Số 74
Ngày 1 tháng 6 năm 2008
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Bạn mến,
Tháng Năm qua, tôi có dịp ghé thăm Las Vegas trong một chuyến đi công tác. Hình như lần cuối tôi ghé qua đây cũng ít ra là khoảng 23, 24 năm về trước. Thành phố chuyên sống về đêm này với những casino trải dài với g ánh đèn màu rực rỡ với dân số Việt nam hình như cũng khá đông vì tôi thấy nhiều tiệm VN nằm rải rác gần khu phố Tàụ.
Những ngày ở đây, nắng thật gắt. Cơn nắng nhìn thì thấy dìu dịu, nhưng chỉ trong vòng 10, 15 phút đã thấy rát da mặt. Thỉnh thoảng trên đường, có những bụi hoa sa mạc màu tim tím, ngoài ra thì đất cát dẫn đến tận chân trờị
Tôi có dịp gặp laị một người bạn cũ...Dã gần 30 năm nay, mới có dịp gặp lại TH. Laí xe đến nhà bạn qua những con đường nằm dọc theo ven núi , chỉ có tiếc là nơi sa mạc, cho nên núi non cũng không có cây cối xanh tươi như các vùng phía Ðông. Bữa cơm tối rất thân tình với gia đình bạn, tôi có dịp tâm tình những kỷ niệm sau ngày rời VN...Rất vui khi thấy bạn hạnh phúc và mọi chuyện tiến triển tốt đẹp như mong muốn. TH ngày xưa được coi la hoa khôi của năm tôi theo học. Trong năm đầu tiên, chỉ có lèo tèo dưới hơn mười cô theo học ngành khoa học khô khan này, cho nên đám con trai ai cũng biết các cô, còn các cô thì chắc chẳng để ý đến aị Lúc đó có gan lắm thì cũng chỉ dám lẽo đẻo đi theo từ xa trên những con đường trong khuôn viên trường học, chứ đừng nói đến bắt chuyện hỏi thăm này nọ. Ôi những mối tình đơn sơ của thời học sinh: lãng mạn, nhẹ nhàng nhưng rất khó quên.
Mãi lo chuyện này chuyện kia, thấm thoát đã đến ngày trở về. Ra đến phi trường, nhìn những máy kéo đầy đặc, tôi sực nhớ ra là suốt bốn ngày ở tại casino Rio nổi tiếng, tôi chưa có dịp để thử thời vận lần nàọ Thôi đành hẹn lần sau vậỵ
Trường Như
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Niềm Thương | ______phanthịngônngữ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Cõi Thơ | ______Hàn Thiên Lương | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Vầng Mây Và Cánh Gió | ______Từ Tú Trinh | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Dáng Xưa | ______Hà Khánh Phương | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Từ | ______Khóc_Cười | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Chơi Vơi | ______Kim Thành | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Tri Kỷ | ______Tôn Thất Phú Sĩ | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Về Lại Nha Trang | ______ Nguyễn Hải-Bình | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Lòng Mẹ Và Dòng Sông |
______Mynh Hứa | 10. Chiều Qua Xóm Nhỏ |
|
______Song An Châu | 11. Tìm lại Tình Chiều
|
|
______Phan Tưởng Niệm | 12. Mẹ Là Nguồn Nước
|
|
______Uyên Phương Minh Nguyệt
| 13. Ð ê m H à m L u ô n g
|
|
______Sông Cửu |
14. Cúng Dường Chiếc Ðèn Man Son
|
|
______
Tinh Hoa - Lê Trọng Dũng
|
15. Xin Thắp Một Ngọn Nến Hồng
|
|
______Nguyễn Ðịnh |
16. Tiếng Ểnh Ương Ðánh Thức Muộn Phiền |
|
______Ngũ-Lang |
17. Thơ Hồ Chí Bửu
|
|
______Hồ Chí Bửu |
18. Quê Hương Tình Tôi Một Nỗi Buồn
|
|
______Ðông Hòa |
19. Ba Ðốm Lửa
|
|
______Trần Văn Lương
|
20. Huế Lạnh
|
|
______Trần Hoan Trinh |
21. Phố Xưa
Ðời Mai
|
|
______Mạc Phương Ðình |
22. Tình Ca Ðêm
|
|
______Vành Khuyên |
23. Tìm Em
|
|
______Tuyền Linh |
24. Mưa Buồn Tháng Sáu
|
|
______NPNA |
25. Có Phải Em Là Con Gái Huế ?
|
|
______Chu Kỳ Thư |
26. Ngày Lễ Mẹ
|
|
______Bophatuyet hoa |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Một Thời Ðể Nhớ. _______ Hà Khánh Phương |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 31 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Bản Ðộc Tấu Cuối Cùng (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ðinh Lâm Thanh |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 22(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Trên Vỉa Hè ___________ Trần Thành Mỹ |
| 6.cứ kể như là thật đi ___________ m.loanhoasử |
| 7.Niềm Ðau ___________ Ái Ưu Du |
| 8.Hàng Chất Lượng Cao ___________ Vành Khuyên |
| 9.Giấc Ngủ Trên Ðồi Xanh ___________ Nguyễn Phan Ngọc An |
| 10.Tháng Ngày Trên Xứ Cờ Hoa ___________ Kim Phương Oanh |
| 11.Ðọc Lịch Sử Ðà Nẵng của Võ Văn Dật ___________ Nguyễn Phụng |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Truyện Dài Hương Chanh _______ Giao Muà |
V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc
_______ Ban Biên Tập
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Hà Khánh Phương
Hà Khánh Phương 2. Bờ Lau Cát Lở 31 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Ðỗ Thành 3. Bản Ðộc Tấu Cuối Cùng (chuyện dài nhiều kỳ) Ðinh Lâm Thanh
Ðinh Lâm Thanh
4. Chập Chùng Bóng Núi 22 (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Thanh Sơn
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
m.loanhoasử
m.loanhoasử
Ái Ưu Du
Ái Ưu Du
Vành Khuyên
Vành Khuyên
Nguyễn Phan Ngọc An
Nguyễn Phan Ngọc An
Kim Phương Oanh
Kim Phương Oanh
11. Ðọc Lịch Sử Ðà Nẵng của Võ Văn Dật
Nguyễn Phụng
Nguyễn Phụng
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
IV. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. Truyện Dài Hương Chanh V . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Những ngày đã yêu.
Tiếng ai thì thầm gọi như vọng lại từ tiềm thức. Tiếng em nói như trăng khuya thầm gọi và anh... anh đã nghe con tim bồi hồi khi tình yêu đến vội, anh đã tự nhận một tình yêu một điều diệu kỳ đã đến với anh, một tình yêu không sắc màu, một tình yêu không phô trương và một tình yêu...
Tình yêu thánh thiện.
Những năm tháng yêu nhau với tình cảm chân thành không vụ lợi. Từ bên kia đầu dây nói anh gọi về, anh nói cùng em hằng bốn năm tiếng đồng hồ với những lời thiết tha an ủi, động viên, săn sóc rồi thúc giục “em hãy mạnh dạn đối diện với thực tế” khi em ngã lòng bởi những vướng mắc vì căn bệnh chưa chửa khỏi. Làm sao nói hết hay diễn tả tất cả những gì còn đọng lại nơi tâm trí em vẫn còn hằn sâu giọng nói tiếng cười anh đã in đậm trong tình yêu anh dành cho em, những hình ảnh của anh, những email anh đã từng gởi, những bài thơ anh viết riêng tặng em gần như em đã thuộc nằm lòng từng câu từng chữ.
Những năm tháng sâu sắc với tình yêu thiết tha chưa thể nhạt nhòa trong tim em. Tình yêu đến với anh và em tuy vô hình không sắc màu nhưng thật là quý giá và thật là thiêng liêng thánh thiện.
Một tình yêu vô giá không bến bờ.
Rồi gần sáu mươi ngày hiện diện bên nhau khi sáng lúc chiều bằng mắt bằng lời bằng chân dung thật đối diện qua niềm vui thật sự đồng cảm nhau hơn.
Một tình yêu luôn sống mãi trong tiềm thức.
*
- A lô.
- A lô.
- Hoàng Kim Phụng., em đến số...
Tôi đến quán cà phê Phượng Tiên trên đường Trần Bình Trọng với một chút bối rối trong trạng thái của người đang yêu qua tâm tình của một người yêu tìm gặp người yêu từ phương xa trở về vừa nói chuyện qua cuộc điện thoại. Với bản tánh e dè cẩn trọng, tôi đảo xe qua mấy lượt nơi muốn đến, nhưng vẫn không đủ can đảm đối diện với người thương, mặc dù rất mong đợi giờ phút mắt trao ánh mắt. Thu hết can đảm bước vào quán cà phê, tôi kín đáo đưa ánh mắt nhìn thoáng thật nhanh tìm kiếm. Mắt tôi dừng lại gương mặt một người mà tôi linh cảm đó là người tôi muốn tìm. Một người mang kính đen chào tôi bằng nụ cười thật tươi nở trên môi. Giác quan thứ sáu của tôi mách bảo rằng đây là người tôi cần tìm gặp. Chắc chắn là thế. Không sai.
- Chào anh Phạm Trung Nhiên.
- Ðúng không?
- Chắc chắn là anh rồi.
Tôi trả lời tự tin khi nhận ra tiếng nói của người đã từng điện đàm cùng tôi bao năm qua.
Một nụ cười đáp lễ:
- Hoàng Kim Phụng.
Buổi hội ngộ bất ngờ đưa chúng tôi từ sự bất ngờ nầy đến những bất ngờ khác, nhất là tôi. Anh không là một Hàn Mặc Tử, cũng không phải một Trương Chi và nhất là bàn tay phải của anh không co quắp lại vì tai nạn nghề nghiệp như anh đã từng nói với tôi mà tôi đã từng yêu anh qua những năm tháng về sự bất hạnh của anh. Ngược lại anh cũng ngỡ ngàng vì tôi không ngồi xe lăn như đã từng nói với anh.
Hình tượng qua lăng kính chúng tôi nhìn thấy nhau đẹp vô cùng ở khía cạnh không vụ lợi mà cả hai chúng tôi chỉ hướng về nhau chung một điểm cao nhất, đẹp nhất – tình yêu thánh thiện.
Với anh sự tìm gặp em đã nói lên điều em mong ước. Suốt buổi trưa những câu hỏi bâng quơ không đâu vào đâu, tiếng khua muỗng vào ly nước khi anh mời, những lần anh tiếp thức ăn vào chén khi dùng bữa trưa ở cơm gà Hải Nam, với ánh mắt nồng nàn anh kín đáo trao, em thật sự bối rối với những cử chỉ săn sóc anh dành tặng em. Sống khép kín vì không muốn tiếp xúc riêng với bất kỳ một người khác phái nào, giờ gặp tình huống tình cảm tự dưng đến, em phân vân tự hỏi có phải là em mơ hồ sống lại tuổi đôi mươi đang yêu và được yêu?
Em nhớ mãi buổi chiều anh ngồi đợi tại cà phê WINDOW’S trên đường Alexandre De Rhodes, em tới sai giờ hẹn.
Tuy tươi cười nhưng anh vẫn trách khéo:
- Anh ngồi đã hơn tiếng đồng hồ trong phòng máy lạnh, nhưng vẫn ướt áo.
- Em xin lỗi, vì kẹt xe.
- Ðó là quy luật của phụ nữ, luôn đến trễ.
- Không hẳn thế, mình nói chuyện khác vui hơn
- Anh đang vui đây.
Tuy ngồi phòng VIP máy lạnh nhưng nơi nầy quá ồn ào vì các bạn trẻ tuổi teen quá hiếu động, tiếng cười nói, tiếng nhịp muỗng vào ly vẫn râm ran không dứt. Xuyên qua cửa kính nhìn xuống công viên bên kia đường, từng cặp, từng đôi tình nhân bách bộ hay ngồi trên băng ghế công viên đã phác họa một bức tranh tuyệt tác sống động. Em thầm mong ơn trên ban cho họ được diễm phúc mãi mãi bên nhau tay trong tay với tình cảm đẹp nhất của những người đang yêu nhìn tất cả mọi thứ dưới mắt họ toàn màu hồng.
Như em hiện tại. Quá vui trong một tình yêu cứ ngỡ không bao giờ nắm bắt được nên không cầm được nước mắt, rồi cười to khi đối diện lúc tình đã bay đi.
Ai hiểu và đa mang tâm trạng - khóc khi tình có, cười lúc mất tình?
Một lần anh và em đến cà phê sân vườn Văn Cao trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Cũng thức uống em khoái khẩu – sữa chua đá thêm một ít cà phê, anh vẫn vậy - cà phê sữa đá. Mỗi ly nước không tới 200ml mà sao uống mãi không cạn.
Em biết tại sao không em?
Hãy trả lời anh.
Anh biết tại sao không anh?
Hãy trả lời em.
Những câu nói thật dịu dàng cởi mở, như say đắm thật da diết nồng nàn hương vị thương yêu, nghe hoài nghe mãi vẫn không nhàm chán. Nhưng cũng bởi thời gian vô tình cứ trôi qua, sao thời gian không chìu lòng người, chìu em, chìu anh, hẳn là thời gian đã ganh tị với tình yêu của chúng mình đấy.
Thời gian không có màu hồng của một tình yêu tươi trẻ.
Thời gian không có màu xanh hy vọng của một tình yêu đắm say.
Thời gian không có màu đỏ của một tinh yêu tự tin
Thời gian cũng không có màu vàng của một tình yêu kiêu sa diễm lệ.
Thời gian không có màu trắng của một tình yêu trong sáng và tinh khiết.
Thời gian không có những gam màu tình yêu trong những trái tim nóng bỏng.
Thời gian vô tình dững dưng không xúc cảm, không thương không ghét, cứ im lặng lướt qua những cuộc đời vui cái vui trong khoảnh khắc nhanh chóng, cũng như tàn bạo và khốc liệt kéo dài chuỗi khổ đau để kẻ sầu buồn phải gậm nhấm triền miên đã trải qua những giờ phút tột cùng đau khổ một cách chậm chạp đáng ghét.
Thời gian là như thế đó, không chờ đợi ai.
Buổi sáng khi em còn say ngũ với những mộng đẹp ẩn chìm đọng lại trong tiềm thức, tiếng chuông điện thoại đã đánh thức:
- Anh đang ngồi ở quán cà phê gần nhà em.
- Dạ.
- Em đến số... anh chờ.
- Dạ.
- Em chưa thức?
- Ðêm hôm em mất ngũ.
- Ðược. Anh chờ.
Anh luôn tạo bất ngờ cho tôi. Cuộc hội ngộ sáng nay cũng bất ngờ như những cuộc gặp mặt bất ngờ trước đây. Anh đâu biết rằng phụ nữ chúng em mỗi khi đi ra đường cũng dành một ít thời gian tối thiểu để chỉnh trang gương mặt cho có vẻ “một gương mặt dễ nhìn” dù vẫn biết mình không mấy gì đẹp. Thời gian kể từ lúc chuông điện thoại reo chưa được bao nhiêu phút mà anh cứ ngỡ là lâu lắm sao, anh cứ gọi điện thoại liên tục là em rối lên, đã muốn nhanh mà cứ tất bật hết đánh rơi vật nầy lại quên thứ kia. Ôi sao mà bấn lên thế. Từ từ rồi em cũng đến. Em lúc nào cũng mong muốn và vui mừng để được gặp anh sớm đây mà.
- Kim Phụng.
Ðang dò tìm từng con số để đến địa chỉ nơi anh đang ngồi chờ em, bất thình lình thắng xe khi nghe anh gọi, cũng may không có xe phía sau, nếu không chắc em lại đo đường, một công việc không ai cần đến em vì đã có bộ phận đo đạc của ngành xây dựng quản lý.
- Anh gọi em bất thình lình , may không em lại té xe.
- Ðến nhà em gọi cổng, không nghe trả lời, đến đây gọi điện cho em là chắc. Chờ lâu quá. Anh uống hết ly cà phê vẫn chưa thấy em đến.
- Chỉ hơn ba mươi phút.
- Chủ quán gần mời anh ra vì ngồi quá lâu.
- Có khi ly cà phê uống suốt đời vẫn chưa hết.
- Gọi sữa cho em.
- Vẫn như mọi khi.
- Anh còn nhớ.
- Anh vào lại Sài Gòn bao giờ?
- Anh vào bằng tàu hỏa tối qua.
- Ai là người anh tìm gặp trước tiên?
- Em.
- Hân hạnh.
- Tìm nơi ăn sáng.
- Anh thích ăn gì?
- Tùy.
- Vậy em chọn.
Quán ăn Tân Lạc Viên tọa lạc tại ngã tư Trần Bình Trọng – Nguyễn Trải. Một quán ăn có bán hủ tiếu Nam Vang (đặc sản chính hiệu) nhìn những con tôm và càng cua cái đỏ tươi chưa ăn đã thấy ngon, cộng thêm đĩa rau cần, cải, giá, các hủ phụ vị sạch sẽ dù khách hàng nào có khó tánh mấy cũng không thể nào chê được. Ngoài món chính là hủ tiếu Nam Vang, quán còn có bán bánh bao, xíu mại, há cảo, bánh giò chéo quẩy, bánh mì (hai món sau nầy có thể ăn kèm với hủ tiếu hoặc cà phê, thức ăn sáng khoái khẩu – cũng giống như món điểm tâm chính là cháo trắng củ cải muối – của người Tiều Trung Hoa sống ở Việt Nam)
Ngồi bên và nhìn anh ăn, em thấy vui vì không chọn lầm thức ăn.
- Có hạp khẩu vị anh?
- Ngon và sạch sẽ, nhất là cách phục vụ tốt.
- Chủ quán cha – đã chết - là bạn hàng xóm với ba em, hiện tại chủ quán con tình nguyện không định cư ở nước ngoài như các anh em khác của họ để nối nghiệp cha, nên giờ không còn bảng hiệu nhà hàng Tân Lạc Viên – sáng bán hủ tiếu chiều có đải tiệc cưới, sinh nhật...
- À ra vậy, nên em quảng cáo hộ.
- Không phải vậy đâu nha, quán đây bán thức ăn ngon nên em mới đưa anh đến ăn.
- Buổi sáng nay, kế tiếp em có toàn quyền quyết định.
- Tốt.
- Em chủ động, anh theo.
- Vậy đi theo em không ý kiến.
Chúng tôi tiếp tục đến một nơi gọi là “cà phê sân vườn” khung cảnh nên thơ trữ tình, những cây trồng hài hòa không gian xanh mát, thác nước nhân tạo, đa phần là nơi họp mặt của giới văn nhân thi sĩ, nhà báo, nhiếp ảnh. Một không gian có chút gì vừa sâu lắng vừa có chút gì lãng mạn của chủ nhân là người Huế.
Cà phê “Thềm Xưa” trên đường Nguyễn Trải quận Một.
Vừa bước vào cổng, không khí mát lạnh lan tỏa – không phải cái mát của máy lạnh – thật là sảng khoái. Em mơ hồ như đang lơ lững trên mây, hơi sương hơi nước như quyện lấy em, đầu óc em lững lơ như thoát tục đang nhập bồng lai tiên cảnh mà Kim Ðồng Ngọc Nữ ngày xưa đang dạo chơi.
Em có thi vị hóa?
Tâm hồn văn nhân thi sĩ lãng đãng?
Không đâu.
Em hiện tại đang chỉ là một người bình thường với nhịp đập của trái tim biết run động với những cảm xúc yêu thương.
Tâm trí em hiện tại như một trẻ nhỏ cứ muốn nhận những thỏi kẹo chocolate thơm ngon đầy quyền lực.
Chúng tôi chọn nơi ngồi gần hồ nhỏ có con suối, vách đá lồi lõm có những cây hoang dã mọc bám vào vách đá – tất cả đều nhân tạo – ánh mắt nụ cười thầm lặng trao nhau.
Nam tiếp viên mang thực đơn đến mời:
- Xin mời.
Tôi khoát tay:
- Cho chị sữa chua đá thêm ít cà phê.
- Cà phê sữa đá.
Anh gọi, cũng không quên nói:
- Chỉ hơn tiếng đồng hồ, ba nơi đến, một lần ăn, hai lần cà phê.
- Anh thấy nơi đây sao?
- Lịch sự.
Cách thiết kế và sắp xếp nơi đây đơn sơ nhưng đã chứng minh chủ nhân có óc mỹ thuật. Phong cảnh hài hòa vừa cổ kín vừa hiện đại. Một nơi thư giản lý tưởng cho những ai sau những giờ làm việc suy nghĩ quá căng thẳng, cho những ai muốn trao đổi tình cảm trong một không gian thanh lịch.
Em cũng không thoát khỏi định luật đó.
Hoa lá gió mây sẽ thay lời em nói?
Không đâu.
Ánh mắt em đã nói thay em rồi. Ánh mắt là cửa sổ của tâm hồn phải không anh?
Anh có nghe em nói gì không anh?
Ngược lại ánh mắt anh đã thú nhận tình yêu anh dành tặng
em rồi đó.
Hai ngón tay ngéo tay trong ánh mắt đã minh chứng cho những thề nguyện chưa thốt thành lời.
Thềm Xưa ơi!
Có cả Thềm Xưa chứng kiến, biết và thấu hiểu tình yêu của chúng tôi rồi đấy nhé. Chúng tôi mãi mãi có nhau một tình yêu không bao giờ mai một.
Phải chăng tình yêu đã mớm lời – những lời vu vơ không đầu không đuôi – hay những ngôn từ không chủ đề luôn dấp da dấp dính từ giờ Thìn qua giờ Ngọ tới giờ Thân, anh và em đã chiếm dụng chỗ ngồi quá lâu, nước cũng uống quá nhiều, nhưng thời gian - hình như - vẫn chưa đủ để bộc lộ hết điều muốn nói. Nhiều lần em muốn cầm nắm bàn tay anh – bàn tay có lần anh đã nói dối với em là nám đen – tay anh muốn tìm tay em. Nhưng cả anh và em chưa ai dám thực hiện điều mong ước bình thường đó.
Em e dè.
Anh cẩn trọng.
Buổi chiều bao lần anh gọi điện nhắc nhở em đến phòng ca nhạc vào buổi tối đúng giờ. Những bản tình ca được thể hiện qua nhiều ca sĩ nhiều giọng hát, thật trữ tình thật lãng mạn. Em tự trách mình sao không ca không hát được ca khúc luôn ca ngợi tình yêu để làm đẹp và sưởi ấm hai tâm hồn mà không một lời thơ văn nào diễn tả đầy đủ nghĩa, thật là một điều thiếu sót với em, phải chi em có một giọng ca truyền cảm để từng giây từng phút đồng ca cùng anh một bản nhạc tình bất tận.
Tất cả thời gian, những suy nghĩ, những buổi hợp mặt vui buồn thương nhớ em đều có chung một sở thích như anh vì anh, em dành tất cả trái tim quý yêu anh. Anh hiểu em? Thời gian cho dù trải qua bao năm tháng em mãi mãi nhớ anh hướng tình cảm về anh. Em có ngu ngơ quá không anh? Chắc là không. Anh cũng nói như vậy mà.
Làm sao em quên được hả anh?
Tất cả là nhịp đập của trái tim em đó, anh có biết?
Nhất cử nhất động của anh đều in đậm, đều dồn dập vào mạch máu, vào tim, vào bộ nhớ trong em không mảy may thiếu sót, không lãng quên.
Một tình yêu thánh thiện chỉ có trong trái tim tha thiết, lý trí bình tĩnh, tình cảm tôn trọng, thì dù muôn vạn lần cách trở vẫn nghĩ về nhau yêu thương nhau.
Chắc chắn anh và em đều có chung một suy nghĩ như vậy.
Buổi sáng cà phê 26...
.....
Ý mà em lại quên nữa rồi.
Còn rất nhiều điều muốn nói, em tạm thôi bật mí ở đây, từ từ... sẽ...
Anh có bao giờ muốn em bày tỏ tình cảm của mình cho mọi người biết đâu, anh lúc nào cũng kín đáo khi thì nồng nàn say đắm thiết tha như ru ngủ tình cảm em đáp lại tình yêu anh, rồi cũng có lúc anh như là vô tình hờ hững, như sợ tiếng yêu thương bay bổng mất hút và hòa quyện vào không gian khi mọi người biết được chuyện tình yêu của chúng mình.
Em không sâu sắc phải không anh?
Thôi vậy, em sẽ không tiết lộ chuyện tình cảm của hai chúng mình, em bắt chước anh, nhốt cảm xúc vào tận đáy tim.
*
Làm việc gần mặt trời, tôi luôn phải giữ vẻ dè dặt, ké né. Vừa chân ướt chân ráo ra trường, lại mới trải qua cơn hụt hơi v´ tai họa, tôi cần thu m´nh và chăm chỉ hơn lên. Hơn nữa, vị chỉ huy trực tiếp của tôi lại là bạn thân cùng khóa với xếp lớn, điều này tôi được biết mỗi khi ông giận hay ra giọng hăm he thuộc quyền. Ông oang oang nói đứa nào làm ông phật l?ng là ông tống đi ra hỏa tuyến ngay, nên anh em lớn nhỏ ai cũng ngán, lo giữ nồi cơm đang có.
Có lẽ v´ ỷ y chỗ dựa này nên vị chỉ huy của tôi có hơi phóng túng, bỏ phế công việc cho cấp nhỏ và thích hưởng thụ. Dù đă về ngành hỏa xa, nhưng đi đâu ông cũng đội cái mũ đỏ của binh chủng Dù trên đầu. Ðành là ai cũng hănh diện với đơn vị lừng danh đánh đấm, song thái độ của ông không được mấy ai cổ vũ.
Có lần tôi nghe hai xếp vặc nhau. Vị chỉ huy trực tiếp của tôi suồng să gọi mặt trời ngang hàng như bạn trước mặt mọi người. Ðiều này làm mặt trời giận đỏ mặt tía tai nên chỉnh đến nơi đến chốn : tôi nói cho anh biết tôi là chỉ huy của anh, ai là bạn mà anh cá mè một lứa. Cũng phải thôi, bạn bè là chỗ riêng tư, nhưng trước hàng quân th´ phải ra ngô ra khoai, có đâu luông tuồng như vậy.
Bữa đó mặt trời cáu bỏ đi liền làm bọn tôi ở lại xanh mặt, chỉ e gặp cảnh dâu đổ đầu tằm, nên thằng nào cũng giả ngây, giả điếc như không nghe, không thây, không biết g´ ráo. Tôi mới đổi về và là sĩ quan cấp thấp nhất ở ga Saigon, song tôi đă thoáng ngửi thấy sự đổ vỡ giữa hai xếp khó tránh được.
Măi đến ngày đoàn tàu của chúng tôi bị đánh xác xơ tại rừng Lá B´nh Thuận, trải qua cả một ngày dài mà chưa nắm được tin tức ra sao. Thiệt hại nhân mạng, của cải, tài vật hỏa xa chưa đâu ra đâu cả, mặt trời hùng hổ đóng lễ bộ ra ngồi tại đơn vị, giục tùm lum để t´m ra nhẽ.
Hôm đó tôi đóng phiên trực, mướt mồ hôi v´ có mặt xếp lớn bên cạnh. Ác nỗi đường liên lạc quân sự với tiểu khu B´nh Tuy bị tắc nghẽn v´ gặp khoảng mất tín hiệu ở mật khu Lê Hồng Phong, mặt trời cứ gầm gừ đập bàn đập ghế. Tôi phải vận dụng hết ngơ ngách để làm vui l?ng ông.
Tôi bắt quàng qua hệ thống xa báo để nhờ ga này truyền ga kia tiếp xúc với tiểu khu xin cung cấp tin tức. Mặt khác lại vận dụng luôn hệ thống tiếp cận thẳng các đồn đóng dọc thiết lộ để moi thêm bất cứ một tia sáng nào. Tôi thấy mặt trời có vẻ xúc động v´ sự lanh lợi của tôi. Dù tin không đầy đủ, nhưng cũng đă có rơ rệt địa điểm tàu bị đánh và sơ khởi số thiệt hại về nhân mạng.
Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng như vậy th´ xếp trực tiếp của tôi vẫn biệt dạng. Hôm ấy là chủ nhật, nhưng với binh đội th´ đâu có ngày nghỉ, huống chi là đoàn tàu lại đang bị làm thịt ngay trên lănh thổ thuộc quyền. Mặt trời đă nhiều lần gầm lên hỏi xem có ai biết xếp nhỏ đi đâu, tôi mau miệng chống chế để mong cứu văn t´nh thế mà không che hết.
Ðến tối th´ mặt trời cho gọi vị sĩ quan trực bên trung ương sang thay cho tôi và lệnh cho tôi phải đi t´m lôi bằng được xếp nhỏ về. Tôi dùng xe nhà binh lên cư xá đường sắt H?a Hưng gọi cửa nhà ông ta, lúc ấy khoảng 10 giờ đêm, bà vợ ông nổi sùng mắng tôi như tát nước. Thân phận thuộc cấp, tôi cắn răng chịu, dù vậy nào xếp có ở nhà. Tôi phải nói lư do th´ bà cho biết ông đang nhậu ở quán Lạc Duyên trên Phú Nhuận.
Tôi lại lóc cóc lái xe giữa phố phường với bụng đói và sự mệt mỏi. Tới nơi th´ xếp bé của tôi đang huênh hoang nhậu với bè bạn và hẳn nhiên với quân phục, cấp bậc và cái mũ đỏ trên đầu. Tôi chào theo quân lệnh và mới xếp về, xếp c?n vặc với tôi : đến ngày nghỉ cũng không yên thân rồi đuổi tôi về trước.
Khi hai xếp cụng đầu nhau th´ không khí như vón đặc lại. Mặt trời chỉ lẳng lặng nói : anh chuẩn bị lập đoàn tàu đi tiếp ứng, rồi sau sẽ tính. Nhưng nh´n lại bộ điệu xếp nhỏ loạng choạng không vững th´ mặt trời lại gạt ngang : anh về mà ngủ đi, mai tỉnh lên tr´nh diện tôi. Rồi mặt trời quay sang tôi : c?n anh theo tàu tiếp ứng cố thu thập xem ai c?n ai mất, khi về tôi cho anh nghỉ phép 3 ngày.
Ðúng là tai họa trên trời rơi xuống, tôi vừa ra trường, nào có tí kinh nghiệm chiến trường g´ đâu mà chỉ huy đoàn tàu đi tiếp cứu. Nhưng lênh là lệnh, làm trước khiếu nại sau, tôi lẳng lặng tuân hành, lủi thủi leo lên goong bọc sắt chạy vào trận địa. Nằm trên goong mà đầu óc mung lung, toa tắt đèn tối mịt để tránh địch điều nghiên bắn phá.
Tàu chạy qua H?a Hưng, Phú Nhuận, G? Vấp, Dĩ An rồi Biên H?a giữa tiếng gió rít nơi bánh sắt và l?ng dập dềnh giữa đói và lo. Thỉnh thoảng qua một ga xép, ngọn đèn lơ lửng soi loáng vào mặt những người lính trên tàu, tôi có cảm tưởng như hồn ma bóng quế đang cùng chạy lẫn với chúng tôi để t´m về tử địa.
Cũng may sự thóc mách làm cho tôi nảy ra nhiều sáng kiến. Chả lúc rảnh rang tôi đều t? m? t´m đọc luật lệ hỏa xa để nắm được chút g´ chăng, nhờ đó hiện giờ tôi mới bớt sợ. Tôi gọi âm thoại nội bộ liên lạc với trưởng tàu dân sự, căn dặn ông cứ chiếu theo điều lệnh khai thác mà chạy, nhưng khi bắt đầu vào khu vực giữa B´nh Tuy, B´nh Thuận th´ tuyệt đối phải theo lệnh điều động quân sự của tôi.
Có lẽ ông chẳng may bất đắc dĩ cũng dính vào chuyến đi nguy hiểm như tôi nên ông nhanh nhảu nhận lời ngay. Ðúng là thày đổ bóng, bóng đổ thày để cùng nhau t´m lẽ sống kề sự chết. Sở dĩ tôi dám mạnh bạo phán đoán như thế là v´ con đường sắt Việt Nam vốn độc đạo, địch chỉ cần ước lượng chôn m´n hai ba đoạn giật cho nổ tung gây hoang mang và khi đoàn tàu liệt quị th´ ồ ra bắn phá ngon ơ, gọn lỏn.
Ðiều này chẳng ai mà không biết, nhưng hoàn cảnh phải chịu. C?n nói g´ khi đường sắt chạy xuyên qua rừng già của mật khu Lê Hồng Phong th´ c?n g´ dễ và tốt hơn. Tàu qua Long Khánh, đi dần vào Trản Táo. Suối Kiêt, Sông Phan, nh´n qua lỗ châu mai thấy dăy nhà sát đường sắt thiu thiu ngủ, đèn quét hững hờ mới thấy nỗi buồn người lính sao mà quá kéo dài.
Lại thêm, goong bọc sắt nào cũng từng là nạn nhân của những cuộc phục kích, ít cũng đă có lần người chết hay bị thương khi đụng trận, nên tốc độ tàu khật khừ làm cho l?ng người dễ ngủ gật và chớp mắt lại thấy đồng đội hiện lên sụt sùi than kể. Tôi mang cái tâm trạng năo l?ng này cà tịch cà tang khi tàu bắt đầu rời ga Sông Phan đi vào vùng Suối Vận, Rừng Lá.
Tiếng trưởng tàu lôi thốc tôi dậy với câu : ta sắp bước vào chỗ hiểm. Tàu đă qua một đêm dài chạy suốt từ Saigon đến đây. Vạt nắng yếu ớt ban mai chưa hất nổi màn sương dầy của rừng núi bao la làm cho mặt ai cũng c?n đang ngái ngủ và lọ lem như bị bôi nhọ. Tôi bỗng thấy m´nh quan trọng, tôi lệnh cho tàu chỉ được chạy 5cs/giờ và dù cấp thẩm quyền nào có đe dọa hay ép buộc cũng không tự ư làm theo nếu chưa có sự chấp thuận của tôi.
Quí vị chớ vội cho là tôi lớn lối, làm liều. Ðiều này bố tôi bảo cũng không dám v´ t?a án quân sự lúc nào cũng vô t´nh và quá ư tàn nhẫn. Thế nhưng điều lệnh hỏa xa th´ lại ghi rơ : ở bất cứ vùng hiểm nguy hay công trường vừa sửa chữa xong không được chạy quá tốc độ nêu trên. Ðiều này ghi rơ trong pháp lệnh hỏa xa do Bộ Trưởng Giao Thông kư mà đă là cấp bộ ấn định th´ dại g´ tôi cho chạy nhanh để đút đầu vô chỗ chưa rơ t´nh h´nh địch ta ra sao.
Ðầu năm 1963, ông Lê Ðức Ðạt là Tỉnh Trưởng B´nh Tuy (cấp bậc Ðại Úy) nhận lệnh của Tổng Thống phải đích thân đi cứu đoàn tàu mà v´ địa thế chỉ có đường hỏa xa mới len được vào vùng chạm địch. Cả một ngày một đêm, ông ta và thuộc hạ ăn dầm nằm dề trong rừng núi Tánh Linh và Suối Vận với lời dặn nếu đến 10 giờ sáng mà không đưa được người chết, bị thương và báo cáo t´nh h´nh về Saigon th´ coi như chỗ ngồi của ông bị rung rinh.
Do đó th´ nghe tin tàu tiếp ứng của chúng tôi lừng lững đi vào chỗ đó th´ ông mừng hết sức. Ông dùng máy PRC-25 gọi giục tôi chạy nhanh, một hai “ anh đă bố trí đầy đủ lính bảo vệ rồi, cưng giúp anh kẻo Cụ la toáng lên “. Tôi dạ vâng nhưng lại quay qua máy bộ đàm nội bộ mà dặn trưởng xa cứ tà tà như cũ.
Trước tôi c?n nghe những câu t´nh nghĩa huynh đệ chi binh, dần ông nổi cáu th´ văng đủ thứ, c?n dọa lột lon tôi nữa. Tôi cũng ´ ra v´ đă có pháp lệnh cho dựa lưng tô´ c?n lo g´. Bởi chưng tôi đổ l´ là v´ nào tôi có muốn trở thành người lính và kinh nghiệm cũng cho thấy các vị thường trấn an đàn em nhưng thực sự chả có lực lượng nào đóng chốt tại hiện trường và bất quá tôi có trở thành tử sĩ th´ vợ con đă có nhà nước lo cho 12 tháng lương và một chỗ trong nghĩa trang quân đội là xong.
Bởi vậy măi gần 9 giờ th´ tàu mới kin kít thắng khi vị tiểu khu trưởng xồng xộc chửi và đôn đáo t´m tôi. Vừa thấy tôi, ông đă quay tít khẩu Colt 45 tưởng là phèng một phát, tôi nhắm mắt chờ cú ân huệ, nhưng chả hiểu sao ông lại nhá mà chẳng phạng vào đầu hay thụi vào mặt tôi. Rồi những lời tôi lặp lại bên trên là do chính từ vị tiểu khu trưởng oang oang nói với trưởng xa lẫn tôi khi giáp mặt.
Hẳn nhiên là tôi giở bài “ con cá sống v´ nước “ để tr´nh bày lư do ạch đụi của tôi (với sự a t?ng nhận là đúng bài bản, luật lệ của trưởng tàu) th´ ông mới hạ cơn nóng. Ông phóng lên goong của tôi để cùng đi thu gom trận địa. Tội nghiệp đồng đội an ninh thiết lộ của tôi vừa bị địch dồn đánh, vừa đói, mất ngủ, vừa lạnh, trốn chui trong hố, bụi rậm mà khi tiếng vị tiểu khu trưởng kêu gọi vẫn chưa dám ló ra, e địch giả dạng bắt đi làm tù binh tàn đời.
Ðến khi tôi yêu cầu trưởng tàu cho kéo c?i liên tục th´ anh em mới lũ lượt kéo ra, quần áo rách, xốc xếch, dáng đi lảo đảo, mệt mỏi và thất sắc. Ðại úy Ðạt lệnh cho đem thực phẩm và gom các anh em lại ăn uống rồi qua sự chỉ dẫn của họ ông đi thu nhặt xác các anh em đă chết đưa về tiểu khu lập thủ tục chuyển chôn.
Ðó là lần đầu tôi chuộc lại lỗi với mặt trời nên từ đó ông rất mến tôi. Trong một lần bất chợt gặp riêng tư, ông đă thố lộ : cũng may ngày mày ra trường tao đă không chấm hỏng mày, nếu không giờ chắc tao ân hận dữ. C?n đại úy Lê Ðức Ðạt sau vinh thăng lên Ðại Tá cầm Tư Lênh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh và mất tích tại Ðệ Ðức. Chiến tranh đă ngốn biết bao người con của đất nước. Xin nguyện cầu cho ông b´nh yên về cơi an lạc.
Ðoàn tàu của tôi trở lại Saigon trong ngày. Ðiều khiến tôi vô cùng cảm động là mặt trời ra tận sân ga, xiết chặt tay tôi mà nói : méc xi (đó là thứ tiếng Pháp ông hay dùng khi phấn khích với thuộc cấp). Riêng xếp chỉ huy trực tiếp của tôi th´ sau đó trả lại chức và bị thuyên chuyển ra Nha Trang. Ngày ông lên tàu đi nhận nhiệm vụ, chỉ có m´nh tôi lên ga tiễn chân…
(còn tiếp)
Danny rút trong túi ra lát bánh mì :
- Ăn đi, đây là phần của tao.
- Cám ơn, tôi không đói
Danny ngồi xuống giường ra lệnh :
- Ăn đi không nói nhiều !
Ăn xong, Jim làm quen hỏi thăm :
- Xin cho biết trường hợp của anh…
- Cũng giống trường hợp của mầy, nhưng tình
tiết thì khác xa.
Không đợi Jim hỏi thêm, Danny tiếp :
- Tao giết vợ vì thù hận chứ không phải
thương yêu hay ghen tương với địch thủ như mầy.
- Người thứ hai là ai ?
- Luật sư của nó.
- ?
- Chúng nó thông đồng với nhau cướp sạch
gia tài rồi gài tao vào những vụ buôn bán bạch phiến. Tao khám phá kịp thời và ra tay trước để cho hai người vào quan tài một lượt ! Không nương tay, không ân hận, không thương tiếc !
Danny Franz là một nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng, người Mỹ gốc Pháp, lãnh án chung thân về tội giết một lượt hai người. Ông còn nhiều liên hệ bà con với giòng họ hoàng tộc ở vùng Bretagne, trong đó, một người em gái hiện đang sống tại ngoại ô Paris.
Trước đây ông là người ít nói nhưng từ ngày có Jim ông đã thay đổi nhiều, dạy tiếng Pháp và dạy đàn cho Jim. Jim không hứng thú hai việc nầy, nhưng Danny ép buộc Jim học tiếng Pháp bằng cách không xử dụng tiếng Mỹ mỗi khi đối thoại với nhau.
Một thời gian sau, hai người đã trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ thứ hai và họ cảm thấy thoải mái trong sinh hoạt hằng ngày.
Danny say mê nói về âm nhạc, bắt Jim nghe để thông suốt các loại đàn được xử dụng từ thời xưa cho đến hôm nay. Từ nhạc lý đến cách hòa âm, nguồn gốc và lịch sử của những symphonie cũng như những concerto của nhiều thiên tài âm nhạc Áo, Ðức, Ý, Balan, Pháp, Nga…và đề nghị dạy đàn cho người bạn cùng phòng.
Jim thích âm nhạc nhưng cảm thấy như chịu một cực hình khi bị bắt buộc học vĩ cầm. Thời gian đầu mỗi ngày phải kẹp đàn giữa vai và cổ, tạo thành một góc 90 độ so với thân người đứng thẳng, các ngón tay trái phải gò bó trên bốn sợi giây, tập cánh tay phải cho thật mềm mại uyển chuyển để xử dụng cung kéo đàn.
Jim thật xấu hổ khi bắt đầu bài tập đầu tiên… vì tiếng la ó, chưởi rủa, gỏ vào tường, vào cửa của các bạn tù. Jim chán nản bỏ ý định học vĩ cầm nhưng Danny nhất quyết đào tạo Jim trở thành một nhạc sĩ :
- Jim, tay mầy mềm mại, có năng khiếu và nhất
là yêu âm nhạc, chắc chắn mầy sẽ trở nên một danh tài !
Jim chua chát :
- Ðể làm gì ?
Danny đáp không suy nghĩ :
- Ðể cho riêng mình ! thành nhân trong cuộc
đời tù tội cũng là một vinh dự, không cần cho ai cả !
Danny kèm Jim thực hành ngày nầy qua ngày khác theo đúng phương pháp ông ta đã học ngày trước trong các trường âm nhạc và hướng dẫn lý thuyết bất cứ lúc nào hai người được tự do.
Hai mươi năm sau Jim trở thành một người xữ dụng vĩ cầm xuất sắc, ngón đàn điêu luyện vượt xa hẳn Danny. Chính Danny vui mừng ôm người học trò bất đắc dĩ vào lòng :
- Bây giờ mầy trở thành thầy của tao. Tao
sung sướng vì ít ra trong cuộc đời tù tội, tao đã đào tạo được một danh tài vĩ cầm cho thế giới.
Jim cảm động :
- Cám ơn anh. Anh đã cho tôi một đam mê để
quên những ngày còn lại.
Từ đó, những bản nhạc không tên ra đời mỗi khi Jim xúc động nhớ đến vợ con. Những trường canh nối tiếp vô hạn, bài nhạc không đoạn kết và mỗi ngày một thêm phong phú theo nguồn cảm hứng mỗi khi nâng cây vĩ cầm lên vai mình.
***
Nhân ngày lễ Ðộc Lập, chính phủ Mỹ ân xá cho những tù nhân có hạnh kiểm tốt trong suốt thời gian thọ án. Jim và Danny có tên trong dánh sách gần một trăm người được phóng thích, tính ra sau gần 35 năm hai người đã sống chung trong cùng nhà giam.
Ra tù, không thân nhân, không bà con họ hàng. Bà dì ruột của Jim qua đời đã lâu, Vivian thì hoàn toàn không tin tức ! Bà mẹ vợ gần trăm tuổi, vẫn khỏe mạnh nhưng trí nhớ không còn minh mẫn, bà cụ cho biết đại khái là sau khi ông cụ qua đời Vivian theo người bà con qua Châu Âu và nghe đâu, cháu gái bà đã thành hôn với một người Pháp.
Danny khuyên Jim theo ông ta qua Pháp sinh sống với gia đình một người thân. Ông cho biết, có người em cũng đã già, sống độc thân tại vùng ngoại ô Paris, nhờ gia đình sẵn tài sản ruộng đất chắc chắn đủ sức nuôi thêm hai người. Ban đầu Jim từ chối nhưng suy nghĩ kỹ, đã không còn người thân, cộng thêm một dĩ vãng không mấy tốt đẹp thì ở Mỹ cũng không ích lợi gì. Thà đi xa vẫn còn hơn và qua Pháp, biết đâu sẽ tìm ra được đứa con gái đã thất lạc từ 35 năm nay.
***
Người em của Danny sống ở nông trại trong một thành phố lớn, cách thủ đô Paris trên hai mươi cây số, nhưng với phương tiện di chuyển hiện đại, từ nhà có thể đi thẳng vào trung tâm Paris bằng RER và xe điện ngầm mất không đến một giờ đồng hồ, do đó hai người hằng ngày lang thang đàn dạo trong các hầm xe điện. Hai tay đàn tuyệt diệu, điêu luyện như bậc thầy luân phiên trình diễn những bản nhạc nổi tiếng và phức tạp nhất của các danh tài vĩ cầm, đã gây ngạc nhiên thích thú cho hành khách dùng phương tiện xe điện ngầm để di chuyển.
Ðôi lúc Jim còn độc tấu những bản nhạc lạ, gây sự chú ý những người yêu loại nhạc cụ nầy. Khách mộ điệu, lúc tan sở, khi ngang qua đây họ thường dừng lại thưởng thức hàng giờ trước khi về nhà. Cuối tuần, những người ngưởng mộ tìm đến từ sáng sớm, gây trở ngại lưu thông các lối đi trong trạm xe. Nhân viên công lực giải quyết bằng cách yêu cầu Danny và Jim trở lên công viên trình diễn.
Danny và Jim thay phiên xử dụng một cây đàn. Ngón đàn của Jim với những ‘bài không tên’ còn độc đáo hơn những tình khúc do Danny trình diễn. Họ không xin tiền mà để sẵn chiếc nón dưới chân, tùy tâm người mộ điệu. Nhưng số tiền thu được trong mỗi buổi trình diễn vượt hẳn mức tưởng tượng của hai người.
Trong số người đến thưởng thức thường xuyên có mặt hai nhà thương mãi thuộc ngành sản xuất dĩa nhạc. Một hôm, họ đã nhét vào tay hai người tấm danh thiếp và hẹn gặp nhau để cùng hợp tác sản xuất. Hợp đồng chưa ký thì Danny đã ngã bệnh và qua đời vì lao phổi. Cây vĩ cầm theo tuổi đời đã thành món đồ cỗ vô giá, nhãn hiệu tên nhà sản xuất bên trong đã mờ chữ, nhưng chăm sóc kỹ, lớp gỗ bên ngoài vẫn còn láng bóng, được Danny trao tặng cho Jim trước lúc tắt thở. Ðó là một kỹ vật vô giá Jim sẽ giữ mãi bên mình để nhớ một người vừa là bạn vừa là thầy đã khổ công dạy dỗ Jim trong suốt 35 năm trong tù.
Không thể sống chung cùng nhà với một người đàn bà góa sau khi Danny qua đời, Jim dời lên Paris và trong những ngày đầu, ban ngày trình diễn tại các công viên, tối về ngủ tại hầm métro. Khí hậu khắc nghiệt, chiếc đàn vướng víu, còn bị quấy rầy bởi những người cùng cảnh ngộ và bị đánh thức hằng đêm để trình giấy tờ cho cảnh sát… Jim không thể chịu đựng cuộc sống lang thang vô định, không nơi nương tựa, không bà con thân thích…nhưng nhất quyết phải bám đất nước nầy với hy vọng sẽ tìm ra tông tích Vivian.
Trong buổi tiếp xúc với nhà sản xuất dĩa nhạc, việc đầu tiên Jim yêu cầu ông Martin lo cho mình một chỗ ở tạm thời. Nhà sản xuất dĩa nhạc sốt sắng :
- Việc quá dễ dàng đối với chúng tôi. Ngay tại
phòng thu âm, có sẳn mấy phòng trống ở phía sau, ông cứ tự nhiên xử dụng.
- Xin cám ơn, vì tôi cần một chỗ ngủ. Bạn tôi
chết, tôi mất nơi nương tựa.
- Ông cần điều gì nữa không xin cho biết,
chúng tôi sẽ cố gắng làm vừa lòng ông.
Jim chụp ngay lấy cơ hội :
- Tôi còn một vần đề quan trọng.
Dù một đòi hỏi nào của Jim, ông Martin cũng phải thỏa mãn, vì ông cần ký hợp đồng với người nhạc sĩ tài ba nầy. Nhà sản xuất dĩa nhựa cam kết :
- Khó khăn cách mấy chúng tôi cũng phải
thực hiện yêu cầu của ông. Xin ông cứ tự nhiên cho biết.
Jim đề nghị ngay không do dự :
- Tôi muốn tìm một người đàn bà, gốc Mỹ, qua
đây đã lâu và kết hôn với một người Pháp.
- Tên gì và ông có biết ở tại vùng nào không ?
- Chỉ biết tên thời con gái và không biết gì về
người chồng.
- Xin cho biết tên và họ nguyên thủy của người
đàn bà.
- Vivian Clarke, 36 tuổi. Hồi nhỏ ở tại Dallas
với ông bà ngoại.
- Hình dáng ra sao ?
- Hoàn toàn không biết.
Nhà sản xuất dĩa nhạc ghi nhận những chi tiết cần thiết, suy nghĩ vài phút rồi hứa :
- Trường hợp nầy thật khó, nhưng tôi sẽ cố
gắng giúp ông.
- Xin cám ơn.
Trở lại vấn đề hợp đồng, ông Martin vào đề :
- Qua giọng nói, ông không phải người Pháp
chính gốc, nhưng ông nói tiếng Pháp thật lưu loát như người Parisienne. Xin cho biết về thân thế của ông.
- Tôi học tiếng Pháp trực tiếp với một người
bạn Pháp trên ba mươi năm.
- Ồ ra thế ! Xin ông cho biết danh tánh và quá
trình hoạt động trong ngành âm nhạc.
Jim trả lời thẳng :
- Danh tánh tôi xem như không có, chưa bao
giờ hoạt động trong ngành âm nhạc, trừ việc đánh đàn dạo xin tiền vài tháng vừa qua. Xin cứ đặt cho tôi một tên mới. Tôi học nhạc lâu năm với một danh cầm. Ðó là người bạn của tôi vừa mất.
- Danh cầm dạy nhạc của ông tên gì ?
- Xin lỗi, không tiện nói ra theo những gì chúng
tôi đã giao ước với nhau.
Ông Martin muốn biết thêm :
- Ông muốn trình diễn trong một chương trình
hòa nhạc lớn ?
- Chưa nghĩ đến bao giờ.
- Tại sao ông không dùng tên thật ?
- Xin lỗi, vì một lý do riêng.
Tuy ngạc nhiên nhưng nhà sản xuất dĩa nhạc không tiện đi vào chi tiết :
- Vâng, chúng tôi sẽ đặt cho ông một tên mới
và giới thiệu ông với khán thính giả mộ điệu tại Châu Âu..
- Cũng được.
- Ông cho chúng tôi biết thêm, ngoài những
bản độc tấu bất hủ của các danh tài trên thế giới mà chúng tôi hân hạnh đã nghe qua, ông còn những bài ‘không tên’ do ông sáng tác ?
- Thật ra không phải sáng tác đúng theo nghĩa
của những nhà soạn nhạc, nhưng mỗi lần đặt chiếc đàn lên vai, nguồn cảm hứng tự nhiên truyền qua ngón tay và cứ thế những nốt nhạc đổ xuống liên tục như một giòng thác... nhưng tôi lại quên ngay sau đó ! Vì lý do đó, những bản nhạc ‘không tên’ không bao giờ được ghi lại và âm điệu, cung bậc thường cũng thay đổi tùy theo cảm hứng của mỗi lần đánh đàn. Tôi phải nói thật, không bài nào giống bài nào.
Nhà sản xuất tỏ vẻ thông cảm :
- Tôi hiểu rõ nghệ sĩ sáng tác. Những bài
‘không tên’ chúng ta sẽ đề cập vào dịp sau. Hôm nay chúng tôi muốn ký hợp đồng với ông để trình diễn những bản nhạc nổi tiếng của các danh tài ngày trước.
- Vâng, tôi có thể trình bày một số lớn những
bài độc tấu của Paganini, J.B. Bach, Brahms, Schubert, Mozart..vân vân…
- Như vậy thật tốt, xin cho biết ý kiến, ông
muốn ký hợp đồng theo lượng bài, số dĩa sản xuất hay ký độc quyền toàn bộ và không giới hạn cho hãng chúng tôi ?
Jim ngập ngừng :
- Tạm thời chỉ làm hợp đồng cho buổi trình
diễn công cộng đầu tiên và nhận bằng tiền mặt.
Ông Martin ngập ngừng :
- Một lần thì không trở ngại, nhưng luật ở đây
không cho phép thanh toán bằng tiền mặt.
- Trong tương lai, tôi sẽ nhận tiền qua trương
mục theo hợp đồng sản xuất dĩa hát.
- Nhưng không được biết quý danh cũng như
số trương mục để trả tiền cho ông !
- Tên người thụ hưởng chính thức tôi sẽ thông
báo đến ông sau nầy.
Sực nhớ ra điều gì, ông Martin đề nghị :
- Ông muốn lấy một tên Pháp không ?
- Ông đề nghị tên gì ?.
- Ví dụ gọi Ông là Michel Boris.
- Tại sao chọn tên nầy ?
- Ðơn giản ! vì không có nhạc sĩ nổi tiếng tên
Michel Boris trong ngành âm nhạc, nhất là môn vĩ cầm.
- Vậy cũng tốt.
Jim không muốn nhắc đến tên cũ, xem như Jim Harmon đã chết trong tù. Một người giết vợ, lãnh án chung thân thì không còn lý do gì để được sống mà còn đem lại nhục nhã cho những người chung quanh, nhất là những người có liên hệ gia đình.
Jim không muốn con cháu một ngày kia khám phá ra cha ông mình là một tên sát nhân vì ghen tương ích kỷ và cũng không muốn họ bị mặc cảm về một bà mẹ, một bà ngoại lăng loàn, vừa lấy chồng hơn một năm mà đã đưa tình nhân về nhà tình tự.
Jim buộc lòng phải chôn sâu dĩ vãng tên tuổi và luôn cả hình dáng bên ngoài để tất cả mọi người đều nghĩ rằng mình đã chết, không ngoài lý do là tránh cho con cháu nổi mặc cảm, đau buồn và tủi hổ.
(còn tiếp)
Tạm bợ vui với đám đàn em sau những cơn nóng nảy, chính anh cũng nhận ra nỗi mâu thuẫn của mình. Anh cho đó cũng là một vai kịch mà anh phải đóng cho tròn, trả nợ cơm áo xã hội đã sản sinh và nuôi nấng anh nơi đất nước khốn khổ này.
Hằng ngày giữa cảnh rừng núi bao la heo hút, anh và đồng đội cô đơn biết bao. Số phận đẩy đưa anh và họ phải tự hoạch định lấy một lối sống “ khôn sống mống chết “ với nhau là chính. Ðừng trông chờ vào một yểm trợ nào của thượng cấp hay hậu phương để mà phải hối hận.
Chỉ khi bóng tối tỏa lan ôm gọn đồi cây vào mông lung đe dọa, nhìn cái bóng đèn vàng nghệ như mắt người thiếu ngủ, đồng đội và anh mới thấy hết nỗi bơ vơ của đời lính chiến. Mặt trận giăng ra tứ tung, đâu cũng là điểm, đâu cũng là diện, mà dường như nhiều người chưa nhận biết.
Thượng cấp vẫn đủng đỉnh gây bè gây cánh, chèn ép nhau, hất cẳng nhau, vơ vào bọn nịnh thần a dua và bỏ rơi những người chính trực, khẳng khái. Ðám đông quần chúng thì xăm xoi lo kiếm bạc, kiếm tiền. Thậm chí những người bỏ tiền khai thác sơn lâm còn lén lút đóng thuế, góp gạo, góp thuốc men nuôi bọn trên rừng hòng len lách để làm giàu, chạy lo cho con em họ xuất ngoại du học, để đứng bên ngoài ung dung hưởng lợi sự may.
Những người trẻ đua nhau rời ghế nhà trường hằng năm để vào các quân trường, tùy theo văn bằng họ chăm chút học để có được. Sông Mao, Hòa Cầm, Long Thành, Ðồng Ðế, Thủ Ðức, Dalat, không nơi nào thiếu từng lớp người vào người ra. Họ đi về đâu sau những tháng ngày vật lộn hết giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 để cung ứng những tay súng cho tiền tuyến.
Rải rác trên mảnh đất nghèo nàn và đau khổ này, không hiếm những đám tang, những chuyến bốc từ chiến trường về quân y viện, những cảnh ám sát, mất tích hoặc thanh toán nhau vì ý thức hệ. Người đau vì những mảnh khăn tang quấn vội trên đầu, hay nỗi đau ví bằng cắt từng núm ruột vứt đi, trong khi nhiều người khác dửng dưng coi như bất hạnh không đứng về phía họ.
Mấy chục năm rồi, bao nhiêu kẻ đã nằm xuống, bao nhiêu kẻ phải chấp nhận mất mát một hoặc nhiều phần thân thể, bao nhiêu khắc khoải mong nhận được tin người bị bắt đem vào rừng biết chừng nào trở về, bao nhiêu người trẻ khác chờ đến phiên góp vào chiến trận.
Cuộc chiến này đến lúc nào tàn ? Kẻ thù nào phải ai xa lạ, toàn là người mình với người mình, mà thâm thù nhau còn tệ hơn kẻ khác chủng. Bên này rao bên kia tàn ác, trút lên đầu nhau những tội chém giết nhẫn tâm, cốt để có cớ lùa nhau vào lửa đạn không nản chí.
Những điều nghe thấy lượm lặt từ các tù binh hay hồi chánh cho thấy hố sâu căm hờn rộng còn hơn hố bom B-52 hay nổ toác hơn hỏa tiễn 122, 130 ly đêm đêm bắn vào thành phố. Họ rêu rao đánh Mỹ dễ nhất, đánh Nam Triều Tiên có khó hơn, nhưng táo bạo và khó nhất phải nói là đụng độ giữa những người cùng giòng giống như nhau.
Anh tự hỏi lòng : nếu một mai hòa bình, liệu bao lâu thì hang hầm giữa lòng người hai bên chiến tuyến mới san bằng mất dấu. Hay là những oan khiên, đau đớn, mất mát mà những gia đình cả hai bên đều gánh chịu sẽ là vết hằn không bao giờ xóa được nơi nhau.
Mùa mưa còn dài. Rừng lá nát nhầu vì bom đạn, vì những dấu chân người dẵm úa và cả vì thời tiết tạo nên. Mầm non thay nhau mọc ra, con suối duềnh lên lại thấp xuống, mỗi lần đất lại lở thêm, gây những vết nhức nhối cho thiên nhiên oan nghiệt. Anh ước gì một ngày chinh chiến tàn, lô cốt được tháo dỡ, bỏ hoang, hay dù cứ lưu giữ, đánh dấu một thời cay đắng, thì nhất định anh cũng sẽ tìm về lại chốn này.
Anh sẽ dựng một căn nhà nhỏ gần đồn cũ để vui chơi cùng gió núi mưa rừng và gần cận những người đã nằm xuống. Anh có sợ và lo ngại không ? Hẳn là không vì những người mất đi đã từng có thời gian cùng gắn bó với anh, hoặc họ nằm trên cánh tay anh chiêu ngụm nước từ cái bi đông để chờ cái chết đến dần đưa họ đi, hoặc họ cùng anh reo mừng sau một lần chiến đấu.
Những người đó lẽ nào lại dọa nạt anh hoặc làm cho anh sợ. Và ngày ngày anh sẽ lững thững đi vào cái buôn trên kia để nhớ lại, nghĩ lại, gặp lại những người và vật anh đã từng chịu ơn che chở của họ. Khi ấy già làng chắc không còn, một người nào khác sẽ thay thế và Nia có trụ lại với rừng xanh núi thẳm hay như cánh chim lặng lẽ bay đi ?
Anh vẫn đưa tít cánh võng, lúc nhanh lúc chậm, xôn xao theo tâm trạng của anh. Nắng chập chờn, khi rộ tươi màu, khi nhạt sáng, hắt lung linh vào góc đồn. Tiếng xe rì rì bò lên ngọn đèo nghe thoang thoảng từ dưới sâu như âm u, như khe khẽ.
Anh bỗng buồn ngủ ríp cả mắt. Bóng nắng đu đưa hất một vạt trên đầu võng của anh. Lại một ngày đồng đội và anh sống giữa rừng già.
(còn tiếp)
Con đường chính của Saigon của thập niên 50-60 tấp nập người xe. Những chiếc taxi với dáng dấp riêng biệt, thường là Renault 4, hai màu xanh và vàng, đưa rước khách xuống lên như mắc cửi. Phố phường đông đúc, hàng quán san sát, nhà hàng tiệm ăn, tiệm tạp hóa, rạp chiếu bóng, khiêu vũ trường, tiệm giải khát dầy đẩy. Từ đó cũng xuất hiện dần dần những từ phiên âm theo phong trào mới, tùy theo ngành nghề, như ‘ba’(bar) ‘gái bán ba’, ‘dancing’, ‘ca ve’ ( vũ nữ )…. Nép dưới khung cảnh sang trọng, rộn rịp tưng bừng náo nhiệt nhất là về đêm ấy, một bức tranh khác không kém sôi động, lớp người sống trên vỉa hè, trong con đường hẻm hẹp không tên, giữa hai bức tường của hai dãy phố cao tầng. Cuộc sống thật xô bồ giữa lòng thành phố, hai thành phần xã hội đối chọi nhau.
Nhìn bề ngoài ta tưởng chỉ có lớp người kiếm sống, lương thiện. Thật ra cuộc đời luôn luôn có hai mặt tốt xấu, nghèo giàu. Từ ngàn xưa, ở mọi thời đại,bao cuộc cách mạng manh nha hy vọng lấp dần hố sâu giữa hai thế giới trái phải ấy. Rồi ngày nay, cuộc tiến bộ khoa học kỷ thuật, nếp sống văn minh tiện lợi thích nghi có khi chỉ đào sâu thêm lòng ích kỷ, độc tài, độc tôn, kết quả lũy tiến nhanh chóng mặt, triệu phú tỷ phú hàng loạt, ngày xưa đếm chỉ có trên đầu ngón tay, tư bản đỏ đen vàng xám, danh sách mỗi năm cứ bổ sung dài ra. Còn thành phần cày cụi làm việc chỉ do công sức khả năng học vị của chính mình thì chỉ đủ có tiền để đạm bạc sống cầm hơi.
Oái oăm hiện tượng nầy xảy ra ở mọi nơi, nước giàu như nghèo, thành phần xã hội sang hèn, có hay ít học. Càng văn minh, cả lạc hậu, nhiều mưu chước táo tợn ác độc hơn gấp bội. Bao mánh khoé được điều nghiên sâu rộng, áp phe, thành phần chạy chọt, nịnh hót xu thời trá hình, chớp bắt cơ hội làm đảo lộn vàng thau lẫn lộn. Ai cũng là vua một cõi, ăn xin cũng có vua sinh sát thường vắt chanh bỏ vỏ, các trẻ mồ côi sống bên đống rác, móc túi, đánh giày cũng có đầu nậu, băng đảng trưởng. Sa đọa hơn là trẻ em bụi đời nghiền ngập thật đáng thương vì khó có cơ hội hy vọng tìm được con đường lương thiện. Những đứa trẻ bị đời nguyền rủa nầy thật đáng thương, tội đâu phải do chúng tạo ra đâu mà chính xã hội đã đầu độc chúng, đẩy đưa chúng vào con đường không lối ra. Vì sống còn, miệng đói ăn chân phải lết phải bò.
Thời bấy giờ, bao gia đình chạy loạn từ làng lánh nạn ra tỉnh, đô thị, con đông lúc nhúc, sanh năm một, sống vất vưởng chạy gạo tiền độ nhật, dưới những túp lều xiêu vẹo, quây quần bên những khu đổ rác được giải tỏa ra ngoại ô để chỉnh trang thành phố. Hoặc nằm trong nhà ga dưới góc hiên, bên bờ tường che khuất bằng hàng cây me, cây cổ thụ, dọc theo hàng rào kiên cố của biệt thự lâu đài như của dòng họ chú Hỏa, hay trong hẻm hẹp thật ra là trên mương cống nước thải ra giữa hai dãy lầu như ếch ngồi dưới đáy giếng trong lòng thành phố thủ đô, trên con đại lộ chính Saigon.
Chiếc lều là do kết hợp vài tấm tôn cũ kỷ sét rỉ được đặt nghiêng nghiêng dọc theo bức tường sau dảy phố không có cửa hậu thông ra, che một chiếc chỏng có bốn chân bằng gỗ tạp nhạp đóng phủ trên bằng vài tấm phên ván mỏng te hay chiếc ghế bố « sập ký nình » vá chầm bằng nhiều lớp mảnh bao bố tời đủ nhản hiệu như bản đồ thế giới. Một tấm ni lông hay một tấm poncho cũ xì to dùng vừa làm mái lợp che mưa, vừa làm máng xối để hứng nước mưa vào thùng hay chậu móp méo miệng đáy mòn. Mỗi lần mưa to gió lớn, cả gia đình ngồi co ro sát cạnh nhau đở ướt.
Tuy nhiên dầu phải sống chật vật bữa đói bữa no, trên vỉa hè, họ luôn cố gắng không làm những nghề bất lương như trộm cắp giựt đồ vì họ biết rằng đây là nơi nương tựa dừng chân có thể là ngắn hạn hay vĩnh viễn. Họ làm mọi nghề lặt vặt như chạy xích lô mướn từng ngày, khuân vác hàng ở chợ, chạy xe ba bánh, ‘bán chạy’ từng mớ quần áo cũ ở chợ trời, trên lề đường,…Con cái cũng cố cho đi học được ngày nào hay nấy và trong thời gian nửa triệu quân nhân đồng minh sang giúp cho Việt nam Cộng hòa, nhiều nghề mới cho các trẻ nầy như gọi taxi, xe xích lô máy cho những lính ngoại quốc xa nhà sau hành quân nghỉ phép, quanh các vũ trường hay các tiệm giải khát các ‘ba’.
Trái ngược lại, đáng thương hơn là những trẻ mồ côi chạy loạn từ các làng xa về thành phố bơ vơ rơi vào những tên đầu nậu, băng đảng giang hồ, vua móc túi, đánh giày, ăn xin…Kỷ luật rất tàn bạo, một khi vào rồi là quyền sinh sát do đảng trưởng, thủ lĩnh. Mỗi ngày phải kiếm một số tiền bắt buộc, nếu không sẽ bị trừng phạt dã man. Băng đảng bất hợp pháp nầy vẫn có những quy lệ kỷ luật riêng có thể nói là vào rồi thì khó ra, tính trung thành là điều kiện tiên quyết. Mỗi thành viên dù còn nhỏ cũng không thể được miễn, thay vì được xâm mình như các đàn ‘anh chị’ giang hồ tứ chiến, du côn có tiếng, thành tích được kể truyền miệng trong giới xã hội đen ít tốt nhiều xấu đánh lộn đâm chém, đụng độ trận gây thương vong giành địa bàn hoạt động, cướp giật, cờ bạc ăn chơi, làm lễ tuyên thệ « nhập môn » bằng cách nướng khuôn sắt cháy đỏ đặt vào lưng để đóng dấu không xóa được.
Có nhìn một đứa trẻ đang hành nghề móc túi chẳng hạn, hoặc khi nào mình bị ‘chôm’ một lần, chúng ta phải công nhận rằng dù còn nhỏ tay nghề nhanh tay lẹ mắt của trẻ cũng đáng nể nang. Chắc chắn là phải có qua một thời bị đòn đánh đập để vào nghề, có khi bị tù ra khám, các em phải kinh qua bao khổ luyện bằng nước mắt và máu. Có lỡ bị bắt, dù bị tra khảo cách mấy, vẫn không bao giờ khai báo kẻ chủ mưu hay cùng băng. Các trẻ bất hạnh nầy chỉ biết vâng lời, thi hành triệt để công việc được phân, thường không bao giờ biết mặt người ‘chóp bu’, rất rõ ‘luật giang hồ’, một khi vi phạm rồi thì tất khó sống được. Không được học, chưa bao giờ nhận được một cử chỉ, lời nói thân thiện an ủi, con tim của các em càng ngày càng chai lì hằn sâu những bất công xã hội. Càng lớn lên, thật khó có cơ may để trở về con đường lương thiện.
Còn « đạo binh » đánh giày, mỗi em với chiếc hộp gỗ đánh giày lảng vảng trước các tiệm ăn, tiệm kem, trạm xe buýt, bến xe đò đi lục tỉnh, ở các góc ngã ba đường, lẽo đẽo bám mời mọc khách nào có mang « giày Tây ». Ðịa bàn hoạt động cũng được phân ranh, tên nào « xé lẻ » đi nhầm vào vùng khác thường bị hành hung không tiếc thương. Mỗi ngày các em phải nộp hết tiền mình cật lực làm được, giấu diếm khi phát hiện ra thi bị kỷ luật nặng nề. Trẻ đánh giày thường không móc túi sợ ‘bể nồi cơm’ tức là mất việc luôn thêm bị hành hình nếu bị phát hiện. Do đó còn hy vọng hoàn cảnh đưa đẩy vào con đường thay đổi cuộc sống khá hơn.
Riêng thành phần mua lông vịt, giày dép cũ, đồ bằng nhựa, chai bể thông thường từ gia đình nghèo bị chiến tranh nhà cửa bị đốt phá không còn chỗ dựa nên trôi giạt tìm sống đến ven các đô thị tỉnh thành. Ðể tìm sống độ nhật, mỗi gia đình luôn tổ chức theo vốn liếng ít ỏi của mình, phân công con cái vừa theo mẹ mua đồ cũ một buổi vừa đi học. May ra kinh tế gia đình khá hơn và con cái lớn theo thời gian và kinh nghiệm đời, hy vọng các trẻ nầy có cơ hội tìm đuợc công việc lương thiện xa đường hư hỏng như buôn bán hàng rong, bán báo dạo, bồi bàn,…
Cho đến thời các binh sĩ đồng minh ồ ạt sang miền Nam, bao nghề mới mở ra theo nhịp sống vội vã hưởng thụ của tầng lớp giàu mới và nhu cầu của những người lính giàu có có nếp sống hoàn toàn khác hẳn truyền thống dân ta. Người Việt thường bảo thủ nhưng lại chuộng cái hay cái mới, ưa bắt chước văn minh nước ngoài. Trong thời kỳ thái bình, việc chọn lọc dở hay đã là khó rồi huống hồ thời kỳ nội chiến, việc mất còn không còn thuộc một ai. Do đó ai cũng phải bươn chải cày cục chẳng những để sống mà hưởng thụ hết mình, lắm lúc làm giàu càng tốt bất chấp phương tiện, mánh lới, chiêu bài nào. Bộ mặt xã hội thay da đổi mặt thật nhanh thật nhanh.
Một trong những nguồn lợi bất ngờ thời bấy giờ là rác. Bao gia đình sống vất vưởng nhờ những đống rác ngùn ngụt xông mùi để tìm cái gì có thể bán lại được cho các chủ vựa thường là người Hoa. Nhưng ‘rác Mỹ’ lại khác, không phải là món kiếm ăn cửa giới nghèo nàn đâu. Ðó là những đồ gia dụng quá kỳ hạn sử dụng, những đồ ăn hộp chẳng hạn, dụng cụ điện cũ hư được nửa triệu quân đội đồng minh tiêu dùng. Rác nầy thuộc cao cấp phải được đấu thầu để rồi trở thành một nguồn lợi to tác thu nhập giúp thành phần áp phe, giỏi manh mún, đầu nậu, lái mối manh nha tạo một tầng lớp xã hội, ‘dân giàu mới’ thời bấy giờ.
Xã hội thay đổi trong thời kỳ chiến tranh tất có nhiều hậu quả khó lường, thật giả tốt xấu không ai biết chắc được. Người mang mặt nạ mới, kẻ khác đội lớp giả mạo, giả danh giả dạng. Ngay cả nghề ăn xin cũng lắm lúc trá hình. Giả bộ gẩy tay treo tay lên, hàng ngày túc trực trước quán ăn nhà hàng đến từng bàn xin khách tiền hoặc đồ ăn dư để rồi nuôi heo và tối tối đi xem hát cải lương hát bộ.
Gia đình anh tư Ròm chạy xích lô đang tá túc trong con hẻm trên mương ấy gồm thê tử 7 người. Không ai biết anh Tư từ đâu đến nhưng những dãy nhà chung quanh lâu ngày thấy anh hiền hậu nên cũng tin cậy nên đi đâu hoặc rước con cái đều nhờ anh. Anh tên Mạnh nhưng vì ốm tong ốm teo nên để phân biệt với các đồng nghiệp khác, hành khách hay mối quen gọi như vậy cho dễ nhớ. Vợ anh tên Tý nhưng theo quen miệng gọi là chị Tư, người mảnh khảnh dễ nhìn sanh con năm một. Do đó, đứa lớn giữ đứa nhỏ, đứa nào bế nổi thì bồng nách, cõng được thì cõng, mệt quá hoặc mê chơi ham ăn thì cứ để em bò lê bò càng, bò la bò lết trên lề đường. Tắm rửa thường qua loa và cũng như các trẻ khác thích tắm mưa vì sau đó các em thấy mình trở như khác lạ, sạch sẽ, khoẻ khoắn, mặt mày xinh đẹp hẳn lên.
Hàng xóm của gia đình anh Tư là gia đình em gái của anh, cô Lựu mới 20 tuổi mà cũng đã 3 con lúc nhúc rồi. Hai chị chồng em dâu thay phiên nhau lo các cháu nhỏ và thêm buôn bán lẻ tẻ, buôn bắt cái nầy sang bắt cái kia, « bán chạy » ở lề đường gần chợ trời hoặc ở các công viên nghỉa là vừa bán vừa đề phòng, mắt láo liêng, xem có ‘phú lít’ cảnh sát đến là dông cho nhanh. Phong chồng của Lựu có tật chân làm nghề sửa xe đạp ở trên lề đường gần nhà, cũng bảo đảm phần nào gia đình đông con. Kế đấy là ông Bảy, trên 60 tuổi, ở một mình một thân, làm việc lặt vặt ai cần mướn. Nhà cửa ông bị đốt rụi sau cuộc bố ráp của lính Pháp ở miệt vườn Hậu giang, bà Bảy sau đó bệnh nặng qua đời, tứ cố vô thân, ông trôi giạt lên Saigon. Mỗi gia đình một hoàn cảnh đáng thương. Do đó họ cố sống nương tựa lẫn nhau vẫn cố giữ cái nề nếp thành thật tương trợ nông thôn.
Các đứa nhỏ lớn dần trong cái hỗn độn vừa phóng khoáng mới lạ gần như buông thả, kích thích vừa gò bó kềm hãm bởi cuộc sống cực nhọc của cha mẹ. Nhưng còn nhỏ chúng chưa suy nghĩ nhiều về vấn đề này dù chúng nó cũng đã thấy tận mắt y phục đắc tiền của các cô cậu nhà giàu lên xe xuống ngựa với bao đồ chơi như búp bê, xe đạp nhỏ ba bánh mà chúng nó mê mẫn thèm thuồng. Các em cũng biết tủi thẹn không bằng với bạn bè trong lớp, may là giới nào thủ phận giới đó, các trẻ nhỏ chưa ý thức lòng nhân đạo sớm đâu, nhưng không khinh khi chê bai bài xích nhau là tốt lắm rồi.
Nhan con gái lớn của anh chị Mạnh và Thành con trai cả của anh chị Phong được 14 và 12 tuổi năm 1975. Ngày 30- 04, cũng như các trẻ nhà nghèo khác, các em cũng không biết làm gì vì trường đóng cửa. Trước đó các em cũng đã nhận thấy không khí hối hả đi ra về bất thường của nhiều nhà gần đấy. Anh Mạnh được nhiều người dặn trước hẹn ngày giờ nào chở đi, các chị thì được dúi tiền nhờ xem nhà dùm vài ngày,…
Nhan và Thành cũng tò mò dẫn các em nhỏ theo đoàn người đổ xô ra đường thường về phía phi trường, bến cảng và nhất là hướng về các tòa đại sứ. Lạ là người ta chen chúc, dẫm chân lên nhau, thúc đẩy giành giật cho bằng được lên tàu lớn nhỏ. Về nhà, Nhan kể với mẹ là đã thấy nhiều người tranh nhau xuống tàu đi đâu không biết, nó còn thấy có khi cố đẩy con họ theo đoàn người xa lạ nữa.
- Con dám đi không ?Con với Thành dám dẫn hai em đi theo không ? Vượt biên đó. Ba má không có tiền để đi được, má sẽ đem các con ra đó rồi tìm mọi cách len trộn vào đoàn người di tản, hy vọng sống tốt hơn. Ðừng lo gì cho ba mẹ ở nhà, cố gắng giữ gìn thân các con là quan trọng rồi.
- Con sẽ đem theo Nhân, Nhạn hai em trai kế con tụi nó lanh lợi lắm hy vọng luồn lỏi theo vào, còn hai em nhỏ ở lại với ba mẹ. Thành chắc chỉ dẫn được thằng Tèo theo. Má chuẩn bị cho tụi con đi liền đi, không dễ gì tìm được chuyến đi đâu, khó lắm.
Thế vậy mà năm đứa nhỏ nhà nghèo tháo vát nầy may mắn đi chui trót lọt trong những ngày đầu tháng 05. Bặt tin bao nhiêu năm, hai gia đình nầy bớt người rồi mà cũng không khá hơn chút nào trong thời kỳ đổi đời nầy. Biết là các con đã đi mà cũng không dám tiết lộ cho ai biết, khổ hơn là không biết còn sống hay chết, hỏi ai bây giờ, không dám tin ai nên không tiện hỏi thăm nhau.
Hơn thế nữa, họ lại thuộc thành phần nghèo ‘rớt mồng tơi’,‘người vô sản’ theo thời bây giờ, nên người quen biết khá giả cũng ‘ngán’ họ lắm, biết đâu một ngày nào đó họ ‘ tố khổ ‘ là tiểu tư sản hay nặng hơn là tư bản mại sản thì bị bắt đi ‘học tập’ mút mùa. Cơ trời không đoán nổi đành rồi mà còn mưu người sao cũng thâm hiểm và lật lọng như trở bàn tay, nguy tai !
Tuy nhiên gia đình anh Mạnh vẫn giữ gốc nông dân. Họ chỉ tin điều gì họ thấy, họ sống qua. Kinh nghiệm trong những ngày chiến tranh ở vùng đồng ruộng làm anh nhận anh rằng cuộc sống ở thủ đô hay các tỉnh thành lớn, tinh thần người dân phóng khoáng, tự do hơn tuy có thiên về ích kỷ cá nhân vì phần đông từ mọi miền vùng ‘ tứ xứ ’ đến, không ai biết ai, rõ lai lịch cội nguồn ai nên ít có thành kiến bảo thủ về dòng tộc, thành phần xã hội, lý lịch.
Còn đối với vùng xa thành phố, làng xã, tập tục « lệ vua không bằng lệ làng », « đời cha ăn mặn đời con khát nước » vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu dù hình thức áp dụng, thể chế có khác đi mà một trong những khía cạnh khắt khe đó là khó khoan dung với kẻ phạm tội, phản bội, ác đồ. Thành kiến và phong tục tập quán như hằn sâu vào tầng lớp người chân chất đó vừa phóng khoáng vừa bảo thủ dễ tin. Ðối với họ, cái gì Trời cho không phải là trò chơi mà là một đặc ân, thân thể con người chẳng hạn, không được hành hạ phá hủy mà phải tôn trọng, gìn giữ phát huy, từ đó mới có lòng nhân. Thế mà nông thôn vẫn là địa bàn mầm mống hoạt động mọi thời và nông dân luôn chịu thiệt thòi nhiều nhất.
Do đó anh Mạnh không thể như những kẻ chụp giật thời cơ, đội nón mang dép mới là đổi đời, vì bấy giờ « y phục cũng làm thầy tu » được. Họ cũng không theo đám người đi ‘hôi của’, xông vào nhà bỏ chạy không ai cai giữ, vét gì lấy nấy, bán tháo bán dở đồ cắp được. Hoang mang trước tin đổi tiền, thương gia bị gắt gao kiểm kê, nhà cửa của giới chức cấp cao của chế độ miền Nam bị tịch thu, người dân cũng bán gia dụng không cần thiết để mua nhu yếu phẩm. Gia đình anh Mạnh đã chật vật càng túng bẩn hơn mà vẫn không « đói ăn vụn, túng làm càn » và cũng nhất định trốn tránh không đi vùng kinh tế mới. Ban ngày họ tìm được công việc gì để sống qua ngày là được. Saigon cũng như mọi tất cả các thành phố lớn khác, dù sao từ trước đến nay vẫn là nơi dễ sống trà trộn trốn tránh hơn vì không ai biết ai nhiều và nhất là thủ đô của Việt nam Cộng hòa tập trung nhiều tai mắt báo chí ngoại giao thế giới. Hơn nữa, anh chị có gì để lo sợ cho bản thân đâu trong tình thế mới nầy. Anh chị quyết định bám trụ ở đây hy vọng tìm được tin tức các con biệt tăm từ ngày ra đi.
Thời kỳ nầy, biết bao thay đổi đảo lộn tưởng chừng làm sáng giá thêm thành phần lao động thật sự nghèo nàn. Vậy mà đây là còn thời điểm của những kiêu binh, “kẻ đục nước béo cò” thò mặt ra trở cờ chỉ điểm tố khổ. Gia đình người dân trước kia còn ăn cơm hạt bể bây giờ khoai trộn bo bo ngay trong nước có tiếng được gọi là « vựa lúa Á châu ».
Hai đứa con của anh Tư Út Một, Út Hai và bé Chót của anh Phong cũng được 12, 14 tuổi. Ông Bảy đã qua đời sau một cơn bệnh nặng được mang trong bệnh viện không đủ tiền thang thuốc. Hơn mười năm qua rồi, vẫn bặt tin xa. Tuy nhiên chị Mạnh cứ có dịp là đi cầu nguyện van vái ở chùa, trước Hang đá Ðức Mẹ, Chùa Chà, đi xin xâm ở Lăng Ông Bà Chiểu,…cho các con còn sống. Hy vọng đó cũng theo thời gian xuống thang dần vì theo chị dọ hỏi, tin tức của những người vượt biên khác đã được biết khá nhiều rồi. Vẫn biết con mình không được đi theo diện chính thức hay bán chính thức mà nói theo kiểu nói thời bấy giờ con anh chị đi chui, đi « canh me », bao nguy hiểm có thể xảy ra không lường trước được. Nhiều người bị bắt tù, chết bị không được tàu ngoại vớt, do giông tố bảo táp, cướp bóc giết người, bị hải tặc hành hung, …chỉ nghe đến là chị đã rùng mình trách mình đã cho các con đi một mình còn nhỏ. Mà nghĩ lại ra đi thì tương lai của trẻ nếu thoát được chắc chắn hơn của cha mẹ chúng là tất nhiên.
- Dì Tư ơi dì Tư, hổm rày cháu tìm dì quá mà không thấy dì đâu cả, có rảnh dì đến nhà con ngay, có tin cho dì mà đừng nói cho ai biết trước hết nga, Hồng bạn gái của Nhan vui mừng gọi rồi rù rì với chị.
- Chuyện gì vậy hả Hồng ? Bây giờ dì đi theo Hồng được không ? Hồng bây giờ có bận làm gì không ?
- Dạ không, vậy dì cháu mình đi nha.
Trên đường đi, Hồng cho chị Tư biết là bây giờ ở nhà phụ lo tiệm cơm của ba má qua đời để lại, tiếp tế thăm nuôi anh cả đã bị đi học tập mà con cái nhỏ còn đang đi học. Chị tư nôn nao muốn hỏi Hồng tin buồn hay vui nhưng nhìn vẻ mặt bình thường tự nhiên của Hồng chị đoán chắc Hồng muốn dành cho mình sự ngạc nhiên hay tránh cho chị nỗi bực mình nào. Hồng tìm người làm à ? Trước kia ba má Hồng còn sinh tiền, chị cũng thường hay đến phụ trong những ngày nhiều khách, gia đình nầy cũng hay giúp đỡ gia đình anh chị khi túng quẫn ngặt nghèo nhất là Hồng một bạn gái rất tốt luôn luôn sát cánh bảo vệ Nhan. Chị cố gắng kềm không thở dài nhưng tim sao mà hồi họp lạ, con đường chẳng cách xa bao nhiêu mà sao lâu tới quá.
- Dì nhớ phố nhà cháu không, mình đi ngõ hông lên lầu luôn nghe dì, nói chuyện dễ hơn.
Chị gật đầu theo chân Hồng như cái máy, tin vào Hồng chỉ mang điều may mắn thôi.
Vào nhà, miệng vừa mời chị Tư ngồi Hồng vội vã vào trong và đem ra một phong thư đưa chị xem. Nhìn sơ qua tên trên bao thư và viết không dấu của người gửi, chị ngẩn ngơ đưa mắt nhìn Hồng vừa đưa trả lại bức thư không nhầm nhò gì với mình.
- Thư gửi cho em nhưng trong đó có thư cho dì nữa. Dì lấy thư ra đi và đọc cả hai. Cháu đi lấy gì dì cháu mình uống một chút, khát quá.
Không ngần ngại gì nữa, run run chị vội bóc thư, càng đọc mắt chị mở to hơn, hơi thở dồn dập hổn hển và cuối thư chị ôm hai lá thư vào lòng khóc nức nở vừa gật gật xá xá bốn bề vừa lẩm bẩm « Cám ơn Trời Phật Chúa Mẹ, Ông Bà cha mẹ, con Nhan còn sống ». Vậy mà vừa nghe tiếng lẹt xẹt đôi dép đến gần, chị hoàn hồn hoảng hốt ngó quanh quẩn tứ phía tưởng như tiếng « dép râu » của công an khu vực xuất hiện bất thần, vội vã nhét bức thư vào ngực vuốt tóc vuốt mặt làm tỉnh. Khi thấy Hồng xuất hiện với hai ly nước mát, chị bật cười chảy nước mắt nói :
- Cô làm tôi hết hồn, sao bây giờ cái gì cũng làm cho tôi sợ được hết. Thời nầy hạng thứ dân như tôi mà cũng sống không yên ngán bị chụp mũ tố ẫu thì bị tù mục gông rục xương. Nghèo như tôi có gì mà mất đâu, chén sành mẻ đâu ngại cụng với chén kiểu ly pha lê, nhưng vì chờ tin mấy đứa nhỏ sống chết thế nào nên đành giả dại qua ải thôi. Cám ơn cô Hồng quá, à mà nhận được thư nước ngoài như vậy coi chừng có gi liên lụy với gia đình cô không ? Có ảnh hưởng không tốt về việc đi học tập cậu ba đại úy không ? Cô gọi tụi tôi là anh chị và xưng em cho thân tình hơn và đúng theo kiểu gọi mới hiện đại bây giờ.
- Vậy thì chúc mừng anh chị nhưng em nghĩ xin chị không nên tung tin sớm quá không lợi đâu. Không phải em lo gì về phần gia đình hay cá nhân em mà chính cho anh chị thôi. Ðiều quan trọng nhất đã biết rồi, từ trước đến giờ đã dấu nhẹm được thì cố dấu cho đến trót. Em sẽ trả lời cho Nhan để trấn an Nhan và cho biết địa chỉ nhà của anh chị để Nhan trực tiếp liên lạc. Hơn thế nữa, anh chị có thể viết thư cho Nhan gửi chung hoặc riêng tùy ý, em gửi cho.
- Hồng biết mà, chị từ trước đến nay có biết viết thư gì đâu, ông xã mình làm nghề « dân biểu » ( tiếng lóng mới cho nghề chạy xích lô ) lâu quá, tay cứng rồi viết chữ như con còng chính tả trật lất hết ráo trọi. Hồi nãy chỉ thấy qua loa cái địa chỉ viết bằng tiếng u tiếng Tây gì đó chị đã hoa mắt rồi, đớ lưỡi đánh vần ù ù cạc cạc. Thôi xin cho can đi, chắc chị nhờ em giúp chị viết dùm, chỉ cho chị ký tên ở cuối thư.
- Tùy chị thôi. Lần đầu tiên viết thư về nước, Nhan không chắc thư có đến hay không nên như chị thấy, Nhan cẩn thận viết rất ngắn, đúng thôi, điều cần thiết là cho biết là cả năm đều khoẻ. Từ nay, hai gia đình thở phào được rồi, hy vọng ngày gặp gỡ không xa đâu.
Vài tháng sau, thùng đồ gửi về khi nhỏ khi to gồm có quần áo, thuốc men, đồ ăn,…Nhờ bán lại quà nhận được, gia đình dành dụm để có một số vốn hầu sửa lại chiếc lều rộng rãi thoáng mát hơn và cho các con có thể tiếp tục đi học, tìm cách bán hàng rong trước rồi tùy thời, hy vọng gặp lại con.
Sang Mỹ, ba chị em Nhan may mắn đã được một gia đình không con đỡ đầu nuôi cho đi học. Ra trường đi làm ba anh em ra riêng sống với nhau và luôn liên lạc với anh em với Thành cũng được một gia đình Việt giúp đỡ lúc đầu. Nhan sắp lập gia đình với một thanh niên Mỹ gốc Việt nên nhất định làm mọi thủ tục để bảo lãnh cho cha mẹ và hai em. Anh chị lúc đầu từ chối nhưng sau đó Nhan thuyết phục là nếu không đi thì các em còn lại cũng không đi được nên cuối cùng anh chị đồng ý vì con.
Trong thời gian chờ đợi giấy tờ, anh chị Tư luôn tìm cách giúp đỡ trong khả năng của mình, đem về săn sóc một vài đứa trẻ gái hoặc nhỏ mồ côi bơ vơ đói khát nằm ngủ bên bờ tường cao của nhà ga góc hẻm từng em một, sau một thời gian tìm cách đem gởi các hội từ thiện hay tìm công việc nào để sống qua ngày. Có tiền khá hơn chị sang một chỗ ở bìa chợ để gánh bán cơm tấm buổi sáng, các em nhỏ phụ giúp. Sau đó hai chị em mở được một quán ăn nhỏ cho khách bình dân. Ðời sống tuy cơ cực nhưng tạm ổn hơn.
Ngày gia đình chính thức ra phi trường đi Mỹ, anh chị Tư vốn đã gầy mà còn mất thêm vài kí lô. Nhớ lại thời gian làm thủ tục nộp đơn đến ngày ra đi, anh chị không thể nào tưởng tượng được bao giai đoạn nhức đầu tốn tiền bao công sức đã trải qua. Thế mới ngộ ra rằng nghèo có khổ nhưng cũng có niềm vui sướng riêng, càng có của thì bậc thang phiền toái lo toan càng dài tỷ lệ thuận theo cái gì mình có. Vậy mà túi tham của con người vẫn còn không đáy.
Sống trên vỉa hè bao nhiêu năm chứng kiến bao cuộc đổi thay đất nước ngay trong lòng thủ đô Saigon, Hòn ngọc Viễn Ðông, nay đã đổi tên, dù phải sống kiếm ăn từng ngày có khi bửa đói bửa no, anh chị Tư vẫn không bao giờ nghĩ rằng ngày nầy có thể xảy ra, rời xa Tổ quốc. Thế mà tại sao cuộc đổi đời vẫn không cản ngăn được bao chuyến ra đi bằng mọi phương cách sống chết ? Trước kia chiến tranh đã chia đôi đất nước, cuộc di cư còn chỉ xảy ra trong đất nước thôi, bây giờ, Bắc Nam một dãy, thế mà thành phần vô sản như gia đình anh chị cũng đành quyết định bay đi.
Phi cơ cất cánh lên cao dần lượn một vòng trên không phận Saigon từ giã, nhìn qua cửa kính nhỏ, thành phố thu hình lần nhỏ lại thành một điểm rồi mất dạng ngoài tầm nhìn trong phút chốc để rồi ngự trị khắc ghi mãi mãi trong tận cùng tâm hồn .
Xin chào quê hương và hẹn một ngày về !
cái tỉnh nhỏ địa đầu giới tuyến này có hai hội Ái Hữu , một Hội của Tỉnh và một Hội của trường trung học , nói thì là hai nhưng tựuchung cung chỉ có một , đi dự đạihội trunghoc thì cũng người đó mà đi dự đồnghương cũng người đó luôn , lan đầu tein đi dự thì được ban tổchức dành cho m ột số bàn để trường trung học ngồi gần với nhau để dễ nói chuyện , nhưng toàn là những người cùng trường nhung khác lớp , lạ hoắc chả ai biết ai ? kiểm điểm lại vơi nhau thì chết gần hết , phần chiến tranh phần ditảnê vừa nhìn nhau vừa ăn vừa khóc.
năm sau đậihội trương trung học tôi được ban tổ chức sắp xếp ngâm thơ , thơ của tôi cũng được mà thơ của thiênhạ cũng được. chương trình kéo khoảng một giờ đồng hồ thì tới phiên tôi. sau khi giới thiệu tôi bèn lên sânkhấu , nhìn chuhng thì chả biết ai?
một cái trường có gần hai mươi ba năm , người đến kẻ đi , co nguoì chỉ quá giang một năm đệ tam [ rồi không có đệ nhị ] lại chuyển lớp vào Huế , co khi hoạc được hai năm tam nhị rồi cũng đi nơi khá học đệ nhất , học sinh ra khỏi trường có người đi lính rồi đi luôn , người làm công chức ,tại tỉnh nhà , có người học sưphạm rồi về dậy ngay trường cũ hoặc các trường trong quận .
Bài thơ tôi ngâm là bài thơ Ðây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mạc Tử , tôi dạo đầu bằng một đoạn nhạc của nhạcsĩ Vũ Ðức Sao Biển :
đi qua chân cầu
nhìn xuống giòng sông sâu
cuộc đời như thế đó
cuộc tình như thế đó
đi qua chân cầu
nhìn nước trôi một giòng
như tình anh với em
sau khi hát hết đoạn này thì tôi ngâm, thơ [không có dàn sáo chi hết]
sao anh không về chơi thôn vỹ
nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
vườn ai mướt quá xanh như ngọc
lá trúc che ngang mặt chữ điền
gió theo lối gió mây đường mây
giòng nước buồn thiu hoa bắp lay
thuyền ai đậu bến sông trăng đó
có chở trăng về kịp tối nay
mơ khách đường xa khách đường xa
áo em trắng quá nhìn không ra
ở đây sương khói mờ nhân ảnh
ai biết tình ai có đậm đà
Ngâm xong , chào bà con cô bác đồng môn để đi xuống khỏi sân khấu , thi gặp ngay một bà [xồn xồn] tay cầm một tờ giấy trong dó chép tay một đoạn thơ [mà vừa mới chép xong , tôi nhân tiện mời về bàn cùng ngồi va đọc bài thơ [ thì ra là bài thơ cua thisi Huy Lực [ mà từ xưa tới bây giờ tôi chỉ có một nhà thơ này mà thôi? thơ nhu sau:
đêm trăng rằm quê mẹ
anh nằm thao thức nhớ em
trăng khi mờ khi tỏ trong đêm
xa xôi quá em có còn chung thủy
nhưng mà thôi
hai đứa mình dã yêu nhau đâu nhỉ
mà anh lo để yêu đương sâu xé dầy vò
..............
độc xong đoạn thơ diu dịu mắt , mà chả nhận ra ai ngồi cạnh bên mình, gần năm mươi năm rồi còn gì ? từ nam 1957-1958 lận . Rồi tôi cũng nhận đực ra la người này là người nào? rồi cô ta ngồi khóc , cạnh bàn cũng có người khóc, chuyện khóc lóc trong hoàn cảnh sau gần năm mươi năm thì có nhiều lý do để khóc lắm ,tôi hỏi :
- Thế ông xã mà mấy cháu đâu?
- Anh ấy không có đi dự , nhà em cách đây gần 500 dậm lận,
- thế ngồi như thế này không sợ thiênhạ nói gì sao? không sợ ông xã biết được sẽ ghen sao?
- Già hết rồi , sau bó trở lên rôi , ông nội bà ngoại hết trơn còn ghen cái nỗi gì?
- Cũng may là qua bao nhiêu cuộc chiến tranh mà còn sống , còn nhìn được thấy nhau [ là quí lắm rồi] rồi người nhìn lên sânkhấu , tôi hình dung lại cách đây gần năm mươi năm về trước, nhà nàng có một tiệm bida [ và bóng bàn , cùng đá banh bàn , ba nàng mất sơm , nhà chỉ có bà má , bà chị , tôi kèm cho nàng học , nàng học đệ lục [ còn khi đó tôi học đệ tam]
kèm không lấy tiền , chỉå để đánh bóng bàn mà thôi, nhà nàng có hai chiếc xe đạp , khi nào tôi cần thì nàng lấy xe giao cho tôi, những ngày hè nàng thường đến nhà tôi thêm hai cô bạn nữa cùng học [ hai cô kia trả tiền học phí] còn nàng thì không. khi học xong hai cô bạn mạnh ai nấy đi xe đạp về , còn riêng nàng thì ngày nào tôi cũng đi bộ để đưa nàng về.
Khi ra dến chỗ ngay sân vậnđộng đáng lẽ rẽ bên trái để đi ra phố thì nàg lại cầm tay tôi rẽ về bên phải. là đi ra cánh đồng lúa,
trời chiều khoảng bốn năm giờ , cũng mát , tôi với nàng ngồi bên vệ đường nhìn cánh đồng lúa xanh ngan ngát, bất thần nàng cầm tay tôi và nói:
-anh cưới em?
tôi mỉm cười , cũngâ không lo lắng gì , và nói:
-em à? em mới hoc xong đệ lục, mùa thu tới lên đệ ngũ, còn anh mới xong đệ tam , bây giờ mình lập giađình với nahu , để chiều chiều dẫn nhau ra cánh đồng bứt cỏ trên vệ đường nhai với nhau à?
rồi tôi đưa nàng về , câu chuyện khi đó nghe qua rồi bỏ , cũng chả cò gì thêm vào nữa. năm sau thì tôi đi lính. và vẫn giữ liênlạc với nàng.
bất thần tôi nhận được bức thư tối hậu thư của nàng gửi cho tôi :
-anh về ngay thu xếp cưới em không thi có người cưới mất.
tôi đánh điện cho nàng :
- em à nhận lời của người ta ngay đi , chớ chờ anh làm cai gi? con gai lớn lên lấy ai cũng được , miễn làm sao có một người chồng lá quí rồi]
- rồi thoáng một cái thờigian vèo một cái gần năm mươi năm.
Và bậy giờ gặp lại .nàng cho tôi địa chỉ để có sách báo gì thì gửi cho nàng đọc , tôi nhận lời nhưng cai địachỉ đó lúc chia tay tôi quăng thùng rác ngay, mấycuốn sách chả đáng giá gì? chồng nàng mà ghen thì thật là phiền.
Rồi mấy lần đạihội nữa tôi có đi dự nhưng không gặp nàng nữa.
thôi cũng kể như là xong . chúng ta đến đây kể như là hết .
Bà cháu mẹ con tôi, đùm túm dắt díu nhau leo lên hai chiếc xích lô, chạy xuống hướng Ông Tạ, rẽ vô nhà anh chị Tạo (anh Tạo là ông anh cùng cha khác mẹ của chồng tôi). Mọi người ở trong nhà sửng sốt, nhốn nháo giây lát, rồi họ hét lên, ríu rít mừng rỡ chào đón chúng tôi. Chuyện trò xôn xao, hỏi han đủ mọi thứ rôm rã. Phút chốc buổi cơm chiều đơn sơ dọn ra.
Nhà anh chị Tạo chật như nêm, chen chân không lọt trong một chu vi quá hẹp: 3m x 8m. Nhà bếp sát bên một cầu tiêu nhỏ xíu bị nghẹt, cứt đái lềnh bềnh. Bước tới đụng người, bước lui đụng người chen lấn nhau, bán bán mua mua ồn ào náo nhiệt. Ngoài sát vĩa hè là cái chợ Nghĩa Hoà, trên con đường hẽm hầm hập nóng và bẩn thỉu.
Trong nhà, vợ chồng con cái anh đã là mười hai người. Cọng thêm sáu người em họ là chú Hồng di tản từ Ba Mê Thuột về đây cả tuần. Nay có thêm sáu người của gia đình tôi về tá túc nữa. Thật đông hết biết trong căn nhà chật chội, tối tăm lụp xụp. Chúng tôi trải chiếu nằm xếp lớp bên nhau, như cá mòi, trên gác xép tối om, thấp lè tè. Mùa nầy ở Sài Gòn trời nóng như trong lò lửa. Anh Tạo chia cho bà nội ngủ với chị Tạo ở nhà dưới.
Chỉ được vài ngày vui vẻ thôi. Mấy đứa con tôi lạ người lạ chỗ, ngày ngày không biết làm gì, cứ đứng quanh quẩn bên bà, liền bị anh Tạo quát mắng la rầy, đuổi chúng xa bà, không được quấy rầy bà nội. Anh Tạo không biết rằng các con tôi quyến luyến yêu thương bà nội, ưa gần gũi bà, còn hơn cha mẹ nó. Suốt ngày các cháu chơi đùa với nhau, quanh quẩn bên bà, các con tôi ở với bà nội mến tay mến chân, thân quen rồi. Nay anh Tạo bắt chúng xa bà, chúng ngỡ ngàng và không chịu, cứ khóc mãi.
Ngay hôm sau, gửi cháu cho bà nội trông coi, tôi đi xe bus xuống đường Trần Cao Vân, vào trình diện tại phòng Giáo-dục. Tại đây tôi gặp lại hầu hết bạn bè ở Ðà Lạt. Không ngờ họ lanh tay lẹ chân, đến trình diện Ty trước tôi cả tháng, họ hay hơn tôi nhiều. Tôi làm giấy tờ chờ lãnh lương tại chỗ. Mang tiền về nhà, tôi liền đưa chị Tạo ba chục ngàn đồng, để đóng góp chung vào tiền chi phí ăn uống.
Thế là, ngày ngày tôi phải đến Ty trình diện, chờ đợi mọi tin tức cập nhật. Nếu ngày nào tôi không đi trình diện Ty, thì coi như tôi bỏ nhiệm sở và bị sa thải. Tôi xin về dạy trường gần khu Ông Tạ. Nhưng hầu như không ai có thì giờ, để lo cho đám giáo chức lao nhao khổng lồ ùn ùn về Sài Gòn lánh cư nầy cả. Tình hình chung trong cư dân Sài Gòn xét ra rất phức tạp, hỗn độn, rối loạn lắm.
Ở nhà anh Tạo con cái tôi cũng không yên thân. Anh ta bắt tôi phải bế bé Bo đi trình diện ở Ty đông nghẹt người. Nơi đây chỉ có người lớn, đàn ông đàn bà. Tuyệt nhiên không có một đứa trẻ nào, có thể giam mình trong những căn phòng chật cứng người đi lại. Thế nên, tôi bế con đi trình diện Ty được bốn ngày. Hôm sau, tôi đành để bé Bo ở nhà. Từ Ty trở về nhà, tôi nghe:
- Mẹ ơi! Ở nhà bé Bo đói bụng, em đòi ăn cơm. Bác không cho ăn. Bác lấy roi mây đánh mấy anh em con. Bác nói “tụi bây phải dắt em đi chỗ khác, phải cõng em đi chỗ khác, không được về nhà. Khi nào mẹ mày về, thì cõng nó về. Không thì em nó quấy bà”. Con bị đòn, đau quá mẹ ơi!
Chị Tạo có đứa con nhỏ bảy tháng tuổi, chị vẫn bế nó suốt ngày nằm trên võng đó. Thì sao? Tôi vạch lưng mấy đứa con ra, quả thật có lằn ngang lằn dọc trên lưng và mông đít. Tôi hỏi bà nội, me đáp:
- Phải. Me tính xới cơm cho bé Bo ăn trước, vì nó đói. Nhưng bác nó không chịu, bác nó la me là:
- “Bà cứ chìu, cho chúng nó hư. Ðánh thấy mẹ chúng nó đi”.
Tôi nghe mà vuốt giận chịu nhục, cố ở nhờ trong nhà họ. Tôi biết anh chị Tạo lòng dạ hẹp hòi, ích kỹ, nhỏ mọn, ghen ghét mẹ con tôi, vì bà mẹ ghẻ của họ ở với chúng tôi. Trong khi vợ chồng họ có ở với bà mẹ ghẻ ngày nào đâu. Bà cháu có sự quyến luyến yêu thương nhau, là dĩ nhiên rồi. Chỉ một chuyện nhỏ nầy, khi thấy tôi ủi áo dài, để đi trình diện, thì hôm sau anh chị dấu cất cái bàn ủi trong tủ, khoá lại. Tôi hỏi mượn bàn ủi, chị nói:
- Thế là mất rồi. “Xím” ủi xong, là phải cất đi. Mất rồi.
Tôi nhìn mấy đứa con anh chị, là biết ngay anh nói dối. Nhưng anh cứ buộc tội là tôi để bàn ủi hớ hênh, nên mất rồi. Nghĩ thật tức cười! Ủi đồ trên gác xép, kín như bưng thế nầy. Con chuột leo vô nhà, e còn chưa lọt. Còn tên trộm có muốn ăn cắp, thì phải vào nhà dưới, rồi mới leo lên cái thang dựng đứng, đặt sát chiếc giường rộng, là nơi tụ tập thường xuyên không dưới mười người. Tên ăn trộm có giỏi cỡ nào, có tài thánh gì, cũng không thể lọt qua!
Sau ngày đó, hôm nào trình diện, tôi cũng mặc quần áo nhàu nát ra đi. Thật xấu hổ cho một giáo chức “chỉnh tề”. Hể đi vắng thì thôi, về nhà là có đủ thứ bực mình: Bác Tạo đánh đứa nầy, phạt quỳ đứa nọ, giam đói đứa cháu khác.
Một buổi trưa trời nóng như thiu đốt, nắng chói chang, từ trên xe bus trụt xuống, tôi đã thấy bé Di, bé Ti cõng em đứng ở trạm xe. Dưới đất, bé Hi đang ăn củ khoai lang còn dính đất. Sợ mất hồn mất vía, sợ các con đi lạc hay bị bắt cóc, tôi vội chạy tới, bế bé Bo lên. Mấy đứa con mặt mày lem luốt, đều khóc:
- Bác Tạo đuổi tụi con đi. Bác nói:
- “Chúng mày chỉ giống con mẹ mày. Lo cút xéo đi cho rãnh mắt”.
Con tôi trả lời:
- Con thì phải giống cha mẹ, chứ bác.
Bác Tạo trai liền lấy cái roi da cá đuối treo trên tường đó, bác quất vào lưng con. Bác nói con dám “trả treo”. Em Ti thấy bác đánh con, thì chạy tới can. Bác cũng quất túi bụi vào người em nữa. Hu hụ hụ.
Nói xong, hai con lớn oà khóc và vạch lưng, tụt quần xà lõn ra, cho tôi xem. Nào lằn ngang, nào lằn dọc từ trên lưng xuống mông, bầm tím hơn lần con bị bác cho ăn roi vọt trước. Bác đánh cháu nhỏ còn hơn tra tấn quân thù. Tôi hỏi bé Hi:
- Tại sao con khóc, để anh bị đòn oan.
Thì con chỉ vào bụng và bập bẹ nói:
- Con đói… b…ụng.
Tôi giận run và nghĩ: “Các con đã quá đói khổ rồi, chẳng lẽ cứ bị khổ sở, đánh đập vô cớ hoài sao. Có lẽ mình nên dời đi chỗ khác sống thì hơn.
Tôi ẳm bé Hi về nhà. Các con sợ sệt núp sau lưng mẹ, lẽo đẽo theo sau. Thấy họ, lòng tôi tức giận sôi lên. Chẳng thà họ cứ thắng thắng nói không cho gia đình tôi ở nhờ, hay đánh chửi tôi. Chứ họ làm cái ngữ nầy, ai chịu thấu! Ðã mất tiền đưa cho họ thoả đáng, chưa trót tuần ăn ở. Chứ có phải chúng tôi ăn chực đâu.
Chắc họ muốn “vòi” thêm tiền? Họ nghĩ tôi nổi tiếng giàu có, có xe hơi nhà lầu, mà “trùm sò” là gì! Họ đối xử không tốt, thế mà chúng tôi phải mang ơn mang nghĩa. Con cháu bị hành hạ đòn vọt không đáng. Nó mới lên bảy lên mười, nếu có lầm lỗi, thì bắt nó nằm xuống, răn dạy đôi ba roi. Chứ lẽ nào dùng roi cá đuối, thẳng tay tra tấn cháủ! Chỉ vì: “Chúng mày giống con mẹ mày”.
Tôi đặt bé Hi xuống thềm, nói luôn một hơi:
- Mấy đứa con em, nếu không đúng không phải, thì anh chị bắt chúng nó nằm xuống giường, mà răn dạy và đánh vài roi vào mông. Em phục, không nói gì. Tại sao anh lại lấy cái roi cá đuối quất túi bụi vào lưng cháu vậy? Em hỏi anh: Các cháu có tội nặng không, mà anh nỡ lòng hành hạ chúng vậy? Anh chị đánh đập cháu, chỉ vì nó đói, xin ăn cơm. Anh chị coi nè, có được không?
Tôi vạch lưng, vạch mông ba đứa lớn lên, lôi con tới trước mặt họ, cho cả nhà xem. Bà nội lúng túng nói:
- Thằng Hi nó đói bụng. Bác mày chưa nấu cơm. Nên tao tính bế nó, thí dỗ cháu tị. Thì nó nín í mà.
Anh Tạo đốp ngay:
- Bà không việc gì phải thí dỗ, cho chúng hư đốn quen đi. Quấy không ai chịu nỗi. Lúc nào mặt mũi cũng đỏ kè, sãy sài, khóc nhè mãi. Bố ai chịu nỗi hử!
Khi đó, tôi không thể nhịn anh ta, tôi vừa khóc vừa gào lên:
- Một ngày anh biết ăn ba bữa đàng hoàng với rượu đế và thức nhắm. Có ngày nào anh nhịn nỗi không! Các cháu cũng vậy. Cháu anh đói, đòi ăn, thì anh cấm. Nó khóc, anh cấm không cho bà dỗ cháu. Là sao!?
- Bà về đây, là bà nghỉ ngơi. Không phải làm gì sớt.
- Sao anh quá nhỏ mọn vậy? Chẳng lẽ từ xưa đến giờ thấy cháu đói, mà bà không cho cháu ăn. Bà nội không bao giờ làm vậy. Vã lại, không hẹp hòi vì miếng ăn, tôi đã gửi anh tiền cơm nước đàng hoàng, đầy đủ. Tôi lầm tưởng là có bà con ruột thịt, về nhà anh chị ở, nương tựa lẫn nhau lúc khốn cùng, cho có anh chị, có em, có mẹ có con. Nay, anh chị muốn đuổi, thì anh nói. Tôi sẽ dọn đi ngay. Chứ anh chị không được hành hạ chúng tàn nhẫn, vô cớ đến thế nha.
Tôi chạy vào nhà, leo lên thang gác vơ quần áo của các con, tộng vào túi vải cũ, hầm hầm kéo xềnh xệch ba túi vải xuống thang gác. Tôi dặn mấy đứa con đứng chờ ngoài hè, rồi chạy ra ngoài ngả Ba Ông Tạ, gọi chiếc xe ngựa vô hẽm, đậu trước cửa nhà. Tôi chất đồ, các con liền leo lên xe. Tôi nói với bà nội:
- Me cứ ở đây cho khoẻ. Chúng con phải đi, không thể ở, để người ta hành hạ tàn nhẫn cháu như thế được.
Bà nội chưng hửng, ú ớ, ngại ngần, bà không biết tính toán làm sao cho phải phép. Một bên là mẹ ghẻ con chồng bà, một bên là con dâu cháu nội ruột của bà. Tôi đưa cho bà mười ngàn đồng, để bà có tiền dằn túi ăn quà vặt. Rồi tôi giận run quay lại, trừng mắt nói với họ, như hét:
- Anh chị tưởng là: Nếu chúng tôi không có bà, không có anh chị, thì chúng tôi không có chỗ nương thân, sẽ chết bờ, chết bụi hay sao? Còn mẹ ghẻ của anh chị, có ở lại đây, như ý anh chị muốn chia rẻ chúng tôi, thì me cũng không phải ăn bám cơm canh nhà anh chị. Anh chị cứ xem bà như người dưng ăn cơm tháng. Anh chị không phải nuôi. Sau nầy, anh chị đừng kể công là: khi tôi ra đi, đã để gánh nặng lại, cho nhà anh chị lo. Nhá. Anh chị chỉ biết có tiền thôi.
Vừa nói, tôi giận dữ móc túi quăng ra một nắm tiền lên trên giường, ngay dưới chân chị Tạo (đang nằm ru con trên võng móc ngang giường). Ăn ở với nhau, khi tử tế biết điều thì anh anh chị chị em em. Khi trở mặt, thì dở dóc đủ điều tệ mạt hết chỗ nói. Cứ chửi một trận, rồi từ nhau là vừa. Người dưng thật ra còn tốt hơn họ hàng.
Chính tôi cũng không ngờ sao tôi trở nên hung dữ như thế! Tính nết tôi bình thường biết giữ thể diện, sợ xấu hổ, hiền lành, không mấy khi to tiếng. Nhưng nay đụng chuyện “quá độ”, quá trí khôn rồi, thì tôi cóc cần, cóc sợ. Có phải do thấy các con đít bị rỉ máu, lưng sưng húp bầm thâm thì… “máu chảy ruột mềm” chăng?
Con ngựa hí vang, nó đứng ngoài trời nắng chang chang, bốn vó dậm trên mặt đường kêu lóc cóc nhịp nhàng. Tôi lên xe ngựa, năm mẹ con ra bến xe đi Hóc Môn. Nếu biết tình nghĩa “bà con nhạt hơn nước ốc” như thế nầy. Chẳng thà chúng tôi ăn ngủ ở đầu đường xó chợ cho xong, chẳng phiền ai, con cái không bị hành hạ khổ sở thế nầy.
Mỗi khi tôi thò mặt về nhà nầy, thì tôi nghe đủ thứ chuyện đinh tai nhức óc, muốn điên đầu. Nay, tôi đùng đùng túm đồ đạc dẫn các con ra đi. Thì họ ngẩn tò te và im phăng phắc. Có lẽ họ không ngờ là tôi dám làm như thế. Họ cũng mắc cỡ với hàng xóm láng giềng, đang bu lại xem chăng?
Bạn bè tôi kháo nhau đi tìm hàng chất lượng cao. Tôi không hiểu họ nói chất lượng cao với ý gì. Chỉ phong phanh hiểu đồ tốt thì bao giờ xài cũng lâu hơn đồ giả, đồ nhái vậy mà. Vậy mà khi những chữ chất lượng cao cứ lập đi lập lại, nhóm bạn tôi cứ lúc thì tiêu nghỉu, lúc thì khúc khích cười làm tôi chả còn biết ra làm sao cả.
Hắn biết nhìn, hắn biết ôm, hắn biết làm vừa lòng những người dù từng được mệnh danh là khó tính nhất. Chỉ bao nhiêu đó ai làm chả được. Cứ đụng chuyện nhịn đi một chút là xong tất cả thôi mà. Làm có mỗi chuyện nhịn được bao nhiêu là thứ ai chả muốn. Nhịn xong rồi cứ ra bãi trống hay đồng không cô quạnh nào la hét thật lớn xả bớt ra là cuộc đời trở lại bình thường như thường. Cứ lôi thôi chất lượng cao, chất lượng cao làm quái gì.
Vân trong nhóm tôi là người đẹp người, đẹp nết nhất. Cô đã chờ, chờ đúng người của mình mới tiến tới. Có khi gần đúng mà cứ đọng phải hơi tí khang khác với cái cô nghĩ là cô tránh xa ngay. Trời cỡ đôi đũa còn có chút khác dù được mài dũa như nhau, cặp sinh đôi còn có đứa này đứa nọ, thì đòi một người giống y chang như mộng ước hơi khó à nha.
Vậy mà Vân chờ, chờ đến mõi mòn, tuổi xuân đi qua không chào. Chiều nay gặp tôi, cô hớn hở . " Này, tìm ra rồi đấy nhá, chuẩn bị đi cưới tớ nhá ". Tôi hỏi cô vì sao, tôi biết mình hỏi vô duyên mà hỏi có duyên hoài duyên cũng đâu tới với Vân đâu. " Hắn đúng y chang như tớ nghĩ, hàng chất lượng cao nhá ... làm gì ra đó, không lẫn vào đâu được " . Chuyện không còn đùa được, tôi tới luôn " lấy chồng như bà quả hay, tôi thua " .
Vân chẳng trả lời trả vốn gì hết. Mắt cô cứ dán vào gã đàn ông xa chúng tôi từng mươi thước. Gã đàn ông đó trông mát mắt, tay trong tay với một cô gái, mặt Vân tái dần. Từ đó Vân không bao giờ nói với tôi điều gì bao gồm những từ hàng chất lượng cao nữa ....
Tôi phải hiểu thế nào đây. Chất lượng cao là biết lừa dối hay chất lượng cao là vì đã quá điêu luyện trong một lãnh vực nào.
Ừ thì đàng nào cũng chất lượng cao ... Thế đi ..
Tâm bút :
Ba mươi năm lưu lạc xứ người, sự thành đạt của người Việt lưu vong tương đối cũng khá nhiều nhưng cũng không phôi pha được những nỗi mất mát chia xa – Các nhà tranh đấu, các chính trị gia, các danh nhân, các nhạc sĩ, ca sĩ … lần lượt theo con tạo xoay vần giã từ trần lụy ! Nhưng dường như suốt ba mươi năm lưu vong những người sống nhiều về tâm hồn thường ra đi quá sớm chẳng hạn như thành phần ca nhạc sĩ - Người viết bài này với một khung cảnh nhỏ hẹp thôi vì tự biết khả năng của mình – Tôi viết về một người nhạc sĩ đã ra đi, người đó chính là ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh.
Vừa định viết thì mở trang net lại thấy tin nhạc sĩ Nguyễn Hiền lâm chung, tôi và N/S Nguyễn Hiền rất thân tình, ông đã từng tổ chức cho tôi nhiều buổi sinh hoạt văn học tại miền Nam Cali, nói đến ông ai cũng thấy ngay rằng ông là một người nhạc sĩ đức độ khiêm cung hiền hòa trong xử thế. Có một lần khi ông đến nhà vợ chồng Tùng vào một buổi sáng sớm để gặp tôi bàn về việc ra mắt sách của tôi ngày chủ nhật tới mà ông là người tổ chức - Vừa bước vào nhà ông thấy Tùng với mái tóc trắng phau, ông vội vã cúi gập người xuống và chào “ lạy cụ ạ” – Lúc đó, Tùng lính quýnh cũng vội vã cúi người xuống và thưa “ lạy cụ ạ” – Tôi và Kim Nguyên vợ của Tùng cười vỡ cả bụng khi thấy hai người chào nhau như thế bởi vì Tùng chỉ khoảng 50 tuổi nhưng mái tóc trắng phau như tuyết tuy nước da vẫn hồng hào và nhìn kỷ vẫn còn phong độ. Thế là tôi phải đứng ra giới thiệu hai người với nhau và nói rõ với nhạc sĩ rằng Tùng chưa thành ông cụ .
Tôi còn một kỷ niệm nữa với N/S Nguyễn Hiền là khi ông tổ chức sinh nhật thứ 75 vào năm 2001 tôi đã đi xe đò xuống tham dự ngày sinh nhật của ông và ở lại hôm sau trở về San Jose, ít ra là chỗ thân tình lắm tôi mới lặn lội như thế … Tôi đã lên tặng ông bà Nguyễn Hiền một bó hoa thật lớn trong đêm sinh nhật và đọc bài thơ tôi viết tặng nhạc sĩ ngày sinh nhật :
ÐIỂM HOA CHO ÐỜI
Nơi đây đang cuối mùa đông
Hoa xuân đua nở trong lòng tha nhân
Nắng xuân thêm ấm bội phần
Hương xuân thoang thoảng như gần bên ta
Chúc mừng nhạc sĩ tài hoa
Vắt tim nặn óc điểm hoa cho đời
Cung trầm cung bổng chơi vơi
Bút hoa sang tạo rạng ngời non sông
Cao niên người vẫn tươi hồng
Rải hoa bác ái tưới trồng thiện căn
Văn chương lỗi lạc trời ban
Nguyễn Hiền tô nét son vàng sử xanh
Chúc người trọn giấc mộng lành
Trăm năm tuổi thọ toại thành ước mơ
Gửi lòng ngưỡng mộ vào thơ
Danh thơm sáng mãi bên bờ tự do.
( Kính tặng Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền sinh nhật 75)
Phần đông trong chúng ta mỗi độ xuân về không ai không thuộc bản nhạc bất tử của nhạc sĩ Nguyễn Hiền “ Anh Cho Em Mùa Xuân”, bản nhạc này đã đi vào lòng dân tộc Việt Nam mấy thập niên qua và tết đến là tên tuổi nhạc sĩ Nguyễn Hiền như nở rộ giữa mùa xuân mới.
Tôi rất buồn khi nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Hiền ra đi và lại càng buồn hơn nữa khi nhớ đến nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cũng đã ra đi cách đây mấy tháng – Vì thế tôi có bài viết này để kỷ niệm cùng hai nhạc sĩ mà tôi thân tình nhất.
Ngày tôi gặp lại anh chị Nhật Trường cách nay 10 năm tại cửa hàng băng nhạc cuả anh - Trước 1975 tôi đã từng gặp và ái mộ khi anh lên sân khấu trình diễn, còn Mỹ Lan tôi đã từng ở chung một chung cư Kỳ Ðồng với nàng khi còn ở Việt Nam và hàng ngày vẫn nhìn nàng chưng diện đi hát các tụ điểm ca nhạc, thời bấy giờ Mỹ Lan đang nổi bật với hai bản nhạc “ Lá Còn xanh” và “ Tình Yêu Trên Những Giếng Dầu” – Tôi đã quen Mỹ Lan ở ngoài hiền hậu dễ thương, khi lên sân khấu nàng trẻ trung và nhí nhảnh, nàng vừa hát vừa nhảy làm say mê khán giả bởi dáng dấp cao ráo vừa hát vừa nhảy lại vừa cười với nụ cười duyên dáng xinh đẹp – Thú thật lúc đó tôi rất mê Mỹ Lan qua những show mà nàng trình diễn.
Năm 1996 tôi có dịp xuống miền Nam Cali và đã đến thăm anh chị Nhật Trường - Mỹ Lan – Chúng tôi đã chụp chung với nhau những tấm hình lưu niệm có cả nhà danh hoạ Vũ Hối và nhà văn Trầm Mộng Bằng tức Lâm Thùy Giang cùng đến thăm anh chị Nhật Trường hôm đó – Chúng tôi không thể quên món Bún Bò Huế sát cạnh tiệm mà anh chị Nhật Trường đã đãi chúng tôi – Tôi cũng đã đến nhà anh chị thăm bác gái khi bác từ Việt Nam sang chơi lúc ấy Mỹ Lan đang mang bầu bé Chí - Những kỷ niệm thân thương nầy đã dấy lên trong ký ức tôi ngay từ hôm được tin Ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh vừa mất !
Ca nhạc sĩ Nhật Trường tên thật là Trần Thiện Thanh, bút hiệu TTT, Anh Chương, Trần Thiện Thanh Toàn và Nhật Trường.
Anh sinh tại Phan Thiết năm 1941 – Anh vào Sài Gòn sinh sống nghề soạn nhạc và ca hát năm 1958 trong bước đầu đầy khó khăn và gian nan. Thời gian chịu đựng qua đi, anh sáng rực và trở thành một tên tuổi nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam thời đó. Mỗi khi anh lên sân khấu là tiếng vỗ tay như pháo tết, anh hùng dũng hiên ngang trong bộ quân phục, anh đa tình lãng tử trong bộ veston màu nhạt, có đôi khi anh vô cùng tài tử trong bộ quần áo nghệ sĩ phong trần nhưng trông rất đẹp trai, thời ấy anh là thần tượng của giới trẻ, là mơ ước của các nàng nữ sinh, các người đẹp - Ở anh nhìn thấy một nét rắn rỏi pha đôi chút khắc khổ của đàn ông, đó là điểm đã làm anh nổi bật trong giới âm nhạc mềm và lã lướt kia - Cuối năm 1960 anh cùng Hùng Cường, Chế Linh thường mặc quân phục trình diễn trên sân khấu với những bài ca về lính do Trần Thiện Thanh sáng tác, thời ấy là thời nhạc lính bắt đầu sống dậy mạnh mẽ trong dòng nhạc của anh mặc dù anh còn rất trẻ, và khán giả rất say mê những buổi trình diễn có Nhật Trường - Một lần vào dịp tết, tổ chức Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ , anh đã hát liên tục 4 bài nhạc viết về lính của anh theo yêu cầu của đông đảo khán giả tham dự - Ðầu năm 1961 anh lập ra ban tứ ca gồm Nhật Trường và ba giọng ca nữ phụ họa là Như Thủy, Vân Quỳnh và Diễm Chi, các nàng này chuyên hát phong trào du ca của nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, Miên Ðức Thắng, Nguyễn Ðức Quang, Bùi Công Thuấn và Trần Thiện Thanh … Anh là ca sĩ chính trong các bài trình diễn, ba cô chỉ hát phụ họa bài hát thôi – Sau đó một thời gian Nhật Trường thực hiện một nhạc cảnh rất sống động diễn xuất chung với nữ ca sĩ Thanh Lan về khí thế một anh hùng mũ đỏ Ðại Úy Dù Nguyễn Văn Ðương vừa nằm xuống cho quê hương rất ngoạn mục và xúc động toàn bộ người tham dự tại sân khấu cũng như sau này lên thành phim ảnh - Thời đó tôi cũng rất say mê cặp hát chung Nhật Trường & Thanh Lan này lắm, anh có một chất giọng trầm ấm trữ tình và rất sang, chị Thanh Lan thì trong trẻo nhí nhảnh và mượt mà trau chuốt mỗi lời ca mà lại xinh đẹp nữa nên cặp ca sĩ này thời đó rất ăn khách trong làng âm nhạc VN.
Có lần Nhật Trường tâm sự với bạn bè rằng lúc nhỏ anh rất mê được ca hát, nhưng cha mẹ anh nghe ca hát là la rầy không đồng ý còn bảo là “xướng ca vô loại” nên cấm ngặt anh – Anh buồn vì ước mơ không toại nguyện nên đêm khuya không ngủ và đợi mẹ cha đã yên giấc điệp anh ngồi hát nghêu ngao một mình suốt mấy giờ liền những bài ca đã thuộc nằm lòng của các nhạc sĩ nổi tiếng thời đó, nên khi xuống Sài Gòn bắt đầu cho sự nghiệp ước mơ anh chọn ngay bút hiệu Nhật Trường để nhớ về những ngày dài vời vợi chờ đêm đến để được nghêu ngao ca hát một mình.
Nhật Trường gia nhập vào sự nghiệp ca hát chỉ một thời gian rất ngắn đã nổi tiếng khắp nơi trên các tụ điểm ca nhạc, đài phát thanh và trên làn sóng tivi màn ảnh … Do đó anh tiến bước tới soạn nhạc và anh đã thành công vô cùng với những nhạc phẩm viết về lính, viết cho lính, viết cho tình yêu, cho tang thương của đất nước, của chiến tranh nhưng hoàn toàn không ủy mị, mà kiên cường hùng tráng và quật khởi trong từng lời nhạc của anh. Anh chính là một điểm son đã mang lại niềm tin và hào hùng cho người chiến binh thời đó ! Năm 1973 anh thực hiện cuốn cassette “ Chiến Tranh Và Hòa Bình” đã được giới yêu nhạc yêu tiếng hát của anh ủng hộ thật nồng nhiệt, và đầu năm 1975 anh đang dự định tiếp tục xuất bản cuốn cassette thứ hai với tựa đề “ Biển Sương Mù” nhưng không còn kịp nữa, tháng 4 đen đã vùi chôn bao mơ ước của anh rồi !
Năm 1975, nước mất, anh buồn và mất hẳn sinh khí để ca hát và soạn nhạc, anh bỏ đi xa và sống lặng lẽ như một thân xác không hồn, anh thương đất nước, thương người lính, thương chính cuộc đời mình từ nay đã chịu đau đớn như những lằn roi quất vào da thịt không nguôi, người chiến sĩ tâm lý chiến có một nội tâm sâu thẳm nên đã ẩn dật bao nhiêu năm dài không xuất hiện cho đến khi gặp lại anh tại xứ người, nét khắc khổ đã tô đậm lên sắc diện anh, ôi một thời trẻ trung hoa mộng đã bỏ anh rồi, người ca nhạc sĩ lừng danh bây giờ phải tìm cách mưu sinh vật lộn với cuộc sống mới, những thương đau trong tâm hồn đã khiến anh hững hờ với âm nhạc tuy rằng thỉnh thoảng anh vẫn cố gắng viết nhạc và cố gắng hát để nghe dòng lệ tuôn trào theo với lời ca nghèn nghẹn trong tâm hồn. Anh gặp Mỹ Lan tại xứ người, nàng cũng ly hương mang niềm đau mất nước, cả hai chung một tâm trạng, chung một nỗi niềm đã khiến dòng nhạc hào hùng của anh sống dậy mãnh liệt và anh đã cùng Mỹ Lan, người bạn đường duy nhất đi cùng trời cuối đất trên đất nước tha hương mang lời ca tiếng hát để nói lên chí khí quật cường, niềm tin vững chãi và tình thương bao la trong tận cùng trái tim anh đã gởi vào những bài nhạc mới mà anh đã cố công viết soạn cho đời, cho thế hệ mai sau.
Nhưng anh đã ra đi không bao giờ trở lại, dẫu biết rằng sinh ký tử quy nhưng thật đau buồn và thương tiếc bởi anh đi trong lúc còn quá trẻ, trên 60 là lúc chín mùi nhất cho sự nghiệp một con người, chắc chắn trong anh còn mang nhiều hoài bão cho quê hương cho dân tộc Việt Nam đang phải lưu vong xứ người - Chắc chắn trong anh đang hy vọng một ngày trở về nơi chôn nhau cắt rún để viết tiếp những dòng nhạc oai hùng cho lịch sử ngàn sau.
Giờ đây anh đã về một nơi xa thẳm, không có loài người để xẻ chia niềm tâm sự, vợ đẹp con xinh anh bỏ lại dương trần và Mỹ Lan, bé Chí sẽ tiếp tục sự nghiệp dở dang của anh, nàng và bé Chí con trai anh đã khiến bao người rơi lệ ngậm ngùi tiếc thương anh qua những lần diễn xuất khắp nơi trên hải ngoại, anh hãy ngủ yên một giấc ngủ nhẹ nhàng và tin rằng bé Chí sau này sẽ nối nghiệp anh và tên tuổi của anh sẽ sống mãi trong lòng nhân loại dù trải qua bao thế kỷ về sau.
Anh đã sáng tác gần 200 bản nhạc vừa cho lính, cho tình yêu và cho quê hương trong thời gian gần 20 năm chinh chiến điêu linh tại đất nước mình, khi ra hải ngoại anh buồn nhiều và mất hẳn nhụy khí viết nhạc nên chỉ sáng tác thêm một số ít bản nhạc mới hào hùng mà thôi, chúng ta không thể để những dòng nhạc bất tử của Trần Thiện Thanh vào quên lãng nên tôi ghi lại nơi đây tên những bản nhạc mà tôi được biết, mong rằng có thiếu sót xin quý độc giả thông cảm cho bởi trong tôi niềm quý mến ái mộ Ca nhạc sĩ Nhật Trường dâng cao từ mấy chục năm qua vì mấy ai vừa là ca sĩ nổi tiếng vừa là nhạc sĩ nổi danh lại hiền hòa đức độ như Nhật Trường Trần Thiện Thanh.
Ai Nói Với Em Ðêm Nay - Anh Không Chết Ðâu Anh – Anh Về Với Em – Anh Nhớ Về Thăm Em – Bà Tư Bán Hàng – Bà Mẹ Trồng Rau – Bóng Nắng - Biển Mặn - Bảy Ngày Ðợi Mong – Bà Mẹ Trị Thiên - Bắc Ðẩu – Bay Lên Cao Ði Anh - Bảy Thế Kỷ Tình Yêu - Biển Sương Mù - Chuyện Hẹn Hò - Chiều Trên Phá Tam Giang - Chiếc Áo Bà Ba - Chuyện Tình Người Ðan Áo – Chân trời Tím - Chờ Ðông – Cho Anh Xin Số Nhà - Chuyện Một Người Ði - Chuyện Tình TTKH – Con Ðường Buồn Chung Thân - Chị Ba Hàng Xanh - Chuyện Lứa Ðôi – Cho Người Vào Cuộc Chiến - Ðồn Vắng Chiều Xuân – Ðám Cưới Ðầu Xuân - Ðộc Hành – Ðôi Ngã Ðôi Ta - Gặp Nhau làm Ngơ – Giấc Ngủ Trên Ðồi Xanh – Giây Phút Giã Từ - Hàn Mặc Tử - Hoa Học Trò – Hoa Trinh Nữ - Hai Sắc Hoa Ti Gôn – Hãy Hứa Yêu Em – Hoa Chiều – Hoa Biển - Hiện Diện Của Em – Khi Người Yêu Tôi Khóc - Không Bao Giờ Ngăn Cách – Không Bao Giờ Quên Anh – Lâu Ðài Tình Ái - Lời Tình Viết Vội - Lời Cho Người Yêu Nhỏ - Lộc Non - Lời Tình Trong Khói Súng – Màu Mũ Anh, Màu Áo Em - Mộng Thường - Một Ðời Yêu Em – Mùa Ðông Của Anh – Mai Lệ Xuân - Một Lần Cuối - Một Lần Dang Dở - Mùa Xuân Lá Khô - Mười Sáu Trăng Tròn - Một lần Bay Thấp Ó Ðen - Người Ở Lại Charlie - Người Xa Người - Người Yêu Của Lính - Nỗi Lòng Thanh Trúc - Người Chết Trở Về - Ngày Ðầu Một Năm - Người Lính Tượng Ðài – Phút Giao Mùa – Phép Nhiệm Mầu – Quá Phụ Ngây Thơ – Rừng Lá Thấp - Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Hành Khúc - Tuyết Trắng – Tình Ca Của Lính – Tình Thiên Thu – Trên Ðỉnh Mùa Ðông – Tình Thư Của Lính – Trong Lần Tái Ngộ - Tình Ðầu Tình Cuối - Tạ Từ Trong Ðêm – Tâm Sự Người Lính Trẻ - Thạch Sanh ( Truyện ca) – Tìm Một Vì Sao Nhỏ - Tình Có Như Không – Tình Yêu Thứ Nhất - Trời Chưa Muốn Sáng - Từ Ðó Em Buồn - Từ Nửa Vòng Trái Ðất - Tưởng Người Chết Ði – Tình Yêu Ngộ Nghĩnh - Vết Ðạn Thù Trên Tường Vôi Trắng - Vợ Thằng Ðậu – Xin Em Ðừng Hỏi – Yêu – Yêu Người Như Thế Ðó – Yêu Mơ Và Ghen …
Anh còn nhiều bản nhạc lắm nhưng tôi không thể nào nhớ nổi, một người ca nhạc sĩ đa tài như anh nếu số phần không ngắn ngủi anh sẽ còn viết cho nhân loại bao nhiêu bản nhạc giá trị ở cuối đời anh – Tôi thật xót xa cho một tài hoa bạc mệnh nên đã viết tặng anh hai bài thơ cho lần tiễn biệt thiên thu bằng cả cõi lòng thương tiếc :
THƯƠNG TIẾC CA NHẠC SĨ
NHẬT TRƯỜNG TRẦN THIỆN THANH
Ðược tin ca sĩ Nhật Trường
Hóa thân vào cõi thiên đường nghìn thu
Tài hoa vùi giữa sương mù
“ NGƯỜI YÊU CỦA LÍNH” phù du gió ngàn
Xót xa “ ÐỒN VẮNG CHIỀU XUÂN”
Lắng nghe “ TRÊN ÐỈNH MÙA ÐÔNG” gọi về
Cùng “ NGƯỜI Ở LẠI CHARLIE”
Một vùng “ TUYẾT TRẮNG” chôn “TÌNH THIÊN THU”
“RỪNG LÁ THẤP” giữa mây ngàn
Một “ CHIỀU TRÊN PHÁ TAM GIANG” xây thành
Và “ ANH KHÔNG CHẾT ÐÂU ANH”
“ KHÔNG BAO GIỜ NGĂN CÁCH” tình anh với nàng
Rộn ràng “ ÐÁM CƯỚI ÐẦU XUÂN”
Dịu dàng “ CHIẾC ÁO BÀ BA” thiên thần
Bây giờ “ MÙA ÐÔNG CỦA ANH”
“ TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH TRẺ” của Trần Thiện Thanh
Từ đây giọng hát trữ tình
Và bao dòng nhạc lưu danh thế trần
Một tâm huyết với giang san
Trời cao đoạt mệnh đã lầm đây chăng ?
Bàng hoàng giọt lệ rơi nhanh
Tiếc thương một kiếp tài danh sáng ngời !
NÉT SON VÀNG TRẦN THIỆN THANH
Ngày không tốt là ngày 13 thứ sáu
Tước đoạt trần gian sinh mạng một danh tài
Ngậm ngùi thương chí dũng một đời trai
Hoài bão chưa tròn thân vùi cát bụi !
“ PHÚT GIAO MÙA” “ XIN EM ÐỪNG HỎI”
“ NGUỜI XA NGƯỜI” rồi “ HÀN MẶC TỬ” ơi !
“ HOA BIỂN” thay anh “ LỜI TÌNH VIẾT VỘI”
“ CHUYỆN HẸN HÒ” xin “ HÃY HỨA YÊU EM”
“ ÐÔI NGÃ ÐÔI TA” “ TỪ ÐÓ EM BUỒN”
“ BẢY THẾ KỶ TÌNH YÊU” đùa “BÓNG NẮNG”
“ MỘT ÐỜI YÊU EM” trùng dương “ BIỂN MẶN”
“ TÌNH CÓ NHƯ KHÔNG” trăn trở “ CHỜ ÐÔNG”
“ BẢY NGÀY ÐỢI MONG” trên “BIỂN MÙ SƯƠNG”
“ CHÂN TRỜI TÍM” “ ÐỘC HÀNH” thân cô lữ
“ HOA CHIỀU” phôi pha lìa xa “ BẮC ÐẨU”
“ TƯỞNG NGƯỜI CHẾT ÐI” nhưng sống mãi muôn đời
Mượn lời thơ buồn tiễn anh lần cuối
Sống oai hùng chết để lại thanh danh
Nhật Trường mất đi bao người tiếc nuối
Nét son vàng muôn thuở Trần Thiện Thanh …
San Jose
1- Hôm nay ngồi soạn lại xấp hình cũ, trong đó có những tấm hình chụp ngày ba mẹ con tôi rời quê hương sang Mỹ đoàn tụ cùng chồng tôi, cùng những hình chụp ngày đầu tiên bước chân đến đất nước tạm dung này. Những kỷ niệm cũ theo năm tháng đã lùi về quá khứ, nay lần lượt hiện ra truớc mắt tôi…..
…….Sau gần mười một năm đợi chờ bảo lãnh với nhiều lo âu, trắc trở về giấy tờ, cuối cùng ba mẹ con tôi cũng đến ngày được ra đi đoàn tụ với chồng tôi. Ngày đó làm sao quên được, một ngày nắng ấm của miền Nam, ngày mà ba mẹ con tôi cũng như của cả nhà bên nội, bên ngoại mong mỏi. Tâm tình của tôi lúc chuẩn bị ra phi trường không còn háo hức, vui mừng như những ngày mới nhận được giờ chuyến bay nữa mà thay vào đó là nỗi buồn man mác, luyến tiếc. Nhìn quanh nhà thấy đâu cũng là kỷ niệm và biết rằng ra đi lần này rồi khó có dịp về thăm lại người thân nữa. Lòng tôi rối như tơ vò, nửa mừng, nửa buồn.
2- Tới giờ, mẹ con tôi cùng người thân đi xe hơi của người cháu đến đón, chở ra phi trường, có một số bạn bè, thân nhân đã chờ sẵn ở ngoài đó. Hôm đó thật náo nhiệt và vui vì có rất đông bạn học của con gái và con trai tôi cùng họ hàng, chòm xóm của gia đình có mặt tiễn chân nữa, cảm động vô cùng. Tất cả mọi người đều chúc phúc cho ngày gia đình tôi đoàn tụ, rất tiếc Mẹ tôi không còn để nhìn thấy ngày vui đoàn viên của vợ chồng tôi. Bịn rịn mãi rồi cũng tới lúc chia tay, mẹ con tôi làm xong thủ tục hải quan và vào phòng cách ly, nhìn qua cửa kính thấy mẹ chồng, bác chồng, anh em, họ hàng còn nán lại chờ chuyến bay cất cánh mới ra về. Lúc này tôi mới thấm thiá nỗi buồn xa người thân, xa quê hương xứ sở, mặc dầu đây là niềm ao ước, khát khao của tôi được ra xứ người sinh sống cùng chồng. Sự mâu thuẫn ở trong lòng cứ tăng mãi lên, cho đến mấy năm sau khi ở Mỹ, tôi mới nguôi ngoai cơn buồn vì nhớ người thân, nhớ quê hương nghèo nàn của tôi.
3- Ðến thành phố gió ở miền Bắc nước Mỹ vào đêm gió lạnh của mùa Thu. Gặp chồng, nghẹn ngào không thốt nên lời, hai con gặp bố, một phút ngỡ ngàng nhìn nhau, sau đó chúng quăng cả tay xách chạy đến ôm chầm lấy bố, nước mắt chảy dàn duạ, những giọt lệ sung sướng, hạnh phúc. Chúng xa bố từ lúc mấy tuổi đầu, gần mười một năm sau mới gặp lại, vì tình cha con nên đã nhận ra bố ngay. Sau những phút giây xúc động, nhìn quanh mới biết có gia đình cô em gái chồng tôi cùng đi đón. Sau khi hàn huyên một hồi, tất cả ra xe về nhà Trên đường về nhà, mọi người đều giữ im lặng, tôi và hai con còn mải ngắm thành phố về đêm: con đường xa lộ trải nhựa sạch sẽ, bóng láng dưới ánh đèn. Nhìn sang bên kia đường đèn xe hơi sáng choang , nhìn từ xa như là “rồng rắn “, nhìn xa tít mù chưa thấy bóng chiếc xe cuối cùng. Con tôi thốt lên những lời trầm trồ khen ngợi sự phồn thịnh của đất nước này. Mẹ con tôi đi từ ngạc nhiên này sang đến ngạc nhiên khác, mặc dù ở tỉnh từ nhỏ đã nhìn quen cảnh phồn vinh, nhưng nay tận mắt thấy cảnh giàu có, tân tiến của đất nước này, không khỏi bùi ngùi thương cho cảnh nghèo của quê hương mình.
Bước chân vào nhà, con trai tôi đã nói : nhà mình đẹp quá, toàn cửa kính và màn che bằng voan hai lớp, nhà lót thảm nữa, vậy mà bố viết thư về nói bố rất nghèo… chồng tôi chỉ mỉm cười và nói: sau này con sẽ biết rõ hơn về cuộc sống bên này.
4- Kỷ niệm nhớ mãi lúc mới tới đất Mỹ là ngày hôm sau, ra vườn thấy hoa dại màu vàng trên cỏ, con gái tôi cắt mang vào cắm trong ly nước, khen bên Mỹ hoa mọc cả ngoài đường, đẹp quá. Sau này mới biết là cỏ dại!
Trước khi chúng tôi đến, có trận tuyết rơi, nay ngừng và dưới nắng vàng rực rỡ, tuyết đọng trên mái nhà, trên cành cây trông giống như những giọt thủy tinh, óng ánh, đẹp vô cùng. Tưởng trời nắng sẽ ấm nên hai con tôi chạy uà ra sân nô đùa, nhưng không ngờ càng nắng thì lại càng lạnh nhiều. Nhìn những cây trơ cành trụi lá, thân cây đen thẫm như bị đốt cháy, chúng tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi phải chăng cháy rừng? vì mới sang, còn mang tâm trạng của người mới nhập cư nên đã không dám hỏi thăm chồng tôi hay người quen những điều xa lạ.
Ðến Mỹ được một tuần, chồng tôi chở đi khám sức khoẻ tổng quát, lúc này tôi đã hơi quen với giờ giấc nơi đây, ngủ được chút đỉnh. Trên đường đi thấy những ruộng trồng bắp bạt ngàn, nhìn không thấy cuối bờ, thấy họ đang dùng máy để thu hoạch. Sau mấy tiếng đồng hồ, trở về, thấy ruộng bắp đã trống trơn, thân cây chất thành từng đụn, bắp đã được chở đi rồi. Trên cánh đồng bắp không thấy bóng người nữa. Tôi rất ngạc nhiên và khâm phục sự tân tiến về cơ giới hoá của đất nước giàu có này. Trước đây đọc sách báo nói về tài trí của con người là: xẻ núi, lấp sông làm đường giao thông, nay tận mắt nhìn thấy cảnh này ở miền đất hứa, vô cùng cảm phục.
Ba mẹ con tôi sang tới Mỹ vào dịp gần cuối năm nên ngoài đường ở những nơi công cộng, shopping, công sở đều treo đèn kết hoa, tồi đến ánh đèn màu lấp lánh đủ mọi kiểu, mọi dạng. Thật sự làm tôi mở rộng tầm con mắt, tôi tính nhẩm với sự phí tổn đèn điện cho những đèn hoa ở ngoài đường cũng phí bao nhiêu tiền điện.Một nước văn minh, giàu có, người dân được hưởng nhiều tiện nghi, sung sướng quá, chả bù cho dân chúng đất nước tôi, thiếu thốn đủ mọi thứ!!!
Sau vài tuần lễ sinh sống nơi đây, mọi việc rồi cũng tạm thích nghi, đỡ bỡ ngỡ, hai con tôi cũng đã vào trường trung học, mỗi ngày chúng về đều kể cho tôi nghe những điều khác biệt với trường học ở quê nhà. Chẳng hạn, mỗi môn học lại đổi lớp, những ngày đầu chưa quen lớp, quen thầy, chúng chạy đổi lớp luôn vào trễ hơn các bạn, đôi khi bị xô lấn té nhào nữa. Học sinh có thể phát biểu, tranh luận với thầy, cô mà không bị coi là hỗn láo. Trường học bên này dạy đủ mọi môn kiến thức và còn dạy thêm những môn phụ như tập đánh máy, cách dùng computer … học xong trung học, học sinh có vốn liếng căn bản để vào đời.
Còn phần tôi ở nhà nghỉ ngơi sau ba tháng, tôi yêu cầu chồng đưa đi xin việc làm. Chồng tôi đưa đến văn phòng Ðông Dương, sau khi phỏng vấn, về nhà chờ kết quả, hai tuần sau đó tôi có việc làm. Bên này muốn đi làm thì phải biết lái xe, nếu không biết lái xe sẽ gặp trở ngại và lệ thuộc vào người khác. Tôi bây giờ không khác gì đứa trẻ đang tập bò, tập đi, tập ăn và tập nói!!!Tôi rất nhát, thấy xe cộ đông đúc là hoảng, mất bình tĩnh rồi. Ðành liều vậy, tôi thi học bằng lái trước, và mỗi cuối tuần chồng tôi dạy lái thực hành. Những tuần đầu, mỗi lần ngồi vào xe là chân tay tôi bủn rủn, cầm xâu chìa khoá muốn rớt, miệng lâm râm niệm Phật… Lúc lái ở ngoài đường, nhìn kính chiếu hậu thấy xe chạy sát sau lưng, tôi sợ quá, kêu ầm lên là xe sau sắp tông rồi! Chồng tôi nhiều phen gắt với tôi và nhắc nhìn xe phiá trước, đừng để phân tâm. Nhìn xe chạy ngược, chạy xuôi, nhanh vùn vụt, tôi bối rối vô cùng, có lần đang lái, nhìn thấy chiếc xe bên kia đường chạy ngược chiều, tôi có cảm tưởng xe sắp tông vào xe tôi, sợ quá, tôi bèn thắng lại ngay giữa đường, may phiá sau không có xe nào, nếu có xe chắc là rắc rối to, thật hú viá. Tôi nhớ có một lần, xe rẽ bên phải, ngay ngã tư, nhìn thấy phiá trước, ngược chiều có xe đi tới, tôi sợ tông họ nên cho xe leo lên lề đường ngay!!!! Sau mười giờ tập lái, tôi đi thi thử để rút kinh nghiệm. Vì thi thử nên tôi lái theo bài bản, chỉ chạy nhanh hơn năm miles là tối đa, nhìn kính chiếu hậu, ngoái cổ ra phiá sau lúc sang đường… trong lúc lái, tôi tự nhủ phải bình tĩnh, nhờ vậy trong suốt thời gian thi lái xe, ông thầy giám khảo người Mỹ hỏi han chuyện gì, tôi cũng trả lời “tỉnh bơ”và tinh thần thoải mái không bị căng thẳng nên lái rất tốt và kết quả là thi đậu ngaỵTrong khi chờ đợi chụp hình, làm bằng lái, tôi thở phào nhẹ nhõm và tự nhủ: thế là tôi cũng qua được cái ải lấy bằng lái xe trên đất Mỹ này, đó cũng là “cái bằng đầu tiên”của tôi trên quê hương thứ hai này. Nhờ nó tôi đã có phương tiện đi cày kiếm cơm phụ với chồng lo cho con cái ăn học.
Lúc mới vào làm, tôi gặp rất nhiều trở ngại vì ngôn ngữ, bà xếp Mỹ nói tôi hiểu đại khái, tôi nói bà ta chẳng hiểu mặc dù tôi dùng cả hai tay để diễn tả. Sau đó tôi yêu cầu bà ta viết ra giấy và tôi cũng viết những điều muốn nói, lối diễn đạt này có công hiệu, tôi và bà ta đã hiểu nhau hơn. Nghề dạy nghề, sau ít lâu làm việc, tôi không cần viết nữa mà còn có thể nói với giọng bồi ngọng nghịu, hơn nữa làm thợ thì đâu cần phải nói nhiều. Năm đầu tiên trên đất Mỹ, cả nhà đi xem pháo bông nhân ngày lễ Ðộc Lập, hôm sau vào làm, bà xếp hỏi thăm ngày lễ có vui và đi chơi đâu không, tôi khoe là đi dự tiệc ở nhà bạn chồng tôi, chiều tối đi xem pháo bông, nhưng tôi quên mất chữ pháo bông nói như thế nào rồi, tôi bèn nói ẩu là xem ‘ Fire Flower”, bà ta cười và sửa lại cho tôi, kỷ niệm này khó quên được. Và còn rất nhiều kỷ niệm, những khó khăn trong bước đầu sinh sống trên xứ cờ hoa này mà tôi và hai con đã phải đương đầu, nhưng rồi với thời gian, dần dần mọi chuyện cũng ổn định.
Người bạn đầu tiên trên đất Mỹ này là Hồng Loan, chị và tôi có nhiều cái Cùng lắm. Cái thứ nhất là hai người cùng nghề nghiệp, khi còn ở VN, cái thứ hai là cùng chờ chồng bảo lãnh suốt hơn mười năm mới đưa các con qua đoàn tụ, cái thứ ba là sang cùng năm, mẹ con chị sang trước chin tháng, cái chót là ở cùng xóm. Sáng ngày đầu tiên trên quê hương thứ hai này, Hồng Loan sang thăm chúng tôi, thấy chị lái xe, tôi thầm phục sao chị giỏi thế, đường phố xe cộ tấp nập mà chị tự lái đi làm xa nữa!!! Ngoài đường lạnh căm mà chị đi lại thong thả, không thấy co ro vì lạnh …Hồng Loan và tôi rất thân, chúng tôi chia xẻ những vui, buồn, lo lắng trong những năm tháng ở gần nhau, nhất là băn khoăn cho con cái, mong sao chúng học hành được, có một nghề nghiệp để lo thân. Nay ba con của Hồng Loan đều thành đạt hết, mừng cho bạn tôi. Các con tôi cũng đã trưởng thành và có nghề nghiệp để lo cho thân, tôi rất vui mừng.
Người bạn thứ hai trên xứ Mỹ là Hà, em chồng tôi. Cô sang đây từ lâu nên rành rẽ mọi vấn đề. Cô đã đưa hai con tôi đến trường học để thi xếp lớp, chở ba mẹ con tôi đi shopping sắm những thứ cần dùng, đi chợ và chỉ cách chế biến thức ăn theo kiểu VN…Thường xuyên cô Hà ghé thăm chúng tôi và nhắc các con tôi những điều cần biết trên đất nước này: mua đồ đừng bỏ vào túi xách, lỡ quên không lấy ra trả tiền sẽ có rắc rối, luôn xếp hàng theo thứ tự trước, sau khi vào những nơi công cộng. Những đồ dùng mua rồi nhưng vẫn còn giữ biên nhận, chưa cắt mạc, không làm hư hỏng vẫn có thể trả lại…và còn giúp đỡ các con tôi nhiều điều nữa.
5-- Hôm nay ngồi viết những dòng chữ này, tôi vô cùng cảm ơn quê hương thứ hai đã cho gia đình tôi cơ hội để đi làm, đi học. Ðất nước này với bất cứ lứa tuổi nào cũng có thể đi làm và đi học đươc, nếu không có tiền đóng học thì chính phủ cho vay mượn, miễn là quyết tâm học hành thì sẽ đạt được điều mong muốn. Riêng tôi, trước ngày sang Mỹ cứ nghĩ rằng với sức khoẻ yếu, tiếng Anh, tiếng u chả có bao nhiêu thì làm sao đi làm được? Nhưng không như tôi nghĩ, nếu siêng năng, chăm chỉ, không ngại vất vả, chấp nhận làm mọi việc thì lúc nào cũng có việc làm, “người chê việc chứ việc không chê người”. Thật ra hạnh phúc trong tầm tay mình, bằng lòng với những gì mình đang có, sẽ cảm thấy vui, thanh thản. Sau mười sáu năm sinh sống trên đất nước này, tôi đã có tất cả những gì mong muốn, đặc biệt có tự do. Nay tới tuổi nghỉ hưu sớm, tôi tận hưởng những ngày tháng vui bên chồng, bên con cháu trong tuổi xế chiều này.
Tháng 2 năm 2007
Hà Nội, Huế và Sài Gòn, ba thành phố của ba miền, ba địa danh gợi lên trong lòng mỗi chúng ta nhiều cảm nghĩ và ấn tượng. Ðà Nẵng không có được cái vinh dự đó, đó là điều hiển nhiên; nhưng không phải vì thế vai trò lịch sử của Ðà Nẵng trong sự thăng trầm của đất nước Việt-Nam lại bị lãng quên. Ðó là điều tác giả Võ Văn Dật muốn nhắc nhở chúng ta trong Lịch Sử Ðà Nẵng*. Ðể làm công việc nhắc nhở đó, tác giả thu thập tất cả tài liệu liên quan đến Ðà Nẵng -- nhưng tài liệu về thành phố này rất hiếm hoi và tản mác, có lẽ đó là hậu quả của việc bị lãng quên -- và sắp xếp lại cho có hệ thống để người đọc có một cái nhìn tổng quan và trung thực về lịch sử của thành phố này.
I
Tốt nghiệp Phân Khoa Sử, Ðại Học Huế, trước 1975, tác giả là một sử gia chuyên nghiệp. Huế Của Một Thời (2006) và Vua Khải Ðịnh (2006) là hai công trình nối tiếp Lịch Sử Ðà Nẵng, phản ảnh sự ham chuộng và căn bản sử học của tác giả; và căn bản này được thể hiện rõ ràng qua việc sưu tầm, giải thích và chọn lựa sử liệu liên quan đến Ðà Nẵng. Tác giả dùng cả ba nguồn sử liệu (mà các sử gia thường dùng) để hoàn thành Lịch Sử Ðà Nẵng: tài liệu viết (như sách báo, tờ trình hành chánh…), phỏng vấn các nhân chứng lịch sử, và nghiên cứu các chứng tích lịch sử.
Nguồn sử liệu thứ nhất chiếm vai trò trọng yếu, được dùng cho cả cuốn sách và bao gồm tài liệu liên quan đến khung cảnh chung đất nước Việt-Nam (như Ðại Nam Nhất Thống Chí, Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Ðôn, Ðạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân ở Việt-Nam của Cao Huy Thuần) và tài liệu liên quan đặc biệt đến Ðà Nẵng (như Campagne Franco-Espagnole du Centre Annam: Prise de Tourane của A. Saller, Từ Faifo-Tourane đến Hon Cohé-Nhatrang của Thái Văn kiểm). Tác giả tỏ ra rất cẩn trọng trong việc dùng sử liệu. Qua các tài liệu dẫn chứng trong các chủ đề từng chương hay từng mục, độc giả có thể cảm nhận được rằng các câu hỏi phẩm định sử liệu (tài liệu được viết ra thời nào, tại đâu, ai viết, với mục đích gì, căn cứ vào nguồn xứ nào, giá trị nội tại như thế nào) được tác giả nêu lên cẩn thận. Trong suốt tác phẩm không thấy tác giả nêu lên một nghi vấn nào về một sử liệu quan trọng hay đề nghị một lối giải thích mới cho một sự kiện lịch sử nào. Việc này có thể giải thích bằng lý do là lịch sử Ðà Nẵng không liên quan nhiều đến những nghi vấn hay những vấn đề cần bàn cải từ nhiều quan điểm khác nhau (như sự suy tàn nước Chiêm Thành chẳng hạn). Ngoài ra, tuy dùng nhiều nguuồn tài liệu khác nhau nhưng tác giả chỉ chú trọng đến các sự kiện biên niên hay các yếu tố địa lý thiên nhiên; các sự kiện và yếu tố này thường không đặt ra nhiều nghi vấn hay luận đề cần bàn giải.
Nguồn sử liệu thứ hai và thứ ba chỉ được dùng trong một chương ngắn, Phần Ðọc Thêm; nói về lăng Quan Lớn Bảo hộ, sinh Nguyễn tử Trần và đảo Cô. Ðảo Cô là một đảo nhỏ gần núi Sơn Trà. Vua Gia Long cho đắp một con đường đá nối liền đảo Cô với núi Sơn Trà để tiện việc đi lại và canh phòng. Khi Pháp chiếm Ðà Nẵng, đặt tên đảo này là l' Îlot de l' Observation. Năm 1965 công binh Mỹ lấp cái vịnh nhỏ làm cho đảo Cô mất dấu tích. Tác giả tìm hiểu và định vị trí của đảo này bằng cách quan sát, nghiên cứu bản đồ và hỏi han các vị bô lão trong làng An Hải.
II
Lịch Sử Ðà Nẵng được giới hạn trong giai đoạn 1306 đến 1975, sắp xếp theo cuộc Nam Tiến và sự thăng trầm của đất nước Việt-Nam và bao gồm 13 chương. Mười ba chương này mô tả Ðà Nẵng trong thời bình minh (Chương I, II); Ðà Nẵng qua các giai đọan phát triển dưới thời các chúa Nguyễn và các vua đầu nhà Nguyễn (Chương III - VII); Ðà Nẵng và lịch sử vong quốc (Chương VIII - X); Ðà Nẵng trong 62 năm Pháp thuộc (Chương XI, XII); và Ðà Nẵng từ 1950 đến 1975 (Chương XIII).
Nhìn một cách tổng quát, ưu điểm thiên nhiên của Ðà Nẵng là Sông Hàn, Vịnh Ðà Nẵng và bán đảo Sơn Trà; và thành phố với sông, núi và biển này mang ba tên gọi khác nhau, Hàn, Tourane và Ðà Nẵng, mỗi tên đánh dấu một thời kỳ lịch sử riêng biệt. Ðà Nẵng là một phần trong món quà sính lễ đắc giá vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng vua Trần Nhân Tông trong năm 1305 để cưới Công chúa Huyền Trân; quà sính lễ đó là hai Châu Ô và Châu Lý và Ðà Nẵng nằm trong Châu Lý.
Ðà Nẵng trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn và Triều Nguyễn chứng kiến nhiều biến cố lớn trong lịch sử phân tranh đất nước. Ðà Nẵng là địa chiến đưa đến sự khốn cùng của Chúa Nguyễn, một mặt bị quân chúa Trịnh tấn công từ phía bắc, một mặc bị quân Tây Sơn công hảm từ phía nam. Ðà Nẵng là mục tiêu then chốt của thủy quân Nguyễn Phúc Ánh. Nương theo gió mùa, năm 1797 Nguyễn Phúc Ánh đem hạm đội hơn 100 chiến thuyền đủ loại gồm cả tàu bọc đồng theo kiểu Tây phương với đại bác cỡ lớn do các sĩ quan Pháp chỉ huy, tấn công Ðà Nẵng. Nguyễn Phúc Ánh chiến thắng lớn và chiến thắng này mở đầu cho việc uy hiếp kinh đô Phú Xuân và sự suy sụp của Tây Sơn. Ðà Nẵng là nơi đầu tiên giáo sĩ Tây phương đến truyền đạo Thiên Chúa; năm 1615 nhà thờ nơi đây đã có cả trăm tín đồ. Ðà Nẵng là nơi tàu bè Tây phương thường lui tới với nhiều ý đồ khác nhau. Sự việc này là mối quan tâm lớn của các vị vua đầu nhà Nguyễn, và sự quan tâm đó được thể hiện bằng chính sách bế môn tỏa cảng và nhiều biện pháp hành chánh và quân sự, nhằm tăng cường khả năng phòng thủ của Ðà Nẵng và kinh đô Huế.
Ðà Nẵng trong bước đầu của lịch sử vong quốc cũng là giai đọan đen tối nhất trong lịch sử của thành phố này. Giai đọan này bắt đầu bằng hai cuộc tấn công mở màn của liên quân Pháp-Tây Ban Nha trong thánh 1 năm 1858 (nhắm vào đồn An Hải và các pháo đài phòng hải chung quanh) và tháng 2 năm 1858 (nhắm vào thành Ðiện Hải -- khu collège Français trong thời trước 1795). Liên quân Pháp-Tây Ban Nha toàn thắng và họ phong tỏa Vịnh Ðà Nẵng và sông Hàn. Trong năm 1859 sau ba lần tấn công vào thành Ðiện Hải, Hải Châu, Thạc Gián, Liên Trì và đồn Sơn Sản gần Liên Chiểu liên để án ngữ đường ra Huế, quân Pháp đề nghị hòa đàm và triệt thoái để vào Nam và ra Bắc. Từ đó Ðà Nẵng tuy không bị lửa đạn của Pháp nhưng luôn luôn dính liền trong các đòi hỏi của Pháp và sự nhượng bộ của triều đình Huế khi Biên Hòa, Gia Ðịnh và Ðịnh Tường lọt vào tay quân Pháp, khi Hà Nội thất thủ và khi Thuận An bị chiếm đóng.
Tài liệu về việc Pháp tiến hành cuộc xâm lược Việt-Nam rất dồi dào và dễ tìm; ưu điểm chính của tác giả trong phần này là kiến thức uyên bát và khả năng trình bày sự kiện có thứ lớp với lời giảng giải các liên hệ nhân quả hợp lý. Với lối trình bày đó, sự việc này đưa đến sự việc khác, người đọc bị lôi cuốn theo sự tất yếu của giòng lịch sử với nỗi đau xót và thắc mắc trong lòng. Tại sao phải bế môn tỏa cảng? Tại sao không mở rộng Ðà Nẵng và các hải cảng khác để đón nhận nhiều nước Tây phương (để các nước này dòm ngó lẫn nhau, nghi kỵ lẫn nhau và kiềm chế lẫn nhau) và canh tân như Nhật Bản dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng? Nhật may mắn nhờ trận cuồng phong nên không bị quân đoàn quân bách chiến bách thắng Mông Cổ xâm chiếm, nhưng Việt-Nam đã hai lần đánh bại đoàn quân này. Nhưng tại sao đất nước bây giờ phải chịu nỗi nhục vong quốc. Kẻ chiến thắng cứ huênh hoang đòi hỏi và kẻ thua trận cứ phải cúi đầu nhượng bộ; và đòi hỏi này đến đòi hỏi khác, nhượng bộ này đến nhượng bộ khác; người đọc phải gấp sách tạm thời ngưng đọc hay phải hớp một hớp nước lạnh cho bớt đau lòng.
Trong 62 năm Pháp thuộc, Ðà Nẵng (cũng như Hà Nội và Hải Phòng) là nhượng địa của Pháp; người Pháp có toàn quyền làm những gì họ muốn như tổ chức và phát triển thành phố. Cơ cấu hành chánh, đương lối phát triển hạ tầng cơ sở và sự khai thác kinh tế của thành phố do người Pháp thực hiện được trình bày chi tiết theo tài liệu hành chánh của chính phủ bảo hộ. Tuy vậy, phần này có thể được trình bày sáng tỏ hơn nếu tác giả đặt tất cả công việc trên trong khung cảnh chung của chính sách thuộc địa Pháp. Theo chính sách này, tất cả đầu tư nhân sự (như giáo dục) chỉ nhằm đào tạo một lớp người với kiến thức tối thiểu (trình độ tiểu học) và một thái độ cúi đầu vâng dạ để phục vụ bộ máy thuộc địa; tất cả đầu tư hạ tầng cơ sở (như đường sá, cầu cống) chỉ nhằm khai thác tài nguyên địa phương để làm giàu cho mẫu quốc; và tất cả sinh hoạt tôn giáo chỉ nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của người Pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đạo Thiên Chúa. Vì không được quy chiếu về chính sách chung đó nên tất cả sự trình bày cơ cấu chính quyền thành phố, việc xây dựng hải cảng, mở đường sắt, thiết lập phòng thương mại…đều thiếu chiều sâu, bề ngoài (như bức hình mặt tiền của Phòng Thương Mại), không nói lên được mục đích thực sự của những thực hiện đó (mục đích này khác hẳn với mục đích công bố của chính phủ bảo hộ) và sự liên quan giữa những mục đích thực sự đó với đời sống của người dân bị trị.
Ðà Nẵng trong giai đoạn 1950 - 1975 bắt đầu bằng việc người Pháp trao trả Ðà Nẵng lại cho Việt-Nam vào ngày 3 tháng 1 năm 1950 và từ ngày đó, thành phố này phát triển theo một chiều hướng hoàn toàn mới mẽ trong mọi lãnh vực hành chánh, kinh tế (thương cảng, phi trường, đường sắt), giáo dục, văn hóa … Ðà Nẵng lại thêm một lần đổi mới vào tháng 3 năm 1965 khi thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên bãi biển Nam-Ô để bắt đầu cho việc phát triển quy mô phi trường, cảng Hàn và cảng Tiên Sa. Qua sự trình bày với nhiều chi tiết địa phương chi li, người đọc nhận ngay ra rằng tác giả là một nhân chứng lịch sử, viết từ cuộc sống với những điều tác giả thấy, nghe và suy tưởng. Tuy vậy, phần trình bày này có thể dồi dào và sâu sắc hơn nếu tác giả để ý đến hai sự kiện có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển Ðà Nẵng trong giai đoạn này. Thứ nhất, sau hiệp định Genève, vì lý do địa lý, kinh tế và chiến lược, Ðà Nẵng trở nên thành phố quan trọng nhất của Miền Trung; tuy vậy, chính phủ Ngô Ðình Diệm vẫn gắng gượng dành địa vị đó cho cố đô Huế. Thứ hai, tuy gặp khó khăn vì chiến tranh, chương trình phát triển dài hạn Ðà Nẵng rập đúng theo kế họach Phát Triển Hậu Chiến của chính phủ Việt-Nam Cọng Hòa. Theo đó, cảng Ðà Nẵng sẽ là một thương cảng với sự quân bình giữa nhập cảng và xuất cảng (chứ không phải là một nhập khẩu chú trọng nhiều đến sinh họat nhập cảng) và việc xuất cảng sẽ được thực hiện với các dự án phát triển công kỹ nghệ trong những vùng phía tây của thành phố (như khu An Hòa Nông Sơn, khu kỹ nghệ Hòa Phát, Liên Chiểu). Ngoài ra, Ðà Nẵng sẽ là hướng đến mục tiêu phát triển chung của các nước Ðông Nam Á; theo đó, Ðà Nẵng sẽ là xuất nhập khẩu của Lào và và Cambot.
III
Ðà Nẵng không là gì cả nếu không có Vịnh Ðà Nẵng và sông Hàn. Vịnh Ðà Nẵng là một phần của biển Ðông bị ôm choàng bởi một nhánh của của dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển Ðông. Nhánh núi này như một cánh tay vươn ra để dành biển rồi chìm sâu xuống biển để tạo một cửa rộng cho thuyền bè ra vào và nổi lên lại làm thành núi Sơn Trà. Núi Sơn Trà là bức bình phong chắn gió cho thành phố và là địa phận của hải cảng Sơn Trà, một hải cảng thiên nhiên, thuận tiện cho tàu viễn dương với trọng tải lớn (33,000 tấn) và du thuyền lui tới. Sông Hàn đổ vào Vịnh Ðà Nẵng và và tạo thành một cảng thứ hai tiếp đón các tàu duyên hải (trọng tải 5,000 tấn) ngay tại trung tâm thành phố. Biển, sông và hải cảng là ưu điểm thiên nhiên của Ðà Nẵng. Với các ưu điểm đó, tác giả kết luận: “Nếu được khai thác đúng mức, Ðà Nẵng sẽ có tầm vóc quốc tế, mà sự đóng góp của nó sẽ vượt biên giới quốc gia để đẩy tới tận miền Trung và Nam Lào cùng Ðông Bắc Thái Lan” (trang 376). Ðó là một ước mơ.
Lịch Sử Ðà Nẵng được viết xong trong năm 1974 (tại Ðà Nẵng?) nhưng mãi đến năm 2007 (nghĩa là hơn 33 năm sau) mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Trong 33 năm đó tác giả đã sửa chữa nhiều và bổ sung cho tác phẩm thêm hoàn hảo; tuy vậy tác giả vẫn giữ nguyên kết luận nêu trên, “Nếu được khai thác đúng mức…”; đó cũng chỉ là một ước mơ, một ước mơ lớn.
Ðà Nẵng trong thời Pháp thuộc (1888 - 1950) và Ðà Nẵng trong thời đất nước chia đôi (1954-1975) với chiến tranh tàn phá phải khác với Ðà Nẵng trong thời kỳ “thống nhất” và “thanh bình” sau năm 1975. Nhiều người nghĩ rằng lịch sử luôn luôn thụ động vì chỉ quan tâm với những sự kiện quá khứ, cứng chắc, chết khô, và chẳng bao giờ thay đổi. Sự thực không phải vậy, lịch sử rất năng động; sự kiện quá khứ (như nhượng quyền khai thác núi Tiên Sa mới đây cho một công ty ngoại quốc) thường đòi hỏi một cách nhìn mới, một lối giải thích mới và những cuộc đối thoại thường xuyên giữa quá khứ và hiện tại; hiện tại đây là hoàn cảnh “thống nhất” và “thanh bình” của đất nước. Ngoài ra, lịch sử còn có nghĩa là làm nên lịch sử -- making history, fabrication de l'histoire. Trong hoàn cảnh “thống nhất”, “thanh bình” và “đỉnh cao trí tuệ” của đất nước và với điều kiện thiên nhiên thuận lợi của Ðà Nẵng, Ðà Nẵng chắc sẽ làm nên lịch sử cho chính mình và cả đất nước? Trong một phần ba thế kỷ với phương tiện sưu tầm hữu hiệu, tài liệu dồi dào và cố gắng bổ sung cho tác phẩm hoàn hảo, tại sao tác giả không viết gì về Ðà Nẵng sau 1975? Tác giả đã thấy gì, nghe gì và biết gi? Sự thật là Ðà Nẵng đã làm nên lịch sử …, nhưng là một thứ lịch sử quá xa với điều tác giả ước mơ.
***
Lịch Sử Ðà Nẵng là một cuốn sách hay, lập luận hợp lý, sưu tầm công phu, trình bày trang nhã với nhiều hình ảnh và bản đồ đáng ghi nhớ và cần biết. Ðọc Lịch Sử Ðà Nẵng để tìm lại chính mình nơi quê hương trong những ngày tháng đã qua nếu độc giả sinh ra và lớn lên trong vùng sông Hàn, biển Mỹ Khê, hay bán đảo Sơn Trà; đọc Lịch Sử Ðà Nẵng để thấm nỗi đau vong quốc trong thời Pháp thuộc; đọc Lịch Sử Ðà Nẵng để thấy vai trò của tự do và giáo dục nhân bản trong sự phát triển thành phố này trong giai đoạn 1955 - 1975; và đọc Lịch Sử Ðà Nẵng để ưu tư về tương lai của thành phố này và miền Trường Sơn khi ưu điểm thiên nhiên sông, biển và núi chỉ được dùng để thu hút du khách đến vui chơi, hưởng thụ, cờ bạc.
Raleigh, North Carolina 11/2007
_________________
(*) Lịch Sử Ðà Nẵng dày 429 trang do nhà Nam Việt (San Jose, CA) xuất bản năm 2007, tác giả giữ bản quyền, giá bán 18 Mỹ kim. Ðộc giả có thể liên lạc với tác giả qua huonganvo@yahoọcom hoặc tại số 1464 Sunbeam Circle, San Jose, CA 95122.
Anh Yêu Dấu,
Những giận hờn cứ mãi chồng chất lên nhau, tại sao vậy anh ? Có phải chăng chúng ta không ở gần nhau, vì thế cho nên những hiểu lầm, nghi vấn đã làm cho anh ưu phiền, những trách móc " Em vô tâm ", bực nhọc đã cứ thế mà chia cách tình yêu chúng ta ? Em buồn, buồn thật nhiều, anh ơi, làm sao cho anh thấu hiểu tình em ? Những bức thư tình, những bài thơ yêu, được viết ra từ những nhịp tim của nhau vẫn còn đây, thì làm sao có thể phai nhạt một sớm một chiều được ?
Anh có biết nỗi buồn vương man mác
Những cơn mưa rào rạt kéo nhau về
Cho ngày dài từng nỗi nhớ lê thê
Làm rét mướt buồng tim yêu bé bỏng
Anh có biết, tình anh là nhựa sống
Nuôi tình em sưởi ấm trái tim côi
Cho đêm đêm em xao xuyến bồi hồi
Vì chờ đợi trong nhịp đời đang vội
Anh có biết, con tim em hấp hối
Bởi nhớ nhung hành hạ những đêm trường
Ðể nhớ về nơi ấy một người thương
Ân tình đó vẫn còn trên môi thắm
-Dúng thế đấy anh, những ân tình vẫn còn mãi nơi em, và sẽ mãi mãi trong tim em. Hãy cho nhau những vị tha, những yêu thương, vì cuộc đời này còn có bao nhiêu ngày bên nhau nữa ? Yêu thương nhau không hết, cớ sao lại dỗi hờn làm đau lòng nhau ? Em xin anh, xin anh những nụ cười, những nụ hôn, những âu yếm của thuở ban đầu mình đến với nhau .
Thuở ấy yêu nhau chẳng ngại ngần
Như làn gió mát choàng quanh thân
Tình ta đẹp lắm anh có biết
Vạn dặm xa xôi, vẫn thấy gần
Em vẫn chờ trông một bến đời
Cùng anh đây đó mộng ra khơi
Ðể ngày thôi hết những trống vắng
Hạnh phúc ta vui tình tuyệt vời …..
Viết Cho Giao Mùa
June 2008
-DHH
~~~/~~((@

BBT Giao Muà trân trọng giới thiệu truyện dài Hương Chanh của VÕ THỊ ÐIỀM ÐẠM.
Ấn phí: US20$ do nhà sách Tự Lực tổng phát hành.
Tại quận Cam, quý vị có thể mua tại nhà sách Văn Bút, Văn Khoa khu chợ Phước Lộc Thọ hay tòa soạn tuần báo Sàigòn Nhỏ/tạp chí Tân Văn.
Ở Úc châu: LM Vietnamese Books – Victoria.
Muốn có chữ ký của tác giả và sách gởi tận nhà, xin liên lạc với: diemvost@yahoo.no hay: phanbathuyduong@yahoo.com
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 74 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà