng lân la hỏi chuyện với từng người, ngọt ngào như anh em ruột, để mong ai kia nhún lòng thố lộ gì ra là chúng đi “ tâu “ với ước vọng xuân này được tha về.

Như thường lệ, đời tù kín bưng kín bít, sinh hoạt trại tù cũng lơ lửng dửng dưng. Cho đến mãi tận ngày 28 mới có thông báo cho tù nghỉ xả hơi mấy ngày đầu năm mới. Ban quản trại còn tá ơm tổ chức một ngày họp mặt cuối năm ba hoa khoe về lòng đạo đức vô biên của họ. Ngoài những lời khoác lác thường lệ, họ còn đưa tin Tết này trại sẽ phát cho mỗi 2 anh một bao thuốc lá Ðiện Biên hoặc Phù Ðổng và mỗi người được thêm một miếng thịt lợn đàng hoàng. Họ cũng không quên kháo với bọn chúng tôi là thuốc Ðiện Biên, Phù Ðổng là loại bậc nhất sợi vàng mà chỉ những buổi chiêu đãi thượng khách mới có.

Thế là họ hí ha hí hửng với chúng tôi : sướng nhé, ở tù như các anh là nhất. Ðêm giao thừa hút thuốc liên hoan, khói thơm bên này sông bay sang bên kia sông còn thơm ngát. Lần đầu, được nghe có thuốc tay nào cũng sáng mắt lên, những tay không biết hút được o bế tận tình để xin nhường lại cho bạn mình. Thành ra không dưng trại tù cũng nhộn nhịp tuồng như ngoài đời lo sửa soạn Tết nhất vậy.

Buổi tối còn hơi có vẻ sinh động, đêm về nỗi âm u bọc kín từng tâm tự. Nhiều anh nằm lơ mơ không tài nào ngủ được, hết nhìn đình mùng đến mỏi mắt, lại lăn bên này trở bên kia, thở dài sườn sượt. Ai cũng thấy lững thững những khuôn mặt mẹ cha, anh em, vợ con, bè bạn ở nhà. Lao xao như cây ngô đồng trước ngõ, lục lạc như chiếc khánh gỗ đong đưa.

Những anh trước cùng đơn vị với nhau và biết rõ nhau nhờ tâm tình ngày cũ thì lào rào nhắc đến người này người kia, hoặc mất hoặc còn. Chẳng ai hỏi han đến những ông thầy của mình ngày cũ nhẫn tâm bỏ rơi đàn em để nhanh chân vọt chạy.

Ðêm trại tù đầy tâm tư thiểu não, những tiếng mớ thất thanh như bị cào xé ruột, những bàn tay chập chờn như vươn ra cố giữ một hình bóng thân yêu. Có anh được đánh thức dậy còn khóc lên rưng rức, một chút hình ảnh quê xa nào đó đang lảng vảng cấu xé anh.

Ði lao động hết ngày 28 thì được nghỉ. Ði làm thì nhọc mà nghỉ thì buồn. Kẻ ra người vào chẳng biết nói năng gì hết, thằng nào cũng nẫu cả người, lại có lệnh nhà nào ở nhà đó, không được qua lại linh tinh. Anh em châu vào nhau sát phạt với bộ tú lơ khơ hoặc người đánh kẻ chầu rìa ở bàn cờ tướng suốt ngày.

Chúng tôi còn lơ ngơ vì những tâm sự ngổn ngang thì lại có lệnh đòi đi làm công tác. Vài anh được gọi lên trại quản giáo sửa soạn bày biện để họ đón Tết đến nơi. Ðúng là mấy khứa được ăn và được nói, một hai cứ chê trách lũ tôi trốn lao động, chây lười, chỉ biết chắp tay sau đít sai lính.

Bây giờ mấy cha còn lợi dụng nước sông công tù của chúng tôi nhiều hơn ai hết, song họ luôn được bọc bằng cái vỏ rất kêu thuộc giai tầng “ lãnh đạo “ và một hai “ không làm thay “ cho ai cả. Lũ chúng tôi bóp bụng cười thầm, nói phét đúng là có bằng cấp. Những anh em bị bắt làm xâu hùng hục đứ đừ, anh hì hụi khiêng bàn khiêng ghế, chuyển dịch giường nằm, dựng bàn thờ lãnh tụ, cắt khẩu hiệu mừng xuân, người bị cắt cử đi gom những chậu hoa, lá cảnh của xưa còn sót lại để tô điểm bộ mặt ban quản lý trại tù.

Một hột nước cũng chẳng được cho hưởng, cứ chúi đầu làm, khát thì mò ra giếng tự giải khát với nhau. Làm miết mãi tới trưa mới xong, đám vệ binh lại lục tục dẫn tù về, các tay mệnh danh là ưu việt đến quên luôn một lời cám ơn, dù giả tạo. Ấy đấy, thân tù tội là như thế, còn gì đâu là nhân phẩm với xã giao.

Nói của đáng tội, trong bọn họ cũng có người hơi khác. Nhìn anh em tù làm cái việc chẳng phải của họ, một vài cá nhân có tỏ dấu thương tâm. Nhưng tình cảm ở chốn guồng máy sắt thép thì cũng đành đè nén cho thui chột đi kẻo bị chê là nhẹ dạ.

Trở về nhà, anh em kể lại với nhau, mượn quân bài, nước cờ để nhóc nhách truyền đến nhau sự châm biếm dấu mặt. Nhưng có một điều ai cũng thấy nhức nhối trong lòng là vật cũ còn đó, người xưa đâu rồi ?

Chỉ mới năm đầu tiên gọi là đổi đời thay kiếp mà sao nghe nặng trĩu trong tim. Chậu hoa Tết trong trại tù đã ngác ngơ tệ hại mà lũ chúng tôi nào có khác gì đâu. Mùa xuân năm thứ nhất sống trong cảnh xa nhà, ai cũng nghe tàn phai màu hoa dường như thời gian đã chết hẳn. Ai cũng nháo nhác nhìn nhau như tự hỏi khi nào về.

Ðặc biệt Tết năm ấy trời rét đâu rét lạ. Gió u u và cái lạnh muốn nứt da, tù đã phải khiêng những gộc cây vào giữa lán để đốt lên mong đuổi cái rét ra ngoài. Nhưng lại càng hầm hiu vì nỗi nhớ muôn trùng.

Sáng mùng Một, thằng nào cũng len lén nhìn nhau như xẻ chia sự trống vắng. Góc rừng thâm u càng se sắt với gió rung. Trông lên vạt núi cao lờ mờ con thác chảy ngoằn ngoèo như ẩn như hiện, tiếng con tác lạc lõng cầm canh, những tên tù chẳng bảo ra ai cũng mong mưa đổ ào xuống cho nỗi lẻ loi đừng bám chặt lấy mình.

Không nghe ai hỏi han nhau về lời chúc đầu Xuân như thông lệ và cũng không ai nghĩ ra mình đang đón Tết bây giờ. Chỉ còn giăng giăng tơ trời giữa bao la cô quạnh, đám quản giáo cũng chẳng có ai xuống gặp bọn tôi.

Trời lênh đênh, mây lênh đênh, cả từng ấy cuộc đời cũng lênh đênh mù mịt.

Ðỗ Thành




Mục Lục


8. Hắn

Hoa Bằng Lăng



Sáng đọc báo thấy ông huấn luyện viên của đội tuyển Việt Nam từ chức. Báo chí la ó um sùm sau khi đội tuyến thất bại. Hắn mắc cười quá.. Mới cách đây mấy tuần báo, báo chí cho ông huấn luyện viên và đội tuyển leo lên trời ngồi chót vót ở trên đó..Hắn cứ nheo mắt nhìn mãi ..muốn lủng mấy tầng mây mà vẫn không thấy tài năng vượt bậc của họ như thiên hạ nóị.Rồi hôm nay khi họ thất bại, pằng pằng một phát, họ rớt cái bịch xuống chín tầng địa ngục.. Ðúng là cuộc đời lên voi xuống chó chẳng biết khi nào mà lường trước được thật!
Ðôi khi những kẻ như hắn mà lại khỏe. Ai làm gì cũng được chẳng hề bận tâm. Bà con láng giềng nói này nói nọ, hắn cũng mặc. Có người nói hắn là kẻ vô tâm, chẳng để ý gì thiên hạ cả. Hắn cười. Tính hắn xưa nay thế rồi, hắn nghĩ hắn đúng là hắn mần, bất kể ai nói gì thì nói. Khi tức cái gì thì hắn hét choang nhà choang xóm. Tội nghiệp cho kẻ nào làm sếp hắn. Suốt ngày theo tính khí của hắn, ông sếp nào cũng đau đầu. Mà kể ra cũng lạ thiệt, tính hắn tưng tưng như vậy mà mấy kẻ làm sếp hắn rồi, ai cũng khoái hắn cả. Hình như hắn chẳng sợ cái gì cả. Ai mà sai là hắn cãi tới cùng..mà khi hắn không thèm nói nữạ.thiên hạ càng ngán hơn. Ai cũng nói thà rằng hắn nói nhiều còn hơn hắn im lặng ..làm người đối diện run! Với căn bệnh hay lý sự thẳng ruột ngựa của hắn , hắn thường “chửi” tới tấp khi thấy cái gì chướng mắt. Ai cũng kêu hắn dữ thiệt.. nhưng chẳng ai dám nói hắn sai, bởi lúc nào hắn cũng đúng. Ai cũng biết hắn chỉ có hai bit, hoặc số 1 hoặc số 0 mà thôi. Thành ra hắn mà đã nói thì chắc chắn là bit số 1 rồi. Có lẽ như thế nên hắn cũng được ông trời thương tình mà ban cho cái diễm phúc có những người bạn tương ngộ. Hôm qua hắn gọi điện thoại cho ông giáo sư – bạn già của cho hắn hỏi chuyện SàiGòn. Cái giọng miền Tây rặt cộng hưởng cái bực mình trong bạn hắn làm hắn cười ngặt nghẽo. Bạn hắn nói sao lúc này SaiGon đầy rác và đầy xe, ông bạn hắn không thể qua đường được. Mới hồi sáng này, bạn hắn kể rằng khi đứng trước hotel mà không thể qua bên kia đường được thì may thay có người lại giúp đỡ. Sau khi nghe sau, bạn hắn nói nó mần ơn chỉ mình cách lách qua đường mà mình tức quá cãi lại hết 10 phút ! Lại thêm cảnh đứng ló ngó như vậy nên bị thằng bé mời đánh giày. Bạn hắn hỏi:
- Chứ con đánh giày cho bác thì chân bác để đâu?
- Bác mang đôi dép con nè. Thằng nhóc trả lời.
- Nhưng lỡ con cầm đôi giày bác con chạy luôn thì sao ? Bạn hắn vặn vẹo hỏi lại y như cái tính hay vặn vẹo của hắn.
- Thì bác chạy theo con mà giựt giày lại. Thằng nhóc lại trả lời tỉnh rụi

Hắn cười ha hả khi nghe bạn già hắn kết luận là mất thêm 15 phút để cãi nhau. Rồi ông bạn già của hắn kể chuyện vô quán cafe không được chụp hình – lại cãi nhau thêm 15 phút, chuyện mấy ông nhà báo đến phỏng vấn- nghe một đằng viết sai chính tả một nẻo làm hắn cười ngất. Hắn có hỏi anh có nói gì liên quan đến chính trị như lần trước không, ông bạn hắn kêu không có..lần này « khôn » hơn khi phỏng vấn ở Vietnam rồi. Ông bạn hắn suốt ngày lang thang trên thế giới làm giáo sư thuyết giảng nhưng những chuyện như thế hình như chỉ gặp ở SàiGòn. Bạn già hắn hỏi có rảnh thì đi uống cafe không nhưng hắn lại sorry.. Hình như hắn chẳng còn thời gian dành cho bạn bè nữa từ ngày lập gia đình và làm sếp. Lúc nào hắn cũng bù đầu trong công việc. Sáng sớm khi thiên hạ đang yên giấc nồng thì hắn cặm cụi đọc sách. Cả ngày hắn bù đầu theo công việc. Tối mịt hắn về nhà lo cho con cái và gia đình. Không nghe tin tức trên tivi, không xem phim ảnh. Khiếp thiệt ! Hắn đang thành con rôbốt mất rồi. Mà đâu chỉ mình hắn thành robot đâu. Bạn bè và những người xung quanh hắn đang đều như thế. Chẳng ai có cơ hội gặp nhau nếu không có đám cưới hoặc đám ma. Có đứa gặp nhau từ hồi đám cưới đến hồi gặp lại do bạn bè nhắn tin đi điếu đám ma đị.cái thằng đó bị xe đụng chết queo rồi !!!! Khiếp quá!!!

Cũng may mà con mắt hắn còn biết hoen mi khi đọc báo. Con tim nó còn quặn đau khi nghe tin bão lụt miền Trung. Tay nó còn biết gõ lóc cóc để san sẻ những cảm nhận của mình trong cuộc sống..Chỉ sợ rằng khi thế giới phát minh ra robot thông minh thì không biết những cảm nhận đời thường của hắn có còn không nhỉ. Hắn không biết nữa....

Hoa Bằng Lăng




Mục Lục


9. Con Nước Rong

Huân Long



Kể từ tháng tám trở đi, nước bắt đầu giựt dữ. Nằm trên ghe, trơi tối nghe con nước vỗ dưới dạ ghe mà sợ. Tiếng rộp rộp như hào cào, Song e vỏ móp chịu không thấu bị đục lủng. Ðã vậy, nằm lắng ngóng tiếng ngáy của cha mà cô thêm sốt ruột. Ông già dường như hổng biết sợ mùa nước lên.

Ðã bao lần Song muốn hỏi cha : tía tính chừng nào thì lên bờ mà không dám. Cô áp lại gần gần là y như bao nhiêu can đảm đều trôi sạch. Cũng bởi thấy cha rị mọ đêm đêm ngồi uống khan tô trà đậm, bặp hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác, rồi dán tàn chi chít theo vách ghe, cô thấy thương cha vô hạn.

Ông già cặm cụi suốt một đời bám lấy sông nước, hết ngược lại xuôi, cần mẫn chịu đựng, tay chèo, mắt ráo hoảnh, ai hỏi gì hổng nói. Ðôi lần bắt gặp cha nhìn miết xuống đáy sông, cô cố thử đoán coi tía tìm gì dưới đó, rồi thấy cha gúc gúc cái đầu quay đi, thở dài sườn sượt, sau đó chun vô mui nằm, đốt thuốc nhả khói tùm lum, Song biết cha đang nghĩ nhớ chuyện gì đó.

Một thuở, Song nghe cha nói nhóng : sắp tới đám giỗ má mày. Rồi tía im bặt, mênh mông tựa con nước đêm khuya. Cô nhứ nhứ thưa với cha : con nghĩ mình lên bờ cho rồi, chớ tía lần sần trên sông, nhớ hoài chịu gì thấu.

Ông già quắc mắt lên giận dữ, song nghĩ sao lại dằn xuống. Ông nhỏ nhẹ nói với Song : tại mày chưa trải nên không thấu. Chớ má mày bỏ tao, thì tao nỡ bỏ bả sao đành. Tía thường chèo lẩn quẩn khúc sông má trợt chưn mùa nước giựt và trôi mất xác, lăm lăm cắm sào ở đó đúng đêm má mất để rồi ông già sụt sịt cả đêm.

Chèn ơi, nhớ gì nhớ dữ, nhớ tái nhớ tê, nhớ điên nhớ cuồng, Song tự hỏi sau này cô có chồng, liệu ảnh có mệnh hệ nào cô có nhớ như tía hôn. Bữa đó coi ông già như mụ mị, bị hốt hồn sạch bách, tay chưn lặp bặp, vấp chạm tùm lum, Song biết thì tía chống chế : già nên sanh tật.

Song biết cha dấu cô, ông già đang nhớ má vì đêm rồi cô nghe cha rột rẹt cái mũi, cô hỏi : tía đau sao đó, tía. Nhưng cha chối băng : uớ, hồi này trở lạnh nên cái mũi sanh bịnh đổ nước sơ sơ, chứ tía đau ốm gì mà mày càm ràm.

Năm nào cũng vậy, gần ngày giỗ má là tía y hệt vậy. Cái giọng tía nghẹn ngào, nức nở, ai mà không rõ, nhưng tía dấu quanh. Chỉ khi Song bất chợt gặp tía lén lấy tấm hình má dán ở căn cước ra coi, cô hỏi : bộ tía nhớ má hả thì ông già lại bẻ ngoặt đề tài sang hướng khác : nè mày hình chụp má mày lịch sự quá thể đó chớ. Hồi đó, tao giỡn chơi ngạo bả thằng cha chụp hình nịnh nên o bế chụp sửa cho bả đẹp, má mày ngắt tao muốn đau điếng. Tía nói rồi vạch tay áo lên định đưa cho cô coi vết bầm mà có gì đâu.

Tội nghiệp, ông già lỏn lẻn như chợt nhớ : ủa mà lâu lắc quá rồi, còn để dấu gì nữa. Tao thiệt lẩn thẩn, tía già lẩm cẩm, đừng trách nghe gái. Cô nghe mà chết điếng cõi lòng, mắt cũng muốn rưng rưng. Tối đó, chờ cha đi nằm, cô lẻn ra cuối ghe, thắp một cây nhang, cô lầm thầm khấn má : má ơi, má bỏ ba con chi cho tía nhớ hoài nhớ hủy. Má có sống khôn chết thiêng, má ráng dìa cất cái gánh nặng cho tía đi.

Vậy mà ông già ngửi thoang thoảng mùi nhang cũng vọt hỏi lên : mày thắp nhang làm chi đó, con. Song phải nói dối, nhưng ông già chặn đầu chặn đuôi, cô đành phải thưa thiệt : con thấy tía nhớ má rầu rầu hoài, nên con thắp nhang xin má phò hộ cho cha quên đi. Cô nghe lục cục cha cô di động rồi chỉ có tiếng thở dài vang ra.

Từ bận đó, cha cô làm tỉnh. Ông cố tỏ vẻ bình thản mà điệu bộ thì trái hẳn. Ông lình xình trên khúc sông buồn, chèo tới chèo lui, hà rầm quăng tấm lưới xuống xoạch xoạch. Có cá gì đâu mà hớt, tự ông làm rồi tự ông than : khúc sông này thuở nay nhiều cá lắm mà sao giờ quăng hoài hổng có một con. Rồi cha trách ba cái tàu ngoại quốc thả thứ thuốc ôn dịch đi dụ cá đi hết, Song nghe bắt nôn cười mà phải cắn ngón tay cho đừng ra tiếng.

Tâm hồn cha là rứa. Nhớ vợ thì cứ nói nhớ vợ, mắc gì che đậy cho khổ. Chung tình bộ ai cũng giống cha sao, tía phải hãnh diện cớ sao lại dấu. Song rất mến cha, ngặt thân con gái cũng có chừng có mực. Nhiều khi thấy cha sầu, cô ưng cha tìm được một người thay chỗ má để hai ông bà hú hí có nhau, nhưng tía nạt : mày, con nít trân, đừng bày đặt tính chuyện người lớn. Mày lo cái thân mày, còn việc tao để kệ tao.

Năm nay, nước rong sớm. Con nước rựng rựng suốt ngày, ui ui nhộn nhạo khó chịu. Cữ này, mùa lụt mới dữ đây. Song nghĩ đến sức mạnh của thiên nhiên vật đổ lăn chiêng mọi thứ mà ớn. Tiếng là sống trên ghe mà nào đã chắc gì, a thần phù gió lộng lên bựt đứt dây đỏi, lôi ghe trôi tuồn tuột, va vào cây ngả, đá ngầm cũng tiêu dên chớ bộ.

Nên Song muốn lên bờ, hai cha con kiếm chuyện gì đó sống, chớ bám con nước hoài, giàu có đâu tới phiên. Ngặt cái, ông già còn bịn rịn, làm như bỏ sông là tận tiệt nghĩa má với cha nên coi mòi cha không khứng.

Cuộc đời sông nước lâu cũng nhàm. Lênh đênh rày đây mai đó, hết ở dòng sông nước đỏ màu gạch, lại chui vào con rạch nước đục nhờ nhờ, ăn cũng nhờ ghe thương hồ, uống cũng nhờ dăm ghe đổi nước. Bỏ đi đâu cũng cắt người giữ canh ghe, sợ kẻ gian cướp phương tiện thì có nước ngủ bờ ngủ bụi.

Lại thêm, lâu lâu bị tàu tuần xét hỏi, hạch giấy hạch tờ, có đưa ra cũng bị hoạnh là giấy hết hạn hay bắt làm kiểm điểm này, kiểm điểm nọ. Mấy thầy chú lom lom nhìn Song như nhìn cục mỡ, hỏi tầm xàm đủ điều, có cha còn chọc lời ong bướm, gạ gẫm tía lia.

Chừng mấy chả rút đi, tía lại cằn nhằn cửi nhửi : mấy thằng lấc cấc nhìn con gái như ăn cướp. Song phải can ngăn vì đời sống khó trăm bề, lỡ bị úp vung, hổng ai cứu mạng được.

Vậy mà có một đỗi, cha con đã neo ghe lại một bến gần thành phố. Ông già định đóng chấu dài lâu. Bấy lâu sống miệt đồng, về thành phố tuy còn là ngoại ô cũng vui vui chút đỉnh. Ghe đậu cạnh một chiếc cầu xi măng, nhỏ như cái hạt mít, xe cộ qua lại xập xình, mỗi lần cầu rung rung, ghe cũng chòng chành theo ngồ ngộ.

Nhưng cái mùi sình đặc queo khiến Song khó chịu quá. Nó cứ xộc vô mũi ào ào như ai chọc que vô vậy. Nước nôi gì múc lên thấy mà ghê, Song không dám dội e bị ghẻ lở thì chết. Bởi vậy mà cha con dông lẹ.

Cha cô được thể có chuyện để từ khước mỗi khi cô mở lời này nọ. Ông già cứ lè nhè : thì đó, tao đã nghe mày neo ghe. Chưa lên hẳn bờ, chớ cũng mò dìa bến đậu, rồi có trụ nổi đâu. Mang tiếng thành phố mà nước còn thúi hơn bãi rác, may mà vọt lẹ chớ ở lâu chắc cũng tá lả bịnh rề rề.

Song nghe cha nói có lý nên cũng xà lơ. Vì dễ gì kiếm được một chỗ ở mà đòi lên bờ hổng biết. Cho nên bềnh bồng lại hoàn kiếp bềnh bồng. Mà còn ở trên sông nước ngày nào thì ông già cô còn nhớ, nhớ hoài tới bà má cô thôi.

Huân Long




Mục Lục


10. Ăn Tết Hụt

Nguyễn Thế Hoàng



Ðịnh cư tại Hoa kỳ ba mươi năm rồi tôi chưa một lần về Việt Nam. Thỉnh thoảng cũng muốn về để ăn một cái Tết ở quê nhà, đồng thời thăm viếng mồ mả ông bà, thăm lại cảnh cũ người xưa, bà con làng xóm, thăm bạn bè ai còn ai mất, họ đang làm ăn ra sao, họ đang sống như thế nào. Ðiều này cứ ám ảnh mãi trong tôi mỗi lần Tết đến trên xứ người. Năm nào còn chừng mười lăm, hai mươi ngày đến Tết lòng cứ nôn nao. Vậy mà cũng chưa thực hiện được mng qui cố hương để được nhìn lại nét đẹp truyền thống ngày Tết quê hương. Ra hải ngoại bao nhiêu năm cũng nêu cao, pháo đỏ, bánh chưng, trà hương, bánh mứt, mai vàng, lân múa xập xoè...ở các cng đồng người Việt, nhưng chưa đậm đà hương vị Tết như trên quê hương mình.

Suốt năm lo làm ăn thế mà tiền bạc không mấy dư dả. Công việc bề bn, tất bật suốt năm không ngớt. Nếu có để dành được trong năm, đến cuối năm phải lo mọi thứ cho cái Tết gia đình rồi đâu lại vào đó. Không còn dư lại đành hẹn Tết năm tới.

Ngọc, bà xã dễ thương của tôi và mấy đứa nhỏ cứ vài năm lại về Việt Nam một lần ăn Tết. Mỗi lần đi là Ngọc cứ thủ thỉ rù rì kêu nài tôi cùng đi cho có vợ có chồng theo như ý nghĩ của nàng là vui cùng hưởng, buồn cùng chia, có khó khăn vất vả giữa đường là có mà lo cho nhau. Nàng thật là con người quá lo xa. Nghe thì cũng mủi lòng thật mà trong dạ thì ngần ngừ nửa đi, nửa ở. Tôi lên nước làm eo nại cớ đi trọn b gia đình không ai trông nom nhà cửa, bỏ phế là mất sạch sành sanh, qua lại lấy gì mà ở, xe đâu mà đi. Không ai chăm sóc mấy cái bill nợ nhà, nợ xe, điện, nước...Ði nhiều người tốn tiền nhiều, có đi ít đở tốn cho gia đình có sao đâu. Thôi thì em và các con đi đi, phần anh thì dành cho năm tới. Năm tới, rồi năm tới nữạ..cứ mỗi lần Tết sắp đến lại hẹn.

Nghe người ta nói nhiều chuyện vui, chuyện buồn xảy ra mỗi ngày trên quê hương lòng cứ bâng khuâng điều này điều nọ. Phố phường nhà cửa bây giờ xây dựng ngổn ngang, vô trật tự, mất hết những dấu vết ngày xưa. Người xe tấp nập không lối chen chân. Thực phẩm thiếu vệ sinh, ăn vào thường bị tiêu chảy. Buôn bán giá cả thách trên trời dưới đất người mua không biết đâu mà mò cho đúng giá. Ðĩ điếm, trụy lạc tràn lan như nước vỡ bờ. Nạn cúm gà đang hoành hành dữ di. Tư bản đỏ lắm tiền nhiều bạc nhờ tham nhũng bóc lt người dân, bòn rúc ăn cắp tài sản quốc gia, vung tiền ăn chơi tiêu xài thật chóng mặt. Việt kiều bây giờ đã lép vế rồi, mất đi cái hào phóng ngày trước. Nhắc hai tiếng Việt Kiều tôi rất hoảng sợ. Tôi không dám nhận mình là Việt Kiều. Tôi chỉ là người dân đi lánh nạn cng sản một thời gian rồi về bà con ơi ! Ai cũng nhận mình là Việt kiều, khúc rut nghìn dặm để hãnh diện với người dân nghèo trong nước, để cho nhà nước việt cng ve vãn nút sạch núm rut. Còn người trong nước thì nghe đến hai tiếng Việt kiều nhất định họ nghĩ trong túi phải có một xấp đô la dày cm. Có đô la là có tiền đầy ắp trong túi tiêu xài ngớp mặt ai mà không ham chứ, để ăn chơi vung vít cho đời biết mặt. Hãnh diện cái mác Việt kiều, cứ thích tiếm dụng những tước vị kỷ sư, bác sĩ, giám đốc, chuyên viên...tài năng xuất chúng trên xứ người để cho đời ngp thở với mình. Tàn cuc, quay ra hải ngoại hì hục đầu tắt mặt tối xác xơ thân phận, è cổ ra kéo cày chẳng khác nào một tên cu li hạng bét. Thấy vậy cũng buồn cho người mình rồi chẳng muốn về nữa.

Mới năm ngoái, nhà tôi và mấy đứa nhỏ lại về, đã năn nỉ tôi cùng đi, vậy mà tôi cũng chưa đi. Có lẽ nhà tôi ghiền về Việt Nam lắm. Rồi Ngọc nhất quyết bảo kỳ tới, có nghĩa là hai năm tới anh phải về với em một chuyến, lần này em nói là anh phải nghe em. Tôi chưa có ý kiến gì với "chỉ thị" của bà xã, cũng vì chuyện về Việt Nam ăn Tết cũng chưa mấy hấp dẫn trong tôi.

Thế mà bây giờ cái "tiêu đề" về quê ăn Tết sao nó cứ sôi sục, thôi thúc trong tôi một cách hết sức hấp dẫn và thú vị. Còn những hai tháng nữa mới đến Tết mà tôi tất bật đủ chuyện. Lo dành dụm tiền bạc, chắt chiu từ nhiều phía cất riêng. Rút tiền từ một credit card để dành sẳn. Những số tiền này là ngoại lệ dành riêng không dính líu gì với ngân khoản mà nhà tôi chi cho. Dự tính làm đơn nghỉ hai tuần lễ cng với hai tuần vacation, vị chi tôi được rong chơi ở quê nhà tròn tháng vào dịp tết năm nay. Ðồng thời chuẩn bị những cái lỉnh kỉnh mà tôi nghĩ rằng cần phải mang theo trong cuc hành trình.

Tôi quá nôn nóng đem chuyện bàn với bà xã dễ thương của tôi để dò xét phản ứng của nàng có điều gì rắc rối không cho kịp thời giải quyết. Tôi biết đàn bà rắc rối lắm, không đơn giản, dễ dãi như những người đàn ông chúng tôi đâu. Tôi khôn khéo chọn một giờ giấc đẹp nhất trong ngày để tỏ bày tâm sự. Tôi vào đề :
- Em ạ, Tết này anh xin em để anh về Việt Nam ăn Tết nhen em. Em cho phép anh đi không ?
Nhà tôi chưng hửng :
- Hả ?! Anh nói cái gì ?
Tôi biết thế nào Ngọc cũng phản ứng thật đáng ghét. Tôi xuống nước, nói nhỏ nhẹ như rót mật vào tai nàng :
- Tết này em cho phép anh về Việt Nam ăn Tết một lần đi em ?
- Anh đi một mình hả ?
- Ừa ! anh đi một mình. Em đi nhiều lần rồi, giờ thì cho anh đi một lần chứ.
Ngọc đỏng đảnh trề môi :
- Sao anh không chờ năm tới về với em ? Ði một mình đâu có được. Em nhất quyết không cho anh đi về Việt Nam một mình đâu. Em nghe đồn nhiều rồi. Em sợ.
Tôi khẩn khoản nài nỉ :
- Ði một mình hoặc đi chung với em đâu có gì là khác, có gì em phải sợ. Anh đi, em coi nhà. Cùng đi hết nhà cửa không ai trông nom ?
Ngọc hạch tôi :
- Nhiều lần em bảo anh đi, anh nhất quyết không chịu đi, để em đi một mình buồn muốn chết. Giờ hà cớ gì anh đòi đi về Việt Nam một mình. Anh đi, em đi nữa, có chịu thì vợ chồng mình Tết này ăn Tết ở Việt Nam, em khỏi sắm sửa Tết nhất ở đây nhen anh ?
Mặt tôi bí xị, tôi lặp lại cái cớ :
- Ði hết, ai coi nhà hả em ? Mãy cái bill ai trả ? Sao em không ưu ái cho anh một lần có được không ?
- Anh đừng lo. Nhà đóng cửa, nhờ ông Mỹ hàng xóm trông giùm. Còn bill để đó về trả.
Ðúng là đàn bà lắm cái rắc rối. Biết làm sao bây giờ đây ? Tôi cảm thấy không được vui cho chuyến về Việt Nam một mình kỳ này. Nhưng tôi cũng chưa chịu thua bà xã của tôi. Tôi đang tìm cách thuyết phục.
Nhưng tối lại tôi được tin vui. Trong phòng ngủ, tôi đang nằm trên giường đọc tờ báo, Ngọc sà vào lòng tôi nũng nịu :
- Anh muốn về Việt Nam trong dịp Tết này, thôi thì em cho phép anh đi đó. Thấy anh năn nỉ, không được vui, em thương anh.
Nghe Ngọc thỏ thẻ nổi thương hại chồng thật đáng ghét nhưng lòng thì mừng vô cùng. Tôi ôm cứng Ngọc vào lòng nói ngọt như đường phèn :
- Cám ơn em. Anh cám ơn em vô cùng. Anh chỉ về vài tuần rồi qua mà. Anh về với ý định thăm mồ mã, xem xét để ước tính xây các ngôi m, sợ để lâu lạn mất có ti với bề trên, đồng thời để ăn một cái Tết tại Việt Nam mình cho nó vui vậy thôi. Ba mươi năm rồi, anh thiếu chuyện đó. Ðt nhiên lại thấy thèm em ạ ! Anh cảm thấy thèm ghê đị.!
Bà xã dễ thương của tôi nằm ép sát vào tôi lên nước dặn dò thật bài bản :
- Em chỉ cho phép anh về một mình lần này thôi đó. Lần khác có đi thì phải đi với em nghe chưa ? Về lo công việc rồi qua. Không còn ai thân nhân họ hàng, thì về ở nhà ông chú mà ăn Tết, không được lăng nhăng lít nhít chuyện gì nhé. Em mà biết được hả ? là anh khổ với em dài dài, đừng có trách em cơ.
Tôi tiếp tục ca bài ca con cá rất ư là cảm đng :
- Em ghen với anh nữa rồi. Ngoài em ra, những người khác đều vô nghĩa. Tin anh đi. Anh thề với em...
Nghe tôi nói thề thốt, Ngọc bụm miệng tôi :
- Tin hay không là quyền của em mà. Không có thề. Ðàn ông các anh khó ai lường được. Anh là chồng của em, em có quyền chăm sóc và gìn giữ anh. Ðừng có thắc mắc với em.
Tôi chỉ lo sợ Ngọc hiểu biết chuyện thì nguy mất. Tôi áy náy suy nghĩ, lo lắng. Ðã quá năm mươi, hai lần sinh nở, Ngọc vẫn trẻ đẹp mơn mỡn, trông qúi phái dễ thương lắm. Nàng là người vợ đảm đang trong gia đình và đã cho tôi một hạnh phúc toàn vẹn kể từ ngày cưới nhau. Ngày ấy, Ngọc và tôi cùng dạy học tại trường trung học công lập Duy Tân, Phanrang. Còn Lài, bạn gái rất thân của Ngọc cũng là cô giáo dạy chung trường. Cả ba chúng tôi đã trở thành những người bạn rất thân. Từ tình bạn chuyển sang tình yêu không mấy chốc. Tôi yêu Lài. Tôi lại yêu luôn cả Ngọc. Hai người bạn gái đồng tuổi, đồng tài sắc mười phân vẹn mười. Ngược lại cả Lài và Ngọc yêu tôi say đắm. Mối tình tay ba thật đằm thắm và khắn khít. Ngọc và Lài đều nhận ra rằng mình cùng đang yêu say đắm một người. Ai cũng muốn chiếm cho bằng được người mình yêu, vậy mà không ai tỏ ra giận hờn, ghen tị với nhau. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm cho tình yêu của những ngày tháng nóng bỏng đó.

Những lúc vắng Lài là có Ngọc âu yếm chia xẻ tình yêu bên tôi như bóng với hình. Khi Ngọc vắng mặt, Lài và tôi trao cho nhau tình yêu nồng thắm quấn quít bên nhau không rời nửa bước. Trước tình huống hai người bạn gái cùng yêu tôi một lúc, đôi khi tôi lại cảm thấy phân vân khó xử vô cùng. "Ðàn ông năm bảy trái tim - Trái trao cho vợ, trái tìm người yêu ". Hoặc, Sông bao nhiêu nước cũng vừa - Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng." Chuyện ông bà mình ngày xưa bảo người đàn ông là như thế đó. Bây giờ tôi biết đặt ai là vợ, ai là người yêu, vì hai người bạn gái đều cân phân vẹn toàn cả hai. Vợ thì ăn đời ở kiếp. Người yêu thì nay gần mai xa. Thật là khó xử cho tôi lắm người ơi ! Thương người này mà bỏ người kia thì cũng ti. Mà thương hết hai người cũng khó xử lắm cơ.

Tôi nảy sanh ra ý định rời bục giảng, ghi tên vào quân đi để nhờ thời gian và sự xa cách giúp tôi một thử thách chọn lựa. Nhưng càng đi xa, thì... em càng nhớ anh, thế mới khổ. Ngọc và Lài cứ đồng loạt cùng rũ nhau đi thăm tôi tại quân trường, ở các vùng đóng quân xa xôi vào những ngày cuối tuần hoặc trong các dịp nghỉ hè.
Cho đến lúc chuyện tình tay ba không biết có đẹp hay là không đối với Lài sau gần ba năm trời ươm mng. Còn với Ngọc thì đã vẹn câu thề khi tôi quyết định làm đám cưới với nàng. Ngày cưới của tôi và Ngọc, Lài đã ngẩn ngơ chua xót để buồn thương cho một mối tình mất mát.

Trước ngày cưới, Lài mời tôi và Ngọc dự bửa cơm đạm bạc tại nhà nàng. Lài chúc mừng vợ chồng tôi vẹn toàn hạnh phúc và cũng đừng bao giờ quên nàng.
Lài nói thẳng với Ngọc :
- Em chúc mừng anh chị. Hạnh phúc của chị có hôm nay cũng chính là hạnh phúc của em hy sinh cho chị. Chị biết chứ ? Em không có gì phải ghen tương hoặc trách móc chị, vì chúng ta mỗi người đều có duyên phận mỗi người. Với anh Tâm, em có duyên, không phận. Chúng ta hãy gắng giữ tình bạn cho nhau. Em chỉ mong chị một điều, hãy chăm sóc anh thật chu đáo để anh được hạnh phúc bên chị. Như thế chị Ngọc nhé.
Lài nói với tôi trong nước mắt :
- Không đưọc làm vợ của anh, chính đó là nỗi bất hạnh đối với em. Em thề có đất trời chứng giám, không được sống bên anh, em sẽ ở vậy suốt đời cho đến ngày nhắm mắt. Ngoài anh, em không thể yêu thương một người nào khác. Em hy vọng anh được hạnh phúc bên cạnh người vợ tài sắc của anh. Còn em, tình yêu anh vẫn không phai mờ trong tim em, anh Tâm, hãy hiểu cho em.

Chuyện tình tay ba kết thúc sau ngày cưới của tôi và Ngọc. Thời gian đi qua, tôi cầu xin mọi điều may mắn đến với Lài, giúp nàng tìm được niềm vui bên cạnh một người đàn ông vừa ý . Ðến một năm sau miền Nam bị giặc phương Bắc cưỡng chiếm, tôi đưa gia đình di tản tìm tự do. Từ lúc đó vợ chồng tôi không còn nhận tin tức về Lài. Chỉ một lần tôi được biết Lài vẫn còn ở trong nước, cùng vài người bạn vào Saigon mở tiệm may và sau đó không còn biết gì thêm nữa.

Ðối với Ngọc, thỉnh thoảng tôi nhắc đến Lài, nàng cảm thấy khó chịu và không bằng lòng. Những năm sau nữa, vài lần tôi nhắc đến Lài, Ngọc thẳng thừng nói với tôi :
- Em không muốn anh nhắc đến chuyện cũ nhất là nhắc đến tên chị Lài là em không thích. Trong tim anh chỉ có em mà thôi. Chuyện ngày xưa anh hãy quên đi nhất là chị Lài. Anh phải hiểu như thế cho em.

Thôi thì tôi phải nghe theo lời bà xã, nhưng trong lòng tôi vẫn còn vấn vương đến người bạn ấy với những suy nghĩ thánh thiện. Hơn ba mươi năm, đời sống của Lài ra sao ? Nàng đã lập gia đình chưa ? Tôi hy vọng Lài đang hạnh phúc bên chồng. Tôi đã không còn nghĩ gì đến tình yêu của hai người đã có trước. Tôi hy vọng được giúp Lài điều gì đó trong tình bạn mà mình có thể làm được.

Tình cờ mấy tháng trước tôi được đọc một tờ báo trong nước do một người bạn về Việt Nam mang sang. Khi đọc các mục quảng cáo tôi biết Lài đang làm chủ một xưởng may lớn. Trong trang quảng cáo xưỡng may của Lài có đủ địa chỉ, số điện thoại, cả địa chỉ email. Tôi mừng và dấu kín Ngọc việc này, vì Ngọc đã không còn muốn nhắc đến Lài cũng chỉ vì nàng không còn muốn tôi nhắc nhở đến người bạn gái ngày xưa.

Tôi khởi sự email cho Lài để thăm hỏi. Lài trả lời ngay sau đó. Lài rất mừng khi được biết tin tức về tôi và Ngọc. Lài vẫn giữ lời từ ngày đó, không lập gia đình với ai. Lài miệt mài với công việc kinh doanh hằng ngày, và phụng dưỡng cha mẹ già ở quê. Nàng vẫn còn nghĩ về tôi và Ngọc và hy vọng sẽ có ngày gặp lại nhau. Lài cho biết cuc sống tương đối đầy đủ và không còn mong gì hơn. Lài nài nỉ vợ chồng tôi Tết này về Việt Nam ăn Tết để được hi ng, vì xưỡng may cũng sẽ nghỉ nhiều ngày trong dịp Tết để nàng có nhiều thì giờ tiếp đón chúng tôi.

Tôi nhận lời về Việt Nam một mình trong dịp Tết này. Nếu có rủ Ngọc, tôi biết nhà tôi sẽ từ chối thẳng thừng, còn có thể ngăn trở chuyến đi của tôi. Thôi thì đi một mình cũng được, về thăm quê hương, ăn Tết một lần ở quê nhà, thăm mồ mả, thăm bạn bè, cảnh cũ người xưa và nhất là để biết được cuc sống của Lài một cách cụ thể. Email cuối cùng tôi cho Lài biết những suy nghĩ của tôi, ngày giờ về, chuyến bay và một vài chi tiết đón tại phi trường.

Còn mười hôm nữa đến Tết tôi thu xếp công việc. Ngọc căn dặn tôi việc gởi, nhận hành lý, lúc chuyển máy bay, khai báo hải quan...theo kinh nghiệm mấy chuyến đi vừa rồi của nàng. Ngọc nghiêm chỉnh cứ nhắc chừng tôi đừng đi rong chơi nhiều, coi chừng móc túi, bệnh tật lúc này nhiều lắm, không chừng chúng cuỗm hết giấy tờ, không còn để trở lại Mỹ mà nàng đã từng nghe và từng chứng kiến. Ôi thôi ! Ngọc nhắc đi nhắc lại đủ thứ chuyện nghe nhức cả cái đầu !

Chưa hết, Ngọc còn chọn những b quần áo thật đẹp của tôi và mọi thứ lỉnh kỉnh xếp vào một va ly đầy ắp. Những món quà Tết cho vợ chồng ông chú và của mấy người bạn của Ngọc được nàng ghi chú cẩn thận từng món xếp vào một va ly khác. Những món tôi cần mang theo thì Ngọc vứt ra, những cái tôi không thích, nàng lại xếp đầy trong hai va ly. Tôi chịu trận để cho bà xã muốn sao thì muốn, căn dặn điều gì đó thì căn dặn, thật ra thì mình cũng không đến nổi nào ngu ngơ, và cũng muốn chuyến đi được êm thắm, nếu rủi, lỡ Ngọc thay đổi ý định thì tôi cũng chẳng biết làm sao bây giờ.

Lúc ngồi trên máy bay lòng tôi nôn nao, bề bn những suy nghĩ. Tôi đang nghĩ về Lài nhiều hơn cho chuyện gặp gỡ sau hơn ba mươi năm. Nếu ai bảo rằng dứt khoát quên đi như Ngọc thường nói với tôi thì chắc chắn cũng khó có thể dứt khoát được. Tôi vạch cho tôi chương trình vui Xuân ăn Tết trong những ngày đầu năm trên quê hương. Nhất định tôi phải thuê phòng ngủ để thuận tiện thăm Lài trong thời gian ở Saigon. Tôi phải về nhà vợ chồng ông chú, đi trao quà Tết cho những người bạn của Ngọc, đi thăm mồ mả, thăm vài người bạn thân... trở lại Saigon cùng Lài đón giao thừa, mừng Xuân, đi du ngoạn các thắng cảnh...và còn những tiết mục khác sẽ có sau đó để cho qua hết ba mươi ngày được phép về quê ăn Tết. Càng phác họa, suy tính, lòng tôi rn lên niềm vui như chưa từng có.

Phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất trong quang cảnh nhiều thay đổi không còn gì quen thuc trong ký ức của tôi. Tôi cũng đã nghe nhiều về b mặt đất nước đổi thay sau ngày đổi chủ. Ba mươi năm thời gian nửa đời người, sự khác biệt giữa quá khứ và hiện tại là điều phải xảy ra.

Người Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới về Việt Nam ăn Tết đông đảo. Hôm nay ngày đưa ông Táo về trời, lượng ngưòi về nườm nợp. Họ đi và về hằng năm không biết mệt mỏi cũng vì tình cảm con người luôn gắn bó với quê cha đất tổ. Từ lúc xuống máy bay, nhìn mọi nơi tôi chẳng còn tìm thấy một khuôn mặt quen thuc. Tôi cảm thấy đang như kẻ xa lạ, lạc lõng giữa lòng quê hương không còn gì gắn bó ràng buc.

Làm thủ tục hải quan, nhận hành lý, tôi vi vã tiến ra khu vực thân nhân đưa đón đang lố nhố dày đặc người. Lòng tôi càng lúc càng nôn nao kỳ lạ. Sự mệt mõi sau những giờ ngồi trên máy bay bị lắc lư nhồi xốc vì thời tiết xấu đã không còn nữa. Tôi đang chuẩn bị tinh thần để nhìn ngắm người bạn cũ ba mưoi năm lắng sâu trong tiềm thức. Mọi người nối đuôi nhau bước qua khu vực chờ đợi. Hai tay tôi kéo hai va ly, mắt thì nhớn nhác tìm kiếm Lài trong đám đông người dày đặc trước mặt.

Ðã năm phút, tôi vẫn chưa tìm thấy Lài giữa đám đông. Có thể nàng đến trễ hoặc đang đứng một nơi nào đó chờ tôi. Xung quanh tôi bao nhiêu cảnh đưa, đón diễn ra đầy nước mắt cũng như vang vang tiếng cười thật náo nhiệt và cảm đng. Lòng tôi se thắt và chùng xuống trước cảnh kẻ ở người đi, hoặc vui vui trước nổi reo mừng đoàn tụ của người trở về. Ðt nhiên, Lài đến bên cạnh tôi lúc nào không hay. Lài ôm chầm lấy tôi sau lưng, reo lên trong tiếng cười giòn giã :

- Anh Tâm ơi ! Em đây nàỵ.! Anh Tâm ! Anh không nhận ra em sao ? Em đã nhìn thấy anh từ đằng xa kìa.. và...và .em làm cho anh ngạc nhiên đâỵ..anh Tâm...

Lài ôm cứng bất ngờ sau lưng tôi khiến tôi không kịp phản ứng. Tiếng nói của Lài hồn nhiên và tươi vui quá. Vẫn là giọng nói ngọt ngào trong trẻo ngày xưa tôi đang có lại. Giọng nói nhẹ nhàng ấy đã cuốn hút tôi vào tình yêu của nàng ngày ấy thật mãnh liệt. Tôi thả vi hai va ly xuống đất, xoay người lại. Lài cũng vừa buông hai tay ra. Chúng tôi nhìn nhau trong say đắm lòng bồi hồi xúc đng. Niềm vui đang tràn ngập trong ánh mắt, nụ cười, trên nét mặt rạng rỡ của hai kẻ đã từng một thời yêu nhau và xa cách nhau. Tôi nắm hai bàn tay mềm mại tươi mát của Lài kéo nàng sát vào người, nhưng rồi tôi kịp thời dừng lại. Tôi nhìn Lài kỹ hơn. Lài vẫn trẻ đẹp như ngày nào chẳng một thay đổi nào khác trên dáng sắc đài các của nàng.
Tôi nói :
- Nếu anh nhìn thấy em trước là anh nhận ra em liền. Em không có gì thay đổi. Ngày trước thế nào, ba mươi năm sau vẫn vậy. Xa nhau lâu rồi mà cứ ngỡ như ngày hôm qua.
Lài nheo đôi mắt nhìn tôi cười thật tươi, nét mặt nàng sao quyến rũ lạ thường :
- Anh Tâm ơi, anh biết không, em gặp lại anh, em mừng lắm anh Tâm à. Mừng vì được gặp lại anh ngày hôm nay. Mấy đêm nay em đã không ngủ được, chỉ chờ đợi giây phút được gặp anh. Nhờ trời, cuc sống của em bình thường, ăn, ngủ, làm việc, vui chơi bạn bè... hồn nhiên vô tư, em chẳng suy nghĩ hoặc lo lắng gì, thỉnh thoảng thoáng nhớ đến anh và chị Ngọc để cho lòng ấm lại. Còn anh...anh Tâm.....anh có nhớ đến em không hả anh Tâm...?

Lài nói một thôi dài như trút cạn tâm sự bị dồn ép từ lâu, chúm chím đôi môi hồng xinh xắn lạ thường, cười mũm mĩm nhìn tôi đắm đuối. Ðôi mắt đen long lanh quyến rũ ấy, đôi môi hồng xinh xắn ấy đã một thời làm tôi điên dại cõi lòng, giờ đang ở trước mặt tôi. Bao vấn vương tình yêu một thời của hai người đang bừng dậy trong lòng. Bây giờ cũng đôi mắt này, đôi môi này đang chờ đợi, mời gọi, khiêu khích. Lài nhìn tôi say sưa trong nổi mừng rỡ và cuốn hút....Tôi đang ngất ngây tê daị, nhưng cố kiềm lòng. Tôi thoáng nhìn chỗ khác, rồi giả vờ cúi xuống nắm hai quai va ly để cố tránh nổi đam mê đang bc phát của người yêu cũ. Tôi nói như để giải thích cũng bởi tình cảm đt biến không còn kiềm giữ được như để vui lòng người bạn gái :
- Em, sau bao nhiêu xa cách, chúng mình không gặp nhau, giờ gặp lại em, anh xiết bao vui mừng. Anh sẽ có nhiều thì giờ để chúng ta hàn huyên trong một tháng về đây ăn Tết. Ăn Tết bên cạnh em. một tháng dành trọn cho em, Lài ạ.
Lài vẫn hồn nhiên như ngày xưa khi tôi nói những điều gì vừa ý :
- A hả ! Phải là như thế với em. Nhớ đó nhen anh Tâm. Em muốn anh phải ở bên em tất cả thời gian anh về đây. Hơn ba mươi năm, em mới có được ngày hôm nay. Anh Tâm, anh có hiểu lòng em không ? Anh Tâm, anh có suy nghĩ gì về em ? Ðừng để em thất vọng, vì em cũng đã hy sinh cho anh chị nhiều lắm rồi. Anh trả lời em đi, anh Tâm.
Tôi không trả lời những câu hỏi tới tấp của Lài, cũng vì tôi lại rất lo ngại phải trả lời những điều Lài vừa hỏi trong lúc tôi cũng vừa quân bình được tinh thần. Tôi giả tảng nói sang chuyện khác :
- Mình về bằng cách nào ? Em có thể gọi cho anh taxi, chúng ta về.

Lài xuýt xoa :
- Cứ mãi vui mừng gặp gỡ nhau rồi quên mất. Em đưa anh về. Anh hãy đến chỗ này chờ em đi lấy xe.

Tôi đứng đợi Lài sau chừng năm phút. Nàng lái chiếc Camry màu bạc đến. Chúng tôi đưa hai va ly lên xe. Chiếc toyota đời mới vun vút trên đường. Ngồi bên cạnh Lài, tôi nhìn nàng rõ hơn. Lài cùng tuổi với Ngọc, vẫn đẹp, vẫn còn trẻ măng như Ngọc. Chiếc jupe màu tím than, với áo lụa trắng mỏng, không tay, hở cổ, sít sao, nổi bật làn da trắng mịn, những đường nét khêu gợi cơ thể. Mái tóc thật dày, đen mượt xỏa tràn xuống đôi bờ vai cân đối trên vùng ngực nâng cao phập phồng theo hơi thở.. Lài đẹp rực rỡ, quí phái, càng nhìn càng say đắm cuốn hút. Tôi lại đang bị ngây ngất trước nhan sắc rực lửa nhìn Lài không chớp.
- Gớm ! anh nhìn em say sưa dữ di thế, em có gì khác không hả anh Tâm ?
- Chẳng khác gì, và còn đẹp hơn ngày xưa. Người đẹp, lái xe đẹp...thế mà cứ ở vậy đến già. Có thể nhiều kẻ si tình, tương tư ...ti nghiệp cho họ.
Lài tỏ ý không bằng lòng :
- Anh nói cái gì ? Cho đến giờ phút này, anh Tâm vẫn chưa hiểu em. Ngày xưa đã có lần em nói như thế nào với anh rồi, sao anh chóng quên. Ðời em chỉ có anh, không còn ai ngoài anh, và em, em như thế. Còn ai si tình, tương tư là quyền của họ.

Tôi bồi hồi vừa xúc đng vừa cảm phục đức tính chung thủy của Lài đã dành cho tôi và nghĩ rằng mình cần phải tôn trọng người bạn gái mình nhiều hơn . Tôi nghĩ không nên nói thêm gì nữa vì hôm nay tôi đâu còn cơ hi. Tôi nói lãng sang chuyện khác :
- Em giúp anh lấy một phòng ngủ nào đó gần nhà em để anh dễ dàng đi lại với em trong những ngày về đây.
Lại một lần nữa Lài lườm tôi tỏ ý không bằng lòng điều tôi nói. Nàng phụng phịu sa sầm nét mặt :
- Em ghét anh nhiều lắm rồi đấy, anh Tâm, anh có biết không ? Trong email em đã nói với anh, giờ anh lại nói khác đi. Anh phải để cho em một cơ hi chăm sóc anh dù rất ngắn ngủi. Anh về đây là phải ở với em cho dù anh không muốn. Anh phải nhớ như thế, đừng làm điều gì khác ý em.
Nói xong, Lài nhìn tôi say đắm trong ánh mắt đen long lanh như cuốn hút tôi. Lài nói tiếp :
- Anh hãy cho em một điều kiện. Nghĩa là, em đặt anh đâu là anh ngồi đó trong thời gian anh về đây ăn Tết. Ðược chứ anh Tâm ? Sự hy sinh tình cảm của em dành riêng cho anh chị và trong bao nhiêu năm em sống một mình, buc em đặt anh một điều kiện như thế. Nhà em có nhiều phòng, anh được tự do theo ý muốn, anh chớ lo chỗ ăn, chỗ ngủ...em sẽ chăm sóc anh hết mình như chị Ngọc đã chăm sóc anh hơn ba mươi năm qua. một tháng anh ở bên em, chưa bằng ba mươi năm ở bên chị Ngọc, anh có nhận thấy em đang chịu thiệt thòi. Ðó là điều kiện, mà em nghĩ rằng anh Tâm không nở quay lưng với em.
Từng lúc tôi lại như đang bị thôi thúc, nói chẳng suy nghĩ :
- Anh chẳng có ý kiến. Anh đang bị em bắt cóc rồi.
- Cứ nghĩ như vậy đi anh. Trong bao nhiêu năm chị Ngọc "cầm tù" anh. Ðối với em, chỉ một tháng em giam lỏng anh trong nhà em, thật hết sức nhỏ nhoi, ngắn ngủi. Anh cảm thấy bằng lòng chứ ? - Không bằng lòng cũng không được và cũng không ai nở từ chối lòng tốt của em.
Nói thì nói vậy mà trong lòng cũng hơi lo, rủi mà Ngọc biết được cũng không để tôi yên, mặc dù Lài và Ngọc là hai người bạn rất thân.
Ðã 5 giờ chiều. Xe và người di chuyển trên các con l đông đặc không lối chen chân. Người, xe đâu mà lắm thế này. Lài rất vất vả lách tránh để tìm lối đi. Tất cả đang như chờ húc vào nhau và tai nạn sẽ xảy ra liền liền trước mặt. Phố xá rực rỡ, náo nhiệt trong quang cảnh những ngày giáp Tết. Tôi không còn đoán được những con đường mình đã đi qua. Tất cả như xa lạ khiến tôi cảm thấy chóng mặt. Lài nói :
- Thành phố thì chật, người ở đâu tràn về mỗi ngày mỗi đông, nhất là xe gắn máy nhiều vô số kể. Có hôm ra phố, em chỉ muốn đi b còn nhanh hơn anh ạ.
- Nếu bảo anh lái xe, có lẽ anh chịu thua thôi.
- Vậy mà không xảy ra tai nạn thế mới tài chứ. Ai ai cũng quen lối sử dụng công l theo kiểu bát nháo này.

Nhà của Lài nằm trên đường Thạch Thị Thanh, một tên nghe lạ hoắc mà trước đây chưa hề nghe, gần Dakao đi vào từ hướng đại l Vỏ Thị Sáu. Ðó là dãy nhà trệt được phân ra nhiều căn theo kiểu nhà phố, chiều sâu rất dài và có nhiều phòng. Lài cho xe vào sân và cùng tôi đưa 2 va ly vào nhà. Lài dẫn tôi đi qua từng phòng từ trước ra sau. Nhà có máy lạnh, đầy đủ tiện nghi cho một gia đình trung lưu ở đất Saigon . Mọi vật được sắp xếp thứ tự, ngăn nắp, không thừa thãi và dễ thương. Lài chỉ cho tôi một phòng phía trước kế phòng khách dành riêng cho tôi, có giường nệm trải drap thẳng tắp cùng các tiện nghi để tôi sử dụng trong thời gian ở Saigon cũng vì tôi đã yêu cầu như thế qua email. Lài nhắc tôi thay quần áo, tắm rửa, nghỉ ngơi và nàng khởi sự chuyện bếp núc.

Tôi phụ Lài đem các thức ăn lên bàn ăn ở phòng ăn phía sau. Nàng líu lo :
- Em đã chuẩn bị những thức ăn lúc sáng để đãi anh. Mọi thứ từ lớn đến nhỏ cho cá nhân anh, em đã lo cho anh đâu vào đấy. một giờ nhỏ nhoi bên anh là một giờ em sống trong hạnh phúc. Em chỉ cần như thế thôi. Từ giờ phút này em đang sống trong hạnh phúc mà từ lâu em mơ ước bên anh, khi anh và em cùng ăn bữa cơm tối đầu tiên tại nhà em. Em cũng đã mua sắm mọi thứ đâu vào đấy để anh và em vui một cái Tết trọn vẹn. Anh Tâm, anh có cảm thấy vừa ý không ? Anh hãy đón nhận nguồn hạnh phúc với em, vui vẻ và thật tình với em nhé, anh Tâm.
Tôi đang bị dồn vào thế chẳng đặng đừng,lòng cảm thấy rất vui và nói thật tình :
- Nhất định như thế. Như em đã nói, em đặt anh đâu, anh phải ngồi đấy. Anh về chuyến này cũng để ăn một cái Tết thuần túy trên quê hưong mà bao nhiêu năm rồi anh chưa có lại được, và nhất định là phải ăn Tết bên cạnh em, nếu không em sẽ giận anh .
- Cám ơn anh. Như thế là em mãn nguyện rồi. Em sẽ tổ chức một party dạ vũ tại nhà vào chiều 30 Tết, mời một số bạn rất thân của em đến dự, trong đó, anh là thượng khách của bữa tiệc. Em sẽ giới thiệu anh với các bạn của em, vì thỉnh thoảng em có nhắc đến anh cho các bạn em nghe. Ðến khuya thì chỉ còn hai chúng mình cùng thức đón giao thừa.
Lài ngừng nói, gắp thức ăn vào chén, nàng tiếp :
- Từ ngày mùng 1, mùng 2 Tết trở đi em sẽ lái xe đưa anh đi thăm viếng Dalat, Nhatrang, Vũng Tàụ..nếu có đủ thì giờ chúng mình đi Hà Ni, cùng vài nơi khác trong thành phố. Sau đó chúng mình về chúc Tết ba má em nhen anh Tâm ? Ðồng ý với em chứ ?
- Không đồng ý sao được, nếu không thì anh chẳng về Việt Nam chuyến này. Cũng vì em mà anh về một mình, nếu không, anh sẽ phải đi cùng Ngọc.
Lài hỏi thăm về Ngọc và hai đứa con của tôi. Nàng phân trần :
- Em không có ý gì với chị Ngọc, giữa hai người, em vẫn quí trọng tình bạn. Ngày trước em và chị Ngọc cùng yêu anh, anh hiểu chứ ? Em lại không được cơ may sống bên anh. Nếu em quyết chiếm được anh thì cũng chẳng khó khăn gì. Mỗi người đều có một duyên phận. Em đành chấp nhận hy sinh, có lẽ chị Ngọc không thông cảm cho em, em buồn thật đó.
- Anh rất quí và cảm phục em đã chấp nhận sự hy sinh đó. Lài nhìn tôi say đắm :
- Anh Tâm của em ! Bao nhiêu năm anh lập gia đình với chi Ngọc và sống trong hạnh phúc, anh đã nghĩ gì về em ? Anh còn yêu em như ngày nào nữa không ? Em nghĩ rằng ai cấm được anh điều đó, cũng như ai cấm em yêu anh hả anh Tâm ? Anh hãy nói cho em nghe đi. Em thích nghe.
Tôi biết thế nào Lài cũng trở lại chất vấn tôi chuyện đó mà trên đường đi từ phi trường về nhà lúc xế chiều cũng như qua email nàng cũng đã hỏi. Trong khung cảnh rất riêng tư im vắng hôm nay giữa hai người tôi phải trả lời như thế nào đây để không phiền lòng hai người đàn bà đang yêu tôi. Tôi nói thật lòng :
- Em cũng đã biết, anh yêu em, cũng như anh yêu Ngọc, Lài ạ. Sự có mặt của anh hôm nay trước mặt em đã nói lên điều đó. Nhưng Ngọc cũng là người vợ tuyệt vời của anh, anh yêu nàng và tình nghĩa vợ chồng luôn mặn nồng. Từ lúc đã không được sống bên em cho đến hôm nay, anh luôn mong em tìm được người bạn đời theo ý muốn. Cả Ngọc cũng thế. Trưóc đây nếu em là vợ của anh thì cũng đâu thua kém gì Ngọc. Lài ạ, em hiểu cho anh, có được chuyến đi về với em cũng không mấy dễ dàng vì Ngọc đâu muốn thả anh đi một mình, còn nằn nặc đòi đi với anh. Trong email anh đã hứa với em, nên bằng mọi cách anh phải dối Ngọc để không thể thất hứa với em.
Nói xong, tôi cảm thấy nhẹ người. Lài trề môi :
- Anh nói, em tin. Nhưng mà coi chừng thiên hạ bắt cóc anh nếu anh đi lạc. Ðất Saigon này giờ ghê lắm, anh chưa biết đấy thôi. Chị Ngọc cũng cẩn thận gìn giữ anh ghê gớm. Nói thật, không ai dám bắt cóc anh ngoại trừ em. Em có thể bắt cóc anh và giữ anh mãi mãi trong ngôi nhà này. Em làm được chuyện đó rất dễ dàng, vì em yêu anh, đơn giản thế thôi. Anh Tâm, anh sợ không, cần là em ra tay ngaỵ..em nói thật, nhiều đêm nằm suy nghĩ, em ấm ức.
- Bắt cóc anh em có lợi gì đâu, còn phải lo nuôi anh, chứ ở Việt Nam anh không thể làm nên tích sự gì.
- Em đủ sức nuôi anh, bảo bọc anh suốt đời anh Tâm ạ.
Tôi nói thêm cho Lài biết rằng tôi ở tại đây vài ngày rồi về quê thăm gia đình ông chú, trao quà Tết cho mọi người, sẽ vào lại trước 30 Tết. Chúng tôi tiếp tục chuyện trò đến khuya xoay quanh những kỷ niệm ngày xưa và cuc sống hôm nay. Tôi cố gắng gìn giữ trong lúc hai người đang ở bên nhau vì nghĩ rằng chúng tôi đã không còn cơ hi. Hãy mãi giữ tình yêu này trinh nguyên với thời gian và nhất là tôi đã dối Ngọc để có được sự gặp gỡ Lài hôm nay.

Sáng hôm sau, Lài đưa tôi đi thăm xưỡng may của nàng với hơn một trăm công nhân làm việc, Lài và một người bạn gái đã đứng ra kinh doanh gần ba mươi năm nay. Ba mươi năm dài, Lài đã tạo nên sự nghiệp vững vàng và tôi rất cảm phục. Lài giải bày :
- Sau tháng 4/75 nghe tin anh chị di tản, em tìm cách vượt biên , nhưng còn ba má em không nỡ rời xa. Chế đ này đã buc em nghỉ dạy học, buồn quá, em cùng người bạn vào Saigon kiếm công ăn việc làm. Từ đó, em và bạn em đã phấn đãu mới có được ngày hôm nay. Giờ thì em chỉ cầu xin cuc sống được an bình là em mãn nguyện lắm rồi.
- Anh chúc mừng em. Ðời sống em đã ổn định, anh an tâm cho em, anh đâu còn gì có thể giúp em nữa.
Lài cười ngất, bông đùa :
- Nếu anh sa cơ thất vận thì anh nhớ chạy về với em nhen anh Tâm. Lúc nào em cũng dang hai tay đón anh .....chờ anh mãi cho đến ngày cuối cùng.

Tôi ở cùng với Lài vài ngày kế tiếp. Chúng tôi bên nhau chuẩn bị cho một cái Tết thật huy hoàng đầy đủ. Tôi và Lài đi mua sắm, trang hoàng nhà cửa để đón Xuân. Chiều nay, Lài đi vắng lo một số vấn đề cần giải quyết cho công việc xưỡng may cuối năm và có thể sẽ về trễ hơn. Tôi thu xếp mọi thứ ngày mai về quê thăm gia đình ông chú và trao quà cho mọi người chừng một hai hôm rồi trở vô ngay với Lài trong ngôi nhà này..
Ðang thu xếp vật dụng trong hai va ly, đt nhiên, điện thoại nhà reo, và tiếng nói đầu dây bên kia là của Ngọc.
- Alô ! Anh yêu của em đó phải không ?
- Anh đây. Em và con khỏe chứ ? Em đang ở đâu gọi anh thế ? - Em và con vẫn khoẻ. Anh ạ, anh khỏe không ? Em không ở bên Mỹ. Hiện em đang ở nhà ông chú ở Việt Nam đây. Anh đã về Việt Nam đến mấy hôm nay rồi, anh đang ở đâu vậy ? Sao không thấy anh về nhà ông chú ? Anh trả lời em nghe đi.
Vừa nghe xong, tôi ngỡ ngàng đến hốt hoảng. Không lẽ tôi đang trong giấc mơ. Tôi vi tìm cách bào chữa.
- Em ạ, anh đang ở nhà người bạn, ngày mai anh sẽ về quê nhà ông chú. Em về Việt Nam lúc nào ?
Tiếng Ngọc gằn từng tiếng trong điện thoại :
- Anh yêu của em, anh nói thật đấy chứ ? Em không tin. Chứ không phải hiện anh ở nhà chị Lài hay sao ?
- Em có nói đùa với anh không ?
- Em không đùa với anh, anh ạ. Em nói anh nghe nhé, email của chị Lài gởi cho anh, anh in ra và em đã tìm thấy nó dưới tập giấy của anh để trên bàn viết sau ngày anh đi. Do đó, em mới biết được, và còn biết cả địa chỉ, số điện thoại để em gọi cho anh đây. Em xin lỗi anh. Em yêu anh, em đâu có thể để cho anh như vậy được, nên em đã về Việt Nam liền ngày hôm sau xem anh đang làm gì. Ðúng không ông chồng yêu quí của em ? Hiện anh đang làm gì tại nhà chị Lài, nói em nghe đi ?

Tôi nghẹn ngào. Cổ họng tôi dường như nghẹt cứng không thốt được lời nào. Mồ hôi lấm tấm trên mặt, đôi tai lùng bùng, tay run rẩy. Tôi cố tìm cách biện minh, nhưng chưa tìm được điều gì hửu lý. Tiếng Ngọc lại vang vang trong máy :
- Anh của em, ngay bây giờ anh phải về ngay nhà ông chú với em, để ngày mai vợ chồng mình lên máy bay về Mỹ ngay. Vé máy bay em đang lo. Không có Tết nhất gì cả. Chồng em như thế, em còn gì để nghĩ đến Tết. Phải về Mỹ gấp ngày mai anh ạ, vì em phải gởi con nhà người bạn. Em đi bất ngờ không xin phép công ty, coi chừng bị đuổi mất việc. Từ nay em nhất quyết không để cho anh về Việt Nam một mình như thế này nữa đâu nhé. Nguy hiểm lắm cho cả anh và cả em. Em nói cho anh nghe, lúc em xuống máy bay, em muốn đi thẳng đến nhà chị Lài ở Saigon nhưng vì danh dự và lòng tự trọng của cả ba người đã dằn em xuống không cho phép em làm như thế. Anh hãy hiểu cho em. Anh về với em ngay bây giờ tại nhà ông chú nhen anh. Em đang chờ anh. Yêu thương anh lắm, anh biết không ?

Dứt lời, Ngọc cúp máy ngay, và tôi cũng mong như vậy để tìm phương kế giải quyết. Suy đi nghĩ lại không còn cách nào hơn là nên rời khỏi nơi này. Rời khỏi nơi này là ổn thỏa đôi bên. Ðối với Lài, tôi sẽ phân trần, năn nỉ, xin lỗi và an ủi nàng sau. Ðối với Ngọc, tôi phải giữ hạnh phúc trọn vẹn với nàng.
Tôi tìm giấy, viết cho Lài :
Lài thương yêu,
Anh không thể cùng em ăn Tết như chúng ta đã chuẩn bị. Ngọc đang có mặt tại Việt Nam và hiện đang ở nhà ông chú của anh. Vì anh sơ sót, Ngọc đã đọc được những email của em đã gởi cho anh.
Em thông cảm cho anh. Anh đã hiểu em vẫn yêu anh. Em sẽ buồn anh nhiều. Anh hy vọng nổi buốn đó sẽ dần dần vơi đi. Anh sẽ viết thư cho em sau khi anh về bên đó. Vì danh dự và lòng tự trọng, nên Ngọc đã không đến đây đối mặt cả anh và em. Chúng ta cám ơn Ngọc lối xử thế tốt đẹp đó. Ðồng thời, anh xin lỗi em, hãy tha thứ những sơ sót của anh.

Trong những ngày sống bên em, anh hiểu thêm về em. Anh hẹn em vào dịp khác. Cầu mong tình yêu của chúng ta mãi mãi trong sáng, thánh thiện và vĩnh cửu. Chúc em an lành trong mùa Xuân này.
Anh của em
Tâm

Tôi để tờ giấy viết trên bàn giữa phòng khách, lòng đau xót bồi hồịTôi đứng tần ngần vài phút nhìn quanh cảnh thân yêu trong ngôi nhà mà tôi cùng với Lài đã trang hoàng, sửa soạn để chuẩn bị cho một cái Tết huy hoàng và hạnh phúc. Tôi cố thu hết cảnh trí thân thương mà trong những ngày qua tôi và Lài quấn quít bên nhau. Từ giờ phút này tôi phải xa cách vĩnh viễn mang theo những hình ảnh thân thương đang sắp mất đi.

Nhìn đồng hồ, tôi kéo vi hai va ly ra khỏi nhà và vẩy taxi để đến bến xe. Thành phố xung quanh tôi vẫn diễn ra cảnh ồn ào náo nhiệt trong không khí Tết. Thế mà tôi phải rời xa nó biết đến bao giờ mới trở lạị..!

Nguyễn Thế Hoàng




Mục Lục


11. Quên

Vành Khuyên



Trong đời , từ trước đến giờ tôi muốn quên rất là nhiều thứ .

Hồi nhỏ đọc cái câu châm ngôn " cố quên là cố nhớ " tôi cười khẩy , tính ngạo mạn không bỏ , được , để bà xem sao .

Rớt đại học lần đầu , sau phổ thông, cái tin đó ném tôi vào đời , những buổi sáng không còn thức dậy sớm tới trường, thấy vui làm sao , nhưng ba tôi thì không vui , ông bảo tôi đi đăng ký học rua , học thêu mai sau phục vụ chồng con . Bụng dạ tôi nghĩ " chồng con con mà cần cái bàn tay cần mẫn trên miếng vải nhỏ xíu đó á , trời , thôi cho ổng làm luôn đi , tính con không thích mấy cái đó " .. Ba tôi đâu có chịu , mỗi sáng, ông lôi đầu tôi dậy , bắt tôi xách xe ra đường học cảnh ngoài đời, đi tìm chỗ nương thân , làm gì cũng được , trưa về báo cáo ông xem đã làm gì .

Có ngày dang nắng , tôi bực ba tôi dễ sợ , nhức đầu thấy má , đời đưa đẩy sao , tôi vào trường các bà sơ dạy học rua , học móc , đời mới đá , tôi nghĩ dô đây là yên nhất . Ngày nào tôi cũng dậy sớm , đứng trước cổng nhà thờ đợi mở cửa , vào ngồi bên ghế đá rua , móc , đợi tới giờ vào học . Cuộc đời mới êm đềm làm sao , học cho có học , biết thế đã học may , giờ may được thì kiếm khối tiền, rua móc bây giờ quên mợ nó mất , đồng bạc kiếm không ra, coi như ba tôi công toi , tôi muốn quên chuyện đó lắm mà cứ nhớ hoài , nhục không chịu nổi .

Chả phải đời đá không, ngay sau khi thi rớt , bồ tôi cũng đá tôi , mà cha này kỳ thiệt nha , đá cũng không lựa lúc đá , đá ngay khi tôi vừa bị đời đá , hận đời một , hận thằng chả hai . Ngay trong khuông viên nhà thờ , tôi hí hửng mở thư thằng chả ra đọc mới đưa tôi tối qua , không dám đọc trong nhà, hôm sau đến trường học rua , thêu , sớm lấy ra đọc , tay tôi run run , mắt tôi mờ đi , thằng chả nói chẳng muốn dính dáng gì tới tôi và không hẹn hò gì nữa . Một bà sơ đi ngang , thấy tôi như là mất hồn, lại nắm vai , tôi chỉ khóc quay đi , như mà bây giờ , tôi sẽ vỗ nhẹ vào vai sơ trấn an " everything will be ok "

Chuyện đó cũng nhục , muốn quên mà vẫn nhớ .

Từ đó , tôi hết dám yêu ai , hết dám tới nhà thờ vì bình an tìm không có mà tôi chỉ mang những điều không vui vào những nơi tôi nghĩ là thanh tịnh nhất trong cuộc đời .

Tôi hiểu tôi phải đi tìm một nơi thanh tịnh vĩnh cữu nhất ở ngay trong tâm lòng mình , nơi đó , chỉ có tôi , không ai có thể quấy rầy , ngay cả ngoài đời ngang dọc, bất an, tôi vẫn thấy mình thanh thản .

40 năm trôi qua , tôi ráng giữ lòng mình thanh tịnh như lòng của cô gái ngày nào cấm mình đừng dại yêu ai nữa và đừng khóc trước mặt ai .

Nhiều lúc tôi đã tin tôi thóat khỏi cô gái đó , nhưng trong tôi , thật sự tôi cố gắng rất nhiều để mong quên được cô gái đó đi mà tập đối đầu với cuộc đời , nhưng trớ trêu sao , cố quên là cố nhớ , ờ phải , càng muốn quên , hình ảnh cô gái đó vẫn về trong tôi đến thường lệ , nhắc tôi mỗi ngày không được khuấy động cái thanh tịnh trong lòng mình .

Tôi hiểu tôi vẫn là cô gái đó , vẫn cố quên nhưng thật ra bắt mình nhớ lại từng chi tiết một của bao nổi nhục, những ê chề tôi trải qua .

Quên , muốn chứ mà dễ làm sao ...

Thôi đừng bảo mình quên gì nữa nhé ...

Vành Khuyên




Mục Lục


12. Gởi Người Phương Ấy

Hà Khánh Phương



Dù xa cách mấy trùng dương
Ở đâu cũng có quê hương trong lòng (*)

Ðã bao nhiêu năm, tôi và người xa nhau. Cái xa nhau ngút ngàn chưa tìm lại được một lần. Tại ai, tại tôi, tại người ? Tôi làm sao biết được. Nhưng tôi lại nghĩ, có lẽ tại định mệnh, chúng mình có duyên mà không nợ nhau, chỉ vậy thôi.

Bước chân ngập ngừng, tôi đi qua con đường cũ, con đường thân quen ngày xưa chúng tôi có nhau. Sân trường giờ chỉ còn những khuôn mặt xa lạ, cây xanh, ghế đá, cảnh vật không mấy thay đổi, nhưng lòng tôi là cả một bầu trời đổi thay !

Ngày tôi được học lớp chuyên ngành ( hàng ngang của công chức) chỉ hai năm là xong khóa học, ngạch trật khác nhau và thấp hơn người. Người học lớp cao (hàng dọc của sinh viên) bốn năm mới kết thúc khóa học , khi ra trường giữ chức vụ có khi là chánh sở (của tôi không chừng) có khi là một trưởng, phó quận, tùy theo điểm đậu. Ngày ngày chúng tôi gặp nhau tại bãi xe của viện (QGHC nằm trên đường Trần Quốc Toản) đâu có nói với nhau lời nào mà hình như ánh mắt của chúng tôi đã quen nhau từ lâu lắm rồi. Rồi một dịp rất là tình cờ, ngày ấy tôi bất cẩn đánh rơi chiếc chìa khóa xe lúc nào không biết nữa, lóng ngóng mãi không biết làm sao trong lúc các học viên đã ra về hết, tôi vừa ra cổng học viện định nhờ bác bảo vệ trông hộ xe, thì người đã có mặt từ lúc nào và nói với tôi :
- Có chuyện gì vậy ?
- Không có gì đâu.
- Cô có cần tôi giúp gì không? Hình như bác bảo vệ đang muốn đóng cổng.
Ngượng quá, khi không lại nói sự vô ý của mình cho người lạ nghe sao. Mà bằng không thì cứ thế nào đây, đúng là phụ nữ khi có việc gì đột xuất là không nhạy bén mà suy nghĩ ra. Bên tai lại nghe lời thúc giục :
- Sao, tôi giúp cô được không, đừng ngại gì hết, mình học chung học viện, hằng ngày đều gặp mặt, đâu phải là người lạ.
- Nhưng tôi có quen anh đâu.
- Tôi thì không lạ gì cô và hình như tôi đã quen cô từ kiếp trước.
- Tôị..tôi...
- Sao, ngại gì, cô cứ nói thẳng ra.
- Tôi… tôi…mất chìa khóa xe.
- Chuyện nhỏ, để tôi dắt xe cô ra ngã tư nhờ người mở khóa.
- Nhưng xe đã khóa cổ.
- Vậy để tôi ra đó chở người vào mở khóa xe, sau đó làm chìa sau .
- Dạ, cám ơn.
Lần đó, tôi về nhà trể gần tiếng đồng hồ, vì tội bất cẩn mà còn phải mang ơn người dưng.

Hôm sau, tôi cố tình đi học thật sớm để tránh mặt ai, nhưng vẫn gặp, và chỉ gật đầu là lủi vào phòng học ngay, khi về tôi cố nán lại để hỏi giảng viên những điều tôi chưa hiểu. Thật tình tôi chưa muốn ra về lúc nầy. Nếu rủi gặp mặt lại người thì biết nói gì đây, cũng tại mình lẩn thẩn quá, thôi đành chịu khó một chút vậy. Về trễ một tí cũng chẳng sao, miễn là không gặp được người đã biết sự lơ đãng của mình. Không phải tôi là người hàm ơn rồi vội quên ơn đâu nha. Nhưng mà xấu hổ lắm, phụ nữ mà lại không cẩn thận gì hết, mắc cở chết được. Tôi vô tư lái xe trở về nhà, mà bên tai lại nghe lời ai nói thật nhỏ :
- Làm sao mà về trễ vậy ?
Quá ngạc nhiên, tôi quay lại bắt gặp một nụ cười duyên dáng và thật tươi đang chào tôịThật là uổng công tôi né tránh, nhưng tôi cũng vui vẻ trả lời “người ơn” :
- Có chút việc vậy mà.
- Cho phép tôi đi cùng đường cô nha.
- Ðâu phải đường của riêng tôi đâu.
- Vậy à, gần tới nhà cô rồi đó.

À, thì ra mi đã đi theo để biết nhà ta rồi. Sao mà nhanh thế. Lần sau sẽ không thèm nói chuyện gì đâu, lại nữa ngoài đường chạy xe song song nguy hiểm quá, mi không biết sao?
Rồi cứ thế tôi một mạch chạy xe về nhà không nói thêm lời nào. Vậy mà có yên thân đâu, ngày nào cũng gặp mặt, cũng thấy nhau, cũng cái gật đầu chào người – người ơn mà.
Một thời gian sau, chúng tôi quen nhau. Ban đầu vì nể lời mời, chúng tôi có vào quán uống nước giải khát một đôi lần. Sau rồi tới những quyển sách, truyện, tiểu thuyết dịch, làm nhịp cầu thông cảm cho chúng tôi thân nhau hơn. Những giờ nghỉ cách khoảng giữa tiết học, chúng tôi thường đứng trên hành lang của giảng đường, hoặc ngồi trên băng đá, hay đi bách bộ dưới những hàng cây có tàng rộng lớn tỏa bóng mát trong học viện.

Chúng tôi quen và thân nhau chưa được bao lâu, tôi bị một tai nạn giao thông ngay trước cửa bệnh viện Métropol trên đường Trần Hưng Ðạo, và đã được các bác sĩ nước ngoài cứu chửa kịp thời, sau mười mấy tiếng đồng hồ được chuyển vào bệnh viện Chợ Rẫy điều trị nội trú mấy tuần lễ, và thời gian mười mấy tháng điều trị ngoại trú.
Khóa học của tôi chỉ có hai năm, nhưng vì tai nạn, tôi phải học và nghỉ để dưỡng thương, tổng cộng trước sau đến bốn năm. Trong thời gian nầy, người vẫn đến thăm tôi với một tình cảm của một người bạn thân hơn ngày nào. Với những năm tháng tôi và người đã vượt qua mức tình cảm bạn bình thường, chúng tôi có những buổi hẹn đi chơi, ăn uống, xem phim, dã ngoại như câu cá ở Tân Thuận, đạp xe ra xóm vịt ở Q8, chèo thuyền ở Bình Quới (có người nắm sợi dây đưa đi, cho thuyền khỏi lật)
Những buổi lễ chùa trong những ngày Rằm với những bông hoa sen tinh khiết và tươi thắm, chúng tôi khấn nguyện với đấng thiêng liêng kết hợp cho chúng tôi được trăm năm tơ hồng.
Người thích hoa sen và thường nói :
- Hoa sen tươi thắm và tinh khiết như tên em, như tình của chúng mình.
- Nhưng tên em là Bạch Liên chứ đâu phải như cánh hoa hồng liên nầy.
- Hồng hay bạch gì cũng đẹp, anh thích hết cả hai, hoa và người.
- Nhưng anh không sợ em bị xe tông rồi khùng bất tử sao?
- Ðẹp người lại đẹp nết mới quí chứ.
- Cho anh ở đó mà nói đẹp với không đẹp, em về mất tiêu rồi.
Tôi bỏ anh đứng đó một mình, và đi gần như chạy nhanh ra cổng chùa, mặc những lời kêu vói của anh.

Rồi anh cũng hối hả chạy theo tôi, trên tay không quên cầm những bông hoa sen mà ở chùa, nhà sư mới vừa cho lộc. Về đến nhà, anh còn cẩn thận cắm những hoa sen vào bình rồi dâng lên bàn thờ của ông bà tôi với tấm lòng thành kính của một cháu rễ tương lai. Tôi và người đã có những giây phút thật đẹp bên nhau, không vướng bận những bon chen vật chất xen vào. Cả hai chúng tôi vẫn còn vẹn giữ mối tình nồng thắm, chưa ai muốn đi đến hôn nhân vội, nên đã thỏa thuận chờ vài ba năm tới mới quyết định việc chung nhà.

Thời gian đầu người được bỗ nhiệm làm quận trưởng ở một quận nhỏ trong thành phố Sài Gòn, nhưng chỉ vài năm sau người được về giữ chức vụ quận trưởng một quận lớn, có bề mặt kinh tế tầm cở trong nội thành Sài Gòn của ngày trước. Tất cả những khó khăn mà gia đình tôi phải gánh chịu về đủ phương diện, từ việc trong nhà cho đến ngoài xã hội, người đều nhiệt tình giúp đở, người đã ém nhẹm việc cậu em tôi trốn quân dịch nhiều năm.
……….
Năm 1975, miền Nam hoàn toàn thay đổi.

Người đã rời xa tôi, rời xa đất nước quê hương để lại một mẹ già đầu tóc bạc phơ. Những tất bậc của cuộc sống và những trông ngóng đợi chờ vô vọng đã khiến người mẹ già của người mõi mòn nhớ thương, chỉ vài năm sau đã qua đời mà vẫn chưa nhận được tin tức, thư từ, chưa nhận được cái vuốt mắt của đứa con độc nhất mà lúc nào bà cũng nghĩ còn bé và dại khờ, cho dù hằng ngày tôi vẫn viếng thăm, chăm lo, an ủi bà, như một con dâu săn sóc cho mẹ chồng, một người mẹ thật sự cô đơn vì mất con. Theo năm tháng gia đình tôi cũng có những người thân gởi xương thịt vào lòng đất để mãi mãi đi vào cõi hư vô vĩnh hằng.

Những tình cảm, những ân cần người đã dành cho tôi, cho gia đình tôi thật là nhiều, thật nhiều… tôi nhớ mãi làm sao quên được, làm sao nói cho hết được những gì của ngày ấy. Ðã bao nhiêu năm, người chưa một lần về lại quê nhà, chưa một lần thư từ liên lạc, hỏi thăm. Không biết người còn hay mất, tôi đã nhiều lần nhắn tìm, vẫn không được tin gì ngoài những ngóng trông vô vọng. Người có biết người mẹ mà người rất quí trọng và thương yêu với tình thương cả cha lẫn mẹ kể từ khi cha người mất lúc đứa con trai chỉ vừa được mấy tuổi, mà đã từ lâu người mẹ ở quê nhà đã qua đời, đã không còn sầu nhớ đứa con không có ngày về để cư tang báo hiếu mẹ, và người vợ chưa kịp cưới vẫn ngày ngày cô đơn trông ngóng người xưa luôn phải đối phó với bao nhiêu nghiệt ngã của cuộc đời đầy gió táp mưa giông vẫn luôn vượt qua cơn bão lòng.

* Thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà

Hà Khánh Phương




Mục Lục


13. Tết Ta

Trần Thành Mỹ



Hằng năm Tết đến, nhà nhà đều chuẩn bị đón Xuân. Người Việt ta thường lo sắm Tết từ đầu tháng chạp và chào mừng năm mới không chỉ có ba ngày như phần đông các nước Tây phương mà đối với dân ta « Tháng giêng là tháng ăn chơi » sau một năm làm lụng vất vả. Chủ yếu là nông nghiệp, ở thôn quê, mùa gặt đã xong, ai cũng muốn thoải mái nghỉ ngơi, tổng kết thu hoạch, rút kinh nghiệm năm vừa qua, đặt niềm tin hy vọng vào năm tới. Hơn thế nữa với truyền thống đẹp mang bản sắc dân tộc có lý có tình có hậu « Cây có cội nước có nguồn », « Ăn trái nhớ kẻ trồng cây », dân ta có tập tục tiễn biệt năm cũ đón mừng năm mới thật sáng tạo thơ mộng hòa đồng với người hòa hợp với đất trời.

Tết ta theo âm lịch nên luôn luôn không bao giờ có trăng. Tùy tháng chạp thiếu đủ, ngày cuối năm sẽ là 29 hay 30 trái với Âu Mỹ theo dương lịch nên đêm giao thừa có khi lơ lửng vầng trăng treo. Tập tục đón Xuân một phần ảnh hưởng do đêm trừ tịch không có bóng dáng chị Hằng nầy. Cuộc kết thúc nào cũng thường có hai mặt tích tiêu. Nó biểu hiện cho sự vỉnh viễn ra đi và ngược lại tia sáng ở cuối đương hầm, niềm hy vọng vào tương lai. Ðêm tối cũng làm cho ta hoang mang lo âu bồn chồn tưởng tượng đến bao chuyện không may và cũng là thời gian liều thuốc cần thiết Thần ngủ ru ta vào giấc mơ an dưỡng. Ðây còn là điểm cuối xuống hàng sang đoạn qua trang của một ngày hay năm, giới hạn giữa ngày và đêm, tối và sáng, cũ và mới âm dương.

Xưa kia, người Việt ta tin vào Thần quyền, những đấng khuất mày khuất mặt linh thiêng nên có những tập tục thờ cúng sùng bái đa dạng phong phú theo bản năng tự nhiên, bảo thủ thường không nặng tính khoa học thành rườm rà mơ hồ khó tin khó giải thích làm người đời sau cho là mê tín dị đoan.

Thật ra với nếp sống chạy đua nước rút của thời đại ngày nay, thời giờ là tiền bạc, tất nhiên là nên đơn giản hóa mọi việc để thích nghi. Nhưng không thể vứt bỏ hết mọi thứ vì những tập tục cổ truyền vẫn là dấu mốc quá khứ, chứng tích hữu hình, tâm linh của ông bà ta theo dòng lịch sử dựng và giữ nước. Nhờ đó ta mới truy nguyên ra được tâm tư nguyện vọng, lòng yêu nước, óc tiến thủ, sáng kiến, quyết tâm khai phá của một dân tộc hiếu hoà chỉ muốn sống còn trong độc lập tự do truyền lại cho thế hệ mai sau.

Vốn gốc là dân đi khai phá khẩn hoang lập nước, phải tranh đấu triền miên với khí hậu « sơn lam chướng khí », thiên tai, giữ đất giành độc lập tự do, kinh nghiệm máu xương đó cũng góp phần cốt yếu cho tình yêu quê hương, gia đình, tính biết tiên liệu, vui hưởng nhất là ôn cố tri tân luôn nhớ công lao của tổ tiên cùng nhau nhìn về phía trước. Tết quả là cơ hội đặc biệt hòa hợp với thiên nhiên thực hiện tổng hợp các thành tố trên phân biệt hẵn thế nhân với sinh vật khác trên quả địa cầu.

Thử lướt qua không khí Tết khắp nơi trên thế giới, phải công nhận là Tết ta rộng rãi quá, làm cho con người xích lại gần nhau hơn, tìm lại chính mình, nhớ đến cội nguồn, hòa đồng thân thiện.Trẻ em Tây phương chẳng hạn, với nền văn minh cao, đầy đủ tiện nghi vật chất, thế mà chắc chắn là không bao giờ có cái tâm trạng háo hức được quây quần đoàn tụ đùm bọc đón Xuân như trẻ em Việt ta. Trẻ em Âu châu có thể còn thích thời gian lễ Giáng sinh hơn vì Tết thường dành cho người lớn. « Nói có sách mách có chứng », vậy chúng ta hãy cùng nhau hồi tưởng tìm hiểu một vài tập tục đón Xuân trong mỗi gia đình mà ngày nay phần đông ít ai còn nhớ đến hoặc chỉ làm theo tập tục. .
Thật ra ít có dân tộc nào mà tinh thần đón Xuân cao và lâu như ta. Từ đầu tháng chạp cuối năm là đã lo chuẩn bị rồi, tùy theo hoàn cảnh gia đình như lập chương trình như đưa con về thăm nội ngoại, quà biếu xếp lớn xếp nhỏ, gia đình họ hàng, quà « lì xì » cho con cháu của mình, bạn bẻ và cả hàng xóm láng giềng. Ít có ai đi du lịch chơi xa trong thời gian nầy khác hẵn với người Âu Mỹ chỉ chờ được dịp nghỉ là « bồng bế nhau lên nó ở non » dự những cuộc thể thao với tuyết băng về mùa Ðông, du lịch Cruise trên biển cả ở các quốc gia có nắng.
Tết của ta cũng có thủy có chung, kéo dài từ tháng chạp cuối năm sang năm mới cả tháng giêng. Chúng ta chẳng những vui hưởng chung với nhau mà còn biết hòa đồng với thiên nhiên sinh vật khác và thanh cao mầu nhiệm hơn với bên kia thế giới chúng sinh, cõi vĩnh hằng vô lượng.

Không giải thích cụ thể rõ ràng rành mạch được những vấn đề tâm lý trừu tượng vô hình siêu nhiên, phải phục ông cha ta đã khéo dựa vào cái không không ấy thành có như trừ trừ thành cộng, những chuyện mà ngày nay thế hệ trẻ cho là hoang đường mê tín thành những bài học hữu dụng. Dựa vào kinh nghiệm sống phải đương đầu với bao thiên tai về phong thổ thời khí, khai hoang lập ấp dựng bờ mở cõi, săn đuổi thú dữ để sống còn gầy dựng, tổ tiên ta phải thông minh kiên trì gan dạ mới tạo đươc cho con cháu hậu sinh một giang sơn gấm vóc hình chữ S ngày nay.

Tập tục rước ông bà về với con cháu chiều cuối năm và tiển đưa mùng 4 hoặc mùng 7 đầu năm chứng tỏ lòng nhớ ơn của một dân tộc biết đoàn kết sống theo bước tiến của cha ông. Trước khi muốn ai đến nhà mình thì mình phải trân trọng đến mời, đó là học phép xử thế. Lễ tảo mộ thường bắt đầu từ nửa tháng chạp là bằng chứng cụ thể rõ ràng con cháu chẳng những lịch sự mà còn hiếu thảo « giẫy mả » sơn phết lại mộ phần cơ ngơi của người quá cố để cùng nhau đón Xuân. Tổ tiên ta há chẳng đã hé mở cánh cửa văn minh cho chúng ta rồi sao ? Phép xã giao « tại gia » đã được truyền dạy trước từ lâu.

Vì thế người ngoại quốc sẽ lấy làm ngạc nhiên khi thấy trong những ngày đầu năm ông bà về thì bàn thờ khói hương nghi ngút, sáng tối dâng trà, trưa chiều cúng cơm, giàu thì mâm cao cỗ đầy, nghèo thì tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia đình. Thật ra, đây chỉ là dịp để bồi dưỡng thêm sức, gặp mặt vui chơi sau một năm làm việc mệt nhọc, xóa bỏ xích mích giận hờn. Có ở xa đâu đi chăng nữa, « Tết nhứt » cũng cố sắp xếp về thăm nội ngoại. Có chứng kiến cảnh đoàn tụ quây quần bên nhau của những người cùng huyết thống, ta mới cảm nhận được bài học triết lý sâu sắc của cha ông « tề gia », đoàn kết nhỏ trước rồi sau đó mới có đoàn kết lớn, « trị quốc, bình thiên hạ » được. Là hậu bối của các bậc tiền hiền uyên thâm quảng đại như vậy phải là do ơn may vì không ai có thể chọn trước được cha mẹ mình.

Thi vị và huyền bí làm sao huyền sử Con Rồng cháu Tiên rạng ngời hồn dân tộc! Thật ra chưa ai thấy Rồng cũng như Tiên, nhưng ai cũng cho rằng rồng có sức mạnh như vũ bão, tiên đẹp tuyệt trần. Trên thế giới hầu như dân tộc nào cũng có truyền thiuyết về việc lập quốc thường được biểu hiện qua một hình ảnh nào đó. Pháp ngoài lá cờ tam tài xanh trắng đỏ thêm lá cờ với hình vẽ « con gà trống » để mỗi lần đi dự thi tranh giải thường mang theo phất cao hầu nói lên sự có mặt của mình và khích lệ « ba quân », thắng trận là đầy ấp trên trang đầu các tờ báo hình ảnh chú gà trống giương cánh gáy ò ó o. Nhật hảnh diện ví mình là con cháu Thái dương Thần nữ nên trên lá quốc kỳ có vòng tròn đỏ biểu hiệu mặt trời.

Do đó tập tục « dựng nêu ăn Tết ăn chè » ngày nay không còn nữa, trước nhà vào chiều cuối năm cũ và hạ nêu chiều mùng 7 đầu năm mới quả là một sáng kiến thật độc đáo sáng tạo văn minh của cha ông. Người ta dùng cây tre thật thẳng cao, đốt to dài, tuốt hết gai cành, tùy vùng, chung chung là treo trên ngọn một mảnh vải đỏ, bên dưới một giỏ đựng trầu cau, một lá bùa Bát quái. Ðó là cách biểu hiên ranh giới ngăn cách thế giới người với ma quỷ, chứng nhận nhà nầy có chủ hợp pháp, có lý lịch tốt, tà ma « quyền lực đen » không được quấy phá đi chỗ khác chơi, vì nhà nầy thuộc về con dòng cháu giống đúng con cháu Rồng Tiên Như vậy tổ tiên ta há chẳng đã đi tiên phong trong việc dựng cột treo quốc kỳ đó sao ?

Người Ấn độ xem bò là con vật linh thiêng, ta không « thờ » các con vật nhưng cũng tránh không gọi đích danh như cọp là ông Ba mươi, ông Hổ, con rắn là ông Dài,… Một tập tục biết phải quấy khác là không quên ơn thần linh liên quan trực tiếp đến cuộc sống nên trong ngày Tết có cuộc đưa Táo quân Thần bếp cởi cá chép về trời để báo cáo với Ngọc Hoàng thượng đế tình hình thế sự tối 23 và ruớc Ngài vào tối tháng cuối năm.

Có những nghi lễ mà ngày nay dường như ít còn ai nghĩ đến là lễ cúng đầu năm xin tuổi. Người Việt ta thường thờ cúng ông bà, tin tưởng ở Trời phò hộ, Thần linh, đấng khuất mặt khuất mày độ trì. Các bậc Nho gia văn thi sĩ thường khai bút đầu Xuân để đón năm mới, tổ tiên ta lập bàn hương án trước nhà tạ ơn Trời Ðất cho ta sống đến ngày nay, xin thêm tuổi mới, dùng cây hương điểm qua trên các đồ hình « khai nhãn » để thấy cái đẹp muôn màu muôn vẻ quanh ta, luôn cảnh giác phân biệt chánh tà, « khai nhĩ » để biết nghe lời hay ý đẹp, « khai khẩu » để biết trên trọng dưới nhường « lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau » « ăn coi nồi ngồi coi hướng » đừng bạ đâu ngồi đó, tệ hại hơn nữa là giành giựt cấu xé nhau vì miếng ăn vị thế cao sang, « nhả ngọc phun châu » chứ đừng « ngậm máu phun người » « xuất khẩu thành thơ » chứ đừng … đồ dõm, hàng lậu, khai mũi, khứu giác để phân biệt nơi sạch chỗ dơ, không chỉ để ngửi « đánh hơi đồng »..

Xem đến đây, các bạn trẻ đừng vội mắc cở cho rằng ông bà ta sao mà mê tín quá, « quê ơi là quê ». Không đâu, đây quả là một lối giáo dục sắc bén gây chú ý đánh mạnh trực tiếp vào tâm hồn con người bằng cách gợi hình cụ thể vì ngũ quan là sinh lộ quan trọng thiết yếu chẳng những cho cơ thể tâm linh mà còn là nguồn gốc của tham sân si,hỉ nộ ái ố. Lối giảng dạy âm thầm, thâm trầm, bình dị đó như « nước chảy đá mòn » thấm dần vào đầu óc trẻ lúc nào không hay. Tuyệt chiêu.

Hơn thế nữa lúc nào truyền khẩu vẫn là phương cách truyền bá tư tưởng, tin tức hữu hiệu nhất, nhanh chóng nhất có từ thời xa xưa dựng và giữ nước chưa có chữ viết. Ngày nay chúng ta sống trong một thời đại văn minh đầy đủ, tự do và khoa học kỷ thuật dù không giải quyết được hết mọi vấn đề, cũng đã chứng minh làm sáng tỏ được bao điều thắc mắc huyền bí trước kia. Chúng ta thường quá khắt khe trong việc phê phán các dữ kiện thời xa xưa, đòi hỏi phải được giải thích bằng khoa học, lý trí, số học. Trước kia người cùng thời với Galilée chẳng những không tin trái đất quay mà còn lên án ông phản động buộc tội ông dám nói ngược lại chủ trương của giới cầm quyền lúc bấy giờ. Những tác phẩm hay nổi tiếng quốc tế « Mười ngàn dậm dưới đáy biển », « Tám mươi ngày vòng quanh trái đất » của nhà hàng hải đại văn hào Pháp Jules Verne cũng chỉ được độc giả thời ông xem như là những quyển sách du lịch sáng tạo viễn vông không có thật kích thích trí tưởng tượng óc viễn du, mơ một thế giới trên trời dưới biển mơ hồ hoang đường bí hiểm mà kỳ thú, thế thôi.

Ngày nay văn minh rồi cũng không thay đổi, tuyệt tác Harry Potter của nữ văn sĩ Rowling nổi danh thế giới là bằng chứng hùng hồn nhất. Con người vẫn mơ những chuyện kỳ lạ, bí hiểm, huyền hoặc, quyền lực siêu phàm, phủ phàng, những chân trời, xã hội tương lai phóng đại tối đa kích thích tận cùng giữa thật và ảo, tranh tối tranh sáng ghê rợn, tốt xấu quyết liệt chống nhau bất phân thắng bại, phản ảnh tổng hợp khuynh hướng mới cũ, xưa nay, có khác chăng là càng tiến bộ, con người có những viễn ảnh sáng tạo kiên quyết táo bạo hơn cả hai mặt trái phải..

Rồi thế giới có tiến xa thế nào đi chăng nữa dần dần cũng khám phá ra có chuyện khó tin mà có thật, trái lại ngày nay với hào quang của khoa học kỷ thuật, tôn giáo, con người vẫn bó tay thúc thủ chưa giải thích nổi bao hiện tượng huyền bí siêu nhiên, tưởng vậy mà không phải vậy, đạo đức càng ngày càng tráo trở, lật lọng vô độ khó lường, khó còn giữ trọn vẹn niềm rin..

Ðiểm độc đáo ở đây là để giáo dục con em, tùy theo dân trí mỗi thời, tổ tiên ta đã biết dùng hình tượng hành động cụ thể để diễn tả truyền đạt tư tưởng, hướng dẫn theo nề nếp đạo đức truyền thống dân tộc, không phương hại hay làm ngu dân. Không có lối độc tài áp bức, cưởng chế đe dọa nào hết. Lối giáo dục nhân bản, có tình người đã được rao giảng lưu hành hữu hiệu cho đến ngày nào dân trí cao cho rằng lối giải thích đó không còn thích hợp nữa thì tập tục đó tự phai đi. Ðừng coi thường những thói quen, lưu ý nhắc nhở cần thiết có ảnh hưởng tốt đối với cá nhân tập thể.

Như việc nuôi dạy trẻ cũng tùy thuộc vào tuổi tác thời kỳ mà hướng dẫn từng bước. Không có chuyện thần đồng mới ba tháng mà « nhảy lớp » biết nói biết đứng chựng được. Phải có sự huấn luyện, khô cả cổ, đau cả lưng, lập đi lập lại nhiều lần, té lên té xuống, u đầu sưng trán, qua « thôi nôi » mới hy vọng trẻ biết bập bẹ nói, chập chững biết đi. Hơn thế nữa còn tùy thuộc sức khoẻ cá tính và hoàn cảnh sống mà mỗi em tiến nhanh hay chậm không có mốc thời gian nào nhất định.

Chưa giải thích được bằng lý, khoa học được thì tổ tiên phải tận dụng cái gì mình có, mình thấy, mình biết. Những hiện tượng con người phải tiếp xúc hằng ngày không biết cội nguồn căn nguyên, mù tịt không cắt nghỉa rành mạch được thì người xưa cũng phải tìm hiểu sâu sát vấn đề bằng cách nầy cách khác. Có mặt trời mặt trăng, ngày đêm, nam nữ, sống chết thì tất có thế giới hữu hình vô hình, có trời đất thì có thiên đàng địa ngục, có thần thánh tà ma ác quỷ. Những chuyện siêu nhiên vượt tầm hiểu biết thì thuộc về thế giới khác huyền bí, mà vị chỉ huy tối cao tối thượng là Trời, dưới có các Thần linh Tiên nữ…như cách tổ chức chính quyền kẻ cả tôn giáo sau nầy.

Chẳng hạn như cũng để răn đe con cháu, hay đúng hơn để hữu hiệu hóa phương cách giáo hóa con em, ta dựa vào Thần quyền nên có tục lệ tiển đưa ông Táo , những vị « dân biểu » về trời họp, dâng sớ tấu trình tổng kết tình hình mỗi gia đình cuối năm. Ðây có phải chăng cũng là tập tục manh nha các tờ báo cáo tổng kết hoạt động kết quả thành tích cuối năm hay rộng ra ngày nay đơn thỉnh nguyện, kêu oan, khiếu nại, làm reo biểu tình…Tư tưởng tổ tiên đã nghĩ đến guồng máy hành chánh, luật pháp, thật tiến bộ làm sao !

Cũng không chừng vốn biết tâm lý con người thường thích sống hơn chết vì không biết cái thế giới bên kia thế nào nên phân vân hoài nghi, sợ điều bất trắc xảy đến do quyền lực siêu nhiên, ông cha ta đã khéo hướng dẫn lèo lái con cháu theo hướng ý của mình theo cách « ở hiền gặp lành », « tích ác phùng ác,tích thiện phùng thiện ». Óc sáng tạo của tổ tiên kỳ thú biết bao !

Mùng ba Tết là ngày Tết nhà, Tết trâu, lẩm lúa, vườn tược, chuồng heo gà bò….Nói chung chung những nơi hay sinh vật liên quan trực tiếp với cuộc sống của gia đình. Thường những đòn bánh Tét được tét ra từng khoanh, bánh ít, sau khi cúng được đem cho heo gà ăn, tượng trưng cho sự xác nhận khen thưởng công trạng. Ðây cũng là một cách dạy ngồ ngộ thâm trầm vẫn mang tính cách hòa đồng nhân bản. Trên đời, là sinh vật dù là con người, sinh vật cao cấp nhất, vẫn phải nhờ đến người khác, không ai sống một mình được. Nước nào cũng đề cập đến việc nầy cho rằng người dân một nước như thể anh em, tôn giáo còn nhấn mạnh rõ hơn, chúng ta đều là con của Ðấng Tối cao. Tổ tiên ta chẳng những ý thức được điều đó mà còn biết diễn tả bằng phép xưng hô gọi nhau như người thân ruột thịt anh chị em chú bác cô dì,…Các bạn thấy không, di chúc để đời phải học và hành đó.

Chúng ta thường quên điều ấy nên có sự phân chia giai cấp giàu nghèo như trước kia giai cấp cùng đinh (les parias) ở Ấn độ chằng hạn chịu nhiều điều tủi nhục nhất. Họ phải sống trốn tránh như người cùi hủi, không được chường mặt ra ngoài, vì nếu người quyền quí giàu sang nào chẳng may đụng vào họ, về nhà phải tẩy uế và có khi còn cắt cả chỗ quần áo nào chạm phải. Cũng chính từ lòng ích kỷ tự cao tự đại quá độ đã làm nẩy mầm móng kỳ thị chủng tộc tôn giáo và chiến tranh tất nhiên có cơ phát triển và địa bàn hoạt động càng ngày càng bành trướng hơn.

Ông cha mình không nghĩ như thế đâu, ngay cả thú vật trong nhà, nói chung sinh vật cỏ cây đều được nhớ đến như để xẻ chia chung hưởng. Không có chuyện trên đội dưới đạp, « ăn cháo đá bát » của những kẻ không tự trọng vô liêm sĩ khi được « ngồi mát ăn bát vàng » rồi thì vong ơn phản phúc, trở mặt « lên chân » khinh người.

Hằng năm Tết đến, nhìn bao cây nhang sau khi đốt xong cuộn tròn trên phần cọng nhang còn lại, tàn rơi đầy trên lư nhang, khi còn sinh thời má tôi thường vui mừng kính cẩn bảo :’ Ông bà về rồi, nhang cong là ông bà chứng giám lòng thành con cháu đó’. Bao nhiêu tuổi đời Xuân đến, tôi vẫn được nghe những câu nói tương tự như vậy kèm thêm vài câu chuyện vui, hành động đáng nêu gương của ông bà, lâu lâu bà lại cười cười kể xen vào những tập tục cổ xưa thời mẹ tôi còn nhỏ, như chôn cái « rế » lót nồi trước cổng nhà để xua đuổi bọn « đầu trộm đuôi cắp », mà theo năm tháng dần trôi không còn ai giữ nữa.

Nhớ sao là nhớ không khí Tết quê hương, với bông vạn thọ tượng trưng cho sống lâu « trăm tuổi bạc đầu râu », cành mai rực vàng năm cánh đem đến may mắn cho gia đình. Ngày mồng một thì khỏi sợ bị rầy, ai cũng phải phép tắc lễ độ, mắt mày tươi vui ‘ vì buồn ngày đầu năm thì buồn cả năm luôn’. Những bao thơ đỏ lì xì làm rộn lòng các em trẻ nhỏ tung tăng trong quần áo giày dép mới, những câu chúc mừng năm mới vang vang từ trong nhà ra đến ngoài đường, đâu đâu cũng vui như hội.

Têt nguyên đán gồm bao yếu tố điều kiện thiên thời địa lợi muôn màu muôn vẻ hòa hợp thiên nhiên với cuộc sống trần gian. Ðây còn là cơ hội cho chúng ta nhìn lại quá khứ ôn cố tri tân, tự hào về nguồn gốc, óc tiến thủ dấn thân của tổ tiên, tìm lại bản ngã tự kiểm tự phê sống hòa đồng đoàn kết bình đẳng, bổ sung bồi dưỡng tiềm năng, sức khỏe, kiến thức để đừng đánh mất lấy chính mình.

Không có Tết nơi nào đẹp thân thiện và đầy ý nghĩa bằng Tết ta quê nhà vì tình người luôn luôn còn có dịp trổ hoa. !

Trần Thành Mỹ




Mục Lục


14. Có Một Tình Yêu

Nguyễn Thị Khiêm Nhu



Tôi lạc trong cánh đồng đầy gai mắc cỡ, đau quá, gỡ ra vẫn đầy dằm. Mênh mang buồn. Nỗi buồn quặn thắt, vây bủa đầu óc bé nhỏ, vây bủa cánh đồng mặn chát buồn trơ trọi mong cơn mưa đầu mùa .

Tháng tư khô hạn.
Cánh đồng nước đọng chơ vơ thiếu thốn thèm khát bàn chân con người dẫm đạp. Nắng đổ sập xuống, phơi giòn ngọn cỏ. Cánh đồng phơi xác không một tiếng thở. Cổ họng tôi khô rát. Quê tôi thật nghèo.

Ước gì có mưa, ngay bây giờ, những giọt nước tinh khiết hiếm hoi. Chứ xứ này, có giếng khoan cũng không thể nào uống được. Thà nước sông còn hơn. Thì quê tôi lúc nào không uống nước sông đâu.
Nhớ đến sông là phải nhớ đến cái xà lan, cái vỏ, cái ghe, cái xuồng ba lá, cái chẹt, cái bè,…Nhớ đến đêm hôm lũ ếch nhái kêu não nề. Nhớ tiếng gió rít. Nhớ tiếng muỗi bay vo ve mà tưởng tượng từ tiếng muỗi có thể nhìn thấy từng đàn bay lượn lờ đen đặc. Nhớ đến màu xanh xanh, vàng vàng, xào xạc của lá dừa, lá đừa, lá sộp, lá tràm, lá đa…toả xuống hai bờ. Nhớ như nhớ chính mình. Ðến nỗi đôi lúc ta giật mình tự hỏi, ủa sao mình có mặt trên đời? Mình biết bơi từ lúc nào vậy hơ? Mà sao mình có thể thuộc làu những con kênh ngoằn ngòeo? Hoặc sao trời sinh mình ra giữa đời để làm chi?

Ðàn ông thanh niên nhiều người đi xa. Dù là phụ hồ, dù là quét rác,…làm gì cũng được, miễn là thoát ra khỏi xứ khỉ ho cò gáy này. Ðàn bà con gái không lấy chồng xa, thì cũng làm ca ve, làm đĩ. Chứ lấy chồng xứ này thì chỉ biết xách chai đi mua rượu và đẻ. Có vẻ ông trời chỉ chiêu đãi quê tôi một món duy nhất: con gái đẹp. Nghĩ đến đó, tôi sợ. Có khi nào sau này tôi cũng như bao người con gái ấy. Vì nghèo, vì vô học, vì dốt nát, vì có sẵn dòng máu làm đĩ.
***
Tôi quyết định về quê.
Ngày xưa phải đi qua hai lần phà, bây giờ chỉ một: phà Cần Thơ, chứ cầu Mỹ Thuận xây rồi. Tự dưng tôi nhìn thấy có cái gì mất mát, trống trải đang thay thế trong con người mình. Tôi thấy tôi già hơn, ma mãnh hơn, ích kỉ hơn. Phà chiều đông người, ai cũng muốn dành lấy một chỗ đứng dù trước sau gì chẳng lên cùng một lượt. Ai cũng hí hửng về, nôn nóng lắm. Tôi thì không . Anh chạy đò biểu hai chục từ bến đò Vị Thanh tới kênh KinhTế (Kinh Tế Mới). Ðò chạy qua sông Xáng Xà No, rồi rẽ qua hết con kênh này đến con kênh khác; lướt qua từng cánh đồng, từng mái nhà, từng rặng cây. Lướt qua cái chòi chăn vịt, qua đống rơm. Ngọn trúc cong oằn rũ rượi. Lục bình mọc ngoài rìa cắt nát vì đò qua lại, nở hoa tim tím. Dòng nước lặng lờ trôi.
Con kênh này ngày xưa tôi xém chết đuối, tôi nhớ như in. Nó rộng hoác, chắc là mới nạo vét chỉ nghe mùi bùn tanh tanh cũng biết đựơc. Cà na chín vàng. Với tay hái một chùm, ăn cũng hay hay, chát chát. Ăn riết thì chán, chẳng khác nào người ta chỉ gặp một người trong đời, gặp đi gặp lại, yêu đi yêu lại.
Qua chân cầu bê tông này nữa là tới một ngã ba, rồi quẹo vô một xíu. Hình như có mùi gì quen quen. Trời đất, cái đìa! Nơi cả gia đình tôi vẫn chiều chiều tắm giặt. Ba cái lu lấy nước ăn uống, rửa chén, rửa rau, vo gạo nằm cạnh cái vỏ. Nhưng giờ nó đầy long quăng, váng phèn đỏ quặu. Thấy thương thương, nhớ nhớ dù đang đứng nhìn nó. Tôi chợt nghĩ đến bóng dáng, ánh mắt và cả giọng nói khô khan của mẹ, giọng nói ít khi được trìu mến. Có khi cũng vì bóng dáng đó, ánh mắt đó, giọng nói đó tôi đã bỏ đi. Không có mẹ tôi vẫn sống được đó thôi. Nay tôi hiểu, đời dạy tôi hiểu. Có thể là hiểu một chút, hoặc quá nhiều, hoặc không hiểu gì cả. Thôi kệ. Nhưng không lẽ con người đều phải ném vào đời khi muốn hiểu một cái gì?

Ba trong mắt tôi vẫn như xưa, vẫn là ba. Ba phong độ, giỏi giang, nhân hậu, ba là tất cả. "Nhong nhong nhong…ba là con ngựa để cho con nương tựa suốt đờị.." Ba ơi! Tại sao lúc này tôi lại không gọi tên mẹ, tôi đang không giận mẹ mà.
***
Ba bảo chờ khi nào tháng bảy, quýt đường chín ba về. Mấy mùa đi qua mùa, mấy tháng bảy đi qua tháng bảy không thấy ba đâu .Chúng tôi đã luôn để dành cho ba bao nhiêu trái ngon nhất, đứng trên cầu đợi ba bao nhiêu chiều. Hễ nghe tiếng xuồng máy thì chạy ào ra kênh ngó. Nghe giọng đàn ông trầm trầm là reo lên: ba về, ba về ... không hôm nay thì ngày mai.
Ba con người thấp thỏm chờ đợi, ba con người thôi rồi hy vọng. Căn nhà mỗi ngày một ủ dột, chừng như rộng quá. Nhà rộng, vườn cũng rộng.
Ảm đạm. Ẩm ướt. Chúng tôi trở thành những con người không biết khóc, không biết cười. Lầm lũi và tàn nhẫn. Mẹ hay đánh hai đứa tôi hơn. Thằng Bi hỗn láo hơn. Cứ nói chuyện với nó một xíu là cãi lộn. Nó bảo tôi tánh khí đàn ông, con gái mà như vậy chó nó không thèm lấy. Tôi tức quá, tao giống ba mày, chứ không giống ổng sao có tánh đàn ông, giống cả mày nữa. Nó nói với tôi tiếng tao mày ngọt xớt. Chứ ba tao không phải là ba mày à? Ai cũng là con của ba…Rồi nó khóc. Tôi khinh bỉ tiếng khóc ngu ngốc của nó.
Có lần nó té xuống đìa, tôi kéo lên, nó bứt tay tôi ra, tao không cần mày! Dạy nó không nghe. Bắt đi học nó không đi. Phạm lỗi biểu quỳ nó không qùy. Tức quá tôi khóc, nó cứ mặc. Nó bảo tôi không xứng đáng làm chị, không có quyền dạy nó.

Là con thì không có quyền lựa chọn ba mẹ? Là con thì không có quyền xét đoán ba mẹ? Nếu không có tôi trên đời chắc hay hơn. Thà là loài cây cỏ gieo vào đất, đừng biết ai cũng chẳng cần ai biết rồi chết đi, vầy hay hơn. Ai dám chơi với chúng tôi, ai dám đến gần chúng tôi! Mẹ nó là con đĩ. Ðêm nào khác đêm nào. Không làm đĩ thì sao có hai đứa con? Sao có tiền cho nó đi học, để sắm dây chuyền, để ăn diện? Sao để con gái mới bằng đó tuổi phải bỏ nhà đi? Xứ này những chuyện như vậy có gì là ghê gớm.
***
Lâu lắm chưa đi đò, tôi hơi chóng mặt.
Vẫn căn nhà xưa mái lá dừa nhưng mục đi nhiều. Có lẽ nó đã chống chọi với bao nhiêu mùa mưa nắng. Chỉ cỏ là rậm rạp, chen lấn lối đi. Ðất nứt nẻ dưới chân tôi. Hàng dừa bạc phếch. Ao rau muống. Ðống rơm mọc vài cây nấm, nửa héo queo cắm đầu xuống đất, nửa lú nhú lên.
Nhà mình đó, tôi đứng trân trân, chân không nhấc nổi.
Thằng Bi, mẹ, và ba ôm chặt lấy tôi. Xoa nhẹ vai tôi, vuốt tóc tôi. Tôi khóc. Tất cả cùng khóc.
Ảo giác đánh lừa, tôi không phân biệt được đâu là mơ đâu là thật. Cứ sống mãi trong ảo giác thì hay biết mấy!
Bước vô nhà lạnh toát không lấy một xíu xiu hơi người.
Bàn thờ. Sao lại bàn thờ? Khung hình kia là mẹ? Không thể như thế được! Run lên, chân vấp phải bậc cửa. Bi ơi! Chị ...Tôi không thể gọi tên nó.
Ủa, đang ở đâu vậy ta? Có tiếng bước chân. Tôi quay lại, thằng Bi! Hai về làm Bi mừng muốn chết.
Bi, mẹ đâu? Ba đâu? Hồi nãy chế...
Nó khóc, ra dấu tôi nhìn theo tay nó. Có gì lạ đâu, bộ bàn ghế nhựa, khay ly, rồi bàn thờ.
Hả? Thiệt hả trời?
Mẹ ơi!
***
Ðứng giữa vũng sình cuộc đời nhơ nhớp, chán nản tôi tự kiếm cho mình một con đường dài chắc là không hạnh phúc.
Sau cái chết của mẹ tôi càng choáng váng, có lúc sợ mình không đứng vững, và sẽ ngã qụy bất kì lúc nào. Ruột gan tôi đứt đọan, chắp vá. Có vẻ đời người cũng như một nhánh sông dài, vì thế mà những con người của sông mang theo mình linh hồn của nó, bèo bọt trôi dạt và chóng qua. Nhưng sông tàn nhẫn lắm, nó có nhớ tên ai dù là trong một giọt nước dư thừa mùa lũ.
Tôi sờ thấy bóng đêm linh hồn mọi đàn ông mình đã gặp. Hình như vì ít đàn ông tốt nên đàn bà ai cũng khổ, không thể tự mình sắp xếp số phận cho mình. Tôi hiểu nỗi đau trong lòng mẹ, hiểu vì sao mẹ âm thầm chịu đựng, mẹ không lên tiếng trách ba nửa lời. Dám trách đời nhục lắm, khổ lắm, tôi hết sức chịu đựng rồi, bỏ bớt một chút đi! Hay nói với chúng tôi, các con đừng khinh mẹ! Ðừng chê mẹ nghèo mạt xấu xa, tội lỗi!
Thằng Bi buồn lắm. Tội nghiệp nó, nó còn quá nhỏ.
***
Tôi đi vì không muốn làm vẩn đục một khúc sông, vẩn đục những buổi chiều ngồi bên cái đìa hú mấy nhỏ bạn qua chơi. Càng không muốn đánh mất những lúc ngồi thật lâu để lặng thầm nhìn ánh mắt mẹ u buồn. Thu mình nhỏ lại để nghe từng nhịp tim đang đập và biết mình đã khác, biết nhớ biết thương, biết thù, biết hận, biết sợ tiếng đàn ông khàn khàn, sợ đôi mắt săm soi, sợ cơ bắp đen bóng.
Tôi về, về vì chốn đất khách không rộng mở, tôi mãi là con bé nhà quê sông nước cù lần. Nay con bé đó muốn chấm dứt những tháng ngày lặp đi lặp lại, những công việc lặp đi lặp lại chỉ dành cho những kẻ có giọng nói buông ra đầu lưỡi là đầy ắp những lừa lọc, giả dối gọi mời. Tôi sẽ thiêu trụi những buổi tối rợi rã, những giấc ngủ đau quặn xé.
***
Nhìn dòng sông trôi hiền hoà.
Dòng sông Xáng Xà No êm đềm phù sa. Ôi! Dòng sông tuổi thơ bao gắn bó như sinh thể con người tôi. Dòng sông mẹ tôi tìm về.
Bây giờ tôi cũng muốn về với sông.
Tôi thì bơ vơ đau khổ, anh thì vô tình mau quên. Tôi không dám nghĩ đến một tiếng trách cứ anh như đã từng nói với ba, với mẹ. Khi yêu tôi không đủ tỉnh táo, sáng suốt để yêu ghét rạch ròi như lâu nay vẫn thản nhiên cong lưỡi dè bỉu những lỗi lầm, những vết xước thương yêu con người mắc phải.
Anh bỏ tôi. Bỏ tôi thật rồi. Anh là ai? Anh chỉ đến với tôi vào ban đêm. Ðêm đồng lõa tội danh, tiếp sức tội danh. Ðêm ghì xiết, quấn chặt hai kẻ điên cuồng yêu nhau.
Dòng sông gãy vụn nhàu úa.
Tôi phải về với sông. Xáng Xà No ơi, Xáng Xà No! Hôm nay ngươi lạ lẫm quá, sâu quá, rộng quá. Không là dòng sông của ngày còn hôm qua, lóng lánh dát đầy những ước hẹn thề nguyền run rẩy yêu đương, gom hết cả đêm về. Tôi sẽ nhảy xuống sông ngay bây giờ, sông gọt rửa tất cả. Tôi biết, như mẹ tôi, thế là hết. Nước sẽ lan tỏa khắp cơ thể, cuốn phăng vứt bỏ mọi tùng quẩn đang giằng co, cào cấu linh hồn tôi đến rách nát.
Nhẹ tênh thôi, nhắm mắt lại! Tôi run lên, nghĩ đến dòng nước, sông ơi. Trời ơi, tôi không làm được, nỗi sợ tím ngắt ném tôi lên bờ. Tôi sợ chết. Vì chỉ sau một phút, một phút thôi tôi sẽ không còn trên cõi đời này nữa,thân xác sẽ trôi vèo xuống Kiên Giang, Cần Thơ, hay tận Cà Mau…Rồi ra tận biển!
Tôi không muốn chết. Nhưng, sống thì khó quá.
Bóng cây in xuống sông rõ mồn một, buồn bã. Cây xanh tươi nhưng lòng tôi thì héo úa gầy mòn, chết dần từng giây phút, từng hơi thở, từng thớ thịt đang run lên.
Mảnh đất, khúc sông này không lẽ lại cần hai sinh mệnh bất hạnh này sống. Tôi nhớ giọt nước mắt của cu Bi quá chừng, nó bảo tôi đừng đi lấy chồng Ðài Loan; đừng phá thai để cháu nó nuôi. Nó còn biết nói như vậy, sao tôi tàn ác quá, hèn nhát quá, suýt chút nữa giết chết đứa con của anh.
Tiếng kèn le tẹ..le tẹ..làm tôi giật mình. Thương số kiếp mình bé nhỏ, khốn khó. Thương tôi đánh tuột mất tuổi thơ trong trắng. Tôi thấy thèm ăn một que kem toàn đường hoá học đắng chát, một cái kẹo xanh đỏ, thèm được đón đò mua rượu, mua con khô con mực cho ba uống rượu như ngày còn bé. Tôi nhớ tiếng"ba", tiếng"mẹ", tiếng"cu Bi" làm sao. Tôi thương tôi như một đứa con mồ côi vậy.
Tôi muốn cào nát mặt mình, muốn xé nát da thịt, muốn túm tóc dật từng sợi, muốn gào lên, muốn khóc vì kí ức đã qua, nhưng cái màu xanh của nó vẫn còn đây, mằn mặn mùi phù sa sông này. Nhớ lại câu nói “Con đi tìm ba!”bây giờ sao mặn đắng, lạ hoắc, thấy mình ngu ngu, mắc cười.
Tôi hèn nhát quá. tôi căm thù sự hèn nhát đó, căm thù tôi đến nghẹt thở.
Một chiều mưa tầm tả, tôi đi tìm ba dù không biết Sài Gòn là đâu. Cứ nghĩ thật đơn giản, qua hết kênh Kinh Tế Mới, rồi kênh Giải Phóng, Kênh Mười Thước, Kênh Ba, Kênh Bốn, Kênh Năm,...là hỏi thăm. Chỉ cần đi hết tất cả các con kênh là sao cũng tìm thấy ba.
Không phải, Sài Gòn xa lắm. Tôi khóc. Dưới cống bê tông nhìn những giọt nước mưa đan xen hắt vào mặt mũi, tôi ước mình là những giọt mưa để bay đến bên ba.

Sáng tỉnh dậy con thấy mình lạnh lẽo. Ba ơi, ba về đi, ba! Mẹ khổ lắm, mẹ lúc nào cũng sống trong dằn vặt. Con nhìn, nhìn mãi không chán quầng thâm trên mắt mẹ. Mẹ không khóc, con biết trong đáy mắt sâu thẳm lảnh đạm chi chít những khoảng trống mênh mông, thiếu thốn không nói bằng lời, không kể bằng nước mắt. Mẹ đánh con vì con đi tìm ba, mẹ cần ba nhiều lắm. Con sợ thấy mẹ đau đầu mỗi mùa gió chướng. Con sợ mình nói tiếng căm hờn ba trước mặt mẹ.
Còn đâu cuối ngày ngồi ngẫm nghĩ xem hôm nay mình đã làm gì, chưa làm gì. Khác nhiều lắm rồi, sống để nuôi thù, để trả thù, để trốn chạy và để chết.
Tôi chán thấy lũ người tắm giặt trên sông. Mình ngày xưa dơ dáy như vậy à? Nước múc lên ném vô một cục phèn rồi uống, ghê quá, uống cả bụi bặm, rác rưởi, phân vịt. Con người xứ này sao mà dễ sống, dễ bằng lòng, dễ phó mặc! Khổ cũng không biết.
Tôi buồn! Buồn vì nhiều nỗi lâu nay góp nhặt lại, như sông có đem đổ ra biển vẫn xối xả, ào ạt.
Cuốn nhật kí vèo xuống sông, rũ bỏ hết quá khứ. Thế là hết. Có dòng sông chứng giám, sông trả lời vì sao tôi không ở xứ này. Vì khổ quá, nhục quá, nghèo quá. Vì đẹp quá. Vì những người đàn ông chỉ biết nhìn đàn bà bằng mắt đôi ti hí ngu dốt, thấp hèn của thú vật. Vì tôi không thích nhìn mẹ tôi trả thù ba bằng cách đem đàn ông về nhà ( thực sự không phải, mẹ tôi có gì cao cả để nói tiếng trả thù). Ðàn ông, nó không đáng làm một con chó!...Nếu là chó thì đập giết thịt, mua rượu về lai rai cũng không hả giận. Tôi đã nguyền rủa như vậy. Nó vồ vập con người mang cái tên mềm uột - đàn bà một cách điên loạn xuồng xã đến nỗi không biết đâu là trẻ con, đâu là người già; đâu là mẹ, đâu là con.
***
Ghép lại .Xoá hết .
Không dễ.
Sông cuồn cuộn chảy, chảy như chưa hề giận ai, chưa hề ghét bỏ ai.
***
Dứa con ra đời. Con rơi con vãi nên lúc nào cũng giống thằng cha nó. Người ta bảo vậy.
Tôi buồn.
Tôi nhớ.
Tôi nhìn.
Tôi không quan tâm.
Ừ. Tôi làm mẹ ở tuổi mười sáu non nớt, vội vàng gấp gáp.
***
Ông trở về. Ðàn ông bỏ vợ theo gái đố thằng nào về, trừ khi không còn cái quần để mặc nữa. Tôi không muốn nghe. Tôi không muốn biết.
Ba ngày xưa ở với chúng tôi những ngày ít ỏi, không nhiều để nhớ không nhiều để thương. Ngày xưa bảo tìm ba, chứ biết mặt mũi ba thế nào mà tìm. Tôi mường trượng một con người áo quần lếch thếch, có nét gì tội tội, ác ác , có nét gì na ná giống tôi.
À ơi…! Nín đi con!
Tôi cô đơn. Dường như nỗi cô đơn dồn hết cả vào tôi. Gió rít từng cơn. Lũ cò trắng muốt trên ngọn tre đỏng đảnh kêu toán loạn trêu ngươi.
Cu Bi bảo tôi là ba về. Tôi còn không biết mặt ba, sao nó biết. Nhưng đúng là ba thật.
Tôi không ôm chầm lấy ông, không tỏ ra vui mừng, không dám tin, dám nhìn những nếp nhăn trên khuôn mặt một người tưởng chừng xa lạ. Không dám nhìn màu áo khoác trên con người ấy, cả mái tóc đến nước da. Thật sự không muốn.
Tháng tư nóng rát trụi hết mầm xanh.
Ông khóc, nước mắt rơi xuống bàn tay tôi. Ngỡ ngàng. Chỉ là giọt nước mắt, tôi choáng ngợp. Có cơn mưa đầu mùa, ngập ngừng rồi mạnh mẽ thấm vào cành đồng đang khô rạn, xóa hết mọi dấu vết nứt nẻ bấy lâu tôi ngờ vực.
Con đợi ba lâu quá à! Quýt sắp chín rồi! Con biết sao ba cũng về mà. Năm nay được mùa đó ba! Ðó, hai không tin, ba nói ba về mà hai không tin , còn … Thằng cu Bi làm tôi bật khóc. Tôi mà biết khóc? Ông trở về dạy chúng tôi một chân lí duy nhất: Tình yêu. Tình yêu là có thật.
Tình yêu là có thật? Nhưng trả giá cho một tình yêu sao mà mắc quá! Phải đi hết cả cuộc đời đôi khi cũng không tìm thấy được.
Có lẽ ông muốn những ngày cuối đời tìm về nơi đây để tựa đầu vào dòng chảy tình yêu, để nói với chúng tôi điều đó.

Cu Bi đâu phải là con của ba. Nó không biết, tôi không biết, cả mẹ cũng không biết thì ai biết? Không cần biết, vì điều quan trọng là chúng tôi thấy gắn bó, và chúng tôi cảm nghiệm được mảnh đất này, khúc sông này đang níu giữ bước chân.
Sông cuồn cuộn chảy, chảy như chưa hề giận ai, chưa hề ghét bỏ ai. Chảy đi sông! Chảy như sông không hề tàn nhẫn, sông vẫn nhớ tên một con người.
Nhìn dòng nước. Nhìn rặng cây. Tôi kêu tên mẹ.

Hậu Giang_Hà Nội 2007

Nguyễn Thị Khiêm Nhu




Mục Lục


15. Muà Nhớ, Muà Thương !

Trường Tango



Em,

Thế là mùa thu của những cảm xúc nồng nàn rộn rã đãqua . Mùa của những ngày tháng đắm say với lá vàng langthang trong nắng mỗi chiều , trong sương mỗi sớm ./. Ðông đến, mùa của yêu đương, thèm mong không thề hẹn./. Một buổi mai thức dậy vén màng, nhìn qua khung cửasổ mới hay rằng, đông đã về ./. Cây tùng cao trướcngõ rủ mình với những bông tuyết trắng phaụ Một đốnglá khô còn sót lại của mùa thu, um tùm ôm quanh gốc ./. Lạghê ! đông đã đến rồi sao thu còn lãng đãng ./. Mớihôm qua kia thôi anh đã thì thầm với thu cả đêm vềnhững hoài bảo của mình về một tình yêu kì lạ nhấttrong đời ./. Anh đã đắm chìm trong hạnh phúc của nhớnhung diệu vợi ./. Rồi anh lại lo, ngại ngùng luyến tiếckhi nghĩ về một mùa thu sẽ qua đi ./. Khi mà những chiếclá vàng không còn bay lãng đãng theo anh nữa, để nhắc anh"nhỡ" về em ./. Anh đã "shợ" sẽ không còn một chút nắngthu vàng lây lất ấm nào đó nữa để mình đưa nhau đidạo quanh ngọn đồi mà em thích ./. Anh sợ mất đi một mùathu đầy cảm xúc ./. Cái mùa mà lần đầu tiên trongđời, em đã thì thầm rằng "Em cũng rữa !!!" với anh ./. Và anh đã nhớ em vô cùng ! Em ! Ðông đã đến thật rồi ./. Nhưng thu vẫn còn đó,chưa phai ./. Ngoài kia tuyết rơi đầy, nhưng không đủ đểlấp đi đống lá thu anh vun đắp quanh gốc tùng hôm nọ ./.Sáng nay thức sớm, hong mình bên lò sưởi anh đã nhớvề em ./. Nỗi nhớ lạ lùng với thêm một chút thèm, mongvu vơ, lạ lẫm ...?!! ./. Ngoài kia, bên khung cửa rộng , anhđã thấy cả mùa thu bên cái lạnh như câm như điếc củamùa đông ./. Anh đã thấy một sự chuyển tiếp hài hoàmạnh mẽ như trong tình yêu của chúng ta ./. Cho nên, nếugọi mùa thu là mùa để nhớ. Thì, có lẽ mùa đông sẽphải là mùa để thương !

Anh

phamtruongan@yahoọcom
CT - 12/07

Trường Tango




Mục Lục


16. Căn Phòng Có Cánh Cửa Hoen Rỉ

Lê Văn Bảo



Tâm thường học bài khuya, hôm nào cũng vậy, có lẽ sang ngày hôm sau vài tiếng đồng hồ mới chịu đi ngủ. Nói là học cho oai thôi chứ thực ra học gì đâu. Ngồi suy ngẫm, viết những gì mình thích. Thế thôi mà ngón thời gian một cách kinh khủng.

Chính vì đặc thù của việc viết lách mà Tâm đã thuê hẳn một căn phòng nhỏ xíu, xinh xinh ra phết. Thời gian đầu mọi việc có vẻ trôi chảy. Các tác phẩm viết ra ngày một xuất hiện nhiều trên các ấn phẩm. Nhưng mấy hôm nay cơn ngủ nướng của Tâm bị đánh thức bởi tiếng nhạc của phòng đối diện. Tức lắm, nhưng rồi cũng chẳng dám làm gì hay nói gì cả. Tâm cố để ý mỗi lần ra ban công xem đứa nào mà dám đánh thức giấc mộng ngon lành như vậy. Nhưng lạ thay mỗi lúc ra ban công làm gián điệp lại không thấy gì cả. Nhưng cứ ra.

Ngôi nhà đối diện cách không xa lắm, chỉ hai lần với tay là tới được và một điều thú vị Tâm phát hiện ra là giả sử hai đứa ở hai nhà mà yêu nhau thì có thể cầm tay nhau mà không ai xâm phạm đến lãnh thổ của ai. Vừa nghĩ đến đó Tâm lại cảm thấy quá mơ hồ.

Mà người trọ phòng đối diện cũng kỳ cục thật. Càng ngày Tâm càng thấy kỳ cục vô cùng, chẳng biết họ là trai hay là gái nữa. Vậy mà Tâm vẫn ra ban công chờ như chờ một điều gì đó vô vọng, nhưng cũng thú vị. Bởi vì làm cho con người ta có lòng kiên trì hơn, sống sâu sắc hơn. Nhưng một điều thay đổi là dường như lại thấy thích thú với việc mỗi sáng lại được nghe nhạc Trịnh, đúng sở thích.

Sáng nay, đang ngủ một cách ngon lành. Bỗng tiếng nhạc lại vang lên. Trong cơn mơ thấy mình ra ban công và một con bé đang cười ở đó, cười với Tâm, nụ cười như hút hồn, rồi hai người với tay nhau. Nhưng lạ thay họ với, với mãi mà không thể nào cầm tay nhau nỗi. Tâm bật dậy, mồ hôi trán lấm tấm. Tỉnh dậy vẫn tiếc giấc mơ lắm chứ. Bỗng dưng bài hát quen thuộc mà con bé hoặc thằng bé hay nghe nhất lại vang lên.
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Ði đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”(1)
Tâm lắc lư đầu hát theo tiếng nhạc. Ðôi khi thấy mình thật hạnh phúc khi mỗi buổi sớm được nghe nhạc miễn phí. Cuộc sống cứ thế trôi, nắng vẫn buông thõng những sợi nắng, một ngày với 24 giờ cứ thế diễn ra.

Nhiều lúc Tâm nghĩ cũng tức, chẳng lẽ phòng đối diện là có ma hay sao mà lại như vậy đâm ra làm Tâm tò mò về tất cả. Tò mò ngay cả những suy nghĩ của chính mình. Cũng đơn giản như chưa từng đơn giản. Biết đâu một ngày cánh cửa ấy mở ra và chính điều đó lại là một lực N nào đó để mở được cánh cửa tâm hồn của một chàng trai có tâm hồn sắt đá. Có thể là hơn thế mà cũng chẳng biết khi hơn thì gọi là gì nữa chẳng lẽ lại gọi là tâm hồn kim cương à, nghe mà kỳ cục quá.
Trời bắt đầu vào thu, cơn gió se sắt thổi qua khe hở tí xíu của hai nhà, làm rùng mình những chậu cây kiểng ngoài ban công. Cảm giác hơi buồn. Như thói quen Tâm lại ra ban công ngồi cheo leo, mắt nhìn xa xăm, lòng đang chứa đựng biết bao điều chưa nói. Ðang trong tư thế ấy bỗng nghe tiếng kêu của chiếc bản lề hoen rỉ. Lúc đầu Tâm không biết đó là tiếng gì, một lát sau ngoái sang một chút Tâm đầy ngạc nhiên. Cánh cửa đã mở ra rồi?

Càng lại ngạc nhiên hơn là một con bé mặc bộ đồ ngủ, mắt nhắm, mắt mở, mơ màng bước ra. Hành động của con bé làm Tâm suýt bật cười. Con bé trông xinh xắn, khuôn mặt trái xoan, má có một cái má lúm đồng tiền thật dễ thương nữa. Từ nãy giờ Tâm nhìn con bé không ngớt, được một hồi con bé chợt nhận ra là sự có mặt của một người khác nữa, làm con bé bối rối. Tâm nhận ra sự bối rối của con bé. Không hiểu sao Tâm hát vu vơ một câu.

“ Mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ
Dài tay “anh” với những cánh chim ri”(3)

Tâm thay từ “em” bằng từ “anh” ngọt xớt, mà không sợ cố nhạc sĩ kiện vì vi phạm bản quyền. Con bé giật mình, ngước nhìn nó một xíu rồi lại cụp xuống. Chẳng nói thêm lời nào. Tâm đành im re. Hình như sau cú huých củ chuối này đâm ra ngượng chín mặt. Con bé vẫn đứng nhìn xa xăm về phía xa. Thành ra tạo một khung cảnh đầy thú vị.
Những ngày tiếp đó Tâm vẫn ngồi cheo leo trên ban công, con bé vẫn ra thường xuyên ra. Tâm thích thú với điều này lắm. Ðặc biệt hơn vào một ngày nắng lên, gió ngừng thổi, từng sợi tơ giăng khắp chốn. Con bé bỗng vang lên một câu hát từ cái miệng xinh xinh kia.

“…Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”

Nghe xong Tâm sướng rơn người. Hình như Tâm thấy mình đang bay, đang tan chảy.

Cánh cửa kia vẫn mở ra, nhưng cùng với đó là tiếng cót két hoen rỉ của bản lề cũng mất dần. Cơn mê hôm nào đi sang một lối rẽ khác. Ðâu đó lại vang lên lời bài hát.

“ Hà Nội m ùa thu
Ði giữa mọi người
Lòng như thầm hỏi
Tôi đang nhớ ai …”

Hà Nội : 7/11/2007

(1),(2),(3)- ca từ trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Lê Văn Bảo




Mục Lục


III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu,

Cơn lửa lòng đang cháy hay cơn lửa tình đang cháy ? Những ngọn lửa hình như đang cháy rụi những gì em đang có trong tay, để bỗng dưng em cảm thấy mình bơ vơ . Cuộc đời trở nên mong manh và cuộc tình trở nên xa vời, khi không có anh bên cạnh. Cơn rét mùa đông không đủ làm lòng em chùng lại bằng nỗi xa cách cùa đôi ta.

Tình vẫn còn xa cơn bão lòng
Vẫn còn hiu hắt đợi chờ trông
Từng đêm thao thức nhìn sao sáng
Gọi ước mơ về giữa trời đông

Những cơn giông cứ xếp hàng thi nhau về bên chúng ta, những mệt mỏi, chán chường cũng đè nặng lên cuộc sống, liệu chúng ta có vượt qua hết tất cả để chờ đợi nhau không anh ?

Trăm nhánh sầu còn đong đầy trong mắt
Nỗi lo âu còn quấn chặt hôn mê
Những cơn đau theo mưa gió bay về
Làm sao hỡi, đuổi xua cơn ác mộng

Hãy cho em nghị lực bằng tiếng nói yêu thương, hãy cho em niềm tin bằng những giòng thơ anh viết. Một năm trôi qua quá nhanh, nhưng tình anh vẫn mãi tồn tại nơi con tim em. Thời gian, không gian là những thử thách để rồi một ngày gần đây, đôi ta sẽ có nhau, anh sẽ đưa em về vùng nắng ấm, vùng biển mơ để cho nhau những hương vị của tình yêu, những nồng nàn dấu yêu .

Ấm áp từ trong một cái nhìn
Hai bàn tay ấp đóa hoa xinh
Nụ cười duyên dáng thầm thì nói
Sưởi ấm hồn nhau bỡi chữ tình

Ấm áp kề vai chung mái đầu
Sẻ chia hạnh phúc với thương đau
Cùng trao hơi ấm giòng tâm sự
Tay nắm bàn tay xóa chữ Sầu

Ấm áp từ nơi một giấc nồng
Thả hồn ru mộng giữa tình đông
Men say từng lớp nghìn cơn sóng
Từ những yêu thương ấm cõi lòng ....

Viết Cho Giao Mùa Jan 2008 DHH
~~~~/~~((@

Mục Lục


IV . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 69 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua@hotmail.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

ebay hit counter

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors