Số 72
Ngày 1 tháng 4 năm 2008
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Bạn mến,
Lần trở về thăm quê vừa qua tôi đã có dịp ngồi lại bên một dòng sông cũ. Dòng sông Thu vẫn chảy trong lòng tôi hơn ba mươi năm qua từ một cuối tháng Ba định mệnh - với biết bao đêm u hoài giọt mưa nguồn trong tâm tưởng xao xác bờ đêm . Dọc bờ sông hoang dã đầy những rình rập bất trắc của một ngày xưa chinh chiến, bây giờ mọc đầy quán xá , khách du tấp nập. Cù lao bên kia sông là địa điểm nghĩ mát thấp thoáng những lều tranh cầu tre thơ mộng núp dưới bóng dừa. Tôi dõi mắt nhìn thoát về phía đầm sông bủa sóng, nơi quần tập của nước nguồn trước khi ra biển, lòng băn khoăn về một nỗi buồn quen. Ðứng bên bến sông nhộn nhịp mà lòng vắng lặng hoang vu. Bầy cò trắng từ giữa bụi dừa nước hốt hoảng sã cánh bay vụt vào khoang trời sa sầm những quầng mây u xám. Người thiếu phụ gò lưng chèo chiếc đò ngang trên dòng nước không còn xanh. Từng ngày mãi qua về trên một bến sông, cô có khi nào cảm thấy lòng chợt buồn về một lần tách bến. Con người trên những dòng sông trôi và định mệnh u hoài của kiếp đời mãi hoài tìm kiếm, quẩn quanh. Lòng tôi mơ hồ xúc động về một trùng ngộ nào đó giữa mỗi phận người. Ðứa bé tuổi chín mười, sau buổi học tất tả bước qua cầu Phước Trạch để kịp ra bãi biển Cửa Ðại bán hàng rong. Người lính trẻ đứng trên chiến thuyền giữa đầm sông nhìn ra cửa biển tần ngần về chuyến hải hành cuối cùng. Nơi chốn, thời gian. Buổi sáng. Buổi chiều. Ánh trăng buông. Tiếng sóng cùng nghe…
Người đàn bà không kịp lưởng lự về đề nghị bất ngờ chèo dọc sông Ðế Võng của người khách lạ, cuống quít cảm ơn về món tiền công hậu hỉ vừa nhận được lúc chống đò rời bến. Câu chuyện đẩy đưa, chúng tôi mới hay ra đã có thời gian cùng có mặt trên rẻo cát đầu cửa biển nơi xóm lưới Thuận Tình và căn cứ Hải Quân chỉ cách nhau dãy rào phòng ngự. Người đàn bà còn nhớ buổi sáng doanh trại bốc cháy và hình ảnh đoàn tàu ra đi khuất ngoài cửa biển. Tháng ngày sau đó, đứa bé chín tuổi sau buổi học vẫn vội vã ra bãi biển để bán thuốc lá lẻ nhưng khách mua thì đã chẳng còn ai. Sau ngày thống nhất vài năm, hai người anh vào độ tuổi thanh niên, một theo Thanh Niên Xung Phong, một là bộ đội cũng lần lượt qua đời, kẻ chết bệnh trên núi, người mất thây trong chiến trận giữa rừng già biên giới Việt Miên. Cô gái lớn lên lấy chồng, theo nghiệp mẹ cha, nghèo khó chèo đò, thả lưới cắm câu trên sông Ðế Võng… Người đàn bà chỉ tay về phía khu khách sạn đồ sộ khang trang cuối bãi sông, ngậm ngùi kể tiếp chuyện nhà. Mấy năm trước, chính quyền đã tái qui hoạch khu xóm Thuận Tình để xây dựng khu nghĩ mát, dời họ đến nơi khác, cách trở sông bến. Hai đứa con hiếu thảo, hàng ngày sau buổi học vẫn bán hàng rong trên bãi biển Cửa Ðại phụ giúp mẹ cha vất vả. Tụi nhỏ bây giờ hay hơn cháu hồi trước nhiều. Ðứa nào bán kẹo cao su cho khách du lịch cũng nói tiếng Mỹ như sáo. Tiếng cười của người đàn bà chìm nghẹn trong tiếng nước quẩy mái dầm. Trên vai người đàn bà, bóng Cù Lao Chàm nhòa nhạt nhấp nhô phía chân trời bên ngoài cửa biển. Dáng núi mơ hồ như một lằn mây xa …
Chuyến về thăm quê hương nhiệt đới đã giúp tôi rút ngắn mùa đông Bắc Mỹ một thời gian đáng kể, nhất là năm nay mùa đông như kéo dài hơn với những trận bảo tuyết trắng trời. Mùa xuân đang trở về với những chồi uất kim hương kiêu sa rủ lớp tuyết se lòng khoe mình trong nắng. Chim hoàng anh đã trở về từ những vùng ấm phương Nam đang ríu rít tranh ăn trên những đĩa đựng hạt treo lủng lẳng sau vườn nhà. Trong vài tuần tới, bầy chim mùa đông lại sẽ lặng lẽ từ giã nơi đây bay về phương Bắc. Ra đi. Trở về. Ra đi hẹn với xuân đầu. Buổi hồi nguyên lại pha màu bình minh…(BG). Có gì khác nhau giữa đến và đi trong cái vòng tròn luân chuyển của đất trời, thưa bạn?
Thân chúc bạn đọc một mùa Xuân tươi tràn sức sống.
Phan Thái Yên
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Nhớ Nhung Là Tiếng Vọng Của Tình Yêu | ______Từ Tú Trinh | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Ðêm Hoang | ______Lữ Thị Mai | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Vẫn Mãi Mùa Xuân | ______Nguyễn Phan Ngọc An | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Uống Rượu Ðêm Buồn | ______Song An Châu | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Bên Ni Bên Nớ | ______phanthịngônngữ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Gởi Tình Về Ngọn Ðảo Xa | ______Hoa Thi | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Du Mục Ðâu Có Muà Xuân | ______Tử Du | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Kiếp Người | ______ Hàn thiên Lương | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Vó Ngựa Chi Lăng |
______ThyLanThảo | 10. 1 Vòng Trời Ðất
|
|
______chuvươngmiện | 11. Ta Cu Ly Cụ |
|
______Mynh Hứa | 12. Khóc Cha Bỏ Mình Nơi Rừng Sâu |
|
______Uyên Phương Minh Nguyệt
| 13. Mạt Lộ |
|
______Trần Hoan Trinh |
14. Hoàng Trường Sa,
Trong trái tim ta.
|
|
______
Bảo Giang |
15. Ðường Song Hành
|
|
______T.T.M. |
16. Huế Ðơn Sơ Trong Suy Nghĩ |
|
______Trần Kiêu Bạc |
17. Dị Thảo |
|
______Ái Ưu Du |
18. Thơ 5 Chữ
|
|
______m.loanhoasử |
19. Buồn Hát Quanh Ðời
|
|
______Khóc_Cười |
20. Bến Trăng
|
|
______Hà khánh Phương |
21. Vỗ Về |
|
______Vânhà |
22. Một Thoáng Trong Mơ
|
|
______Nguyễn Hải Bình |
23. Giòng Lệ Khô |
|
______Ðông Hòa |
24. Tình Em
|
|
______Sông Cửu |
25. Chị Về Em Ở Lại
|
|
______Trần Văn Lương |
26. Một Mình
|
|
______Lê Văn Bảo |
27. Sài Gòn Nỗi Nhớ |
|
______Mạc Phương Ðình |
28. Ðau Ðớn
|
|
______Vành Khuyên |
29. Buổi Sáng
|
|
______Sóc |
30. Nghe Tin Nàng Bệnh Nặng
|
|
______Ðinh.Sarây |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Mai Ly Tập II _______ Việt Dưong Nhân |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 30 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Bản Ðộc Tấu Cuối Cùng (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ðinh Lâm Thanh |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 20(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Trực Thăng Lâm Nạn Tại Ðà Lạt ___________ Ái Ưu Du |
| 6.Hoài Niệm ___________ Trần Thành Mỹ |
| 7.Một Lần Ði Xa ___________ Nguyễn Thế Hoàng |
| 8.Anh Võ Ðình Cường - Thử Hòa Ðiệu Sống trong Ánh Ðạo Vàng. ___________ Nguyên Thọ Trần Kiêm Ðoàn |
| 9.Thần Voi ___________ chuvươngmiện |
| 10.Nước Mắt Ngày 8 Tháng 3 ___________ Hà Khánh Phương |
| 11.Hắn Của Tôi ___________ Vành Khuyên |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc
_______ Ban Biên Tập
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Việt Dưong Nhân
Việt Dương Nhân 2. Bờ Lau Cát Lở 30 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Ðỗ Thành 3. Bản Ðộc Tấu Cuối Cùng (chuyện dài nhiều kỳ) Ðinh Lâm Thanh
Ðinh Lâm Thanh
4. Chập Chùng Bóng Núi 20 (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Thanh Sơn
5. Trực Thăng Lâm Nạn Tại Ðà Lạt Ái Ưu Du
Ái Ưu Du
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
Nguyễn Thế Hoàng
Nguyễn Thế Hoàng
8. Anh Võ Ðình Cường -
Thử Hòa Ðiệu Sống trong Ánh Ðạo Vàng.
Nguyên Thọ Trần Kiêm Ðoàn
Nguyên Thọ Trần Kiêm Ðoàn
chuvươngmiện
chuvươngmiện
Hà Khánh Phương
Hà Khánh Phương
Vành Khuyên
Vành Khuyên
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
IV . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Chương 7
Gió sao, gió thổi ngược chiều !
Ðể cho thuyền phải gặp nhiều bão giông.
Bao giờ trời tạnh mây trong,
Vầng dương rực sáng, nắng hồng về đây ?
Thời gian trôi nhanh. Hữu Trí và Mai Tâm đã đến tuổi vào trường mẫu giáo. Nhìn trên giấy khai sanh c ủa hai con; có mẹ không cha, lòng Mai Ly càng thấm đau. Bấy giờ nàng suy nghĩ đến bỏ ngủ quên ăn, tự nhủ :
- Mình phải tranh thủ ! Phải tranh thủ ! Mình phải thắng với bất cứ giá nào.
Mai Ly ngậm đắng nuốt cay với bao nỗi sầu u uất. Một hôm nàng đứng ngay cửa sổ nhìn trời mà trong lòng vừa đau vừa hận, rồi tự trách : Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi ! Vì quá tự tin và tin người. Trời ơi, hỡi trời ! Bất chợt J.J. đến gần hỏi :
- Sao em buồn vậy ?
Mai Ly xoay mình lại miệng cười gượng :
- Em có buồn gì đâu.
- Em à ! Em nên đi chơi với bạn bè một chút đi. Chớ em ở nhà hoài, riết rồi em xem anh như cái bàn cái ghế đó. Nè, anh cho em thêm một chút tiền đây.
Mai Ly ngạc nhiên, nàng tự hỏi :
- Sao lạ vậy cà ? Từ ngày mình về ở đây, mình bỏ hút thuốc, bỏ uống rượu, ăn mặc kín đáo, mình nghe tất cả lời khuyên dạy của J .J. Sao hôm nay chàng bảo mình đi chơi, mà còn cầm tiền cho mình thêm nữa chứ ? Lạ Thật ! Mai Ly trầm tư suy nghĩ tiếp :
- Vậy là chàng có gì thay đổi rồi. Hay là chàng có mèo-chuột nên lương tâm chàng cắn rứt.Vì chàng thấy mình cứ ở nhà hoài ! Bao nhiêu câu hỏi và nghi ngờ. Mai Ly đều đánh bật ra hết. Nàng nhủ : - Không phải thế, mình tin tưởng chàng, vì chàng thương con lắm và chàng vẫn yêu mình kia mà ! Mai Ly rất tự tin, hơn nữa nàng ỷ lại nhan sắc còn trẻ đẹp và cộng thêm sự ngoan hiền mấy năm trời với J.J. Nàng lấy tiền, hôn và nói cám ơn J.J.
Mấy ngày đêm Mai Ly suy nghĩ miên man. Rồi một buổi chiều, nàng soạn mấy quyển sách định lấy ra đọc, có điện thoại reo :
- A-lô ! Ai đó ?
- Tao nè, Mai Ly đó hả ?
- Ờ, mà ai vậy ?
- Tao, Phượng đây. Mầy không nhận ra giọng nói của tao sao ?
- Biết rồi, lâu quá tao không có tin tức của mầy. Sao mậy, dạo này chồng con ra sao ? Có đẻ đứa nào chưa ?
- Vẫn chưa có. Còn chồng tao thì cũng như thế. Riết rồi chán ngáy nên tao đi chơi dữ lắm. Hôm nào tao kéo mầy đi với tao nhé !
- Thôi, Phượng ơi ! Cho tao an phận đi.
- Con khỉ mốc. An phận hả ? Tao gặp chồng mầy đi với đào ở Maxim’s.
Mai Ly bị chấn động mạnh, nhưng nàng cố gượng cười và nói :
- Con quỉ, đừng xạo mầy ơi ! Kiếm chuyện để gài tao đi chơi hả ?
- Tao nói thiệt, tin hay không tùy mầy.
- Rồi mẹ à ! Con tin, kể cho con nghe đi. Ðứa nào. Ðầm hay Việt ?
- Ðầm lai, tóc dài, mang mắt kiếng trắng, có vẻ trí thức chớ không phải loại của tụi mình đâu. Coi chừng mất chồng đấy nghe cưng.
- Từ từ chớ em. Sao mầy dọa tao dữ vậy Phượng ?
- Tao không có dọa mầy đâu. Ừa, cứ ở nhà làm gái lành, làm vợ và mẹ hiền mà trên đầu mọc sừng không hay.
- Vì tao chưa thấy làm sao mà kết tội được. Mầy nói thì tao sẽ để ý đề phòng. Ờ, tao thấy J.J. hơi kỳ kỳ.
- Kỳ cái gì, hả nhỏ ?
- Bữa hôm kia hắn cầm tiền cho tao và bảo tao đi chơi.
- Lạ con khỉ mốc ! Ê, hôm nào tao ra chở mầy đi nhậu nha. Dạo này tao có xe hơi rồi.
- Cha, ngon quá ta. Ờ, để hôm nào mầy ra đây nhớ cho tao hay trước để tao xin phép J.J.
- Cái con này, sao mầy sợ chồng quá vậy ?
- Thì chồng tao, tao sợ có sao đâu ?
- Thôi nha ‘’Gái Già’’. Mai mốt hén !
Bỏ điện thoại xuống, Mai Ly nghe trong lòng nổi lên cơn ghen. Và sau đó J.J. đi làm về, nàng hỏi liền :
- Anh đi Maxim’s, sao anh không cho em biết ?
- Anh đi... vì có áp-phe.
- Áp-phe hả ? Áp-phe với Ðầm lai à ?
- Thì đi chung với mấy người bạn họ dẫn theo vợ của họ.
- Vợ của họ, hay bồ của anh ?
J.J. hơi cáu lên, chàng nói :
- Bồ rồi sao ?
Mai Ly phừng phực cơn ghen, nàng đấm tay vô tường nhám hai ba cái và nói :
- Anh sẽ chờ xem.
Tay Mai Ly bị trầy sướt đẫm máu, dì Năm bếp chạy lên lấy vãi băng lại, bà nói :
- Trời ơi ! Sao cô giận chi mà cô làm đau cô vậy ?
- Không có sao đâu dì Năm à ! Tối nay con không có ăn cơm nhà, nhờ dì nói với con Bánh cho tụi nhỏ ăn cơm xong rồi cho đi ngủ sớm nha.
Dặn dò mấy lời, Mai Ly đi vô phòng sửa soạn thay quần áo, nàng mới ra cửa thì J.J. nắm tay nàng lại hỏi :
- Em đi đâu giờ này ?
Mai Ly hất tay J.J. nàng nói :
- Ði chơi chớ đi đâu.
J.J. đành nín thinh để cho Mai Ly đi. Mai Ly ra khỏi nhà và lấy Taxi chạy thẳng qua vũ-trường nhà hàng Maxim’s. Vào trong, lên lầu không thấy Phượng. Nàng chạy lại nhà hàng vũ trường Thanh-Long. Mới xuống xe thì nghe tiếng Phượng :
- Ê ! Gái-Già ! Mầy đi đâu giờ này ?
- Ði kiếm mầy để nhậu chớ đi đâu !
- Xạo mầy ! Sao mầy biết tao ở đây ?
- Ngửi mùi mậy ! Bữa nay tao chơi mút chỉ đó.
- Dám không ?
Phượng quay lại nói cả bàn :
- Ðây là Mai Ly bạn của tôi, mà tôi đặt cho nó cái tên đặc biệt là ‘’Gái-Già’’.
Cả bàn cười rộ lên, có một chàng vọt miệng :
- Già cỡ này chắc làm đàn ông nổ con mắt hết quá ! Có chồng chưa ?
Phượng trả lời :
- Chửa chồng, mà đã có hai con rồi.
- Hai con mà trông còn ngon quá. Mời cô Mai Ly.
Mai Ly ngồi xuống nâng ly và hỏi Phượng :
- Ê, Phượng ! Sao mầy không giới thiệu tên. Ai vậy ? Anh tên gì đó anh ?
- Cô hỏi tôi à ?
- Vâng ! Bạn đấy !
- Tôi tên Cẩn ! Còn đây là Trung, Trực...
- Hân hạnh được biết các bạn.
Phượng nói với Mai Ly :
- Ê, nhỏ ! Mấy anh này lớn hơn tụi mình. Mầy gọi bằng anh, chớ gọi bạn, bạn hoài kỳ quá mầy ơi !
- Thế à ! Ờ, anh thì anh. Coi chừng anh Cẩn nhỏ hơn tao đó Phượng ơi ! Cho biết mấy tuổi được không anh... anh Cẩn.
- Ðược chớ ! Hai mươi tám cái ‘’xuân non’’.
- Rồi ! Mai Ly chịu làm em của anh.
- Còn Mai Ly mấy cái xuân, sao không nói ?
- Một phần tư thế kỷ, tức là hai mươi lăm cái ‘’xuân già’’. Thôi nâng ly lên chứ...
Phượng hỏi :
- Ðêm nay mầy được phép đi chơi đến mấy giờ vậy Mai Ly ?
- Xả láng, sáng về cũng chẳng hề gì.
- Chịu chơi há ! Lâu quá mầy mới sút chuồng đấy !
- Ðừng chọc quê tao nhé Phượng !
Trung và Trực cứ ngồi nhậu mà không nói gì cả. Cẩn quay sang nói với Phượng :
- Mai Ly có vẻ chịu chơi như Phượng.
Phượng nâng ly nóc một hơi cạn và ôm choàng vai Mai Ly :
- Mấy năm qua mầy tu, đêm nay ra đời. Nhớ chơi cho đã nghe mậy !
- Lẽ đương nhiên. Tao thí mạn mặc cho đời tới đâu thì tới.
Trên bàn ai cũng ngà ngà say. Tiếng cười nói rộn rã. Không ai để ý đến tiếng nhạc lời ca. Ðèn bớt lờ mờ mang lại cảnh vũ trường của bướm hoa lơi lả.
Mai Ly cũng ngà say nhưng nàng còn tỉnh, tự nhủ : - Mấy năm trước đây mình đã ở trong cảnh này. Chán ngán quá nên ôm mộng làm vợ hiền. Ngày nay sự mơ mộng ấy đã tan tành theo mây khói. Mình sẽ thành con ngựa hoang trở về rừng cũ chăng ? Chén qua, ly lại nói cười mà đã hơn mười một giờ rồi. Mai Ly đứng lên ngoắt cậu chạy bàn :
- Xin tính tiền hết bàn này dùm đi em.
Phượng vọt miệng :
- Ê, bậy hoài nhỏ ! Ðêm nay tao và mấy anh mời, mầy đừng làm vậy kỳ lắm.
- Vậy thì xin hôm khác đáp lại nha.
- Mầy về hả Mai Ly ?
- Ờ, đã khuya quá rồi, sắp hết giờ giới nghiêm.
Cẩn quay sang nói :
- Ðâu có sao Mai Ly. Tụi này sẽ đưa Mai Ly về.
- Vậy thì tốt. Nhưng đừng quá trễ. Rủi mà gặp Cảnh-sát khó thì mắc công lắm đó.
Phượng cười khà khà :
- Coi vậy mà sợ há !
Mai Ly cười gượng nói :
- Sợ chớ mậy. Vì tao còn hai đứa nhỏ nữa mầy ơi !
Phượng và Cẩn móc tiền ra trả rồi đồng đứng lên, Cẩn nói :
- Tụi mình phải đưa Mai Ly về. Ê, Trung, Trực ! Tụi bây dậy đi về. Uống mới có bấy nhiêu đó mà say mèm, ngủ gà ngủ gật.
Tất cả đều đứng lên ra xe của Phượng. Chiếc xe hơi hiệu Peugeot 304 màu trắng còn mới toanh. Phượng lái, Mai Ly ngồi đàng trước. Cẩn, Trung, Trực ngồi phía sau. Xe ngừng lại trước nhà Mai Ly, nàng xuống xe và tổng chào.
Mai Ly mở cửa vô nhà, nàng ngồi ở salon hít vài hơi thuốc lá, tiến đến tủ rượu rót một ly Whisky ực ực. Nàng trở lại salon ngồi hút thuốc tiếp. Ðầu óc đang quay cuồng, nàng gục đầu suy nghĩ nhớ lại cuộc đời tấm bé của nàng. Nước mắt ràn rụa chảy và thả hồn nhớ về thuở ấu thơ...
... Mai Ly mới có sáu, bảy tuổi vừa vào học lớp mẫu giáo. Em ôm cặp-táp bện bằng dây bàng, bên trong chỉ có tấm bảng đen và quyển sách vần xuôi với mấy cục phấn trắng. Vừa tan học em đi bộ về nhà. Ðang hồn nhiên vừa đi vừa đá mấy cọng rơm rạ trên đường mòn. Bỗng có tiếng của Hiệp, đứa bạn học chung lớp và chung xóm :
- Ê, Mai Ly ! Mầy biết gì không ?
- Cái gì vậy Hiệp ?
- Mầy có ba ghẻ.
- Ba ghẻ !
- Còn gì nữa, làm bộ hoài.
- Ðừng chọc tao à !
- Xí. Chọc mầy đó dám làm gì tao ? Ðám cưới của má mầy... Ê, liu liu... Có ba ghẻ...
Mai Ly nghe Hiệp chọc ghẹo, em rất giận muốn đánh lộn rồi. Vì tánh em dọc ngang gan lì - hay đánh lộn với con trai. Nhưng tới nhà, em vào nhìn thấy có hoa, trái, nước ngọt, với bia để sắp hàng hàng. Chợt nhớ tới những lời của thằng Hiệp trêu chọc. Em nói một mình : - Ðúng rồi ! Mai Ly quăng cặp-táp xuống đất và gọi :
- Má ơi, má !
Tiếng của Hà, người anh cả của Mai Ly từ phía nhà sau hỏi vọng lên :
- Cái gì mà mầy la ó vậy ?
- Anh Hai, bộ đám cưới của má hả ?
- Im ! Còn con nít đừng có hỏi lộn xộn.
Mai Ly ra đàng sau, dậm chân, níu áo Hà, hỏi tiếp :
- Má đâu rồi ? Ðám cưới của má phải hông ? Phải thằng cha Hai Hoài cưới má hông ? Em ghét nó lắm. Em không chịu đâu. Má ơi ! Má ! Hổng biết đâu. Em đi ra ngoài mả mét với ba cho mà coi.
Bất chợt, Hà tát vô mặt Mai Ly một cái, rồi đưa hai tay xốc em lên đem ra đàng sau bếp nhét khăn vô miệng và trói lại như con heo.
Nỗi căm hận của đứa bé vừa lên sáu, bảy tuổi. Mai Ly thù hết tất cả và trở thành một đứa bé cứng đầu bất trị. Lúc nào em cũng muốn chết đi cho rồi. Mấy lần em buông tay cho té xuống sông. Từ trên cây me sau nhà, em leo lên và thả mình bay xuống như diều, hoặc bị đòn thì liều mạng. Và em cũng thường bỏ nhà đi ra ngồi bên mả cha. Kêu gào khóc la và gọi cha về dẫn em đi theo...
... Cánh cửa phòng mở ra, J.J. đến gần Mai Ly đập vào vai và nói :
- Em về mà sao không vô phòng ngủ, ngồi đây ngủ gục vậy ?
Mai Ly hoàn hồn trở lại, nhìn J.J. như quỉ hiện hình, giọng nói nhừa nhựa :
- Ai đó ? Anh đó hả ?
J.J. lắc đầu, nói :
- Em say quá rồi.
- Em say à !
Mai Ly cười ha hả, nói tiếp :
- Say mà em biết là anh. Vậy, em say cái gì ?
- Thôi, đi vào phòng thay quần áo ngủ.
- Ngủ à ! Ngủ hoài ngủ cả mấy năm rồi. Bây giờ anh bắt em đi ngủ nữa sao ? Thôi anh ơi ! Anh đi ngủ đi, để cho em yên ở nơi đây.
J.J. có vẻ giận, chàng gằn giọng nói lớn :
- Anh bảo em vô phòng ngủ.
Mai Ly ngẩng mặt nhìn J.J. và lấy tay khoác khoác :
- Ha ! Ðây là lệnh của anh đấy à ?
- Ðúng, anh ra lệnh em đó.
- Lệnh của anh đã hết uy rồi.
J.J. nóng lên, bảo :
- Mai Ly ! Anh bắt em phải vô phòng ngủ.
Mai Ly hất mặt lên :
- Nếu không, anh sẽ làm gì em ?
- Anh không làm gì em, nhưng anh muốn em vô ngủ.
- Không. Không. Em muốn ngồi đây một mình, em muốn yên.
J.J. ôm đầu, chàng nói :
- Trời ơi ! Sao Mai Ly như thế này ?
Mai Ly nghe khoái chí và trong lòng nghe đã tự ái. Nàng ngẩng cổ lên :
- Tự anh biết. Tự anh hiểu. Và bây giờ xin anh cho tôi yên được không ?
- Ðược, được. Tùy em.
J.J. bỏ vô phòng. Còn lại một mình Mai Ly, nàng gục đầu khóc một hồi rồi vùi đầu trong giấc ngủ vừa say vừa mệt.
< Sửa đổi: Việt Dương Nhân -- 2/4/2005 6:35:25 AM >
_____________________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng (BÁN) non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)
Tôi chỉ trải qua 6 tháng giai đoạn 1 thuần túy bộ binh rồi sau đó rời Chợ Nhỏ để gia nhập giai đoạn 2 kỹ thuật ở một nơi khác. Dù chỉ ở với trường Mẹ ngắn ngủi nhưng tôi cũng kịp nhận ra có rất nhiều sự thay đổi tại đây. Trước hết là giai đoạn nhiễu nhương của nên Ðệ 1 Cộng Hòa, manh nha đã có rục rịch những âm mưu đảo chánh, bằng các vụ ném bom vào dinh Gia Long, hoặc những rung động binh bị, thiệt hoặc giả.
Trường Võ Bị Liên Khoa Thủ Ðức cũng không tránh khỏi những biến động thời thế đó. Ðúng ngày tôi từ Tháp Chàm về thủ đô vào quân trường là ngày dinh Gia Long bị các phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cừ dội bom. Ðang ngơ ngác ở ga xe lửa chờ xe nhà trường ra đón thì nghe tiếng nổ uỳnh oàng, dân chúng đi chợ bỏ chạy nháo nhào.
Mãi sau đài phát thanh loan tin và biến cố lắng đọng thì đám nhập ngũ cũng phải chờ thêm mấy tiếng nữa mới được di chuyển. Xe GMC chở bọn tôi về trường vào giữa trưa, nhà bàn không kịp nuôi ăn nên thằng nào thằng ấy phải tự động bò xuống câu lạc bộ bỏ tiền mua món gì trám bụng.
Mới là lần đầu thôi đã nhận ra ngay vẻ nghênh ngang, coi thường của nhà thầu nên bọn tôi đều có vẻ bất mãn. Vậy mà chẳng rõ từ đâu có tiếng ai đó nhỏ to căn dặn, chỉ trỏ cho thấy cái cô mi nhon đang lảng vảng gần đó, và nhắn nhe đừng động vào mà khốn. Thì ra ở đâu cũng vậy, cứ hễ có bóng dáng lính là có đám bậu xậu bám vào ăn trên đầu trên cổ.
Chúng tôi được khuyên đừng nổi nóng, phát ngôn bậy bạ vì cổ là… Chỉ vài tuần sau bùng ra tin vị CHT của trường bỗng chết đột ngột và nhắm nhó ám chỉ cô mi nhon là nguyên nhân cái chết khi đang cưỡi ngựa của vị tài hoa.
Kế đó, đại Tá Lam Sơn được điều về thay. Cử chỉ đầu tiên của vị chỉ huy mới là ông lững thững bước xuống xe đi bộ vào vũ đình trường để ra mắt SVSQ. Về lai lịch của vị sĩ quan này, bọn tôi đã nghe rì rào nhiều về hành động dũng cảm của ông khi đối đầu với tay cố vấn hỗn xược.
Vì kể từ khóa 13 toàn là thành phần động viên, hết còn nhận dạng tình nguyện, nên sinh khí nhà trường hết còn cảnh đàn anh hành đàn em, như truyền thống huấn nhục của các quân trường. Ðã thế, ngay các sĩ quan trung đội trưởng nếu có lời nói mạt sát hay chửi bới SVSQ cũng bị thưa gửi đến nơi đến chốn ngay.
Trường Bộ Binh dạo đó tổ chức những buổi thuyết trình chính trị, mời các bộ trưởng hay những người am tường đến nói chuyện với SVSQ, kể cả cố vấn của Tổng Thống. Do đó có lúc nhà trường tưởng chừng như có cuộc đảo chánh nội bộ vì lời tố cáo thẳng của SV với bộ trưởng phụ tá quốc phòng về lời nói thô lỗ của một sĩ quan.
Cũng từ đó, nhà trường cứ cách 1 tuần lại có buổi ca nhạc diễn cho SV, các tài tử thi nhau đến với lính. Bên cạnh còn có cảnh các bà tướng tá thỉnh thoảng đến thăm, phát quà, dạo đó chúng tôi thầm thì trêu chọc với nhau là các bà đến xoa dầu cù là lên trán cho ấm.
Việc trắc nghiệm tâm lý chọn ngành được tổ chức rành rẽ bề mặt, nhưng thực ra bên trong đều có sự vận động của thân nhân thì mới có kết quả, còn không thì ai cũng là thành phận bộ binh, vốn được ví von gọi là “ nữ hoàng của chiến trường “.
Ngày chia tay, người mừng kẻ buồn, tay này nói mát tay kia : anh có phước, được về đơn vị nặng chữ thọ. Và thế là vô hình dung ngay giữa anh em đã ngấm ngầm có sự ganh tị với nhau. Sau này, ra thực tế, tôi suy ra chẳng biết đâu là may, là rủi vì chiến trường bất kể anh là lính gì, mang phù hiệu gì, viên đạn vẫn đui mù ghim vào vì xem ráo là địch.
Nói nào ngay, các SVSQ đi ngành đều có phần ưu đãi hơn, chẳng hạn đi phép đều được xe đưa đón, ngẫu nhiên bạn bè cũ gặp đều cho là một đằng thì như quân vương, còn một đằng thì lẹp xẹp mãi với cái danh tự túc.
Phải mất thêm 6 tháng, tôi mới hoàn tất giai đoạn 2. Ngày ra trường là ngày lao đao đối với tôi vì những chuyện ruồi bu từ đâu ập tới. Nguyên bác vợ tôi là giám đốc quân huấn của trường nên sắp đến ngày mãn khóa ai cũng ráo lên, đoán xem tay nào đi đơn vị, tay nào ở lại trường.
Khổ nỗi, thời buổi chiến tranh, ai đang ở yên ở lành tại thủ đô đều e ngại phải ra đơn vị. Ác cái là ai cũng đồn thổi là tôi sẽ thay thế ai đó để ở lại trường và thế là người ta bày ra việc sàng xảy để xem ai bị tôi thay.
Thế rồi chỉ vì những lời đối đáp lại qua, một đằng cứ cột buộc, một đằng cứ vùng thoát ra, tôi bỗng thành con vật tế thần với bao oan khiên đè ập lên người. Ngày thi cuối khóa, giám khảo nhăm nhăm đánh hỏng tôi. Ai vào thi cũng qua loa, nhưng đến phiên tôi là bị chính vị chánh chủ khảo dành cật vấn.
Khổ thân tôi, lận đà lận đận, đầu óc quay cuồng. Ðến khi thi cử xong rồi mà cái án treo của tôi vẫn mù mù mịt mịt. Nay có tin tôi là trung sĩ, mốt có tin tôi bị đổi đi vùng xa. Hồi đó những danh xưng như vùng 1, Pleiku hay Năm Căn coi như là lò luyện thép với những tay bướng bỉnh. Tôi loáng thoáng đã nghe những tên đó kèm với tên chính của mình.
Trên đời này, chùa nào chẳng thờ bên ông Thiện, ông Ác. Tôi quá vất vả vì bị vầy vò bởi bàn tay ông Ác thì cũng may lại có ông Thiện cứu vớt cho. Cũng nhờ điểm thi giai đoạn 1 ở Thủ Ðức lẫn điểm thi tuần áp chót tại Quang Trung đều cao, chỉ nhỉnh thua người thủ khoa nửa điểm, nên tôi mới trụ lại được nhờ sự can thiệp tận tình của một sĩ quan trong ban giám khảo, với cái nút “ thượng sĩ gân “.
Thoát khỏi mang cánh gà bên tay áo thì lại hùng hục đánh vật với địa bàn sắp trình diện.
Nay quyết định Bắc Liêu, mai đổi sang Kontum, toàn những tên nghe muốn bổ ngửa. Mục tiêu của tôi chỉ mong ra trường khiêm nhường được cho về Dalat, vừa làm lính, vừa xin dạy thêm một vài giờ nơi trường cũ của Cha, nhưng hi vọng hoàn toàn sụp đổ. Giờ thì chỉ mong sao đến một chỗ tương đối bình an. Cuối cùng tên Ban Mê Thuột coi như số mạng hết còn gỡ được.
Tôi lên xứ Buồn Muôn Thuở một mình, vợ con gửi nơi gia đình ông bác bên phía vợ. Tôi lên đúng gần dịp Tết, vì chẳng còn thích thú gì với cái đất thủ đô. Chính vị chỉ huy đầu tiên của tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy tôi trình diện cận Tết. Ông nói ra miệng, nghĩ là tôi không lên sớm khi chưa vui Tết với gia đình.
Hay chẳng bằng hên, năm đó, nhìn cái vẻ xìu xìu ển ển của tôi, vị chỉ huy trưởng đã đặc ân cho tôi trở lại Saigon vui Xuân với gia đình. Tôi thật chẳng ngờ, mừng húm mà lại ở tịt trong nhà, không dám đi đâu, chỉ sợ ra ngoài gặp ba cái miệng bép xép lại gây sóng gió sôi nổi.
Tôi ở nhà được nửa tháng rồi trở lại xứ ba dan. Buồn làm sao hè thì bụi, mưa thì lầy. Tôi được cử làm phụ tá trung đội trưởng thuôc đơn vị Vận Tải Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Trong đời lính, chuyến công tác đầu tiên được tháp tùng cùng vị chỉ huy trưởng đi từ Ban Mê Thuột đến một đoạn gần Phước Long.
Trên hành trình được ông giảng dạy cho nhiều kinh nghiệm. Chẳng hạn đường bộ toàn là đường đất nên địch dễ đào xới gài mìn, vô phúc trời kêu ai nấy dạ, biết tránh đi đâu. Dọc đường gặp phu lục lộ trần thân giữa nắng nóng, quần áo quện mồ hôi lẫn đất đỏ, vị chỉ huy trưởng luôn ca cẩm tỏ vẻ thương.
Một điều tôi không ngờ là nước đem theo bi đông uống đã cạn mà cơn khát vẫn không nguôi. Thày trò còn đang phân vân thì vị chỉ huy của tôi gặp bên đường một phuy nước dùng làm nơi rửa cuốc xẻng của phu lục lộ. Thế là ông thắng xe lại và lấy mũ sắt múc lên, rồi dùng những viên lọc nước do quân đội cấp và uống xì xụp.
Xong ông trao sang tôi giục uống. Tôi nghĩ đến sự lợn cợn hồi nãy mà không dám, ông nói : anh còn thư sinh quá, phải tập bạo dạn đời lính cho quen, chớ sợ thì có ngày chết khát mất.
Ðó là lần đầu đi với ông mà cũng là lần cuối vì sau đó bản cấp số giảm bớt sĩ quan, ai cũng yên vị lâu đời tại chỗ nên không muốn thuyên chuyển đi, tôi đâm dôi ra và thế là lại lóp ngóp bò về Saigon.
Thiên bất dung gian làm sao lại về đúng ngay ngành hỏa xa quân đội, nơi vị chánh chủ khảo đã văng vật tôi hồi thi ra trường. Tôi trình diện vị sĩ quan phụ tá và bị hất qua ga Saigon không cho gặp ông.
(còn tiếp)
7/03
Ở đây gần hai năm nhưng Jim vẫn không chịu nổi khí hậu và môi trường thiên nhiên tại thành phố nhiệt đới nầy. Bốn mùa oi bức, khí hậu khô và thiếu nhiều phương tiện tân tiến cần thiết, dù đây là một thành phố cảng nằm cạnh bờ biển. Ngày ruồi, đêm muỗi, không khí tanh mùi rác, mùi tôm cá lẫn mồ hôi người. Muỗi lớn gần bằng con ruồi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào và ruồi to gấp hai hột đậu phộng đeo sát một bên. Bước ra ngoài, ruồi bu đầy mặt, vừa hé cửa, muỗi chui vào nhà. Muốn yên thân, suốt ngày ngồi phòng lạnh nếu có việc ra ngoài thì phải trốn trong xe. Môi trường lạc hậu ở đây không thích hợp cho người nước ngoài đến du lịch hay sinh sống, cho dù Lagos là thủ đô cũ của một quốc gia đứng đầu Châu Phi về sản xuất dầu thô.
Bây giờ Jim mới thấy vợ chàng có lý, vừa qua vài được tháng vội quay về Mỹ. Marianne không thể chịu được khí hậu nóng bức ở đây, đã thiếu vệ sinh mà còn bị ruồi muỗi tấn công liên tục ngày đêm. Trong thời gian sống chung với Jim, Marianne thu mình suốt ngày trong nhà, không dám mở cửa đi ra ngoài, vì vậy, Jim không có cách nào giữ mãi vợ bên cạnh nên buộc lòng để nàng trở về.
Marianne không thể ở đơn chiếc một mình tại Mỹ và Jim cũng khó lòng sống trong cảnh độc thân dài hạn tại đây. Jim đề nghị với công ty mẹ luân phiên một kỹ sư bạn, cứ sáu tháng thay nhau một lần. Nhưng đây chỉ là giải pháp tạm thời, Jim không an tâm để cô vợ trẻ đẹp sống một mình trong suốt thời gian nửa năm mà bên cạnh nàng có nhiều người rình rập, bám sát, tán tỉnh.
***
Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thuở nhỏ sau một tai nạn xe hơi, chàng được một người dì đưa về nuôi ăn học. Jim rất thông minh và năm 23 tuổi đã trở thành một kỹ sư ngành dầu hỏa. Qua một thời gian làm việc, Jim đuợc bổ nhiệm giám đốc chương trình xây dựng các dàn khoan và hệ thống lọc dầu của hãng Shell. Vừa trúng thầu tại Nigéria, công ty Shelle đưa Jim qua đây với một toán chuyên viên để nghiên cứu dựng các dàn khoan ngoài khơi, lắp ráp hệ thống ống dẫn đến các bồn lọc trong đất liền. Ðồng thời, Jim còn là giám đốc kỹ thuật các nhà máy lọc dầu ở ngoại ô thành phố Lagos. Vừa cưới xong Jim thuyết phục đưa Marianne ra ngoại quốc làm việc, lý do chính là chàng muốn tách nàng xa hẳn Steven, tránh những liên hệ lén lút giữa hai người mà Jim nghĩ rằng người tình cũ vẫn còn đeo đuổi vợ mình…
Trước khi gặp Jim, Marianne đã là người tình của Steven, nhưng vừa gặp chàng trong một buổi dạ hội, tiếng sét ái tình đến với nàng quá nhanh, Marianne đã ngả vào vòng tay Jim và hiến dâng tận tình. Nàng gật đầu đưa tay đón nhận chiếc nhẫn cưới, chấp nhận sống đời với Jim và vô tình để lại cho Steven một niềm đau bất tận, một mối hận sâu xa. Ðối với Marianne, Jim hơn hẳn Steven về nhiều khía cạnh, trí thức, đẹp trai, công việc tốt, nhà cao cửa rộng, trong lúc Steven chỉ là một huấn luyện viên thể thao, vai u thịt bắp, ở nhà thuê, cuộc sống chật vật không tương xứng với nàng ! Trong thời gian quen biết với Jim, Marianne mới khám phá ra Steven chỉ là một người tầm thường trong cách xử thế, từ hình thức cho đến những suy tư thầm kín trong lòng của một người đàn ông. Steven thuộc về hạng người mà cuộc đời chỉ biết đến ba vấn đề là dollar, chiếc giường và con dao, cái nĩa.
Nàng không ân hận, không thương hại và xem chuyện bỏ rơi Steven là một việc đương nhiên của một người đẹp khi phải chọn lựa giữa hai người đàn ông.
Qua Nigéria với chồng nhưng chưa đầy một năm Marianne lại quay trở về Mỹ khi mang thai đứa con đầu lòng. Sau khi sanh bé gái, Marianne ở lại Mỹ và Jim phải luân phiên đi về từng sáu tháng một.
Nhưng cuộc sống tình cảm của Marianne không đơn giản như những người đàn bà yên phận khi đã lập gia đình, vì nàng quá đẹp, quá đa tình và xem trọng vấn đề chăn gối. Trong thời gian Jim vắng mặt, Steven trở lại với Marianne. Lúc đầu nàng cự tuyệt, nhưng nổi cô đơn của một đàn bà đẹp, cùng với sự đòi hỏi của thể xác dần dần đưa đẩy nàng trở lại với Steven…Một lần, rồi hai lần và cho đến lúc gần như quen thuộc không thể tách rời ra được !
Mấy tháng trước đây Jim trở về Mỹ thăm gia đình, chàng có linh tính việc ngoại tình của vợ khi khám phá ra trong nhà có hơi đàn ông, Jim lục lọi tìm kiếm một bằng chứng để có thể buộc Marianne qua Nigéria với chàng…. Bất ngờ Jim tìm thấy gói thuốc lá và chiếc hộp quẹt trong ngăn tủ thì Marianne không còn chối cãi gì được. Nhưng nàng nhất định không theo chàng qua Phi Châu, vịn cớ con còn nhỏ không thích hợp với môi trường thiếu vệ sinh cũng như không có phương tiện chăm sóc trẻ con.
Ðể ý theo dõi, Jim khám phá ra, người tình của Marianne không ai xa lạ, chính là Steven đã trở lại với vợ chàng. Âm thầm đau khổ, nổi đau của một người trí thức thường thấm thía sâu đậm hơn một người bình thường, Jim trở nên ít nói, làm việc về vẫn vui vẻ, đối xử thân tình với Marianne. Cho đến một hôm, Jim để ý đến chiếc màn cửa sổ tại phòng ăn, lúc chàng có mặt tại nhà màn được vén lên nhưng khi Jim ra xe đi làm thì màn lại thả xuống ! Việc xảy ra nhiều lần khiến cho chàng đặt câu hỏi và Jim cố tâm bắt tại trận một lần cho rõ trắng đen để buộc Marianne đem con theo chàng qua Lagos.
Mới đây, vừa ra khỏi nhà sau khi hôn vợ con, Jim thấy màn cửa phòng ăn được buông xuống, Jim bình tĩnh vào sở rồi chừng vài tiếng đồng hồ sau anh dùng taxi quay trở về. Ðề nghị tài xế dừng cách nhà một quảng và ngồi yên trong xe, chừng hơn nửa giờ thì bắt gặp Steven đến, hắn đậu xe phía bên hông nhà và đi nhanh vào nhà. Jim định vào ngay để bắt tại trận, nhưng sau một thời gian do dự Jim yêu cầu taxi chở anh quay trở lại sở làm, xem như không có chuyện gì xảy ra. Jim vẫn giữ thái độ bình thường vui vẻ với vợ con cho đến lúc trở lại Nigéria.
***
- Thưa ông chủ, tôi đã chuẩn bị xong.
Vừa xếp một số hồ sơ để giao lại cho người phụ tá đảm nhiệm trong thời gian vắng mặt, Jim quay lại nói với Him :
- Anh ra xe và chờ tôi, tôi cần điện thoại ra dàn
khoan dặn thêm vài công việc.
- Thưa, ông không mang theo hành lý ?
- Không !
Suốt quảng đường từ nhà ra phi trường hai người không trao đổi một câu nào, Jim đang suy nghĩ đến gia đình đồng thời sắp đặt những chuyện sẽ xảy đến và phải giải quyết thế nào cho tốt đẹp. Nhưng dù thế nào Jim vẫn sẵn sàng tha thứ cho Marianne vì anh quá yêu nàng….
Lần cuối trở lại Lagos cách đây chừng một tháng nhưng Jim lại vội vàng thu xếp trở về Mỹ. Anh chỉ báo riêng cho phụ tá biết chàng cần giải quyết chuyện gia đình trong vài ngày, đồng thời yêu cầu thông báo cho ban giám đốc rằng chàng đi công tác tại một vài xứ lân cận. Lý do cấp bách buộc anh trở lại Mỹ là sau lần bắt gặp Steven đến nhà, Jim khẳng định việc gian díu giữa Marianne và Steven đã đến hồi trầm trọng, hai người gần như công khai ngay trong thời gian Jim có mặt tại Mỹ. Như vậy tình cảm của Marianne đối với Jim nếu chưa dứt hẳn thì Jim chỉ là người chồng chính thức trong sáu tháng và nửa năm còn lại Marianne ngã mình trong tay Steven. Hơn nữa, thực tế thời gian vừa qua, ngay lúc Jim đang có mặt tại Mỹ, Marianne vẫn ngang nhiên đón tiếp Steven trong khi chàng đến văn phòng làm việc. Ðặt câu hỏi, Marianne vẫn chối quanh và thề hứa đủ điều nhưng tình hình đã trở nên trầm trọng, Marianne cắm lên đầu Jim những cái sừng to tướng và xem như chàng ngây thơ chẳng hay biết gì. Lần trước, thấy Steven bước vào nhà nhưng Jim chưa muốn giáp mặt ba người, vì chàng vẫn yêu Marianne, sợ quyết định hấp tấp của mình sẽ làm hư chuyện và mất nàng vĩnh viễn.
Dù trước đây đã biết Marianne và Steven yêu nhau nhưng Jim không tự chủ được trước sức quyến rũ của Marianne cũng như mối tình nóng bỏng mà nàng đã dâng hiến cho chàng sau lần gặp gỡ đầu tiên. Trở lại thành phố Lagos lần nầy gần một tháng, thời gian đủ để Jim bình tâm suy nghĩ và chàng phải có một quyết định dứt khoát, thà một lần, đến đâu thì đến còn hơn kéo dài những ngày tháng chịu đựng trong đau khổ. Nhưng nếu muốn biết trắng đen, phải tận mắt chứng kiến một lần và cả ba người cần đối mặt nhau trước một bằng chứng để không ai có thể chối cãi. Ðây là lý do chính, Jim quyết định và bất thần trở về Mỹ.
Xuống phi trường Houston gần 9 giờ tối, ăn vội miếng hamburger rồi ra đường đón taxi, Jim xuống xe một quảng khá xa và đi bộ về nhà. Vẫn biết rằng có thể lúc nầy Steven thường đến với vợ mình hàng đêm, anh tự trấn an giữ bình tĩnh. Nhưng vừa trông thấy chiếc xe lạ đậu một bên hông nhà, Jim giận đến run người, ép mình khuất vào bóng cây để định thần và nhớ lại những điều phải giải quyết một cách êm thấm và tốt đẹp, buộc Marianne nhận lỗi lầm và chấp thuận bỏ xứ ra đi.
Chỉ giải quyết bằng cách đó, Jim sẽ giữ được
Marianne vì chàng biết vợ chàng là người đàn bà nhẹ dạ và dễ quên. Nhìn đồng hồ tay bây giờ đã hơn 11 giờ đêm. Jim nghĩ rằng tất cả đã ngủ, chàng dùng chìa khóa riêng mở cửa bước vào. Trong nhà hoàn toàn im lặng. Jim lên lầu, ghé qua phòng Vivian, đứa con gái một tuổi không có mặt ở đây. Cơn giận bừng bừng nổi lên, Marianne đã đưa Vivian về bên ngoại để được tự do với người tình. Jim trở xuống lầu, ngồi giữa salon ôm đầu đau khổ, không biết phải xử sự thế nào với Steven và Marianne nếu đối mặt hai người đang ái ân trong phòng ? Dù sao cũng phải trực diện một lần, nhưng nếu có xô xát thì phần thua thiệt sẽ nghiêng về phía Jim, vì Steven có một thân mình to lớn và là một võ sĩ huấn luyện viên thể dục thể thao, cơ thể cân nặng gần gấp đôi Jim. Khi đi ngang qua lò sưởi, chàng vói tay lấy cây súng treo trên tường với hai viên đạn, nạp vào súng và nhẹ nhàng lên lầu, tiến về phòng ngủ của hai người. Họ đang làm tình trong phòng, Jim nghe rõ hơi thở dồn dập của người đàn ông và tiếng rên đứt quảng của Marianne.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Jim đưa tay vặn
chốt, cửa không khóa và Jim bước vào, kéo viên
đạn lên nòng.
Nghe tiếng động, Steven lên tiếng :
- Ai ?
Jim quá giận :
- Tao ! bật đèn lên !
Không đợi phản ứng của hai người, Jim đưa
tay bật đèn, trên giường, Steven và Marianne trần truồng đang trong tư thế làm tình. Nghe giọng nói, Marianne biết ngay là Jim, nàng chụp vội tấm drap quấn lên người trong lúc Steven quá đột ngột đưa tay che tạm phần dưới, miệng há hốc, mắt nhìn không chớp họng súng đang hướng về phía mình.
Marianne la lên :
- Jim, bình tĩnh !
Jim dằn từng tiếng :
- Ðã bình tĩnh cả năm nay, bây giờ thì phải
giết thằng nầy.
- Ðừng Jim, em van anh !
Jim cười khỉnh :
- Ðâu tha thứ dễ dàng như vậy.
Jim tiến tới mấy bước :
- Tao sẽ bắn nát óc thằng khốn nạn nầy.
Steven đã lấy lại bình tĩnh, hỏi lại Jim :
- Ai khốn nạn ? Mầy cướp người tình của tao
về làm vợ, bây giờ tao trở lại ngủ với vợ mầy hay là người tình cũ của tao cũng là chuyện đương nhiên. Cướp qua giật lại đâu có gì lạ !
Jim không kềm được cơn thịnh nộ :
- Tao đã dứt khoát, lần nầy bắt tại trận, tao sẽ
giết mày trước và trị tội vợ tao sau.
Vừa nói vừa chĩa mũi súng vào ngực Steven, quá giận đầu óc không tự chủ và ngón tay Jim vô tình bóp cò, Marianne bất thần nhoài người qua ôm lấy Steven. Một tiếng nổ và Marianne gục ngay xuống giường. Viên đạn xoáy nát cả vùng lưng, máu bắn tung tóe lên đến vách tường trên đầu giường. Jim nhắm bắn Steven nhưng Marianne là người nhào qua đở đòn và lãnh trọn viên đạn vào lưng. Steven hoảng hốt nhảy xuống giường và phóng ra khỏi phòng, Jim quay súng theo bắn phát thứ hai, Steven ngã lăn xuống ngay cửa ra vào.
Hai tiếng nổ liên tiếp làm cho Jim tỉnh người, chàng liệng khẩu súng xuống và chạy đến ôm Marianne, viên đạn đã phá nát từ lưng ra trước ngực…Jim ôm đầu, hai hàng nước mắt chảy dài xuống má :
- Sao lại thế nầy Marianne ? Anh chỉ muốn giết
kẻ đã cướp vợ anh. Anh yêu em và không bao giờ muốn mất em ! Tại sao em đem thân mình ra chống đở đến đổi thảm thương thế nầy ? Trời ơi, có phải anh đã giết em và em đã chết thật phải không ? Marianne ?
Các nhà lân cận thức giấc, bật đèn nhìn ra và tiếng người xôn xao trước đường đưa Jim trở về thực tại. Jim bấm điện thoại báo cho cảnh sát rằng chính chàng vừa giết hai người, họ đã chết nên không cần xe cứu thương và chàng đang chờ cảnh sát đến bắt. Mở sẵn cửa đợi và khi cảnh sát vừa ập vào, Jim đưa hai tay lên khỏi đầu, nói ngay :
- Chính tôi giết hai người. Họ đã chết trên lầu
và tôi sẵn sàng theo các ông.
***
(còn tiếp)
Buổi sáng ở rừng đến rất chậm. Mãi mãi màn sương mù mới dạt ra rồi rất lâu sau đĩa mặt trời đỏ ửng mới cố vẹt đám mây mà nhú ra soi rọi. Ngôi đồn vẫn sừng sững ngự trị ở góc đồi, một góc mái bị đốn cụt trông lêu nghêu như cùi tay bị đẵn cụt. Anh bước ra thềm đồn, nhìn bao quát một vòng. Giữa những vòng kẽm gãi concertina, một bông hồng dại vừa hé nở còn ngậm ướt những giọt sương trong vắt.
Thiên nhiên đẹp quá, màu thời gian mênh mông phủ nhòa khắp mọi nơi. Con đường mòn bên hông đồn lờ mờ chưa có dấu chân con người bước qua. Anh chợt thấy một sự trống rỗng tỏa lan, giá như nếu không có chiến tranh thì cảnh này hoàn hảo biết mấy.
Anh nhìn lên cột cờ, bóng dáng màu cờ vàng phất phơ nhè nhẹ, báo hiệu sự hiện diện chủ quyền nơi vùng núi non hiểm trở. Những người lính sát cánh cùng với anh thi hành một trách nhiệm giữ vững con đường quốc lộ chạy mãi ở dưới đó là một vệt thẫm đen màu nhựa đường. Nếu ngày nào con đường bỗng dưng bị nghẽn thì mọi sinh hoạt sẽ rầy rà vô cùng.
Thượng cấp chỉ thị lập ra đồn, quẳng lên đây một dúm người rồi coi như phủi tay tất cả. Anh đã bao lần tường trình về các đòi hỏi tiếp liệu cần thiết để bảo đảm an toàn cho người lính trấn thủ, nhưng sự đáp ứng bao giờ vẫn chỉ là nhỏ giọt. Có lẽ trong đầu các bậc tham mưu ngự trị ở thành đô cho rằng mức đòi hỏi của đồn anh quá tham lam, thiếu thực tế, nên lúc nào cũng sẵn sàng cắt xén, gọi là bù qua sớt lại mới chịu.
Anh ước ao giá gì có một ngày các vị phòng 3, phòng hành quân hay các ban ngành có trách nhiệm thay phiên nhau lên đây sống với đồng ngũ anh, chỉ cần một tuần thôi, để thông cảm và đối diện thực tế, thì may ra các vị mới bỏ đi các ước đoán văn phòng.
Ngày nay người lính biên ải không còn nhọc nhằn như thời xưa “ chém tre đẵn gỗ trên ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai “ hoặc cảnh “ một tay thì cắp hỏa mai, một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền; thùng thùng trống đánh ngũ liên, bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa “, thế nhưng có bao giờ người lính được thảnh thơi như người dân thành phố.
Anh đã nghe nhiều người nói chiến tranh ở mãi đâu xa quá, nên thành phố vẫn dửng dưng, không cảm thấy động lòng. Thản hoặc có lúc chợt thấy chiếc GMC chạy vội qua, với vòng hoa kết sơ sài khô héo ở đầu cảng xe, kèm dăm ba thân nhân của người lính mặc xô gai, chit khăn tang, lịm gào khóc bên nhau, và vài đồng đội tiễn đưa lần cuối, chắc người thành phố cũng vô tình dửng dưng coi như không phải việc của mình.
Gần đây, hỏa tiễn địch đã vói tay vào phố xá. Ðêm đã nghe tiếng đạn gầm rú hoang mang, sáng ra tận mắt thấy những căn nhà đổ nát, những tiếng khóc nỉ non, những xác thân rữa vãi, dân mới hơi ngao ngán một chút và tự an ủi nhau “ trời kêu ai nấy dạ “.
Ngược lại, bọn anh thường trực đối đầu với sự chết, lúc nào cũng phải đề phòng. Bóng đồn là tiêu điểm để trăm mũi súng nhắm vào nhả đạn. Ðịch thủ luôn nhìn bọn anh với nét thù hận thâm sâu, họ nói ai không theo họ đều phải chết, bất kể là dân hay lính.
Anh thấy buồn. Chiến tranh nhuộm toàn trên lãnh thổ mà nhiều người vẫn cứ nghĩ chẳng liên quan đến mình hoặc gia đình mình. Con em họ có sẵn tiền lo lót chạy chọt để tìm đường đi du học tận đâu đâu. Họ nào biết có người lính cả mấy năm không một lần về thăm nhà.
Anh thông cảm vô vàn với thuộc hạ của anh. Nhìn tấm gương những cặp mắt mông lung nhìn về phía trời thành phố, anh hiểu nỗi đau của đàn em khi vừa được tin vợ đau, con ốm, cha mẹ yếu, buồn. Họ ước ao một lần về, nhưng hiếm hoi quá, bởi vì giữa cá nhân và đất nước thì bao giờ nghĩa nặng vẫn phải nghiêng về cái chung.
Nhiều người than phiền về người lính khi về thành đô thường cố tình uống say để quậy. Không say sao được khi họ cảm thấy bơ vơ, lạc lõng như không đang sống ở quê hương mình. Còn nói gì những cặp mắt khinh khỉnh, những cái nhìn hững hờ của người hậu phương đối với những người hằng chở che cho họ có một cuộc sống hồn nhiên thụ hưởng. Không quậy sao được khi mà bao công sức dồn hết để ngăn chặn sự xâm nhập của phe địch vào sau tiền tuyến thì có những người khinh lính nhởn nhơ.
Chính anh nhiều lúc cũng nản chí khi nghĩ đến sự chênh lệch cay đắng này. Thế nhưng nếu tất cả đều bỏ mặc thì vùng đất này có còn giữ được hay không. Hôm nay, chẳng hiểu sao anh tự có sự dằn vặt với chính mình như thế. Anh nghĩ đến một ngày hòa bình, những người lanh chân lẹ cẳng kia sẽ tốt nghiệp quay về, xun xoe giành những nơi ngon, của ngọt. Kiếp nhà chùa luôn phải quét lá đa, trong khi những kẻ cơ hội lúc nào cũng hí hửng cho mình là khôn, là giỏi.
Ở lưng chừng rừng núi này, một hôm nao bỗng nghe phía đó vừa xảy ra biến động, những đơn vị quân đội được điều động để úm ví nhau, anh nghe tim mình đau thắt. Ðiều cần yếu lúc này là phải tập trung mọi sức mạnh để kềm giữ đối thủ thì các vị chỉ vì tranh giành nhau để mưu lợi danh, địa vị mà lloi các đơn vị quân đội làm hậu thuẫn cho mưu đồ của mình.
Sự nhốn nháo thời cuộc, sự bất an của hậu phương lớn làm rung rinh tiền tuyến lẻ loi. Mỗi chính biến là một vết dao khoét sâu vào một nhát đâm đang mưng mủ. Bảo sao dân tình không ngao ngán, chính nghĩa bị lu mờ. Bao giờ thì ngày cuối sẽ đến, mọi người đều bị xiềng vào cuộc thất trận đau thương.
Anh lắc đầu cố rũ những ám ảnh đang gieo vào tâm trí anh sáng nay. Anh cố lấp liếm tin những điều anh nghĩ là bi quan chứ không có cơ sở thực tế. Cho nên anh vội quay vào đồn. Vị thượng sĩ thường vụ trao cho anh ca nhôm đựng món cà phê bít tất, mời nhâm nhi ngụm đầu ngày. Anh ngửa cổ dốc cạn chất nước sánh đen như nuốt trôi cục giận đang thập thò nơi đó. Vị hạ sĩ quan già mở to đôi mắt tròn xoe nhìn chưng hửng vào anh. Anh đâm ngượng, phải xí xóa bằng cách nhắc ông việc cắt cử đàn em vào công vụ.
Anh đảo người về phía cái võng dù, ngả uỵch ra và nhón chân đun mạnh cho cánh võng đưa tít, dằn cơn tức xuống. Bóng nắng liếm nhẹ thềm đồn, màu lung linh vàng nhạt như hoa mai. Lao xao dưới đường mòn tiếng líu lo của vài người nữ buôn làng líu ríu như chim hót. Gió đùn mùi lá thuốc bay khét lẹt quanh vùng.
(còn tiếp)
Những ngấn nước to tròn long lanh, soi bóng hoa anh đào e lệ đung đưa. Những con thiên nga gỗ buộc chặt ở cọc cắm, thong thả lắc lư quay lui quay tới trên mặt hồ loang loáng ánh bạc. Những tiệm cà phê nổi tiếng ẩn hiện trong làn sương mờ đục buổi sáng ngái ngủ nhờ nhờ. Thủy Tạ trắng toát in bóng xuống mặt hồ phẳng như phiên gương trong suốt như pha lê.
* Khoảng tháng Tư năm 1973, lần đầu có một chiếc trực thăng, đã bị rớt tại hồ Xuân Hương, Ðà Lạt, vô cùng “vô duyên òm, lãng nhách lạ”. Chỉ tại vì mấy anh chàng phi công thích “đào hoa, lả lướt, bay bướm”. Thế thôi.
Tôi đi thăm gia đình anh chị Thuyền ở dưới nha Ðịa Dư về. Lúc tôi lái xe honda chạy ngang qua cầu đúc nhỏ, gần khu bệnh viện của ông bác sĩ người Pháp nổi tiếng. Tôi thấy một chiếc trực thăng, đang quay chong chóng vù vù, mà đậu ở dưới bãi cỏ, gần sát khu nhà hàng Thuỷ Tạ.
Sau đó, có ba bốn anh phi công mặc áo vàng, áo xám, lúi húi chạy xuống những bậc cấp nhà Thủy Tạ, họ leo lên chiếc trực thăng. Vài anh còn ngoái cổ hay cúi xuống vẫy vẫy tay chào. Trực thăng vẫn nổ máy ầm ầm, chong chóng quay tít mù, sức gió từ cánh quạt xô những hàng hoa anh đào, hoa mimosa, hang cây xá lị ngả nghiêng. Chiếc máy bay nhấc bổng lên khỏi mặt đất. Anh phi công tài hoa lái trực thăng, cho bay lượn hai ba vòng rộng ra xa xa, rồi từ từ bay thu vòng tròn hẹp lại quanh nóc nhà hàng.
Khi phi cơ nghiêng cánh bên nầy, khi chao cánh bên kia. Nhẹ nhàng, uyển chuyển như một chiếc lá vàng chao lượn trong không gian. Coi phi cơ nhẹ nhàng ung dung uyển chuyển rất lả lướt, bay bướm, thật đẹp mắt người nhìn! Trong nhà hàng Thủy Tạ, có những bàn tay cầm khăn hồng, khăn tím, khăn trắng, giơ lên vẫy chào lia lịa.
Bỗng, một tiếng nổ long trời lở đất gầm rú. Tôi hoảng hốt giật nẩy mình mất hồn mất vía, run rẫy như cầy sấy, hai đầu gối va vào nhau lộp cộp. Phi cơ bay quá gần sát nóc nhà Thủy Tạ. Ðuôi máy bay đã chém trúng vào cột thủy lôi. Lúc đó, chính mắt tôi nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng kia, khi tôi chạy xe Honda đi ngang qua thao trường, đối diện với Thủy Tạ.
Tôi bị bất ngờ nên té chúi nhủi xuống mặt đường nhựa, xe honda gầm rú, bánh xe quay tít mù. Tôi ngồi phịch xuống lề đường, toàn thân ê ẩm, đau rần, run bần bật, nhưng hai mắt tôi vẫn dán chặt vào chiếc máy bay.
Lửa ở cột thu lôi của nhà Thủy Tạ liên tục xì xì xẹt xẹt, nổ lốp bốp. Trong nhà hàng người ta rú ré lên, nghe man rợ lắm. Hình như một góc vách tường ở ngoài phía hồ Thủy Tạ bị sập, hay có người bị thương, hoặc té xuống hồ thì phải. Họ nhốn nháo bò lê bò la, hay chạy lui chạy tới rầm rầm, la hét kêu gọi nhau ơi ới.
Chiếc máy bay trực thăng bị lâm nạn thì chao đảo, nó từ từ chúi đầu xuống, bồng bềnh, chơi vơi, rơi chầm chậm xuống giữa mặt hồ tung toé nước lan vòng sóng xoáy vào tận bờ cỏ. Nước dậy sóng bắn vọt lên cao. Nước càng vọt lên cao thêm mấy lần.
Trong khoan máy bay, tôi thấy mấy anh phi công đang loay hoay, hốt hoảng quay lui quay tới. Họ cố tìm lối thoát thân. Một người gục vào ô cửa, đầu anh ta đội mũ bay, dòng máu từ thái dương chảy nhoè khung kính đầy máu. Mấy bàn tay kia chới với đưa lên, tuyệt vọng đấm đấm thật mạnh vào cánh cửa kính.
Toàn thân máy bay trực thăng từ từ lún dần dần xuống trên mặt hồ. Mặt hồ lại dậy sóng bung lên trời, như những ngọn pháo bông khổng lồ. Nước trắng xoá luôn bắn vọt muôn ngàn vòi nước lên cao ngất, từng đợt nước trắng xoá, rồi rơi mạnh xuống mặt hồ.
Chiếc trực thăng bồng bềnh, chao đảo, nghiêng ngả trên mặt hồ chồng chềnh trào dâng sóng. Như chiếc thuyền con cỡi trên sóng biển bạc đầu. Trực thăng nhô lên hụp xuống mấy lần, dần dà chìm xuống từ từ. Chìm xuống. Chìm xuống.
Những bàn tay hoảng hốt, tuyệt vọng giơ lên cao đấm đấm vào cánh cửa kính. Rồi từng ngón tay cào cào. Và, chỉ còn mấy lóng tay yếu ớt rụng rời mất hút. Toàn thân phi cơ chìm hẳn trong lòng hồ. Trơ lại chút đuôi máy bay vô duyên, trơ trẽn ló chổng lên khỏi mặt nước gợn lăn tăn.
Bất ngờ, bàng hoàng, sợ hãi đến tột độ kinh khủng, khi tôi thấy nguyên nhân của dữ kiện, và nhìn thấy rõ sự kiện đã xảy ra trước mắt mình, dù chỉ trong thoáng chốc. Toàn bộ cuốn phim diễn ra trước mắt tôi chính xác, cùng với nỗi hãi hùng kinh dị tột đỉnh là nguyên vẹn không bao giờ phai mờ.
Ðúng là đuôi và cánh quạt máy bay chém vào cột thủy lôi cao ngất kia, nên đã gây ra tai nạn khủng khiếp nầy. Bây giờ trông cây cột thuỷ lôi nó cụt lủn, trơ trẽn lạ, vô duyên tệ. Làm xấu xí dị hợm mất thẩm mỹ, khó chịu người nhìn. Cửa nẽo tường vách khu nhà hàng bể toang hoang, làm ô danh trơ trẽn nhà hàng Thuỷ Tạ độc đáo duyên dáng mất rồi.
Từ nãy đến giờ xe chở hàng loạt cảnh-sát hụ còi báo động, xe bên an ninh quân-đội, quân-cảnh, đã phối hợp, tăng cường, ráo riết giăng kẽm gai, họ rào con đường vào Thủy Tạ có hai hàng hoa xá lị, hoa anh đào, hàng mimosa thật nên thơ.
Hình như tôi bị một cú shocking nặng lắm hay sao, mà tôi cảm thấy bãi hoãi chân tay, run rẫy, rụng rời, tôi không thể nhấc thân đứng lên nỗi, hầu nổ máy xe chạy về nhà? Tôi vẫn ngồi ù lì thừ ra ở lòng lề đường, run run bồi hồi. Lồng ngực như có tảng đá đè lên, nghẹt thở mệt kỳ lạ. Tôi rã rời không muốn đứng lên, nên đành bỏ buổi đi dạy học về chiều.
Hầu hết người hiếu kỳ, ở đâu chạy ra nhanh kinh khủng. Họ tập trung đông đảo quanh khu vực hồ Xuân Hương. Họ chỉ biết trơ ra nhìn đuôi phi cơ, mà không thể làm gì hơn. Việc cứu cấp những anh phi công, coi như trớt quớt, hỏng tiệt mất rồi. Bây giờ tôi mới sực nhớ xe honda còn nằm chình ình bên lề. Tôi uể oải đựng nó đứng lên, rồi từ từ leo lên ngồi trên yên xe Honda. Tôi thẫn thờ nhìn sững mặt hồ.
Tôi im lặng nghe thiên hạ xôn xao bàn tán. Chỉ chỏ ồn ào hết biết. Tôi cũng không nhìn trong nhà hàng Thủy Tạ, họ lo chạy lên chạy xuống cầu thang, ra vào làm gì nữa. Tôi chỉ nhìn chút đuôi chiếc trực thăng, mà ngao ngán lắc đầu xuýt xoa thở dài hoài.
Khoảng hai giờ trưa, vài ba người dân địa phương, thay quần áo ngắn, họ leo lên trên nóc nhà Thủy Tạ, bước ra cầu thang, họ nhảy tủm xuống hồ, bơi quanh quanh đuôi máy bay. Họ lặn xuống trồi lên vài ba lần. Rồi họ bò vào bãi cỏ ngồi nhìn ra mặt hồ phẳng lặng. Họ nói to:
- Nước rất lạnh. Ðáy hồ sâu lắm. Không thể ở dưới đó lâu hơn. Máy bay đóng kín cửa. Mấy ổng chết hết rồi.
Thời gian chậm chạp, nặng nề trôi qua. Lòng người hiếu kỳ lúc đó, có thể nói là nôn nao kỳ lạ! Họ tụ tập lại khu vực nầy càng lúc càng đông đen hơn. Tôi mệt lử, bần thần ngơ ngẩn như người mất trí, ngố ngáo uể oải dẫn xe honda xuống lề đường nổ máy. Tôi chạy chầm chậm về nhà, bụng đói cồn cào.
Ðến hai giờ chiều ngày hôm sau, khi nắng tươi vẫn chan hoà trên vạn vật. Tôi chở hai chú con trai đi xem người ta vớt xác người chết. Mấy mẹ con ngồi chết trân trên xe, nơi thảm cỏ xanh rờn, sát hàng kẽm gai, chờ xem...
Một chiếc xe GMC từ hướng phi trường Cam Ly, chở thợ lặn từ Nha Trang lên. Ba anh thợ lặn thay quần áo, khi thì có canô chở ra giữa lòng hồ. Canô chạy quanh, họ chỉ chỏ, rồi mấy tay thợ lặn nhảy tủm xuống nước. (Khi thì họ tự bơi ra chỗ máy bay đã rớt).
Bốn giờ chiều, thợ lặn đưa cái xác thứ nhất lên bờ. Họ đặt người chết nằm dưới cỏ, loay hoay làm gì đó thật lâu. Vì ngồi tuốt ngoài hang rào, tôi không trông thấy rõ. Sau đó, bốn anh lính đem cáng thương đến, họ xúm lại nâng cái xác thứ nhất lên. Ðặt anh ta nằm ngay ngắn trên băng ca. Họ khiêng anh ta từ trong lối Thủy Tạ đi ra, giữa những hàng người đông đúc, đứng chật như nêm ở hai bên vệ đường.
Anh phi công đeo đồng hồ Omega, mặc đồ bay xám chật căng cứng, mập ú. Mặt mày, và hai bàn tay anh ta sưng húp, bầm tím, tím thẫm một cách ghê rợn. Ðôi mắt trợn trừng, tóc dính bệt vào trán. Hai bàn tay thõng xuống, đung đưa, lắc lư, theo từng nhịp đi của những người khiêng cáng. Mũ bay úp trên ngực anh ta nhúc nhích, lắc lư.
Mọi người giạt ra. Hai anh lính chờ sẵn ở chiếc xe hồng thập tự quân-y, đỡ cáng. Họ xúm nhau đẫy cáng thương vào xe. Họ nhảy lên và đóng sập cửa lại. Xe rồ máy sẵn, vút chạy vào hướng trường Võ Bị. Rồi non giờ sau, cuộc vớt xác vẫn tái diễn như lần đầu.
Mọi người dự kiến, đều chán nãn lắc đầu, ngao ngán tiếc thầm cho kiếp trai phong trần. Chỉ vì... vài phút đa tình lả lướt bay bướm, nay trở thành bướm bay lãng nhách! Họ sơ ý lo bông đùa, phi công đã bay lui bay tới mấy vòng, lo cười giỡn lả lơi, vẫy tay từ biệt với mấy người đẹp, người yêu ngồi ngoài balcon ở nhà hàng. Họ quên mất cột thu lôi đá cao lênh khênh kia. Thật là những bàn tay vẩy chào oan khiêng vĩnh biệt! Ðáng giá nghìn năm thương đau, ân hận dày vò người thân suốt cả cuộc đời!
* Tháng 9 năm 1973 - Rồi, chỉ cách khoảng bốn năm tháng sau, thêm một chiếc trực thăng thứ hai, lại rớt xuống gần công viên của khu chợ Ðà Lạt, sát dốc đường lên phố Hoà Bình, và cây xăng Shell, nơi bến bãi xe đò đi các Tỉnh miền Tây miền Trung khác. Sau lưng bến xe là Ấp Ánh Sáng. Nhìn qua cầu ông Ðạo và góc hồ Xuân Hương.
Thật vô cùng may mắn! Chỗ đó là nơi tập trung đông đúc dân chúng. Họ đi chợ, tấp nập đi các nơi. Nhưng khi chiếc phi cơ trực thăng nầy do người Mỹ lái, bị rớt xuống, chỉ bị thương nặng mấy người đi bộ. Kể cũng lạ! Hôm sau lúc đi chợ, tôi chỉ thấy chiếc trực thăng, nằm chúi sát bên góc đường dốc, dựa mũi lên mấy bờ tường đá. Những cây anh đào gãy cành, bật gốc, còn nguyên. Chưa ai thu dọn. Ngoài ra không thấy ai trong trực thăng trống trơn cả.
Giữa tháng Hai năm 1974 - sau lần nầy, lại có chiếc phản lực F-5 chúi xuống hồ Xuân Hương. Tình trạng khủng khiếp, đau thương gấp trăm lần hai chiếc trực thăng trước. Hôm xảy ra tai nạn khủng khiếp đó, tôi cố chạy ra hồ xem. Dù mọi ngã đường bị nêm chặt cứng giữa làn sóng người đông đen...
Ðể tưởng nhớ cô Hồ thị Ngọc Lệ, cựu giáo sư trường Trung học Gò công
Nhớ những ngày đầu chúng mình về trường Trung học Gò công (1958), bấy giờ trường mới toạ lạc ở khu sân banh cũ với ba dãy trệt hai dọc mt ngang vừa làm văn phòng vừa là lớp học, cổng chính uy nghiêm với mái che cổ kính thêm miếu Tiên sư bên cạnh quan phòng.
Ngày trình nhiệm sở đầu tiên, chúng mình hợp nhau lại hồi hp chờ vị Hiệu trưởng từ Saigon về. Khóa I Quốc gia Sư phạm nầy gồm có bốn nữ nhất nam, ba gốc địa phương, hai từ Long xuyên Châu đốc. Hôm ấy, còn đang tán gẫu, ba hoa chích choè, b?ng đâu chợt thấy ông khách lạ vào trường, túi xách tay, bụi đường còn phủ nhẹ trên áo nón đang ngơ ngác tìm quanh.
Vốn xinh nhất đám lại lanh lẹ liếng thoáng trẻ trung, chị nhanh nhẩu bước ra chào nghĩa hiệp:
" Dạ thưa ông cần tìm ai ?"
" Văn phòng trường Trung học ạ !"
-" Xin ông cứ đi thẳng vào".
Ông khách mỉm cười cám ơn thẳng tiến, chị trở lại vui vẻ thuật kèm điệu b cái phút hi ng đầu tiên ngắn ngủi ấy cho chúng tôi nghe. Thời gian chờ đợi trôi qua, mạnh ai nấy bàn tán hình dung tưởng tượng vị chỉ huy tương lai của trường.
B?ng thầy giám thị Châu văn Giao bước vào mời qua văn phòng chào gặp Hiệu trưởng. Bốn cô chôn chân như bị "trời trồng", nghẹn thở. Ðáng đời cho chừa thói thầy bói đoán mò, chùm nhum ngồi lê đôi mách ! Chị lại phá bầu không khí ngt ngạt nầy :
" Trời đất! Ai mà dè, hồi nãy mình cứ tưởng..." Chị chưa dứt câu mà không hiểu vì sao cả bọn đồng cườị..r. Sau đó điều thích thú là được biết ông cũng là hiệu trưởng đầu tay, người miền Bắc mà tên lại đặc sệt mùi Nam Ðoàn văn Xếnh.
Phòng ốc còn thô sơ, "thượng tầng kiến trúc" mới toang nên v?n giữ vẹn nhiệt tình, quyết tâm, lòng hăng say, năng lực phục vụ. Cũng có lẽ vì chúng mình đặc biệt được nâng bậc nên như để thẩm định phẩm cách, thể vị, vô hình chung nhất tề đoàn kết nối vòng tay sống trọn lòng với chức phận dạy và học đầu đời.
Ngoài chuyên môn, chúng mình luôn mong đưa mt luồng gió mát vào sinh hoạt khác như tổ chức " Cây mùa Xuân", bích báo, lễ Tất niên và nhất là văn nghệ mà chị là "mt cây" múa hay, đạo dỉn giỏi từ lúc chúng mình còn cùng lớp cơ mà.
Hằng năm trường có lệ tổ chức l? phát thưởng trọng thể. Lúc bấy giờ địa điểm là rạp hát Gò công và l? nầy lúc nào cũng được phụ dỉn văn nghệ mới xôm tụ thành công.
Chị không ngại bõ ra công sức, sau giờ dạy, sốt sắng say sưa luyện tập các em bao điệu múa dân tc đề cao quê hương. Múa đũa, múa nón, múa quạt, múa cấy trồng làm mát mắt hả dạ người xem. "Tiếng trống Mê linh" được biểu diễn rất công phu chính xác hào hùng vừa múa vừa ném đổi trao đuốc gậy. Vũ khúc "Giòng sông xanh" với trang phục áo dài tay có cánh uyển chuyển thướt tha thơ mng ru hồn khán giả say mê. Cũng chính vũ khúc tuyệt diệu nầy, mấy năm sau khi chị đã thuyên chuyển đi, đoạt giải nhất trong cuc tranh giải ở Tiền giang làm vinh dự cho trường.
Chưa hết đâu, vở kịch "Con thỏ ngọc" gây bao hứng thú làm khách chủ trầm trồ tán thưởng. Cảnh mặt trăng từ từ lố dạng, nhô dần lên cao, màn thỏ ngọc bay theo cây đa thật điêu luyện thú vị và sáng tạo vô cùng!
Ðến đây chúng ta cũng phải ghi nhận tính tháo vát, khả năng bén nhạy dám nghĩ thích làm, chịu khó lại khéo tay tiềm tàng của học sinh Gò công.
Cũng như chị, tôi đã nhận chân được giá trị ẩn luyện đó qua l?n dàn d?ng v? kịch thơ "Hoành sơn", Phích trong vai Trịnh Kiểm, Ánh Tuyết vai Ngọc Báu, Quyên vai Nguyễn Uông, Mai vai Nguyễn Hoàng.... Tài ngâm dỉn của các em, trên 30 năm (1958-1988) vẫn là kỷ niệm đẹp khó phai. Ðặc biệt là các nam sinh rất khéo léo trong việc trang trí dàn cảnh, đc đáo nhất là Út đã tự sáng chế mão cánh chuồn, cân đai, áo bào được dệt rồng thêu giấy bạc vàng lấp lánh.
Mt lần khác trong dịp Tất niên, vở kịch Sớ Táo quân do Dực soạn giả kiêm dỉn viên, ông Táo với áo mão cân đai mà không mặc quần lại mang hia đọc sớ điểm đệm bằng tiếng trống chầu gây nức tiếng cười rang. Sáng kiến nầy đã gây tiếng vang nên được mời trình diễn công cng ở bến xe đò cũ gần nhà bảo sanh Trương văn Huân. Rồi mt vài tờ báo đăng tin khen khích lệ văn nghệ trường nhà.
Riêng chị, gắn bó hơn để trở thành nàng dâu xứ Gò ở Sài gòn hoa lệ. Sau 75, vì sự sống còn của gia đình, chị vĩnh viễn ra đi sau tai nạn giao thông bất hạnh !
Dân Gò công vốn tôn sư trọng sĩ, tinh thần nầy đã từng đuợc khắc ghi đậm nét trên bảng " Lương sư hưng quốc" thuở nào. Hiện nay nhiều người con tinh thần của trường đã làm rạng danh quê hương thứ hai cuả chị ở trong như ngoài nước, chúng mình cũng hảnh diện ngầm lây.
Bây giờ Chị đã đứng trên mọị sự, chúng tôi những người dân Gò biết Chị xin đa tạ không quên.
Ingelmunster 08-09-88
Tân và Thảo quen nhau từ thời trung học. Tình bạn tuổi đôi mươi thỉnh thoảng hai người thường hẹn hò nhau đi ăn kem, uống nước hoặc đi rong qua từng đường phố, vào hiệu sách, chứ chưa dám bước chân vào rạp ciné. Ðôi khi giữa hai người bạn thường có những món quà nho nhỏ tặng nhau vào dịp sinh nhật, tết nguyên đán, giáng sinh... như cuốn sách, cây bút máy, tập lưu bút...để lưu niệm. Dù thân mật nhưng vẫn cứ giữ kẻ chưa ai dám ngỏ tình yêu, chỉ xem trọng tình bạn. Thường hai người thích nói chuyện văn chương chữ nghĩa, đôi khi viết lưu bút, sáng tác mt bài thơ, viết những truyện ngắn thật ngắn trao cho nhau xem thật tâm đắc, cười hỉ hả tạo với nhau nguồn vui tinh thần trong quảng đời cắp sách đến trường.
Rồi Tân theo gia đình ra đi định cư nước ngoài. Ðôi bạn chẳng hứa hẹn gì, chỉ nói lời chúc bình an, chúc may mắn. Bẵng đi nhiều năm, đôi bạn không liên lạc thư từ, Thảo như lãng quên người bạn xưa, miệt mài trong đời sống trước mặt. Thảo đi dạy học cấp 2, chắt chiu tiền bạc nuôi mẹ già, cha mất sớm. Cuc sống khép kín, an phận trong ngôi nhà nhỏ ở con hẻm của thành phố Saigon.
Từng năm tháng đời Thảo đi qua trong êm đềm nhỏ nhoi, chưa có mt ước mơ cỏn con nào, cũng chưa nghĩ đến chuyện lập gia đình vì còn phải chăm lo mẹ. Những lúc im ắng Thảo lại hay suy nghĩ đến mt phương trời xa nào đó, mong cuc sống tốt đẹp hơn như đa số người đang có cùng mơ ước. Suy nghĩ để chỉ suy nghĩ Thảo cảm thấy khó có thể thành sự thật vì đâu có cơ may nào để Thảo thực hiện ước mơ của mình. Dịch lấy chồng Ðài loan, Ðại hàn... rầm r khắp nước đã làm cho Thảo có những suy nghĩ nhiều từng đêm. Có chồng ngoại quốc đem lại giàu sang cho gia đình mà thực ra chỉ là những nạn nhân khốn đốn tồi tệ mất hết nhân phẩm. Nhân cách nhà giáo tuy đồng lương chỉ đủ cơm rau từng bữa, Thảo không thể nào đi vào con đường nghiệt ngã ấy.
Sáng hôm nay bất ngờ Tân đến thăm Thảo. Nàng sững sờ nhìn người bạn thân ngày nào đang từ Mỹ trở về. Hơi e thẹn, Thảo ấp úng :
- Ồ ! anh Tân...anh mới về...về lúc nào vậy ?
- Anh về hôm qua, liền đến thăm em. Thảo à, mình ở xa về có chút quà nhỏ.
Tân vừa nói vừa đặt thùng quà lên bàn, kèm theo chiếc hp nhỏ :
- Anh có cái đồng hồ này tặng em, Thảo nhận cho anh nhé.
Thảo mĩm cười :
- Cám ơn anh. Anh tặng thì Thảo nhận và không bao giờ từ chối. Nếu từ chối nhất định là phủ nhận lòng tốt của anh và có thể anh ...ghét Thảo.
- Anh không ghét mà...còn thương, rồi còn nhớ nữa chứ...Thảo ạ ! nhất là nhớ những cuc vui chúng mình ngày trước.
- Cám ơn anh đã nghĩ đến. Trông anh lúc này trắng trẻo, mập hơn, hồng hào chững chạc hơn, ở Mỹ có khác.
Ðược khen, Tân tươi cười, nhìn Thảo không chớp mắt. Thảo hỏi :
- Nghe nói anh đã lập gia đình rồi, sao không dẫn chị đến để Thảo biết mặt và làm quen.
- Ai bảo em thế. Anh vẫn ở vậy. Bận học thêm, còn phải đi làm. Lúc này, Thảo ra sao rồi ?
- Thảo ấy à ! chẳng khác gì ngày xưa. Nói thiệt nghèo như Thảo chẳng có ma nào dám bước tới. Lương cô giáo chỉ đủ cơm áo hai bữa. Ai dại mang Thảo về để thêm gánh nặng. Với lại còn lo mẹ già không bỏ đi lấy chồng được.
Tân ra vẻ bí mật :
- Ðừng bi quan ! Ðang có người nghĩ đến em, không chừng em còn có thể bị bắt cóc đó...anh biết rõ ràng như thế.
Thảo lườm Tân :
- Úi chà ! ghê vậy sao ? Ai mà dám bắt cóc Thảo ! Ở Mỹ mới về anh rành ghê.
Tân không trả lời, lại hỏi :
- Dì sáu đi đâu vắng ? Dì vẫn khoẻ chứ em ?
- Mẹ em vừa ra chợ. Bà vẫn khoẻ. Hai bác và gia đình bên ấy vẫn bình an chứ ? Khi nào về lại cho Thảo gởi lời kính thăm hai bác.
Thảo rót trà mời Tân :
- Anh về chơi hay có gì, chừng nào qua lại ?
Tân nhìn chăm chăm vào đôi mắt đen long lanh của người bạn :
- Không phải về chơi, mà về có việc...đại sự.
Thảo trố mắt tò mò :
- Chuyện gì quan trọng có thể anh cho Thảo biết được không ?
Tân hớn hở nói :
- Không những cho em biết mà còn chờ ý kiến quyết định của em...Em đoán thử chuyện gì.
Thảo ỡm ờ :
- Chịu thôi, Thảo không thể đoán nổi anh Tân ạ.
Tân đến cạnh Thảo nói nhỏ vừa đủ nghe :
- Anh về...xin phép dì sáu và hỏi ý kiến em...để anh xin cưới em đưa em về Mỹ. Em bằng lòng với anh chứ ?
Nghe Tân nói, Thảo cảm thấy bồn chồn nôn nao. Nỗi ước mơ về mt phương trời xa nào đó những lúc Thảo nghĩ đến giờ quay cuồng rạo rực. Tình bạn ngày nào gắn bó trong đó mỗi người như đã nhen nhúm mt chút hương vị tình yêu, nhưng chưa bc phát. Thảo cúi mặt như che dấu nét e thẹn lẫn niềm vui rn rã trong lòng. Hồi lâu Thảo ngước nhìn người bạn trai trong ánh mắt dịu dàng :
- Anh không nói đùa đó chứ ? Anh chớ có chọc quê mt cô giáo nghèo như em, ti chết anh ạ !
- Có bao giờ anh nói đùa, em biết chứ ! Em bằng lòng lời đề nghị của anh nhé. Chúng ta thưa với dì sáu xin tổ chức đám cưới, làm giấy kết hôn để anh lập hồ sơ bảo lãnh em qua Mỹ.
Hơn năm sau Thảo mới được xuất ngoại. Trong lúc chờ ra đi, đôi khi Thảo nghe đồn Tân thường có bạn gái. Cha mẹ Tân thì đang dòm ngó mt vài nơi nhờ người mai mối. Thế mà không biết tại sao Tân từ Mỹ về xin cưới Thảo. Không lẽ bên đó anh ấy lại không tìm được người đàn bà tâm đầu ý hiệp. Thảo chẳng có gì hơn ai. Nhà nghèo cuc sống chật vật. Thảo chẳng sắc nước hương trời. Học hành chỉ đủ cho Thảo làm cô giáo. Mt cô giáo thích viết truyện ngắn, viết nhiều để đó lâu lâu lấy ra đọc cảm thấy vui vui. Còn Tân, anh ấy có học, qua Mỹ học thêm lấy bằng kỹ sư. Tân đẹp trai, có tài, vậy mà về đòi cưới mt cô giáo nghèo.
Mẹ thì nói con có phước mới được đi Mỹ. Những kẻ giàu tiền muốn đi chẳng được. Ai cũng thích đi Mỹ, đi bất cứ nước nào để đổi đời, ở đây mà chết đói. Mẹ mừng cho con. Khi qua đó, con ráng ăn ở với cha mẹ chồng có nghĩa có tình và yêu thương chồng con. Cha mẹ hoặc chồng bảo làm gì, con vui vẻ mà làm, không cau có. Con nhớ làm dâu thì công việc nhà phải đảm đang trong ngoài, kẻo họ chê cười là con gái của mẹ không được dạy dỗ uốn nắn.
Lời mẹ thường căn dặn, Thảo nhớ trong đầu nhưng không biết mình có theo được không ? Lúc chưa cơ hi, thì mơ ước ngày đêm, khi được rồi thì ngẩn ngơ trăm chiều. Ra đi để mẹ ở lại ai chăm sóc đây. Ngôi trường, bục giảng, đám học trò dễ thương là những hình ảnh, những kỷ niệm khó lòng quên được. Bỏ làng nước xa quê hương chắc sẽ buồn nhớ thắm thía. Còn phải làm gì để sống. Nghề giáo của mình đâu đắc dụng nơi xứ nguời. Thảo chẳng muốn dựa vào người khác. Phải lo làm có tiền dư ra gởi về giúp mẹ. Thỉnh thoảng về thăm mẹ. Lo bảo lãnh mẹ sang với mình. Mẹ vẫn hợp ý như vậy. Trong thâm tâm mẹ chỉ mong con gái của mẹ ra đi để mở mày mở mặt với thiên hạ. Mẹ chỉ mong con gái của mẹ có cuc sống hạnh phúc, đầy đủ là mẹ mừng rồi. Mẹ không ước muốn gì hơn. Mẹ nói đó chính là hạnh phúc của mẹ. Mẹ lo từng thứ lặt vặt, chai dầu gió, ống thuốc chống nôn mữa, bàn chải, kem đánh răng, lọ kem chống nắng... Những suy nghĩ của Thảo là hành trang trên bước đường ra đi tạo mt nghị lực, mt niềm tin cho cuc sống tương lai đang mời gọi vẫy chào Thảo phía trước. Ngày đi, hành lý chẳng có gì Thảo chỉ mang theo ít quần áo, và bài vở đã viết. Ðó là niềm vui riêng tư, qua bên ấy có cơ hi sẽ tiếp tục.
Ngày lên máy bay lúc tạm biệt mẹ, Thảo khóc suốt không muốn rời xa mẹ. Tân vỗ về Thảo, đưa vợ vào phòng cách ly :
- Em phải bình tĩnh để mẹ vui. Ðến nơi, em gọi điện thoại về cho mẹ liền. Em khóc mẹ càng buồn thêm.
Lúc ngồi trong máy bay, Thảo vẫn còn thút thít. Mới chỉ bao nhiêu phút đi qua thôi Thảo đã nhớ mẹ vô cùng. Ngôi nhà nhỏ thân thương, cảnh vật quen thuc, cuc sống hằng ngày đã in đậm nét trong lòng giờ đã mất mát xa cách nghìn trùng. Thảo chặm nước mắt nói tức tưởi :
- Em biết như thế này em không bao giờ theo anh. Sống bên mẹ thích hơn.
Thảo ngồi co ro dựa lưng vào ghế máy bay, mắt lim dim mơ màng. Nàng giữ im lặng để lòng dịu lại. Thảo cảm thấy ghét Tân hơn lúc nào hết. Khi không ở Mỹ về gạ gẫm làm đám cưới rồi bắt cóc người ta, bỏ mẹ, nhà cửa, quê hương. Cuc đời sắp tới sẽ đi về đâu ? Không biết cha mẹ chồng họ có quí mình không ? Thảo biết mặt cha mẹ Tân, nhưng không có dịp đến gần. Suy nghĩ đến chuyện làm dâu nhà chồng Thảo rùng mình lo sợ . Ðọc sách báo và nghe thấy ngoài xã hi, mẹ chồng nàng dâu ít có sự thông cảm. Giữa hai thế hệ vẫn có chanh chua, đay nghiến. Ðối với nàng dâu thường ỷ lại chồng yêu chiều để lên mặt với mẹ chồng. Có chồng phải lụy cùng chồng. Gẫm tui với mụ có bà con chi. Giờ Thảo đang trên đường về nhà chồng, phải sống với cha mẹ chồng, phải gánh vác giang san nhà chồng, có lẽ cơ cực lắm đây !
Về sống trong gia đình Tân hơn hai năm Thảo trải qua cuc sống vất vả khốn đốn vô cùng. Ðối với cha mẹ chồng, Thảo cư xử hết sức khôn khéo trọn nghĩa trọn tình theo lời mẹ dặn trong lúc ra đi. Cha mẹ chồng cũng chẳng cưng chẳng yêu gì Thảo và cũng chẳng ghét dơ gì nàng dâu. Có lẽ ông bà được Thảo hầu hạ sớm tối nên họ có thể coi Thảo như người ăn kẻ ở trong nhà. Ðứa con dâu không được cha mẹ chồng đứng ra cưới hỏi mà do con trai mang từ Việt Nam sang để hầu hạ công việc nên họ xem thường. Lỗi ở Tân trước đó tổ chức đám cưới không mời được cha mẹ về chứng kiến, để bây giờ cuc sống không được thân mật.
Cha chồng là mt công nhân của mt hãng xưởng nào đó, sáng đi làm chiều về. Thỉnh thoảng ông thích ăn nhậu với vài bạn bè tại nhà cho mãi đến khuya mới mãn cuc. Mỗi lần ăn nhậu là say xỉn vật vờ vật vưỡng, ói mửa tùm lum, Thảo phải cực nhọc dọn dẹp chùi rửa. Mẹ chồng không đi làm, ở nhà ăn tiền già và chuyên giữ trẻ. Mỗi ngày từ mười đến mười hai đứa, tuổi từ bốn năm tháng đến mười, mười hai, tập họp tại nhà từ sáng đến tối. Ðứa nhỏ khóc lóc inh ỏi, ỉa đái vung vãi lung tung. Ðứa lớn chạy nhảy, đánh ln la khóc ầm ĩ, Thảo hết sức cực nhọc dọn dẹp lau chùi chăn dắt chúng. Lúc trước chưa có Thảo, mẹ chồng lo toan việc nhà, việc giữ trẻ. Bây giờ hình như bà khoán trắng cho Thảo. Bà nằm dài trên sofa trong phòng khách để xem phim chưỡng ngày này qua ngày khác. Cơ cực lắm mẹ chồng mới tiếp tay chốc lát rồi đâu lại vào đó. Tiền giữ trẻ thu được và tiền già hằng tháng mẹ chồng đi mall, đi shop mua áo này quần nọ, mua nữ trang vòng vàng, ht xoàn để chưng diện khi đi đám cưới, tham dự tiệc, đi lễ chùa, đại nhạc hị..và đến những nơi cần được chăm sóc để được người ta trọng nễ.
Khi mới Việt Nam qua Thảo bảo Tân kiếm việc làm cho mình và học lái xe. Tân bảo không cần thiết phải đi làm chi cho cực nhọc, chỉ cần học lái xe thôi. Khi đậu được bằng lái, Tân mua mt chiếc xe cũ cho Thảo chỉ để sử dụng đi chợ và đưa rước em gái mười ba tuổi của Tân đi học, thay vì đi xe bus nhà trường phải chờ đợi có thể nhiễm nắng dầm mưa.
Không cho Thảo đi làm, Tân khuyến khích Thảo lãnh hàng về nhà may gia công vì Thảo cũng đã biết nghề may tại Việt Nam, biết để sử dụng trong nhà khi cần đến. Tân đưa Thảo đến tiệm may giới thiệu lãnh hàng. Mỗi tuần Thảo nhận hàng may chất đầy xe của mình chở về nhà may đêm may ngày. May xong chở trả cho chủ. May thật nhiều nhưng công quá rẻ không được bao nhiêu. Khi làm ra tiền, mẹ chồng giao Thảo phải chi tiền chợ hằng tuần, tiêu xài lặt vặt trong nhà nên không mấy dư.
Ðồng lương kỷ sư hằng tháng của Tân đủ trả tiền nhà, các loại bill điện, nước, điện thoạị..tiền xài riêng ngoài đường, có dư chút ít gởi vào chương mục tiết kiệm. Vì vậy Thảo chưa bao giờ hay biết hoặc cầm nắm được đồng tiền lương của chồng trong tay. Tiền cha chồng làm ra phải giao trọn cho mẹ chồng để bỏ vào bank không mất mt cắc, cần gì thì viết check. Lúc nào cha chồng cần tiền phải khai rõ món chi tiêu để năn nỉ ngửa tay xin vợ. Thấy thật buồn và cũng thật khôi hài.
Hằng ngày Thảo phải dậy thật sớm trước những người trong nhà, dọn dẹp, nấu thức ăn, làm cà phê cho Tân và cha chồng thức dậy điểm tâm để đi làm. Mẹ chồng thức dậy trễ hơn, bà ăn sáng, đi dòm trong ngó ngoài công việc nhà và nhắc chừng Thảo chuyện này chuyện nọ để con dâu nhớ mà làm. Sau đó bà tiếp tục luyện phim chưỡng, hoặc làm những việc riêng tư của bà. Trong lúc Thảo phải chở em chồng đến trường học. Về lại nhà Thảo đón nhận những đứa trẻ do gia đình đem đến gởi. Ðứa phải cho bú sữa, đứa phải cho ăn bt, Thảo mệt nhoài. Vừa trông chừng lũ trẻ, vừa ngồi vào máy may với khối vải chưa may trước mặt. Trưa, Thảo rời công việc may, lại cũng vừa trông chừng lũ trẻ vừa lo cơm nước, đi chở em chồng về, rồi lại may. Chiều lại lo cơm nước dọn ra cho cả nhà, dọn dẹp, rửa ráy, tiếp tục may cho đến nửa đêm mới đi ngủ. Từng đêm, Thảo chỉ yên giấc trên giường đ bốn hoặc năm giờ. Người Thảo rạc đi vì mất ngủ cho công việc hằng ngày từ sáng sớm cho đến khuya chạy đều như mt cái máy.
Nhiều lúc Thảo cảm thấy tủi phận, cuc sống dở khóc dở cười cho số phận sao quá cơ cực. Lúc còn ở quê nhà nghe thiên hạ nói ở Mỹ là thiên đàng trần thế, sướng lắm. Vậy là ai cũng cứ tuởng qua Mỹ là sướng. Bây gìờ Thảo mới ngã ngửa giấc mng của mình không như lòng mong muốn. Người ta bảo rằng đàn bà ở Mỹ được coi trọng và có giá lắm, nhưng là ai kìa, chứ Thảo cảm thấy hụt hẫng từng mỗi ngày đi qua. Hai mươi bốn giờ Thảo như mt tôi đòi trong ngôi nhà của Tân. Có lẽ những người trong gia đình này không ai suy nghĩ Thảo là mt tôi đòi của họ, và họ cho rằng cái trách nhiệm nàng dâu là phải gánh vác giang sơn nhà chồng nghe có vẻ quan trọng và tốt đẹp, mà thực chất là đắng cay cực nhọc không tưởng. Thảo vẫn biết vậy nhưng chưa thể làm gì được, có phải mình nhu nhược không, hay là đang nghiêm chỉnh làm tròn những lời dặn dò của mẹ trước khi ra đi ?
Nếu ở lại với mẹ trong cuc sống đạm bạc chắc không đến nỗi gì, điều mà Thảo đã trải qua. Bây giờ mẹ đâu có hiểu gì về con gái của mẹ. Mẹ cứ ngỡ rằng con gái của mẹ được sung sướng trên đất nước giàu có phồn vinh. Thảo chưa dám kể cho mẹ nghe những lần nói chuyện điện thoại. Thảo nói con vẫn mạnh khoẻ hạnh phúc trong gia đình chồng, mẹ yên tâm. Mẹ chưa mt lần đòi hỏi Thảo tiền bạc trong hơn hai năm qua, trái lại Thảo chẳng có dư ra để gởi về giúp mẹ. Cứ nghĩ Thảo buồn tủi đứt rut trong bổn phận của mình.
Cùng cực quá, Thảo than thở với chồng :
- Anh đưa em qua đây để cầm tù em trong nhà này, đầu tắt mặt tối, quần quật suốt ngày, chẳng được đi đâu, anh có thấy không ? Em chẳng chịu thấu nữa.
Tân chỉ đáp hờ hững :
- Cả nhà ai cũng cực, mọi người qua đây đều cực, đâu phải mình em mà em than.
Nghe chồng nói, Thảo ứa nước mắt :
- Anh cho em về lại Việt Nam với mẹ. Anh đâu có yêu quí vợ của anh.
Tâm lượm giọng :
- Ðã đi rồi mà về không sợ thiên hạ cười chê chịu sao cho nổi mà em đòi về.
Thảo nằn nặc :
- Thà anh cho em đi kiếm việc làm. Em không muốn làm tôi trong ngôi nhà này nữa. Nếu không em bỏ đi cho anh xem. Anh coi em như đứa ở anh bỏ tiền ra mua đem về, phải vậy không ?
Tân lại vỗ về :
- Em ráng lên, anh sẽ lo mà.
Thảo dịu giọng :
- Anh lo điều gì, nói em nghe. Anh không thể kiếm nhà để vợ chồng ở riêng không được sao ?
Nói chuyện ra riêng Tân ngậm tăm, bỏ đi không nói lời nào. Tình nghĩa vợ chồng không còn mặn nồng như trước. Tân cứ đòi có đứa con cho ông bà ni vui cửa vui nhà, Thảo cự tuyệt. Hằng đêm may vá mệt nhừ đến nửa đêm về sáng, Thảo nhất quyết không để chồng theo ý muốn. Cuc sống như tù, quần quật suốt ngày thở không ra hơi, thêm đứa con nữa chết sớm.
Ði làm Tân thường về trễ có khi nửa đêm, lấy cớ họp hành, làm thêm giờ hoặc gặp bạn bè vui chơi. Thảo không tin nhưng chẳng biết làm sao hơn. Từ lúc còn ở Việt Nam và bây giờ Thảo thường nghe Tân có bạn gái. Thảo không nói năng hạch hỏi, vì chưa thấy chứng cớ cụ thể và cũng chẳng còn cảm thấy hứng thú để ghen tương.. Rồi công việc hằng ngày bù đầu, Thảo không còn thì giờ để ý. Thảo là nạn nhân đáng thương trong ngôi nhà này. Tại sao hồi trước Tân không ưng mấy cô bên này có sướng không ? Cũng là vì mình ham muốm đi Mỹ mới nghe Tân đề nghị là lăn xả vào liền.
Than thở tức giận, đâu lại vào đó. Ðôi lần Thảo muốn trốn đi ra ngoài, nhưng bản tính nhịn nhục kiềm hãm Thảo dặm chân tại chỗ. Chuyện xảy ra khi Thảo đem quần áo dơ cho vào máy giặt. Ðt nhiên mt mảnh giấy nhỏ xếp làm tư trong túi áo của Tân rớt ra ngoài. Thảo hơi tò mò, nhặt lên mở ra đọc :
Anh Tân yêu quí của em,
Hẹn anh tối nay tại nhà hàng Lam Garden lúc 8 giờ. Chúng mình ăn xong, sau đó mình đi chơi và cùng làm chuyện đó nhen cưng.
Hôn anh
Vũ Thị Vàng Mơ
Thảo biến sắc, tay chân bủn rủn. Thảo muốn hét lên, đồ khốn nạn !đồ lường gạt ! Còn gì mà tin tưởng để chần chờ ! Phải đi ra khỏi nơi này sớm. Tuy nhiên sau đó Thảo vẫn tiếp tục công việc, giữ thái đ bình tĩnh chờ Tân. Chiều tới, Tân về. Sau khi cơm nước, Thảo lấy cớ mệt không tiếp tục may. Thảo gọi chồng vào phòng ngủ để gạn hỏi cái mảnh giấy yêu ma đó. Khi Tân bước vào, Thảo chỉ ghế :
- Anh ngồi xuống đây, tôi muốn nói chuyện với anh.
Nghe vợ nói, Tân ngơ ngác. Thảo nói gằn từng tiếng :
- Hôm nay sao anh về sớm thế ? Không đi ăn nhà hàng, không đi làm cái chuyện gì đó hay sao ?
Tân càng ngơ ngác, sắc mặt biến đổi :
- Hả ! Em nói cái gì nghe sao lạ quá ! Anh đi làm về nhà ăn cơm. Khi nào ăn nhà hàng phải có em cùng đi. Anh đâu muốn đi mt mình.
Thảo bĩu môi khinh bỉ gằn giọng :
- Cám ơn anh đã nghĩ đến tôi. Sống trong gia đình anh hơn hai năm rồi chưa khi nào anh đưa tôi đi nhà hàng ăn uống. Anh biết chưa ? Vì tôi không phải là...Vũ Thị Vàng Mơ nên tôi không được hân hạnh đó.
Tân chống chế :
- Em nói cái gì vậy ? Em đừng bày vẻ kiếm chuyện. Vũ Thị Vàng Mơ là ai mà em nói ? Anh không biết, không quen. Anh xin thề.
- Tôi thấy anh đóng kịch khéo lắm. Ðáng khen cho anh. Từ lúc tôi còn ở Việt Nam cho đến hôm nay, nghe nói anh có nhiều đào lắm mà. Này nhé, Vàng Mơ, Vàng Ửng, Vàng Chín, Vàng Hườm, Vàng Lồm, Vàng Ươm...sao mà nhiều Vàng thế ! Anh đểu giả, sự thật có chứng cớ mà anh chối leo lẽo.
Tân càng chối bừa :
- Anh không có, không biết. Em bịa chuyện rồi nhiếc anh. Anh nào có biết Vàng Mơ, Vàng Ửng là ai.
Nỗi tức giận tràn ngập, Thảo lấy mảnh giấy nhỏ ra đọc, sắc mặt giận dữ :
- Anh Tân, anh nghe đây :''Anh Tân yêu quí của em.,Hẹn anh tối nay tại nhà hàng Lam Garden lúc 8 giờ. Chúng mình ăn xong, sau đó mình đi chơi và cùng làm chuyện đó nhen cưng. Hôn anh. Vũ Thị Vàng Mợ" Thảo ngừng đọc, kéo dài giọng - Tình tứ lắm nghe chưa ? Chúng mình làm chuyện đó là chuyện gì thế, nói nghe thử có được không ? Ðã bao nhiêu lần rồi ? Không còn cớ gì mà chối cãi. Thảo rít lên, nghiến răng nói như hét.Tôi mời anh ra khỏi phòng và im lặng đi ngủ đi. Anh mà gây sự tôi không nhịn, để cho ba mẹ anh biết cái b mặt đểu cáng lừa dối của anh. Chuyện rành rành anh chối bừa chối bay. Tại sao không đủ can đảm nhận. Ðêm nay anh ra sofa ngủ, cấm không được nằm trên giường này từ nay trở đi cho đến lúc tôi rời khỏi nhà này...
Trong đêm Thảo không ngủ được. Nàng thu tóm quần áo vật dụng cho vào xe sáng mai đi khỏi nơi này sớm. Khi trời còn tối, cả nhà đang yên giấc, Thảo lái xe ra đường, lòng buồn rười rượi nghĩ đến thân phận bấp bênh, Thảo ứa nước mắt trên đường đến nhà trọ lấy phòng ở tạm.
Thảo khởi đầu cuc sống tự lập. Có lẽ mẹ không tưởng tượng được chuyện đau buồn xảy đến cho con gái của mẹ. Mẹ cứ ngỡ rằng con gái của mẹ giờ này ở Mỹ đang hạnh phúc trong chăn ấm nệm êm bên cạnh chồng. Thảo quyết tâm làm bất cứ việc gì người ta thuê để dành tiền trở về sống bên mẹ. Công việc dễ tìm nhất là chạy bàn, phụ việc các chợ, giữ trẻ...Chỉ cần làm có đủ tiền vé máy bay và dư chút ít để chi tiêu trên đường trở về lại quê hương. Cho dù cơ cực vẫn thoải mái, có thì giờ nghỉ ngơi, có thời gian viết lách mà hơn hai năm Thảo đã lãng quên.
Mt tuần sau, Thảo tìm được việc làm. Nàng trả phòng ngủ về ở tạm trong mt căn phòng nhỏ vừa thuê được của mt gia đình người Việt Nam trong Khu Pine Hills. Chỉ vài ngày sau đó, thì Tân lù lù tìm đến. Tân mở cửa bước vào, sắc mặt vui tươi :
- Thảo à, anh đi tìm em mấy hôm nay mất ăn mất ngủ. Em về với anh. Anh không muốn mất em.
Thảo nhìn lơ đãng ra phía khác, nét mặt thản nhiên :
- Anh còn tìm em làm gì, không muốn để cho em yên sao ? Tình nghĩa gì với anh. Tân tỏ vẻ hối hận :
- Anh xin lỗi em. Ba mẹ anh chì chiết anh mấy ngày nay ghê gớm còn bảo anh là thằng ngu.
Ðược dịp, Thảo nói xối xả cho vơi bớt cơn tức :
- Ba mẹ nói đúng, em cũng nghĩ như thế. Anh đem em qua đây rồi nhẫn tâm bỏ bê em.. Anh giam cầm em trong nhà anh để trở thành mt con ở phục dịch từ sáng sớm đến khuya, đầu tắt mặt tối trong vai trò mt nàng dâu, anh đâu có biết. Anh có vợ, không giữ nhân cách còn bồ bịch hẹn hò...anh thật quá đáng. Em xin lỗi không còn lời gì để nói với anh nữa, anh hãy về đi.
Tân tiu nghỉu nét mặt :
- Em tha thứ, khoan dung anh mt lần. Tất cả anh nhận lỗi với em. Anh hứa sẽ lo cho em. Chúng mình thuê nhà ở riêng. Thảo ạ !
Thảo sừng s hung hăng chỉ được như thế rồi ngồi im, mặc cho Tân lải nhải van xin. Thấy cũng ti. Hồi lâu Thảo cảm thấy lòng như dịu lại. Tình bạn vui đùa bên nhau ngày xưa qua những năm tháng vẫn còn sâu đậm trong lòng. Tình bạn thật cao thượng, trong sáng, tuy rằng hôm nay tình vợ chồng chưa toàn hảo. Thảo nghĩ về mẹ. Chỉ có mẹ là duy nhất. Tất cả là cho mẹ. Mẹ đang trông đợi, mẹ đang nhìn về đứa con gái của mẹ với nổi niềm mong ước con gái của mẹ luôn hạnh phúc nơi xứ người. Tấm lòng của mẹ già luôn bừng sáng nỗi mong ước tốt đẹp cho con. Ðã chấp nhận mt lần đi xa xây dựng hạnh phúc cho bản thân, tạo nguồn vui cho mẹ, được về thăm mẹ, được giúp đở mẹ, bảo lãnh mẹ, để mẹ được an hưởng tuổi già bên con gái của mẹ cho đến ngày cuối. Ðó là nguồn vui, lòng hiếu thảo mà Thảo cần phải bù đắp cho mẹ. Phải như thế. Phải làm sao mẹ vui lòng khi mẹ còn sống..
Thảo nhìn Tân, diu dàng nói :
- Anh đến để bảo em trở về nhà ba mẹ, nếu thế nhất định là em không về.
Tân ngồi xuống cạnh vợ giải thích :
- Anh không đưa em trở về nhà ba mẹ. Anh đã tìm thuê được nhà rồi để chúng mình sống bên nhau như em đã có lần nhắc nhỡ anh.. Anh đang tìm việc làm cho em. Mọi sự anh đã nói với ba mẹ và ba mẹ đã đồng ý. Em bằng lòng với anh nhé.
Thảo xúc đng, lòng cảm thấy vui. Cuc sống ngay bây giờ của Thảo chỉ cần thế thôi, nhỏ nhoi lắm. Thảo không mong ước gì hơn, và trong đó duy nhất chỉ có mẹ là nguồn vui và hạnh phúc vô tận.
- Em chấp nhận. Từ nay anh phải sống với vợ cho đúng thiên chức của mt người chồng thương yêu và quí trọng vợ mình.
Tân thì thào bên tai vợ :
- Em ạ, anh hứa và anh chỉ cần em ! Anh chỉ cần em bên cạnh anh từ nay và mãi mãi, Thảo ạ !
Tối thứ Sáu, tại thành phố Sacramento, Hoa Kỳ, anh Hoàng Xuân Thiệu gọi điện cho hay là anh Võ Ðình Cường vừa qua đời lúc 6 giờ chiều, ngày 6-3-2008 tại Sài Gòn. Hưởng thọ 91 tuổi.
Võ Ðình Cường là người Anh Cả, huynh trưởng mang cấp Dũng, trưởng ban Hướng dẫn Trung ương đầu tiên của Gia Ðình Phật Tử Việt Nam. Anh là một nhà văn, một nhà từ thiện, một huynh trưởng kỳ cựu của phong trào tuổi trẻ, và trên hết là một Phật tử sống đạo giữa đời thường.
Năm 1959, lần đầu tiên tôi biết được anh khi mới bước chân vào trường trung học Hàm Nghi. Thuở đó, học trò cả trường và riêng tôi có một cô giáo mà chúng tôi thương kính nhất. Ðó là cô Trần Thị Hoắc Hương. Nhận xét về một đứa học trò rắn mắt nhất lớp như tôi, cô là một giáo sư quốc văn và cũng là giáo sư hướng dẫn, đã phê trong học bạ của tôi, rằng: “Thông minh nhưng hơi hiếu động…” Chữ “hơi hiếu động” của cô đã đánh động tâm thức của tôi suốt một đời đã đành, nhưng “miếng đòn” chinh phục được sự hiếu động đó có tác dụng mạnh mẽ nhất trên tâm hồn măng non của tôi thuở ấy là khi cô đưa cuốn sách Thử Hòa Ðiệu Sống của Võ Ðình Cường cho tôi đọc. Tác giả quả là một nhà tâm lý học tuổi thơ. Nội dung tươi mát, nhẹ nhàng và văn phong trong sáng mượt mà như thơ của Thử Hòa Ðiệu Sống đã hướng thiện cho tôi ngày ấy và có một tác dụng tích cực trong vô thức lẫn ý thức lâu dài về sau.
Mấy năm sau đó, khi sinh hoạt với Gia Ðình Phật Tử, tôi mới được đọc tác phẩm Ánh Ðạo Vàng của Võ Ðình Cường. Anh viết về cuộc đời đức Phật bằng tất cả cảm xúc đam mê và lòng tôn xưng trân trọng nhất tỏa chiết nồng nàn từ ngòi bút của anh. Viết về cuộc đời đức Phật có vẻ như quá dễ vì tất cả chỉ là một sự trình bày theo trình tự thời gian về một tập đại thành của sự kiện đã thành văn, thành sử. Nhưng thật ra lại muôn vàn khó khăn vì không dễ gì vực dậy được sông núi đã có lịch sử mấy nghìn năm an định bến bờ. Người đọc có thể thích suối nguồn tư tưởng và cảm xúc triết lý trong “Câu Chuyện của Dòng Sông” của Herman Hesse hay hương vị giải thoát, tính hồn nhiên rỗng lặng trong Ðường Xưa Mây Trắng của Nhất Hạnh khi viết về đức Phật. Nhưng phải tìm đến Ánh Ðạo Vàng của Võ Ðình Cường mới thấy được cảm xúc nồng nàn trực tiếp của tuổi trẻ đầy nhiệt thành khi hướng về đức Phật và phương trời cao rộng của đạo Phật.
Với tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh, nhất là Gia Ðình Phật Tử, những tác phẩm văn chương của Võ Ðình Cường vừa có tác dụng tâm lý về sự uốn nắn những mầm non. Những mầm măng bị hoàn cảnh nghiệt ngã làm cong queo biết nhìn vế một lý tưởng để mọc thẳng mà vươn lên. Những tác phẩm được tuổi trẻ trong thế hệ Chiến Tranh Việt Nam ưa chuộng nhất như Thử Hòa Ðìệu Sống, Những Cặp Kính Màu, Mùa Gặt Ác, Anh Em Ta Về… của Võ Ðình Cường vừa mang tính giáo dục, vừa giàu sức thuyết phục, vừa đậm nét văn chương đã hướng những lối nhìn cay nghiệt, câu chấp và khinh bạc trước cuộc đời thành ánh mắt hòa điệu, yêu thương và thoáng đạt.
Anh Võ Ðình Cường đã ở vị thế con chim đầu đàn của Gia Ðình Phật Tử Việt Nam trong những năm gian nan, thăng trầm biến động nhất trong lịch sử cận đại của dân tộc và đạo pháp. Thời những năm sáu mươi, khi còn là liên đoàn trưởng Gia Ðình Phật Tử Liễu Hạ, tôi chỉ được gặp… xa xa anh Võ Ðình Cường một đôi lần trong những đại hội huynh trưởng lớn. Mùa Phật Ðản năm 1976, lần đầu tiên tôi đuợc gặp trực tiếp anh Võ Ðình Cường bên cạnh có nhạc sỹ Nguyễn Hữu Ba và một số thân hữu Phật tử tại Sài Gòn. Anh Võ Ðình Cường xuất hiện trước mắt tôi không uy nghi đường bệ như một huynh trưởng cấp Dũng, trưởng ban hướng dẫn GÐPT trung ương xuất hiện trong đại hội. Ðược nắm bàn tay mềm và chuyện trò thân mật với anh, tôi mới cảm nhận được sự chơn chất, hiền hậu và điềm đạm ít thấy ở những nhà văn, nghệ sĩ, nhân vật lãnh đạo đã thành danh và nổi tiếng như anh. Với tương quan đời thường, anh đơn giản, nồng nàn và tế nhị với khách như người trong gia đình. Trong câu chuyện thân tình ngày đó, tôi còn nhớ mãi một lời tâm sự của anh: “Trước mỗi hoàn cảnh đổi thay, không có một con đường nào dễ dãi nhất mở sẵn ra để theo. Sự chọn lựa nào cũng có nổi xót xa riêng của nó. Nhưng đạo Phật mình quan niệm sự đời thay đổi theo từng sát na, nên còn lại là vấn đề cần phải xếp đặt ưu tiên. Cái gì ưu tiên một thì làm trước, cái gì ưu tiên hai thì làm sau…” Tôi rất tâm đắc về ý kiến của anh. Thuở đó tại quê nhà và càng ngày về sau nầy tại xứ người, cái “prioritization” – xếp ưu tiên – vẫn thường là một sự chọn lựa hành động hay tu học giúp hành giả bớt bối rối và tiết kiệm thời gian trước những ngã ba đường không bao giờ có điểm dừng đóng kín. Trong đời sống tâm linh, phải chăng đó cũng là một cách “Thử Hoà Ðiệu Sống trong Ánh Ðạo Vàng?” Thế nhưng, thực tế cuộc đời có khi không trôi chảy êm đềm theo trình tự ước mơ. Có khi “ưu tiên một” chưa đến hồi hoàn mãn thì con người lại phải theo dòng chảy nghiệp duyên nối kiếp ra đi…
Hai năm trước, trong một cuộc hội luận với các thành viên của Viện Nghiên Cứu Phật Học Quốc Tế và tổ chức Thân Hữu Cư Sĩ “liên lục địa” Mỹ, Canada, Pháp, Ðức, Việt Nam, tôi từ Sacramento, California được nói chuyện lần cuối với anh Võ Ðình Cường từ tòa soạn tạp chí Văn Hóa Phật Giáo tại Sài Gòn. Anh cho biết đôi điều liên quan đến cá nhân anh rằng, vì tuổi tác cao và sức khỏe hạn chế, anh không còn đọc và viết thường xuyên như trước nữa. Nhưng anh vẫn tỏ ra rất quan tâm đến những chuyển biến của Gia Ðình Phật Tử trong và ngoài nước. Từ đó đến nay, tôi không còn cơ hội gặp lại anh Võ Ðình Cường. Thế nhưng, có một câu nói có vẻ như đầy tính “kế thừa” của anh trong cuộc nói chuyện sau cùng mà tôi còn nhớ: “Anh chỉ mong các em trong Gia Ðình Phật Tử đừng phân biệt không gian, thời gian và những khó khăn, trở ngại nhất thời. Các em cần phải lấy ngắn đánh dài chứ đừng lấy dài đánh ngắn. Lịch sử hai ngàn năm trăm năm của đạo Phật chính là cái ‘dài’ quý báu mà chúng ta đang có trong tay đó các em.” Tuy tôi chưa kịp hỏi anh cái “ngắn” ấy là gì. Nhưng tôi có sự cảm nhận đầy thâm tín rằng, đó là ý hướng và phản ứng cảm tính nhất thời. Và, ngắn nhất vẫn là tấm thân giả tạm làm cán dù che cho những cuộc đời giới hạn và mong manh. Thấy được phương tiện ngắn, dài để mà hóa giải những xung đột nhất thời trong mỗi cuộc đời quá vô thường và ngắn ngủi nầy. Hay nói như Tagore: “Mỗi khắc thương yêu là đang sống. Mỗi thoáng hận thù là đang chết đi!”
Anh Võ Ðình Cường ra đi như một biểu tượng khép lại của thế hệ đàn anh đang đi qua và thế hệ đàn em đang tiếp nối. Tâm sự người ra đi thường cảm thấy như “chưa làm được gì” sau một đời đầy xuôi ngược. Ðức Phật vẫn bảo là “chưa nói một lời” sau 49 năm giáo pháp. Thế hệ đàn em kế thừa và trân trọng những điều thế hệ đàn anh đã nói và “chưa nói gì”.
Gia Ðình Phật Tử Việt Nam thương kính tưởng niệm và đồng nguyện cầu “Tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật” cho hương linh người Anh Cả Gia Ðình Lam Nguyên Hùng Võ Ðình Cường sớm vãng sanh miền Cực Lạc.
Cựu liên đoàn trưởng GÐPT Liễu Hạ (63-68)
Sacramento, 7-3-2008
Sau buổi đaiïhội [áihũu của một trường trunghọc ơ miền Trung] moi người đêu chia taỵthờigian một tuần sau , toi nhận được email cua anh:
- em à , mười cuốn sách của em cho anh , anh đã cho hết rồi chả còn cuốn nào? vậy hôm nào tiện em làm ơn gửi cho anh thêm vài cuốn nữa địachỉ vẫn như cũ.
- tôi email hỏi lại anh là anh đã cho những ai? anh kể trong đó có người em ông cậu vai cuốn , tôi hỏi tên là gì thì anh nói là m. tôi bèn mở phần mụclục [những dôngmôn của trường và tìm được tên của m .
tôi bèn email thăm m . và hỏi là đã nhận được cuốn [tácphẩm nàỏ] thì được trảlời là hai cuốn [cuốn a và cuốn b] tôi theo địachỉ va gứi tiếp ba cuốn nữa tiện thể hỏi:
-đồngmôn co biết tôi là ai không?
-trả lời không.
-tôi là cái người 53 năm về trước, cứ mỗi lần trông thấy les trois mousquetaires là øhay đứng lai nhìn , co khi vấp vao thành cống [lăn xuống nước ] hoặc ngã dập mặt vào một trong hai cái cây phượng đỏ đó .
-à , muội nhận ra huynh rồi? đời sông của huynh bâygiờ thế nào ?
- bệnh và sắp đi chầu diêmchuá rồi.
- huynh nói cho vui.
- thế rồi , từ đó đến bâygiờ huynh có gặp lại thân voi của huynh lần nào không? thân voi là chính em ruột của anh T .đấy.
- biết rồi
- biết từ baogiờ?
- mới biết hôm đạihội.
- thế hôm đó anh có gặp thần voi không ?
- 53 năm rôi huynh chả làm sao mà nhận được ra thần voi nũa.
rồi câu chuyện tạm ngừng một thời gian.
có hôm tôi email lại nhu vầy:
-năm đó la nam 57, 58,59, huynh học đệ tứ, đệ tam . cón muội va thầnvoi [em thần voi] chắc cũng học đệ thất đệ lục chi đó, mỗi lần học xong , huynh thường đi ngược đường ra chợ để phụ với bà mẹ có cửa hàng ban quầnáo [vải vóc] ngoài đó,
cứ mỗi lần đi ngang qua cái hẻm đó thì cái nhà đầu tiên là nhà của anh hiệutrưởngrồi đến nhà cua 3 thầnvoi đi hết con hẻm thì nhà đầu bên kia la nhà thầy hiệu trưởng .thầy hiệutrưỏng là thầy làm hiệutrưởng lâu nhất , còn anh hiệutrưởng là người chỉ học trước tôi mot lớp , sau tốt nghiệp sưphạm dậy ở Tuyhoa dến nam 1972 thầy hiệutrưởng lên làm chánh sở giáodục thì anh về làm hiệutrưỏng thay thầy.
molĩ lần đến đó [đi ngang qua đó] trước tiên thi chỉ thấy thần voi . đi xe đạp nghiêngnghiêng ngảngả sau đó thì đến muội và cô em út của thần voi .ø, mỗi người nghiệng ngả trên cái xe đạp, huynh thấy mỗi lần gặp nhau thì thần voi nhìn huynh , co khi ngã lăn vào bờ rào chè tàu của anh hiệu trưởng không thì cũng tuột pêdan xe đap , co khi tuột xích , co khi rách cả gấu quần , còn huynh thì mải nhìn ngã lăn xuống cái cống cạnh cái đình làng, cạnh ty cảnh sát đó.
-muội nhận thấy huynh đúng là côngdân của nước đại ngu [đời hồ quíly] ngu gì mà dành ngu hết , không chia cho thiênhạ bớt một chút ngu nào? hồi nớ mà cái đầu của huynh không đặc như trái mít , ma khôn ngoan một chút thì chúng ta cũng đã trở thành bà con . mà muội cũng sẽ có đứa cháu bên ngoai làm thơ hay như [bố nó].
-xin hỏi tật từ đó đến bâygiờ ? thần voi có biết được những chuyện xẩy ra đó không?
-biết chứ [ muội là em bà con] đi bên cạnh mà còn biết đước tìnhcảm của huynh dành cho chị ấy . thì chị ấy làm sao mà quên cho được. thôi kiếp này lỡ rồi, kiếp sau muộïi không học ra dượcsĩ nữa mà học ra kỹsư côngchánh, trước nhất muội cho lấp cái cống đó đi va cho cưa hai cây phương vy hai bên đờng đi , đẻ huynh khỏi ngã xuống cống va khỏi dập mặt vào cây phương .
muội sẽ giúp huynh tối đa ,nhưng huynh pải lanh tay lẹ mắt một chút , va cốgắng nhan rằng ở đời không thầy đố mày làm nên [và ăn quả nhớ kẻ trồng cây].
- tôi email lại rằng , kiếp này tôi với thần voi [không đến được với nhau] chẳn g qua là hai cô emä cứ y như là kỳdà cản mũi. lúc nào cũng kè kè i đâu cũng có ba người .
- -thôi anh cứ lo tutỉnh đi . kiếp sau muội sẽ dẫn thần voi lại cho huynh.
- vâng nhưng nhớ báo trước, đẻ huynh kiếm dây thừng xỏ vào mũi thầnvoi dẫn về nhà.
chuyện nói qua nói về rồi chìm vào quên lãng rồi nam sau .anh. t chi. t lại qua đây. chung tôi gặp nhau ăn sáng [kỳ này thì tôi lại gặp thần voi.
hồi nớ tôi khoảng mười bẩy mười tám thần voi khoảng mười ba mười bốn . bây giờ người nào cũng trên sáu , mươi , tôi thì sáu bó gẫỵthần voi cũng có đủ cháu nội cháu ngoại , phần tôi lập giađình quá muộn nên chỉ có con thôi .
nhìn nhau thì bâygiờ quá già rồi . cái hình ảnh ngày xưa rát là lờ mờ , y như cái miền đất mà ngày xưa chúng tôi ở giờ cũng đã trở thành bìnhđịa tanhoang chả còn gì?
khi chia tay [ chả biết baogiờ gặp lại ] mọi người bình thản như giòng nước chẩy ] về nhà xúc cảnh sinh tình tôi làm được mấy câu thơ về thần voi như sau:
xưa hoakhôi hoahậu
giờ gíống ổ bánh mì
mềm xéo như bún luộc
chờ hồi tùng bily.
bai thơ này đăng ở báo Văn . và đườc môt nhà phêbình MạcGiao đế cập tới trên một tờ đặcsan Xuân [ nói về cái nghiệtngã của thời gian] và cái kiếp người qua mau qua.
Tim mình đau nhói như có ai cầm dao nhọn đâm thủng vào, mà không phải có ai đó chỉ đâm không thôi, mà người ta còn xoáy mạnh… xoáy mạnh… rồi cười to đắc thắng. Một người như mình luôn được nhận từ những người khác những lời như: kiêu sa kiều diễm quí phái cao ngạo mà nay lại bi lụy vì một tình yêu. Người ta muốn nhìn rõ máu từ tim mình tuôn chảy có khác gì hơn máu của mọi người khác? Nhìn dòng máu từ con tim mình chảy ra không ngừng, người ta như vui hơn, cười to hơn.
Tàn nhẫn lắm, thật là tàn nhẫn.
Mình đi dưới trời mưa bay lất phất, nước mưa hòa cùng nước mắt, sao nghe đắng mặn. Nước mắt tủi hờn cay xé tròng mắt, mình không còn nhận dạng được những gì chung quanh, mơ hồ thấy những người qua lại, và dòng xe như mắc cửi liên kết nối đuôi cứ đun đẩy mình đi tới trước. Con đường trước mặt có phải là con đường sẽ đưa mình trở bước về nhà? Ðèn đường thành phố náo nhiệt rục sáng muôn màu muôn vẻ, nhưng sao lòng mình tâm tối quá, có ánh đèn nào soi sáng cho mảnh hồn cô đơn buồn tủi của mình không?
Có ánh đèn nào soi rọi cho tâm hồn mình sáng lên không?
Có không?
Mình tự hỏi và có ai trả lời mình không?
Hay cũng chính mình tự trả lời mình.
Tâm hồn mình già nua cằn cỗi quá, mặc dù tuổi đời và ngoại hình mình không già không xấu xí lắm.
Mình có tự kiêu như người khác đã nói với mình như vậy không?
Không đâu mình chỉ quá yếu đuối trong một tình yêu đơn phương mà rất chân thật và đúng nghĩa của từ yêu.
Mình vất vả lắm mới lái xe về được đến nhà và trước đó đã mấy lần vấp trên đường vì không nhập tâm. Vừa về đến nhà là mình đã vật ngả ngay và cô giúp việc tự cho xe vào nhà. Bằng cách nào mình lên phòng cũng không biết được.
Bây giờ còn lại một mình trong phòng vắng, mình cứ mặc kệ cho nước mắt tự tuôn chảy và đây là giờ phút mình sống thật với chính mình. Bản năng tự vệ của mình mất hết rồi, không một bạn chia sẻ, không một lời vỗ về an ủi.
Tình yêu đơn phương là liều thuốc độc đã dần mòn tàn phá sự mong chờ, sự nhớ nhung, rồi một ngày gần đây sẽ giết chết thể xác “tàn phế” của mình.
Mình nghe khó thở quá!
Với tuổi đời mình cũng không còn trẻ trung gì, nhưng với một tình yêu thì mình quá cuồng nhiệt trong tư tưởng luôn muốn được đồng cảm và trân quí nhau. Với mình thì tình yêu phải ích kỷ, phải độc chiếm tình cảm của người mình yêu, đó là liều thuốc hồi sinh sẽ là một tình yêu trẻ mãi không già. Mình chờ đợi một ánh mắt nồng nàn, cái nắm tay chia sẻ, những lời nói yêu thương. Nhưng mình bất lực trước sự dững dưng của người ta. Ðã biết trước những tình huống không bình thường của mình sẽ xảy ra khi nhìn cảnh quá tự nhiên của những phụ nữ khác dành cho người ta vậy mà cứ muốn mình tận mắt chứng kiến.
Không phải là thần thánh tiên phật hay vĩ nhân, mình chỉ là một con người bằng xương bằng thịt biết yêu thương ghét giận hờn thì làm sao tránh khỏi những sai sót. Sao người ta không nghĩ về mình một chút, không cho đó là những sai sót đáng được tha thứ vì mình đã quá yêu người ta. Ôi, mâu thuẩn quá, tình yêu sao giống ngọn roi vô tình quất mạnh vào trái tim hằn đau không chửa khỏi vết thương lòng của mình.
Nhưng,
Người ta vô tình quá!
Người ta lúc ban đầu đã gieo vào đầu mình bao ước mơ, bao lời nói yêu thương, bao động viên, bao chia sẻ. Mình đâu có mong gì ở người ta đâu, mình đâu có tham vọng nắm bắt cưỡng ép tình cảm người ta nghĩ và nhớ đến mình. Người ta quen mình và tự nói người ta bị dị tật vì tai nạn nghề nghiệp, với một hình hài người ta đã kể thật xấu như một Trương Chi, như một Hàn Mạc Tử, người ta hỏi mình có yêu người ta được không? Mình đã không ngần ngại chấp nhận tình yêu đó thật sự và duy nhất. Nhưng nàng Mỵ Nương ngày xưa thật là diễm phúc đã được chàng Trương Chi tuy hình hài có xấu xí, nhưng tâm hồn chàng Trương thật là tuyệt vời với một tình yêu vối một khối tuyệt tình đến thác vẫn còn vấn vương. Còn mình đã được gì? Niềm vui quá mong manh mà nỗi đau cứ mãi tăng dần. Sống như thế đau đớn lắm! Mình như một đứa trẻ, đã nhận được cái bánh ngọt, nhận được một viên kẹo bọc đường, rồi thành thói quen, đứa trẻ muốn mãi nhận được cái bánh viên kẹo mà người ban cho bây giờ đã quên. Rồi dần dà, đứa trẻ mới biết và hiểu ra rằng viên kẹo đã nhận bấy lâu nay chỉ là viên kẹo bọc đường bên trong có tẩm thuốc độc đã giết dần mòn sự sống còn của một sinh thể yếu đuối.
Với mình tình yêu đến khó khăn quá – một tình yêu hoàn hão – tìm mãi vẫn chưa có.
Nước mắt tủi hờn ngày Quốc Tế Phụ Nữ - Ngày 8 Tháng 3 – một ngày nhập tràn hoa hồng. Khắp các ngã đường, đâu đâu cũng toàn là hoa, hoa được bày bán để các đấng mày râu làm quà tặng cho phụ nữ trong ngày nầy.
Buổi sáng người ta và mình gặp nhau cùng người bạn nói cười thật cởi mỡ và vui vẽ, nhưng chiều lại mình dị ứng với một người quen chung trong nhóm và mình đã có thành kiến về phong cách và lối cư xử của người nầy từ lâu vì thiếu tế nhị.
Mình cũng nhận được một bó hoa Lys vàng từ tay người ta trao tặng với lời chúc trong ngày 8 tháng 3. Mình sung sướng và thật sự cảm động vì lần đầu tiên trong đời nhận hoa từ người mình yêu. Nhưng người ta vô tình, đâu hiểu được mình bối rối quá, tình cảm mà người ta trao tặng mình không sánh bằng cái nắm tay, cái liếc mắt vồn vã của các phụ nữ khác dành cho người ta. Nếu không thương mình, thì người ta cũng “giả bộ” như e dè trước mặt mình một chút thôi cũng làm mình vui rồi, đằng nầy người ta cứ thản nhiên nói cười và những cử chỉ “gai mắt” đó như cố tình chọc thủng tim mình, tim mình thật sự muốn nghẹt thở. Người ta đâu biết rằng mình đã tối tăm mày mặt và khó thở lắm rồi, nên tìm lý do để đi ra ngoài để khỏi ngất tại chỗ. Mình yếu đuối quá. Khi bình tĩnh lại mình tự giận cho mình sao quá ngu xuẩn, mắc mớ gì thương người dưng khi người ta không thương mình, khi người ta đùa giởn với tình cảm của mình.
Thật là tội nghiệp cho mình quá!
Trong khi mình gạt bỏ ngoài tai những lời mong ước của bao nhiêu người muốn kết thân với mình và muốn đến một chung cuộc tốt đẹp với mình vĩnh viễn, mình thờ ơ và lãnh đạm với tất cả sự tốt đẹp đến với mình, để giờ nầy nhận một hậu quả ê chề tủi nhục. Thật là bất công, thật là dị họm khi con người đã vướng vào tình yêu. Dù trẻ già dù ở bất cứ hoàn cảnh nào khi yêu thật sự, tình cảm bị chế diễu thì tánh tình cách cư xử của mình dễ bị biến hóa mọi thứ bình thường và rất là dị họm trong mắt người khác? Chỉ có người không yêu thì người ta mới thản nhiên trước nỗi đớn đau của mình
Thôi thì giã từ tất cả!
Giã từ những gì hoa mỹ mà bạn bè cho rằng đã hết lòng vì mình, mình có thật sự tự bóp chết niềm tin và hy vọng một ngày nào người ta sẽ yêu mình không? Tiếng kêu đau đớn của con tim quá nhiều mộng mơ của mình đây. Mình sẽ trở về cái kén bao năm ẩn thân để sống một mình rồi sẽ hủy diệt một mình. Một ngày nào không ai còn nhớ đến mình, chỉ một điều nầy thôi mình đã thấy tất cả chỉ là hư vô.
Ðã gần hai tháng nay, người ta đã làm tổn thương tình cảm của mình nhiều quá, với lòng tự trọng của mình, với tình cảm của một tình yêu đơn phương, mình tự dặn lòng thôi hãy đừng yêu nữa bằng những phân tích của lý trí, nhưng rồi một tình yêu cồn cào như xé nát da thịt, như nổ tung cái đầu, như thấy cả dòng máu đỏ chảy không thôi từ trái tim cuồng si ngây dại, một tình cảm không thể chối bỏ được. Mình đã yêu, một thứ tình yêu mảnh liệt và không mong gì nhận được sự trao trả từ đối phương.
Dù tổn thương tình cảm, dù bị bỏ quên, mình cũng quí yêu cành hoa Lys vàng như quí yêu người ta, vì trước khi trao tặng mình, người ta đã cầm nắm nó, và hơi hướm của bàn tay người ta vẫn còn vương vấn một chút tình trao tặng mình.
Ôi, sao mình mâu thuẩn lắm không biết nữa?
“Khi yêu là chết trong lòng một ít”
Không!
Khi mình yêu, mình đã chết ở trong lòng quá nhiều, nhiều hơn chính mình tưởng. Suy nghĩ thì vụn dại khi khóc lúc cười, mà người ta đâu có hiểu được mình đâu. Tình yêu có phải là sự hy sinh? Chỉ biết yêu chứ đâu cần tính toán để nhận được hay không, cái vòng lẩn quẩn sao cứ mãi quẩn quanh trong đầu mình thế? Mình như mất hết nhựa sống, mình như già đi trước tuổi cả một thế kỷ.
Có ai không?
Có ai kề cận bên mình ngay lúc nầy không?
Mình suy nghĩ những gì trong những giờ phút nặng nề trôi qua với bao nhiêu là nước mắt để nghiệm ra sự việc đúng hay sai?
Mình đúng?
Phải, mình rất đúng là không thể chối bỏ được là mình đã đúng.
Ðúng là mình đã yêu người ta thật là nhiều, nhiều đến quên cái ăn, quên cái ngủ, quên và từ chối những cuộc vui chơi cùng bạn hữu, để mà thương mà nhớ những lời những câu văn thơ người ta đã viết trao tặng mình. Từ chỗ yêu quá hóa ích kỷ chỉ muốn những gì người ta nghĩ, người ta nhớ chỉ dành riêng cho mình. Mình có tham lam quá không? Chưa đủ bù được thời khắc mình trằn trọc đến bạc đầu vì không ngủ để nhớ người ta, để thương người ta khi mà người ta vẫn dự những cuộc vui có thể.
Mình sai?
Rất sai. Mình rất sai vì đã làm mất vui một buổi tối họp mặt. Tại sao mình yêu mà không dám hy sinh tất cả tình cảm mà mình nghĩ là bị tổn thương, để hòa đồng cùng mọi người để tạo cho người ta cái vui trọn vẹn. Cái tôi của mình có lớn quá nên đã mờ ám tính thẳng thắn và bộc trực của mình sẵn có? Như ma đưa lối quỉ dẫn đường đã xui giục mình có những biểu hiện qua nét mặt dễ làm mất tình bằng hữu. Mà vấn đề chính ở đây mình muốn đích thực nói đến tình yêu của mình đối với người ta. Mình có thể đã đánh mất nét đẹp vẻ nên thơ mà người ta đã nghĩ và dành cho mình từ trước tới giờ.
Ðúng là mình thật sự đã sai.
Tim mình như đau nhói. Bây giờ cái đau nhói từ tim không vì tủi hờn, mà cái đau nhói từng cơn, từng cơn, từ con tim khát khao được yêu ví như mình đã đánh mất một cái gì quí báu nhất thân thương nhất trong đời.
Mình muốn trốn chạy. Trốn chạy một thực tế quá phũ phàng!
Người ta ơi!
Anh yêu ơi!
Em chân thành xin lỗi anh.
Với những gì em đã gây ra dù vô tình, anh hãy nghĩ rằng em vì quá yêu anh, nên ngu ngơ không hiểu được tác hại hậu quả.
Hãy nghe tiếng lòng em nói, tuy rằng có muộn màng, nhưng em chắc rằng anh sẽ đọc, sẽ hiểu và tha thứ cho em, đừng giận em.
Vì yêu anh, em có thể dẹp bỏ tự ái và hiểu rằng xin lỗi anh là đúng để xin anh một tiếng thứ tha, một lần duy nhất sai phạm và chỉ xin lỗi với anh.
Em cười trong nước mắt dàn dụa – nước mắt hạnh phúc – vì đã yêu anh.
Cành hoa Lys vàng rực rỡ khoe sắc hương thơm được cắm vào bình hai chim bồ câu giao đầu hạnh phúc đang hiện diện trước mắt em là gương mặt đáng yêu của anh đang cười cùng em trong ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8 tháng 3.
Ðặt nụ hôn vào cành hoa trao gởi đến anh. Lá thư em viết trong sự bối rối với nỗi niềm riêng chỉ mình em thì thầm với anh.
Nước mắt hạnh phúc trong ngày 8 tháng 3.
Ngày QTPN 08/3/2008
Hắn ngu thật , chưa yêu mà đã sợ thất bại . Hắn để ý nhiều cô lắm , thấy cô nào đẹp hắn cũng để ý nhưng cứ dè chừng , ra bộ coi cô nào ít sát khí hơn hắn mới dám mò tới và mở miệng hến hắn ra .
Con bà Ba ngoài chợ , cô ả cũng đẹp ra phết , dáng cao cao , thanh thanh , dáng này có về già vẫn đẹp , có còng lưng cũng không thấp hơn bao nhiêu , ( trời còn thanh xuân đã nghĩ về già người ta ra sao !) mới đầu hắn thích , sau đó hắn đi qua cô ta như chẳng thấy . Tội cô ả , thấy hắn qua lại thời gian cũng mừng , rồi sau hắn lơ là , ả đâm thù hắn , thù thật đấy . Cứ đợi hắn đi qua , ả nhổ toẹt một bãi nước miếng xuống đất , ra điều như có gì đắng trong miệng nhưng ai tinh ý sẽ biết , ả làm vậy vì khinh hắn .
Con bà Năm bún mắm , ả nổi tiếng chậm tại cái chợ này . Ả rửa chậu chén mất độ nửa tiếng trong khi người khác quẹt mười phút là xong . Ả bị gì không biết , độ tuổi đôi mươi mà tóc đã bạc phết nửa đầu . Hắn mới đầu đâu có để ý gì ả . Sau đó thấy ai cũng chê ả chậm , hắn tò mò nhìn ả rửa chậu chén ra sao , rồi vài ngày sau thấy hắn đi hứng nước cho ả . Ả cũng chẳng rửa chậu chén nhanh hơn bao nhiêu .
Con bà Tư trứng vịt , lanh lẹ, thanh tú , người ta bảo tướng cô chả xứng đứng ở cái chợ này , có lẽ đứng đâu trên bục giảng hay hơn nhiều . Cô ít ra đây , nhưng mỗi lần ra đều tháo vát , nhanh nhẹn , ai nhìn cũng phục . Cỡ người này đi đâu , việc chạy đến đó . Hắn có để mắt tới cô nhưng hắn ngầm cho cô thuộc về một thế giới khác , chả phải hạng cần lao như hắn , hắn thôi chả dám nhìn cô nữa ..
Cứ thế , hình ảnh của những người phụ nữ đi qua tâm trí hắn . Ban đầu hắn đếm còn một số , 5 năm rồi ở cái chợ này , con số đó là lên hàng hai và qua hẳn số 5 và số 0 . Có người bực hắn , có người cho hắn nhát , có người cho hắn ngu .
Các cô hắn để ý , có cô đã có chồng con tiếp tục hiện diện tại cái chợ này , có cô còn dạn bảo hắn trông dùm con khi có việc đi đâu chút . Hắn nhận tất ... nhận vô điều kiện .
Hắn vẫn đơn độc một mình và mỗi chiều về tại cái chòi hắn ở đầu chợ , ngọn đèn dầu vẫn hiu hắt từng đêm .
Cho hắn của tôi
Anh Yêu Dấu,
Như con thuyền lênh đênh trên biển cả của cuộc đời, những con sóng ngầm cứ mãi ngấm ngầm trôi đến, như muốn cuốn trôi tất cả những gì bên em, anh biết không, những đêm thâu thao thức trằn trọc, buồn tênh, để thấu hiểu sự thinh lặng của bóng đêm là niềm chia sẻ không ít cho những muộn phiền, lo lắng, trong em. Những lúc ấy, ước gì có anh bên cạnh, để hôn lên mắt môi, và làm vơi đi những giòng lệ đau buồn ấỵ
Biển đời mênh mông
Với những nỗi lòng
Vỡ tan trăm mảnh
Người có biết không
Giọt lệ tuôn rơi
Cho những mảnh đời
Lạc loài, ngang trái
Như sóng ngàn khơi
Những ngày yêu nhau, những hạnh phúc, những kỷ niệm, tất cả đều quí báu và giúp em có nghị lực để tiếp tục đợi chờ ngày chúng ta bên nhau.
Tiếng gió buồn vi vu
Trăng rơi lặn dưới hồ
Lạc đâu ngày tháng cũ
Tình sao mãi phiêu lưu
Anh yêu, em vẫn ngồi đây, lặng nhìn ngày tháng trôi qua trong đợi chờ, hãy mau về bên em, thắp sáng lên ngọn nến yêu thương anh nhé.
Viết Cho Giao Mùa
April 2008
DHH
~~~~/~~((@
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 72 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà
