Số 76

Ngày 1 tháng 8 năm 2008

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua@hotmail.com


Thư Ngỏ



Tháng Tám Nhiều Mây

Tháng 8 trời kéo mây thật nhiều. Những cụm mây trắng nõn như bông, như tuyết thả dài trên nên xanh thẳm, trông thật sáng và vui. Sáng nay tôi chợt nhận ra như thế khi bước ra vườn hít thở.

Dõi theo một cụm mây lững thững và nở lớn cao dần, tôi ngớ ngẩn tự hỏi đâu là đỉnh cao nhất của vũ trụ. Rồi mây chợt tỏa lan, thay hình đổi dạng nhiều đợt, khi thành cái nấm khổng lồ, lúc lại giống khói của quả bom vừa phát nổ.

Tôi miên man nhớ lời xưa có nói : mây ví như bức tranh vân cẩu và đột nhiên nhen lên một câu hỏi : nơi nào là chốn quê nhà. Ở đây tôi còn hồn nhiên nhìn mây tháng 8 để hỏi vớ vẩn lung tung. Liệu bên nhà có ai nhìn mây để hỏi lẩn thẩn như tôi.

Hay là cảnh sống lao đao trước cơm gạo áo tiền, chẳng ai còn hơi sức và thì giờ để nhớ đến những điều xa xỉ đó. Tháng 7, đọc lời ngỏ của HBL thở than về vật giá và cuộc sống, tôi nghĩ khó có ngay một chiếc đũa thần của bà tiên giúp cho những người khốn khó thở phào khỏi mọi lo toan ngày bữa.

Buồn sao cho đất nước quê hương. Mới đầu năm ai cũng hớn hở khi nghe nhà nước loan tin năm nay thu nhập bình quân đầu người tăng 8 đến 9%, nghe vô cùng phấn khởi. Vậy rồi nay đã trải qua một lần điều chỉnh, chỉ khiêm nhường còn khoảng 7,5% thôi, nhưng liệu đã vững chưa ?

Sao mảnh đất thân yêu bé tẹo của quê hương ta với hơn 80 triệu dân mà luôn lận đà lận đận mãi thế ? Trong khi ta cứ rêu rao khen “ rừng vàng biển bạc “, lại có thêm “ vàng đen “ nữa kia mà. Hòa bình cũng 33 năm rồi, có mỗi cái xưởng Dung Quất ì à ì ạch làm hoài vẫn chưa xong.

Tiền viện trợ cũng nhiều, tiền đầu tư cũng lắm, quỹ này quỹ kia tăng cho vay nợ ưu tiên, vậy mà người dân vẫn chạy bở hơi tai với cái bụng không no, tấm áo không ấm ! Có giống nhau chăng giữa những cụm mây vân cẩu trên bầu trời tháng 8 và cuộc đời vá đụp của lương dân ?

Thanh Sơn
Ban Biên Tập Giao Muà


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Hoa Nhân Bản ______Vĩnh Nhất-Tâm
2. Dấu Tích Ngọt Tình ______thylanthảo
3. phần thơ trích ______Phan Thị Ngôn Ngữ
4. thơ m.loanhoasử ______m.loanhoasử
5. Từ Ðâu Tôi Buồn ______jacaranda
6. Ga Chiều ______Hàn Thiên Lương
7. Anh Viết Cho Em ______Triều Phong Ðặng Ðức Bích
8. Chị Em ______ Quên
9. Ngẫn Ngơ ______Sông Cửu
10. Thôi ______Hoàng Yến.
11. Em Làm Thi Sĩ ______Nguyễn Thế Hoàng
12. Sài Gòn Bây Giờ Mùa Mưa ______Du Yên
13. Theo Em Trên Lối Về ______Uyên Phương Minh Nguyệt
14. Ðợi ______ Phan Tưởng Niệm
15. Hồi Tưởng Học Trò Lớn Tuổi ______Tinh Hoa - Lê Trọng Dũng
16. Ðêm Buồn Gác Vắng ______Hà Khánh Phương
17. Hoàng Hoa ______Nguyễn Hải-Bình
18. Ðợi Tình Giữa Khuya ______Ðông Hòa
19. Vạt Nắng Ngoài Hiên ______Hồ Duy Hạ
20. Em Ði Rồi ______Tôn Thất Phú Sĩ
21. Nợ Nhau ______Kim Thành
22. Lục Bát Thượng Du ______Cung Trầm Tưởng
23. Chiều Thăm Nghiã Trang ______Trần Hoan Trinh
24. Xem Bói ______Vành Khuyên
25. Ðoản Thi - Nói cùng Dòng Sông Nhỏ ______Khóc_Cười
26. Tình Khúc Mênh Mang ______Từ Tú Trinh
27. Núi Non ______Ái Ưu Du
28. Dang Dở ______Vân Hà
29. Hai Lối Thu Qua ______Mynh Hứa

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ) _______ Ðông Hoà
2. Bờ Lau Cát Lở 33 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành
3.Bản Ðộc Tấu Cuối Cùng (tiếp theo và hết) ___________ Ðinh Lâm Thanh
4.Chập Chùng Bóng Núi 24(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn
5.Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên
6.Phan Thị Ngôn Ngữ ___________ ChuVươngmiện
7.thiên hạ đệ nhất ___________ M.loanhoasử
8.Một Chút Xưa, Một Chút Nhớ ___________ Huân Long
9.Học Cao Mà Chưa Thấy Rộng. ___________ Sông Cửu
10.Một Thoáng Hương Xưa ___________ Nguyễn Thế Hoàng
11.Theo Ðóm Ăn Tàn ___________ Ðinh.sarây
12.Khoảnh Khắc Hạnh Phúc ___________ Hà Khánh Phương
13.Paris Lần Ðầu Gặp Gở ___________ Trần Thành Mỹ
14.Nhung Hồng Giữa Anh Và Em ___________ Ái Ưu Du
15.Con Nít Khóc ___________ Hoa Bằng Lăng
16.Giả - Thật ___________ Vành Khuyên

III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Sách Mới: Một Ðời Xót Xa _______ Giao Muà

V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Hoa Nhân Bản 
 
 
Ta cứ thấy thời gian không thèm đợi
Mà không gian chẳng thu hẹp chút nào
Biết bao giờ hay chỉ sống chiêm bao?
Vận mệnh nước đang "Ngàn Năm" (*) tái diễn?

Thuyền đấu tranh mênh mông chưa thấy bến
Sóng nhấp nhô, thuyền xuôi ngược chưa về
Nửa cuộc đời ngụp lặn với nhiêu khê
Ðã chôn chặt đời lưu vong chốn ấy.

Nỗi chua xót hạt máu thơ rỉ mãi 
Vẫn sá gì hơn nửa kíếp lưu vong
Hãy tràn ra cho khắp cả ruộng đồng 
Bón cây cỏ nở ngàn hoa-nhân-bản.

24.05.08

    		
Vĩnh Nhất-Tâm   
Mục Lục


2. Dấu Tích Ngọt Tình ( Ngày xưa Lý Thị ) Ðá vẫn yên nằm vết thật xưa Bụi đời rửa sạch bởi giông mưa Ở trong kỷ niệm thời thơ trẻ Tìm chút hương yêu- gió lạnh lùa… Em vuốt bàn tay- ngón thật thon Mười năm im tiếng vó câu dòn Nhìn xa – bỡ ngỡ đôi mi chớp Nắng tháng tư về- cỏ héo hon Thoáng nụ hôn đầu- môi nở hoa Vòng tay thật ấm trước hiên nhà Em run rẩy đón hương kỳ mộng Mắt chớp mờ yêu dấu thiết tha… Ta ngửa bàn tay – im tóc mây Chiều về thật chậm- nắng vương đầy Ngọt ngào hơi thở- đôi môi ấm Tình hẹn trao rồi- men thật say Bước về đá vẫn còn nguyên vết Lối cỏ in mờ dáng năm xưa Tháng tư đổ lửa hoen mờ lệ Thì trách gì em chuyện gió mưa!! Ðêm thật êm, trăng ý gợi sầu Thời gian, chữ hẹn vút qua mau Thuyền xưa nay đã xa rồi bến Kỷ niệm dường như vẫn ngọt ngào… thylanthảo
Mục Lục


3. phần thơ trích tháng sáu tình yêu ơi tháng Sáu .Cúc thương em mà Cúc nở anh thương em cứ nói thiệt là thương từ hai ta chung chịu nỗi đoạn trường nhìn Cúc nở thấy tình thêm lãng mạn nắng thương em , Nắng hanh vàng tơ lụa đường về em Hoa Nắng rụng đầy sân từ dắt nhau đi giữa cuộc phong trần nắng hong sợi tình yêu thơm lụa nõn mưa thương em , Mưa trời tơ phiến mỏng giữ tình anh trên mỗi bước đi , về từ tháng , năm hai đứa lạc trời quê Mưa níu lại cho nhau từng nỗi nhớ gió thương em , Gió nhẹ vờn suối tóc hương hoa Chanh còn giữ tới bây giờ từ núi sông ngàn dặm xa cách trở gió vỗ về ru lặng nỗi đau chung thagn sáu . Ngày Xưa ...xa biệt nghìn trùng chỉ còn lại hương tìnhnyêu thủa đó anh ghi vội trong thơ – tình – giấy – nõn em giữ đumdừng để lạc trời xa từ xa gặp lại người bạn mười năm giờ gặp lại muối tiêu đã mặn chát mái đầu chân chim hằn dấu đầy khuôn mặt da mồi trổ ngón đốm bàn tay mười năm không ngắn không dài lắm mười năm cũng đủ gọi : Ngày xưa! đủ để phong sương đời ly tán đủ để vần xoay chuyện nước mây hồi đó tụi mình còn trẻ chán xanh râu mượt tóc chưa phong trần tiếng cườic òn ngất trời cao ngạo giọng còn hào sảng tuổi thanh xuân mười năm rượt đuiổi theo cơm áo giờ đây gặp lại thảm vô ngần ngó nhau muốn nói mà khôngnoí muốn buồn chẳng biết buồn sao đây thôi thì cứ để mười năm lại coi như tiêu phí chút đời mình một tíng cười chăng ? Cho thoải mái rồi ra còn tiếp cuộc mưu sinh ... [chiều qua phố gió 11/2000] chỉ là giấc mơ thôi mong rằng là giấc mơ thôi chỉ là mơ , chỉ giấc mơ thôi mà! “...mai mốt đây Thơ theo giòng , nhập tịch nửa lai căng . nửa mất gốc . đáng buồn! mấy tay nhà thơ hết đường nhúc nhích khổ vô vùng khi hoài niệm cố hương râu tóc giờ xanh rồi đây bạc trốc đường này đi , mai nằm xuống . Nàm lỳ cái gì đây mà tre tàn măng mọc! măng mọc đất người tre lớn ra chi ? ra cái giống cây nửa trte nửa trúc gốc gầy nhom thân ngọn mập thù lù cành lá xum xuê giành nhau chen chúc giữ không xong e trốc gốc , lạc nguồn@ mười năm thôi !Hào phóng chút , hai mươi năm anh làm Thơ , hỏi còn ai thẩm thấu ! lớp đồng thời đã vùi thây , mọc nấm lớp trẻ đang lên .Ðọc hả còn lâu! chúng sẽ hỏi anh “ You viết gì đây! con trâu cày là con trâu gì vậy? con đường đất ! sao lại còn đường đất không phóng đường làm hệ thống freeway! chúng sẽ hỏi anh :” Vùng đất nào đây ! sao họ yêu nhau rụt rè nhát cáy cứ phí thì giờ theo nhua chi vậy sao không ôm hôn mà cứ nắm tay! chúng sẽ hỏi anh :” Lũy tre là gì? cầu làm bằng tre cách gì qua được cái Ðình là chi ? Cái Miếu là chi? con mắt có đuôi làm sao thấy được vừa làm thơ lại phải vừa giải thích thơ mấy câu , chú thích gần cả trang! có đôi chữ chua thêm phần phiên dịch kẻo không thôi bọn trẻ lại hiểu lầm chúng sẽ hỏi anh , rất nhiều câu hỏi anh chỉ làm Thơ đâu phải làm Thầy! làm Thơ khó , làm Thầy càng thêm khò nghĩ lại coi , tôi nói trật chỗ nào? rồi còn nữa ...” Thôi , thôi còn gì nữa ? giật nẩy người . Chợt thức giấc .Ðêm khuya mồ hôi mẹ mồ hôi con ràn rụa giấc mơ chi mà váng vất cả đầu! nằm nghĩ lại , thấy buồn ! Buồn da diết đúng sai chi mà cứ nghĩ là mơ quê hương ơi sao qua nhiều oan nghiệt đừng đem thêm oan nghiệt bỏ vào thơ [đầu năm 2001] Phan Thị Ngôn Ngữ
Mục Lục


4. thơ m.loanhoasử chị [em] lâu quá mới nghe phôn của chị tai nghe xoangxoảng chốn daodài đất trống còn dư ngoài đồi trọc đá nát châu chìm thủa mấy mươi chị em chúng mình tưởng khất nợ nhắc lại nỗi gì? thật mỉa mai chị viết thư hồng trong cánh cửa dù ngót 70 ngã sóng xoài thơ văn nhínhảnh đăng báo chợ xế ngày cá thịt thoảng mùi ôi duvị chánchuờng cơm rang lại 1 bát canh thêm nước khoai mài cũng chỉ tìnhtình chả có tang thùydương trên bãi mọc 2 hàng 1 hàng ngó núi hàng ngó bãi núi già sương phả 1 bãi than thiênhạ hữu duyên mình lạc duyên nên chi thơ nhạc chẩy theo hèm tamtư quá khổ trong thương nạn ngộp vườn cải úa xứ hồ xang tấu lên khúc nhạc nghe nhầu ruột làm cho đứt nốt 1 dây đàn con dơi chết dở nằm nhỏ máu gia trang núi bao bọc 4 bên nguyễn bính xưa [nay] ngày xưa chị bước sang ngang giữa giòng sóng lật trànggiang đắm đò 10 năm cơm vắt ngựa thồ sông luộc sông đáy sông lô sông hồng 10 năm đốt đuốc ở rừng về đây chết giấc chỉ chừng ấy thôi tỉnh ra thì tỉnh ra rồi? giống y chang chị [ thuyền xuôi đắm thuyền] bao năm đi khắp 3 miền giấc mơ thủa nọ hãohuyền thủa nay giatư còn chiếc điếu cày khói bay lãngdãng mà cay đắng lòng kể như đốt đuốc soi rừng đỉa sên bọ vắt muỗi mòng quanh ta rừng thưa tiếp đến rừng già càphê nở trắng đèo xa bản gần bỏ quê yêu núi yêu mình cơm lam suối nước mà tình thướt tha bây chừ suối bản đèo xa trườnggiang thuyền lật còn ta đứng chờ 10 năm đồi núi ơhờ thơ haiku 1 mưa quá mau thiênlý mã phi quá mau thầm hỏi ? về nơi nao? 2 núi vẫn núi đá sông thường nước ròng chả lẽ sống để tiếcthưong 3 sông cạn đá mòn tộinghiệp nàng tôthị hóa đá đầu non 4 ngày trước yêu nhau bâygiờ xa nhau ồ có gì đâu? 5 hoa sim trên đồi sim tím nhớ quá cũng chỉ biết làm thơ muôn năm chờ 6 sinh ta lớn lên lấy vợ có con nước chẩy đá mòn 7 tháng thiếu thiếu 2 ngày năm nhuần dư 1 tháng thiếu mưa hạnhán 8 hạt mưa sa hạt mưa rào hạt nào xuống giếng hạt nào xuống ao 9 48 năm gặp lại mất tiêu thời con gái [bà già thời hiệndại] 10 1 bầy khỉ đảo bạchlongvĩ qua cầu khỉ 11 con chuồnchuồn ngô bay ven hồ hiểu đủ nghĩa tựdo 12 con khiếu ở trong lồng con mèo đi tựdo 2 con đều nôlệ

m.loanhoasử

Mục Lục


5. Từ Ðâu Tôi Buồn Từ anh quên mất đường thơ Tim em lại hóa dại khờ ... thinh không Từ anh quên mất trong lòng Bóng người tri kỷ nửa vòng cầu xa Từ anh để mặc hè qua Phượng rơi tím trước sân nhà cô đơn Từ anh bỏ mặc dỗi hờn Ai người dành dỗ qua cơn lụy phiền ? Thôi thì phó mệnh cho thiên Buồn vui tôi gửi vào phiên chợ đời Ðêm sâu nghiêng bút lã lơi Thả hồn theo mộng đánh rơi mấy hàng Biết đường tình, lắm gian nan Tim hồng nhỏ lệ muôn ngàn lần đau Ðỉnh bơ vơ, đếm giọt sầu Ai người hiểu được ... vì đâu tôi buồn ?

jacaranda

Mục Lục


6. Ga Chiều Tàu xa rồi, ga chiều nay vắng lặng Ðã bao lần ga thấm lệ chia tay Con tàu đi chở theo niềm xa biệt Nỗi u hoài chôn kín giữa lòng ai. Sân ga chiều có người đang đứng đợi Tàu chưa về nỗi nhớ cứ mênh mông Biệt ly rồi tao phùng sao diệu vợi Trọn niềm đau thương nhớ lệ lưng tròng. Ai xuôi cho ga buồn muôn thuở Mỗi tàu qua khói trắng quyện sầu đông Như tang chế lệch nửa đầu cô phụ Tiễn người đi hồn chết giữa chờ mong! Hàn Thiên Lương
Mục Lục


7. Anh Viết Cho Em Anh viết cho em cứ mỗi ngày Hơi sương còn quyện phủ hàng cây Chim ghì âu ếm bên sườn núi Nhè nhẹ ru em giấc ngủ đầy Anh viết cho em vẫn mỗi ngày Vầng hồng chưa lộ ánh ban mai Mùi hương thoang thoảng nương theo gió Quyện nhẹ thân em vóc dáng gầy Anh viết cho em lại mỗi ngày Hương yêu chuyền nhẹ đến bàn tay Gởi vần thơ đến người thương mến Ngào ngạt hương nồng thêm ngất ngây Anh viết cho em mỗi một ngày Trăng mờ nhỏ lệ xuống thành mây Bay tìm em khắp miền trần thế Gợi nhớ vai gầy em có hay Triều Phong Ðặng Ðức Bích
Mục Lục


8. Chị Em Chị bế em nhá Em còn đỏ tuơi Chưa tròn tuổi đã Lăn loc' vào đời - Nguời ta giầu có, ăn uống thoả thuê Chị vưà mới ngó họ nạt, đuổi về - Thôi em.... đừng khóc Chúng mình đi xin Phố phường lăn lóc Cơm áo, gạo tiền - Những đứa trẻ khác thì đuợc nâng niu Còn mình phó thác phần số hẩm hiu - Giời sinh mình khổ Có đủ mẹ cha Sao đời phỉ nhổ cho mắt chan hoà ? -- [Campuchia, th 6-08]

Quên
Mục Lục


9. Ngẫn Ngơ ___________ “Tăng Cát Vân” Ngẫn ngơ như chú Cuội khờ Ngồi gốc đa... thổi sáo chờ Hằng Nga Ngẫn ngơ muốn hứng trăng ngà Thả xuống hố nước trước nhà tặng em Ngẫn ngơ ước hứng nắng lên Gởi em hong tóc giữa miền tuyết băng Ngẫn ngơ mơ phép đằng vân Cùng em xa gần Nam Bắc Tây Ðông Ngẫn ngơ muốn làm cây thông Ung dung trước gió thoả lòng reo ca Ngẫn ngơ mộng giấc nam kha ... Sông Cửu
Mục Lục


10. Thôi Em nhắc làm chi chuyện bể dâu , Ðời ta đã lạnh những thương đau, Thủa nào mộng ước lòng phơi phới, Ngày tháng sầu tư sớm bạc đầu. Ðã biết đường đời nhiều trắc trở, Ðau lòng đâu muốn trách hờn ai. Bao nhiêu hệ luỵ mình ta gánh, Mòn mỏi đời theo những dặm dài. Rồi những chiều mưa trên đất khách, Ùn ùn kỷ niệm nối nhau về, Ðàn xưa réo rắt từng cung bậc, Nhớ bóng hình em dạ não nề! Thôi em! Tất cả đã qua rồi. Kiếp người cũng tựa áng mây trôi, Em đi nhà cũ buồn hoang phế, Thương nhớ! Trọn đời thương nhớ thôi! Hoàng Yến.

Mục Lục


11. Em Làm Thi Sĩ Anh bảo em hãy tập làm thi sĩ Vì khi yêu bao lắm mộng nhiều mơ... Mơ trăng sao em gởi gấm tình khờ Tình ươm mộng xây lâu đài tình ái ..! Ở nơi ấy đôi tâm hồn sôi động Tay trong tay ôm ấp nụ hôn lành Anh lại bảo, em hôn còn vụng dại Em thẹn thùng dấu mặt vào vai anh..! Làm thi sĩ em ghi bao thương nhớ Những vần thơ hoang dại buổi ban sơ Anh lại bảo em, em anh tài giỏi lắm Biết làm thơ gởi gấm những ước mơ Anh ao ước em anh là thi sĩ Ðể cho đời thưởng thức một tài danh Em cũng muốn em trở thành thi sĩ Nhưng chỉ là thi sĩ của riêng anh... Vâng lời anh em đam mê sáng tác Những vần thơ dào dạt đẹp như mơ Anh trau chuốt bài thơ thành tuyệt tác Em của anh đạt danh hiệu Nhà Thợ.!
Nguyễn Thế Hoàng





Mục Lục


12. Sài Gòn Bây Giờ Mùa Mưa -*- quê mình mùa hè nhiều mưa bao năm chưa một lần về bên đường có còn phương đỏ cứ buồn từ buổi ra đi quê hương nâng niu nỗi nhớ kể từ ngày đời mãi xa thẫn thờ phượng về dáng đỏ tiếng ve gọi hồn thiết ta nghe noi Sài Gòn nhiều mưa nước dâng những con đường nhỏ gió lùa quán lá xiêu xiêu nỗi buồn bao năm còn đó ngày đi giờ xa hun hút tháng năm giữ trọn lời thề mặc nỗi nhớ giờ rưng rức nhưng giặc chưa hết sao về ! thương quá từng con hẽm xưa mỗi lần mưa dâng ngập nươc làm sao em về nhà được Sài Gòn bây giờ trời mưa… Sài Gòn bây giờ trời mưa nhớ thương nào nói cho vừa từng con đường xưa nức nở ghi dấu kỷ niệm tuổi thơ bây giờ ở đây trời mưa nắng mưa vẫn hay hờn dỗi lưu vong nối dài nỗi nhớ Sài Gòn bây giờ trời mưa.

Du Yên
Mục Lục


13. Theo Em Trên Lối Về Thấy em thấp thoáng bóng từ xa Áo trắng thướt tha dưới nắng tà Tóc dài buông thả đùa trong gió Ngây ngất hồn anh dáng ngọc ngà Theo gót em về khi lớp tan Âm thầm lê lết bước chân hoang Nhắn gió gởi mây lòng bối rối Bên thềm chiều nhạt mộng miên man Em vẫn hồn nhiên trên lối về Anh lòng ngây dại cõi đê mê Phượng đỏ ngập đường tình chẳng ngỏ Ngại ngùng một gã sợ sang hè Nhớ má em hồng pha sắc nắng Ai oán tiếng ve hè đã sang Lưu bút lạnh lùng tờ giấy trắng Em có hay chăng sợi đắng mang Anh gom kỷ niệm nhét vào thơ Tàn phai lá uá những mong chờ Ngập sầu hồn lạnh cung đàn lỡ Lối mộng tình anh khúc nhạc mơ.

Uyên Phương Minh Nguyệt
Mục Lục


14. Ðợi nửa kiếp đời tôi đợi một bóng hình đã qua con tim yêu mù lòa để tình vụt bay xa . trong bóng đêm trời lạ tôi mõi mắt đợi chờ bên này bờ nỗi nhớ buốt giá lạnh con tim em ở đâu … ở đâu ? có nghe lời chim gọi cánh rừng xưa hoang vu vùng kinh tế - ngục tù chiều xứ người nắng ấm tôi vẫn thấy lạnh căm chiều một mình bước nhẹ mắt hướng trời xa xăm xin đợi em …đợi em mong cho hết cuộc đời để mai về bên nớ trọn nghĩa tình trăm năm . nếu mai còn có nhớ xin một lần ghé thăm . nếu em còn có nhớ xin thắp nén hương trầm ! Chờ ngồi chờ ai , đợi ai ? nhìn tay gầy năm ngón đếm thời gian còn lại tôi thấy đời qua mau . em – con chim giữa trời bay qua vùng biển lớn tôi xót xa một đời từng nỗi nhớ đêm đen . ngồi chờ em , đợi em tôi van xin cuộc đời mong một ngày chậm tới để đời đừng rong rêu . bao đêm rồi tôi vẫn nhớ những chiều bên em lời thì thầm của biển hòa nhịp thở con tim . ngồi chờ ai , đợi ai ? tôi chờ em một đời xin mai này nằm xuống được một lần bên em . xin mai về cõi ấy còn một lần thấy nhau Phan Tưởng Niệm
Mục Lục


15. Hồi Tưởng Học Trò Lớn Tuổi * Thời dĩ vãng, học sinh Cường Ðể Chiều cuối tuần, thường lệ về quê Xa xôi một tháng phải về Về thăm quê quán , tràn trề thú vui. Cùng bạn cũ , thả diều bắt dế. Ðập chuồn chuồn chân để chéo chồng , Chia phe u qua lượn vòng Chơi xong đi tắm, bến sông giữa đồng. Bổng nhớ thuở, khi còn tiểu học Ngày chúa nhật ,vác cuốc ra đồng Dọn bờ làm cỏ gánh gồng Giúp cha tát nước, gàu sòng gàu dây Khi chiều về,mặt trời đã lặn Không thể nào,đủ sáng để làm May thay nhờ có vầng trăng, Nhằm đêm rằm tỏ, rỏ ràng sáng soi. Muốn cho kịp ngày mùa đúng lúc, Thì phải ra công sức ban đêm, Cố công gắng gổ làm thêm , Vụ mùa thu hoạch , lúa đem về nhà. Trong chín năm loạn ly khói lửa , Ngày hòa bình, làm lại cuộc đời. Phải đành đốn tuổi kịp thời, Vào trường học lại chỉ vì tương lai . Thời tuổi trẻ , thoi đưa đâu nữa, Chỉ tâm hồn , sống mãi trong ta . Nhớ khi giúp đỡ mẹ cha , Song thân đã khuất , xót xa đoạn trường . Tinh Hoa - Lê Trọng Dũng

Mục Lục


16. Ðêm Buồn Gác Vắng Ðêm buồn gác vắng đèn khuya hiu hắt mi cay ướt mắt tôi soi bóng tôi. Sương lạnh ngoài trời giá buốt tim côi niềm riêng lặng lẽ mây che ngăn lối. Cách xa hai nơi em mãi vương vấn xuân qua bao lần tên anh thầm gọi. Chao nghiêng bóng đổ khát khao bão nổi cuộn lên chênh chếch tình xa mất rồi. Lung linh một bóng vô thức cõi hồn tóc buông ngóng đợi có phải tôi không. Ðêm buồn không ngủ mưa giăng ngập lối bạn cùng bóng tối khóc với trăng thu. Chập chờn … chập chờn tôi giẫm lên tôi!!! 01/9/2007 Hà Khánh Phương


Mục Lục


17. Hoàng Hoa Về lại chốn xưa chiều Hà Nội Ngược giòng dĩ vãng tuổi thanh xuân Trên căn gác nhỏ “Hoàng Hoa các” Ðan kết bọn mình thân rất thân. Vòng xe đua gió trên đường vắng Một sớm mai hồng tay nắm tay Chùa Trầm trăm bước lưng chừng núi Ðón nắng đem về mây trắng bay. Hồ Tây sóng lặng chèo hai mái Gạt nước đua thuyền theo ánh trăng Ðêm về rất nhẹ ngàn sao sáng Bên chùa Trấn Quốc tiếng chuông ngân Hè về ta muốn xa Hà Nội Rong ruổi đường dài lên Sơn Tây Sông Ðà, núi Tản chân trời tím Khuất dạng Ba Vì sau bóng mây Chớm lạnh theo về thu Hà Nội Then cài ngăn lại gió heo may Căn lầu nhỏ bé khi chiều xuống Thu Vàng ai hát em có hay? Hôm về thăm lại căn nhà cũ Ðiêu tàn nghiêng ngả gác Hoàng Hoa Một thời nhen nhúm giây bằng hữu Nhưng đã xa rồi, xa rất xa … Dọc đường xuyên Việt ~ 2007 Nguyễn Hải-Bình


Mục Lục


18. Ðợi Tình Giữa Khuya Ðợi em mãi giữa đêm trăng tối Luống một đ?i anh vẫn cô đơn Thả bước tìm sóng tràn cát bỉn Chút nhớ , chút thương nặng cả lòng Ðã mấy mùa thu em có biết Trăn tr? chuyện xưa anh xót xa Ðêm dài nhìn trùng dương mê mãi Vọng ánh khuya tàn , ôi ! Thiết tha Rồi lại nhớ một loài hoa biển Mang lời ước muốn đến tình nhân Mang đầy k? nỉm thời son trẻ Gói lại nỗi niềm của riêng anh Thoáng chốc kìa ánh quang rạng tỏ Nghoảng mặt đi sao vẫn hoài mong Em ơi , biết đến bao giờ nữa Anh sẽ cùng em dệt mộng hồng 05.07.2008 Ðông Hòa


Mục Lục


19. Vạt Nắng Ngoài Hiên Em về với anh Thành phố hoa vàng Dìu nhau cùng bước Con đường thênh thang Thung lũng hoa vàng Nỗi buồn vương mang Em về phố lạ Một thoáng ngỡ ngàng Chiều nay ngồi đây Lặng nhìn mây bay Âm thầm nỗi nhớ Tình ơi! Ðong đầy Vạt nắng ngoài hiên Quên đi muộn phiền Anh về tâm sự Niềm vui vô biên .. San Jose June 03,08 Hồ Duy Hạ Hồ Duy Hạ


Mục Lục


20. Em Ði Rồi Chia tay nhau, em trở về xứ lạ Con phố chiều quay quắt thiếu người thương Bên kia trời hẳn là cõi vấn vương Ðể anh gọi tên em làm điểm hẹn Chia tay nhau, như một lời nhắn nhủ Mỗi ngày qua là mỗi nhớ nhung về Tâm hồn anh ngọn núi lửa đam mê Không yên nghỉ vở tan thành mảnh vụn Em đi rồi Paris buồn gió cuốn Chiều sông Seine đâu nữa bước song đôi Hạnh phúc nào đưa thuyền tìm Bến Ðợi Anh thẩn thờ vuôn sới mối tình si Có một lần cô đơn về bóp nghẹt Trái tim anh đau nhói buốt đợi chờ Anh gọi vô cùng vòng tay rộng mở Ôm cho tròn hình bóng dáng kiêu sa Có một lần anh đi qua bến mộng Thấy em cười lồng lộng tóc mây đưa Mùa thu về lá vàng rơi trước cửa Vẫn xa xôi .. .vẫn sóng vỗ bạt ngàn Con thuyền tình BẾN ÐỢI Tháng ngày trôị.. Tôn Thất Phú Sĩ


Mục Lục


21. Nợ Nhau Em nợ tôi Một năm ba trăm sau´ mươi lăm ngày chẵn Ta nợ nhau Trọn năm tháng cuối đời Một mai kia khi giã từ cõi thế Biết mình còn có nợ để cho nhau Những maí tóc trắng phau Ðẹp như bông tuyết Sẽ cần nhiều hơi ấm dẫu xa xôi Có những buổi chiều Ðêm về rất vội Có những đêm buồn Chẳng đếm được sao Anh đã vô vọng tìm em Trên mười ngón tay bấm nốt thời gian Anh đã lang thang Như gã mục đồng giữa sa mạc lạnh Buồn hiu Nhóm ngọn lửa hồng sưởi ấm cô đơn Em ơi ! Hãy nói cho anh nghe đi Sao ta nợ nhau mà không thể trả Hãy nói cho anh nghe đi Con đường nào đi vào huyền thoại Và con đường nào là bể khổ trầm luân... Hãy nói cho anh nghe đi Có phải hôm nay là ngày daì` vô tận Em ngồi ở đó Một mình Vai gầy tóc rối Ngóng đợi con đò xuôi mãi một dòng sông ... Em vẫn nợ tôi Một năm ba trăm saú mươi lăm ngày chẵn Ta vẫn nợ nhau một khô´i tình sầụ.. June 2008 Kim Thành


Mục Lục


22. Lục Bát Thượng Du Chim đi, nắng giối giăng đồi Người về, lẻ một chòi ngồi ngóng trông Hàng hàng núi níu thinh không Sương hoen mi lũng, mù xông ngấn đèo Lao xao bóng tối lăn theo Nhấp nhô heo hút, cheo leo tiêu điều Thuyền nằm, bến cũng xiêu xiêu Con sông tới giấc mắc triều lên nhanh Hồn tôi cái đĩa thâu thanh Tròn nguyên nét nhạc, trung thành ý ca Ðồ rê mi fa sol la Ngẫm từng âm điệu nghe ra chiều buồn 1948 Cung Trầm Tưởng


Mục Lục


23. Chiều Thăm Nghiã Trang Gió thổi đong đưa cành hoa đỏ Hoa đỏ nghiêng mình bên mộ bia Ta đọc tên người nằm dưới đó Nghe hồn như có tiếng mưa khuya Người sống trên đời bao nhiêu năm Trở về đây lặng lẽ yên nằm Nắm xương trơ lạnh cùng giun dế Có tiếc bao nhiêu chuyện cát lầm ? Người sống giàu sang hay nghèo hèn Là quan to hay đứa dân đen Anh hùng , gian tặc ? Phù du hết ! Tất cả đã chìm trong lãng quên ! Có ai người còn nhớ đến không Hay như năm tháng đó vô tình Ðã quên đi hết quên đi hết Bia đá trơ trơ gió lạnh lùng Chiều đứng bơ vơ giữa nghĩa trang Nhìn quanh mộ trắng xếp hai hàng Thấy mình nhẹ tếch như hương khói Lãng đãng trôi trên đám cỏ vàng ……. Trần Hoan Trinh


Mục Lục


24. Xem Bói Tôi mở lòng bàn tay cho người ta xem Nào công danh, tình duyên, số mạng Những đường chằng chịt, không kết thúc không bắt đầu Hèn chi số mạng chẳng đâu và đâu Tôi và người xem bói, chụm đầu vào nhau Khi đã đến đây, ai cũng nghĩ tình duyên là thứ muốn coi nhất Có ai biết đâu khi đời lận đận, xem bói Chỉ là cái cớ cho những người cúi mặt, ngẩng lên được một lần Vậy nên có chi mà phân vân Tôi trả cho những điều tôi muốn nghe mà không có Tôi trả cho những điều không bao giờ có mà vẫn muốn tin Những lời mà tôi cho thầy bói đang biết rõ về mình ... Tôi cười đau đớn Quẻ đã đặt xong, rút lại biết nói sao bây giờ Bao lần tai ương đổ xuống tôi đã làm ngơ Giờ có đổ thêm cũng kệ, chớ có phải sau một lần xem bói. Tâm tư soi rọi Tôi cần niềm tin Quăng tiền vào một quẻ bài vô tri vô giác Cuộc đời đã bạc, bạc thêm nữa đâu sao Xem bói. Vành Khuyên


Mục Lục


25. Ðoản Thi - Nói cùng Dòng Sông Nhỏ 1./ Mải miết qua sông làm kẻ chợ Hất hủi bên kia một nếp nhà Chiều nay cám cảnh chi mà nhớ Một gã ăn mày khản tiếng ca 2./ Ngủ đi để mai còn được thức Không đen, sắc trắng đào đâu rả Hơi thở đánh đu cùng mộng, thực Tiên, Phật bỏ mình, chơi với ma 3./ Ta đứng bên cầu buồn nước chảy Thời gian trôi tuột đến đau lòng Em bước qua cầu thời con gái Gió thổi phương nào em nhớ không 4./ Yêu em ta tập tành thơ thẩn Trời xa đem cột với mây gần Hỏi nhỏ người thôi điều trắc ẩn Cõi tình có giống cõi phù vân? 5./ Một hôm đếm ngón dài ngón ngắn Sinh mệnh ngắn dài ai giống ai Hết lạnh mưa chiều sang cháy nắng Con tạo xoay vòng chiếc đu quay 6./ Một chữ chẻ ra thành bao chữ Mãi tìm một cái vốn là không Cung bậc bổng trầm hồn du tử Ta vẽ đời mình một nhánh rong. Khóc_Cười


Mục Lục


26. Tình Khúc Mênh Mang Em viết cho người trăm khúc tình thơ Cứ chảy miên man không bến không bờ Em viết cho người cung sầu nắng Hạ Mùa Hạ say nồng ngan ngát thơm mơ Em viết cho người như viết cho em Bao nỗi ấm vui tiếc nuối sầu riêng Từ thuở trắng trong đến thời hoa gấm Từ tuổi ngây khờ đến tuổi truân chuyên Em viết cho người từ buổi xuân tươi Hớn hở tung tăng thắm thiết yêu đời Áo trắng chao bay giữa ngày lộng gió Tay giữa tay người môi mắt tinh khôi Em viết cho người khi ước mơ xinh Chớm nở đơm hoa kết nụ hương lành Cơn bão đầu tiên bất ngờ ập đến Cuốn lấp đôi mình theo kiếp điêu linh Em viết cho người trong nỗi bi thương Cách trở oan khiên lệ đổ thành hàng Ðời bỗng đẩy đưa cánh bèo trôi dạt Ðời bỗng xui người khuất lối thênh thang Em viết cho người đang tuổi xuân phai Như viết cho em cho những đọa đày Như viết cho nhau tháng ngày ươm mộng Theo sớm theo chiều tan tác ra khơi Em viết cho người muôn khúc tình thơ Cứ chảy miên man như nỗi đợi chờ Như dấu yêu xưa vẫn hoài vang động Như ngõ hẹn hò thăm thẳm trong mơ . Từ Tú Trinh


Mục Lục


27. Núi Non Nếu anh là tráng sĩ Em cố làm nhân mỹ Sánh vai ta vui bước Em cùng anh nguyện ước: * Nếu anh là núi lớn, Em xin làm non mòn. Ngát hương đời dịu ngọt Trao về nhau sắt son. * Nếu anh đang u buồn, Em là áng mây trôi, Ngao du giữa sông hồ, Nắm tay vượt ngàn non. * Nếu anh là phi công Lả lướt trên thinh không. Em sẽ là nắng lụa, Ðàn rung ngân phím loan * Nếu anh thành Ngưu Lang Em mơ mình nữ hoàng Nối nhịp cầu tao ngộ Tình yêu xuyên đại dương. * Nếu anh gieo tình thương Cùng chung một chí hướng Em nguyện là nữ tì Hương trầm toả khói sương… * July-19-08 Ái Ưu Du


Mục Lục


28. Dang Dở Trong khung trời kỷ niệm, của tình yêu Nghe nỗi nhớ cồn cào trong cơ thể Thế mới biết, muốn quên không phải dễ Dù con tim không run rẩy gọi mời Dù bây giờ tình đã mất tăm hơi Dù đã nói ngàn lần câu tống biệt Vẫn cháy bỏng, vẫn nhớ nhung tha thiết Tình yêu ơi! Kỷ niệm khó phai mờ. Vân Hà


Mục Lục


29. Hai Lối Thu Qua Chiều chớm thu nắng về quanh lũng nhớ Trời cuối hạ còn vẳng tiếng ve than Em một mình đứng dưới hàng phượng vỹ Mắt u buồn thương kỷ niệm tình trôi Gió thoảng nhẹ đong đưa chiều mây tím Ðóa cúc vàng chao cánh bướm vờn hoa Mưa thu rơi khóc tình hai lối rẽ Suối lệ lòng em khô cạn dòng châu Lá vàng bay vướng hồn em thổn thức Ðể tơ lòng chùng sợi nhớ sợi thương Sương thu ơi sao sương mờ khắp lối Còn lối nào cho em thấy người yêu Trăng lờ lững đường anh thu man mác Lối cỏ nhàu anh dẫm nát hồn em Hồn em là ánh trăng treo đầu ghềnh Nghiêng mắt dỏi từng dấu chân anh bước. 10/1968 Mynh Hứa


Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ)

Ðông Hoà





Một chuyến thăm quê ( phần 2 )

- Nhớ hồi nhỏ tôi thường theo mẹ về Long Xuyên , cũng đi ngang đây … hồi ấy thưa thớt chứ đâu như bây giờ nhà của san sát … phát triển nhanh thật !. Luyện bất chợt nói .

- Dạ bây giờ người ta đa số đi làm các hảng xưởng trên thành phố rồi dành dụm gửi tiền về xây xựng với lại ở xứ mình họ thường tận dụng mặt đường làm ăn mua bán đó anh !. Duyên phụ hoạ thêm .

- Bên Mỹ thì người Việt xứ mình đi làm cho công ty bản địa hoặc làm nghề trang điểm sắc đẹp , quê mình gọi là dịch vụ ( nail ) ấy mà … Luyện nói thêm

- Có làm mới có ăn anh há ….!. Duyên vừa nói vừa nhoẽn miệng

- Ừ , quả thật có làm mới có ăn !. …

Xe đã đến bắc Cần Thơ …. hồi trước …. cảnh vật dối với Luyện cũng trở nên lạ lẫm duy có cái bến thì không khác xưa mấy dù rằng bây giờ được mở rộng hơn , bước xuống xe anh cùng Duyên xách hành lý đi bộ xuống phà … đi bên người phụ nữ mới quen , Luyện nghe lòng mình phấn chấn và một chút cảm giác lạ len vào lòng mình …. Tiếng phà hụ còi , thoáng tỉnh lại Luyện nhìn xuống mặt nước đùn đục đỏ màu phù sa …. Anh lẩm bẩm miệng một câu thơ quen thuộc :

Hò ơi ….

Nhìn theo nước đục phù sa
Chiều qua sông Hậu đậm đà hổn quê
Hôm nay chân bước tìm về
Nỗi niềm tâm sự tái tê cõĩ lòng
………
- Lên phà anh ơi …! Duyên gọi và Luyện giật mình bước theo nhứ cái máy !.
- Ồ , cảm ơn Duyên nhé … tôi nhìn cảnh vật riết đâm ra quên …! Luyện vừa nói vừa cười nhẹ như phân trần
Xe lạ tiếp tục chạy , Luyện lại nhìn hồí ngày xưa cũng theo đó mà quay về , Luyện lại nhớ những mùa lúa trổ đòng , anh cùng chúng bạn đi bắt cua đồng hái me tây làm quà cho nhau …. lại nhớ mùi khoai lang lụi bếp thơm lừng bà ngoại nướng cho anh ăn lỡ bữa , kỷ nệm cứ thi nhau tràn về … mùa này là mùa chim cuốc , ốc cao chàng nghịt cho nên dài theo ven đường mấy bác nông dân treo từng chùm lủng lẳng mời mọc khi thấy xe qua …
- Mua đi cậu … mùa này con nào con nấy mập lút à , cậu mua tui ban rẻ cho nhé … về làm quà hay đồ nhậu thì hết biết đa !. một bà trung niên vừa khẩn khoản mời anh …

- Dạ , thôi thì để tôi mua một chục nhé … Luyện vừa nói vừa lấy tiền ra trả …và ra hiệu khỏi thối lại nhưng người bán thì nhất định thối lại , bởi đó là cái tính thẳng ngay của dân miền tây mà ….

Thời gian trôi thật nhanh không mấy chốc đã đến ngả ba đường rẽ vào chùa Xiêm Cán . Duyên đứng dậy sửa sang hành lý chuẩn bị xuống xe .
- Dạ , em chào anh ạ …!. Em phải xuống xe rồi … anh đi tiếp bình an nhé …

- Cảm ơn Duyên nhé !. Không biết bao giờ tôi mới có thể gặp cô …
- Duyên cười , trên đôi má lộ rõ hai lúm đồng tiền

- Nhà em ở gần đây nè anh … Duyên chỉ tay về hướng Cà Mau và đưa cho anh mẩu giấy viết địa chỉ và nói
- khi nào rảnh rỗi thì mời anh ghé chơi nhé anh nhé …!.

Duyên vừa nói xong thì xe cũng vừa ngừng bánh . Duyên cũng bước xuống . Chiếc xe đò chạy rồi mà Luyện vẫn còn nhìn theo cho đến khi hút bóng mới thôi . Quả thật chuyện tình cảm đôi khi nó đến cũng bất chợt … Luyện bỗng thấy nhớ Duyên dù rằng anh và Duyên mới lần đầu gặp nhau trong chuyến xe tình cờ này , anh cảm thấy mình yêu đời và trong lòng thì nhen nhúm một hy vọng mông lung . Không lâu , chiếc xe đã ngừng bến xe thị xã Bạc Liêu , Luyện bước xuống … trái tim anh đập mạnh bởi vì xúc động khi lần đầu tiên bước chân trên mảnh đất ruột thịt mà bao năm qua xa cách . Luyên bước qua bên kia vệ đường ngồi xà xuống mặt đất như một đứa trẻ con … xòe bàn bay hốt một nắm cát … nghe hồn đầy vui sướng . Khoảnh khắc trôi qua … trời cũng nhá nhem tối , Luyện ngoắc một chiếc taxi để vế khách sạn

- Dạ , anh về đâu ạ ! Người tài xế lễ phép hỏi

- Anh cho tôi về khách sạn anh nhé !. Luyện yêu cầu

- Dạ vậy thì để tôi đưa anh về khách sạn Công Tử Bạc Liêu nhé .!... Luyện gật đầu và bước lên xe … xe chạy một hơi thì đến … sau khi trả tiền xe xong Luyện vào thuê một phòng trên tần cao … bởi vì đêm nay anh muốn ngắm lại thành phố thân thương của anh qua một thời gian xa cách .
- Chìa khoá của anh đây !. Tiếng của người phục vụ kêu làm Luyện thoáng giất mình .

- Xin lỗi nhé … tôi mãi quên !. Người phục vụ trao chìa khoá xong Luyện mở cửa bước vào phòng , tuy chổ này không sang trọng lắm nhưng Luyện cũng rất vui vìmọi việc với anh thật trôi chảy .Ngả lưng xuống gường vươn vai … Luyện bật dậy anh bước ra cửa sổ … trước mặt anh một con đường đen loáng hài hoà với ánh đèn đường … dưới kia xe cộ đã thưa thớt đâu đó vẫn còn rãi rác những chiếc lá úa … anh bỗng nhớ Duyên ….khẽ lẩm bẩm một mình rồi bật kêu lên :
- Trời …, sao cô ấy dịu dàng quá !. Ước gì mình nói chuệyn với cô ấy đêm nay nhỉ !. Loay loay một hồi Luyện chợt nhớ mảnh giấy mà Duyên dúi vào tay anh lúc xuống xe … Anh vội lấy và mở ra xem thì thấy có số điện thoại …… Luyện nhấc máy lên bấm số , đầu kia có tiếng chuông reng reng và tiếng người đàn ông trung niên khản đục :
- A lô , xin lỗi ai đó ….
- Dạ …dạ … !. Luyện lúng túng bởi bất ngờ quá … trấn tỉnh xong
- Dạ có cô Duyên ở nhà không vậy bác …!
- Có đó , nhưng mà lộn rồi …. Kêu tui bằng bác tui tổn thọ à nghen !. Giọng nói của người đối diện nghe như cáu gắt .
- Dạ , xin lỗi vậy phải kêu bằng gì ạ !.
- Thì kêu bằng anh nghe chưa ? .. Tui là tía con Duyên , mà anh là ai vậy ?.Phải làm chung chỗ làm của nó hông …. Chờ chút tui kêu nó ra nghen
- Ông già thật nhiều chuyện … kêu thì kêu phứt dùm … còn tra hỏi mãi …Luyện lầm bầm
- Alô , dạ thưa ai vậy ạ !. Tiếng Duyên nhỏ nhẹ
- Luyện đây nè … mới chung xe hồi sáng đó … nhớ không ?
- A , anh Luyện đó hả …. Anh gọi diện bất ngờ quá em đâu có nhớ nè , anh đang làm gì vậy ? chưa ngủ à …
- Khó ngủ lắm Duyên ạ , vì chổ lạ chưa quen … đang đứng ở ban công khách sạn !.
_ Duyên khoẻ chưa !. Ðường cũng xa về chắc mệt dữ hen !, Luyện hắng giọng
- dạ cũng không mệt anh à , vì em đi thjường xuyên , riết rồi cũng quen !. Duyên trả lời nhỏ gọn
- Hồi nãy hình như là ba của Duyên hả …Luyện hỏi lại
- Dạ tía em đó anh !. Duyên nhẹ nhàng trả lời … cả hai cùng nói về cung cách sống và những thay đổi của Bạc Liêu , chuyện về việc làm và những va chạm thực tế … Bỗng tiếng nói của ông Huân cắt ngang :
- Duyên à , ai vậy con … nói chuyện gì mà dai như đỉa vậy !. Khéo rồi còn đi ngủ nghen con ... Tiếng ông có vẻ như hằn học … bởi xứ ông thì không có thức khuya , chang vạng là ngủ rồi …. Bao năm qua không hề thay đổi .
- Dạ bạn con tía à …!
- Ðể con nói chuyện chút xíu nghen tía !. Duyên nói vọng vào trong điện thoại , Luyện nghe loáng thoáng xong thì cũng vột từ giã …… Anh nằm xuống suy nghĩ miên man về kỷ niệm .. những câu hỏi luôn hiện ra reong tâm trí
- Căn nhà năm xưa còn không nhỉ ?...... cái ao nước trước sân hoa sen có nở không ?.Con bé Hà , thằng Toản con dì tám cạnh nhà cũ năm xưa bây giờ chắc đã lớn ...?. Tâấ cả như chìm trong tiềm thức .... một chút khô khan im lặng khoảnh khắc anh cũng chìm vào trong giấc ngủ , nơi ấy đưa anh vào giấc mơ , giấc mơ của những ngày thơ ấu ....

( còn tiếp )

Ðông Hoà


Mục Lục


2. Bờ Lau Cát Lở 33 (Chuyện Dài)

Ðỗ Thành



Kỳ 33

Dạo đó với đồng lương bậc sĩ quan cấp thấp nhưng vẫn đủ nuôi cả gia đình. Phần con cái cũng còn ít nên chẳng phải lo lắng bao nhiêu. Nhà đã có hỏa xa cấp, xe đã có đơn vị dành riêng một chiếc, lại thêm một chiếc gắn số ẩn tế nên rất nhàn cư vung vít. Vợ tôi chỉ có việc lo ăn ngày hai bữa còn thì rảnh rang chăm sóc và chơi đùa với hai cậu con.

Sáng chiều kéo nhau sang biển tắm rồi mới đi làm. Ðược xếp là người am hiểu nên hòa đồng chứ không nạt nộ hay làm khó dễ nhau. Phải cái đời nhà binh dường như ai cũng biết nhậu. Lúc mới về, tôi một ngụm cũng không uống, tiệc tùng hay đi ăn với đơn vị, tôi chỉ chuyên chọn uống nước ngọt thay.

Vậy mà mới trải qua mấy năm lăn lưng vào đời lính, dù muốn chối từ cũng chẳng được. Xếp dễ mặt này thì lại khó mặt khác, các phân khu hay hạt dưới quyền đều là các tay hủ chìm hết nên khi hứng lên chẳng ai trốn nổi cả.

Xếp tôi có tật phải cầm chịch các buổi đi ăn, bất cứ nhà hàng, tụ điểm nào thấy ông đều nhẵn mặt. Ông gọi chủ tiệm đưa ra một cái việm pha lê thật lớn rồi trộn lẫn mọi thứ rượu mạnh vào, từ Johnny Walker black label đến Cianti của Ý, đến rượu vang trắng của Portugal, Vodka của Nga, Mai Quế Lộ của Tàu. Sau khi dùng một cái muôi (vá) khuấy đều thì ông đứng ra làm trọng tài bắt từng đợt 5 người một chúc đầu vào uống.

Ðợt này sang đợt khác, lử đử lừ đừ, chẳng ai dám trái lệnh. Thế nên tay nào cũng chuếnh choáng đỏ gay, thiếu điều muốn lăn chiêng bổ ngửa. Các cuộc vui thường kéo dài quá khuya, sau đó thầy trò nhảy ra mấy xe jeep đi hóng gió, đến gần sáng mới về.

Ăn chơi cũng dữ mà làm việc cũng hăng. Mỗi lần đường ray bị gỡ, tàu cán phải mìn, gây trở ngại lưu thông cả tuần để sửa chữa thì bộ xậu kéo rốc nhau ra công trường vừa yểm trợ, vừa nhậu tiếp.

Xếp tôi có tật rất ngẳng, địa bàn phụ trách kéo dài suốt từ Ma Lâm thuộc Bình Thuận đến Quảng Ngãi, đây là vùng thuộc khu 5 và mật khu Lê Hồng Phong nên luôn bị đánh phá nguy hiểm. Thỉnh thoảng xếp cũng nhận được thư rơi hăm dọa sẽ giật tung cầu này cầu kia trên đường sắt, vậy là y như ông phối hợp với Hỏa Xa tổ chức đoàn tàu bọc sắt nghênh ngang ra nằm trấn ngay ở địa điểm hăm he xem họ có dám làm ăn như đã thách thức chăng.

Chính vì tinh thần bạo dạn và tích cực này mà có giai đoạn chúng tôi đã nằm suốt nửa tháng ở Ðại Lãnh, ngay dưới chân đèo Cả. Thời đó, Ðại Lãnh loe hoe chỉ có vài gia đình, tối đến âm u, rất sợ và cũng ngán địch trà trộn giả thường dân nghe ngóng hoặc tìm cách đánh úp, gây rối chúng tôi. Ðược cái dân tuy không ra mặt giúp đỡ nhưng xem cung cách của họ thì có thể đoán được địch rục rịch thế nào.

Qua những đi lại hoặc mời mua quà này món nọ, ánh mắt họ đều ngầm cho chúng tôi biết liệu địch có lấp ló, lẩn quẩn ở quanh đó chăng ? Việc đấu trí nhau tự nó được hóa giải dần để rồi chẳng có gì xảy ra cả.

Tôi vốn yếu nhất trong số bạn nhậu nên rượu vào nóng là đổ máu mũi. Không phải chỉ bị máu cam xoàng mà một lần làm cách gì cũng không làm máu đông lại. Nửa khuya, tôi phải bò vào cấp cứu ở quân y viện để họ nhét loại ga tẩm thuốc vào mũi và tiêm mới cầm giữ được.

Vợ tôi có vẻ cằn nhằn, có lúc đã phàn nàn chọn về chi nơi này để bê tha nát rượu. Bản thân tôi cũng ơn ớn nên tìm hết đường lủi trốn xếp. Có hôm, xếp và bạn bè kéo đến kiếm, tôi thối thác dặn vợ nói không có nhà, nhưng xếp lục vào tận chỗ ngủ lôi tôi theo. Cho nên, bây giờ ông nào ông ấy hoặc sớm về chầu thánh tổ của ngành, hoặc còn thì cũng đeo máy trợ tim, đếm mạch cả.

Cũng may thời gian sống với xếp chỉ quãng 5 năm, sau đó nhân có khóa chuyên môn du học, tôi xin chuyển ngành và dông tuốt. Tuy không còn ở hỏa xa nữa, nhưng tình xưa nghĩa cũ vẫn còn, nên sau này những bước thăng trầm của đời binh nghiệp hay của mệnh nước, anh em chúng tôi vẫn còn theo dõi nhau để xẻ chia ngậm ngùi hay kỷ niệm.

Ba mươi ba năm trôi qua rồi. Cây bao lần thay lá, đất nước bao lần lận đận nổi chìm, anh em như những cánh chim phiêu bạt khắp chốn, nhưng hình ảnh Nha Trang vẫn không phai nhạt trong chúng tôi.

Một lần nào, hoặc các ông, hoặc tôi về lại vùng biển xưa, chợt bị chặn chờ chuyến tàu qua, nhìn xe mà chợt nhớ mông lung. Căn ga Nha Trang bây giờ đã mang một dáng vẻ khác, nhưng cái góc văn phòng vẫn nhỏ nhắn như ngày nào. Một chút loáng thoáng gợn lên làm trái tim như bị bóp chặt.

Chỗ này là nơi chiếc xe hằng ngày tôi vẫn đậu. Cửa kia là lối băng ngang của mọi người dân ở sau xóm đề pô. Những toa xe nằm rải rác còn phảng phất lối bố trí phòng thủ ở các ga hẻo lánh Sông Mao, Tam Quan, Trà Bồng cho dù lúc này hiểm nguy đã hết.

Thản hoặc có ngồi trên tàu chạy qua La Hai, Ma Lâm hay Suối Vận thì bỗng đột nhiên nhớ đến đồng đội xưa. Ai đã nằm xuống ở Rừng Lá, ai đã mất tích ở Lương Sơn, ai thành phế binh ở Diêu Trì và bây giờ những người sống sót ai còn ai mất.

Tôi nhớ thiếu úy Chi chết khi còn quá trẻ với một đoàn tàu bị dứt đớn đau. Mấy chục năm qua liệu hồn anh đã siêu thoát hay vẫn còn lẩn vẩn với sông núi mây ngàn. Nhớ người đàn em hôm nào thường đi cạnh lắng nghe liên lạc máy VCR-34 để bảo đảm an toàn cho tôi mà nay không còn nữa. Ôi chiến tranh, đã ngốn đi biết bao người trai trẻ của quê hương. Giọt lệ nào thương cho người đã ra đi và buồn cho người còn ở lại.

Có người hỏi tôi sao phần nhiều trong những bài tôi viết đều lan man có bóng dáng con tàu, nhà ga, con đường sắt và hầm. Làm sao tôi quên được một phần đời đã buồn vui cùng toa goong đầu máy, trạm ga nhỉ ? Cho dù bây giờ tôi có nghe về những loại tàu tân tiến cao tốc hay chạy trên đệm, tôi vẫn yêu những chuyến tàu chợ cà rịch cà tang chạy hằng suốt ngày mới xong một đoạn đường vài trăm cây số.

(còn tiếp)

Ðỗ Thành

Mục Lục


3. Bản Ðộc Tấu Cuối Cùng (tiếp theo và hết)

Ðinh Lâm Thanh



Nhà sản xuất dĩa hát Symphonie Blue phối hợp với bộ Văn Hóa Pháp cùng tổ chức buổi độc tấu vĩ cầm đầu tiên của Michel Boris tại đại hí viện Opéra Paris vào dịp lễ Giáng Sinh. Nhiều chương trình quảng cáo trên các cơ quan truyền thông kèm theo lời giới thiệu buổi độc tấu ra mắt lần đầu tiên của một nhân tài âm nhạc, tuổi cao sức yếu, và không ngờ, kết quả nhận được sự ủng hộ của khán thính giả ái mộ khắp Châu Âu.
Vé phải đặt trước hàng tháng và ngày trình diễn, ban tổ chức không thể đáp ứng chỗ ngồi cho hàng ngàn khán thính giả sắp hàng nhưng không mua được vé.

Chiều ngày 24 tháng 12 trước Lễ Giáng Sinh, buổi trình diễn dự trù kéo dài trong thời gian 3 giờ đồng hồ, trong đó Michel Boris độc tấu 24 bài do nhà soạn nhạc Paganini sáng tác đặc biệt cho vĩ cầm. Chương trình ấn định, sau mỗi lần trình diễn năm caprice của Paganini, Michel Boris nghỉ mười phút và dàn đại hòa tấu thành phố Paris sẽ xen kẽ bằng những bản hợp tấu của các danh tài âm nhạc J.S. Bach, F. Chopin, J. Brahms, J. Strauss…

Buổi hòa nhạc vinh dự được Tổng thống và Phu nhân chủ tọa, trên 120 nhạc sĩ ưu tú trong ban đại hòa tấu phụ họa và đặc biệt, nhạc trưởng là một người Nhật bản được mời điều khiển dàn đại hòa tấu của buổi trình diễn hôm nay.
Sau bài diễn văn chào mừng Tổng thống và Phu nhân, quý vị quan khách, ban tổ chức giới thiệu rất đơn giản, ngắn gọn về người nhạc sĩ vĩ cầm.

Michel Boris trong bộ y phục trình diễn truyền thống màu đen, áo chemise trắng với chiếc nơ màu sậm, tay cầm chiếc vĩ cầm, tiến ra sân khấu cúi đầu chào quan khách. Ðặc biệt hôm nay ông mang tóc giả, gắn râu giả, mục đích để giấu hẳn tông tích của mình trước khán thính giả đang chăm chú theo dõi cũng như của ký giả, phóng viên các cơ quan truyền thông, truyền hình và báo chí đang hướng ống kính về ông. Những tràng pháo tay không dứt, hoan nghênh một thiên tài trong lứa tuổi gần đất xa trời, xuất hiện lần đầu trong một buổi trình diễn vĩ cầm hiếm có và độc đáo chưa từng thấy trong lịch sử âm nhạc cổ điển.
Michel Boris hân hạnh cúi mình cảm tạ nhiều lần trước khi lui về vị trí trình diễn giữa nhạc trưởng và ban đại hòa tấu.

Gần bốn mươi chiếc violon của ban đại hòa tấu dạo khúc dẫn nhập, mở đầu cung mi trưởng, caprice số 1 để Jim bắt nhịp vào bài đầu tiên của Paganini. Chấm dứt bài thứ nhất, Jim liên tục chuyển lối trình diễn sang cung si thứ bài số 2 rồi mi thứ số 3, đô thứ số 4, la thứ số 5.
Ðến đây Michel Boris tạm ngưng để ban đại hòa tấu xen kẽ chương trình bằng bản Symphonie số 3 của J. Brahms và bản luân vũ nổi tiếng của J. Strauss. Lần tiếp theo, Michel Boris trình bày caprice số 6 cung sol thứ cho đến bản số 10, rồi từ 11 đến 14 và chương trình hòa nhạc xen kẽ không có gì trở ngại. Nhưng sau khi chấm dứt caprice cung mi thứ số 15 của giai đoạn 3, Jim không ngưng đàn theo ấn định trước… ông vẫn say mê tiếp tục như đang đàn cho chính mình ! Tất cả khán thính giả đều ngở ngàng.120 nhạc sĩ trong ban đại hòa tấu đồng loạt ngưng trống, đàn hạ xuống cầm tay, kèn rời khỏi miệng, vừa chăm chú vừa ngạc nhiên nhìn về hướng Jim.
Nhạc trưởng gõ nhẹ đũa trên tập nhạc ra hiệu nhắc nhở Jim, nhưng ông vẫn mãi miết, lặng lẽ kéo đàn, không phải là bài số 16 tiếp theo mà là một bản nhạc lạ tai mà tất cả khán thính giả chưa bao giờ nghe đến ! Tuy nhiên không một ai phản đối vì tiếng đàn như có ma lực thu hút tất cả mọi người hiện diện mặt trong hí viện.

Ðối với Jim, nhạc trưởng, ban đại hòa tấu và cả ngàn khán thính giả đã biến mất. Trước mặt ông bây giờ chỉ còn một hình ảnh Marianne với những kỷ niệm… Ông nhớ lại giây phút đầu tiên gặp nhau, những vòng tay siết chặt, những nụ hôn nồng ấm đang chuyển xuống đôi tay, và tiếng đàn của ông trở nên linh động, thảnh thót như chim hót, lóc lách, êm đềm như giòng suối chảy, có lúc lên cao như gió hú, rồi ào ạt đổ xuống như mưa rào… Jim nhắm mắt tưởng chừng như thời gian dừng lại, không gian tan biến và vũ trụ chỉ còn lại hai mẹ con Elsa.
Rồi điệu nhạc bỗng dưng đổi cung, trở nên giận hờn, uất ức, quay cuồng…phẩn nộ như sấm sét, gào thét như bão tố khi hình ảnh Marianne đang nhắm mắt run rẩy trong vòng tay của một người đàn ông khác. Jim dằn mạnh cung kéo đàn vào ba giây thấp, tay trái bấm chặt ba nốt nhạc rồi vuốt mạnh từ dưới lên trên, một hợp âm rít lên làm rung chuyển cả đại hí viện như tiếng nổ của hai viên đạn mà Jim đã kết liễu cuộc đời họ. Trước cái chết của người vợ mà ông thương yêu suốt đời, tiếng đàn đang đằng đằng sát khí bỗng dưng xuống cung, nghe như tiếng nấc nghẹn ngào lẫn nổi đau khổ xót xa và tuyệt vọng của một người thua cuộc, suốt đời phải ăn năn sám hối. Và, Jim đột nhiên chấm dứt bản đàn không tên sau gần một giờ trình diễn.

Ðối với Jim, đây là bản độc tấu cuối cùng của cuộc đời để cho yêu thương, thù hận và chết chóc đi vào quên lãng... Jim cúi đầu chào nhưng tất cả khán thính giả hiện diện trong đại hí viện Opéra vẫn đắm chìm trong yên lặng. Chừng một phút sau, mọi người bừng tỉnh, đồng đứng lên và tiếng vỗ tay mạnh mẽ mới bắt đầu, rồi nhiều lần, nhiều lần và nhiều lần….
***
Ông Phillipe Martin dìu Jim về khu hành chánh phía sau đại hí viện, nơi ông ta tổ chức buổi họp mặt chiều nay để giới thiệu Jim với báo chí, đồng thời quảng cáo các bộ dĩa thu nhạc của công ty ông sắp tung ra thị trường.
Hàng trăm ký giả điện ảnh, truyền thanh truyền hình và báo chí đồng loạt đứng dậy khi Jim và ông Martin bước vào từ cửa hông. Sau vài lời mở đầu của nhà sản xuất dĩa nhựa, ông quay qua Jim :
- Bây giờ đến lượt ông có vài lời với báo chí.
Jim trả lời rất gọn :
- Tôi không có điều gì để phát biểu hay tuyên bố. Tôi dành tối đa nửa giờ để trả lời các câu hỏi theo yêu cầu của quý vị.
Nhà sản xuất dĩa nhựa hướng về phía dưới :
- Tình trạng sức khỏe của ông Michel Boris không cho phép có mặt lâu, xin quý vị đặt vài câu hỏi ngắn gọn. Ông Boris chỉ dành cho quý vị ba mươi phút và mỗi vị chỉ được đặt một câu hỏi.
Báo Firago bắt đầu :
- Xin cho biết tiểu sử và cơ hội nào đưa ông đến với âm nhạc ?
- Xin cám ơn ông, tôi là một người vô danh, không có lý lịch, tiểu sử và vấn đề học nhạc học đàn là một bất ngờ như một sự ép buộc !
Cả phòng họp ngạc nhiên câu trả lời rất tự nhiên của Jim, nhà báo Firago ngồi xuống và tờ báo bạn Le Quotidien tiếp tục câu hỏi :
- Xin ông đi vào chi tiết, cho độc giả chúng tôi biết thêm cả hai vấn đề trên.
- Rất tiếc, tôi đã trả lời câu hỏi nầy của bạn ông ! Xin quý vị đừng đi sâu vào đời tư.
- Các dự tính trong tương lai, ông có đồng ý phổ biến những bản độc tấu ? Và có thể cho độc giả chúng tôi biết ông đã sáng tác bao nhiêu bài không tên ? Tờ Magazine VSD đặt câu hỏi :
- Tôi đã ký hợp đồng với công ty Symphonie Blue để phát hành trong tương lai. Bài không tên thật ra dài vô tận, nhưng có thể chia ra thành nhiều đoạn, nhiều phân đoạn, mỗi phân đoạn dài chừng năm bảy trăm trường canh.
Ðến lượt đài truyền hình M6 :
- Xin cho biết lý do, tại sao trong chương trình tấu nhạc của Paganini ông bỏ dở nửa chừng và thay vào đó một bài không tên ? Và chuyện gì làm ông xúc động khi trình diễn độc tấu bản không tên ?
- Những hình ảnh trong đời chợt hiện đến, xáo trộn tâm hồn, trái tim và trí nhớ làm cho tôi quên hẳn hiện tại trước mặt. Chính những kỹ niệm cũ đã điều khiển đôi tay.
Ðài TV 5 tiếp lời đồng nghiệp :
- Như vậy, một mối tình nào đó trở thành bi kịch trong suốt cuộc đời ông ?
- Cứ tạm hiểu như vậy, tôi không nói gì thêm về vấn đề nầy.
Tờ France Soir tiếp tục chương trình phỏng vấn :
- Nếu chúng tôi không lầm, ông không phải chính gốc người Pháp ? Trong nầy có điều gì bí ẩn ?
Suy nghĩ vài giây Jim trả lời :
- Tôi trả lời câu hỏi tò mò của ông và để chấm dứt buổi họp báo hôm nay, tôi vắn tắt như sau : Trong đời sống mỗi người đều có, không nhiều thì ít, những kỹ niệm quá khứ của mình. Nhưng không ai muốn khơi lại chuyện đã qua, nhất là những chuyện đau buồn. Một người nào đó, đôi khi thay họ đổi tên là một dụng ý muốn người đời quên hẳn, xem như mình đã chết. Thế thôi !

Câu trả lời chân tình cảm động gây cảm xúc cho những người muốn đặt tiếp câu hỏi phải dè dặt. Dưới hàng ghế, một người đưa tay xin hỏi tiếp. Ông Martin xem đồng hồ, chấp nhận cho nhân vật nầy đến gần micro :
- Thưa, tôi không phải là nhà báo hoặc người làm việc trong ngành truyền thông, xin phép được đề nghị một vấn đề ngoại lệ.
Ông Martin nhìn Jim dò ý, Jim gật đầu.
- Tôi đại diện cho bảo tàng viện quốc gia Ý Ðại Lợi xin được mua ngay hay ứng tiền trước đặt cọc cây đàn lịch sử mà ông Michel Boris đang xử dụng.
Trong phòng trở nên ồn ào và không ai phản đối một câu hỏi ngoại lệ nhưng rất có giá trị. Ông Philippe Martin nhìn Jim chờ câu trả lời.
Jim lắc đầu, mỉm cười :
- Nó vô giá !
- Xin ông cứ cho biết, bảo tàng viện quốc gia xứ tôi muốn thu hồi cây đàn đã thất lạc từ hàng trăm năm qua.
- Rất tiếc, tôi đã biếu một người.
Một nhà báo chen vào hỏi :
- Xin cho biết danh tánh người được hân hạnh đó.
Jim vắn tắt :
- Một đứa trẻ ba tuổi !

Nói xong ông đúng dậy cám ơn và hấp tấp ra ngoài.
***
Ngồi đợi tại quán café đối diện với ngôi chung cư cao ốc nơi Vivian đang ở, Jim thấy hồi hộp lạ thường, nhịp tim đập mạnh, ngực khó thở… Có thể cơn đau đang hành hạ ông vì niềm vui là sẽ được đối diện với con cháu trong căn nhà thân yêu mà Jim hằng ao ước đặt chân lên đây. Nhìn đồng hồ tay, bây giờ đã gần mười giờ đêm, Jim quyết định phải lên sớm để được nhìn và ẳm cháu một lần trong đời đồng thời được ôm con và rể vào lòng trước ngày ông rời xa nơi đây.
Sau khi thêm một ly whisky để tăng phần can đảm, Jim xách cái bao vải đỏ băng qua đường, thẳng đến trước cổng vào và đứng khuất sang một bên quan sát. Nhìn lên cửa sổ của các từng lầu, tất cả đèn vẫn còn sáng, như vậy có thể cháu ông đang ngồi chờ ông già Noël như hàng triệu trẻ con thường ước mơ món những quà nhỏ mỗi dịp lễ Giáng Sinh.

Jim khoác lên ngoài bộ áo đỏ ông già Noël, đội đầu tóc bạc, mang thêm hàm râu thật lớn để che một phần khuôn mặt, tránh người đối diện có thể có thể nhận ra mình cũng như để giấu những giòng nước mắt chắc chắn sẽ chảy ra vì xúc động.
Jim vác lên vai cái bao đỏ, trong đó đựng chiếc đàn vĩ cầm, một bao thư chúc mừng Giáng Sinh kèm theo mấy giòng chữ ‘Tôi có món quà nhỏ gởi cho cháu Elsa tại văn phòng luật sư Martin Guinot, số 1426 Ðại lộ Saint Germain, Paris 5’
Vào được bên trong nhờ một người cư ngụ ở đây mở cửa khi thấy ông già Noël ngỏ ý muốn lên lầu phát quà cho trẻ em.

Khu vực Vivian ở là một nhà cao ốc gồm hai mươi từng dành cho những gia đình nghèo. Vừa đặt chân vào cửa, Jim đã biết ngay nơi đây là nơi cư ngụ của nhiều thành phần, nhiều chủng tộc khác nhau. Mùi nước ẩm, mùi hôi mốc lẫn lộn, vách tường thì hình vẽ chữ viết lờ mờ dưới áng đèn không đủ sáng. Khó khăn lắm mới kiếm được tên Levi-Vivian trên hộp thư, cửa số 185 lầu 18 !
Ðịnh thần một lúc, Jim tìm được thang máy, nhưng vô phước, chiếc thang máy cũ đang trong tình trạng bị hư hỏng, Jim quá thất vọng, làm thế nào để lên đến từng 18 bằng lối cầu thang ? Ðây là dịp duy nhất để Jim có cơ hội vào nhà con gái. Hơn nữa, không thể đợi một nào dịp khác, vì ngày mai Jim sẽ vào nhà dòng như lời hứa với cha bề trên và sẽ tiếp tục những ngày còn lại trong bốn bức tường của một tu viện ở vùng Bretagne..

Nhất định phải lên ! Jim tự nhủ và cố sức bước từng nấc thang…lầu 1, lầu 2 rồi lầu 5.. nhưng phải ngồi nghỉ vì hơi thở bắt đầu khó khăn. Mười lăm phút sau, Jim đứng dậy và cố gắng lên thêm vài từng nữa, nhưng cái bao đỏ bây giờ trở thành quá nặng mặc dù trong đó chỉ có chiếc vĩ cầm… Jim tự khích lệ mình, phải cố gắng, để được nhìn tận mặt con gái và cháu ngoại, và nhất là đem lại cho Elsa một niềm vui trong đêm Giáng Sinh….
Jim gượng đứng dậy tiếp tục bước lên. Ðến từng 12 Jim thở rất khó khăn, ngồi xuống nghỉ mệt và tự an ủi mình, đã lên được hai phần ba đường, chỉ còn 6 từng nữa là đến đích. Không thể phí thời giờ, Jim nhất quyết phải đi tiếp nhưng bây giờ mắt ông hoa lên, Jim không còn nhìn thấy con số ghi trên cửa mà phải đếm bước chân và đưa tay vịn vào vách để biết số những từng đã đi qua. Cuối cùng Jim cũng lên đến lầu 18 sau gần một giờ đồng hồ khó khăn leo bộ cầu thang. Jim mở cửa hông bước ra, ngồi dựa vào vách nghỉ mệt để lấy lại sức và hy vọng sẽ đọc được con số ngoài cửa của mỗi nhà.
Tay chống vách xê dịch từng bước một trên quảng hành lang thiếu áng sáng, chừng 10 thước nhưng ông phải dừng lại nhiều lần. Thật may mắn, bây giờ mắt Jim có thể đọc được số và tên chủ nhà nhưng tim đập quá mạnh, vừa mệt sau khi leo lên được 18 từng lầu lại vừa hồi hộp vì sẽ được nhìn thấy con cháu. Jim cảm thấy hơi thở trở nên khó khăn, nhưng vẫn cố gắng lần đi từng bước một trong bóng tối để kiếm phòng. Khi đến trước cửa số 185 Jim cố gắng đưa tay bấm chuông thì tự nhiên đầu choáng váng, mắt hoa lên, thân mình ngã quỵ xuống nền xi-măng, mũi ngộp thở và tim đột nhiên ngừng đập… Jim cố vận dụng tàn lực cuối cùng để kêu lên một tiếng lớn ‘Vivian con ơi, Elsa cháu ơi’, nhưng toàn thân Jim nằm bất động, tay vẫn ôm chặt cây đàn và hồn từ từ lìa khỏi xác… trong lúc chuông nhà thờ đang rộn rã đón mừng Chúa Hài Ðồng giáng thế.

Chung quanh vẫn yên tĩnh, các gia đình đang quay quần bên cây Giáng Sinh để chúc lành cho nhau. Xa xa, bài ca Silent Night…Holy Night vang lên trong các Thánh đường rực sáng để đón chào Thiên Chúa giáng trần. Tiếng dội của bài hát đang vọng đến hành lang một cao ốc nghèo nàn, nơi ông già Noël vừa tắt thở, như khúc nhạc tiễn chân một người bất hạnh về cỏi bình an !
Sáng hôm sau, Vivian phát hiện một ông già Noël chết trước cửa nhà mình, bà báo ngay cho nhà chức trách và khi cảnh sát đến, nhân viên an ninh kiểm soát bao vải, họ tìm thấy trong đó một cây đàn vĩ cầm kèm theo mảnh giấy nhỏ của ông già Noël đề tặng. Khi cảnh sát gở đầu tóc và hàm râu giả, Elsa nhào xuống đất bật khóc và thất thanh kêu lên:
- Ông già Noël ! ông chính là người hành khất thường đàn cho con nghe dưới sân. Tội nghiệp, ông giữ lời hứa và đã leo 18 cầu thang lên đây để tặng con cây đàn nầy.
Vivian nghẹn ngào đở Elsa đứng dậy :
- Có phải con đã cho ông già Noël biết số nhà của mình ở lầu 18 nầy ?
- Thưa mẹ, không.

Người sĩ quan cảnh sát trao cho cha mẹ Elsa tấm thiệp :
- Tôn trọng ý nguyện của người quá cố, xin ông bà nhận cây đàn và nhất là giữ tấm thiệp nầy, có thể đây là chúc thư của ông già Noël chết trước cửa nhà gởi cho cháu. Chúng tôi sẽ liên lạc với luật sư Martin Guinot và thông báo cho bà biết rõ nội dung món quà mà người quá cố đã để lại cho cháu Elsa.

Paris, mùa Giáng Sinh 2006

* Trích trong ‘Cánh Cửa Ðã Khép’ do Nam Việt xuất bản và Tự Lực phát hành tháng 4/2007 tại Cali, USA

***

Ðinh Lâm Thanh




Mục Lục


4. Chập Chùng Bóng Núi 24 (Chuyện Dài)

Thanh Sơn



Kỳ 24

Chưa đến thăm buôn, anh thấy lòng không yên. Anh nghĩ cần phải cám ơn già làng đã mật báo cho anh tin địch có ý úp đồn, nhờ đó mà đơn vị anh bảo toàn được sự hiện diện. Nhưng có lúc anh thoáng thấy như lý do này chưa thực sự là chính mà dường như còn một nguyên cớ nào khác sâu đậm hơn.

Ðã bao lần anh nhủ với lòng chiến tranh còn lê thê quá, đèo bòng chuyện vợ con chỉ thêm gây phiền cho người đợi chờ. Lại nữa, Nia và anh còn nhiều trở ngăn cách biệt, cô ấy là một đóa hoa rừng còn anh là một người lính.

Có một lần nào ra sau đồn nhìn những vòng kẽm gai anh chợt thấy một bông hồng lẻ loi nở khoe sắc giữa những vòng concertina đánh rối. Anh thắc mắc nhân duyên nào mà có một đóa hoa đơn độc mọc hoang dã nơi đây. Phải chăng một cánh chim kia ăn quả và bay ngang nhả cùi xuống đó.

Giá không có chiến tranh thì đẹp biết chừng nào. Hoa sẽ nhởn nhơ nở và tỏa mùi hương giữa trời mây bát ngát. Còn bây giờ nụ hồng mọc hết sức bơ vơ, bước chân người vô tình không thể đạp làm nhàu cánh hoa, song súng đạn biết đâu vô tình không làm cánh hoa tan tác.

Anh cứ đem hình ảnh nụ hồng mà ví với Nia. Tại sao một cánh hoa đang sắc như thế lại chọn về với bản thôn nguy hiểm. Anh nhớ có lần ngồi nói chuyện, anh đã đem vấn đề ra đặt với Nia. Cô đã thỏ thẻ với anh : già làng lớn tuổi quá rồi, anh à. Anh nghĩ em có thể yên tâm ra thành phố học để rồi già cứ mòn mỏi ngóng mong em sao.

Bây giờ, nét mặt và cái nhìn xa vắng của Nia làm anh chộn rộn vô cùng. Hôm cô ấy theo già làng và người của buôn đến nhận Y Brôm, anh thấy cô đã nhìn anh hết sức trìu mến còn quyện thêm chút hàm ơn nào đó nữa.

Anh bật cười. Chiến tranh có những hồi lãng mạn như thế. Khi không rồi giữa rừng núi thượng cấp đặt để ra một cái đồn, để có một chàng miền xuôi lên làm bạn với buôn bản. Có thể nào một mối tình tiểu thuyết chớm nở nơi sương nắng này chăng ?

Anh chưa dám nhận đã yêu Nia, song anh không dấu được lòng nhớ cô da diết. Những mùa mưa bạt núi sẻ ngàn, gió vi vút lay rừng cây vật vã, anh thường tự hỏi bây giờ Nia đang làm gì.

Ðám đàn em đã bê nguyên một gộc cây bự về đồn đốt âm ỉ chống cái rét đang luồn sâu vào xương cốt, đồng thời để ngăn bọn muỗi rừng bay loạn xạ vo ve. Hơi ấm tỏa ra khắp quanh cùng xộc lên mùi ngai ngái của cây tươi, nhưng anh lại lo ở bản Nia bị lạnh.

Mùa lũ kéo về, con suối tràn bờ đục ngầu xác lá rừng, phá lở bờ dọc hai bên, anh cũng lo bản không còn nước sạch, trong mà dùng. Nói bản buôn là tóm cho gọn, chứ chẳng lẽ anh chỉ tỏ nỗi lo cho riêng Nia thì ích kỷ quá chăng.

Bữa nay, đồn đã thu vén đắp vá lại nơi bị đạn sạt, vòng an ninh cũng được củng cố thêm, anh nhất định phải làm một chuyến lên buôn. Không dám chủ quan, anh lôi theo vài tay em súng ống đàng hoàng và dặn xuất một ít hàng quân tiếp vụ đem làm quà biếu già làng.

Hẳn nhiên là cánh anh đi phải áp dụng đội hình nghiêm nhặt. Không phải anh sợ đối phương mà sự gì có kỹ có hơn. Ðường lên buôn vẫn vắng hoe như cố hữu, con đường mòn vẫn giống con rắn hổ bò len lách giữa bờ cỏ cháy khô. Mũi súng trong tay vẫn lăm lăm sẵn sàng chống trả khi có động tĩnh.

Ðến cổng làng, bọn trẻ đang xí xô xí xào bỗng chạy toán loạn la inh tai như giặc đến. Những chú lợn bụng xệ, dính bê bết bùn, thấy rối ren, cũng phóng bạt mạng kêu chí chóe um lên.

Nia ló ra từ ngôi nhà rông trước nhất. Cái vật tổ treo trước cửa bị gió rung phần phật và tiếng Nia lao xao như giọng chim buổi sớm. Một loáng, già làng ló mặt ra, khói từ tẩu thuốc bay rào rào khét lẹt.

Phía nhà Y Brôm thoáng bóng người chạy rụt vào. Anh biết chưa dễ gì để họ quên nhanh việc chồng cha họ bị thương, dù là đối đầu nhau trong trân đánh. Anh lơ đi như không thấy.

Già làng xí xô cất lời chào : lên đây thằng kinh, lâu quá không thấy. Anh bước lên khúc gỗ đẵn thành bực thang thô kệch, ra dấu cho bọn đàn em phân tán quanh nhà. Nia rụt rè đón anh, mắt lóe lên tia mừng rỡ.

Anh cất lời chào già làng rất trơn tru, song lại ngượng nghịu vấp khi quay sang phía Nia. Già làng vồn vập hỏi thăm và anh cố nén sự rộn rịp đang dâng ngầm như lũ cuốn. Nia cũng bẽn lẽn ngang, đứng ì ra tại chỗ, tay vân ve nơi cái phá đang mặc.

Anh giao mấy thùng đồ hộp cho già làng, nhưng lại nói với Nia : nhờ cô phân phát đến bà con ta trong buôn, gọi là chút quà cám ơn của đồn. Anh không nói cám ơn gì, cám ơn ai, song ánh mắt anh líu ríu nhìn xoắn lấy Nia khiến cô hiểu anh đang cám ơn cô nhiều nhất.

Nhân lúc già làng gọi í ới người sắp đặt chỗ tiếp khách, Nia vội nói với anh : có gì đâu mà anh cám ơn. Ðó là bổn phận vì mất mát nào cũng làm em đau lòng cả. Khi nói, đôi mắt cô long lanh như sắp có giọt lệ tuôn ra làm anh nghe buốt đau dữ dội.

Anh phải tự trấn an bằng cách hỏi to : Y Brôm ra sao rồi, liệu có cần trụ sinh thì để đồn giúp vài chai cho vết thương không làm độc. Già làng chưa nói gì thì Nia đã góp ý : em nghe chị ấy rịt lá rừng nên vết thương cũng bị tấy sưng, chắc chỉ vài hôm nữa là khỏi.

Anh im lặng vài giây rôi nói, quay qua Nia : cô làm ơn chuyển lời tôi thăm anh ấy. Anh định nói thêm : nhờ cô xin lỗi chị ấy hộ tôi, nhưng thấy nghẹn lời. Chẳng rõ Nia có đoán được ý anh không mà nghe cô xuýt xoa kể : rủi ro ở chỗ đánh nhau nào chả có, anh đừng dằn vặt mình.

Anh ở lại buôn khá lâu, chuyện vãn với già làng và âm thầm nhắn nhe với Nia bằng những cái nhìn trìu mến. Quá trưa, anh lại cùng đám em kéo ra về. Già làng tiễn chân ngay tại bậc thang nhà rông, trong khi Nia lẽo đẽo theo anh một đoạn ra gần bờ suối rồi mới quay vào, sau khi đã dặn dò : anh luôn giữ gín cẩn thận.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài)

Phan Thái Yên



Hình như ngày của Nữ đã bắt đầu từ một lúc nào đó vào cuối cơn mất ngủ, lúc nàng ra khỏi nhà ngu ngơ từng bước chân theo quán tính u hoài trên bờ dốc cát. Mắt còn nhấp nhem cơn trằn trọc, nàng bơ phờ nhìn về phương Ðông. Mặt trời vẫn biệt tăm cùng bóng đảo đâu đó phía chân trời còn kín sương vây.

Bóng từng chiếc thuyền đánh cá từ đêm khơi đơn độc quay về monh manh hiện dần trong màn hơi nước trắng lịm giúp Nữ mường tượng ra được phần nào lằn ranh của trời nước. Trong mênh mông chân trời giao thoa diệu vợi, từng cơn chớp biển vụt sáng rền rồi tan biến vào thoắt lịm tiền kiếp, sướt mướt mưa nguồn. Ðoàn tàu ngất ngư trồi dập trên triền nước tràn dâng lối vào cửa biển. Những cánh buồm tã tơi dắt díu nhau trong chập chùng sương xám bỏ lại sau lưng cơn biển động và những quầng mây gió xé tan hoang. Ngọn gió cuồng xoay khiến Nữ phải lao đao cố giữ cho được cảm giác thăng bằng bằng cách bấm mấy ngón chân mình trên mặt cát ngấm sương đêm. Cùng lúc nàng chợt nghe như có tiếng khóc nhỏ nhoi quanh mình, thầm thì thật gần như của chính nàng. Lúc Nữ nhận ra thì nước mắt đã mặn môi. Dòng lệ kí ức vẫn mãi khóc thầm về một buổi sớm vừa dứt bão, sương mù bay theo từng cơn gió lồng lộng nước, ngập ngụa điêu linh biết bao mãnh đời. Nữ đã khóc với mẹ và những người đàn bà héo úa đứng chờ cha chờ chồng trên đồi cát gió trào nghiêng ngã lau. Những bóng người mảnh mai và tiếng khóc dấp dúi vào nhau trên triền cát dẫn xuống bãi lưới bên sông. Bầy thuyền buồm xơ xác trở về bến đã đành bỏ lại con thuyền bạn nhỏ nhoi trong cơn bão biển. Lấy chồng làm biển hồn treo cột buồm…nên tiếng khóc mẹ chẳng còn ai dỗ dành. Sau chiến tranh, con gái lớn theo chồng bỏ nước ra đi, ngôi nhà trong phố bị tiếm đoạt, người cha sa cơ dắt díu gia đình ra rẻo cát sau cửa biển để trở thành một người làm biển bất đắc dĩ. Ông nhọc nhằn mưu sinh và tưởng được yên lòng với cảm giác tự tại phiêu bồng vào những sớm mai buồm căng lách mình thoát ra cửa biển. Trời chẳng chìu lòng người, giữa cơn giận dữ của biển, cha gắng dồn sức cứu được con trai rồi kiệt lực chìm chết trong biển sâu để hồn mẹ cũng vật vờ treo theo chiếc cột buồm gãy đổ nổi trôi cùng nước đại dương. Người anh trai hận biển bỏ xóm lên rừng biệt tăm. Mẹ tảo tần và khóc âm thầm những năm dài sau đó, cho tới ngày bà nằm xuống bên chồng trong bãi mộ chí hoang tím những lùm sim dại nằm kề bên xóm nhà vắng lặng xác xơ.

Ba mươi năm. Ðời trôi. Bảo khơi xa vẫn thổi ruồng qua xóm chài vào những tháng mười mờ mịt đầm sông, lều bều gổ mục nhớ nguồn. Nữ vẫn sống qua những tháng mười đời mình, nhẫn nhục, loanh quanh như bầy còng xe cát phụ rẫy trí nhớ, loay hoay tìm hoài vết chân mình giữa lằn ranh mơ hồ cát sóng. Ðau xót xa đến rớm nước mắt từng bước chân lên lớp sò ốc vỡ sắc nhọn trên bãi cát, thế mà vừa lìa xa nàng đã thôi thúc sôi nỗi muốn được trở về, bó gối ở lại, chỉ để rồi băn khoăn tự trách lấy mình. Nhiều lần thức giấc giữa khuya, nàng đã khóc đến ràn rụa rồi mất ngủ hồ nghi về những giọt nước mắt chưa khô trên má, bâng khuâng tự hỏi phải chăng đời mình là dòng nước mắt chảy quanh, xoay cuốn xa dần mà vẫn phải đi quanh. Từ bên bờ tiệm cận choáng ngợp hương yêu của một đầu nguồn kí ức, kỷ niệm chập chờn lóng lánh như thứ hạnh phúc u hoài cần thiết mớm sức cho nàng sống qua năm tháng, qua mùa của đời ngơ ngác thanh xuân, qua mùa của hạ huyền đêm nằm nghe biển trở chớp gọi mưa nguồn, qua mùa chớm vàng thu hiu hắt đời phai. Và rất nhiều buổi sớm như sáng nay, đứng trên độn cát lắng nghe tiếng khóc mình tan theo mù sương pha gió biển mặn môi.

Nữ cúi nhìn biển sóng dưới chân mình rồi thở dài quay lưng bước xuống phía xóm nhà hiu hắt mấy ngọn đèn chong. Như rất nhiều buổi sáng trong đời nàng đã u hoài chọn lấy lối đi rất xa để trở về nhà.
*
Trong nhiều năm, tuổi mười ba ở lại với Nữ như dòng nhựa nguyên sinh giữ nguồn xanh cho cây đời trong buổi đông miên. Về sau này sau khi đã sống cam đành với oan khổ đau thương và tuổi đời dập vùi bờ sóng thời gian, người đàn bà thương bóng mình tàn xuân vẫn mãi hàm ơn về những kỉ niệm yêu thương bẽn lẽn má môi hồng của một Nữ-thuở-mười-ba luôn hiện tiền và sẳn lòng để nàng vịn vai đứng dậy sau mỗi lần té ngã nơi cuối đường thất vọng.

Hồi đó, ngay cả sau đám hỏi của chị, bé Nữ vẫn gân cổ cải đã gặp anh Dõng trước chị mình. Con bé còn khoe cái sẹo nhỏ ở đầu gối làm bằng chứng khi té xe đạp được ông sĩ quan hải quân tình cờ đi ngang làm lục-vân-tiên cứu nạn. Cho tới khi ông anh rể tương lai cười cười chuyền qua chị Nhi tấm hình cũ lúc hai người còn là sinh viên ở Huế bé Nữ mới chịu thua, tuy vẫn còn dấm dứ từng bước chân “voi” ra khỏi phòng. Hội An chớ phải Huế mô!? Ở Hội An, anh Dõng gặp em trước chớ bộ… Lần anh lái xe jeep ghé trường chở bé đi Ðà Nẵng mua xe đạp mi-ni, con bé hãnh diện ngồi cạnh ông quan tàu thủy trước những cặp mắt đầy thán phục thèm muốn của bầy bạn xúm quanh. Bé Nữ hã dạ le lưởi làm mặt xấu chọc cô giáo Nhi lúc nàng bước qua cổng trường đến bên anh. Hai anh em đừng về tối, nguy hiểm lắm nghe… Ðêm hôm đó, bé Nữ đứng bên cửa sổ nhìn anh chị âu yếm ngồi bên nhau dưới bóng tàng cây vú sửa lòng rạt rào niềm vui khó tả. Ánh trăng xuyên qua tàng lá lung linh đưa bé vào giấc ngủ say tràn mộng ngọt…có anh Dõng chị Nhi say đắm múc trăng vàng tắm gội cho nhau bên bờ giếng…

Nữ đã giữ lại riêng cho mình mùa xuân tuổi mười ba luôn rạng mới và đon đả như tiếng chuông chiếc xe đạp vừa ráp còn thơm tím màu sơn dựng bên giường ngủ khẻ rung như tiếng cười khúc khích trong đêm trăng trở mình con gái.

Thế rồi quanh nàng mùa xuân đất nước là cơn bảo khô khốc của chiến tranh tàn bại chia lìa. Ðám cưới của anh Dõng chị Nhi không áo dài khăn đóng, chẳng có hoa đèn, chẳng họ nhà trai, chỉ kịp vội vàng để anh đưa chị lên tàu di tản. Buổi chiều hôm đó, qua màn lệ, lần đầu tiên Nữ nhìn thấy người anh ngỗ ngáo của mình đã khóc. Hình ảnh anh Niên đứng lại dưới hiên nhà nhìn theo bóng chiếc xe jeep khuất dạng cuối phố rồi quay lưng lau vội dòng nước mắt trong vòng tay của cha mẹ đã ám ảnh Nữ suốt cuộc đời nàng. Những mùa xuân của đất trời héo hắt trôi qua. Cha mẹ mất ngôi nhà một đời gầy dựng vào tay người anh họ đi tập kết về “trông hộ” để khỏi bị chính quyền kiểm kê vì tội ngụy quyền. Phố tạp hóa bỗng chốc trở thành cửa hàng quốc doanh, mẹ cũng đành tay vụng về vá đan lưới cá, dẫn con theo chồng tập tành sống với nghề biển mưu sinh, gầy dựng lại gia đình.

Quay lưng về phía mặt trời, xóm chài nằm dấu mình sau độn cát vàng Xuyên Thọ núp gió khơi xa. Trên những chuyến đò chợ từ Phố ra cù lao Chàm, ghe vừa qua khỏi vàm lau sậy cuối sông Thu Bồn, mắt người đã xốn xang chạm bãi tha ma mộ chí ngổn ngang giữa những bụi xương rồng gai góc như muốn úp chồng lên xóm chài lơ thơ mấy mái tranh nghèo tơi tả chênh vênh trên triền cát.

Vào mùa lụt, xóm nhà e dè từng liếp cửa hé nhìn xuống đầm sông tiếp biển tràn cuộn sóng nước pha màu đất núi đỏ ngầu sau những cơn xối xả mưa nguồn. Nước từ thượng dòng Ô Lâu, Thu Bồn, Trường Giang cuồn cuộn đổ về cuốn theo từng mảng lục bình, gổ mục, quây quần trong đầm sông trước khi bị cuốn phăng ra biển. Phía bờ Bắc cửa Ðại, nước dâng tràn như muốn nhận chìm trong sóng bạc bãi lưới xóm chài Thuận Tình sướt mướt hàng tàu lá dừa rũ nặng mưa sa.

Những ngày trời êm đi học, vừa sớm tinh mơ anh em Niên Nữ đã chèo xuồng băng đầm sông qua Thuận Tình rồi đạp xe bảy tám cấy số đến trường. Tiếng vỉ sắt trên cầu Phước Trạch cót két oằn nhịp vòng xe đánh thức bầy cò trắng hốt hoảng vỗ cánh bay trắng bờ sông Ðế Võng. Con đường quen những năm trước cùng bạn bè ra tắm biển Cửa Ðại hay đôi lần theo anh chị ngồi xe gắn máy chạy dọc theo chân sóng ra tận căn cứ hải quân nơi anh Dõng đồn trú chỉ cách xóm chài Thuận Tình một bãi rào phòng ngự. Con đường vui Cẩm An ngập tràn kỉ niệm năm nào sao bây giờ quá dài sau buổi tan trường bụng đói đạp xe trở về nhà. Thói quen nghĩ về chị Nhi anh Dõng nhất là lần được anh chở đi Ðà Nẳng chơi giúp Nữ quên hẳn đường xa. Nữ nhớ mãi cảm giác ngượng ngùng lâng lâng lần đầu tiên được làm người lớn uống cà phê nghe nhạc ở quán Ngọc Anh, niềm sung sướng hảnh diện dắt chiếc xe đạp mini màu tím ra khỏi tiệm, và sự kích thích lẫn sợ sệt tốc độ lúc chiếc xe jeep chạy như bay trên quốc lộ, nhột nhạt trên khuôn mặt ngây thơ vùng tóc gió cuồng bay. Chân Nữ vẫn nhấn từng vòng quay lên chiếc xe đạp thân yêu trên con đường mòn cũ mà anh Dõng chị Nhi thì đã cách biệt phương trời.

Vào những buổi chiều sau giờ học chờ đò về nhà, Nữ thường thơ thẩn vào khu căn cứ hải quân cũ. Sau ngày chiến tranh chấm dứt, bộ đội du kích vào tiếp quản một thời gian nhưng đã bõ trống sau khi khuân vác hết những gì họ có thể, giờ đây chỉ còn là bãi đất hoang phế và vài lô cốt đúc xi măng cỏ dại phủ đầy. Nữ vẫn thường ngồi trên nóc lô cốt nhìn ra khơi xa nhớ anh chị chẳng có tin thơ rồi thương cha mẹ vất vã chưa quen với long long cơ cực. Nữ nhớ tới hình ảnh con tàu nhỏ cất mình phóng như bay trên sông Thu Bồn làm Nữ sợ hãi ôm rịt lấy chân anh Dõng, lần anh chở cả nhà ra thăm căn cứ để mẹ biết anh “ăn ở ra reng ngoài nớ”.

Một buổi chiều, vì tò mò Nữ dò bước vào bên trong lô cốt nhìn kiếm vu vơ. Ở một góc tối khô ráo, cô bé tìm thấy cái thùng đàn nứt mẻ của một chiếc guitar gảy nằm úp sấp dưới đống giấy báo bề bộn và mấy hộp trái cây nằm lăn lóc gần đó. Nữ thảng thốt kêu lên khi thấy một tấm hình cũ loang lổ rớt ra từ thùng đàn. Tấm hình anh Dõng chị Nhi tươi cười bên nhau chụp ngày đám hỏi, có bé Nữ làm mặt xấu lấp ló ở góc hình. Cô bé hối hã kéo ra thêm nhiều hình, thư từ bút kí, và một băng cassette còn nguyên bao nhản. Nữ mừng rở chạy về phía bến đò, cuống quít gọi anh. Tối hôm đó, mẹ cười tươi lật xem từng tấm hình gia đình vào ngày vui của con gái rồi bất giác lệ rơi nhớ con nhớ rể tha phương quê người. Bà nhìn tấm hình chồng phương phi phong thái, nói với con gần mà nghe như nhắn nhủ con xa. Giấy có rách cũng phải giữ lấy lề nghe con. Ba của con bây giờ quần lủ áo lam cũng chỉ vì sa cơ thất thế mà thôi… Anh Niên thì bận rộn pha chế mấy li trái cây, pha trò. Ðể con hi sinh nếm trước, ngủ một đêm sáng thức dậy không sao thì để dành cho ba đem theo ghe …

Chiếc máy cassette nhỏ hết pin vướng bụi từ lâu được Nữ mang ra lau chùi, sống lại giữa đêm tiếng hát thì thầm lời ca nàng chưa biết tới bao giờ sao chợt nghe xao xuyến hồn con gái buổi trăng đầy…”Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt. Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa. Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ. Về đồi sim ta nhớ người vô bờ…” (Vũ Ðức Sao Biển). “Nguyệt Cầm nghe nấc từng câụ..Có hàng mây trắng về đâu? Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu. Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu . Khơi mãi nguồn đêm ...Mùa trăng úa làm vỡ hồn tạ..” (Cung Tiến). Nữ xếp lại những trang thư của anh Dõng chị Nhi theo thứ tự thời gian rồi chong đèn mãi mê đọc cho tới khi bấc lụn. Bóng trăng tàn rụng bãi khuya nghiên chiếu qua liếp cửa gió lùa đưa Nữ vào giấc mộng miên man đầy ắp tiếng sóng kỉ niệm. Cả trùng dương xa lạ trầm kha một thời ai đó chợt nở bung ra mới rợi biến thiên thành cánh chim chao trên đỉnh sóng làm Nữ nửa ngại ngần chối từ, nửa muốn với tay bắt nhốt vào hồn. Rất lâu như thế, Nữ đã sống vui buồn theo từng tờ thư, từng trang bút kí đến một lúc nào không hay quá khứ tình yêu của họ đã thăng hoa biến nhập vào nàng thành một thứ hạnh phúc thanh tân mà nồng nàn kỉ niệm. Hạnh phúc của loài ốc mượn hồn đưa Nữ vào khu vườn mộng tưởng, đằm thắm mái hiên mưa nơi che trú tình cờ giọt nước trầm luân.

(còn tiếp)

Phan Thái Yên




Mục Lục


6. Phan Thị Ngôn Ngữ

ChuVươngmiện



tácphẩm tácgỉa
người viết ChuVươngmiện

sinh năm 1955 tại Diên Khánh [Khánh Hòa] NhaTrang, năm đầu trung học : Trường Trung học Võ Tánh , Năm cuối Trường Nữ Trung Học Nha Trang .
hiện cư ngụ tai tiểu bang Virginia năm 1993 theo diên odp.
Thơ đang trên : tap chí văn, Tuần báo Văn Nghệ Hoa Thịnh Ðốn , Hoa Thịng Ðốn Việt Báo ,Tuần báo Thời Báo Oakland CA, Trang Văn Học Cội Nguồn Việt Nam Thời Báo [ san jose]
Cộng tác : Tạp chí Nguồn – Bắc Cali .
tác phẩm dã ấn hành :
Vọng khúc *thơ tap chí Khởi Hành xb 2003
Tạ Tình Khúc * Cội nguồn 2005.

Phan Thị Ngôn Ngữ là một người làm thơ [nữ] mới xuất hiện ơ hải ngoại gầm mười năm . tuy thời gian chưa dài , nhưng thơ khá đâc biệt , được dộc giả mến mộ . không ồn ào mà thơ vô cùng thiết tha . qua nhận xét của thisĩ Diên Nghị và giáo sứ Nguyễn Thùy. qua hai tập thơ Vọng Khúc do Khởi hành vào tháng 8/003, tại litlle saigòn hoa kỳ và tập thơ Tạ Tình Khúc do Cội Nguồn xuất bản vào năm 2005 tai san jose. va tuyển thơ Khung Trời Vọng Tưởng [khảo luận về thơ] Nắng Mới paris xuất bản năm 2005 , gôm tat ca co mười sáu nhà thơ , vừa già vừa ttrẻ , vừa cũ vừa mới , vừa nam vừa nũ . Trong tập nay co cả Phan thị Ngôn Ngư. để mở đầu phần tác phẩm tác giả viết về nhà thơ Phan Thị Ngôn Ngữ , dể mở đầu xin trích hai câu thơ hế`t sức đặc biệt của thisĩ Chế Vân:

õ khi mình hiểu được bình minh đẹp
nắng quái chiều hôm cũng tắt rồi

và thơ của thisi Ðịnh Giang:

một đi luyến bến thương bờ
hai về sóng vỗ dật dờ trường giang.

Qua hai thi phẩm Vọng Khúc và Tạ Tình Khúc và Tuyển thơ Khung trời Vọng Tưởng đứng một mình và đứng chung nhiều người, mấy trăm bài thơ 5 cd cua Phan thị Ngôn Ngữ . người viết đã đọc và nghe nhiều lần . Nhưng gom lại chỉ có một chữ nhớ.

vườn ai khóm trúc la đà
hồn ta mấy rặng trte già xác xơ
nhớ quê – nỗi nhớ dại khờ
nhớ từ gốc rạ qwua bờ cỏ tranh
[nỗi nhớ dại khờ Vọng Khúc trang 20]

lòng cứ chồng chềnh bên ni bên nớ
nắng tháng tư mà ngỡ nắng quê nhà
ta-
con tắc kè chắt lưỡi nhớ quê cha
[bên ni bên nớ Vọng Khíc trang 22-23]

đó về – đây nhớ đó thôi
nhớ câu đó dạ – nhớ lời đó thưa
đó về – cầu nắng đừng mưa
kẻo đây nhớ chuyện ngày xưa khóc thầm
[đó đây – Tạ Tình Khúc trang 96]

trước sau cũng chỉ là một chữ Nhớ , con nhớ mẹ già , con nhớ cha tuổi đã xế chiều , nhớ cố nhân , nhớ trường trung học , nhớ tháp ponogar , nhớ cầu xóm bóng, nhớ hòn chồng ,ôi tình cảm thiết tha giữa người với người , rồi dẫn đến tâm trạng , xa xăm hơn , như chim nhớ rừng , cây nhớ cội , thuyền nhớ bến nhớ sông, nhớ con đường làng ,lũy tre xanh , luống cày luống đất.
nhng miền đất xa xăm . không co người , khôn gco thân tình . Miền đất vẫn là miền đât , nhưng con nguuời mà xa đất xa nước , xa noi chôn rau cắt rốn . [nơi mình sinh ra và lớn lên ] mất đi cái thủa thơ ấu thiếu thời , ôi thôi thì nhớ vô cùng nhớ quay quắt , nhớ da diết nhớ đến vô bờ , cái nhớ mênh mông bồng bềnh theo đám lãnh vân hồngv ân trôi lênh đênh trên vòm trời .
Ðọc những đoạn thơ của Phan Thị Ngôn Ngữ nhấlà những đoạn nhớ quêhương , sao ma thắt lòng , như hoa cả mắt , mà nước mắt lưng tròng tự bao giờ ?
Thơ Phan Thị Ngôn Ngữ giống như những phiến trầm hương phiến kỳ nam ở miền đất vùng biển thùy duong trân quí, Diên Khánh [NhaTrang] thoang thoảng mùi thơm bát ngát giữa đất và trời .
có đó mà như không có đó.

thơ trích :

thương vô cớ
nhớ vô cùng

Hạt muối mặn ba năm còn mặn
Lát gừng cay chín tháng còn cay
Bậu với ta ơn nặng nghĩa dầy
Nỡ mô bỏ tổ xa bấy bậu ơi

Mơi mốt có về bậu nhớ ghé chơi
Ðường năm cũ mây cười trong nắng
Vẫn tán lá xanh – chùm hoa sứ trăng
Tiếng ve kêu rang rảng trứa hè

Con tắc kè còn đậu ngọn me
Khan cổ gọi bậu từ năm nọ
Mơi bậu về nhớ đi ngang ngõ
Vườn ta xưa trăng tỏ bên đèn

đóa quỳnh nào nở ngát hương đêm
Trắng như áo bậu chiều qua phố
ơi , thương bậu chi mà thương vô cớ
Ơi, nhớ bậu chi lòng nhớ vô cừng

Nhớ bậu thời còn tóc xõa ngang lưng
khua guốc mộc dẫm hồn ta vụn vỡ
Hai bờ vắng bên bồi bên lở
Thuyền bậu qua sông sao chẳng trở về ?

Ðể ta giờ như bến sông quê
Theo nước lớn nước ròng trăn trở
Như con cá giữa giòng nước lợ
Chẳng ra khơi – không thể về nguốn

đó đây

Ðó về – áo chớ cầm tay
Ðể đây mượn đắp – nhớ ngày sầu đưa
Ðó về – mong nắng đừng mưa
Kẻo chân đó lấm sớm trưa chợ đời
Ðó về – cánh nhạn mù khơi
Ðể đây làm gió chơi vơi dặm dài
Ðó về hương tóc đừng phai
để đây giữ mãi nụ lài – chùm ngâu
Ðó về – bến cạn sông sâu
Ðể đây lòng bắc nhịp cầu đó sang
Ðó về – bên ấy đò ngang
Ðể đây làm sóng trường giang vỗ thuyền
Ðó về – hát giọng chim khuyên
Vường đây rụng trái muộn phiền đó ơi
Ðó về – đây nhớ đó thôi
Nhớ câu đó dạ – nhớ lời đó thưa
Ðó về – cầu nắng đừng mưa
Kẻo đây nhớ chuyện ngày xưa khóc thầm

saigòn khi trở lại

Khi trở lại – Sàigòn sao lạ thế
Ðường thay tên vội vã những góc đời
sài gòn ngày xưa còn đó trong tôi
Quen thuộc cả từng hàng hiên góc phố

Ríu rít tiếng chim vang chiều nắng rộ
sáng trời mưa – rộn rã giọng rao hàng
Sàigòn ngày xưa – đường dọc đường ngang
Ðèn xanh đỏ – bàn chân tôi luống cuống

Tiếng chổi quét vỉa hè – đêm ngủ muộn
Nhịp xe lăn đâu đó – nửa khuya về
Sài Gòn hẹn hò bên tách cà phê
cay khói thuốc – mắt nhìn nhau bối rối

Sài gòn yêu và chia xa cũng vội
Như trời mưa rồi nắng mỗi ngày qua
Như lá me bay trên áo lụa ngà
Như nước mắt vành sô khăn góa phụ

Khi trở lại saiGòn – tôi xưa cũ
Nghe chênh venh ngơ ngác một chốn về
Vẫn án h đèn mầu – quán cóc càphê
Vẫn những hàng me đang mùa lá đổ

Trên áo ai phất hơ bay chiều cuối phố

trở lại trường xưa

Tôi về đứng trước ngôi trường nữ
Ngóng mãi một thời áo trăng bay
Ðâu rộn đường trưa khua guốc mộc
Giọng cười ròn rã tuổi thơ ngây

Tôi về đứng nép hành lang vắng
Nghe kẻng giờ chơi báo hết giờ
Cuống quít chân lần tìm cửa lớp
Giật mình lòng bỗng khóc vu vơ

đây mái trường xưa đã đổi tên
Lầu cao mấy dẫy đứng chênh vênh
Thương ai khóc mãi chiều mưa muộn
Hay nhớ đôi tà áo trăng buông

Ô cửa – sân chơi – lớp học sầu
Những giòng lưu bút chẩy về đâu
Thầy cô – bè bạn phương trời dạt
Năm tháng sương sa bạc mái đầu

tuổi thơ con
là chỗ ngoại nằm

Từ khi rời quê ra phố chợ
Có đôi lần con trở về thăm
Tuổi thơ con là chỗ ngoại nằm
Chiếc chõng tre kê đầu hiên vắng

Chiếc võng gai mấy mùa mưa nắng
Mỗi trưa ngồi – con nhổ tóc sâu
Trong tiếng gù gù của lũ chim câu
Ngoại dắt con qua từng trang Kiều lẩy

Câu lục Vân Tiên như mái dầm mái đẩy
Giọng ngoại chèo lúc nhặt lúc khoan
Ðể hòn con là cánh vụ xoay tròn
Rồi ngủ rụng trên vai còm của ngoại

bên bộ ván đã bao đời chìm nổi
Những lọ sơn – những thỏi mực tàu
Những tờ giấy điều – giấy bổi vàng thau
Cũng úa ố theo tuổi già của ngoại

Vết mực loang đọng trong lòng nghiên tối
Ngọn bút tà nên cũng chẳng buồn chăm
Tuổi thơ con là chỗ ngoại nằm
Có thời Xuân Thu đi về qua trang sách

Có thủa Thịng Ðường vang vang trên vách
Dốc bâu thơ Lý bạch ngửa nghiêng sầu
Trong con – ngoại là ngõ trúc ngọn cau
là bóng hạc trên mái đình rêu phủ

Là chiếc nôi êm ru hồn con ngủ
Giữa vòng tay quê – không bến không bờ

phan thị ngôn ngữ

ChuVươngmiện




Mục Lục


7. thiên hạ đệ nhất

M.loanhoasử



truyện ngắn

tôi quen bà xã tôi , từ năm 1968 , nhung mãi đén sau ngày 30 tháng 4 thì chung tôi mới thành lập giadình. sau khi miền Nam không còn nũa thì chúng tôi giã từ nghề làm công chức , ma chuyển nghành sang nghề Tiểu thủ Công nghiệp lúc bấygiờ thịnhhành nhất là Môn May Tre lá nứa [ đan lát xuất khẩu ] tôi thương chở vợ đi làm vì làm cùng chỗ .
Trong những bà con cô bác gần như chú thím bên nội và dì dượng bên ngoại thì đều gặp cả , nhưng cung bình thương như moi 5 người , nhưng đến bà nội em [ tức là vợ của em ông nội thì Vợ tôi có phần ưu ái dặc biệt, vơ tôi kể :
-ngày trước ông cố dậu cử nhân [làm ông Phủ] có khai khẩn đất đai và lập ra một xã ơ3 ven dẫy núi trường sơn [thuộc một tỉnh miền Trung bâygiờ] , ông cố theo phong trào Duy Tân [ và bị chết ở nhà tù ngoài Côn Ðảo , ] .Ông cố có hai người con . Ông nội mình thi chỉ học dến tiểu học thi ở nhà lo chuyện vườn tược . ong cố có đến mấy chục mẫu ruộng, còn Ong nội em thi đậu cao hơn , vè sau làm tới trưởng ty Bưu Ðiện , hồi đó gọi là Ông chủ nhà Giây Thép, trước khi bi bắt đi tù thi Ông cố và bà cố đã chia gia tài cho hai người con mỗi người bốn mẫu ruộng , Ông chủ nhà Giây thép thì mẫu người công chức , sáng cắp ô đi chiều cắp về , còn bà Vợ thì ở nhà thường xuyên đánh bài [ nói chung thì chỉ toàn đánh tứ sắc và bài xệp [ điều binh khiển tướng ] sau đó vài năm khoảng năm 1941 [42 chi đó ] thi lương và tiền bán đi bốn mẫu đất [ bà Chủ đánh tứ sắc tiêu hết] . cuộc họp giadình ] và ông nội lai chia lam hai [ phần đất của mình ] cho em hai mẫu và còn lại mình hai mẫu. sau đó thì bà Chủ đánh bài thua hết va ông Chủ thi nhập niết bàn . Và Ông nội vợ tôi cũng phiêudiêu miền cựclạc. Sau đó thì Cáchmạng mùa thu. các chu các bác và ba tôi chia nhau hai mẫu đất nói chung thi mỗi người con được vài sao ruộng, Giai đoạn 1945 đến 1954. thì cả hai gia dình bên phía Ông nội tôi và phía em ông nội tôi đều vất vả . tuy nhiên nhờ tài đánh bạc của bà Chủ nên giađình con lại khộng còn ai là địachủ [ nên không ai bi đấu tố]. đúng là có quí nhân . phò trợ . chỉ sống cơ hàn khổ cựa mà thôi . ba vợ tôi thì sông bằng những rễ cây Chay [ dào rễ bán dể ăn trầu , và hái lá trà bán chừng chừng.đến năm 1954 , hiệp định Genèvơ chia đội đấ nước liện khu năm [5] thuộc miền Nam [ là Quảng nam Quảng ngãĩ Bình Ðịnh [Qui nhơn] Phú yên .... bà Chủ có hai người con . một trai một gái . nguuời con trai thì tập kết ra bắc . con co con gai thì lập giađình với một ông giáosư, ông giaosứ này tiếp tục nuôi bà mẹ vợ đánh bài mãi mãi ,nhà cửa cũng không . vừa nưôi vợ nuôi con , lại nuôi mẹ vơ và tiền đánh bài .’ rồi mọi chuyện ở cái cõi đời này thanh cao hay ô trọc thì cũng đều từ từ mà trôi đi [chả ngừng lại để thở một chút nàỏ] đến ngày 30 tháng tư năm 1975 thì cách mạng thanhcông và xâm chiếm toàn bộ miền Nam , lúc mà mọi người lo âu [ sợ sệt thì bà Chủ lại mang cờ đỏ sao vàng đi đón Lính giảiphóng từ ngoạiô vào thành phố .
miền trung , luc đó tinh hình chung về chinhtrí ngột thở lắm ,nguờì con trai lớn lúc đó trở về làm công nhận viện cấp trưởng phòng và lại tiếp tục nuôi bà Chủ đánh Tứ sắc tiếp . người em gái và người em rể dị ứng với chế độ mới và tìm cách ra đi [ năm 1990 thì gia đình người em gái [và em rể] cùng các cháu sang được Mỹ .và diều đầu tiên là gửi tiền về để bà Chủ tiếp tục đánh bạc, tiền bên nhà và tiền bên Mỹ gửi về cụ tha hồ mà điều binh khiển tướng. dân tộc cũng không màng . cách mạng cũng không biết , phong kiến thì chả cần hiểu . sống phây phây qua đủ mọi chế độ , rồi cu Chủ sống đến khoảng trên tám mươi thì cụ về với Phật.
chết thì chôn cất bên ViệtNam [người anh con trai lo . con bên Mỹ thì người em gái và em rể lọ]
Ðám ma [tượng trưng cũng làm ở Chùa dầy đủ nghi lễ để tiễn hương hồn cụ . [một đời hy sinh toàn thì cho Tứ sắc và bài Xệp.] thế là cụ ra đi một cách rất là bình thản .

lâu lâu tôi gặp cô dượng [ là con gai bà Chủ và con rể thì ông dượng than :
-Ngày trước còn bà cụ [ dù hàng thang chi ra một số tiền cho cụ Ðánh bài , nhưng làm ăn lại có mòi khấm khá hơn bây giờ. bây giờ thí có dư giả chút đỉnh , nhưng số tiền dư ra lại không biết để dành làm cái gì?

M.loanhoasử




Mục Lục


8. Một Chút Xưa, Một Chút Nhớ

Huân Long



Mãi khi ông anh vợ từ Bắc vào, tôi mới có dịp về thăm Dalat. Ði theo ông, tôi khỏi lo vì cả một bộ sậu của ông vào nhận trách nhiệm một nông trường ở Ðức Trọng thì còn ai hoạnh họe chi nữa.

Biết tôi đã từng ở Dalat và cũng có vài năm đi tù cải tạo, ông anh chiều qua ghé nhà đã rủ tôi theo một chuyến và không quên dặn dò trước : chú cứ tỉnh bơ coi như là người dân thường, chẳng gì phải mặc cảm. Phái đoàn có được bố trí khách sạn thì chú cứ ở với anh, ai hỏi han cứ làng nhàng trả lời vô thưởng vô phạt. Cánh tỉnh, thị có mời chén thì chú cứ chén, xem như thành viên của phái đoàn.

Tôi ậm ừ cho xong. Xe vòng theo quốc lộ 20, ì à ì ạch vừa chạy vừa xem cảnh nên trúc trắc rất lâu. Rời Saigon từ sáng sớm mà gần tối mới bò tới khoảng Ma Ða Gui, đêm phải vào ngủ nhờ ở một tu viện của các sơ bị mượn khéo ở giữa rừng, bảo vệ phải dặn đi dặn lại khuya chớ mò ra ngoài, nhỡ bọn Fulro rình bọp cho một phát là chết uổng.

Dạo đó thời thế còn mới toanh, bề mặt thì có vẻ yên nhưng bề trong vẫn còn lẻ tẻ đối kháng. Dăm thì mười họa trên các đèo còn nghe lẹt đẹt súng nổ, sáng ra đồn ầm là bọn Fulro đêm mò về gây hấn.

Qua một đêm, hôm sau đoàn tiếp tục lên đường, lại túc tắc dừng chỗ này chỗ khác. Buổi trưa, xe ngừng ở một đoạn đèo dân cư thưa thớt, các chị nuôi xăng xái lo nấu ăn, thức ăn là mớ lạc mang mãi từ nông đường Tam Ðường vào. Vậy mà ngon vì ai cũng thấy đói và kháo nhau “ khí hậu buốt buốt như ngoài ta mùa rét “.

Lên Dalat, đoàn được chỉ định về ở tại nhà khách tỉnh, tức là khách sạn Bồng Lai cũ, cạnh nhà máy đèn. Cả đêm nghe tiếng máy nổ xình xịch, nhưng chỉ thoang thoảng vì cửa phòng làm bằng gỗ dầy nên ngăn được bớt tiếng ồn. Mọi người ngủ say vì cơn mệt dọc đường và cái lạnh tầm tầm ấp ủ.

Ủy ban tỉnh đang thời kỳ họp nên đoàn được nghỉ chờ xả hơi. Ông anh đề nghị tôi vạch một chương trình đi thăm thú mấy nơi cho bớt ngày giờ nhàn rỗi. Tôi hứa dẫn đi xem thác Cam Ly, trường đại học Dalat, vườn Bích Câu, trường Yersin, Nha Ðịa Dư, hồ Than Thở, Giáo Hoàng Chủng Viện và trường Võ Bị.

Ðoàn đồng ý nhưng bó lảng chuyện xem nơi quân sự và tôn giáo, có lẽ vì bị dị ứng hay còn ám ảnh về một nơi chốn của chế độ cũ để lại. Ði làng nhàng mãi vẫn còn thừa giờ nên tôi rủ mọi người đi cho biết vùng Dòng Chúa Cứu Thế và thăm hồ Ankroet lẫn ngọn núi Lâm Viên, nhưng xem ra cũng không mấy được hưởng ứng vì xa, vì hẻo lánh, và vì e gặp trắc trở thì tỉnh đì chết.

Lợi dụng lúc rảnh rang, mọi người đồng ý để tự do ai muốn đi đâu thì đi. Ông anh hỏi tôi về Dốc Nhà Bò vì có người cháu họ gọi chúng tôi bằng vai ông ở đó. Tôi khoe với anh việc tôi hiểu rành nơi đó vì thời gian tôi sống ở Dalat tôi đã thuê trọ nơi này. Tôi cũng giảng giải về cái tên Dốc Nhà Bò có là vì hồi còn Hoàng Triều Cương Thổ con đường dẫn lên chuồng nuôi bò của cựu hoàng. Bây giờ đổi tên là Ðào Duy Từ, chứ ít ai còn kêu là Dốc Nhà Bò nữa.

Hai anh em tìm hỏi thăm mãi rồi cũng mò ra nhà cô cháu. Thấy người mới hoảng kinh vì cả ông lẫn cháu suýt soát bằng tuổi nhau là ít, thế mà cô ta cứ nhất mực xưng hô trịnh trọng theo tầng cấp trong tộc.

Ngồi dây dưa con cà ra con kê, tôi mới biết cô ở đây đã lâu, từ hồi tôi còn làm việc tại Dalat, vậy mà không biết để nhận bà con. Chuyện vãn thêm tôi lại còn biết cô với Cha Lý viện trưởng Ðại Học Dalat là chỗ anh em, nên tôi nói đùa : hồi ấy tôi cũng có theo vài lớp tại viện, giá biết sớm may ra cũng nhờ vả được để việc học giữa chừng không bị gãy gánh. Cô cháu nhanh nhảu tỏ vẻ tiếc rẻ theo.

Nhà cô cháu trồng toàn hồng, loại trái giòn có, trái mềm có. Cô khoe nhờ mảnh vườn mà dư ăn, dư mặc, lại còn nuôi các con hết đại học. Tôi nhìn ra vườn, những gốc hồng thấp lè tè, khô cằn và thưa trái. Cô cháu biết ý rụt rè than : ấy địa phương kiểm kê hết và đánh số từng gốc nên gia đình cháu chả thiết trông nom như trước nữa.

Chợt sực nhớ đến người ông cán bộ ở Bắc vào, cô cháu tịt ngay và ỡm ờ hỏi : thế ngoài nhà có bị cảnh này không ông. Anh vợ tôi có vẻ lúng túng, tằng hắng mấy tiếng và lập bập nói : ấy chính sách chung là vậy, nhà nước cứ bổ theo đầu người mà chia phần. Bâng quơ, ông anh đem luôn thí dụ gia đình ra kể : như ông nhà ta trước có đông con cháu thì còn giữ được ao cá, vườn và rặng nhãn, mít; bây giờ ông chỉ còn một mình thì ao cá là của thôn, nhãn chỉ được hưởng quả mỗi một cây và mít thì cũng giao nốt.

Tôi muốn thở dài, định hỏi ông anh về khoản hai đứa em bên vợ trở thành liệt sĩ mà sao vẫn bị đối xử mạnh tay như thế, nhưng chẳng hiểu sao lại im. Cô cháu từ nãy nghe tôi huyên thuyên về ngôi nhà thuê, việc dạo trước tôi làm nên ngấm ngầm biết là cùng phe ta, kín đáo liếc nhìn tôi e dè.

Gia đình quây quanh bữa cơm trưa, hai vợ chồng cô cháu với anh em tôi. Nhác hỏi đến các đứa con đâu không cùng ngồi vào bàn thì cô cháu cho biết đều đi làm cả, trưa ngại về nên ăn qua loa và nghỉ tại chỗ chờ làm tiếp.

Ông anh tôi hỏi về công việc các chắt, cô cháu nói lan man những cái tên tổ hợp, xí nghiệp gì gì đó. Tôi chẳng lấy làm lạ vì cả nước bây giờ ai cũng là công nhân hợp tác xã hay nhì nhằng nếu không muốn bị bầu bán đi xây dựng kinh tế mới.

Anh em rủ nhau ra phố. Con dốc từ bùng binh hồ Xuân Hương leo tuốt lên Khu Hòa Bình sao như dựng ngược, bước muốn rã chân và hơi thở dập dồn. Tôi nghiệm ra thời gian đã bào mòn năng lực và những năm tù cũng hút mất nhuệ khí tôi nên chóng mỏi.

Chợt nhớ ngày xưa, những ngày nghỉ vác thằng con trưởng sinh 4 kí mốt đi băng băng ra chỗ đông nhất Dalat này, chẳng thấy mệt, chẳng thấy nặng. Bây giờ sao muốn oải hết trơn.

Phố xá vẫn còn phảng phất nét xưa, nhưng chủ các cửa hàng thay đổi hết. Ðảo một vòng quanh phố, chợt mang mang nhớ người này, người khác, chỗ nọ chỗ kia. Vật đổi sao dời, khiến cho như giăng giăng một chút xưa, một chút nhớ, lăm tăm như hạt mưa rơi tí tách.

Tôi lên Dalat năm 53, thành phố còn lảng vảng người Pháp và những cửa tiệm còn mang nhiều tên ngoại. Khu Hòa Bình hồi đó còn để trống tuềnh toàng, tối khuya dăm hàng ăn mở bán cho khách và các cô chiêu đãi của nhà nhảy Croix du Sud ở gần đó. Có hôm độc thân trằn trọc không ngủ được, tôi vẫn bò ra xem người ta ôm nhau xập xà xập xình để rồi khuya lơ khuya lắc lủi thủi bò về căn nhà một mình.

Những cái tên Mỹ Nga, nhà thuốc Hoàng Hy Tuần, hiệu buôn Saigon, nhà may Paris Mode, nhà hàng Mékong, tiệm vàng Bùi Thị Hiếu, phòng mạch bác sĩ Phan Lạc Giản, hiệu Phúc Thái Lai v.v… nhá nhá hiện ra để rồi lòng tiếc ngẩn tiếc ngơ tự hỏi : ôi, người xưa đâu tá.

Tôi cũng nhớ nhà in Lâm Viên, quán giò chả Bắc Hương, hiệu sách Liên Thanh và nhất là quán cà phê Tùng để càng thấm đẩm nét buồn dĩ vãng. Con đường Hàm Nghi lầy lội suốt mùa mưa rỉ rả với cái bến xe con con lạnh nép dưới mưa. Tôi nhớ những chuyến xe chiều chiều ghé về bãi đánh dấu thêm một ngày đường đi thông suốt mà thấy Dalat lúc nào cũng có dáng vẻ nhỏ nhoi và lịch lãm vô cùng.

Ai đã từng sống ở Dalat chắc đều không quên đồn cảnh sát bé tẹo nằm kề cận bến xe. Thời Hoàng Triều Cương Thổ dân Dalat được xem như người lương thiện vì ai muốn lên phải có người đứng bảo lãnh hẳn hòi. Thủ tục tra xét kéo dài từ 3 đến 6 tháng là ít, nên cơ hồ các bác cảnh sát ngồi cho có vị chứ chẳng dòm dỏ gì việc ai đến ai đi.

Thời gian đó sướng ơi là sướng, ăn cứ việc ăn, đi chơi cứ việc đi, thậm chí có xin được quả lựu đạn để rủ nhau đi ném cá, cầm ngời ngời đi trong phố cũng chả ai làm khó. Cam Ly thượng, Suối Vàng, thác Pongour, có tiền thuê xe mặc sức vung vít mà đi, trèo non lặn suối, tắm thác, cắm trại.

Ðến dạo 54 thì mới có cuộc di cư từ Bắc vào, người Thái Lai Châu được đưa lên ở tạm tại bờ Cam Ly chờ tìm nơi ổn định. Trường Võ Bị Inter Armes được chuyển từ vị chỉ huy cuối cùng là thiếu tá Leford của Pháp sang chính phủ Việt Nam để trở thành trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, bệnh viện Catroux cũng thành một chi nhánh của trường, St Benoit đổi thành Chi Lăng, người Pháp bỏ đi, dáng dấp dần dần bị bỏ lơ.

Chiều thứ bảy đã thấy bóng dáng người sinh viên sĩ quan Võ Bị dìu tay cô gái cao nguyên lượn quanh phố phường, vào Ngọc Lan, Ngọc Hiệp xem phim, ngồi quán kem nơi dốc Thành Thái xem xe qua, người lại hay vô Thủy Tạ ngồi châu đầu uống cốc cà phê lí nhí thả lời tình.

Những cô gái Dalat đã chớm hẹn hò bằng những môi hôn, mắt liếc, những gò má chin đỏ hây hây, những gót chân son bước nhàu trên cỏ. Thung Lũng Tình Yêu, vườn Bích Câu trở thành nơi hò hẹn, con đường mòn quanh hồ Xuân Hương như chứng tích tình yêu.

Dalat bừng lên vì những buổi lễ gắn Alpha hay những đêm dạ vũ mãn khóa để rồi lời hẹn hò có khi bị lãng quên sau khi người trai buông ra mọi nẻo đường chinh chiến. Có những cô gái đành bỏ Lâm Viên ra đi để trọn một đường tình cùng anh sinh viên sĩ quan ngày nao.

Dalat vẫn trải qua những mùa mimosa lung linh trong nắng sớm, con đường ven hồ vẫn có những lần hoa đào nở trắng xóa dưới sương muối sáng chiều, Thủy Tạ vẫn nép mình soi bóng xuống lòng hồ lung lay bóng nguyệt, ngôi khách sạn Langbian vẫn ngạo nghễ trên ngọn đồi sừng sững sớm khuya, nhưng Dalat vẫn mất dần những cánh hoa tươi nở trên môi cô gái.

Có một thời Dalat đồn ầm lên về những nét thanh tân cô gái Thái trưa trưa trầm mình tắm nơi dòng Cam Ly trong vắt. Một huyền thoại về sắc đẹp núi rừng đang phả đậm tại chốn cao nguyên gần đây.

Hai anh em bước đi âm thầm bên nhau nãy giờ. Ông anh vợ ngơ ngác khi thấy tôi bặt tiếng. Anh lần tìm lấy tay tôi, bóp nhè nhẹ và hỏi : chú làm sao thế. Tôi nghẹn ngào mãi mới thú thực : em đang nhớ về Dalat của thuở nao. Ông anh gật gù phán : anh hiểu, anh hiểu.

Buổi chiều Lâm Viên chợt ập xuống nhanh chóng. Nắng lóe những tia chót để rồi tan loãng trong làn sương vừa tỏa ra. Ngọn Lâm Viên như một vệt thẫm kỹ hà bôi đen nơi góc trời. Vài con én lao xao bay về tổ. Tôi quay đi dấu một ngấn lệ thập thò nơi cuối mắt.

_ * _

Huân Long




Mục Lục


9. Học Cao Mà Chưa Thấy Rộng.

Sông Cửu



_____________________________ •

“Tặng Sapy Nguyễn Văn Hưởng”

Nhớ mỗi lần năm hết tết đến, ba tôi thường viết liểng - tượng bằng chữ quốc ngữ theo dạng Hán tự treo lên cho vui nhà vui cửa. Ông viết nét vòng vèo giống hệt chữ nho; “hai ngang, xổ xuống, đóng ngoéo, chấm đít” y chang như của mấy ông thầy đồ “thứ thiệt” ngày xưa. Tết năm Mậu Thân ba tôi mua giấy đỏ, mực Tàu về viết 3 câu. Câu thứ nhất treo bên phải là:

Cây có cội gìn cây cho thẳng.
Câu thứ nhì đối lại treo bên trái là:
Nước có nguồn giữ nước cho trong.
Tấm tượng treo giữa đề bốn chữ :
Tổ Quốc - Gia Tiên

Bác Hai tôi xem xong, sửa lại tấm tượng còn lại hai chữ Tổ Quốc thôi. Bác bảo viết gọn như vậy đủ rồi. Tổ Quốc cũng gồm nước nhà tiên tổ trong đó rồi. Tượng mà đề nhiều chữ quá không đẹp . . . Chỉ có thế mà hai người cãi nhau cả ngày không xong. Tối hôm đó, ông nội tôi bảo tôi nấu trà, mời ba tôi và bác tôi ngồi lại, nghe ông phân giải. Thay vì bảo nên lấy hai chữ như ý bác Hai hay bốn chữ theo ý của ba tôi thì nội tôi lại kể cho hai người nghe một câu chuyện đời xưa nhan đề là: “Học Cao Mà Chưa Thấy Rộng”. . . Kể xong, bác Hai tôi hỏi:

- Tía định ám chỉ việc tui sửa lại câu liểng của chú Ba nó đó hả?
Ông nội uống tiếp một hớp trà, rồi nhìn tôi đáp:

- Ðâu có. Tao nói chuyện đời xưa cho thằng cháu nội đích tôn tao đây nghe chơi thôi. Chuyện thi họa anh em bây tía hơi sức đâu mà xía vào

Nói xong nội vuốt râu cười khà khà. Bác Hai và ba tôi ngồi êm re không dám hỏi nữa. Ðây là một trong những câu chuyện mà mỗi năm, đến ngày giỗ nội tôi, bác Hai tôi thường kể lại cho cả họ tộc nghe. Ðã qua mấy mươi năm, bây giờ bác Hai tôi cũng đã theo nội về cõi vĩnh hằng. Năm nay, nhân ngày kỵ cơm nội tôi. Tôi nhớ và ghi lại câu chuuyện nội kể để tỏ lòng kính nhớ nội tôi.
*
Khoảng thế kỷ 13, ở Trung Hoa có một Ðại Học Sĩ tên TÔ ÐÔNG PHA. Ông cũng là nhà thơ nổi tiếng thời nhà Tống lúc bấy giờ. Một hôm Tô Ðông Pha đến thăm quan Tể Tướng Vương An Thạch, nguyên là bạn học hồi thuở thiếu thời. Lúc Tô Ðông Pha đến dinh Tể Tướng thì Vương An Thạch đi triều kiến vua Tống chưa về. Tể Tướng phu nhân sai tỳ nữ dâng trà ngoài hoa viên và mời học sĩ dùng trà ngoạn cảnh chờ đợi. Tô Ðông pha thấy giữa “Vọng Nguyệt Lầu” và nhà “Thủy Tạ?” có hai câu thơ Vương An Trạch viết trên tấm bia dựng cạnh đầm sen:

“Nguyệt minh sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”

Tô Ðông Pha xem xong thì cười ha hả . . . bảo tỳ nữ mang bút mực ra, ông bèn sửa lại hai câu thơ của Tể Tướng Vương An Thạch như sau:

Nguyệt minh sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngoạ hoa âm
Nghĩa là:
“Ðầu non mặt trăng chiếu
Bóng mát chó vàng nằm”

Sửa xong Tô Ðông Pha ghi để lại mấy dòng cho Vương An Thạch: “Mặt trăng không thể “hót” được? Chó vàng làm sao “nằm” giữa đoá hoa . . . rồi thi sĩ nhà ta bỏ ra về.

Khi triều kiến xong trở lại tư dinh, Vương An Thạch thấy thơ mình bị sửa ông mỉm cười nói cùng Tể Tướng phu nhân rằng:

- Học cao mà chưa thấy rộng thì khó mong thành bậc hiền tài giúp ích cho quốc gia.

Tể Tướng phu nhân hỏi chồng:
- Phải chăng Tướng Công muốn nói về học sĩ Tô Ðông Pha?

Vương An Thạch gật đầu rồi giãi bày thêm ý mình cùng vợ:

- Phu nhân biết không? Nếu thuộc làu kinh thi sử sách thì rõ là khó có người nào qua được Tô Ðông Pha. Chính đức vua cũng ngợi khen. Nhưng tiếc thay hiểu biết về cuộc sống trong thế nhân thì người bạn tâm giao Tô Ðông Pha của ta còn quá nghèo nàn. . .

Mấy tháng sau Ðại Học Sĩ Tô Ðông Pha nhận được chỉ dụ từ phủ Tể Tướng điều động đi khai phóng dân sự vụ tận quần đảo Nam Hải. Quần đảo nầy gồm những cù lao hoang vu nằm tận eo biển phía Nam Trung Hoa lúc bấy giờ. Ðời sống dân cư còn rất thấp, tháng ngày người dân chỉ biết lo phá rừng trồng bắp, bắt cá, mò cua, trồng lúa, trồng rau lao động độ nhật. Phần đông dân chúng trên các đảo đều không biết chữ. Mấy năm đầu tới đây, thay vì mở trường dạy học mở mang dân trí, Tô Ðông Pha lại buồn đời, tối ngày cứ ngao du uống rượu ngâm thơ, vì Học Sĩ nghĩ rằng Dương An Thạch cố ý đày ông ra chốn sơn lâm cùng cốc nầy để trả hận; Một Học Sĩ dám phạm thượng sửa thơ của Tể Tướng triều đình.

Một ngày nọ, Tô Ðông Pha đang ngắm trăng uống rượu với các già làng bên bờ suối. Trong lúc ngà ngà say, thì một con chim, có bộ lông màu thiên thanh, mỏ đỏ, chân vàng sà xuống đậu bên sườn non phía trước mặt, cất tiếng hót lãnh lót:

“Hoàng khuyển . . . Hoàng kh. . .uyển . . .”

Tô Ðông pha hỏi các già làng “Chim gì”? Một ông cụ lễ phép đáp:

- Thưa Ðại Học Sĩ, đó là chim “Nguyệt Minh”. Loài chim nầy cứ mỗi đầu đêm trăng tròn là nó hót để báo tin có hoa Chu- Huỳnh nở. Lát nữa thôi, cả bầy chim Nguyệt Minh sẽ bay về đây bắt “Hoàng Khuyển” để thịt.

Tô Ðông Pha ngạc nhiên hỏi tiếp:

- Chó vàng đâu đây mà chim Nguyệt Minh bắt?

- Dạ bẫm không phải bắt chó vàng. Một già làng giãi bày thêm:
- Thưa học sĩ, Hoàng khuyển là tên của một con sâu. Mỗi đoá hoa Chu-Huỳnh nở đều có một chú “Hoàng Khuyển” ú na ú nần nằm chính giữa. Chim Nguyệt Minh chỉ nhẹ nhàng xớt con sâu thôi. Bông Chu-Huỳnh còn nguyên không bị trầy trụa chi hết.

Ðêm hôm ấy. Tô Ðông Pha về nhà nằm thao thức không ngủ. Ông cố nhớ lại từng nét chấm phá trong hai câu thơ của Vương An Thạch treo ở hoa viên Tể Tướng mà ông đã cạo sửa ngày nào:

Nguyệt Minh sơn đầu khiếu
Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm.

(Nguyệt Minh hót đầu núi
Hoa nở Hoàng-Khuyển nằm)

Như vậy, Nguyệt Minh là tên một loài chim. Hoàng Khuyển là tên một giống sâu. Nào phải đâu mặt trăng hay chó vàng . . . Tô Ðông Pha tự trách vốn kiến thức về cuộc sống của mình còn quá kém, nên vô tình xúc phạm đến vị Tể Tướng triều đình và làm sứt mẻ tình bằng hữu thâm giao.

Sáng hôm sau, Ðại Học Sĩ viết một bức thư phân bày và tạ lỗi cùng Vương An Thạch với lời lẽ hối tiếc chân thành nghe thật cảm động. Một tháng sau Tô Ðông Pha nhận được phúc đáp của Tể Tướng là Ngài rất mừng, vì hai câu thơ của Ngài không còn bị hiểu lầm. Ngoài ra Vương An Thạch còn có nhã ý xin nhà vua triệu hồi Tô Ðông Pha về kinh lãnh chức vụ mới cao hơn. Nhưng Ðại Học Sĩ khẩn khoản xin được ở lại Hải Nam. Từ đó ông miệt mài viết sách, mở lớp dạy học, đào tạo thêm nhiều nhân tài . . . góp phần khai phóng dân trí . . . đến mãn đời mình.

Tại quần đảo Hải Nam hiện vẫn còn ngôi miếu thờ “Ðại Học Sĩ Tô Ðông Pha”.

Sông Cửu




Mục Lục


10. Một Thoáng Hương Xưa

Nguyễn Thế Hoàng



Sau thời gian lặn lội tìm kiếm vợ chồng tôi mua được ngôi nhà vừa ý. Nhà xây cất trong khu gia cư đông đúc nằm ngay trên đại lộ về hướng đông thành phố tiện lợi sự đi lại. Xung quanh nhà đất rộng trồng cỏ xanh mượt, những luống hoa khoe sắc trước nhà. Phía sau có hồ thiên nhiên rộng, nước thật sâu màu xanh đậm. Những đàn vịt trời thỉnh thoảng từ đâu đáp xuống độ vài chục con, tắm nước, đớp mống, bơi lội thênh thang trông vui mắt. Bên kia hồ là khu rừng thông cao, hoang dã, tạo quang cảnh thô sơ thông thoáng trầm mịch. Nhà mua lại của một gia đình đã dời cư đến tiểu bang khác. Thời gian đầu dọn đến vợ chồng tôi tò mò muốn tìm hiểu láng giềng hai bên để làm quen, nhưng ở cái xứ năm tháng cửa đóng then gài này thấy cũng khó khăn. Vậy mà Ngọc, bà xã tôi đã làm nên chuyện. Một hôm nàng báo cáo rành rọt :
- Anh, nhà bên phải mình là vợ chồng người Mỹ trẻ măng trông rất trí thức. Mỗi sáng chồng veston, cà vạt chững chạc. Vợ váy ngắn váy dài, áo khoác áo choàng, mỗi người đi một xe mới. Ðến chiều họ lần lượt về cho xe vào garage, đóng kín cửa. Chẳng bao giờ thấy họ bước ra ngoài. Nhà bên trái lại khác, chỉ có một cô gái Việt Nam, ăn mặc lịch sự, nom cũng độ dưới ba mươi. Sáng cô ấy lái xe ra khỏi nhà sớm, tối mới về. Dường như cô ấy chỉ ở một mình. Em đoán có thể cũng công tư chức hay chuyên viên gì đây. Có người Việt Nam ở cạnh nhà, lại là một cô gái, em muốn làm quen, dù gì cũng láng giềng, cùng màu da tiếng nói.
Nghe vợ nói, tôi đoán chừng :
- Có thể chồng cô ấy làm ăn xa, lâu lâu về một lần. Cũng có thể cha mẹ ở đâu đó, lại muốn ra riêng một mình để có cuộc sống tự do theo ý muốn.

Một buổi sáng chúa nhật nghỉ, Ngọc và tôi hì hục xới một ít đất sau nhà để trồng rau cải. Công việc gần xong thì cô gái Việt Nam cạnh nhà bước ra, đến gần chúng tôi tưoi cười xã giao :
- Chào cô chú. Cô chú cũng chịu khó trồng tỉa, khi nào có cho cháu được ăn ké với nhé..
Ngọc ngẩng nhìn cô gái đáp :
- Cô chớ lo. Gần gũi với nhau, khi cần cô cứ tự nhiên.
Ngọc lại thăm hỏi : - Hôm nay chúa nhật được nghỉ, cô không đi đâu chơi sao ? Dọn về đây gần tháng, vậy mà chưa có dịp quen biết nhau. Cô gái nhanh nhảu :
- Cô chú gọi cháu bằng cháu đi, cháu còn nhỏ tuổi, chưa tới ba mươi. Cháu tên là Vi Vi.

Thấy cô gái vui vẻ giới thiệu, tôi nói : - Cháu vui tính, cô chú thích. Nếu cô chú có con cũng bằng hoặc hơn Vi Vi đó.
- Cô chú chưa có anh chị nào ?
- Chưa cháu ạ. Vợ chồng sống với nhau bao nhiêu năm mà vẫn vậy.

Tôi trả lời và nhìn cô gái có tên Vi Vi vừa quen nhau. Con nhỏ có nước da thật trắng. Mái tóc đen đổ tràn xuống lưng. Khuôn mặt tròn trịa, mũm mĩm có duyên. Ðôi mắt to, đen long lanh và đặc biệt trên nét mặt thoáng gợn nét u buồn lãng mạn. Tôi nhìn thật kỹ Vi Vi như bị cuốn hút vào hình ảnh quen thuộc xa xôi nào đó từ trong tiềm thức phát hiện khó có thể xác định.

Vi Vi phân bày : - Cô chú à, mẹ cháu cũng không có aị...chỉ duy nhất một mình cháu.
Vừa lúc có tiếng điện thoại reo từ trong nhà. Vi Vi nói vội vã :
- Xin lỗi cô chú, cháu có điện thoại. Ngọc nói vói trong lúc Vi Vi bước vào nhà :
- Lúc nào rảnh, Vi Vi qua nhà cô chú ăn cơm, nói chuyện cho vui.

Rồi bẳng đi một dạo, vợ chồng tôi cũng chưa gặp lại Vi Vi, vì hằng ngày đi làm về, Vi Vi ít khi ra ngoài.

Vào một buổi sáng ngày lễ Memorial Day được nghỉ, Ngọc lái xe đi thăm một người bạn vừa đi Việt Nam về. Tôi thường ngồi đọc sách nơi phòng khách thì có người bấm chuông. Mở cửa, tôi thấy Vi Vi mĩm cười chào tôi lấp bấp nói :
- Chú ơi, cháu xin lỗi làm phiền chú. Cái đèn bóng dài ở phòng ăn nhà cháu sao cứ chớp chớp, cháu chẳng biết phải làm sao, nhờ chú có cách gì không ? Gọi thợ bất tiện quá. Tôi vội theo Vi Vi qua bên nhà. Sau khi bắt thang xem xét bóng đèn, tôi nói : - Cái biến điện bị hỏng, chú đi mua cái mới về thay cho Vi Vi.

Dứt lời, tôi lái xe đến Home Depôt mua cái biến điện mới đem về và chỉ chừng mười phút sau bóng đèn lại sáng. Vi Vi mừng rỡ :
- Cám ơn chú. Chú giỏi quá. Hai ba hôm nay cháu bực mình vì không có đèn trong phòng ăn. Mời chú ngồi uống nước.
- Ðược, để chú. Khi nào có gì cần, cháu cứ nói cô chú, đừng ngại. Tôi ngồi xuống ghế trong lúc Vi Vi đặt ly cam vắt trước mặt. Tôi thoáng nhìn các phòng. Lối kiến trúc xây cất cùng một mẫu như bên nhà tôi. Vật dụng trưng bày trong nhà thuộc loại đắt tiền. Có điều chẳng có bức hình nào của những người trong gia đình treo trên vách từ phòng ăn qua phòng khách. Tôi có ý lợi dụng cơ hội để hỏi Vi Vi :
- Cháu à, chú có hơi tò mò. Cha mẹ cháu hiện giờ ở đâu ? Sao cháu lại sống một mình ? Vi Vi thoáng nét buồn :
- Thưa chú, cháu không có cha, cũng có nghĩa là cháu không còn cha. Nghe mẹ cháu bảo cha cháu đã mất lúc mẹ đang mang thai cháu.
- Ngày trước cha cháu làm gì, mẹ có kể cho cháu nghe không ?
- Mẹ nói cha cháu ngày trước đi lính Việt Nam Cộng Hòa bị mất tích trong lúc đánh nhau đang lúc mẹ cháu gần ngày sanh cháu.
- Ở Việt Nam, quê cháu ở đâu ?
- Nhatrang chú ạ. Nghe mẹ cháu nói chứ cháu chẳng biết Nhatrang là chỗ nào, vì lúc đó cháu mới biết đi lửng chửng. Tôi lẩm bẩm hai tiếng Nhatrang...Nhatrang... trong niềm xúc động như gặp được người cùng quê quán trên xứ người.
- Cô chú cũng ở Nhatrang đó Vi Vi.
- Vậy hả chú. Hai gia đình cùng quê ở gần nhau, từ nay cháu chẳng còn cô đơn khi được ở bên nhà cô chú.

Một thoáng bâng khuâng gần gũi nhè nhẹ len lỏi vào tâm hồn, tôi bưng ly nước rồi tự nhiên nói :
- Chú nhìn cháu sao trông quen quen ở đâu đó. Vi Vi không chú ý lời tôi, kể lể :
- Nhiều năm trước gia đình cháu ở miền Bắc, lạnh quá, lại về đây và mua ngôi nhà này. Ðược chừng hơn năm mẹ cháu đi Cali hùn hạp với một người bạn sang một shop bán quần áo, vải vóc, mỹ phẩm và giao cháu ở giữ ngôi nhà này. Lâu lâu mẹ lại về một lần thăm cháu vài hôm rồi trở qua lại. Thường xuyên hai mẹ con thích nói chuyện trên phone.
- Cháu lớn tuổi rồi sao chưa lập gia đình ? Vi Vi nhìn tôi, bẽn lẽn :
- Cháu chưa dám nghĩ đến điều đó. Mẹ cháu suốt cuộc đời vẫn ở vậy để nuôi cháu khôn lớn có sao đâu chú ! Lấy chồng để không ai chăm sóc mẹ và ở bên mẹ lúc tuổi già. Gia đình cháu đâu có ai. Cháu lại sợ lấy chồng rồi không may như cuộc đời mẹ cháu thì cháu chẳng biết tính sao ! Một lần nghe Vi Vi nói tôi cảm động và quí mến đứa con hiếu thảo, lòng mơ ước sao mình không may mắn có được đứa con như Vi Vi. Trước khi đứng dậy ra về, tôi nhắc lại :
- Mình cùng quê quán bản sở, mới quen biết nhau, cô chú quí mến cháu như con. Nhà sát vách, đêm hôm hoặc bất cứ có điều gì cháu cứ kêu cô chú nhé. Tôi đem chuyện kể lại Ngọc, nàng bảo cũng rất cảm tình với Vi Vi, và như tôi, nàng cũng ước gì có được đứa con như Vi Vi để tuổi già đở cô quạnh. Mai mốt nằm xuống còn có người khóc mình bớt lạnh lẽo. Tôi biết Ngọc ước muốn có một đứa con gái. Nàng thường đến nhà những người bạn có con gái lân la trò chuyện cười đùa với lũ trẻ. Ðôi lúc Ngọc còn chở mấy cô nhỏ ấy về nhà bày vẻ nấu nướng các món ăn cùng ăn và cùng vui đùa. Nàng nói là đang thể hiện thiên chức làm mẹ. Kể từ hôm đó Ngọc qua lại với Vi Vi vào những dịp thuận tiện và ở lại suốt cả buổi tối. Vi Vi cũng sang nhà tôi vào giờ rảnh. Hai cô cháu quấn quít bên nhau ăn uống cười đùa thật tâm đầu ý hiệp. Thấy vậy tôi nói đùa : - Vi Vi thích làm con nuôi của cô chú không ?
- Cháu thích lắm. Ðể cháu nói với mẹ cháu, nếu cô chú muốn. Ngọc lo lắng :
- Nếu mẹ cháu ở Cali không bằng lòng thì sao ? - Mẹ cháu cưng chiều cháu lắm mà cô chú khỏi lo. Tuy nhiên cháu cũng phải hỏi qua ý kiến của mẹ không thì mẹ buồn. Tình cảm giữa vợ chồng tôi với Vi Vi mỗi ngày thân mật. Những gì Vi Vi không giải quyết được tôi đều giúp cháu. Ống nước bồn rửa chén rò rĩ, đinh ốc cánh cửa long ra, vòi nước tưới cỏ bị nghẹt, slide door kẹt không kéo được, chiếc xe không nổ máỵ..ngay cả việc cắt cỏ xung quanh nhà tôi giúp Vi Vi một tay đở phải thuê mướn.
Một buổi chiều cuối tuần đi làm về tối mịt, Ngọc nói với tôi :
- Anh, lúc chiều Vi Vi chạy qua nói mẹ cháu vừa ở Cali về thăm. Sáng mai Vy Vy đưa mẹ sang giới thiệu mình anh ạ.
- Em đã nhìn thấy mẹ của Vi Vi chưa ?
- Chưa. Lúc chiều đi làm về em nghe Vi Vi bảo mẹ cháu lái xe đi đâu đó.
Tôi gợi ý :
- Ngày mai mình làm món gì đãi khách chứ em ?
- Em đã nghĩ đến rồi anh. Sáng chúa nhật nghỉ, tôi thường ngủ dậy trễ. Ngọc thức sớm đang loay hoay trong bếp với nồi bún măng vịt và con gà nhồi xôi. Thường sáng chúa nhật là hai vợ chồng chở nhau ra phố ăn sáng rồi đi chợ cho một tuần lễ. Hôm nay không theo thói quen, tôi phải ngồi nhà đợi khách. Ðến gần trưa, Vi Vi mới đưa mẹ đến. Hai mẹ con Vi Vi bước vào nhà, Ngọc tươi cười đon đả ra tận cửa chào mời khách. Tôi lững thững sau lưng vợ. Hai người đàn bà đang chào hỏi nhau :
- Chào chị. Em là Ngọc hân hạnh được gặp chị. Mời chị vào nhà.
- Em là Lài, mẹ cháu Vi Vi. Em nghe con em thường kể về anh chị, hôm nay mới có dịp đến thăm anh chị và gia đình. Phần tôi hết sức ngỡ ngàng và mất bình tĩnh khi nhìn thấy Lài. Tôi chẳng nói được lời nào, đứng chết trân một chỗ trong lúc ba người nói cười rôm rả. Ðầu óc tôi đang quay cuồng thắc mắc. Tôi có lầm lẫn ngộ nhận không ? Một Lài của một thời xa xưa và một Lài của hôm nay đang đứng trước mặt. Cùng khuôn mặt thoáng gợn nét u buồn lãng mạn kia kìa từ độ nào đã hằn sâu trên sắc nét Vi Vi mà tôi đã bắt gặp. Giờ đây trên vóc dáng khả ái, con người ấy đã có chút đổi thay theo thời gian nắng sương tuổi tác chất chồng, nét chững chạc trong phong cách của một thiếu phụ đài các. Tôi đang cuốn hút theo những suy nghĩ của mình, bổng thấy Lài khựng lại sững sờ nhìn tôi một thoáng bàng hoàng, nhưng rồi nét mặt nàng trở lại tươi vui :
- Chào anh ! Nhìn thấy anh em đang phân vân có phải anh là anh Tâm, thiếu tá Tâm, tiểu đoàn Hắc Hổ ngày trước ở Banmêthuột ? Trước câu hỏi chính xác không ngờ trước, tôi chợt hiểu ra rằng Lài đang như cố nén cơn xúc động trưóc sự gặp gỡ bất ngờ giữa hai người, tôi điềm tĩnh trả lời :
- Vâng, tôi là Tâm như chị vừa nói. Lâu lắm rồi từ ngày đó chị Lài vẫn còn nhớ, hôm nay may mắn gặp lại chị thật không hân hạnh nào bằng. Vừa nghe tôi nói, Vi Vi hớn hở reo mừng :
- A ha ! mẹ và chú Tâm đã quen nhau từ trước rồi xem như cùng gia đình, con vui quá.
Ngọc hớt lời :
- Ðời lính đi nhiều nơi mà chị, quen biết nhiều người là chuyện thường tình. Anh Tâm nhà em vẫn thường kể cho em nghe về những người anh quen biết trước đây. Lài ngồi xuống ghế, nét mặt điềm tĩnh, nàng nói như giải bày:
- Chị Ngọc biết không, trước năm 1975 đã một thời em kinh doanh quán cà phê Mimosa của em tại Banmêthuột. Lúc ấy tiểu đoàn của anh Tâm thường tăng viện về đó. Sau mỗi chặng đường hành quân về nghỉ dưỡng quân, anh Tâm và các sĩ quan của tiểu đoàn vẫn thường trực quán cà phê của em. Vậy mà...vật đổi sao dời, mỗi người lưu lạc mỗi nơị..đôi khi cũng gặp lạị..em cũng đã từng gặp lại vài người trước đó. Dứt lời, Lài xoay chuyển câu chuyện :
- Em nghe con Vi Vi nói về sự quí mến của anh chị đối với cháu và còn giúp cháu điều này điều nọ. Không biết nói gì hơn, em thành thật cám ơn vợ chồng anh chị trong lúc em bận rộn làm ăn ở xa lại được có anh chị ở bên cạnh Vi Vi, em thấy vững tâm. Ngọc đở lời :
- Chị quá lời khen, Vi Vi dễ thương, ngoan hiền, đức hạnh, vợ chồng em quí cháu như con ruột và còn ước muốn Vi Vi là con nuôi của mình chị Lài ạ. Chị cho Vi Vi làm con nuôi vợ chồng em đi. Nhà gần nhau, chị làm ăn ở xa, thỉnh thoảng chị mới về. Nghe nhắc đến chuyện con nuôi, Vi Vi ôm cánh tay mẹ nũng nịu : - Mẹ bằng lòng chứ mẹ ?
- Con thích không ? - Mẹ bằng lòng thì con bằng lòng. Là con nuôi của cô chú Tâm thì con cũng vẫn là con ruột của mẹ. Lài nhìn vợ chồng tôi :
- Anh chị yêu quí Vi Vi là diễm phúc cho nó. Thôi thì, cho em được trả lời sau. Em nghĩ...Lài khẻ liếc nhìn tôị..Vi Vi là con ruột của em, được anh chị yêu thương cũng là con của anh chị. Những câu chuyện giữa hai người đàn bà đồng trang lứa và cháu Vi Vi vẫn tiếp nối thân mật và vui vẻ. Tôi không góp ý góp lời, ngồi im như pho tượng, lòng tràn ngập bao kỹ niệm của thời son trẻ đánh giặc và ăn chơi cùng mối tình đầu của một thời đã qua. Tôi quay sang nhắc Ngọc chuẩn bị bữa ăn mời khách. Khi Ngọc bước qua phòng ăn, Vi Vi cũng theo gót Ngọc phụ công việc. Hai cô cháu quấn quít như bóng với hình. Còn lại hai người, Lài nhìn tôi trong ánh mắt dỗi hờn, khẻ nói :
- Em đã từng dọ hỏi tin tức về anh, nhưng anh vẫn biệt tăm. Nhờ trời lòng mong ước của em bao nhiêu năm đã đi qua, hôm nay như toại nguyện. Vậy mà....anh quá hững hờ với em vậy anh Tâm ? Anh chẳng còn chút tình nghĩa gì với em sao hả anh Tâm ? Anh quá vô tình, anh nào có biết ! Em ghét anh ! Em thù anh, anh biết không ? - Chứ anh biết làm sao bây giờ, Lài tha thứ cho anh. - Anh tệ bạc với em trong suốt cuộc đời em. Hôm nay em muốn nói với anh, con Vi Vi, nó là con ruột của anh đó. Con của anh. Con của chúng mình anh có biết không ? - Vi Vi là con ruột của anh ! Lài, em nói thật chứ ? - Thật với giả, đừng hỏi nữa. Em cần gặp riêng anh. - Lúc nào ?
- Chiều mai, lúc 3 giờ tại nhà hàng Phương Nam trên đường Rockentucky.
- Anh sẽ đến đó gặp em.

Bữa ăn dọn ra đã xong, Vi Vi qua mời mẹ và tôi qua phòng ăn. Suốt bữa tôi đâu còn đầu óc để thưởng thức các món ăn ngon miệng, sau khi biết được Vi Vi là con gái của mình. Còn Ngọc, Lài và Vi Vi huyên thuyên bao nhiêu câu chuyện, cười nói rất thân tình như chẳng có gì xảy ra. Hai mẹ con Lài trở về bên nhà. Ðêm lại về. Bầu trời sâu thẳm không một vì sao. Tôi đi ra đi vào, trằn trọc suốt đêm với những suy nghĩ trước chuyện bất ngờ tôi đâu thể lường được. Cả mãng đời trai trẻ làm thân lính chiến tung hoành khắp mọi miền Ðất Nước, đánh giặc tả tơi, ăn chơi vi vút để cố tìm quên bao chết chóc hiểm nguy ngoài trận mạc. Ngày ấy như lời trần tình của Lài sáng nay, tiểu đoàn của tôi thường được tăng viện giải vây áp lực địch trên các mặt trận sôi động vùng Cao. Sau mỗi trận quần thảo sống chết với địch quân, tiểu đoàn thường được nghỉ dưỡng quân vài hôm tại thành phố Ban Mê sương mù đất đỏ. Tôi cũng như các sĩ quan tiểu đoàn thường trực quán cà phê Mimosa, cà phê Dạ Thảọ..nằm trên đường Y-Jut qua khói thuốc và hương vị cà phê tìm giây phút thư giản giữa cuộc sống nhộn nhịp của người dân. Ðiều cốt yếu để ngắm nhìn người đẹp Cao Nguyên lượn phố có nước da trắng, đôi má ửng hồng duyên dáng. Cũng không bỏ sót những nàng nữ sinh áo trắng tóc thề mơn mởn ngang vai, có đôi mắt bồ câu long lanh đen nhánh, đôi má hồng son...e ấp theo bước chân trên hè phố sau giờ tan học. Lính trận đã từng giây phút đối đầu sinh tử trước bom đạn kẻ thù ngoài rừng sâu thì khi về thành phố đâu còn lo sợ kiêng dè. Hễ gặp người đẹp là cứ tán từ A đến Z, dù được dù không, tán để mà tán, để cố tìm chút hương vị tình yêu rơi rớt đâu đó mà tự an ủi lòng đời vẫn còn đáng yêu bên xác người ngã gục, máu đổ thịt rơi từng ngày. Qua những lần lui tới vui đùa tán tỉnh cùng bạn bè chiến hửu tôi đã lọt được vào đôi mắt xanh của cô chủ quán cà phê Mimosa xinh đẹp nhất vùng, nàng kiều nữ sắc nước hương trời nổi tiếng của thành phố Ban Mê. Trước mắt Lài tôi không còn địch thủ. Tình yêu đến với hai người thật nóng bỏng. đam mê và dâng hiến. Những thề non hẹn biển, Ðất Trời chứng giám khi má tựa vai kề. Rồi Ðêm Màu Hồng của chúng tôi được ấp ủ trong căn phòng ngủ ấm áp của Lài vào những đêm sương mù phũ kín không gian thành phố. Thời gian như ngừng trôi, Lài đã hiến dâng trọn đời con gái cho tôi không chút nuối tiếc:" Em trọn vẹn cho anh và tin tưởng vào anh. Em vẫn biết làm vợ người lính trận bấp bênh như ngọn đèn trước gió. Dù vật đổi sao dời, dù có chít vành khăn tang đi chăng nữa, em vẫn mãi là vợ của anh..." Câu nói của Lài như một nhắn gởi cuối cùng vào định mệnh khắt khe chờ đón cuối nẽo đường đời, cứ mãi dõi theo bước quân hành khắp nẽo đường Ðất Nước. Ðời lính không an vị một nơi. Tiểu đoàn cứ luân chuyển nhiều nơi từ Quãng Trị đến đồng bằng sông Cửu. Tôi bị thương nặng trong một trận tử thủ ngập tràn xác địch và được điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Xuất viện, tôi trở về với chiến hửu đồng đội, tiếp tục quần thảo với địch trên các tỉnh cuối cùng của Ðất Nước cho đến ngày bóng ma Cộng sản thập thò cưỡng chiếm miền Nam. Rồi ở tù. Rồi vượt ngục. Rồi vượt biên đến miền đất hứa. Bóng dáng người tình của thành phố Buồn Muôn Thuở năm xưa như nhạt dần trên bước chân người lính qua cuộc đổi đời sắt máu, biến dạng, tắt ngấm như mãng sao băng tan biến giữa vòm trời cao. Bây giờ tóc đã điểm sương gần trọn đời người tôi gặp lại Lài, chân dung mối tình đầu đầy thơ mộng và đứa con ruột thịt tôi chưa bao giờ ngờ đến..!

Hôm nay làm việc buổi sáng, tôi xin nghỉ buổi chiều để gặp Lài. Hơn ba giờ tôi mới đến nhà hàng Phưong Nam đã nhìn thấy Lài đang ngồi ở một bàn trong góc khuất bên trong. Tôi mĩm cười xuýt xoa : - Anh đến có hơi trễ. Xin lỗi để em chờ. Khuôn mặt xinh đẹp của người tình năm xưa vẫn còn đậm nét duyên dáng diễm lệ tuy không tránh khỏi vài nếp nhăn thời gian trên vầng trán thoáng gợn chút u buồn lãng mạn mà tôi cũng đã nhìn thấy được nơi Vi Vi. Lài nhìn tôi không chớp mắt :
- Anh ngồi với em đi anh Tâm. Ba mươi năm rồi còn sống sót để gặp nhau, anh có vui không ?
- Anh không ngờ định mệnh quá khắt khe không cho chúng ta được như ý. - Anh thích ăn gì ? Mình cùng chọn thức ăn với nhau cho bữa cơm chiều anh nhé. Tôi và Lài loay hoay với bản thực đơn. Ðột nhiên Lài hỏi : - Anh và chị Ngọc sống có hạnh phúc không ? Anh nhớ hãy giữ gìn hạnh phúc với chị cho đến ngày cuối cùng, đó là điều em mong muốn sau cuộc hội ngộ hôm qua.
- Không thể làm gì khác hơn. Anh nghe lời em. Gặp lại em anh ngỡ ngàng lẫn chua xót và cảm thấy e thẹn trước mặt em, Lài ạ, em tha thứ cho anh. Em đã sinh và nuôi nấng Vi Vi nên người anh hết sức cảm phục, quí trọng. Nó giỏi giang, thông minh, hiền thục, xinh đẹp đâu thua gì mẹ nó. Lài ngắm nhìn tôi trong ánh mắt thật buồn :
- Năm tháng trước em đã oán hận anh là kẻ bạc tình, chiếm đoạt hoa rồi vùi dập đời hoa. Sau này thì hết buồn giận anh rồi, lòng ước mong sẽ gặp lại anh để cho Vi Vi có tình thương của người cha. Em đã hỏi han, nhắn tin tìm kiếm anh, nhưng thất vọng, cứ lo sợ anh đã không còn nữa vì bom đạn vô tình đâu tránh được. Em sinh con, nuôi dưỡng, trôi giạt khắp nơi, lắm nổi gian nan. Em vượt biên đến xứ này một thân một mình, cũng đã từng qua những tiểu bang hỏi thăm anh qua những người quen biết. Sao anh nỡ bỏ em từ ngày ấy ? Anh có quá tàn nhẫn với em không anh Tâm ? Anh tàn nhẫn lắm mà. Tôi chua xót với những lời trách móc của Lài chỉ biết nói lời tạ lỗi, đồng thời giải bày cho Lài biết hành trình cuộc đời của tôi sau ngày tiểu đoàn rời Banmêthuột. Nghe xong, Lài thở dài : - Duyên số chúng ta không có, đành chấp nhận sự an bài. Chuyện cũ ngày xưa như một thoáng kỷ niệm. Không hạnh phúc bên anh em vẫn giữ tròn tiết hạnh của người đàn bà có chồng dù không chung sống nhau. Anh nhớ chứ, em đã nóị.." dù có chít vành khăn tang đi chăng nữa, em vẫn mãi là vợ của anh.." Giờ này em đã làm tròn trách nhiệm làm mẹ đối với Vi Vi - Lài đổi giọng - Anh Tâm, hãy cùng em thu xếp công việc cho ổn thỏa, nhất là Vi Vi, con gái của anh. Anh đã có suy nghĩ gì chưa ?

- Anh chưa biết phải tính thế nào ?

- Em nghĩ cũng dễ thôi. Anh và chị Ngọc yêu quí Vi Vi như con ruột, còn muốn nó là con nuôi. Vi Vi yêu thương anh chị như cha mẹ. Chi bằng chúng ta hãy nói rõ chuyện cho chị Ngọc và Vi Vi biết. Em tin chắc hai người thông cảm và bằng lòng không trách cứ chúng ta điều gì, vì anh đến với em trước khi anh gặp chị Ngọc. Anh cảm thấy ổn thỏa không ? Tôi đăm chiêu suy nghĩ :

- Chỉ còn cách phải giải quyết như thế. Ngọc và Vi Vi sẽ không phản đối vì hai người gần gũi thân mật như bóng với hình. Hy vọng mọi sự sẽ tốt đẹp. Lài nói tiếp : - Anh có trách nhiệm lo cho con gái mình yên bề gia thất. Em đã nhiều lần khuyên nhủ con lập gia đình, nó nhất quyết không chịu. Nó bảo lấy chồng rồi bỏ mẹ ai trông nom. Em để Vi Vi sở hửu ngôi nhà nó đang ở. Nhà đã trả dứt nợ. Vi Vi sẽ gần gũi bên vợ chồng anh. Phần em bận công việc làm ăn, khi rảnh rỗi em sẽ về thăm mọi người. Còn chuyện chúng mình...thì sao ? Anh suy nghĩ như thế nào anh Tâm ? Hỏi rồi không để tôi trả lời, Lài nói như uất nghẹn :

- Giữa cuộc đời hôm nay anh và em hãy đối xử nhau trong tình bạn, phải như thế anh ạ, mặc dù em vẫn còn yêu anh, không ai có thể thay thế anh trong tim em. Mọi sự chung đụng gần gũi không còn nữa, nên tránh xa. Anh hãy chung thủy và giữ hạnh phúc mãi mãi với chị Ngọc. Ðừng để chị ấy có điều gì nghi ngờ hoặc buồn phiền khi có sự hiện diện của em. Vi Vi cũng đã nên người, tuy nhiên tuổi trẻ vẫn còn thiếu sót, đó là trách nhiệm của anh phải lo cho con. Bữa cơm trôi qua nhanh vì chẳng ai hứng thú gì trong việc ăn uống. Những lời nói của Lài thật chính đáng khiến tôi cảm phục và chấp nhận. Tôi nói : - Anh sẽ thực hành đúng theo ý em nói. Anh cám ơn em. Anh đề nghị sau khi về nhà đêm nay chúng ta cùng nói cho Ngọc và Vi Vi biết chuyện của chúng mình. - Ðúng như ý em, vì vé máy bay của em chỉ còn ở lại một ngày mà thôi. Công việc buôn bán của em bề bộn, không thể thiếu vắng em. Tôi và Lài nán lại vài phút nhắc một vài kỷ niệm ngày xưa của những ngày ở bên nhau. Trước khi ra về, không kiềm nổi lòng mình, tôi nắm chặt đôi tay Lài : - Anh vẫn yêu em như ngày nào, mặc dầu chúng ta không sống bên nhau. Lài nhìn tôi trong ánh mắt buồn sâu thẳm, khe khẻ rút đôi tay ra, giọng nói đầy van lơn : - Ðừng anh ..! Hết rồi ! Tất cả chỉ còn là kỷ niệm, chỉ là một thoáng hương xưa ẩn trong tiềm thức sâu thẳm mỗi người. Chúng ta hãy để nó lắng xuống yên nghỉ im ắng một góc khuất nào đó trong tâm hồn. Em đã quen sống như thế này từ lâu rồi. Anh đừng lay động khối tình cảm của em đang ngủ yên. Anh Tâm ! anh hãy nghe theo ý em một chút. Dứt lời, Lài nhìn tôi nở nụ cười bằng lòng cho số phận đã an bài, hôn phớt nhẹ trên má tôi rồi giục :
- Thôi chúng ta về anh ạ.

Về đến nhà, Ngọc đang chờ cơm. Tôi vội ăn qua loa cho xong bữa, chờ Ngọc dọn dẹp xong tôi nói :

- Mình ra phòng khách, anh có việc cần nói với em. Ngọc thắc mắc khi tôi mở đầu câu chuyện. Tôi kể tỉ mỉ cho Ngọc nghe tất cả sự việc từ đầu đến cuối giữa tôi và Lài, và cuộc gặp gỡ giữa hai người chiều nay, đồng thời tôi xin lỗi Ngọc mọi việc tôi đã làm. Tôi nói cho Ngọc biết Vi Vi là con ruột của tôi. Sắc mặt Ngọc tái dần qua từng lời nói của tôi. Ngọc hoảng hốt :

Hả ? Anh nói Vi Vi là con của anh ? Có chắc không ? Anh đã suy nghĩ kỹ chưa ? Anh suy nghĩ chín chắn lắm rồi. Em hãy bình tâm và chấp nhận cho anh. Chuyện xảy ra trước khi anh gặp em mà. Trai gái lớn lên sôi nổi bồng bột với mối tình đầu không ai tránh khỏi kết quả phải có của nó. Anh mong em có sự rộng lượng bao dung. Ngọc ngồi im, nét mặt đăm chiêu suy nghĩ hồi lâu nàng nói : - Sự việc coi như đã rồi. Anh giải quyết như thế nào ? Tôi kể lại ý kiến của Lài, và nói : - Vi Vi là con của anh cũng là con của em, em hãy nhận vinh dự này. Anh có trách nhiệm với Vi Vi kể từ lúc này. Còn anh và Lài được xem như những người bạn. Lài và vợ chồng mình có bổn phận lo cho con. Ngọc mĩm cười hòa dịu : - Em không trách cứ anh điều gì. Ai cấm được thanh niên nam nữ mới lớn sôi nổi cuồng nhiệt trong những mối tình đầu trước khi lập gia đình. Còn đối với Vi Vi, em đã từng quí mến nó như con, ước muốn nó là con nuôi. Em cũng vui vẻ chấp nhận để anh vui và để chúng ta có Vi Vi trong gia đình. Có người bấm chuông, Ngọc đứng dậy mở cửa. Vi Vi chạy ùa vào nhà đến trước mặt tôi, nét mặt tươi tỉnh : - Bạ..ba là ba của con đây. Mẹ đã kể hết cho con nghe rồi. Con vui mừng. Cho đến tuổi này, gần ba mươi năm con gái của ba mới biết mặt ba. Gọi được tiếng ba đầu tiên trong đời con thật xúc động. Tôi vuốt tóc Vi Vi : - Con tha lỗi cho ba và mẹ cũng vì hoàn cảnh nghiệt ngã ba đã không nuôi nấng chăm sóc con từ tấm bé. Từ nay ba sẽ chăm sóc con. Con rất ngoan hiền, ba hãnh diện với con đó, Vi Vi ạ. Vi Vi cầm bàn tay Lài đặt vào bàn tay tôi, giọng run run :

- Con cám ơn ba mẹ đã sinh thành ra con. Giờ phút này con có đủ cha mẹ, không còn mồ côi. Hạnh phúc nhất của đứa con khi mình còn đầy đủ cha mẹ. Vi Vi quay nhìn Ngọc, vội chạy đến ôm chầm lấy nàng thổn thức :

- Cô Ngọc...cô cũng là mẹ của con. Mẹ chấp nhận nhen mẹ. Con sẽ ở bên mẹ để được mẹ yêu thương chiều chuộng như mẹ ruột của con đã yêu thương chiều chuộng con. Con có được hai người mẹ tốt lành, nhân hậu.

Ngọc xúc động không nói được lời nào. Lài nắm chặt hai bàn tay của Ngọc : - Chị Ngọc, em xin chị chăm sóc anh Tâm và con Vi Vi. Em cầu mong anh chị hạnh phúc mãi bên nhau cho đến ngày cuối cùng, với Vi Vi con của anh chị. Xin chị đừng có gì nghi vấn giữa em với anh Tâm, giờ phút này hai người chỉ còn là tình bạn. Chính Vi Vi là nguồn hạnh phúc của ba người chúng ta. Ngày mai em sẽ trở lại Cali với công việc buôn bán bề bộn, khi rảnh em sẽ về thăm mọi người và lúc nào có dịp, mời anh chị dẫn Vi Vi sang bên đó vui chơi với em. Ngọc mủi lòng :

- Chị an tâm. Em không có gì phàn nàn về anh Tâm hay chị, trái lại lòng em rất vui. Chúng ta tất cả đã gần trọn đời người, có sự hiểu biết, nên tha thứ và chấp nhận trong tình nhân ái. Ðiều khiến em vui nhiều là em có được Vy Vy thực sự, em yêu quý nó lắm chị Lài ạ. Tôi cười nói :

- Anh cám ơn hai người mẹ của con gái anh. Còn Vi Vi, con là con gái của ba, từ nay con sẽ ở bên ba mẹ, ba sẽ lo tròn trách nhiệm của mõt người cha đối với con, để con sẽ không còn phải cô đơn như trước. -

Nguyễn Thế Hoàng




Mục Lục


11. Theo Ðóm Ăn Tàn

Ðinh.sarây



Truyện ngắn :
Hận đến nhà Phạm Chi sau một cú điện thoại hẹn. Phạm Chi là giáo viên dạy văn tại trường chuyên tỉnh, gốc người Huế, vào nam sau 1975. Vui tính, hát hay, thường giúp đở bạn bè khi có chuyện nhờ đến. Hận tặng thêm chữ lỗi vào tên của Chi đọc thành Phạm Lỗi Chi, chú nghe xong cười khì khì. Nhà của Chi là một biệt thự sang trọng toạ lạc trên một vùng đất rộng trong thị trấn, chẳng là ông già vợ vừa xây xong thì vội chầu trời, để lại ngôi biệt thự đồ sộ cho con gái và chàng rễ.

Phạm Chi dọn sẳn chiếc bàn tròn đặt dưới bóng râm của cây xoài, kèm theo hai hộp phô mai đầu bò và một thùng tiger. Ðón Hận chú vẫn cười xởi lởi như hồi nào, Hận bắt tay chú :
- Gì mà long trọng…thế ?
- Lâụ.lâu rồng mới tới nhà tôm mà…!
- Chẳng biết ai là rồng ai là tôm à..nghe ?
Vừa ngồi xuống ghế, Chi đã bật nắp tiger rót vào ly đẫy sang Hận:
- Ðến nhà em..có chuyện gì đây ?
Uống một ngụm bia Hận nói :
- Chẳng là thằng cháu nội vừa lên lớp 6, theo tuyến của trường thì nó phải học trường Phan Ðình Phùng, nhưng đường thì xa anh sợ nó đi học sẽ bị tai nạn về giao thông, nên nhờ chú xin cho nó học trường Nguyễn Trải giùm..gần nhà mình hơn !
- Tưởng chuyện gì.. chuyện nhỏ ! Thằng học trò em nó là trưởng phòng văn hoá mà, em phone cho nó cái là xong ! Hiệu trưởng trường Nguyễn Trải cũng là chí cốt của em..anh yên trí, coi như xong ! Vô cạn ly nè..

Hận biết khả năng của Chi, với người khác thì khó vì trật tuyến. Nhưng với Chi thì trong tầm tay. Trường Nguyễn Trải cũng là trường điểm của thị xã lại gần nhà nên Hận rất yên tâm. Cũng khá lâu Hận không nhậu với Chi. Dạo nầy chú ấy mập hẳn ra, trắng trẻo hơn, vẫn cứ điệu cười khì khì quen thuộc. Hận hỏi thăm về thằng con trai đầu lòng của chú thì được biết năm sau cháu ra trường, hiện đang học năm cuối quản trị kinh doanh. Mới đây mà nhanh thật, ngày nào Hận đến dự thôi nôi của cháu, giờ lại sắp tốt nghiệp đại học. Nhanh thật ! Ðiện thoại trong túi Chi reo vang. Chi nghe máy :
- Alô.. à không được.. đang dạy mà ! Còn mấy ngày nữa tụi nó thi rồi, hẹn dịp khác nhé ! Không đợi trả lời Chi tắt máy. Hận hỏi :
- Ai vậy ?
- À..Miền Bắc !
- Nhạc sĩ Miền Bắc hả ? Dạo nầy thường đến đây không ?
- Nhạc sĩ gì..anh ơi. Thằng em hắn nói với em không nhờ nó thì làm gì hắn có được cái thẻ. Tuần nào hắn không đến đây thăm bẫy, mới ngày hôm qua vừa đến, khi ra về tới cỗng gặp thằng học trò em chở đến thùng bia nầy, giờ gọi đến vòi vĩnh đòi uống..

Hận cười mũi. Cái thằng tật không bỏ. Hận chơi với nó từ khi nó còn nhỏ xíu. Mấy chục năm chơi nhau. Có trời, Hận chưa được uống của nó chai bia nào ! Bia của bạn bè thì nó uống vô tư. Rượu còn hôi trên miệng thì nó lại nói xấu người ta rồi. Bệnh chửa hết chứ tật còn hoài. Mươi, mươi năm trước nó lẽo đẽo theo Hận. Tiệc nhậu nào có Hận thì có nó. Hận thuộc lòng nó đến nỗi nó nhìn thì Hận biết nó đã nghĩ gì rồi. Nó được thằng bạn Hận dạy về nhạc lý, ký âm cho từng nốt. Sau đó nó mày mò làm sao mà đi in car giới thiệu là nhạc sĩ hội nầy hội kia. Quả là nó có nhiều tham vọng, nhưng lại là kẻ hám danh. Có tài mà hám danh thì còn cho là được. Sợ cái bất tài mà hám danh mới là tội nghiệp. Khổng Tử có nói : Người ta có ba cái chết không phải do mệnh chủ định, mà là do người chuốc lấy. Người nghỉ ngơi không đúng lúc, ăn uống không tiết chế, thì bệnh tật kéo đến sát hại là một cái chết. Người ở địa vị thấp mà cứ phạm thượng, ham dục quá độ, yêu sách không ngừng, thì sẽ bị hình phạt kéo đến sát hại là hai cái chết. Người ít mà xâm phạm chỗ đông, nhỏ yếu mà khinh khi lớn mạnh, giận dữ mà không tự lượng sức mình, thì sẽ bị binh khí ập đến sát hại, là ba cái chết. Nhưng thương cái là nó hiền, dễ bảo. Chi rót bia tiếp vào ly rồi nói :
- Anh nghĩ coi, hôm 1-4 vừa qua nó tổ chức kỷ niệm nhạc sĩ X. Mấy người bạn báo chí vào tham dự, rồi chụp hình em đăng báo. Ngày qua nó vào chữi em tưng bừng nói sao đăng hình em mà không đăng hình nó, rồi sau đó nó bảo em phải đóng tiền buổi tiệc. Không biết năm sau nó còn kinh doanh trên vong linh của nhạc sĩ X không ? Hận cười ruồi : - Thôi bỏ đi, chuyện của nó nhiều tâp lắm, nói đến chừng nào mới hết.
- Tại anh hỏi em mới nói. Nhớ ra còn ấm ức, anh nhớ năm nào nó ôm sô bài thơ anh đã đăng báo ra phổ nhạc. Gởi dự thi quân khu, đạt được giải thưởng, về nó có mời anh điếu thuốc nào không ?
- Giải thuởng có được mấy đồng đâu chú, phong trào mà.!
- Thì..vuốt mặt cũng phải nễ mũi chứ ! - Chuyện vặt.. tha tội cho nó đi. Bản chất của nó là vậy mà !
Phạm Chi gãi đầu :
- Cái đáng nói là bài thơ của anh nó phổ nhạc nhưng nó có nói là phổ nhạc bài thơ đâu, nó cắn cu thề thốt là bài nhạc do nó sáng tác.. thế mới nói chứ lỵ ..

Nói về bài thơ Hận mới nhớ có lần Hận vào Lộc Ninh thăm nhà báo Tư Trời Biển trước 1975 viết ở báo Ðuốt Nhà Nam, lúc ấy Tư Trời Biển đang khai thác gỗ lòng hồ ( bút danh Tư Trời Biển là do nhiều người viết, chứ tên thật anh là Nguyễn Văn Thạch, hiện định cư tại Pháp) Hận lại dẫn hắn theo. Hai Thạch đãi đằng Hận hậu hỉ, anh nấu cháo khỉ với đậu xanh, bao tử nhím xào lăng, thịt công xé phai, hấp dẫn vô cùng. Sở dĩ anh ưu ái với Hận chẳng qua là lúc đó Hận có hỗ trợ cho anh một số tiền để khai thác gỗ. Anh hỏi về hắn Hận chưa kịp trả lời thì hắn vội nói :
- Em là nhạc sĩ tên Miền Bắc, đây là tên cúng cơm của em..

Hận ngượng chín người vì lúc đó hắn khoảng 20 –21 tuổi gì thôi, còn hai Thạch sấp xỉ năm mươi, lại là nhà báo lảo luyện, sau 1975 cam chịu lên rừng đốt than..Buổi tiệc về khuya càng rôm rả, hắn kêu Hận làm cho bài thơ để hắn phổ nhạc tại chổ, hát phục vụ bàn tiệc, vì hai Thạch có cây đàn ghi ta của pháp rất tuyệt. Rượu vào lời ra, Hận cũng hứng chí viết liền một bài thơ tả về đêm mưa ở rừng, hắn phổ thành ca khúc hát tại chổ, vui ơi là vui. Chẳng có giấy, Hận lấy giấy bạc trong bao thuốc lá viết mấy câu thơ, sáng ra hắn đưa bài thơ viết đêm qua cho Hận xem lại, Hận phát hiện ra có hai câu thơ của KT, chuyện nầy cũng dễ hiểu thôi, Hận rất thích thơ của KT, nên thơ anh nhập tâm Hận lúc nào không biết, khi say xỉn thì nhớ mà viết ra. Hận định đính chính, nhưng thấy là chuyện đùa vui thôi nên cũng làm thinh luôn. Ai ngờ sau nầy hắn chòi đạp sao đó cũng vào được một hội văn nghệ địa phương, hội có kinh phí in sáng tác của hội viên, hắn đưa bài nhạc nầy cho hội in. Hận nghe tin bèn đến gặp chủ tịch hội và cho biết bài thơ đó có mấy câu của KT, Hận chỉ ghi lại lúc say xỉn cho vui, xin đừng đăng, và chủ tịch không đăng. Chuyện chỉ có vậy mà hắn hận Hận đến tận bây giờ. Còn việc bài thơ của Hận đăng ở baó TN, hắn copy hết vào nhạc, nhưng không đăng là phổ thơ của ai hết. Ðến khi có kết quả, bạn bè nói tới tai Hận, hỏi hắn thì hắn đổ thừa là tại quân khu sót tên tác giả bài thơ , xin Hận tha lỗi. Quá biết cái tật của hắn Hận phất tay cho qua. Mặt hắn xanh chành, không còn giọt máu. Hắn quá biết cái tật của Hận, có tí rượu vào thì chẳng biết sợ ai, việc gì cũng dám làm. Nên được Hận cho qua, hắn lạy như tế sao.

Ðiện thoại di động của Chi lại reo vang. Chi định tắt thì Hận nói :
- Thì chú cứ nghe, nhỡ có chuyện gì quan trọng..
Chi mở điện thoại. Nghe vài giây thì tắt máy, thở dài nói với Hận :
- Lại thằng Miền Bắc, nó nói đang cùng với Cỏ Úa trên đường vào nhà em !
Hận đứng dậy bắt tay Chi :
- Thôi thì chú cứ tiếp hắn. Anh về đây, ngồi lại thấy mặt hắn chắc anh ói bia ra hết..
Chi bắt tay Hận, uễ oãi :
- Anh về, em cũng nhờ bà xả ‘cáo phó’ giùm.. hay là mình đi quán ?
- Anh thấy cũng hết hứng thú rồi. Nợ chú một chầu bia về chuyện thằng cháu nội nhé ! - Chuyện vặt..mà !

Hận ra về, qua cỗng nhà Chi thì quẹo trái, đã thấy bóng chiếc xe gắn máy chở hai nhà văn nghệ sĩ tỉnh lẻ đang nhắm cỗng nhà Chi chạy vào. Bất giác Hận ngừng xe lại, bao nhiêu bia vừa uống với Chi tuông lai láng trên nền cỏ. Hận cong người nôn tới mật xanh..

Ðinh.sarây




Mục Lục



12. Khoảnh Khắc Hạnh Phúc

Hà Khánh Phương



Thật là khó, khi phải viết những dòng chữ như thế nầy.
Những dòng chữ viết khi mà lòng tôi không bao giờ muốn viết.
Nhưng trí tôi cứ bảo tôi viết và tay tôi cứ thoăn thoắt viết , không thể nào dừng lại được.
Lá thư đã viết xong, được xếp lại và cho vào túi xách.
Tình cảm tôi đang dâng lên cơn bão táp.
Tim tôi như muốn nghẹt thở tựa hồ như có dao sắc đâm thút mạnh vào. Phải chi chính mắt tôi tường tận thấy được dòng máu đỏ từ trái tim đau khổ của chính mình tuôn trào ra.
Nhưng máu tim từ thể xác mà cha mẹ tôi đã tạo ra hình hài nầy đã không chảy, mà chỉ có những giọt nước mắt tủi hờn của tôi cứ tức tưởi chảy dài xuống gương mặt bất thần lẫn kinh hoàng của tôi.
Tôi khóc thật sự rồi sao?
Tôi còn đủ nước mắt để khóc nữa sao?
Vậy mà tôi cứ tưởng mình đã cạn nước mắt từ lâu lắm rồi chứ ?
Ðã từ lâu rồi, tôi như bất động trước cuồng động của nhân sinh, tôi đã tự mình sống khép kín (có lẽ còn hơn một nữ tu), bất cần trước dòng xoáy cuộc sống bon chen vật chất, danh lợi, cơm áo gạo tiền. Tâm tư tôi xốn xang.
Hình hài tôi giờ đây như đang bị lửa hè đốt cháy!
Bước chân tôi cứ mỗi lúc mỗi vô định cuốn theo cơn lốc thời gian, chưa tìm được lối thoát.
Tôi sống mà tất cả giác quan đã chết, nhưng đôi lúc cái đầu ngu xuẩn của tôi cũng muốn vùng thoát chạy ra khỏi bóng đen của cuộc sống tâm linh chưa có hành động cụ thể yếm thế và bi quan nào thái quá !...
Bước chân tôi cứ đi và đi mãi.
Nào tôi có định hướng được tôi đã đi những đâu và sẽ tới tận đâu ?
Trời trưa nắng gắt.
Tôi như nguời điên biết khóc biết cười, tôi cứ đi, đi mãi…và đi mãi…
Thể xác tôi vô tri vô giác… đầu trống rỗng !

… Một bàn tay vô tình và rất tàn bạo đã tát mạnh vào gương mặt vô hồn của tôi, lôi xềnh xệch tôi vào bờ, dứt khoát ấn mạnh người tôi ngã nhào lên chiếc ghế bố dành cho du khách tại bãi biển.
Hắn nhìn thẳng vào mặt tôi, quát to :
- Ðồ điên, muốn chết lắm sao ?
Tôi bất lực vùng vẫy dưới đôi bàn tay sắt thép của hắn, đôi mắt ngạc nhiên nhìn hắn, tôi cố nói :
- Buông…tôi… buông…
- Xem lại người cô kìa.
- Mặc tôi.
- Khùng không ra khùng, điên không ra điên.
Tôi chưa từng gặp một người nào như vậy bao giờ, tôi còn đang ngạc nhiên, lại giọng nói gay gắt của hắn vang lên :
- Muốn tự tử, muốn chết lắm hả?
- Ông…
- Ðể tôi đưa cho cô ly thuốc độc, cô uống vào sẽ chết nhẹ nhàng hơn.
Hắn gọi chủ quán và lát sau người tiếp viên mang ra cho tôi một ly nước trắng.
- Cô uống cho tỉnh người.
- Không.
Lần nầy, hắn mạnh dạn và thật thản nhiên giữ đầu tôi, rồi thật nhanh, hắn gần như ép tôi uống cho bằng được đến hết ly nước.
Tôi vụt hét to lên :
- Á, chua quá…
- Ðã tỉnh rồi hả?
- Tôi ghét ông.
- Cũng được.
- Ai mượn ông …
- Nếu ngay từ lúc đầu, tôi không để ý thấy cô từ xa cứ mặc nguyên cả quần áo đi đường mà xuống biển, thì có lẽ giờ nầy, người ta đã vớt xác cô để nằm lên bãi cát nầy rồi, và giờ nầy cô đâu có cải lý đôi co với tôi như nãy giờ.
- Ai mượn ông quan tâm đến tôi làm gì, cứ để mặc tôi.
- Ngu xuẩn.
- Kệ tôi. Ai khiến ông phải cứu tôi làm gì.
- Ðất chôn bây giờ hết chỗ rồi, còn thiêu xác hả, gaz đang lên giá mắc lắm, chỉ phí tiền.
- Tôi có tiền. Tiền trong túi xách đây, đủ để trả tiền gaz.
- Chắc đói rồi phải không?
Rồi không đợi tôi trả lời.
Hắn nhanh nhẩu gọi vào quán và cũng thản nhiên chọn thức ăn.
Cô gái phục vụ mang ra đĩa trứng ốp la thịt nguội, một ly nước cam vắt.
- Ăn tạm vậy, nước cam đây.
Hắn cho đường, sô đa vào ly cam có hai tròng trứng gà rồi khuấy đều.
Gần như hắn bắt buộc tôi phải ăn uống theo ý hắn cũng giống như bà mẹ cho con ăn vừa đe vừa dỗ dành. Thật tình tôi chưa từng thấy ai như hắn.
Tội gì hắn phải quan tâm đến người dưng như tôi, quan tâm đến kẻ không màng đến sự sống của chính bản thân mình để tự chính mình đi tìm cái chết cho chính mình?
Tôi đã tự tìm cho mình cái chết thật là nhẹ nhàng và mát rượi giữa dòng nước.
Tôi mơ hồ nhớ là mình đã xuống bãi biển, không thay quần áo tắm như người đi tắm biển bình thường, giỏ xách để lại ghế cũng không màng đến mất hay còn.
Tôi đi lần ra xa đến chỗ hơi vắng người, để mong thực hiện ý đồ đã manh nha trong đầu.
Tôi ra xa… càng ra xa … xa mọi người…và xa cả chính tôi…
Chân tôi chạm nước, tôi cũng không định vị được tôi tới đâu và không cảm nhận được nước mát hay lạnh, tôi cứ đi tới trước… tới trước…
Mắt tôi hoa lên…
Tôi không còn trông thấy được gì trước mặt…
Tôi buông lỏng tay tự do và bình thản nhắm mắt…
Sóng nước như đã chực chờ cuốn thân xác tôi đi xa…
Chắc hẳn đã là như vậy.
Nhưng tôi không ngờ có người “nỡ phá hỏng kế hoạch của tôi”.
…..
Nhưng…
Bốp !
Thật là đau.
Mắt tôi như thấy thiên hình vạn trạng ánh lửa bảy sắc cầu vồng đập vào mắt tôi.
Tôi bàng hoàng khi gã đàn ông kéo tôi lên khỏi mật nước, và lôi mạnh tôi vào bờ.
Chỉ thoáng vài giây, có lẻ người chung quanh chưa kịp nhận ra việc gì, vì tôi đã cố tình đi đến bãi hơi vắng người.
Chắc hẳn, ai đó nếu có thấy chúng tôi cũng cứ tưởng như đôi tình nhân đang đùa giởn và săn sóc cho nhau.

Thế rồi hắn tự tiện choàng chiếc khăn tắm to lên người tôi rồi nói:
- Tôi đã hỏi mua cho cô một bộ đồ tắm mới. Cô cứ đi thay quần áo ướt ra, tôi có nhờ chủ quán giặt lại nước ngọt, phơi khô, ủi, chiều cô có thể mặc để về an toàn và không ai có thể đoán ra là cô vừa về từ cõi chết.
- Không cần phải lo cho tôi như thế.
- Sao cô vẫn còn ngoan cố thế. Giờ thì cô không trốn được nữa rồi. Tôi đã dặn chủ quán cứ đợi bạn gái tôi đưa quần áo ướt để giặt ngay, vì cô ấy đùa nghịch để ướt quần áo giờ lại ngại và thẹn không dám nhờ. Xin lỗi cô, tôi phải nói như thế để cô đỡ ngượng với họ.
- Ai mượn ông “ tài lanh” quá vậy ?
Chừng như không nghe tôi nói, hắn kéo tôi đứng lên và đưa tôi vào quán, rồi hắn trở lại ghế ngồi khi nãy.
Tôi đành phải làm như vậy thôi (theo ý một mình hắn), không như thế chắc là không yên thân với hắn đâu. Người gì kỳ khôi quá. Tôi vẫn còn ấm ức nghĩ như vậy.

Chiều xuống.
Chúng tôi như đôi tình nhân trở về thành phố.
Hắn không hỏi tôi lý do tự tử.
Tôi cũng không hỏi hắn là ai, tên gì, làm gì, ở đâu…
*
Những ngày kế tiếp…

Có những việc “ tình cờ và trường hợp ngẫu nhiên” đã đưa đẩy chúng tôi quen và thân nhau như đôi bạn lâu ngày và có thể tình cảm còn hơn thế nữa ( tôi đoán là như thế ).
Rồi những chiều hẹn hò.
Qua những con đường có lá me bay đón chào.
Tay trong tay, qua những đại lộ về đêm lấp lánh ánh đèn màu giăng giăng.
Xuân _ tên hắn _ thích tôi mặc áo màu vàng nắng, một màu nhạt thanh nhã và tươi sáng (màu kỷ niệm ngày chúng tôi “gặp” nhau trên bãi biển.)
Bây giờ chúng tôi đổi cách xưng hô. Tôi gọi Xuân với từ Anh thân thương và ngược lại với anh từ Em dành cho tôi thật ngọt ngào và êm dịu.
Những gì tôi nghĩ, tôi làm, tôi ăn, tôi mặc …nếu anh không thích, không bằng lòng là tôi tự nguyện chìu ý anh , tôi sửa đổi hoặc bỏ ngay.
Ngược lại, đối với tôi, anh cũng thế. Anh rất mực thương yêu cũng như luôn nhắc nhở tôi, như nhắc nhở một người em gái, như một người bạn, và hơn thế nữa là một người yêu, mỗi khi tôi buồn hay ngã lòng tựa hồ như có ý định điên rồ ngày nào.
Ngày hai lượt đưa đón, đã hơn mấy năm chúng tôi thương yêu và chăm sóc cho nhau, chỉ còn chờ ngày chúng tôi lạy tạ gia tiên và cha mẹ hai bên, chúng tôi tròn câu hẹn ước và nên duyên vợ chồng được hai gia đình chứng kiến và kết hợp.
*
Nhưng !!! …
Có duyên không nợ .
Duyên nợ do định mệnh an bài, chớ không phải do chúng tôi thay lòng đổi dạ.
Chúng tôi thật sự thất lạc nhau vì biến chuyển thời thế và cho mãi đến nay đã bao nhiêu ngày tháng năm chúng tôi xa cách, tôi đã đánh đổi tuổi trẻ bằng nước mắt đắng cay đợi chờ và tìm kiếm vô vọng ! Nếu biết được tin anh, cho dù anh đã lập gia đình và đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ hiền con ngoan, hoặc anh có thay đổi thế nào về hình hài, dị dạng, hay có những điều gì tệ hơn nữa (những điều đó chắc chắn anh không nghĩ, không muốn nó tới với anh), thì có lẽ tâm trí tôi thấy nhẹ nhàng và dễ chịu hơn bây giờ và những ngày tháng năm tôi đã sống trong sự kiếm tìm mong manh.
Chưa một lần gặp mặt, không một thông tin cho nhau, mặc dù đã mấy mươi năm qua tôi đã nhắn gởi tìm kiếm với tất cả mọi phương tiện thông tin mà tôi có thể làm được.
Cũng chỉ là bặt vô âm tín.
Khoảng thời gian chúng tôi có được, giờ chỉ là khoảnh khắc hạnh phúc trong tôi.

14/4/2006

Hà Khánh Phương




Mục Lục


13. Paris Lần Ðầu Gặp Gở

Trần Thành Mỹ



Paris đây rồi, thủ đô ánh sáng của nước Pháp ! Tôi đến Paris 13 vào mùa hè ấm áp, nắng chói chan, rn rịp ‘phố đông người qua’. Không phải Paris vào thu của Anatole France với ‘‘lá vàng trong những hàng cây đang run rẩy’’.

Không biết con số 13 tốt xấu thế nào với dân bản xứ, vì đến đãy, khu phố nầy, thật ít thấy người da trắng mà phần nhiều là người châu Á, mt China town. Hàng quán được trình bày theo gốc gác của chủ nhân, bao người bao vẻ. Nhan nhản những hoa quả ngoại nhập, thức ăn Tàu, Việt, Miên, Lào thuần túy hay chế biến cho hợp khẩu vị mọi người. Bàn ghế được bày ra hiên, thực khách ngồi trong ngoài, có khi còn xếp hàng chờ đợi. Những đĩa rau đầy ấp, giá trắng phau, húng quế, ngò gai xanh tươi, ớt đỏ mng, chanh tươm nước, màu vàng của ht cải làm khách qua đường ‘mê hồn trận’ quên mất mình đang ở Paris. Họ gọi nhau bằng tiếng mẹ, xí xô xí xào ng nị, mầy tao răng chừ mô tê, thế nào bòn ơi...

Người bản xứ như lạc lõng hay hòa đồng trong lớp người xa lạ nay trở thành quen thuc, họ cũng cầm đũa gắp, dùng chén t ăn mì phở cơm canh. Họ cũng thích ngồi bên tô phở tàu bay xe lửa toả khói, nặn chanh, thêm tương ớt, ngắt nhỏ ngọn rau thơm, chan nước mắm nếu cần. Nhìn những mái tóc nâu vàng nghiêng nghiêng nhai nhóp nhép cuốn chả giò dòn khếu, uống nước dừa tươi còn nguyên trái, ăn cơm bì, bún chả bún nem, Ðông Tây như chẳng còn ranh giới cách ngăn. Thế mới thấy tinh thần căn bản của Pháp quốc cởi mở, tự do, tôn trọng nhân quyền khác hẵn với thực dân tư bản.

Hăm hở lên xuống bao chuyến métro để đến chiêm ngưỡng dung nhan chiếc tháp cao nổi danh thế giới vì nói đến Paris không thể thiếu Eiffel. Ðể chào mừng thiên niên kỷ mới, Tháp đươc tô điểm bằng mt màu sơn nâu sầm sậm đặc biệt dành riêng, sừng sững hiên ngang dạng chân như thách đố với thiên nhiên , thế giới. Ai được xem cảnh Tháp trong đêm giao thừa bước sang thế kỷ 21, đắm mình trong ánh sáng đèn đuốc, pháo bông tưng bừng đủ màu chớp tắt như lễ đăng quang rạng ngời bầu trời, từ các tầng của tháp tung ra, tuyệt vời thơ mng.

Ðến đây mới nhân chân sự khác biệt giữa giàu nghèo, văn minh và kém mở mang. Tây phương càng ngày càng nghiêng về cá nhân chủ nghĩa, thích sống trong cái kén gia đình chỉ gồm có hai người tưởng cho đến đầu bạc răng long. Hưởng thụ là căn bản. Ngay cách xưng hô cũng có khuynh hướng bình dân hóa dần dần, chữ ‘vous’ được thay bằng chữ ‘tu’ thắt chặc tình thân mật thêm. Họ tin tưởng vào khoa học, khởi điểm của mọi tiến b, và tập trung vào việc cải thiện đời sống vật chất.

Quan niệm sống cũng thay đổi theo thời, chạy đua nước rút với trào lưu thế giới. Ðời sống tinh thần, họ hoài nghi yếm thế hơn. Còn ở các xứ nghèo kém mở mang, ăn chưa đủ no, lo cũng vô ích, cái hố sâu giữa hai tầng lớp xã hi sang hèn khó được lấp bằng. Người giàu có cơ phương giàu hơn, bè đảng vây cánh càng nhiều càng tốt, để lại cho con cháu về sau :

‘’ Ông cha kiếp trước khéo tu,
Ngày nay con cháu võng dù hiên ngang.’’
Ngẩng lên nhìn tháp, tôi có cảm tưởng như đang chiêm ngưỡng mt b xương khổng lồ, nồng cốt của thế nhân, mt giàn phóng hỏa tiễn trực chỉ không gian vô định, mt kỳ công trong lãnh vực khoa học kỹ thuật tiến b. Những chiếc thang máy đưa người lên cao xuống thấp, đứng xa nhìn bằng cặp mắt dân nhà quê lên tỉnh như tôi, thật giống như con kiến vàng bò trên cây me cây ổi .

Ðiểm hay ở đây là qua hai cuc thế chiến , tháp vẫn giữ vẹn hình hài mà còn được trang trí tô điểm xinh đẹp hơn lên. Rời cô tháp Eiffel uy nghiêm chọc khoảng trời Paris lồng lng, soi mình trên gương sông Seine, tôi liên tưởng đến tháp chùa Thiên Mụ của sông Hương núi Ngự miền Trung, hy vọng có ngày...

Ơ kìa đại l Champs Élysées dài rng với Khải hoàn Môn hùng vĩ ‘lòng chợt vui như say, kìa đường lên Thiên thai’, nơi mà Lưu Nguyễn xưa nay lạc bước, vốn có ‘nhạc vàng ai mê say’, rượu vàng ai ngây ngây’ mà nhớ đến đường Norodom (sau nầy là Thống Nhất) thời Pháp thuc. Cũng con đường chính rng nhất Saigon thời bấy giờ, hai hàng cây dọc bên lề dẫn đến Sở thú, lề đường tráng xi măng sạch sẽ để cho dân chúng tham dự buổi lễ diễn hành ngày Quốc khánh Pháp 14-07 hằng năm.

Lần theo con đường nổi danh thế giới nầy, tấp nập nhất là du khách khắp nơi, quán ăn giải khát sang trọng đắc tiền đầy người chật cả lối đi, hình ảnh quen thuc của Saigon thuở trước với phố Catinat, Charner, Bonard tưng bừng náo nhiệt mọi mùa.

Có nhìn tận mắt hình ảnh nầy mới thấy thương dân thuc địa, có lẽ người Pháp cũng muốn biến các thủ đô chiếm hửu rập khuôn theo hình ảnh quê hương mẫu quốc. Saigon, mt Paris mini, bonsai ? Nhiều người cho rằng nhờ họ ta mới có những kiến trúc nguy nga đồ s như dinh Toàn quyền, dinh Thủ tướng, Bưu điện, Toà Ðô chính, Nhà hát Tây, nhà thờ Ðức Bà... ! !

Nhớ tên các đường Saigon thời bấy giờ đều mang tên Pháp như Calmette, Galliéni, Chasseloup Laubat,...nhưng không hiểu vì lý do gì mà đại l đi thẳng vào tim dinh Toàn quyền mang lá cờ tam tài lại mang tên Norodom, ông hoàng Sihanouk Cao miên, từng sang Việtnam du học ở Saigon. Không lẽ người Pháp có lý thật khi họ bảo :’’Dân Pháp dốt về địa lý’’vì ở đây đã lẫn ln Việt nam với Kampuchea. Hoặc giả họ không phân biệt được Việt Miên Lào mà họ đã sáp nhập thành mt Indochine française, Ðông dương thuc địa của họ. Cũng như, có lẽ vì không biết giống đực giống cái tên Việt, nên đã đặt tên trường Nữ trung học miền Nam và miền Trung là GiaLong, Ðồng Khánh ! !

Mt ngày đối diện với Paris mới nhận chân người Pháp rất hòa đồng, tự do, bình đẳng, bao dung, ít kỳ thị, có khi còn hơn hẵn dân ta. Mong dân mình yên hưởng hoà bình thật sự để có cơ kiến tạo quê hương. Việt nam ta được thiên nhiên ưu đải rất nhiều, thế mà vẫn nghèo khổ trên tiềm năng phong phú. Chất xám cũng chưa được triển khai, sử dụng đúng mức, lắm khi cờ nằm trong tay mà không dịp phất hợp thời.

Xứ nào cũng có nét đẹp riêng đc đáo của nước ấy như Trung quốc nổi tiếng về Vạn lý trường thành, Việt nam vịnh Hạ long, Kampuchea với Ðế thiên đế thích...Hãy thưởng thức, học hỏi cái hay cái đẹp của nguời hầu sửa sai, phát huy cái gì mình sẵn có vì nếu Paris được mỹ danh Thủ đô ánh sáng, Việt nam cũng vinh hạnh là Hòn ngọc Viễn đông.

Trần Thành Mỹ




Mục Lục


14. Nhung Hồng Giữa Anh Và Em

Ái Ưu Du



Ngày lại ngày, qua nhanh! Qua nhanh!

Hoài, Hoàng, quấn quít bên nhau, như hình với bóng, như mười ngón tay đan kín cuộc tình thơ dại. Họ dìu nhau đi giữa xứ lạnh mộng mơ, dưới phố thấp lên núi cao. Từ thị thành hoa đèn, ồn ào náo nhiệt, đến tận vùng gió núi mây ngàn. Từ đỉnh thác cao ngất chân mây cuối ghềnh, bên dòng suối bạc lẩn khuất, đến nơi chốn rừng già. Rừng thông trùng điệp, nhờ mặt trời rụng xuống đáy suối, mà ấm áp, tiếng cá quẫy đuôi nghe rõ mồn một.

Không nơi nào, không có dấu chân tình yêu, dẫm lên từng bước, từng bước kỷ niệm ngọt ngào. Họ yêu nhau đằm thắm, như hương hoa cây đồng cỏ nội mộc mạc, như núi rừng sạch mát mỗi buổi nắng lên. Mặt trời đan trong mây, bơi trong sương, hòa trong sương. Bình minh ngâm mình trong sương, hé nụ cười chúm chím trong sương. Họ hồn nhiên như chim hót. Trong sáng như giọt sương rung rinh, long lanh, mọng thắm trên cành lá gieo mùa. Tình yêu nhẹ nhàng, như áng mây nghiêng nghiêng bay. Họ đến bên nhau, mang theo làn gió mới, làm nồng thắm xúc động xôn xao cõi lòng.

Một sáng chủ nhật, các trường trong Tỉnh, Quận, Hạt, tập trung lên Lữ Quán Thanh Niên. Trời trở lạnh kinh khủng, mọi người co ro, xuýt xoa run rẩy, thở ra từng làn khói, mặt mày ai nấy đều xám xịt, xanh lét như màu lá vẽ trên khung lụa ướt. Nước sương dính từng chùm tóc rối trên trán mọi người, đầu ngón tay ngón chân teo tóp. Họ đứng chịu trận, dưới bầu trời tối mờ, ướt đẫm sương khuya. Ðom đóm nhấp nháy bay chập chờn, thành một chuỗi sao.

Lữ quán Thanh niên rất rộng lớn, an toạ trên ngọn đồi cao, dưới đồi là đường Hàm Nghi, nhìn xuống thấp là phố Phan Ðình Phùng, chạy dài dọc từ ngã ba Duy Tân đến Ấp số Bốn. Ðối diện với đỉnh đồi là khu Domain de Marie. Chùa Linh Sơn uy nghi, nhìn về góc nghĩa địa thành phố (nơi an nghỉ của bao người quyết ra đi, không ngoảnh lại thế trần). Chùa Linh Sơn gần trường trung học Bồ Ðề. Ði lên khỏi ngọn đồi cao, là trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Ðứng sau lưng trường nhìn qua viện Ðại Học Ðà Lạt, xa thật xa. Lữ Quán đầy đủ tiện nghi, dành cho đoàn thể, công, cán, chính, sinh viên học sinh và giới cần lao. Câu Lạc Bộ bán cơm, giá rẽ. Hội trường rộng mênh mông. Ðầy đủ phòng ốc, cho mọi giới thuê mướn ở trọ.

Học sinh đứng như thế, khoảng ba giờ liền, hàng ngũ chỉnh tề, dần dần không ai bảo ai, mọi người ngồi bẹp xuống bải cỏ, trước sân Lữ Quán, mặc sương giá thấm ướt đủng quần, người duỗi thẳng chân, người co tay giật cẳng, vặn mình kêu răn rắc, người gục đầu lên gối, ôm bộ giò, mỏi mệt cứng đơ. Hiệu trưởng cẩn thận chấp hành thông tư Phó Tỉnh trưởng Nội An, bắt học sinh đến chầu từ năm giờ sáng. Thầy tưởng mấy ông bà bự sẽ đến dự, lúc sáu giờ ấy chắc! Giờ nầy qúy vị đó, còn "úm" trong nệm ấm chăn êm, sức mấy làm chuyện khờ me! Học sinh không dám cải lệnh thầy, chiều hôm qua dưới sân cờ, thầy tuyên bố, sẽ bị trừ mười điểm trong học bạ, nếu em nào đi trễ hoặc vắng mặt, dù bất cứ lý do gì. Các em sợ một phép, không chấp hành nghiêm chỉnh sao được.

Chín giờ rưỡi, loa phóng thanh ngừng phát nhạc hòa tấu, xướng ngôn viên vặn lớn haut parleur, thông báo mọi người chờ đón quan khách.

Có thiệp mời đến Lữ Quán, Hoàng ngồi trên khán đài, nói chuyện với anh Tuấn. Ðám học sinh đau khổ ngồi bệt dưới đất, coi thật bệ rạc, dĩ nhiên tức lộn ruột lộn gan. Vì, nụ cười của một thanh niên, trẻ trung nhất trong phái đoàn. Sau ngôi sao sáng chói của qúy đệ nhất phu nhân, thì, Hoàng là thí điểm, là bình phông, là cái rốn vũ trụ, để các cô cậu nhìn vào. Một số bạn trai gái biết Hoài là người yêu của Hoàng, họ cố ý gợi chuyện, châm chọc, phê bình trắng trợn, khiến bọn con trai cay cú rủa sã Hoàng.

Họ muốn cho Hoài mất mặt. Hoài rất bực bội khó chịu, nhưng nhớ lời ba dặn, Hoài "Thấy người hung ác, con chỉ ngả mũ cúi chào, "kính nhi viễn chi" mỉm cười, mà lẹ bước đi". Hoài lặng im. Không biết họ ganh tức Hoàng cái nỗi gì? Nhóm học sinh chỉ chỏ Hoàng, cay cú:

- Thằng nào mặt còn hôi sữa, ngồi chễm chệ đó, bắt tụi mình chào đón vậy? Nó chả ra cái thớ gì, mà bố láo.
- Phì phèo hút thuốc, coi cà chớn, dễ giận thấy mẹ à.
- Tao muốn lên dộng một cái, cho nó lọt xuống đài ghê.
- Lát nữa, mày nhừ đòn với chúng tao, nghe con!
Còn nhiều từ, nghe chẳng hay ho chút nào. Buổi lễ kết thúc lúc một giờ. Hoài cảm thấy khó chịu, buồn bực trong lòng, tức tức muốn điên, nàng lầm lũi ra về.

Hoàng đến nhà dạy Thùy, Hoài, môn Toán, Lý, Hoá. Học xong, cất sách tập vào cặp, Hoàng kể lại chuyện bọn Tương Anh, Ðiều, Thiên, Tuấn Anh, Khôi, Lang, Bích, đã chận đường gây sự, đòi khiêu chiến. Hoàng ngạc nhiên, vì anh có quen biết bọn họ đâu, mà "nghinh há". Vã lại, nghinh làm gì, với hạng người bặm trợn, du côn du kề, cô hồn hết biết. Hoàng có nghe, có biết, về trình độ thấu hiểu, học thức, họ chỉ vừa đến đấy, đến đấy thôi. Nhưng về việc yêu đương, ma lanh, họ tiến nhanh rất xa, mặt trơ trán bóng, tính tình lông bông, buông thả tình cảm trong những hộp đêm rẻ tiền, dang díu lăng nhăng với gái ăn sương, rồi hèn hạ trắng trợn, đi rêu rao giống tên ma cô, ở đầu đường xó chợ. Lại hoan hỉ tự hào ta là kẻ dày dạn, sành sỏi nhất.

Dẫu sao, là con trai chuyên cua gái, thì cừ khôi, chứ sao gọi chúng “mặt chai mày đá”. Họ thành công, vì đã làm các cô sợ và tức cành hông, với kiểu phun khói thuốc lá vào mặt người đối diện. Họ bắt chước nhau, cà nghinh cà bật, đi kênh kênh, nhô lên hụp xuống, cho khác đời. Ở đâu tập họp lại, cái bọn du thủ du thực, mặt mày chẳng sáng sủa, chả đôn hậu, chẳng đẹp hơn ai.

Bọn ngưu đầu mã diện, đá cá lăn dưa như vậy, như vậy đó, mà cứ tưởng bở ta đây là "yên hùng mã tấu", nổi đám nổi đình, làm ô danh học sinh. Hoàng dại gì dây dưa vào. Họ gọi nhau và xưng “là cha, là bác”. Hoàng nghĩ, đó là đứa trẻ miệng còn hôi sữa tự kiêu, chế diễu mỉa mai, khinh bạc, cứ nghĩ mình là đại ca, cha là bác thiên hạ.

Ở gần nhà chị Ba, Tuấn Anh không tiếc lời chỉ trích, nhạo cười Hoàng, là tên hèn nhát, bày đặt kênh đời! Chuyện đến tai các chị. Thế là hai chị lên án Hoàng dữ dội, nào là:
- Hoàng ở trong băng quậy, chuyên đi đánh lộn, giành gái giếc, đàng điếm.

Hai chị không tìm hiểu nguyên nhân dữ kiện, chỉ nhìn sự kiện xảy ra trước mắt, rồi vội vàng kết luận. Thật buồn thay! Mấy hôm nay, Hoài buồn bã vô cùng. Nàng chán trường, chán lớp, nhất là chán đám bạn bè, cư xử thiếu tế nhị, ganh ghét ra mặt. Họ dùng lời lẽ thô tục bêu rếu Hoàng, cốt cho Hoài mất mặt giữa đám đông. Rõ ràng họ muốn gây hấn cả với Hoài (mà nàng nhầm tưởng họ là bạn thân quen, tử tế). Nhớ khi trước chưa xảy ra chuyện, sao mà dễ chịu thế! Bây giờ, họ đã tự lột mặt nạ ra lúc nào, khiến Hoài kinh sợ họ hết biết, không dám chạm mặt! Thầy Ðệ văn vỏ song toàn, còn khiếp sợ họ, muốn rút lui không dạy lớp nầy, huống gì ai.

Hoài cúp cua hai giờ toán, đi lang thang suốt đường Hoàng Diệu, Duy Tân, lên Phạm Phú Thứ, Huỳnh Thúc Kháng, Pasteur, với Hoàng. Ði trên đường, Hoàng đọc chuyện Bonjour Tristesse, của Francoise Sagan. Bà theo chủ thuyết hiện sinh. Hoài không mấy thích chủ thuyết nầy tí nào. Không vì nguồn cội, không vì tha nhân, không vì người yêu qúy, mà chỉ vì chính mình. Thì thật quá ích kỷ.

Ngồi trên hàng rào xi măng, bên khu biệt thự vắng. Mở tập ra, anh hỏi:
- Chiều nay, em cúp cua hả?
- Hoài "dạ" lí nhí trong cổ. Anh lắc đầu, nói tiếp:
- Ôi trời! Cái gì đây. Em?

Hoài giật mình, nhìn vào hướng chỉ tay, không dám cười, cúi đầu nói nhỏ:
- Hai con oóc toọt.
- Vì sao vậy?
- Lâu lắm rồi, em lỡ dại, quậy phá trong lớp. Không thuộc bài nữa. Nên... bị...
- Nếu em không hiểu bài nầy, sẽ không hiểu bài khác. Em hiểu không? À, hiểu rồi... làm ơn cho anh mượn cây thước kẻ.

Hoài sợ Hoàng, chứ không sợ cây thước kẻ đâu. Hai mái đầu xanh chụm lại dưới hàng cây giao nhánh bên đường, học bài. Thấy Hoài thực hiểu bài, Hoàng cười khen:
- Em của anh thông minh, nhưng phải cái tội "lì và lười" kinh khủng.

Hờn mát, Hoài ôm cặp bỏ đi. Hoàng gọi:
- Ðứng lại! Một tiếng. Hai tiếng. Ba tiếng. Ðứng lại, không đứng lại thì anh... đi theo luôn.

Hoàng đi ngược lại cổng sắt, mở cửa vào ngôi biệt thự kế cạnh, Hoài chưng hửng, đứng ở ngoài. Không hiểu anh tán hay ho thế nào, mà người gát dan cho Hoàng năm cành nhung hồng tuyệt đẹp. Hoàng đến bên Hoài, đầu nghiêng nghiêng, miệng cười chúm chím, đặt hoa giữa làn môi hai người, họ cùng hôn lên đóa hoa thơm ngát. Qua kẽ hở đều giữa những phiến lá răng cưa xanh xanh, Hoài e e thẹn thẹn, liếc liếc hôn hôn. Hơi thở Hoàng ấm nồng ngọt ngào, len len từ bờ môi, quyện với hương hoa hồng thơm ngát, khiến Hoài ngây ngây, ngất ngất.

Các bè mây xô xô đẫy đẫy, gặp gỡ nhau, trên bầu trời vàng tím buổi hoàng hôn lảo đảo. Chiều lụi tàn dần dần trong ánh sáng mờ mờ, đục đục. Gió nhè nhẹ phe phẫy hàng bông giấy đong đong, đưa đưa. Chim chóc hót líu lo, ríu rít chuyền cành, chen nhau vào tổ ấm. Hoàng quàng tay qua vai Hoài, dìu nàng đi về lối nhà, và chia tay ở đầu con dốc đứng cong cong, uốn lên uốn xuống, khi phố núi đã lên đèn.

Cắm mấy cánh nhung hồng vào lọ sứ, đem đặt trên phòng khách, thay áo quần xong, Hoài ngồi vào bàn ăn, thì chị Khánh cho biết, chị đã đến trường học hồi chiều. Hoài bủn rủn cả tay chân, lảo đảo, rụng rời. Chị giận dữ la mắng, tra hỏi nàng đủ thứ chuyện. Dù có nói thế nào, chị không tin việc cúp cua, là do tự ý Hoài thấy chán trường, chán bạn bè trong lớp, chứ không do Hoàng xúi giục. Chị quả quyết do Hoàng, Hoài mới ra nông nỗi nầy, trốn học đi lêu lỗng, phá phách trong lớp. Chị có trăm lý do buộc tội Hoàng, dụ dỗ em. Hoài không có cách gì thuyết phục, gây dựng niềm tin trong lòng chị, chị đùng đùng nổi giận, phẫn nộ thực sự, sự phẫn nộ bùng nổ, như lửa cháy, làm tiêu tan căn nhà tình yêu lý tưởng đơn sơ trong nháy mắt. Hoài có lỗi trong việc nghỉ học, không dám dùng ngày giờ ngắn ngủi còn lại, đi gặp Hoàng, hầu chia sẻ, và, xóa đi nỗi đớn đau trong lòng. Hoài thấy lòng vỡ tan từng mãnh vụn, không dám nghĩ tới ngày mai sẽ ra sao, khi chị Khánh buộc Hoài bốn điều - Ði nói lời tuyệt giao với Hoàng. - Nghỉ học. - Chị trả Hoài về Huế. - Chị đã đánh điện tín gọi má vào rước Hoài về. Chị nói:
- Nếu thằng Hoàng thực sự yêu thương mày, trong vòng mấy ngày, khi ba má vào Ðà Lạt, thì thằng Hoàng liệu mà làm đám hỏi. Còn bây giờ, tao cấm cửa.

Trời! Ði hỏi vợ, chứ có phải là món hàng trao đổi, tầm thường, không cần chuẩn bị gì cả sao? Hoài ứa nước mắt, khóc thầm trong lòng. Mình không có quyền hạn, về mọi quyết định cho chính bản thân. Nàng không trách chị quá khắt khe, độc đoán, hay nghi ngờ lòng chị mến thương em. Hoài kinh ngạc là chuyện đâu đến nỗi nào to tát thế. Ví dù em bỏ học vài giờ, chị có thể nghiêm cấm, em không tái phạm. Chị răn đe em, đây là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng. Sau đó, thấy em tính nào vẫn tật ấy, không sữa đổi, chị quyết chí ra tay, vẫn chưa muộn kia mà!

Vấn đề chính không phải ở chỗ đó, nhân chuyện Hoài bỏ học hai giờ, chuyện yêu thương Hoàng, chị muốn trả Hoài về ba má, để khỏi có trách-nhiệm-vụ, lo cái bổn-phận-sự là nuôi em. Khỏi mang tiếng với gia đình chồng, là nuôi "báo cô". Sự thật, ba má vẫn gửi ngân phiếu vào, cho Hoài đóng tiền ăn học. Cách xử sự của chị quá gay gắt, khiến lòng Hoài càng đau đớn, tái tê. Phần Hoàng, anh không thể tự biện hộ điều gì cả, khi chị không muốn tiếp anh, mặt chị lạnh như tiền, thấy Hoàng, chị im lặng đóng cửa cái “rầm”, rồi hầm hầm bỏ đi.

_ * _

Ái Ưu Du




Mục Lục


15. Con Nít Khóc

Hoa Bằng Lăng



Mới sanh ra, con nít đứa nào không chịu khóc cũng bị bà mụ đánh vào đít một phát.

Ðau quá nó khóc thét lên. Thế là bà mụ cười toe toét quay sang nói với mẹ nó “ em bé khỏe, chịu khóc rồi”.Bà mẹ thở phào.
Con nít lớn nhà giàu lớn lên không chịu ăn cơm và hả họng khóc. Cả nhà cuống quít. Kẻ dỗ dành, người múa hát. Ðồ chơi được bày ra, phim hoạt hình mở liên hồi tận. Con nít toét miệng cười. Bà mẹ thở phào Con nít nhà nghèo lớn lên nhìn chén cơm và hả họng khóc. Con không ăn rau nữa đâu, ngày nào mẹ cũng bắt con ăn raụ.chẳng có miếng thịt gà nào giống nhà thằng Tomy cả. Bà mẹ vuốt tóc con dỗ dành, ăn đi con, ngày mai mẹ kiếm được nhiều tiền mẹ mua thịt cho con nhe. Con nít toét miệng cười. Bà mẹ thở dài.

Hôm qua vào bệnh viện, tôi thấy toàn con nít khóc. Con nít nhà giàu cũng khóc, con nít nhà nghèo cũng khóc. Nước mắt nước mũi tèm lem. Tóc thì lưa thưa vài sợi sau mấy đợt xạ trị. Con nít khóc vì cái con gì trong người con nó cắn con đau quá má ơi. Cái con này hư quá bác sĩ ơi, nó không chịu sợ bác sĩ. Con nít đang làm ba mẹ nó khóc nức nở. Những người đứng xung quanh ai cũng khóc…thút thít khóc.. nức nở khóc…Lần này con nít khóc không làm bà mụ toe toét cười. Lần này con nít thấy đồ chơi rồi mà vẫn khóc. Lần này con nít có miếng thịt gà trong chén cơm rồi mà vẫn không thôi khóc. Lần này con nít khóc làm bà mẹ khóc! Con nít sắp bỏ người lớn ra đi rồi. Thương quá đi thôi!

Hoa Bằng Lăng




Mục Lục


16 . Giả - Thật

Vành Khuyên



Bà làm vợ bé tui nhé bà Trâm. Hắn nói bình thường như nói với bức tường.

Nghĩ cũng lạ, cái đời tôi vô duyên. Làm vợ lớn, vợ cả hắn chưa chắc tôi làm chứ đừng nói bé hay hờ. Mà kỳ, lúc nào với hắn, dù lời tiếng qua lại, tôi vẫn nói chuyện với chính mình nhiều hơn nói với hắn. Trong mắt hắn, tôi có cảm giác tôi nhỏ còn hơn con kiến, nhiều khi chưa được bằng con kiến là đàng khác. Lẽ ra đứng dậy bỏ đi hay cười nhạt vì nhớ lại ngày xưa, cái ngày hắn báo tôi hắn lập gia đình với con ông Quận phó Công an Quận 10, tôi ung dung hỏi hắn :

Tại sao lại vợ bé, ý ông là ...

Hắn cười ra tiếng lớn " tôi cần tiền của bà để làm ăn, là vợ để đưa cho chân chính "

Hahaha tôi cười ra tiếng lớn luôn nhưng mà trong lòng. Cái bản mặt hắn mà cũng nói tới hai chữ chân chính chi cho bẩn miệng ra, đến lúc này tôi đã là thánh, tôi nói :

Ông cần tiền của tôi thì tôi chỉ cần đưa tiền ông chứ việc gì phải làm vợ?

Hắn trầm ngâm, chắc là kiếm cớ giải thích, vài giây, hắn đáp " lâu lâu buồn, đòi hỏi tình nơi bà " ....

Tôi cảm xót xa trong lòng, xót vô cùng, thật tình, tới mức này, tôi không còn biết tôi là ai trong cuộc đời, gái làng chơi, bạn hắn, chủ nợ hay gì gì trong mắt hắn nữa.

Tôi nhìn xa xăm cũng độ vài giây, sau đó tay tôi với cái napkin trên bàn, viết lên đó con số một triệu đứng dậy rồi đưa cho hắn.

Ðây tiền đây, thứ ông chỉ cần loại tiền giấy này, chả cần thêm gì xấc.

Tôi bước ra khỏi quán, chả cần nhìn lại, tôi cũng biết hoặc là hắn đang kinh ngạc vì câu trả lời của tôi, hoặc hắn ung dung ngồi uống nước tiếp rồi nghĩ kế khác.

Ðàng nào thì đàng, Giả - Thật tôi tin hắn đã hiểu ra.

Vành Khuyên




Mục Lục


III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh yêu dấu,

Những tiếng ve sầu đã bắt đầu vang dội khắp nơi, và ông mặt trời cũng bắt đầu thiêu đốt vạn vật, nhớ về anh, nhớ những buổi trưa nắng gắt bên nhau, chúng ta tấp vội vào một quán ăn, trước là lo cho cái bao tử, sau là để trốn nắng.

Những hơi lạnh trong quán làm chúng ta dễ chịu thêm hơn khiến cho em muốn ngồi mãi nơi đấỵ Nhìn những giọt mồ hôi nhễ nhại nơi trán anh, trông thật tội nghiệp và đáng yêu, phải chi mùa hè đừng có những cơn nóng gay gắt như thế thì tuyệt anh hé ?

Nhưng cũng nhờ thế mà chúng ta có thêm cái thú đèo nhau đi ăn kem. Ly kem tuy nhỏ, nhưng cũng đủ đem lại hương vị ngọt ngào và sự mát lạnh, thoải mái trên đôi môị

Hè về cho nắng thêm tươi
Cho hồng đôi má vui cười bên nhau
Ve kêu phượng thắm đỏ màu
Ðiểm trên áo lụa nghìn sau nhớ hoài

Ðúng thế, những ngày chúng ta vui bên nhau như từng trang giấy trong quyển nhật ký không bao giờ phai . Em trân quí và luôn mãi đi ngược về giòng thời gian, để biết rằng ta mãi luôn có nhaụ

Bốn mùa trôi qua là bốn mùa xinh đẹp, vì sao anh biết không ?
Vì tình yêu anh mãi ngự trị trong tim em.

Thu về đếm lá vàng rơi
Giọt thương, giọt nhớ rã rời bến yêu
Ðông sang tuyết trắng phủ đều
Niềm thương, nỗi nhớ hắt hiu ngóng chờ
Xuân hồng xây giấc mộng mơ
Cho yêu thương ấy chẳng mờ bóng nhau
Hè sang nối lại nhịp cầu
Ve vui câu hát xanh màu tình yêu

Viết Cho Giao Mùa
August 2008
DHH

Mục Lục


IV. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________



1. Sách Mới: Một Ðời Xót Xa




TÁC PHẨM MỚI CỦA ÐINH LÂM THANH

ISBN N° 978-1-60643-652-3

Tham Luận Chính Trị, dày 468 trang do Nam Việt xuất bản và Tự Lực phát hành tại Mỹ ngày 20.6.2008.

Một Ðời Xót Xa là nỗi lòng của một người mất nước, ao ước chia sẻ với bạn bè cùng chí hướng đang tranh đấu nhân quyền, dân chủ và tự do no ấm cho dân tộc Việt Nam.

Liên lạc & mua sách :

Email : dinhlamthanh@hotmail.com
Email : dinhlamthanh@ymail.com

Sách sẽ được gửi từ Mỹ hay Pháp, giá 25$US hoặc 20 € tính luôn tiền gửi. Ngoài Mỹ và Pháp cọng thêm cước máy bay. Order, chèque bằng $US hay €EU, xin đề tên và gửi về địa chỉ :

MR. DINH LAM THANH, 54 RUE CARNOT, 94700 MAISONS-ALFORT, FRANCE

Mục Lục


V . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 76 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua@hotmail.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors