Số 82

Ngày 1 tháng 2 năm 2009

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua@hotmail.com


Phân Ưu

Ðược tin nhà văn Trần Viết Minh Thanh, cựu thành viên trong Ban Biên Tập Giao Muà đã từ trần lúc 8:30 tối ngày 4 tháng 1 năm 2009 (nhằm ngày 9 tháng 12 năm Mậu Tý), hưởng dương 54 tuổi.

Xin thành kính chia buồn đến gia đình chị Trần Viết Minh Thanh.

Nguyện cầu hương linh Chị sớm tiêu diêu miền Cực Lạc.

Ban Biên Tập Giao Muà











Thư Ngỏ



Mùa Ðông được nghĩ là ba tháng như các mùa khác cho công bằng chứ thật sự nơi tôi sống mùa Ðông chỉ độ ba tuần khắc nghiệt nhất với bão tuyết và cái lạnh kinh hồn rồi thôi. Phải chi cuộc đời cũng thế, qua những kinh hoàng nhất, thăng trầm nhất rồi lại yên ả, bịnh dị như bản chất của nó. Nhưng thật là không phải, muốn tôi nói phải tôi cũng không dám vì tiếp tiếp nhau, những thử thách, những thăng trầm đến trong đời tôi. Dù không được mong đợi, tôi vẫn phải đương đầu, được, thua, không thành vấn đề, chỉ mong mỗi một điều đơn giản là mình không phải học lại bài học nào đã học rồi nữa.

Tháng Giêng, tôi đau buồn nói lời từ giã muộn với chị Trần Viết Minh Thanh, thành viên BBT Giao Mùa cũ, biết về nhau chẳng được bao nhiêu nhưng thân quen với danh của chị trong những lời thư ngỏ và trên các website quen thuộc bao nhiêu năm nay cái đau cũng khó mà nói nên lời. Chỉ quen chị qua những dòng chữ của chị dù chưa gặp đã đau thì những người từng gặp gỡ và quen chị còn đau cỡ nào khi tin ập tới.

Hồi còn bé tôi hay nghe người ta ví cuộc đời như áng mây bay, thấy đó rồi mất. Tôi vẫn nghĩ người ta ví chơi và muốn tạo hình ảnh cụ thể cho dễ hiểu. Nhưng giờ thì hình ảnh ví đó sao mà xác hợp với suy nghĩ tôi đang có vô cùng.

Chào một tháng sinh động mới đến với Giao Mùa, cho tôi xiết chặt tay các anh chị, tiếp nối một dòng tưởng niệm đến những anh chị và bạn bè đã đi xa. Cùng tiếp tục chia xẻ với nhau những dòng chữ khi còn đây một vinh dự cho chính bản thân tôi. Mai này, có tận chân trời góc bể, sẽ luôn nhớ về nhau dù còn hay mất .

Thân kính

Vành Khuyên
Ban Biên Tập Giao Muà


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Xuân Về ______Ái Ưu Du
2. Hoài Xuân ______Nguyệt Vân
3. Lạnh ______Vành Khuyên
4. Xuân Và Kẻ Vong Quốc ______Ngọc Long
5. Muà Xuân Năm Ấy ______Phan Tưởng Niệm
6. Nghe Cô/Bác Chúc Tết ______Trọng Văn
7. Vệt Sáng Sài Gòn ______Sông Cửu
8. Tình Xuân ______ Ngọc Hải ( VN )
9. Mùa Xuân Anh Có Về ______ Hồ Thụy Mỹ Hạnh
10. Dáng Xuân ______Nguyễn Thế Hoàng
11. Tết Chẳng Giao Thừa ______Hàn Thiên Lương
12. Bóng Dáng Người Xưa ______ Lê Miên Khương
13. Cũng May Mình Biết Làm Thơ ______Trần Hoan Trinh
14. Viết Từng Vùng Gió Xoáy ______ Du Yên
15. Líu Lo Chim Hót ______Thy Lan Thảo
16. Vui Xuân Thái Hoà ______Song An Châu
17. Còn Gì Cho Nữa ... ______jacaranda
18. Diệu Vợi ______Vân Hà
19. Sắc Tím ______Uyên Phương Minh Nguyệt
20. Tuyết Ðông Và Cố Hương ______Mynh Hứa
21. . Gửi Hương Cho Gió ______Ðông Hòa Nguyễn Chí Hiệp
22. Lộc Xuân ______ Hà Khánh Phương
23. Những Bài Thơ Cuối Ðông ______HồChíBửu
24. Xuân ______Mạc Phương Ðình

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ) _______ Ðông Hoà
2. Bờ Lau Cát Lở 37 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành
3.Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ái Ưu Du
4.Chập Chùng Bóng Núi 30(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn
5.Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên
6.Mai Ly (tập III) ___________ Việt Dương Nhân
7.Cô Ðơn ___________ Vành Khuyên
8.Bữa Cơm Chiều Cuối Năm ___________ Nguyễn Thế Hoàng
9.Thư Tình ___________ Bùi Quang Diễm Thu
10.Tình Nghĩa Xui Người Lại Nghĩ Ðến Trâu ___________ Ðoàn Văn Khanh
11.Hoa Ðồng Cỏ Nội ___________ Trần Thành Mỹ
12.Khúc Sông Bên Lở Bên Bồi ___________ Vô Ngã
13.Năm Sửu Nói Chuyện Trâu. ___________ Hoàng Yến
14.Lãng Mạn ___________ Vân Hà

III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. HỘI VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT TỰ DO _______ Giao Muà

V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1. Xuân  Về  
 

Tết năm nầy, anh đã nhớ rủ rê: 
Phone bàn cùng bạn chuyện trở về quê. 
Anh chi. em sớm hôm đều có thể. 
Mang tình thương đi vun vén bốn bề. 
* 
Dù xa xôi qua ngàn dặm sơn khê. 
Sóng bạc đầu nắng gió mưa chiều quê. 
Mình xe gạo, rau tươi, khô, đường thẻ. 
Ðủ thứ! Nhiều quà bánh… kéo lê thê. 
* 
Tay mang tay xách dõng dạc ta về. 
Rủng rỉnh túi tiền nặng trịch quà nhe. 
Có tiền, quà: mình phát hết bên hè. 
Hoa nở đầy sân. Vui bầy con trẻ
* 
áo mũ vòng vàng tím xanh đỏ choé. 
Anh Cả ung dung đi mời bạn bè. 
Tu hết vò rượu. Ho. say xĩn ghê! 
Mẹ già móm mém mỉm nụ cười, khoe: 
* 
Làng xóm ơi! Có con về. Tui khỏe! 
Cô vợ tươi; hỉ hả chạy le te 
ra chợ cô bưng thịt cá ê hề… 
Bà con đón xuân về mãi no nê… 

*** 

    		
 Ái Ưu Du  
Mục Lục


2. Hoài Xuân Xuân này Trâu đến, Chuột ra đi Nhất Tý, nhị Ngưu cấn Thiên Chi Mười hai con giáp vòng luân chuyển Tay bắt mừng Xuân rượu cạn ly Hoài vọng tâm về nơi cố Quốc Thương cha, nhớ mẹ lệ trào mi Xuân về cha, mẹ thêm cao tuổi Lễ chùa cha, mẹ có còn đi? Xuân 2009 Cánh Cò Ðã mấy mươi năm thoáng cái vèo Còn lại gì đây để mang theo Có chăng chỉ hai bàn tay trắng Một trái tim thơ rã cánh bèo Tôi tạm dừng chân đất tự do Sáng, trưa, chiều, tối quẩn quanh lo. Tình nhà, nợ nước còn nặng nghiệp Lặn lội gieo neo mỏi cánh cò Tôi tự hỏi tôi, rằng có sức? Nghiệp đời ta trả được bao lâu? Tnh đời nhân thế bon chen quá Mõi cánh cò sợ lặn nước sâu Mõi cánh cò sợ lặn nước sâu Ðục, trong thôi cũng bạc mái đâu Thế gian xin hỏi:-Ai hiểu được? Một kiếp người cũng lắm bể dâu. Nguyệt Vân
Mục Lục


3. Lạnh Lạnh cả tâm tư lẫn cõi lòng Lạnh thấu từng thớ thịt bên trong Lạnh như là thấm vào xương tủy Những lời an ủi, ấm hay không? Lạnh những phong ba đã dập vùi Lạnh lắm trò đời diễn mua vui Lạnh sao lạnh mãi mà không dứt Ðược, mất trong đời có thế thôi. Lạ thay thói hợm hĩnh con người Lạnh vẫn nghĩ ấm để mà chơi Gian dối chính mình vô liêm sỉ Vẫn cười ha hả chẳng phút ngơị Vành Khuyên
Mục Lục


4. Xuân Và Kẻ Vong Quốc Xuân lại đang về phải không em Em mừng hay tủi nói anh xem Ơ kià sao lại ôm mặt khóc Em nói đi em – nói đi em Em nói đi em – nói đi em Chẳng lẽ bao năm vẫn chưa quen Những đau những hận đời vong quốc Phải thế không em - phải không em phải thế không em - phải không em nên chi xuân mới đã mon men đến kề lại thấy lòng chua xót và chẳng muốn mà lệ vẫn hoen và chẳng muốn mà lệ vẫn hoen vui sao cho được phải không em ngàn hoa xuân thắm tô sao thắm cõi lòng chết tự Tháng Tư Ðen . Ta Khóc Ta tiếng gì ai oán lại thiết tha thoang thoảng trong cơn mưa la đà len len lỏi lỏi qua khe lá thì ra gió lạnh quyện gần xa thì ra gió lạnh quyện gần xa kỷ nhân chẳng có có chăng là nỗi buồn cô quạnh đêm không ngủ ôi chỉ mình ta chỉ mình ta ôi chỉ mình ta chỉ mình ta nỗi đau mất nước hận mất nhà đã bao ngày tháng như dao cắt ai hiểu cho ta hiểu cho ta ai hiểu cho ta hiểu cho ta cọp thiêng sa bẫy nhớ rừng già anh hùng lỡ vận thương cung kiếm ai thấu lòng ta thấu lòng ta ai thấu lòng ta thấu lòng ta giờ đây muôn dặm cách quê nhà xuân về nâng chén hờn vong quốc độc ẩm và rồi ta khóc ta

Ngọc Long

Mục Lục


5. Muà Xuân Năm Ấy Mùa xuân ấy! Giặc về gieo máu lửa. Em gái tôi chết giữa đêm ba mươi. Ðạn pháo rơi ghim nát khắp cả người. Ôi!” Giải phóng”. Tuổi đời còn bé bỏng. Mùa xuân ấy! Giặc về gieo tai biến. Mẹ già nua nuối tiếc - Gánh tương lai. Chạy chinh chiến - Vượt sông - Ðò chìm lỉm. “Hạnh phúc” ơi! Thân mẹ biết về đâủ! Mùa xuân ấy! Giặc về gieo tang tóc. Lẻ loi đời cô phụ ngậm ngùi đau. Ðêm chiếc bóng thương về rừng cải tạo. “Tự do”đâu! Năm tháng nỗi hận sầu. Mùa xuân ấy! Giặc về mưa gió phủ. Quê hương tôi lở lói một màu tang. Dân tộc đói lê thân qua xứ lạ. “Ðộc lập” gì? Bao dòng lệ chứa chan! Ðón Tết Quê Người lại một mùa xuân về đó nhỉ ! thêm một lần thương nhớ xót xa con chim én giữa trời xa lạ mõi cánh bay – tìm chút quê nhà . đêm thinh lặng - đón ngày xuân mới đêm giao thừa nhắp chén men cay ta với ta - nồng say rượu cạn biết cùng ai đón tết đêm nay ! ngồi nghe mưa gió vui trò chuyện sao thấy lòng mình thoáng lạnh căm con phố cuối mùa đi ngủ vội còn mình ta - vọng hướng xa xăm ! thầm ước mai này khi thức dậy hoa xuân nở rộ khắp quanh nhà nhìn lũ em thơ vui pháo nổ mừng xuân sum họp - khúc hoan ca . Phan Tưởng Niệm
Mục Lục


6. Nghe Cô/Bác Chúc Tết Ðầu năm cô/bác chúc an khang Tiền vô như nước mãi giàu sang Ðiệu nầy lắm kẻ trông vào số Ngồi không, tán dóc thử có ăn! Ðầu năm cô/bác chúc đẹp ra Tươi trẻ như hoa, chẳng thấy già Úi chà có lẽ mấy ông khổ Vợ để lơ mơ mất đấy nha! Ðầu năm cô/bác chúc dồi dào… Sức khỏe, yêu đời nên sống lâu Chắc trại dưỡng lão hết phòng chứa Mấy cụ đông quá biết nhét đâu? Ðầu năm cô/bác chúc thăng quan Hay ngồi đúng chỗ có đủ phần Thế là công việc càng thêm khhó Ðút lót, hối lộ… đâu cũng cần! Ðầu năm cô/bác chúc trúng mùa Thời tiết thuận hòa đủ nắng/mưa Kiểu nầy nông sản nhiều vô kể Hoa mầu, ngũ cốc cho vẫn thừa! Ðầu năm chúc tụng tại vì sao Tục lệ hay là phép xã giao Trao nhau tất cả lời tốt đẹp Trong năm nhìn lại có thứ nào? - 20080128 Ngẩu pín, đuôi bò hầm thuốc Bắc - Trọng Văn Món Ngẩu Pín nghe cường dương, bổ thận Giúp mấy ngài thằng nhỏ không ngỏng lên! Dùng món nầy quý cụ chớ có quên Kiêng cữ rượu, giá, đậu xanh... đồ mát Hiệu quả ư? Mình chả biết! Thú thật Chỉ nấu thôi! Thì thấy rất thơm ngon Ăn vẫn xìu, dặn trước đừng chửi con Nếu quá chiến, cho hay còn quảng cáo. Cắt ngẩu pín ngâm muối, rửa để ráo Lóc đuôi bò hết mỡ bổ dọc ra Bỏ vô nồi ướp với xì dầu nha Ðợi cho thấm vài ba giờ càng tốt Mớ thuốc Bắc phải chọn hàng số một Gồm sơn dược, hoàng thị, táo, phục linh Có đỗ trọng, kỷ tử...đồ bổ kinh Chung vô hết với nước mình nấu nhé! Nồi áp suất xì hơi... Hạ lửa lẹ Rồi đun thêm có lẽ khoảng nửa canh Xong rồi đấy mời mấy bác dùng nhanh Khi còn nóng (nhớ ăn lúc bụng đói) Chừng hai lần mỗi tuần (thầy thuốc nói) Ba tháng sau sẽ khỏi bệnh liệt ngay Cậu nào dùng thấy được nhắn cho hay Chứ đầu bếp quán nầy chưa hề thử! - 20090113 Trọng Văn


Mục Lục


7. Vệt Sáng Sài Gòn “Bài thơ tặng Miên Thụy” Xuân nồng... lòng nhói men cay Thương em, Tuổi" hao gầy… tha hương. Sài Gòn Hứng bụi ôm sương Dấu chân ai? Cuối vệ đường cây thưa Chợ Chiều Con hẽm ngập mưa Thương cây bàng nhỏ Ðong đưa lá vàng... Lăng Ông Nghi ngút khói nhang Lâm râm lời khấn Nỗi oan tràn về! Giựt mình nhìn mái tóc thề Ngỡ em tan lớp Chiều về trong mưa... Còn chăng sợi nắng xuân xưa? Lưa thưa vệt sáng đong đưa nẽo về! Sông Cửu
Mục Lục


8. Tình Xuân Ngày xuân đi giữa bụi mưa Biết anh hàng xóm ngày xưa đợi mình? Bâng khuâng giữa nghĩa ,giữa tình Cái xuân xanh đã bay nghìn năm xa Một lần bước vội xe hoa Trăm năm làm kiếp đa đa chợt buồn Về quê gặp lại người thương Mơ gì cái mộng dư hương ngọt lành Thì thôi ! chuyện cũ mong manh Sao trong khoé mắt long lanh hỡi ngườỉ

Ngọc Hải ( VN )
Mục Lục


9. Mùa Xuân Anh Có Về ( Tặng L) Trong vô vàn nỗi nhớ về anh Em khép lại nụ cười tháng chạp Mùa xuân đến cho không gian ấm áp Riêng hồn em còn mãi một mùa đông Giữa đất trời xuân thật mênh mông Cho sắc thắm muôn hoa càng rực rỡ Mà lòng em màu tím buồn bỡ ngỡ Chiều lạnh lùng ngõ vắng bước lang thang Gởi nỗi niềm cho ngọn gió đi hoang Em khắc khoải trong từng ngày mong đợi Cuối tháng chạp, xuân bây giờ đã tới Anh có về cùng với gió xuân sang ?... .......................................................... HÃY MANG MÙA XUÂN THEO Mai anh đi nhớ mang mùa xuân theo Ðể vui hơn khoảng trời nơi ấy Chỉ xin chút bình yên ở lại Chút ngọt ngào còn sót ở trong tim Mai anh đi khoảng cách sẽ dài thêm Con dốc vắng loài hoa vàng vẫn nở Những bước chân lạc loài trong nỗi nhớ Tím chân trời , bàng bạc một màu mây Tình yêu nào thiếu vắng một vòng tay Và hạnh phúc một người làm sao đến Con sông nhỏ không thể tìm ra biển Mối tình xanh cũng vàng võ mà thôi Những chiều sương giăng mờ phía kia đồi Những hàng cây co ro trong gió lộng Ngoài thềm hoa úa vàng từng cánh mỏng Em thấy đời hiu quạnh bởi vì đâu ? . . . Mai anh đi thôi mình chia tay nhau Mùa xuân cũng theo anh về nơi ấy ! Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Mục Lục


10. Dáng Xuân Pháo nổ ran trời Tết đến nơị..!! Người người vui Tết khắp nơi nơi ... Nêu cao thắm thiết Tình Nhân Ái, Ðối đỏ đậm đà Nghĩa Giao Bôi. Rượu tiếp liền ly, thêm hương vị… Trà châm nối chén, đậm vành môị.! Dáng Xuân man mác Tình Muôn Thuở..! Xuân cũ giờ đây vẫn tuyệt vờị..!!! Nguyễn Thế Hoàng

Mục Lục


11. Tết Chẳng Giao Thừa Bao xuân qua Tết chẳng giao thừa Ngoài trời sương gió rào rào mưa Cõi lòng tro lạnh tàn hương lửa Rưng rức u hoài nhớ chốn xưa! Bao năm vắng bóng trời xuân mộng Ra đi từ độ đỏ sơn hà Nắng không còn vui xuân đất khách Pháo hồng vắng tiếng chốn quê xa!! Ta nghe đau xót đời phiêu lãng Thương mãi trời Nam, nhớ núi sông Một thuở nào xuân vang khúc hát Vạn tiếng cười vui giữa phố đông! Xuân lạc phương nào ai biết không Mà sao xuân biệt cõi lưu vong? Trong ta Tết nhạt tình Nguyên Ðán Lệ đắng tràn mi, chẳng rượu nồng! Mẹ ơi xin đốt thêm nhiều lửa Ðể Tết trời xa bớt lạnh lùng Thấy rõ đường đi không lạc lối: Giữ lòng thắm mãi nghĩa kiên trung!
Hàn Thiên Lương





Mục Lục


12. Bóng Dáng Người Xưa Có đôi khi Ðịnh nắm một bàn tay Chợt nhận ra Vết thương lòng chưa khép kín Bàn tay mình còn hơi ấm của người xưa Có đôi khi Muốn đặt một nụ hôn lên má Chợt nhận ra Vết xước da non chưa lành sẹo Môi mình còn vị mặn nước mắt người xưa Có đôi khi Cũng muốn thay tấm áo mới Nhưng không cảm nhận được những gì trái tim không cảm nhận Mắt không thấy được những gì trái tim không nhìn thấy Vì lòng còn đầy bóng dáng người xưa Không thể đổi ngày ra đêm, trắng ra đen Vứt bỏ hoa cúc vàng lấy bông hồng đỏ rói Vì tim mình còn nhức nhối bóng dáng người xưa tháng 12 / 2008

Lê Miên Khương
Mục Lục


13. Cũng May Mình Biết Làm Thơ Cũng may mình biết làm thơ Ðể thao thức sớm để tơ tưởng chiều Ðể xuống suối để lên đèo Ðể ve vuốt mộng để thêu dệt tình Ðể tô hồng để điểm xanh Bao nhiêu mơ ước đã thành cùn trơ Cũng may mình biết làm thơ !

Trần Hoan Trinh
Mục Lục


14. Viết Từng Vùng Gió Xoáy Có hay chăng mùa thu về rất vội Khung trời buồn cũng trải rông mênh mông Từng chiếc lá vàng rơi mang theo nỗi nhớ Hồn tan vào cõi tĩnh lặng hư không Trên cỏ úa còn vương chút nắng hồng Như tiếc nuối mùa thu nào đã mất Những thằng bạn ngày xưa giờ đã khuất Rót rượu chờ nhau cho đến tận cuối đông Những hạt mưa đan dày khung cửa sổ Ta hoang vu cùng dòng nước chảy suôi Trong băng giá như lạc vào cổ mộ Thấy quanh ta là những sót sa đời Thấy quanh ta là những trận cười Những tiếng cười đong đầy nước mắt Ta sung sướng vì ta còn được khóc Hạnh phúc nào rồi sẽ bước lên ngôi Những con thuyền đã vội vã ra khơi Trong đêm đen làm bạn cùng giông bão Bỏ lại sau lưng mắt môi một thuở Bỏ lại sau lưng một giải sơn hà Bao mảnh hồn ngơ ngác những ngày xa Những xác thân chênh vênh trên dốc núi Trong bao la cố quên đi hận tủi Ðể mong ngày gặp lại những yêu thương Và những đêm thức đếm mãi canh trường Cho đến khi ánh bình minh ló rạng Ðể còn thấy ngày mặt trời tỏa sáng Ðón mùa xuân đàn én rủ nhau về Ðể quê hương bừng tỉnh thoát cơn mê Cơn ác mộng đã lùi xa dĩ vãng Và mang theo vết tích đời cay đắng Cho muôn hoa bừng nở sắc xuân nồng Vùng gió xoáy – đón xuân kỷ sửu Du Yên
Mục Lục


15. Líu Lo Chim Hót * Giọng êm buồn nhỏ nhẹ Rót mật ngọt vào tai Ðêm qua tiếng thỏ thẻ Trong giấc mơ thật đầy ! Con chim chuyền cành hót Dáng thật hiền dễ thương Màu lá xanh ngọc bích Hoa nở sắc tươi hồng ! Tuổi em trời xuân ấm Ðường rộng bước thênh thang Chiến chinh vết khắc đậm Lòng ta vẫn riêng mang Làm sao em biết được Bước hiểm nghèo chiến chinh Con chim rừng khóc mướt Nhìn người tù điêu linh… Giọng ngọt ngào nhỏng nhẻo Em hỏi ta đủ điều Chuyện ngày xưa đi học Chuyện thương buồn tình yêu Ơi con chim huyền dịu Líu lo hót trên cành Ta mùa thu lá úa Mắt chim buồn long lanh! Ta có em - buổi sáng Nắng ấm đẹp trong lành Ðêm mơ tình lãng mạn Dệt ý đời mỏng manh ÊM ẤM GIÃ TỪ * Giọng ấm êm trời nắng thật trong Trăm cơn ý nhớ khắc trong lòng Mây trôi chầm chậm nương theo gió Ai hẹn mà ươm mắt đợi trông Lá của ngàn cây đậm sắc xanh Tàn đêm sương mỏng giọt mong manh Nắng lên em đứng im chờ gió Một bức tranh- xóa bỏ đoạn đành! Cũng vẫn nụ cười môi thắm mộng Chút duyên thèn thẹn tuổi năm xưa Hình như cố ý quên đời đắng Nên vẫn yên bình trong gió mưa… Tay nắm bàn tay da sạm đen Áo xưa em mặc vết đời hoen Ta về mắt ướt buồn xa lạ Ðêm tối nằm yên thấm phận hèn… An ủi gì ta em vuốt ve Gió len nhè nhẹ bước sau hè Trong cơn mộng mị bao thằng bạn Áo trận tơi bời- vết máu me… Ta muốn làm thân ôm lấy em Cùng chia ân ái suốt thâu đêm Tâm ta bỗng thức- Lòng ta nhớ Cờ tả tơi, máu ngược về tim Thổn thức nhìn ta mắt ướt sao Lời em từ giã ý nghẹn ngào Biển kia đang gọi đang chờ đợi Tình hẹn em à! Chớ xuyến xao Thy Lan Thảo

Mục Lục


16. Vui Xuân Thái Hoà Hoa Xuân nở rộ bên thềm Sao lòng chẳng thấy ấm êm chút nào Xuân về lòng lại nao nao Nhớ quê, nhớ mẹ dạt dào tình thâm. Bỏ quê, xa mẹ bao năm Nay thân viễn xứ đêm nằm lệ tuôn Giờ đây là khách viễn phương Quê người tạm trú, tạm nương náu nhờ. Chờ cho quê mẹ bao giờ Ðêm dài bừng sáng dựng cờ đón Xuân Nước non một mối ăn mừng Toàn dân đoàn kết vui xuân thái hòa. Xuân Kỷ Sửu, 2009 MỪNG XUÂN HỘI NGỘ Ta cứ tưởng mùa Xuân này chưa đến Nhưng đông về thoáng chóc đã đi qua Như thu đến lá vàng bay trong gió Ba mươi bốn năm đau nỗi xa nhà. Ta cứ ngắm chậu hoa vàng trước ngõ Mỗi xuân về để được ấm lòng ta Mấy ngày vui đầu năm nơi xứ lạ Khi đông về giá lạnh héo cành hoa. Thêm mùa xuân nữa ta đã xa nhà Mà đường về như không còn xa lắm Ta đợi chờ nôn nóng mấy năm qua Mong ngày về quê ta xuân bừng sáng. Hàng vạn người xa xứ mấy xuân sang Từ trăm nẽo sẽ về quê ta đó Tay trong tay cùng vui dưới nắng vàng Mừng đất nước trong ngày vui hội ngộ. Xuân Kỷ Sửu 2009 Song An Châu


Mục Lục


17. Còn Gì Cho Nữa ... Sẽ mãi nồng nàn ... em và thơ Tung cánh chim ngoan đậu bến chờ Nghiêng nét bút tình tôi vung vẫy Ô kìa năm tháng đẹp như mơ Sẽ mãi như là nhạc êm trôi Ngọt ngào tiếng vọng giữa đôi môi Rót vào ký ức nuôi tiềm thức Ðậm tình đôi lứa dẫu xa xôi Em viết thêm đi lời nồng nàn Ðể con tim nhỏ tôi xốn xang Thêm lần thức giấc nhìn Xuân đến Mở cửa đón tình em chứa chan Ta sẽ có nhau trọn một đời Thơ tình tô mãi mộng đầy vơi Từng lời ve vuốt như bờ sóng Ôm nhẹ thân tàu giữa biển khơi Còn gì cho nữa ... em cứ trao Ðể tôi hưởng tận những ngọt ngào Như chén rượu Xuân môi mềm nóng Cùng vòng tay lướt nhẹ xuyến xao ... Jan_02_2009 jacaranda


Mục Lục


18. Diệu Vợi Tôi thẩn thờ, đi lạc giữa mùa xuân Ðường khúc khuỷu, thăng trầm, ai cũng tới Sống cho qua, tháng ngày như vẫn đợi Người đi xa, xa mãi, hóa ra gần Ở cõi đời, sao tránh được trầm luân Vòng tục lụy, ai người không trói buộc Kẻ cao sang, chói ngời, người nhơ nhuốc Vuốt mặt thôi, tay trắng, bỏ dương trần Thêm một lần, đủng đỉnh bước mùa xuân Sao chợt thấy tuổi đang dần hối hả Chưa kịp sống, yêu đương, chưa vay trả Làm sao tôi, níu áo, kéo xuân về. Mỗi cuộc đời, là mỗi chuyện nhiêu khê Vui cũng trách, mà buồn đau cũng trách Nào ai biết, lòng người dơ hay sạch Thượng đế ơi, ai cũng muốn bắt đền. 23 tháng chạp 08 Mơ Trăng Có bao giờ em ngồi dưới ánh trăng Nhìn thật rõ gương mặt người đối diện Trong đôi mắt đang nồng nàn ẩn hiện Bóng hình em tan chảy ngập vào lòng Giọt trăng vàng lấp lánh nỗi chờ mong Ôm cho hết từng tháng năm hoài niệm Thân cháy bỏng làm hồn em ngất lịm Ngỡ đã quên cơn rời rã muộn màng Cứ tha hồ làm trời đất tan hoang Chừa một chổ để riêng làm dấu ấn Rồi cũng thế, đời còn đang quanh quẩn Cho một lần, được lãi tới ngàn năm. Tặng J.H Vân Hà


Mục Lục


19. Sắc Tím Màu tím ngả nghiêng giấy học trò Ðậm tô tình ý một bài thơ Bâng khuâng một thuở hồn phiêu lãng Gom gió kéo mây em mộng mơ Hoa tím rụng rơi theo gió Ðông Chiều buồn năm ấy ngẩn ngơ lòng Tiễn anh hoa lá sầu u uẩn Màu tím theo anh tím cả sông Ðàn tím nghiệt oan đau phím tình Dư âm còn mãi sáng lung linh Cung sầu réo rắt thêm thương nhớ Anh hỡi làm sao nhạt bóng hình Mãi mãi trong em một nỗi sầu Ðường đời xuôi ngược biết về đâu Long lanh giọt tím rơi trong mắt Phiến đá cũng buồn cây cỏ đau Màu tím mãi là màu tím thôi Màu buồn một thuở biết yêu người Ðoạn trường lắm nỗi chân nghiêng bước Sắc tím hành trang nghiệt ngã đời. Uyên Phương Minh Nguyệt


Mục Lục


20. Tuyết Ðông Và Cố Hương Tuyết bay, tuyết nhảy, đầy sân trước Tuyết đứng, tuyết ngồi, chật vườn sau Trong nhà rượu chảy tràn cổ họng Người nghiêng, bóng ngả, vết tường loan Ai ngờ trí tỉnh khi say rượu Nóng rực ngoài da, lạnh trong lòng Nổi nhớ dồn lên đầy khối óc Cụng ly hay cụng đất quê hương Vành môi mặn chát thời ly xứ Ánh mắt vời trông toạc võng mô Thấy gì trong ánh đèn nhân thế Mấy lớp sương mù của biển khơi Em ơi ! tóc xanh còn óng mượt Hay đã hoe vàng của nổi trôi Từng ngày quang gánh buồn nặng trĩu Bàn chân chai sạm những con đường Lệ quê hương xứ người là rượu Uống cạn hết ly, lệ vẫn tràn Mùa đông tuyết lạnh, tim tê cóng Tuyết tan, sao lòng cứ bàng hoàng Dân tôi mang phận dân nhược tiểu Suốt mấy ngàn năm cổ hai tròng Ðã sang thế kỷ hai mươi mốt Cổ còn vướng ách của Mác-Lê Thế giới ‘ đại đồng ‘ đâu chẳng thấy Chỉ thấy, tư bản đỏ, đại gia Thấy đám dân đen chẳng có nhà Ðói cơm, thiếu áo đang kêu khóc ‘ Ðộc lập, Tự do và Hạnh phúc ‘ Khẩu hiệu trưng ra để bịp đời Ðộc lập nghĩa gì khi cắt đất Dâng cho Tàu cộng vật cống thần Nhân quyền chà đạp như bụi rác Bắt bớ, giam cầm tiếng lương tâm Ðừng nghe đảng nói để khỏi lầm ‘ Tự do dưới trướng màu cờ đỏ ‘ Nhà tù khắp nơi, tù cả nước Toàn dân mấy người được an thân Phập phồng lo sợ khi đêm xuống Hạnh phúc tàn canh luống ngậm ngùi Hải ngoại xuân về hoa tuyết trắng Cánh nhớ, cánh thương rợp phố phường Hải ngoại xuân về cành mai giả Vàng như da thịt của quê hương Cố quốc giờ đây hoa khoe sắc Sắc nào đọng lại mắt em thơ Ðể ánh hồng lên nguồn hy vọng Bao năm dân tộc mãi mong chờ. Tacoma 31/12/2008 Mynh Hứa


Mục Lục


21. Gửi Hương Cho Gió Bát luân xa trường họa 1- Ðến Xuân em gửi hương cho gió Ðể nắng theo về nghiêng bóng so Rộn rã ngàn hoa khoe ánh sắc Nhẹ nhàng đôi liễn thả lời thơ Níu trên ngọn trúc sương lơ đãng Ðọng dưới đường mây mắt hững hờ Có phải đã lâu rồi cách biệt Nên người bỡ ngỡ tưởng rằng mơ 2- Ðể nắng theo về nghiêng bóng so Sớm mai trước ngõ dáng ngây thơ Kìa em lộng lẫy trời hoa thắm Và mắt long lanh giữa nắng hờ Tôi cảm thấy lòng vùi cõi nhớ Tim như say giấc lịm sầu mơ Mùa Xuân tìm đến từ lâu lắm Với nhạc ân tình dạo khúc tơ 3- Rộn rã ngàn hoa khoe ánh sắc Hương tình thả nhẹ quyện câu thơ Miền thương luyến mãi trong sương bạc Cõi nhớ còn vương giữa bóng hờ Cảnh sớm nhìn xuân tràn giấc mộng Canh chiều viếng bạn thỏa cơn mơ Tâm lòng giây phút nghe êm ái Tiếng nhạc vui vầy ai mới so 4- Nhẹ nhàng đôi liễn thả lời thơ Em đứng nhìn xa đón gió hờ Ngàn lá ửng xanh reo tiếng nhạc Vạn hoa khoe sắc gửi hồn mơ Giao thừa cảnh tối đầy sao sáng Rạng bóng trời Xuân rực ánh tơ Một dấu hồng vương thềm trắng biếc Nhạc xuân ai khẽ búng dây so 5- Níu trên ngọn trúc sương lơ đãng Trút nhẹ hương tình gửi mắt hờ Kìa gió đã về neo cõi mộng Này em có đến đón Xuân mơ Gieo lời thương mến duyên cầm sắc Thả tiếng yêu đương chuyện tóc tơ Ước nguyện một đời không lẽ bóng Tương lai tìm đến bước cùng so 6- Ðọng dưới đường mây mắt hững hờ Cõi tình vừa tỉnh giấc sầu mơ Em thì đã ước đời chung thủy Tôi cũng đợi chờ ai kết tơ Buổi sớm bâng khuâng chân ngượng ngập Cảnh xuân lưu luyến bước còn so Ðón nhau dìu đến trời ân ái Một mối duyên lành đượm ý thơ 7- Có phải đã lâu rồi cách biệt Ðêm này xin gửi phút tìm mơ Em như tia sáng soi mây tối Tôi ngỡ màn đen ẩn dấu tơ Lệ vắng âm thầm tim cố nén Phòng không lặng lẽ mộng vừa so Gieo neo thuyền cũ xuân về lại Bến lạnh thương tìm một tuổi thơ 8- Nên người bỡ ngỡ tưởng rằng mơ Bóng tối nhạc buồn gửi khúc tơ Nửa khắc trôi qua hồn luyến tiếc Ðầy canh tìm đến mộng buồn so Xuân mang hương tới cho mây gió Tôi đợi em về ngâm tiếng thơ Ðể nhịp cầu thương thôi lỡ dỡ Như tình cao đẹp viết trong thơ 07.01.2009 Ðông Hòa Nguyễn Chí Hiệp


Mục Lục


22. Lộc Xuân Giao thừa con đi chùa lễ phật Cầu xin duyên số - lộc đầu năm Khấn nguyện lòng thành lời tỏ thật Tìm được người thương kết trăm năm Ngày xuân bao chàng trai cô gái Tíu tít cười vui tay nắm tay Trẻ em nô đùa khoe áo mới Cụ già nhận lời chúc thọ hoài Bây giờ - bây giờ con tìm được Người yêu – yêu người - tròn mộng ước Nguyện thủy chung răng long đầu bạc Dù không giàu sang hay quyền tước Xuân về - xuân về lòng nở hoa Tim nồng đón nhận tia nắng mới Lộc xuân ban phát ngát xanh đời Chiếc áo màu tình yêu thiết tha Xuân về - xuân vui khắp mọi nhà Mai vàng rực rỡ khoe sắc hoa Nhận lì xì – con mừng tuổi mẹ Nắng hồng - hoa bướm khúc hoan ca.14/12/2006 Hà Khánh Phương


Mục Lục


23. Những Bài Thơ Cuối Ðông XUÂN Xuân đem màu nắng dịu dàng cho cây mở nụ xóm làng dễ thương lối đời trải rộng mùi hương hoa nhân ái nở ngàn phương ngọt ngào tũi buồn, khó nh?c, hư hao buông cho dĩ vãng, nhận vào lãng quên lắng sâu, chìm nỗi ưu phiền mùa Xuân ấm l?i niềm tin cho người khởi đầu từ những mầm tươi vươn lên cùng khoác nụ cười đi theo Xuân dong vào những khó nghèo rót niềm hy vọng sớm chiều nở hoa nắng mưa diệu vợi giao hoà cho em đầy đặn ngọc ngà trên tay tóc bồng mượt với ngàn mây môi thơm ngọt lịm tháng ngày nổi trôi Tặng nhau trọn những bồi hồi thênh thang bước giữa đất trời mùa xuân mạc phương đình 1.hoàng thị anh trở lại vườn xưa chiều đông nhạt ai ngậm ngùi ?ai thương nhớ ai đây ? gốc cây bưỡi dấu khắc tên hai người mờ nhạt ba mươi năm chớp mắt đã vơi đầy 2.minh dung giả sử bây giờ anh trẻ lại thì vẫn yêu em như thuở ban đầu giả sử bây giờ anh già thêm chút nữa vẫn trợt dài theo hết cuộc tình sâu ! 3.mộng th.. tội nghiệp em hơn một lần qua bến đục hay trong chắc em đã biết rồi trong thì tuyệt - đục bỏ phèn uống tiếp lỡ qua cầu không lẽ lại nghỉ chơi ? 4.tuyết nhung tuyết thì lạnh – nhung mềm - mềm mà lạnh ! cũng giống như gió biển lộng Ba Tri xa xa tít một phương trời hiu quạnh ta hôn người sao nước mắt hoen mi ? 5.xuân hồng mùa xuân đẹp - hồng tươi là khoe sắc nhưng xuân buồn nên hồng cũng héo khô đất Cẫm Mỹ mặn mà hơi gió biển vì thương người gió đọng lại thành thơ 29/12/08 HồChíBửu


Mục Lục


24. Xuân Xuân đem màu nắng dịu dàng cho cây mở nụ xóm làng dễ thương lối đời trải rộng mùi hương hoa nhân ái nở ngàn phương ngọt ngào tũi buồn, khó nh?c, hư hao buông cho dĩ vãng, nhận vào lãng quên lắng sâu, chìm nỗi ưu phiền mùa Xuân ấm l?i niềm tin cho người khởi đầu từ những mầm tươi vươn lên cùng khoác nụ cười đi theo Xuân dong vào những khó nghèo rót niềm hy vọng sớm chiều nở hoa nắng mưa diệu vợi giao hoà cho em đầy đặn ngọc ngà trên tay tóc bồng mượt với ngàn mây môi thơm ngọt lịm tháng ngày nổi trôi Tặng nhau trọn những bồi hồi thênh thang bước giữa đất trời mùa xuân Mạc Phương Ðình


Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ)

Ðông Hoà











Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Xin cáo lỗi cùng độc giả .

Ðông Hoà


Mục Lục


2. Bờ Lau Cát Lở 37 (Chuyện Dài)

Ðỗ Thành



Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Xin cáo lỗi cùng độc giả .

Ðỗ Thành

Mục Lục








3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ)

Ái Ưu Du



Giữa Hai Lằn Ðạn

Phần Thứ Nhất

Chương 6

KHÔNG . . . XA LẠ

Trực ghé đến nhà Hoài. Trực là thiếu úy biệt động quân làm ở Quảng. Chàng có biệt danh: Trực Lai, hoặc Trực tóc vàng. Mà tóc chàng ta vàng thật, vàng cháy như râu ngô già. Bỗng Hoài sực nhớ câu chuyện thật xảy ra thế nầy:
Hôm đó, đoàn xe ngừng lại bên chợ, để anh chị em đi mua thức ăn. Các bạn rủ nhau dạo chơi quanh phố chợ nhỏ. Riêng Hoài chán nãn, rầu rĩ ngồi một mình trước cabin xe GMC. Nàng học lại 350 bài giải đề thi Toán Tú Tài Toàn. Sắp đến ngày thi rồi, không lo gạo cho kỹ thì... rụng như chiếc lá vàng rơi trong gió.
Hoài giật mình nhìn lên, nhìn qua bên kia hông cửa xe của tài xế, thấy mặt mày Trực đỏ kè, lấm tấm nhiều tàn nhang. Mắt anh sắc như dao cau, món tóc vàng ngã xuống vầng trán cao, gợn nếp phong trần.
Giật mạnh cửa xe bung ra, anh đứng yên dưới đất, một tay vịn lên vô lăng, Trực nhìn Hoài, mỉm cười:
- Hoài! Cho phép tôi nói chuyện với em, trong tình thân ái. Ðược chứ em?
- Tôi không quen biết anh. Anh say rồi. Anh đi đi...
- Hà hà! Say hả? Ðược lắm. Tôi là Trực tóc vàng. Còn em là Hương Hoài. Tôi biết em, từ ngày em đoạt ngôi vị cao sang "Hoa-hậu cây mùa Xuân Chiến Sĩ năm 62" đó. Phải không em?
- Phải hay không, anh biết rồi. Nhưng việc anh thình lình đến đây. Khiến tôi sợ quá. Anh đi đi, kẽo anh đoàn trưởng thấy, lại khiển trách tôi trước buổi họp bi giờ.
- Tôi nói giữa ban ngày ban mặt, chứ có núp lén xù xì gì. Mà nó không chịu. Nó tức à? Nó muốn gì? Có phải nó ghen không thì bảo? Em là thứ xịn, thì em sợ gì! Em không phải là loài gián sợ ánh sáng, sợ ban ngày, phải chui rúc, lẫn trốn vào khe vách, xó xỉnh. Cứ tự nhiên. - Khỏi gay gắt như vậy. Nhưng xin anh hiểu cho, tôi không quen biết anh. Vả lại, tôi là "xướng ca vô loài". Anh không nên đứng ngoài đường, ngoài ngõ, nói chuyện.
- Em nói sao? Xướng ca vô loại, có nghiã là em chả xếp với hàng phẩm trật nào? Ấy dá dziía dzà. Em là siêu sao rồi. Em là hơi thở buông ra từ hai buồng phổi, đầy ắp từng giọt từng giọt ân tình trìu mến. Là tiếng hát thì thầm, vẫy gọi nhau nồng nhiệt. Là giọt mật ngọt ngào từ thinh không rót xuống dòng thời gian miên viễn, đỗ vào tim mọi người. Cớ sao em nói ca sĩ là vô loài hử? A phải! Em tránh né. Tôi thì hổng nói, nên làm sao em biết chớ. Tôi và em, chấp nhận đời sống nghệ sĩ, là chấp nhận buồn nhiều vui ít. Chấp nhận thương đau, hơn hạnh phúc. Chấp nhận "tình lính là tính liền liền". Có gì mà em phải tránh né tôi. Em né tránh tôi, thì làm sao tôi có dịp bày tỏ nỗi niềm của một người yêu... đơn phương.
- Ði chỗ khác đi!
Không đi đâu hết. Trực nhảy phóc lên xe, anh đóng mạnh cánh cửa xe đánh rầm một cái. Ðầu anh chàng gục lên hai cánh tay khoanh tròn, đặt trước vô lăng, đôi vai rung lên theo từng tiếng nấc. Trực khóc. Khóc thật hay chàng chỉ giả vờ say, đóng kịch, để Hoài ngây thơ tin vào mối tình nghệ sĩ sét đánh chớp nhoáng?
Hoài không thoả mãn lòng khao khát yêu thương của Trực. Không thể làm chàng vơi cạn "tình lính nghệ sĩ tính tiền liền", như chàng đã nói. Nàng vội vàng mở cửa nhảy xuống đất, bực bội và run run đứng lấp ló bên hông xe. Hoài dáo dác nhìn quanh tìm kiếm các bạn trong phòng. Sau đó, Trực vẫn lai vãng đến gần, tìm dịp làm thân, anh bám riết, cho đến lúc rã rời, rơi rụng lúc nào chả rõ. Hoài cay đắng với niềm cay đắng quá đột ngột, chua xót bẽ bàng. Nhưng nước mắt của chàng trai phong sương xa lạ nầy, không thể lay chuyển ý chí sắt đá, và cõi lòng tê tái đắng cay trong lòng Hoài.
Bây giờ, không ngờ chàng thiếu úy đó xuất hiện. Hoài đứng chắn ngang ở bậc thềm nhà, hấc hàm cộc lốc hỏi:
- Anh có việc gì cần... đến đây vậy?
- Hoài còn giận tôi, về việc đường đột trước. Ha?
- Anh có biết là cô chủ café Nhạn Cúc rất đau khổ, khi bị anh phụ tình không?
- Tôi không hứa hẹn yêu đương gì, với Cúc cả.
- Sự thân mật, dễ tạo cho Cúc niềm tin yêu chân thật. Nay, anh muốn đến nhà anh chị của tôi, làm gì?
- Tôi không là kẻ thù của Hoài. Sao em như... muốn ăn tươi, nuốt sống tôi vậy?
- Tôi và anh, vốn không ân không oán. Xin lỗi, nếu tôi đã làm phật lòng anh.
- Không phải lỗi về phía em. Hôm nay tôi đến chào em. Tôi xin đổi đi Khe Sanh. Không muốn ở đây nữa.
- Anh có đủ sáng suốt quyết định... Chúng ta biết nhau như là chuyện bình thường. Chúc anh vui mạnh.
Trực quay gót với đôi mắt thấm buồn trũng xuống. Nói chuyện, mà đứng chấn ngang ngưỡng cửa, xẵng giọng. Thái độ của một cô gái con nhà đàng hoàng. Như thế là không gia giáo, thật lố bịch, bất lịch sự hết sức. Ðiều đó khiến lòng Hoài chùng hẳn lại.
Chị Huyền la, khi em vào hẳn trong nhà:
- Sao em ăn nói cộc lốc quá? Ðừng gieo gió, có ngày sẽ gặt bão đó. Em ơi!
- Khổ quá! Em không hề biết anh ta, là ai. Sao anh ta làm phiền em quá vậy!
Chiều hôm sau, Thắng đến nhà ngồi nói chuyện phiếm. Hoài nói:
- Tuần tới, Hoài lại đi Minh Long, Nghĩa Phú, một tháng. Anh à.
- Làm quái gì ở đấy mà... đi lâu thế?
- Suỵt! Bí mật quân sự, mà anh
- Ðúng. Nhưng, đi lâu thế. Anh lại solo trên phố quá!
- Anh thiếu gì bạn gái, em gái mà... anh phải solo!
- Anh thiếu gì, chứ có... thừa gì đâu.
- Hoài làm sao biết. Nếu biết, chả nhằm nhò gì.
- Hoài có quyền biết, với tư cách là người thân. Không xa lạ.
- Cũng tùy.
Thắng cười rất xinh, nhìn Hoài trìu mến. Anh đá lông nheo mấy cái:
- Nhớ viết thư về cho anh. Nhé!
- Ơ! Viết thư à?
- Phải! Làm gì mà ngạc nhiên khiếp thế ? Em chưa từng viết thư ? Hở?
- Thú thật Hoài không nghĩ... có ngày... mình sẽ viết thư cho anh kìa.
- Sao thế?
- Lại hỏi nữa rồi. Bây giờ thì... bí mật quốc phòng.
- Hậu sinh khả úy ha.
- Hôm nay, anh thua em hai không rồi. Nhé.
- Nguyễn Công Trứ nói câu nầy: "Tất do Thiên, âu phận ấy là thường. Hữu kỳ đức, ắt trời kia chẳng phụ" Thì, việc anh thua em hai ba không, là thường. Phải không Hoài?
- Anh nói tiếng Tàu, tiếng Miên hay Mã Lai, em cũng câm, điếc. Huề cả làng thôi.
- Cô bé thế mà... khôn thật.
Hai người nhìn nhau vui vẻ, cười hồn nhiên. Thắng treo cây đàn trên tường, anh xuống nhà dưới chào chị Sáu Huyền, lên solex về nhà. Nắng vàng hanh yếu dần bên ô cửa đã lên đèn, trộn lẫn màu hoàng hôn, và màu ven đêm quyện gió hiu hiu thổi. Làm ửng hồng đôi má người thiếu nữ, đứng dưới tàng lá me bay bay.

_ (còn tiếp)

Ái Ưu Du




Mục Lục


4. Chập Chùng Bóng Núi 30 (Chuyện Dài)

Thanh Sơn



Sau lễ hạ kỳ, anh là người cuối cùng đi rà sát lại một vòng quanh đồn để chắc chắn mọi tài liệu mật mã đã được tiêu hủy, các máy liên lạc đã thành bất khiển dụng, rồi mới ra lệnh cho tất cả “ tan hàng cố gắng, xuống núi, giã từ đời lính “. Anh có cảm tưởng hiện nay anh đang là vị “ tổng tư lệnh “ lãnh trách nhiệm lần cuối với thuộc cấp của mình, nghe có vẻ khôi hài, nhưng ngoài anh còn ai có chức vị cao hơn ở tấm đồn hẻo lánh này nữa đâu.

Anh thực hiện quyền hạn với niềm đau lẫn hãnh diện. Ðau vì lúc này chẳng biết thượng cấp của anh đâu cả rồi, anh muốn hát bâng quơ một câu “ anh ơi, giờ này anh ở đâu “, nhưng thấy đau xót quá. Còn anh hãnh diện vì ít ra anh chưa “ tệ “ đến cái độ đào ngũ, bỏ mặc thuộc hạ của mình.

Từ ngày nhận nhiệm vụ trấn giữ đồn, anh chưa một lần sai sót, thậm chí anh cũng chưa để đồn bị gục đổ, đàn em có thể không hoàn toàn quí trọng anh, nhưng ít nhất họ cũng phải nể vì lối xử sự cứng rắn và tấm lòng anh lo lắng chung với họ. Anh dặn dò mỗi người cố ôm theo một thùng lương thực Quân Tiếp Vụ để về làm quà lưu dấu đời “ chém tre đẵn gỗ trên ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai, đêm nghe vượn hú bên ai, sáng ra ngơ ngẩn lấy ai bạn cùng “.

Anh cũng là người bọc hậu sau cùng, lúc này tuy chẳng sợ gì ba tay “ ve chai “ phục kích, song biết đâu được, cẩn thận vẫn hơn, đó là bài học anh ghi nhận từ vị đại đội trưởng đầu tiên khi anh bước chân vào Chợ Nhỏ, Linh Xuân Thôn, Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức. Lại nữa, anh cũng muốn đi sau cùng để được thu vào trong ký ức anh hình ảnh của chiếc đồn cheo leo nơi triền núi, hầu sau này có đi đâu vẫn lưu giữ mãi hình ảnh của rừng.

Anh cũng muốn ngậm nhấm nỗi đau phải xa Nia mà anh chắc rằng không mong gì một ngày gặp lại. Ôi người con gái sơn cước như bông hoa rừng mọc lẻ loi nơi thôn bản đìu hiu. Chiến tranh đã làm cho nàng buồn hiu buồn hắt, tình yêu chỉ thoang thoảng đâu đây và nỗi chia tay bất ngờ thì vô cùng trọng đại. Anh thấy một ngấn nước long lanh nơi đuôi mắt, anh tự trách mình hèn yếu, nhưng giang sơn này, rừng núi này, quốc lộ này từ nay không còn là của anh nữa thì có khóc lớn lên cũng có sao đâu.

Thầy trò vớ được một chiếc Dodge 4 x 4 của ai bỏ trơ vơ bên quốc lộ. Mọi người quẳng mớ “ chiến lợi phẩm “ vào thùng xe, rồi hè nhau leo lên, mở máy. Loại xe tiện dụng làm cho công vụ quân sự nên chẳng có chìa khóa công tắc, chỉ cần điều khiển cái núm phát hành là máy nổ ngay. Nên anh chia thuộc cấp ngồi thành hai bên, súng ống mớ sẵn khóa an toàn.

Anh biết thành phố nơi bọn anh về lúc này vô cùng hỗn loạn, ai cũng có thể lảy cò vào nhau vô tội vạ, anh không muốn một ai trong bọn anh chết uổng ở “ giờ thứ hai mươi lăm “ . Chẳng lẽ đánh nhau chẳng chết lại đi gục lãng xẹt ở ngay thành phố lúc sắp có hòa bình.

Ðúng vậy, thành phố hoàn toàn vô trật tự, súng ống, quần áo, giày saut vứt đầy đường. Người đi ngược lên, kẻ ngược xuống, lăng xăng lít xít như bầy gà con lạc mẹ, trên đầu lại bị lũ diều quầng đuổi vây băt. Nhiều đám ranh vớ được cây các bin hay khẩu M-16 đang chơi trò “ đi bắt quân gian “. Ðám hôi của được thả ra từ những cửa nhà tù hận đời, hận người, nên tha hồ đi trấn cướp các nhà chúng cho là có của. Chúng kéo đi từng bầy, bắn vào ổ khóa cửa sắt bắt mở cho chúng tràn vào vơ vét. Lác đác đã có người mất thây vì giằng co hay tiếc của.

Lại thêm bọn theo voi hít bã mía, thấy thời cơ có vẻ chin mùi, nên ngang nhiên vớ cái rẻo vải đỏ cột vào cánh tay coi như là lực lượng “ cách mạng “. Chúng chắn xe kiểm soát, nạt nộ, la rầy, nhưng chỉ dám hống hách với đám dân tay không sợ sệt, còn cóc dám đụng vào đám lính thứ thiệt dữ dằn.

Phương chi, bọn anh vốn là những thằng đóng đồn cả năm, râu ria không cạo, tóc tai để bù, trông bặm trợn còn hơn du kích, không gì chứ nổ là nổ chết thôi. Vài lần xe anh cũng bị chặn lại, nhưng nhìn vẻ lừ lừ sẵn sàng chọi nhau và nhất là những mũi súng lăm le chực nổ thì bọn chúng vội vã phẩy tay cho xe dọt đi, dù trên danh nghĩa hai bên đã không còn chung chiến tuyến gì với nhau hết.

Mạng người rẻ quá, bên này và bên kia sống chết rất mong manh tơ hào. Lính cũng chết, dân cũng chết vì tiếc của, tiếc thân hay tiếc nhà, tiếc xe. Dân đi chẳng biết đi đâu, hết chạy ra hướng biển lại vòng vào sân bay. Tại sao sắp thống nhất rồi mà ai cũng khiếp đảm chỉ mong thoát được là nhất.

Ðầy đường hành trang vứt ngổn ngang, cái còn nguyên xi, cái mở toang, thậm chí không ai buồn nhặt về làm gì. Những vết đạn làm bung khóa, người ta chỉ mong tìm vàng, đồ quí hay tiền, còn bỏ vương vãi tất cả. Thậm chí xe Honda, Vespa cũng bỏ lềnh khênh, ai muốn lấy chạy thì lấy, hết xăng lại liệng đó.

Anh chua xót trong lòng, chẳng ngờ thành phố mau rệu rạo đến vậy. Các công sợ để trống, vắng như chùa bà Ðanh, giấy tờ bị lục lọi vứt tung tóe đầy từ trong ra ngoài. Gió thổi tung, bụi và giấy bay khắp nơi, không ai cần biết nội dung những gì ghi trên giấy lộn đó, cho dù những con dấu “ MẬT, TỐI MẬT “ còn nhan nhản màu đỏ chói hiện rõ.

Bãi chia tay là bến xe. Anh ngừng chiếc quân xa để ai muốn đi đâu tùy ý. Anh tần ngần đứng nhìn thuộc cấp từng người bùi ngùi chia tay anh, có tay cảm động đến không nói được lời nào mà chỉ bóp bóp vào cánh tay anh thôi. Có tay lại ôm choàng gục mặt vào vai anh xiết nhẹ và khi buông ra cả hai mắt cùng đỏ họe. Những chiếc xe ca bốc bụi đưa đám lính trở về nguyên quán, chẳng ai biết được “ ngày mai sẽ ra sao “.

Anh vẫn là người sau cùng bỏ đi khỏi bến xe, tay chỉ còn khẩu súng M-4. Anh chẳng tiếc gì cái vật giết người này, nhưng cần có nó để giữ chắc thân phận trong những ngày “ hỗn quân hỗn quan “ này. Anh về đến nhà trong ngơ ngác thảm thương, chẳng ai còn nghĩ đến chuyện ăn uống dù trời đã quá trưa. Dường như sự hoang mang và trông đợi nhau làm cho ai cũng no ngang, đầy ứ dạ dày.

Ai cũng mừng anh đã về an toàn, nhưng ai cũng lo rồi đây cảnh đời nào sẽ đến. Tin tức chạy đi xem ra không còn lối, tàu bè đã rút, máy bay không hoạt động, đến ghe thuyền tư nhân lớp nào đi đã đi, lớp nào phân vân thì cũng vội rút ra xa để tránh bị cướp, bị buộc để bà con ào xuống rủ nhau chạy ra hạm đội chờ ngoài hải phận quốc tế.

Trời ảm đạm vần vũ, mây đen kéo khắp, mưa lác đác rơi, rồi rơi rất to. Thành phố nép mình trong rã tan và kinh khiếp. Chưa ai thấy lực lượng chiến thắng kéo vào mà chỉ thấy ba cái đám ăn tàn phá hại gây nhiễu nhương, đe dọa mọi người. Súng lẹt đẹt nổ trên đường phố, tin đồn chỗ này chỗ nọ có người bị bắn vì cố ngăn không cho bọn giặc yêu tràn vào hãm hại.

Anh nghĩ bụng tiên sư bọn giặc cỏ, anh thách thằng nào dám bén mảng đến nhà anh thử xem sao. Nhưng thân nhân can anh vì biết tính anh nóng nảy, sắn sàng chơi nhau với bọn oắt cho đến khi hết đạn.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài)

Phan Thái Yên





6. Sau ngày mẹ mất, Nữ đan lưới ở hợp tác xã thay tay mẹ trong khi chờ trường sư phạm ở Hội An khai giảng. Những người bạn buổi đổi đời của mẹ, họ vui tính và rộng lòng, giúp Nữ nguôi ngoai phần nào nỗi nhớ mẹ cha đã qua đời và anh chị vắng xa. Trời hay mưa vào những buổi chiều hè sót muộn này. Mưa từ biển về. Nhóm đàn bà ngồi đan lưới dưới bóng dừa xóm Thuận Tình nhốn nháo dọn dẹp lưới thúng vào dưới hàng hiên nhà hợp tác rồi ngồi ngóng mưa qua. Màn nước trắng lịm cửa biển, phủ mờ xóm chài trên đồi cát rồi lan dần lên mặt sông. Lúc mưa rớt giọt rào rào trên mái tranh thì đầm sông ngoài kia đã mênh mông một màu trắng xóa. Có lần mưa chợt tới giữa lúc Nữ chèo ghe về nhà sau buổi làm. Một mình trong bao la mưa, chỉ còn lại con đò dập dềnh theo nước quyện vây quanh. Nàng vô cùng sợ hải và cảm thấy đơn độc đến tuyệt lòng. Nhưng rồi bổng dưng trong một chợt thoắt sát na, Nữ bình tĩnh lạ lùng buông xuôi tay chèo nằm nhắm mắt bất động trong lòng con đò nhỏ. Nàng hồ như nhẹ nhàng theo dòng nước, mơ màng theo mưa bay qua năm tháng, tình thâm, buồn phiền hệ lụy. Muôn vàn mưa rơi xuống châu thân nàng gõ nhịp bồi hồi, phải chăng cho lần chung cuộc trở về hay đẩy đưa Nữ thơ dại trôi xuôi vào vùng thinh sắc ảnh hình êm đềm kỉ niệm. Tiếng cười hiền của mẹ, tiếng nô đùa của anh chị trong rộn rã vườn trăng, và bóng dáng cha đứng dưới buồm căng buổi sớm thuyền về nặng lòng cá quẩy, cuối cùng đã kéo Nữ ra khỏi giấc mê. Mưa đã tạnh tự lúc nào. Nữ vuốt mặt, trấn tỉnh, chèo đò vào bến. Triền cát ngấm mưa xa lắc ngã về nhà. Người khô rốc trong mệt lả nghi nan, nàng bấu từng bước chân mình lên cát ướt, vừa bước đi vừa khóc một mình.

Hoa sim quanh mộ phần cha mẹ dại tím buổi chiều sau cơn mưa. Khói hương bay lãng đãng trong ngày tàn. Vạt nắng xế nghiêng qua hiên nhà quạnh quẻ, mái lá im lìm. Ðầm sông lặng lờ, phân vân níu lại dòng nước đang trôi xuôi ra biển. Nữ nhìn quanh cảnh sắc quen thuộc buồn thiu rồi dõi mắt ngược sông Thu về phố, lòng phân vân tháng ngày sắp tới.

Nữ về lại nhà ở Hội An nhưng mãi sau gần hai tuần mới dọn vào phòng cũ của mình được. Buổi chiều trước ngày khai giảng, nàng theo ghe chài quen về bến chợ. Nữ hàm ơn quay chào người hàng xóm tốt bụng đã bỏ ghe xách giúp túi gạo bobo tiêu chuẩn nàng lãnh từ hợp tác xã đến nhà. Nàng tần ngần đứng lại trước cổng nhà thân yêu, cánh cửa khép hờ cũ kỷ màu sơn dưới giàn bông giấy lơ thơ hoa đỏ cuối mùa. Nữ tay xách vai mang, chân bước qua ánh mắt nhìn chẳng mấy thiện cảm của vợ chồng người bác họ. Chưa kịp trấn tỉnh cơn xúc động trở về, Nữ đã hốt hoảng hét lên khi nhìn vào căn phòng cũ của mình qua cửa sổ mở toang. Cửa ra vào bị khóa chặt, mấy tấm gổ đóng nghiêng xéo làm đà chắn bên ngoài trông càng cáu bẩn. Gian phòng đã trở thành chuồng nuôi heo.

Nữ ngồi phệt xuống hiên nhà giữa đống áo quấn, sách vở, gạo mắm. Nước mắt ràn rụa, nàng nhìn về phía người đàn ông, căm hận đến không thể nói lên lời. Ông ngồi chò hỏ kiểu nước lụt trên sân gạch. Khói thuốc mờ mịt trào ra từ cặp môi xám xịt, mấy ngón tay xương xẩu đen đúa của người cán bộ huyện đội di di mẩu thuốc tàn dưới chiếc dép lốp.

? Cô này lạc hậu quá. Tăng gia sản xuất để cải thiện mà cô không nhất trí thì là thế nào? Bảo cho mà biết nhé. Ðợt thứ ba này lớn lên, bán xong là có tiền mua xe động cơ rồi đấy.

Giọng Quảng Nam pha lợ miền ngoài của người bà con tập kết càng làm Nữ chói tai, cáu giận thêm. Chẳng nói chẳng rằng, Nữ bặm môi xắn áo dùng khúc củi lớn phá sập tấm vách chắn, mở cửa lôi xềnh xệch hai chú heo con ra cột ở góc vườn. Người vợ lồng lên xỉa xói. ? Con Ngụy non chết tiệt kia. Mày khôn hồn thì xéo ra khỏi nhà bà.

Còn hiểu chút thiệt hơn khi nhìn vào ánh mắt uất hờn như tóe lửa của đứa cháu họ, người đàn ông chột dạ kéo vợ ra phía nhà trước. Suốt chiều hôm đó cho đến khi tối mịt, Nữ luôn tay xách nước dội rữa từ vách tới sàn mới chỉ bớt đi một phần sự dơ bẩn tích lũy từ mấy năm qua. Ðứng bên thành giếng trong vườn đêm chớm thu rười rượi, nhìn ánh đèn dầu le lói trên bệ cửa sổ thấp thoáng sau nhành vú sửa la đà, lòng Nữ nguôi ngoai. Nàng nhắm mắt lắng nghe mình trở về với những ngày ấu thơ yên ả.

Cả tuần lễ, sau buổi học Nữ vội về nhà bỏ thì giờ tâm sức cạo chùi từng phân vuông căn phòng. Sau đó nàng đến chào thăm gia đình người bạn của cha mẹ và hỏi nhờ tìm cách mua vôi màu để quét lại căn phòng đã dọn sạch sẽ. Bà mẹ ôm Nữ vào lòng, thương cảm đứa con người bạn vắn số của mình, chỉ mới vài tuần sau ngày mẹ mất mà đã hao gầy thấy rõ. Hai người, một già một trẻ, ngồi hàn huyên chuyện nhà quên cả thời gian. Người con lớn của bà cũng là sĩ quan hải quân. Những ngày tháng Tư năm bảy lăm, anh Mẫn đang phục vụ trên tàu biển đã theo chiến hạm đi nước ngoài từ Sài Gòn, đến nay vẫn chưa có thơ tin như anh chị Dõng Nhi của Nữ. Người con kế là sĩ quan bộ binh, hiện đang ở tù cải tạo trên vùng núi Tiên Lãnh. Cũng như mẹ của Nữ lúc sinh thời và hàng trăm ngàn bà mẹ khác trên toàn Miền Nam, từ mấy năm nay bà vẫn ngày đêm mỏi mòn trông nhớ con xa và cặm cụi bới xách cho con gần trong vòng tù tội.

Nử khệ nệ ôm thùng sơn lớn trên tay, háo hức rảo bước về nhà. Bà mẹ đã sốt sắng lục tìm cho nàng thùng sơn gia đình cất giữ từ lâu nhưng vẫn còn dùng được. Bà còn hứa sẽ xin cho Nữ một chân trong hợp tác xã làm đèn lồng nơi bà là xã viên.

Một buổi chiều ở trường về, Nữ thấy những mảnh rời của chiếc giường cũ được ai đó dựng ngay ngắn phía ngoài vách cửa. Nữ đã lục tìm mấy hôm nay hầu như khắp nơi trong nhà mà chẳng thấy đâu. Nàng nhìn về phía gian phòng lớn luôn đóng kín của vợ chồng người bác họ rồi tặc lưởi lắc đầu. Họ trả lại cho mình là được rồi, hơi sức đâu mà nghĩ cho mệt. Người đàn bà trao cho Nữ một bóng điện tròn cũ sau khi nàng bằng lòng trả tiền điện mỗi tháng. Loay hoay suốt buổi chiều cho đến sập tối rồi Nữ cũng mang được giường vào phòng và ráp lại theo đúng khuôn chiều. Nàng trãi chiếc chiếu mang theo từ nhà ở Xuyên Thọ lên giường đặt ngay ngắn ở góc phòng. Nữ nằm yên thật lâu trong mùi chiếu gối thân quen, lún sâu vào cảm giác ấm cúng trở về căn phòng tràn đầy kỷ niệm. Tiếng chuông xe đạp leng keng vào cuối giấc mơ kéo Nữ ra khỏi cơn mộng mị đầu đêm. Nàng biếng lười với tay kéo sợi dây công-tắc. Ánh đèn bật lên vàng tươi căn phòng còn thơm mới mùi sơn làm Nữ bật rộ tiếng reo vui. Sợi dây gai từ bóng điện trần nhà treo dài đong đưa khiến nàng nhớ tới bầy khỉ nhỏ bằng nhựa mềm anh Dõng cho, đu tòng ten trên sợi dây dù màu ô-liu. Màu lân tinh ngủ sắc rạng lên mỗi lần Nữ tắt đèn phòng. Sợi dây quá khứ vui vầy hóm hỉnh đã thất lạc vắng xa. Nữ vùng dậy xếp dọn, tới lui tắm gội trong ánh sáng như nắng vàng đã thiếu vắng từ lâu.

Cuộc sống của Nữ dần ổn định theo với bận rộn ở trường và công việc ở hợp tác xã sau giờ học. Một tháng vài lần khi có giờ rảnh Nữ thường theo ghe cá về nhà, ở lại qua đêm, quét dọn thăm nom bàn thờ phần mộ mẹ cha. Nữ là đứa con chung của xóm chài sau cửa biển. Vừa thấy bóng chị Nữ trên ghe từ phố về là bầy trẻ đã líu lo chạy bừa theo dốc cát xuống bến đón nàng. Các bà mẹ xóm chài thương cô gái côi cút mà nghị lực trùm bồ cho từng con khô, con mực mỗi khi Nữ về lại phố. Ðứng với họ trên dốc cát chờ ghe về vào những buổi sớm sương còn vương trên lau lách, nhìn vào từng ánh mắt vọng phu đẫm đọng đợi chờ, lòng Nữ lại rưng rưng nỗi nhớ mẹ cha anh chị. Tết năm đó, lần đầu tiên Nữ được về quê ngoại Quế Sơn. Nàng say sưa nhìn cảnh vật ven sông trong suốt chuyến đò ngược dòng Thu Bồn rồi hiểu ra vì sao anh Niên luôn nhắc tới cảnh quê. Những ngày đầu năm đoàn tụ với gia đình cậu dì trong lòng quê ngoại hiền hoà thân thuộc giúp Nữ quên đi phần nào cuộc sống cô quạnh của mình. Cậu Chấn hỏi chuyện học hành rồi nhìn đứa cháu mồ côi pha trò. - Người ta học Nga văn, Hoa văn. Còn mi lại học tiếng Mỹ, đúng là còn muốn ôm chân đế quốc mà.

Ông cười ha hả sau câu nói bông đùa. Cậu Chấn là giáo sư Pháp văn, bị “mất dạy” từ mấy năm nay, về lại quê làm ruộng, may mà không bị bắt đi cải tạo.

- Tại họ chê không ai xin thi tuyển vào lớp này, nếu không thì làm gì tới phiên con, lí lịch trích dọc trích ngang lem nhem từ trên xuống dưới từ trái qua phải... Cũng nhờ sách vở Anh văn của chị Nhi con còn cất giữ, học theo mấy năm nay nên vào lớp cũng dễ dàng. Giáo viên phó tiến sĩ dạy Anh văn của cháu tốt nghiệp tận Hà Nội nên dạy dỗ trật trúng tùy đối tượng.

Cậu Chấn vuốt tóc cháu.

- Thôi ráng đi con. Ráng mà học cho đở cái thân.

Chuyến đò xuôi Thu Bồn về Hội An, Nữ gói ghém theo tình thương quê ngoại cậu dì chòm xóm qua vị ngọt của mít, của bòn bon mãi còn đậm đà trong trí nhớ và một xách đầy dưa mắm sắn khoai. Nữ nghĩ tới tiếng cười của dì Chanh, cậu Chấn trên cầu Chợ Ðụn, của mẹ con chị Vê trên bãi sóng Chân Mây. Tiếng cười của người sống thương đời với nghị lực sẳn lòng.

Cô gái miền Nam ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Nàng sống bình thản trong một thế giới riêng ngập tràn kỉ niệm, chẳng màn chi tới sự soi bói của vợ chồng người bác họ. Từ khung cửa sổ rộng mở đến khoanh giếng khơi cuối vườn là khoảng cách an nhiên nàng tự tại bước chân, một thứ đường ranh cấm kị cho dù ganh tức vợ chồng gã chủ nhà biển lận cũng đành phải chấp nhận. Bếp lửa nhỏ cuối ngày bập bùng dưới hiên nhà thơm lừng mùi tôm cá ngoài tiêu chuẩn. Tiếng gàu nước lanh canh thành giếng tròn căng ánh mắt rình rập thèm muốn ghen tương. Áo mỏng mường tượng dáng xuân sung mãn bước qua vườn đêm còn đọng giọt giếng khơi làm lay động ánh trăng xuyên qua tàng cây vú sửa.

- Tướng này mắn con tợn đấy. Lấy que thọc vào cũng đẻ thôi.
Tiếng thuốc lào rít lên lúc giọng mụ đàn bà cũng rít qua kẻ răng.
- Ối giời! Cái ngữ đàn bà con gái tiểu tư sản, tắm táp mà cũng mân mê cả giờ.
Rồi như chạm phải nọc, người đàn bà the thé lên.
- Giá mà của ông cán bộ cũng được như cái que đó thì bây giờ gái già này cũng được vài mụn con với người tạ..Thế mà cứ tưởng mình là “đỉnh cao”, cứ thấy nồn là mắt sáng tít lên. Rõ tội, chẳng bao giờ vào được tới thủ đô. Ðể cho gà đéo còn sướng hơn. Mặc cho mụ vợ xỉa xói, người đàn ông bỏ vào nhà trong. Gã ực một ly rượu thuốc cho dễ ngủ, nằm mơ màng. Mấy chục năm trước, thời chín năm, bước vào tuổi thanh niên gã sớm bỏ làng quê Ðại Lộc theo Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Thời cuộc đẩy đưa, năm năm tư gã tập kết ra Bắc được Ðảng chỉ định cho làm cán bộ một hợp tác xã nông nghiệp vùng Bùi Chu Phát Diệm nơi phần lớn giáo dân đã di cư vào Nam. Vài năm sau, Ðảng bố trí cho đi B vào chiến trường miền Nam, vùng Tây Bắc Thừa Thiên. Trung đoàn của gã gần như tan rã trong vụ tổng công kích tết Mậu Thân, lần về tạm chiếm cố đô Huế hai mươi mấy ngày. Gã may mắn chỉ bị thương nhẹ theo tàn quân trở ra Bắc đóng tại một vùng hẻo lánh thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Không lâu sau đó, Ðảng lại bố trí cho gã lập gia đình, vợ gã bây giờ. Cô gái lở thì làm hậu cần hợp tác xã ngày đó hãnh diện lấy chồng là chiến sĩ đi B về, già hơn cả giáp. Sau tháng Ba bảy lăm, người đàn ông đem vợ hồi kết về quê cũ. Toàn miến Nam là chiến lợi phẩm của người chiến thắng. Họ cũng được chia phần, ăn trên ngồi trốc. Người vợ trình độ lớp ba hiện làm trưởng một cửa hàng mậu dịch quốc doanh - tiệm tạp hóa của mẹ Nữ ngày trước.

Một đêm tối trời sắp cuối niên học đầu, sau buổi làm việc ở hợp tác xã về, Nữ mệt mỏi thiếp đi lúc nào không hay. Ðang lúc ngủ say, Nữ chợt thức giấc vì sức nặng đè trĩu lên người. Mùi hôi thối từ lổ miệng của gã cán bộ khiến nàng muốn ngạt thở. Trong một hồi lâu Nữ dùng hết sức lực xô đạp, cố gắng ghì giữ áo quần đang bị bàn tay thô bạo của gã xé toạt. Trong kinh hoàng vô vọng, máu bật vành môi, Nữ khép chặt kín đôi chân, trì kéo đến trâng cứng tê dại từng sợi cơ đường máu thần kinh. Bóng tối rớt chụp xuống, phủ trùm cơn mộng buổi thanh tân sắp rã tan tành theo từng giọt nước mắt cuối chờ lăn... Bổng dưng Nữ cảm thấy toàn thân mình nhẹ hẩng. Gã cán bộ bật rủ ra như xác vô tri nằm phủ phục dưới chân giường. Nữ hoàn hồn bật khóc, vơ vội bộ áo quần xếp ở góc phòng chạy ào ra phía giếng khơi cuối vườn. Từng gàu nước nối tiếp nhau dội tràn lên thân thể cô gái, gột rữa cho hết tanh hôi. Tiếng lanh canh của gàu va vào thành giếng giúp nàng dần dần lấy lại bình tỉnh. Trong bóng đêm Nữ vuốt ve thân thể mình trắng tinh. Nước đã rữa sạch hết vết dơ bất lực của gã đàn ông trên người.
Nàng lắc đầu khinh bỉ nhìn ánh đóm thuốc lào rực ngún lên phía hiên nhà nơi vợ chồng gã cán bộ đang ngồi chưởi bới nhau tục tằn. Tiếng gã phân bua sau cơn ho sặc sụa.
- Lũ Ngụy non này, chúng ăn gì mà mạnh thế. Chân thì cứ to cứng như cột đình.
Người đàn bà lên giọng chanh chua, nửa đồng lõa nửa hăm dọa ghen tương.
- Thằn lằn leo cột đình thì nó thế đấy. Hiếp dâm mà ông cán bộ cũng không đủ sức làm, còn leo lẻo thế này thế nọ, thật không biết thẹn. Làm thế chỉ tổ cho nó khinh thêm. Bà bảo cho một lần cuối nhé. Có nổi cơn thì bảo bà, bà chịu thế quen rồi. Ði linh tinh đã chẳng đến đâu lại có ngày mất cả cơ nghiệp đấy.

Nữ ngước mặt nhìn trời, hít sâu vào lồng ngực làn không khí mát lạnh của đêm. Chân bước chậm qua vườn khuya, lòng Nữ nghĩ về một cơn mơ rất cũ.

(còn tiếp)

Phan Thái Yên




Mục Lục


6. Mai Ly (tập III)

Việt Dương Nhân



Mai Ly (Tập III)

Chương 4

André như bị "tát" nhẹ vì câu trả lời của Mai Ly. Sắp tới giờ xe lửa chạy, André gọi tính tiền và đưa Mai Ly ra bến taxi gần đó, chàng nói :

- Tối nay anh sẽ gọi điện thoại cho em.
Hai người vẫy tay chào. Mai Ly về đến nhà gần bảy giờ sáng. Mở bước vô nhà thấy Mai Thu còn ngồi ăn cơm nguội.

Mai Thu là cô bạn quen ở cùng "Building Mai-Anh" đường Nguyễn Công Trứ quận nhì Sài-gòn ngày xưa, Mai Thu đã làm vũ nữ ở "Maxim’s" - vì muốn chôn dấu dĩ vãng, nàng nghe lời ngon ngọt của một giáo sư người Việt lai Pháp, dạy Pháp văn ở Trung-tâm-văn-hóa Pháp tại Sàigòn (Centre-Culturele Français). Mai Thu gạt bỏ hết dĩ vãng để lại Sài-gòn mà chỉ đem theo tiền bạc và tâm hồn tràn ngập tình yêu. Nàng sang Paris vào đầu năm 1974. Nhưng chỉ hơn sáu tháng ăn xài với người yêu, tiền giảm thì tình cũng phôi phai. Mai Thu căm tức, đau đớn và vì quá cô đơn, nên nàng gây ra một tai nạn thảm khốc vào đời. Sau ba năm ở tù ra. Nàng còn trong ngân hàng một chút tiền cũng lại bị gạt thêm một vố nữa. Nàng buồn chán quá, nên điện thoại than thở với Mai Ly, thừa dịp Mai Ly đang đi làm, nàng rủ Mai Thu đi theo.

Mấy tháng Mai Ly làm ở Lucky-Luck. Vì nơi đó có bốn năm cô gái Á Châu, Mai Ly thoáng nghe các người trong đó nói : Nhà mình gái da vàng hơi nhiều riết rồi sẽ trở thành ‘xóm Tàu’ (quartier Chinois). Sau đó Mai Ly xung phong rẻ ngõ mà đến cabaret "Paris-Paris". Mai Ly hay xót thương những người bị nạn, hoặc những kẻ bị tù tội. Mai Ly luôn nhớ những lời của người xưa để lại là : "Nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại". Nghĩa là, một ngày ở trong tù, bằng ngàn năm sống ở ngoài đời. Mai Thu tạm yên ở nhà Mai Ly. Nhưng căn nhà ấy sẽ giao lại cho Jean-Jacques. Rồi đây tất cả đều phải ra đi, mà họ chưa biết sẽ đi về đâu ?

Mai Thu lua lia lịa chén cơm, nàng ngẩng đầu lên hỏi :

- Cha. Bữa nay mầy được ‘chút cháo’ hén !

Mai Ly cười và trả lời :

- Ờ, tao gặp ông khách người Bỉ, hắn trông đẹp lão lắm mà không có vợ. Tối hôm qua tao vô ‘rừng’ sớm nên được Từ Hải chiếu cố. Tao mới đưa ông ta ra gare du Nord.

- Mầy đưa ra gare ?

Mai Thu rất ngạc nhiên, vì biết tánh Mai Ly ít khi làm cái việc ấy. Mai Ly cười và nói :

- Ờ. Tao làm mầy ngạc nhiên hả ? Tao ráng ‘chài’ trự này coi được không. tao thấy hắn rất sành đời, khoảng năm chục tuổi, hắn hứa sẽ gọi điện thoại qua đây tối nay, chờ xem ! Thôi, mệt quá rồi, hôm nay thứ tư con tao được ngủ trễ, nếu không thì tụi nó dậy đi học rồi. Mai Ly dọn sẵn đồ ăn điểm tâm và viết giấy để trên bàn cho Hữu Trí và Mai Tâm ăn sáng và trưa. Nàng và Mai Thu chui vô phòng ngủ đến bốn giờ chiều. Như thường lệ chiều là Mai Ly từ từ xuống bếp nấu cơm sớm. Khi ăn xong thì trét bôi son phấn như sắm tuồng để tối đi hát tuồng ‘bán hoa’.

Ðang ăn cơm tối ở dưới nhà bếp thì có tiếng chuông điện thoại reo, Mai Ly ngồi ăn tĩnh bơ, nàng quay sang nói với Mai Thu :
- Ê, chắc điện thoại của mầy đó !
Mai Thu chạy ra nhấc lên nghe, nàng la lên :
- Của mầy, Mai Ly ơi !
- Của tao ! Ai vậy cà ? Không biết có cơm cháo gì không đây ?
Mai Ly đi ra cầm điện thoại :
- A-lô ! Ai đó ?
- Anh đây ! Adré M..., hồi sáng em đưa ra gare đó. Anh hứa là anh về Liège sẽ gọi thăm em.
Mai Ly sực nhớ, nàng reo lên :
- Ô ! Anh André tử tế quá. Anh về Liège bình yên chớ ? Vì đêm qua mình ngủ ít quá.
- A, anh hơi mệt nhưng không sao, đêm nay anh sẽ ngủ sớm. Còn em ! Em có đi làm tối nay không ? Ðừng đi với đàn ông nhiều anh ghen à nghe ! Mai Ly nghe khoái tai, nàng mỉm cười nghĩ : "Cha nội này màu mè quá". Nàng trả lời :
- Em cũng mệt, nhưng em cần tiền phải ráng đi làm.
- Em sẽ không đi làm nữa. Anh sẽ lo cho em tất cả. Tuần tới anh sẽ qua Paris, rồi chúng ta sẽ nói chuyện nhiều hơn, gọi thăm em và chúc em can đảm, hôn em.
- Em cũng vậy. Chào anh.
Mai Ly nghe trong lòng vui vui. Nàng trở xuống bếp ăn cơm tiếp với Mai Thu và cùng hai con. Ðêm nay tuy còn đau mà Mai Ly vẫn đi làm, vì nàng cần tiền cho hai con đi trợt tuyết. Vì mỗi tháng Jean-Jacques cấp cho 1.500 quan mà thôi. Ði làm có chút tiền là Mai Ly cho giúp, gởi về Mẹ, các anh chị và một bầy cháu ở Việt Nam, rồi mỗi cuối tuần là vào trong trại tị nạn rước những người quen ra ăn ở nhà nàng, nhờ Hữu Trí đưa họ đi viếng Paris. Thật là tánh bao đồng ! Làm có chút tiền là Mai Ly bung ra hết.
Mấy ngày trôi qua Mai Ly luôn nghĩ tới André. Nàng đang tìm điểm tựa, đôi lúc nàng giựt mình, vì nàng đã hứa hè sẽ giao nhà này lại cho Jean-Jacques. Nàng nghĩ hơi đen tối, nếu không có nơi nương tựa, thì nàng mượn đầu Métro mà nhờ nơi đó sẽ đón rước ba mẹ con của nàng. Nước đường cùng thì chỉ có thế thôi. Mặc dầu có gia đình chị Tư Lương và Yến cũng ở gần đó. Nhưng Mai Ly nghĩ : Mình đâu phải một thân như ngày xưa mà nương nhờ dễ dàng, đến đâu ở cũng được. Nàng nghĩ và lo cho những đứa bạn còn đang nương tựa nơi đây, như Mai Thu, Mai Lan và Mai Trinh sẽ ở đâu ? Biết rằng sau khi bán nhà, nàng sẽ có một số tiền, nhưng nàng đã hứa với Jean- Jacques rồi. Thật, trăm mối tơ vò, bên nhà thơ nào cũng than thở xin tiền, xin thuốc v.v... Hơn nữa, nàng không thể tiếp tục đi làm như vầy hoài, không có thì giờ lo cho hai con, đêm đi làm ngày ngủ chỉ gặp hai con có mấy tiếng đồng hồ, nên nàng hay nấc lên hai câu thơ :

Rừng đêm hoang vắng ai quân tử ?
Dám nhặt hoa tàn trong gió mưa !
Ai là Quân tử ? Ai có đủ sức lo cho ba mẹ con nàng ? Gặp André, nàng chìm trong hy vọng. Nhưng chẳng dám nắm bắt cái gì to lớn. Nàng cũng biết sợ phải bị tuyệt vọng là nguy nữa. Vì suốt hơn một năm nay Mai Ly đi làm đêm, nàng mong tìm một đấng anh hùng. Sự thật cũng có, nhưng lại nhỏ tuổi hơn, trai tơ chưa vợ, chưa con, chưa hiểu gì đời thật khó cho nàng và cũng không thể để cho người ta vì mình mà lỡ vỡ cuộc đời. Và cọng thêm hai con không chịu. Nhưng cũng có loại đàn ông chỉ hứa cho suông chớ không làm. Bấy giờ Mai Ly cầu xin ơn trên, nàng đặt hy vọng vào André là người thành thật với nàng. Nàng sẽ hết mình với chàng. Bao nhiêu ngày lo âu. Vào đầu tuần André gọi điện thoại từ Liège qua Paris. Nói là chàng sẽ qua chuyến xe lửa chín giờ sáng muốn Mai Ly ra đón, nàng cũng làm theo ý chàng.

Cũng đành nhắm mắt đưa chân
Mặc cho con tạo xoay vần đến đâu !
(Kiều)

Xe lửa vừa ngừng thì Mai Ly thấy Adré bước xuống nhìn quanh quẩn, chàng gọi :
- Mai Ly ! Anh đây nè em.
- Anh !
Hai người ôm nhau như đôi nhân tình xa cách lâu ngày vừa gặp lại. Cả hai ra bến taxi, Mai Ly hỏi :
- Bây giờ anh đi đâu ?
- Anh có họp ở hãng. Em đưa anh đến hãng rồi chiều nay mình đi ăn.
- Chiều nay em gặp anh ở đâu ?
- Thì ở nhà em !
- Anh biết đường đến nhà em không ?
- Biết chớ. Anh còn địa chỉ của em đây.

André móc ra cho Mai Ly thấy. Taxi đưa đến hãng gần phi trường Bourget, rồi nàng trở về. Ngồi trong xe taxi Mai Ly thấy lòng vui và hơi bực bội, nàng nhủ : Ông này thiệt là đày mình, chỉ có thế mà mình phải dậy sớm để đón ổng, rồi đưa đến hãng cho mất tiền taxi. Sao mà chàng kiểu cách quá thế này ?
Về nhà Mai Ly leo lên giường ép mình ngủ thêm. Nhưng không làm sao ngủ được. Nàng ngồi dậy đi gội đầu cuốn tóc và nấu cơm. Trong lòng Mai Ly tràn đầy hy vọng và nghĩ về tương lai. Ôi ! Bao nhiêu mơ ước đẹp, nàng nghĩ nàng sẽ tận tình lo hai con và cả hai con của Adré nữa. Từ đây nàng sẽ là của riêng André, nàng sẽ chung thủy với André, sẽ đảm đang trong ngoài và lo cho bốn đứa nhỏ. Nàng sẽ là mt người vợ lo cho chồng, một người mẹ hiền lo cho các con. Cảm nghĩ ấy đem cho Mai ly một chân trời hạnh phúc tuyệt vời. Bởi một lần vì quá ương ngạnh mà Mai Ly nông nổi dại khờ đã làm tan vỡ hạnh phúc, lòng hối hận khôn nguôi, nàng tự hạ mình xin lỗi chồng, xin chàng tha thứ. Nhưng J.J. nhứt định không chịu, mà chàng nhứt định muốn ly dị thôi. J.J. đổ tất cả lỗi lên đầu Mai Ly. Bởi Jean-Jacques đã có bến đậu rồi. Khi ra tòa, Mai Ly ôm đau thương nhận lỗi hết. Nàng không cãi một lời, nàng buông tay phó mặc cho J.J. làm gì làm, nàng chẳng cần sự cấp dưỡng của J.J. Nàng chỉ hướng về phía trước để tìm cái hạnh phúc khác thôi. Hiện giờ có André. Nhưng nàng vẫn lo âu, vì chưa có gì chắc chắn cả. André như người khách cũ trở lại. Nhưng Mai Ly lại xây hạnh phúc, tánh đa cảm, đa sầu, mơ mộng và lãng mạn. Hơn nữa, trong hoàn cảnh bước đường cùng hiện tại, nàng phải cố đem chút hy vọng vào mình để tự trấn an tinh thần. Chiều André đến rước Mai Ly đi ăn, thường thì André rất đúng hẹn, nhưng hôm nay chàng đến hơi sớm. Mai Ly chưa sửa soạn xong, nàng mời chàng ngồi chờ ở salon, và nói :
- Xin lỗi anh, ráng chờ em chút nhé ! Ðàn bà lâu lắc quá !
- Tại lỗi anh đến sớm, không sao đâu em cứ thong thả.
Sau khi sửa soạn xong, Mai Ly vào phòng hôn hai con và dặn dò Hữu Trí và Mai Tâm :
- Nè, hai con ngoan nghe hôn, tối thứ bảy này mẹ sẽ dắt hai đứa đi đánh Tine và ăn nhà hàng.
Hữu Trí được mười ba tuổi, còn Mai Tâm mười một. Dặn dò với hai con xong Mai Ly trở ra salon nói với André :
- Thôi chúng ta đi anh à !
André thắc mắc vì sao Mai Ly không cho hai đứa nhỏ ra chào chàng, và lại để hai đứa nhỏ ở nhà một mình, chàng hỏi :
- Còn hai đứa nhỏ đâu anh không thấy ? Ai trông chừng tụi nó ?
Mai Ly nét mặt hơi buồn, nàng trả lời :
- Chưa được đâu, từ từ rồi anh sẽ gặp, và con em quen ở nhà như thế rồi. Hơn nữa, tụi nó cũng lớn và biết tự lo lấy. Con em rất ngoan, nhưng mà ghen lắm.
Tuy nói vậy, nhưng trong lòng Mai Ly cũng xót xa, mỗi đêm bỏ con đi làm, lòng nàng không yên, thỉnh thoảng có bạn lại chơi và ở ngủ với các con của nàng.
Bữa cơm đầu tiên tại nhà hàng "Étoile-d’Or" trên lầu nhứt khách sạn "Concorde Lafayette", André lấy phòng ở nơi đó, ăn xong cả hai về phòng... Sáng hôm sau André đưa cho Mai Ly số tiền như đêm nọ. Mai Ly nghĩ : Cha nội này ăn bánh trả tiền đàng hoàng dữ đa. André đưa tiền cho Mai Ly và chàng nói :
- Anh gởi em cái này để em xài, vì ai ai cũng cần tiền chớ đừng nghĩ gì khác nhé. Anh mong em sẽ không đi làm nữa một ngày rất gần đây. Anh cố gắng thu xếp nhanh. Lòng Mai Ly thấy xao xuyến ngay sau khi câu nói của Adré, thật là trái tim nàng yếu đuối quá ! Nàng lấy tiền bỏ vào ví tay và ôm Adré nói : - Em rất cám ơn anh biết thương đời hoa.
- Không có chi, anh thương em lắm lắm.
- Thôi, em đi về lo cho hai đứa con. Chiều anh sẽ đến đón em.
- Em sẽ chờ anh ở nhà.
Mai Ly cảm thấy yêu André rồi, vì đang cô đơn trong tim không có một bóng hình ai cả. Tình yêu của Mai Ly sẽ đi về đâu ? Nhưng nàng rất tự tin, vì lòng thẳng ngay, nghĩ rằng André cũng yêu nàng. Sau những lần gặp gỡ, André vẫn ‘ăn bánh trả tiền’. Nếu mỗi tháng nàng gặp André chừng vài ba lần là nàng đủ sống rồi. Gần như mỗi tuần André qua Paris làm việc và hai người gặp lại nhau.
Rồi một đêm đẹp trời của mùa xuân Paris, trời trong mây biếc, trăng sao soi sáng, hoa bướm giao tình, cỏ cây xanh mượt đang đâm chồi trổ nụ. André và Mai ly đi ăn về tới khách sạn. Ðêm hôm ấy, Mai Ly uống rượu hơi nhiều nên trong đầu nàng nhớ lại gì đó, rồi nàng cười lên ha hả, làm André giựt mình :
- Sao em cười dữ vậy ? Có gì vui cho anh biết được không ?
Mai Ly chui đầu trốn dưới tấm drap, nàng tự thấy xấu hổ, nhớ lại lần đầu nàng hỏi tiền liền và còn sợ bị móc lại, nàng nói :
- Em nhớ lại lần đầu em hỏi tiền anh, nay em thấy xấu hổ và tức cười quá.
André lõ con mắt nhìn trừng trừng nhìn Mai Ly, nét mặt có vẻ giận dữ. Chàng nắm vai nàng xoay lại và quát to :
- Em im không ! Em biết, bây giờ em là mẹ của bốn đứa con, em quên chuyện cũ không ?
Mai Ly biến sắc, giọng như nghèn nghẹn, nàng nói :
- Xin lỗi anh, em đã có ý nghĩ xấu, nhớ lại chuyện đã qua.
Sau cơn giận, André âu yếm và hỏi :
- Em có thể đi nghĩ mát với anh vài ba hôm vào dịp lễ Lao-Ðộng sắp tới này không ?
Một phút suy nghĩ, nàng trả lời :
- Ðược. Có ai cấm em. Nhưng... còn hai con ai trông ?
- Thì em kêu baby-sitter.
- Ðược rồi, mà anh định đi đâu ?
- Venise.
- Venise ! Anh đã giữ chỗ chưa ?
- Ðâu đó xong rồi.
Mai Ly tự hỏi : - Ủa, sao chàng làm mà không hỏi mình trước, rủi mình không đi được thì làm sao ? Nàng quay qua hỏi André :
- Anh à ! Anh ghi tên hồi nào ? Rủi em đi không được rồi làm sao ?
André hơi ngượng vì câu hỏi của Mai Ly, chàng choàng tay qua ôm nàng :
- Anh đã ghi tên từ ngày mới quen em.
Mai Ly lại càng ngạc nhiên hơn, nàng hỏi André cho ra lẽ mới được, nàng thấy sao vô lý quá :
- Sao anh biết trước quen em mà anh ghi tên đi du lịch ?
André vào ngõ bí, nên chàng phải thú thật :
- Nói vậy chớ, để đợi chừng đó anh sẽ trả lời chắc chắn với em. Vì anh dành chỗ cho cô bạn gái, nếu cô ấy không đi thì em đi với anh được không ?
Mai Ly nghe André nói câu ấy, đùng đùng lửa giận, bên tai như bom nổ. Tự ái nổi lên. Nhưng nàng cố đè nén và giữ nét mặt điềm nhiên với nụ cười nhếch mép, hỏi André :
- Ủa, sao cô bạn gái của anh sẽ đi... hoặc không đi ?

(còn tiếp)

Việt Dương Nhân




Mục Lục


7. Cô Ðơn

Vành Khuyên



Ðời này ai không cô đơn hở bạn. Người bạn Cam Bot của tôi hỏi tôi hôm nay tại sao tôi không bao giờ gọi cho cô ấy. Tôi đùa " số phone của chị tôi để đâu tôi không nhớ làm sao tôi gọi ". Cô ấy tròn mắt. Tôi đính chính " mỗi tối tôi phải rượt hai đứa con tôi bắt học và đọc sách nhiều khi chén cơm ăn không hết thì gọi ai nữa ". Cô nói tôi cũng cần có người chia xẻ vậy. Tôi cười bình thường " thật ra tôi đặt ưu tiên cho công việc, khi công việc không là ưu tiên mình không thể chú tâm để làm, thế thôi ".

Thật ra thế giới này bạn không cô đơn mới là lạ. Cái thời gian cảm thấy cô đơn của bạn để khi bạn bước vào xã hội bạn bắt buộc bạn phải có nhu cầu hòa nhập để được thấy mình còn sống. Hồi mới xa nhà lên thành phố học, tôi có cảm giác cô đơn cùng cực, thiếu điều tôi nghĩ nếu tôi lôi được phần nào trong cơ thể tôi được gọi là cô đơn, tôi đem nó ra hô biến cho nó không còn tồn tại nữa. Cảm giác cô đơn dày vò cũng khiếp lắm nhé. Ði đâu, gặp bao nhiêu người, dù rằng họ cười với tôi, tôi cũng thở dài mặc dù tôi biết mình đang nhe răng ra cười với người trước mặt đang cười với tôi. Từ đó tôi hiểu chỉ có làm sao tự mình làm mình miễn nhiễm với cảm giác cô đơn, thắng được cảm giác đó tôi mới có lại cuộc sống bình thường. Không phải thắng bằng cách có người nào bên cạnh đâu nhé, thắng bằng sự hiểu biết ngay trong cuộc đời nhiều điều đáng sợ hơn cô đơn và không thiếu gì những điều cần được quan tâm để không còn thấy cô đơn nữa, trừ cái cảm giác cô đơn tích cực để có nhu cầu được hoà nhập.

Và tôi hết cô đơn thật bạn ạ. Tôi sẽ cảm cô đơn khi có người bên cạnh mà người đó không hề quan tâm và hiểu đuợc tôi. Nổi cô đơn đó đáng sợ hơn và còn khó chịu vô vàn. Nó làm cho bạn thấy bạn không còn giá trị, tôi cũng đã qua rồi thì cảm giác cô đơn vì không nói chuyện với ai nó còn ra gì hả bạn.

Mỗi cảm giác cô đơn mang một dáng vẻ, màu sắc khác nhau. Bạn cần nhìn và dùng sự hiểu biết của mình mà phán xét. Có khi cũng chẳng cần chữa, bạn cứ ung dung đi trong đời, bạn vui vẻ với những điều đang ở xung quanh bạn, tự tạo được nụ cười cho mình ngay cả trong những lúc hiểm nghèo nhất mặc cho những người xung quanh có thể nói bạn khùng. Nhưng bạn hãy ngó quanh mà coi, có khi cô đơn phải chạy trốn trước khi bạn phát giác nó không hiện hữu nữa.

Vành Khuyên




Mục Lục


8. Bữa Cơm Chiều Cuối Năm

Nguyễn Thế Hoàng



Vừa nghe tiếng gà rừng gáy phía sau chòi Thiệp đã tỉnh giấc. Như thường lệ, Thiệp bắt đầu công việc hằng ngày như một thói quen đã sẳn có từ nhiều năm ở nơi thâm sơn cùng cốc này. Nơi mà Thiệp đã đặt chân đến lần đầu tiên hơn năm năm mà người ta mệnh danh bằng cụm từ hoa mỹ "Kinh Tế Mới", quê hương của bọn phản động, ác ôn, của tầng lớp bị bỏ rơi, phân biệt đối xử, chính là những phần tử nguy hiểm đối với cái chế độ siêu việt hiện tại. Những thành phần nguy hiểm phải được tách rời khỏi lòng dân tộc, sống xa xã hội loài người văn minh tiến bộ được phát xuất từ cái hang tò vò Pắc Pó. Chính đó là những ung nhọt lây lan cho cái gọi là chuyên chính vô sản, làm theo năng suất, hưởng theo nhu cầu.

Mỗi buổi sáng thức giấc Thiệp thường bị ám ảnh những ấn tượng ma quái đó. Cũng từ đó Thiệp luôn tự hào ở mình trong một thế đứng riêng và hãnh diện nửa đời người phía trước như một gạn lọc để không bị ảnh hưởng. Suy nghĩ đã có từ ngày mất nước, tồn tại qua sáu năm tù cải tạo cho đến hôm nay.

Những suy tư đầu ngày là một thói quen để hun đúc bản lĩnh đối mặt thực tại. Thiệp vùng dậy làm vệ sinh, nhúm bếp lửa luộc nồi củ lang, củ mì, có hôm thì nồi bắp trái, cũng có lúc mấy tô bắp khô rang dòn đổi bữa. Ðó là thực phẩm chính hằng ngày của bốn cha con. Ăn để mà sống và được tồn tại cho dù bao tử chưa lúc nào đầy. Thế mà vẫn còn là thiên đàng thật. Vẫn còn hơn kiếp sống đọa đày, đói khát cùng cực trong những năm tù đày cải tạo. Phải làm cật lực đổ mồ hôi, sôi nước mắt, đến mửa máu ra, bụng vẫn lép xẹp, tay chân run rẩy lâu ngày trở thành thói quen. Chết thì không chết ngay, cứ vật vờ vật vưỡng lung linh như ngọn đèn trước gió. Rồi cũng phải chết. Lần lượt giành nhau được chết. Chết đói, chết thèm. Chết khát. Chưa kịp chết trong tù thì về nhà cũng phải chết. Ðó là chính sách siêu việt của chế độ, của bọn người tự nhận là kẻ chiến thắng. Nhưng Thiệp vẫn chưa chịu chết. Sự chết không phải dễ dàng. Chính đó có phải là điều rủi hay cái may, vì chàng còn phải trả nợ đời cho cuộc sống hiện tại ở "khu kinh tế mới vàng son" này.

Thường thì Thiệp thích suy nghĩ vẩn vơ như vậy trong mỗi buổi sáng ngồi nhấm nháp chén trà tươi bốc khói trước khi đến khu rẩy cuốc xới, bươi móc kiếm cái ăn. Có ai đó nhìn Thiệp trong lúc này để hiểu được anh đang nghĩ gì. Ðiều chắc chắn là Thiệp đã có được sự nhẫn nại mọi mặt để được tồn tại, để nuôi con, để chờ vợ còn đang trong tù cải tạo, chưa biết chừng nào họ chấp nhận là học tập tốt, lao động tốt để về với gia đình. "Tốt" của cái gọi là chế độ đương thời thật cao siêu, thiên hình vạn trạng, muốn định nghĩa thế nào cũng được, mà trên thế gian này chưa có một khối óc siêu nhiên nào giải đoán nổi.

Ðã vấn đến điếu thuốc rê lần thứ ba, cạn hết ấm (bằng đất) trà tươi được hái từ hai gốc trà rừng trước nhà mà Thiệp đã chăm chút tưới nước hằng ngày, vẫn chưa hết giờ nhàn rỗi đầu ngày. Ở cái đất "ngàn năm thảo mộc" này có gì phải tất bật lo toan. Ngày trước ngồi phòng trà, nghe nhạc sống, uống cà phê, xem vũ sexy, nhìn các em ca sĩ uốn éo trong ánh đèn màu. Thì giờ thời ấy tất bật bao trách nhiệm đè nặng trên vai. Giờ thì sáng nghe chim hót líu lo trong ngàn cây, nhìn bướm lượn từng đàn vờn hoa trong nắng sớm. Ðêm về nghe nai kêu, vượn hú, cọp gầm, voi rống...lúc đầu ớn lạnh mãi rồi đâm ra nhớ và ghiền để được nghe.

Ngày mới đến nếu không vững nghị lực chắc chắn Thiệp đã bỏ cuộc trước cảnh rừng rậm bao la đầy muỗi mòng rắn rết, bao hiểm nguy rình rập. Cho dù có ý định trốn khỏi nơi này cũng không thoát. Sáu năm tù đầy đọa khốn nạn sau tháng tư bảy lăm, Thiệp trở về với hai bàn tay trắng. Anh Thy, vợ chàng đang còn bị giam cầm trong lao tù cải tạo. Nhà cửa, tài sản bị xóa sạch. Ba đứa con dại được bên Ngoại cưu mang. Thoát khỏi nhà tù nhỏ, Thiệp tiếp tục trong nhà tù lớn với bản án ba năm quản chế giữa vùng kinh tế mới. Trình diện công an địa phương sau vài ngày Thiệp bị bốc lên xe với ba đứa con dại đến chỗ ở mới với những phương tiện được nhà nước ưu ái tặng không, cuốc, xẻng, dao, rựa, ba bao gạo ẩm, vài chai nước mắm, bao muối hột và vài ngàn tiền Hồ. Chính đó là gia sản duy nhất có ban đầu Thiệp làm lại cuộc đời trong cái mà họ gọi là sống phải lao động để vinh quang của con người mới xã nghĩa, làm theo năng suất chỉ tiêu, hưởng theo nhu cầu giai cấp.

Những ngày đầu cực kỳ gian khổ, ngủ bụi, ngủ bờ giữa rừng thiêng nước độc xa hẳn loài người. May mắn có được vài gia đình đồng cảnh ngộ đến trước cũng bớt tủi thân. Mọi người đồng tâm trong tình nhân ái giúp nhau. Ngày đêm vật vã cật lực Thiệp mới có được túp lều che nắng đụt mưa. Phá rừng, khẩn đất trồng lúa, bắp, khoai, đậụ..Trồng thả, ăn nước trời, mùa được mùa không, dần dần rồi quen đi. Tìm nguồn sông, suối bắt cá, làm bẩy thú rừng để có lương thực trong tự lực mưu sinh.

Thiệp an phận cho cuộc sống để được tồn tại và vẫn biết rằng xung quanh đang có những cặp mắt dòm ngó. Thiệp không phải thắc mắc. Ðã rơi xuống tận cùng đáy địa ngục còn sợ nỗi gì. Ai sao, mình vậy, chuyện đúng thì nghe, bằng không cãi đến nơi không như hồi ở tù cứ phải cúi đầu nghe chúng răm rắp. Ngày đó, cứng đầu thì được hành hạ đánh đập, được cùm gông, được bỏ đói cho đến rục rĩu có ai thương.. Giờ giữa rừng sâu con người ở thế cùng như ngon lửa đổ thêm dầu, như ông vua lắm mưu mô cũng phải thua thằng liều đầy bản lĩnh.

Năm năm trôi qua cuộc sống bấp bênh trong thế chẳng đặng đừng. Khi nhìn cây rừng đâm chồi nẩy lộc, chim én lượn vòng biết là Xuân đang đến. Năm mùa Xuân trong khu kinh tế mới Thiệp cũng chẳng có Tết, cũng chẳng nghĩ đến Tết, không bánh mứt, nêu cao, pháo đỏ, bánh chưng...nhưng có bắp, khoai, đậu, thịt rừng, thêm được nồi cơm trắng và có niềm mơ ước Anh Thy được ân xá trở về.

Hôm nay lại ba mươi Tết Thiệp vẫn níu kéo niềm hy vọng kể từ lúc giặc tràn vào cho đến nay vợ chồng chưa một lần gặp mặt, con cái vẫn vắng xa mẹ cha.

Mặt trời đã nhô lên cao sau nhiều lớp cây rừng chằng chịt. Ấm trà tươi đã nhạt nước và gói thuốc rê đã vơi đi một ít. Thiệp đứng lên vươn vai. Chàng nhìn ba đứa con còn đang ngủ say trên vạc tre bện bằng mây rừng. Thiệp sắp đặt thức ăn cho con rồi chuẩn bị quang gánh cuốc rựa đi rẩy. Hôm nay ngày cuối năm Thiệp không cuốc xới, làm cỏ, trồng trĩa, chỉ ra rẩy thu góp thực phẩm dành cho ngày Tết. Có quầy chuối ở cạnh bờ suối trỗ quầy trái đã già. Ðào khoai lang, khoai mì, bẻ bắp luộc, nấu chè. Thăm cá cắn câu, thăm bẩy bắt cheo, thỏ, mễn.

Trời đã quá trưa, Thiệp trở lại chòi tranh với gánh lương thực nặng. Có được mười con cá lóc lớn, ba con thỏ rừng mập ú. Bao nhiêu lương thực mà rừng núi ưu ái ban phát đủ cúng kính ngày Tết và no nê trong những ngày đầu Xuân về giữa rừng âm u. Thiệp đang có thêm một mùa Xuân nữa trong chốn sơn lâm cùng cốc.

Ba cha con hì hục nấu nướng. Luộc bắp, hấp khoai, nấu chè. Rang bắp khô giả nhỏ ngào đường làm cốm. Nấu nồi canh chua cá lóc với các loại lá chua hái trong rừng. Làm cá lóc nướng trui trên bếp lửa hồng. Xào thịt thỏ với măng le rừng. Thêm thịt thỏ xào xả ớt được trồng ở rẩy hái về.

Nấu nướng xong, thực phẩm được bày dọn lên bàn. Gọi là bàn để tôn nghiêm, thực ra là những bẹ tre rừng được kết lại trên những cây trụ đặt giữa chòi. Không chân đèn, lư hương, lọ hoa, mâm ngũ quả, không hương trầm nghi ngút. Chỉ có tấm lòng thành vọng tưởng gia tiên, ông bà, cha mẹ trong ngày cuối năm mừng Xuân đến. Dáng Thiệp nhỏ bé, lung linh giữa núi rừng trùng điệp. Rải rác những túp lều cây lè tè cỏn con hèn hạ của những gia đình đồng cảnh ngộ ẩn hiện im lìm dưới những tàn cây cao ở cách xa nhau hằng trăm thước đã không tạo được sinh khí sôi động ngày Xuân. Không tiếng pháo nổ, không xe cộ dập dìu, vắng bóng những bộ quần áo mới, thiếu mất những lời chúc Xuân...chỉ có ánh đèn dầu nhỏ nhoi le lói độc nhất từ những ngôi chòi lập lờ đom đóm. Năm năm rồi, năm cái Tết trong rừng sâu vẫn là những hình tượng ảm đạm, cô liêu, mất mát trong đời sống hoang dã..

Nắng chiều đã tắt sau những rặng núi phía xa trả lại quang cảnh âm u cố hửu của núi rừng dày đặc và kinh dị. Ngọn đèn dầu leo lét trên bàn không đủ ánh sáng giữa túp lều tranh. Bé Thoa mười lăm tuổi đã về Ngoại ăn Tết hồi đầu tháng. Ba đứa con của Thiệp được luân phiên về với Ngoại một lần trong những dịp Tết. Dù là con nít, sự ở, đi phải báo trình, vì cũng thuộc thành phần gốc ngụy ác ôn phản động.

Giờ này người dân cả nước đang tất bật lo toan công việc trong ngoài để chuẩn bị đón giao thừa. Thiệp không còn cái thói quen ấy kể từ ngày mất nước. Những năm tù tội, những năm vùng kinh tế mới, Thiệp đã bị tước đoạt quyền sống của một người dân lương thiện, đâu còn gì nữa để chiêm ngưỡng cuộc đời. Có tai không còn nghe, có mắt không nhìn thấy, có miệng không nói năng đã biến con người thành cù lần, lơ láo, chỉ biết ăn, biết lao động cật lực, thế mới được yên thân mà sống.

Qua hai lần van vái hương linh tổ tiên, dòng họ, Thiệp ra ngồi bệch trước cửa chòi với ấm trà tươi và bị thuốc rê cố hửu, hướng ánh mắt thẫn thờ ngắm cảnh Xuân đang về giữa núi rừng trùng điệp âm u. Bé Thắm mười ba tuổi, cu Tân mười một tuổi đang nghịch ngợm hai con thỏ rừng nhốt trong củi bên hông chòi giữa cảnh mờ hoàng hôn. Nhìn các con quần áo tơi tả vá đùm vá chụp mỗi lần Tết đến, nỗi lòng Thiệp đay nghiến xót xa.. Chúng đang gánh nỗi bất hạnh nơi cha mẹ chúng. Ngày mất nước cu Tân vừa sinh được mấy tháng đã phải sống xa cha xa mẹ, nhờ Ngoại nuôi dưỡng để cha mẹ rảnh tay mà đi ở tù. Lúc Thiệp ở tù về, nó lại không nhìn ra cha nó. Tập tành, dụ dỗ cu Tân nhiều lần nó mới gọi Thiệp là cha. Nó không biết mặt mẹ là ai. Cứ gọi bà Ngoại là mẹ. Bé Thắm cũng thế. Chỉ có bé Thoa còn nhơ nhớ, nhưng rất mơ hồ. Người ta đã tước đoạt một cách thô bỉ trí óc thơ ngây trong lứa tuổi hồn nhiên và những sở hửu làm người của chúng.

Có bóng người lúc ẩn lúc hiện sau mấy rặng cây trên lối mòn dẫn vào khu vực chòi tranh. Thiệp dõi mắt nhìn chăm chú. Từng đêm ngày trong cái giang sơn kinh tế mới đìu hiu quạnh quẽ này chẳng ai lai vãng đến đây, nên khi có dáng người xuất hiện trên lối mòn là cả một sự chăm chú tò mò nhìn không chớp mắt của cha con Thiệp. Bóng người càng đến gần hơn khiến Thiệp nhìn sửng, đang trông có vẻ quen thuộc. Thiệp thấy ngỡ ngàng rồi nôn nao với niềm mong đợi từng ngày tháng. Thiệp đã không còn nghi ngờ gì nữạ..đó chính là Anh Thy vợ mình kia rồị.!

Bóng người đến gần, Thiệp vui mừng trong sững sờ khôn xiết :
- Em ! Em về rồi sao ..! Em ơi !.. Các con ơi ! Má con về...má con về...!
- Anh !
Tiếng nấc nghẹn từ hai con tim đã qua hơn mười một năm mất cảm giác...giờ đang cuồn cuộn tuôn tràọ..sôi sục..! Hai giỏ xách tay nặng từ tay Anh Thy rơi xuống đất. Niềm vui bất chợt đến với hai người, không ai nói thêm được với nhau lời nàọ..mà chỉ còn ánh mắt bừng lên...trong vòng tay xiết chặt dồn dập hơi thở mừng vui, bên cạnh bé Thắm và cu Tân ngơ ngác nhìn trân trối hai người.
Anh Thy rời tay chồng, ôm chầm lấy hai đứa con thân yêư khóc ngon lành.
- Má đây con. Con nhận ra má không ?
Hai đứa nhỏ cũng bật khóc theo. Thiệp nói :
- Má của hai con đó. Ba thường nhắc đến má với các con. Má ở tù mới về.
Bé Thắm và cu Tân ôm cứng lấy mẹ, khóc nức nở. Hồi lâu, cơn xúc động lắng dịu, Anh Thy trìu mến nhìn chồng :
- Em không ngờ ! Anh đã chấp nhận chịu đựng được cuộc sống kham khổ như thế này bao nhiêu năm trờị.!
- Giờ thì khá hơn một chút. Ngày mới đến dở khóc dở cười, anh đành chấp nhận ngậm bồ hòn nuôi con để chờ em về.
Anh Thy trở lại ôm hai con vào lòng vuốt ve âu yếm, xiết chặt từng đứa, xót xa nhìn hai đứa con thân yêu đói rách cơ hàn, còn Thiệp trông gầy ốm, đen đủi, nhưng đôi mắt vẫn tinh anh, dáng vẻ còn phong độ của một thời đã qua. Anh Thy nhìn lại mình, mười một năm tù cải tạo đã tàn phá thời xuân sắc, đã giết chết những ước mơ. Ở tù thật khốn nạn đối với con người. Nhưng ở tù dưới chế độ được mệnh danh là siêu việt lại càng khốn nạn hơn. Họ đã nghiên cứu để thăng tiến đến cao độ tính chất nham hiểm, xảo trá. để bằng mọi cách họ đã biến đổi người tù thành những bóng ma trơi vừa đói vừa lạnh để được hưởng sự chết thật chầm chậm.
Anh Thy nói với chồng :
- Em ra tù ngày 25 Tết. Em về nhà ba má ở dưới quê vì biết rằng mình đâu còn nhà. Em gặp bé Thoa nó mừng rỡ, nó nhận ra em ngay. Trông nó ốm và còi cọt làm sao ! Má nói công việc cho em nghe. Má chỉ đường đi để em đến đây. Em đi qua mấy chặng sang xe đò, mất một ngày một đêm ngủ đường. Lần hồi hỏi thăm, em mới đến được. Nói là đi kinh tế mới nghe rất ngon lành, còn thua ở tù.
Thiệp nhìn vợ :
- Tất cả như một cơn ác mộng khủng khiếp. Mười một năm xa nhau dài thật dài. Giờ một thoáng qua như trong cơn ác mộng. Ngày mất nước, đất trời ngửa nghiêng, con người điên đảo, vợ chồng con cái phân ly. Ngày đoàn tụ trong cơ hàn khốn đốn. Bốn năm em phục vụ chế độ ngày trước đánh đổi mười một năm lao tù nghiệt ngã. Anh cảm phục em.
- Từ nay dù sống chết không lìa nhau. Ba đứa con là trách nhiệm nặng nề trước mắt. Hãy lo cho con.
Thiệp nhìn vợ và hai con, cười nói :
- Hôm nay, chiều ba mươi Tết anh vừa cúng rước ông bà. Mặc dù là chòi tranh vách lá giữa núi rừng trùng điệp, không tiện nghi, không cao lương mỹ vị, nhưng gia đình mình thực sự mừng ngày sum họp. Chúng ta sẽ bàn tính cuộc sống cho những ngày tới.
Hai vợ chồng Thiệp bày biện thức ăn giữa chòi tranh trên tấm bạt nhà binh bạt màu trãi rộng ra dưới nền đất. Nào khoai, bắp luộc đựng trong những lá rừng. Nào chè, nào cá, thịt thỏ rừng để nguyên trong nồi xoang....có thêm một nồi cơm trắng...! Thực phẩm ngày Tết..!
Bữa cơm chiều ngày cuối năm trong cơ hàn nhưng đậm đà tình yêu thương ngày đoàn tụ. Năm cũ hết rồi, như đang xóa đi những tang thương cơ cực. Ngày mai Xuân về Tết đến lòng người rộn ràng niềm vui Hội Tết...!
********
Mười bảy năm trôi giạt xứ người.
Tiếng nói của Anh Thy ngọt ngào trong điện thoại :
- Má muốn vợ chồng Thắm về ăn Tết với má năm nay. Má đã gọi chị và em con, tụi nó đồng ý rồi.
Tiếng trả lời điện thoại qua speaker :
- Vợ chồng con sẽ về trong ngày 28 Tết. Má có cần gì thêm, con mua ?
- Có gì thì con cứ mang về. Con cố gắng mua cho má một con thỏ rừng. Thỏ rừng hay thỏ nhà cũng được. Nhớ lời má dặn. Mong gặp con. Bye ! con !
Anh Thy gác điện thoại, lòng cảm thấy vui vui vì được các con hứa về ăn Tết. Hôm nay đã 25 Tết rồi, đúng cái ngày Anh Thy ra tù năm xưa. Hơn hai tuần qua, nàng mua sắm nhiều thứ cho Tết cũng vì thói quen từ ngày qua Mỹ. Mới đó mà đã mười bảy năm trôi qua. Con cái đã khôn lớn, ăn học đến nơi đến chốn, công việc làm vững vàng, yên bề gia thất, mỗi đứa đều có nhà riêng. Trách nhiệm cha mẹ đã hoàn thành.
Ngày vừa đặt chân lên xứ này hai vợ chồng tất bật kiếm việc làm và học thêm sinh ngữ. Sau mấy năm trời, hai vợ chồng mới mua được ngôi nhà, cuộc sống tạm đầy đủ và ổn định. Nhờ ơn Trời gia đình được hạnh phúc,con cái thảo hiếu, và hết sức thương yêu cha mẹ.
Rồi chẳng có gì là tồn tại. Gia đình đang sống trong hạnh phúc, thì Thiệp qua đời đột ngột vừa hơn năm vì bị thương hàn. Cái chết của anh thật lảng nhách. Chính đó là rủi ro và bất hạnh cho anh và gia đình. Bao năm đối đầu với bom đạn của kẻ thù ngoài chiến tuyến, những năm trong lao tù gian khổ trần ai và từng năm sống cơ cực giữa núi rừng hoang dã ở khu kinh tế mới trong chòi tranh không đủ ấm no, anh vẫn mạnh khoẻ chẳng hề hấn gì. Giờ ở nhà xây, đi xe hơi, ăn ngủ đầy đủ, nơi nào cũng có máy điều hòa không khí, hưởng thụ mọi tiện nghi trong đất nước văn minh bậc nhất, vậy mà bệnh tật không kịp trở tay, anh phải ra đi. Anh chết là một bất hạnh quá lớn đối với em, anh Thiệp ơi !
Những lúc suy nghĩ về chồng, Anh Thy lại khóc thảm trong căn phòng đầy ắp kỷ niệm. Ngôi nhà vắng lạnh từng mỗi ngày trôi qua kể từ lúc Thiệp không còn nữa. Ngày đó, con cái khuyên mẹ về ở với các con, ngôi nhà đóng cửa treo bảng bán. Anh Thy không đồng ý vì chưa muốn xóa đi những kỷ niệm vợ chồng sống chung trong ngôi nhà tràn ngập hạnh phúc. Anh Thy quyết để nguyên mọi thứ, hằng ngày đi làm, tối về trên giường ngủ một mình ôm ấp hình bóng thân yêu của chồng trong giấc ngủ. Thường trong mơ, Anh Thy được an ủi vỗ về trong vòng tay của Thiệp. Những suy tưởng hiện hửu và tan biến trong thoáng chốc. Giấc mơ là nguồn an ủi mà Anh Thy được sống lung linh từng đêm. Ngẫm nghĩ đời chẳng có gì gọi là vui cả, nhưng chẳng có gì cho là khổ buồn trong cuộc sống. Vui, buồn, sướng, khổ do con người cảm nhận. Mỗi người phải hoàn thành trách nhiệm của mình trong danh dự làm người. Anh Thy tự cảm nhận mình đã hoàn thành trách nhiệm, để một ngày nào đó nhắm mắt sẽ không còn vướng víu, nuối tiếc điều gì.
Những năm sống hạnh phúc bên chồng, mọi việc do Thiệp quán xuyến, nhất là vào dịp Tết. Bây giờ thì Anh Thy phải tự lo mọi sự để có được một cái Tết cùng các con. Tết ở xứ người không ồn ào nhộn nhịp như lúc còn ở quê nhà. Người dân bản xứ vẫn tất bật đời sống mỗi ngày, không có gì là không khí Tết.
Ngày 29 Tết, các con các cháu đã về đầy đủ. Cháu nội, cháu ngoại mấy đứa quấn quít xung quanh Anh Thy. Nàng thích thú ẳm bồng từng đứa trong vòng tay thương yêu. Tình thương yêu con cháu lấp đầy khoảng trống tình cảm. Ngôi nhà im vắng hơn một năm qua từ lúc Thiệp không còn nữa, hôm nay nhộn nhịp hẳn lên. Từng mỗi đứa Anh Thy chỉ dẫn và giao công việc. Ðứa lo bàn thờ, đánh bóng chân đèn, lư hương, treo đèn, kết hoa, đơm mâm ngủ quả. Ðứa lo bánh tét, bánh chưng. Rim thêm mứt. Làm dưa món, củ kiệu. Ðứa đi chợ mua thực phẩm. Mọi người lăn xăn nhiều việc. Con cái, dâu rể chăm lo công việc trong suốt một ngày, đến nửa đêm mới tạm xong để chuẩn bị cho ngày mai cúng kính tất niên. Nhìn các con làm công việc trong không khí nói cười vui vẻ hồn nhiên ngày Tết, các đứa cháu chạy nhảy vui đùa rượt bắt, giành giựt đồ chơi khóc la inh ỏi, Anh Thy cảm nhận trọn vẹn nguồn hạnh phúc bao la mà mình đã đạt được trong tuổi già. Công lao có được phần lớn ở Thiệp. Những năm ở tù, những năm cơ cực vùng kinh tế mới, những năm định cư xứ người, Thiệp đã quên bản thân mình để sống cho vợ con. Anh đã phải nhịn đói hàng ngày để dành khoai bắp cho các con khi mùa màng bị thất bát lúc sống trong rừng. Những ngày đầu định cư, ròng rã nhiều năm anh đã gò lưng trên chiếc xe đạp mặc cho trời rét buốt làm hai ba công việc ngày đêm, chắt chiu tiền bạc nuôi con ăn học, xây dựng cơ ngơi gia đình để được có như ngày hôm nay. Công lao của anh suốt đời dành cho vợ con. Nhưng khi đã hoàn tất trách nhiệm, đã tạo dựng được cơ ngơi thì anh không còn nữa. Chính anh đã hoàn thành trách nhiệm trong danh dự làm người. Anh đã kinh qua cuộc đời đầy gian lao và khổ nhục để có được ấm no hạnh phúc và vinh quang cho gia đình. Vinh quang không tự nhiên mà có, phải phấn đãu cam go mới có và anh đã thể hiện được.
Trưa ba mươi Tết, tất cả công việc hoàn tất. Các con khởi sự nấu nướng cúng rước ông bà. Không khí trong gia đình thật vui nhộn chưa từng có. Nhạc Xuân rộn rực tươi vui. Những bản nhạc Xuân ngày xưa len lỏi xen vào tâm hồn từng người, xao xuyến hoài vọng những mùa Xuân thanh bình ngày cũ. Những mùa Xuân quê hương an lành, rực rỡ nắng Xuân hồng.
Anh Thy coi ngó chỉ dẫn các con nấu nướng từng món ăn đặc biệt thuần túy Việt Nam đúng hương vị ngày Tết. Bên cạnh đó, Anh Thy thực hiện những món mà Thiệp đã cúng vào chiều ba mươi Tết năm xưa ở khu kinh tế mới lúc nàng vừa ra tù về với Thiệp. Những đĩa khoai lang, khoai mì, bắp luộc. Bắy rang giả nhỏ ngào đường. Chè khoai, thịt thỏ, cá lóc nướng trui, cá lóc canh chua lá rừng và...một nồi cơm trắng. Những thức ăn đạm bạc một thời để nhớ để thương...Những thức ăn đó đã thành bữa tiệc ghi nhớ ngày gia đình sum họp sau mười một năm chồng vợ, con cái xa cách tán loạn.
Trên bàn thờ đặt giữa căn phòng lớn giữa nhà, đèn nến sáng choang, hương hoa thơm ngát, thực phẩm chưng dọn đầy bàn. Bức chân dung toàn thân của Thiệp lộng kính đặt trên bàn thờ. Anh mặc sắc phục thiên thần mũ đỏ thật oai hùng, hiên ngang. Khuôn mặt anh rạng rỡ tự tin, rắn chắc, nghiêm nghị và thông minh.
Anh Thy đốt trầm hương khấn vái, cung thỉnh vong linh tổ tiên, ông bà, cha mẹ và nhắc đến tên anh trong nghẹn ngào nức nở. Anh Thy nhìn đăm đăm vào ảnh chồng lâm râm từng câu thì thào đứt quảng...lòng xúc động...nước mắt tuôn dàị.".Hơn một năm rồi, anh không còn ở với em và con ! Anh ơi ! Anh hiểu lòng em đang nghĩ về anh không lúc nào nguôi. Em đang cô đơn giữa dòng đời nghiệt ngã. Cuộc đời chúng ta chưa sống tròn theo mong ước. Có những lúc thật êm ả trong hạnh phúc an bình, có những lúc giông bão tràn ngập nhận chìm. Chúng ta đã phấn đãu sống còn để mỗi người hoàn tất nhiệm vụ trong niềm vinh dự mà thượng đế đã ủy thác cho mỗi người. Anh đã hoàn tất trong niềm tự hào. Phần em vẫn còn đang bước đi một mình. Anh hãy về ở cạnh em và con cháu trong sự sum họp giữa mỗi mùa Xuân và từng năm tháng kế tiếp. Em đang chờ anh, nhìn anh, và tìm anh trong khắp không gian muôn ngã, như ngày xưa anh đã chờ em về từ lao tù để chúng ta hạnh phúc bên nhau trong bữa cơm chiều đạm bạc cuối năm dưới chòi tranh hèn hạ giữa chốn rừng sâu hun hút ! Anh ơi ! Thiệp ơi ! tất cả con và cháu đang hiện diện bên anh như bao mùa Xuân đã qua khi anh còn sống...Anh hãy về với em trong ngôi nhà thân thương của mình và trong từng giấc ngủ của em hằng đêm..anh ơi !...Thiệp ơi !"
Anh Thy từng giây phút nức nở, nghẹn ngào ! đôi mắt ướt đẩm và mờ dần...Bên ngoài các con đang dựng nêu và đốt pháo ầm ỉ. Tiếng pháo chát chúa, vang dội và xoáy mạnh vào tâm hồn người góa phụ đang ngột ngạt lòng nhớ thương chồng.

Năm cũ sắp kết thúc trong vài giờ còn lại. Bữa cơm chiều cuối năm của năm cũ đang diễn ra với những người còn sống trong niềm vui lẫn ngậm ngùi cho sự mất mát của từng mỗi người đang cảm nhận..!

(Xuân Kỷ Sửu 2009)

Nguyễn Thế Hoàng




Mục Lục


9. Thư Tình

Bùi Quang Diễm Thu



Smyrna, Dec 16 – 2008

Anh thương và rất nhớ!

Em đang rớt nước mắt đây và không hiều là vì sao nữa? Mấy ngày qua em cứ thần thờ khi em bàng hoàng nhận ra rằng hạnh phúc mà mình đang tìm kiếm hình như quanh quẩn đâu đây. Em suy nghĩ thật nhiều để viết cho anh. Em đang cố công tìm lời giải đáp cho những xao xuyến của riêng mình, và em nhận ra rằng mình không thể giải đáp được điều gì cả. Thôi thì hãy để cho trái tim mình tự trả lời những nhịp đập của nó…và em đang lắng nghe nhịp đập của trái tim mình đây.

Khi em đọc message của anh, em không còn có thể nghĩ ngợi điều gì trong giờ phút ấy nữa. Những suy tư về anh cứ tràn ngập trong lòng em…cảm ơn anh đã nghĩ và viết cho em…cảm ơn anh luôn chân thành đáp trả những điều em mong muốn.

Em vô cùng quý trọng anh, em biết rất rõ điều ấy dù chúng ta chưa một lần gặp mặt. Nhưng quý trọng đâu phải là tình yêu phải không anh? Ðó chỉ là sự cảm phục của một người dành cho một người, không hơn không kém. Vậy thì em tìm gặp những gì ở anh??? Ðó là sự đồng điệu trong tâm hồn, đó là sự chân thành trong tình cảm, sự chia sẻ và cảm thông của hai đứa và thật khó khăn khi tìm kiếm một tấm lòng tha thiết yêu thương trên cõi trần gian điên đảo nầy. Em có quá vội vàng khi viết lên những điều đó không anh…? ??

Anh chưa bao giờ gần em mà sao anh báo cho em biết anh đi xa thì em lại nhớ. Anh ơi! Ba tuần em thấy thật dài!!!…rồi anh sẽ về mà…rồi em sẽ nghe giọng nói quen thuộc của anh…và em sẽ vòi vĩnh với anh đủ thứ hết…và anh sẽ nói…thôi! em tha cho anh đi!!!

Tình yêu của tuổi hai mươi hình như đang tuôn chảy rạt rào trong trái tim em…Em thấy thật lạ anh à…Hình như tình yêu không có tuổi phải không anh?

Gửi đến anh tất cả niềm mong nhớ của em….hôn anh nhiều, rất nhiều.

Bùi Quang Diễm Thu




Mục Lục


10. Tình Nghĩa Xui Người Lại Nghĩ Ðến Trâu

Ðoàn Văn Khanh



Phiếm Luận

Lại năm hết tết đến. Lại đến lúc thiên hạ đem mười hai con giáp ra làm đề tài. Lại …thân, dậu, tuất, hợi và… lỡ một năm Tí trốn chui như con chuột nhũi, đến nay năm Sửu trở về, nghe mọi người lại nhắc đến trâu, tôi bỗng nhiên cũng thấy mình nổi máu trâu bò, ngứa ngáy mài bút - vì không có sừng - để đâm đầu vào húc chút chơi cho vui ba ngày xuân. Bỏ qua tất cả những chuyện trâu từ thời tiền sử, trâu khắp năm châu, trâu rừng, trâu hoang dã …, là những chuyện tôi không biết, hoặc có biết đi nữa thì dẫu nói mấy cũng không cùng, cho nên tôi chỉ xin nói về chuyện trâu nhà và được giới hạn trong diện “Trâu ta ăn cỏ đồng ta, Tuy là cỏ cụt nhưng là cỏ thơm” thôi. Có điều cỏ cụt có thật là cỏ thơm không thì cái đó lại do nơi nhận xét của mỗi người tôi không dám bàn.

Khi nói đến trâu thì người ta cũng hay nghĩ luôn đến bò vì tuy trâu và bò là hai con vật khác nhau nhưng cùng một họ, cho nên dân ta cũng thường hay ghép đôi lại thành cái họ kép trâu bò để chỉ chung đôi bạn già mà gốc gác xa xăm vẫn là từ rừng núi thiên nhiên nhưng đã trót nghe theo tiếng gọi của loài người mà từ bỏ cái thú tính ngang tàng để về sống hiền hòa dưới mái chuồng tranh, tuân thủ theo nề nếp văn minh của loài người và để được gọi là gia súc từ đó.

Trâu và bò đều to con nhưng so ra thì “Trâu gầy cũng tầy bò giống” và lông trâu thì màu xanh hoặc đen chứ không nâu hoặc vàng như bò, họa hoằn mới có con lông trắng vì dân ta ngày xưa tin là “trâu trắng đi đâu, mất mùa đến đấy” cho nên trâu trắng sinh ra thường bị giết thịt sớm chứ không được nuôi. Trâu khoẻ và được việc hay không là nhờ nơi bộ vó cho nên tục ngữ có câu: “Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi”. Ðầu trâu có một cặp sừng lớn, cong và nhọn hoắt để trâu tự vệ vì trâu cũng giống như bò thường chỉ rành có mỗi môn võ húc mà thôi cho nên người ta mới bảo: “Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết”.

Cả trâu lẫn bò đều thuộc loài nhai lại cho nên lúc nào mồm cũng nhóp nhép ra cái điều ta đây cũng biết nghiền ngẫm hương vị của thức ăn, mặc dù thức ăn chỉ là cỏ, còn lúa tuy rất thèm đấy, nhưng lại bị nghiêm cấm, cho nên sau một ngày lao động vất vả, đến chiều về chuồng chỉ mong được chủ bồi dưỡng thêm nắm rơm khô đã là hạnh phúc lắm.

Khỏi phải nói thì ai cũng thừa biết trâu và bò đều là nguồn cung ứng thực phẩm giàu chất đạm cho người. Thịt trâu hơi dai, nhưng dân ta bảo thịt trâu lành và mát, còn thịt bò tuy có mềm, ngon và bổ hơn thịt trâu nhưng cũng dễ gây ra chứng phong ngứa, nổi mề đay v.v… Tuy vậy xưa kia dân ta lại không mấy ai dám mơ tưởng đến cái món thịt được coi là xa xỉ này trong bữa ăn thường ngày mà chỉ khi nào có hội hè đình đám hay lúc khao quân mới có chuyện "vật trâu" hay “mổ bò” để cúng thần thánh, tổ tiên… và tế ruồi, rồi mới hưởng lộc thôi. Bò và trâu còn là nguồn cung ứng sữa cho con người dùng để tăng thêm sức lực, nhưng dân ta thường nghe nói đến sữa bò chứ ít ai nghe đến sữa trâu, và cũng phải đợi tới khi mấy quan thực dân từ bên trời Tây chịu khó lặn lội sang cánh đồng ta nói là để giúp ta khai hóa thì dân ta mới bắt đầu tập làm quen dùng sữa bò, nhưng chỉ là sữa đóng hộp đã chế biến có đường được nhập cảng vào chứ không phải sữa tươi nguyên chất, vì trâu bò ta vốn không đủ sữa cho nghé bú thì đào đâu ra sữa mà hiến cho người. Vì sữa hiếm và quý nên chỉ để dành nuôi em bé và cho người bệnh hay mấy kẻ có tiền mới được hưởng. Chả trách vào thời Tây mới sang, nho học suy tàn, đã khiến cho một cụ Tú Xương lận đận với thi cử, thất bại về công danh, đành than thở cho thân phận bằng mấy câu thơ:
Biết thân đi học làm ông Phán
Tối uống sâm banh sáng sữa bò...
Dân ta ngày xưa muốn được làm chủ một con trâu thì ít ra nhà cũng phải khá giả một chút chứ nghèo thì chỉ có nước đi ở mướn chăn trâu thôi, vì thế ca dao mới có câu:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
Trong ba việc ấy lọ là khó thay
Chính vì xem trâu như là cái vốn quý nên dân ta thường nuôi trâu bò không phải để ăn thịt hay lấy sữa mà là để kéo cầy, kéo bừa, kéo xe… và nói chung là để thay người làm những công việc nặng nhọc. Trâu chịu nước, bò thích khô, do đó ruộng nước thì cần phải trâu cày mới xuể cho nên dân ta mới hay nói con trâu kéo cày, con bò kéo xe, mặc dù “Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh về già” nhưng trâu bao giờ cũng chậm hơn bò. Còn loại xe dùng trâu hay bò kéo thường thô sơ và nặng nề hơn xe ngựa, phải ì à ì ạch mới lăn nổi bánh cho nên khi ta hỏi về cuộc sống của ai đó mà được nghe câu trả lời: “Khoẻ re như bò kéo xe” là cũng đủ hiểu người đó sung sướng đến độ… “bở hơi tai” với cái số kiếp kéo cày trả nợ.

Tại sao trâu lại phải kéo cày trả nợ thì đây là một câu hỏi người không trả lời được đành phải cậy đến trời để giải thích bằng sự tích con trâu. Rằng xưa, Ngọc Hoàng Thượng Ðế thương trần gian đói khổ, người không có đủ lúa gạo ăn, súc vật không có đủ cỏ để gặm, bèn động lòng sai Tiên Ðồng mang xuống hạ giới một bó lúa và một bó cỏ thần để gây giống làm thức ăn cho người và vật. Tiên Ðồng này vốn có họ hàng với chú Cuội nên xuống đến trần thì cứ mãi vui chơi quên cả nhiệm vụ nên chỉ mới gieo bó cỏ mà chưa kịp gieo lúa thì đến kỳ trở về. Từ đó cỏ mọc lan tràn nhưng lúa thì vẫn còi cọc khiến loài người vẫn cứ thiếu ăn. Ngọc Hoàng thấy thế bèn nổi giận, phạt đày Tiên Ðồng xuống trần gian biến thành con trâu nai lưng kéo cày trả nợ cho người, còn mình chỉ được gặm cỏ để chuộc lỗi xưa.

Vì cái kiếp con trâu vất vả như thế cho nên về phương diện lý số, dân ta tin ai sinh vào năm Sửu thuộc tuổi con trâu thì số phải vất vả là cái chắc, và bậc làm cha mẹ thường không muốn sinh con vào năm Sửu. Nói thì nói thế thôi chứ thực tế thì chưa có bản thống kê nào chứng minh cho thấy số sinh năm Sửu kém hơn các năm khác bao giờ. Còn người dù thuộc tuổi nào đi nữa mà phải sống kiếp trâu bò kéo cày trả nợ thì người ta bảo là trả nợ kiếp trước, trả nợ đời, trả nợ người… và có khi còn có cả cái nợ quái đản như trường hợp các anh hùng bại trận thời 75 trước đây từng được “đảng anh minh” phong tước cho là “ngụy quân ngụy quyền” và “được nhà nước ta cho đi cải tạo” thì được coi là để “trả nợ máu đối với nhân dân” v.v… Thế là khỏi cần thắc mắc làm chi cho rắc rối cuộc đời.
Con trâu đối với người nông dân ta ngày xưa là cả một gia sản, còn làng nước thì lắm kẻ chỉ chờ mong có dịp vật trâu để cúng tế và được ăn miếng thịt nên mới đẻ ra lắm cái lệ phạt vạ nộp trâu đối với những ai vi phạm tập tục truyền thống tốt đẹp của làng cho nên nhiều khi con người đành phải hy sinh thay trâu để cứu gia đình như trường hợp cô gái nào lỡ thuộc nằm lòng câu ca dao: “Không chồng mà chửa mới ngoan, Có chồng mà chửa thế gian sự thường” để khi thấy mình bỗng nhiên:
“Phềnh phềnh lớn giữa lớn ra” thì chỉ đành ca tiếp:
Mẹ ơi, con chẳng ở nhà được đâu
Ở nhà làng bắt mất trâu
Cho nên con phải đâm đầu ra đi.
Tuy nhiên cũng có những cô nàng chồng rồi mà vẫn chịu chơi hết mình thì đâu có ngán:
Anh đánh thì tôi xin thưa
Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa được đâu
Ăn quen chừa được chẳng lâu
Lệ làng, làng bắt mất trâu mặc làng
Riêng những anh chàng nào vốn thuộc họ Bần cố hay Hà tiện mà lại thích trèo cao:
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng đau gan
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng
lại lỡ yêu nhằm cô gái kênh kiệu đưa ra cái yêu sách:
Anh về bán ruộng cây đa
Bán cặp trâu già mới cưới đặng em.
thì cũng chỉ đành âm thầm ôm lấy mối tình tuyệt vọng mà thôi.
Còn đối với thần linh vốn không thể nhìn thấy sờ sờ trước mắt được nên đôi khi con người có lỡ van vái khẩn cầu và hứa tạ lễ bằng trâu đi nữa, nhưng đến khi được việc rồi thì lại quá tiếc trâu nên cũng hết sợ thần thánh, bèn giở trò qụyt luôn:
Cầu được khấn bà một trâu
Ðược rồi thì có trâu đâu cho bà
Vì quen gần gũi trâu nên dân ta cũng hay dùng trâu để mà ví von về người. Mặc dù trâu được tiếng hiền lành nhưng mạnh húc nên người ta mới ví những người to con lớn xác, mặt mày dữ dằn nhưng chỉ biết sai đâu đánh đó là thứ “đầu trâu mặt ngựa”. Khi muốn chê bai những kẻ chậm lụt nên thường thua thiệt trong cuộc sống đầy dẫy bon chen thì người ta bảo "trâu chậm uống nước đục". Nói về kẻ làm công việc một cách thiếu phương pháp thì người ta gọi họ là kẻ: "Ðặt cái cầy trước con trâu". Ðối với những kẻ kém may mắn, lại hay thất bại trong cuộc đời nên thường ganh ghét kẻ có ăn có mặc hoặc thành công hơn mình thì người ta gọi là "Trâu cột ghét trâu ăn". Cụ lão nào dư ăn dư để nên sinh tật vớ thêm cô hầu nàng thiếp trẻ măng về để cho mình cày thì người ta bảo "trâu già gặm mạ non". Ngày nay thế sự có đổi mới cho nên nhiều cụ chỉ cần cái “mác” “Việt kiều về thăm quê hương” là tha hồ "cơm no, bò cưỡi". Còn khi tiếc cho nàng thục nữ nhan sắc mà lấy phải một gã không ra gì thì cũng chẳng khác nào "hoa nhài cắm bãi cứt trâu" v.v...
Lại có những trường hợp như anh chàng chăn trâu lỡ si tình con gái của chủ theo kiểu “thương em từ thủa mẹ bồng trên tay”, rồi đến khi cô nàng lớn lên thì bỗng có một anh chàng xa lạ từ đâu đến rước đi mất, để cho anh chàng chăn trâu chỉ còn đành một mình đứng bên chuồng trâu mà thở than:
Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày
Nhưng không phải chỉ có các chàng mới đem các nàng ra mà ví với trâu đâu, mà chính các nàng như trường hợp hai chị em quá quắt nhà này cũng không ngần ngại gì mà không coi chàng cũng giống như trâu vậy:
Của chua ai thấy cũng thèm
Em cho chị mượn chồng em vài ngày
Chồng em đâu phải trâu cày
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm.
Ngoài ra cũng còn những câu ví như: “Ði sông đi biển không chết, về chết vũng trâu đằm” hoặc "Anh hùng chết lỗ chân trâu". Kể ra cái vũng trâu đằm thì có bao lớn mà chết thì là tại số cũng chẳng nói làm chi, còn như lỗ chân trâu chỉ nhỏ như cái chung uống trà thì có nghĩa gì đâu để đến nỗi người phải bị chết ngộp, nhưng vì cái lỗ chân trâu này lại ám chỉ vào một cái khác hơn lỗ chân trâu thật sự thường thấy trên con đường làng cho nên mới gây ra cái cớ sự cho Từ Hải bị chết đứng như trong truyện Kiều vậy. Mặc dù dân ta thường ví chậm như trâu, ngu như bò, cho nên trong cái tổ tam ngu dân ta quen nêu đích danh “heo bò chó” còn trong chi bộ 12 con giáp thì chỉ có tên trâu chứ không phải tên bò, nhưng trâu hay bò thì cũng chung một họ ngu thôi. Không ngu sao được khi trâu chịu để yên cho người xỏ mũi tròng dây kéo đi và để cho người quàng lên cổ mình một cái ách nặng nề. Ðã thế, cả đời lại cứ mãi đâm đầu “Trâu tìm cọc, cọc chẳng tìm trâu”, và suốt mấy ngàn năm chung sống với người trâu vẫn thản nhiên để cho người ru mãi bằng mấy câu tình nghĩa: Trâu ơi! ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy, ai mà quản công
Bao giờ cây lúa trổ bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Trâu nai lưng ra kéo cày để giúp người sản xuất ra lúa gạo nuôi sống con người nhưng ngược lại, trâu được hưởng gì trong việc bỏ công lao động này? Câu trả lời là: "ngọn cỏ ngoài đồng". Ðó là chưa nói đến chuyện một khi trâu không còn sức để kéo cày thì con người cũng không ngần ngại đem trâu ra giết lấy thịt ăn, lấy sừng làm đồ dùng, lấy xương làm khuy áo, lấy da bịt trống v.v... Nói tóm lại là không để rơi rớt một chút nào của trâu cả như bài ca dao tế trâu sau đây đã mô tả:
…Hồi nào mầy ở với tao
Ðến khi mầy chết, tao cầm dao tao xẻo thịt mầy
Thịt mầy nấu cháo linh binh
Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa
Sừng mầy tao tiện con cờ Cán dao, cán mác, lược thưa lược dày… Thôi thì một khi đã biết tình nghĩa của người là “Trâu ngã lắm kẻ cầm dao” thì xin trâu cũng đành: “Trâu già đâu nệ dao phay” cho xong một kiếp trâu.
Cũng vì trâu bị coi là ngu cho nên khi Tây mới chiếm đất Lục tỉnh của ta, ông Nguyễn Văn Lạc, một sĩ phu miền Nam đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan, mới làm ra bài thơ Vịnh Con Trâu, nhằm chửi xéo những kẻ đã đầu hàng làm tay sai cho giặc để mong hưởng chút “bơ thừa sữa cặn” mà không còn nghĩ gì đến quốc gia dân tộc:
Mài sừng cho lắm vẫn là trâu
Ngẫm lại mà coi thực lớn đầu
Trong bụng lam nham ba lá sách
Ngoài cằm lém đém một hàm râu
Mắc mưu đốt đít quay đầu chạy
Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu
Nghé ngọ ngàn đời quen nghé ngọ
Năm cung đờn khẩy biết nghe đâu?
Thực ra trâu không hề bị điếc vì người thợ cày vẫn hét lên những tiếng như: “ví, thá, họ, vắt…” để khiển trâu đi đứng, cũng giống như ông cai hô: “nghiêm, nghỉ, bước đều…” để ra lệnh cho lính khi diễn tập, cho nên câu tục ngữ "đàn gảy tai trâu" hoặc câu ca dao: Ðàn đâu mà gảy tai trâu
Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.
không phải nhằm vào việc chê trâu thiếu máu văn nghệ mà chỉ nhằm ám chỉ hạng người không biết nghe theo lời hay lẽ phải thôi chứ không dính dáng gì tới trâu cả.
Tuy nhiên về mặt võ thì trâu chưa đến nỗi quên cái ngón sở trường của mình cho nên tục ngữ mới có câu: “Có ăn có chọi mới gọi là trâu”, và dân ta cũng thích xem trâu húc nhau làm niềm vui cho mình đến nổi nâng lên hàng các thú tiêu khiển và tổ chức các ngày hội chọi trâu để cùng vui chơi mà nổi tiếng nhất là hội chọi trâu ở Ðồ Sơn thuộc miền Bắc:
Dù ai buôn đâu bán đâu
Mùng Chín tháng Tám chọi trâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Mùng Chín tháng Tám thì về chọi trâu
Cũng do cái chuyện chọi trâu này mà đẻ ra thêm cái chuyện Trạng Quỳnh đem nghé ta ra chọi với trâu Tàu. Truyện rằng: một hôm vua Tàu muốn dò xét xem tình hình nhân tài nước ta để còn mưu đồ việc thôn tính, bèn sai sứ đem theo một con trâu cổ rất to lớn và hung hăng qua thách chọi với trâu của ta. Vua ta thấy trâu Tàu oai phong lẫm liệt quá nên cuống cà kê cho triệu Trạng Quỳnh vào cung vấn kế. Trạng Quỳnh bèn tâu vua cấp cho mình một con nghé nhỏ rồi hẹn ngày thi đấu với trâu của sứ Tàu. Trước ngày thi đấu, Trạng Quỳnh bỏ đói con nghé cho nên khi thả vào trường đấu, con nghé thấy trâu Tàu thì tưởng trâu mẹ nên cứ xông vào để bú vú. Trâu vốn chỉ quen chọi nhau với trâu ngang ngửa như mình, nên khi trâu Tàu không thấy trâu đâu cả mà chỉ gặp con nghé nhỏ đang đói cứ lủi đầu vào dưới bụng thúc thúc tìm sữa mà trâu đực thì làm sao có vú cho nên nhột nhạt quá phải lủi đầu chạy quanh. Thế là Trạng Quỳnh công bố trâu ta toàn thắng và sứ Tàu thì thua mưu đành ra về. Còn chuyện sứ Tàu có nghĩ là mình cũng ngu như trâu hay không thì tôi chưa thấy có sử sách nào nhắc đến.
Nếu suốt mấy ngàn năm trước đây hình ảnh con ngựa vẫn gắn liền với chiến tranh vì con ngựa rất có công trong việc giúp con người đi chinh chiến, thì trái lại hình ảnh con trâu lúc nào cũng gợi lên trong lòng người một cuộc sống thanh bình như cảnh:

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa
Trong cuộc “kháng chiến thần thánh” chống Pháp vừa qua dưới sự “lãnh đạo sáng suốt của đảng quang vinh”, nhạc sĩ Phạm Duy cũng không quên vinh danh con trâu qua câu hát trong bài Ngày Trở Về: "…có anh thương binh chống nạng cày bừa… có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ…" Tuy nhiên trong một bài hát khác của cùng tác giả mang tên Quê Nghèo thì không còn trâu mà chỉ còn cái hình ảnh thương tâm: “...Ruộng khô có những ông già rách vai, cuốc đất bên đàn trẻ gầy, có người bừa thay trâu càỵ..”
Thật ra cái cảnh con trâu lặng lẽ kéo cày hoặc em bé ngồi vắt vẻo lưng trâu thổi sáo có gợi cho ta một cuộc sống êm đềm, bình lặng, hiền hòa thì xin cũng đừng ai quên nghĩ đến những nỗi lam lũ vất vả trong lao động cũng như những lần cay đắng bó tay trong cuộc chạy đua vật lộn với thiên nhiên của người dân ta để sống còn, cho nên ngày nay hình ảnh con trâu với cái cày cũng là hình ảnh biểu tượng của sự chậm tiến. Lại nữa, ngay cả cái hình ảnh con trâu ngoan ngoãn kéo cày hay hiền lành gặm cỏ ngoài bờ đê cũng không phải do trâu tự nhiên như thế, mà chỉ được duy trì bằng cây roi luôn luôn răn đe tới tấp trên mình trâu của anh trai cày hay chú bé chăn trâu. Ngoài ra, nếu khi nghe kẻ nào ca bài: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ…” thì cũng xin đừng có vội tin mà có ngày mất luôn cả thóc giống vì từ xưa ca dao cũng đã từng có câu:

Con cậu cho học chữ Nho
Cháu cậu, cậu bắt chăn bò chăn trâu
Cũng vì đi cày hay chăn trâu thì cứ phải đánh trâu hoài mà vẫn không thể ngóc đầu lên được trong cuộc đời cho nên mới có những chú bé chăn trâu, những chàng trai cày bỗng nhiên một hôm thấy mình không còn thích vui đời “đánh trâu” nữa, bèn bỏ làng ra đi để lăn mình vào cuộc “đấu tranh”, và thế là tránh đâu cho khỏi con đường bạo động.
Ðiều đáng buồn là bốn ngàn năm thanh bình kiểu “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” đã tạo ra cho đất nước ta có quá nhiều

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu…”
mà chỉ cần “hòn xôi” thôi là cũng đủ cho Bờm cười”. Bên cạnh đó lại có vô số:

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,
Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời…”
cho nên trong thế kỷ vừa qua đất nước ta mới có dịp làm mồi cho khói lửa suốt ba thập niên và dân ta tha hồ rủ nhau cỡi trâu ngao du về miền thanh thản.
Kho chuyện trâu còn nhiều, nhưng tôi thì cũng đã giống như trâu già nên mài bút húc đến đây cũng đã thấm mệt, lại thấy năm Sửu này không riêng gì trên cánh đồng ta mà khắp nơi trên mặt đất này, vẫn cái cảnh trâu bò húc nhau để cho ruồi muỗi tha hồ chết một cách vô tội vạ cho nên nhiều lúc cũng đâm ra thấy thương câu hát ru em thủa nào:

Ầu ơ… Ví dầu ví dẩu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng
và phân vân không biết mình có nên cầu mong cho nhân loại hãy quên đi những chuyện đấu tranh để quay về vui với cuộc đời đánh trâu và mơ lại giấc mơ của người xưa:
Bao giờ đồng rộng thảnh thơi,
Nằm trâu thổi sáo vui đời Thuấn Nghiêu.

Ðoàn Văn Khanh




Mục Lục


11. Hoa Ðồng Cỏ Nội

Trần Thành Mỹ



Mật thập thò ở cửa trên tay bưng mâm quà nhìn vào trong phòng khách rồi khẽ lên tiếng : « Thưa bà con mới lên. Má con cám ơn bà về quà Tết và xin gởi kính biếu bà mấy món má con tự tay làm, bánh tráng nước dừa, bánh khoai môn » .
- Bánh khoai môn phồng mè nữa à, cám ơn má con quá. Bà nội có khoẻ không ? Sao con mang lên nhiều thứ quá vậy ? Tết nhứt mà không để ở nhà cúng ông bà, biếu bà con họ hàng. Hơn nữa, năm nào cũng vậy, bà cũng đã có nhờ nội con đặt mua dùm trước món bánh khoai môn đặc sản quê con rồi.
Bà thích loại bánh nầy rất thơm ngon, dòn sôm sốp không dai bỏ vào miệng không cần nhai vì da bột vàng nâu thật mỏng mịn tan dần mà hương thơm còn vương trong miệng. Thật ra bà cũng chưa bao giờ thấy ở đâu có bán hết, người quê mình bảo là món bánh gia truyền của một tầng lớp gia đình giàu có sang trọng địa phương ngày xưa đặc biệt chỉ làm trong ngày Tết, cách chế biến được giữ riêng không phổ biến kinh doanh, dần dần chắc thất truyền luôn quá, tiếc làm sao.
À, mà con về nhà chắc vui lắm phải không ? Các em con chắc ‘trộng đại’ rồi, tụi nó còn nhỏ mà đã dễ thương phép tắc lễ độ. Thôi con đi đưa quà cho dì hai để cất dùm, con tìm gặp Mai đi, Mai trông con lên lắm’.
Mật vừa ‘dạ’ vừa rút lui nhanh. Mật năm nay 12 tuổi, dáng gầy gầy cao, so với trẻ cùng lứa, Mật có vẻ nhỏ con nhưng lanh lẹ và sáng sủa. Mồ côi cha lúc 8 tuổi, còn ba em nhỏ, ngoài việc đi học còn phụ mẹ việc trong nhà. Mật học đã xong cấp Tiểu học rồi nhưng cũng có phần vì hoàn cảnh gia đình cũng phần theo quan niệm thời bấy giờ, con gái không cần học cao làm chi, học chút đỉnh biết đọc biết viết biết đếm là đủ rồi.
Thông thường đối với người con gái quê khá giả nghèo nàn cũng thế, việc nội trợ luôn được bà mẹ luôn chú trọng dạy dỗ từ lúc chập chững biết đi. Nhất là trong dịp những ngày cưới hỏi tang giỗ Tết, công việc chuẩn bị đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Gia đình khá giả thì cũng giữ truyền thống công dung ngôn hạnh, quan niệm rằng sau nầy dù giàu có làm chủ đi chăng nữa vẫn phải biết việc biết làm trông nom tính toán để giữ hạnh phúc gia đình qua bao tử, đồng tiền đồng ra, không bị người phụ giúp qua mặt khinh thường, tiết kiệm được tiền bạc. Các cô ít có của hồi môn thì càng phải chịu khó hơn do đó phần đông biết phận mình nhẫn nại, khéo léo, cẩn thận, biết lo.
Cây nhà lá vườn nên công việc của các bà mẹ quê không bao giờ ngưng nghỉ, con cái họ cũng phụ thuộc vào nếp sống thôn dã nầy. Ngoài việc giữ em, « ẳm nách », đưa võng dỗ ngon dỗ ngọt cho em ngủ, Mật thấy một mình mẹ phải lo liệu mọi toan, thương mẹ nên làm gì giúp được mẹ chút nào thì hết lòng trong mọi công việc. Khi thì mẹ gọi
« Mật ơi, có rảnh không giúp má cái nầy đi. »
Lần khác mẹ lại nhờ « Má đi dọn giỗ sáng nay, nhớ nấu cơm phụ nội cho các em ăn, má cố về sớm rồi mới đi học nha. »
Con bé cũng « túi bụi » với hai « thằng giặc con » dễ thương của nó, hai đứa nhỏ còn ngán chị hai chúng nó còn hơn má chúng nữa. Chưa bao giờ chúng nó mét lại với mẹ gì cả vì có nói với mẹ thì có khi còn bị mẹ rầy hơn. Mật biết phụ mẹ lựa gạo ra khỏi nếp để mẹ nấu xôi, công việc nầy thường nhàm chán quá lắm lúc Mật buồn ngủ, nhiều khi ngủ gật vì trưa nắng chan chan, gió hiu hiu thổi làm má phải nhiều lần khều khều lay dậy mới tỉnh.
Lắm lúc thằng Phận, thừa lúc mẹ không để ý, bứt một sợi tóc, bẻ cong làm đôi, se lại thành giây, đút vào lỗ mũi quậy quậy làm Mật vừa nhột vừa có cảm giác con gì bò trên mặt mà vì vẫn còn say ngủ, do bản năng đề kháng tự nhiên lấy tay quờ quạo phủi qua phớt lại hay quay mặt qua phía khác. Phận rắn mắt đâu chịu bỏ cuộc, tiếp tục « thọc cù lét » chị cho đến khi nào chị bừng mắt hắt hơi « ách xì » hoặc « chới với » la hoảng lên vừa chùi lia chùi lịa mũi mắt. Thủ phạm vừa chạy ra xa vừa cười vừa trêu : « Lêu lêu là chị hai ngủ gật, là chị hai ngủ gục hi hi… » Chị Thìn rầy Phận lấy lệ thôi và cả nhà cùng cười xòa.
Mật cũng biết phụ bà nội chẻ bẹ chuối tét thành sợi giây phơi khô để mẹ gói bánh tét ngày Tết, xếp lau lá chuối mẹ rọc chuẩn bị làm bánh ít. Việc nào khó khăn nặng nhọc hơn như rắm gạo, nếp làm bột tẻ hoặc quết khoai mì làm bánh tráng khoai mì nước dừa hay khoai môn làm bánh khoai môn phồng mè thì mẹ không nhờ phụ nhiều đâu.
May là bà nội già yếu mà còn khá khoẻ mạnh ở chung nhà, sự có mặt của bà nội vẫn là nơi nương tựa tình cảm và tâm lý cho cả gia đình. Ở nhà, dù không làm gì nặng được, bà cũng « lắt xắt » tối ngày, trông nhà đưa võng ru cháu, làm mọi việc lặt vặt bà làm được, sức khoẻ bà cho phép.
. Bà thương con dâu bà lắm. Con dâu bà góa bụa trong tuổi còn khá trẻ, đảm đang, gái bốn con mà còn thanh thon gọn gàng, bao nhiêu đám trực tiếp hoặc nói bóng nói gió cưới xin. Thế mà chị Thìn vẫn nhất định không bước thêm bước nữa, không tục huyền dù có lần bà có nói là bà để toàn quyền định đoạt đời của con dâu mình. Chị Thìn không hứa không nói gì cả, chị cười cười gật gật cám ơn rồi …cũng không thấy gì xảy ra.
Ngộ là càng ngày chị tỏ ra quyến luyến gần gũi với bà hơn. Có lần chị « cắc ca cắc củm » để dành tiền trong con heo đất hầu mua biếu bà một cối ngoáy trầu bằng đồng thật, cái chày dèm dẹp có cán có núm hình tròn về nhà, tự tay ngoáy trầu cho bà và vui sướng nhìn xem bà ăn thử không phải nhai trệu qua trệu lại khó khăn vì chị thấy răng của mẹ chồng chiếc còn chiếc rụng xệu xạo quá rồi. Bà Tám chỉ có một người con trai là ba Mật. Hồi còn sinh tiền, ông Tám cũng quí con dâu mồ côi nhà nghèo nầy, không ganh tị với bạn bè hàng xóm, không ngồi lê đôi mách giỏi dang chịu khó. Không bao giờ thấy chị than van nhất là trong thời gian cha chồng rồi đến chồng bệnh nặng. Và cũng nhờ vậy bà Tám mới có dịp gặp bà Ba.
Thời bấy giờ, bệnh viện chỉ có ở « trên chợ » tức là trung tâm tỉnh lỵ. Nhớ lại lần bà té nặng thập tử nhất sanh phải đi chuyên trị ở nhà thương lớn ở tỉnh, may nhờ người quen thân giới thiệu xin cho bà tá túc trong những ngày trị bệnh ở nhà dưới ngôi nhà tư của bà Ba. Thế mà bà Ba lại chẳng những để cho bà ở không lấy tiền mà còn tin cậy bà như một người bạn thân không phân biệt giai cấp sang hèn quê thành gì cả.
Cũng là người góa bụa đồng bạn đồng thuyền, bà Ba có hai con, Mai con gái lớn 21 tuổi đã học xong ở trường Nữ công gia chánh được bà chuẩn bị tiếp tục giữ tiệm may của bà. Trung 19 tuổi đã đi du học tự túc ở Pháp. Do đó bà cảm thông hoàn cảnh thiếu trước hụt sau của mẹ chồng con dâu bà Tám. Ngược lại bà Tám hết sức cảm kích biết ơn tấm lòng nhân hậu của người đàn bà giàu có thật khó tìm thấy trong xã hội kim tiền thời bấy giờ. Bà may mắn có quới nhân giúp đỡ trong bước đường cùng cực nầy nhưng vẫn không yên tâm vì biết mình không thể nào trả ơn được.
Tuy nhiên trong những ngày xa nhà, bà nhớ mấy đứa cháu nội của bà quá, thằng Phận thằng Phùng đứa cũng đã 10 đứa được 8 tuổi, bé Thu sắp đi học rồi. Có chúng nó bên cạnh, nhiều khi cũng bực bội vì chúng nó hiếu động, chơi giỡn không biết mệt, ít giữ yên lặng lâu được, trêu ghẹo nhau, gây gổ khóc bù lu bù loa, mét bà, con nít mà, làm trọng tài cho chúng không dễ đâu, kiện cáo tùm lum bà thông cảm chúng. Mà con nhà ở đồng đâu phải không thông minh, bà nghĩ rồi bật cười khan một mình, nhớ những trò chơi sáng tạo hay bắt chước thật dễ thương của giới trẻ thiệt thòi ít có tiện nghi, tiền bạc.
Nhìn thằng Phùng leo thoan thoắt trên cây me, chuyền cành nầy sang cành khác như vượn khỉ con lí lắt, miệng thì huýt sáo, nhại tiếng hót chim cú, trao trảo, chíp chíp chim con, mỗi lần chị Thìn nhờ con hái dùm lá me non hay trái còn xanh để nấu canh chua, bà hồi họp không dám cản nhưng chỉ đứng nhìn theo sát, miệng cứ nhắc chừng. Phận thích trèo me, nhất là hái được trái me dốt chua chua ngòn ngọt nó có dịp trêu chị Mật nó vì vừa thấy nó quay đôi môi nhai rôm rốp từng mắt me vàng tươi miệng chép chép nói nhom nhem là tự nhiên không kềm được nhịn thèm Mật phải nuốt nước bọt trào lên liên tu và có khi xòe tay năn nỉ xin cho cắn một miếng .
Hai đứa nhỏ còn bắt chước được tiếng mèo ngao chó sủa gây gổ, hai anh em nó có lần làm trò hề đùa cho bé Thu, còn ngồi chồm hổm nhảy qua nhảy lại gầm gừ theo tư thế của hai con đang định xáp chiến quyết liệt. Chúng nó nhại cả tiếng gà trống gáy, gà mái bươi đất tìm mồi trùng giun gián gọi gà con, tiếng nghé ngọ trâu về chuồng, tiếng hí vang cả tiếng móng sắt của ngựa trên đường đá chưa lát nhựa, tiếng ễnh ương phình bụng to kêu khi trời mưa nước nổi, tiếng con ếch mà « muốn to bằng con bò », và không quên tiếng nghiến răng của cóc báo hiệu trời mưa :
« Con cóc là cậu ông Trời,
Ai mà trêu cậu là Trời đánh cho. »
Hai anh em còn dạy bé Thu bài thơ « Con cóc »
« Con cóc trong hang,
Con cóc nhảy ra,
Con cóc ngồi đó,
Con cóc nhảy đị”
vừa đọc theo nhịp vừa làm động tác kèm theo, vui ơi là vui ! Ôi còn bao nhiêu chuyện khác bà nhớ một lúc không nổi, không gặp được cháu mới thấy cuộc đời bà sao mà trống vắng quá, tiếng nói bi bô la khóc cười của trẻ vẫn là nguồn sinh lực cho các cụ nội ngoại mọi thời.
Khi bà còn ở nhờ bà Ba trên chợ, vài ngày chị Thìn cũng tìm cách vội vã ghé thăm mang chút ít tiền để bà “dằn túi” mua trầu cau, lâu lâu đưa các cháu lên thăm nội. Chưa có cháu bà Ba cũng rất thích mấy đứa nhỏ mặt mày có vẻ sáng sủa, lễ độ. Biết Mật đã đổ vào lớp Ðệ thất trường công tỉnh lỵ mà không được tiếp tục học, bà đề nghị để Mật trọ ở nhà bà đi học và lúc rảnh phụ lặt vặt tiệm may học nghề.Thế là Mật bắt đầu từ giã làng quê, nội già mẹ góa em thơ ra tỉnh học lâu lâu mới có dịp về nhà một lần.
Từ ngày ông mất, bà Ba mở tiệm may vừa dạy may, may mướn vừa bán thêm hàng vải. Công việc của bà thật ra cũng bề bộn nhưng nhờ bà có mướn cô Phúc làm thợ chính, bà trước kia cũng là thợ may chuyên nghiệp rồi, bây giờ lại có thêm Mai nên tiệm bà luôn đông khách. Bà còn khéo ăn nói cư xử lại có óc thẩm mỹ trang trí trình bày, vui vẻ chìu khách tùy theo đối tượng khách hàng. Khi các bà lớn, khách sộp đặt may chẳng hạn, thông thường bà hay mang tận nhà riêng trình bày trước một số hàng mẫu để các bà lựa chọn, vừa ý, bà đo ni luôn nếu cần rồi về thực hiện theo sở thích riêng của mỗi người.
Bà chỉ dạy Mật và các học trò may từng đường kim mũi chỉ, khâu cắt tỉ mỉ. Bà rất yêu nghề nên rất tận tâm trong việc đào tạo con em quê nhà. Tiệm của bà tập trung nhiều cô gái trẻ nên nhiều cậu thanh niên cũng thích lượn qua lượn lại trước tiệm, có khi đứng ở đầu phố, ngả ba chờ các cô về tán tỉnh hẹn hò làm quen. Các bà có con trai cũng gấm ghé để ý xem thử. Hơn thế nữa, thời bấy giờ chưa có người mẫu, bà Ba có khiếu bắt mạch khách hàng mọi tầng lớp nên khôn ngoan ngoài việc trưng bày tác phẩm mới ở tiệm còn trang phục cho Mai quần áo đúng thời trang, một cách quảng cáo rất hữu hiệu.
Vài năm sau, sau khi ra trường về vừa phụ mẹ vừa đi dạy ở quê nhà, Mai lập gia đình theo chồng về Saigon, bà Ba càng thêm bận rộn hơn.Từ đó Mật trở thành như đứa con của bà vậy. Mật tỏ ra tháo vát, chịu khó thông minh lanh lẹ nên bà Ba rất tin cậy thương mến hết lòng. Mật vẫn vừa tiếp tục đi học vừa phụ bà Ba ngoài giờ đến trường. Hàng tháng cũng nhận được số tiền túi để tiêu dùng và đặc biệt số tiền lương nho nhỏ bà Ba gửi về phụ gia đình Mật. Mỗi lần các em lên thăm chị, Mật dẫn các em đi chợ mua quà bánh các em thèm, mua tập sách viết thêm cho các em. Các em Mật không phải đi trọ học vì đã có trường trung học trong quận nhà rồi. Càng ngày lớn lên, Mật có vẻ chững chạc điềm đạm mảnh khảnh nhưng toát ra một sức sống dễ lôi cuốn cảm tình.
Mỗi lần có dịp về vài ngày thăm gia đình, len lén ngắm con xinh đẹp trổ mã mà vẫn hồn nhiên lễ độ siêng năng như ngày nào, bắt tay vào phụ mẹ việc nhà, săn sóc nội, hỏi han về việc học các em, chị Thìn cảm thấy tim mình như oà vỡ,
“Cha mẹ ngảnh đi thì con dại,
Cha mẹ ngảnh lại thì con khôn” (Tục ngữ )
để dấu nước mắt đoanh tròng, chị nhìn về phía di ảnh của anh trên bàn thờ nói nhỏ: “ Con Mật chúng mình đó ba nó ơi ! Thương quá ơi là thương!.”
Còn bà Tám thì thôi không khác gì con dâu, bà cũng nghẹn lời cảm động trước sự trưởng thành tốt đẹp của đứa cháu nội gái lớn của bà, chưa bị ảnh hưởng bởi nếp sống hời hợt phù phiếm thị thành quên nếp nhà cần kiệm thảo ngay. Thỉnh thoảng nhớ gì bà tìm cách hỏi Mật lại để có dịp nhìn cô cháu gái bà rõ hơn và cũng để trắc nghiệm xem có đúng như bà nghĩ không. Bấy giờ bà mới thở phào vơi bớt nỗi lo vì trong thâm tâm bà, việc đưa Mật ra tỉnh học nhờ bà Ba tốt bụng vẫn là điều ray rức âm thầm của bà, một hình thức bất lực, bất khả kháng tự nuôi con cháu, một cách khổ tâm hơn như ‘bán cháu đợ con’.
- Mật à, con có buồn nội không, nội bắt con xa nhà lên ở với bà Ba ? Bà Tám nói nhẹ như ướm lời thú tội xin lỗi.
- Dạ không không, con không bao giờ dám buồn nội đâu. Nội thương tụi con lắm. Vì tương lai của con mà nội mới cắn răng đứt ruột để cho con đi xa đó. Má con bảo nội hy sinh cho chúng con rất nhiều quên cả tuổi tác và bản thân của nội đáng lý ra cần sự săn sóc và quây quần con cháu. Mật vừa trả lời vừa cảm động ôm lấy tấm thân còm cỏi run rẩy của bà nội già còn sống ngày nào là vẫn còn lo nghĩ cho cháu con.
Ba đứa nhỏ đang xúm xít chơi quanh thấy chị chúng ôm bà nội cũng vội chạy đến gần ngồi dưới chân bà Tám nhao nhao :
- Con cũng thương nội lắm, con rán ngoan học giỏi đạt nhiều điểm 10 cho nội vui nghe nội, bé Thu thỏ thẻ.
- Nội ơi, tụi con còn có một mình nội hà, nội mà có la rầy tụi con đi nữa cũng là vì lo cho tụi con, muốn dạy tụi con trở thành người tốt, má dặn đi dặn lại hoài như vậy. Má còn bảo nội la mà tiếng còn lớn, cầm roi nhịp nhịp dọa đánh được là má mừng vì nội còn mạnh khoẻ, Phận tiếp lời.
- Con còn nhớ mỗi lần con bệnh, mà ở trong nhà nầy con hay bệnh “ số dách”, nội biết con ưa uống sữa bò hiệu “Con Chim”, “Ông Thọ”, thế nào nội cũng nhờ ai đi chợ mua dùm. Vậy mà khi nội bệnh, con nói má mua hộp sữa để nội uống cho dưỡng sức, nội rầy rà um sùm xài phí vô ích, không cho khui ra, đưa cho nội để chừng nào nội cần thì uống. Ai dè nội cất đi để rồi đem đi biếu người bệnh khác. Nội không những lo cho con cháu mà còn hay giúp đỡ ai cần, Phùng vừa nói vừa bóp xoa chân bà nội trìu mến.
- Nội đừng lo cho con nhiều. Con cũng lớn rồi, là chị cả ba đứa em. Con may mắn được ở bên bà Ba, một người đàn bà nhân hậu trên đời. Vì vậy càng được bà tin thương, con luôn cố gắng xứng đáng phần nào với lòng tốt của bà. Bây giờ cô Mai đã mở tiệm may ở Saigon lại sắp có con, cậu Trung học bác sĩ ở Pháp chắc cũng chục năm nữa mới về, bà vui mà cũng cô đơn lắm nội à.
- Nội đội ơn bà Ba không bao giờ trả được. Nội chỉ biết cầu Trời khẩn Phật cho bà khoẻ mạnh thôi.
- Bà Ba cứ mong nội có dịp lên thăm ở lâu lâu chơi với bà. Bà bảo tụi con nhờ có đức của nội nên tụi con mới ngoan ngoản như vậy. Bà thích bàn chuyện với nội, gần nội bà cảm thấy yên tâm thư giản hơn. Nếu mà nội không phải giữ nhà thờ từ đường mồ mả ông bà và lo việc ruộng vườn thì bà sẽ mời cả gia đình lên ở trên ấy luôn.
- Có lần bà có nói mí với nội, nội cũng suy nghĩ thực hư. Nhưng về đến nhà, nhìn thấy má tụi con và mấy đứa nhỏ mừng rỡ rối rít vây quanh, nội không nở lòng nào bỏ đất bỏ làng quê mình được. Thôi thì có bị mang tiếng bội bạc cũng đành.
Thế là mấy đứa nhỏ la reo: Nhất là nội rồịHoan hô nội !
- Mà nội ơi, nội có biết là cô Mai và cậu Trung là con nuôi của bà Ba không?
- Bậy nà, không, sao con biết ? Có thật như vậy không?
- Chính bà nói với con sau khi đám cưới cô Mai. Thế là thế nầy, lúc đầu thấy con sau khi đi học, về nhà con không bao giờ dám nghỉ ngơi học bài gì cả, vừa học may vừa chạy chỗ nầy chỗ kia mua nầy nọ, ai sai đâu đánh đấy. Tối đến mới học bài nhưng mệt quá có khi ngủ quên gục đầu trên sách. Bà thình lình phát giác ra, lay nhẹ dậy, khuyên con đi ngủ rồi sáng sớm hôm sau bà gọi dậy học bài. Con sợ bà giận đuổi không cho trọ nữa nên tỉnh ngủ luôn nhưng không dám cãi lên divan nằm khóc rồi ngủ quên tới khi bà sang gọi. Sau đó bà ôn tồn nói:
- Cháu phải biết là cháu được nội cho ra đây để học chứ không phải làm công, việc chánh của cháu là học, rồi mới làm việc khác lúc rảnh rỗi như học một nghề tay trái. Bà có đủ sức lo cho cháu học, từ đây cháu như là con cháu trong gia đình rồi, như cô Mai vậy, cháu phải biết bổn phận của mình rõ ràng. Ngay hôm đó, bà bảo cô Mai làm thời khóa biểu hàng tuần cho con rồi sau đó từng tháng để cứ theo đó mà làm.

Bà hiểu tâm lý lắm, bà biết con sợ bà và nhớ nhà nên luôn luôn có vẻ săn sóc con hơn và hay kể chuyện nầy chuyện nọ như về cô Mai ngoan ngoản mau miệng và cậu Trung dễ thương mà ít nói hơn, nhưng cả hai có hiếu lắm. Do đó con biết thêm cô cậu thích ăn gì, sợ gì và thích ai nữa. Và cũng vì cậu Trung đi học xa, có lẽ nhớ con nên bà quyến luyến với con hơn. Bà kiểm soát việc học hành của con nếu cần bà còn tìm thầy cho con học thêm nữa. Bà nhờ con viết thư dùm cho cậu Trung, bà đọc con viết, bà bảo chữ con đẹp để cậu đọc cho dễ, chữ xấu cậu lười đọc rồi quên dần tiếng mẹ đi.
Buồn cười hơn bà bắt con học tư thêm tiếng Pháp để rồi trong thư nào cũng có một vài câu ngắn bằng tiếng Pháp cho cậu “ngán” chơi vì ngày còn nhỏ cậu Trung “ghét” Văn phạm Pháp khó quá, cậu cứ càu nhàu là “văn …phạm pháp” . - Thật là một người đàn bà hiếm có biết thương người và vì người.
- Bà nhờ con viết đều đặn, mỗi cuối tuần, Bà kể chuyện nhà, tình hình trong nước, thời trang, văn nghệ,… như là bút ký của bà vậy. Bài hát nào thịnh hành, ca sĩ nào bà thích, Thái Thanh với ban Thăng long chẳng hạn, “ Duyên quê” của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có cậu cháu “Thần đồng vĩ cầm tí hon” Hoàng Thi Thao, nữ ca sĩ Thúy Nga có mái tóc thật dài và trình diễn với chiếc đàn phong cầm, sau đó trở thành Hoàng phu nhân… Tân nhạc cũng thích mà cổ nhạc cũng mê, đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga với “Con gái chị Hằng”, Kim Chung, hát cải lương Hồ Quảng đoàn Bầu Thắng với Thành Tôn, Minh Tơ Khánh Hồng, hát bội bà kể không chán tuồng “Thần nữ dâng Ngũ long kỳ “, chuyện cô năm Phỉ nổi tiếng “ như cồn “ lần sang Pháp ca diễn, bà Cao long Ngà, Phùng Há Bảy Nam, kịch Kim Cương, Bích Thuận Bích Sơn, hài kịch với Trần văn Trạch, Tùng Lâm,….
- Mật, nảy giờ con quên khuấy chưa nói tại sao bà Ba lại kể chuyện riêng tư ấy cho con.
- Một hôm, thư cho cậu Trung, bà báo tin bà dì xuất gia từ lâu của cậu qua đời ở chùa. Viết đến đấy, con tưởng bà đọc lộn vì con biết bà là con một chẳng có anh em gì nên hỏi lại. Bà ra dấu đừng ngắt lời và tiếp tục kể chuyện nầy chuyện khác con không còn nhớ nổi. Tối đêm đó, bà kêu sang bên bà ngủ, rồi bà “trút bầu tâm sự” cho con nghe.
Ông Ba ngày còn sinh thời rất hào hoa phong nhã, thuộc gia đình khá giả. Ông làm y tá và bà làm thợ may tại nhà.Cuộc sống thật yên vui êm ấm. Bà đã có thai hai lần nhưng đều không giữ được. Ông lại giao thiệp rộng, kết bạn với nhiều người nên thường dự tiệc tùng nhậu nhẹt đánh tứ sắc giải trí với nhau. Ngoài việc gác đêm ở bệnh viện, lâu lâu ông cũng đi đánh bài “đậu chến” thường ở nhà các ông bà lớn có địa vị giàu có, ông bà phủ, huyện trong tỉnh suốt cả đêm. Bà xem chuyện vắng nhà của ông là thường tình không có gì phải ghen tuông la ầm lên làm ông mất mặt. Vả lại bà nghĩ ông cũng buồn hiếm muộn chưa có con nên tìm cách giải khuây thôi chứ không lo “cờ bạc là bác thằng bần”, ông sẽ thua bạc nợ nần thụt kết.
10 năm sau, đường con cái như tắt nghẽn. Sức khoẻ của ông bà không có vấn đề gì nhưng lắm lúc ông bà cảm thấy hiu quạnh, buồn thiu. Ai hỏi thăm thì ông bà đều chối phăng cho rằng nhìn quạ ra quốc, chuyện gì đến thì đến, không thì không, lo cũng bằng thừa. Cho đến một hôm, trời mưa như trút, bà chờ ông về ăn cơm chiều như thường lệ, ông vào nhà cởi áo mưa, mặt mày nhợt nhạt, mắt quầng thâm. Bà vội đưa khăn cho ông rồi vội vã đi hâm nóng thức ăn đem ra. Nhưng ông ngăn lại và nói:
“Tôi muốn bàn chuyên với bà, quan trọng lắm, bà ngồi xuống đi, xin bà đừng chận lời để tôi nói một mạch cho hết rồi tùy bà quyết định. Tôi cũng đang rối trí quá nên không biết nên xử sự làm sao. Bà biết vợ chồng trẻ y tá Sinh Hồng trước kia làm việc ở đây rồi đổi về Mỹ tho. Anh Sinh mất thình lình như bà biết khi đứa con gái đầu lòng chưa 3 tuổi đứa con trai chưa ba tháng. Vì tứ cố vô thân, hai anh chị đều mồ côi sớm hết, chị Hồng xin nghỉ việc tìm cách sinh nhai khác để có thể vừa làm việc vừa nuôi con.
Hôm nay nhân dịp lên Mỹ tho dự lễ khánh thành một trạm xá mới, nhớ nhà của anh chị ấy không xa lắm nên sau lễ ghé thăm. Bà biết không, vừa thấy tôi, chị ấy mừng đến phát khóc. Tôi ngạc nhiên cảm động nhưng không tỏ gì dù tôi cảm thấy có gì là lạ xảy ra. Chị vội vã mang hai con ra trình diện, thằng bé chưa thôi nôi, tôi thấy hai đứa thật dễ thương nên có lời khen.
Bất thần chị quì xuống lạy ‘như tế sao’, khẩn khoản tôi về bàn với bà nhận hai đứa làm con nuôi. Chị cho đứt luôn cũng được, nếu muốn đổi họ sang của tôi, tùy mình thôi. Chị bị bệnh nan y thời kỳ cuối rồi, chắc không sống lâu. Mà có sống bệnh hoạn như vậy làm sao nuôi con nổi. Chị không muốn cho các con vào viện mồ côi, nhưng nếu không có ai cứu giúp xin nuôi thì cũng phải đành thôi. Chị bảo là có lẽ là Trời thương và anh ấy “ sống khôn thác thiêng” nên khiến xui tôi đến thăm đúng lúc ngặt nghèo nầy. Chị còn tiết lộ là chị còn định làm liều, nếu tới đường cùng, sẽ đem hai đứa nhỏ giao đại cho vợ chồng mình vì chị ấy biết chúng mình rộng lượng nhân từ”.
Thế là sáng hôm sau ông bà lên gặp chị Hồng để làm thủ tục nhận con nuôi. Bà Ba còn đem chị Hồng về nhà bà một thời gian cùng với hai con trước khi bị bắt buộc phải nằm bệnh viện điều trị tích cực lâu dài. Bà đài thọ mọi chi phí, lâu lâu bà dẫn hai đứa nhỏ lên thăm mẹ nhưng chị Hồng càng ngày càng sa sút tiều tụy quá, chị muốn cho các con giữ hình ảnh đẹp của mẹ nên nhất định xin bà từ từ đừng đưa các con đến thăm.Cho đến khi qua đời, mặc dầu thân xác bị bệnh tật hoành hành đau đớn tột cùng, chị cảm thấy yên tâm thanh thản ra đi vì còn niềm tin vào tình người thật sự.
Lúc đầu cũng có dư luận cho rằng Mai và Trung là con rơi của ông vì thấy ông bà cưng chìu con hết mực .Bà Ba phớt lờ tin nhảm ấy bà cứ đường bà bà đi, bà vui vẻ tuyên bố:” Chuyện gì mình làm được thì làm, chuyện phải nữa thì sao lại không làm. Mình thương lo dưỡng dục ai như con của mình thì đó là con mình rồi. Không mang nặng đẻ đau mà có con thế là hạnh phúc nhân đôi. Phải biết cho mới đánh được tầm mức giá trị của cái tâm cao thấp như nhận được gì rồi cũng phải tự vấn vì sao nguyên nhân, mình có xứng đáng với ân huệ ấy hay không”
Vài năm sau ông Ba cũng qua đời không có dịp nhìn được thành quả tốt đẹp của các đứa con mà ông bà thương yêu hết lòng. Bà Ba lại một mình chống chèo tiếp tục bổn phận nuôi con, bây giờ là Mật. Tuổi càng cao, bà còn sốt sắng hơn trong việc từ thiện, bà cũng thích con cháu quanh bà. Hai đứa cháu con của Mai cứ có lễ nghỉ là đòi về ngoại. Vợ chồng Mai cũng thế luôn lôn sắp xếp việc nhà để có thể thăm bà vì bà bận rộn luôn nhất là trong ba năm Mật đi học trọ ở nhà Mai.
Mật tốt nghiệp, bà Ba giao dần tiệm cho Mật như cho Mai trước kia. Mật cũng được bổ nhiệm dạy ở trường trung học công lập bấy giờ. Mấy đứa em của Mật học rất giỏi, Phận năm thứ nhất Y khoa, Phùng và Thu còn học trung học. Chúa nhật nào rảnh, Mật cũng về nhà thăm gia đình, bà nội vẫn còn sống. Vài người mai mối hỏi ý thăm dò, chị Thìn cũng vui nhưng chưa có ý kiến vì chị nghĩ chắc Mật không còn thích hợp với cuộc sống làm dâu ở đồng quê đâu.
Luôn luôn cầu tiến, Mật trau giồi thêm sinh ngữ, để có thể đọc sác báo ngoại, theo dõi sinh hoạt phong trào văn hoá nghệ thuật các nước văn minh, học thêm nghề phụ khác như làm hoa nhân tạo, nghệ thuật cắm hoa trang trí nhà cửa…Mật săn sóc bà Ba từng miếng ăn thức uống, cụ bị sẵn quà bánh trái cây tươi ngon trong vườn gửi biếu gia đình Mai mỗi lần có dịp nhất là từ khi Phận đi học ở Saigon. Mật đã có lần thưa với bà Ba xin cho Mật trở về gia đình khi nào cậu Trung về nước vì Mật đã biết cậu đã học xong xuôi rồi, định xin ở lại thêm hành nghề bên ấy một thời gian để rút kinh nghiệm. Bà Ba không ngăn cản Trung nhưng Mai phản đối quyết liệt yêu cầu Trung phải về vì bà Ba bề ngoài khỏe mạnh nhưng người già như ngọn đèn dầu có thể bị tắt thình lình.
Cả nhà ra phi trường Tân sơn Nhất đón Trung và đưa thẳng về nhà bà Ba. Mật không thể cùng đi đón đưọc vì phần có giờ dạy, phần khác phải lo trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bữa cơm gia đình đoàn tụ, “áo gấm về làng”. Ðiều mà người ngoại cuộc không bao giờ đoán được là trong bao nhiêu năm thư từ thường xuyên chưa bao giờ bà Ba kể đến tên Mật, Mật biết rõ điều đó vì chính Mật viết thư thay bà nhưng đọc thư của Trung là phần việc riêng của bà Ba và Mai. Ngay cả ảnh của Trung gởi về, bà cũng chỉ xếp vào album gia đình âm thầm thản nhiên vậy thôi, không đem hình ra phê bình bàn tán.
- Cô Mật kìa, anh Phúc ơi, cô Mật đến kìa, Hạnh thình lình reo vang nhảy ra khỏi lòng của Trung rồi lật đật cùng anh chạy nhanh ra cửa. Ngạc nhiên lần đầu nghe tên nầy và cũng không hiểu tại sao có sự có mặt hôm nay trong bữa cơm riêng thân mật gia đình, Trung tò mò đi lần theo ra đứng sau cửa sổ. Một cảnh tượng sống động làm mềm lòng người, một cô gái trẻ tóc buộc đuôi gà cao tươi cười một tay bồng bé Hạnh đang quấn vòng tay bé nhỏ quanh cổ cô ép đầu vào má của cô, tay kia nắm lấy tay Phúc đang ngước nhìn lên ríu rít gì nói lung tung không biết rồi cả ba vừa cười vừa đi vào nhà theo cửa hông. Phân vân Trung cố moi óc trong kỷ niệm tìm tên và hình dáng nào giống giống như vậy không. Chẳng lóe một tia sáng nào.
Ðiều mà Trung thắc mắc hơn là vai trò của cô gái trẻ nầy trong nhà. Dường như cô ta chiếm được cảm tình mọi người, bằng cớ là chẳng những hai đứa cháu mà hiện giờ cậu đang nghe tiếng chuyện trò rộn ràng ở nhà bếp. Trung còn nghe tiếng Khải chồng Mai vang vang từ ngoài vườn kêu nhờ:
“Dì Mật ơi, có rảnh tay ra phụ dượng đốn quày chuối sứ chín cây nầy sai quả quá và nhân tiện rã từng nải ra luôn, ăn liền được rồi ngon lắm. Nếu để qua đêm nay, e chim mổ ăn hết uổng quá “.
Nghe vui vậy thôi nhưng còn hơi mệt vì giờ giấc khác biệt, Trung ngả mình trên chiếc ghế xích đu xưa lâu đời rồi mà còn bóng lộn đảo mắt nhìn chung quanh phòng khách.
- Mẹ lớn tuổi rồi, Trung nghĩ, mà đầu óc còn tiến bộ thật. Phòng ốc sạch sẽ trang hoàng thanh lịch, trang trí trình bày tỉ mỉ có nghệ thuật. Hoa tươi được cắm trong những chiếc lọ hài hòa thật mỹ thuật thường chỉ tìm thấy trong tiệm bán hoa. Một bàn ăn dài phủ trên chiếc khăn bàn thêu đã được sắp đặt chén đũa sẵn rồi cho buổi ăn hôm naỵ’ Bà già’ đảm đang khéo léo quá.
Mỉm cười Trung lim dim rồi lịm dần trong giấc ngủ êm đềm cho đến khi cả nhà đã ngồi bàn rồi, bà Ba mới lay gọi Trung.
- Xin lỗi cả nhà. Ngủ quên mà chưa bao giờ ngủ ngon như vậy, Trung vội vã đứng dậy theo bà Ba sang bàn ăn, mời mẹ và anh chị. Ồ các món ăn sao mà thấy hấp dẫn, thịnh soạn quá.
Không khí gia đình thật ấm cúng thân tình làm sao. Trung cũng mới gặp anh rể kỹ sư Khải lần đầu nhưng thấy quí mến anh ngay. Khải điềm đạm mà vui tính, ăn nói chững chạc khiêm tốn mà hài hước, bà Ba thường hỏi ý kiến Khải trước nếu cần như con trai bà vậy. Cả nhà tự nhiên ăn nói vui vẻ.
- Món nào cũng được trình bày công phu đẹp mắt lại thật ngon. Ở bên Pháp lâu lâu cũng có đi ăn món Việt chứ đâu dám chi phí nhiều về điều khoản nầy, mà có tiệm nấu hợp với khẩu vị mình, tiệm khác ít hơn, nên dần dần có thèm thì hùn tiền với nhau tổ chức nấu nướng chung hoặc phân công ai biết làm món nào thì nấu đem đến. Tha hương nhớ món ăn quen thuộc lắm, gì cũng ngon.
- Vậy anh đố cậu biết ai làm đầu bếp chính bữa ăn hôm nay đây, Khải hỏi.
- Con biết, con biết, Hạnh Phúc tranh nhau đưa tay cao lên, Phúc còn dợm chạy đến Trung để mách cậu câu trả lời nếu Mai không trừng mắt suỵt khẽ.
Trung ngớ trước câu hỏi của Khải nên do dự đưa tay trỏ về phía mẹ rồi phía Mai. Hai đứa nhỏ lắc đầu nguầy nguậy tay chỉ lia lịa về phía Mật làm cả nhà cười ồ lên còn Trung thì mắt miệng mở to mà phát âm nhỏ khào khào gật gật đầu như đã hiểu ám hiệu các cháu “cô đó đó à”.
Bà Ba cười lên tiếng đỡ lời:
- Ðúng đấy. Hồi này định giới thiệu nhưng thấy con mới thức dậy rồi quên luôn. Mật hiện là giáo sư trọ ở nhà mình, trọ lâu rồi từ lúc còn đi học ở trung học cho đến bây giờ. Ngoài ra Mật còn giúp mẹ điều hành tiệm may nữa. Con chào và cám ơn Mật đi.
Trung nghiêng mình về phía trước vì hai người ngồi cùng một bên bàn ăn nhìn Mật, đưa tay lên cao vẫy vẫy:
- Chào cô Mật được biết cô. Cô mà được má tôi và chị cả tôi khen tài nội trợ là điều chắc chắn hiếm hoi ít có rồi. Tôi chỉ xin tận hưởng nhâm nhi thưởng thức thôi, cám ơn cô.
Bình dị tươi tỉnh như thường Mật nhìn đáp lại một cách hồn nhiên “Cám ơn cậu” rồi đứng dậy cùng với Mai dọn cho bàn trống đi.
Phần tráng miệng là đĩa hoa hồng bằng rau câu rất đẹp mắt trông như thật. Kế bên là mâm trái cây nhà, nào là đu đủ, chuối cao, xoài cát, ổi xá lị, trên hết là trái thanh long hồng hồng tim tím.
- Người Việt mình chẳng những ăn bằng miệng mà còn bằng mắt, hay đúng hơn cả ngũ quan. Món ăn trở thành một tác phẩm nghệ thuật, tuyệt quá, Trung vừa thử ăn món thạch ưóp lạnh vừa mát vừa lạ miệng.
Sau bữa cơm đó, ai cũng trở về với công việc thường nhật. Những ngày Trung còn nghỉ, bà Ba ít ra tiệm vì phải ở nhà riêng để đón tiếp bạn bè thân nhân đến chúc mừng. Khi Trung báo tin sẽ trở về nước, bà Ba đã sắp xếp mọi công việc nhà đâu ra đấy, còn về nghề nghiệp của con là để Trung quyết định. Bà mượn thêm một bà giúp việc phục vụ chỉ ở nhà bà, dùng cơm với con và về nghỉ ngơi ở đấy.
Mật ở trên lầu tại tiệm may, bà bếp cũ cũng vẫn còn mặt thường xuyên. Khi Mật nhắc lại việc xin trở về nhà không tá túc ở đây, bà Ba khẩn khoản Mật đừng đi, thậm chí bà còn đích thân đến nhà Mật xin cho Mật ở lại giúp bà. Và theo yêu cầu của Mật, bà để cho Mật ra riêng nhưng ở tại tiệm may của bà. Vì vậy bà sửa sang trang hoàng lại căn lầu thật tiện nghi, bà bảo:
- Trung nó đã về, bà mừng thật mừng. Rồi đây khi cậu ta lập gia đình, bà sẽ để ngôi biệt thự ấy cho vợ chồng nó, bà về lại dưỡng già ở ngôi nhà kỷ niệm nầy của ông bà …với con nha. Mà à đâu được, con cũng lập gia đình nữa chớ, con cũng theo chồng như con Mai. Hay là… nếu hai đứa con bằng lòng về ở nhà nầy thì hay biết chừng nào.
Mật cảm động đến tận cùng, chỉ biết ôm nhẹ cánh tay bà ứa nước mắt nói:
- Bà ơi, gia đình con mang ơn bà sâu rộng không bao giờ trả được, mà bà, bà cũng chẳng bao giờ nhớ kể công đâu. Con có ngày nay là cũng do bao công sức nuôi dạy của bà. Con không dám hứa trước với bà điều gì mà con không biết xảy ra trong tương lai nhưng nếu có sự việc xảy ra như bà đã nghĩ thì con cũng chỉ cầu xin như thế để được luôn ở bên bà.
- Cám ơn con, bà chỉ còn mong con hạnh phúc là bà mãn nguyện rồi.
Vài tháng sau, Trung được bổ nhậm làm việc ở bệnh viện tỉnh nhà. Bà Ba vội vã mở phòng mạch riêng cho Trung. Trung dù mới về nước nhưng với mảnh bằng tốt nghiệp ở Pháp, tướng tá cao ráo dễ nhìn, ít nói điềm đạm tận tâm nhất là còn mang đính bài độc thân, tiếng đồn gần xa, khách bệnh càng ngày càng đông và đặc biệt là danh sách “ chiêu hiền thê” do mai mối giới thiệu tự động dài ra. Mà ở đâu cũng thế, vấn đề hôn nhân luôn là đề tài tranh luận bàn tán phê bình góp ý, có dai như cao su, ngán như cơm nếp mắc mưa thế mà mấy ai thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn đó. Trong một tỉnh nhỏ, có khi chuyện bé xé ra to, tin tức qua đường dây truyền miệng cũng nhanh chóng cấp kỳ “tam sao thất bổn” từ voi thành chuột, cá hóa thành rồng, thất thiệt.
Bận rộn luôn, Trung ít có thì giờ nghỉ ngơi du lịch giải trí thế mà cũng không được yên trong sở như ở nhà. Nay nhà nầy mời ăn giỗ, ngày khác tiệc mừng viện đủ lý do. Thật ra cậu ta cũng thích, nhưng không biết tại sao chưa có cô nào có thể làm cho cậu tin được, có lẽ bị “trượt vỏ dưa thấy vỏ dừa cũng sợ”.Chỉ có một mình bà Ba được Trung tiết lộ một lần chuyện tình cảm éo le của mình cho mẹ nghe thôi. Do đó dù nhờ Mật viết thư sang Pháp, không bao giờ bà để Mật đọc thư Trung gửi về và không bao giờ nêu tên Mật trong thư. Bà muốn bảo vệ Mật cả Trung, tình cảm con người lắm lúc như con ngựa bất kham không biết lúc nào trở chứng.
Vốn là khi học Y khoa,Trung đã yêu một cô bạn Pháp con một nhà giàu cùng lớp. Cuộc tình thật đẹp thắm thiết sâu đậm. Ba má của Gisèle cũng chấp thuận chàng rể khác chủng nầy không đắn đo kỳ thị. Gần đến năm tốt nghiệp, họ quyết định cưới nhau, Trung mới viết thư về xin phép mẹ và xin ở lại hành nghề bên ấy. Vì Mai không biết chuyện tình của Trung nên quyết liệt phản đối, Trung mới bàn lại với hôn thê. Không ngờ Gigi giận dữ đưa tối hậu thư, một là cưới và ở hẳn luôn bên ‘ mẫu quốc’, hai là cắt đứt ngay. Trung cố giải thích hết lời vì anh chỉ còn có một mẹ già, bổn phận con cái hiếu thảo là phụng dưỡng mẹ cha và nếu thương anh thì theo giúp anh làm tròn nghĩa vụ ấy. Anh cũng đề nghị là Gigi cứ về thử sống bên quê chồng một thời gian, không được thì chừng đó tính lại sau. Vô ích, chẳng những không cho Trung gặp lại nàng mà còn để chọc tức Trung, ngang nhiên cặp bồ mới và dẫn thẳng giới thiệu với Trung. Ngán ngẫm tình đời, tình yêu trở mặt, vị bác sĩ trẻ trở về với mẹ, quê hương.
“Con đừng lo gì cho má cả. Nếu con thấy phải ở lại thì tùy con, đừng làm điều gì mà sau nầy mình ân hận thì thôi. Bên nầy mẹ còn có gia đình chị Mai và bà con thân thuộc, chỉ thương con xa nhà thiếu thốn tình thương thôi” Trung nhớ lại từng chữ mẹ viết và nhận thấy rằng tình bà mẹ Việt nam thật vô bờ khoan dung không ích kỷ, như dòng nước từ nguồn chảy xuôi ra biển chứ không bao giờ thoát ngược trở lộn lại nguồn.
Khi gặp lại con, nhân lúc chỉ có hai mẹ con, bà Ba nhìn sâu vào mắt con trai thì thầm:
- Sao con lại về? Con không thương cô ấy nữa à? Có phải vì mẹ không? Lý do nào cũng không vững hết, làm vậy là bất nghĩa con biết không?
- Hết rồi mẹ à, con sẽ kể rõ cho mẹ sau.
Thế mà từ đó, Trung cảm thấy như tìm lại dần dần sức mạnh tinh thần truyền qua từ lòng từ tâm hy sinh của mẹ giúp anh dứt khoát đoạn tuyệt được với cơn thất vọng bị khinh khi phản bội lạnh lùng tàn nhẫn, gầy lại niềm tin vào cuộc sống con người. Không còn gì có thể chận bước anh làm lại cuộc đời hữu dụng và hạnh phúc, không lẽ chỉ vì bị một lần ngã ngựa mà mấy người nài “cứng cựa” lại phải bỏ nghề.
Riêng bà Ba, từ khi biết chuyện rõ ràng, thương con bà không bao giờ đề cập vấn đề hôn nhân với con dù bà luôn mong con tìm được người hợp ý. Trong lúc đó bà còn phải đối phó với bao người quen bạn bè nhờ bà về việc làm quen cưới xin cô giáo sư trọ ở nhà bà. Lu bù công việc, quá quen với sự có mặt thường xuyên bên mình, bà quên khuấy mất là Mật đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành đàng hoàng đảm đang đẹp đẽ. Bất giác bà nhớ thấy Mật quá, lâu rồi bà chỉ xẹt qua tiệm có khi không gặp Mật, bà trách mình sao mà tắc trách quá vô tình, con gái cần phải chăm sóc hơn mới đúng.
Nghĩ là làm ngay sợ quên, chiều hôm ấy, sau ăn cơm xong, bà rủ Trung sang tiệm may cho biết và nhân tiện mời Mật sang dùng cơm với cả nhà luôn cuối tuần có cả gia đình Mai về thăm.
- Mẹ ơi, ngộ thiệt, sao mà mẹ con mình nghĩ giống nhau quá! Con cũng định thưa với mẹ sang thăm cô ấy vì hồi sáng nầy có mấy người ở chỗ con làm hỏi thăm Mật đó. Bà y tá trưởng thì bảo con gái của bà thich giờ dạy của cô, viết chữ đẹp dạy hay mà còn khéo léo tự may quần áo thật chic đúng mốt mà không diêm dúa, sang trọng quí phái.
- Mà thật đúng như vậy, tụi nó còn chưa biết tài nội trợ của con Mật nếu biết chắc còn khen nhiều hơn.
- Cô khác nói may áo dài ở tiệm mình, cô Mật làm giáo sư vậy mà thật bình dị vui vẻ khi đo ni khách hàng, cô ấy còn thêm cổ là con gái mà còn thấy ‘mê’ cái hồn nhiên dịu dàng không điệu bộ của Mật.
Anh y tá đứng bên lại cười cười hỏi con:
- Tôi đánh cá với cô Tâm là bác sĩ không hảo ngọt, vậy đúng không bác sĩ?
- Tôi không biết anh hỏi để làm gì nhưng tôi cũng trả lời anh, theo cả hai nghĩa trắng lẫn đen, tôi không thích ngọt lắm, “hảo ngọt” càng không.
- Cám ơn bác sĩ, tôi ‘ăn cá’ rồi vì ở nhà của bác sĩ có một thứ hàng quí cao cấp về ngọt là Mật, chữ M viết hoa, mà bác sĩ chẳng hay chẳng biết bất cần không để ý trong khi nhiều người thèm thuồng rắp ranh định nhào vào…tán tỉnh xin “cua”.
Cả hai mẹ con cười ngất rồi vui vẻ sang thăm Mật.
Lần nầy gặp lại, Trung ngạc nhiên nhìn Mật không muốn ra. Trung cũng nói thật ý nghĩ mình và cũng không quên lập lại lời khen nào chỉ liên quan Mật thôi. Không thấy một triệu chứng nào thích thú, hãnh diện gì trên gương mặt đắm thắm khả ái tự nhiên nhiên của cô. Bà quản gia mang trà và bánh đãi khách. Mùi thơm bốc lên từ tách trà sen nóng hổi cọng thêm hương vị lá dứa nước dừa của miếng bánh bò vàng hực rễ tre rành rạch, Trung lần đầu tiên sực tỉnh choáng ngợp bởi niềm tin hạnh phúc gia đình có thật mà từ lâu anh mong đợi kiếm tìm vô vọng. Anh nhận chân thêm rằng phải kinh qua cái chết mất của lòng ích kỷ thì tình yêu đích thực chân thành mới có thể đâm chồi nẩy lộc kết trái trổ hoa. Hy vọng !
- Cậu nói rồi em mới nhớ, khách hàng và đồng nghiệp của em cũng hay hỏi em về cậu. Nhiều khi họ bàn tán về cậu, đánh cá cho vui rồi nhờ em làm trọng tài, nhưng tựu trung là khen hơn chê. Mấy chị bạn có lần trêu em là “mình đồng da sắt” chẳng bao giờ bị bệnh hoạn nên chẳng cần đi khám bệnh, bận tâm đến sự có mặt, công việc của các vị “lương y như từ mẫu”. .
- Thế à, chắc cũng là đề tài thường tình thôi. Chỉ tội cho cô bé phải bị hạch xách, trả lời vấn đề mà em mù tịt vì chúng mình có biết gì nhau đâu. Biết rằng em chẳng quan tâm để ý đến những lời ra vào ấy, cũng cho tôi thành thật cám ơn em rất nhiều vì tình cảm tha thiết sâu lắng đối với cả nhà chúng tôi. Má và chị Mai còn bảo em là viên ngọc quí hiếm Trời ban cho gia đình, vì vậy với giá nào mẹ cũng hết sức bảo vệ em cầu cho em hạnh phúc,…
Trung ngưng ngang vì thoáng thấy cái nhìn long lanh nước mắt hướng về bà Ba đầy tin yêu. Trung như bị thu hút bởi ánh sáng tuyệt vời của ‘cánh cửa sổ tâm hồn’ thanh cao hướng thiện ấy, lòng anh trầm lại hy vọng rằng từ đây nếu có, thay vì anh chỉ có một vị thiên thần hộ mệnh, anh sẽ có đến hai.
Như để làm dịu bớt bầu không khí căng thẳng, bà Ba đề nghị theo sự góp ý của Khải, từ đây, nếu Mật không thấy gì trở ngại, gọi Mai Khải là anh chị và cả Trung là anh. Vậy mà lạ chưa chỉ nghe nói như vậy Trung cũng hồi hộp tưởng tượng đến cảnh xướng danh thí sinh trúng tuyển trong các kỳ thi ngày xưa và cảm thấy như cơn gió vừa thổi qua làm mát lòng khi Mật tươi cười thưa:
- Cám ơn Bà và các anh chị.
Thời gian qua. Chẳng có gì thay đổi, Trung vẫn chưa thấy rục rịch gì về việc lập gia đình cứ viện lý do còn lo phòng khám bệnh trước đã. Bà Ba trước sau như một, ai có hỏi, bà cứ lập luận “ép dầu ép mỡ chứ ai nỡ ép duyên”. Mật vẫn sống thản nhiên bận rộn không ngừng lo cho các em tiếp tục học lên cao, chưa nghĩ đến hạnh phúc riêng tư dù bà nội mẹ nhiều lần rù rì đề cập tới.
Biết Mật thích đọc sách báo ngoại về thời trang, nữ công gia chánh, Trung không quên mua đem sang biếu và cùng bình luận như anh em trong nhà thường là có mặt bà Ba. Ai cũng nghĩ bà đang tìm cho Trung mối nào “môn đăng hộ đối” xứng thông xứng gia như quan niệm thời bấy giờ. Lầm to, vì bà Ba hiểu rõ tâm tính của Mật hơn ai hết nên quí mến Mật hết lòng, biết mình biết người, biết phận mình mà không than van tị hiềm, phân biệt rõ ràng giữa nhận và cho. Ở cô toát ra một sự hòa hợp cương nhu, một sự thăng bằng hài hòa lý tình. Ðiều mà bà nghĩ mình biết chắc chắn nhất là không bao giờ trong tương lai Mận phác họa cho mình hình ảnh của một mệnh phụ phu nhân, bà bác sĩ chẳng hạn. Còn bà, bà không mong gì hơn là được con dâu như vậy.
Chẳng những bà hy vọng thôi mà cả Mai có lần đã nói với bà “sao mẹ không cưới Mật cho Trung đi, để lâu mất đó. Tụi nó đàng hoàng quá, không tạo cơ hội gặp gỡ tìm hiểu nhau làm sao mà thành”. Bây giờ bà cũng hơi mừng thầm như đã có sự chuyển biến tự nhiên ở Trung thì phải, bằng chứng là câu chuyện nào trong bữa cơm thường xoay quanh đâu rồi cũng trở về hồng tâm Mật.
Hè năm ấy, cả nhà định tổ chức du ngoạn ở Vũng tàu mời cả 4 chị em Mật trong tuần lễ cuối tháng sáu. Không may bà nội Mật ngã bệnh thình lình trước đó. Vừa nghỉ hè nên Mật vội vã xin phép bà Ba về nuôi bệnh nội. Hay tin, Trung cũng không chần chừ vào sở sắp xếp công việc về sớm rồi lái xe về quê Mật. Từ đó Trung cứ chiều về sáng lên làm việc chờ đến khi nào bệnh bớt hẳn mới ngưng. Có lần sau khi chẩn mạch xong Trung cười cười bảo:
- Nội khoẻ rồi, chỉ còn uống tiếp tục thuốc còn lại cho hết rồi sau đó uống thuốc bổ thôi. Nội còn sống lâu lắm đó.
- Cám ơn cháu. Nội chỉ mong sống để nhìn được đám cưới của cháu thôi. Nội cũng có lời khuyên cháu nha, thương ai thì cứ thành thật nói ra, được thì tiến tới, ngược lại thì thôi, sòng phẳng trong tình cảm lúc nào hay lúc nấy đỡ thân khoẻ trí. Bác sĩ trị bệnh người khác đã khó còn chữa bịnh cho mình cũng chẳng dễ đâu.
- Cảm ơn nội. Từ ngày mai, cháu không đến được nữa, xin phép bà cháu về luôn.
Quay ra vừa bước khỏi phòng Trung chạm vào đôi mắt thật dịu hiền long lanh trong sáng chiếu thẳng vào anh đầy cảm phục tri ân:
- Mai nầy em cũng phải về để lấy Sự vụ lệnh để đi gác và chấm thi, nội đã bớt bệhh rồi, cám ơn anh thật nhiều.
- Mình đi ra ngoài nha, anh xin phép mẹ cho anh đưa em về một lượt, chúng mình cùng đi về chung với nhau nghe em.
- Dạ.
Trung nhẹ nắm lấy bàn tay Mật tìm mẹ báo tin dưới bầu trời trong vắt, vầng trăng lưỡi liềm hạnh phúc đã lên cao, những vì sao lóng lánh chớp tắt như đôi mắt e ấp thẹn thùng tỏa sáng ngây thơ của con cái ở đồng tràn đầy sức sống niềm tin vào cuộc đời.

Trần Thành Mỹ




Mục Lục



12. Khúc Sông Bên Lở Bên Bồi

Vô Ngã



1 - Văn chương… viết khó không cậu?
- Không khó đâu con.
- Nhưng lâu quá sao không thấy truyện của cậu được đăng báo?
Con bé nghẹo cổ sang bên, lè lưỡi, hỏi tôi câu hỏi ác liệt ấy. Nó đã mười bốn tuổi, học lớp tám, bắt đầu trổ mã, ra dáng con gái. Nó là độc giả đầu tiên của những điều tôi viết ra. Nó thích đọc, thích bình phẩm và rất thích trêu chọc tôi.
- Thôi con à. Cậu có biết đâu. Chắc báo người ta không ưa cái cách cậu kể chuyện, vậy thôi. Cho cậu thêm bình trà đi con.
Tôi đang ngồi trong căn chòi lá đơn sơ của chị tôi. Người dân ở đây gọi là quán nước, trông xuống bến đò ngang dọc qua sông Hậu. Sáng nào tôi cũng ngồi đó đón khách đi xe ôm. Chị tôi và con bé nhờ cái quán con con ấy mà sống qua ngày.
Hôm nay mấy cha chạy xe đồng nghiệp đã có khách chạy đi hết cả. Chỉ còn tôi và con bé ngồi lơ ngơ trông quán. Ly cà phê đen đã cạn. Ba điếu thuốc trong cái đĩa nhựa cũng đã hút xong. Tôi vẫn chưa đón được người khách nào đi xe.
Một chuyến đò mới sang. Những chiếc xe gắn máy chạy vù lên. Người ta lỉnh kỉnh những thúng, những sọt kéo lên bờ. Những chiếc xe lôi nhỏ chở nặng phải mấy người đàn ông tiếp sức đẩy lên bờ. Một bà lão lóng ngóng đi lên sau cùng, chậm chạp, run rẩy. Bà Tư. Bà tìm tôi.
- Chú chở tôi xuống tỉnh thăm con Hai.
- Bác ngồi nghỉ cho khỏe chút đi rồi con chở.
Bà ngồi xuống, vẻ khó nhọc, in như đầu gối bị đau. Bà lột khăn rằn đội đầu xuống. Một mái tóc bạc trắng hiện ra. Mặt bà nhăn nheo như co rút lại trước thời gian. Bà dùng cái khăn phe phẩy, làm quạt cho mát.
- Chú ba à, bữa nay… chắc tui thiếu chịu tiền xe nữa quá!
Tháng trước đi thăm con Hai bà đã thiếu. Tháng này bà lại ngượng nghịu xin thiếu. Vậy là cái xề chuối nướng của bà bên kia sông đã không đảm đương nổi bốn miệng ăn: bà và ba đứa cháu ngoại, con của “con Hai”. LaÏi còn chi phí hàng tháng “xuống tỉnh” là xuống trại giam thăm “con Hai”. Con Hai hàng hụi lu bu, thiếu nợ chồng đống, vậy nên phải đi tù. Nhưng tôi đoán Hai có ra tù, bà Tư cũng chẳng khá hơn gì. Chưa bao giờ Hai nuôi bà Tư được ngày nào. Ngày Hai còn “làm ăn” được thì đua đòi, se sua. Ngày Hai vào tù thì các cháu đổ các cháu vào đôi tay già nua của bà ngoại.
- Dạ, không sao đâu bác. Chừng nào có tiền bác trả cũng được mà. Tôi đáp. À, mà bữa nay bác có đồ gì đem cho con Hai?
- Kẹt tiền lắm chú ơi. Tui chỉ có hũ dưa mắm đem cho nó thôi. Mấy ngày nay đầu gối tui lại ghiền thuốc.Nó nhức về đêm không ngủ được.
Dưa mắm bà Tư bỏ trong lọ thủy tinh, vàng ươm loáng thoáng ớt xắt nhuyễn. Món này bày ra dĩa, ăn với thịt heo luộc, rau sống… Trời ơi! Ngon hết chỗ nói!
- Bà Tư ơi, bà uống ly trà đá nè, cho khỏe, rồi đi. Con bé bưng ra ly nước. Má con nói không tính tiền bà đâu.
Bà Tư nhìn con bé, vẻ biết ơn.
- Bây lớn bộn rồi. Ít bữa đi lấy chồng, má bây hết nhờ cậy gì luôn.
Con bé mắc cỡ, đi vô, buông lời trở ra.
- Chồng con gì bà ơi!
Tôi nhìn theo cái lưng mảnh mai của nó. Ừ, chồng con gì. Cái đời mẹ nó không đủ khổ sao? Chị tôi cũng chồng, cũng con đấy. Nhưng anh nhảy xuống ghe, đi biền biệt cả chục năm nay, không biết ở chân trời nào. Hai mẹ con chị tôi phải dựa vào nhau, dựa vào cái chòi lá nhỏ bé này, dựa vào bà con xóm giềng mà lây lất sống cho tới nay.
Anh Sáu, đồng nghiệp chạy xe ôm của tôi, chạy về tới. Anh dừng xe, giở nón, bước vô quán, mặt buồn hiu. Anh không nói, không rằng, ngồi phịch xuống ghế, thở dài não nuột.
- Làm gì mà rầu dữ vậy cha? Tôi hỏi.
Anh nhìn tôi, hai bên ria xịu xuống thiểu não.
- Tao… tao chở con Hường đi… bị em vợ tao bắt được… Tổn nhơn chưa!
À ra vậy! Tôi phì cười. Cha nội này chở bồ bịch đi bị em vợ thấy. Lăng nhăng cho dữ vô, giờ thì bể dĩa rồi! Anh Sáu phải tội đẹp trai, ca vọng cổ mùi nhất làng nên quý bà quý cô ưu ái lắm. Trận này anh mệt tới nơi rồi.
- Nhưng sao anh biết em vợ anh bắt gặp?
- Tao… tao đụng mặt ở phà Cồn Tiên. Tao giả đò dòm chỗ khác. Nó đứng cách xe tao chừng bốn thước, cứ réo anh Sáu, anh Sáu… Tổn nhơn chưa cha nội!
Bà Tư cũng cười theo tôi. Ít khi tôi thấy bà Tư được vui như vậy.
- Ði đêm có ngày gặp ma mà chú Sáu. Chiều nay thím Sáu đi bán về tới chắc mần thịt chú luôn đó…
Hàm răng của bà Tư chỉ còn hai cái điển hình. Một nụ cười móm mém mà đẹp lạ thường. Tôi bảo bà Tư:
- Thôi mình đi đi bác. Giờ cũng trưa trờ trưa trật rồi.
Tôi nổ máy xe, đưa bà già bảy mươi sáu tuổi, tuổi gần đất xa trời, xuống trại giam thăm đứa con gái bốn mươi tuổi hư hỏng của bà.
2
Ðêm qua tôi không ngủ được.
Chừng thiêm thiếp, tôi nghe tiếng sông vỗ vào bờ oàm oạp. Tôi nghe tiếng chim thảng thốt ngang trời. Tôi nghe những nhân vật nữ của tôi cằn nhằn tôi. Tôi đã bắt họ chia ly quá nhiều. Tôi đã làm duyên tình họ trắc trở. Họ dọa, tự họ sẽ sắp đặt câu chuyện lại, tự họ sẽ tìm đến nhau mà không cần tới ngòi bút của tôi nữa. Chữ nghĩa vô tình, lạnh nhạt kia đã làm khổ họ.
Họ hiện ra trong mơ, bên dòng sông Hậu hiền hòa chảy về đông. Con sông chở bao nhớ nhung hò hẹn. Con sông chở bao vui sướng và khổ đau. Họ hiện ra ở đó: khi thì những đứa bé thơ nhảy ùm xuống sông nước tung trắng xóa; khi là những thiếu nữ trắng ngần bẽn lẽn lắm trong trời chiều; khi thì già nua, ốm yếu hom hem run run bước xuống bãi sông giữa trưa nắng vì sợ lạnh…
Họ hiện ra ở đó, trên những chuyến đò chở nhiều thăng trầm của cuộc đời, trên những chiếc ghe chở đám cưới nhộn nhịp, trên những chiếc ghe chở đám tang loáng thoáng vành khăn tang trắng và nhạt nhòa nước mắt. Ðôi khi họ ngồi trên những chiếc xuồng cột nối đuôi nhau, có chiếc ghe máy kéo phía trước. Cả đoàn rồng rắn như một dấu ngã trên sông nước. Xuồng của họ chở chuối, chở xoài, chở dừa, chở rau… Họ chở luôn những ước mơ và hy vọng, những nhọc nhằn lo toan của người dân quê. Những người đàn bà trên sông ấy chở ước mơ ra đi từ rất sớm, chở niềm vui và ngán ngẩm về rất muộn.
Và sông nữa, trong mơ, sông rộng lớn hơn trong đời thật. Sông oà vỡ ra trước mắt, mênh mang, đẫm ướt hồn người. Ánh trăng vỡ vụn trên mặt nước bị làn gió thanh thản, mát rượi dìu đi tha thướt. Nếu ánh trăng trên đồng lúa chín có màu vàng chanh thì ánh trăng trên sông lại lấp lánh, xanh xanh. Chắc nó bị những rặng cây trầm mặc hai bên bờ loang ra một tí xanh…
Sông lững lờ trôi. Dòng nước không bao giờ cũ. Một hôm nó tanh nồng mùi cá. Một hôm nó thơm nức mùi lúa chín. Hôm khác nó lại ngào ngạt mùi phù sa. Các mùi vị xếp tầng, xếp lớp trên mặt sông, cùng đổ về một lúc trong mơ thành một nỗi bâng khuâng man mác… Sông lững lờ trôi. Nó chảy về đông. Trong mơ sông cũng là nhân vật, cũng có cá tính. Về đông, về biển, sông không còn là nó mà là cái gì to tát mênh mông. Nó biết nó sẽ không còn là nó mà vẫn cứ về, cứ về. “Sông ơi, sao mi bình thản thế?” Tôi hét lên trong mơ. Tôi đứng ra cản dòng chảy của nó. Sông chườm lên tôi như một tấm chăn mát lạnh. Tiếng đò máy văng vẳng rộn ràng trên sông cho hay trời sắp sáng.
Tôi sực tỉnh, lồm cồm bò dậy, ngồi bó gối nhìn ra sông. Một dải lụa trắng bay là là trên mặt sông. Tôi biết trong dải sương sớm đó có chứa đựng hương vị của cá, của lúa, của phù sa.
Những cảm xúc trong mơ khó ghi lại chính xác. Tôi mặc kệ, cố ghi ra. Tôi hình dung nụ cười trêu ghẹo của con bé cháu tôi, khi nó đọc văn tôi. Mặc kệ!
3
Khoảng giữa trưa, tôi và bà Tư mới đến trại giam.
Những tia nắng từ trên cao buông mình lao xuống đất bị những tầng lá dầy xanh um của những cây còng đại thụ chặn lại. Len qua lá, nắng cuộn mình thành những hạt tròn như đồng xu rải đều trên mặt sân cát trước cửa trại giam. Vì vậy, giữa trưa hè nhưng khoảng sân cát vẫn mát rượi. Những cái bàn nhựa được kê tạm ngoài sân. Những người đàn bà nhà gần trại giam vào dịp cuối tuần đã bày ra đó đủ thứ nước nôi, trà lá để bán.
Trong sân đông nghịt người. Những cái áo sọc tù nhân trắng xám chen lẫn những màu áo khác. Người ta chuyện trò. Người ta khóc. Người ta cười. Người ta nựng nịu những đứa trẻ được dẫn đi theo. Bà Tư đi thẳng vào khu sân trong, nơi thăm của phạm nhân nữ. Bà chân đau, đi chậm, mắt cứ dáo dác tìm kiếm con Hai. À, con Hai kia rồi, trong góc sân xa xa, dưới một tán xoài. Nó đưa tay vẫy bà Tư. Tôi thấy bà te te chạy tới. Không hiểu sao bà chạy nổi, tôi tự hỏi.
Tôi ngồi gần một bé gái khoảng năm tuổi. Gương mặt nó tròn trĩnh, sáng bừng. Cặp mắt nó lóng lánh như hai giọt nước.
Bé nhìn cha nó trong chiếc áo tù sọc trắng xám.
- Ba ơi, chừng nào ba về?
- Ít bữa, ba học xong ở đây, ba sẽ về…
- Sao ba học lâu quá vậy ba?
Rồi nó phụng phịu.
- Con nói ba đi học mà mấy đứa trong xóm mình đâu có tin. Tụi nó nói ba mày ở tù. Con cãi. Rõ ràng ba nói ba đi học. Má cũng nói ba đi học. Tụi nó nói bậy phải không ba?
Người cha sững lại ôm lấy con gái. Hai mắt anh lấp xấp nước. Tôi đoán, khi phạm tội anh đã không nhớ tới ánh mắt trong veo của con gái anh.
- Con ở nhà với mẹ ngoan nghe! Vì ba chưa tốt, ba phải đi học để thành người tốt. Học xong, ba về liền hà…
Con bé giãy ra, nhìn vào mặt cha nó.
- Nhưng con thấy ba tốt mà. Ba có gì xấu đâu. Má cũng thấy vậy nữa… Phải không má?
Chị vợ ngồi kề bên nín lặng. Nước mắt chị lăn dài trên má. Những giọt nước mắt rơi trên cát. Chúng tuôn như hạt ngọc. Con bé ngước mặt lên trời, nhìn vòm lá xanh.
- Ở đây sân mát quá! Chơi nhảy dây là sướng nhứt.
Ðôi khi tôi ước ao mình có được đôi mắt đó để nhìn ra tất cả những điều tốt đẹp ở đời này.
Rồi nó tuột khỏi tay cha nó. Nó chạy lon ton, nhún nhảy trên sân cát. Ðược vài bước, nó nhảy một chân, cò cò. Ðôi dép nhựa bé xíu của nó lẫn trong những đôi dép to của người lớn. Nó đã quên béng chuyện vừa rồi. Phiền muộn lùi lại trông theo lưng nó, chỉ biết thở dài…
Anh chồng nói với vợ:
- Vào đây được hơn năm, anh mới nhớ được cái sàn nước sau nhà của mình thủng hai miếng ván. Hồi trước đời nào anh nhớ! Em và con ra đó rửa ráy nhớ để ý, kẻo sẩy chân thì khổ… Anh tốt lên một chút rồi đó em. Anh còn biết nghĩ đến cảnh nhà!
Ðám đông trong sân đang ồn chợt nín bặt. Một chiếc xe lôi chở cái quan tài vào cổng trại giam. Tôi quay sang hỏi anh:
- Bộ bữa nay có phạm nhân chết hả anh?
Anh gật đầu, mặt xìu xuống, còn buồn hơn lúc nãy.
- Ừ, thằng đó ở chung phòng với tôi. Nó nhiễm HIV chuyển qua AIDS rồi. Mấy ngày nay anh em tôi thay nhau lên trạm xá trại giam lo cho nó. Nó mới đi hồi khuya này. Tội lắm anh ơi!
Anh kể giọng trầm buồn.
Ðó là cuộc đời ngắn ngủi của một cánh chim bay lạc đàn, Mười tám tuổi, nó bỏ nhà đi hoang. Vào tù lần đầu về tội buôn bán và tiêm chích ma túy. Vài năm sau, ra tù. Chưa đầy ba tháng nó lại trở vào trại giam: lại tội lỗi cũ. Bà mẹ trẻ đang có một gia đình khác để chăm lo. Bà bỏ hẳn nó, không thăm, không nuôi gì hết. Nó chết kể cũng sướng cho cái thân nó. Trong những ngày thăm nuôi giống bữa nay, người khác thì vui vẻ vì gặp được người thân. Còn nó, nó lại nằm bơ vơ cuốn chiếu trùm kín đầu trong góc tường. Anh em rầy nó:
“Cuốn chiếu quấn mình thấy ghê vậy mậy? Giống xác chết quá hà!”. Nó khóc: “Thì em cũng đang chết đây chứ còn gì nữả”
Quà thăm nuôi các anh em ở chung đều chia cho nó. Nó nhận nhưng mắt buồn, ngó xa xăm ra ngoài trời. “Em đâu cần quà cáp gì. Em chỉ cần má em đi thăm em, là em vui rồi. Cuối đời, em mới thấy em cần gặp má, cần má tha thứ. Má đã không tha thứ cho em thì đời này còn ai tha thứ cho em?”. “Còn sao không mậy! Còn tụi tao nè. Tụi tao tha thứ cho mày. Ngồi dậy ăn đi nhỏ!”.
Rồi trại đưa đi xét nghiệm. Nó nhiễm HIV. Hèn gì nó hay nói “Cuối đời, em mới thấy em cần gặp má…” Anh em thắc mắc “Sao mày biết trước chuyện nàỷ” Nó trả lời bình thản “Mấy thằng bạn hút chích với em lúc trước ở Cần Thơ đều đã chết hết. Em làm sao mà thoát nổi”.

Những ngày cuối, nó ho ra máu, đi tiêu cũng ra máu. Không ăn uống gì được, mình mẩy nó lép xẹp, ép sát xuống chiếu. Nó nhỏ lại, trông như thằng bé mười hai, mười ba tuổi. Máu cứ ra mãi, hoặc miệng, hoặc hậu môn. Trạm xá đưa nó ra bệnh viện tỉnh. Vài ngày sau họ trả nó về trạm xá trại giam, nằm chờ chết. Anh em cùng phòng thay nhau lên chăm sóc nó. Hỏi nó lúc này mày thèm món gì nhất để tụi tao kiếm cho mà ăn, nó cười thều thào: “Thèm hai thứ… Gặp má em là một… Ðược… được tắm sông là hai…” Nó nói xong anh em mới thẫn thờ. Thiệt ra thằng nào ở đây không nhớ má và nhớ sông. Kể cũng lạ, coi vậy mà con sông ở trong lòng mình lồng lộng như má mình vậy. “Ừ, tụi tao giống mày. Nhớ nhà, và nhớ sông quá!”
Sáng hôm qua, máu lại ra dữ dội hơn trước. Mùi hôi thối khủng khiếp bốc lên. Nó nằm trên giường không như thằng bé nữa mà như cái nùi giẻ. Thân người nó trước cái chết sao mà thê thảm quá! Toàn bộ xương sườn lòi hẳn ra ngoài da thịt. Phổi nó đặc lại hay sao mà nó hít, hơi không vô! Anh em xót xa biểu nó “Mày đi đi! Mày đi nhanh đi! Ðể thân mày bớt khổ”. Môi nó lắp bắp nói gần ba phút mới được mấy chữ “Em… còn… chờ… má… em!”
Hồi tối này, nó yếu quá không nói được nữa. Con mắt lờ đờ muốn lọt ra ngoài hộp sọ. Gật đầu hay lắc đầu cũng không làm được. Chỉ có con mắt, con mắt khép lại hay mở ra là nó làm nổi.
- “Mày chờ má mày lên thăm lần chót phải không?” Nó nhắm mắt lại “Phải”.
- “Ngày mai, thứ bảy chắc má mày lên đó. Tới ngày thăm nuôi mà”. Nó nhắm mắt “Ừ”. “Nhưng mày yếu quá, có chờ được tới sáng mai không?”. Nó mở mắt trân trân “Không”.
- “Vậy tụi tao điện thoại cho má mày nghẻ” Nó khép mắt “Ừ.”
- “Nhưng làm sao mày đọc nổi mấy số điện thoại của má mày cho tụi taỏ”. Nó đờ dại con mắt.
Rồi những người bạn tù đã tìm ra cách. Họ đọc từ 0 đến 9. Nếu đúng một số nó sẽ khép mắt lại một lần. Vậy là họ ghi được số điện thoại của má nó vào lòng bàn tay. Họ nhờ quản giáo trại giam gọi giùm. Anh em xúm xít quanh cái điện thoại đang mở loa ngoài. Thằng nào cũng muốn té xỉu khi nghe má nó trả lời “Cứ để cho nó chết rồi lên trại lãnh xác luôn một thể!”
Anh em chửi bới, văng tục. Họ chạy qua trạm xá, lại vây quanh giường nó, lòng tức anh ách mà phải lặng thinh.
“Sao rồỉ” Nó đưa mắt nhìn.
“Má mày đang trên đường đến trại giam!”
Nước mắt nó trào ra, không chảy xuống chiếu mà chảy thành cái khoen trong hốc mắt. Anh em chảy nước mắt theo nó.
Rồi nó đi, đi ngay tức khắc, thanh thản, mãn nguyện. Hồn nó bay đi về với sông nước, về với má nó. Hình ảnh của má nó đang trên đường đến trại giam làm nó nghĩ là nó được tha thứ. Nó cười đó anh, nhưng miệng méo méo làm sao ấy…
- Vô đây rồi mới thấy thương quê, thương con sông, thương gia đình mình anh à…
Kể xong câu chuyện, giọng anh khản đi. Anh lại muốn khóc.
Tôi cũng mong anh khóc. Khóc để nhớ quê, nhớ sông. Khóc để chia sẻ phận người. Khóc để lớn lên, để hoàn lương…
Bà Tư từ góc sân trong đi trở ra. Tôi thấy lưng bà còn còng hơn trước. Bà vừa đi vừa đưa tay quẹt nước mắt. Bà khóc. Và lạ chưa, hũ dưa mắm bà cũng quên giao cho con Hai.
- Bà Tư… bà Tư… Tôi gọi to. Sao bà không cho con Hai hũ dưa mắm?
Bà nấc lên, tức tưởi.
- Tui đâu có quên chú. Tui cho nó, nó không lấy. Nó nói với tui, cả tháng trời mới xuống thăm nó một lần, mà không lo nổi đồ ăn đồ uống cho đàng hoàng. Nó nói tui làm mất mặt nó với chị em trong phòng. Nó biểu… nó biểu tui… đừng…đừng… đừng xuống thăm nó nữa chú ơi!
Bà òa lên. Những giọt nước mắt lớn trào ra nhểu lên cát những hình thù rách rưới như tờ giấy bị đạn xuyên thủng. Tôi muốn hét lớn lên “Hai ơi, sao mày vô tình vậy? Hai ơi, má mày sắp gần đất xa trời rồi. Ðời mày không có quê, không có sông, không có má nữa rồi!”
Anh bạn kể chuyện khi nãy nghe vậy vội đứng lên.
- Vậy má cho tụi con hũ mắm này. Tụi con cần lắm, thèm lắm, nghe má!
Bà Tư nhìn anh, vẻ biết ơn.
- Ừ, con lấy ăn đi, chia cho anh em ăn với. Má cám ơn con!
- Má nói vậy con tội chết! Con xin cảm ơn má. Nhà má ở đâu, ra trại, thế nào con cũng ghé thăm má.
Bà nói. Anh gật đầu. “Dạ, con biết rồi. Con biết rồi”.
- Thôi má về mạnh giỏi. Má đừng buồn nghe má. Anh gọi con gái nhỏ. Khoanh tay thưa bà nội đi con.
Con bé vừa chạy tung tăng về tới. Nó ngoan ngoãn khoanh tay thưa bà. Mãi tới lúc ấy tôi mới thấy bà Tư cười. Nụ cười xua tan bớt vẻ già nua. Hai cái răng cửa “để dành cạp bắp” của bà trông duyên lạ. Trái tim mòn mỏi đã lâu năm này còn phải đau đớn bao nhiêu lần nữa đây?
4
Con bé, con chị tôi, ngước nhìn đàn cò hàng trăm ngàn con đang chấp chới bay trong trời chiều. Bóng đàn cò in trên dòng sông những điểm trắng mơ màng. Chúng bay về vùng Bảy Núi, về rừng Trà Sư (1).
- Cậu ơi, có khi con mơ mình nhỏ tí lại, đeo theo những chân cò ấy. Con sẽ nhìn xuống cánh đồng mênh mông của đồng bằng này. Con sẽ nhìn thấy những ngọn núi bơ vơ giữa đồng ra sao. Con sẽ biết mặt trời lặn bên kia biên giới có đẹp hơn xứ mình không. Và nhứt là sông, con sẽ nhìn nó từ trên cao, xem nó lượn lờ hoa mỹ như thế nào, trước khi nó xuôi về biển…
- Một ý nghĩ hay đó con. Nhưng sao… bữa nay con mơ mộng vậy? Chắc bị mẹ mắng chửi gì, phải không?
Nó thừ ra. Con bé đã khá lớn, mặt mày xinh xẻo, y hệt chị tôi. Nó nhìn tôi bằng con mắt tròn.
- Hồi sáng này, ba con về đó cậu!
- Vậy hả? Về luôn chưa?
Nước mắt nó trào ra.
- Ba với mẹ con nói chuyện trong buồng lâu lắm. Con bị đuổi đi chơi. Nhưng con lén nghe, rồi nghe hết… Ba có vợ khác trên Nam Vang (2) rồi, cậu ơi! Con có em nữa. Ðứa nhỏ đó giờ cũng chừng năm tuổi rồi. Ba nói ba sẽ đi luôn, ở luôn trên đó. Nhà ba bán phở trên Nam Vang.
- Rồi mẹ con nói sao?
- Mẹ con nín thinh hà. Con thương mẹ quá! Tự nhiên con biết mẹ đang khổ dữ lắm.
Chị tôi đã khổ thế mười mấy năm rồi. Xinh đẹp vậy, khổ sở vậy, chị tôi một mình ôm con nuôi nó lớn. Gia đình tôi nương nhờ hàng xóm láng giềng nhiều hơn những gì chúng tôi tự làm được. Chòi lá dù là xiêu vẹo ấy cũng là mái nhà. Mái nhà ấy cũng của bà con quanh đây. Tôi biết có nhiều anh đứng đắn, tìm đến chị, ngỏ lời. Chị từ chối, từ chối như một bản năng. Anh Sáu kế bên nhà thường nhận xét: “Chị mày bả đẹp, mà chua ăn lắm à nghen!”
- Rồi con muốn đeo theo chân cò mà bay đi đâu?
- Con cũng không biết nữa… Ði đâu cũng được, miễn là được đi. Con thấy tù túng… kỳ cục lắm!
Con bé đã bắt đầu lớn. Trong lòng cô bé mười bốn tuổi đó bắt đầu hiện ra đủ thứ ngổn ngang.
- Nhưng con đi vậy rồi con bỏ mẹ cho ai?
Nó lại rươm rướm nước mắt.
- Con không biết nữa cậu ơi… Con khổ lắm! Chắc con cũng khổ như mẹ con hả cậu? Người ta có thể sống tốt với nhau mà. Ba con đi vậy… là làm khổ mẹ con mà sao ba vẫn làm? Ba kể lể đủ thứ, con nghe con không chịu. Con uất ức lắm. Mình có thể sống dễ dàng hơn sao mình không làm, hả cậu?
Hai cậu cháu tôi nhìn dòng nước sông cuồn cuộn chảy trước nhà. Tôi miên man đuổi theo những câu hỏi không trả lời được của cháu tôi.
Tình bạn của chúng tôi như thế. Con bé sẽ nói chuyện với tôi, khi nào nó thật buồn.
- Ðoạn viết về sông bữa hổm, cậu viết thêm chưa?
Nó đột nhiên cất tiếng.
- Chưa… à mà có. Tôi nói tiếp, để lảng xa câu chuyện buồn của con bé. Cậu định viết về mùa lũ trên sông. Cái mùa con sông tràn bờ, tràn ra đồng đó cháu. Cậu sẽ mô tả biển nước mênh mông xứ mình, kéo dài lênh láng, xóa sạch mọi bờ cõi cách chia. Sông tràn ra đồng, bao quanh những ngọn núi ở vùng Bảy Núi. Ðó như một cuộc hẹn hò vĩ đại, cháu thấy không? Một năm có mấy tháng chúngï mới được gặp nhau, bằng cách đó…
- Vậy nghe hay đó cậu. Cậu viết đi, chắc con không chọc quê cậu nữa đâu. Con bé có vẻ phấn khích.
- Còn một cuộc hẹn hò khác nữa. Ðó là cá linh non theo dòng nước lũ từ Biển Hồ trên Miên tràn xuống. Con biết nó hẹn với ai không? Với bông điên điển vàng, với bông súng tím. Cá nhiều lắm, con nhớ không? Người dân sẽ vớt cá, sẽ buôn bán cho đời đỡ cực. Bông điên điển… Cái bông có cuống màu xanh nhỏ xíu, thòng xuống dưới một cánh hoa vàng phình ra. Dẹp dẹp, duyên duyên, như bông tai con đeo vậy. Nó trông giống như giọt nước sắp nhểu ra khỏi cành lá xanh… Còn bông súng thì có tím, có ánh hồng nữa, phải không con? Nó bùng lên tươi tắn khỏi mặt nước. Lá bông súng tròn như cái mâm nâu viền ren, nổi dập dềnh trên mặt nước…
- Vậy chúng nó hẹn thế nào, hẹn ở đâu?
Tới lượt tôi mê mẩn cuốn theo ý nghĩ của mình.
- Chúng sống với nhau trên đồng ngập nước. Con thấy chúng hạnh phúc không? Và khi chết chúng cũng chết cùng nhau. Trong món cá linh kho lạt, bông súng và bông điên điển cũng đi cùng. Trong cái lẩu mắm sôi sùng sục bốc mùi nức nở, bộ ba đó vẫn đi bên nhau. Trong món canh chua cá linh, bộ ba đó ôm chầm, quấn quít bên nhau…
- Chúng sống vậy… cũng lãng mạn lắm, hén cậu? Con bé trầm ngâm.
Chợt, ở dưới bến sông khúc nhà anh Sáu vẳng lên tiếng đờn. Anh Sáu chắc đang buồn tình đời, xuống chiếc ghe thương hồ kỷ niệm để ca vọng cổ đây. Ðó là chiếc ghe cà-dom, mui tròn, chở được chừng vài tấn. Ngày trước, khi hai vợ chồng anh Sáu còn son trẻ, tổ ấm của họ là ở đó. Họ lang bạt kỳ hồ, rong ruổi khắp vùng sông nước để mua bán sống qua ngày. Giờ lớn tuổi rồi, kiếm được cục đất cất nhà, anh chị Sáu lên bờ. Anh chạy xe ôm giống tôi. Chị ôm chiếc xuồng nhỏ ngày nào cũng chở dừa, chở mía đi bán, mãi tối mới về. Chiếc ghe đó là ghe “kỷ niệm”, theo lời anh Sáu. Nó hư hỏng anh cũng phải tu sửa, lâu lâu lại kéo lên bờ trét chai mấy chỗ rỉ nước. Ai hỏi mua ghe anh cũng không bán. “Ðể làm chỗ nhậu chơi và ca vọng cổ”. Anh Sáu ca mùi lắm, lại có mã bề ngoài nên anh là nghệ sĩ của làng tôi. Tiếng anh Sáu bay trên sông:
“Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra… chào!”…
Tiếng ca anh lạn dài trên mặt nước như khói như sương. Chợt anh ngưng bặt, gọi với sang:
- Chú ba ơi, chú có nhà không xuống ghe nhậu chơi! Có cá linh non nấu canh chua đây nè…
Con bé nhìn tôi cười cười. Tôi hỏi nó:
- Con qua bển chơi với cậu không? Nghe ca vọng cổ chơi.
- Thôi cậu đi đi. Con coi chừng quán. Nó đảo mắt nhìn quanh xem có mẹ nó ở đó không rồi thì thào - Với lại… với lại… con có hẹn…
- Với trai hả con?
Tôi cười ầm lên. Còn nó mắc cỡ nhìn chỗ khác.
Tôi và anh Sáu ngồi đối diện. Chen giữa là cái cà-ràng (3) nấu củi, mới bắc lên nồi canh chua cá linh non. Quả nhiên có tô bông súng ngắt cọng và tô bông điên điển đi kèm…
Tôi hỏi anh Sáu về chuyện bị bắt quả tang trên phà Cồn Tiên hôm nọ.
- Sao? Bữa chở con Hường đi chơi bị em vợ bắt tại trận, về chị Sáu nói sao anh?
Anh Sáu cười khơ khớ. Cái cười có duyên của cha này hèn gì đàn bà không mê sao được.
- Bả đòi giết tao chớ sao! Tổn nhơn lắm mày ơi. Tao nói tao không có. Bả nằng nặc bắt tao thề độc. Mầy biết bả bắt thề ở đâu không? Vô Dinh Ðức Cố Láng Linh (4) mà thề. Mà dinh ông Cố thì mầy biết rồi. Linh dữ lắm. Thề ở đó chết thiệt, hộc máu thiệt chớ có phải hộc máu cải lương đâu!
- Rồi anh làm sao?
Anh Sáu rót rượu ra ly. Anh nâng ly tưng tiu như vuốt ve người tình. Hớp một ngụm, anh khà một tiếng, rồi đưa nửa ly cho tôi.
- Bả đâu có thấy tận mắt, nên tao chối, chối riết. Sau cùng, bả ép quá, tao đành nói: Ông bắt tui thề, tui mà có chết, ông đừng khóc nghe!
Tôi với anh cười rần. Nói vậy khác nào thú thiệt. Rồi anh trầm ngâm.
- Nói vậy chớ, tao thương bả lắm. Hai vợ chồng tao đâu có con cái gì. Hồi còn khổ, đeo chiếc ghe này lang thang, hai vợ chồng với cái cà ràng hủ hỉ có nhau. Giờ đỡ đỡ, lên bờ rồi, phụ rẫy người ta coi sao được mậy!
Anh lại uống. Anh gắp cá linh cho tôi, cho anh. Bông điên điển nổi vàng trong nồi nước. Bông súng nhúng vào quấn quyện cùng nhau. Sống thác như vậy mới thiệt nghĩa nặng tình sâu với nhau…
- Tao đào hoa chút thôi chứ không bỏ đi luôn như anh rể mày đâu. Mày thấy vợ tao không? Nó lặn lội trên sông bán từng trái dưa, bó mía. Ðành lòng nào tao bỏ nó được… Bỏ đi vậy… Tổn nhơn lắm!
- Giờ chị Sáu đi bán gần về tới chưa anh?
- Chưa… chắc nay lại ế nữa rồi. Bơi xuồng năn nỉ, lạy lục người ta…
Anh Sáu dạo đờn. Tiếng anh cất lên bay vọt nóc ghe, lảnh lót như tiếng tên bay xé gió.
“Người ta đã có đôi rồi
Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung”
… “Ðêm khuya nay ngồi chờ con nước lớn. Nỗi buồn đau cứ canh cánh bên lòng…”
Tôi chìm trong âm thanh trong vắt ấy. Tôi nhìn những chùm sáng lung linh bên kia sông. Tôi có cảm giác mình cũng bay bổng lên cao theo lời hát, theo tiếng đờn. Trong đêm, sông vẫn chảy rạt rào, vẫn xuôi về đông, mạnh mẽ mà thầm lặng. Anh Sáu ngừng hát. Tôi rơi phịch xuống ngồi đối diện anh. Anh vỗ đùi.
- Bữa nay bả về trễ, tao quên mất. Mày biết chuyện gì hôn? Bả đi cúng thất đầu cho bà Tư.
Tôi à ra một tiếng chợt nhớ.
Bà Tư đã từ giã cuộc sống gian nan của bà được một tuần. Bà ra đi nhẹ nhàng như dòng nước trôi. Bà xuống sông buổi trưa, tắm rồi biến mất tăm. Chắc bà bị vọp bẻ. Bọn tôi hay chuyện táo tác đi mò. Cuối cùng cả làng vớt được bà tấp vô chòm điên điển bên cồn cát mới nổi. Coi vậy mà đám tang bà cũng khá lớn. Cả làng đi tiễn, đi đưa. Con Hai không về kịp, nó chưa ra tù. Không có con Hai, mấy đứa cháu ngoại của bà phải sống nhờ bên hàng xóm. Anh Sáu đứng ra lo tất mọi việc. Anh hứa góp tiền hàng xóm lo nuôi mấy đứa nhỏ. Hôm nay cúng thất đầu của bà Tư, chắc chị Sáu qua bên kia sông lo cúng kiến rồi.
- Mày còn nhớ thằng tám Tàng, con nuôi bà Tư không mậy?
- Sao hả anh? Nó đâu có về đi đám ma…
- Chuyện này tao quên kể với mày. Hôm vớt xác bà Tư lên, nó từ bên Miên, có điện về cho tao. Nó nói sao mày biết hôn? Ngắn ngủn hà. “Bộ má tui chết rồi hả anh Sáu? Cái hòm giờ giá bao nhiêu? Anh lo trước nghe, khi nào tui rảnh tui về gởi lại anh. Kẹt quá! Tui công chuyện nhiều không về đưa má tui đi được.” Tao nóng máu đốp lại. “Mày khỏi gởi tiền. Người dưng ở đây cũng lo được. Thôi khỏi về luôn đi!” Nó là thằng bé bị người ta bỏ rơi trên chợ Châu Ðốc. Bà Tư tội nghiệp ôm về nuôi nó từ bé. Giờ có lông, có cánh, nó bay luôn rồi…
Một chiếc ghe chèo chầm chậm trôi ngang. Trên ghe chỉ có ánh đèn dầu bé tí tẹo ở đầu mui. Tôi và anh Sáu lặng thinh khi nghe câu hát ru từ đó đưa sang.
“Sông sâu sào ngắn khó dò
Muốn qua thăm bạn sợ đò không đưa…”
Anh Sáu đã ngà ngà say. Anh ngước mắt dòm lên nóc mui ghe của mình. Ở đó có một lỗ thủng nhỏ của lá lợp bị rách. Vài ánh sao trời lấp ló. Ðột nhiên, anh nói mà cứ nhìn miết vào đó, không nhìn tôi.
- Mày viết được thì cứ viết đi, nghe ba. Những chuyện như ở trại giam, chuyện của bà Tư, chuyện của con Hai, của chị mày… Nó như con cá mình bắt được trên sông. Mình nấu nướng xong rồi mời bạn bè. Dù hay dù dở cũng có cái lòng của mình trong đó. Mà nhứt định là mình phải nấu, nhứt định mình phải mời bạn bè…
Tôi cảm ơn anh. Chưa bao giờ tôi được nhìn văn chương theo kiểu đó.
Anh Sáu lại ôm đờn, lại hát.
… “Sông sâu bên lở bên bồi
Tình anh bán chiếu trọn đời không phai”

Tiếng hát, tiếng đờn của anh không bay thẳng. Nó lượn lờ trên sông như làn khói trắng. Nó trải ra mỏng tang, sắc như lưỡi thép. Nó xuyên vào máu vào thịt tôi ngoằn ngoèo như sợi tơ bị rối. Cái gì đi vào lòng người có lẽ cũng giống như thế. Nó không bay thẳng đâu…

Tháng 9/2007

(1) Rừng Trà Sư: Một địa danh thuộc huyện Tịnh Biên, An Giang.
(2) Nam Vang: Tên cũ của Phnompenh (Campuchia)
(3) Cà-ràng: Một loại bếp nặn bằng đất rất tiện đặt tên ghe xuồng để nấu nướng.
(4) Dinh Ðức Cố Láng Linh: Ðịa danh lịch sử ở Châu Phú, An Giang, gần vùng Bảy Núi

Vô Ngã




Mục Lục


13. Năm Sửu Nói Chuyện Trâu.

Hoàng Yến



Việt Nam là một quốc gia được xếp vào số những nước nông nghiệp trên thế giới. Nông sản chính là lúa gạo nên hình ảnh con trâu thật gần gũi với thiên nhiên và con người. Còn nhớ, một bài Học thuộc lòng tôi thuộc từ khi còn bé lắm. Bài thơ như vầy:

Trâu ơi! Ta bảo trâu nầy,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta,
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công,
Bao giờ cây lúa còn bông ,
Là còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Con trâu cũng là chứng nhân của một cuộc tình quê đầy hạnh phúc:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

Vì một gia đình dễ thương như vậy nên người xưa vẫn thường nhắc nhở nhau:
Ai ơi! Bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Nhớ thì phải quý. Vì biết rằng cơm nấu từ gạo. Ðã là người Việt Nam thì ai cũng thích cơm. Ăn gì rồi cũng phải ăn cơm. Buổi sáng ăn cơm lót lòng mà phải cho chắc bụng. Trưa cơm, chiều cơm, tối cơm ...
Thành ra, cái thời chưa có máy cày con trâu quí lắm, thân thương với bác nông phu lắm.
Tôi quên mất một đoạn trong bài thơ của bác nông phu vỗ về con trâu già sắp chết rằng: ngươi hãy còn có ích cho chủ:

.......Thịt mầy tao để nấu ninh,
Da mầy bịt trống tụng kinh trong chùa,
Sừng mầy tao tiện con cờ,
Cán dao, cám mác, lược dày, lược thưa.

Nghe như vậy chắc con trâu già cũng" yên lòng nhắm mắt", vì đã làm chủ vui cho đến hơi thở cuối cùng. Như một qui luật: trâu dùng để cày, ngựa dùng để cỡi. Nên người ta thường nói: Trâu cày, ngựa cỡi.
Tôi có bà chị sinh năm sửu. Ði học về là lo học bài, ăn, ngủ. Vậy thôi! Mẹ tôi chẳng những không la mắng mà còn nói:
- Tuổi con trâu mà trâu trốn cày là vậy. Sướng lắm! Nhàn lắm!
Còn nhiều người không sinh năm sửu sao mà cứ than:
- Thiệt tình! Cái thân sao mà cực như trâu.
Một điều lạ khi một người nặng tình với ai đó, thì hẹn hò, sẽ:
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.

Trong nền văn hoá nghệ thuật dân gian các nghệ nhân thường, vẽ, thêu, sơn dầu, sơn mài những bộ tranh tứ thời, tứ quí... như: Mai, lan, cúc, trúc. Công, gà, trúc, trỉ. Long, lân, qui, phụng. Nhưng người già thường thích treo trong nhà bộ ngư, tiều, canh, mục hơn. Phải có một thời gian tĩnh lặng đủ để ngắm cảnh hoàng hôn, mặt trời sắp lặn giống như chiếc bánh tráng đỏ cam khuất sau rặng tre xanh. Ngắm các chú mục đồng ngồi trên lưng trâu đi theo bờ đê nhỏ. Xa xa, một vài cánh chim chiều tìm về tổ ấm. Phía trước là cánh đồng rộng mênh mông còn trơ gốc rạ. Phía sau lác đác vài mái tranh và con đường quê dường như tiếp giáp tận chân trời.

Những ngày nghỉ, đôi lần tôi nằm dài trên sô pha. Ngắm bộ tranh ngư tiều canh mục cho đỡ nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ quê hương.
Hình ảnh con trâu đẹp như vậy mà đôi khi người ta lại dùng để mắng mỏ phường bất nhân là bọn ngưu đầu mã diện ( hay đồ đầu trâu mặt ngựa, hàm răng trên cắn hàm răng dưới). Hồi nhỏ, nghe ai nói như vậy là tôi mắc cười. Hàm răng trên nào chẳng cắn hàm răng dưới chứ! Mặt trâu thì vậy. Mắt trâu thì sao. Người ta thường ví người có cặp mắt hiền như cặp mắt trâu. Có lẽ cả đời không hề quắc mắt nhìn ai cách giận dữ. (?)Hễ nhắc đến mắt, tai, thì phải nhắc đến mũi miệng. Khen có mà chê cũng có. Ngày xưa, môi ai dày thì bị ví như hai miếng thịt trâu. Ngày nay, cái nhìn thẫm mỹ có khác đi nhiều nên lại cho là đôi môi dày đam mê, quyến rũ. Miệng trâu cũng được ghi vào sách Cổ Học Tinh Hoa. Tôi thích chuyện Hứa Do và Sào Phủ. Ðây là một câu chuyện có vẻ ví von. Ðọc mới thấy cách xử thế của người xưa sao mà thâm thuý quá.
Thời xưa, có ông Hứa Do, là một nhà ẩn dật ở trong đầm Bái trạch. Vua Nghiêu nghe tiếng là người giỏi, mời ra, xin nhường cả thiên hạ. Hứa Do từ chối, lui về ẩn tại núi Trung Nhạc, phía Nam sông Dĩnh Thuỷ.
Sau, Vua Nghiêu lại tìm đến, có mời Hứa Do ra làm Tổng trưởng cả chín châu.
Hứa Do thấy vậy, không muốn nghe chuyện nữa, ra bờ sông Dĩnh rửa tai. Ngay lúc bấy giờ, Sào Phủ đang dắt trâu xuống bờ sông gặp Hứa Do, hỏi:
- Việc gì mà bác phải rửa tai như vậy?
Hứa Do thuật truyện. Sào Phủ liền gò cổ trâu lại mà nói rằng:
- Ta toan cho trâu uống nước đây, lại e bẩn cả miệng trâu.
Nói đoạn, dắt trâu lên quảng sông trên cho trâu uống nước.

Thật là lạ. Ðược cả thiên hạ mà muốn nhường cho người khác là lạ. Người được nhường cả thiên hạ không chịu nhận là điều lạ thứ hai. Nghe chuyện lạ mà sợ bẩn tai là điều lạ thứ ba. Không cho trâu uống nước vì sợ bẩn miệng trâu là điều lạ thứ tư. Ðọc xong tôi thấy cái gì cũng lạ!...

Rồi người ta cũng đem lỗ tai con trâu ghép nhạc. Mỗi lần nói hoài mà ai đó không nghe thì bảo : Ðàn khảy tai trâu. Nhưng đâu phải lỗ tai trâu dành nói về người chậm nghe, chậm hiểu hay không biết thưởng thức cung bậc trầm bỗng của cuộc đời. Bằng cớ là tiếng sáo diều vẫn vi vu bên lỗ tai trâu cùng năm tháng.

Trong khía cạnh kinh doanh và cả hôn nhân người ta kỵ nhất là " mua trâu vẽ bóng".Bởi vì đôi khi người mua đã tận mắt thấy cảnh "treo đầu dê bán thịt chó "mà. Ngày nay, đâu phải cái thời hôn nhân mẹ cha trọn quyền định đoạt. Ðến nỗi:

Lấy chồng không biết mặt chồng,
Ðêm nằm cứ tưởng đến ông láng giềng.

Trong tình yêu trai gái, ca dao tục ngữ cũng dùng con trâu để nói đến những ganh tị, nhỏ nhen một mối tình tay ba, khi một người hạnh phúc, còn người kia vì dang dở nên lở cười lở khóc.
Trâu cột ghét trâu ăn.
Những tranh giành, xâu xé lẫn nhau làm hệ luỵ đến người chung quanh một cách đáng tiếc . Người ta cũng đem con trâu ra mà nói:
Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết.
Lại nói chuyện yêu trâu. Các người nhà giàu thường có thú nuôi chim, cò, cá kiểng. Hoặc con vẹt, con chó kiểng, con mèo Xiêm...
Song, con trai thứ của Chu Trang Vương thời Chiến quốc, tên Tử Ðồi lại rất yêu trâụTrong nhà nuôi đến 200 con gọi là văn thú. Hàng ngày cho ăn bằng ngũ cốc chứ không phải cỏ hay rơm.May áo gấm thêu cho mặc.Trâu ra vào có tôi tớ theo hầu. Sau binh biến vì lo lùa bầy trâu mà bị quân giặc đuổi theo kịp và giết chết.
Người ta cũng chú ý phân trâu để rồi ví sánh những cuộc hôn nhân không xứng hợp ở đời:

Con gái khôn lấy thằng chồng dại,
Như đoá hoa lài cặm bãi cứt trâu.
Một sự sai lệch đáng nói khác là khi một người trí rộng, tài cao chỉ được đem dùng vào việc vặt cũng ví như: vạc trâu nấu gà. Vạc to để nấu trâu làm sao nấu gà gọi là ngon cho được.
Thậm chí lỗ chân trâu người ta cũng không bỏ quên. Hằng năm, vào cuối mùa gặt, khi thửa ruộng chỉ còn lại vùng đất ẩm đầy gốc rạ. Những con trâu băng đồng thường để lại dấu chân. Mà người ta thường gọi là lỗ chân trâu.

Ði bốn phương tám hướng không chết, trở về chết ở lỗ chân trâu. Ý nói bóng gió về những người lừng lẫy một thời, chết trong lúc thất cơ lỡ vận. Một cái chết không những không bình thường mà còn là tầm thường. Hay nói về những kén chọn trong hôn nhân nhiều quá để cuối cùng sập bẫy lưới tình của một đôi vợ chồng mà một trong hai người không lấy làm vừa ý.
Hồi đó tôi có một người tình: Ngày mới quen nhau là ngày tôi đi làm giấy căn cước. Trời mưa như cầm chỉnh mà đổ. Anh học trên tôi nhiều lớp. Cả hai đều từ làng ra tỉnh trọ, lúc chiến tranh đang leo thang. Tôi từ phòng lăn tay ra, anh khoác cho tôi chiếc áo mưa. Cảm ơn quá. Anh đưa tôi về. Ðám trẻ bên đường phố vừa tắm mưa vừa hát ghẹo:

Ðưa em về dưới mưa,
Nói chi em cũng ừa...

Làm tôi mắc cười và mắc cở quá sức. Ðó là lần đầu tiên anh kể cho tôi nghe chuyện tháng bảy mưa ngâu. Anh bảo sách vở có ghi: Chức Nữ là Thiên Tôn Nữ làm nghề dệt vải. Ðược gả cho Ngưu lang là người chăn trâụSau khi lấy nhau, ả Chức, chàng Ngưu đều say men tình ái, chểnh mảng công việc nên bị Thượng Ðế phạt. Mỗi người ở một đầu sông Ngân. Ðến đêm mùng 7 tháng 7 hàng năm, tất cả con quạ đều liên kết nhau thành chiếc cầu cho Chức Nữ gặp Ngưu Lang. Hai người qua lại nhiều năm nên lũ quạ bị sói đầu. Nước mắt của hai kẻ yêu nhau mà phải cách chia làm ướt miền hạ giới. Nhưng trong đời sống, tình yêu là tất cả nên chưa nghe ai nói ghét mưa Ngâu bao giờ. Biết bao các nhạc sỉ, văn thi sĩ, trái lại, còn viết nên nhiều tác phẩm từ tháng 7 mưa Ngâu. Chẳng hạn bài:

Mưa Ngâu Kỷ Niệm.
Anh! Buổi sáng nay sao quá âm u.
Mây xám xịt, bầu trời như xuống thấp,
Ngồi hồi tưởng buổi ban đầu mới gặp,
Anh trùm cho em tấm poncho xanh,
Mưa ướt sũng người vẫn không đi nhanh,
Sợ mau hết thời gian bên nhau đó.
Trời đổ mưa Ngâu, mưa không tầm tã,
Dìu dặt điệu buồn, thánh thót giọt êm,
Anh bảo rằng: Giữa cuộc chiến có em,
Ngày hành quân nghe như lòng nhẹ hẩng,
Nước lọan: Làm trai xông pha lửa đạn,
Chiều cuối tuần: Dạo phố. Thế là vui!
Mình thức suốt đêm. Thành phố ngủ vùi.
Mai ngày ra trận lại hành quân tiếp.
Chức Nữ Ngưu Lang đời đời, kiếp kiếp,
Ðợi chiếc cầu Ô Thước nối yêu thương,
Em hậu phương. Dù anh giữa sa trường,
Xa xôi mấy vẫn không hề ngăn cách...
Ðến đây, tôi như còn nghe lời bài hát tôi không nhớ tựa:
Trời làm mưa Ngâu mỗi năm mấy lần...

Mùa Xuân muốn nói chuyện trâu mà không biết nói làm sao và đến bao giờ mới dứt đâỵ..Có lẽ tất cả những người Việt Nam sau tháng 4 năm 1975, tị nạn trên đất Mỹ đều bỗng dưng nhận mình tuổi sửu. Ngày Xuân chúng ta thử hỏi thăm nhau thì sẽ biết. Thí dụ:
- Cuối tuần nầy rảnh không ? Ghé qua nhà ăn bánh xèo nghe.
- Thôi! Cám ơn! Phải đi cày bạn ơi.
Hoặc:
- Kỳ nầy về thăm quê hương anh ở lại lâu hơn được không? Chỉ có 3 tuần thấy sao mà ngắn quá!
- Em à! Anh cũng muốn lắm chứ. Nhưng phải về Mỹ đi cày kiếm tiền thăm em kỳ tới chứ...

Không tin tôi bạn hỏi thử xem!

Chớm Xuân Kỷ Sửu.
1-2009.

Hoàng Yến




Mục Lục



14. Lãng Mạn

Vân Hà



Viết ngắn

Chắc cô bị hắn ta hớp hồn, ngay buổi hẹn gặp đầu tiên cho một công việc, dáng dấp hắn nhìn quen thuộc đến lạ kỳ, mặc dầu chẳng bao giờ biết nhau. Cái dáng phong trần, nụ cười với cái nhếch môi khinh bạc, giọng nói chậm rãi chán đời hình như xô ngã cô, dù hắn chẳng phải loại đàn ông đẹp trai hay khuôn mặt chữ điền và khi tiễn cô ra khỏi quán, hắn chưa lên xe vội, đứng bên lề châm điếu thuốc, cô vẫy tay, lái xe đi mà hình ảnh đó bỗng đầy ấn tượng trong đầu.

Tại tánh cô hay tào lao chuyện thiên hạ, nên có nhờ người mai mối cho một cô em họ muốn kiếm chồng, được thì chơi ăn thiệt, không được thì chơi ăn chơi, tiền trao cháo múc, cho nên mới có buổi hẹn gặp mà cô là kẻ đại diện coi mắt dùm, rốt cuộc hắn lại là kẻ khuynh đảo tâm tư cô mới chết chứ.

Hình ảnh hắn cứ lởn vởn trong đầu, cô cố moi óc xem tại sao mình thấy hắn gần gủi như thế. À, nhớ ra rồi, năm hăm hai tuổi cô có một ông bồ trùng tên hắn, lớn hơn cô gần một con giáp nên cô chê…già. Chỉ là cái tên thôi ư, cũng chưa đủ để cô tưởng nhớ hắn nhiều đến vậy. Cô lại cố nhớ vì sao, và phát giác ra hắn giống ông thầy dạy Anh văn năm lớp mười mà ông cưng cô lắm, với cái tuổi dậy thì thuở nhỏ, chính ông cũng làm cô mơ mộng vu vơ.

Cả tuần lễ cô như người mất hồn, cái đầu cứ váng lên như ong vỡ, mà hình ảnh hắn lại hiện rõ mồn một mới lạ kỳ. Thế rồi cô email cho hắn, gởi hình ảnh cô em, thư đi thư lại, chuyện cô em bị mờ nhạt khi cô và hắn trao đổi với nhau về đủ thứ chuyện trên đời. Mỗi đêm vừa email, vừa nói chuyên cứ một hai tiếng đồng hồ như chơi, và cô thấy mình thật thân thiết với hắn, không e dè, không ngượng ngập với đủ mọi đề tài từ thanh cao đến trần tục.

Rốt cuộc muốn gặp nhau, hắn phải lái xe mất chín tiếng đồng hồ, cho một cuộc hẹn uống cà phê, cảm động cho lòng nhiệt tình của hắn, cô cũng lái bốn mươi lăm phút để hắn có thời gian nghỉ xả hơi. Lúc lái xe, tự nhiên câu tục ngữ hiện lên trong đầu “Nhất gái lớn hai, nhì trai lớn một” làm cô tức cười, vậy ra cô với hắn đang là nhất hả, duyên nợ gì đây không biết.

Ðể rồi, khi cả hai đều tự do không ràng buộc, không nặng lòng với ai, không phiền hà ai, họ đến bên nhau, quấn lấy nhau như đã yêu nhau ở kiếp nào. Bởi vì cả cô và hắn, không ai tán tỉnh ai, không ai dụ dổ ai. Hắn không một lời tỏ tình, cũng chẳng một lời khen nịnh, vậy mà hắn đã dẹp được bức tường vô hình của cô che chắn từ bấy lâu nay, nói cho đúng hơn, chính cô đã tự mở cánh cửa rào khuôn phép để bước thẳng vào đời hắn, như một sự cảm thông, như một sự chia sẻ của hai mảnh đời đau khổ và cô độc.

Mùa xuân, khi mọi người đang nôn nao chờ đón một năm mới, cô cũng nôn nao chờ hắn, đến bên cô như lời hứa hẹn hôm nào. Công việc của hắn luôn phải bay đi khắp nơi, như một cánh chim giang hồ. Vì thế hắn đã không thể chọn cho mình một …bà nội trợ đầy kiên nhẫn. Cô xót xa khi nghe hắn bệnh mà chỉ có một mình, ở một nơi xa lạ, thậm chí không thể bước ra khỏi giường để tìm ly nước uống. Cô đã ước gì được ở bên cạnh hắn. Và rồi, cô chợt nhận ra hình như cô đã yêu hắn mất rồi.

Cầu chúc cho họ được hanh phúc bên nhau, như cánh chim tìm được tổ ấm, như chiếc thuyền lênh đênh đã về tới bến và tình yêu của họ sẽ như những bông hoa, nở rực rỡ giữa mùa xuân.

Tặng J.H

Vân Hà




Mục Lục


III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu

Ngày tình yêu Valentine, mùa tình yêu đang chơ’m nở cùng vơ’i mùa Xuân, những người yêu nhau đang chuẩn bị trao tặng những đo’a hoa hồng xinh xă‘n, để biểu lộ những yêu thương dạt dào, nồng nàn của tình yêụ

Anh co’ còn nhơ’ ca’nh hồng anh trao tặng em vào lu’c sa’ng tinh mai, giữa phô’ đông người, giữa những con mă‘t chung quanh nhìn anh, ngạc nhiên, chă‘c họ cho rằng anh qua’ can đảm no’i lên tình yêu của anh giữa ban ngày, giữa quần chu’ng chăng ? Em nhận lãnh đo’a hoa â’y trong sung sươ’ng và cảm thâ’y mình thật hạnh phu’c đo’ anh, vì anh no’i rằng, đo’a là đo’a hoa đầu tiên, anh mua để tặng em .

Cành hồng đỏ thă‘m xinh xinh
Nụ hôn, trao gởi đẹp tình đôi ta
Nơi anh co’ những thật thà
Tra’i tim nồng cha’y chan hòa nă‘ng mai

Anh đã mang đê’n cho em những nụ cười, những kỷ niệm qui’ ba’o, ngọc ngà kho’ quên, anh là ca’nh e’n mùa xuân, mang lại tiê’ng ca, nhựa sô’ng, em chìm đă‘m trong biển yêụ

Tình ta như mùa Xuân
Anh là chim e’n lượn
Cùng mai, lan chung hưởng
Hạnh phu’c nga’t xanh hương

Co’ phải chăng tình yêu mang một sư’c sô’ng mảnh liệt mà tâ’t cả mọi người trên thê’ gian này đều phải cần co’ no’ ? -Dã co’ biê’t bao nhiêu cặp tình nhân, khổ lụy, sô’ng chê’t cho tình yêu của họ ? co’ bao nhiêu bư’c thơ tình thương cảm viê’t cho nhau ? và đã co’ biê’t bao nhiêu chuyện tình được viê’t thành sa’ch, tạo thành film như Rome’o & Juliet, hoặc Titanic để khi người đọc, người xem phải cảm thâ’y bùi ngùi xu’c động, xo’t thương ?

Những bài thơ tình của TTKH, Hàn Mạc Tử đã không ngần ngại để lại cho thê’ gian một â’n tượng sâu să‘c của tình yêu .

Anh yêu dâ’u, trong ngày tình yêu, em không muô’n gì hơn là câu no’i khẽ “ Yêu anh” hôm nay, ngày mai và mãi mãi về sau này, hãy đo’n nhận và câ’t giữ em mãi trong tra’i tim của anh, anh nhe’ .

Viê’t Cho Giao Mùa

Valentine 2009
-DHH
~~~/~~((@

Mục Lục


IV. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________



1. HỘI VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT TỰ DO




HỘI VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT TỰ DO

***
ACVL
ASSOCIATION CULTURELLE DES VIETNAMIENS LIBRES

CHÀO MỪNG VÀ CẢM TẠ

Thật vinh hạnh và cảm kích khi được thân hữu, văn nghệ sĩ, bạn đồng hành cũng như các bậc huynh trưởng liên lạc, đáp lời kêu gọi của hội Văn Hóa Người Việt Tự Do. Xin chân thành cảm tạ tất cả quý vị đã nhiệt tình cổ võ và sẵn sàng yểm trợ hội trên nhiều lãnh vực hầu giúp hội đủ khả năng và nghị lực để góp phần trong công cuộc Bảo Vệ và Phát Triển nền Văn Hóa Nhân Bản, đồng thời vững tiến trên con đường tranh đấu cho Tự Do Nhân Quyền và Dân Chủ.

Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do hoàn toàn không tham vọng làm những chuyện đại sự trong lãnh vực văn hóa, cũng không có mục đích tìm một vị trí trên văn đàn hải ngoại, mà chỉ là một tổ chức kết hợp những người có tinh thần quốc gia, yêu chuộng nền văn hóa nhân bản thật sự. Hội tha thiết mời gọi các văn nghệ sĩ đóng góp công sức vào việc bảo vệ nền văn hóa tự do nhân bản trước mưu đồ phá hoại của kẻ thù dưới chiêu bài ‘văn hóa phi chính trị’ cũng như những hoạt động của các tổ chức ‘giao lưu văn hóa’ với cộng sản đang bành trướng tại hải ngoại.

Ðường lối hoạt động của chúng tôi minh bạch và chính xác, là bảo vệ và phát triển văn hóa nhân bản của người Việt Nam. Trước hiện tình đất nước và cuộc chiến văn hóa đang đi vào giai đoạn quyết liệt, hội chủ trương phối hợp hai hoạt động chính trị và văn hóa để bổ túc lẫn nhau hầu chống lại mưu đồ thâm độc của kẻ thù mà cộng sản đang lợi dụng văn hóa để ru ngủ và mua chuộc người Việt tự do.

Việc bảo vệ và phát triển văn hóa nhân bản cũng như tranh đấu tự do nhân quyền cho đất nước, theo thiển ý của chúng tôi, không dành độc quyền cho bất cứ cá nhân, hội đoàn, đảng phái nào mà chính là bổn phận của tất cả người Việt chúng ta. Tùy theo hình thức tổ chức, địa bàn và khả năng, nhân lực, mỗi đoàn thể hoạt động theo đường lối riêng nhưng tất cả đều đứng dưới một màu cờ và lấy lý tưởng quốc gia làm phương châm hành động thì đều nằm hẳn một bên lằng ranh tự do để dứt khoát đối đầu với cộng sản. Chúng tôi khẳng định, hội Văn Hóa Người Việt Tự Do sẽ mãi mãi đứng thẳng dưới Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ, xem cộng sản là kẻ thù và dùng văn hóa làm phương tiện tranh đấu cho sự tồn vong của dân tộc.

Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do không là của riêng của một thành phần nào mà tha thiết mời gọi tất cả mọi người, mọi giới tham gia hợp tác, nhất là thành phần văn nghệ sĩ hãy biến ngòi bút, lời ca tiếng nhạc thành vũ khí để làm đầu cầu cho cuộc tranh đấu ngày hôm nay. Kính mời quý vị tham gia dưới hai hình thức, hội viên yểm trợ (yểm trợ tinh thần hoặc vật chất) hoặc hội viên thường trực (đóng góp công sức trong các hoạt động điều hành webside, tham gia ban chấp hành…)

Trang web www.hoivanhoanguoiviettudo.com là tiếng nói của hội, đồng thời cũng là nơi đăng tải, phổ biến các tác phẩm có giá trị văn chương nghệ thuật của tất cả quý vị trong cũng như ngoài hội. Ðây không phải là một diễn đàn mà chúng tôi liên lạc với những vị có danh tính và điạ chỉ rõ ràng để phổ biến thông tin và post bài của quý vị (thông tin, bình luận, chính trị, văn chương, giới thiệu văn hóa phẩm…). Xin gởi đến hộ bài viết dưới dạng Word và font Unicode. Ngân phiếu và money order niên liễm hoặc ủng hộ xin ghi rõ ACVL để quý vị cũng như sở thuế dễ dàng kiểm soát.

Kính mong tất cả những vị thường quan tâm đến nền văn hóa nhân bản cũng như vấn đề sinh tồn của dân tộc, xin yểm trợ và hợp tác với Hội Văn Hóa Người Việt Tư Do, vì đây là môi trường sinh hoạt cần thiết và thực tiển để đương đầu với âm mưu văn hóa vận của cộng sản.

TM Ban Chấp Hành Trung Ương
Ðinh Lâm Thanh

LIÊN LẠC :

hoivanhoanguoiviettudo@ymail.com
hoivanhoanguoiviettudo@gmail.com

WEBSITE :

www.hoivanhoanguoiviettudo.com

Mục Lục


V . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 82 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua@hotmail.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

Web Counters
Web Site Hit Counter

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors