Số 81
Ngày 1 tháng 1 năm 2009
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Năm 2008 dần dần đi qua rồi ... chỉ còn vài ngày nữa mà thôi. Những ngày tháng cuối năm dài thê lê. Không khí lạnh tràn về khắp mọi ngõ. Thỉnh thoảng một ánh nắng chợt le lói rồi lại vụt tắt. Phải chăng tiết trời chính là lòng người những ngày cuối năm…. Lúc này đang là mùa Giáng Sinh nhưng đường phố trầm lắng quá. Có phải cái tiết trời se se lạnh của mùa đông làm cho SaiGon không còn sắc đỏ Noel như mọi khi. Hay tại ảnh hưởng của nền kinh tế bị suy thoái nhỉ .Thật khác xa cảnh nhộn nhịp tấp nập mua bán của mùa giáng sinh năm xưa .... Nói chi cho cao sang cho trừu tượng, chỉ cần nhìn mấy thím ve chai ngoài ngõ thì cũng biết được sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường rồi!
Mới tháng trước đây thôi, hiếm khi có ngôi nhà nào trong các ngõ hẻm Sài gòn được yên tĩnh. Mới 6h sáng đã nghe tiếng rao ve chai, nhịp rao đều đặn 5 phút vang lên một lần như dàn đồng ca đường phố. Tay lẹ làng, bà đồng nát rút tiền trả xoày xoạch, bọn con nít cười khoái chí. Chỉ có tụi con nít mới hay để dành lại đồ cũ bán ve chai bỏ heo ống mà thôi. Mỗi lần bán đồng nát, tệ lắm chúng cũng được trả dăm ba ngàn đồng bạc. Còn bây giờ, nếu chúng muốn bán đồng nát thì sáng chủ nhật con chị chạy ngó qua, con em chạy ngó lại, chầu chực ngoài ngõ xem có ai mua đồng nát đi qua nhà không. Ðợi mãi cũng có một bà thím đến mua. Lật qua đong lại, bà đồng nát nhăn nhó than thở và trả một hai đồng bạc. Bọn con nít nín thinh, mắt tròn xoe. Dù trời gầm đất lở, dù các phương tiện truyền thông nói ra rả suốt ngày về sự suy thoái kinh tế toàn cầu thì trong đầu lũ con nít vẫn nhớ như in tiền bán ve chai là dăm ba đồng bạc chứ không thể là một hai ngàn được! Bọn con nít nhăn nhó méo mó thút thít khóc. Bà đồng nát trả lại không mua. Tiếng thút thít càng to hơn. Thế là người lớn dấm dúi thêm hai ngàn đồng bạc đưa cho bà đồng nát. Bà đồng nát trả thêm tiền cho mấy sắp nhỏ làm tụi nó cười toe toét. Một túi đồng nát bán ra, hai kẻ to đầu móc hầu bao trả tiền cho một đứa con nít. Ấy mới gọi là không có cái dại nào giống cái dại này. Ấy mới gọi là sự suy thoái luôn luôn ảnh hưởng đến mọi người, đến mọi nhà!
Ðó là chuyện của năm cũ. Bây giờ, những tờ lịch cuối cùng đang được xé bỏ, một năm mới đang dần đến. Ta có quyền tràn trề hi vọng một năm mới tốt lành hơn… Bỏ lại sau lưng chuyện bà đồng nát, bỏ lại sau lưng tất cả những nỗi buồn vô tình còn sót lại cuối cùng trong tháng 12. Ðón chào một năm mới bình an!
Hoa Bằng Lăng
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Tình Mình | ______Vânhà | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Áo Ấm Mùa Ðông | ______Hà Khánh Phương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Mùa Ðông Nhớ Mẹ | ______Hàn Thiên Lương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Thu Phong | ______Nguyễn Hải-Bình | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Lẻ Loi | ______Vân Hà | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Người Xa | ______Triều Phong Ðặng Ðức Bích | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Anh Vẫn Chơi Vơi giữa đời thường | ______Nguyễn Thế Hoàng | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Sóng Vỗ Tràn Bờ | ______ Sông Cửu | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Nhùng Nhằng |
______ Ngọc Hiệp | 10. Thiên Ðường Như Mất
|
|
______Ái Ưu Du | 11. Hắt Hiu Ðông Ðến
|
|
______Hồ Thụy Mỹ Hạnh | 12. Thu Lại Nhớ Người ...
|
|
______ Jacaranda
| 13. Cô Láng Giềng Của Tôi
|
|
______Uyên Phương Minh Nguyệt
|
14. Công Cha Nghĩa Mẹ
|
|
______
Tinh Hoa - Lê Trọng Dũng
|
15. Ðêm Nhớ Người
|
|
______Phan Tưởng Niệm |
16. Tình Xuân
|
|
______Ngọc Hải |
17. Tết Nghèo
|
|
______TNP |
18. Bước Chân Hoang |
|
______Ngọc Long |
19. Khoảnh Khắc
|
|
______Vành Khuyên |
20. Trổ Nhánh Sầu
|
|
______Dòng Sông Nhỏ |
21. Thơ Xuân Dâng Ba |
|
______Nguyệt Vân |
22. Chuyện ...
|
|
______ An Thu Tịnh |
23. Mùa Ðông Uống Rượu Một Mình
|
|
______Mặc Thủy |
24. Khắc Ðậm Ý Tình |
|
______Thylanthảo |
25. Chiếc Lá
|
|
______Mạc Phương Ðình |
26. Giọt Cà Phê Nỗi Nhớ ...
|
|
______ Hồ Duy Hạ |
27. Gà Tây Ðút Lò
|
|
______Trọng Văn |
28. Một Thuở Ngọt Ngào
|
|
______Trần Hoan Trinh |
29. Ðời Luân Hóa
|
|
______Lê Miên Khương |
30. Lạnh Tình Bội Bạc
|
|
______Mynh Hứa. |
31. Những Bài Thơ Cuối Ðông
|
|
______HồChíBửu |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ) _______ Ðông Hoà | |||
| 2. Bờ Lau Cát Lở 37 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ái Ưu Du | ||
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 29(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn | |||
| 5.Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên | |||
| 6.Mai Ly (tập III) ___________ Việt Dương Nhân | |||
| 7.Ðám Cưới ___________ Vân Hà | |||
| 8.Qùa Cưới Cho Em ___________ Hà Khánh Phương | |||
| 9.Mắc Kẹt ___________ Hoa Bằng Lăng | |||
| 10.Ghen ___________ Vành Khuyên | |||
11.Những Tính Tốt của Người Việt Nam
___________ Phạm Hy Sơn
| 12.Tết Ngày Xưa ___________ Trần Thành Mỹ
| 13.Mưa Ðồng Tháp Mười
___________ Thuỷ Lan Vi
|
14.Người Bạn Cũ
___________ Nguyễn Thế Hoàng
|
|
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc
_______ Ban Biên Tập
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ)
Ðông Hoà
Ðông Hoà 2. Bờ Lau Cát Lở 37 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Ðỗ Thành 3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) Ái Ưu Du
Ái Ưu Du
4. Chập Chùng Bóng Núi 29 (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Thanh Sơn
5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) Phan Thái Yên
Phan Thái Yên
Việt Dương Nhân
Việt Dương Nhân
Vân Hà
Vân Hà
Hà Khánh Phương
Hà Khánh Phương
Hoa Bằng Lăng
Hoa Bằng Lăng
Vành Khuyên
Vành Khuyên
11. Những Tính Tốt của Người Việt Nam
Phạm Hy Sơn
Phạm Hy Sơn
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
Thuỷ Lan Vi
Thuỷ Lan Vi
Nguyễn Thế Hoàng
Nguyễn Thế Hoàng
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
IV. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
V . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Xin cáo lỗi cùng độc giả .
Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Xin cáo lỗi cùng độc giả .
Phần Thứ Nhất
Giữa Hai Lằn Ðạn
Chương 5
***
DƯỚI SỨC NẶNG KINH KHỦNG của
GÁNH ÐỜI NGHIỆT NGÃ –
Ðồi núi vùng Ba Tơ thâm u, chập chùng nhấp nhô cao thấp tiếp tiếp. Rừng điệp trùng đầy lá khô cọ nhau kêu xào xạc. Gió thoang thoảng mùi hoa bưởi, hoa ngâu từ làng quê bay lên thơm thơm. Trong màn sương khói mờ mờ nhìn cảnh vật và khu ấp chiến lược, dưới chân đồi thật buồn bã, vô cùng đơn điệu khi nắng mới vừa ươm.
Lần đầu Hoài thấy địa pháo tới tấp rót xuống vùng giao tranh ác liệt, nghe đạn rít bên mang tai, tiếng đại bác rú rền trời long đất lở, mắt nhòa đi bởi nhiều khối lửa rạch không khí, tiến nhanh vun vút về phía nội thù:
- Xi xi xì. Tạch tạch tạch… Pằng pằng pằng…. Uỳnh. Oằng. Ùm. Ðạch. Ðạch…
Có lẽ đang bắn nhau trực xạ, gần khu nầy lắm hay sao, mà cả khu đồi kêu ục ục và rung lên dữ dội. Trời gầm đất lở mất rồi! Các cô gái chân ướt chân ráo vừa đứng chưa vững, (trên sân của bộ chỉ huy hành quân), đã khiếp sợ tột cùng. Họ giật mình quýnh quáng hét to, đồng loạt cúi cong người, bịt hai tai, vụt chạy vào căn hầm gần nhất. Họ chui tọt xuống hầm trú sâu lút đầu người, chui nhanh vào gầm bàn, gầm giường, gầm ghế. Hai tay bưng đầu, họ bò lê bò la, nằm úp mặt xuống nền đất ẩm lạnh, miệng không ngớt kêu gào, thảng thốt rên rỉ. Như ai vừa thọc con dao găm vô bụng.
Trái tim Hoài đập điên loạn trong lồng ngực cuồng quay, đau nhói, co thắt từng hồi muốn nghẹt thở. Dường như có bàn tay vô hình bóp chặt trái tim, làm nghẹt thở, muốn bật máu đào. Hoài tưởng mình mang trong người cơn bệnh trầm kha thoái hóa thần kinh, tế bào thần kinh tiết ra chất dopamine thành bệnh parkinson, làm thân thể co siết, run lập cập, run rẩy kinh niên, thật đáng ghê sợ.
Họ chưa kịp hoàn hồn, đã bị bồi thêm mấy vố nổ kinh dị khác, nhiều đợt chấn động tột cùng khủng khiếp. Mặt đất rung rinh chuyển động u u… u ục ục…, như ở trong cơn động thổ bảy tám chấm. Sau loạt đạn xé gió cỡ mươi quả bay đi. Súng lớn giới hạn tầm bắn, dường như bắn ngang đầu, nên xuyên qua tường sắt chắn bao cát nứt nẽ, gạch vôi vữa, đá dăm, bụi hồ, cùng mảnh bể trên mái hầm bị sụp một bên, rắt đầy lên đầu lên cổ các cô. Cột sắt kêu lanh canh bị chạm điện, lửa vàng xẹt xẹt ra nổ lốp bốp. Bóng đèn bể bụp, rơi loảng xoảng.
Họ la ó kêu gào từng hồi thất thanh. Căn phòng bỗng dưng tối mờ. Gió lùa khói đen cay cay khét lẹt mùi hỗn hợp cuốn thốc. Bụi đất lẫn lộn với tàn tro mù bay tứ tung. Trong bóng tối mờ mờ từ lỗ châu mai dọi xuống, họ nhìn nhau, ánh mắt xao động hãi hùng, chua cay. Xen lẫn chút hào khí đầy phẫn nộ ở lưng tròng mắt nhau.
Vừa gù gù đáy thắt lưng ong, nhấp nhô đầu nón sắt, mấy cô đang nhổm lên khỏi miệng hầm, tính chạy đi tìm nơi an toàn khác; thì tràn đạn lại ria qua. Lạnh buốt xương sống, họ thất thanh kêu rú he´t tươ´ng lên, như con heo bị chọc tiết. Họ lại vội vàng cúi hụp người xuống hầm sâu. Giống con nhái bén lặn kỹ dưới đáy ao nước, mút mùa lệ thủy. Cả khu đồi sục sôi kêu lục ục, ọc ọc... lòng đất nhấp nhô. Nhà cửa động thổ rung rinh, nghiêng bên nầy, xiêu bên kia. Thật quá dễ sợ dưới đống mưa chì, bão lửa. Bao mái tóc một sớm một chiều, đã bạc nhanh trong giờ phút đẫm máu, kinh hoàng nầy!
Sau cuộc bị pháo kích và quân ta đã phản pháo khá lâu, Hoài leo lên mấy bậc cấp làm bằng bao cát, lấm lét nhìn ra lổ châu mai, nàng thấy xa xa dưới chân hàng rào hầm lũy, là một cuộc tổng tấn công rất quy mô của chiến sĩ Quân-nhân Cổng Hòa Viểt Nam. Họ mặc áo giáp, mang giày botte de saut, nai nịt gọn gàng. Thân họ dắt đầy lá cây xanh, đầu đội mũ lưới sắt, súng lăm le trong tay. Vài trái na dắt hai bên mạn sườn, hay trên ngực thò ra. Từng hàng nịt da đầy băng đạn.
Lưng chiến sĩ cong cong, ba lô nặng trĩu căng phồng hết cỡ. Một tuần lương khô, (cá nhân phải cõng gạo mỗi ngày), một vài bộ quân phục, chiếu mền, linh tinh, vân vân... (Hay là anh dùng ba lô để chứa đạn dược? Hoài không rõ), và khẩu súng cổ lỗ sĩ. Thân hình họ cong còng xuống dưới sức nặng kinh khủng của gánh đời nghiệt ngã. Bổn phận làm trai: Phải trả nợ non sông thật hết sẫy. Cho đến lúc tai tái người, gây gây rét, từng cơn ớn lạnh luồn vào tủy sống anh. Chính nhân quân tử đi trên đường sạn đạo bao trùm cả... vùng chiến sử ca.
Trên trời luôn có những chiếc phi cơ vun vút bay đi bay lại, ầm ầm hú động quái dị điếc tai. Họ bay vào vùng khói lửa thảm khốc, điêu tàn đổ nát, mà không chút ngại ngần. Dưới đất lính hét vang dội sôi bỏng căm thù cảnh chinh chiến. Mắt họ bừng bừng đỏ từng đường gân máu co giật tóe lửa. Cục xương yết hầu mắc họng oan gia suốt bao kiếp, đưa lên đưa xuống, đâm vào cuống cổ. Họ khát bỏng cổ họng, trợn trừng hai con mắt. Hàm răng họ nghiến chặt, bắp thịt cuồn cuộn, đôi chân dũng mãnh, vững chải đạp trên đất phù sa, đạp lên gai góc, cát đá. Cả nơi bì bõm đồng chua nước mặn, sình lầy. Họ đang tiến về cuối làng tiếp cận dãy trường sơn, truy tìm địch.
Có điều gì linh thiêng, thần bí và cường diệu, thôi thúc họ từ bỏ tất cả xa hoa quyến rũ phù phiếm? Khi người lính xông vào vùng chiến địa tàn khốc điêu linh thế nầy!? Không chút e ngại rụt rè, do dự? Như là nghề của chàng mà! Thật cảm động đến bàng hoàng ngẩn ngơ. Nếu không phải vì các anh thiết tha yêu thân nhân, yêu đồng đội, yêu đồng bào, yêu đất nước quê hương mình đến thế?
Nhiều giờ sau, bình nguyên lắng dịu dần dần. Khi hết từng đợt xung kích ào ạt, quân nhân xua quân thù chạy bán sống bán chết, tan tác vào trong rừng sâu. Thỉnh thoảng dăm ba tiếng súng nổ lẻ tẻ từ từ nhỏ dần, nhỏ dần, xa dần, xa dần và im bặt.
Khi tiếng súng hoàn toàn im bặt, không gian còn bao trùm mùi khét nồng oi ả. Khói lửa điêu linh trôi qua khá lâu. Các cô mới lóp ngóp bò dậy. Từng người một rụt rè len lén bò lên khỏi miệng hầm, rồi ngồi phệt xuống đất, thừ người ngẩn ngơ ra. Họ chẳng thể cử động trên nền đất khô cứng nham nhở gạch đá bừa bộn, thủy tinh lộn xộn. Họ không kêu la, không nói, không khóc. Vì sự khiếp sợ đã dâng đầy cổ họng khô bỏng. Mặt mày ai nấy đều tái xanh tái xám như nhuộm chàm. Mặc dù trước đó cô nào cô nấy ỏn à ỏn ẻn thắt đáy lưng ong, mặt hoa da phấn, môi trái tim thoa son tía, dồi má hồng tuyệt đẹp, lông mày lá liễu, đôi mắt lá răm. Nụ cười rõ tươi làm mát lòng người. Giờ phút thập tử nhất sinh nầy, họ đã chà mặt xuống đất, trông lem luốt như con mèo vá. Mà, không ai thèm cười nhạo nhau nửa lời. Mồ hôi, bụi bặm, đất cát, khói khét, đã "trổ đồi mồi" màu da của họ rồi.
Ðại tá Phát cùng qúy sĩ quan cao cấp tùy tùng, đi thị sát một vòng quanh vùng cấm địa. Tuyết Ngọc Trúc nghe cậu nói trong phái đoàn nầy, có mấy quân nhân rất vinh dự, đã theo học khóa Clandistine Operations cuối năm 1960, do Combined Studies tổ chức, qua sự tài trợ của Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ.
Dù nhiều đêm thức trắng trong vùng giao tranh không chợp mắt, trông ông có vẻ hơi mệt, do tấm bản đồ hành quân địa phương chằn chịt dấu mực khoanh tròn xanh đỏ ghi trục toạ độ và đóng quân. Màu nâu ghi vùng cao độ. Ðiểm chuẩn của trục trung độ và hoành độ được lấy bí số Phương Dung, Lệ Thu, để gọi chấm trên bản đồ: lên, xuống, phải, trái. Ông ra khẩu lệnh gọn gàng. Tuy mệt thế, ông không mất đi nét rắn rỏi kiên cường, oai nghiêm trên bộ treillis lá cây mầu xanh đậm, hồ ủi thẳng nếp. Ðôi giày botte de saut cao cổ bóng láng, ôm lấy hai ống quần gọn gàng. Súng lục nhỏ nạm ngà voi xinh xinh, đeo xệ xệ bên hông. Miệng ông ngậm ống pipe, đầu đội nón sắt, tay ông quay quay chiếc ba ton gỗ cẩm lai bịt bạc hai đầu làm gậy chỉ huy.
Dù trên cổ áo ông không đeo bông hoa bạc, nhưng có mấy ai mà không biết về vị chỉ huy Sư Ðoàn hành quân nầy. Ông đậu thủ khoa khoá Sĩ quan Ðông Dương, mang tên Promotion Indochinoise Quân Ðội Pháp. Ông giữ các chức vụ quan trọng, như Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 3 Thiết Giáp. Tổng Giám Ðốc Bảo An Dân Vệ. Bây giờ là Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.
Ðại Tá vừa đi thị sát điạ hình, vừa thảo luận về kế hoạch phòng chống, cách tiến hành trận chiến với ông Rufus Phillips, là giám đốc cơ quan Strategic Hamlets (Ấp Chiến Lược, gọi nôm na là Nông-thôn-vụ). Và ông Giám đốc cơ quan viện trợ Mỹ USAID. Cùng tháp tùng có phái bộ kinh tế gọi tắt là USOM, chuyên cung cấp sữa bột có đường, bột mì, dầu bắp, đồ hộp, hàng ngàn bao bố áo quần Mỹ Quốc viện trợ, thuốc lá Salem. Pallmall, vân vân...
Phái bộ chỉ huy yểm trợ quân sự, gọi tắt là MACV, và Cố Vấn Mỹ là Trung Úy James Webb trẻ măng, miệng anh tươi cười ngậm điếu xì gà Schimmelpennick. Hình như anh ta mới tập sự viễn chinh. Có thể những người Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt, còn ngỡ ngàng xa lạ về chiến tranh. "Du kích chiến" chỉ là một khái niệm mơ hồ. Ắt hẳn "anh chàng" chưa hiểu định chế ấy, chưa có kinh nghiệm, và rút tỉa kinh nghiệm chiến thuật là bao. Không rành hơn, không giỏi hơn quân nhân Việt Nam về chiến thuật, chiến lược nầy.
Dù rằng kỹ năng tác chiến, và khả năng toàn diện của Cộng Hoà Việt Nam, dựa vào thuật ngữ của súng M-1, súng Garrand cổ lỗ sĩ. Vả chăng "chàng Mẽo" kéo mươi củ súng 105 ly qua Thái Bình Dương, để "mớm mồi" Cộng Hoà Việt Nam "bắt tay với Mỹ Quốc viện trợ". Trong tinh thần nhân chủng, "đề huề" hợp tác chặt chẽ việc bang giao!?
Nhưng, ông Tá phe ta sẽ nhờ họ thực hiện tốt: Việc yểm trợ, tiếp liệu quân viện, kinh viện là trọng yếu. Ông sẽ thảo luận về các mối tương đồng, viện trợ kia: Thực tế nhất là xin vật liệu làm nhà tiền chế, tráng những con đường nhựa tươm tất. Xin cung cấp cho xi măng, sắt chữ U, sắt chữ V, làm cầu, v.v... Cùng các giao hảo tốt đẹp khác.
Chàng Mỹ nói:
- Sure. Mấy chuyện lẻ tẻ nầy, nước Mỹ không lo bankcruptcy. OK!
Thấy phái đoàn dừng lại trước cửa hầm quá bất ngờ, các cô vội vàng đứng dậy nghiêm chào. Ðại Tá Phát nhìn thần sắc các cô nhợt nhạt, tái xám, lem luốt, đầu bù tóc rối, như người bệnh thần kinh nặng. Thì Ông quay sang các sĩ quan thuộc quyền, nhích cặp lông mày lên một chút. Ông lừ mắt nhìn mấy cô lính non đời, hơi nhếch mép mỉm cười. Chao ôi! Thật thảm thương cho các "Nữ Tướng hào kiệt anh tài như Hoa Mộc Lan" thuở xưa, lo dông chạy tuốt về Tàu mất tiêu. Quê xệ hết sức ha.
Mấy ngày sau vẽ bình tĩnh, bàng quang của thôn, xóm, có lẽ vãn hồi, nhưng còn đọng lại trong lòng người bao lo âu, run sợ tai hoạ khác bất ngờ ập đến. Các cô dần dần bình tĩnh đôi chút. Nhờ sự lân mẫn tự nhiên, giữa các quân nhân dạn dày sương gió, từng xông pha nơi vùng mũi tên đầu đạn chiến trường. Nhờ sự lặng lẽ thờ ơ của người lính trẻ. Nhờ nhiều nụ cười đầy bao dung, khoan thứ của các sĩ quan đã từng trải.
Các cô nhận biết, nghe quen tai, khi tiếng súng bắn đi và câu vào. Tuy đôi lúc bất thần họ còn run sợ, hai lỗ tai hầu như ù ù, lùng bùng, điếc không nghe gì. Riết rồi điếc đặc không sợ súng. Riêng Hoài điếc thật rồi nhưng mắt còn thấy đầu đạn bay vun vút. Nàng thập thò lấp ló đi ra, đi vào lều bạt, thấp thỏm run run nhìn về mấy ụ súng. Khi nòng sắt đen lạnh khạc ra lằn lửa xi xi xẹt xẹt, viên đạn nhọn hoắt bịt đồng sáng loáng, vút vút xoáy tít vào không trung: Ùm… Oằng… Pằng… Pằng… Pằng. Tạch Tạch Tạch… Bùm!
Hoài sợ hãi kinh khủng nấp vào góc nhà, rụt cổ co người, ngồi hụp xuống. Hai tay Hoài bưng lấy đầu, toàn thân run bần bật, tim nhảy thình thịch trong lồng ngực, hơi thở nghẹn cứng, đứt quãng như muốn hụt hơi. Cuộc sống mới dưới sức nặng tột độ kinh khủng của - Gánh Ðời nghiệt ngã - năm 1962 - đón chào Hoài, bằng những "pha ngoạn mục" đến thế sao!?
(còn tiếp)
Cả ngày hôm đó, đài mẹ vẫn im hơi lặng tiếng. Trên tần số chỉ còn các đài con văng bặc lẫn nhau, tất cả đều bực bội, chửi thề um trong máy. Ai cũng thấy rõ mình bị bỏ rơi thực rồi. Công hầu khanh tướng gì đến lúc này đều chẳng còn mảy may ý nghĩa. Các xếp đã lẳng lặng rúc vào đâu hay kéo nhau đi, bỏ mặc lũ đàn em như rắn mất đầu khục khặc.
Chẳng ai hểu mô tê sự thể ra thế nào. Con đường quốc lộ vẫn nườm nượp người đi, vẻ nhớn nhác đượm đầy trên những khuôn mặt hốt hoảng. Lòng anh như lửa đốt, mắt hằn nét đau thương. Anh tính đến lúc phải quyết định tự mình, không còn trông dựa vào đâu nữa. Thế này là hốt hoảng thật rồi, dưới xuôi chắc chắn là mọi người đã bỏ chạy. Sĩ khí là cái đếch gì, liêm sỉ là cái thá gì để ai còn lường định.
Anh tính nhanh trong đầu. Ðợi sang hẳn lên, anh sẽ cho lệnh hạ trại. Hèn gì cũng phải có một lễ hạ cờ long trọng mới xong. Lá cờ đẫm máu bao bạn bè, đồng đội không thể bỏ đương nhiên vô tội vạ. Ðành rằng từ mai này lá cờ có thể sẽ biến đi, nhưng không vì thế mà ta coi thường, coi nhẹ.
Anh nhớ lại đêm tế cờ ở vũ đình trường hôm nào, lòng rợn lên khi nghe tiếng kèn gọi hồn tử sĩ. Bây giờ có nhiều người đã quên phút trào dâng mãnh liệt đó, nhưng anh thì không. Anh phải ôm lá cờ ra đi, thà là bỏ đồn, không thể bỏ được cái vật linh thiêng ủ thân chiến sĩ lần cuối cùng.
Rừng chợt lâm râm màu nắng, cái nắng ngượng nghịu như không muốn thức mãnh liệt như mọi hôm. Cây đứng im chịu tang sướt mướt, gió không rung mà vẫn có tiếng rì rào. Lời ai than hay lời chiến sĩ trận vòng nhỏ giọt lệ buồn cho vận nước. Anh nhìn lên bạt ngàn thấy đau khổ triền miên.
Anh chợt nhớ tới Nia. Bất giác, anh thấy môi anh run run nói lời tạ tội : xin em hãy tha thứ cho anh. Ðừng hờn, đừng trách anh, em nhé. Nếu hôm nào anh đoan quyết với em rằng dễ gì ta thất bại, đó không phải là anh muốn dối em mà anh tin như anh tin chính hồn anh vậy. Bây giờ mọi việc đã lỡ làng, anh không ngờ sắp phải xa nhau mà không kịp một lần từ giã.
Anh nấc lên, nhìn bao quát một vòng. Trời xanh, cây xanh, chẳng thấy đâu là buôn bản. Ở phía đó, già làng đang làm gì, có sự chờ đợi hồi hộp nào có sự cố sắp diễn ra. Cái tên Y Sê liệu đã trở về chưa để lên mặt lên mày với mọi người. Nia liệu có là cái đích nhắm để những nhỏ nhen sẽ hành hạ nhau tận tiệt đớn đau ?
Anh đau tưởng chừng như đang bị ai xẻo từng lát thịt. Anh chẳng tiếc gì thân xác mình mà chỉ lo sự vặt vãnh giết chết mọi ước vọng của cô gái anh yêu. Biết bao giờ ta gặp lại nhau để cùng tủi hờn đau khổ.
Ánh nắng vội bùng lên. Anh cho lệnh tập họp tất cả nơi sân đồn. Lại ủy cho người thường vụ sắp đặt lễ nghi thật trang trọng. Ðã lâu rồi anh không còn dùng đến tiếng kèn, nhưng hôm nay anh muốn tiếng kèn binh phải gióng lên hùng tráng mới hay. Lá cờ vẫn treo cao trên đầu cột, gió không phất phơ bay, nhưng màu cờ vẫn lộng lẫy.
Anh rưng rưng nói với mọi người : hôm nay là lần cuối cùng ta làm lễ hạ cờ. Từ nay đồn sẽ không còn hiện diện nữa. Chúng ta đã chờ thượng cấp suốt một ngày qua, chắc là không còn ai nhớ đến ta nơi đây nữa. Tôi xin anh em cùng tôi sống nốt những giây phút cuối, xin cám ơn anh em cùng chia xẻ nguy hiểm với nhau. Rồi đây mỗi người sẽ ra đi một đàng, cầu xin mọi người sẽ gặp may mắn. Chúng ta sẽ không đoán được điều gì sẽ xảy đến với nhau, nhưng chắc chắn sẽ không quên nghĩa tình chúng ta có. Tôi thành thực xin lỗi từng anh em, nếu thời gian qua ta có đối đãi với nhau không nên không phải, xin hiểu cho vì trách nhiệm hơn là vì đố kỵ.
Sau đó, hồi kèn cất lên thật lạnh lùng. Tiếng kèn len sâu vào thung lũng, hẻm núi nghe rùng rung, lanh lảnh buốt xương. Chính anh móc khẩu côn bên hông đưa lên trời bắn luôn hết băng đạn. Lá cờ được kéo xuống dần trong nỗi tức tưởi của anh em. Người thường vụ trang trọng gỡ và cuốn lá cờ lại, anh ôm vào nách sau khi đưa lên môi hôn.
Tiếp đó anh em hò như vỡ chợ. Chẳng cần đợi ra lệnh, những khẩu M-16 thi nhau nổ đạn lên trời. Rừng như bị xé toạc ra, tiếng đạn giòn tan vang vọng vào khe núi, lan đi như tiếng sấm. Mọi người đua nhau bóp cò mà nước mắt vắn dài. Từng đợt từng đợt ầm vang, anh để mặc mọi người làm theo ý thích.
Anh bùi ngùi nhìn lần chót xung quanh, cố thu mọi góc cạnh vào trong tầm ngắm của anh như giữ lưu một kỷ niệm sâu sắc. Ðợi khi ai nấy bắn chán chê hể hả, anh mới cho lệnh tan hàng. Ðám lính lầm lũi bỏ con đường mòn tuột dần ra phía quốc lộ. Ðồn nằm chênh vênh hiu quạnh một mình.
Ðám lính bám theo dân cùng lánh xa đoạn quốc lộ, anh nghe lòng chơi vơi như người vừa thu canh bạc lớn. Cả bọn uể oải leo lên một chiếc xe đò chở giúp, lúc này chẳng còn ai tha thiết hỏi lấy tiền. Chiếc xe chạy càng lúc càng xa, nhìn lên cây rừng che khuất căn đồn không còn vương một dấu tích.
Anh và đám lính về đến thành phố mệt nhoài, cảnh vô trật tự diễn ra khắp chốn. Những nhóc con vớ đâu được khẩu carbin đang học đòi sử dụng bắn huyên thuyên. Chúng kiếng mặt bọn anh vì biết dây vào chỉ lãnh đạn chết uổng.
Xe chạy đến nhà thờ, anh gọi dừng và chia tay với đám lính. Thầy trò chào nhau lần cuối, anh cho lệnh hủy chiếc máy truyền tin. Một tiếng bụp khô khan, song vi ba tắt ngấm, người lính buông rơi chiếc máy liệt lả xuống lòng đướng, trong khi xe chuyển bánh chạy vút đi.
Anh đứng nhìn theo, mắt cay xè, lòng tan hoang từng chút. Xin từ giã mọi người.
(còn tiếp)
5.
Mẹ qua đời vào một ngày cuối mùa hè trước giổ đầu của cha. Căn bệnh tim ngày càng nguy kịch và nỗi thương nhớ con xa đã không giúp được mẹ nấn ná sống mà làm tròn bổn phận trước khi thanh thản theo chồng. Những ngày cuối đời, lúc tỉnh táo mẹ cầm tay Nữ kể chuyện con, chuyện rể, và tháng ngày gia đình đầm ấm trong ngôi nhà ở phố những năm về trước. Câu chuyện Nữ nghe nhiều lần đã thuộc nằm lòng, qua hơi sức tàn của mẹ nghe thất lạc mong manh như giữa một giấc chiêm bao khiến nàng ôm chầm lấy mẹ khóc ròng. Một lần mẹ đòi Nử phải đở bà ra trước sân nhà. Ðồi cát vọng chắn triều âm đã mấy mùa nắng cháy hạ vàng, âu sầu đông xám. Cát trãi lòng im lìm qua cuộc biển dâu như hình ảnh câm nín mù lòa của thượng đế. Những đứa con của mẹ giờ này đang lưu lạc, sống chết phương nào? Từng dấu chân trên cát, khuya sớm đi về hằn sâu lối mòn định mệnh. Dấu chân nào của cha hụt hẩng thấp cao theo tiếng ho khan sau đêm biển sóng rạc rài. Dấu chân nào của đứa con lêu lổng, xác cha trên vai từng bước đoạn trường. Rồi đây sẽ chỉ còn dấu chân nhỏ nhoi đơn độc của Nữ trên cõi đời này. Mẹ nở nụ cười héo hắt khen con tốt nghiệp rồi thi đậu vào trường đào tạo giáo viên ở Hội An. Bà chép miệng thở dài.
- Anh Niên con vẫn chưa có tin tức từ nơi đày ải rừng thiêng nước độc. Ở đây một mình, đi học xa xôi quá. Con nên về nhà mình trong phố, đòi lại một phòng, ở đó đi học cho tiện. Chờ tới khi mô anh Niên con về hẳn hay.
Quắt quay với giây khắc ngắn ngủi còn sót lại, Nử trân quí ôm mẹ như muốn giữ chặt nhịp sống tàn hơi trong lồng ngực mẹ héo hon. Mẹ nhìn căn nhà mang đầy dấu vết của chồng con sau màn nước mắt, tay gầy vuốt tóc con xanh.
- Mẹ biết sức mình. Mẹ tin con có đủ nghị lực phấn đấu với đời. Thế nào cũng có ngày anh chị em lại sum họp dưới một mái nhà.
Ðám tang mẹ lúc ngày vừa chớm. Bạn chài của cha vừa từ đêm khơi trở về, tóc áo còn lộng tanh mùi cá, họ lặng lẽ gánh áo quan giữa hai hàng xương rồng lối ra nghĩa trang nơi mẹ sẽ nằm cạnh cha suốt cả thiên thu. Nữ và gia đình cậu dì từ Quế Sơn bước sau quan tài khóc sụt sùi trong áo khăn sô. Ðứa con gái mồ côi cha mẹ đứng bất động giữa hai hàng thân thuộc. Mẹ nằm đó trong áo quan đóng chặt, chỉ tấc gang mà đã nghìn trùng. Chị Nhi, anh Dõng, anh Niên, các anh chị đang ở đâu ? Sao lại nở bỏ em một mình ở lại. Mắt Nữ lệ mờ đăm nhìn về phía đầm sông đợi chờ một điều không thể. Nữ cảm thấy trời thật cao và mọi vật dường như bất động. Thời gian. Hơi thở. Mặt nước lặng lờ. Dì Chanh đến bên Nữ víu nhẹ vai cháu, trao cho nàng nhành bạch trang còn tươi lá. Nữ khóc òa lên lúc nhìn thấy cành hoa trắng trên nắp quan tài chìm dần dưới những nắm đất chôn kín đời người.
Buổi sáng sau ngày mở cửa mả, gia đình các cậu dì về lại Quế Sơn. Ngồi một mình trên bến đò thẩn thờ nhìn theo ghe người thân khuất dạng sau cù lao Thuận Tình, Nữ sợ đến điếng người khi cảm nhận ra mọi người đã bõ đi và anh Niên đã thực sự không về.
Dáng anh Niên ngồi buồn dưới hiên nhà, bóng anh đơn độc chèo đò qua sông buổi sớm bỏ nhà ra đi, và hình ảnh xác xơ của anh trong trại tạm giam ở Chân Mây vì tội vượt biên mãi rõ nét trong trí nhớ Nữ.
Chẳng bao lâu sau cái Tết đầu tiên xa nhà, phải sống lang thang ở Ðà Nẳng thì mẹ và Nữ hay tin anh Niên vượt biên thất bại. Nữ theo mẹ lặn lội đi xe đò qua đèo Hải Vân ra tận Lăng Cô rồi Chân Mây tìm thăm con trai. Trong cảnh hổn loạn, nạt nộ, khóc than, chờ chực, mẹ bật khóc khi thấy công an dẫn anh Niên ra phòng thăm nuôi. Khuôn mặt anh bơ phờ, vài vết bầm tím trên gò má trông anh càng tội nghiệp. Suốt nửa giờ thăm viếng, anh Niên luôn vỗ về an ủi mẹ. Nữ trao giỏ thức ăn, áo quần, thuốc men cho người công an khám xét trong lúc mẹ thăn thỉ thăm hỏi con trai. Nhà nước đã “khoan hồng” để anh Niên thay vì bị tù tội đã được “tình nguyện” theo đoàn lao động đi thâu hoạch quế trầm cho nhà nước. Ðoàn sẽ khởi hành trong vài ngày tới. Người công an hất hàm ra dấu cho anh Niên nhận giỏ quà đã khám xong, rồi chỉ tay ra cửa nói với mẹ bằng thứ âm giọng miền ngoài khó nghe.
- Bác cứ yên tâm trở về địa phương sinh hoạt cho tốt. Con trai bác nếu lao động tốt, bỏ ý định trốn theo Mỷ Ngụy thì thế nào cũng đoàn tụ với gia đình sớm thôi.
Mẹ già nước mắt lưng tròng bịn rịn từ giã con trai mắt cũng đỏ hoe. Niên thương mến nhìn em gái, cầm tay kín đáo trao cho Nữ mảnh giấy xếp nhỏ. Ðó là lần cuối cùng Nữ còn nhìn thấy nét tinh anh trong mắt Niên, buổi chiều cuối cùng không lâu trước khi anh Niên của Nữ bị quăng ngược vào u mê của rừng rú.
Lúc hai mẹ con ra khỏi trại giam thì trời đã cuối chiều, chuyến xe đò sau cùng về Ðà Nẵng – Ngã Ba Ði Huế đã chạy khỏi từ lâu. Ðang lo lắng tìm nơi tá túc qua đêm thì một người đàn bà trẻ hấp tấp dựng xe đạp vồn vã chào hỏi. Nữ mừng rỡ gặp được người quen ở nơi xa lạ, reo vui.
- Chị Vê ở bệnh viện Hội An, vẫn thường đến nhà mình với anh Ðức ở cùng giang đoàn với anh Dõng, mẹ nhớ không?
- Mẹ nhớ chớ! Cậu Ðức, cậu Toản, cậu Hoát, cậu Lương sáng nào mà không sắp hàng ở bệnh viện chờ cô Vê, cô Mai y tá thử máu cho.
- Bác nhớ đúng nhưng nhìn không ra cháu vì mới có mấy năm mà cháu đã già đi quá nhiều phải không bác ? Chị Vê nhìn mẹ nói đùa rồi tỏ vẽ quan tâm. Bác có thường không, nhìn bác xanh và ốm lắm.
- Ôi thôi, già rồi ai mà không ốm.
Chị Vê ân cần mời mẹ và Nữ về nhà, vừa đi vừa thăm hỏi chuyện nhà. Sau việc hôn nhân không thành, anh Ðức buồn xin thuyên chuyển đi tàu biển. Vì tự ái, chị Vê cũng xin đổi bệnh viện ra Ðà Nẳng mà không cho anh hay chị đã có thai. Sau bảy lăm, chị Vê đưa con trai về sống ở vùng đất nhỏ này cho tới bây giờ. Cháu Thiếu-Anh đã hơn bốn tuổi rồi, giống anh Ðức như khuôn. Nữ nhìn ánh mắt chị Vê, thương cảm bồi hồi nhớ lại những lần thấy đôi tình nhân đến nhà thăm anh chị mình.
- Giống anh Ðức như vậy chắc Thiếu-Anh “beau” lắm hả chị?
- Ðẹp trai cho lắm chỉ thêm khổ con gái người ta thôi em ơi.
Rồi chị đùa. Em được khổ chưa!?
Ngôi nhà nhỏ của mẹ con chị Vê ở cuối xóm, nghe được tiếng sóng biển. Trên tường tấm hình nhỏ đôi tình nhân chụp ngày còn ở Hội An quây quần với nhiều hình của cháu bé từ lúc nằm nôi. Cơm nước xong, bé Thiếu-Anh liếng thoắng dẫn đường cả nhà ra bãi biển. Nhìn chị Vê cùng con nô đùa với sóng, tiếng cười trẻ thơ rộn trong tiếng rạt rào của biển, Nữ biết chị đang sống hạnh phúc và cảm thấy vui lây. Nàng ôm tay mẹ, nhìn những ánh đèn chài chụm đầu vào nhau trên mặt biển.
Ðêm biển mùa xuân gió thổi mát lạnh. Chị Vê dẫn con ngồi xuống bên mẹ. Bà ngồi im lặng, thỉnh thoảng lại buông tiếng thở dài.
- Bác yên tâm. Ngày mai cháu vào trại giam khám bệnh sẽ mang thêm vào cho Niên thuốc sốt rét và một ít thuốc kháng sinh. Ở đây cháu được tiếng là “bác sĩ” kiêm bà mụ, cấp cứu, đủ thứ…Chị Vê cười. Chẳng còn ai ngoài O y tá chột ni.
Chị Vê chỉ tay về phía núi thoáng mờ trong bóng đêm.
- Túy Vân phía đó. Ði ngược lên xa nữa là Nam Ðông, A Sau, A Lưới…Họ làm ăn dữ lắm. Tù vượt biên, tù tệ nạn xã hội, thay vì giam tốn cơm họ bắt “tình nguyện” đi tuốt vô trong núi xa, có khi qua tận Lào, tìm trầm đốn quế về cho mấy hợp tác xã, công ty quốc doanh. Tới khi nào đạt chỉ tiêu qui hoạch thì cho về.
Ðêm hôm đó, trong căn nhà nhỏ bên bờ nước Chân-Mây có thêm người mất ngủ, lăn trở thở dài. Lạ nhà không ngủ được, nửa đêm Nữ thức dậy rót nước cho mẹ thì thấy chị Vê đang đứng dưới hiên nhà nhìn trời khuya.
- Ở nhà em có nhận được tin tức chi của vợ chồng chị Nhi em chưa? Không biết họ bây giờ lưu lạc xứ nào?
Chị Vê hỏi Nữ rồi thở dài tâm sự. Gặp bác và em chiều nay lay dậy trong lòng chị cảm giác từ lâu lắm chị tưởng đã an bài. Không biết anh Ðức bây giờ đang ở đâu? Ðịnh mệnh. Hạnh phúc. Khổ đau. Phải chi mà mình sống yên được với nó, cho dù vui hay buồn. Có một thời, lâu lắm rồi, chị tưởng chẳng thể nào tìm được hạnh phúc giữa nhớ thương, oan ức, khóc ròng… rứa mà thiệt lạ…trong cõi sâu thẳm nhất của khổ đau chỉ một thai động, một mấp máy môi cười đã giúp chị vượt qua tất cả, “chấp hết” và sống thương đời. Có lần trong một giấc chiêm bao chị đứng nhìn anh Ðức và gia đình đang nô đùa hạnh phúc trên ngọn đồi hoa vàng rực rỡ. Tỉnh ra chị ẳm con nhìn tấm hình cũ của hai đứa mà lòng thật bình an. Tình yêu của chị về anh vẫn đằm thắm như thuở nào. Em biết không? Chỉ là định mệnh mà thôi …
Khuya lắng sâu theo tiếng sóng rạt rào. Hai chi em đứng yên lặng hồi lâu. Hình như có tiếng Thiếu-Anh cười trong giấc ngủ trẻ thơ. Chị Vê quay nhìn hỏi Nữ rồi tự trả lời.
- Có chi khác nhau giữa sống thương đời và nghị lực, em biết không? Ðó là khi Thiếu-Anh khóc hay cười, mà cu cậu thì khóc cười tùy “tình hình” nên mình luôn phải có sẳn cả hai để đối phó.
Nữ chợt nhớ ra tiếng cười của chị Vê vẫn trong như ngày xưa.
Chiếc xe đò chạy than cuối cùng rồi cũng uể oải lăn bánh về phía đèo Hải Vân. Mẹ và Nữ cùng nhoài người ra cửa xe vẫy chào. Cháu Thiếu-Anh ngồi sau lưng mẹ trên xe đạp, miệng cười tay vẫy thật dễ thương.
Xe vất vã trèo lên đèo dốc ngoằn ngoèo. Nữ mãi mê nhìn mây núi quên cả thời gian, xe lên đến đỉnh đèo lúc nào không hay. Nữ nhớ lại lần đầu tiên theo chị Nhi ra Huế, lòng say sưa cảm giác lâng lâng lúc nhìn mây nước quyện nhau từ chốn lưng trời. Nàng thích thú lạ kỳ tưởng mình đang đứng trên mây nhìn xuống vịnh biển mờ sương khói. Giữa tiếng gió trời nồng nàn kỷ niệm, lòng chợt tạm quên đi tiếc nhớ sầu đau để chỉ còn nghe nhịp đập của tim và tiếng lòng anh chị Dõng Nhi trao nhau qua những dòng thơ Nữ đã thuộc nằm lòng.
Tôi về ngậm ngải tìm mơ
Trầm em hương vọng cuối bờ thơ ngây
Bóng tà huy đọng mây ngàn
Ðèo xa quán lú sương bàng hoàng rơi
Này em nhấc chén sầu khơi
Tóc phai màu trách chi lời phân vân
Mắt như lá mộng mây gần
Chiều heo hút núi chập chờn thanh xuân.
(còn tiếp)
Mai Ly (Tập III)
Chương 3
Cần Nhau
Ðã hơn mười giờ đêm. Mai Ly, nữ tiếp-đãi-viên trong cabaret Paris-Paris. Nàng luôn luôn đi làm sớm, mà về trễ. Vì nàng được lãnh lương gấp đôi. Ðêm nay nàng đau lắm nhưng cũng ráng đi làm. Mai Ly đang ngồi trên comptoire thả hồn tận đâu đâu, vì đủ thứ chuyện lo trong đầu, lòng chán nãn và nát tan trăm ngàn mảnh... Ông khách đầu tiên bước vào :
- Chào cô !
- Chào ông ! Ông khỏe không ?
- Vâng, tôi khỏe. Cám ơn cô.
- Mời ông ngồi.
Ông khách kéo ghế ngồi và nhìn Mai Ly ra vẻ lễ độ. Mai Ly hỏi :
- Ông uống chi ?
- Cho tôi Tonic.
Mai Ly thấy hơi lạ, vì ông khách vào đầy mà sao không uống rượu. Nàng nói cô barmaid đem lại, và hỏi ông khách tiếp:
- Xin lỗi ông tên chi ?
- Tôi tên là André, còn cô ?
- Mai Ly.
- Cô từ đâu tới ?
- Từ Việt Nam.
- Việt Nam ! Ô ! Việt Nam đang nổi tiếng Thuyền-Nhân người vượt biển !
André kéo ghế gần hơn, Mai Ly vì đang bệnh nên nàng mệt và kém vui.
André nhìn rõ Mai Ly và hỏi :
- Tôi thấy dường như cô buồn lắm, có chuyện gì nói cho tôi nghe đi.
Mai Ly trả lời một cách buồn bã :
- Dạ, thưa ông, vì tôi thấy hơi mệt thôi.
- Sao cô bệnh mà còn đi làm ? Cô uống chút gì với tôi ?
- Dạ, ông có cho phép tôi uống Champagne không ?
Một giây suy nghĩ rồi chậm rãi gật đầu :
- Ðược, cô cứ gọi.
Mai Ly ra hiệu với cô barmaid đến mở chai Champagne đã để sẵn trên comptoire, cô đem lại hai cái ly, khui Champange rót vào một ly rồi nhìn Mai Ly. Mai Ly hiểu ý cô ta, nàng hỏi André :
- Anh uống với tôi một ly chứ ?
André lắc đầu đáp :
- Tôi ít khi uống rượu.
Cô barmaid rót đầy ly và ra dấu cho Mai Ly nói chuyện với André để cô ta tráo ly nước lạnh pha chút Soda thay ly Champagne. André đã chịu đèn Mai Ly, chàng tán tỉnh mở lời :
- Cô có muốn về không ?
Mai ly cảm thấy cá đã cắn câu, nàng im lặng vài giây rồi đáp :
- Nếu tôi ra khỏi đây, thì phải có điều kiện gì chứ ?
André ra vẻ rất sành sõi cabaret, chàng nói :
- Tôi hiểu mà.
- Cám ơn anh, nhưng anh sẽ giúp tôi được bao nhiêu ? Thấy anh hiểu biết vấn đề trong đây rồi, vậy nhờ anh định giá dùm đi.
André nhìn Mai Ly một cách trìu mến, rồi nói :
- Tôi cho cô hai ngàn quan được không ?
Thật vừa với giá hạng bét tại cabaret Paris-Paris mà Mai Ly còn giả bộ suy nghĩ mới bằng lòng sau đó. Vì còn sớm nàng muốn đi xem thoát-y-vũ ‘’show Crazy-Hors’’ kế bên. André móc ra thẻ tín dụng "carte-crédit Dinîr-Club" đưa cho cô barmaid mà không cần biết giá tiền là bao nhiêu. Phiếu đưa ra chàng nhìn sơ rồi ký tên.
Trả tiền xong Mai Ly đi lấy áo manteau. Vừa ra đường là trời đổ mưa thật to. Họ không đi xem "Show" mà chạy thẳng qua khách sạn Georges V (André đã giữ phòng trước). Vào lấy chìa khóa và lên phòng. Vô phòng sau mười phút, Mai Ly ngần ngại hỏi tiền. Nhưng nàng phải hỏi, vì nàng bị mấy lần gặp khách lưu-manh gạt rồi. Mặc dù nàng nhìn gương mặt André không phải là loại đíểu. Tuy e ngại, nhưng nàng bắt buộc phải mở lời :
- Xin lỗi anh, có thể anh cho tôi "quà" trước được không ?
André tươi cười đáp :
- Ðược. Bộ cô không tin tôi sao ?
Mai Ly hết sức áy ngại rồi nói :
- Thú thật với anh. Tôi tin anh chớ, tin tôi mới về đây với anh nè. Vì tôi đã bị lừa nhiều lần quá rồi. Lần đầu tiên tôi hỏi anh, chứ sau nầy tôi không làm thế nữa. Xin anh thông cảm dùm.
André mở tủ lấy lấy bóp tiền rút ra đủ số và đưa tận tay Mai Ly, nhưng nàng không lấy, mà nói :
- Anh để trên bàn được rồi.
Mai Ly thấy chắc chắn mình có tiền, nàng nói :
- Anh đi tắm trước đi, anh cho tôi xem hình trong mấy Magazine này được không ?
- Cô cứ tự nhiên.
André vào phòng tắm, Mai Ly lấy tiền đếm đàng hoàng và nhét trong ví tay và tiếp tục xem báo, chờ André ra khỏi nhà tắm, Mai Ly đứng dậy xách ví tay theo, vì sợ bị móc tiền lại. Bởi nàng có cô bạn tên Mai Thu bị khách lấy tiền lại trong khi vào nhà tắm. Mai Ly trở ra với chiếc áo choàng bằng lụa màu trắng sữa của khách sạn "Georges V". Nàng ngồi lại chỗ cũ lấy báo xem tiếp, André đã lên giường đợi. Mai Ly giả vờ như nhà mình, André đứng lên tiến tới quì gối gần nàng, chàng hỏi :
- Cô không mệt sao ? Thôi, mình đi ngũ, vì tôi phải lấy chuyến xe lửa sáu giờ sáng ở "gare du Nord".
Mai Ly giả vờ giựt mình :
- Ô ! Xin lỗi anh, tôi quên mất là...
Hai người lến chiếc giường rộng mênh mông rồi cùng nhau... Ðầu óc Mai Ly thấy chán chường với cái nghề này, nàng nghĩ :
- Thế là xong con bướm đã hút nhụy hoa rồi. Lòng nàng xem André như cánh bướm qua đường... Nàng trở vô nhà tắm định mặc áo đi về. Nhưng nàng đổi ý xoay lại hỏi André :
- Anh muốn tôi ở lại hay về ?
- Tùy cô !
- Vậy tôi ở lại. Nhưng có phiền anh không ?
- Tôi rất sung sướng được cô ở lại với tôi đêm nay.
Mai Ly bỏ áo choàng lên giường nằm kề André. Hai người tâm sự qua lại, Mai Ly hỏi :
- Anh có con không ?
- Có. Tôi có hai đứa con trai.
Mai Ly nghĩ :
- Hắn đã có vợ rồi.
André tiếp :
- Còn cô ? Có chồng con gì chưa ?
- Dạ, tôi có hai con, một trai và một gái. Tôi với chồng tôi đang trong vòng ly dị.
Sau đó hai người im lặng ôm nhau hoan lạc... André lại xong một lần nữa mà không đụng tới đâu cả. Mai Ly đứng dậy vào nhà tắm, André nói vói theo :
- Trời ơi ! Tôi đang "si tình" cô rồi, nguy hiểm quá !
Mai Ly trở ra ôm André và nói :
- Anh đừng lo. Người đàn ông nào đã có vợ đến với tôi. Tôi sẽ bảo đảm một trăm phần trăm không bao giờ đổ vỡ hạnh phúc.
André ngạc nhiên sau khi Mai Ly dứt lời :
- Cô nói gì ? Tôi đâu có vợ... À, mà có ! Nhưng chúng tôi đã ly dị năm năm rồi.
Mai Ly lại có ý nghĩ khác, tự nhủ :
- Ha ! Cha nội này không có vợ, xem cũng đặng tướng dữ à. Mình thích đàn ông có mái tóc muối tiêu như lão này. Vậy mình ráng "chài" cho "dính" để mình và hai con có chỗ nương thân. Vì mình đã hứa với Jean-Jacques là tới hè giao nhà để ông ta bán. Biết đâu đêm nay mình bệnh mà lại gặp hên ! Mai Ly thấy một chút hy vọng, nhưng nàng nghĩ nữa : "Ối ! Hơi đâu mà tin mấy cha "chơi bời" này. Hơn nữa, mình mới gặp hắn có mấy tiếng đồng hồ..". Dù nghĩ vậy nàng cũng chuyển hướng đổi giọng quay sang ôm André và nói :
- Sáng nay em sẽ thức dậy sớm đưa anh ra nhà gare nhé ?
André nói một giọng vui vẻ :
- Ô ! Ðược cô đưa tôi ra gare thì tôi hân hạnh biết mấy.
Tình cảm sơ khởi của Mai Ly đối với André từ giây phút đó. Hơn hai giờ khuya hai người thấm mệt và ngủ lịm.
Năm giờ sáng, tiếng chuông điện thoại reo để đánh thức hai người. Vì quá sớm nên chưa có ai đem điểm tâm lên phòng. André và Mai Ly thu dọn valise xong, và xách xuống nơi tiếp tân trả tiền, lấy taxi ra gare. Tới nơi, còn thời giờ họ vào café "Terminus gare du Nord". Cử chỉ André tỏ ra như chồng lo cho vợ, cậu bồi bàn đứng chờ, André hỏi Mai Ly :
- Em ăn gì ?
- Dạ, cho em café sữa và một "croissant".
André ngồi trước mặt và ngắm Mai Ly, chàng nắm tay nàng và nói :
- Anh thích em ít son phấn như vầy. Còn nơi em làm là không phải chỗ của em.
Mai Ly cười nhạt mắt nhìn lên trần nhà, hơi thở ém tận đáy lòng, nàng nói thầm : "Gần như ông khách nào cũng đều nói câu đó với mình, trong lúc ngồi bàn với họ hoặc sau những giây phút mua vui xong ". Nàng thở ra nhẹ nhàng hỏi André :
- Nơi đó không phải. Vậy chớ nơi nào mới phải là chỗ của em ?
- Em làm nghề ấy... mà anh không thấy em có cái tánh như các cô gái khác. Em đẹp và có dáng vóc sang cả như một tiểu thơ, hay bà lớn. Sao em không đi tìm nghề gì khác hơn ?
Mai Ly chau mày nghiêm mặt từ từ nói :
- Xin lỗi anh ! Nghề gì bây giờ ? Trong khi chữ nghĩa, tiếng Pháp em rất yếu. Hơn nữa, từ lâu em quen sống nhẹ nhàng không làm việc lao động nặng nhọc như thuở còn bé. Dẫu rằng em làm cái nghề mà trong xã-hội thường chê trích. Nhưng em luôn biết tự trọng, và giữ gìn nhân cách. Và, hơn nữa... Xác thân này đã và đang bảo bọc bao thân xác khác đó anh à !
Anh mắt Mai Ly thật buồn nhìn André. Rồi nàng nói tiếp :
- À, này. Nếu xấu xa kinh tởm thì làm sao em được ngồi ngang hàng với anh đây ? Và, còn biết bao người đàn ông làm lớn, địa vị cao và nổi tiếng giàu có đã vào chỗ em làm. Em đã từng gặp và đôi khi được họ mời dự những tiệc lớn (gala) để em làm vợ hay tình hờ của họ. Mặc dù chỉ vài ba tiếng đồng hồ hoặc một đêm. Em từng đóng vai "Bà Lớn" đó anh à. Và cũng có vài cô bạn đồng nghiệp mà em quen biết đã được họ đem về làm vợ rồi.
Và, sẽ còn và còn nữa mãi mãi sau này.
(còn tiếp)
Vậy là họ cưới nhau, ngày hôn lễ trời mưa từ sáng đến tối, lúc lâm râm mưa phùn, lúc xối xả mờ trời mờ đất. Chú rể này hên, trong khi nhà thơ Nguyên Sa phải kêu lên “ tháng sáu trời mưa , trời mưa không dứt. Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa”, còn chú rể thì không cần lạy lục van xin, mà tháng mười một, ông trời cũng mưa để “biến cuộc đời thành những tối tân hôn” thành sự thật.
Buổi sáng khi nhà trai sang nhà gái rước dâu, mưa lất phất, người đi họ vẫn đi đứng khoan thai xếp hàng theo cái cách ông quay phim điều khiển. Áo dài, áo veston cứ lấm chấm những hạt mưa long lanh, như kim cương, dù vậy cũng chẳng ai hối hả. Trao mâm quả cũng điệu đàng, từ trước tới sau, ông quay phim chắc hài lòng lắm. Chú rể, trắng trẻo đẹp trai, con nhà vừa vừa, học giỏi, làm kỹ sư cho một nhà máy cở trung. Cô dâu đẹp gái, duyên dáng, xinh xắn dễ thương tốt nghiệp đại học năm ngoái, mà đặc biệt là cái giọng nói bao giờ cũng nghe như nũng nịu, nhỏng nhẽo làm trái tim chú rể rớt lên rớt xuống, nên họ mới có ngày này.
Bởi lẽ họ quen nhau đã lâu rồi, từ khi chú rể vừa ra trường còn cô dâu đang bước vào ngưỡng cửa đại học. Và bởi nàng đang đau khổ vì chia tay với mối tình trung học ngây ngô của mình, chàng tôi nghiệp cô bé bèn an ủi vỗ về, đóng vai một người anh trai cho em mình một bờ vai nương tựa. Cứ mỗi buổi chiều nàng lang thang trong khuôn viên nhà trường đi lanh quanh bên hồ nước nhìn đàn vịt thong dong, thì chàng lại xuất hiện với những mẫu bánh mì cho nàng vui chơi với đàn vịt, cho nàng tha hồ kể lể chuyện tình của mình với…người ta cho chàng nghe. Lúc ấy, chàng chẳng mảy may yêu nàng và nàng thì đang nhớ nhung…kẻ khác.
Lâu dần, gặp nhau trở thành thông lệ, để rồi, nếu không gặp họ lại thấy thiếu thiếu một cái gì, họ yêu nhau từ lúc nào, mà chính họ cũng không hề biết,và rồi nàng chợt nhận ra chàng chính là người đáng yêu nhất mà nàng biết, tính tình khoan dung ôn hòa, biết kính trên nhường dưới, biết xử sự với những người chung quanh, hay giận nhưng rất dễ tha thứ, không chấp nhất ai, không ghen ghét ai, còn nhiều nữa những đức tính của chàng mà nàng thích và điều tối quan trọng là chàng…yêu nàng vô cùng, bên chàng, nàng hoàn toàn được chở che, được bảo vệ trọn vẹn.
Trước ngày cưới, nàng gặp tôi tâm sự :
- Con muốn làm một bài thơ để đọc tặng cho anh Lâm ( tên chú rể),mà con hổng có đủ từ để diễn tả, cô làm cho con được hôn?”
- “Vậy chớ Thư ( tên cô dâu) muốn viết những gì” Tôi hỏi.
Thế là nàng kể lể với tôi, giống như tôi vừa…nhiều chuyện ở phần trên. Sau đó, ngày mai rước dâu, tối nay tôi email bài thơ cho nàng để buổi tối đãi bà con, cô bác, bạn bè, nàng sẽ đọc nó.
Buổi chiều khách khứa, vừa nhà trai nhà gái, vừa bạn bè dù trời mưa gió lạnh lẽo vẫn tới đông hơn dự kiến .Thế là, thay vì ba bàn dự bị, gia chủ phải mở thêm tám bàn mới đủ chổ cho khách tới mừng chú rễ cô dâu. Thân phụ cô dâu là người vui nhất, vì ông thấy những bằng hữu đã đến với ông bằng tất cả thâm tình, ai nấy tay bắt, mặt mừng, bạn bè lâu năm, xa gần đều đông đủ. Cô dâu thật toại nguyện khi đọc bài thơ của mình tặng cho người anh, người tình và bây giờ sẽ là chồng của nàng, còn chú rể thật ngạc nhiên, bất ngờ vì điều ấy; chàng im lặng lắng nghe, nhìn nàng bằng ánh mắt thương yêu trìu mến, khiến quan khách phải trầm trồ “ chú rể này coi bộ cưng cô dâu quá”. Một cô bạn của tôi lên tiếng “ Theo tánh dị đoan của ông bà mình thì hai đứa này đám cưới trời mưa là tiền vô như nước, hai đứa nó mai này làm giàu”.
Tôi thì không biết mai này họ có giàu không, nhưng có một điều tôi biết là họ sẽ có nhiều dịp để nhớ về kỷ niệm này, vì cứ mỗi lần thấy trời mưa thì nàng lại nói với chồng với cái giọng nhỏng nhẽo của mình
“ Anh ơi, bữa nay trời mưa làm em nhớ đám cưới tụi mình quá, anh há?
Và họ lại …biến cuộc đời thành những tối Tân Hôn.
Thương tặng Dương Lâm và Anh Thư
Có tiếng gõ cửa phòng học, Thi vội ra mở cửa. Người đến gặp Thi là anh Long.
Long lên tiếng :
_ Làm gì trốn trong phòng hoài vậy?
_ Em học bài.
_ Sắp lấy chồng rồi còn học được sao?
_ Sao không ? Anh mới đến chơi hả?
_ Anh đã xin phép hai bác cho mình đi mua quà cưới.
_ Mua quà cưới cho ai ?
_ Cho em. Anh tặng.
_ Tặng gì mà chả được.
_ Không được, phải có em đi để nhận quà trước ngày cưới.
_ Vậy mình đi ngay thôi.
Cả hai đi ra khỏi nhà cũng xế chiều, đến chợ Sài Gòn, rồi ra Lê Thánh Tôn, đi hết con đường Lê Lợi, vòng qua Nguyễn Huệ ... vậy mà Long đâu có mua được gì. Quà nào anh cũng bảo không thích hợp với Thi, đấy chỉ là cái cớ.
Cuối cùng, anh đưa cô đến nhà hàng nổi MỸ Cảnh trên bến Bạch Ðằng. Ăn uống và giải khát xong, đã đến giờ tối, Long cố tình giữ Thi lại nghe nhạc sống do các ca sĩ chuyên nghiệp trình diễn.
Long nói nhỏ với Thi :
_ Ðêm nay, anh sẽ tặng quà cưới cho em. Anh đã nhờ anh tiếp viên khi nãy đặt hàng rồi.
_ Bộ trên tàu có bán quà lưu niệm hả ?
- Có lẽ với anh còn quí hơn quà lưu niệm.
Và tiếng của người giới thiệu chương trình vang lên trong micro:
_ Xin giới thiệu cùng quý khán giả, sau đây là giọng hát của anh Võ Thành Long, ca sĩ không chuyên với ca khúc “ Phố Ðêm”
Tiếng vỗ tay cổ vủ vang lên khắp phòng. Long đứng lên rời khỏi ghế và tiến về sân khấu, chào khán giả :
_ Tôi xin được hát bài “ Phố Ðêm” riêng tặng Thi bạn gái tôi và tặng tất cả quý vị.
Long cất cao giọng hát trầm ấm, ca đến hết bài hát và mắt luôn hướng về Thi mỉm cười.
Dưới những bàn ăn có tiếng hô to :
_ Bis !
_ Bis !
Long thành thật nói:
_ Xin cám ơn tất cả, nhưng tôi chỉ hát bài Phố Ðêm.
Long đã trở lại bàn Thi ngồi, cô đã trách ngay :
_ Anh liều quá, đâu phải ban nhạc chung với anh đâu mà anh lên hát, nhỡ sai nhịp thì sao?
_ Ðã biết ca theo nhạc thì ban nhạc nào mà ca lại không được. Chỉ có ca hay hoặc dở thôi. Em sao mà khờ quá vậy.
_ Anh thì lúc nào cũng ca.
_ Không phải vậy đâu à. Năm rồi anh ca trong lớp ngày mãn khóa học, cũng bài Phố Ðêm một lần để tặng em, hôm nay ca lần thứ nhì, để làm quà cưới cho em.
_ Anh ăn gian, quà cưới gì khôn quá vậy.
_ Anh không thích khuôn sáo thường tình, đây là món quà tinh thần vô giá, chỉ riêng tặng cho em, người bạn gái duy nhất và chỉ tặng một lần nầy thôi. Ngày em vu quy, anh chỉ chúc mừng em hạnh phúc tại nhà em, chớ không theo đoàn người đưa tiễn em về đến nhà chồng.
_ Như vậy là đủ lắm rồi. Bây giờ mình về nha anh.
Hai người bạn trẻ sánh bước dọc theo bến Bạch Ðằng, không qua đường Cường Ðể có Sở Ba Son. Vậy mà đã gợi trong lòng Thi những nhung nhớ và những kỷ niệm với Vũ. Bây giờ còn đi bên Long để nhớ về Vũ, mai nầy sống với chồng biết có còn những giây phút lưu luyến về Vũ, về Long, về Anh Tuấn và các bạn gái cũ không?
“Phố đêm đèn mờ giăng giăng...
..................................................”
Lời ca vang vẳng bên tai như thoi thúc như níu kéo âm vang cuộc tình sắp đi vào quá khứ.
Chỉ còn lại giấc mơ qua thời gian...
Sáng mở mắt đọc báọTối đi làm về nghe tin tức. Người ta nói ở đâu có có một người đàn bà được gọi là “mẹ” thường hành hạ con mình, giận con thì cắt gân chân, chặt ngón tay con- một đứa con nít chỉ mới 3 tuổi. Dã man quá! Người ta lại nói có một vợ chồng trẻ bị một băng cướp choai choai giết khi trời mới hửng tối, ngay cả đứa con 4 tháng tuổi cũng không tha. Thương tâm quá! Nhưng cái xóm nhà lá hàng xóm của đôi vợ chồng này lại nói tại họ giàu quá, khoe của quá nên ăn cướp nó để ý, chết là phải. Khó hiểu thật, chết cũng còn bị chửi ư? Sợ quá ta trốn lên mạng tìm một chốn yên bình..đâu có dè chỗ nào cũng thấy các cô cậu giáo dân để cái msg-status to đùng! “Cầu cho công lý và hòa bình”! Hoảng quá lại chạy về cuộc sống đời thường thì gặp ngay hàng tít báo lớn đưa tin ..sữa nhiễm độc, sông nhiễm chất thải, cải cách hành chính nhiễm nhũng nhiễu….Chao ơi, sao càng đọc càng thấy hoảng sợ cuộc sống quanh mình. Ðôi khi ta không biết mình đang ở đâu đây? Thiên đàn, trần gian hay địa ngục?!
Hồi nhỏ con nít thường nghe người lớn nói rằng bất cứ ai có lòng nhân hậu sẽ được lên thiên đàn, những kẻ gian tà sẽ xuống địa ngục. Bỗng dưng ta lại chợt nghĩ vẩn vơ ..thế còn những người ở trần gian thì sao nhỉ? Cũng không là người nhân hậu và chẳng phải là kẻ gian tà nên muốn lên thiên đàn cũng không được mà muốn xuống địa ngục cũng không ai cho. Cứ mắc kẹt mãi, kẹt mãi trong cái chốn trần gian này!Ta vùng vẫy cố tìm cách thoát ra nhưng hình như càng cố thì càng mắc kẹt thì phảị.Trên cao Ngọc Hoàng vén mây nhìn xuống, dưới đất Diêm Vương mở đất nhìn lên bèn tắc lưỡi một cái rồi đồng loạt hô to “vậy mới đáng!”.Ôi thôi thế nghĩa là sao nhỉ?!?!
Khi phải ghen là tự bản thân tôi nhận thấy mình bị xúc phạm vì cử chỉ, lời lẽ từ chồng, lẽ ra mình là người duy nhất nhận được mà sao không được nhận mà thấy cô nào đó nhận dùm trước mặt mình. Nhận sau lưng không bàn tới chi vì đó là bóng, gió người đời nói đúng, có hỏi, đố người nào dám nhận mình cố tình làm người phối ngẫu ghen.
Người ta thường cho ghen là thiếu tự tin vào bản thân mình, cũng sai luôn. Nhiều người tự tin quá cũng mất chồng, vợ ngay trước mặt hay để chuyện quá đà rồi mới biết cũng không hay.
Tôi thấy đàn ông hơi kỳ, ra ngoài rất dễ dãi và không tiếc lời khen người khác nhưng với vợ mình thì hơi tiết kiệm thậm chí không khen cho bả ráng thêm tí nữa, chứ khen bả làm tới. Gặp như tôi, trâu bò quanh năm, thậm chí mệt không dám kêu, khi hết chịu nổi la lên vài câu còn phải lại khoanh tay trước mặt chồng năn nỉ " em cực quá nên quá lời, anh thông cảm cho em ". Thiệt tình là cái đó người đàn ông phải biết và tránh cho vợ mình chứ mà để tôi thú thiệt kiểu đó, ngồi đó không rơi nước mắt thì không phải con người. Lúc tôi nói vậy, ông xã tôi rơi nước mắt thiệt. Dám la dám nhận. Sau lần nhận đó, cái lòng tôi đau như cắt nhưng cứ cắt bao nhiêu mảnh thì cứ. Chuyện không chỉ nhiêu đó.
Tôi rất ghét người đàn ông nào cố ý làm vợ ghen, thật sự đó là sự khiêu khích. Người vợ có đau tim lên cơn ngay đó ổng hối không kịp. Tôi cũng rất ghét người nào cố tình làm về vợ chỉnh giả bộ nói không có, qua loa với vợ rằng anh vậy thôi chứ không có gì. Ðó là hèn. Nhưng nhận thì đúng ông đó không phải đàn ông vì đàn ông đàng hoàng không làm thế, đã không đàng hoàng thì đó là cái tính, nhận cho chết à.
Thật sự khi bạn yêu một người, người đó hay ghen hay bạn hay ghen đều chết cả. Có người ghen trầm ngâm, không nói một tiếng nào rồi âm thầm tìm kế trả thù cho bỏ ghét. Có người để đó nổ ra lúc khác như tôi thì cũng hèn. Mà có nói ra lúc đó người ta cũng không hiểu nên thiệt tình cho đến giờ này tôi cũng không biết phải đối xử ra sao trong trường hợp muốn ghen và phải ghen.
Sau này con cái, nhà cửa lu bu tôi cũng chẳng buồn ghen vì thật tình không còn quan tâm nhưng được cái ông nhà tôi đi làm rồi về nhà đúng giờ cứ tới giờ đó là thấy nằm trên cái giường thì hỏi muốn ghen tìm chỗ nào cũng thấy đâu mà ghen. Khi phải đi ra ngoài hay chợ búa gì ông cũng trao đổi với người ta vài câu bóng gió đôi khi cũng làm tôi chạnh lòng nhưng mà sao, ống cũng là con người, không nói chuyện người ta bảo bất lịch sự còn trao đổi vài câu thì bị tôi ghen thì e ra cũng khó sống. Nhưng đó là sự thông cảm của tôi với ổng. Còn tôi cứ đáp lại với mấy anh nào một câu vui vẻ là bị cự thì tôi thấy hơi bất công nhưng thôi nín chịu cho vui cửa vui nhà cho rồi, người ta nghĩ mình câm cũng được về nhà chén, dĩa bay không bay vèo vèo, an lành không hơn sao.
Thật lòng tôi rất muốn tin và được tin. Bị ghen và phải ghen là điều không ai muốn nhưng nói ai tin. Nhiều người tôi hỏi thì được biết cả đời họ chả ghen gì cả. Tôi thấy cũng hay vì gia đạo vẫn an lành. Tôi cũng đâu muốn ghen chi cho cực thân, nhưng thấy mình bị coi nhẹ, đúng hay sai gì cũng buồn, bỏ qua thì tức, nói thì lòng ngày càng lạnh đi. Thiệt tình cho tới lúc này bạn hỏi tôi còn ghen hay muốn ghen không tôi vẫn không trả lời được, ăn thua là vợ chồng hiểu ý nhau để đừng xảy ra sự hiểu lầm. Khi đã không còn quan tâm đến nhau thì ghen hay không ghen vì sĩ diện nó đâu đúng là kiểu ghen để gìn giữ hay xây dựng nữa đâu.
Phải sống với lòng ghen tức là sống một đời sống không lành mạnh mà cả hai người đều có thể tránh được cho nhau.
Vậy thì sao lại không làm cà?
Người Việt Nam có rất nhiều tính tốt như yêu nước , yêu quê hương , dũng cảm , khí phách . . . . Sau đây tôi xin kể ba trong những đức tính căn bản của chúng ta :
Óc Thông Minh :
Thông minh có nghiã là sáng suốt , có sáng kiến , hiểu nhanh , nhớ lâu . Xét qua ngôn ngữ - vì ngôn ngữ là dấu hiệu văn minh đầu tiên của con người dùng để biểu l tình cảm vui buồn , yêu gét hay diễn tả sự vật - tổ tiên chúng ta quả thông minh không kém bất cứ một chủng tc nào .
Nói về tính khoa học của tiếng Việt có lẽ ít dân tc nào có hệ thống phân loại sự vật một cách khoa học như thứ tiếng tổ tiên chúng ta đã sáng tạo .
- Phân loại cây cỏ : Những vật có thân cứng mọc trên mặt đất gọi là CÂY như cây ổi , cây bưởi , cây đa , cây đề . . . ; những loại thân mền , thấp , nhỏ gọi là CỎ như cỏ gà , cỏ cú . . . . ; những loại cỏ ăn được gọi là rau : rau rền , rau lang , rau cải , rau mồng tơi , rau giá . . . .
- Phân loại sinh vật và đồ vật : Những vật vô tri vô giác gọi là CÁI như cái nhà , cái bàn . . . ; những vật có sự sống và di chuyển được gọi là CON như con người , con trâu , con bò , con heo .
Sự phân loại ấy rất phù hợp với phân loại khoa học ngày nay .
Về số học tổ tiên chúng ta đếm từ 1 tới 10 và lấy 10 làm mốc , sau đó cứ thêm 10 , 10 . . . nữa là 20, 30 . . . để tiến tới 10 lần 10 là 100 , 10 lần 100 là 1. 000 . . . . Toán học gọi là số thập phân .
Có người cho rằng số học do người Tàu truyền sang . Ðiều đó sai lầm vì những tiếng chúng ta dùng để đếm đều là tiếng NÔM . Thời xa xưa dân tc chúng ta ít người , ít vật ( thời Hai Bà Trưng dân số chưa đến 1 triệu người ) nên chúng ta đếm đến 1 ngàn rồi 10 ngàn, 100 ngàn chưa có hàng triệu , cũng như người Tàu đếm đến tỉ rồi 10, 100 , 1.000 tỉ . . . trong khi người Mỹ giàu có , nhiều tiền , nhiều sản vật đã dùng tới trillion (1.000 tỉ) .
Những tiếng dùng để đếm từ một , hai , ba . . . đến mười rồi 1 trăm , 1 ngàn là tiếng NÔM hoàn toàn ( xin xem Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị của Học giả ngữ học Lê ngọc Trụ) . Chúng ta chỉ mượn của người Tàu tiếng Triệu và Tỉ thôi .
Về ngôn ngữ , khi chưa bị người Trung Hoa đô h chúng ta đã có tiếng nói riêng rất rành mạch dùng để gọi sự vật như đã nói trên . Khi người Tàu tới xâm lăng họ đem theo những vật mới , việc mới ở ta không có nên phải mượn tiếng của họ để nói tương tự như chúng ta mượn một số chữ Pháp ô-tô (xe hơi ) , ra-đi-ô . . . . Tuy mượn ngôn ngữ của Trung Hoa nhưng chúng ta vẫn giữ nguyên cấu trúc của tiếng Việt .
Chúng ta nói :
Nhà Trắng , Chủ nhà, Rồng đen
Người Trung Hoa nói :
Bạch Cung, Gia chủ, Hắc long
Ngày nay sự giao tiếp thường xuyên và gần gũi giữa các dân tc nên sự vay mượn tiếng của nhau rất phổ biến chẳng hạn chữ Radio , Vidéo , Computer . . . được nhiều nước trên thế giới sử dụng . Về mặt lịch sử , hễ có sự giao tiếp là có sự vay mượn, trao đổi tiếng nói .
Tiếng Anh , tiếng Pháp , tiếng Ðức và nói chung các dân tc Âu châu vay mượn rất nhiều từ tiếng Hy Lạp và La Mã vì Âu Châu bị hai xứ này đô h nhiều trăm năm .
Nói rằng số học và tiếng Việt do từ Trung Hoa mà ra thì cũng sai lầm như có người đặt câu hỏi rằng họ của người Việt có liên hệ với họ người Tàu không ? Theo thiển nghĩ không , vì khởi thủy người Tàu sinh sống ở phía tây bắc sông Hoàng hà , dân tc Việt ở lưu vực sông Hồng cách nhau xa mấy ngàn dậm . Thời hoang sơ ấy cuc sống tự túc , đơn giản . Hàng hoá chưa có để trao đổi , phương tiện giao thông chưa có , di chuyển bằng đôi chân với núi rừng bạt ngàn trưóc mắt , sông ngòi cách trở , thú dữ bày đàn dễ gì mà đi lại . Hơn nữa ở khoảng giữa hai nước Việt - Tàu có rất nhiều giống người sinh sống ( mà người Tàu gọi chung là bách việt : trăm giống dân ở xa) .
Chúng ta sinh sống ở lưu vực sông Hồng hàng chục ngàn năm rồi và chỉ giao tiếp với người Tàu hơn 2 ngàn năm nay (tức năm 211 trước Tây lịch Triệu Ðà xâm lăng nước ta) sau khi họ thôn tính xong các dân tc ở giữa hai nước . Sở dĩ có sự trùng" họ" giữa người Việt và người Hoa là do lối viết của chữ Tàu . Họ viết theo tượng hình, không theo âm như chữ quốc ngữ bây giờ nên khi sang Việt Nam thấy họ Việt âm na ná với một họ nào đó bên Tàu thì họ viết , thế thôi . Chẳng những đối với họ của người Việt mà họ của các dân tc khác người Tàu cũng " Tàu hóa" theo lối chữ tượng hình như vậy . Sử sách đời Tấn, đời Tống ghi lại họ của các vua Chiêm Thành là Phạm Hùng , Phạm Dật , Phạm dương Mại . . . phiên âm từ chữ Varman là chữ Phạn chỉ các vua Chiêm và vua xứ Phù Nam . Mới đây người ta kêu Karl Marx là Mã-khắc-Tư , Montesquieu là Mạnh-đức -Tư-Cưu . Tất nhiên hai ông này không có họ hàng gì với Mã Viện , một tướng Tàu sang xâm lăng nước ta thời Hai bà Trưng hay Mạnh Tử là một ông tổ của đạo Nho bên Tàu .
Nhờ giòng máu (nay gọi là gen hay DNA ) thông minh của tổ tiên , người Việt là một giống dân thông minh đã chứng tỏ từ xưa tới nay . Vào thời nhà Ðường nhiều nhà Sư Việt sang Tàu thuyết Pháp làm các danh sĩ Trung Hoa đương thời phải trọng nể như Ngài Nhật Nam được Trương Tịch , thi sĩ nổi tiếng đương thời , sùng bái như một vị Phật sống . Ngài Vô Ngạn Thượng Nhân được Thẩm thuyên Kỳ xin làm đệ tử . Ngoài ra còn có các Pháp sư Phương Ðình, Duy Giám sang cung vua Ðường thuyết Pháp và được các thi sĩ Dương cự Nguyên , Cổ Ðạo làm thơ đưa tiễn .
Sau này có Cụ Mạc đĩnh Chi nghênh ngang giữa Triều đình Trung Hoa mà lại được phong lưỡng quốc Trạng Nguyên do tài thơ văn và tài ứng đối làm người Tàu kính nể .
Ngày nay những đoàn học sinh đi dự thi Toán quốc tế thường đoạt được những giải thưởng cao . Những sinh viên gốc Việt ở Mỹ và Âu Châu nếu học không hơn thì cũng không thua sinh viên bản xứ nhờ thông minh và ham học .
Tính Hiếu Học :
Người Việt đặt sự học lên hàng đầu , ai cũng ước mong cho con cháu học hành tử tế dù phải vất vả làm lụng kiếm tiền hay bán rung vườn cho con ăn học . Ngày xưa ông Ðặng Trần Côn tác giả Chinh Phụ Ngâm viết bằng chữ Hán rất hay , được bà Ðoàn thị Ðiểm dịch sang tiếng Việt còn lưu truyền đến bây giờ nổi tiếng là người ham học . Thời ấy Chúa Trịnh Uy Vương cấm đốt lửa ở kinh thành Thăng Long ông phải đào hầm dưới đất để đốt đèn đọc sách . Sau ông thi đậu Hương Cống (Cử Nhân) làm đến chức Ngự Sử Ðài Chiếu Khám và để lại nhiều thơ văn có giá trị . Ông Lương Hữu Khánh mồ côi cha khi chưa lọt lòng mẹ , nhà nghèo phải đi làm thuê , làm mướn để sống mà vẫn không bỏ việc học . Sau này ông thi Hương , thi Hi ( 1538 đời Mạc đăng Doanh) đều đậu , làm quan tới chức Binh B Thượng Thư .
Thời nay có Thi sĩ Ðông Hồ Lâm Tấn Phác chỉ có bằng Tiểu Học nhưng nhờ ham học Ông thông thạo tiếng Pháp và chữ Nho . Về thơ cổ Việt Nam và Trung Hoa có lẽ không ai thông hiểu bằng ông . Do đó Ông được bổ dạy tại Trường Ðại Học Văn khoa Saigòn . Ông Nguyễn Bạt Tụy dành cả cuc đời , không vợ không con , nghiên cứu ngữ học tiếng Việt . Ông viết hàng chục ngàn trang giấy về vấn đề này , rất tiếc vì chiến tranh công trình của ông không được chú ý và giúp đỡ trong việc xuất bản .
một học giả có ảnh hưởng lớn tới thanh niên từ thập niên 1950 trở về sau là ông Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) . Ông học giỏi nhưng thi cử lận đận . Thi vào Trường Bưởi , sau này là Chu Văn An , hai lần mới đậu , thi bằng Trung Học cũng vậy . Sau năm 1945 , ông chuyên chú vào việc đọc và viết sách . Phần lớn sách của ông về giáo dục và biên khảo , dịch thuật . Cuối thập niên 1940 , ông Nguyễn Ngọc Thơ làm tỉnh Trưởng Long Xuyên mời ông dạy tại Trường Trung học Thoại ngọc hầu . Nể lời ông nhận dạy một thời gian rồi xin nghỉ để theo đưổi mục đích riêng của mình .
Ông Lương đức Thiệp trong cuốn Xã Hi Việt Nam cho rằng người Việt Nam học không phải vì khao khát mở rng trí tuệ mà chỉ nhằm thi đỗ ra làm quan . Nói như thế có phần quá đáng . Những bậc hiền tài như các Cụ Chu Văn An , Nguyễn Bỉnh Khiêm , La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp , Võ trường Toản . . . đều có tài học nhưng không thích làm quan .
Cụ Nguyễn Khuyến đang làm Tổng Ðốc Sơn Hưng Tuyên và nhiều nhà Nho khác có chức tước cao mà lui về ẩn dật khi Pháp chiếm đóng Việt Nam . Học giả Nguyễn Hiến Lê đã từ chối chức Giáo Sư Ðại Học và giải thưởng Văn Chương của miền Nam cũng như bổng lc của Miền Bắc sau này .
Chăm Chỉ và Khéo Tay :
Người Việt rất chịu khó làm việc . Câu tục ngữ "một nắng hai sương " diễn tả sự lam lũ của hơn 90 phần trăm người Việt sống ở nông thôn . Họ ra đồng lúc trời chưa hừng sáng , sương còn phủ trên rung đồng làng mạc để tát nước , vơ cỏ , bỏ phân . . . cho đến tối mịt lúc sương xuống mới tất tả trở về . Nào đã nghỉ , còn phải lo cơm nước , xay lúa giã gạo xong mới được lên giường để ngày mai lại bắt đầu một chu kỳ như thế !
Trẻ con người Việt tám , chín tuối đã biết phụ cha mẹ coi em , quyét tước nhà cửa . Sự tập làm việc sớm làm cho con người trở nên quen thuc với công việc , coi sự làm việc là tự nhiên , không quản ngại vất vả và chân tay trở nên khéo léo .
Trừ một số con nhà quan cách hoặc giàu có , đa số trẻ em Việt Nam vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ . Ở nông thôn trẻ em đi học về thì lo chăn sóc trâu bò, gà , lợn . Ở thành thị chúng phụ giúp cha mẹ cơm nuớc hoặc phụ làm nghề nghiệp nếu gia đình làm nghề thủ công hay buôn bán . Trong một nước nghèo , 80 , 90 phần trăm lợi tức dùng để mua lương thực thì bắt bưc con người phải tận lực làm việc mới đủ sống .
Không những người nông dân đầu tắt mặt tối , mà ngày xưa những người làm nghề thủ công không kém phần cực nhọc . Chế đ nghỉ cuối tuần , hay làm việc ngày 8 giờ do người Pháp đem tới sau này . Những ngành sản xuất thủ công của chúng ta như dệt vải , thợ bạc , chạm trổ , khảm xà cừ . . . phần lớn sản xuất trong khuân khổ gia đình . Vợ chồng , con cái cùng làm bất kể giờ giấc , làm quanh năm , có nghỉ thì chỉ nghỉ vào những ngày lễ , tết lớn . Nếu mướn năm ba người thợ thì thợ cũng phải làm như vậy .
Nhờ có óc thông minh , người Việt Nam đã sớm biết phát triển nghề nông , nghề chài lưới cũng như các nghề nghiệp khác cần thiết cho cuc sống . Kỹ thuật trồng lúa của người Việt đã phát triển đến mức đ cao . Họ biết cách chế tạo phân bón , biết dùng từng loại phân cho mỗi loại cây trồng , biết cách tổ chức dẫn nước vào rung (dẫn thủy nhập điền) . Chỉ tiếc là xưa kia kém về khoa học nên không có máy móc để cày xâu hơn , xới đất kỹ hơn và không biết kỹ thuật gây giống nên năng xuất thấp so với các nước phương Tây .
Về thủ công nghiệp , người thợ Việt Nam tỏ ra khéo léo và sản phẩm của họ trong một vài ngành như sơn mài , khảm xà cừ , vàng bạc . . . tinh xảo hơn người ngoại quốc . Nhờ đó chúng ta có đầu óc tự tin , cảm thấy mình nếu không hơn thì cũng không kém người .
Trước khi người Pháp đem súng đạn và kỹ thuật tân tiến của Tây phương xâm lăng Việt nam , chúng ta có một nền kinh tế tự túc về lương thực do nền canh nông sản xuất ; các ngành thủ công nghiệp cung cấp vải lụa , gạch ngói , dụng cụ , thuyền bè . . . đáp ứng được với nhu cầu tiêu dùng trong nước .
Khi người Pháp tới , họ muốn biến đất nước chúng ta thành một thị trường tiêu thụ sản phẩn công nghệ của họ . Hàng hóa của chúng ta có kém nhưng không đến nỗi để bị hàng của Pháp đánh bại hoàn toàn . Khung cửi đạp chân nơi thôn ấp dệt ra những tấm vải rẻ tiền đủ sức cạnh tranh với hàng nhập cảng từ Pháp . Chẳng những thế, tơ lụa Hà Ðông , Tân Châu mở được thị trường ở Pháp , gạo Việt Nam trước năm 1945 bán ra ngoại quốc hàng triệu tấn do cái cày gãi đất và sức cần cù của người nông dân . Rượu đế nấu bằng nồi đất được ưa chung hơn rượu Fontain do người Pháp sản xuất ở nhà máy rượu Bình Ðông Chợ Lớn và nhà Máy Hiệp hoà .
Do đó nền kinh tế của chúng ta không hoàn toàn nằm trong bàn tay người Pháp , người Việt Nam phần lớn vẫn đc lập về phương diện sản xuất và tiêu thụ hàng hóa .
Ngày nay ra nước ngoài , người Việt được coi là làm việc cần mẫn (work hard) , học hỏi nhanh , dễ thích nghi với công việc .
Trong ngành điện tử , không kể các kỹ sư người Việt , chủ nhân thích mướn thợ Việt Nam hơn các sắc dân khác vì huấn luyện nhanh , đầu óc thông minh , chân tay khéo léo thích hợp với ngành sản phẩm đòi hỏi sự tinh tế và tỉ mỉ .
(Người Việt Chúng Ta )
Lại một năm sắp qua, thêm một tuổi, đời sống tích lũy bao kinh nghiệm mới thăng trầm vui buồn, chứng tích thời đại lịch sử. Một năm, nếu tính ra cũng đâu phải ngắn, một năm thường có chẳn mười hai tháng, kể tính năm nhuần ta có tháng mười ba. Một tháng nói chung chung ba mươi ngày, một ngày có mười hai giờ, một giờ có sáu mươi phút, một phút có sáu mươi giây, dài giòng quá. Dễ nhất là thử nín thở vài giây, ta nghiệm ra ngay là tiếng tíc tắc sao mà kim đồng hồ đánh chậm quá. Thời gian vẫn điềm nhiên quay không suy suyển không biết mệt, không bị ảnh hưởng tác động bên ngoài, ngay cái vòng trần tục sinh bệnh lão tử cũng chẳng làm hề hấn gì. Thế nên còn sống là còn nhớ đến Tết, thời điểm khoảnh khắc hòa hợp mới cũ, ươm mầm hy vọng vào tương lai. Tuy nhiên tùy quan niệm truyền thống tập tục mỗi nước hưởng Xuân theo cách riêng.
Hằng năm, nhìn lá đổi màu rồi rơi rụng trơ cành ở cuối thu, gió vi vút không làm tan biến sương mù càng ngày càng dầy đặc, lò sưởi nhà nhà bắt đầu mở đốt lên, đó là vài báo hiệu mùa Ðông sắp sang ở các nước phương Tây. Mùa lạnh kết thúc năm cũ và mở đầu năm mới theo dương lịch nên có khi còn được tô điểm thêm sự hiện diện của vầng trăng. Người phương Tây cũng chuẩn bị chu đáo việc đón Xuân theo tập tục và nhất là hòa hợp với khí hậu riêng. Hình ảnh khắc họa đẹp nhất đối với trẻ em là ông già Noẽl mặc áo đỏ, râu bạc trắng vào nhà qua ống khói mang quà biếu đặt trong chiếc giày của các trẻ con đã được trịnh trọng sắp trước gần lò sưởi đêm rạng Chúa ra đời. Càng văn minh hơn, báo chí, hội đoàn từ thiện hằng năm không quên tổ chức buổi phát quà do chính các ông già Noẽl cho các trẻ ngoan nghèo. Còn có hộp thư đặc biệt của Ngài riêng nhận thư xin quà hay tâm tình nguyện vọng của các em. Biểu tượng nầy càng ngày càng lan rộng khắp toàn thế giới theo ảnh hưởng bành trướng của tôn giáo và bước chân viễn chinh truyền bá văn minh nối vòng tay đoàn kết.
Cứ nhìn thấy những tờ lịch rơi dần như lá ngoài trời đến trơ cành, năm mới sắp sang, tuổi thọ sẽ tăng. Người Việt xa xứ cũng nhẩm trực ra rằng Tết ta sắp đến. Những ai lớn tuổi tha hương nhớ nhiều hơn, nếu còn đi làm thì hy vọng ngày đầu năm rơi đúng ngày nghỉ cuối tuần, người già gặp lại cháu con hy vọng nhắc nhỡ duy trì phong tục lễ nghi truyền thống bao đời. Có được sống hội nhập tự do và nếp sống văn minh nước ngoài, chúng ta càng nhận chân công ơn của tổ tiên chẳng những đã dày công trong việc dựng và giữ nước mở rộng về phía Nam từ Nam quan đến Cà mau mà còn đúc kết từ kinh nghiệm sống còn, tinh thần đạo đức cao đẹp truyền lại cho thế hệ sau thấm nhuần bàng bạc ngay cả trong dịp lễ lạc vui chơi mà Tết là hàng đầu.
Khác hẳn với không khí và tinh thần hưởng Xuân của người Âu Mỹ, tổ tiên ta hướng về nội tâm, đạo đức, siêu hình, đời sống vĩnh hằng chẳng hạn. Quá khứ vẫn là kho tàng tích tụ ký ức kỷ niệm cá nhân gia đình tập thể, bàn đạp giàn phóng hành trang vào tương lai. Dân tộc nào cũng có phong tục truyền thống, mỗi nơi mỗi khác có ý nghĩa đặc thù và đổi mới theo thời gian. Do đó không thể qua lăng kính nhìn mới riêng mà phê bình khắt khe là « mê tín dị đoan », cổ hủ lạc hậu nhất là những tập tục xưa trong thời kỳ chưa có ánh sáng của khoa học kỷ thuật, tôn giáo. Vả lại quan niệm nầy cũng thay đổi theo nếp sống con người càng ngày càng cải tiến cho phù hợp với thời đại mới qua kinh nghiệm và sự cọ sát với ảnh hưởng thực tế bên ngoài.
Chúng ta ai cũng biết rằng quá trình mọi sự diễn tiến từ dễ đến khó, từ cái không đến có, từ cái hoang đường mơ hồ của truyền thuyết, huyền thoại đến tiến dần đến chính sử, tất cả đều có khởi đầu giản dị thô sơ rồi từng bước tới khúc mắc rắc rối khó hiểu, mà thật ra không biết đến bao giờ mới giải quyết nổi và dứt khoát được.
Bàn về nguồn gốc con người chẳng hạn, nguyên thủy từ đâu, từ ai, từ khỉ, từ Adam và Ève, vẫn chưa ai khẳng định được.. Trời, Ðấng Tối Cao, Con Tạo, ai biết ? Vì vậy bất cứ dân tộc nào cũng cố tìm hiểu gốc gác mình, và truyền thuyết tốt đẹp đó từ lúc thuở sơ khai đâu thể nào căn cứ vào khoa học kỹ thuật xác suất được. May mắn cho chúng ta có huyền sử đẹp « con Rồng cháu Tiên » đáng tự hào.
Về tôn giáo cũng thế, tin hay không là do mình thôi, mà tin là phải chấp nhận không thể đòi hỏi những tín điều của các tôn giáo phải xác minh đúng như sự thật. Thật ra các tôn giáo lớn như Thiên Chúa giáo, Phật giáo cũng có những huyền thoại linh thiêng quanh Ðức Mẹ, Ðức Chúa Jésus, Ðức Phật, tất cả đều được du nhập vào nước ta. Tín đồ phải có tên thánh hay pháp danh. Dân ta lúc sơ khai chỉ thờ cúng Trời Ðất Thánh Thần ông bà cha mẹ đã qua đời.
Ngày nay chúng ta lại phân tích mọi sự việc bằng lúp, kính hiển vi ngay cả vấn đề vô hình sinh tâm lý. Dù đó là những đức tính quí cần thiết trong thời đại văn minh để truy nguyên mọi vấn đề nhưng cũng phải nhớ rằng chúng ta có được các kiến thức ngày nay là phải qua một thời gian lịch sử xã hội u u minh minh, một quá trình kiên trì khổ công của người đi trước.
Cũng như bao dân tộc khác, người Việt ta thường rất bảo thủ tự hào về nguồn gốc của mình nên luôn cố gìn giữ truyền thống lưu lại cho thế hệ sau. Thế nhưng do ảnh hưởng của thời cuộc và nhất là nền văn minh chói lòa ngoại Á Âu Mỹ, « Cô gái Việt Nam » xinh đẹp lại « bị » nhiều người gấm ghé tranh giành, tập trung hầu hết các dân tộc trên thế giới trắng vàng xám đen, thể chế, ý thức hệ. Cái tính vọng ngoại của ta đã manh nha lúc đầu qua chế độ lệ thuộc Tàu, sau đó dưới thời Pháp thuộc, rồi đến Mỹ và các nước đồng minh tư bản miền Nam, khối cộng sản phia Bắc, càng ngày càng bành trướng mạnh rộng hơn có khi đến độ trở thành thiếu lễ độ, mất hướng, quên ơn, bất công không chính xác với thế hệ xưa.
Hơn thế nữa, thay vì tránh vết xe đổ của người đi trước, thế hệ sau lại từ cực nầy sang cực khác, cực kỳ phản đối chê trách sự mù quáng mê muội của cha ông để rồi lại dẫm chân vào vòng lẩn quẩn đó bằng sa vào « mê hồng trận » vọng ngoại mới dựa vào văn minh khoa học kỹ huật.
Nhìn trên bảng đồ thế giới mới thấy thương cho đất nước nhỏ bé hình chữ S luôn luôn phải gồng mình đối phó với cái mũ kim cô Tàu vừa to vừa nặng úp xuống, nay nghiêng vờn bên Ðông mai ập cánh Tây. Qua lịch sử toàn cầu, các bạn có tìm thấy dân tộc nào bị đô hộ trên nghìn năm mà chẳng những giành lại được độc lập, không bị đồng hóa, không mất tiếng nói văn hóa mà còn thức thời mỡ bờ cõi về phía Nam cho đến Cà mau. Mỗi phân đất quê hương là mồ hôi máu nước mắt của bao thế hệ trước chan hòa trong đất nước để con cháu có một cái tên, xưng danh Việt Nam.
Hậu sinh chúng ta còn phải nhìn nhận rằng tổ tiên ta rất văn minh dân chủ từ xa xưa nên đã chủ xướng được cuộc Hội nghị Diên Hồng « trưng cầu dân ý » « nên hòa hay chiến ». Phải có một nền văn hóa đúng đắn lồng trong tình yêu người yêu nước cao độ, tinh hoa mới phát xuất như trong bài « Hịch các tướng sĩ » của Trần Hưng Ðạo, « Nam quốc sơn hà Nam đế cư » của Lý Thường Kiệt,…
Từ đầu thế kỷ thứ nhất chúng ta đã tự hào có những anh thư nữ kiệt Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị đuổi Tô Ðịnh xưng Trưng nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh khoảng năm 40, rồi đến Triệu Trịnh nương đánh với Ngô khoảng năm 248 thế kỷ thứ ba trong khi đó cho đến thế kỷ thứ 15 Pháp mới có nữ anh hùng dân tộc Jeanne D’Arc.
Sử kiện nầy không chỉ những chứng minh tinh thần trách nhiệm đồng đều giữa nam nữ « Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh » mà điều đáng nêu lên là, ngay từ thế kỷ thứ nhất Công nguyên, một nước nhỏ bé chưa thành hình như ngày nay, cô thế luôn bị hăm dọa thôn tính cho đến ngày nay chưa dứt , lại khởi xướng tư tưởng tự do bình đẳng chính trị không phân biệt đối xử cả với giới tính trong vai trò lãnh đạo. Ðó có phải tinh thần đích thực chủ yếu làm nền của cuộc « bầu đúng cử xứng » trong các cuộc tuyển cử thời văn minh hiện đại nầy sao ?
Rất tiếc ngay ở thế kỷ thứ hai mươi mốt nầy rồi vẫn vì cục bộ, đảng phái, …có nhiều nước tự do kể cả cường quốc vẫn còn giữ thái độ « kỳ thị » đố kỵ nam nữ mà họ luôn hô hào to tiếng bài trừ là « thiếu văn minh », lạc hậu. Như vậy bài học kinh nghiệm lịch sử cho ta thấy bài ngoại quá độ, như một thời dưới triều Nguyễn, hay ngược lại vọng ngoại mù quáng đều đưa đến hậu quả tai hại là mất gốc và mất nước thật đáng tội với tổ tiên.
Ngày xưa nền giáo dục luôn đề cao « tiên học lễ, hậu học văn ».Trong đời sống xã hội phải tuân theo lề lối phép tắc, phải « đải lễ » với nhau mới sống chung được. Tục ngữ còn có câu « Thờ thì dễ, giữ lễ thì khó » chứng minh rằng ông cha ta thật văn minh sâu sắc trong việc giữ, phát huy truyền thống « lể » nầy từ đó xác định một cá tính căn bản của dân Việt, lòng tri ân. Nếu không biết tự trọng thì chẳng ai trọng mình và không biết trọng người khác thì cũng chẳng ai lại nễ trọng mình. Vô ơn chỉ đưa đến việc phá sản phong tục tốt đẹp dân tộc đến vong bản. Do đó, Tết quả là thời điểm thích hợp nhất để chúng ta có dịp, qua lễ, « ôn cố tri tân », nhắc lại cùng nhau cội nguồn, công ơn của những người đi trước đã gầy dựng cho chúng ta ngày nay và bổn phận của chúng ta phải biết chọn lọc dỡ hay truyền lưu lại cho thế hệ hậu sinh.
Về tôn giáo, thật ra nước ta không có những vị Giáo chủ sáng lập như Ðức Phật Thích Ca, Chúa Jésus, Mahomet. Ðiều đó không chứng minh rằng nước ta theo chủ nghĩa vô thần mà hữu thần vì từ ngàn xưa tổ tiên ta đã có tập tục thờ cúng Trời Ðất, những người quá cố khuất mặt, những Thần linh, hiện tượng siêu nhiên, hiển linh có liên quan ảnh hưởng đến đời sống trần gian.
Vì thế, mỗi nước mỗi đạo có cách thờ cúng riêng, cách thể hiện cũng khác. Một trong những nghi thức chẳng hạn là lạy vì đi chùa cũng lễ Phật, tín đồ của đạo Hồi cũng phủ phục bái lạy. Tuy nhiên mục tiêu và cách biểu hiện lòng tôn thờ trong các đạo khác hẳn của Việt nam. Nói đến lạy, nhiều bạn quá khích như « đỉa phải vôi » nhún trề phê một phát thẳng thừng nào là cổ hủ, nào là lạc hậu, quê mùa, kém văn minh. Thiếu lễ độ và vô ơn đấy.
Cần nhấn mạnh đến điểm đặc thù ở đây là ông cha ta đã chẳng những có sáng kiến sử dụng việc lạy áp dụng trong lễ nghi thích hợp với tâm tình, trình độ, nguyện vọng cầu an cầu tiến của người dân trong đời sống bình thường, mà còn lồng vào đấy một ý nghĩa hết sức tối tân táo bạo, đó là cách cụ thể hóa bằng hành động cử chỉ biểu dương tình cảm trừu tượng vô hình, cân bằng tâm hồn và thể xác « un esprit sain dans un corps sain » ( một tâm hồn lành mạnh trong một thân thể tráng kiện ). Tuyệt vời !
Lạy quả là phong tục đặc biệt riêng của nước ta không phải ảnh hưởng ngoại, của Trung hoa vì người Tàu không có tập tục nầy. Lạy là thể cách để biểu thị một cách khiêm tốn, thành khẩn trang trọng lòng tôn kính tri ân người trên trước, sức mạnh vô hình vượt quá tầm hiểu biết, hay người quá cố với tất cả thành tâm và thể xác. Vì thế ông bà ta rất tế nhị về ý nghĩa đặc biệt trong việc tế lễ nầy nên phân biệt rõ vào trường hợp nào cần lạy, lạy bao nhiêu lần và cả về thế lạy nam nữ.
Thông thường có ba trường hợp : 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy mà hai trường hợp 2 và 4 lạy là hoàn toàn mang dấu ấn Việt nam. Ngày Tết, con cháu « mừng tuổi » ông bà cha mẹ còn sống bằng hai lạy. Nói dễ hiểu hơn, lạy người sống hoặc người quá cố chưa chôn lớn tuổi hơn mình hay vai vế trên mình như khi dự đám tang. Khi đi chùa, 3 lạy. Ở đây tín đồ nam nữ lạy giống nhau theo cách lễ Phật, cách phủ phục, tùy theo qui luật của mỗi chùa. Bốn lạy để cúng ông bà cha mẹ quá cố trước bàn thờ, như trong ngày giỗ hoặc trong ngày Tết lễ gia tiên.
Về thế lạy, tổ tiên ta lại đặc cách cho con cháu Rồng Tiên thấy ý nghĩa cao đẹp của tập tục chính thống Việt Nam nầy dựa vào cấu trúc cơ thể và triết lý Ðông phương âm dương. Thế lạy của phái nam tượng trưng cho dương, chủ yếu theo cách thể đứng thẳng, bái gối, thể hiện cái khí phách kiêu hùng, nhịp nhàng, cân bằng, thành tâm trang trọng. Trái lại thế lạy phái nữ là cách ngồi trệt trên đất, chủ âm, nên có tính cách mềm mại, thanh thoát, uyển chuyển, nhẫn nại, dịu dàng, trang nghiêm.
Tuy nhiên, càng ngày vì ảnh hưởng của tiện lợi trong đời sống và nhất là cơn sóng văn minh và tôn giáo ngoại, mặc âu phục rất bất tiện không thích hợp cho việc lạy, ít còn bàn thờ gia tiên nên việc lạy thường được thay thế bằng xá vái.
Suy cho kỹ, tổ tiên ta đâu có lạc hậu cổ hủ mê tín dị đoan phải không các bạn trẻ ? Bằng mọi cách suy diễn sáng tạo, ông cha ta luôn tìm cho dân tộc một hướng đi riêng, không vay mượn nếu không thấy thích hợp, giản dị hóa nếu cần mà tế nhị vẫn cố duy trì giềng mối, mọi truyền thống văn hóa tốt đẹp trong đó thờ cúng là một mà lễ lạy là một dấu ấn triện độc đáo về văn minh dân tộc. Và biết đâu, há đó cũng là điềm báo manh nha phong trào thể dục thể thao, thể dục thẩm mỹ ngày nay.
Người ngoại quốc cũng rất ngạc nhiên thích thú khi có dịp « ăn Tết » Việt nam. Chẳng những thời gian thích hợp giao hòa giữa trời đất và con người, không lạnh quá như ở Âu châu, không thật nóng như Phi châu hay như trong mùa nắng thiêu đốt thiếu nước, không ướt át lầy lội vì những cơn mưa bão lụt gió mùa mà cả cái không khí vui tươi đầm ấm đượm tinh thần quốc hồn quốc túy Việt nam đón Xuân, tất cả quyện lấy nhau như thành một khối sức mạnh đoàn kết dâng lên Trời đất tổ tiên lòng biết ơn của con cháu, nhân danh người còn tại thế và niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng hơn.
Mỗi nghi thức đón Tết đều có ý nghĩa riêng không trùng hợp, không mê tín hời hợt và tập trung vào tiêu đề căn bản quá khứ và tương lai, duy trì và biến đổi, tri ân và hy vọng. Ai cũng biết rằng kiến thức con người thâm sâu thế nào đi chăng nữa vẫn bị chi phối giới hạn bởi một sức điều khiển siêu hình phi thường không cưỡng được, như rốt cuộc không ai tránh được cái chết.
Do đó tổ tiên rất khôn ngoan cân nhắc cách giáo dục căn bản mối liên hệ giữa mọi tình huống ở đời. Việc thờ cúng tổ tiên hay những vị khuất mặt đó có phải cũng là một phương pháp huấn luyện cách cảm nhận, nhân sinh quan quen thuộc bớt sợ hãi về cuộc sống ngày sau bên kia thế giới. Bàn thờ là một công cụ, một hiện vật để biểu dương mối giây liên lạc, một làn sóng chuyển đến « thế giới ảo », vô hình. Bằng óc tưởng tượng phong phú ông cha ta đã khôn ngoan sử dụng tri thức hiện hữu để đề cập đến vấn đề siêu hình, chưa ai hiểu nổi, giả thật đúng sai, một cách tự nhiên bình dị đánh động bằng hai cá tính Việt lòng biết ơn và hy vọng.
Phần đông các nước khác hưởng Xuân như trong ngày lễ hội thường chỉ chú trọng đến hình thức hơn. Cũng tưng bừng tráng lệ trang hoàng lộng lẫy, cũng tiệc tùng, hội họp du lịch, giải trí vui chơi. Cũng không thiếu pháo thiếu lân, thiếp lời chúc tụng. Còn đối với dân ta, mỗi ngày lễ là ngày đánh dấu kỷ niệm định thêm một cái móc thời gian lịch sử xác tín lòng biết ơn cội nguồn và tin tưởng vào tương lai. Chúng ta sống nội tâm thâm trầm hơn nên luôn nhân cách hóa mọi sự kiện như một con người có thể xác và tâm hồn.
Ý tưởng đó chúng ta thấy rõ nhất trong suốt tháng ngày Tết, vậy chúng ta cùng nhau lướt qua vài nghi thức tập tục đã qua thường không chệch ra khỏi mục tiêu « ôn cố tri tân », « cây có cội nước có nguồn ».
Trong những ngày cuối năm, lễ tảo mộ bắt đầu con đường hành hương về quá khứ, chứng minh đời sống vĩnh hằng không có gì là đáng sợ bận tâm mà chỉ là cuộc hành trình đương nhiên của mỗi con người. Có « cát bụi trở thành cát bụi » hay không không ai biết, thế giới vô hình có thật hay tưởng tượng có gì làm bằng, tuy nhiên là người còn sống ở dương trần không ai tránh được các mối hệ lụy cho thân phận « sinh bệnh lão tử » và cũng phải giã từ cõi hồng trần nầy như người đi trước. Vậy nước trời, thiên đàng địa ngục,...là điểm đến đương nhiên bắt buộc của con người trần mắt thịt trong tương lai, điểm hẹn với thế giới của những người quá cố.
Ðiểm hay của cha ông Việt ta là biết dựa vào lòng tin, tin vào « sống khôn thác thiêng » của cửu huyền thất tổ và các Ðấng thiêng liêng độ trì che chở. Do đó việc rước đưa ông bà về hưởng Xuân với con cháu một cách trang trọng, thế giới vô hình và hữu hình như không giới ranh.
Việc đưa rước Thần Táo về trời báo cáo bằng bài sớ tâu chuyện trần gian thể hiện một bài học triết lý « trời cao có mắt », có những việc người trần chúng ta dấu nhẹm tưởng như không ai biết được nhưng không thể nào qua nổi lưới trời.
Tổ tiên ta còn thực tế hơn vì không những tỏ lòng biết ơn với những đấng khuất mặt qua lễ gia tiên trong đêm giao thừa, 4 lạy trước bàn thờ, mà còn mừng tuổi, 2 lạy, ông bà cha mẹ còn sống. Ðó là tập tục truyền thống đẹp tạo một sợi giây tình cảm ràng buộc đại gia đình Việt nam. Ngày nay, tập tục nầy vẫn còn duy trì, vì thế ai đi làm hay đi học xa đều cố gắng về nhà tổ đình trong ba ngày Tết, nhưng việc lạy đã được « chế » tức là được miễn từ lâu.
Nhưng rồi, theo trào lưu đổi mới, có nhiều ngày lễ, kể cả lễ tôn giáo, cũng mất dần ý nghĩa thiêng liêng mà trở thành cơ hội để vui chơi phù phiếm. Lòng tin cũng dễ bị lung lay, văn minh vật chất bắt đầu chiếm thế thượng phong, phong tục tập quán xưa bị biến thể luôn nên càng ngày càng bị chỉ trích phê bình từ bỏ.
Ngày nay chúng ta khó tìm thấy lại cái hương vị Xuân ngày xưa và cả cái hồn thiêng của ngày Tết. Thực tế quá cũng đánh mất hồn thơ, lòng tin yêu nguyên tuyền phong phú hóa cuộc đời, tạo sức mạnh tinh thần để vươn lên.
Thật ra chỉ có Tết mới là cơ hội tốt khơi dậy ở trong lòng mỗi người tình cảm thiêng liêng sâu kín nhất, trở về nguồn. Chúng ta nhận định ra rằng ta còn có những giây ràng buộc gắn bó, không hoàn toàn cô đơn, tình gia đình, thân thuộc, bạn bè đồng hương. Tình cảm như được thăng hoa hướng về người khác, hào phóng rộng lượng ,vị tha, biết tri ân và hy vọng vào tương lai.
Ngay cả chữ Tết cũng có một âm hưởng đặc biệt vui tai. Tết Tết Tết ! vang lên như lời reo trẻ thơ trước những tia rực rỡ của pháo bông, tiếng nổ đì đùng của pháo đại giờ giao thừa « tống cựu nghinh tân », những xác pháo tung tóe trong ngày lễ cưới, những bao đỏ lì xì trong ngày đầu năm làm tuổi ông bà cha mẹ. Tết quê nhà sao mà ấm cúng và đầy ý nghĩa cao đẹp biết dường nào !
Mỗi ngày cứ đến 5 giờ sáng là kẻng báo thức vang lên trong khi ngoài sân trời hãycòn tối mịt.
Tất cả tù choàng thức dậy sau một giấc ngủ như mê, đầy mệt mỏi, ai cũng lao động quá nặng nề trong việc cuốc đất đào kinh mà thời gian nghỉ ngơi quá ngắn. Có những ngày nắng gay gắt, gặp phải thế đất gò, cứng như sắt, toán đào kinh về tới trại thì trăng đã lên, nhảy ùm xuống kinh tắm vội vàng, vô tới chỗ nằm là căng mùng ra ngủ chẳng kịp nói với người nằm bên cạnh một câu nào; gặp hôm mưa dầm, ra lãnh lô đất: nước lên tới gối, be bờ, tát nước xong có khi gần hết buổi sáng. Làm việc với hết sức con người mà mỗi ngày lãnh 2 ca cơm với 1 phần canh lưng chén (thường là rau, bí luộc với muối và chút mỡ heo); đào kinh 2 thước rộng, 2 thước ngang, sâu 1 thước rưởi, đáy 1 thước, triên bờ bảy-ba, hai con kinh song song, phần giữa sẽ đắp thành con lộ, bờ đê hai bên bờ kinh sẽ trồng chuối và trồng khóm. Chương trình còn dự định xả phèn đất Ðồng Tháp bẳng cách đào những con kinh nhỏ, xẻ dọc ngang cho nước chảy ra con kinh lớn mà lao động chính là lực lượng tù của trại “cải tạo” Mỹ Phước Tây.
Không biết “người ngồi trên” đã nghiên cứu kỹ chưa chứ theo cách đào kinh nầy thì sức khỏe của tù ngày sẽ kiệt dần vì “chế độ” ăn uống quá kém mà việc làm lại nặng nhọc, trong khi mỏ phèn của Ðồng Tháp Mười thì quá lớn. Hơn 5 giờ sáng đã xuất trại, lội ruộng, băng đồng, trung bình mỗi ngày hơn 6 km mới tới nơi, đi và về đã muốn hết... hơi chứ đừng nói chi đến việc đào kinh.
Tuần lễ đầu tiên mới chuyển từ trại Hoà Ðồng lên đây, tôi cảm thấy toàn thể xương trong người rã rượi, bắp thịt của tay mỏi nhức như dần, không có ngày nào tôi đào xong phần đất, thường đều phải nhờ anh em trong toán phụ tiếp, một điều làm cho tôi hết sức ái ngại, bởi bạn bè đã mệt mỏi sau phần đất của mình nay còn phải bỏ công đào giúp; cả toán phải xong, sau khi tên "chịu trách" kỉểm tra thấy đạt thì cả toán mới được tập trung chờ điểm danh ra về, nên dù không muốn, anh em cũng phải phụ nhau để được về sớm. Nhiều khi vì mệt mỏi quá, không ai phụ ai nên trăng đã lên mà tôi vẫn còn nguyên cả lớp đất cao khoảng hơn 4 tấc. Anh em tù thường gọi đùa là “còn đứng trên bục thuyết trình” vì mọi người đào, chân đã đặt xuống đến lớp đất đáy mà mình còn đứng trên cao với quần xà lỏn, áo rách vá chầm, mặt mày đầy bùn đất; khi nào xong, ra vũng khoát nước rửa mặt, rửa xong lên tôi mới thấy nhẹ người, mới thấy một ngày lao động với tôi thực sự... hết.
Ngoài cái khổ về lao động vất vã, còn một nỗi khổ khác mà hầu hết đám sĩ quan trẻ chúng tôi phải cắn răng chịu đựng là việc ăn ở chung chạ với đủ thành phần trong xã hội, nằm cạnh người biết điều còn đỡ, rủi ro nằm bên tên lưu manh thì thật là khổ tâm (từ hạ sĩ quan, binh sĩ đến trộm cắp, chiêu hồi). Vui thì nó cười nói, buồn thì bị nó chửi xiên, chửi xéo:
-“Ðồ cái thứ quen thói ngồi mát ăn bát vàng, đồ cái thứ chỉ tay năm ngón, bây giờ cho... chết mẹ tụi bây luôn ".
Chưa kể đồ đạc, hở ra là bị mất cắp, nếu nóng mặt trả lời lại, đêm ngủ nó giả đò mớ, quơ chân đá vô sườn, vô lưng (trại nầy trước khi chúng tôi đến chỉ có vài sĩ quan, còn lại đa số là tù hình sự).
Trại cải tạo Mỹ Phước Tây nằm trên trục lộ Cai Lậy - Kiến Tường, trước đây là căn cứ pháo binh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Phía sau trại là phố chợ của khu trù mật Mỹ Phước Tây. Trước và bên hông trại là hai dòng kinh Dương văn Dương.
Mấy tháng đầu, tôi ở trong nhóm do chú Tư Hiếu làm nhóm trưởng. Chú là người có cấp bậc cao nhất của nhóm nầy, thượng sĩ, thuộc chi khu Cái Bè, tính đằm thắm rất dễ chịu, hiểu đời. Chúng tôi khoảng 10 ngưởi, đều là sĩ quan từ trại cải tạo Hoà Ðồng lên, nhập vào nhóm nầy, sống chung với nhau trong một gian nhà cột tràm, lợp đưng, vách chầm lá, khoảng 50 mét vuông. Khi tôi tới, đã có sẵn trên 40 tù với 6 em “Phục Quốc” đang bị còng chân chung một thanh sắt; phòng quá chật, nền đất, tôi phải nằm chung mùng với thiếu úy Tài, trung đội trưởng Thám Báo, tiểu khu Gò Công, cạnh Tư Què, nhỏ hơn tôi khoảng 5 tuổi, can tội trộm.
Những buổi lao động về trễ, nhìn thấy ánh trăng lấp ló trên trời tôi mới thấy thấm thía câu "Một nắng hai sương" mà trước đây tôi chỉ hiểu lờ mờ. Bây giờ chạm thực tế mới hiểu rõ: sáng đi sương còn mờ mịt, tối về sương rơi ướt tóc... Nhóm sĩ quan Gò Công chuyển lên trại nầy khoảng trên một trăm, cùng chung cảnh khổ nên dễ kết thân với nhau, nhưng hầu hết anh em đều không quen với việc lao động, nên sức khoẻ sút kém trông thấy rõ. Trại chia ra làm 3 hệ, mỗi hệ chia thành từng nhóm ở chung nhau: hệ quân đội, hệ cảnh sát và hệ hành chánh. Một dãy ngang, hai dãy dọc, chính giữa là nhà bếp và trại tù nữ, sát bộ chỉ huy là dãy nhà nhỏ dành cho những người bệnh dễ lây như lao, cùi... Chức sắc trong nhóm có 3 cấp: nhóm trưởng, nhóm phó, thư ký nhóm do anh em bầu lên, cũng có khi do trại chỉ định (thực ra do Bảy Quế chỉ định). Khi ra lao động thì do một số quân đội và cán bộ Việt Cộng bị nhốt về các tội tham ô, hủ hóa hay chiêu hồi dẫn đi, có võ trang súng ống đầy đủ đi kèm. Thường là súng trường CKC, thỉnh thoảng mới thấy có súng AK. Những tên tù chức sắc nầy được gọi là “chịu trách”. Thường những tên “chịu trách” này rất sắt máu và hắc ám hơn cán bộ trại bởi họ muốn lập công, chuộc tội để được tha về sớm . Trưởng bên tù Nam là Bảy Quế, một tên Việt Cộng bị ghép tội phản gián. Tên nầy ốm cao, người miền Nam, chịu trách nhiệm điểm danh xuất trại cũng như điểm danh vào buồng buổi tối, có quyền đề nghị biệt giam và cũng thường ngồi chủ trì các buổi họp kiểm điểm ở đội. Bên nữ là Bà Hai Cốt cũng can tội gián điệp (Sau ngày sập tiệm, báo Sài Gòn... Lóng Cóng có đăng một tiểu thuyết gián điệp mà Bảy Quế và bà Hai Cốt là 2 nhân vật chánh.)
Ở tù với Việt Cộng ít khi tù được ở yên; ở trong nhóm nầy vừa tạm ổn, tương đối vừa mới hiểu rõ tính tình nhau là chuyển đổi qua nhóm khác, bởi vậy trong tù có câu: "Thứ nhất tự khai, thứ hai đổi nhóm”. Tôi chuyển qua nhóm 20, nhóm trưởng tên Ðẹp, trung sĩ cảnh sát, nhóm phó là Khanh, thượng sĩ quân cảnh tư pháp. Hai tên nầy sống có vẻ cách biệt với anh em trong đội, thường thích tỏ ra mình là cấp chỉ huy, và có vẻ không ưa gì đám sĩ quan từ Gò Công lên. Tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi cũng phải cố gắng thích ứng để sống, thực ra trong nhóm nầy cũng có vài sĩ quan Gò Công nhưng tôi chỉ có một người bạn là Võ Văn Trầm, khóa 2 CTCT Ðà Lạt, thuộc Sư Ðoàn 9 là tương đối thân thiết với tôi, ra lao động, chúng tôi vẫn thường đào đất 2 lô tiếp giáp nhau, Trầm có sức hơn tôi nhưng để hoàn thành phần kinh đào cũng phải hết sức vất vã.
Buổi sáng, các đội tập trung ngoài sân trại, trong lúc chờ đợi điểm danh xuất trại, một số anh em tìm những tảng đá xanh mài lưỡi len cho bén, âm thanh rền vang trong cảnh trời còn tối đen; Bang, Ðại úy phân chi khu trưởng xã Long Thuận thường chỉ cảnh mài len cười nói:
- Coi kiếm sĩ mài gươm dưới ...mây kìa.
Hôm nay đào kinh tận giáp hạt nên Bảy Quế cho xuất trại sớm, trên 600 tù, tay cầm len, tay xách bị đựng cơm nước, đi thành một dọc dài trên con lộ cặp bờ kinh, đường liên lộ đến Kiến Tường, ngang qua trại tù Vườn Ðào (tù nhân trại nầy toàn là sĩ quan, có một nữ sĩ quan là trung úy Nguyệt) tôi nhìn thấy anh em trong trại này còn trên sân chưa ra lao động. Gió buổi sáng mang chút sương đêm còn sót lại, cảm giác lành lạnh nhưng rất dễ chịu, thỉnh thoảng có vài bạn tù băng vội xuống ruộng bên đường hái rau diệu, rau má hoặc rau dền, hay tấp vào quán bên đường mua nải chuối, gói xôi... Có tốp đi trong im lặng, cũng có tốp cười nói râm ran
- Ê Mỏng, hôm nay chắc trời sẽ mưa lớn.
Thằng Trầm đi bên cạnh nói với tôi:
-Tao khoái trời mưa, mưa cho thiệt lớn, đỡ phải đào đất.
Thật vậy, mưa có lạnh lẽo và ướt át thật nhưng nước ngập tràn, thấy đường đâu mà đào với đắp, chúng tôi tìm bờ đất cao, ngồi rút mình dưới cái nón lá, trông mỏng manh như một cây nấm dại. Thường, cứ thấy bầu trời còn nhiều mây đen, liệu mưa khó dứt hột là Bảy Quế cho thu quân, phần lớn cho thu quân khi trời mưa là do đám vệ binh sợ tù trốn trại, chứ đâu phải chúng thương yêu mà sợ tù bị lạnh.
Trời dần sáng tỏ, khi tới gần giáp hạt, thỉnh thoảng trên đường liên tỉnh có chuyến xe đò Sài Gòn - Kiến Tường chạy ngang qua, nhiều hôm tôi kịp nhìn thấy ánh mắt thật buồn của một cô gái nào đó ngồi bên cửa xe làm tôi chạnh lòng nhớ tới những ngày công tác tại quận Phú Lộc, chiều chiều buồn ngồi một mình trong quán ven đường, nhìn xe cộ tấp nập qua lại với tốc lực thật vội vã từ Sài Gòn về Bạc Liêu hay Cà Mau, bên chai bia, gói thuốc lá mà nhớ tới Sài Gòn, nhớ đến con đường Cường Ðể mỗi khi mùa hè đến, cổng trường rực rỡ xác hồng của hoa phượng, có cô bé mắt nâu vén vạt áo dài ngồi vào yên sau chiếc xe Honda dame màu xanh, vòng tay ôm thật sát tôi... Quận Phú Lộc này tôi đến công tác có một tuần lễ, nhưng những người lính và dân ở đây còn để lại trong lòng tôi nhiều cảm tình đẹp, nhất là thiếu tá Phát, vị quận trưiởng đẹp trai, mà tôi cũng vừa hay tin đã tự sát trong ngày của Tháng Tư đen... Bây giờ, nhìn chiếc xe đò chạy ngang, tôi có một ước muốn thật tầm thường là được ngồi trên chiếc xe đò để về Sài Gòn, một việc còn khó hơn là bắc cầu qua biển nối Gò Công với Vũng Tàu... Bây giờ, trước mặt là một cánh đồng mênh mông cạnh những thửa đất hoang ngập đầy nước và cây điên điển. Trời tháng Mười hoa điên điển nở vàng, màu vàng thật đậm... đứng từ xa trông cũng đẹp mắt lắm.
-Ê Trầm, cố gắng đào lẹ, phụ tao hái bông điên điển chiều về nấu canh chua ăn.
- Ðể coi trúng lô đất nào, gặp chỗ nhiều nước quá, tao với mày làm... trâu nằm vũng chứ làm sao mà xong sớm được.
Thằng Trầm nói xong ngước nhìn trời, nó chỉ đám mây đen đang từ hướng Nam kéo tới .
-Tao cá với mày là hôm nay mưa lớn lắm, lo mà tìm chỗ trú mưa chứ đào đục gì mà đào.
Bảy Quế vừa căng dây cặm tiêu, chia lô vừa nhìn trời rồi lẩm bẩm:
- Hôm nay chắc trời mưa suốt ngày .
Tôi và Trầm đứng nhìn lô đất mới lãnh, nước lên tới đầu gối, đỉa trâu lội lều bều. Trầm ngó mặt lên trời cười ngất:
-Hôm nay cúm núm kêu rồi Mỏng ơi! (Cúm núm kêu lúc trời giáp tối) Hút một điếu thuốc rồi tính sau.
Trầm móc bao nylon đựng thuốc rê ra vấn một điếu rồi thảy chuyền cho tôi.
-Ðắp bờ xong, tát cạn nước cũng trưa trật rồi, chỉ còn mong mưa tới sớm. Lao động là vinh quang mà Mỏng.
Tôi nói nhỏ vừa đủ cho Trầm nghe :
-Nhưng mà không lao động là... vinh râu đó nghe Trầm. Kệ, tới đâu tới, hút thuốc uống nước, rồi ngồi... cầu mưa.
Tôi trả lời với Trầm mà mắt nhìn quanh, bạn tù mọi người cũng đều lo lắng nhìn lô đất. Có nhiều người cùng nhau hợp tác, bắt đầu be bờ tát nước. Trầm bắt đầu cầm len khui hộc, nó xắn ngầm từng tảng đất thật to, tôi nhìn cục đất mà thấy ngán ngược. Ðặt len nằm trên bờ, tôi xắn quần, bắt đầu ôm đất đắp bờ. Dù đang lao động nặng nhưng vì buổi sáng hôm nay mây âm u, gió lại sắt se, gần nửa thân mình ngâm dưới nước nên tôi cảm thấy trong người ớn lạnh. Cho tới gần 10 giờ thì bờ bao cũng đã đắp xong, Trầm buông len, giơ chân lên khỏi mặt nước, cả chục con đỉa trâu bám đầy ống quyển, mập căng đầy máu. Nó kéo từ con ra khỏi da, máu chảy đỏ nước. Trầm nhìn quanh, thấy chẳng có chỗ nào để giết đỉa, đành quăng ra xa mà coi bộ ấm ức lắm, nó móc túi lấy chút thuốc rê quẹt lên vết đỉa cắn để cầm máu, miệng lầm bầm chửi thề. Tôi cũng chẳng khá hơn gì nó, chốc chốc thò tay xuống nước là kéo ra một chú đỉa... Dưới mắt tôi, ở đây đỉa đúng là... lềnh như bánh canh. Trầm phụ tôi tát nước và kiểm soát lại các nơi rò rỉ .
- Nghỉ chút Mỏng, kiếm cái gì ăn, tao thấy đói rồi.
Thằng Trầm khoát nước rửa tay, lên bờ móc thuốc vấn hút và đi lần đến chị gánh hàng. Nó mua 2 gói xôi, tìm bờ cao ngồi rồi vẫy tay gọi tôi .
Tôi đi lần tới, Trầm vừa ăn vừa phân công :
-Tao xắn đất ngầm, mày dùng thùng đạn tát nước cho nhanh, khi nào cạn nước thì phụ đào với tao.
Trong không khí lành lạnh, trên 600 người tù trải dài một khoảng tầm xa nhìn mút mắt. Nhiều lô đã tát nước xong, đất được len vụt lên bờ đều đặn, mỗi cục đất với hình dáng và trọng lượng gần giống như nhau, liên tục bay bay lên bờ.Những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rơi, thằng Trầm cười cười nhìn tôi:
- Ê, khoẻ rồi Mỏng à ...Coi trước chỗ nào có lùm cây cao để đụt mưa, tao nhìn đám mây này thấy mưa tới chiều chưa dứt. Mày nhớ bọc thuốc hút lại cho kỹ, lạnh mà không có thuốc hút là buồn lắm đó.
Tôi nhìn quanh, cả cánh đồng đưng chẳng có cây nào có tàn cao đủ để núp mưa. Nhìn xa, ngoài đường lộ thỉnh thoảng có xe đò chạy qua, cũng có những bàn tay như vẫy chào. Nhìn lên bầu trời thì mây đen vần vũ, hạt mưa đã bắt đầu nặng hạt. Rất nhiều anh em tù bỏ lô đất lên bờ đứng hút thuốc. Gió bắt đầu thổi mạnh và cơn mưa cũng trút giọt ào ào.
Mình mẩy ướt nhem, tôi và Trầm xách bị cơm chạy núp mình vào một đám đưng gần kề, che sụp nón lá lại mà nép mình tránh mưa. Mưa thật nặng hạt, chốc chốc hai đứa rút chân lên, lấy tay gỡ bớt đỉa, đỉa trâu no máu con nào con nấy mập ú. Thằng Trầm càu nhàu :
-Lao động là vinh quang, tụi mầy không làm mà cứ theo hút máu tao hoài, chết nè con.
Thằng Trầm dùng thân cây đưng lộn ngược con đỉa ra, máu đỏ ướt cả tay nó.
Trời đã trưa mà mưa không dứt hột, bụng đói mà không biết làm sao ăn. Gió lộng tứ bề, tôi cảm thấy lạnh, cái lạnh không bình thường như mọi khi gặp trời mưa. Trong người tôi hình như có tới hai luồng lạnh, một từ trong xương lạnh ra, một từ ngoài lạnh vào.
-Ê Trầm, hình như tao bị cảm, tao thấy lạnh quá, không làm sao chịu nổi.
Tôi vừa đánh răng bù cạp vừa nói với Trầm, nó nhìn tôi bằng cặp mắt ái ngại:
-Giữa đồng không mông quạnh như vậy thì làm sao có chỗ khô ráo mà tránh mưa, tránh gió. Mầy thử lựa chỗ nào nước cao ra đó trầm mình xuống nước, ló đầu lên, che nón lá kỹ lại coi có đỡ lạnh hơn không. Dân quê mình ra đồng làm ruộng gặp mưa to gió lớn vẫn chống lạnh bằng cách này.
Tôi đảo mắt nhìn qua một lượt, mấy cây điên điển nở hoa vàng đang lả mình theo từng cơn gió giật, có nhiều khóm chỉ còn ló thật ngắn chút đọt, trong lòng thấy ngao ngán, tôi lách đám đưng, lội chậm chậm về hướng bụi điên điển, từ từ ngồi xuống nước, chỉ để ló từ cổ trở lên. Quả nhiên thấy ấm hẳn lại. Thằng Trầm nhìn vẻ mặt dễ chịu của tôi, nó cười khằng khặc:
- Ấm chưa Mỏng? Chừng nào lạnh hết chịu nổi tao cũng xuống với mầy
Tầm mắt tôi chỉ cách mặt nước khoảng gang tay, hạt mưa xéo mạnh vào mặt nước, rải đều chập chũm. Tiếng mưa rơi, tiếng gió từng cơn, tiếng đưng quằn ngã theo gió vang vang bên tai tôi, lòng tôi tủi buồn thương cho thân tù... Chốc chốc, tôi lại phải lấy tay rà khắp người để kiểm soát đỉa, bởi tôi vẫn thường bị mấy con đỉa lẻn vào... "bộ chỉ huy" để hút máu. Mấy con đỉa này tù bắt được thường đề quyết là đỉa ... cái. Tôi co ro ngồi dưới nước, tuy có ấm hơn ngồi trên bờ nhưng vẫn cảm thấy lạnh lắm, gió xoáy thổi vào mặt bật tung nón lá ... Mắt tôi mờ lại trước những giọt mưa, những chùm hoa vàng điên điển, trước tôi còn thấy rõ, sau dần dần mập mờ nghiêng ngả theo từng cơn sóng nước, theo từng câu hỏi hiện ra trong đầu tôi: Mẹ của tôi bây giờ đang ăn cơm trưa? Mâm cơm không biết còn được mấy món hay là chỉ trơ một dĩa rau luộc? Không biết có thêm được trứng vịt luộc dầm nước mắm, với đồng lương dạy học của chị, vừa nuôi ba, nuôi mẹ lại cưu mang thêm đứa em tội tù? ...Mỗi lần gặp Mẹ bên hàng rào kẽm gai, bên bờ ruộng, chỗ cho thăm nuôi phía sau trại, lần nào tôi cũng phải hết sức cố gắng cho nước mắt khỏi tuôn trào, bao lần tôi đã nói:
“Mẹ tìm người gửi chứ đi thăm đường sá xa xôi quá, sức khoẻ Mẹ bị suy giảm làm sao con an tâm sống được”
Mẹ ừ, mẹ hử, tay Mẹ lần xoa bóp tay con, Mẹ vuốt tóc tôi, mắt Mẹ đỏ hoe... rồi vắng một tuần lại cũng thấy Mẹ lên thăm. Mẹ đâu biết rằng khi con từ giã Mẹ trở vào nhóm là phải vội vàng lên trình diện ban chịu trách để đi lao động ngay, đó là quy luật dành riêng cho người có thăm nuôi trong ngày chúa nhật: tùy theo mùa, “lao động” có khác nhau, khi thì một thúng lúa giống lội trên 6 cây số đường ruộng; khi thì 5 cây chuối cây giống cao khoảng hơn thước; khi thì một bó đầu khóm giống. Thúng lúa giống một giạ tuy có nặng nề, vậy mà dễ di chuyển vì khi thấy mệt, tù cứ để xuống nghỉ, thời gian di chuyển không bắt buộc nhưng tù nào cũng muốn xong về sớm đề sắp xếp đồ thăm nuôi; 5 cây chuối mới là nan giải , thường thì tù dùng dây kết lại làm bè, rồi cứ dọc theo bờ kinh mà kéo tới khúc lộ, đoạn ôm từng cây băng qua, ra tới nơi, đào lỗ trồng 5 cây xong mới được về. Sau đó, tên chịu trách còn đến xem xét từng... cây coi có bị bầm dập gì không (xem cây chứ không phải xem người vì người đã bầm sẵn rồi có dập thêm thì chúng càng mừng thôi); Với đầu khóm giống càng khổ hơn vì tuy nó không nặng nhưng gai góc, nếu vác vai thì gai đâm cổ, ôm ngang eo thì làm sao đi, cách nào thì cũng bị gai quào xước cả người.
Mới mười tám tháng xa nhà mà lòng tôi đã thấy nhớ lắm. Lúc ở đơn vị, dù là đơn vị tổng trừ bị luôn phải rày đây mai đó, nhưng mỗi khi thấy nhớ nhà thì dù cho cắm trại... 200% đi nữa, tôi muốn về là tôi về, không có đơn vị trưởng hay quân cảnh nào cản ngăn tôi được, dù biết về thăm Mẹ xong trở lại là... chịu phạt. Bây giờ Mẹ tôi ngồi đó, rất muốn ôm hôn Mẹ mà không làm sao hôn được.
Mất Nước là mất tất cả, tôi bây giờ là thằng hàng binh, nhục ơi là nhục, đánh đấm kiểu nào mà phải buông súng đầu hàng! Không! Trăm lần không! Ngàn lần không! Cá nhân tôi không đầu hàng mà tôi bị bắt buộc ở trong “tập thể đầu hàng”.
Ngày còn ở trại cải tạo Huyện Tây, mỗi nửa tháng được cho thăm nuôi một lần, tù bên trong nhìn rõ thân nhân từ ngoài đường di chuyển về hướng cổng trại. Ðã có lần máu tôi chợt nóng lên, mắt tôi như tóe lửa, khi nhìn thấy cảnh Mẹ tôi hai tay xách đầy hai giỏ, nặng lầm lũi bước vào cổng trại bị một thằng võ trang dùng mũi súng gạt ngang làm Mẹ hoảng hốt chao người, mất thăng bằng suýt té, hai tay tôi đã nắm chặt lại trong niềm tức giận, Mẹ ơi! Con trai Mẹ hèn quá! Mẹ ơi! Hoàn cảnh nào đã biến con trai Mẹ thành thằng hèn. Mẹ ơi! chắc Mẹ vẫn biết thằng con trai út của Mẹ có một trí nhớ rất tốt, cả đời nó sẽ không bao giờ quên hình ảnh Mẹ mình lảo đảo trước sắt thép của kẻ thù
Mưa vẫn trải đều hột, chưa có dấu hiệu gì sắp ngớt, bầu trời vẫn một màu đen kịt, thỉnh thoảng chớp nháng sáng trời, sấm động gầm gừ rền vang, gió vẫn xoáy lốc từng cơn
-Mưa quá làm sao hút thuốc Mỏng, mầy đói bụng chưa?
Tiếng của Trầm làm tôi quay về với thực tại, Trầm đã ngâm mình xuống nước không biết lúc nào và đang ngồi phía sau tôi, thấy tôi ngoáy đầu nhìn lại, nó nhe răng cười, da mặt nó đã tái xanh dù nắng gió đồng Tháp Mười đã biến tù thành ông táo Tàu từ lâu. Người tôi run lên từng đợt, tôi vuốt mặt mấy cái:
- Lạnh quá Trầm ơi, tao chịu hết muốn nổi rồi, chút về mày cạo gió giùm tao nha Trầm. Ðói bụng quá mà mưa như vầy làm sao mà ăn, tao cũng thèm thuốc lắm rồi, mưa điệu nầy tới chiều chưa dứt. Mà tại sao lần nầy tụi chịu trách cho thu quân trễ quá vậy?
Mắt tôi thấy nằng nặng với cái lạnh, đói, lại còn buồn ngủ nữa, tôi bỗng như thấy lại hình ảnh một buổi trưa tại trại Huyện Tây: vì buổi sáng Mẹ đã vào thăm, buổi chiều tôi yên chí nằm trong phòng, ai ngờ tôi đã rất ngạc nhiên khi được gọi tên ra thăm nuôi. Mặc vội bộ bà ba đen Xây Dựng Nông Thôn, tôi ào ra cổng trai, mắt mở to đầy ngạc nhiên lẫn thích thú "Mắt Nâu"! Trời ơi Mắt Nâu của tôi lặn lội từ Sài Gòn xuống thăm tôi, đi chung với Mắt Nâu còn có Khưu thị Tuyết Mai, cũng bạn chung lớp năm Nhiệm Ý, ban Việt. Theo phản ứng tự nhiên tôi chồm tới định nắm tay, nhưng tôi kịp "thắng" lại, vì tôi đã tự biết tôi là ai. Tôi đâu còn là sĩ quan ở trại Nguyễn Bỉnh Khiêm gần đài phát thanh Sài Gòn nữa mà mừng vui khi thấy Mắt Nâu vào trại thăm tôi như những ngày còn trong đơn vị. Ở đây là “trại cải tạo”, một lối nói văn vẻ thay cho trại tù hay khám đường ....
-Ê, Bảy Quế đang nói gì với mấy nhóm trưởng kìa Mỏng. Không chừng thu quân đó mày.
Tôi đang mơ màng nhớ lại những hình ảnh đã qua thì giọng thằng Trầm một lần nữa lại đưa tôi về thực tại, hai hàm răng tôi đánh vào nhau nghe cồm cộp, tiếng tôi run run đứt khoảng:
-Về là phải rồi ...mưa như vầy mà còn đào gì nữa.
Tôi đứng thẳng người lên, cơn gió xoáy ngang làm tôi lảo đảo suýt té, ngồi lâu quá chân bị tê, bây giờ gió mưa lại đập vào người làm tôi run lên.
-Rán đi Mỏng, chắc về thiệt. Mày lấy tấm nylon của tao quấn đỡ, về tao cạo gió cho mày.
Thằng Trầm an ủi tôi. Chú Tư Hiếu, nhóm trưởng, khoát tay ra hiệu tập họp, tôi run rẩy chạy lúp xúp theo Trầm về vị trí xếp hàng, anh em bạn tù người nào cũng loi ngoi như chuột lột, mặt mày xanh xao, đứng co ro. Bảy Quế điểm danh xong toán nào là cho toán đó về, anh em rẽ nước, băng đồng... Mưa vẫn không ngớt hột, chúng tôi vừa đói, vừa lạnh trong khi nước lên ngang rún, phải lội hơn cây số mới ra tới bờ lộ cái, anh em rủ nhau chạy cho... đỡ lạnh
-Rán chạy lẹ Mỏng, tới quán mua mấy củ mì ăn đỡ đói với hút điếu thuốc cho ấm lòng.
Thằng Trầm run giọng nói với tôi. Rồi đám tù cũng về tới trước cổng trại, hôm nay không có anh em nào xuống kinh tắm như thường lệ mà tự động xếp hàng chờ điểm số để nhập trại. Gió vẫn vù vù thổi, chớp vẫn nháng sáng trời, có lẽ đã hơn 2 giờ trưa, tôi thấy trong người khó chịu, vào phòng thay áo quần khô xong tôi vạch lưng cho Trầm cạo gió, nó xin chút dầu lửa và dùng cái muỗng cạo lưng cho tôi.
-Mầy bị trúng gió rồi Mỏng, mới cạo sơ mà đã thấy tím bầm ...
Tôi cũng không màng ăn cơm chiều, trùm mền nằm thiếp luôn cho tới kẻng điểm danh tối mới ráng ngồi dậy, thấy nặng đầu và mình mẩy nóng hực, tôi đứng lên mà lảo đảo suýt ngã...
-Anh Ðẹp báo cáo giùm, tôi nóng quá, lại chóng mặt, không ra điểm số được.
Tôi gượng nói với Ðẹp trưởng nhóm, xong ngã ra. Tôi nằm mê man cả hai ngày, chỉ uống chút nước do người bạn tù nào đó cũng bệnh nghỉ ở nhà như tôi mớm cho. Mấy viên thuốc ABC mang theo, tôi cố gắng uống mỗi ngày 4 viên, buổi tan tầm thằng Trầm đi lao động về nấu cho tôi soong cháo, nhưng tôi cũng chỉ ăn được vài muỗng vì miệng mồm đắng nghét. Thằng Trầm an ủi tôi :
- Mầy phải rán uống thuốc và ăn nhiều cháo mới có sức mà hết bệnh được.
- Miệng đắng quá, tao thèm uống nước chanh Trầm ơi, tay chân tao như rã rời, cử động hết muốn nổi.
Tôi gượng cười:
” Không biết tao qua khỏi con trăng này không”.
Tôi thiếp đi nhiều hơn tỉnh, nhiều đêm thức giấc, tôi nhớ Mẹ vô cùng, từ nhỏ sống cạnh kề Mẹ, tôi ít khi bệnh; vào quân trường cũng thế, ai sao tôi vậy, chín tháng quân trường, ngay cả trong thời gian huấn nhục tôi chưa từng bị xỉu; cũng từng dầm mưa dãi nắng khi ra đơn vị; cũng ngủ bờ, ngủ bụi, nhất là trên con đường máu 7B di tản từ Pleiku về đến Bình Tuy, biết bao nhiêu là gian hiểm tôi đều vượt qua được, không lẽ trong cảnh tù đày như vầy mà lại... Tôi không dám nghĩ tiếp, nhưng có lẽ vì quá tủi thân, nước mắt tuôn trào ướt cả má. Nhiều lúc tôi nghĩ quẩn, phải chi mình chết bờ, chết bụi trên con lộ 7B cho rồi đở phải cực thân như bây giờ.; nhưng rồi tôi cũng lại nghĩ: “Sông có khúc, người có lúc” mình phải ráng sống , sống để có ngày nhìn thấy toàn dân đứng lên xé nát lá cờ sao.
Tình trạng cứ thế kéo dài đến mươi ngày tôi mới dần tỉnh. Trầm đi lao động về, cùng với thằng Quang Phục Quốc, ngày ngày vẫn nấu và mang đến chỗ nằm cho tôi từng chén cháo. Tôi ăn được nửa chén, rồi một chén... Những chén cháo có được là nhờ từ những buổi lao động may mắn gặp được đất mềm, tụi nó đào xong sớm, rảnh tay bắt con cá, con tôm; ngang đồng nhổ nắm rau đắng đất về nấu cháo cho tôi, Ôi! Trong hoàn cảnh không có người thân mà được bạn tù chăm sóc, lòng tôi cảm động lắm! Tôi cũng tự mình cố gắng đi ra, đi vào, phơi nắng buổi sáng, gần một tháng trời mới tương đối bình phục. Một hôm thằng Trầm về sớm nấu cho tôi một soong nước, nó ra phía sau pha nước cho tôi tắm, đã lâu mới cởi áo quần, tôi thầy người tôi toàn là xương, tắm mát mẻ, hòm đất đóng lâu ngày phải kỳ cọ thật lâu; buổi tối thằng Trầm pha gô nước trà có mấy miếng kẹo đậu phọng, mời một số bạn bè trong nhóm đến uống trà mừng... tôi hết bệnh. Tuy trong mình thấy nhẹ nhàng nhưng tôi cảm thấy còn yếu lắm bởi ăn cháo suốt gần cả tháng.
Rồi tôi bị chuyển qua nhiều trại tù, riêng trại Mỹ Phước Tây tôi ở gần 12 tháng. Một thời gian rất ngắn so với tuổi tù của tôi, nhưng tôi nhớ trại nầy nhiều nhất. Mỹ Phước Tây trong lòng tôi vẫn là ... địa ngục trần gian bởi chế độ lao động quá nặng nề và cai tù đánh đập tù quá tàn nhẫn. Anh Thiếu Tá Huề kiệt sức chết ở đây, anh Ðại úy Lành (giáo phái Hoà hảo) bị tụi cán bộ dàn cảnh bắn chết phía sau trại, anh trung sĩ Gương, cảnh sát, bị võ trang nhắm thử... súng bắn chết... người thật trong lúc lao động đào kinh. Còn biết bao nhiêu anh em tù bị chết vì mìn bẫy trong lúc cuốc đất trồng hoa màu, bao nhiêu anh em vượt trai bị bắt lại bị đánh mềm như bột, thân thể tươm máu còn bị trói ké, bỏ nằm dưới cột cờ phơi nắng, trình điễn cho anh em tù đến coi. Ba người bạn cùng nhóm: Sàng, Bi và Nguyễn Thanh Quang (trung úy Không Quân) và Ðại úy Triệu, tỉnh đoàn trưởng, tỉnh đoàn Xây Dựng NôngThôn, Gò Công vượt thoát được.
x
x x
Nhiều năm đã trôi qua, bây giờ nơi đất tạm dung, mỗi khi tan ca về gặp phải trời mưa, lòng tôi lại bùi ngùi nhớ tới những cơn mưa Ðồng Tháp. Trầm qua Mỹ theo diện HO 15 bây giờ ở đâu? Ðại úy Triệu vượt thoát tới bến bờ tự do hình như đã qua đời vì bệnh? Còn Quang, Sàng ,Bi... bây giờ các bạn ở đâu? Tôi hy vọng trái đất vẫn tròn, có như vậy mình mới mong có cơ duyên gặp lại những người bạn đồng cảnh ngộ ngày xưa.
Nếu không có ngày của tháng Tư đen, tôi sẽ không bao giờ hiểu được sự thâm ác của người cộng sản. Một ngày nào đó tôi sẽ về thăm lại quê hương, tôi sẽ tìm thăm lại con lộ 7B mà tôi đã bước chân đi qua, một đoạn đường đầy máu và nước mắt mà người chết đi cũng chưa hiểu tại sao phải bỏ quân đoàn 2, đoạn đường mà xác người chết bị đạn hất tung hai ba lần như trong một bản nhạc của người họ Trịnh đã viết. Tôi sẽ thăm lại Ðồng Tháp Mười, thăm những con kênh xẻ ngang dọc như bàn cờ mà ở đó ngày ngày tôi đều bị đỉa hút... máu, người... hút hết sinh lực; ở đó tay chân tôi đã phải lao động khổ sai, tai mắt tôi đã phải luôn nghe và chứng kiến những lời chửi mắng của bọn chịu trách, cai tù.
Tôi có thực hiện được điều mà lòng tôi mong muốn không? Sẽ được thôi, nếu tôi tin tưởng cờ vàng rồi sẽ bay trở lại trên suốt dải đất quê hương ...vào một ngày không xa lắm!
Viết Tại KỲ ÐÀ ÐỘNG, Quí Xuân 2003
Thiện là người bạn đồng quê, đồng cảnh và đồng niên từ thời hai đứa tóc còn để chỏm. Nhà hai đứa cách nhau một hàng rào dâm bụt xanh quanh năm nở đầy những đóa hoa lớn màu đỏ thắm. Gia đình Thiện chuyên nghề nông, đất ruộng nhiều. Mấy đôi trâu làm sức kéo cày ruộng, vỡ đất khi mùa màng đến để xuống vụ. Nhà Thiện có ba anh em. Người anh cả tên Lý đi lính quốc gia khi tuổi vừa tròn hai mươi. Anh Lý đã được cha mẹ hai bên hứa hôn với bà chị cả của tôi. Anh Lý đóng đồn ở xã Từ Tâm. Một đêm giặc tấn công đồn anh đã bị địch bắt dẫn đi mất tích, khiến chị tôi phải góa bụa đến mười năm sau. Chị gái của Thiện vừa tuổi trăng tròn đang đi học tại trường tỉnh. Chị có sắc đẹp khả ái, người mũm mĩm, khuôn mặt tròn, đôi mắt to và đen lánh. Xen kẻ còn ba người con nữa nhưng đã mất sớm. Thiện là út trong gia đình. Anh đang sáu tuổi, đồng tuổi với tôi và cùng đang học lớp Ðồng ấu tại trường làng do ba tôi làm thầy giáo.
Tuy cùng tuổi, Thiện đứng cao hơn tôi một cái đầu. Bản tính anh chậm, lại cái tội nói nhiều. Ngược lại tôi nhanh nhẹn hơn anh, nhưng thâm trầm ít nói. Trong lớp Thiện thường bị điểm số không vì nhác học, và thích nói chuyện nên cứ bị ăn đòn cả trứng vịt. Những lần bị đòn, Thiện phải nằm dài trên bệ gỗ. Khi ngọn roi của ba tôi vừa nhá xuống là anh nhảy tưng người lên, hai tay xoa xoa hai mông lia lịa, miệng la e é, người cong lại cứ lắc lư run rẩy. Vậy mà không chờ ai bảo, Thiện lại nằm tiếp trên bệ gỗ để hứng ngọn roi thứ hai của ba tôi, anh lại tiếp diễn các động tác lúc đầu. Cứ thế, Thiện trình diễn nhiều lần. Cả lớp học được một dịp cười thỏa thích. Thành ra, mỗi lần Thiện bị đòn vì học u, nhác học, nói chuyện, cả lớp lại được dịp cười xả hơi. Tôi thấy thương Thiện khi anh bị đòn. Tôi không cười như các bạn cùng lớp. Mỗi lần ngọn roi ba tôi quất xuống người Thiện là tôi bặm môi, nín thở như muốn góp sức chịu đựng cùng Thiện. Tôi muốn chạy tới kéo Thiện ra không để anh bị đòn nhưng lại không dám.
Trong lớp Ðồng ấu có con bé Phúc nhỏ hơn chúng tôi một tuổi nhà xóm trên. Mỗi lần Thiện bị đòn, tan giờ học, nó cứ lẻo đẻo theo hỏi Thiện có đau đớn gì nhiều không ? Vừa hỏi nó vừa đưa bàn tay thoa thoa hai mông của Thiện hết sức tự nhiên. Ðược thể anh chàng Thiện giả bộ nhăn mặt rên rỉ trông thảm càng làm cho bé Phúc xúc động ra mặt. Rồi Thiện bật cười to, ù té chạy một hơi, khiến tôi và bé Phúc ngạc nhiên nhìn nhau rồi cùng chạy đuổi theo Thiện. Dần dà ba chúng tôi cùng chơi thân với nhau như anh em ruột thịt.
Những buổi trưa hè nắng gắt, ba đứa chúng tôi cổi hết quần áo nhảy xuống hồ sen lớn trước Ðình làng bơi lội, cút bắt và ôm nhau quật lộn loạn xạ dưới nước. Vậy mà chẳng có chút gì là mắc cỡ trước thân thể trần truồng của mỗi đứa. Tuổi con nít nhà quê thời đó là như thế đó, tự nhiên lắm, vui lắm, chẳng có gì e lệ thẹn thùng như con nít bây giờ.
Ngày thứ bảy, chúa nhật là thời gian thần tiên của ba đứa tôi trong lứa tuổi học trò. Tôi theo Thiện lùa trâu ra đồng thả ăn cỏ và lần nào cũng có bé Phúc chạy lẻo đẻo theo nhập bọn. Ba đứa chúng tôi tìm những khúc mương nhỏ trong ruộng đắp chận hai đầu để tát nước bắt cá. Chúng tôi bắt được nhiều cá. Cá rô còn gọi là cá gai, cá trê, cá tràu (cá lóc), cua, ghẹ, tép...Dưới ánh nắng chan chan rực lửa chúng tôi lội bì bõm trong nước bùn sền sệt, mò mẫm từng gốc lác, lùm cỏ, hốc đất...để bắt cho được những con cá ẩn trong bùn đen. Tay chân, mặt mày đứa nào cũng lấm lem bùn, mồ hôi nhễ nhãi. Nhìn đứa nào cũng giống hề, thật vui. Những con đỉa đói được dịp bám vào cổ chân, bàn chân của chúng tôi hút máu. Nào đâu có sợ gì đỉa. Cứ có con đỉa nào bám vào chân là dùng mấy ngón tay cào ra, rồi nắm hai đầu con đỉa kéo dài ra độ hai ba tấc, kéo đến khi nào nó đứt ra làm hai, ươm máu ra, rồi cười nắc nẻ thật say sưa thích thú. Ðó là một trò chơi thú vị, vui và cũng thấy ghê ghê. Con nít nhà quê bạo dạn và lỳ dễ sợ.
Một lần bé Phúc thò tay móc vào một hang sâu cứ ngỡ rằng có con cá tràu lớn nằm ẩn trong đó. Không ngờ nó nắm đúng ngay một con rắn nước bự thật bự. Bé Phúc hoảng hồn rụt vội tay ra, con rắn nước phóng mạnh ra ngoài. Bé Phúc khiếp vía ngã té ngữa trên bùn đen sền sệt, mặt mày không còn chút máu, bất tỉnh. Tôi và Thiện phải khiêng con nhỏ lên bờ ruộng, cổi hết quần áo lấm lem bùn của nó, giật tay, giật chân, bứt tóc bứt tai của nó để nó tỉnh dậy. Hồi đó chúng tôi đâu biết làm hô hấp nhân tạo là gì. Tôi phải mang quần áo đầy bùn của bé Phúc đi giặt ở khúc mương có nước trong gần đó rồi phơi khô trong lúc Thiện canh chừng Phúc. Khi con nhỏ tỉnh lại, nó nói chuyện tỉnh bơ và còn giục tôi đem quần áo đến mặc cho nó. Nghĩ thật là vui đáo để và cũng nực cười cho cái trò chơi ngồ ngộ và cũng nguy hiểm đó.
Chúng tôi có nhiều trò chơi thú vị ngoài đồng khi thả trâu ăn cỏ. Tập làm vợ chồng, Phúc làm vợ, Thiện làm chồng, tôi làm cha mẹ. Tập cưới hỏi, tôi làm ông mai. Làm quan xử kiện. Làm lính đánh giặc. Bày trò chơi chạy đua. Ðứa nào chạy thua phải cõng đứa thắng cuộc. Tôi thì bị thua hoài thôi, tệ thật, chuyên môn cõng Thiện và bé Phúc chạy từng vòng trong đám ruộng thở không lại hơi. Ðôi lần tôi cõng Phúc đang chạy giả đò té ngã sấp xuống cỏ ruộng, hai đứa nằm chồng lên nhau, nhìn nhau cười ơi là cười, cười chết ngất muốn ngộp thở. Cười một hồi đã nư, hai đứa cứ nằm im như thế mà thở cho đến khi Thiện giục chúng tôi mới lồm cồm ngồi dậy. Tuổi thơ của bọn tôi là vậy, không vướng bận, không suy nghĩ, không thẹn thùng mắc cỡ, cười đó rồi khóc đó, rồi vui, rồi làm nũng, rồi giận hờn hết hồi lại thôi không để lâu trong bụng..
Năm tháng trôi qua, tuổi tác lớn lên, học hành theo từng lớp. Lớp Tư, lớp Ba, rồi đi thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược. Cả Thiện, bé Phúc và tôi giã từ ngôi trường làng của ba tôi ra trường Quận học lớp Nhì nhỏ, lớp Nhì lớn, và lớp Nhất để đi thi lấy Tiểu học Văn bằng. Thời xa xưa ấy từ lớp Ðồng ấu lên đến lớp Nhất chúng tôi học Quốc ngữ và tiếng Pháp. Trong ba đứa, con bé Phúc khá tiếng Pháp hơn. Thỉnh thoảng chúng tôi "xổ Pháp" nửa nạc nửa mỡ, phát âm ngọng nghịu, tự vựng chỉ trên đầu ngón tay và văn phạm thì búa xua muốn hiểu sao đó thì hiểu.
Từ trong quê ra Quận xa hơn năm cây số đường đi, chúng tôi đi học bằng xe đạp hằng ngày. Chiếc xe đạp thời đó quí giá vô cùng, và có được nó là một niềm hãnh diện ghê gớm. Nhà giàu mới có được chiếc xe đạp làm cảnh. Thời gian học trường Quận cả ba chúng tôi đã trở thành những cua rơ xe đạp nhà nghề lúc nào không hay. Trên đường đi, đường về ngày hai bận, đứa nào cũng cố sức vượt qua mặt. Lúc đầu ngồi trên xe đạp cầm ghi đông hai tay, sau thả một tay, riết rồi thả hai tay, ngồi thẳng lưng, ào ào đạp tới với tốc độ kinh hồn. Tôi và Thiện thường bị thua cái con nhỏ Phúc đó. Thiện thường trốc trốc mồm giục tôi vượt nhanh lên mỗi lần gần qua mặt bé Phúc, nhưng chẳng thắng nổi con nhỏ. Con bé Phúc trông mảnh mai yểu điệu thế, đi xe đạp sao mà nhanh như gió thoảng. Ðôi lần xe đạp của bé Phúc xì bánh, Thiện phải đèo con nhỏ sau yên xe, còn tôi vừa đạp vừa dắt theo chiếc xe mắc dịch của nó về nhà.
Ðiều vui nhất là khi bé Phúc làm nũng, vòi vĩnh và thường khóc nhè với Thiện hoặc với tôi một điều gì không vừa ý. Nó cứ khóc lè nhè, lè nhè kéo cưa như đưa đám ma. Khóc vậy mà nhìn chẳng có tí nước mắt nào, thật cũng ngộ. Vừa khóc, bé Phúc vừa dậm chân, hai tay vùng vằn, gương mặt nhăn nhó giống như khỉ ăn trúng ớt cho đến khi nào cả tôi cũng như Thiện làm vừa ý nó, nó mới ngưng màn trình diễn, đấm thùm thụp vào lưng tôi hoặc Thiện. Có lẽ cô nàng mắc cỡ hoặc mừng vui cho chiến thắng của mình.Thiện thì chịu khó dỗ dành, thích làm vừa lòng con nhỏ Phúc. Thiện ưa nói, mình là con trai, nó là con gái. Con trai phải ưu tiên cho con gái, phải thương và chăm sóc cho con gái nhiều hơn. Vì vậy hễ có cái bánh, cái kẹo ở nhà là con nhỏ Phúc dấu thật kỹ trong túi áo, rồi đi tìm Thiện dúi vào tay nó và bảo ăn đi, đừng cho cái ông Hoàng điên điên khùng khùng kia, tức là đừng cho tôi ăn. Tôi cười nhạo Thiện mới bây lớn đã có mạng thờ bà. Nghe tôi nói, bé Phúc lại đấm vào lưng tôi thùm thụp rồi trừng tôi một cái có đuôi.
Ngày đi thi tiểu học cha mẹ chúng tôi treo giải thưởng khuyến khích con. Năm đó, chúng tôi đứa nào cũng thi đậu tiểu học hạng ưu và bình. Tôi được ba mẹ thưởng một đồng hồ đeo tay hiệu Tanco của Pháp có dạ quang xem giờ ban đêm. Tôi mừng hết lớn, suốt ngày đêm cứ xem giờ, nhìn ngắm mãi mê đồng hồ quên cả cơm nước. Lần đầu tiên được đeo đồng hồ tay đi dợt le với mấy đứa cùng xóm. Nhà Thiện có tiền, anh được ba mẹ thưởng cho chiếc xe đạp hiệu Peugeot sơn màu xanh lá cây cấu cạnh và một cặp bút máy Parker nắp mạ vàng. Lúc nào đi đâu anh chàng cũng giắt chễm chệ cặp bút máy trên túi áo trông rất ư là người lớn, thật điệu nghệ vô cùng. Nhà Phúc không thưởng gì cho con bé, chỉ làm một bữa tiệc ăn mừng. Con nhỏ Phúc được dịp rủ hai đứa tôi tham dự mừng nó thi đậu hạng ưu. Trông con nhỏ hãnh diện lên mặt lắm. Tôi xúi Thiện đem cặp bút máy Parker tặng cho bé Phúc. Thiện ừ cho là phải và thực hành ngay trong bữa tiệc, khiến cho con nhỏ Phúc nhìn anh chàng Thiện trân trối, rươm rướm nước mắt vì mừng quá.
Năm sửa soạn ra trường tỉnh nhập học lớp Ðệ Thất, cả ba chúng tôi tự như cảm thấy mình đã lớn hẳn lên thấy rõ. Lời nói, cung cách đối xử với nhau như có sự dè dặt. Bé Phúc lại đang trỗ mã ở lứa tuổi mười hai, mười ba, biết e thẹn, bắt đầu làm dáng, biết đến áo này quần nọ. Phúc đi học có lúc mặc áo dài trắng cao lên đầu gối, quần lãnh đen, có lúc mặc quần tây, áo sơ mi hở cổ, tóc kẹp thả dài sau lưng, mỗi lần bước đi đuôi tóc sau lưng lắc lư đong đua theo nhịp bước trông cũng ra dáng và dễ thương ra phết. Nàng ở trọ tại nhà bà cô ruột trong thị xã. Tôi và Thiện ở chung nhà người quen và ăn cơm tháng của họ.
Thời ấy, trường trung học công lập tỉnh nhận cả nam lẫn nữ học chung, chưa có trường nữ trung học riêng. May mắn ba đứa chúng tôi lại cùng học một lớp. Chúng tôi đậu tiểu học hạng ưu và bình, đương nhiên được vào đệ thất không phải qua kỳ thi tuyển. Hằng ngày tôi và Thiện mặc quần short xanh, áo sơ mi trắng ngắn tay, mang sandale hoặc giày bata trắng , tay đeo đồng hồ, tóc hớt cao chải rẽ một bên không còn để chỏm như ở quê ngày trước, và tay ôm cặp da đựng đầy sách vở trông ra vẻ người lớn rất ư là oai vệ.
Ðúng là Thiện nhác học từ khi biết đi học. Ở trường về nhà, Thiện vứt sách vở qua một bên để học đàn. Anh say mê âm nhạc. Ban đêm anh ghi tên theo học lớp nhạc lý của thầy Mật. Anh học mandoline, học guitare, học accordion...Vì vậy những lần thi kỳ 1 kỳ 2 Thiện cứ ì ạch cầu cứu tôi và Phúc, vậy mà loay hoay sao đó, Thiện cũng trên điểm trung bình. Không biết lúc thi tiểu học, anh xoay sở thế nào lại đậu hạng ưu mới giỏi chứ ! Chính là cái tài riêng của anh chàng !
Phúc giỏi sinh ngữ Anh, Pháp. Tôi khá Toán và Việt văn. Còn Thiện thì chẳng có môn nào gọi là khá hoặc xuất sắc.Với Thiện chỉ riêng có verbe être và avoir mà từ tiểu học đến đệ thất, lên đệ tứ anh chàng vẫn chưa thông suốt, cứ đem hai verbes tròng qua tréo lại, đem râu ông nọ cắm cằm bà kia.
Nhà Thiện giàu, cha mẹ chu cấp cho anh rộng rãi. Anh thường có sẳn tiền trong túi. Thường tôi và Phúc giúp Thiện làm bài và giảng thêm về các môn anh yếu. Thế là chúng tôi luôn được Thiện bao miễn phí những chầu cà phê, ăn kem, bò viên, bò bía, gỏi đu đủ, đi ciné...cứ thế mà vui không tưởng được. Tánh Thiện cổi mở, vui tính, rộng rãi với bạn bè. Anh thích nói, xuề xòa, bông đùa, có cảm tình, ai cũng mến nhưng rất cương nghị trong việc làm.
Thiện còn có óc hài hước và tâm hồn nghệ sĩ. Trong năm đệ tứ Thiện đã sử dụng thành thạo guitare và accordion. Nhà trường có những buổi trình diễn văn nghệ vào dịp Tết và ngày mãn khóa học. Thiện được thầy Hiệu Trưởng giao trách nhiệm Trưởng ban văn nghệ nhà trường. Anh chàng đúng là có khả năng lãnh đạo chỉ huy. Anh điều động toàn thể học sinh trong trường, ai có năng khiếu đều phải tham gia sinh hoạt văn nghệ và thực hiện tờ báo tường với sự giúp đở tận tình của Thầy Cô.
Phúc có năng khiếu hát hay với gịọng hát hết sức truyền cảm. Phúc và Thiện cùng những bạn nam nữ học sinh khác quấn quít nhau trong những giờ nghỉ để tập luyện những bản nhạc, những vở kịch đem trình diễn. Phúc trợ lực với Thiện trong vai trò tổ chức đêm văn nghệ nhà trường. Phần tôi, anh chàng giao chăm sóc tờ báo tường từng tam cá nguyệt.
Cuối năm đệ tứ chúng tôi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp, và lên đệ tam, rồi đệ nhị. Tôi và Thiện đang chuyển đổi thành người lớn rất rõ nét. Còn Phúc thì đang tuổi dậy thì, cơ thể nở nang với những đường cong "trời phú", đôi mắt đen long lanh "có khói", đôi môi mọng xinh xắn, khuôn mặt trái xoan ửng hồng, làn da trắng mịn và mái tóc mượt mà đen bóng phủ trọn bờ vai. Trong trường ai cũng công nhận Phúc là hoa khôi của nhà trường thời ấy đã khiến nhiều kẻ ôm mộng.
Ngày lễ kỷ niệm hai bà Trưng hằng năm, Phúc thường được chọn đóng vai Trưng Trắc cùng với Ngọc Hạnh, một nữ sinh xinh đẹp duyên dáng khác trong trường thủ vai Trưng Nhị. Ðúng là hai đóa hoa rực rỡ biết nói của nhà trường. Hai cô cưỡi voi (voi thật đấy), múa kiếm, thét ba quân tướng sĩ (đều là nữ sinh của trường), giữa tiếng chiêng trống thúc quân hào hùng, ào ạt xông lên diệt giặc Tô Ðịnh. Trông Phúc và Ngọc Hạnh lúc đó thật uy nghi rực rỡ như ánh hào quang. Trong tôi lúc này đang như có một tình cảm nhen nhúm sâu đậm với Phúc. Còn anh chàng Thiện thì vẫn cúc cung với bản tính thờ bà cố cựu của anh ta đã có ngay từ lúc tóc còn để chỏm ở quê. Anh thường tạo mọi sự vừa ý cho Phúc cho dù có khó khăn cách mấy.
Thời gian này trong trường đang có hai luồng khuynh hướng suy nghĩ khác biệt giữa các học sinh nam nữ. Một bên thường kể cho nhau nghe về những sinh hoạt của Chính phủ Quốc gia có Quốc Trưởng Bảo Ðại thời đó. Nghe rồi bàn cãi, suy luận, tin tưởng và ngưỡng mộ. Số này là chúng tôi và đông đảo anh chị em học sinh trong trường. Một số ít lại thích rỉ tai khoe khoang những hoạt động của Việt Minh sau này gọi là Việt cộng trong đó thường nhắc đến tên ông Hồ Chí Minh. Thời đó đa số chúng tôi chưa biết ông Hồ là ai. Nghe thì nghe vậy, chẳng ai chú ý và có thể dễ quên. Nhưng lại có nghe Việt Minh thường sát hại, bắt cóc người dân và gieo rắc khắp nơi những điều bất nhân bất nghĩa. Thiểu số này đang lôi cuốn từng người ngã theo Việt Minh hoạt động tại chỗ hoặc thoát ly ra chiến khu. Ðiều xảy ra tệ hại hơn là đã có hai học sinh đột nhiên bỏ học thoát ly lên núi mấy tháng trước biệt tăm biệt tích.
Từ lâu Thiện đã có ác cảm và mong một ngày nào đó sẽ trả thù Việt Minh đã bắt và sát hại người anh ruột của Thiện là anh Lý năm xưa. Ðôi khi Thiện tâm sự, học xong, moa đi lính cầm súng giết sạch tụi nó không để chúng thoát một tên nào. Tôi cũng đồng mong ước với Thiện, vì Việt Minh hồi đó mà bà chị cả của tôi phải ở góa một thời thanh xuân của chị. Những suy nghĩ của tuổi học trò thật hạn hẹp, chưa thấu triệt lập trường quốc gia dân tộc, sự tồn vong của đất nước. Dầu vậy, chúng tôi cũng đã thách đố, lý sự với vài học sinh đang tuyên truyền lôi cuốn những học sinh nhẹ dạ cả tin về phía họ. Phần thắng thường nghiêng về đa số chúng tôi.
Thiện đặc biệt thích tò mò để ý những học sinh ưa thích ca tụng Việt cộng và ông Hồ. Thiệu rủ tôi nhập cuộc. Anh nói rằng sợ đếch gì, mình ở trong vùng quốc gia, Việt cộng mò vào là sẽ nát thây. Thiện có người chú họ làm ở Ty Công an tỉnh. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp Thiện nói chuyện với ông chú.
Năm học đệ nhị, trong lớp chúng tôi xảy ra điều không tốt khiến cả trường ngỡ ngàng ngơ ngác. Hôm đó, lớp học nghỉ buổi trưa hai giờ, học sinh ra về và trở lại học buổi chiều. Chiều học sinh vào lớp học , đột nhiên mọi người nhìn thấy hình ông Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng lớn treo chễm chệ trên tường đối diện với các dãy bàn ghế học sinh. Toàn thể học sinh nhốn nháo từ các lớp chạy đến xem. Có kẻ trầm trồ vui mừng ra mặt. Có người im lặng tỏ dấu khó chịu, bực tức. Các Thầy, Cô, Ban Giám Ðốc, thầy Hiệu Trưởng, thầy Tổng Giám Thị ngơ ngác trong nổi lo ngại, xầm xì to nhỏ, hỏi han người này người khác. Cuối cùng chẳng ai tìm ra được ai đã treo cờ và hình, và cũng chẳng ai giải đáp được các thắc mắc, nghi vấn. Thầy Hiệu Trưởng đành phải báo với Ty Công An tỉnh đến để "thu dọn chiến trường". Công An đến cũng không tìm được điều gì hơn. Họ phải mang hình ông Hồ và cờ về Ty Công An.
Trước tình huống đó, ngày hôm sau Thiện nói với tôi, giọng anh chắc nịch :
- Moa biết rồi. Chính hắn không còn ai. Moa sẽ dẫn nó giao cho công an.
- Toa nghi đứa nào ? Cẩn thận nhen. Chuyện này không phải chuyện đùa.
Giọng Thiện đầy xác tín :
- Thằng Nghiêm lớp mình chứ không ai vào đây. Moa đã chú ý theo dõi những cái lập lờ của hắn từ lâu rồi, vì có hôm nào đó, vô tình moa nhìn thấy hình ông Hồ trong cặp đựng sách vở của hắn.
- Tưởng đứa nào, chứ thằng Nghiêm moa thấy hắn hiền lành nhất lớp mình mà. Có thể hắn không dám làm việc đó đâu.
- Những thằng trong cuộc lúc nào nó cũng kín đáo và còn giả bộ ngu ngơ, khù khờ để đánh lạc hướng.
Thiện lại cười nhếch môi :
- Cái bản mặt hiền lành mới đáng sợ đó toa. Moa sẽ hành động để cả lớp và cả trường an tâm học hành.
Nghe Thiện nói chắc cú, tôi hỏi :
- Làm thế nào ? cần moa phụ giúp toa không hả... ông thám tử ?
- Ðược rồi ! Cũng cần có toa nữa.
Buổi sáng hôm sau, Thiện rũ tôi đến nhà Nghiêm. Tôi cũng chưa hiểu anh chàng Thiện này sẽ làm những gì. Có hỏi anh ta cũng không nói. Vừa vào đến nhà, chúng tôi đã thấy có Nghiêm và có cả cha mẹ hắn ở nhà. Sau khi chào hỏi, Thiện vào đề ngay, giọng anh đanh thép :
- Anh Nghiêm, tôi nói cho anh biết cả trường và Ty Công An đều biết anh đã treo cờ và hình ông Hồ trong lớp ngày hôm qua. Nhưng công an chưa vội bắt anh. Họ đang chờ anh nói sự thật. Nếu bắt anh ngay thì những kẻ chủ mưu xúi giục anh sẽ trốn thoát.
Nét mặt Nghiêm tái đi sau câu nói của Thiện. Hắn bào chữa :
- Tại sao anh nghĩ tôi làm chuyện đó. Anh đừng kết tội đó cho tôi. Bao nhiêu học sinh ở trường chứ đâu phải chỉ một mình tôi...
Thiện ngắt lời, gằn từng tiếng :
- Bao nhiêu học sinh..... chẳng ai làm chuyện đó, ai ai cũng lo học. Chỉ cần một người làm thôi. Người đó chính là anh. Người ta đã nhìn thấy anh làm chuyện đó. Ðặc biệt anh đã để lại dấu tay trên khuôn hình ông Hồ mà công an đã phát hiện qua lý lịch học bạ của anh. Anh hãy nhận việc anh làm, nếu không, anh sẽ bị đuổi học và bị ở tù. Anh nên nhận để được tiếp tục học hành và mọi người sẽ thương anh, không ai làm tội anh. Anh Nghiêm có hiểu tôi nói không ?
Nghiêm vẫn cố cãi :
- Sao lại gán tội cho tôi ? Tôi không làm, đừng đặt chuyện.
Nghe cuộc đối đáp giữa hai người, cha mẹ Nghiêm thấy có điều gì khác thường đối với đứa con trai mình. Hai ông bà lo sợ, không biết thực hư ra sao khi nghe đến hai tiếng công an.
- Sao con ngu dại vậy ? Có thật con đã làm điều đó không ?Ai xúi giục con ? Có thì cứ nói. Chối là con sẽ bị đuổi học, còn ở tù chứ chẳng chơi như lời bạn con vừa nói..
Dứt lời, cha Nghiêm nói với Thiện :
- Ngày hôm qua thằng Nghiêm đi học về có kể chuyện cho gia đình bác nghe, cả nhà ngạc nhiên và không ai hài lòng điều đó. Thiếu chi chỗ treo, lại đem vào trường học mà treo. Mấy ông Việt cộng đâu có thương học trò, họ bày ra chuyện hung dữ để làm tình làm tội con nít.
Tôi đã hiểu ý Thiện từ câu chuyện anh đang làm. Không biết anh chàng Thiện dựa vào đâu mà nói thế, hay chỉ bịa. Anh chàng đang đóng vai nghiệp vụ thẩm vấn điều tra đây. Tôi không ngờ thằng bạn thân của tôi đang còn có tài làm thám tử. Tôi cũng hổ trợ Thiện bằng cách lập lại những gì Thiện đã nói, và cố tô vẻ sự việc có tính cách nghiêm trọng bằng gịọng đanh thép :
- Cả trường và Công an đều biết nhưng họ không bắt anh Nghiêm, vì làm như vậy anh sẽ bị tù tội và bỏ học. Anh chỉ cần nhận đó là việc do anh làm và nhất là ai đã xúi giục anh làm ? Anh Nghiêm có muốn ở tù và bị thôi học không ? Nói thật đi. Anh Thiện là Trưởng lớp nên thầy Hiệu Trưởng bảo chúng tôi đến hỏi anh trước là ai đã xúi giục anh làm chuyện đó. Mình nói chuyện trong gia đình thân mật, có gì đóng cửa chỉ bảo nhau, chứ nếu để công an làm việc là chắc chắn anh sẽ bị tra tấn cực hình làm sao anh chịu nổi, trước sau gì cũng phải khai thật. Anh cứ nói thật thì không tội tình gì, thầy Hiệu trưởng hứa sẽ bảo đảm anh không bị tù tội, anh vẫn tiếp tục đi học. Công an chỉ cần bắt kẻ chủ chốt mà thôi.
Thiện tiếp tục dọa :
- Nói thật đi. Nói thật thì chẳng có gì lo sợ. Anh Nghiêm không nói thật bây giờ thì anh cũng nói thật với công an, lúc ấy anh đã mềm xương ra.
Cha mẹ Nghiêm sợ con tù tội, bỏ học, tiếp tục khuyên con, vì ông bà nghe cũng hửu lý. Chúng tôi kiên nhẫn thuyết phục Nghiêm. Tôi ngỡ rằng đây chẳng có kết quả gì với việc làm của Thiện có hơi mơ hồ thật đó, và cũng chưa chắc gì xác thực. Vậy mà cuối cùng Nghiêm đã nhận do người khác xúi giục, anh đã đem cờ và hình treo trong lớp học trưa hôm qua.
Vấn đề sau đó, Nghiêm bị công an bắt và bị đuổi học. Cả trường thán phục việc làm của Thiện, ai ai cũng khen anh hết mình. Tôi hỏi Thiện do đâu anh thực hiện được điều đó. Thiện cười, chỉ vào cái đầu mà nói bí mật. Phúc thì hết sức hãnh diện với mọi người khi nói về Thiện. Từ đó về sau học sinh trong trường không còn nghe ai rỉ tai ca tụng Việt cộng nữa. Học sinh an tâm học hành. Thầy Hiệu Trưởng thì mừng đã thoát nạn. Thầy sợ mang tiếng là chứa chấp Việt cộng trong trường.
Tình bạn của ba đứa chúng tôi ngày thêm gắn bó và gần gũi không bao giờ tách rời. Những niềm vui, nỗi buồn trong tuổi đời học sinh được chia sớt cho nhau thật sâu đậm hơn cả tình ruột thịt.
Những năm sau, chúng tôi lần lượt đậu Tú Tài 1, Tú Tài 2 vào lứa tuổi mười chín, đôi mươi tràn trề sức sống. Lúc này thật tình mà nói, tôi cũng như Thiện đã thực sự yêu Phúc. Tuy nhiên, mỗi người đều đã giữ kín trong lòng và cả Phúc nữa đã xem tôi với Thiện bằng nhau trong mọi cách đối xử, trong từng lời nói rất chừng mực. Thỉnh thoảng trong một cơ hội vui đùa nào đó chúng tôi lại nhắc vài kỷ niệm ngày xưa như tắm trần truồng dưới hồ sen trước Ðình làng, tát nước mương bắt cá, vài trò chơi con nít lúc thả trâu ngoài đồng...có cả ba người tham dự để cùng nhau cười nghiêng ngửa, chiêm ngưỡng nhắc nhớ kỷ niệm tuổi thơ thời con nít. Càng nói, chúng tôi càng bịa thêm màu mè, tạo thêm tình tiết...khiến Phúc càng lúc đỏ bừng mặt mắng yêu chúng tôi. Trong những giây phút thần tiên ấy tôi cắc cớ hỏi Phúc trong hai người bạn rất thân của mình, Phúc chọn ai sau này ? Phúc không nghĩ ngợi xa vời, nàng trả lời thật nhanh là Phúc sẽ chọn cả hai, chịu hôn ? Thiện nguýt dài bảo Phúc đừng có tham lam. Moa nhường cho ông Hoàng. Moa sống độc thân. Moa học hành xong rồi đi tu. Phúc nhìn Thiện cười chúm chím nói đùa, anh Thiện mà sống độc thân để đi tu thì phụ nữ tụi em không còn ai để lấy chồng.
Năm đậu Tú tài toàn phần, Phúc ở lại xin dạy học tại trường cũ. Nàng ghi tên học hàm thụ môn Luật. Tôi rũ Thiện cùng vào Saigon ghi danh vào Ðại học sư phạm. Ra trường, Thiện xin dạy tại tỉnh nhà, tôi đi một tỉnh khác. Dù xa cách, ba người chúng tôi vẫn thư từ, điện thoại thăm hỏi nhau, hoặc còn gặp nhau trong mấy tháng hè. Về dạy tại Cần Thơ, tôi may mắn gặp được Ngọc Hạnh cũng đang dạy học tại đây. Ngọc Hạnh là bạn cùng lớp thời đó, một thời từng đóng vai Trưng Nhị bên cạnh Phúc là Trưng Trắc trong những lần lễ kỷ niệm hai Bà Trưng. Nhờ vậy những năm sống xa hai người bạn rất thân tôi cũng không đến nỗi cô đơn cho lắm.
Chiến tranh leo thang khốc liệt. Quân đội Hoa kỳ và Ðồng Minh các nước đổ quân đông đảo lên vùng đất tự do miền Nam Việt Nam. Tôi và Thiện rủ nhau giả từ bục giảng, bước chân vào Vỏ Bị Dalat trước khi có lệnh động viên. Còn hơn tháng lên đường vào quân trường, bất ngờ tôi nhận được thiệp cưới của Thiện và Phúc. Cầm thiệp cưới trong tay của hai người bạn thân nhất đời, tôi lại ngẩn ngơ như có sự hối tiếc vì tôi cũng đã chờ, đã đợi, đã mong, đã mơ, đã ước...nhưng mình chậm chân quá. Ước mơ không phải là không có, nhưng ta phải phấn đãu mới có được. Tôi yêu Phúc nhưng vẫn chần chờ để nàng vuột khỏi tầm tay. Tình yêu như quả chín ngọt ngào giữa vườn cây tươi mát, ai nhanh tay ắt sẽ được. Thiện đã nhanh tay hơn tôi rồi. Tôi không buồn, không ganh tỵ với người bạn nối khố của tôi. Cho dù Phúc là vợ của Thiện hay của tôi đi chăng nữa tôi cũng cảm thấy không có gì khác thường, chúng tôi là những người bạn rất thân đã hy sinh cho nhau quá nhiều rồi cho dù phải hy sinh cả tình cảm.
Ngọc Hạnh cũng nhận được thiệp cưới của hai người bạn. Thiện và Phúc còn nhờ tôi và Ngọc Hạnh làm phù rễ phù dâu. Hai anh chị này như đang cố sắp xếp để cho hai người bạn mình không còn cô đơn. Tôi biết điều này lắm mà. Vì bạn thân mới được mời để phù rễ phù dâu. Cũng vì điều ngẫu nhiên này xảy ra trong tiệc cưới của Thiện và Phúc với những lời xúi giục của bạn bè thật là "quái ác", thành ra Ngọc Hạnh đã trở thành bà xã thật tuyệt vời và dễ thương nhất của tôi sau này.
Ngày ra trường Dalat, Thiện về Nhảy Dù. Tôi qua Chiến Tranh chính trị sau đó làm phóng viên chiến trường lê gót giày khắp bốn vùng chiến thuật. Thiện có tài chỉ huy, với lòng gan dạ, với lòng hận thù đã mất người anh ruột ngày trước, anh đánh giặc rất chì, lên lon rất nhanh, khiến địch nghe đến Tiểu Ðoàn của anh đều run sợ khiếp đảm.
Ngày giặc đến, tiểu đoàn của Thiện phải buông súng theo lệnh thượng cấp. Ðể tránh đòn thù độc hại của địch, Thiện đã may mắn đưa được Phúc và hai đứa con dại vượt biển tìm tự do.
Tôi bị địch bắt cầm tù mười năm. Ngọc Hạnh đã là người đàn bà thật tuyệt vời, một người vợ thật đảm đang trong trách nhiệm làm mẹ, làm vợ trong lúc chồng đang gian nan trong lao tù cải tạo. Sau tháng 4/75 tôi và Thiện đã mất liên lạc, không biết sống chết thế nào và nghĩ rằng có lẽ không bao giờ gặp lại nhau.
Trong mười lăm năm định cư tại Hoa Kỳ tôi cố tìm kiếm vợ chồng Thiện và Phúc, những người bạn thân thương nhất của vợ chồng tôi, nhưng vẫn không kết quả.
Trận bão Katrina tàn phá dữ dội các tiểu bang Louisiana, Alabama, Mississippị..cư dân các thành phố New Orleans, Biloxi, Galveston...hoàn toàn mất trắng tài sản. Mọi người di tản tứ tản đến các tiểu bang khác lánh bão lụt. Nửa tháng sau, thêm bão Rita tiếp tục hoành hành trên các vùng vừa bị bão và Texas...Cơ trời xui khiến tôi gặp lại vợ chồng Thiện và Phúc trong đám người chạy bão lụt đến thành phố này.
Gặp lại những người bạn cũ trong xác xơ tiêu điều, tôi và Ngọc Hạnh mừng rỡ như chưa từng thấy. Chúng tôi ôm nhau khóc cười trong nước mắt chảy dài. Ba mươi năm mất liên lạc, ai cũng nghĩ rằng đâu còn ngày gặp lại. Bây giờ gặp lại nhau trong hoàn cảnh lưu vong xa xứ, tình thân thương bạn bè vẫn khắn khít, đậm đà như mới ngày hôm qua. Giờ nhìn lại ai cũng đã thất thập cổ lai hy, có con, lại có thêm cháu, nhưng bản tính vẫn sôi nổi, tâm hồn vẫn trẻ trung năng động như ngày nào chúng tôi đua xe đạp mỗi ngày trên đường từ quê ra Quận ở cấp tiểu học. Tận đáy lòng chúng tôi chất chứa hàng khối kỷ niệm để cùng nhắc nhở và hoài vọng.
Tôi và Ngọc Hạnh đưa Thiện và Phúc về nhà, chia sẻ với anh chị mọi thứ cần thiết trong cuộc sống. Không những lá lành đùm lá rách, miếng khi đói bằng gói khi no như người đời thường nói, vợ chồng tôi còn có trách nhiệm lo cho anh chị trong lúc này bằng mọi cách. Trong niềm vui hân hoan đó, tôi nói :
- Anh chị có trở về lại New Orleans cũng chỉ còn nhìn thấy nền nhà đang ngập nước, hoặc nhìn những ngôi nhà ngã nghiêng trong biển nước, nếu có tái thiết cũng phải một thời gian lâu, chắc gì mình hưởng được. Mình lớn tuổi rồi, lo cho lắm cũng tổn thọ. Hãy ở đây với vợ chồng chúng tôi. Còn được sống năm nào để có cơ hội nhìn thế gian biến động không ngừng. Bão lụt, động đất, sóng thần, hãm hiếp, cướp bóc, khũng bố, chiến tranh, dịch bệnh, lòng hận thù và tranh chấp đang tràn lan trên quả địa cầu này mỗi ngày một nhiều thêm. Nhất định một ngày nào đó trái đất này sẽ nổ tung vỡ ra từng mảnh nhỏ và tan biến trong không gian vũ trụ bao la theo sấm ngôn của Ðức Chúa đã lưu truyền vạn đại.
Thiện nói, giọng anh thật buồn :
- Thuyết vô thường của Nhà Phật vẫn giá trị tuyệt đối. Một lần chạy giặc đã trắng tay chỉ còn bộ quần áo trên người. Giờ bão lụt tàn phá lại tay trắng. Tai trời ách nước chụp xuống không tránh một ai. Có đó rồi mất đó, rồi có lại và mất đi. Chỉ còn tình người giữa con người đồng cảnh ngộ là vĩnh cửu. Ðời chẳng có gì vui, mà cũng chẳng có gì là buồn, mỗi người dù trong hoàn cảnh nào đều phải hoàn thành trách nhiệm của mình. Vậy mà...
Thiện ngập ngừng, cười mĩm :
- Ngày trước tôi đã phải buộc cưới vợ để đánh mất cơ hội đi tu, vì tôi cũng đã có căn duyên để trở thành chân tu đắc đạo, góp lời cầu nguyện loài người thái hòa. Thế kỷ 21 cần lời cầu nguyện, lòng ăn năn sám hối hơn là hận thù, tranh chấp. Ðiều làm cho tôi không đạt lòng mong ước...Phúc của anh, em nghĩ anh nói đúng và anh cũng đã từng nói với em..!
Phúc lườm yêu chồng :
- Anh chị Hoàng ơi, có nghe anh Thiện của em đang nói như mơ kìa ! Cũng tại anh Thiện cả. Ngày xưa anh Thiện bám riết em để anh ấy đánh mất cơ hội. Anh Hoàng hiểu điều đó chứ ? Cả anh nữa, anh Hoàng ơi ! Em nói thật, nếu anh Thiện mà có ý đi tu hả thì giờ này chúng ta không ngồi đây nói chuyện bão lụt, mất mát. Nhờ lời cầu nguyện mà người đời ăn hiền ở lành, không còn tai ương.
Tôi gợi ý :
- Ðây này, chuyện thực tế là làm sao không còn cái chế độ bất tài và tham nhũng nữa, để mình về quê hương dẫn nhau nhảy xuống hồ sen trước Ðình làng bơi lội, cút bắt...rồi đắp mương tát cá ngoài đồng có lẽ là thú vị hơn. Ðó là chuyện mơ ước...còn bây giờ thì nhà tôi có hồ nước trong sau nhà, chúng ta cứ tự nhiên...vui đùa như ngày xưạ..có ai dám không ? để cuộc đời bớt căng thẳng một chút.
Tôi ngừng nói chờ ý kiến đồng thuận. Tôi không ngờ ai cũng thích thú hưởng ứng. Những cuộc vui đùa cứ thế được tái diễn với những gợi nhớ trong muôn vàn kỷ niệm giữa những người bạn cũ trong suốt dòng đời phía trước...đang có mặt hôm nay !..
(Ghi thương nhớ những hình ảnh thân thương cuộc đời để để nhớ những người bạn rất thân của tôi. )
Anh Yêu Dấu
Thế là một năm đã trôi qua, một năm của nhiều yêu thương, nhớ nhung, giận hờn, để biết rằng tình chúng ta vẫn nồng nàn,
say đắm, những cơn đau, sự trống vắng vẫn rình rập chiếm ngự vào tâm hồn em, những thử thách vẫn mãi chất chồng, nhưng anh biết không, tình yêu anh đã cho em có nghị lực vượt qua những khó khăn ấỵ
Cuộc đời, tình yêu như những áng mây trôi, những giông tố thăng trầm, đã làm thay đổi biết bao số phận của con người ? Trong đó có em, những thăng trầm ấm đã tạo cho em cứng rắn và trưởng thành thêm hơn . Ddôi khi những mệt mỏi, khó khăn đã làm cho tinh thần của em chùng xuống và muốn buông xuôi tất cả, nếu không có anh, không có tình yêu của anh, chắc có lẽ em sẽ không đứng vững, anh thấy mảnh lực tình yêu mầu nhiệm không ?
Tình yêu như trái dâu tươi
Khi chua khi ngọt khóc cười có nhau
Tình yêu muôn sắc muôn màu
-Diểm tô cuộc sống, nhịp cầu thân yêu
Tình yêu như gió trăm chiều
-Dôi khi giông tố đìu hiu ngõ sầu
Tình yêu như áng mưa ngâu
Buồn vương khoé mắt thâm sâu đáy lòng
Những sóng giócủa tình yêu đôi lúc cũng làm em chán nản không ít, nhưng cũng không vì thế mà hết yêu nhau và xa nhau đúng không anh ? Vì thế, em lúc nào cũng ao ước anh mãi yêu thương em như ngày đầu ta gặp . Những kỷ niệm vui buồn là sức mạnh vun đắp tình yêu của chúng tạ Những giòng nước mắt chia sẻ niềm đau, cũng đã làm chúng ta yêu nhau thêm hơn phải thế không anh ?
Anh là cái gai
nhoi nhói nơi tim
Anh là cánh chim
em cố đang tìm
Một nửa lạc nhau
Một phần còn lại
Chia sẻ quảng đời
Xoa dịu nỗi đau
Viết Cho Giao Mùa
Jan 2009
-DHH
~~~/~~((@
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 81 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà