Số 83
Ngày 1 tháng 3 năm 2009
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Thưa bạn,
Không như nơi định cư của Vành Khuyên, "mùa Ðông chỉ độ ba tuần khắc nghiệt", ở Song Thành (quê) tôi - vùng Bắc Trung-Tây nước Mỹ - mùa Ðông kéo dài đến bốn năm tháng. Hay có thể sáu bảy tháng không chừng nếu lấy thời tiết Florida hay Nam Cali làm tiêu chuẩn. Dù sao, đó là mùa của thiên nhiên của dòng sinh chuyển đất trời, nắng ấm giá băng. Tình người luôn là bếp lửa sưởi ấm lòng, đắp đổi đời nhau qua đêm dài trăn trở cô đơn. Mùa Xuân đang đến. Thắm thiết làm sao những cành uất kim hương vỡ mầm kết nụ trên nền tuyết trắng như máu hồng tươm.
Tôi có thói quen hay ghé thư viện trong phố nhà mượn phim để "catch up" với Hollywood, hay nói cho ngay ra là cố gắng giữ không để bị tụt hậu quá nhiều cái "vốn liếng" phim ảnh nghèo nàn của mình. Tuần qua tôi có dịp xem một phim Tiệp Khắc thực hiện năm 2003. Phim Zelary khiến tôi xúc động nghĩ nhiều về những mùa Xuân nhân loại đã trãi qua khổ nạn bằng tình yêu, tình người, cao cả, tầm thường, hi sinh, ích kỉ với tất cả những hệ lụy rất người của nó.
Eliska, cô sinh viên y khoa thành Prague thời Ðức Quốc Xã chiếm đóng, cùng hoạt động với người yêu là bác sĩ trong một tổ chức kháng chiến chống Phát-xít. Bị ruồng bố cô phải dùng lí lịch giả bỏ trốn. (Phải nói ở đây là hình ảnh u xám của mùa Ðông trên sân ga Prague thời Ðệ Nhị Thế Chiến trong hốt hoảng chia ly khiến lòng tôi xốn xang nhiều). Người thợ cưa cục mịch Joza từ vùng sơn thôn hẻo lánh Zelary đã bằng lòng đưa nàng về quê mình trốn lánh có lẽ để tạ ơn Hana (tên mới của Eliska) đã cho máu lúc anh bị thương nằm giải phẩu ở bệnh viện.
Qua sự cưởng cầu của tổ chức, Hana đã phải làm đám cưới giả với Joza để che mắt quân Ðức. Với sự che chở của dân làng và cả nghiệt ngã phải chịu đựng nàng đã tìm được một cuộc sống tương đối bình yên. Thời gian trôi qua cùng với sự ân cần bảo bọc của Joza, nàng đã nhìn ra được hình ảnh người đàn ông đáng mến khác hẳn với ấn tượng cộc cằn khó thương ban đầu . Họ yêu nhau đắm say… cho đến một ngày.
Một ngày mùa Xuân năm 1945, đoàn giải-phóng-quân đội mũ kêpi sao đỏ đã giải phóng sơn thôn Zelary khỏi ách thống trị của Ðức Quốc Xã. Ðêm tiệc liên hoan tàn mà bình minh chẳng hề đến. Tai ương khổ nạn phủ chụp xuống dân làng Zelary và vợ chồng Joza-Hana như một khắt khe nhất của định mệnh. Vị linh mục nhà thờ sống sót qua ngày tháng thống trị cùa Phát-xít bị lính sao đỏ bắn chết. Súng nổ rền vang còn hơn những ngày bị Ðức chiếm đóng. Dân làng dưới sự dắt dìu, cứu chữa của vợ chồng Joza-Hana đã đưa nhau đến chổ nấp an toàn nơi đầu ngọn suối. Một người thợ cưa không tìm ra vợ mình trong đám dân đói khát bơ phờ, bương bã về làng. Joza chạy theo giúp bạn. Người vợ mới sinh chưa ngoài tháng vừa bị cưởng hiếp, nằm máu me quằn quại ôm con. Gã lính sao đỏ đứng say khướt hả hê. Joza chạy đến chỉ còn kịp nhìn ba xác người bắn nhau nằm chết chồng chéo trên sân nhà.
Joza bị bắn trọng thương vẫn gắng gượng ôm trẻ sơ sinh lê bước ngược giòng suối còn váng đọng lớp tuyết chưa tan. Joza gục chết trước sự kinh hoàng của dân làng và ánh mắt tột tận thương đau của Hana …
Xúc động và sâu lắng nhất có lẽ là cảnh phim cuối. Rất nhiều năm sau khi Tiệp Khắc cùng các nước Ðông Âu đã rời bỏ chủ nghĩa Cọng Sãn, Hana có lẽ đã sáu, bảy mươi về thăm lại Zelary. Ðang ngơ ngác đứng nhìn cảnh cũ thì một bà cụ rất già bước tới. Họ mừng rỡ ôm gọi tên nhau trong nước mắt trùng phùng. Chiến tranh, chủ nghĩa, khổ đau, tất cả rồi cũng tan biến đi chỉ còn lại tình người sống qua năm tháng, chan chứa lòng thương yêu.
Và như thế, sự lặp lại của lịch sữ âu cũng là một tịnh tiến đau lòng đã lần lửa thử thách con người qua từng đất nước, thời đại. Mùa Xuân năm 45 ở Prague. Mùa Xuân năm 75 ở Sài Gòn. Mùa Xuân trên Zelary. Mùa Xuân trên Tiên Lãnh, Hoàng Liên Sơn. Mùa Xuân ở trại giam trong lòng Hà Nội. Hảy cùng nhau thắp sáng niềm tin cho một xã hội công bằng, một quê hương Việt Nam nhân bản tự do.
Thân chúc bạn đọc Giao Mùa một mùa Xuân an khương, hi vọng.
Phan Thái Yên
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Trăng Tàn Trên Bến Phu Văn Lâu | ______Trần Hoan Trinh | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Hẹn | ______Lê Miên Khương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Em Buồn Như Lá Sâu | ______Dòng Sông Nhỏ | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Hình Như Tiếc Thương | ______Hà Khánh Phương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Triền Miên Một Giòng Sông | ______Uyên Phương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Hơi Thở Tình Yêu | ______Nguyễn Thế Hoàng | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Ðêm Mùa Xuân | ______jacaranda | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Niềm Ðau Thế Sự | ______ Hàn Thiên Lương | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Tiếng Trống Mùa Xuân |
______ Sông Cửu | 10. Khi Anh Ði Xa
|
|
______Ðơn Phương Thạch Thảo
| 11. Thông Ðiệp Muà Xuân
|
|
______Hồ Thụy Mỹ Hạnh | 12. Câu Thơ Tình Ý
|
|
______ Thylanthảo
| 13. Baì Thơ Không Ðoạn Kết
|
|
______Ngũ Lang
|
14. Người Ơi
|
|
______
Triều Phong Ðặng Ðức Bích
|
15. Kỷ Sửu Và Thế Sự
|
|
______Mynh Hứa |
16. Tình Gần
|
|
______ Tuyền Linh |
17. Ôi Nhớ Quá ...Em Ơi, Em Có Biết
|
|
______Ngọc Long
|
18. Ai Về Ghé Phố Qui Nhơn
|
|
______Phan Tưởng Niệm |
19. Ngày Về
|
|
______Nguyệt Vân |
20. Em Vẫn Là Em
|
|
______Uyên Phương Minh Nguyệt |
21. Viết Tiếp |
|
______Khóc_Cười |
22. Hương Gió Mới.
|
|
______ Hoàng Yến |
23. Tôi Và Người Em Gái Mễ Tây Cơ
|
|
______Nguyễn Vinh Thăng |
24. Nỗi Niềm
|
|
______Song An Châu |
25. Ngậm Ngải Tìm Em
|
|
______Nguyễn Hải-Bình |
26. Ðồng Hoa
|
|
______ Ái Ưu Du |
27. Hoa Hồng Lễ Tình Yêu
|
|
______Tân Văn |
28. Thơ Hồ chí Bửu
|
|
______Hồ Chí Bửu |
29. Hương Tóc
|
|
______Mạc Phương Ðình |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ) _______ Ðông Hoà |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 38 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ái Ưu Du |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 31(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên |
| 6.Mai Ly (tập III) ___________ Việt Dương Nhân |
| 7.Nôi Chữ Quê Hương ___________ Trần Thành Mỹ |
| 8.Chuyện Nhớ Trong Ðời ___________ Thủy Lan Vy |
| 9.Ðường Ðến Mùa Xuân ___________ Hồ Thụy Mỹ Hạnh |
| 10.Mất Trắng ___________ Nguyễn Thế Hoàng |
| 11.Lòng Nhân Ðạo của người Việt Nam ___________ Phạm Hy Sơn |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Tranh Thành Lễ _______________________________ Giao Muà |
V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc
_______ Ban Biên Tập
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
1. Một Chuyến Thăm Quê (chuyện dài nhiều kỳ)
Ðông Hoà
Ðông Hoà 2. Bờ Lau Cát Lở 38 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Chính đêm đứng lủi thủi một mình ở kho 1, nhìn con tàu bềnh bồng thả khói đen trên nền trời, tôi mới thấy buồn vô hạn. Bước sang năm đó là 13 lần Giáng Sinh đến trên quê hương Việt Nam, nhưng chẳng có Giáng Sinh nào tiếng súng im cả. Càng ngày chiến trận càng dữ dội, việc phòng thủ càng trầm trọng, nặng nề. Thành phố vẫn vui chơi, rộn ràng tiếng nhạc mừng Chúa, xe vẫn chạy, người vẫn nhởn nhơ, trời vẫn se se lạnh, nhưng tiền đồn heo hút thì âm thầm nằm chờ những trận tấn công tương kế tựu kế của địch. Rải rác trên khắp lãnh thổ miền Nam chẳng nơi nào yên mà chờ đón Chúa. Hoặc là trước, hoặc là sau, phe địch luôn tìm cách nhổ đồn, hạ công sự, để làm quà dâng Ðảng. Người lính đầu tắt mặt tối với giao thông hào, với lau chùi súng đạn, với lòng dạ ngổn ngang. Nhớ nhà, nhớ cha mẹ, anh chị em, nhớ cả tình nhân, nhớ thành phố, nhớ kỷ niệm. Tất cả đều dồn mưu trí, sức lực và sự cảnh giác để giữ yên cho hậu phương dự lễ. Phần lớn đều bị giữ lại đồn trại, một số nhỏ được luân phiên về gia đình. Nhưng những người lính hoàn toàn lạc lõng khi về hậu cứ. Mái tóc chưa vén cao và hàm râu tua tủa của họ là đích nhắm của mấy tay Quân Cảnh, thành phố đòi hỏi quân cách, trong khi tiền tuyến đến một lưỡi dao cạo cũng chẳng nghe ai nhớ gửi cho, hoặc dẫu có cũng chẳng giờ giấc và hơi sức đâu nhớ để “ làm đẹp “ nữa. Mà “ làm đẹp “ với ai giữa chốn rừng già heo hút, giữa những tà núi chênh vênh, giữa tiếng gà rừng kêu, vượn hú. Ðến bóng dáng một con người còn hiếm, huống chi là một bóng hồng. Dân thành phố nào biết đấy là đâu, chỉ nghe loáng thoáng những lời ca Charlie, Snoul, Hạ Lào, Khe Sanh, Pleime, để rồi rung đùi bên ly cà phê ầm ừ nghĩ về chiến tranh đang ở đâu đó xa tít tắp. Người thành phố đôi khi cũng nghe loáng thoáng những tiếng đại bác xa xa vọng về hay giữa đêm tiếng đạn 122, 130 ly rào rào bay vào nổ toác và chỉ có thế. Sáng ra ở một nơi nào đó có cảnh nhà đổ, người chết, cảnh gào khóc tiếc thương, người thành phố vẫn đương nhiên xem như “ cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại “, hoặc có mủi lòng thì cũng chỉ còn biết thở dài tự ủi an “ trời kêu ai nấy dạ “. Người ta đã kêu gào lính phá phách quá, nhưng tiếng kêu không rầm rộ bằng lời trì chiết của đám báo chí góp vô. Những tờ báo tưởng là cổ vũ cho hòa bình nhưng thật ra ăn phải bả của đám phản chiến chỉ đòi rặt một bên phải thế này, thế nọ trong khi nguyên nhân chính là đám người kéo tới phá hại thì ai cũng bỏ lơ. Tôi nghĩ chẳng còn ham gì ở thủ đô, nơi muôn mặt kèn cựa và đối xử với nhau dựa hoàn toàn trên quyền lợi, phỉnh nịnh và điếu đóm. Tôi nuôi chí xin đổi đi đơn vị xa. Tôi nghĩ Saigon không phải là nơi tôi mặn mòi, cho dù chính nơi đây tôi đã được sinh ra, lớn lên và bỏ đi khi vừa 19 tuổi. Tôi thông cảm tấm lòng người lính Mỹ xa nhà. Tôi hiểu tại sao ngày còn ở Virginia tôi đã thấy một tay G.I. ôm mặt khóc nức nở khi nhận tin sắp sang Việt Nam. Tôi thông cảm tại sao vị bác sĩ Quân Y mời cả 3 sĩ quan chúng tôi đến nhà riêng dự cơm tối để hỏi mắc mỏ chúng tôi một câu : hẳn các anh không tự chống được họ sao mà phải cần chúng tôi đưa con em sang giúp ? Tôi càng rõ tại sao khi nghe chúng tôi là sĩ quan VN đến thăm nhà trường mà chỉ nghe họ gọi “ Viet Cong “ thay vi danh xưng khác. Thế mới biết cuộc chiến này chưa đi sâu vào dân chúng Mỹ. Giữa chính phủ và xã hội vẫn lấn cấn, chưa có sự thông nhau. Chính trị luôn là như thế, cho dù ở dưới bất cứ gầm trời nào. Tôi đem ý nghĩ này nói với bạn, nhiều người nghĩ tôi điên. Có tay còn mắng thẳng vào mặt tôi : mày đừng giở trò quân tử hão. Trong khi người ta cầy cục xin về Saigon thì mày lại xin đi, mày có khùng không ? Mặc mẹ họ, họ làm gì kệ họ, mày cứ tin nơi mày thôi, dù sao ở cạnh thủ đô, chữ thọ cũng vững hơn nhiều. Tôi lắc đầu lại buồn, chiến tranh mà còn trả giá nữa sao đây. Chỉ có gia đình cùng chung với chọn lựa của tôi. Ðơn nộp đi, cả năm dài chờ đợi, nhiều khi tưởng đã phai thì được tin chấp thuận. Tôi xa bến Nhà Rồng vào tháng 10 năm 1968, Saigon qua hai lần Mậu Thân, đánh nhau tùm lum ở Hàng Xanh và ven đô Bình Tiên, quận 8 trong Chợ Lớn. Sở dĩ tôi phải chờ lâu vì tìm người hoán đổi, ngành của tôi là chuyên môn nên mới bày ra chuyện nhiêu khê như thế. Tôi bỏ Saigon về miền quê hương cát trắng, quên đi những đua chen, lấn lướt lẫn nhau. Cạnh biển, hết giờ cùng vợ con đưa nhau ra đón gió đại dương, nhìn những rặng núi chênh vênh trên biển, hỏi lẫn nhau hòn nào là Hòn Tre, hòn Mun, Bích Ðầm. Biển khi xanh, khi đục, dừa lao xao reo cạnh bãi, tôi thích được cuộc đời nhẹ tênh như thế. Tôi về làm tại BCH, lãnh trách nhiệm một phòng dù đang ở cấp bậc thấp. Hơn 3 năm trời chăm chỉ và nhờ làm việc chung với mấy tay cố vấn, tôi có dịp trau dồi thêm vốn Anh ngữ và tất bật với trách nhiệm, tôi chẳng nghĩ gì khác thì lại vớ được sự thăng cấp nhanh ngoài sự suy đoán. Chỉ trong vòng 3 năm đó, tôi từ một sĩ quan hạ cấp đã mon men tới bậc trung cấp. Sự vinh thăng nhanh chóng này chính trong gia đình cũng đặt câu hỏi phải chăng nhờ tôi biết chạy chọt mà có. Tôi chẳng biết giải thích vì sao mà nói cho thông. Chỉ lờ mờ đoán rằng tôi đảm nhận chức vụ ngoại khổ nên dịp may đã cho tôi hưởng thời gian rút ngắn đó. Tôi là trưởng phòng với cấp bậc phải cao hơn hai bực thì làm sao mà tôi không được xét điều chỉnh để phù hợp với bảng cấp số do quân đội ấn định ra. Nhưng đó là việc của tôi, gia đình làm sao hiểu rõ, cứ thấy thường tình người ta chạy để lên thì cũng nghĩ là tôi chạy thế thôi. Ðỗ Thành 3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) Ái Ưu Du
Phần Thứ Nhất TUỔI XUÂN HỒNG
Chiều chiều mặt trời ngả mình trên triền dốc, chiếu tia nắng vàng thau đê? giã từ vạn vật, từng bè mây lơ lửng trôi về mở hội ở phương Tây, sương ngập thung lung buồn. Nhiều mái nhà tranh lẫn khuất dưới vòm cây màu lục, từng sợi khói lam nhạt rụt rè vươn lên nền da trời xanh bát ngát. Trên đỉnh núi Thần Phong tháng năm chất chồng, mưa gió xói mòn đục khoét, đã phơi bày các hốc đá mòn khuyết giữa kẽ nức rêu rong ẩm ướt. Ngửa mặt đón gió lạnh lồng lộng thổi, giơ tay ôm ngàn mây bay qua, sờ cây rừng sần sùi trơ trụi, khẳng khiu, mọc rải rác còn đứng vững: Tuy vậy, Trúc cảm thấy bình yên. Nó che đi dấu vết tháng ngày chinh chiến điêu linh cơ cực. Xoá bớt chứng tích hận thù, làm con người nghẹt thở, âu lo. Khi nắng vẫn còn tươi như đổ thêm lửa hừng hực xuống nóc hầm, thì Hoài thích rủ Trúc hai đứa lò mò leo lên trăm bậc thang, và đi ngoằn ngoèo quanh những giao thông hào đào sâu dưới lòng đất, như con rắn uốn lượn theo sườn đồi. Hai cô cùng thở hềnh hệch đi lên gần nóc chòi canh cao chót vót, nơi có nhiều bụi cỏ hôi, cỏ mắc cỡ lá kép đầy gai mọc chằn chịt, gần những ụ hầm đất cát. Hai cô đứng lẻ loi, chơ vơ, u hoài nhìn xuống làng mạc, ruộng vườn ẩn hiện dưới áng mây bay qua ngang mặt. Giờ phút như thế, Trúc thấy Hoài có lý, hầu như nàng trút bỏ được cảnh đớn đau nơi chiến điạ. Và ngỡ rằng dưới kia là một cảnh đời khác hẵn, hoàn toàn xa lạ mà mình không hề nhập cuộc. Chối bỏ sau lưng, cuộc đời phiền toái mình đang cố lãng quên. Các em có con một diều giấy làm bằng tập học trò đang chao đảo trên không trung, diều xoáy tròn nhiều vòng, rồi một bên đuôi rách toạt, rời thân bay lông lốc về cuối trời. Ðầu diều xoáy tít trong không khí, bay tít lên cao rồi chao xuống thấp, uốn lượn trong không gian phất phới nắng vàng. Hai tai râu diều xoáy trên trời. Các em ngửa mặt nhìn lên cao, nhiều bàn tay nho nhỏ cùng nhau giơ ra, cầm chặt sợi cước, cố lèo lái con diều. Các em bé đứng dưới chân đồi ngửa mặt nhìn lên, các em dậm chân dậm cẵng bứt tóc bức tai kêu la ơi ới. Gió bay phồng lưng áo trẻ, tóc các em rối tung giữa bầu trời thênh thang. Bỗng dưng, con diều lao mạnh xuống góc đồi, gần bên chân Trúc, bụng nó mang theo sợi cước trắng đục, cong queo dài lòng thòng. Một đuôi diều còn lại ngóng mình bay bay. Như cố vươn lên, tìm về cố chủ. Dáng chiều ập nhanh xuống, bao trùm mảnh đất hoàng hôn đau thương nầy, trong ghê rợn và cô tịch đáng sợ. Ðom đóm bay chập chờn nhiều vô số lúc tắt lúc sáng. Ếch nhái uồm uộp kêu inh ỏi dưới ruộng. Dơi chao lượn vun vút, phát ra nhiều tiếng dzíu… dzít… khi bắt muỗi. Vài ba con chó tru hú từng đợt dài. Nghe thật ghê tai. Không gian bỗng rào rạo tiếng đạn trái phá, tiến về hướng Ðông ngọn đồi, như chấm sáng của vì sao băng. Lửa tóe ra từ đường đạn bay vút vút, kèm theo nhiều tiếng "xíu... xít" rít rít… vèo vèo… khô khan kéo dài. Nếu không phải ở vùng giao tranh, thì Trúc tưởng như nhìn pháo bông, ngày Tết năm xưa buổi thanh bình. Khi nỗi khiếp sợ tột cùng đã chứng thực len lấn vào lòng. Cô không biết gì ngoài sự sợ hãi kinh khủng dâng lên tột đỉnh. Trúc sợ toát mồ hôi hột, mặt mày xanh xám. Cô vội chạy xuống trăm bậc cấp, về với gia đình quân nhân và bạn bè. Cầu mong sự ân cần, an ủi và lân mẫn của con người. *** Chiều hôm nay, sau khi làm xong công việc, Trúc lên đồi ngồi chờ đám trẻ. Ðúng như hai cô dự đoán, đám trẻ tụ tập trên bãi cát; có mấy đứa chơi rượt bắt cứu tù, nhảy dây, u mọi, đánh đáo. Có một tụm năm bảy em đang ngồi xếp vòng tròn trên bãi cỏ (mà hôm qua chiếc trực thăng đã đáp xuống). Các em cùng hát đồng dao, không xúm lại chơi thả diều nữa. - Tụi cháu bị mất con điều, thiệt buồn. Cô à.
Ái Ưu Du
4. Chập Chùng Bóng Núi 31 (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Về đến nhà anh mới thấy lòng càng nhuốm buồn. Anh không thể nghĩ ra sao cuộc chiến lại kết thúc chóng vánh đến vậy. Thuộc cấp anh tan rã, mỗi người đang tìm về một bến đậu nào đó, hẳn cũng không kém băn khoăn như anh. Anh không tin đây là sự thực, mới hôm qua đây bọn anh còn ở trên đồn, bây giờ đột ngột trở về đời dân sự, chẳng do một lệnh lạc nào cả. Anh nghĩ đến thành phố này, những con chuột nhắt nho nhoe chui từ các hang hốc ra, đang kiếm tìm một cơ hội tâng công. Tay nào cũng tưởng mình là cách mạng thứ thiệt, mảnh vải đỏ rẻ rúng nhặt đâu chẳng ra, những thằng chuyên ăn lừa cướp giật, những tay mới thoát ra từ những nhà tù để xổng, chỉ cần một nút buộc nơi cánh tay đã làm cha thiên hạ. Có những tên thường ngày nhìn thấy bọn lính anh sợ xanh cả dái, bữa nay khinh khỉnh múa loạn xạ khẩu các bin hay M-16 nạt nộ linh tinh. Anh định xả cho chúng một băng để tiệt hết cái thứ nho nhoe, bắng nhắng, nhưng liệu làm thế được ích gì. Mắt anh vằn đỏ vì thiếu ngủ, vì ưu tư nhiều lúc đợi chờ lệnh thượng cấp, bây giờ chỉ muốn có ai đến chọc để anh phang cho một trận rồi tới đâu thì tới. Anh nhìn lăm lăm vào khẩu M-4 với hi vọng có một bọn không sợ chết đến thử lửa chơi. Ðì đẹt tiếng súng nổ khắp nơi, tiếng đồn nhà này nhà kia trên phố bị bắn vỡ ổ khóa cửa sắt, bọn mất dạy vào cạy tủ, khiêng đồ và hăm he giết chóc. Tội nghiệp cái cảnh “ quân hồi vô phèng “, thượng cấp của anh giờ đây ở những đâu có nhận ra hậu quả họ để lại nhiễu nhương, cay đắng đến vậy chăng ? Người nhà thấy anh hung hăng rất e ngại. Mẹ anh lấm lét nhìn anh, hết sức khuyên ngăn : yên hàn rồi con, mặc kệ họ, con đừng để tâm đến nữa. Rồi anh thấy mẹ lẳng lặng vào thắp hương, có lẽ bà mừng thằng con trai thoát khỏi vòng sinh tử trong cuộc chiến. Anh thương mẹ, nhưng anh lại lo, rồi đây họ sẽ làm gì anh đây, hai tiếng “ tắm máu “ nghe đâu đã lan truyền và chẳng ai đích xác nói được đúng sai đến mức độ nào. Anh bất giác quay về phía xa tít tắp, không dưng miệng lí nhí nói ra : xin lỗi Nia. Anh biết không thể nào cô gái sơn cước còn kịp nghe lời anh nữa, nhưng anh phải thốt cho lòng vơi đi nỗi nặng trịch. Anh thấy mình quả vu vơ, đến phút chót vẫn tin thượng cấp để rồi chia tay cô ấy không kịp một lời từ giã. Buôn làng đó giờ xa hẳn, nếu có lần trở lại chắc người xưa, cảnh cũ đã đổi thay. Anh thấy tim đau nhói, ngấn nước long lanh ở cuối mắt. Anh về nhà mà như lạc lõng tận đâu, không phải anh không muốn gần mẹ mà hận là bị bỏ rơi không thua cái giẻ bẩn. Tha thẩn mãi cũng bồn chồn, anh lẳng lặng lấy cái ba lô nhét vào mấy bộ quần áo. Mẹ anh nhìn thấy hỏi : giờ mày còn định đi đâu nữa, con. Anh cười mà miệng méo xệch phân bua : con còn đi đâu được nữa mẹ, nhưng phải chuẩn bị vì trước sau gì họ cũng bứt con ra khỏi gia đình này. Mẹ anh vốn chân chất, bà gạt phăng đi : mày nói tào lao, họ cũng là người mình chớ ai, hết giặc thì lo chùm hum nhau lại mà dựng xây đất nước, ai hơi đâu đi nạnh tội người nhà. Anh muốn cười mà không dám vì người đàn bà Việt Nam nào không nghĩ dản dị như vậy. Không lẽ anh thưa với mẹ ở bên Nga người ta đày kẻ bại trận đến mãi tận Tây Bá Lợi Á, ở bên Tàu người ta xua người thất trận đi làm khổ sai từ 9 năm trở lên, anh không hiểu sao tin tức sớm ấy được loan truyền nhanh đến vậy. Còn anh dù gì cũng từng trách nhiệm trưởng đồn chắc là họ không dễ để yên anh như mẹ hi vọng. Ðể đánh tan niềm căng thẳng và để nhẹ sự lo lắng cho mẹ, anh nói nước đôi : ừ thì con cứ sắp sẵn ba bộ đồ gom nơi đó, nếu họ kêu thì xách đi, còn nếu họ không cần thì lại bỏ ra có lâu lắc gì đâu, má. Bà già nhìn anh với con mắt hiền lành. Nào dè đâu anh chưa kịp vui cho bõ những ngày gian lao trấn thủ thì lệnh gọi “ đi học “ ban ra. Mẹ anh còn nói : đó người ta nói hiền khô, nhỏ nhẹ chớ có hoạnh họe gì đâu chớ. Ôi, lạy mẹ, vì ai cũng nghĩ như mẹ mà bao đứa con đi biệt không về. Chính anh cũng thế, nếu không sớm nhận ra lẽ đời để chịu cắn răng thì có khi anh cũng xanh mồ sau chuyến từ giã mẹ anh ngày đó. Cho dù anh yên lành trở về, sau mấy năm dài đi vắng, vượt rừng sâu, dốc thẳm, vượt suối trèo non mới bò về được thì người mẹ anh không thể nán chờ được đã vội bỏ anh về với đất lành. Anh ra mộ mẹ gào lên để lòng càng mặn hơn muối, dạ càng xót hơn chanh. Chiến tranh, người mẹ anh mỏi mòn mà vẫn trụ lại được, vậy mà hòa bình về thì đôi ngả phân ly. Những ngày nằm ở miền Nam, theo con tàu lầm lũi chạy ra đến đất Bắc, lại chịu tủi nhục vì bị ném đá, chửi mắng, để rồi về thì mẹ anh không còn nữa. Có cay nghiệt nào đau đớn hơn thế không, hỡi những thượng cấp thân yêu của anh có khi nào chợt hỏi lòng mình như vậy. Không phải riêng mình anh phải chịu điều oan khiên như thế. Tràn lan trên mảnh đất miền Nam đã có bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu đứa con mất mẹ, bao nhiêu người vợ bỏ chồng, cũng chỉ vì chợt nhiên hòa bình trở lại. Nỗi đau lòng là những người đàn bà nhẹ dạ nỡ xóa sạch hình bóng anh chồng tù binh để nhận làm vợ cho chính kẻ đang đày đọa người tình mình trong những trại lao nô. Ngôi nhà mẹ anh không còn nữa, anh bơ vơ, lạc lõng ngay chính trên quê hương mình. Anh đi không ai hỏi, anh đến không ai vời, anh là của đâu đó ở ngay mảnh đất anh đã sinh ra. Người ta không cấp cho anh bất cứ một thứ giấy tờ nào ngoài cái giấy ra trại. Anh chẳng biết ở đâu, ăn đâu, vạ vật làm bất cứ gì để có cái đút vào mồm tạm vững sống. Sáng sớm, anh nhận gánh nước cho các bà trong chợ, tiện dịp lén lút đưa mớ thịt lậu của họ vào nhà lồng, người ta trả ơn cho anh bằng những đồng tiền hay những gói xôi, ổ bánh mì. Anh không ngờ thời thế tạo cho anh mánh lới thần kỳ như vậy. Giữa cảnh “ khôn sống mống chết “, anh có giữ lòng trong sạch cũng không được. Người ta bịt chặt các nẻo nên gian kế phải được tạo ra để hóa giải khó khăn, anh bỗng thấy mình băng hoại còn hơn những tay ngày đầu quấn cái băng đỏ lí la lí lắc. Bây giờ những của trời ơi đất hỡi đó cũng bị khóa mõm cả rồi, những thằng vênh vang nhất bây giờ lại hoàn về cái cốt ngợm ngày trước. Chính bọn chúng gặp anh đều lảng tránh xa vì chúng biết “ dây vào thằng hùi không sứt càng cũng mẻ họng “. Anh cười cho tình đời, hỡi những ông đạp xích lô mới hồi nao xách mé chửi rủa anh là “ ngụy “ này ngụy nọ thì bây giờ vẫn cong lưng đạp long bánh chè nào có thấy cái “ thế giới đại đồng “ ló dạng ở nơi mô. Anh càng nghĩ càng mất thêm nước mắt. (còn tiếp) Thanh Sơn
5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) Phan Thái Yên
Phan Thái Yên
Việt Dương Nhân
Mai Ly (Tập III) Chương 5 Sáng hôm sau hai người chia tay. Mai Ly về nhà uể oải tâm hồn nhớ đến André, kể về cô thư ký riêng, tên Martine. Martine cũng ly dị chồng. André đang si tình với cô ta, nhưng Martine không đáp lại, mà chỉ "bắt địa, làm tiền" chàng thôi. Sau khi André thú thiệt, Mai Ly tuôn trào ra cá tánh "thường tình nhi nữ", lòng ghen tức dữ dội. Trong chốc lát, Mai Ly tự biết thân phận mình là... "Ðời Mưa Gió", nên André khinh thường là đúng rồi. Mai Ly muốn điên lên, rồi tự an ủi và nói với lòng : - Mình là kẻ "bán sắc", André là người "mua hoa". Mình có quyền gì mà ghen tức chớ ? Há ! Nếu mình giận lên thì sẽ mất hắn luôn. Thật ngu ! Bày đặt tự ái làm chi mấy cái thứ bướm ong này. Thây kệ, phó mặc cho đời tới đâu hay tới đó ! Mặc dù cố trấn an, nhưng lồng ngực của Mai Ly nặng như bị ngàn cân đá đè lên. Gần đến ngày Lễ, André thấy chắc chắn là Martine không đi, nên mới tới mời Mai ly. Sẳn bản tánh luôn luôn tự trọng và tự ái cao bằng trời. Mai Ly cảm thấy bị nhục và nghĩ André khinh nàng. Chỗ đó André dành cho Martine. André không yêu nàng mà chàng chỉ cần nàng thôi. Phải ! Cả hai người đều cần nhau. Ðến ngày đi Venise, vào ngày 30 tháng 4 năm 1980. Trùng ngày 5 năm Quốc-hận cho Việt Nam, những năm trước thì ngày này Mai Ly thường đi dự đêm không ngủ với Cộng Ðồng Người Việt. Nhưng hiện tại thì nàng phải lo cho các con cùng với nàng có chỗ nương thân. Tuy nghe lòng ray rức, nhưng Mai Ly chẳng biết cách nào hơn là phải đi với André. Và cũng là ngày sinh nhật thứ 45 của Jean-Jacques chồng của nàng. Lại là ngày đánh dấu chuyện tình giữa nàng và André M. khó có thể nào quên được sau này. Sau khi Mai Ly kể cho André nghe, chàng mắng nhiếc nàng thậm tệ. Mai Ly buồn khổ quá, nàng lấy thuốc ngủ uống mười viên định cho ngủ yên. Nhưng André hay kịp đem nàng vào nhà tắm móc họng ra. Ðến chiều ngày thứ tư chuẩn bị trở về Paris. Mai Ly ôm lòng buồn vô tận, nghĩ rằng sẽ không còn gì với André. Nàng chấp nhận thua cuộc. Về đến Paris, André ở lại thêm một đêm nữa. Ðêm ấy André hỏi : * Gần hai tháng trôi êm, André thường sang Paris để gặp Mai Ly. Từ khi đi Venise về, Mai Ly ngưng đi làm và lo chữa bệnh. Nàng phải vào nhà thương mổ. Cũng thời may trong nhà còn có Mai Lan nên Mai Ly nhờ trông các con để nàng yên lòng vào nhà thương. Ðến ngày Mai Ly phải vô nhà thương để người ta thử máu, chiều lại có cô ý tá bước vào phòng của Mai Ly, cô nói : Ðến ngày 20 tháng 6 năm 1980, các con của Mai Ly nghỉ hè. André lái xe sang Paris rước ba mẹ con nàng qua Liège xem chỗ ở. Nơi đó là một lâu đài nho nhỏ có ba mươi lăm phòng, một cái vườn rộng mênh mông chẳng biết mấy mẫu đất. André dẫn ba mẹ con Mai Ly đi lựa giấy dán phòng theo ý muốn, ở đó ba ngày rồi trở lại Paris, André cho tiền Mai Ly đóng để vượt lái xe lại, vì ở với chồng, ông không cho Mai Ly lái, mặc dầu nàng đã có bằng lái từ lâu và đã từng lái xe ở Sài Gòn. (còn tiếp) Việt Dương Nhân
Trần Thành Mỹ
Vậy nào chúng ta hãy cùng nhau ‘ê a’ lại những chữ cái đầu đời của thuở học trò con : Thử nhắm mắt lại tưởng tượng hình dung lắng nghe các em bé bậm môi, nhíu mày đánh vần, tròn mắt đọc lỏm bỏm, ì ạch hay rn rã theo nhịp thước của thầy cô, các bạn sẽ ngạc nhiên khám phá ra bao điều ng nghĩnh, bất ngờ qua bảng chữ cái đầu đời,... Nghĩ cho cùng, điểm đặc sắc của mẫu Trần Thành Mỹ
Thủy Lan Vy
-Viết để nhớ những ngày trên lộ 7B…
Ðầu năm 75, trung đoàn 45 thuộc sư đoàn 23 bộ binh được lệnh rời Hàm Rồng về lại Ban Mê Thuộc. Ðại đội 201 CTCT đang tăng phái cho trung đoàn đóng tại Hội Quán Tây Nguyên cũng được lệnh lên đường tăng phái cho bộ chỉ huy Biệt Ðộng Quân vùng 2 đang trú đóng tại B15,thuộc tỉnh Kontum, đơn vị tăng phái được chỉ định đóng quân tại kho gạo của tỉnh… Thế là anh em từ giã Hàm Rồng, từ giã các buôn làng thân quen vẫn thường ngày đến làm công tác dân sự vụ tâm lý chiến như làng La Sơn, Plei ô Ngo…tại Kon Tum đơn vị vẫn công tác như thường lệ đến các buôn làng thuộc quận Ðắc Tô mới, làng Pa-ra –đi…để khám bệnh phát thuốc, hớt tóc … cho dân làng .Sáng đầu năm âm lịch cả đại đội tăng phái đều có mặt tại sân cờ bộ chỉ huy BÐQ để tham dự lễ thượng kỳ đầu năm. Ðại Tá Tất chỉ huy trưởng đến tận hàng quân bắt tay từng sĩ quan tăng phái… Ngày 13-3-75, Anh Cải, đại đội trưởng lên bộ chỉ huy họp về cho biết là bộ chỉ huy BÐQ đã rời Kon Tum… Thế là anh em trong đơn vị tự động thu xếp gọn ghẻ chờ lệnh về Pheiku.. Tôi ngồi ghế trưởng xa trên chiếc Dodge có tất cả 13 người, xe lăn bánh lúc 13 giờ ngày 13-3-75…tôi cũng thấy hồi họp vì con số 13 nầy, đoàn xe gồm 5 chiếc, 4 dodge,một jeep chậm chậm rời kho gạo hướng về cầu Ðakpla…. Mấy chiếc loa phóng thanh của ty dân vận chiều hồi liên tục đọc đi đọc lại thông cáo của Ðại Tá Hùng, tỉnh trưởng Kontum… Nội dung thông cáo là kể từ giờ phút nầy cấm tất cả các quân nhân ra khỏi tỉnh… KonTum vẫn rất yên lặng, không nghe một tiếng súng nổ, là đơn vị tăng phái nên quân cảnh gác cầu, chốt đường ra tỉnh không xét hỏi…. Con đường KonTum- Pleiku tuy xuyên núi nhưng tráng nhựa rất phẳng phiu… tuy nhiên khi xe gần tới Chư Pao anh em cũng cảm thấy hồi họp, ghìm tay súng sẳn sàng trong tư thế phản phục kích…Bởi ‘Một chiếc khăn tang một tấc đường” ( Thơ Nhã Ca)là đây. Rồi cũng bình an về tối hậu cứ đóng trong quân đoàn 2 Pleiku lúc nầy thường xuyên bị pháo kích, phi trường Cù Hanh ăn đạn liên tục… Ðêm 17 tháng 3 đặc công đánh vào quân đoàn nhưng chẳng gây thiệt hại gì đáng kể vì vị trí quân đoàn trên cao, lực lượng phòng thủ tinh nhuệ có M48 yễm trợ, thà đánh nhau ngòai mặt trận còn thấy dễ chịu hơn là ngồi chờ pháo…Ðơn vị về đây chỉ tạm thời trực ứng chiến chờ lệnh. Là đơn vị CTCT trừ bị cho quân đoàn II, chúng tôi thường phải rày đây mai đó tăng phái cho các lực lượng trừ bị, hay các sư đoàn, tiểu khu thuộc quân đoàn 2, trung đội di chuyển bằng một chiếc xe dodge có cửa, kéo theo một cái rờ mọt.Trên xe chất chứa đủ vật dụng sinh họat thường ngày…nồi niêu soon chảo, gạo, mắm, muối, dầu lửa, bếp dầu…, nên việc ra đi trong cuộc di tản nầy trung đội chúng tôi không lấy gì làm bở ngở, không phải chịu cảnh thiếu ăn thiếu uống như nhiều đơn vị khác.Tôi nhớ hoài buổi sáng hôm ấy khi hay tin quân đoàn đã rút đi nhiều đơn vị… Ông Tiểu đòan trưởng xuất thân khóa 14 VB, ra phi trường về Sài Gòn còn không quên phone về đơn vị ra lệnh cho Tiểu Ðòan Phó trông coi việc ứng chiến của đơn vị vì ông đang… bận họp ở quân đoàn, mạng sống ai không quý, ông tiếc mạng của ông mà bỏ cả đàn em bơ vơ, về Sài Gòn ấm cúng bên vợ con..quân mà thiếu cấp chỉ huỵ.??Ông tiểu đoàn phó mới từ Sài Gòn đổi ra chưa tới 3 tháng nên rất khó thích ứng với tình hình, bởi không dám quyết định vì cứ ngỡ xếp đi họp ở quân đoàn.Lúc bấy giờ quân đoàn chỉ còn lại tiểu đoàn 20 CTCT, cạnh bên là Truyền tin, thiết giáp… còn lại các ban phòng đều vắng lặng như tờ. Bởi không có lệnh nên đêm đó quân nhân các cấp trong doanh trại tiểu đoàn đều ra sân nằm cạnh giao thông hào dù không có lệnh, có lẽ vì sợ ngủ trong phòng sẽ ngủ quên khi đơn vị di chuyển bất thình lình, nằm ngòai sân, nhìn trăng sao với giấc ngủ chập chờn trong lo sợ…một đêm yên lành trôi qua… Sau khi hội ý với một số sĩ quan, Tiểu đoàn phó ra lệnh phá kho lương thực, nhờ vậy mà anh em có thêm được một số khẩu phần lương khô lọai C của Mỹ, không tiên liệu được đọan đường sẽ đi qua nên bỏ lại gạo rất nhiều… Ðoàn xe của tiểu đoàn( Gồm bộ chỉ huy, đại đội hành chánh và đại đội 201) trên mười chiếc, xe jeep tiểu đòan phó dẫn đầu, đến xe các ban và nhóm xe đại đội 201 bọc hậu, cũng nón sắt, súng đạn cầm tay, đoàn xe chầm chậm tiến ra cổng…Ðiếm canh vẫn còn lính gác. Sáng hôm đó trời có chút sương, chút gió nhẹ lành lạnh trong cảnh trống vắng của quân đoàn,mấy chiếc M48 vẫn yên vị nơi cổng chính ,binh sĩ gác cổng vẫn giữ đúng tư thế, nhưng cảnh vật hình như mất vẽ sinh động, tạo cho anh em một không khí khá căng thẳng. Vẫn không biết đi về đâu, đi ngả nào,xe ngang qua trường Trung Học Pleime, phía sau là trại gia bình của tiểu đoàn, tôi ở trọ trong nhà của trung sĩ Hiếu, xe chầm chậm ngang qua mà không dám ngừng lại vào nhà lấy thêm hành trang, vì sợ trể lạc đơn vị, đoàn xe tạm dừng trên con đường có dinh ông tướng… Anh em xuống xe đứng trên lề, dưới tàn những cây thông già cỗi, nhìn trên đường người qua lại tấp nập vội vàng dù trời còn lờ mờ tối…Tôi nhìn thấy một anh trung sĩ BÐQ tay cầm chai rượu Martin đi hướng về tôi nhìn cười cười: -Trung úy uống 1 nắp cho ấm lòng, rượu nầy lấy ở nhà ông tướng…Tôi cầm chai rót uống liền 2 nắp rượu đầy… thấy ấm lòng .Tuy có hơi lo lắng, vậy là ông tướng đã đi rồịTôi cũng mới từ tiểu đòan 50 CTCT thuyên chuyển ra đây gần 4 tháng nên cũng không rõ là dinh của ông tướng nào, có lẽ là dinh của Tư lệnh vùng. Xe cộ vẫn tiếp tục xuôi hướng Hàm Rồng, xe quân đội ngoài quân nhân còn có thêm gia đình binh sĩ, thùng rương chất đầy ắp. Trời sáng tỏ, anh em trong đơn vị hầu hết đều chưa ăn sáng, tôi thấy một vài anh em lấy phần gạo sấy ngâm nước. Ðại Úy Thiện( khóa 18 TÐ, (đã có nghị định thăng cấp thiếu tá nhưng chưa làm lễ gắn lon tân thăng) nhìn thấy một đoàn xe jeep quân cảnh chạy ngang, ông ra hiệu cho anh em lên xe nối đuôi đoàn xe quân cảnh, ngang qua rạp hát Diệp Kính quẹo trái về hướng Hàm Rồng.Với 2 bông mai trên ve áo, tôi không biết một chút gì về lộ trình sẽ đi, chiếc trước chạy, chiếc sau chạy theo, tạo thành một đoàn xe rồng rắn không biết dài tới bao nhiêu cây số, khi bắt đầu nhìn thấy núi Hàm Rồng, tôi thấy đoàn xe rẽ mặt leo lên bờ lề, chạy băng đồng hình như đang chạy dưới chân một ngọn đồi thấp, bên đường có vài chiếc xe quân đội chết máy nằm rải rác, xe bắt đầu vào con lộ đá có dấu vết tráng nhựa loang lỡ, nhưng tương đối dễ chạy hơn lúc băng đồng. Tài xế chiếc dodge là hạ sĩ Ðặng Giác, cũng trạc tuổi tôi, sức vóc khỏe mạnh có gia đình nhà cửa ở KonTum, rất vững vàng ôm tay lái, tới thung lủng Hồng, một tấm bảng gắn trên hai trụ có khắc rõ chữ Valey Rose, một vài chiếc GMC bị lật, xác binh sĩ chết nằm rải rác khỏang trên 10 người… Ðòan xe vẫn chạy với tốc độ chậm, bụi cát mịt trời, tuyệt không nghe tiếng súng, rải rác nhà dân bên đường, người lớn trẻ em ra sân nhìn đoàn xe chạy, mấy em trong xe tôi gốc miền Nam cười vui như những lần được về phép,Trung sĩ Bùi Ngọc Mỹ thằng em vẫn ăn cơm chung với tôi, với tay chuyển cho tôi một bịt cơm sấy với lon thịt ba lát khui sẳn, tôi không thấy đói nhưng vẫn phải ráng ăn, bởi tôi linh cảm con đường đi sẽ còn nhiều bất trắc lắm…Lòng tôi cũng có chút vui khi được về Nam nhưng cũng ngổn ngang trăm mối, tại sao cả quân đoàn phải bỏ đi trong lúc chưa thấy bóng dáng một tên lính sinh Bắc tử Nam nào, tại sao ra đi mà không có lệnh lạc gì cả, lộ trình để đi cũng hòan tòan không biết, rồi tin chiến sự từ đài V.ỌA, BBC, áp lực Cộng quân nặng nề trên nhiều mặt trận, Ðài Quân Ðội, đài Sài Gòn vẫn phát thanh những bản tình ca, vẫn ngọt ngào tình em hậu phương với người trai tiền tuyến… Ðầu óc tôi rối mù… Thôi thì, mệnh số do trờị.Bài học Hán văn thầy Bùi Cận dạy tôi học năm đệ ngũ tôi vẫn còn nhớ….Nhất trác, nhất ẩm, giai do tiền định… hơi đâu mà lo…Với máy C25 bên cạnh tôi mở máy liên tục liên lạc với các bạn cùng chung đơn vị: Thái tăng An, Như ,Chấn,Nguyễn Hữu Cải … Ðến Phú Bổn, trời xế chiều, xe cộ tràn lan, đoàn xe đơn vị tôi dừng sát bên lề đường, tất cả xuống xe ngơ ngác nhìn chung quanh. Ðã thấy hầu hết các sắc lính tại quân đoàn… Người ta dừng, mình dừng lại chẳng lệnh lạc gì cả, trời chiều xuống dần, dù cuối tháng ba nhưng sương trời và gió tạo một cảm giác lành lạnh… Tôi thấy có một tóan quân nhân , có máy truyền tin đi bộ quanh các con đường… Thì ra là toán lính địa phương, Trung Tá Lò văn Bảo, tình trưởng và một số sĩ quan, tôi còn nhớ Trung tá Bảo dáng cao ráo, to con, gương mặt hiền từ chậm rải nói với anh em di tản: -Các anh em yên tâm tìm chỗ ngủ , tôi đã cho hai đại đội địa phương quân giữ an ninh… Tôi nghe lệnh mà trong lòng thấy không an, quân đoàn tự dưng bỏ chạy …hai đại đội mà nhầm nhò gì… thôi thì ai sao mình vậy …giày dép còn có số mà… Tôi cùng họa sĩ Thái Tăng An( Mỹ Thuật Huế)Bạn cùng khóa,khoát thêm áo jacket, hút thuốc vặt nhìn thiên hạ. Anh Nguyễn Hữu Cải( Ðại đội trưởng, Chết trong tù CS) họp anh em sĩ quan bên vệ đường, anh có được 1 mẫu bản đồ tiện tay xé được trong phòng tiểu đoàn trưởng trước lúc ra đi, Anh chỉ sơ qua về lộ trình sẽ đi…theo như dự đoán của anh… Tôi chẳng buồn quan tâm. Người ta đi đâu mình theo đó, súng bắn trúng ai người đó chết hơi đâu mà lo cho mệt…. Trời tối hẳn, anh em đã cơm nước xong xuôi, Trung đội Chính Huấn của Trung úy Như( khóa 1/69)bắt đầu làm việc, Chạy chung đơn vị có vợ chồng ca sĩ Xuân An của sư đòan 23 tháp tùng theo. Anh em xếp thành vòng tròn, sẵn khẩu phần C với cà phê thuốc lá Mỹ…Tiếng đàn dạo lên, Xuân An cất giọng, đây là giọng ca xuất sắc nhất của quân đòan 2 lúc bấy giờ…. Giọng ca ngọt ngào, lời ca phù họp với bối cảnh đã thu hút khá đông anh em đơn vị bạn đến nghe… Thái Tăng An và tôi nằm trên bờ đê cỏ: -Ê chạy giặc mà giống đi picnic quá mậy. Tôi cười đồng ý. Nằm nhìn sao trời, hút thuốc Lucky, uống cà phê nóng nghe nhạc sống … còn thua ai nữa. Người xe tuy đông, tuy ô họp mà đêm yên lặng lắm… Gịong ca của Anh Xuân An cao vút réo rắt lòng người…”Bỏ làng ra đi mang theo tiếng nói con tim…”… Tuyệt nhiên không nghe một tiếng súng, thỉnh thoảng trên bầu trời có lóe sáng lên, một vài trái hỏa châu có lẽ từ chi khu bắn lên.các cô bé chính huấn của đại đội như Mỹ Chi, Phương Hòa…cũng lần lượt góp tiếng hát ngọt ngào, trời đầy sương, ngập ngụa không khí núi rừng, những giọng ca ngân vang xa thu hút khán giả càng lúc càng đông, Tan buổi nhạc bất đắc dĩ, giấc ngủ chập chờn đến với mọi người, ngày mai rồi sẽ tới đâu??? Trời chưa sáng mà mọi người cùng thức dậy, nước rửa mặt rất khó tìm, Một số quân nhân thuộc một vài ngành tự động tháo bỏ phù hiệu như CSQG, ANQÐ, QC…, tiếng máy xe bắt đầu nổ âm thanh thật ồn ào, khói xe bay mù mịt, một số xe bắt đầu lăn bánh về hướng quận Phú Túc, Tiểu đòan tôi cũng bắt đầu lên đường, còn giữ được đội hình lúc đi, nhiều chiếc xe jeep của đơn vị bạn bị bỏ lại vì bị bề kết nước, bởi đòan xe chạy ngừng bất thường, thắng không kịp là ủi đít .Nắng dần lên, sương tan và trời bắt đầu nóng, khói xe và âm thanh động cơ, tiếng gọi nhau trong ánh nắng chói chang làm cho con người rất dễ mệt, Nhưng trong bước đường sinh tử mọi người đều cố gắng.Cho tới quá trưa đòan xe tràn ngập quận Phú Túc, hàng ngũ rối lọan không còn thấy lối đi . Mọi người ngơ ngác nhìn nhaụTrong đoàn quân chẳng có một sĩ quan nào biết được lộ trình cuộc di tản nầy, tôi thấy có vài sĩ quan mang cấp trung tá, dân theo lính cũng rất đông hầu như là nửa dân nửa lính, thương cho dân bám theo lính mà lính nào có được lệnh lạc gì đâu. Một chiếc trực thăng đáp xuống một khoảng đất trống nhỏ vào lúc giữa trưạTôi đứng cách xa trực thăng nhưng cũng nghe được tiếng anh em bàn tán -Tướng Cẩm tới thị sát có mang theo hai hạ sĩ quan quân cảnh với mục đích giải tỏa lộ trình bị nghẻn.Tướng Cẩm hỏi xem ai là người có cấp bậc cao nhất ở đâỵTôi thấy có một vị trung tá lên tiếng.Tôi không nghe rõ được lời đối đáp nhưng cũng được thuật lại đại ý -Anh Trung Tá mà không chỉ huy được đoàn quân nầy - Tôi không có khả năng, Thiếu tướng xuống chỉ huy đi. Trực thăng mang tướng Cẩm bay đi, với rất nhiều cặp mắt ngơ ngác nhìn theo. Tội nghiệp hai anh quân cảnh xé vội phù hiệu rồi lẫn vào trong đám lọan quân…. Rồi đoàn xe cũng bắt đầu di chuyển, đoàn xe quá dài nên người ở khúc nào chỉ biết chuyện ở khúc đó. Tiểu đoàn tôi có lẽ đi vào khúc giữạÐường bắt đầu xấu dần. xe chạy với tốc độ thật chậm, chiếc nầy ủi đít chiếc kia là sự thường. Một vài xe chết máy vì hết xăng, rất nhiều xe jeep chết máy bị đẩy vào bìa rừng… Số lượng người mất xe càng đông, xe nào còn trống có người quen thì được cho lên, đa số ôm súng mang ba lô đi lếch thếch lẫn lộn với đám dân, giữa cái nắng tháng ba của vùng cao nguyên, hành trang và nắng gió làm cho người mau mệt, khi đã mệt rất dễ sinh quạu quọ.Xe qua những đám rừng thưa, lửa than đốt rừng còn cháy đỏ, Biệt Ðộng Quân biên phòng trong tư thế tác chiến đứng thành hàng hai bên đường bảo vệ cho đòan quân di tản. Tôi nhìn thấy nhiều em binh sĩ Biệt Ðộng Quân còn quá trẻ, súng cầm tay với lưởi lê tuốt trần hướng mắt nhìn về hướng rừng, quên đi sinh mệnh của mình để giữ an toàn cho đoàn người di tản.Tôi đi chưa biết rồi sẽ tới đâu, riêng các em còn đứng đó không biết đến bao giờ, sự sống còn của anh em lấy gì bảo đãm, lòng tôi rất cảm kích trước những con người biết tuân thủ kỷ luật quân độịCũng tại quận nầy, Anh Cải ra lệnh xe nào giữ hồn nấy cố gắng về tới nơi an tòan. Tôi ngơ ngác, nơi nào là nơi an toàn đây.?? Một vài người hiểu rõ lối đi cho biết đoàn di tản đang tiến lần tới quận lỵ Củng Sơn thuộc tỉnh Tuy Hòa, người đi bộ vẫn bước nhanh hơn xe đang chạy, trung sĩ Mỹ chỉ tôi -Ông xem kìa, Ông thiếu tá đang ăn trái bầu sống… Tôi nhìn theo tay chỉ của Mỹ, mắt tôi nhìn thấy một quân nhân không rõ binh chủng vì người đang mặc áo khóac, tay cầm trái bầu lọai bầu có eo cổ như trong hình vẽ bầu cua cá cọp, ông bẻ ra từng miếng cạp ăn ngon lành. Ða số người di tản đến ngày thứ ba đã bắt đầu hết lương thực, vì cuộc di tản xãy ra quá vội vàng không ai kịp chuẩn bị, Riêng đơn vị tôi vì thường xuyên đi công tác dân sự vụ nên lúc nào trên xe cũng tạm đầy đủ gạo thóc mắm muối…, Nắng bắt đầu ngã chiều mà đòan xe vẫn đi chưa tới đâu, tôi mở tầng số máy C25,tôi rà đai bất cứ tầng số nào , có lúc liên lạc được với dân con gà( Sư đòan 23) còn ở Phú Túc, có lúc liên lạc đước với tóan đã tới phi trường Củng Sơn, xe vẫn chậm rì lăn bánh, tóan công binh chiến đấu của quân đòan vẫn cưa cây, mở đường , mấy chú lính trong tóan nấu nước ngâm gạo sấy, Tôi ngồi trên nóc xe chân thòng trên nắp đầu xe, vừa ăn cơm gạo sấy với thịt ba lát với chút muối tiêu vừa nhìn trời đang bảng lảng hòang hôn, chút hơi lạnh của núi rừng phần nào xoa bớt cơn mệt mỏi, trời tối nhanh, muỗi rừng được dịp tunh hòanh chit cắn, tiếng ồn ào dịu dần theo với bóng đêm tràn về… Xe tôi cũng vào tới phi trường Củng Sơn. Phi trường khá rộng , phi đạo lót vĩ sắt, tôi chỉ tài xế lái vào một khỏang đất trống đầu xe hướng về cổng phi trường, khoát lên người chiếc áo jacket , quấn lên cổ chiếc khăn, kéo mủ lưởi trai sụp xuống, tôi vẫn còn thấy lạnh, muỗi bớt cắn vì phần thịt da ít lộ ra ngoài, sương xuống mịt mờ chẳng mấy chốc mà người tôi đã thấy ướt nước, Tôi nằm trên đầu xe tay kẹp cây M16 sát người, thằng Mỹ đệ tử nằm kế bên cũng khư khư ôm cây AR15, trong thùng xe là đàn bà con nít ngủ ngồi, chú tài xế và anh toán phó trong cabin xe, còn lại rải rác trải poncho nằm cạnh xe. Sương nhiều quá không nhìn thấy sao trời, tôi nằm dù thật mệt mỏi nhưng dễ gì dỗ giấc ngủ, bây giờ mới hết tháng giêng âm lịch, mà tháng giêng là tháng ăn chơi, hiện tại tôi cũng ăn và đi lang thang, không chơi là gì…Tôi nhớ Sài Gòn vô cùng tôi nhớ giảng đường 2, giảng đường 4, tôi nhớ mấy cây phượng bên hông trường, tôi nhớ tới mấy nhỏ bạn thân từ năm nhiệm ý,tôi trở lại giảng đường sau gần 4 tuổi lính, nhỏ Ngọc, nhò Sang, Thơ, Hoàng Cúc,Dung Bải Xàu, Ngọc Hà Gò Vấp, nhỏ mắt nâu , con nhỏ mà khi đi chung có dịp gặp người quen tôi vẫn thương giới thiệu là vị hôn thê, mới hôm Noel, tôi về phép kẹt phi vụ ở lại Sài Gòn cả tháng trời, Tôi ngoan ngỏan như con mèo con trở lại lớp Việt Hán, lớp văn Minh Việt Nam, chăm chỉ hơn cả sinh viên thuần túy, tạm quên đi Phước Long đã vào tay Cộng Sản… Thanh An đang ăn đạn pháo tơi bời… Con bé đêm nay ngồi học bài không biết có nhớ đến tôi không, bé có hay biết gì về quân đoàn đang tháo chạy mà sĩ quan cấp úy như anh không biết một chút gì về lý do di tản cũng như lộ trình di tản…Bên taịtôi tiếng ngái đều đều của thằng Mỹ…, tôi nhớ.tôi chỡ bé vào quán biên thùy, dĩa tôm càng nướng, rau sống bánh hỏi, 33 khui rót vào ly nước vàng sóng sánh, tôi lột vỏ tôm gắp bỏ vào chén em không quên sớt tương xay vào một dĩa nhỏ…Tôi thiếp đi lúc nào không biết… -Dậy Trung úy có xe chạy rồi. Tiếng hạ sĩ Giác tài xế … Thì ra tôi chưa tròn được giấc mơ tại Phi trường Củng Sơn.Tôi bật dậy gon gàng, khóa an tòan súng, móc túi lấy thuốc châm lửa - Thủng thằng chờ xe đi kha khá rồi mình hãy chạy theọAnh em lo ăn sáng cho chắc bụng, mấy ngày nay yên tình còn hôm nay chưa biết ra sao, nghe nói rời Củng Sơn là bắt đầu rời cao Nguyên về đồng bằng, mình sẽ di chuyển đến Sông Ba rồi vào Tuy HòạTôi nói sơ về lộ trình rồi tạm làm vệ sinh buổi sáng bằng chút nước trong bi don, rất nhiều chú lính cũng như dân làm chuyện đệ tứ khoái ngay bên đít xe…cũng may ăn ít và không có rau rát nên đa số đều bị bón nếu không thì mùi xú uế chịu sao cho thấu… Ðọan đường bắt đầu rời quận Củng Sơn thật là gay go, vì có nhiều suối và công binh phải phá rừng mới có lối cho xe chạy, có con dốc 45 độ khoảng 30 thước, cuối dốc phải quẹo thẳng góc không thì xuống suối, thình thoảng một vài trái đạn 60 ly rớt ven rừng , có lẽ đề lô giặc chưa điều chỉnh kịp tọa độ…Tin giây thép lạc dừa cho biết là sư đoàn Thép và Sao Vàng ngỡ quân đòan rút về Quy Nhơn nên đã dàn quân phục kích trên quốc lộ 20, nay biết hướng di tản đã bắt đầu đuổi theo…Theo thì theo vì có muốn chạy mau cũng không thực hiện được.Cũng tin cho biết là sở kỷ thuật vùng 2 hợp với công binh chiến đấu mở đường dưới sự chỉ huy tổng quát của chuẩn tướng Tất tư lệnh Biệt Ðộng Quân vùng 2 vừa tân thăng…cả giờ chưa di chuyển được trăm thước, cát bụi theo gió bám đầy người …’Nếu chẳng quen nhau lung, đố nhìn ra được, tôi mĩm cười khi nhìn thấy mặt đầy bụi của anh em mà nhớ thơ của Phan Khôi. Trời tối mịt xe tôi vẫn chưa thấy được bờ sông Ba… Xe tạm dừng trong ánh sáng le lói của từng bếp củi tạm nấu cơm bên đường, thực đơn của tóan vẫn u như kỳ, gao sấy thịt ba lát muối tiêu….Trời lạnh, cơm nguội lạnh nuốt muốn ngay cổ….Ðọan đường còn dài còn lắm gian nan, phải cố ăn mới có sức mà đi, bìa rừng có vài con suối có nước nên việc “nước’ tạm thời thong thả, rửa mặt rửa soon nồi thỏai mái, Tôi với Thái tăng An rủ nhau ra suối tắm, khỏang suối nhỏ nhưng nước trong uốn khúc bên gốc cây cổ thụ, cũng có khá đông người đang tắm… đang kỳ cọ tai bỗng nghe tiếng cười nho nhỏ…âm thanh con gái… thì ra bên kia thân cây có 3,4 cô bé có lẽ là học sinh Trường Trung Học Pleime đang tắm, dưới ánh trăng tôi nhìn thấy rõ đường nét thiên nhiên qua áo vải ướt bó sát lấy người. Tuổi trẻ ai mà thấy cảnh nầy mà không say đắm nhìn…!! -Ê An, về Sài Gòn mày phải vẽ lại cảnh nầy nha An…Tao đặt tên tranh là Thiếu nữ tắm trăng. Về lại chỗ nằm,mở đài BBC, phóng viên của đài tường thuật cảnh di tản y hệt như những gì mắt tôi đã thấy, tai tôi đã nghe, tôi có cảm tưởng cha nội phóng viên nầy đang đứng lãng vãng gần tồi, tôi còn nhớ một câu trong bài bình luận: cả quân đòan di tản trong tình trạng bi đát tuyệt vọng như vậy mà Sài Gòn hình như không muốn biết tới….Từ những bản tin nầy anh em trong đòan di tản tinh thần có xuống vì không còn niềm tin ở Sài Gòn tìm cách mở đường tiếp viện… Thôi thì thân ai nấy lo. Hầu hết các đơn vị đều phân tán không còn hệ thống chỉ huy nữa… Ðơn vị tôi đã được lệnh tan hàng từ Phú Túc, tóan nào tự lo cho tóan đó, thực ra sống chết do trời, không có Ðà lạt, Thủ Ðức hay Ðồng Ðế gì cả …Có Tề Thiên Ðại Thánh xuất hiện chưa chắc đã chỉ huy nỗi đòan quân nầy…Dưới mắt tôi anh em quân nhân vẫn còn giữ được tác phong kỷ luật dù đang ở trong một thế cờ hết sức bi thảm. Tôi nhìn Trung Tá chỉ huy trưởng trường thiếu sinh quân vùng 2 đang dẫn đoàn quân nhi đồng di tản, đồng phục nghiêm chình di chuyển theo hàng dọc, các em với nét mặt thật bình thản, vững vàng bước trên lộ trình đầy chông gai…. Không biết các em đã đi bộ như thế từ bao giờ….Vị Trung tá quân phục còn tươm tất, thắc lưng mang súng colt, tay cầm gậy bước đi thoăn thoắt dù tuổi cũng đã khá cao…Lòng tôi hết sức ngưỡng mộ, tôi chỉ cho mấy em trong tóan tôi nhìn, hành trang của các em TSQ trông nhẹ nhàng, chỉ một ba lô trên lưng cũng không lấy gì nặng lắm, vũ khí thì em có em không…Các em không nói cũng không cườịÐoàn xe ùn tắc trên khoảng nầy mất mấy ngày, cứ mỗi lần bị pháo, đoàn xe lại rối lọan lên, mạnh xe nào nấy lũi vô rừng, cơm nước đang nấu dỡ dang ngã đổ tùm lum, trẻ con lạc cha mẹ khóc vang rân, tôi và thằng Mỹ ẵm từng em bỏ lên xe chờ yên pháo tìm cha mẹ chúng trả lại, bây giờ tiểu đòan chỉ còn xe tôi lạc trong đoàn xe bạn , những xe chung đơn vị sau nhiều lần bị pháo đã thất tán…Ban ngày trời nắng , tôi với thằng Mỹ cầm súng vào trú nắng trong rừng, hoa bằng lăng trổ tím rất đẹp mắt, tụ năm tụ ba trên bờ suối nhiều thiếu nữ rất trẻ da rám nắng như mới từ biển Vũng Tàu về. Một hôm tôi và Mỹ đang lang thang trong rừng,tôi nhìn thấy hai quân nhân đang gối đầu trên rễ cây ngủ say sưa, lại gần mới biết là Thái tăng An, và nhà thơ Kim Tuấn, với bản nhạc nỗi tiếng “Từng bước chân âm thầm”, tôi dùng mũi giày lay An dậy -Ê, sao lại ngủ bờ ngủ bụi vậy tụi Thằng An ngáp dài…: -Ðói cả ngày nay mà lười quá ngủ cho đã có chết cũng no con mắt. Thằng Mỹ nhìn 2 ông lười, nó chạy về xe lấy cơm sấỵHai ông lười ăn xong tỉnh táo xin thuốc hút.Tôi cười cười nhìn Kim Tuấn: -Chạy giặc phải chạy cho lẹ chứ …Từng bước từng bước thầm hoài thì làm sao tới bến được. .Rồi đoàn xe lết từng tấc cũng tới dược bờ sông Ba. Buổi sáng đầu tiên trên bờ sông Ba, sương mù dày đặc, mọi người lùm xùm trong áo jacket, có người khoát thêm poncho, có người chơi luôn cái mềm cho đủ ấm, ngồi chùm nhum trên từng xe hút thuốc…mắt mơ màng phần mệt mỏi phần lo lắng, muỗi cắn, sương lạnh, vắt đeo….Ðường còn xa mà trước mặt sông lớn chắn ngang , Ơi Sài Gòn, Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi, con đường Cường Ðể, dốc cầu chữ Y, ngả tư Bình Hòa…liệu tôi có còn thấy lại hay không … Bài học chiến thuật của trường bộ binh Thủ Ðức, bài cuối cùng tôi còn nhớ rất rõ: Lui Binh Cấp Tiểu Ðoàn, thực tế tôi chưa từng tham dự cuộc lui binh cấp tiểu đoàn nào mà nay lại nằm trong trận lui binh tới cấp quân đoàn, sĩ quan cấp úy như tôi đành chịu phó mặc mạng sống do trời… Mặt trời lên, sương tan, cảnh vật trông rõ, công binh phát quang khoaảg trống canh bờ sông, bên trái là cánh rừng thưa, qua bên kia bờ sông đi thêm trên cây số rừng thưa là tới đập Ðồng Cam, đi dọc theo con lộ 7B nầy một bên là đập nước, tới một cánh đồng, xa phía trong là rừng, bên trái là triền đất kéo dài khỏang cây số tới rừng và những ngọn đồi, ngày xưa Ðại Hàn xây nhiểu lô cốt trên những ngọn đồi nầy, con lộ nầy bỏ hoang từ ngày Mỹ rút, Một anh trung sĩ thuộc chi khu Củng Sơn nói sơ cho tôi biết về lộ trình phía trước… Tôi lần mò tầng số trên máy C25, gặp một số anh em sư đoàn 23 còn ở Phú Bổn, còn đọan đầu tôi không biết đã tới đâu, nước sông chỗ sâu nhất tới rún, Thiết giáp vòng dây kéo từng chiếc quân xa, mất khỏang 20 phút mới qua tới bên kia bờ , chuyền xe được kéo phải chi trả ít nhất là 10.000$, giá trung bình thường là 20 ngàn, mười xe qua tới bờ chết máy hơn phân nửa, xe dược kéo phải nổ máy đều, nếu máy tắt là nước vào ống bô kể như bỏ xe…. Nơi khúc sông kéo xe là khúc cạn nhất, Công binh sẽ bắt cây cầu dã chiến tại đây, xe tôi đậu cách xa khúc sông nầy khoảng một cây số, cứ thế mà lết dần từng mét một, có đi tắm giặt cũng phải trực người ngồi ôm vô lăng, chứ xe trước nhít tới mà mình dậm chân thì xe sau sẽ hất xe mình ra khỏi hàng Dưới lòng sông Ba có rất nhiều cồn cát nổi cao lên khỏi mặt nước, cồn tròn khỏang 10 mét vuông, trời càng trưa càng gay gắt nắng, Mọi người xuống sông giỡn nước, nước sông Ba trong thấy đáy, mát vô cùng, tầm nghịch xong lên cồn ngồi, đàn bà con gái lúc đầu còn e thẹn, sau vài ngày rồi cũng dạn dĩ ra, cũng tầm nghịch bơi giỡn dưới sông, thỉnh thỏang một vài trái đạn 60 ly rót xuống, một điều hết sức may mắn là xe chen chút sát bờ mà đạn cứ rớt ùm xuống sông, Tôi nhìn thấy nhiều lần trái đạn rớt chui ngay cồn chui xuống sâu mới nổ hất tung những người ngồi trên cồn tung lên rớt xuống nước lũm chũm, hết hồn chút đỉnh chứ chẳng sao cả, mấy trái đầu còn sợ, pháo riết rồi quen, cứ an ủi bằng câu trời kêu ai nấy dạ, ba bốn ngày đầu tôi thấy ông trời vẫn chưa kêu ai… Triệu chứng kiết lỵ đã thấy xãy ra cho nhiều người lớn tuổi vì đòan người quá đông mà phóng uế bừa bải, nước sông dù vẫn lặng lờ chảy nhưng đã bị ô nhiễm nhiều rồi, với lại khó nấu nướng món gì trọn vẹn vì giặc pháo thường xuyên mà mỗi lần pháo là đòan xe rối lọan càn bừa chạy tránh đạn. Tôi đã thấy trên nhiều xe lô bồi nhiều người đàn ông tụt luôn quần ngồi chờ tháo dạ.. sau 3 ngày bệnh lỵ xuất hiện tôi thấy bụng tôi ngầm đau… rồi trong phân có lẫn máu. Mấy chú lính hết tình chăm sóc cho tôi, cố gằng rang gạo nấu lấy nước cho tôi uống, với một vài chén nước gạo rang mà tôi đi ngòai khỏang trên 20 lần trong ngày, tôi đã gầy mà bây giờ bị bệnh như vầy, mắt sâu má hóp, nhìn qua mặt nước dáng hình tôi trông thật thảm, đau như cắt ruột sao lại là đệ tứ khoái được đâỷ?… Tôi thấy trong mình tôi rã rời, ngồi không muốn vững, miệng đắng mà lạt nhách…Tôi nghĩ dại… có lẽ bên bờ sông Ba nầy tôi không còn dịp gặp lại người thân nữa. Buổi sáng quá đói và mất ngủ tôi thều thào gọi thằng Mỹ đến, tần mần tháo dây thẻ bài, tay móc bóp trao cho nó. Thằng Mỹ nhìn tôi có vẽ ngạc nhiên - -Nếu mày về được tới Sài Gòn, mang những vật nầy trao cho gia đình tao, nói rõ cho nhà tao biết về cái chết của tao. Thằng Mỹ mắt đỏ hoe: -Vài bữa là hết ông đừng có lo…Ông nằm nghỉ để tôi bắt lửa nấu cho ông chén cháọKhông biết nhờ ân sủng nào mà trong tình trang suy sụp thể lực như vậy mà bệnh lỵ của tôi lại thuyên giãm và mấy ngày sau là tôi bình phục dù trong người rất yếu, dù chẳng có uống một viên thuốc nào Thuốc hút bắt đầu khan hiếm, một gói thuốc capstan giá thường là 400$ nay 2.000$ một gói mà tìm đỏ con mắt không ra, phần rỗi tãi nên buồn miệng cứ hút luôn, xe lô bồi cạnh tôi có lẽ nhìn mặt tôi thấy có cảm tình nên vứt qua cho tôi 1 cây thuốc bastos xanh, Tôi cám ơn rối rít móc tiền ra trả nhụng người dân gốc Hoa nầy khóat tay không nhận, một chút tình quân dân… Cứ thêm một ngày thì lượng xe và người càng tăng dần…. Nhít qua nhít lại rồi đòan xe cũng vào được đội hình hàng tám…Nhìn thấy cảnh chết máy của các xe kéo qua sông, với lại tiền không có nhiều nên đa số đành sắp hàng chờ cầu phaọSi Núc, lọai trực thăng vận tải bắt đầu chỡ vĩ sắt đáp cạnh bờ sông, dân lính ùng ùng tranh nhau lên phi cơ dù phi hành đòan hết sức ngăn cản… Tình trạng nầy lặp đi lăp lại sau mỗi lần phi cơ đáp xuống, người ta tranh nhau lên quá tải, phi công sợ nặng nên cất cánh trước khi đóng bửng, một vài người lính đeo theo càng trực thăng, tôi cũng thấy nhiều lần phi cơ bắt đầu bình phi, bửng sau từ từ khép lại …có vài người sẩy tay rơi xuống trông như chim…Tôi nghe thuật lại rớt như vậy mà không có ai chết chỉ bị sứt tai gãy gọng thôi…Cảnh trông thật kinh hồn hơn trên màn ảnh ci nê, những cảnh thực mà trong đời người khó trông thấy lại . -Gạo thóc vẫn là việc nan giải, nhiều bà Sơ đi tìm mua gạo để có cơm cho các em nhỏ, tôi lại trích phần gạo chia sớt với các em. Có một vài chị tới ngày sinh nở… mấy người thân chạy táo tác tìm người đở đẻ, poncho quay tạm che gió… rồi tiếng hài nhi khóc chào đời… chìm lẫn trong tiếng súng đạn ầm vang. Phía bên kia bờ sông tiếng súng vẫn râm rang, phía sau hướng Củng Sơn cũng vang rền tiếng súng…Tình thế …kẹt cứng… lưỡng đầu thọ VC Những ngày tôi lê lếch trên bờ sông Ba là những ngày đầu tháng hai âm lịch, Ðêm mùng 6 tôi nghe đài BBC tả cảnh Sài Gòn, Bà Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đang chủ tọa lễ Hai Bà Trưng, người bình luận :… Sài Gòn hầu như không cần biết đến dòan quân rã ngũ đang đi trên tử lộ cố tìm ngõ sống về Nam, người bình luận còn nói thêm…. Hầu hết các quân nhân đều tỏ ra bất mãn với vị tổng tư lệnh Nguyễn văn Thiệu họ thề sẽ về tới Sài Gòn tìm hỏi tội ông ta tại sao đã bỏ rơi bao nhiêu sinh mạng đã phục vụ dưới quyền ông. Trong một vài buổi sáng có những chiếc trực thăng bay thấp trên đầu đòan quân di tản. trên trực thăng rải xuống nhiều lọai thực phẩm: Cơm vắt đựng trong túi ny lon nhỏ, sữa họp, bánh mì ổ, mì gói, gạo sấy… với những tờ truyền đơn bươm bướm có in hàng chữ: Con đường các bạn đi còn dài còn nhiều chông gai, chúc các bạn may mắn( tôi nhớ đại ý như vậy) ở dưới có in hàng chữ Cơ Quan Công Giáo Bác Ái, Nhìn cảnh thực phẩm rơi xuống Lòng tôi bi hài trộn lẫn, Người ta dành nhau, những vắt cơm rơi trúng đầu không nói chi, họp sữa , tôi nhìn thấy nhiều lần rất may mắn là rơi trúng vai, người lính nhăn mặt biểu lộ cảm giác đau rồi cười khum xuống nhặt họp sữa. Tôi cũng thấy có nhiều chiếc trực thăng đáp xuống phía cách xa đòan xe , họ thả vài người lính xuống rồi cất cánh, những người lính không quân nầy đi len lõi vào đòan xe ngả giá kiếm khách hình như giá tối thiểu cũng phải 10.ngàn đồng( bằng ½ tháng lương chuần úy ). Những người lính nầy kiếm khỏang 10 người rồi cùng đến tọa dộ đã định sẵn, Cũng không thiếu những người thừa dịp ăn theo…Trong bất cứ tình huống nào con người vẫn nghĩ ra cách làm tiền, dù cho đồng tiền đó có vương mùi máu… Những người còn ở lại đều có ý bất mãn trước tình huynh đệ chi binh… tuy thế mà rất nhiều lần tôi không hề thấy một xạ thủ nào canh bắn trực thăng dù việc làm nầy rất dễ dàng , bắn vô tội vạ, Ðồng lương lính quá thiếu thốn chăng? Thiếu thốn thì ai lại không thiếu, sao lại nỡ để mất đi tình huynh đệ. Trước cảnh tình quá bi đát nầy, hơn 10 ngày không có cách gì qua sông, mà giặc phía sau đã gần kế, phía trước chưa mở xong đường máu, tôi nêu ý kiến với anh em trong tóan -Trong hòan cảnh nầy, tôi không ép anh em theo tôi, anh em cứ tự nhiên canh chừng trực thăng đáp xuống đu theo về trước, ,Tôi quay qua Mỹ: - - Mỹ, mày ba lô gọn nhẹ đi đi, về ghé nhà tao, nói tao sẽ về saụ.Thằng Mỹ sau mấy lần canh me cùng 2 chú lính đi thóat được… lại thêm mấy chú lính cùng tiểu đòan chạy lạc gặp tôi xin tá túc có thêm đông càng tốt. Một phụ nữ trạc 25 tuổi tay bế em bé khỏang 10 tháng tuổi, tay dắt 2 con thơ khỏang 3 và 5 tuổi đến trước mặt tôi mếu máo xin được đi nhờ xe… Trên xe đa số là đàn bà con nít , vợ con anh em trong toán, thiếu phụ còn cho biết chồng là Trung úy Thiết Giáp bị thất lạc… Tôi ngần ngừ nhìn mấy mẹ con rồi quyết định cho lên ngồi trên cabin xe… Tôi nhìn thấy thái độ bất mãn của mấy chị em ngồi phía sau xe…, họ ganh tỵ với người lạ sao lại được ưu đãi. Tôi làm lơ như không thấy…. Giúp được cho ai điều gì trong khả năng thì cứ giúp Tôi không nhớ rõ bao nhiêu ngày nhưng chắc hẵn là không dưới 10 ngày thì cầu phao mới làm xong, giữa cầu hình như là 2 vĩ sắt bắt trên trái nổi vì khi xe chay ngang qua vĩ sắt chìm xuống mặt nước khỏang 2 tấc.Mỗi lần sang sông chỉ một chiếc xe… Pháo địch tăng nhiều, phía đập Ðồng Cam tiếng súng vẫn ầm vang, nhiếu trái đạn chỉ cách cầu khỏang 10 mét, lòng sông đầy cát nên khi đạn nổ chỉ có nước và cát văng xa… Có mấy lần tôi chỉ đứng cách trái pháo chùng 5, 6 mét, cát văng lên mặt, tay rát rạt, anh em thảo luận rồi đồng ý lần lượt mỗi hàng xe một chiếc qua cầu, Trong hàng cử một quân nhân có dáng “Ngầu” cầm súng trước trước đầu hàng xe, tám người canh cho xe qua cầu, khi xe của người gác nầy qua cầu thì tóan lại cử người khác, cho tới 4 giờ chiều thì tôi được hàng xe đề nghị gác hàng xe với lý do trong hàng tòan lính trẻ, tôi có lon lá dễ ăn nói hơn. Ðám đệ tử sửa lại nón sắt cho tôi, một cây AR15 với 2 băng đạn, Trung sĩ Khâm còn màu mè gắn lên dây ba chạc tôi 2 trái mini lựu đạn, Khâm cũng không quên bẻ bâu áo cho lộ 2 bông mai ra ngòai… Nó cười cười :Trông Ông cũng ngầu lắm……Nhịp độ pháo của giặc tăng dần, Délô của tụi nó trong hàng quân nên độ chính xác ngày càng thấy rõ, lòng tôi thấy hồi họp lắm vì xe tôi đã tiến dần lên, thứ 10, rồi thứ9…hạ sĩ Ðặng Giác, nón sắt áo giáp, bên cửa xe treo lủnh lẳng cây M16 với 2 băng đạn, miệng ngậm điếu thuốc, tôi đi trước đầu xe hướng dẫn xe qua cầu, nước sông đã bắt đầu lớn, bấy giờ là 5giờ 20 chiều, trời lành lạnh và hòang hôn đã đến, 2 bánh xe trước chạm vào vĩ sắt, nước ngập gần nửa bánh xe… Ầm ầm, hai trái đạn nổ cách trung tâm cầu khỏang 5 mét, cát bay mù mịt, tôi mở mắt nhìn qua làn bụi … Nhờ ơn trên không sao …Ðề lô đang điều chỉnh gần chính xác cây cầu rồi… Tôi nhìn lên bờ thấy Chấn( khóa 3/68, cùng đơn vị)hàng xe xếp cách tôi khỏang 5 chiếc đang đứng nhìn tôi hướng dẫn xe, xe lên dốc lên bờ….Tôi khóac vội nước sông rửa mặt, và tự nhiên thấy tối sầm lại tôi vội ngồi xuống, thằng Khâm nhảy xuống xe xốc nách tôi lên xe… Có lẽ vì ăn uống thất thường,vì sau cơn đau kiết lỵ, vì mất ngủ và vì quá căng thẳng tôi bị suy nhược? Trời chiều xuống thật nhanh, đường rừng cũng tương đối bằng phẳng, rất nhiều xe tấp vào những gốc cây tạm nghỉ chờ sáng. Xe tôi cũng tìm một vị trí tương đối có nhiều xe chung quanh, tạm dừng chân. Trung sĩ Khâm trong tóan chính huấn bắt được một con bọ chắc là của ai sút chuồng, vợ chồng Khâm bận rộn lo nấu nướng, một bao củ hành tây sấy khô , thực phẩm của Mỹ , tôi cũng không hiểu Khâm tìm nó ở đâu, với con dao Khâm khéo léo lột da con bọ, Khâm nhìn tôi cười mĩm: -Lọai nầy phải làm khô chứ không rửa nước, tôi sẽ xào mặn nó với hành tây, ớt khô và muối. Trời tối thật nhanh, muổi bắt đầu tấn công dữ dội. Vợ Khâm, cô ca sĩ chính huấn cũng vừa xong nồi cơm, mấy gia đình chung xe cũng đã nấu xong cơm, bên ánh đèn pin , ánh sáng đủ tỏ soi rõ mặt mọi người… Mười mấy ngày nay mới dược ăn cơm ngồi đàng hòang, cơm nóng đúng nghĩa. Ðêm trong rừng lành lạnh, sau một đọan đường ăn uống thất thường, bệnh họan húp cháo mấy ngày, hôm nay được ăn cơm nóng với thịt bọ xào củ hành, tôi ăn thấy ngon miệng làm sao, làm 4 chén mà miệng còn muốn ăn nữa… Tôi nhớ tới những bữa giổ, ngày tết, tiệc cưới nhà hàng, những tiệc nhậu ở Thanh Hải, Lưởng Nghi, Biên Thùy… Chưa có bữa ăn nào mà tôi cảm thấy ngon như hôm nay. Ðêm nay trăng mười bốn lên sớm… Ánh trăng muôn thuở vẫn ngời sáng tuy có bị chút sương mù, tôi nhìn chung quanh, xe của các bạn đồng hành cũng đều cơm nước xong , mọi người đang chuẩn bị sửa sọan cho chỗ nằm, Tôi nằm trong cabin với tài xế để tiện việc luân chuyển lái xe, vì một người ôm vô lăng suốt ngày rất khó chu tòan…Tôi mồi điếu thuốc, nhả từng ngụm khói… Sài Gòn bây giờ ra sao? Tại sao Sài Gòn không có kế họach khả dĩ an tòan cho đòan quân di tản, hiện tại đài phát thanh Sài Gòn cũng như đài quân đội không có lấy một câu bình luận về việc rút bỏ quân đòan.Cô bé mắt nâu chắc là lo cho tôi lắm, mẹ tôi và ba tôi có lẽ suốt ngày cầu nguyện cho tôi,người chị thứ năm của tôi đang ở Hàm Rồng, chồng chị phục vụ trong Sư đòan 23, trung đòan rời Hàm Rồng lên Ban Mê Thuộc, không biết bây giờ chị tôi và 2 cháu nhỏ ra sau… tàn điếu thuốc, mắt tôi nặng, giấc ngủ tôi biết sẽ đến rất dễ dàng… Tôi đâu có biết sau giấc ngủ nầy, ngày mai tôi và các bạn đồng hành sẽ phải đi trên con đường đầy máu và nước mắt… Gian nan rồi cũng qua, chỉ còn lại là ký ức, vui, buồn, thương, hận… đâu dễ gì trong một sớm chiều mà nhạt phai . Tôi ngồi đây, viết lại những dòng chữ nầy, trước mắt tôi hình ảnh năm xưa hiện rõ trước mắt, Cuộc chiến nào mà không tàn khốc, tiếc cho quân đội miền Nam không thiếu anh hùng, không thiếu lòng can đãm….Nhưng cơ trời vận nuớc… Nguyện cầu anh linh quân dân cán chính bỏ mình trên lộ 7 sớm siêu thoát Thủy Lan Vy
Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Truyện ngắn Nàng cầm chặt chiếc điện thoại trong tay, đầu dây bên kia đã tắt mà giọng nói của anh như vẫn còn bên tai, vang vang lập lại trong đầu nàng như vọng âm từ một nơi nào xa xăm lắm : Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Nguyễn Thế Hoàng
Ðêm về sáng thật yên tỉnh. Hồng trở mình thức giấc. Nàng cảm thấy trong người ê ẩm mệt nhừ. Căn phòng vắng, chìm sâu. Chiếc quạt trần chạy vù vù, đều đặn trên trần nhà nhìn như muốn chóng mặt. Ðồng hồ trên tường phía trước mặt đã hơn 4 giờ sáng. Hồng kéo chiếc mền len lên kín toàn thân. Trong giây phút nàng thoáng chút ngỡ ngàng. Toàn cơ thể không một mảnh vải che thân. Bên cạnh Hồng, gã đàn ông đang ngủ vùi, cơ thể co quắp, trần truồng phát tởm. Giấc ngủ của gã hồn nhiên, say sưa, thỏa mãn. Bất giác Hồng rùng mình khi ngỡ rằng gã đàn ông này là chồng ! Chồng à !!? Sao lại là chồng được nhỉ ? Trông gã già đáng tuổi cha chú mà ! Gương mặt gã béo phệ, chảy dài. Các bắp thịt trên cơ thể gã un lên, cùng cái bụng to tròn lẵn đang rung rinh theo hơi thở đều đặn. Trông thật gớm ghiếc trước đống thịt ung úc biết cử động đã chiếm đoạt hồn xác của nàng thật thô bỉ. Hồng nhớ rất rõ đã hai lần gã làm tình với nàng trên chiếc giường ngủ này trong căn phòng của khách sạn lúc đầu hôm và giữa khuya. Hàng rào ngôn ngữ đã làm tê liệt những cảm giác ân ái. Gã chỉ hành động theo lớp lang, theo dục vọng sôi sục từng cơn trong cơ thể úc núc của gã. Gã hung hãn, táo bạo và ào ạt như con hổ vồ mồi khiến cho Hồng hết sức đau đớn vừa tủi nhục, chỉ biết chịu đựng và chết lịm từng hồi trong bắt buộc và chấp nhận lần đầu tiên trong đời bên cạnh một người đàn ông xa lạ. Hồng như muốn khóc và cảm thấy ghê tởm, uất hận. Nàng xoay mình ra phía ngoài không còn đủ can đảm nhìn gã. Hồng cần một sự yên tỉnh. Sự thật rất phũ phàng không như Hồng tưởng, đã được những gì khi đã mất hết. Những gì đã diễn tiến quá nhanh, không báo trước, không có sự chuẩn bị cũng vì sự nghèo hèn cơ cực. Gia đình Hồng rất nghèo, nghèo lắm. Mảnh vườn nhỏ là nguồn sống duy nhất của gia đình cũng đã bán. Hai công đất trồng hoa màu đã được cầm thế hai tháng nay để lấy tiền chạy thuốc cho mẹ đang mang căn bệnh ung thư đến hồi nguy kịch. Giờ chỉ còn mái nhà nhỏ nằm sâu trong vùng quê Tiền Giang và cũng có thể sẽ mang đi cầm thế để lo cho mẹ. Hồng may mắn vừa tốt nghiệp trung học phổ thông, không tiền học thêm, đành ở nhà kiếm việc làm. Nàng đã mất một số tiền lớn để có được một chân thư ký ngân hàng trong thành phố. Với đồng lương khiêm tốn ít oi vẫn chưa đủ hai bữa ăn no trong gia đình. Ông Năm, cha Hồng đã lớn tuổi già nua, đất, vườn đã không còn, hằng ngày phải đi làm thuê cho người dân trong vùng, ngày có, ngày không. Ðứa em gái của Hồng đã phải nghỉ học để làm đủ mọi thứ việc phụ giúp. Hai đứa em trai cắp sách đến trường, tiền sách vở, đóng góp này nọ cho nhà trường không tìm đâu ra nên việc học dở dang, đành ở nhà hái rau, bắt ốc, hoặc rong chơi lêu lổng đầu thôn đến cuối xóm. Mẹ Hồng nằm liệt giường đã hơn năm nay, mỗi ngày một gầy yếu, xanh xao. Tiền thuốc, tiền bác sĩ là một vấn nạn, nên bà nằm đó hàng ngày để chờ đợi cái chết từ từ đến. Hồng may mắn có đuợc nhan sắc khả ái, cơ thể tròn lẳn, đầy đặn của tuổi xuân. Nàng vẫn đang có những ước mơ của người con gái đang trưởng thành. Hằng ngày nàng phải gò lưng trên chiếc xe đạp từ trong quê ra thành phố để làm việc. Giấc mơ có được một chiếc xe gắn máy như bạn bè để làm phương tiện di chuyển cho đở bớt cực nhọc, nhưng thật xa vời ngoài tầm tay. Giờ rảnh, Hồng nhận may gia công, thêu máy và cặm cụi hằng đêm để thêm thu nhập cũng chẳng thấy khá hơn. Căn bệnh của người mẹ ngày thêm trầm trọng. Trước những khó khăn trong gia đình, Hồng vẫn đang có một niềm tin mãnh liệt bằng công sức mình và tin tưởng số mệnh và cơ trời có thể một lúc nào đó sẽ khá hơn. Hồng nghĩ rằng cuộc đời không có gì là khổ mà cũng chẳng có gì là sướng, tất cả, con người phải gánh vác để hoàn thành trách nhiệm trong danh dự. Hồng suy nghĩ để tạo một niềm tin và sức mạnh nghị lực hầu chịu đựng trước hoàn cảnh gia đình trong lúc khó khăn. Nhưng ông Năm, cha nàng lại nghĩ khác. Ông quá đau khổ nhìn người vợ đã bao năm chung sống đang nằm thoi thóp trên giường bệnh. Ông ước ao có được một số tiền lớn để đưa vợ đi Saigon chữa trị. Làm thế nào và bằng mọi cách để có tiền là điều ray rứt triền miên trong tâm trí ông. Một hôm sau bữa cơm chiều, ông tỏ bày suy nghĩ của mình với con gái : - Hồng à ! Mẹ mày không được đưa đi Saigon chữa bệnh, tao nghĩ bả sẽ chết mất. Mẹ mày chết tao làm sao sống nổi hả Hồng ? Hồng buồn rầu khi nghe cha than vắn thở dài : - Biết làm sao bây giờ ?! Con nghĩ ai thương cho mình vay một số tiền rồi mình làm kiếm trả lại. Nghĩ cũng khó.. Ông Năm hậm hực : - Không dễ gì...ai mà cho mượn. Bệnh của mẹ mày cần một số tiền lớn mới mong được con ơi ! - Vậy thì đào đâu ra. Con nghĩ chẳng còn cách nào nữa cả. Ông Năm lại thở dài thườn thượt, nét mặt đăm chiêu tư lự. Hồi lâu ông đã thấy như đã đến lúc bày tỏ ý định với con. Ông Năm nhìn Hồng đang ngồi, hai tay ôm mặt gục trên đầu gối trông dáng vẻ bất lực thảm hại. - Hồng à, mày nên lấy chồng để có tiền chữa bệnh cho mẹ mày. Mày biết không ? - Lấy chồng là sao ba ?- Hồng ngạc nhiên - Con lấy chồng gia đình bỏ cho ai. Má con đang bệnh nặng cần phải có con trong gia đình. - Lấy chồng Ðại hàn - Ông Năm nói nhanh - Lấy tụi nó sung sướng, giàu sang. Ðầu trên, xóm dưới cũng đã có mấy gia đình có con gái lấy chồng Ðại hàn, Ðài loan, mày không thấy sao ? Nghe lời tao để cho mẹ mày được sống thêm vài năm nũa. Mày phải lấy chồng. Mọi việc tao đã suy tính đâu vào đó rồi. Hồng lắc đầu từ chối, van xin nhiều lần, nhưng ông Năm gằn giọng ra lệnh : - Mày không được cãi lời cha mẹ. Mày có thấy mẹ mày đang rên la và đau đớn từng cơn hằng ngày đó không ? Làm con phải thương cha thương mẹ chứ. Gia bần tri hiếu tử. Quốc loạn thức trung thần. Mày hiểu chưa ? Tao đã quyết định phải cứu nguy gia đình này. Mày ừ một tiếng là tao có hai ngàn đô la trong tay để đưa mẹ mày đi chữa bệnh. Nghe chưa con ? Hồng chẳng biết phải làm thế nào trước quyết định tối hậu của gia đình đã làm cho nàng hụt hẫng chới với. Dịch lấy chồng Ðài loan, Ðại hàn, Miên, Lèo, Tàu, Nhật, Ma cao, Hón kóng gì đó... mà Hồng đã từng nghe thấy đâu có tốt lành gì đâu. Mười người hết chín người phải chuốc lấy ân hận, nhục nhã, thân tàn ma dại. Nàng cảm thấy gớm ghiếc, chua xót và xấu hổ cho thân phận người phụ nữ Việt Nam trong cái xã hội nhiễu nhương đảo điên hôm nay. Hồng cố tránh không muốn nghe, không muốn biết, không muốn nhìn thấy hiện trạng đồi bại của thời đại. Vậy mà bây giờ Hồng lại không tránh khỏi. Căn bệnh trầm trọng đang sắp kết thúc cuộc sống của người mẹ già thân yêu, cảnh nghèo khó của gia đình và quyết định tối hậu của người cha đang làm cho Hồng phân vân không còn lối thoát. Không muốn cũng không được. Mà muốn thì...ôi thôị.!! mười hai bến nước chẳng trong trẻo gì, đều vẩn đục, dập vùi tan nát những ước mơ của tuổi xuân. Hôm sau, ông Năm giục Hồng làm đơn xin nghỉ việc để chuẩn bị lấy chồng, cho dù Hồng vẫn van xin nhưng ông Năm không lay chuyển ý định. Cuối cùng thì Hồng đành chấp nhận trước sự cưỡng bách không một lý giải của gia đình đang trên đà suy sụp. Vài ngày sau đó, một buổi trưa bà Tuyết chẳng ai xa lạ cũng là dân trong thành phố này chuyên nghề môi giới dịch vụ lấy chồng nước ngoài đã đến nhà Hồng dẫn theo một lão đàn ông Ðại hàn lớn tuổi, béo phệ xưng Yoonun Sacomoki. Cùng đi còn có thêm một người đàn bà Hàn quốc lớn tuổi Misano Hoon. Ông Năm vui vẻ tiếp ba người khách đến nhà với mục đích xem mặt "cô dâu". Hồng được gọi ra trình diện với mọi người. Vừa thấy nàng, Yoonun Sacomoki cười đắc ý và chấp nhận ngay. Bà Tuyết xin gia đình cho Hồng đi Saigon chơi với mọi người ngay buổi chiều nay. Bà hứa với ông Năm chừng vài hôm sau công việc xong xuôi là sẽ giao tiền cho ông như đã bàn tính tháng trước. Mọi việc để bà lo, gia đình phải an tâm và tin tưởng ở bà. Bà Tuyết lại khuyến dụ Hồng là nàng hết sức may mắn gặp được chồng giàu. Ông Yoonun là một đại thương gia Hàn quốc độc thân đang có những dịch vụ làm ăn lớn giữa Việt Nam và Hàn quốc. Rồi con sẽ có một cuộc sống hạnh phúc, nhà cao cửa rộng, tiền vào tiền ra, gia đình nở mày nở mặt. Kể từ giờ phút này dì nói điều gì là con phải nghe và làm theo dì, đừng có cãi lại. Ðến Saigon ngay buổi chiều trong ngày, Hồng được đưa đi mua sắm một số quần áo hợp thời trang, giày dép, son phấn, và cổi bỏ ngay lớp y phục quê mùa dân dã, để khoác vào lớp trang phục, trang sức rực rỡ. Hồng đẹp lồng lộng quyến rũ. Sau đó Hồng được đưa đi ăn tối tại một nhà hàng sang trọng. Lúc này Hồng có vẻ như bớt lo sợ, dù sao họ cũng đối xử tốt và bên cạnh còn có bà Tuyết người cùng quê quen biết. Sau bữa cơm tối thịnh soạn và ngon miệng, lão Yoonun biến mất. Bà Tuyết và Misano đưa Hồng đến một khách sạn và bảo nàng : - Ðêm nay con phải ngủ với Yoonun Sacomoki, chồng con, vì ông ấy đã bằng lòng lấy con làm vợ rồi đó. Con thấy không ? Ông Yoonun rất tốt bụng, chưa chi đã lo cho con từng thứ. Rồi con sẽ sung sướng bản thân. Dì và bà Misano ở phòng bên này, không sao cả, đừng sợ. Con hãy tập làm vợ với đại thưong gia giàu có Yoonun ngay bây giờ đi. Hồng dảy nảy van xin : - Con không chịu đâụ..Chưa gì mà...nhanh vậy ?...ai lại làm như thế. Tội nghiệp con mà dì. Con xin dì thương...con van dì... Bà Tuyết bổng đổi sắc mặt, quắc mắt ra lệnh : - Con phải ngủ với Yoonun ngay đêm nay. Ông ấy cần biết con có còn trinh hay không rồi ông ta mới quyết định làm đám cưới. Không được cãi lời. Hồng tiếp tục van xin nhưng vô vọng.Cuối cùng bà Tuyết đẩy Hồng vào phòng ngủ : - Mày đừng ươn ngạnh cứng đầu con à ! Muốn sung sướng tấm thân phải nghe lời bà. Cứ cố giữ cái "ngàn vàng" để được ích gì hả con..? Vừa lúc ấy lão Yoonun xuất hiện bước vào phòng và khóa cửa lại. Gã vênh váo nhìn Hồng trong ánh mắt sòng sọc một cách thèm khát trước cơ thể no tròn đầy khiêu gợi của Hồng.và rất thản nhiên, gã khởi sự trình diễn tấn tuồng nham nhỡ đang băng hoại giữa một xã hội đảo điên biến loạn. Hồng cảm thấy nhức nhối tinh thần tột độ.Thể xác trinh trắng giờ sắp phải bị hoen ố trước nỗi bất lực của cuộc sống. Lúc đầu Hồng đã có những cử chỉ từ chối, thối thoát, tránh né, nhưng trước sức cưỡng bức thô bạo của lão già Ðại hàn, Hồng đã không còn đủ sức, đành phải xuôi tay... Thôi hết rồi ! Hết rồi ! Tấm thân trong trắng ngọc ngà đời con gáị..đang phải bị vùi dập, phó thác theo định mệnh. Cuộc đời là một thử thách không ngừng trong nhiều ngõ ngách không ai lường trước được. Hãy buông xuôi và tìm quên để được sinh tồn vì bản thân và cho gia đình người thân. Tiệc cưới đơn giản gấp rút được tổ chức tại nhà hàng sau một tuần lễ Hồng phải ép mình ăn nằm với Yoonun từng mỗi đêm tại khách sạn. Lão già Ðại hàn dữ dội và táo bạo kinh quá. Từng đêm Hồng đến phải ngất ngư với lão. Cơ thể mệt nhừ ê ẩm, có hôm Hồng không còn ngồi dậy nổi. Lúc nào lão ta cũng huênh hoang với bà Tuyết rằng lão đã chiếm được chữ trinh của Hồng thật trọn vẹn. Chính đó là điều hên cho cuộc đời làm ăn của lão. Lão khoác lác hứa hẹn đủ điều. Bà Tuyết và Misano tổ chức tiệc cưới theo qui định của Yoonun.Thực khách tham dự hạn chế, vỏn vẹn chưa tới ba mươi người. Gia đình Hồng gồm có ông Năm, mấy đứa em và vài người thân thuộc. Hồng được trang điểm lộng lẫy trong y phục cô dâu trẻ măng bên cạnh chú rễ già nua, béo phệ để được quay phim chụp hình. Mọi người ăn uống cười nói trong tiệc cưới vô cùng thỏa thích trước nỗi chua xót của Hồng để chúc mừng lão già Ðại hàn chiếm được gái tơ Việt Nam. Yoonoon cười híp mắt sau khi đã đeo vào cổ Hồng sợi dây chuyền bằng vàng tây có mặt hột xoàn lớn, chiếc nhẫn nạm bốn hột xoàn óng ánh, đôi bông tai cũng hột xoàn và một đồng hồ mạ vàng sáng bóng. Lão ghì chặt và hôn Hồng say đắm trước tiếng vỗ tay ào ạt của thực khách. Hồng như biến mất trong vòng tay và cơ thể phì nộm của Yoonun phũ lên người. Ông Năm tỏ ra rất vui và bằng lòng việc con gái của ông lấy chồng ngoại quốc. Ông thầm cám ơn bà Tuyết và ông con rễ cũng bằng tuổi ông sẽ mang hạnh phúc đến cho gia đình ông. Ông cảm thấy phấn khởi cho sự thành công mà gần tháng nay ông đã dự tính. Thỉnh thoảng ông nói chuyện lia thia với bà môi giới đã giúp cho con gái ông từ chỗ nghèo khó trở thành giàu sang trong nháy mắt. Con gái ông rồi sẽ cai quản tài sản của chồng, thế nào gia đình ông cũng được chia chát chút ít. Mai mốt lão chàng rễ già nua kia qua đời, con gái ông sẽ sở hửu khối tài sản của chồng để lại. Rồi ông thầm suy tính số nữ trang Hồng đang có trên người cũng đã là một số tiền rất lớn, mà cuộc đời ông chưa bao giờ nghĩ đến để có được. Rồi sau tiệc cưới ông sẽ có trong tay hai ngàn đô la nữa, hơn ba mươi triệu đồng Việt Nam theo như lời hứa của bà Tuyết. Ông nghĩ rằng bà Tuyết cũng sẽ có một số tiền mà ông con rễ của ông trả công. Có tiền ngày mai ngày mốt ông sẽ đưa vợ đi chữa bệnh. Cuộc sống gia đình nghèo khó vất vả sẽ không còn. Ông không phải còn đi làm thuê cơ cực ngày có ngày không. Mấy đứa nhỏ tiếp tục đi học. Nhất định là con gái của ông sẽ cung cấp tiền bạc, sẽ xây nhà, sẽ mua lại ruộng vườn và còn nhiều thứ nữa một khi nó là vợ của đại thương gia Yoonun. Ông Năm mĩm cười mãn nguyện nhìn mọi người trong giữa bữa tiệc với ánh mắt rạng rỡ tràn trề niềm vui trước viễn tượng cuộc đời đang chuyển hướng tốt. Ông vẩy Hồng đến bên cạnh : - Mày thấy chưa hả Hồng ? Tao tính đâu là ra đó. Trước đây mày cứ khăng khăng từ chối. Bây giờ thì có ai bằng được như mày lúc này hả con ? - Hồng lại phân trần : - Ba chỉ nhìn thấy đó rồi nói đó. Chứ con thấy thế nào đãy. Ông ấy già bằng tuổi ba, ông ấy ghê lắm ba à ! Trời ơi ! con tởm ổng quá. Ông Năm thầm hiểu ý con gái muốn nói gì rồi và tỏ ý thương xót : - Thôi, thì mày cứ ráng đi, có chết chóc gì đâu mà sợ, già với trẻ. Có tiền là có hạnh phúc, có được tất cả. Cả nhà đang trông vào mày đó Hồng ơi. Mày nghĩ coi, tụi trai tráng ở dưới quê làm gì cho ra hột xoàn để mày đeo. Nghìn đời cũng chưa có nổi. Lúc còn con gái má mày cũng ước hột xoàn làm gì có mà đeo. Tao đâu có tiền sắm cho bả. Hồng chống chế : - Con là con gái mới lớn lên mà ba, con chỉ thích lấy chồng đồng trang lứa. Hơn nữa, con không thích lấy chồng nước ngoài, lại quá lớn tuổi. Thanh niên Việt Nam đâu có thiếu gì, bạn bè rồi chúng cười chê con là ế chồng, đi đâm đầu lấy Ðại hàn, Ðài loan, Trung quốc, Hồng kông, Kampuchiạ..toàn là bọn già nua, đui, què, mẻ, sứt, bất lực, ngu dốt, nghèo hèn, đần độn, cụt tay, cụt chân, mất năng lực... Ông Năm nạt ngang : - Mày có im cái mồm không Hồng ? Ông Yoonun là đại thương gia đâu phải dân nghèo. Ðại thương gia nhất định là giàu có. Cứ lải nhải mãi chuyện gì đâu không. Người ta khác, mình khác con ạ. Vừa lúc Yoonun bước đến nắm tay Hồng kéo đi. Ông Năm muốn nói một điều gì đó với ông con rễ mà nói không được, ngôn ngữ bất đồng. Thôi thì cứ ngậm miệng ăn tiền. Ông chỉ cười, nụ cười vừa gượng gạo vừa sượng sùng. Hồng cũng không nói được gì, quay mặt đi như muốn tránh những ánh mắt soi bói nhìn nàng. Yoonun cười lớn nhìn ông Năm với ánh mắt khinh miệt, lão ta xổ một tràng tiếng Hàn dài ngoằn ngoèo nghe chói tai rồi lại ôm choàng lấy Hồng hôn say sưa truớc mặt những người trong gia đình ông Năm. Ông Năm quay mặt đi trước cảnh lộ liễu ấy. Thực khách lại vỗ tay ầm ỉ lẫn tiếng dô ! dô ! nham nhỡ. Bàn tiệc đậm đặc mùi rượu, thuốc lá, pha trộn những giọng cười hô hố của những tên Ðại hàn, Ðài loan xa lạ. Hồng nghe rờn rợn cả người. Thật ghê tởm, như muốn nôn mửạ..! Tiệc cưới tàn dần sau những ngày tháng kế tiếp Hồng bị giam hãm trong một ngôi nhà ở ngoại ô Saigon. Ngôi nhà có nhiều phòng riêng biệt. Ngoài căn phòng mà Hồng bị nhốt trong đó, bà Tuyết và Misano có một phòng khác. Họ thực sự không ăn ở tại đây, nhưng họ luân phiên có mặt để coi ngó và canh chừng những cô gái lấy chồng Ðại hàn, Ðài loan cũng đang bị nhốt tại đây. Hằng ngày Hồng bị bắt buộc học tiếng Hàn do Misano hướng dẫn. Cơm nước ăn ở ngay trong phòng. Hồng cũng như các cô gái ở đây không được ra khỏi nhà, không được tiếp xúc với nhau. Cần điều gì chỉ được hỏi Misano hoặc bà Tuyết, không được tự ý làm bất cứ điều gì mà không xin phép. Lão chồng già Yoonun thường đến ban đêm chỉ để thỏa mãn dục vọng với Hồng cho đến sáng hoặc đến nửa đêm rồi chuồn mất. Có khi lão đến bất ngờ ban ngày nồng nặc mùi rượu và Hồng phải chịu đựng những giờ phút làm tình của lão. Những lúc kề cận bên nhau, chồng nói chồng nghe, vợ nói vợ nghe vì hàng rào ngôn ngữ bất đồng. Hồng thường bị ăn đòn vì những thái độ không vừa ý với Yoonun. Càng ngày Hồng càng bị đối xử tồi tệ. Hằng tuần Hồng chỉ được nói chuyện điện thoại với gia đình ở quê năm mười phút dưới sự giám sát của bà Tuyết. Những lần đó ông Năm nhắc Hồng nhờ bà Tuyết hỏi số tiền mà Yoonun hứa sau tiệc cưới để đưa mẹ đi chữa bệnh. Bà Tuyết trả lời là ông Yoonun đang kẹt tiền, chịu khó chờ. Chờ rồi chờ mà thôi. Có những lúc Hồng phân vân suy nghĩ về thực tại trước mặt. Trước sau là điều duy nhất nàng đã phải cam tâm bán rẻ tấm thân để mong cứu vớt gia đình, cứu mạng người mẹ. Không lẽ họ lừa dối, dàn cảnh để dụ dỗ chiếm đoạt nàng. Không lẽ họ chia nhau hưởng thụ không những trên thân xác mình mà ngay cả người thân trong gia đình đang trở thành những nạn nhân nghèo đói bần cùng. Một tháng trôi qua, đột nhiên lão chồng già không đến với Hồng như thường lệ. Hồng cảm thấy có điều gì bất thường đang xảy đến. Hồng lo sợ, quyết gặp bà Tuyết hỏi cho ra lẽ : - Ông Yoonun bận việc gì mà không thấy đến hả dì ? - Ông ấy về nước được tuần rồi. Mà con hỏi làm gì, nhớ ông ấy rồi hả ? - Chừng nào chồng con trở lại Việt Nam để đưa con về bên ấy ? Sao dì không nhắc ông ấy về dưới quê ký giấy kết hôn mà trong tiệc cưới ông ấy đã hứa, dì còn nhớ chứ ? Bà Tuyết giọng đanh đá : - Mày ngu lắm Hồng ơi ! Lấy thì lấy, mà bỏ thì cứ bỏ. Có ký mười lăm hai mưoi giấy kết hôn cũng bằng thừa con ạ. Mày chẳng có quyền đòi hỏi điều gì. Ðúng là mày đồ ngu. Hồng sửng sốt trước lối nói hàng hai, phách lối : - Dì nói thế nghĩa là thế nào hả dì ? Bà Tuyết quắc mắt, sừng sộ : - Ðồ ngu ! Vậy mà cũng hỏi. Chờ lão chồng già qua mà hỏi. - Chừng nào ông ấy qua hả dì ? - Không biết. - Còn số tiền hai ngàn đô la ông ấy hứa chừng nào mới có hả dì ? Má con đang bệnh nặng cần tiền chữa bệnh, dì biết chứ ? Bà Tuyết nổi nóng, gầm lên : - Mẹ mày bệnh thì mẹ mày bệnh đâu can dự gì đến tao hả con kia. Còn chuyện gì thì hãy chờ lão chồng già của mày trở qua mà hỏi. Công việc làm ăn của bọn tao coi như đã trọn gói với mày rồi theo hợp đồng với Yoonun. Hồng cảm thấy choáng váng chóng mặt. Nàng muốn bật khóc trước sự gian ác của người đời. Hồng bậm môi cố dằn cơn tức giận và nước mắt đang trào ra. Vừa lúc ấy bà Misano bước vào phòng nói nhỏ điều gì với bà Tuyết. Chập sau, bà Tuyết dịu giọng với Hồng : - Này Hồng, dì nói con nghe nhé. Dì cho con trở về dưới quê tìm vài bạn gái dẫn lên giới thiệu cho dì. Thành công, dì sẽ lo cho con lấy số tiền hai ngàn đô la, lo giấy tờ kết hôn, và lo cho con về với chồng ở Hàn quốc. Hồng nghĩ thầm, à ra chúng nó lại đang dụ khị mình đây. Giờ thì Hồng chẳng còn tin những lời hứa đầu môi chót lưỡi của mấy mụ môi giới này nữa. Nàng uất người nói xối xả : - Bà đừng có hòng tôi làm điều đó. Chẳng bao giờ và không bao giờ tôi để cho một người con gái nào khác sẽ phải đau khổ lọt vào cái ổ nhền nhện này. Xã hội này đang băng hoại và đảo điên tột cùng bởi những bàn tay nhơ nhớp bẩn thỉu của các bà. Tôi sẽ đi thưa để công lý xét xử. Bà Tuyết trề môi, kênh kiệu : - Ðừng con ạ, thưa với kiện mà làm gì. Ai cũng như ai, ăn thì ăn đồng loạt, có trên có dưới, lấy ai mà xét xử. Tiền mà, ai lại không ham. Ðụng đến là tan xương nát thịt đó con ạ. - Ðược rồi, bà không thách tôi cũng làm cho bà coi. Hồng vừa dứt tiếng nói liền bị bề hội đồng, đấm, đá, tát vào mặt mày nàng liên hồi. Hồng không kịp chống đở. Nàng ngã quỵ xuống sàn nhà bất tĩnh. Văng vẳng bên tai tiếng nói của bà Tuyết : - Bà sẽ nhốt mày trong phòng này cho mày chết rục xương để xem mày làm gì cho biết. Ðồ phản chủ ! Tiếp theo là giọng cười chát chúa nghe thật rùng rợn.Tiếng khóa cửa bên ngoài lắc cắc và im lặng. Suốt buổi chiều và đêm hôm qua Hồng tỉnh dậy và cảm thấy nhức nhối ê ẩm toàn thân. Bụng đói, đôi môi khô cứng. Lại thêm một ngày nữa đi qua, không được ăn uống, không được làm vệ sinh, không ai hỏi han, tứ bề vắng lặng thật ghê rợn. Hồng như đang bị cách ly với đời sống bên ngoài. Trước thực tế này không lẽ nằm chờ chết, và nàng đang suy tính tìm cách trốn thoát. Nhìn quanh quẩn chung quanh phòng để tìm một tia hy vọng nhỏ nhoi tự cứu bản thân nhưng vô phương. Kêu la, cầu cứu chẳng ai nghe mà còn có thể bị đòn roi, đấm đá. Chắc chắn họ không còn đối xử tình người với nàng trước món đồ mua bán, trục lợi và hưởng thụ. Hồng quyết liệt liều mạng bằng tất cả sức lực để trốn thoát khi có cơ hội. Phải rời khỏi nơi này ngay để đem số nữ trang mà Yoonun đã đeo vào người Hồng trong tiệc cưới để bán đi chữa bệnh cho mẹ. Số nữ trang đem bán, gia đình sẽ có một số tiền lớn giải quyết mọi chuyện cần thiết. Sau đêm tiệc cưới Hồng đã cẩn thận gói tất cả số nữ trang vào một mảnh vải nhỏ và luôn luôn cất giữ trong người. Nàng biết rằng đó là của riêng mà Yoonun đã tặng cho mình. Thường lệ những lần kề cận với lão già Ðại hàn, Hồng chỉ lo ngại Yoonun để ý hỏi đến số nữ trang trong tiệc cưới. Nhưng tuyệt nhiên chuyện ấy không bao giờ xảy ra kể cả hai bà môi giới đang canh chừng kiềm kẹp Hồng. Họ không mảy may chú ý hỏi han, Hồng càng an tâm và vững tin số của có được đã như đánh đổi cuộc đời con gái trong trắng thật rẻ mạt. Thôi thì được gì, mất gì đều do sắp đặt của định mệnh. Thoát khỏi nơi này rồi tìm cách liên lạc với chồng, dù sao một ngày gần nhau cũng là tình nghĩa. Bảy giờ tối. Hồng miên man trong những suy nghĩ chập chờn thì cơ hội đã đến. Tiếng mở khóa lách cách bên ngoài cửa phòng. Hồng vụt ngồi dậy tiến nhanh tới cửa vừa lúc bà Tuyết bước vào phòng. Hồng vận dụng tất cả sức mạnh bất ngờ xô mạnh bà ta té ngã chúi nhủi vào góc phòng, rồi thoát nhanh ra ngoài, đóng mạnh cánh cửa và khóa lại. Tiếng thét gầm của bà Tuyết vọng ra nghe thật khủng khiếp. Hồng chạy vút ra đường lộ và lẩn nhanh vào đêm tối ẩn mình, lần mò tìm phương tiện về Saigon. Sau hai ngày Hồng mới về đến quê. Ông Năm và cả nhà mừng rỡ khi thấy Hồng trở về sau gần hai tháng xa nhà. Ðến lúc nhìn sắc diện tiều tuỵ của con gái, người gầy rạc, quần áo thốc thếch cả nhà đâm ra lo lắng, xót xa hỏi nàng tới tấp. Những người hàng xóm tò mò kéo đến, ông Năm đóng cửa ngõ và xua đuổi họ về nhà. Hồng nằm vật xuống giường khóc thãm thiết. Nàng lần lượt kể rõ mọi chuyện. Cuối cùng nàng đưa số nữ trang cho ông Năm và tức tưởi nói trong tiếng khóc: - Cuộc đời của con chỉ còn có bao nhiêu đó. Ngày mai ba đem bán chữa bệnh cho má con. Nếu dư ra thì lo cho gia đình. Ông Năm buồn buồn cầm gói nữ trang từ tay Hồng và mở ra. Ðôi mắt ông sáng lên khi thấy sợi dây chuyền có mặt hột xoàn, chiếc nhẩn nạm bốn hột xoàn nhỏ óng ánh, đôi bông tai cũng hột xoàn mà trong buổi tiệc cưới hơn hai tháng qua ông đã nhìn thấy. Ông cũng đã ước tính nếu bán đi sẽ có được một số tiền lớn ngoài sức tưởng tượng mà suốt cuộc đời ông chưa bao giờ nhìn thấy. Ông Năm đang có suy nghĩ rất nhanh cho những gì sẽ phải làm. Trên chiếc giường tre ọp ẹp phía bên trong, bà Năm với thân hình gầy đét, vừa nghe nói đến hột xoàn bà cũng ráng gượng ngồi dậy lê từng bước mệt mỏi đến bên cạnh chồng chộp lấy số nữ trang trong tay chồng rồi đưa lên tận mắt để quan sát, nhìn cho rõ. Tiếng Hồng nghe mệt mỏi : - Ba à, bây giờ con cảm thấy lo sợ. Bà Tuyết dám đến đây làm giặc với gia đình mình. Chắc chắn như vậy, Nghe con gái than thở, ông Năm trấn an : - Có gì phải sợ con mẹ đó. Bà ấy mà đến đây hả, tao báo công an xã đến còng đầu nó về tội hành hung và lường gạt. Bà Năm ngập ngợ nhìn ông Năm và Hồng : - Sao tui thấy hột xoàn...kỳ cục quá nè ! Dám hột xoàn giả lắm ông ơi ! Cả sợi dây chuyền, chiếc nhẩn và đôi bông nữa. Ông Năm hứ một tiếng trấn áp vợ : - Bà biết gì giả với thiệt. Cả đời bà có nhìn thấy nó đâu mà dám cho nó là giả. Không lẽ ông ấy lại đi lường gạt...mình. Nghe cha mẹ phân bua hột xoàn giả, thiệt, Hồng giựt mình phân vân. Thật ra thì cả nhà chẳng có ai cả đời nhìn thấy được hột xoàn bao giờ. Hồng như chợt nhớ ra điều gì, nàng nói nhanh : - Chính bà Tuyết đã nói với con trong tiệc cưới là ông Yoonun đã nhờ bà và Misano đi mua số nữ trang này. Ông Năm bật ngửa người hốt hoảng : - Thôi rồi !..mà chắc gì...có thể họ dở trò ma giáọ...mà không biết ai đây. Ông Năm vội lấy chiếc lá đội lên đầu, réo Hồng : - Ði ! đi với tao để rõ thiệt hư. Tao nóng lòng muốn biết ngay. Tại tiệm kim hoàn, người chủ tiệm sau khi xem xét kỹ đã bảo với cha con ông Năm số nữ trang này là đồ giả. Bây giờ ông Năm mới cảm thấy choáng váng. Miệng ông há hốc, đôi môi run run, mắt nhìn trân trân vào số nữ trang mà ông đã đặt hết kỳ vọng. Ông lảo đảo bước ra khỏi tiệm như người mất hồn bên cạnh đứa con gái đáng thương đang khủng hoảng tinh thần không còn nói được lời nào. Trước mặt hai người cảnh vật mờ ảo, lung linh... Những ngày sau đó, bầu không khí trong gia đình hết sức nặng nề và ảm đạm. Hồng bắt đầu oẹ mửa, triệu chứng có thai, kết quả của một chịu đựng miệt mài từng đêm với lão già Hàn quốc chỉ cố mong sao có được tiền cứu vản gia đình. Trước thãm cảnh gia đình đen tối suy sụp, Hồng hoàn toàn bất lực . Ông Năm mỗi ngày càng ít nói, lầm lì. Hằng ngày ông lặn lội làng trên xóm dưới tìm việc làm. Những lúc rảnh rổi ông uống rượu liên miên giải sầu. Ông tự cảm thấy bất lực trước gian kế tinh vi của người đời. Ông mặc cảm tội lỗi đã trót tiếp tay hãm hại đời con gái của ông cũng chỉ vì cái nghèo, vì luân lý suy đồi của xã hội nhiễu nhương, điên đảo đã nảy sinh những tệ trạng hư hỏng chỉ có dân nghèo hứng chịu triền miên. Cái thai mỗi ngày mỗi lớn dần làm cho Hồng càng mệt mỏi. Hằng ngày Hồng đạp xe đi khắp các vườn mua góp trái cây chở ra chợ bán. Hồng cố gắng dành dụm tiền để lo sinh nở. Ðôi lúc Hồng có suy nghĩ lên Saigon tìm hai bà môi giới hỏi thăm tin tức của chồng xin họ giúp đở vài điều cần thiết, nhưng chỉ suy nghĩ mà không dám thực hiện. Hồng mướn người gọi điện thoại bằng tiếng Hàn, mướn người dịch thư ra tiếng Hàn gởi cho chồng yêu cầu Yoonun qua Việt Nam ký giấy kết hôn, lo đứa con sắp sanh và đưa vợ con về Hàn quốc. Thế nhưng đã mấy lần gọi điện thoại, đã mấy lá thư gởi đi nhưng không được hồi âm. Ðã không kết quả gì mà còn phải chi mất một số tiền lớn Hồng phải vay mượn người khác. Có người chỉ dẫn ông Năm và Hồng làm đơn tố cáo, nhưng đơn gởi đi nhiều tháng cũng chưa thấy Nhà Nước hỏi han cứu xét. Trước cảnh khốn cùng mất trắng của gia đình và bệnh tật trầm trọng không thuốc men, bà Năm qua đời khi Hồng gần đến ngày sanh. Quá đau đớn cho những cơn uất hận dồn dập phũ chụp xuống gia đình đã không kiềm chế được, vừa nghe tin bà Tuyết từ Saigon về, ông Năm tức tốc tìm đến nhà để vấn tội bà dụ dỗ rồi đánh đập Hồng, vụ nữ trang giả, và nhất là số tiền hai ngàn đô la mà Yoonun hứa cho gia đình ông có thể bà ta cuỗm mất để tất cả đã làm cho gia đình ông mất trắng. Thấy cha đi một mình, Hồng tất tả chạy theo. Vì sức yếu thế cô, ông Năm đã bị bọn lâu la của bà Tuyết bề hội đồng một trận ngã sấp xuống đất bất tỉnh , mặt mày bê bết máu, thương tích đầy người. Hồng nóng lòng bênh cha, cũng bị bọn chúng đánh đến sẩy thai phải đi nằm bệnh viện. Kết quả giấc mơ đổi đời đã hoàn toàn mất trắng. Giờ đây giữa khu xóm nghèo tăm tối, cứ vào khoảng nửa đêm, dáng ông Năm như một bóng ma trơi, ông ngồi bệch giữa sân nhà gào thét chửi bới. Ông chửi lũ quan to quan bé chăn dắt dân chỉ biết ăn trên ngồi trốc vơ vét đầy túi tham mà không bao giờ đếm xĩa giải quyết những khiếu cáo, khiếu kiện của người dân thấp cổ bé miệng, không ngăn chặn trừng trị và không can thiệp khi người dân bị áp bức khủng bố. Ông chửi cái chế độ mục nát đã dung túng bao che những tệ nạn xã hội, bán trôn nuôi miệng đang tràn lan cùng khắp như một dịch bệnh. Ông chửi lũ cai trị bất lực không ngăn chặn, nghiêm trị và còn toa rập tệ trạng buôn bán, dụ dỗ phụ nữ Việt Nam đi làm nô lệ tình dục ở nước ngoài. Ông chửi ....và ông chửị...một cách vô vọng, vô tội vạ....tiếng chửi bới, gào thét của ông vang vọng trong màn đêm tăm tối, rồi chìm sâu vào bóng đêm, nào ai có biết. Chỉ có Trời biết mà thôi ! Nguyễn Thế Hoàng
11. Lòng Nhân Ðạo của người Việt Nam
Phạm Hy Sơn
Lòng nhân đạo là lòng thương người , đối xử tử tế, giúp đỡ người hoạn nạn , không bao giờ hành hạ hay làm người khác đau khổ dù bằng lời nói hay việc làm . Sau này có những viện cô nhi , viện dưỡng lão do nhà chùa hay các bà phước dựng lên nuôi trẻ mồ côi hoặc người già không nơi nương tựa . Bên cạnh đó , hi tương trợ , tương tế của các giòng họ , của các hi đoàn , nghề nghiệp , địa phương luôn luôn tồn tại .
Ơn Nghĩa của Người Việt Nam Từ xa xưa gia đình Việt Nam nhà nào cũng có bàn thờ Tổ tiên để ở nơi trang trọng nhất , tức là ở gian giữa nơi cửa chính của ngôi nhà mình ở để thờ cúng và tỏ lòng biết ơn tiền nhân . Vì vậy người Việt làm nhà 3 hay 5 gian , không làm 4 gian , 6 gian . Ðiều đó dễ hiểu vì nếu làm 4 gian hay 6 gian thì không có gian chính giữa để bày bàn thờ tổ tiên . Sau này các tôn giáo du nhập vào , nhất là Thiên Chúa giáo với những giáo điều nghiêm ngặt , các gia đình công giáo vẫn đặt bàn thờ tổ tiên bên cạnh bàn thờ Chúa . Rất nhiều người Việt hiện nay không theo đạo nào ngoài đạo thờ cúng tổ tiên . Ðó là đạo chung của người Việt . Cao hơn nữa là Quốc Tổ . Hiện nay dù lương hay giáo tới ngày 10 tháng 3 ẠL. đều tham dự hoặc tưởng nhớ tới vị Quốc Tổ Hùng Vương đã có công lập ra đất nước và truyền lại cho con cháu ngày nay : Người Việt chúng ta coi ơn nghĩa nặng lắm . ( Người Việt Chúng Ta) Phạm Hy Sơn
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. Tranh Thành Lễ
V . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Xin cáo lỗi cùng độc giả .
Chương 7
Dưới thung lũng, nơi bãi cỏ lưa thưa vừa đủ rộng. Khói xanh bay lên, báo hiệu bãi đáp an toàn. Trực thăng đáp xuống, tiếng máy nô? kêu ầm ầm, cánh quạt quay tít mù, tung đầy bụi đất, tạo thành luồng gió lốc xoáy tròn, dâng tít lên cao, cuốn theo bao nhiêu giấy má rác rưởi lên trời.
Mấy quân nhân từ trong chân đồi chạy ra, cúi rạp người xuống, đầu ho. ngả về phía trước, lom khom bước nhanh đi. Tay ho. giữ chặt nón đội đầu. Có người bị hắt về phía sau theo chiều gió đẩy.
Bầy trẻ kêu réo nhau từ mọi ngỏ ngách trong thôn làng ùa ra xem trực thăng đáp. Có một đứa trẻ ốm yếu luống cuống trước sức gió xô, em không biết làm gì, cứ loay hoay bò lui, bò tới trên bãi cát. Bằng tất cả sức mạnh của hai bàn chân bé tí, em lẽo đẽo lọt tọt chạy theo anh chị lớn, em bò lết đến gần hàng concertina, sau lưng em để lại vệt đất dài. Dấu chân em bé in lên mặt cát ướt, tạo thành những lỗ trũng dồn dập ven bờ, phình to hơn bàn chân em vừa nhấc lên gấp bội.
Bầy trâu biết nhớ đường lững thững về chuồng, đứng lại ngóng cổ ngơ ngác nhìn lên í ọ í o.. Vài con chó vá sủa vang chạy một quãng, đến ngả ba, ngả tư, thì dừng lại, nó co chân sau nhỏ vài giọt nước đái vào thân cây.
Chiều chiều, có một đám trẻ thả diều rong chơi dưới bãi cỏ hanh vàng. Các em là con của các gia đình Nghĩa Quân, Dân Vệ, Trại Gia Binh, và con thường dân di trú trong khu dinh điền di cư, trong rào Ấp Chiến Lược ổn định kinh tế, sát vùng quân sự.
Hoài nhìn sững con diều giấy. Tần ngần giây lát, nàng nhặt lên, nhìn xuống chân đồi tìm kiếm. Ðám trẻ con đứng dậm chân dậm cẳng, chỉ chỏ và "la ó ơi ới" những gì. Hoài không nghe thấy. Bọn trẻ í dzà… tiu nghĩu buồn xo.
Hoài mỉm cười, nói với Trúc:
- Mình đem con diều xuống trả, chắc là các em mừng lắm. Trúc há.
- Ừ. Trúc kéo con diều, còn Hoài cuộn sợi cước. Nghen.
- Ừa.
Dưới chân đồi, trên bãi cỏ ươm vàng vắng hoe không một bóng người. Ðám trẻ chắc chắn đã dày dạn kinh nghiệm chiến tranh. Nên chỉ chớp mắt, chúng lo chạy thoát thân lẫn trốn lúc nào, nhanh thật là nhanh.
Hoài cũng lo sợ không kém, nàng vội vàng cầm con diều chạy ngang qua mấy quân nhân đang dùng dao găm lúi húi đào lỗ. Công việc làm của ho. thật nặng nhọc và nhiêu khê quá chừng. Khả năng và kinh nghiệm quá hạn hẹp, Hoài muốn dừng lại làm giúp các anh một cái gì đó, dù bé nhỏ, và âm thầm cho người khác vơi nỗi đau. Thì nàng thấy tình đồng hành yêu thương an thư nhiều, và Hoài mong được bù đắp ngược lại.
Bọn con trai ba đứa leo lên cây sấu quệt nhựa mít vào thân cây, bắt ve sầu. Vài đứa cỡi lưng trâu, hoặc đùa với bầy chó. Chúng lui cui đào khoét lỗ đất, rồi múc nước đỗ đầy vào hang bắt dế. Dế chưa chui ra, mấy đứa con trai tự nhiên vạch quần đùi đái vào hang lỗ.
Trúc ra hiệu, cho Hoài đứng ở giữa sân Bộ Chỉ Huy biết là bọn trẻ đã có mặt. Hoài giơ tay vẫy chào bạn, nàng cầm con diều cụt đuôi, và ba xấp giấy bóng màu đỏ, hồng và xanh lá cây, ba cuộn cước, hồ dán, nàng thủng thẳng đi xuống chân đồi, từ từ ra bãi cỏ pha cát mịn.
Ðám trẻ không ngờ Hoài đem trả con diều. Các em ngẩn ngơ phút chốc. Bỗng, ồ lên reo mừng hoan hỉ. Vài em giơ tay cầm, cám ơn rối rít. Có đứa nói:
- Cô ơi! Tụi cháu tiếc con diều nầy lắm. Nó bay cao nhất Làng cháu đó.
- Ai ngờ được cô lượm lại đem trả. Cám ơn cô.
- Cho các cháu thêm giấy làm diều. Ðừng xé sách học nhe.
- Dạ. Trời ơi! Giấy đẹp quá! Tốt quá!
- Nhất Làng ta rồi.
- Nhất Xã, chớ nhất Làng gì mầy.
- Tụi mình sẽ lại có con diều quá đẹp, cầu cho nó bay thiệt cao. Hén.
- Con diều mới sẽ đẹp nhất Xã rồi. Tụi bay ha.
- Rứa thì tụi mình tới nhà thằng Tỵ, làm con điều mới liền. Hí.
Một đứa bé vụt chạy về phiá hàng rào cây, em chui tọt qua kẽ hở giây lát, rồi trở lại ngay với chiếc rỗ con con. Bên trong đựng khoảng mười trái ổi xá lị da vàng xanh bóng láng, thoảng mùi thơm thơm. Cô bé thở hổn hển, nói không ra tiếng:
- Cái nầy… cho cô…
- Không.
- Ủa! Sao cô không nhận? Thì ...
Ðám trẻ nhao nhao lên:
- Cô ơi! Nhà con Tằm có cả trăm cây ổi. Nhằm nhò chi mấy trái nầy. Mà cô lo hè.
- Lần sau cô, chú, muốn ăn ổi, thì tới nhà nó mà mua.
- Chớ cô lo gì... cha mạ hắn lỗ vốn hè.
Hoài bật cười, cầm chùm ổi, nàng xoa đầu đám trẻ ngoan. Hoài cám ơn và quay gót. Nàng thấy tiếc cho những em nhỏ kinh khủng! Các em xinh đẹp, thông minh. Vâng lời, hiền lành lễ phép, có tình nghĩa xóm làng. Nhất là đa số qúy trọng thầy cô, có thể hơn trẻ em thành phố. Các em sống nơi vùng xôi đậu, tranh tối tranh sáng, chiến tranh liên miên. Khổ cực. Nghèo nàn. Lo sợ. Rủi nhiều hơn may. Sự sống như chỉ mành treo chuông. Ôi! Hoài thương các em xiết bao!
Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Xin cáo lỗi cùng độc giả .
Ôi ! Mai Ly buồn tủi, nửa muốn đi, nửa muốn bỏ cuộc. Ðang trong cơn buồn tủi thì có Mai Huyền đến chơi. Mai Ly mới quen Mai Huyền vài năm nay tại Paris, có lúc làm chung nghề với nhau. Nghe tiếng nhận chuông Mai Ly ra mở cửa, Mai Huyền cười nói :
- Tao nè, lại phá mầy được không ? Có ai nhà không ? Còn Mai Thu đâu rồi ? Tao ở lại đêm nay tán dốc với mầy ỌK. ?
Mai Ly mừng rỡ và nói :
- Mai Thu, nó đi chơi với kép rồi. Chỉ có hai con tao thôi. Thật là hên, như đang buồn ngủ gặp chiếu manh vậy. Tao đang buồn tình quá mầy ơi !
- Cái gì nữa thế ! Kể cho tao nghe đi, chắc là mấy thằng c... nữa chứ gì, phải không ? Mầy lúc nào cũng yêu, trái tim của mầy yêu bốn mùa mà !
Mai ly thở ra nói :
- Nhưng mà chuyện này tao tức quá mầy à. Thật, đàn bà mình sao cứ bị lợi dụng hoài, đàn ông ác quá !
- Tao nói thật với mầy nhé Mai Ly ! Tại tụi mình lắm chuyện, cái nào mình cũng muốn hết nên thắc mắc rồi đổ thừa cho đàn ông. Tụi mình có vừa ý ai đâu, mà cái chuyện gì nói tao nghe đi.
- Con tao về ăn trưa kìa, chút nữa tụi nó đi học rồi tao kể cho mầy nghe.
Ăn cơm xong, Hữu Trí và Mai Tâm đi học trở lại, Mai Ly kéo Mai Huyền lên salon kể cho nàng nghe đầu đuôi câu chuyện, Mai Ly tiếp :
- Mầy coi André dám nói với tao là hắn còn yêu Martine, hắn rủ tao đi Venise, vì con Martine không thèm đi, chắc tao không đi đâu, André xem tao như đồ chơi của hắn vậy đó. Coi có tức không chứ ?
Mai Huyền thấy Mai Ly xuống tinh thần vì tự ái ghen tức với mt ông khách vờn hoa, nàng bèn khuyên Mai Ly :
- Venise đẹp, thơ mộng và hữu tình lắm, của ‘chùa’ mà tội gì không đi cho biết. Mầy cứ đi đi, về rồi sẽ tính, chớ mầy bỏ chuyến đi Venise thì suốt đời mầy chưa biết nổi, vì ở đó nghe đâu mắc lắm !
Mai Ly nghe Mai Huyền nói có lý, nên tự ái diệu dần xuống, nàng nói :
- Nếu mầy mà không đến kịp lúc chắc tao bỏ cuộc quá. Vì tao cảm thấy yêu André nhiều lắm.
Mai Huyền xỉ vào đầu Mai Ly và nói :
- Yêu cái con khỉ khô gì, mầy tưởng mầy yêu, chớ thật ra mầy có cảm tình nhiều với hắn là đúng hơn, vã lại hắn chưa thuộc về của mầy, nên mầy đâm ra tức thế thôi. Hơn nữa, hiện tại trong lòng mầy đang cô đơn trống vắng, gặp André thấy lòng mầy ấm lại, hắn lớn tuổi và ăn bánh trả tiền sòng phẳng cộng thêm hắn là một tổng giám đốc P.D.G loại bự, hắn có đầy đủ như ý mầy, rồi mầy cho là mầy yêu thật. Chưa chắc em ơi ! Hỏi lại lòng mình xem đi.
Mai Ly nghe Mai Huyền nói trúng tim đen quá. Nàng cảm thấy rất đúng, vì dầu sao Mai Huyền cũng lớn hơn Mai Ly cả chục tuổi, tại Mai Huyền không muốn Mai Ly gọi bằng chị, nàng bắt Mai Ly gọi mầy-tao cho trẻ lại. Ðường đời Mai Huyền đã đi quá xa. Tánh Mai Ly hễ muốn là phải được liền, nàng thấy rắc rối là nàng bỏ cuộc ngay, không như Mai Huyền. Vả lại, Mai Ly là gái Nam, còn Mai Huyền thì gái Bắc, thường nghe nói, gái Bắc rất kiên nhẫn khôn khéo hơn gái Nam, Mai Ly có cá tánh dứt khoát, nàng không thích cong cong quèo quẹo, Mai Ly từng phục Mai Huyền thường gọi nàng là Sư-tỷ trường đời. Mai Ly nói :
- Vậy tao đi Venise với André, kỳ này một mất một còn đó. Một, ăn cả. Hai, ngã về không hén ! Chứ tao không chịu nổi cảnh đầu ắp tay gối mà lòng hắn nghĩ đến kẻ khác làm sao tao chịu nổi đây ?
Mai Huyền khuyên và cố ý khiêu khích Mai Ly, nàng nói :
- Thì mầy ráng làm sao André nghĩ đến mầy, làm hắn không còn nghĩ đến Martine nữa, như vậy mầy mới hay chứ, ai dại gì bỏ cuộc chịu thua, soi gương lại đi em, em cũng còn đường lắm, nên thử ra trận đánh giặc tình thêm vài ba lần nữa để trở thành nữ tướng chiến trường tình.
Mai Huyền lại khơi máu tự ái kiêu ngạo của Mai Ly nổi dậy, nàng nhủ : "Ờ nhỉ, sao mình không khôn lanh tính toán như Mai Huyền, mà chấp nhận thua, trận giặc tình này mình phải thắng !"
Bao nhiêu lời khuyên của Mai Huyền như thúc đẩy Mai Ly ra trận tình để chiếm trọn tâm hồn lẫn thể xác của André. Nàng rất đắc chí với những lời khuyên của Mai Huyền. Mai Ly đứng lên rót một chút rượu mạnh ực vô miệng. Hút thuốc hết điếu này châm qua điếu khác, nàng nói :
- Mai Huyền à ! Tao nghe lời mầy đi Venise, vì tánh tao hay bỏ cuộc lắm. Nhưng qua Venise tao sẽ nói dứt khoát.
Mai Huyền nhìn Mai Ly với đôi mắt thương hại, và ti nghiệp cô em bạn nóng tánh, nàng nói :
- Ở đời khôn khéo mới chồng của mình, còn không thì chồng của người ta. Tao khuyên mầy đi Venise rồi về hãy hay.
Mai Ly lại ôm Mai Huyền, nàng nói :
- Em vòng tay cám ơn Sư-Tỷ đã chỉ dạy.
*
Chiều hôm ấy André và Mai Ly lên xe lửa "Express-Wagon-lit" hạng nhứt, có salon và giường ngủ thật sang. Một đêm trên xe lửa đôi nhân tình mới, họ yêu nhau bất tận. Những chuyện buồn bực dường như Mai Ly thả trôi. Bấy giờ, nàng chỉ say men tình đằm thắm. Những giây phút ái ân xong, thì hai người suy nghĩ hai đường. Mai Ly nghĩ chắc André đang nhớ Martine và có thể chàng mơ ước : Phải chi Mai Ly là Martine thì mình vui biết bao.
Tâm tánh đàn bà rất thường tình, Mai Ly hay nhìn vào mắt André, nàng thấy chàng thường nhìn xa xôi buồn buồn, Mai Ly ghen vô cùng, nhưng sực nhớ lời của Mai Huyền còn văng vẳng bên tai : Ráng khôn khéo sẽ thuộc về của mình. Nhờ thế mà nàng cố đè nén hờn ghen trong lòng.
Ðêm nay Mai Ly trằn trọc thao thức không làm sao ngủ được, nằm bên André mà lòng nàng đau khổ tột bực, vì nghĩ André xem nàng như đồ chơi, mệt mỏi nàng thiếp đi.
Tiếng gõ cửa, bồi phòng đem điểm tâm vào. Sau đó, hai người sửa soạn thay quần áo. Xe lửa đã ngừng có người đến xách valise đem đến khách sạn Le Grand Cannal. Mai Ly vừa ra khỏi cửa gare Venise, Mai Ly nắm tay André nàng nói :
- Ô ! Tuyệt ! Tuyệt đẹp ! Anh xem kìa toàn là thuyền nhỏ, thuyền lớn. Ðường là những con kinh, rạch cỏn con thay vào, xe hơi là những chiếc thuyền. Ôi, Venise đẹp và thơ mộng quá ! Em đang như trong mơ nè anh, em đang lạc vào một thế giới huyền diệu, ước gì về già em được ở đây để viết sách, làm thơ !
André thấy lòng cũng vui theo với Mai Ly. Nhưng chàng đang nghĩ đến Martine. Còn Mai Ly thì như người trong mơ nên nàng quên hết chuyện hôm nào, chỉ thấy rất là hạnh phúc bên André, người mà nàng đang gởi trọn niềm hy vọng. Qua hai ngày Mai Ly muốn nói hết cuộc đời của nàng, là nàng đã lấy chồng trong trường hợp tương tựa như André. Và André cũng muốn biết dĩ vãng của nàng, chàng thường hỏi đến, Mai Ly cảm thấy nên nói sự thật cho chàng biết rõ.
Nhưng sau khi André nghe xong, chàng không thể tưởng tượng được, vì chàng nghĩ Mai Ly gặp chồng ở nơi đàng hoàng. Mai Ly nghĩ đời cũng lạ, đàn ông thật mâu thuẩn, họ cho chỗ của Mai Ly làm là chỗ hạ tiện, nhưng họ lại cứ chui đầu vào tìm. Cabaret Paris-Paris là một nơi toàn là Vương Hầu, Công Tước, những người chức lớn, quyền cao mới dám vào hoặc những nhà cự phú, hay các ông chủ lớn. Bởi vì muốn được một nàng ‘Tiên’ ở nơi đó phải tốn đôi khi cả chục ngàn quan. Vì một chai Champange hơn hai ngàn rồi. Nhưng trong khi ngồi bàn người ta đổ vào sô ít nhứt cũng vài ba chai. Muốn được một cô cùng đi ra khỏi nơi đó, không phải dễ dàng đâu, đương nhiên có tiền là chuyện đầu tiên, là mua Tiên cũng được. Nhưng sau đó, người khách phải còn tư cách, tướng diện v.v... Các nàng có quyền từ chối hay lựa chọn khách. Bởi khi làm việc có lương cố định, được chia vài chục phần trăm những chai Champagne hoặc những ly rượu. Và Mai Ly được biết rất nhiều nữ sinh viên ngoại quốc làm chung, các nàng ấy phần nhiều không ai có thể mua họ được.
- Mai Ly ! Em có yêu anh không ?
Mai Ly nín thinh nhìn André với đôi mắt nửa hờn, nửa yêu. André hỏi tiếp :
- Em có muốn qua Liège (Borlez) với anh không ? Anh xin lỗi em đêm kia, anh có những lời nói hơi nặng.
nước mắt Mai Ly tuôn tuôn, nhìn André như van xin sự cầu cứu. Vì tới cuối tháng tám là phải giao nhà cho Jean-Jacques. Qua cơn xúc đng, Mai Ly thừa cơ hi thấy André hối hận, nàng lau nước mắt nuốt hết những tự ái, nàng ra điều kiện :
- Vâng ! Em bằng lòng qua Liège, nhưng với điều kiện là anh phải ký giấy giao kèo, cho làm việc trong hãng của anh ít nhứt là hai năm.
André lại thấy Mai Ly ra điều kiện, chàng hơi bực và hỏi :
- Em không tin anh à ?
- Tin chứ. Nhưng đây là cho hai con em, vì nếu qua bên đó không êm, em phải trở về Paris thì sự học hành của các con ra sao ? Em không muốn các con em thay đổi trường học mỗi năm.
Trong lòng André nghĩ : Con nhỏ này ghê thật, mình cần nó, nó cũng cần mình. Nhưng mình thật sự đang cần một người đàn bà, vì mình biết Mai Ly đã làm vợ và đang làm mẹ, tướng diện sang cả xinh xắn, biết quán xuyến việc nhà... Ðiều kiện của nàng không khó gì đối với mình. Hơn nữa, nàng biết nói chút tiếng Anh, tiếng Pháp. Thôi thì mình chịu cho rồi.
André nhìn Mai Ly và nói :
- Ðược. Anh sẽ chìu theo ý em.
Lúc trước nhà Mai Ly thường có những người bạn quen biết mới qua Paris đến ở tạm, họ vô ra nườm nượp như cái chợ, nhà chùa. Nhưng nay thì chỉ còn Mai Lan. Mai Lan là dân học trường tây Marie-Curie, nàng sinh trưởng trong một gia đình trí thức, Mai Ly quen biết ba má nàng qua những lần tiếp tân (réception-cocktail) ở Sàigòn. Rồi một hôm ba Mai Lan giới thiệu nàng với Mai Ly trong "Câu-Lạc-Bộ-Thể-Thao", tại đường Hồng Thập Tự, đằng sau dinh Ðộc-Lập.
- Thưa bà, có chồng bà gọi điện thoại.
Lòng Mai Ly phơ phới nghĩ : "Cha ! Chồng mình tử tế quá, chắc nghe các con nói mình vào nhà thương mỗ, nên ông gọi hỏi thăm". Mai Ly vừa đi, vừa nghe trong lòng một chút vui vui, đến cabine bắt điện thoại lên :
- A-lô ! Jean-Jacques đó hả ? Cám ơn anh tử tế hỏi thăm !
- Không. Không phải tử tế đâu. Mày, mầy nói gì với bạn gái tao, đồ con đ...
Bất chợt Mai Ly bị chồng tấn công chửi nàng. Vì suốt ngày không ăn và thử máu đủ thứ nên nàng ngất xỉu làm rớt điện thoại. Không lâu nàng tỉnh dậy nhìn thấy ba bốn ông bác sĩ vây quanh. Có một ông bác sĩ hỏi :
- Bà có muốn thưa ông chồng bà không ?
Nước mắt ràng rụa nghẹn lời, Mai Ly lắc đầu nói :
- Không. Vì chồng tôi và tôi đang ly dị nên ông muốn tôi chết. Theo tôi nghĩ không phải chồng tôi đâu, mà ai đó mượn tay chồng tôi để gián tiếp giết tôi, nhưng tôi không chết đâu bác sĩ à. Vì tôi còn nhiều bổn phận và trách nhiệm nặng nề hơn thế kìa.
Mai Ly lấy lại bình tĩnh, im lặng ngồi chấp tay nhìn lên trời khấn nguyện Ðức Quan Thế Âm Bồ-Tát. Nàng nghĩ đến Mẹ già với hai con dại và còn biết bao nhiêu người đang trông cậy vào nàng nên nàng cố gắng nén lòng mà xóa bỏ chuyện vừa xẩy ra.
Trôi êm qua ngày hôm sau, nàng mỗ xong đến chiều mới tỉnh lại, Mai Lan dẫn hai con nàng vào thăm. Mai Ly mở mắt nhìn thấy hai con đang đứng kề bên, nàng thấy an ủi vui lên. Nằm nhà thương thay vì một tuần, nhưng Mai Ly xin bác sĩ cho về sớm hơn ba ngày, sau khi mỗ xong đau đớn vô cùng, nhưng từ từ cũng giảm.
Bấy giờ giữa André và Mai Ly là hai kẻ cần nhau. Cuối tháng bảy là Mai Ly dọn luôn qua Bỉ. Trong lúc ấy, Mai Thu và Mai Lan còn ở trong nhà nàng. Vì Mai Trinh đã dọn đi trước đó không lâu. Ðêm đêm Mai Ly nhìn Ðức Mẹ Lộ-Ðức (Lourdes) cầu nguyện, xin Mẹ độ dùm Mai Thu và Mai Lan có nơi nương tựa, Ðức Mẹ mà Mai Thu đã đem ra để trên T.V. Thật linh ứng, sau đó hai cô bạn có chỗ nương thân trong tháng tám. Hú hồn ! Mai Ly nhẹ người và giao nhà đúng hẹn với Jean-Jacques. Qua Liège bắt đầu xin trường học cho hai con. Hữu Trí thì André đề nghị cho vào nội trú, mỗi hai cuối tuần mới được về nhà, còn Mai Tâm học chung với Benoît con trai út của André, François thì học nghề chăm sóc ngựa ở Namur.
Sống êm đềm được hơn sáu tháng. Bắt đầu sóng gió lại nổi lên. Vì bà Mẹ của André ghen với Mai Ly, bà thường đuổi Mai Ly đi trong lúc André vắng nhà. Bởi công việc hằng ngày Mai Ly phải gặp bà ở quận Huy, nàng lo việc ngân hàng, bưu điện, thư từ cho hãng. Ði chợ cho mẹ André, đưa rước Benoit và Mai Tâm đi học, sáu giờ sáng Mai Ly đã thức rồi. Nhưng nào được yên, vì André và Hữu Trí không ưa nhau, mỗi khi rước Hữu Trí về nhà là Hữu Trí nói :
- Nữa. Về căn nhà ma này hoài, con ghét quá !
Mai Ly nghe tâm hồn rụng rời, muốn hết niên học trở về Paris, nhưng nàng nghĩ Mai Tâm chắc hạp với André nên nàng cố dụ Hữu Trí ráng ở trong trường vài năm, không ngờ một chiều cuối tuần Mai Tâm hỏi :
- Mẹ à ! Bữa nay thứ sáu, André về nhà hả mẹ ?
- Ờ, thì André đi làm xa trong tuần, còn cuối tuần thì về với tụi mình.
Mai Tâm nhỏng nhẽo nói :
- Sao André không đi luôn đi, về đây làm chi ?
Mai Ly nghe tim mình đập mạnh, nàng nói với con :
- Trời ơi ! Thì nhà nầy là của André, André phải về chứ !
- Con muốn André đi luôn !
Mai Ly thấy không xong rồi, cả hai đứa con của nàng đều không ưa André. Trong lúc đó J.J. đã bán nhà có chia tiền cho Mai Ly, nàng liền mua căn nhà nhỏ ở đường Lecourbe gần Lycée-Bufon. Mai Ly cố ý mua ở khu đó, vì sợ trở về Paris ở khu khác không tốt bằng khu này, nàng lo xa. Dần dà đã hơn một năm, Hữu Trí không thích ở ni trú nên tìm đủ mọi cách làm cho nhà trường đuổi ra. Mai Ly phải chạy đôn, chạy đáo để xin trường khác, nhờ gặp được ông Cha ở Huy, ông rất từ tâm và thông cảm hoàn cảnh của Mai Ly, ông bằng lòng chấp nhận Hữu Trí vào ở ni trú, và được gặp Mai Ly gần như mỗi ngày, vì Benoit và Mai Tâm học chung trường, Mai Ly rước hai đứa kia mà nhìn thấy Hữu Trí đứng vẫy tay sau hàng rào, lòng Mai Ly nghe đứt từng đoạn ruột. Một hôm Mai Ly hạ mình năn nỉ André cho Hữu Trí về nhà cùng với hai đứa kia. André nói :
- Anh có thể cho nó tất cả những gì nó muốn, chớ anh không cho được trái tim của anh.
Mai Ly nghe giận điếng người, nàng muốn đạp cho André nhào xuống lầu, nhưng nàng không đến đỗi như thế, nàng nói hỗn :
- Ðồ khốn nạn ! Ðồ bất nhân ! ý có tiền phải không ? Hè tới chúng tôi trở về Paris !
Lần đầu tiên, André mới thấy Mai Ly giận dữ, và còn chửi chàng nữa, chàng cũng cáu lên :
- Tôi lo cuộc sống các người như vầy. Các người còn muốn gì hơn nữa. Tôi chấp em đó, đố em dám trở về Paris !
Mai Ly thấy rõ hiện tướng của André rồi, và ngược lại André cũng thấy rõ bộ mặt của Mai Ly. Sau cơn cãi vã ấy, Mai Ly âm thầm lo liệu giấy tờ để trở lại Paris. Nhưng trước khi đó, Mai Ly có nói với hai con :
- Nè, các con, mình trở về Paris, nhà của mình như cái hột quẹt, không bằng cái phòng của tụi con ở đây đó, các con nhớ nhé !
Hữu Trí và Mai Tâm nghe nói trở về Paris cả hai đều mở mắt lớn mừng reo, Hữu Trí nói :
- Mẹ à ! Nhà nhỏ là nhà của mình, chứ cái nhà này là của người ta, là nhà ma !
Nghe trẻ em Pháp hát bài vở lòng ‘à, bề, xê, đê, ế, ép, g...’ hay Anh ‘ầy, bì, xi, đi, ý, ép, dgị..’ mà nhớ đến mẫu tự Việt nam. Căn bản viết giống nhau nhưng vì cách phát âm khác nên số lượng cũng du di tùy ngôn ngữ. Tiếng Việt đơn âm có dấu, khác hẳn ngôn ngữ ngoại cùng gốc la tinh, đa âm, có thể do mt hay nhiều vần. Như chữ ‘nghiêng’ dài nhất tiếng ta chỉ gồm 7 chữ cái, Pháp có ‘anticonstitutionnellement’(23), Hòa lan với paternosterbollekesfabricant (28)... Trung quốc viết bằng gạch sổ tượng hình, như chữ Nôm ta ngày xưa, m?i từ riêng biệt, phong phú hóa tiếng mình bằng cách ghép chữ vào nhau hoặc với các b như b ‘mc’ ‘khẩu’... tạo thành chữ mới. Tuy nhiên, không biết trên thế giới có thứ chữ nào mà nhiều mẫu tự, khi xướng lên, còn có thể đọc được thêm bằng cách khác. Mẫu tự ta, tự nó đã có nghĩa, đc lập đứng mt mình cũng tự hào :
‘Ðã mang tiếng ở trong trời dất,
Phải có danh gì với núi sông’
nên cũng có tên thật tên riêng. Như mẫu tự ‘b’ được đọc ‘bê’, ‘bờ’ đồng thời có hai nghĩa khác nhau.
Nguyên âm ta có 12 :
-sáu không dấu: a, e, i, o, u, y (i dài hay i grec, d?c I ),
-sáu có dấu : ă (á), â (ớ), ê, ơ, ô, ư .
Phụ âm đơn thường được đọc bằng m?t hay hai cách như :
- b (bê, bờ),
- c (xê, cờ),
- d (dê, dờ),
- đ (đê, đ?)
- g (gê, gờ)
- h (hát, hờ),
- k (ca, cờ),
- l (lờ),
- m (em, mờ),
- n (anh, nờ),
- p (bê dưới) chỉ dùng ở phần cuối chữ, nếu dùng ở đầu phải ghép với h,
- q (cu) không bao giờ dùng mt mình luôn ghép chung với u,
- r (rờ),
- s (ếch, sờ),
- t (tê, tờ)
- v (vê, vờ),
- x (ích, xờ),
Nguyên âm ghép như ai, ao, au, ay
âu, ây
eo,
êu
ia, iu, iê, iêu,
oa, oe, oi, oai, oay, oa
ơi
ôi
ua, ui, uơ, uô, uôi, uy, uyu, uơi, uyê, uâ, ua, uây, uê
ưa, ươ, ưi, ưu, ưöi, uou
yê, yêu
Phụ âm ghép v?i nhau như :
ch (chờ),
gh (gờ),
kh (khờ),
ng (ngờ),
ngh (ngờ),
nh (nhờ),
ph (phờ),
th (thờ),
tr (trờ).
Phụ âm ghép với nguyên âm :
gi (dờ),
qu(quờ)
Thêm vào đấy 5 dấu, hỏi( ?), sắc (‘), huyền (`), ngã (~), nặng (.) dành riêng cho tất cả nguyên âm,
Dấu mũ ‘’ ^ ‘’ chỉ riêng cho a, e, o, thành
â, ê, ô,
Dấu ‘á’ nửa hình mặt trăng đăc biệt trên chữ a thành ă.
Và dấu móc cho o, u thành ơ, ư.
Từ đó bắt nguồn cho lắm chuyện vui, hài hước, thô tục, bao điều tréo cẳng ngỗng, trớ trêu xảy ra. Người Việt ta thường chê, tránh nói tục, nên ‘lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau’. Ngay cả trong văn thơ, ?n ý chỉ hơi không thanh thôi là bị chê bai chỉ trích như thơ Hồ Xuân Hương chẳng hạn. Thế mà ngay trong mẫu tự căn bản, đã có chữ Q mà các cụ đồ nho, ‘ hiền nhân quân tử ‘ ai mà chẳng... có... nghèn nghẹn cũng đành đọc chính danh.
- Ba ơi ba, có thư, nhiều thư lắm !
- Bé Tâm vui v? nhanh nhẩu cầm xấp thư
chạy vào nhà.
- Thư ai vậy con ?
- Con không biết,... tên viết tắt.
- Con cố đọc thử đi.
Bé Tâm không chần chừ đọc mt lèo :
Thư thứ nhất N. CH. M. ( anh chờ em) .
Thứ hai N. Q. Trần (anh cu trần).
Thứ ba V. S. Q. (vờ sờ cu).
Thứ tư T.Q. (tê cu )
Thất kinh, không kịp phản ứng, bịt miệng la con, ông bố khựng lại, chợt hiểu ra... cười chảy nước mắt.
Thật ra cũng tại cái ... chữ nầy ! Nằm yên hiền như bụt, gọi đến hóa phiền hà !
Nhớ lại chuyện kể về tên viết tắt của Thủ tướng Anh Winston Churchill : W.C.. Mt hôm có ký giả hỏi W. Churchill về lời phê bình công khai ở Hyde Park của đảng đối lập hàm xúc tính cách phỉ báng xúc phạm đến tên Ông : ‘’Ông ta chỉ là cái W. C.’’(water closet).
Bình tinh, hóm hỉnh mỉm cười, W. Churchill phản pháo :
’’ Ðúng thế ! Ðiều nầy chứng tỏ xác nhận rõ ràng rằng tôi biết lắng nghe, chia xẻ, đ lượng, khoan dung. Ai cũng cần đến tấm lòng rng mở của tôi, già trẻ gái trai không phân biệt giống màu’’.
Vậy suy ra tên Việt ta hay các tiếng gốc mẫu tự la tinh, nếu chỉ viết bằng những chữ cái đầu như T.T.M. chẳng hạn thì được đọc chính danh là ‘tê tê em’ hay ‘ tờ tờ mờ’, còn nếu đọc theo kiểu phỏng đoán, đoán mò, do trùng hợp như trên thì đôi khi như lạc vào mê hồn trận. T.T.M. có thể nghĩ là tổng thống Mỹ, tổng tham mưu, thành thật mời, tin tức mình...
Do đó điểm đặc biệt đc đáo của mẫu tự Việt là tự mình chẳng những đã có tên mà còn thêm có nghia riêng đặc trưng của mình nữa khác h?n với chữ cái ngoại hữu danh mà vô nghĩa.
Rảnh r?i bạn hãy thử bày những cuc
đố vui hay xướng họa bằng mẫu tự. Tùy ngẫu hứng, tưởng tượng, bạn sẽ có những trận cười thoải mái, thích thú giải tỏa bao n?i niềm,... có khi tự nhiên bật cười thành tiếng mt mình như chai sâm banh bật nút nổ vang.
Nhẩm đọc lại ta còn cảm nhận tâm tình
con người lồng qua bảng chữ cái đầu đời. Tình cảm luyến ái giữa nam nữ, anh (N), em ( M) được trào dâng bằng mẫu tự, thể hiện qua cử chỉ nhẹ nhàng, rõ ràng không hậu ý, thân mật không lố lăng, thô bạo, như ‘em ngã anh bê’ (M ~ N B).
Cảnh trí hữu tình cũng góp phần không
nhỏ vào việc riêng tư, sáng quá gây ngại ngùng, tối mò thì mèo trắng như mèo mun, ‘tờ lờ mờ’( TLM ) quả là hợp tình hợp cảnh thơ mng nhất.
Mực đ thân mật cũng xuống dốc hay leo
thang tùy lúc. ‘‘Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy’’ qua ‘hỏi’ ( ?) thăm, ‘nhờ’ (NH) bạn bè mai mối, ‘vờ’ (V) làm quen. Rồi khi ‘‘tình trong như đã mặt ngoài còn ‘e’ thì hẹn hò ‘chờ’ (CH) đợi. Và đến lúc ‘‘tình nghĩa đôi ta có thế thôi’’ vì ‘ngờ’ (NG) nhau nên ‘lờ’ (L) nhau từ biệt.
Chỉ cần thay đổi mẫu tự trung gian giữa hai
chữ N...M, bạn có ngay mt loạt cử chỉ hành đng thân mật, hoặc có khi thích nghĩ mà ngại làm theo phong tục Việt nam như O, bê (B), dê (D), rờ (R ), sờ (S).
Qua ký hiệu tốc ký đặc biệt đa năng đầy
ám hiệu nầy, chúng ta còn có thể tạo thơ, gây ý nhạc, kích thích, khơi nguồn, truyền tin, bật mí bí mật, bằng nôi chữ thân thương:
N Ch M ~ B Ð,
N K N H N V B M.
(Anh chờ em ngả bờ đê,
Anh ca anh hát anh vờ bê em.)
tự Việt nam chẳng những tượng thanh, tượng hình, đa dụng, đầy nghĩa, thâm thúy mà nói chung còn lồng gắn tình yêu nguyên thể, tình người, tình yêu nhân loại, và nói riêng gia đình vẫn là nền tảng cho sự sống còn của thế nhân. Bảng mẫu tự Việt được ví như bọc trứng của Lạc long Quân và Âu Cơ mà m?i đứa con đều mang tên thật tên riêng cần phải duy trì, phát huy hầu làm rạng rỡ giống dòng Hồng Lạc.
Viết tại Kỳ Ðà Ðộng Tháng 12-2005
-Tết này anh sẽ có một món quà đặc biệt cho em, em sẽ rất vui vì điều đó, anh tin chắc như thế….
Nàng lắc đầu nguầy nguậy như có anh đang trước mặt:
-Không! Em không thích bất cứ thứ gì, anh đừng tốn công bày vẽ, ở Việt Nam bây giờ cái gì cũng có, hàng ngoại nhập đủ cả anh ạ!...”.
Giọng anh pha chút đùa cợt:
-Nhưng cái anh nói thì em không thể mua vì nặng ký lắm.
-Nếu không có khả năng mua được thì em thường không nghĩ đến…
Nàng ngập ngừng, rất muốn nói với anh rằng nàng chỉ muốn gặp anh, muốn có anh hơn bất cứ thứ gì anh có thể tặng nàng, nhưng nàng không nói ra được, nàng muốn tự anh phải hiểu đến điều ấy, lẽ nào tình yêu mà anh vẫn thường thì thầm bên tai nàng qua điện thoại trong những đêm khuya không đủ làm anh nghĩ ra sự khao khát mà tất cả những người đang yêu nhau trên đời đều nghĩ đến?
-Alô! Em vẫn đang nghe anh nói chứ? Sao tự nhiên im lặng vậy?
-Dạ! Em vẫn đang nghe mà, anh nói tiếp đi.
-Anh đang chuẩn bị cho một chuyến du lịch, sắp tới anh được nghỉ hai tuần…
Tim nàng rộn lên, hồi hộp:
-Anh định đi đâu vậy anh?
-Sang Cali ! Anh muốn thăm một người bạn, bọn anh sẽ cùng đón tết và ôn lại kỷ niệm…
Tự nhiên nàng cảm thấy nghèn nghẹn ở cổ:
-Vâng! Có lẽ ở đó hấp dẫn lắm?
Giọng anh vui hẳn lên:
-Dĩ nhiên rồi, anh luôn luôn mong đợi chuyến đi này mà.
Nàng im lặng, như không còn gì để nói nữa. Trái tim nàng nhói lên một cảm giác hụt hẫng với câu hỏi trong đầu “Sao anh không mong một chuyến trở về với em?...” Nàng cắn môi nén sự xúc động, nàng cũng hiểu rằng nếu anh không muốn về mà nàng hỏi điều ấy chỉ khiến anh khó xử, nàng không bao giờ muốn anh phải khó trả lời một câu hỏi nào của nàng, nên nàng luôn tránh nhắc đến việc anh về Việt Nam, một phần vì nàng hiểu anh rất bận rộn, không dễ có một khoảng thời gian đủ cho một chuyến trở về, nhưng nay thì khoảng thời gian mà nàng mong anh có, đã có. Nhưng tình yêu anh dành cho nàng không đủ động lực thôi thúc anh về. Thời gian hai tuần không phải là nhiều nhưng quý biết bao, nó có thể xoá đi khoảng cách giữa hai người và có thể biến ước mơ thành hiện thực. Ðể nàng được ngả vào vòng tay của anh, được nhận những nụ hôn yêu thương thực sự chứ không phải chỉ được anh gởi qua những dòng thư điện tử, hay qua những tin nhắn trong điện thoại hàng đêm.
Nhưng anh không về với nàng! Ðiều ấy nói lên rằng người bạn nào đó của anh quan trọng hơn, còn mộng ước về tương lai mà anh thường nói, nàng nghe và ấp ủ, mang cả vào những giấc mơ với bao nhiêu hy vọng, hạnh phúc, giờ đây chỉ là ý nghĩ của riêng nàng. Còn anh, lời nói ấy có thể chỉ để làm hương vị tạo nên niềm vui muộn màng sau bao nhiêu gian nan, thăng trầm trong cuộc đời mà anh đã trải qua.
Cảm giác bồng bềnh như người say sóng, im lặng và chịu đựng, nàng không nói lên được cảm nghĩ của mình khi bên tai nàng giọng nói của anh vẫn cất lên vui vẻ với những câu chuyện gây cười mà trước đây nàng cũng luôn bật cười khi anh kể xong. Anh hãy vui thật nhiều nhé, lúc nào em cũng mong anh vui như vậy đó, anh yêu…
Nước mắt nàng ứa ra, anh không biết. Vâng! Làm sao anh biết được. Nàng yêu anh, như chưa từng yêu ai như thế và tình yêu đó giờ đây khiến nàng như ngợp thở, khi nghe anh báo tin rằng anh sẽ dành thời gian nghỉ hiếm hoi sắp tới để đi thăm người bạn của anh.
Nàng ngả người xuống giường, rã rời, đuối sức như vừa trải qua một chặng đường dài. Sự nhạy cảm, yếu đuối trong nàng giành phần thắng, nước mắt nàng vẫn ứa ra thấm vào chiếc gối lẻ. Nàng khe khẽ gọi tên anh, rên rĩ như một con mèo ốm “Anh không yêu em như là anh vẫn nói mà, phải không?...”. Nỗi buồn len vào tận nơi khuất nhất trong tâm hồn nhưng nàng không trách anh, trách làm gì khi điều anh quyết định sẽ mang lại niềm vui cho anh. Nàng có gì để ràng buộc, níu giữ anh chứ? Như hơn hai mươi năm trước nàng cũng đã để anh rời xa nàng.
O0O
Ngày anh vào quân ngũ nàng còn là một bé con, nhưng nàng vẫn nhớ dáng vẻ hào hoa, lịch lãm của anh trong bộ quân phục màu dương tím của binh chủng hải quân mà nàng được thấy khi anh về phép.
Rồi miền Nam thất thủ,biền biệt mấy năm mới gặp lại. Lần này anh từ trại cải tạo trở về, dáng dấp oai phong ngày xưa giờ cao khều, gầy nhom. Anh trở về với căn nhà đã vắng rồi người mẹ thân yêu, vì thương nhớ và lo lắng cho đứa con trai, bà ngả bệnh và ra đi không kịp đợi con về. Anh sững im với nỗi đau không ai chia sẻ được.
Trái tim nhạy cảm với những suy nghĩ già trước cái tuổi mười tám của nàng đã rung lên, thương cảm hơn trước hình ảnh anh cùng những người gọi là “Ngụy quân, ngụy quyền” hàng tháng phải ra trước những cuộc họp dân phố để kiểm điểm trong thời gian quản chế. Nàng luôn đi họp thay cho gia đình, từ hàng ghế của những người dự họp nàng nhìn anh, có cảm giác anh vẫn đơn độc dù bên cạnh có bao nhiêu người, bao giờ trong lòng nàng cũng gợn lên một chút gì đó xót xa, đồng cảm. Nàng hình dung ra những khó khăn mà anh đang gặp phải, cuộc sống vẫn tiếp diễn và anh sẽ làm gì khi trở về không có nghề nghiệp, công việc gì để làm. Những người có lý lịch “trong sạch” còn xin việc không ra huống chi là anh, chưa nói những đợt công tác phúc lợi do địa phương tổ chức liên miên mà những người trong hàng ngũ của anh phải chấp hành khi được gọi. Cứ phải mang gạo nhà tự túc đi làm công tác, khó khăn lại càng khó khăn.
Thỉnh thoảng nàng gặp anh, đôi khi do tình cờ và đôi khi do nàng cố ý, nàng luôn dành cho anh sự quan tâm chia sẻ. Dần dà hai người trở nên thân thiết. tình yêu đến là điều tất yếu, dù tình cảm nơi anh ít bộc lộ, cũng trầm lặng như con người anh. Anh không săn đón, hẹn hò, không cho nàng những lời yêu thương có cánh mà nàng thích nghe anh nói, vậy mà nàng yêu, không lý giải được tại sao lại chọn anh để trao gởi mối tình đầu của mình. Nàng còn quá trẻ để hiểu hơn cái điều đơn giản đối với riêng nàng: Yêu là yêu! Không suy tính thiệt hơn, tương lai sướng khổ, nên khi anh hỏi:
-Tương lai của anh mờ mịt, chẳng có gì ngoài sự cơ cực mà anh đang có, sao em lại yêu anh? Em không sợ khổ sao?
Nàng hồn nhiên, vui vẻ đáp:
-Khi có hai người sự cơ cực sẽ được chia ra, đâu còn nhiều như anh phải chịu một mình, em không sợ khổ, chỉ sợ anh hết yêu em…
Anh vòng hai tay ôm nàng thật chặt, nàng áp mặt vào ngực anh, hạnh phúc len vào tâm hồn khi nàng nghe anh nói:
-Em là nguồn an ủi của anh, có em anh đủ sức đứng vững trong hoàn cảnh hiện tại này. Sao anh lại hết yêu em được.
Anh có tên trong danh sách những người đi xây dựng vùng kinh tế mới, anh ngồi im cúi mặt, không có ý kiến gì khi nghe đọc tên mình, anh là thành phần không thể nêu lý do gì để xin xét lại. Chỉ có nàng trào nước mắt, lẻn ra ngoài phòng họp khóc một mình. Viễn cảnh anh đơn độc nơi heo hút vùng sâu không có thân nhân như những gia đình có đông lao động khác làm nàng không chịu nổi. Vất vả, thiếu thốn là việc tất nhiên. Ðối với người dân thành phố lúc ấy, đi kinh tế mới chẳng khác nào bị đi đày. Nàng còn đau xót hơn khi nghĩ đến sự cách trở giữa hai người.
Căn nhà của anh phải tháo dỡ những gì có thể để mang theo dựng lại nơi ở mới. Những chiếc xe vận tải được điều đến để chuyển vật dụng và người. Tiếng reo hò, đồng ca để cổ vũ tinh thần của đoàn thanh niên địa phương được cử theo làm công tác, giúp những gia đình đi kinh tế mới dựng nhà. Nàng sững im khi đoàn xe lăn bánh, biết rằng từ đây là thương nhớ, cách xa…
Anh đi rồi, một ngày đối với nàng dài như không thể hết. nàng viết nhật ký hàng đêm với bao nhiêu lời yêu thương cho anh. Những bài thơ chan chứa nỗi buồn mà vẫn không diễn tả hết lòng mình. Anh không biết! Vì nàng không gởi được cho anh. Cứ mỗi lần hình dung anh đang phơi mình ngoài nắng cháy cuốc xới đất hoang, lòng nàng lại nhói lên, đau xót.
Sau nhiều ngày chờ đợi, nàng cũng được gặp lại anh, khi nắng chiều đã vút lên hàng hoàng điệp trước ngõ, ngỡ như anh từ một giấc mơ nào bước ra, một nhân dáng dãi dầu nắng gió, gầy guộc rám nắng. Nàng khóc, vì mừng và vì thương anh. Nhìn anh tiều tụy nàng hiểu ngay anh vất vả như thế nào dù anh không nói ra. Anh là người không hay than vãn về hoàn cảnh. Lần đầu tiên nàng nấu cho anh một bữa cơm, hạnh phúc vì được chính tay chăm sóc người mình yêu thương, nàng sung sướng khi nhìn anh có vẻ ngon miệng với bữa cơm đạm bạc của nàng. Anh nói:
-Em biết không? Ở trong ấy hôm nào được ăn nước mắm anh tưởng như được ăn… đám giỗ vậy.
Nàng sững sốt:
-Nước mắm mà cũng thiếu sao?
-Muối có khi cũng thiếu. Trồng trọt đã có thu hoạch được gì đâu. Những nhà khác còn có thân nhân ngoài này tiếp tế, còn anh…
Hai người lặng im nhìn nhau, anh cũng hiểu nàng không có cách gì giúp được cho anh. Nàng còn có gia đình cha mẹ, một bầy em đông còn nhỏ dại…
Hoàng hôn đến rất nhanh, anh không thể ở lại lâu hơn, những điều cần thiết cũng chưa kịp nói hết với nhau. Anh cho nàng biết anh xin phép với lý do về để mua một vài vật dụng cần thiết, nhưng thật ra anh có ý định trốn về miền Tây, nơi có người em gái của anh theo chồng về sống ở đó, anh cần sự giúp đỡ.
So với anh, nàng còn quá thiếu hiểu biết để có thể cho anh một lời khuyên, cũng không thể ngăn cản anh thực hiện điều gì anh muốn. Nàng chỉ nói được với anh rằng nàng có linh cảm nếu anh đi lần này thì nàng có thể sẽ mất anh. Trước khi đi, anh để lại cho nàng một câu nói giống như một lời nguyền:
-Nếu còn sống, nhất định anh sẽ về với em!
Rồi anh đi…
Ngày tháng tiếp nối tháng ngày, nàng không nhận được một tin gì của anh. Mới đầu nàng còn tự an ủi rằng có thể anh sợ nàng gặp phiền phức vì quan hệ với anh, một người đi khỏi địa phương không được sự cho phép của chính quyền, anh không muốn nàng gặp phiền phức vì lúc ấy gởi thư qua bưu điện là cách liên lạc duy nhất nên anh chưa gởi thư về. Nhưng sự đợi chờ vô vọng không cho nàng nghĩ như thế lâu hơn. Anh đủ thông minh để nghĩ ra một cách nào đó để gởi tin về cho nàng, nếu anh muốn. Miền Tây! Nơi đó đâu phải là chân trời góc biển…
Nàng không còn hy vọng, mong gì gặp lại anh nữa. tình yêu đó dù không chết trong lòng nàng nhưng nó cũng phải chìm lặn xuống nơi sâu nhất trong tâm hồn. Trước khi ổn định được lòng mình, nàng đã đau khổ dày vò, tuổi đôi mươi của nàng không còn một chút mơ mộng gì về tình yêu nữa. Nàng hay khóc thầm, âu lo hơn là hờn giận khi nghĩ đến anh. Nàng cầu mong anh chân cứng đá mềm, vượt qua được những khó khăn mà chắc chắn anh phải gặp. Nàng cũng mong vết thương trong tim nàng mau lành lại, đừng khắc khoải. Hãy trôi đi, xuôi về chốn mịt mờ những nỗi buồn không biết nói cùng ai nên nàng thường viết vào những chiếc lá thả xuống dòng sông trong những buổi chiều nghiêng bóng. Ngủ yên nhé, tình yêu…
Nàng lên thành phố làm việc như những người trẻ tuổi khác. Kỷ niệm về anh ở lại nơi quê nhà. Nàng đoán rằng anh đã có gia đình êm ấm và hẳn là anh đã quên nàng như quên một làn hương thoáng qua đâu đó.
Hơn hai mươi năm lặng lẽ trôi qua. Nàng có thêm nhiều bạn mới, những cuộc gặp gỡ mới và tình yêu cũng đến, rồi cũng có rất nhiều lý do để chia tay. Trong tâm hồn nàng dường như có một khoảng trống không gì có thể lấp đầy. Nàng chợt tin vào số mệnh, có lẽ khi nàng được sinh ra đời, ông tơ đã quên buộc cho nàng một sợi chỉ hồng nên mới khiến xui những người đàn ông đến với nàng đều có những điểm nào đó nàng thấy không phù hợp với mình để rồi phải chia tay, mà đã không hợp nên nàng nghĩ thà sống một mình lại hơn!
Những mùa xuân đến rồi đi, nàng không buồn không vui, không chờ đợi một điều gì mới mẻ đến với mình, nhưng việc gì đến phải đến. nàng tình cờ gặp lại một người bạn, là đồng hương của nàng và cả anh, từ Paris trở về thăm nhà. Những gì về anh như một bí ẩn đối với nàng lúc đó mới được hé mở.
Khi xưa không phải anh về với người em gái ở miền Tây. Thật ra anh có một số bạn bè tổ chức vượt biên và họ muốn anh cùng đi, anh không còn lựa chọn nào khác, đó là cách tốt nhất để anh thoát khỏi sự khốn khổ mà anh không tin mình đủ sức chịu đựng đến cùng. Anh không phụ tình yêu của nàng, nhưng khi nhà nước Việt Nam còn xem những người vượt biên là phản quốc thì anh không thể liên lạc với nàng. Ðến khi chính sách có phần thông thoáng hơn,Việt Nam mở rộng ban giao với nhiều nước trên thế giới, anh vội viết thư về cho nàng, đôi lần như thế nhưng không hề nhận được hồi âm, anh cũng nghĩ nàng đã có gia đình. Và anh lấy vợ, sinh con, nhưng cuộc hôn nhân đó không bền lâu, anh lại sống một mình, đơn độc như ngày bước chân lên đất khách. Sau ngần ấy năm chưa một lần anh trở về quê hương, vì nơi đó anh không còn ai thân thích, có chăng là nàng! Nhưng anh cũng không biết nàng hiện ra sao? Ở đâu? Hơn hai mươi năm là khoảng thời gian đủ làm cho nàng lãng quên, hơn nữa ngày xưa anh đã làm tổn thương lòng tin của nàng, chắc gì nàng còn nhớ đến anh. Anh không biết rằng nàng có trái tim nhân hậu, nàng hay đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để cảm thông, chia sẻ. Nàng ít hờn giận ai quá lâu, thì với anh dù tình yêu xưa đã theo anh vuột khỏi tầm tay, nhưng ngẫm lại nàng chưa hề oán giận anh, thì nay hiểu rõ sự thật rồi, nàng lại thấy thương cảm cho anh. Khi gia đình tan vỡ, nàng cho rằng dù bất cứ lý do gì, lỗi của ai đều đáng tiếc. Người chồng hay người vợ đều bị tổn thương, mất mát như nhau, đều buồn như nhau. Chắc chắn không ai mong điều tan vỡ đến với mình. Vậy mà cuộc đời của anh sao gặp những điều như vậy…
Nàng cho người bạn số điện thoại và địa chỉ E-mail của nàng để chuyển đến anh, nàng nghĩ giữa nàng và anh ít ra cũng còn một tình bạn để thăm hỏi nhau. Anh vui mừng khi biết tin về nàng qua người bạn và nàng cũng vui không kém khi nghe giọng nói của anh từ nửa vòng trái đất gọi về. Tình yêu của hai người đến lúc được đánh thức bởi số phận, mối tình đã ngủ yên trong lòng nhau hơn hai mươi năm chợt choàng dậy khi mái tóc xanh xưa của cả hai đã có nhiều sợi bạc, nhưng tình yêu không có tuổi. Họ yêu nhau hơn, như bao ngày dồn nén để bung ra mạnh mẽ. Họ thấy cuộc sống đầy ý nghĩa và mục đích để vươn tới. anh hay nói:
-Nếu ngày xưa anh mang được em theo thì con của mình đã lớn rồi em nhỉ? Số mệnh đã buộc mình với nhau rồi nên dù có cách trở thế nào thì cuối cùng mình cũng sẽ thuộc về nhau. Mình sẽ sống cho cả hai mươi năm qua nữa em nhé.
Nàng nói:
-Anh phải bù cho em tất cả những gì trong suốt thời gian mình xa nhau.
Anh nói:
-Dĩ nhiên rồi, em yêu!
Anh cho nàng một niềm hạnh phúc vô biên dù chưa thể gặp nhau, nàng luôn cảm thấy có anh bên cạnh. Sự cô đơn không còn vây phủ quanh nàng trong căn nhà quạnh quẽ. Một mái ấm gia đình được anh vẽ lên mỗi ngày một rõ ràng. Nhưng đến hôm nay anh cho nàng một sự bẽ bàng khi báo tin anh sắp sang Mỹ với gia đình người bạn để cùng đón tết cổ truyền để nhớ quê hương! Nàng muốn hỏi anh xem người bạn đó là đàn ông hay phụ nữ, nhưng nàng sợ nếu anh trả lời là phụ nữ thì nàng sẽ ứng xử ra saỏVì thế nàng im lặng không tỏ được thắc mắc của mình. Hẳn anh không hiểu được tâm trạng của nàng nên anh cứ vui vẻ nói cười cho đến khi tắt máy.
Nàng nằm im, chơi vơi hụt hẫng như đang rơi giữa lưng chừng không gian đặc quách sương mù. Anh không đến trong giấc mơ buồn như tiếng thở dài của nàng đêm nay.
O0O
Không khí của những ngày cận tết bao giờ cũng rộn ràng, khẩn trương nao nức. Các siêu thị, hàng chợ đông nghẹt người đi mua sắm. Nàng hoà vào dòng người đó để đẩy lui cảm giác lạc lỏng của mình. Từ lâu rồi nàng không có khái niệm gì về một cuộc vui. Ngày lễ, tết chỉ là dịp để nàng có thể nghỉ ngơi cho lại sức sau những ngày làm việc chứ không phải để vui chơi. Nàng sống một mình, ít bạn bè, vì vậy nàng không quan tâm phải làm gì để có một cái tết đầy đủ, có ai đâu để xum họp cùng nàng, nhưng sáng nay nàng chợt muốn ra đường, muốn đi đâu đó, nàng không chịu nổi sự im lặng trong căn nhà dù đã rất quen như thế. Nàng trang điểm khuôn mặt mình thật kỹ, chiếc váy màu đen hở cổ tôn làn da trắng, khiến nàng trở nên thanh thoát dịu dàng, và đôi mắt buồn thiếu một tia nắng lấp lánh. Nàng đến nhà một người bạn gái thân thiết từ thời thiếu nữ, muốn rủ bạn cùng đi mua sắm, bỗng nhiên nàng muốn có một cái tết như tất cả mọi người, dù rằng nàng vẫn sẽ đón giao thừa một mình, bao nhiêu năm rồi như thế, bận lòng chi cho buồn thêm, nàng tự nhắc mình trước khi rời khỏi nhà.
Nhưng khi đến nhà bạn thì nàng thấy cô bạn và chồng, con đang lên kế hoạch vui chơi trong mấy ngày xuân, họ quay quần bên nhau vui vẻ, nàng không muốn phá đi cái không gian riêng biệt hạnh phúc đó nên lẳng lặng rút lui. Nàng vào một quán café vắng khách, ngắm nhìn đường phố dập dìu người, xe qua lại. Chiếc loa ở góc quán phát ra một bài hát quen làm nàng chú ý “Em sẽ là dòng sông để anh là biển rộng. Em sẽ là gió lộng để anh là mây bay…” nàng mỉm cười nghĩ tình yêu thường làm con người trở nên rộng lượng và cao thượng như thế, cũng như nàng, sao nàng không thấy giận anh? Chỉ buồn, vì đó là tâm trạng khó tránh được trong lúc này.
Ðã bốn ngày anh không gọi cho nàng, chiếc điện thoại trở thành một vật thừa nàng cất vào tủ không thèm mang theo như chính nó là nguyên nhân khiến nàng buồn. Nàng cũng không check mail, vì nghĩ anh đã sang với người bạn và họ đang vui chơi, chắc gì anh có thời gian mà gõ thư cho nàng. Rời khỏi quán café, nàng đi mua sắm các thứ như dự định. Quá trưa mới trở về, taxi dừng lại trước hiên nhà, người tài xế xách giúp nàng những chiếc túi đựng hàng vào đặt trước cửa, nàng đang loay hoay mở khoá thì một cánh tay từ phía sau chồm qua vai cầm lấy chiếc chìa khoá trên tay nàng:
-Ðưa đây anh mở cho.
Nàng giật mình quay đầu lại nhìn. Khuôn mặt rất đỗi quen thuộc đến độ nàng có thể nhớ từng nét của người trong tấm ảnh mà nàng đặt ở bàn làm việcđang đứng đây, sau lưng nàng, rất gần đến độ nàng có thể nghe rõ tiếng thở nhè nhẹ của anh:
-Anh xuống máy bay và về thẳng đây, thấy đóng cửa cứ sợ nhầm địa chỉ, anh phải hỏi thăm hàng xóm, anh ngồi ở quán nước bên kia đường chờ em đã mấy giờ rồi, nếu em không về chắc anh phải quay lại…phi trường!
Giọng anh vẫn đùa cợt, nàng chẳng còn nghe anh nói gì nữa, cử chỉ của nàng cuống quít và nàng kêu lên một cách vô thức “Trời ơi! Trời ơi!...”.
Anh phải tự đẩy hành lý của anh và xách những túi hàng hoá của nàng vào nhà. Nàng vẫn như người còn trong cơn mơ hoặc đang bay bổng. Anh ôm ghì nàng vào người anh bằng cả hai cánh tay:
-Sờ vào người anh xem có phải là thật không? Anh đã về với em rồi. Từ nay chúng mình không bao giờ xa nhau nữa em nhé…
Nước mắt của nàng lúc ấy mới trào ra, anh nói:
-…Em đang thắc mắc sao anh nói sang với người bạn mà lại có mặt ở đây phải không? Anh nói thế vì muốn cho em có một niềm vui bất ngờ. Em có nhớ anh nói anh sẽ cho em một món quà đặc biệt và…nặng lắm, nhìn anh xem (anh lùi lại, dang hai cánh tay ra, nghiêng đầu nhìn nàng) anh nặng đến bảy chục ký đó nhé …
Nàng bật cười, hai bàn tay nắm lại đấm nhẹ vào ngực anh:
-Anh xấu lắm, em ghét anh…
Dường như thế gian này nàng là người hạnh phúc nhất, và anh cũng thế. Nàng biết rằng con đường đi đến mùa xuân của đời nàng nếu không có anh, nàng sẽ không bao giờ có thể bắt đầu.
( 24g Thứ Tư 24.12.2008)
" Chị ngã em nâng " , " Lá lành đùm lá rách ", "Thương người như thể thương thân " . . . là những câu ngạn ngữ nhắc nhở tình thương giữa con người với con người từ xa xưa truyền lại .
Người Việt thể hiện lòng nhân đạo qua việc tương thân , tương trợ lẫn nhau giữa những người cùng hoàn cảnh , cùng nghề nghiệp, cùng quê hương . Ðối với những người nghèo khó, sa cơ lỡ bước thì đói cho ăn , khát cho uống , không được coi thường , khinh khi :
Ăn mày là ai ? Ăn mày là ta ,
Gặp khi đói khát thì ra ăn mày .
Việc đó quan trọng hơn cả những công đức khác :
Dù xây chín bực phù đồ , ( Phù đồ : chùa thờ Phật)
Không bằng làm phúc cứu cho mt người !
Cũng do lòng nhân đạo mà người ta khinh bỉ, lên án kẻ đc ác , tàn bạo . Trong những chuyện bình dân kẻ ác luôn luôn phải đền ti : Lý Thông ăn ở bất nhân với Thạch Sanh chết hoá thành bọ hung ; bà mẹ ghẻ đc ác trong truyện Tấm Cám cuối cùng ăn mắm làm bằng thịt con gái mình . Lịch sử Việt còn án tích Lê long Ðĩnh lấy dao róc mía trên đầu nhà sư , Trần thủ Ð chôn sống các tôn thất nhà Lý . . . .
Về phương diện xã hi , từ xưa người ta đã biết lập những qũy tương trợ như làng xã có rung quả phụ , rung cô nhi là rung do người trong làng đóng góp mua để cho thuê lấy tiền giúp những người đàn bà goá nghèo hay trẻ em mồ côi ; rung trợ sưu lấy hoa lợi giúp trai tráng hay những gia đình nghèo có tiền đóng thuế . (Lương đức Thiệp : XH Việt nam trang 126) .
Chúng ta thấy lòng nhân đạo của người Việt đã có và luôn luôn được nhắc nhở , đề cao trước khi những tôn giáo du nhập vào Việt Nam như đạo Phật với lòng từ bi , đạo Khổng với chữ Nhân , đạo Thiên Chúa với lòng bác ái .
Ðọc lịch sử Việt Nam thời xưa chúng ta thấy có rất nhiều cuc chiến tranh , từ chống ngoại xâm cho đến ni chiến chưa bao giờ có những cuc tàn sát tới cả trăm ngàn người , đó là nhờ lòng nhân đạo . Bên Tàu thời Chiến Quốc , cách nay mấy ngàn năm , tướng Bạch Khởi trong mt đêm ra lệnh giết sạch 700 ngàn đã đầu hàng . Thời ấy dân số Trung Hoa nhiều lắm đ mươi triệu người và những người bị giết toàn là đồng bào của ông ta , những người Trung Hoa ! Thật khủng khiếp , vô nhân đạo !
Người Việt sớm biết " Lấy đại nghĩa thắng hung tàn , lấy trí nhân mà thay cường bạo " . Trong cuc chiến chống quân Minh , Bình Ðịnh Vương Lê Lợi và tướng sĩ của Ông đã theo tôn chỉ đó nên khi kẻ thù đầu hàng , Ông cấp cho họ xe c , lương thực , thuốc men để cùng với vợ con về nước .
Mấy trăm năm sau quân xâm lược nhà Thanh cũng được hưởng ân huệ ấy do lòng nhân đạo của Hoàng Ðế Quang Trung .
Năm 1945 khi Pháp bị Nhật đánh bại ở Ðông Dương cũng lại được người Việt quên đi thù hận , mở bàn tay che chở những kẻ sa cơ thất thế khi trốn tránh ( Hồi ký Nguyễn Hiến Lê trang 233) .
Phạm Hy Sơn
( Người Việt Chúng Ta )
Hỡi ai buôn bán ngược xuôi ,
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng Ba .
Những ngày lễ tết , tổ tiên được rước về để vui hưởng với con cháu ; những việc vui , buồn trong gia đình như cưới xin , sanh con , kể cả mua được con trâu cày . . . đều được kính cẩn trình lên để tổ tiên biết . Ơn kế đến là ơn cha mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng nên khi cha mẹ già yếu người con Việt Nam lo báo đáp : chăm nom , nuôi nấng , thuốc men .
Khi cha mẹ qua đời nhớ ngày giỗ , trông nom , sửa sang mồ mả của cha mẹ như săn sóc ngôi nhà mình ở ( sống về mồ mả , không ai sống về cả bát cơm ) .
Kế đến là ơn thầy . Thuở xa xưa khi người Trung Hoa chưa đến đất nước này thì chưa có câu " Nhất tự vi sư , bán tự vi sư : mt chữ là thầy mà nửa chữ cũng là thầy " , nhưng người Việt đã phải học để sống, để làm việc nên chúng ta không nói đến chữ nghĩa mà nói đến cách làm , tức là học nghề học nghiệp qua câu " Không thầy đố mày làm nên . " Vì thầy là người chỉ bảo nên phải luôn nhớ ơn . Thường các nghề có ông Tổ là người truyền dạy đầu tiên , chẳng hạn Ông Phùng Khắc Khoan ( Trạng Bùng ) là ông Tổ của ngành dệt the lụa ; Trần Công là tổ nghề sơn và thiếp vàng bạc . Mỗi năm tới ngày giỗ , những người thợ trong ngành tổ chức cúng tổ rất long trọng .
Sau này đạo Khổng truyền sang trong thời Bắc thuc , ông thầy được tôn lên quá cao , trên cả cha mẹ (quân, sư , phụ ) . Sở dĩ như vậy vì đối với Khổng giáo , ông thầy được coi như mt giáo sĩ , mt nhà truyền giáo có bổn phận bảo vệ và bành trướng "đạo" cùng với sự hỗ trợ của guồng máy cai trị . Những kẻ xúc phạm đến những nguyên tắc đạo lý do Khổng Tử đặt ra bị nghiêm trị .
Ông thầy , ông vua hay mt lãnh tụ cai trị mt nước , không sinh ra , không nuôi nấng công lao làm sao so sánh được với cha mẹ . Ðiều ấy trái tự nhiên nên dù ở Trung Hoa và ở Việt Nam xưa kia thì Khổng Tử được thờ ở Văn miếu , vua chúa và các lãnh tụ thờ ở Lăng nhưng cha mẹ , tổ tiên vẫn chiếm mt chỗ trang trọng nhất trong tâm hồn người dân và trong ngôi nhà họ ở .
Người Việt Nam không thờ vua chúa ( lăng, m của vua, chúa do hoàng tc trông nom và thờ cúng) nhưng lại tôn thờ các vị anh hùng có công ơn với đất nước như Ðức thánh Gióng , bà Trưng , bà Triệu . . . . Vua Trần nhân Tông không được người dân thờ kính như Ðức Trần Hưng Ðạo hay Tướng Phạm ngũ Lão , dù dưới triều đại của ông dân tc ta đại thắng quân Nguyên .
Cùng chiều hướng ấy , hễ mang ơn ai người ta tìm cách trả . Ơn nhỏ thì quà cáp, ơn lớn thì ghi nhớ suốt đời . Nhờ Lê Lai liều mình cứu sống , dù là mt ông vua , vua Lê thái Tổ chẳng những suốt đời ông giỗ tết Lê Lai mà còn truyền cho con cháu phải làm giỗ người anh hùng ấy trước ngày giỗ của mình , nên có câu 21 Lê Lai , 22 Lê Lợi ( 21 và 22 tháng Tám Âm lịch ) .
Trong đời nếu được cứu sống khỏi các tai nạn như chết đuối , chết cháy , cọp vồ . . . người ta coi như mình được sinh ra lần thứ 2 và coi vị ân nhân đã cứu mình như cha mẹ . Sau khi thoát khỏi tai nạn người ta mang lễ vật đến nhà tạ ơn và xin nhận làm con rồi cứ thế tết thì đem qùa kính biếu , khi ân nhân đau ốm tới thuốc men săn sóc , khi người ấy chết thì để tang và cúng giỗ hàng năm .
Anh Yêu Dấu
Một vì sao lạc trong đêm
Lẻ loi chiếc bóng bên thềm trăng mơ
Một vì sao lạc đang chờ
Người về dỗ giấc tình thơ hôm nào
Một vì sao lạc trên cao
Sẻ chia nhung nhớ ngọt ngào thương mong
Ðúng vậy, em vẫn chờ trông ngày chúng ta tương phùng để em được có lại những ngày hạnh phúc bên anh, vắng anh, em như những vì sao lạc loài, bơ vơ trong đêm tối, để rồi chỉ biết viết nên những tình thơ buồn. để than thở với trăng sao .
Có phải chăng, khi hai người yêu nhau, phải trải qua những thử thách, chia cách để có thể nhận định được hướng đi, và giá trị của nó. Và cũng để biết rằng, họ cần phải có nhau mãi mãi trong cuộc đời này ? Mảnh lực tình yêu, đôi khi cũng tạo nên một sức chịu đựng dẻo dai .
Xin cho em
Ðôi cánh thiên thần
Bay đến bên người
Thỏ thẻ tiếng yêu
Xin cho em
Buổi chiều lộng gió
Ðón lấy nụ hôn
Hồng đỏ môi mềm
Em vẫn mộng mơ, em vẫn mong chờ, từng ngày, từng ngày theo nhịp đập con tim, những bức tranh hạnh phúc mãi là nguồn sinh lực cho ngày trở về của anh.
Trăng lạc đường xa, đêm lắng sâu
Người ơi có thấy dáng ai sầu
Ngồi bên khung cửa buồn hiu hắt
Ðợi bóng người về để có nhau
Viết Cho Giao Mùa
March 2009
-DHH
~~~/~~((@
Xin mời bạn đọc ghé thăm tranh nhà Thành Lễ tại:
www.thanhleparis.com
eMail : thanhleparis@thanhleparis.com
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 83 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà