Số 85

Ngày 1 tháng 5 năm 2009

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua@hotmail.com


Thư Ngỏ



BÀI MỞ ÐẦU THÁNG NĂM

Như đứa trẻ xốc lại dĩ vãng đi tìm chính mình một thời nhỏ dại, tôi bò về quê hương vào đận chớm tháng Năm. Tôi hi vọng được bước đi những lối xưa mòn cũ, mở rộng lòng đón ngọn gió biển khơi. Ôi Nha Trang mịn màng, ôi Nha Trang ngàn sóng biếc lung linh. Song tôi đã ít nhiều thất vọng.

Ngôi trường Võ Tánh vẫn còn đó, lớp tôi ngồi vẫn còn kia, những hàng Phượng thì không còn nữa. Hàng Phượng vỹ mà hồi nao cuối tháng 4 dập dình bóng nắng, đơm đỏ rực hoa một góc trời, báo hiệu một mùa Hạ chói chang sắp trở về.

Mùa hè của chia tay. Mùa hè của lưu bút. Mùa hè của bao bộ mặt buồn vui vì trải qua nhiều kỳ thi tốt nghiệp. Mùa Phượng kéo dọc dài suốt bờ biển đến vườn hoa Yến Phi, màu Phượng rưng rưng trong tòa Tỉnh, trong trại Quang Trung và lập lòe nơi con đường Bá Ða Lộc. Màu hoa đan trong tiếng hát, màu hoa thắm đẫm trong tim.

Mỗi năm tới Hè lòng man mác buồn, tâm tư tuổi nhỏ nào không vướng víu vìu lời ca riu ríu đó. Một thời Nha Trang rợp đầy quân phục nhởn nhơ, các cô gái trường Nữ vốn có lúc vu vơ nhớ về chàng trai Ðồng Ðé, Hải Quân hay Không Quân kiêu dũng.

Bây giờ Nha Trang vẫn là thành phố của biển trời, nhưng đêm không còn thấy ánh đạn bắn lên trời ghi những đêm dã chiến từ chân Núi Cô Tiên. Hết rồi thời thơ mộng lả lướt tay trong tay bước lạo xạo dưới bóng dừa đêm. Con đường Duy Tân vắng tiếng cười khúc khích, vắng những lần tiễn đưa ngào nghẹn trước cổng quân trường.

Trách gì Phượng chẳng buồn bỏ Nha Trang biến đi trong nỗi nhớ. Biển rì rào kể lể nỗi buồn riêng. Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya… Nghe như cát vụn vỡ dưới bàn chân cô độc. Nhìn ra Hòn Mun, Hòn Nón đêm u tịch dãi dầu. Tôi bâng quơ hỏi mình : giờ này Phượng nơi đâu. Thoang thoảng chỉ còn mùi hoa Sữa gắt gao xồng xộc vào khứu giác.

Tôi lầm thầm : Nha Trang đã đổi nhiều. Tìm hoài không ra một bóng Phượng. Bò lên dốc Nhà Thờ Núi, len lỏi vào giáo xứ Bắc Thành, những cây Phượng cũng mờ đi mất dấu. Tôi chợt nhớ còn hàng Phượng nơi trường Nữ ngày xưa hay trong sân Vinh Sơn ngày trước. Tôi cố đến và Phượng cũng không tìm được.

Thất vọng, tôi bỏ về. Mới hay ra Nha Trang mất bóng Phượng từ lâu.

Thanh Sơn
Ban Biên Tập Giao Muà


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Hư Vô ______Nguyễn Hải-Bình
2. Phủ Dụ ______Vân Hà
3. Lưu Dấu Dưới Trời Quê ______Hàn Thiên Lương
4. Gởi Cho Anh ______Hồ Thụy Mỹ Hạnh
5. Khung Trời Mộng ______Jacaranda
6. Trong Chơi Vơi Nỗi Nhớ ______Nguyễn Lâm Hoàng Lang
7. Thuyền Lá ______Sông Cửu
8. Người Em Gái Huế ______ Song An Châu
9. Khóc Buồn Quê Hương ______ Thylanthảo
10. Xuống Núi ______Hồ Chí Bửu
11. Quê Hương Sao Thương Quá ______Uyên Phương Minh Nguyệt
12. Giã Từ ______ Nguyệt Vân
13. Nổi Buồn Không Dấu ______Vành Khuyên
14. Ảo Mộng ______ Vi Thông
15. Mưa Tháng Tư ______ Phan Tưởng Niệm
16. Westminster, Ngày Anh Về ______ Nguyễn Ðông Giang
17. Tạ Từ Muộn Màng ______Trần Hoan Trinh
18. Một Hai Ba ______Lê Miên Khương
19. Nhớ Mẹ ______Mạc Phương Ðình
20. 30-4: Vĩnh Biệt Anh ______Ái Ưu Du
21. Thơ Xuân 2009 ______Triều Phong ÐẶNG ÐỨC BÍCH
22. Ðâu Rồi Người Thương ______Hà Khánh Phương
23. Bài Thơ Không Ðoạn Kết ______Du Yên
24. Sau Giờ Phẩu Thuật ______Mynh Hứa

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Cuộc Ðời Ðã Qua _______ Vành Khuyên
2. Bờ Lau Cát Lở 39 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành
3.Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ái Ưu Du
4.Chập Chùng Bóng Núi 32(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn
5.Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên
6.Thiên Thanh ___________ Võ Thị Ðiềm Ðạm
7.Chùm Cây Tầm Gửi ___________ Trần Thành Mỹ
8.Dở Chứng ___________ Nguyễn Thế Hoàng
9.Những Bậc Thềm Rêu ___________ Ngũ Lang

III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

1. Sách Mới: Thiên Thanh - Võ Thị Ðiềm Ðạm _______________________________ Giao Muà

V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1.  Hư Vô


                           
Em về cát bụi
Ðể lại cho anh
Cuộc tình mong manh
Một đời ân hận:
Vì anh đã mất
Người đã thương anh
Vì anh đã quên
Người yêu anh nhất
Dịu dàng đôi mắt
Vòng tay thiết tha
Trao anh nụ hoa
Mà anh buông nhẹ
Anh buồn lặng lẽ
Ðể em ra đi
Giòng lệ ướt mi
Mang đầy thương nhớ
Mà anh chối bỏ
Ði tìm phù du
Ðốt những tờ thư
Quên dần năm tháng ...
Tình cờ dĩ vãng
Mang lại tin em
Một giấc ngủ yên
Ngậm ngùi tạ lỗi
Chân anh có mỏi
Ngậm ngải tìm em
Hồn bướm  mơ tiên*
Hư vô một cõi
Nghẹn ngào trăn trối
Bài thơ thương em.

Biết tin em, 12/2008
  		   		
 Nguyễn Hải-Bình  
Mục Lục


2. Phủ Dụ Ðừng yêu em, hãy yêu thơ Khi nghe vắng lặng, hững hờ…nửa đêm . Mơ màng năm ngón tay êm Mơn man suối tóc cho mềm nhớ nhung Thơ em chẳng có hình dung Có lời đường mật, làm rung động lòng Thơ em đang ở chung phòng Còn em ở tận cuối vòng tương tư Thơ là thật, em là hư Hư hư ảo ảo, y như…đôi mình. 31-03-09 Vân Hà
Mục Lục


3. Lưu Dấu Dưới Trời Quê Trời Tây Bắc mây sầu giăng tứ phía Ta bơ vơ đang lỡ bước đường trần Gót đã mõn dặm về...xa cố lý Thương quê nhà không có một mùa xuân! Ðời viễn dụ..hồn lưu bên xứ mẹ Có đêm nào ngủ suốt hết năm canh Bóng quê hương chập chờn đời cô lẻ Nhớ mẹ hiền nhớ cả những ngày xanh. Như tiếng võng đưa đêm trường vắng lạnh Tiếng cầu tre kẻo kẹt bắc qua kinh Tiếng chim kêu tiếng gàu ai tát nước Là quê hương tâm sự buổi thanh bình! Thương làm sao tà áo bay theo gió Nón bài thơ che nắng giữa trưa hè Bước ai qua trên đường thu ngập lá Bức tranh đời lưu dấu dưới trời quê! Bóng cố hương giờ đây chìm cõi mộng Kẻ chờ trông năm tháng cũng hao gầy Người ra đi mõi mòn sầu xa xứ Sao cõi đời phiêu bạt tựa mây bay? Hàn Thiên Lương
Mục Lục


4. Gởi Cho Anh Gởi cho anh một chút nắng hè để hong trái tim những mùa lạnh giá trời cao nguyên không có gì lạ cả đối với lòng em chỉ vắng anh Gởi cho anh chiếc lá còn xanh của đầu mùa thu, một chiều ra phố Và những cơn mưa sang mùa chợt đổ ướt đẫm tâm hồn em từng ngày nhớ mong Thư gởi cho anh chỉ có đôi dòng Làm sao hết bao điều em hằng nghĩ bạn thân em là những trang nhật ký từng đêm cùng thao thức dưới đèn khuya Có không anh một chuyến trở về Trời cao nguyên những ngày rực nắng vẫn dỗi hờn vì sao anh xa vắng lá trên cành xao xác, lá vàng bay… Gởi cho anh những tháng, những ngày cả những điều mình chưa kịp nói. ( Việt Nam)

Hồ Thụy Mỹ Hạnh

Mục Lục


5. Khung Trời Mộng Cho nhau muôn vạn sắc màu Cho khung trời mộng cùng nhau đắm chìm Cho nhau nguyên vẹn con tim Ðể yêu thương lại đi tìm yêu thương Ru ta mộng ước miên trường Như đôi con Bướm tình vương tháng ngày Ái ân nồng chẳng nhạt phai Tình thơ tô mộng hình hài đôi ta Cho nhau ...quên mất đường xa Em mơ năm tháng bên ta trao tình Lẽ nào ta lại lặng thinh Ðể em rơi lệ để tình nhạt phai Thương em ta muốn thương hoài Sông ngăn núi cách đường dài vẫn mơ Ðêm đêm mài mực làm thơ Gửi người trong giấc mộng hờ thiên thu Jacaranda
Mục Lục


6. Trong Chơi Vơi Nỗi Nhớ Lệ tuôn rơi trong chơi vơi nỗi nhớ Phai giọt sầu cho tim bớt xót xa Bởi vắng anh, đã thiếu đi hơi thở Bởi xa anh, thêm nỗi nhớ thịt dạ..! Có những hoàng hôn nắng vàng chợt tắt Nghe hồn mình chất ngất nỗi sầu tuôn Căn phòng nhỏ từng đêm buồn hiu hắt Em nơi đây, anh mãi đó....cô đơn ! Có những lúc em buồn em biếng nói Chữ nghĩa nào nói hết con tim côi Từ sâu thẳm nghe xôn xao tiếng gọi Anh...anh ơi ! em yêu nhất trên đờị..! Em khao khát tình nồng, bờ môi nóng bỏng Lấp kín đầy ngỏ ngách trong đam mê Cùng cho nhau những ngất ngây trọn vẹn Nửa cuối đời nồng thắm nghĩa phu thê. Em ngồi chải suối tóc mây Còn anh ngồi đếm tháng ngày tha hương Tóc em bát ngát mùi hương Hồn anh say giấc tha hương tang bồng Ðời em hạnh phúc bên chồng Ðời anh say đắm hương nồng tình em ! Nguyễn Lâm Hoàng Lang


Mục Lục


7. Thuyền Lá Nhớ TRINH & những linh hồn trên biển Hoàng hôn Soi bóng trăng thề Thương em Chiếc lá Sơn khê Giữa dòng Ra sông Qua suối Xuống ghềnh Lênh đênh tiếc nuối Bồng bềnh nỗi đau! Vầng mây đen Phủ trăng sầu Con thuyền lá mỏng Xôn xao cuối trời ”Trái tim là bến…” Em ơi! Chơi vơi Chìm nổi Ngàn khơi Ngỡ ngàng Rừng Thu Ngập xác lá vàng Tiếng chim Lẻ Bạn Kêu vang cuối trời Vi vu Gió hú quanh đồi Sương rơi kín nụ Phủ chồi mầm xanh Nỗi đau Chiếc lá xa cành Ngoảnh nhìn thân cội Cam đành chia xa Mịt mờ trời nước bao la . . . Pacific Beach, 4 - 2009 Sông Cửu
Mục Lục


8. Người Em Gái Huế Che nghiêng nón lá bài thơ Em duyên dáng nở nụ cười bên anh Tràng Tiền dòng nước chảy quanh Chiều sương núi Ngự cổ thành tịch liêu Sông Hương vàng ánh mây chiều Con đò bến Ngự yêu kiều dáng em Ðưa tay khuấy nước trăng đêm Ngàn sao lấp lánh kề bên mạn thuyền Ước gì xứng hợp lương duyên Ðôi ta chung lối chung thuyền nghe em! GA, Apr. 05, 2009

Song An Châu
Mục Lục


9. Khóc Buồn Quê Hương =*= Biển đã gào lên tiếng hận đau Gió chuyền lời biển- dậy ba đào Trường Sa là đất trời Nam Việt Chung với Hoàng Sa – máu ứa trào… Bắc phương một lũ quân bành trướng Tham ác sân si với láng giềng Lịch sử từ vua Hùng dựng nước Từng ghi chiến tích chốn biên cương… Ðầu ai lăng lóc Ải Chi Lăng? Giặc Bắc phương kia có nhớ rằng Liểu Thăng với tướng Hầu Nhân Bảo Phơi xác cũng vì quá dã man… Nước Bạch Ðằng Giang đỏ máu Tàu Ngô Vương một trận dậy gươm đao Hoằng Thao mất vía nhìn Nam tướng Ðem chữ hy sinh đổi máu đàọ! Trần tướng quân chờ giặc đến đây Ô Mã Nhi kia- nhớ chồn nầy Nước Bạch Ðằng Giang loang máu đỏ Con Hồng, cháu Lạc lắm anh tàị! Kìa, Thóat Hoan chui tọt ống đồng Trương Phụ mọp quì tạ núi sông Một kiếm trời Nam danh Nguyễn Huệ Máu của Tàu quân đỏ sông Hồng.! Hải quân của Việt Nam Cộng Hòa Một lần huyết chiến tại Hoàng Sa Giặc kia nhắc đến còn kinh sợ Trước chữ hy sinh giữ sơn hà. Hải Quân Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà Gió rít lời đau khóc xót xa Anh đã hiên ngang đền nợ nước Tuổi trẻ hy sinh giữ nước nhà,. Ðảng vẫn “ Anh Hùng” luôn “Bách Thắng” Mà sao hèn quá núi sông ơi! Tàu kia uy dũng dù vang dội Thì chữ HY SINH mãi rạng ngời ! Nam Quốc Sơn Hà Nam Ðế Cư Nếu không gió ngược cuối tháng tư Tàu kia chưa chắc gì đã dám Chiếm đoạt ngang nhiên tạo oán thù… Thylanthảo
Mục Lục


10. Xuống Núi ta xuống núi tay không cầm bình bát nên gặp em không khất thực tình yêu cõi vô ngã ngộ duyên ta chưa đạt ngõ phù hư kinh rớt mất- chơi liều. khi xuống núi thầy không trao tràng hạt ấn Kim Cang ta quên mất hôm nào và tất nhiên cũng sẽ về với cát gặp em rồi tim cứ đập xôn xao ta vẫn biết Niết bàn xa tay với đâu phù sinh ?đâu hiện hữu? vô thường ? sao chết đứng với cái nhìn vời vợi em đã làm kẻ Tội, Nghiệt hoàn lương đi khất thực mà không mang bình bát nên gặp nàng ta đâu dám hoá duyên chắc em hiểu cúng dường ta ánh mắt làm ta về thao thức đến vô biên tội lỗi, tội lỗi – vô cùng tội lỗi con ngộ rồi Duy Thức của Ðạt ma với sư tổ con là người có tội nhưng với nàng con xin được giác tha em thấy không – mình tự sinh tự diệt khói phù vân không tắt tiếng đại hùng ta cởi bỏ áo sồng không luyến tiếc lỡ yêu rồi thì yêu đến lâm chung. Ðêm Một Mình phố buồn đã ngủ yên ta lang thang một mình chiếc bóng nào soi nghiêng gót chân về vô biên em bây giờ phương xa vui trong đêm nhạt nhoà nơi xứ người kiêu sa hay ngậm ngùi như ta em bây giờ phiêu du với trái tim ngục tù trải lòng trên băng giá cho thắm tình thiên thu phố phường đã ngủ say ta ru ta miệt mài mùi hương nào đâu đây có còn ai còn ai nỗi buồn nào sâu hơn gót chân như giận hờn chiếc bóng mình quá thấp lồng lộng với cô đơn có còn chăng mình tôi đi băng qua cuộc đời một mình một mình thôi một mình một mình thôi… Ðêm Vũng Tàu Nghe Thái Thanh hát. lạ gì tiếng hát khói sương lời ca như giết đoạn trường trong ta ngước nhìn biển rộng bao la con thuyền vô trạo một ta một mình Hờ Hững nửa tối trở về nực nồng hơi rượu vợ ta nước mắt môi cắn môi nằm quay vô vách ta không nói rờ rún mà ngâm mẹ kiếp đời Thơ Tình bài thơ ta viết từ lâu lắm muốn đọc cho nàng nghe thất kinh nghĩ ra nàng đã sang nhà khác thôi để riêng ta giữ một mình Trở Lại ta quăng bình bát xuống sông bình trôi nước ngược lên dòng thượng lưu định về cởi áo đi tu gặp em đang tắm- còn tu nỗi gì ..? Nghi Ngờ tụi bạn bảo ta khi nằm ngủ hào quang chiếu sáng ở trên đầu thời nay đâu có ai thành Phật ? chắc là lửa cháy suốt đêm thâu ! Về Thôi.. ni cô tưới kiểng trước chùa thấy ta người hỏi vào chùa thăm ai ? thưa rằng đến viếng Như Lai gặp nàng tưới kiểng ta quay đầu về. Mộng đêm qua nằm ngủ mà mơ thấy tiên hiện đến trao thơ mời chầu trả lời rằng chẳng được đâu trần gian ta nợ nửa cầu gió trăng.. Chiều Mưa Uống Rượu Một Mình thì cứ giận hờn cho đỏ mặt em về mưa bụi rớt trên vai ta đã quen rồi cơn độc ẩm một mình ngồi ngắm gió mưa bay quán cóc không em hình như lạnh chẳng hề, có rượu ấm lên thôi uống thêm ly nữa nghe bằng hữu ta nói mình nghe cũng đã đời rót tiếp cho mình ly rượu lạt có buồn thì cũng chỉ mình thôi chắc tại cơn mưa chiều bất chợt hồn ta phủ ướt đám mây trôi ta khốn khổ nên cả đời quanh quẩn bên cối xay chữ nghĩa đã rã rời không vượt được cái bóng mình bé nhỏ không tự mình bức phá cuộc rong chơi mưa dứt hột rượu rơi cay mắt nhậu một mình thiên hạ thấy kinh ta chợt thấy cuộc đời phi lý lỡ chết mà chưa - Rượu Một Mình.. (trích trong tập thơ XUỐNG NÚI- NXB/VN/TPHCM-2005) HồChíBửu

Mục Lục


11. Quê Hương Sao Thương Quá Rời quê hương tôi trải đời viễn xứ Buồn xa quê luôn canh cánh trong lòng Nhớ quê hương xanh biếc những dòng sông Dân cuốc cầy ngoài đồng phơi mưa nắng Con đò nhỏ đưa dân trên sông vắng Êm đềm trôi qua những lũy tre xanh Và những đêm vằng vặc ánh trăng thanh Giọng hò ai ngân vang sao se sắt Quê tôi đó với ngàn lau xao xác Những trưa hè văng vẳng tiếng mẹ ru Hàng dừa reo cùng tiếng gió vi vu Rặng liễu buồn thì thào đong đưa nhánh Chú cò con lạc bày chao đôi cánh Trên cánh đồng lúa biếc gió mơn man Chợ chiều ngân tiếng guốc dội xa vang Làn khói toả từ bếp hồng rực sáng Lũ trẻ nhỏ tung tăng đùa trong nắng Tan trường về nhộn nhịp khúc hoan ca Chiếc cầu tre thấp thoáng bóng từ xa Các cô gái nghiêng che vành nón lá Quê hương hỡi một lần tôi từ giã Nên ngậm ngùi thương nhớ tháng năm qua Lòng u uất xót đau vận quốc gia Tim trĩu nặng cho hồn thiêng sông núi Quê hương ơi đừng nghẹn ngào sầu tủi Tôi sẽ về thăm lại chốn quê xưa Dạ ai hoài khắc khoải những chiều mưa Lệ đong đầy quê hương sao thương quá.
Uyên Phương Minh Nguyệt





Mục Lục


12. Giã Từ Từ cái thuở chúng mình kết hợp Nỗi vui buồn gian khổ có nhau Năm dài, tháng rộng qua mau Ðàn con bốn đứa thi nhau chào đời Anh lãng tử hào hoa bay bướm Thuở huy hoàng bạn hữu tứ phương Vợ nhà thắt thẻo nhớ thương Ôm con hiu quạnh hồn vương bước chồng Rồi cái thuở huy hoàng chợt tắt Cũng một thời ngang dọc đã qua Ta về sống với mẹ cha Cửa nhà mất sạch, bạc tiền trắng tay Anh cùng vợ thắt lưng buộc bụng Có gian nan mới biết tình chung Những cơn cùng khổ vẫy vùng Em làm thập ghệ, anh vương lao tù Nghề buôn bán em thời chẳng biết Giữa chợ đời em thiệt ngu ngơ Tình đời nhân nghĩa thờ ơ Vừa thân thương đó, giả vờ không quen Em kiếm sống bon chen tần tảo Anh ra tù chạy gạo từng lon Con thời thiếu sửa héo hon Anh nhìn mặt vợ, thương con lệ trào. Theo năm tháng gian lao cùng khổ Anh tìm đường giải thoát vợ con Vượt biên từng chuyến hao mòn Tiền thì mất sạch lon ton chạy về Em chua xót tái tê tất dạ Nhìn con thơ mờ mịt tương lai Cuộc đời trăm nẻo đắng cay Nẻo nào đi tới tương lai bây giờ? Bất chợt có một tia hy vọng Ðường đi tìm chân lý tự do Anh còn tất dạ đắn đo Nữa tin rằng thật, nữa ngờ rằng sai Thư hồng từng cánh trao tay Bạn xa ngàn dặm tin hay gởi vể Anh mửng rỡ ngập tràn hy vọng Em âm thầm càu nguyện từng đêm Nhìn lên ảnh Chúa êm đềm Con hằng tin Chúa lòng mềm thương con Ðơn đã nộp cho phòng xuất cảnh Không tiền lo quan nhỏ, quan to Anh ngồi bó gối buồn xo Tứ phương vay mượn quyết lo chuyện này Lòng luôn những ghi ơn bạn hữu Tiền gởi về giải cứu cơn nguy Lòng mừng chẳng biết nói chi Miếng nhỏ khi đói, lòng ghi nhớ đời Chờ cũng được đến ngày phỏng vấn Vợ, chồng, con may mắn ra đi Lệ mừng hoen đọng bờ mi Tự do ta tới, đường thì thênh thang Ðứng chen chúc, người đưa kẻ tiển Mẹ cha buồn gạt lệ quay đi Nhìn nhau chẳng biết nói gì Vui, buồn lẫn lộn trước khi phân kỳ Ngồi máy bay mà lòng thầm nghĩ Mười tám năm gian khổ trôi qua Việt Nam hai tiếng quê nhà Gĩa từ mà thấy xót xa tâm hồn Ngày 11/4/09

Nguyệt Vân
Mục Lục


13. Nổi Buồn Không Dấu Tháng ngày thưa thớt Anh cùng em khép lại những hàng cây Trời vào hạ, tóc mưa xỏa đầy Không che hết, những nổi buồn không dấu Có phải cổ tích đâu mà kết cuộc có hậu Cơn lốc đời đẩy mình tháng ngày xa Hai người, tận hai đầu - không lối qua ... Nghĩ về nhau, cứ tự nhìn trong tâm tưởng Cuộc đời mà có mấy ai biết được Kẻ ra đi! Người ở lại! Chốn nào? Ðâu rồi những tháng ngày thật khát khao Mãi trong tim, những nổi buồn không dấu! 4/09

Vành Khuyên
Mục Lục


14. Ảo Mộng Từ em gẫy cánh thiên thần Sa cơ giáng hạ nẻo trần náu thân Thăng trầm một kiếp tình nhân Giấu đôi cánh mỏi gót chân ngại ngần Từ ta lạc chốn phù vân Loài chim di trú đợi xuân quay về Ðắm chìm bao nỗi u mê Nửa đêm thao thức não nề bóng ta Tạ từ cơn mộng đi ra Chợt nghe bão táp mưa sa cuốn vùi Thôi đành hư ảo mà vui Mặc cho đời lắm ngậm ngùi đổi thay Trầm mình một thoáng hương bay Áo phong sương phủ vai gầy trần gian Ngẩn ngơ gió hát trên ngàn Thương con chim mộng khuất dần nẻo mây Ta về nhắp chén men cay Chút tình tri ngộ đợi ngày ghé thăm Bây giờ người quá xa xăm Bỏ ta lỡ hẹn ngàn năm câu thề Vi Thông (tặng người tình ảo) * Dạ Khúc Hãy lặng yên mà nghe từng câu hát Ðây lời ca ta gửi đến cho người Em có nghe hồn gió khuya trăn trở? Tiếng ru bờ sóng vỗ tình chơi vơi Ðừng rơi nữa lá ơi đừng rơi nữa! Giot sương buồn đã rụng kín nơi nơi Ðêm nay có một vì sao không ngủ Rơi xuống đời sầu ánh lên lẻ loi Ta hát mãi bài tình ca muôn thủa Ru dòng sông muộn phiền xưa vẫn trôi Em hãy dựa vào vai ta mà tựa Trái tim yêu đang loạn nhịp rối bời Sao lại thế mảnh trăng vàng héo hắt? Có thấu chăng đây dạ khúc tình ta Ðừng lẩn khuất cuối trời mây u uất Khúc bi ca vọng suốt đêm nguyệt tà! Ta sẽ hát cho sầu rưng dấu lệ Tiếng thở dài run rẩy khắp bờ môi Em gần thế mà sao tình xa thế Bên tầm tay tưởng như tận chân trời! Tiếng hát ta lồng lộng bay trong gió Gọi trăng về ghép nốt một vần thơ Trăng đã vỡ và tình ta đã lỡ Cố nhân ơi! Buồn cho đến bao giờ?... Vi Thông
Mục Lục


15. Mưa Tháng Tư tháng tư mưa đổ xuống trên con đường tôi đi làm mờ bao ước vọng xóa nhòa những tương lai . tháng tư mưa đổ xuống ướt đẫm bộ treillis tôi cởi ra vứt bỏ xuống dòng - Bến Chương Dương . tháng tư mưa đổ xuống lầy lội cả cuộc đời tôi nổi trôi cuộc sống phiêu bạt khắp bốn phương. tháng tư mưa đổ xuống ngập lụt khắp thôn làng em thơ không sự sống lạc loài - đói - lang thang tháng tư mưa đổ xuống làm đổ nóc giáo đường con chiên lìa xóm đạo Chúa nhìn - mắt lệ rơi . tháng tư mưa đổ xuống làm sụp mái chùa cong tín đồ úp mặt khóc Di Ðà niệm - Nam Mô tháng tư mưa đổ xuống phủ ướt khắp dân tình tôi lấy tay vuốt mặt nhìn rõ sự nhục vinh . Phan Tưởng Niệm

Mục Lục


16. Westminster, Ngày Anh Về *Tặng những chiếc áo dài VN ở quê người – NÐG Lòng mừng , về thăm Westminster Ði trên Bolsa , vàng rực phốù cờ Áo dài Việt Nam , bay trên đất lạ Cuối tháng Tư buồn , anh viết bài thơ Áo dài em bay , tiếc ngày tháng cũ Còn nhớ không em , xưa buổi lên đường Em mang Tổ quốc , đi vượt biển Thơ , vẫn vô cùng , nhớ quá quê hương Về đây gặp , những bạn bè xưa Ðời tù tội , nhiều năm chung đủ Người thù người , cắt tình máu mủ Ðủ rồi , anh bỏ đất sang sông Anh tin rằng , như có cố hương Theo chúng ta , những ngày lạc bước Ngày tháng này , của bao năm trước Sài gòn cờ bay , rộn rã tấm lòng Em có tình , có nghĩa với non sông Nên mới gặp , anh đem lòng cảm mến Nước Mỹ , những ngày anh mới đến Nhìn lá cờ bay , nước mắt chảy dài Thành phố anh về , đã có bóng em Con đường Bolsa , đầy dấu chân mình Tiếng nói tiếng cười , người lên kẻ xuống Hơi hám quê nhà , ấm buổi nhục vinh Lòng mừng , về thăm Westminster Thành phố tháng Tư , đẹp những áo dàiø Trong nỗi vui buồn , anh xin quên hết Quên cả chính mình , đời đã tàn phai T H Ồ C A 1 Ta là anh xe thồ Dọc đường gió bụi hát nghêu ngao Ðón đưa bao khách vềtrăm bến Nhưng còn ta chẳng có bến nào Không có bến nào ta đậu nên đi Cái thân hồ hải có sá gì Lao đao đeo sát thằng lở vận Nhưng sổ lồng rồi đói rách hề chi Hai bàn tay không về lại cố hương Con ngựa sắt già giúp ta xuống đường ø Thời buổi vận cùng thân xơ xác Nắng tạt mưa xô bầm dập tang thương Bầm dập tang thương đời thêm sắc hương Thúy Kiều hơn ai nếu không đoạn trường Ta mới sơ sơ trầy vi tróc vảy Ồ ! trái tim mình còn rất dễ thương Mặt mũi đen sì tắm bụi bốn phương Ðau khổ bao nhiêu vẫn không cùng đường Chiều có banï bè sớt cho chút rượu Ðủ để ngà ngà trong cõi khói sương `Ta là anh xe thồ Vui đời nghiã vụ thú tiêu dao Mời khách giang đông lên xe đón gió Lên cả hồn người vật vã nao nao Cá đầy gánh chưa mời em đến chợ` Rau nặng chị đừng đi bộ đau chân Mời khách quá giang đi đâu cứ gọi Ta sẵn sàng chìu dù mỏi gối bong gân Ta là anh xe thồ Mồ hôi mình đã đổ biết bao Năm này tháng nọ cong lưng đạp Chí tang bồng chừ chẳng lẽ vậy sao ! Ta viết cho mình hay cho ai Cớ sao không nén được thở dài Thân ngựa xe nầy như thân đĩ Chở hết mọi người nhưng còn lại được ai ! Ta viết bài thơ ta đề tặng ta Tặng khách đi qua đi lại bến phà Tặng cái xe già, cái đời thồ sĩ Thơ thẩn làm gì , ừ ! ta cũng quên ta . Ðà nẵng 1985 – Thồ: Nghề chở khách,chở hàng bằng xe đạp sau 1975.Nghề cơm áo của tác giả sau những năm trong nhà tù CS trở về Ðà nẵng,VN. . Nguyễn Ðông Giang


Mục Lục


17. Tạ Từ Muộn Màng Thôi đừng non nỉ nữa em Ngoài kia trời đã vào đêm lâu rồi Phố phường đã mở cuộc chơi Xập xình tiếng nhạc , chói ngời đèn hoa Áo hồng áo đỏ thướt tha Tiếng cười thánh thót tiếng ca tưng bừng Người ta thì đã trùng trùng Cố nhân chắc đã đổi lòng từ lâu Bây giờ bến cũ nông sâu Muốn về nào biết bến đâu mà về Mênh mông vạn dặm sơn khê Sương giăng cổ độ , mây che giang đầu Tình yêu ấy đã nát nhầu Thì thôi chấm dứt cuối câu cũng vừa Xé trang tình sử năm xưa Còn đâu tình sử mà mơ thêm buồn Kinh kỳ sấm chớp mưa tuông Sông ngăn đèo chắn biển cuồng núi cao Tàn rồi một giấc chiêm bao Dại gì bấc lụn đèn hao một mình Vết thương lòng để trong tim Hơi đâu đau mãi chuyện tình dở dang Ðã qua bao mùa lá vàng Trách chi ai bạc-tình-lang làm gì ! Một lần đã nói biệt ly Xem như giấc mộng xuân thì đã xong Người ta đã nên vợ chồng Mà em còn muốn đèo bòng làm chi ? Tạ từ nói tạ từ đi ! Dẫu rằng từ tạ có khi muộn màng Xuân kia sắc cũng chưa tàn Phấn son em hãy điểm trang lại mình Môi hồng điểm nụ cười xinh Nụ cười đổ quán xiêu đình ngày xưa …. Trần Hoan Trinh


Mục Lục


18. Một Hai Ba Một hai ba, oảnh tù tì Trò chơi ngây thơ tuổi nhỏ Sao mình chơi hoài không chán Anh thu tròn nắm tay làm búa Ðập nát đinh - ngón tay em Anh thắng em thua Anh mở bàn tay làm tờ giấy Hai ngón tay em làm kéo cắt giấy anh Em thắng anh thua Rồi cánh chim thời gian băng băng không chờ ai cả Ðá đã mọc mấy lớp rêu phong, cây bao lần thay lá Con sông bên lở bên bồi, đất mặn đã hóa nương dâu Nước hóa mây mưa đưa rồng về biển Một thập niên hai thập niên ba thập niên Anh loay hoay đi tìm chiếc đinh thuở nhỏ Ðời ai cũng viết nên trăm trang sách Lưỡi kéo thời gian đã cắt đời anh ra nhiều mảnh Chiếc búa thời gian đã nện bao hồi lanh lảnh Ðã gần hết đời người Tóc hai màu sương khói Vẫn chưa tìm lại được chiếc đinh đã chọc thủng tim anh. tháng 12 / 2008 Lê Miên Khương


Mục Lục


19. Nhớ Mẹ Thường những bữa cơm, lòng con nhớ mẹ trong bàn ăn, còn có ghế mẹ ngồi tóc đã bạc, con đâu còn tấm bé sao trong lòng vẫn nhớ mẹ khôn nguôi Không ai nhắc vẫn rưng rưng niềm nhớ biết bao nhiêu khó nhọc của riêng người lúc con bé, mớm cho từng hơi thở khi ốm đau ngọt lịm giọng à ơi dìu con bước từng bước đầu bở ngỡ khúc ca dao thao thức bốn quai nôi cha che mát lời khôn ngoan rực rỡ mẹ chăm nom ấm áp điệu ru đời từng giọt sữa thơm từng ngày khôn lớn lòng bao la như biển chẳng hề vơi. Bưng chén cơm ăn lòng con nhớ mẹ những lúc gian nan mẹ vẫn không buồn mẹ vẫn vì con hao mòn sức khoẻ suốt đời cho con tất cả yêu thương giọt máu trong tim thơm mùi sữa mẹ những lời mẹ ru ấm mãi đêm trường. http://macphuongdinh.blogspot.com/ Mạc Phương Ðình


Mục Lục


20. 30-4: Vĩnh Biệt Anh Thành kính nghiêng mình trước những vị anh hùng vị quốc vong thân. Ái Ưu Du Anh lính ấy oai hùng trong chiến trận. Sóng bạc đầu cánh thép kiếp đằng vân. Anh hiên ngang phiêu lãng chẳng ngại ngần. Ði tứ xứ gót giày đinh vang ngân. * Anh lau súng mài gươm dưới trăng rằm. Thề quyết giữ non sông Việt hoa gấm. Diêt bạo tàn. An vui đến tha nhân. Lòng trung kiên ngàn đời thề tiềm ẩn. * Uốn khúc ngập ngừng bờ lau sậy dẫm. Rong rêu kè đá rễ già ướt dầm. Men đời cạn khô dưới vùng cỏ non. Dòng suối lững lờ bên bờ vực thẳm. * Vĩnh viễn từ đây lặng lẽ âm thầm. Anh nằm đó tình buồn xanh một nấm. Niềm xúc động bồi hồi tự trong tâm. Tiếc thương anh quặn đau kiếp phù vân. * Ðường tử huyệt một lối không chân! Anh để Ðời luyến nhớ đau vô ngần. Chia một nửa hồn ai tình chôn vậy. Người tiễn Người giòng lệ tới chân mây. * Ái Ưu Du


Mục Lục


21. Thơ Xuân 2009 Triều Phong ÐẶNG ÐỨC BÍCH cùng các thi hữu xướng họa Bài Xướng XUÂN KỶ SỬU Xuân đến mang về những ước mong Thiều quang trải rộng khắp non sông Bướm ong nhộn nhịp trong vườn thắm Tùng cúc sum sê dưới nắng hống Hải ngoại nhân quyền đang thắng lợi Quê nhà dân chủ sớm thành công Toàn dân vùng dậy trên đà tiến Kỷ Sửu người người ngóng đợi trông Triều Phong ÐẶNG ÐỨC BÍCH Bài Họa: Bài Họa 1: TẾT KỶ SỬU Tết về, Kỷ Sửu nguyện cầu mong Ðạo đức quang huy rạng núi sông Tôn giáo tự do hành Chánh Pháp Nhân dân hạnh phúc xứng nòi hồng Quê hương tràn ngập hoa dân chủ Hải ngoại mừng reo qủa chiến công Dân, nước tới " thời cơ "chuyển đổi Xuân sang cảnh thắm, đáp hoài trông Giác Lượng TUỆ ÐÀM TỬ Bài Họa 2: MỪNG XUÂN KỶ SỬU Kỷ Sửu xuân về lắm đợi mong Tơ vàng ai rải lụa đầy sông Tung hoành Dân chủ dương cờ thắm Tan tác Cọng hòa nhỏ lệ hồng Ðịa ốc xuống lên chìm tận đáy Ngân hàng lời lãi hóa không công Âm mưu tư bản tiền đầy túi Ngơ ngẩn dân nghèo mãi ngóng trông Hoàng Duy LÊ VĂN BA Bài Họa 3: VUI XUÂN KỶ SỬU Xuân có làm vơi bớt nhớ mong Thuyền còn lơ lửng mãi trên sông ? Niềm tin chừng nhuốm màu trăng uá Ước vọng nghe phai sắc nắng hồng ! Rượu mới, bình xưa : Xuân thắng lợi Lời vang ý dậy :Tết thành công ? Ngày vui hãy rước thuyền về bến Chớ để Người xa mỏi mắt trông BÙI THÚC KHÁN Bài Họa 4: HOÀI MONG Xuân qua xuân lại cứ hoài mong Rực rỡ muôn hoa ngát núi sông Diệt lũ sâu dân chuyên trét phấn Trừ loài mọt nước muốn tô hồng Nông thôn lớp lớp cùng ra sức Thành thị người người lại góp công Bảo vệ giang sơn toàn vẹn mãi Xây đời hạnh phúc thõa chờ trông NGÔ ÐÌNH PHÙNG Bài Họa 5: THÚC DỤC Ngày đi mang nặng những hoài mong Một dịp quay về dựng núi sông Cây cỏ Tây Sơn luôn óng mượt Bèo mây Thị Nại vẫn tươi hồng Dẫu lìa ngó ý, thương dân tộc Còn vướng cung tơ, nhớ chiến công Ước nguyện ngày xưa cười cợt tớ Sao còn ngồi đó mỏi mòn trông THÁI TẨU Bài Họa 6: XUÂN MƠ Dầu dãi bao năm vẫn ước mong Thuyền xuân lướt sóng Cửu Long sông Trỗ đòng đồng lúa lan tơ biếc Nở nụ vườn hoa tủa cánh hồng Ðâu đó thuở xưa vang chiến thắng Và đây Kỷ Sửu vọng thành công Dưới trăng nâng cốc vui hoài cổ Ngoài cửa oanh ca toại ngóng trông HUYỀN VŨ Bài Họa 7: KỶ SỬU NIÊN Vẹn toàn lãnh thổ nguyện cầu mong Già trẻ củng nhau giữ núi sông Ðất Việt non xanh tô cảnh đẹp Nước Nam gấm vóc giải màu hồng Bắc phương lấn đất đòi thêm biển Nam quốc họp dân chống bất công Kỷ Sửu niên lai ta nhất thắng Ðập tan bành trướng chớ hòng trông NGUYỄN DIÊU Bài Họa 8: LẬT TRANG SỬ CŨ Lưu lạc quê người vẫn ước mong Ngày nào trở lại với non sông Cành Nam chim Việt về xây tổ Ðất Bắc dân đinh thiếu ánh hồng Nguyễn Huệ vang danh xuân Kỷ Dậu Quân Thanh vỡ mật chỉ hoài công Mối thù Bắc thuộc ngàn năm cũ Hỡi bọn giặc Hồ chớ đợi trông TRẦN QUANG HÂN Bài Họa 9: XUÂN ƯỚC VỌNG Trải mấy mùa Xuân vẫn cứ mong Cầu trời soi sáng khắp non sông Quê hương vơi khổ cho hoa thắm Tổ quốc hồi sinh đón nắng hồng Trên dưới một lòng cùng tạo lợi Công tư nhất dạ sẽ thành công Ước sao nòi Việt đồng thăng tiến Chị ngã em nâng thõa nguyện trông NHẤT DẠ Bài Họa 10: TẾT CON TRÂU Nước mạnh dân giàu ai chẳng mong Mùa xuân rạng rỡ núi cùng sông Mai vàng khoe sắc tươi màu áo Ðào thắm phô duyên đẹp má hồng Thịnh vượng phú cường còn gắng gượng Tự do dân chủ sớm thành công Nhân quyền Kỷ Sửu nhiều hy vọng Quốc nội người người vẫn ngóng trông VƯƠNG SINH Bài Họa 11: CÚNG VÁI NGÀY TẾT Trời đất chưa Xuân đã đợi mong Niềm vui trọn vẹn núi liền sông Giang sơn lâu lắm tô màu đỏ Ðất biển dần dà điểm sắc hồng Tiên Tổ dày công nay uổng sức Thần Dân trải sức bỗng hoài công Xuân về rải rượu xua ma giặc Ðáp tiếng tiền nhân đang giục trông CAO YÊN TUẤN Bài Họa 12: TẾT CON TRÂU Chuột bầy lót ổ chớ hoài mong Trâu sụm cà que khổ vượt sông Mới trận mưa dầm ngâm phố Mã Vừa cơn lũ phá lấp đê Hồng Dân đen ngáp ngáp nơi bờ ruộng Cán ngố vênh vênh chốn cửa công Chệt Ðỏ rập rình, biên ải lạnh Mong gì xuân lại chớ hoài trông CHU HÀ Bài Họa 13: THƠ XUÂN ( Gởi về quê Ngoại ) Xuân về xa xứ chỉ cầu mong Làng ấy Tân Kiều ở cận sông Khóm trúc thẳng tong thêm sắc biếc Vườn đào mơn mởn đượm màu hồng Cháu con nội ngoại đều thành đạt Tộc họ ông bà chẳng uổng công Lập nghiệp bao đời luôn phát triển Vẻ vang một thuở thõa chờ trông MỸ VÂN Bài Họa 14: TƯƠNG LAI SÁNG Dẫu cho phiêu bạt vẫn chờ mong Ðền đáp thâm ân với núi sông Một thuở dọc ngang vui thắm đượm Cũng thời oai dũng đẹp tươi hồng Nay dù gian khó kiên tranh đấu Mai phải hiểm nguy gắng lập công Ðất nước thanh bình dân thịnh vượng Muôn người như một toại lòng trông HOÀNG ÐẠO Triều Phong ÐẶNG ÐỨC BÍCH


Mục Lục


22. Ðâu Rồi Người Thương Xuân tới mai đào nở rộ sắc hoa xanh biếc lộc non hé nụ khoe cành như tình vừa chớm đẹp - em và anh đò chuyên chở hai yêu chung một chuyến Hạ về bối rối tim luôn xao xuyến ngỡ lứa tuổi học trò vòng tay e ấp bản tình ca ngân vang thay lời đáp bổng trầm vương vấn cung bậc giao hòa Thu sang chiếc áo tình yêu kiêu sa không gian chuyển tải lời trao ý gởi thời gian bắc cầu yêu thương nhung nhớ rực rỡ hơn mùa cây thay màu lá Ðông tàn tuyết không phủ thôi thì đã chưa kịp ngày tay nắm lấy bàn tay tin trông tin… mắt dõi mắt tháng ngày hai phương trời còn lại gì cho nhau? Hỏi ai… ai biết - biết gì niềm đau bây giờ xa rồi xa lắc xa lơ thoảng bay - bay mất cung tình mộng mơ một yêu trăm nhớ bồi hồi ngổn ngang Thuyền tình lỡ bước bến chờ chuyến sang mai nầy điểm hẹn có còn nhớ quên một lần khắc gặp mắt thầm gọi tên đẹp thời đã yêu sóng tình hoài niệm. Ðâu rồi người thương! Chỉ tôi với tôi ngày khắc khoải đêm đêm thao thức ngày người thương đâu rồi?... 2008 Hà Khánh Phương


Mục Lục


23. Bài Thơ Không Ðoạn Kết Sợi tóc mây trời quyến luyến bay Trói buộc nhau vào cuộc tình bỏ lỡ Ðã gặp nhau, rồi yêu nhau từ thuở Ánh trăng thu lờ lững chảy theo dòng Ðể cứ buồn trong suốt cả mùa đông Giọt nắng vàng bên hiên thêm lười biếng Nỗi cô đơn thân xác giờ tẩm liệm Theo dáng xưa tóc rối xõa vai gầy Ðể cả một đời cứ mãi đam mê Cứ ngơ ngẩn say tóc mây theo gió Hết cuộc đời kỷ niệm xưa còn đó Thoáng mùi hương trong gió lộng năm nào Cuộc tình dài như một thoáng chiêm bao Lúc mất nhau là lúc vừa tỉnh giấc Tiễn biệt nhau trong chiều mưa lất phất Ðường nào về, mất dấu lối quen xưa Cũng từ đó đời lạc lối vào thơ Bài thơ tình viết hoài không đoạn kết Ồ mà lỡ một mai này ta chết Ai viết giùm cho đoạn kết bài thơ ? Viết từ vùng gió xoáy – cuối năm không tám Du Yên


Mục Lục


24. Sau Giờ Phẩu Thuật Vừa tỉnh lại sau giấc ngủ gây mê Những tiếng rên phòng bên dội về vết mổ Thế mới biết có khổ mới cảm thông nhau Ta cũng thấy đau nơi vết mổ Ðể cái khổ bật tiếng rên Và toát lên theo nhịp thở Ðầu ta nghe chừng đã vỡ Vỡ những vòng xoay ( * ) Mở mắt nhìn mới hay Vợ hiền đang lây hoay nhìn với nụ cười héo hắt Nụ cười chợt tắt, chỉ ánh mắt đăm chiêu Ánh mắt nói lên vạn điều Tình yêu như cơn hồng thủy ... Nàng y tá như đang suy nghĩ, đợi chờ Không dám khuấy động giờ đoàn tụ Liếc nhìn lên đầu giường Ðây tình thương ấp ủ Với đủ loại dây chuyền Nào huyết tương, nào máu Ðang chảy vào thân ta Dù miệng chưa nói ra Ðầu đã nảy ra một so sánh Nơi khách sạn với trăm nghìn mung - mánh Ðược người đời trao tặng Bốn, Năm Sao Ðây bệnh viện với tình thương dạt dào Chẳng ai tặng Ngôi Sao nào ráo trọi Hay để ứng nghiệm lời Chúa nói ‘ Việc lành tay phải làm, đừng nói tay trái hay ‘ Ðầu ta đang còn trong vòng xoay Của những liều thuốc ngủ Hồn thơ lịm dần vào vũ tru hôn mê Vũ trụ tràn trề tình thương mến. Bệnh viện Saint Joseph, Tacoma WA. Chiều 4 tháng 3 năm 2009 ( * ) Còn ảnh hưởng thuốc mê nên đầu như quay tròn. Mynh Hứa


Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Cuộc Ðời Ðã Qua

Vành Khuyên



Bạn ơi, nếu bạn nhìn lại kỹ cuộc đời đã qua, bạn sẽ thấy rằng cuộc đời đã chuẩn bị cho bạn tất cả từ hạnh phúc, thăng trầm, tiến, lùi, nhục nhã hay vinh dự. Từ việc bạn sẽ kết thân với ai, gặp ai, học được những bài học gì hay chịu đựng họ hoặc làm cho họ đau khổ vì bạn, nếu kết lại những mấu chốt quan trọng nhất từ những sự kiện đó, bạn sẽ thấy không phải khi không có những bước tiếp theo mà không có những bước trước đó.

Thật lạ kỳ phải không bạn?

Bạn đau khổ vì người này vì một lý do nào đó, thề non hẹn biển, quên cả cha mẹ, người thân. Vậy mà khi không người ta bỏ bạn đi mà trong suốt quá trình chơi với người ta bạn không bao giờ nghĩ ra được bạn sẽ còn tồn tại nếu không có người đó bên cạnh. Rồi thì sao? Người đó cuối cùng cũng xa bạn. Một người khác, đến vồ vập hơn rồi cũng coi bạn như con chó, ghẻ lạnh nhưng để lại cho bạn hai thiên thần đến là hạnh phúc, bạn cũng nhìn người đó ra đi trong bụi trắng, điểm cuối cùng phải đến của cuộc đời. Ðau biết bao nhiêu, đau hơn gấp trăm ngàn lần nổi đau trước bạn phải chịu mà vì người ta từng coi bạn như con chó ghẻ, bạn đã đau như thế mà vẫn phải nuốt nổi đau mà quên đi, quên như thích quên, muốn quên mà bạn hiểu rằng có phải bạn muốn và thích vậy đâu phải không?

Bạn từng đứng ở những vị trí rất cao trong cuộc đời, mọi người biết bạn, ngưỡng mộ bạn. Vậy mà đi trong đời, có những lúc những người thân nhất bên bạn rẻ rúng bạn, coi bạn như con mèo hoang, nói với bạn những lời bạn không thể ngờ được. Bạn đứng như trời trồng, mắt mở đó mà như đã chết lặng vì đau đớn. Rồi sao? Chưa hết? Bạn còn bị người ta kỷ luật, giáng chức, nói những lời miệt thị đau lòng, nghĩ bạn là con người vô giáo dục mà bản thân bạn tự biết bạn không phải như vậy, nhưng bằng chứng trước mắt họ là như thế, bạn còn chối làm sao.

Khi bạn quá tuyệt vọng, bạn từng kiềm thắng cho cuộc đời mình, nay chán quá rồi, thả thắng bà nó cho rồi, cho cuộc đời nó muốn trôi đi đâu thì đi. Lúc nhìn lại đã quá đà, may mà không vô vòng giết người vì đau khổ. Bạn đã thấy cuộc đời chuẩn bị cho bạn ghê gớm chưa?.

Không nổi đau nào là cuối cùng.

Không niềm vui nào là vui cuối cả.

Bạn chỉ cần giữ lòng tự trọng, niềm tin vào đời, niềm kiêu hãnh và bản lĩnh chính mình để nhìn thẳng cuộc đời và đi đến cuối đường khi bạn chỉ còn là những hạt bụi trắng, bạn nhé.

Rất Chân Thành

4/09

Vành Khuyên


Mục Lục


2. Bờ Lau Cát Lở 39 (Chuyện Dài)

Ðỗ Thành












Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Chân thành cáo lỗị

Ðỗ Thành

Mục Lục


3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ)

Ái Ưu Du



Giữa Hai Lằn Ðạn

Phần Thứ Nhì

Chương 9

MUÔN ÐIỀU CÓ THẬT





Vài ba lần ở Trà Phong, Trúc thích rủ Hoài đi tắm đêm ở sông Trà Khúc.
Phía xa kia là núi Thiên Ấn ẩn hiện dưới vầng trăng lúc tỏ lúc mờ. Núi
ở huyện Sơn Tịnh, từ chân núi có đường xoắn ốc lên trên tóp đỉnh rợp
bóng thùy dương xanh mát. Ðỉnh núi tà tà rộng rãi và bằng phẳng, nên
ta có thể lên đó picnic.
Dọc ven những bờ sông có nhiều guồng xe nước quay bằng gỗ, hay làm
bằng những bè tre già đan kín, trám trát lớp dầu ráy, hay dầu hắc cẩn
thận. Xe quay nước mang nghệ thuật độc đáo dẫn thủy nhập điền, từ dòng
sông Trà Khúc chảy xuống các mương gỗ, rồi từ từ luồn lách chảy đi
theo từng khe lạch, dẫn nước vào ruộng lúa xanh rì, phì nhiêu.
Chú tài xế mặc dù sợ trưởng phòng, nhất là lo sợ vùng tranh sáng tranh
tối xôi đậu lộn xộn. Nhưng chú phải lén chở hai cô đi. Mấy ngày tháng
ở vùng hành quân, một bi đông nước cũng quý như vàng, lấy đâu ra nước
tắm. Hoài và Trúc đi tắm xong, lúc về còn mang theo vài cistern nước
cho anh em, cũng là đi công tác cho sư đoàn 2 rồi.
Chú tài xế sau khi tắm rửa, và lo chuyển nước nôi vào cistern đầy đủ.
Chú bồng súng đứng gát trên góc kín, nơi xa xa. Chú ngại ngùng lo
lắng, thỉnh thoảng nhìn quanh, rồi kêu nho nhỏ:
- Hai cô ơi! Lẹ lẹ lên, còn mau mau đi về, kẽo bị đóng cổng bi giờ.
Chết đa. Trời à!
Bờ nầy và bờ kia, nhìn gần nhưng thấy xa, xa mờ xa nghìn trùng dưới
ánh trăng bàng bạc lạnh lẽo, bao bọc bởi lớp sương mù, và lớp khói xám
(do khói lửa chiến tranh) bốc cao ngùn ngụt ở góc trời không xa lắm,
đang lững lờ bay bay. Từng cơn rung chuyển chạy rần rần, động trời
động đất, động suốt dòng sông quê hương. Dưới bước chân run run, đau
đau, buốt buốt, tê tê, lạnh lạnh bên hai bờ thôn xóm.
Tiếng cá vẫy đuôi lên khỏi mặt sông, cá tung mình nhảy lên đùa giỡn
dưới đêm huyền ảo. Chị Hằng dọi ánh sáng xuống những lượn sóng bạc đầu
cuồng nộ. Khi lượn sóng trồi lên khi trụt xuống, nhấp nhô theo dòng
nước huyền phù; Làm vở nát ánh trăng rằm sáng vằng vặc, soi đôi thân
hình trắng nõn ngâm trong nước.
Trăng rớt trên đầu, trên vai và xô sóng nơi bờ ngực trần, ẩn dưới nước
nỗi hoang vu, sầu đắng. Trời se lạnh giữa lưng trời gom từng phiến mây
bạc phơi phới bay. Ánh trăng xanh xao chảy xuống thân thể, khiến Hoài
càng buồn và thất vọng trước chút riêng tư, bỗng oà vỡ tan tành giữa
lòng sông lụa trắng. Cuộc đời và cuộc tình, chắc rồi sẽ vỡ tan, như
bong bóng nước trôi trên dòng sông.
Giống như khi cộng quân phóng pháo, độ rung kéo dài từng chuỗi rúng
động, đảo điên cuồng sát. Thân hình của anh Ba, lính Bộ Binh Sư Ðoàn
2, hất tung lên cao, thân xé ra từng mãnh nhỏ, xương thịt rơi phịch
xuống đất, như bịch gạo tung tóe ra. Anh Ba chết thảm trước ngưỡng đời
vừa độ bừng chớm tuổi hai mươi. Anh chưa một lần yêu, chưa một lần hò
hẹn, chưa nếm mùi chiến đấu giao tranh, và thổn thức với đời.
Giờ nầy ở xứ Lâm Viên ra sao? Hẳn là yên ổn! Cầu xin cho họ sống thái
hòa, êm ấm. Ðà Lạt vẫn như một nơi chốn bình an đầy quyến rũ, mời gọi
bước mình muốn quay về.
Ðôi ba ngày sau, cuộc phóng pháo ngưng bặt, trả sự yên tĩnh đôi chút
trên bình nguyên còn thao thức. Hoài nghĩ: Lính Nghĩa Quân, Ðiạ Phương
Quân, Dân Vệ là những tay súng kiên cố giữ lũy thành chắc chắn. Họ
thông thạo từng bờ cây bụi cỏ, biết tường tận từng xóm, từng thôn,
từng người, ít khi lầm lẫn. Lại thêm hầm hào kiên cố, cộng với trường
lũy Ấp Chiến Lược (Strategic Hamlets) có điểm thành công. Vì nó kiểm
soát giữ gìn non sông gấm vóc, do ông cha truyền lại từ ngàn xưa, khỏi
cảnh "Người xâm lăng Ta" trên chính quê hương chung.
Họ đau khổ trong niềm đớn đau thiết thực, qua vết thương hoác miệng
trầm thống, (của anh em ruột thịt, trong cảnh nồi da xáo thịt, cốt
nhục tương tàn). Trong cảnh Người lừa gạt Người. Người bội phản Người.
Người thù hận Người. Và, Người thẳng tay chém giết, sát hại nhau như
điên; Người bị chiến tranh hành hạ cưỡng bức tan hoang trên chính đất
quê ta.
Tuy nhiên, từ chính vòng đai kiên cố nầy, là động cơ thúc đẩy người
khác giật dây, rù quến, hò la kêu gào nhau đứng lên phản đối Chính Phủ
> đã hạn chế quyền tự do đi lại, bị kiểm soát giấy tờ tùy thân chặt
chẽ, bị kiểm soát từng Thôn Ấp, mất tự do <. Có mất thì giờ thật,
nhưng xôi đậu không lẫn lộn, an toàn, bảo đảm an ninh và giữ gìn sinh
mạng muôn người. Ta tưởng cần nên có vòng đai Ấp Chiến Lược nầy lắm.
Bây giờ Hoài biết tin đích xác, anh trưởng phòng thừa lệnh Ðại Tá Phát
ra chỉ thị mới:
- "Tất cả anh em phòng 5 phải trực tiến, không thể lùi, phụ giúp bên
quân-y, khiêng người bị thương, nhặt xác chết phe ta, lẫn địch quân,
cấp tốc chở về hậu cứ".
Trời ơi! Nghe tin đó, Hoài đứng xớ rớ đằng sau lưng anh Vũ. Nàng sợ
đến bải hoải chân tay, căng thẳng trí óc. Hoài thút thít khóc, rụng
rời lệ, giọt dài giọt ngắn trên đường đến điểm làm việc. Mấy anh chị
tưởng cô em xúc động trước cảnh thương tâm, đã trào nước mắt. Chứ họ
có ngờ đâu con bé chết nhát nầy, chả ra cái thể thống gì!
Trúc dám đến cúi sát xuống, lật khăn che mặt, tò mò xem từng người
chết. Có người nhìn rất kinh dị. Có người như đang nằm ngủ yên, tay
xuôi theo thân hình thẳng cứng hay co quắp. Có người giống thân cây
chuối bị đốn ngã, róc hết lá vẫn nặng kinh khủng.
Những bàn tay tài hoa, khí phách nam nhi, bản lĩnh và dũng mãnh ấy,
không rõ dấu chỉ tận cùng bằng số ở đâu? Anh Sáu Dương bị thương khá
nặng, mà vẫn ăn nói đàng hoàng, tỉnh táo nhếch mép, ngóng cổ lên nhìn
vết thương trên bụng, trên đùi. Anh nhìn ngó lung tung. Như không có
việc gì quan trọng, trước khi anh bất thần "rệu" xuống. Hoài sợ e anh
sẽ “đi đon” luôn.
Cuối góc phòng vài xác chết đối phương chương phình, căng cứng như con
vật kỳ lạ, mắt đứng tròng mở thao láo. Bụng căng phồng như chiếc bong
bóng da heo. Ngày xưa, mỗi khi làm thịt heo, ba thường lấy bóng da heo
bơm đầy hơi, cột kỹ phơi ngoài nắng, cho anh em Hoài làm trái bóng đá
nhăn nhúm chơi đùa.
Trúc còn cả gan dám đến bên một anh lính khác vén tóc, xem trái tai
anh ta lớn hay nhỏ, yểu mệnh tới đâu. Trúc lại đi xuống cuối phòng cầm
bàn tay người chết kia lên, nắn nắn bóp bóp, lật qua lật lại. Cô coi
đường chỉ thọ của họ ghi đến chỗ nào. Hoài sợ kinh khủng, không dám
nắm bàn tay Trúc cả tuần.
Những buổi cơm, nhìn miếng thịt heo, thịt bò, nhất là thịt ếch, con
ếch khi lóc hết da, trông sao mà giống... con người! Thịt ếch bơi bơi
trong tô. Hoài nghĩ đến vết thương lở loét, đỏ tím, hoác miệng trên
bụng người chết. Tự dưng cồn ngực vun tròn nhấp nhô phập phồng theo
nhịp thở, Hoài chạy xộc ra cuối vườn, ói mửa ra mật xanh mật vàng.
Nàng sợ mâm cơm hơn bất cứ thấy gì. Nỗi u ám đã chín đen, như cơn
giông sét đánh toé lửa, phủ chụp xuống đời.
Tưởng chừng một nửa thân Hoài đã móc nối sít sao ăn khớp với xác người
xa lạ. Như nửa phần thân thể người chết trĩu nặng, luôn dùng dằng trì
kéo lấy người nàng, Hoài không cựa quậy nhúc nhích nỗi. Lòng cô em rớt
xuống trũng ưu phiền, hố thẳm tăm tối mù mịt phủ đầy lá non. Giống nõn
trà hong phơi dưới lửa, bỗng tàn úa quá nhanh, khiến mình rũ liệt.
Nỗi đau khổ của con người trong cảnh cốt nhục tương tàn, tràn đầy trên
khắp Bốn Vùng Chiến Thuật rồi. Tin tức nóng bỏng từ truyền thanh, báo
chí mỗi ngày một nhiều. Cuộc chiến dần dần mở rộng ra như vết dầu
loang, như vòi con bạch tuộc. Từ các nẽo miền quê xa xôi, loang nhanh
ra đến ven biên thị thành, đè nặng lên đầu người.
Ðến nỗi Hoài không dám ngẩng mặt nhìn lên, chỉ dám thập thò lấp ló nép
bên vách hầm, hào chắn bao cát. Hoài mở to mắt nhìn dáo dác ra ngoài
“khung cửa châu mai”. Và, nàng không khỏi kinh ngạc, khi thấy mặt trời
vẫn ưu ái đan chiếc cầu vồng bảy sắc lung linh, vui tươi hào phóng rót
nắng vàng rực rỡ, từ thinh không chan hoà lên vạn vật, ve vuốt từng
phiến lá đong đưa. Chim chóc nhảy nhót, ríu rít hót líu lo, hoà ái trữ
tình, lí lí lắc lắc, lảnh lót lơi lả trao duyên.
Chao ôi! Cảnh "huyết nhục tranh cường" nầy, chính là mảnh đời buồn bã,
trong cuộc sống muôn điều có thật. Dù cho Thu Hoa, Lan Anh, Mai Hồng,
Tuyết Ngọc Trúc xức nước hoa hiệu Charlie, Tabu, hay loại thượng hảo
hạng J’adore vẫn không khỏi ngửi mùi tử khí tanh nồng quanh quất đâu
đây.
Cuộc đời thật chẳng có nghĩa lý gì, trước ngày chân không dài vô tận;
Khi con người ngơ ngáo hay bàng hoàng ra đi vào vùng tử biệt. Họ dửng
dưng nhìn súng đạn vút bay trong đêm, tạo thành một đường sáng loáng
vụt tới vụt lui. Khi khói lửa chiến tranh còn ở lại. Ðói khát bệnh
tật. Chết chóc. Tan nát. Ðớn đau mãi cào xé, dày vò tận cùng tơ rung
xương tủy huyết mạch con người.
Hằng ngày, cả nhóm tâm lý chiến đi ủy lạo, săn sóc đồng bào và chiến
sĩ. Anh chị em hướng dẫn, phân phát thuốc men, nhu yếu phẩm, quần áo
chiếu chăn, phụ giúp đồng bào thu dọn nhà cửa, vườn tượt tan hoang hư
nát. Phúng viếng tang gia bối rối. Họ chu đáo lo việc ma chay tươm
tất, đàng hoàng cho đồng bào.
Trước cảnh đau thương tàn khốc, dù các cô có đi quyên gom hết tất cả
tiền tài, và lòng trắc ẩn mọi người trên quê hương. Hầu mong bù đắp
lại muôn điều đau đớn, mất mác to lớn ở một góc dân nầy. Tưởng vẫn
không sao lấp đầy. Không thể nào xoa dịu nỗi khổ đau khốn cùng bi đát
đầy cay đắng trong lòng họ.
Không hiểu sao bài lịch sử Hoài đã học: Từ trận quyết chiến quyết
thắng của Ðức Trần Hưng Ðạo. Cho đến vụ nước Nhật bị trái bom nguyên
tử đầu tiên, ném xuống thành phố Hiroshima ngày 06.8.1945, tiêu diệt
66 ngàn người. Rồi trái thứ hai thả xuống Nagasaki 09.08.1945 đầy kinh
dị, người chết la liệt trên đất Nhật. Tất cả bừng nhớ trong tâm trí
Hoài.
Cảnh kinh thiên động điạ có thật đã xảy ra từng ngày rùng rợn ấy. Nỗi
thống hận dã man, quằn quại đau đớn, đói khát, bệnh tật. Lương dân rên
siết, mù lòa, cùng khổ, không có tương lai. Chiến tranh lạnh lùng
thẳng tay cuồng nộ giết hại lẫn nhau. Người dân vô tội bị làm mồi cho
kẻ cường quyền đầy tham vọng thống trị. Chỉ có người dân đen muôn đời
thiệt thòi đau đớn với hai bàn tay trắng, bị bom đạn ung dung cào xé
trần truồng tan hoang.
Chiến tranh nguyên tử cuồng nộ hung hăng húc vào muôn dân vô tội bên
xứ anh đào Phù Tang kia. Và… Có lẽ chiến tranh manh nha đến Việt Nam,
từ năm 1962 chưa thua xa là mấy!

_ * _

Ái Ưu Du




Mục Lục


4. Chập Chùng Bóng Núi 32 (Chuyện Dài)

Thanh Sơn








Vì lý do cá nhân, tác giả xin tạm nghỉ một kỳ. Chân thành cáo lỗị

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài)

Phan Thái Yên

CĂN NHÀ SAU CỬA BIỂN (tiếp theo)

7. (tt)

Từ sau đêm kinh hoàng tưởng lỡ đời con gái, Nữ như bị lưu đày trong chính ngôi nhà của mình. Ðêm trong căn phòng cửa nẻo khóa chặt từ bên trong, giếng khơi góc vườn và bóng trăng rơi trên tàng cây vú sữa vẫn thường mang đến cho Nữ nỗi hạnh phúc dịu êm bỗng chợt như giấc mơ vụt mất mù khơi. Ngoại trừ những khi ở trường hay hợp tác xã họp hội trễ vào buổi tối phải ở lại nhà trong phố, Nữ thường ngày đạp xe, chèo đò về căn nhà sau cửa biển. Ở đó hương linh mẹ cha gần gủi, mùi gió mặn, và ánh bạc lấp loáng đầm sông vào những đêm trăng giúp tâm hồn nàng thanh thản bình yên.
Bận rộn tất bật với chuyện học hành sinh sống, ngày tháng của Nữ trôi nhanh. Ngày tốt nghiệp nàng háo hức bước ra khỏi cổng trường đào tạo giáo viên chỉ để thấy nỗi vui mình tàn lụi chóng vánh khi đứng nhìn giàn bông giấy đỏ rực lối vào ngôi nhà đã đổi chủ. Dì Chanh vuốt tóc an ủi đứa cháu gái mồ côi.
- Dì có bới thịt gà kho sã xuống cho con đó. Mình vô nhà nấu bửa cơm trắng ăn mừng cô giáo mới đi. Ăn cho con kịp xe lên quê nghỉ ngơi mấy ngày. Con gái con lứa chi mà ốm nhom…

Mùa hạ vùng cửa biển chói chang hàng phượng đỏ ngả qua Phước Trạch về phố. Thời gian này, những cuộc vượt biên bán chính thức của người Hoa ngày càng nhiều ở vùng Cửa Ðại. Ngư dân Cẩm An, Thuận Tình ngoài những chuyến biển chài còn lén lút chèo đón người vượt biên để tìm thêm miếng sinh nhai. Thỉnh thoảng cũng có những cuộc vượt biên lậu được tổ chức ngay bờ biển phía ngoài dốc cát Xuyên Thọ. Cư dân xóm chài nhỏ bé dần dà bị cuốn hút vào cuộc chơi sinh tử này thường vì món tiền dể làm tuy cũng có lần khó nuốt phải vướng vòng tù tội. Có khi tiếng rượt đuổi, tiếng súng rời rạc giữa đêm khiến Nữ thức giấc chong đèn. Nàng ngồi hồi hộp, lo âu, khích động, ước ao để rồi sáng sớm hôm sau lại lặng lẽ chèo đò, đạp xe đến hợp tác xã, cặm cụi ngồi may dán đèn lồng hay được gọi ra cửa hàng trao đổi năm ba câu tiếng Anh với du khách Ðông Âu mà vốn liếng anh ngữ của họ cũng không gì mấy hơn nàng.
Một hôm, lúc Nữ đang làm việc ở hợp tác xã thì người hàng xóm đi chung ghe lưới với cha ngày trước đến tìm gặp nàng. Ông nhờ Nữ đón một người về nhà cho ở tạm, đến khuya khi có báo hiệu thì dẫn người đó lên đầu con dốc cát, hoàn thành công việc sẽ được trả một món tiền khá hậu. Khi nghe Nữ nhận lời, người hàng xóm cho biết thêm người đó sẽ là tài công của chuyến ghe nên cần phải được an toàn đưa ra tới bãi. Sau khi kín đáo chỉ cho Nữ người đàn ông đứng bên kia đường và chờ cho hai người nhận diện nhau xong, ông căn dặn thêm Nữ khi hết việc ở hợp tác xã cứ bình tỉnh đạp xe về Thuận Tình như thường ngày. Người tài công sẽ theo Nữ xuống đò để nàng đưa về nhà.
Công việc tiến hành như đã dự tính. Nữ chèo xuồng về đến bến đò lúc trời đã nhá nhem tối. Nàng nghe tim mình đập thình thịch theo từng bước chân hấp tấp trên lối cát về nhà.
Người đàn ông cặm cụi bước theo sau không một tiếng động. Khi Nữ chậm bước để rẽ vào nhà, nàng nghe có tiếng nói nhỏ bên tai trong lúc người đàn ông vẫn tiếp tục đi thẳng về phía trước.
- Cô vào nhà, chờ một lúc rồi mở cửa sau cho tôi.
Nữ run lẩy bẩy mở cửa nhà. Nàng thắp đèn, thắp nhang trên bàn thờ cha mẹ. Ánh sáng và hình ảnh cha mẹ giúp nàng lấy lại bình tỉnh. Nữ xuống nhà dưới, vo gạo, nhóm bếp nấu cơm, đun nước. Nàng chờ nước vừa reo thì mở hé liếp cửa bếp rồi vội vàng ngồi thụp xuống trước bếp lửa, tim đập liên hồi. Có tiếng người đàn ông lách mình vào nhà. Ông khép chặt liếp cửa rồi cũng ngồi thấp xuống bên Nữ như muốn giấu đi phần nào vóc dáng của mình.
- Chào cô. Cám ơn cô đã giúp.
Nữ nghiêng nhìn khẻ gật đầu chào. Người đàn ông chưa ngoài ba mươi, cao lớn phong trần. Suốt buổi tối hai người không trò chuyện gì hơn ngoài những câu đối thoại cần thiết.
Lúc cơm chín, Nữ dọn cho mình ở nhà trên như thường ngày và mang cơm vào phòng cũ của cha mẹ nơi người khách nằm nghĩ qua buổi tối trong đó. Nàng mở tập sách Anh ngữ của chị Nhi cố gắng học để giữ bình tỉnh mà chẳng còn chút tâm trí nào. Cuối cùng nàng phải mở cassette ngồi nghe lại băng nhạc của anh Dõng chị Nhi. Tiếng hát thì thầm quyện vào đêm, xao xuyến chơi vơi giúp Nữ quên phần nào hoàn cảnh rối động quanh mình. …
”Dòng sông nào đưa người tình đi biền biệt. Mùa thu nào cho người về thăm bến xưa. Hoàng Hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ. Về đồi sim ta nhớ người vô bờ…” (Vũ Ðức Sao Biển).
“Nguyệt Cầm nghe nấc từng câụ..Có hàng mây trắng về đâu? Mắt chìm sâu, đêm lắng đời sâu. Nguyệt Cầm khơi mãi tình sầu . Khơi mãi nguồn đêm ...Mùa trăng úa làm vỡ hồn tạ..” (Cung Tiến).
Có tiếng người khách lạ trở mình, rồi tiếng anh vọng ra từ cửa phòng.
- Cảm ơn cô cho nghe nhạc hay quá. Ðã bốn năm rồi tôi mới được dịp nghe lại.

Ðêm chậm trôi trong chờ đợi rợn người. Nữ giật thót mình lúc người hàng xóm đến báo hiệu an toàn để dẫn người ra bãi. Người khách lạ thắp nhang khấn vái bàn thờ cha mẹ Nữ rồi thổi tắt ngọn đèn bàn, hé cửa nghe ngóng động tỉnh. Anh thì thào nói vào tai Nữ.
- Cô cứ bình tỉnh đi trước. Nếu có việc gì xảy ra cho tôi phía sau cô dứt khoát đừng quay lại, cứ coi như là cô không hay biết gì về tôi cả. Cảm ơn cô nhiều lắm.
Ðoạn đường từ nhà lên đỉnh dốc Nữ đã đi lại hàng trăm lần thế mà khuya hôm đó nàng líu ríu bước chân trên triền cát muốn khuỵu ngã nhiều lần. Nữ mừng quýnh khi nhìn thấy rặng phi lao hiện rõ dần trên đỉnh dốc. Người khách lạ kéo tay Nữ chạy núp vào một đám phi lao dày. Hai người ngồi yên, định thần một hồi lâu thì bắt đầu thấy nhiều bóng người túa chạy xuống dốc cát về phía bờ biển. Khi nhận ra người hàng xóm đang đứng nhìn quanh tìm kiếm, Nữ bấm tay người khách chỉ cho anh thấy. Người khách bảo Nữ ngồi chờ rồi rời chổ nấp. Họ trao đổi hồi lâu, lúc Nữ bắt đầu sốt ruột thì cũng là lúc người khách đi ngược về phía mình. Anh ngồi xuống bên Nữ.
- Tôi biết cô sẽ ngạc nhiên khi nghe điều này nhưng tôi mong cô lắng nghe và quyết định ngay. Chúng ta không có nhiều thì giờ. Nếu cô muốn ra đi thì theo tôi xuống ghe ngay. Người hàng xóm của cô nói người chị của cô đã ra đi năm bảy lăm. Nếu ra ngoài được thế nào cô cũng sum họp được với chị của mình.
Nữ nghe mà cảm thấy toàn thân như mất đi trọng lực văng bật lên cao cùng nỗi ước mơ thầm kín nhất bừng dậy như từ một giấc chiêm bao. Cùng lúc, hình ảnh cha mẹ, anh Niên, gia đình, kỉ niệm cũng cuồng xoay những vòng sáng chao đảo trong đầu. Nữ nghe nước mắt mình rơi và môi bật lời từ chối.
- Không. Em chưa thể đi được. Cầu mong ông đi bình an, nhưng nếu có gì trở ngại ông cứ chạy thẳng về chổ này. Em sẽ giúp ông tìm chổ trốn.
Người khách lạ siết chặt tay Nữ rồi vội vã chạy xuống bờ dốc vụt biến vào bóng đêm. Nàng nằm im co quắp, hai tay vòng ôm đầu trong nỗi sợ hãi đến tận cùng. Nữ sợ cho mình, cho đoàn người không quen dưới kia. Hình như Nữ đã thiếp đi cho đến khi mùi cát ẩm quen thuộc đánh thức nàng dậy. Cùng lúc với đôi tay víu chặt vốc cát ẩm nàng nghe có tiếng sóng thì thầm như một hiện hữu bình an. Hay chỉ là một cơn mơ ? Nàng ngơ ngác giữa lằn ranh thức ngủ mơ hồ. Ý niệm thời gian bềnh bồng như đêm đang tràn vây, nhòa nhạt ánh sao xa.
Tiếng súng nổ, tiếng người quát tháo, kêu khóc kéo Nữ rớt ra khỏi trạng thái ẩn dụ lưng chừng mê tỉnh. Bổng dưng nàng cảm thấy tỉnh táo lạ thường. Nữ ngồi dậy căng mắt nhìn về phía bờ biển chập chờn ánh đèn pin loáng thoáng quét dọc dài theo bờ nước. Ðoàn người trốn chạy trong lúc hốt hoảng đa số đã chạy tản dọc theo bờ biển. Giây phút chờ đợi căng thẳng dài muốn hụt hơi. Cuối cùng bóng người khách lạ hiện rõ dần trong tầm mắt. Anh hào hển chạy về phía Nữ, áo quần ướt sũng.
Trong canh khuya xóm chài trở thành những đụn bóng tối im lìm mà hổn độn vây quẩn nhau trong màu trắng nhờ nhờ của cát . Người đàn ông đứng chống tay trên đầu gối nhìn xuống triền dốc loáng loáng vài bóng người đang chạy về phía xóm nhà.
- Họ đi khơi khơi theo đường mòn như rứa dể bị công an tóm quá… Mình nên tiếp tục chạy theo hàng phi lao này cho tới khi qua khỏi xóm nhà. Lúc đó nếu không động tỉnh gì thì xuống dốc vào nhà qua ngỏ sau, an toàn hơn.
Nữ mệt đừ thả người theo đà dốc bương chạy qua những lùm sim dại mọc rải rác trên triền cát sau lưng xóm chài. Người đàn ông vẫn bám sát nàng như bóng suốt đoạn đường qua rừng phi lao đồi dốc cho đến khi về tới giàn mướp sau nhà. Vừa kịp lách mình qua liếp cửa bếp là nàng ngồi khuỵu xuống lưng tựa vách bếp thở dốc. Trong bóng tối Nữ nghe lẫn trong hơi thở mình là hơi thở người đàn ông. Rất gần. Ðêm bên ngoài vẫn im lặng bao trùm xóm chài. Ðêm như dừng lại choáng đặc. Nữ ngồi như thế hồi lâu lắng nghe hơi thở mình dịu lại hoàn hồn. Bỗng chợt ý nghĩ nàng và người đàn ông đang ngồi bên nhau trong bóng đêm khiến Nữ thẹn thùng không dám cử động. Khuya thanh vắng, gian bếp thoảng hương muối mặn từ áo quần sủng ướt của người khách lạ.
Có tiếng người khách đứng dậy bước về phía vách nhà, rồi tiếng anh nói nhỏ.
- Chắc công an bận rộn dưới bãi, không vào xóm xét nhà đâu.
Nữ sờ soạng ở chạng bếp thắp đèn. Ánh đèn hột vịt ám khói vàng lu soi lờ mờ gian bếp.
- Ðể em tìm cho ông bộ áo quần khô.
Người khách lạ theo Nữ lên gian phòng giữa nơi anh nghĩ lúc đầu đêm. Lục soạn hồi lâu, Nữ trao cho anh hai bộ áo quần cũ.
- Áo quần ông ướt cả rồi. Ðây là áo quần cũ của hai người anh, ông thử bộ nào vừa thì cứ dùng tạm.
Người khách nhìn bộ áo quần kaki màu tím trên tay, ngạc nhiên hỏi dồn.
- Ðây là quân phục của sĩ quan Hải Quân miền Nam trước bảy lăm mà. Không lẽ…?
- Dạ, đây là quân phục của người anh rể để lại. Anh Dõng chồng chị Nhi em.
Người khách cố nén khích động, ngẩn mặt cười rạng rỡ rồi thân mật hỏi cô gái.
- Thục Nữ phải không? Dõng, chị Thục Nhi của em, và anh có thời học chung ở Huế. Sau đó anh và Dõng cùng vào Hải Quân rồi tốt nghiệp ở Mỹ về một lần.
Nữ cảm động gặp được bạn cũ của anh chị.
- Lâu lắm mới có người gọi tên cúng cơm của mình. Nghe mà ngờ ngợ.
- Anh là Tuân. Vậy là anh chị Dõng Nhi của em đã đi năm bảy lăm? Lần cuối gặp hai người ở Lộng Ngọc, dịp anh từ Căn Cứ Cửa Việt vào Ðà Nẳng công tác.
Nữ vui như một người xa nhà quá lâu được trở về, bắt gặp lại mình và kỷ niệm thân vui trên đường xưa lối cũ. Nàng muốn được sống với niềm vui trở về cho dù là khoảnh khắc. Nữ tìm cho mình y trang ngày trước rồi lách mình ra ngoài trời khuya. Trong bóng đêm ôm choàng da thịt, từng dòng nước rúng sâu chân tóc trổ gai lên đồi vú săn cứng rồi lăn xuống dần mát lạnh châu thân trôi hết mệt nhọc phiền hà.
Tuân ngồi ở nhà trên lơ đãng nhìn trang sách mở trên bàn. Dưới ánh đèn khêu tỏ, Nữ hồn nhiên đứng giữa phòng hong chải mái tóc ướt với những ngón tay của mình.
- Cô giáo Anh Văn ni dể thương ghê! Còn đẹp hơn cả chị Nhi của cô bé ngày trước nữa.
Nữ ngồi xuống bàn đối diện với người bạn của anh rể mình, không vừa.
- Bây giờ thì con bé lọ lem này mới tin anh là sĩ quan Hải quân thứ thiệt, không phải tài công “dổm”. Theo những gì em còn nhớ được từ mấy năm trước chị Nhi phải đối phó với anh Dõng thì các anh đúng vẫn là “chứng nào tật ấy” chưa cải tạo được chi hết. Chị Nhi gọi là “mấy ông xạo sự”. Anh không biết chứ mối đi ăn Chè Cồn của em hồi đó là từ các anh Lương, anh Ðức, anh Hoát, anh Chánh mà ra.
Tuân trầm ngâm.
- Không biết bây giờ tụi nó ở đâu? Thằng Chánh thì chết rồi… Cũng lạ, con người có những gặp gỡ mà chúng ta không thể không tin vào số phận. Ðầu hôm, lúc ngồi trên đò chờ em chèo qua cái đầm sông hiu hắt này, anh nghĩ về Chánh mà chẳng hề mảy may nghĩ tới hay ước ao sự gặp gỡ tuyệt vời này. Nơi chốn. Thời gian. Trùng ngộ. Thân phận con người mở ra và hạnh phúc hay khổ đau choàng đến không ngờ…
Rồi mắt anh Tuân chợt sáng lên nhìn Nữ, cười tinh quái.
- Nhưng anh phải thú thật là cũng có giây phút ngồi nhìn cô chèo đò từ phía sau mà lòng thầm mong sao cho nước đừng trôi, thời gian ngừng trôi, và đầm sông thì rộng mênh mông không bờ bến. Tất cả đều lênh đênh nên tự do cũng không còn cần thiết nữa.
Nữ xấu hổ khẻ lên tay của anh Tuân trên bàn.
- Cái anh này lại “xạo sự” nữa rồi.

Ðêm trở mình về sáng. Hai người ngồi kể cho nhau nghe chuyện nhà mấy năm qua.
Anh Tuân sinh ra lớn lên ở Ðà Nẳng. Ðứa con một cứng đầu, ham hố phiêu lưu, lính thú giang hồ loanh quanh, tù tội núi rừng xa tuốt trong Nam rồi cũng khăn gói trở về với thành phố vịnh biển thân yêu của mình. Bốn năm trước, tháng Ba Ðà Nẳng mất, anh Tuân theo đơn vị di tản từ Cửa Việt vào Vũng Tàu rồi kẹt lại ở Sài Gòn. Anh bị đi tập trung cải tạo ở các vùng núi rừng Tây Ninh, Long Khánh, Phước Long mới được thả về lại nhà hơn tháng mà đã đôi lần tìm đường thoát thân.
- Không sao! Thời buổi này, lí lịch trích ngang sĩ quan Hải quân Ngụy rất đắt giá. Mà anh lại được quới nhân phò trợ. Hai tuần trước, lần đầu ra quân ở Thanh Bồ thất bại. Ðêm nay tuy chạy có cờ nhưng quới nhân phò trợ là một thục nữ nên anh thấy mình vẫn còn tốt số chán.
- Cầu mong cho anh lần tới thành công, nếu không, chắc anh phải cỏng quới nhân trên lưng mà chạy. Không phải yểu điệu thục nữ mà bé bự một trăm kí cho đáng đời cái thân nhiều chuyện của anh.
Nỗi niềm tâm sự dài hơn đêm, họ vui buồn trò chuyện bên nhau quên cả thời gian cho đến khi bầy chim ngủ nhờ trên nghĩa trang thức giấc xao xác bay về biển thả tiếng kêu buồn qua xóm chài còn say giấc im lìm. Sương mai lan kín mặt sông. Xóm lưới Thuận Tình bên kia bờ đầm chìm trong một màu trắng đục, lơ lửng nóc hàng dừa rủ lá đợi ngày lên. Nữ đứng nhìn theo bóng anh Tuân đạp xe trên lối mòn nhấp nhô dừa nước sim dại, lòng bâng khuâng về nỗi mất mát mơ hồ. Lơ đãng chèo con đò nhỏ qua sông, Nữ nhắm mắt thả lòng trôi, lắng nghe nhịp đập tim mình hòa theo tiếng thì thầm của biển. Nàng ngư nữ chưa một lần ra khơi với niềm khôn nguôi vô vọng dã tràng, nửa muốn phiêu lưu nửa muốn chối từ hình ảnh một hải đảo mù khơi trong trầm tích lạc loài của trùng dương muối mặn.
Những ngày hè còn lại, Nữ thường đứng nhìn áo phơi buồn sân nhà ngập nắng mà nhớ thẩn thờ lần gặp gỡ tình cờ. Tấm áo đêm trùng ngộ đẫm hương muối mặn giờ đây được xếp ngay ngắn trong ngăn tủ như một kỉ niệm trân quí. Lòng thiếu nữ trãi trang phơi áo cho người rồi hát một mình buổi sáng hoàng hạc bay quạnh quẻ đồi sim…

Buổi chiều lắng sâu. Nước hồ sen lung linh mây chiều đang ngã dần qua màu tím đậm. Nữ giật mình bừng tỉnh giấc mơ ngày. Mùa hè đã qua lâu rồi, Nữ nhủ lòng, lật mở trang đầu tập sách Anh văn của chị Nhi. Dòng chữ thân quen và câu thơ Nữ thuộc nằm lòng càng gợi thêm nỗi nhớ. Màu hoang đảo từ đây em sẽ ngó. Cát xa bờ tơ chỉ rối chiêm bao (Bùi Giáng).
Nữ bước qua cầu, một mình trên con đường vắng ngắt, tiếng bước chân đều đều nghe cũng buồn. Nàng về lại nhà tập thể lúc bà giáo Thông đang e gà vô chuồng. Bà lo lắng nhìn cô gái.
- Bộ cô đi tới Bình Triều hay răng mà giờ ni mới về. Tui bắt đầu lo lo trong bụng rồi đó.
Nữ giải thích rồi nhìn về phía giếng nơi Tuyên và mấy cô giáo đang lúm xúm đứng ngồi.
Bà giáo Thông hóm hỉnh.
- Giấc mơ mua xe đạp của hai người bị xì hơi rồi. Con heo con của cậu Tuyên biếng ăn mấy hôm nay. Họ đang làm thịt chia nhau.
Trông thấy Nữ đang bước qua sân gạch về phía bờ giếng, Tuyên đứng lên mừng rỡ.
- May quá! Tuyên có hỏi bác Giáo, sợ Nữ đi tới Bình Triều định mượn xe đạp đi tìm.
Hai bàn tay bê bết máu, Tuyên chỉ vào xác con heo nhỏ hơn bắp vế người bị cắt cổ nằm sóng soài bên lưng bát máu chưa kịp đông .
- Con heo bị bệnh, biếng ăn đã mấy ngày. Mấy cô giáo bàn nên làm thịt trước khi chết mới có máu làm tiết canh và không bị mất thịt. Họ đề nghị đổi tiêu chuẩn đường sữa tháng này. Chút nữa mình gọi Nữ ăn cháo huyết nghe.
Nữ lắc đầu thoái thác vì nhức đầu, bỏ vào nhà. Gian phòng lờ mờ chút ánh đèn từ nhà ngang hắt vào qua khuôn cửa nhỏ. Bà giáo Thông trong áo dài lam đang trịnh trọng thắp nhang khấn vái. Nữ khép cửa sổ, ngồi im trong bóng tối. Những người đã ra đi, anh Dõng chị Nhi đang có đời sống hạnh phúc riêng cho mình. Người nhất quyết ra đi như anh Tuân, tương lai của họ là chuyến tàu sắp tới. Nàng nghĩ tới Tuyên, người thanh niên có nụ cười hiền, sống loay hoay yên phận với dự tính nhỏ nhoi vừa bị chết yểu tối nay. Nữ nhớ anh Niên đang sống trong rừng sâu núi thẳm. Người anh sống sôi nỗi hết mình luôn muốn làm vui lòng bầu bạn quanh mình. Tội nghiệp cho Tuyên. Tội nghiệp anh Niên. Tội nghiệp cho mình. Nước mắt Nữ trào ra.

(còn tiếp)



Phan Thái Yên




Mục Lục


6. Thiên Thanh

Võ Thị Ðiềm Ðạm



Ngày bao hùng binh tiến lên
Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành.
Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành

Ngày 08. 01. 73
Thiên Thanh ơi!
Bốn ngày em xa TT, em có nhiều chuyện để kể lắm, nhiều quá em phải ráng sắp xếp từ lúc lên xe đi Ðà Lạt, mang trách nhiệm làm dâu phụ cho chị Hồng con bác Công. Em không thích đi máy bay, chẳng ngắm nhìn được phong cảnh hai bên đường. Ba má thì lại không muốn cho em đi xe đò. Thế là ba gởi em cho Chú Hoàng, xe chú có chín chỗ ngồi, chỉ đưa khách quen biết, lâu lâu mới chạy một lần, khi cần giao hàng. Khách trên xe hôm đó có bảy người, hình như toàn là công chức hay nhân viên gì đó. Có mình em là nhỏ nhất.
TT biết không, bác Công này dị hợm lắm, chị Hồng có nhiều bạn mà bác cứ viết thư xin phép má cho em lên nhà bác dự đám cưới, bốn cô dâu phụ, thấy mà mệt luôn. Bây giờ em mới hiểu. Má em và bác Công muốn tạo cơ hội cho em quen anh Chỉnh đang học trường Chiến Tranh Chính Trị. Hai bà má đâu có biết là anh Chỉnh đang quen thân với một chị học ở Sư Phạm Ðà lạt, còn em thì có mộng đi du học ở Canada với nhỏ bạn Minh Thư. TT thấy hai bà má lo xa quá hở? Hèn gì má cho phép em nghỉ học đi Ðà Lạt. Bác Hồng là bạn thân thời áo tím của má mà lị.
Cái ông ngồi kế em trên xe chắc bực mình vì em cứ quay qua quay lại coi phong cảnh hai bên đường. Lần đầu tiên đi xa một mình, lần đầu tiên đi Ðà Lạt nên em mới tò mò chớ bộ, khó chịu! Ông đề nghị đổi chỗ cho em ngồi gần cửa sổ. Em mừng quá, đổi liền. Má gói đủ thứ thức ăn theo cho em, má không cho em mua thức ăn dọc đường, mà em thì thảo ăn, ai ngồi ăn một mình! Em cứ đưa, cứ biểu cái ông kế bên ăn hết món này đến thức khác, chuối khô, bánh bao, kẹo chuối, bánh đậu xanh... món nào ông đó cũng chia với em và chỉ cám ơn, rồi tiếp tục quyển tạp chí Phổ Thông. Em dòm lén! Ba có báo này!
Bỗng nhiên ông đó hỏi:
- Lần đầu tiên cô đi Ðà lạt?
- Sao ông biết?
- Thấy cô cứ hết nhìn bên trái đến nhìn bên phải. Rừng cao su có gì đẹp mà cô cứ nhìn miết vậy?
- Ðẹp chứ! Từng hàng cây thẳng thâm thẳm, ngút mắt. Không biết cuối rừng cao su là gì há.
- Rừng.
- Rừng gì?
- Thì rừng cây, rừng lá, rừng rậm. Mà cô tên gì? Tôi tên Tâm.
Em nghịch ngợm hỏi lại:
- Tâm ă hay Tâm â?
Chừng đó ông ấy mới cười nói:
- Tâm â, còn cô?
- Sương, Sương S chớ không phải Xương X, Sương này là giọt sương mai chớ không phải xương sọ, cục xương, hi... hi... Sương nói trước.
Thế là em có bạn đồng hành, nói chuyện mõi miệng luôn. Mà TT biết, em già chuyện, chắc có mình em nói, mình em hỏi. Rồi cũng bất chợt, ông đó hỏi:
- Cô thích màu gì?
- Màu xanh da trời lợt, màu thiên thanh, nhẹ.
- Tôi cũng đoán vậy.
- Ô?
- Thì cứ nhìn lại quần áo của cô đi. Cái gì cũng có màu xanh. Hồi nãy cô nói màu xanh gì... xanh... màu thiên thanh? Lần đầu tiên tôi nghe có người gọi màu thiên thanh.
- Ông không nghe câu hát: Màu áo thiên thanh thơ ngây ngày nào… Chắc tại ông nhà quê.
- Tôi nhà quê thiệt đó, quê mùa chất phát, "le nhaque" mà.
Em vọt miệng:
- Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, Nguyễn Vỹ.
TT biết sao không, ông đó mở to mắt, nhìn em có vẻ ngạc nhiên, rồi nói trống không, như thách đố:
- Ngư Ông Và Biển Cả
Em đâu có chịu thua, trúng tủ, em trả lời ngay:
- Ernest Hemingway
- Câu Chuyện Dòng Sông
- Hermann Hesse
- Giải Khăn Sô Cho Huế
- Nhã Ca
- Thềm Hoang
- Nhật Tiến
- Tháng Bảy Thôi Mưa.
- Chờ chút… nghe có vẻ như của Túy Hồng hay Quỳnh Dao... ừm... chịu thua! Bộ ông cũng đọc truyện tình ướt nhẹp của hai nhà văn nữ đó nữa sao?
- Chuyện tình ướt nhẹp hay người đọc mau nước mắt rồi đổi thừa cho truyện?
- Chuyện đó hạ hồi phân giải. Vậy chớ tác giả của
Tháng Bảy Thôi Mưa là ai vậy? Sương chịu thua rồi mà.
- Ha... ha... Thua là phải! Cái này là tôi tự biên tự diễn.
- Ăn gian! Bây giờ tới phiên Sương, chủ đề nhạc, Cô Láng Giềng!
- Không được, không được, tôi không biết gì về nhạc hết. Rồi ông đó lại bất chợt hỏi (chuyên môn đổi đề tài!!!):
- Cô đọc Tuấn, Chàng Trai Nước Việt mấy lần?
- Chắc cũng ba, bốn lần gì đó.
- Một lần không đủ sao?
- Mỗi mùa hè, ba Sương thường bắt Sương dọn dẹp tủ sách cho ba, thế là Sương vừa dọn dẹp vừa đọc lại mấy quyển hay hay, và hầu như năm nào quyển này cũng được xếp vào loại hay hay. Cho nên thường thì công chuyện dọn dẹp kéo dài cả tuần vì Sương mê đọc. Thế ông đọc mấy lần?
- Cũng ba, bốn lần. Nhưng mà tự tôi tìm đọc lại trong những ngày hè dư dả thì giờ.
- Ðây là quyển sách đã gây nhiều ấn tượng nhất cho Sương. Ông biết không, cứ mỗi lần đọc lại một quyển sách là một lần Sương thấy mình hiểu sâu hơn, thắm thía hơn, chắc tại Sương chín chắn hơn sau mỗi mùa hè. Ông Nguyễn Vỹ đã tặng cho thanh niên Việt Nam một món quà thật quí báo.
Ông đó quay nhìn em, nhìn khá lâu, làm như em vừa lớn thêm năm tuổi vì câu nói đó. Ông nhỏ giọng:
- Chính quyển sách này đã hung đúc, nuôi dưỡng cái quyết định thi vô trường Võ Bị Ðà Lạt của tôi.
Vậy đó, chắc hết chê em còn nhí không biết gì, hết làm bộ nghiêm nghiêm không nói không rằng, em với ông đó nói chuyện mõi luôn. Ðến Bảo Lộc, ông đó mua bánh mì, hai bịch trà đá, rủ em vừa ăn vừa đi vòng vòng cho dãn chân. Má dặn không được ăn dọc đường mà em bị ông này dụ dổ mua bánh mì xíu mại ngon quá làm em cầm lòng không đậu.
Và... TT đừng mét ba nghen, chủ nhật sau khi đưa dâu, em nhờ anh Chỉnh chở em ra quán cà phê Tùng gần hồ Xuân Hương, tại em có hẹn với anh Tâm để anh Tâm đưa đi dạo phố Ðà Lạt. Khoe với TT nha, anh Tâm học ở Võ Bị Ðà Lạt, sang năm ra trường đó. Chiều nay anh Tâm khác hẳn hôm trên xe chú Hoàng. Bộ quân phục chủ nhật màu nâu đen đậm làm anh ấy có vẻ nghiêm nghị, già dặn hơn và oai hơn. Lúc đầu em hơi ngan ngán, mới sau hai ngày mà em thấy không khí không được thân mật như trước. Mãi đến khi thấy có nhiều anh cũng mặc quân phục giống vậy nên em quen mắt đi, bắt đầu hỏi đủ thứ chuyện, toàn là em bắt chuyện không hà!
Chợ hoa tan sớm, nhưng em đã đi với bác Công ra phố hôm qua để mua thêm bông rồi nên chợ có tan sớm cũng không sao. Thế mà anh Tâm cứ tiếc là em không được xem chợ hoa và cảnh những người thượng đem hàng xuống bán. Chợ có hai tầng, TT biết em không thích vô chợ đông người, nên tụi em vòng quanh chợ, vòng quanh hồ Xuân Hương thơ mộng như trong sách tả, đi mấy con đường lên dốc xuống dốc mà em không mõi chân gì hết. Tại mê nói chuyện và mê nhìn mấy cái biệt thự trồng đủ loại hoa. Em thích nhất là những biệt thự có dàn hoa tường vi bò trên tường. Những cánh hoa hồng nhạt nho nhỏ trông như những cô gái Ðà Lạt má đỏ au yểu điệu trong chiếc áo dài lụa mềm, khoát hờ thêm cái áo len mỏng, chắc chỉ để làm điệu. Em là dân Sài Gòn, chỉ mặc quần tây với cái áo thun dài tay không có áo ấm gì hết mà đâu thấy lạnh. Nhưng tiếc quá! Em không được đi chơi lâu vì tối đó bên đàng trai tổ chức khiêu vũ, em đã hứa với anh Chỉnh, con bác Công.
Em vẽ hình anh Tâm với bộ quân phục ngày chủ nhật cho TT xem đây, oai chưa? Thôi, em phải đi ngủ, mai đi học, chép bài lại mõi tay chết luôn.

Ngày 17. 01. 73
Em được thư anh Tâm từ Ðà Lạt! Mừng quá! Cứ tưởng anh ấy chỉ khách sáo lịch sự với một cô gái tình cờ quen trên một chuyến xe đò. Lịch sự dẫn dắt một cô gái Sài Gòn lần đầu tiên lên Ðà Lạt. Ai ngờ (em hơi hơi trông thư!) thư anh ấy đến nhà. Cuối thư anh ấy chấm dứt một chữ gọn lõn: "nhớ!", làm em thơ thẩn từ trưa tới giờ. Em kẹp cái thư vô đây cho TT xem nha. Nhưng em không thèm trả lời liền đâu. Con gái ai mà hư vậy.
Ngày 26. 01. 73
Chưa kịp trả lời cái thư thứ hai được chấm dứt bằng: "nhớ! nhớ!", bây giờ lại được cái thư thứ ba, chấm dứt bằng: "nhớ! nhớ! nhớ!". Sao em sợ tiếng nhớ của chàng vọng loãng trong rừng thông xanh ngát, chìm dần xuống đáy hồ Xuân Hương, bơ vơ quá, tội nghiệp quá! Tội nghiệp chàng! Em làm điệu làm hạnh như vầy đủ rồi nha! Lời thư sao dễ thương ngọt mật, em không cầm lòng được. Em viết thư cho chàng đây, dĩ nhiên là giấy perleur màu xanh nhẹ thật nhẹ. Mà TT này, em có nên chấm dứt lá thư bằng chữ "nhớ!" không? Em cũng nhớ nhớ nữa. TT đừng hỏi em nhớ nhớ cái gì nghen. Không biết, nhưng em cứ nghĩ đến những lời anh Tâm viết trong ba lá thư hoài thôi, sáng trưa chiều tối, vậy là nhớ nhớ phải không TT? Thôi, xấu hổ lắm! Nhưng em sẽ viết, viết chừng nào mõi tay thôi, rồi em đạp xe ra bưu điện liền.

Ngày 15. 02. 73
Trong thư chàng nói chàng sẽ về Sài Gòn hôm cúng bốn mươi chín ngày của ông chú mà chàng đã về chịu tang (kỳ đi cùng chuyến xe với em đó!) và chàng sẽ đến thăm em. Em sợ quá! Ba la chết! Chị Ðoan quen anh Thông sáu tháng nay rồi mà anh Thông có dám tới nhà lần nào đâu. Hai người hẹn nhau ở trường, chị Ðoan nói dối ba má hoài để đi chơi, làm em sợ, bây giờ tới phiên em. Mấy đứa bạn em đứa nào cũng ngán ba, đứa nào cũng nói ba trông nghiêm quá. Hồi đó giờ em đâu có người bạn trai nào dám đến nhà thăm em. Bạn bè trong lớp thôi. Nhiều người gọi em là búp bê Nhật vậy mà không có ai theo đuổi em, tại nghe tiếng ba nghiêm nghị. Ba là bạn của mấy ông thầy trường em, ba là đại diện phụ huynh học sinh, ba giúp đỡ trường rất nhiều vì trường mới xây dựng. Sáng nào ba cũng chở em đi học, có khi ba đón về, có khi anh Hai đón về, có khi ba nhờ mấy người làm cho ba đến đón em về. Em đâu được đi chơi với bạn nhiều, em đâu có bạn trai mặc dù ba chưa bao giờ cấm đoán.
Làm sao đây TT? Em sợ ba la, em mong chàng đến thăm. A… hay là dặn chàng đến quán cà phê nào đó như chị Ðoan hẹn với anh Thông vậy. Em viết thư liền đây.

Ngày 24. 02. 73
TT coi chàng gan ghê chưa. Hồi chiều chàng đến nhà, chị Ðoan ra mở cửa. Chị Ðoan xanh mặt khi nghe chàng nói: "Tôi đến thăm Sương, Phan Thị Mai Sương, có Sương ở nhà không vậỷ" Ngay lúc đó ba dắt xe ra. Chàng chào ba: " Chào bác! Cháu ở Ðà Lạt xuống. Cháu đến thăm Sương." Chị Ðoan nhảy năm bước lên lầu, hét um xùm: " Sương, có ông nào lại, biểu là ở Ðà Lạt, đòi thăm mi, đang nói chuyện với ba ở dưới. Mi ngon há!" Trời ơi! Em đứng tim gần muốn khóc. Sao chàng gan quá vậy! Em muốn trốn, biết trốn đâu bây giờ. Chị Ðoan hối liên hồi. Em run sợ nhảy xuống giường. Ðầu óc mụ mẫm, em đi về hướng cầu thang như người mù quen lối. Chị Ðoan gọi dựt lại, bắt em mặc áo ngực vô. Ai mà nhớ mấy chuyện đó, cám ơn chị Ðoan nghen! TT biết ba nói sao không khi em ra phòng khách: "Con đi làm nước mời anh Tâm, ba phải đi công việc." Rồi xoay sang chàng, ba bắt tay chàng: "Bác phải đi, cháu ở chơị"
Chàng cứ nhìn em hoài, nhìn mái tóc cắt ngang trán thả dài vừa qua vai, nhìn mặt em nóng bừng, nhìn tay, làm em phải dấu tay dưới đùi, rồi chàng nói:
- Sương trông trẻ con quá trong bộ đồ bộ này, dễ thương như con búp bê Nhật.
Em không biết nói chuyện gì hết. Sao hồi trên xe đò đi Ðà Lạt, hồi đi dạo phố Ðà Lạt em nhiều chuyện lắm, vậy mà bây giờ... chắc tại chàng cứ nhìn em đăm đẵm, làm như muốn ghi hết những nét "dị hợm" trên mặt em đặng giữ cho được lâu trong trí nhớ. Em than:
- Sao anh gan quá, Sương dặn anh...
Chàng nghiêm mặt, nhìn thẳng mắt em, nói một cách nghiêm trọng:
- Chuyện mình quen nhau không có gì phải dấu diếm. Ðúng vậy không?
Rồi chàng hạ giọng, nhẹ nhàng hỏi:
- Em không muốn anh làm quen với gia đình em sao?
Em lặng người cảm động vì giọng chàng thật âu yếm, vì tiếng em ngọt ngào chàng dùng lần đầu tiên với em. Chàng còn với tay vén nhẹ cọng tóc vương trên má em ửng hồng. Em muốn giữ tay chàng dừng lại trên má em nhưng em không dám.
TT biết không, bây giờ em mới để ý là giọng chàng hơi ngồ ngộ, cưng cứng, Trung không ra Trung, Nam không ra Nam. Chàng bảo tại chàng là dân Phan Thiết, biển mặn làm cứng lưỡi nhưng vì ăn cơm toàn với nước mắm dầm ớt xiệm nên giọng bớt cứng đi đó chớ. Rồi chàng lại đùa: "Ấy cho nên tình người Phan Thiết nồng nàn đậm đà mùi vị nước mắm nhỉ". Xạo chưa?
Nhiều chuyện lắm, em không kể hết được đâu, em buồn ngủ rồi, chắc em sẽ mơ thấy những cành hoa tường vi hồng nhỏ nhắn xinh xinh leo bám quanh tường cao ẩn hiện mờ mờ dưới sương mù Ðà Lạt. Em vui quá! À quên, hồi nãy ba còn hỏi em: "Chừng nào anh Tâm về Ðà Lạt lạỉ" TT coi, ba đâu có la em. Coi bộ ba mến chàng. Chắc tại chàng thẳng thắng, công khai, dám cả gan đến nhà thăm em, nên ba quí. Và tại chàng là dân Võ Bị Ðà Lạt nữa. Ba học rộng, hiểu biết nhiều, ba hiểu tại sao chàng chọn học trường Võ Bị, ba mến chàng là phải.
Chàng ngon lành quá hả TT. Chàng còn hẹn ngày mai đến xin phép ba má cho em đi chơi phố với chàng nữa. Ngày mai em mặc cái gì đây? Áo dài hay jupe, hay quần tây hay đầm hái nho? Em phải hỏi ý kiến chị Ðoan. Ha… ha... chị Ðoan bây giờ thua em rồi, em dám đi chơi với bạn trai mà không cần phải nói dối. Chắc ba cho phép. Ba quí chàng mà!

Ngày 25. 02. 73
TT có nghe ba nói gì khi chàng xin phép ba cho em đi chơi phố không? Ðây nè: "Chiều cháu đưa em Sương về rồi ở lại dùng cơm, nhà thường dùng cơm khoảng sáu giờ." Em sung sướng quá! Chỉ thế thôi, đủ rồi TT nhá! Em đi ngủ đây.
Quên, hồi sáng theo lời chị Ðoan, em mặc jupe trắng, áo thun xanh lợt, giầy bata trắng, chị Ðoan khen em dễ thương. Má nhìn em âu yếm hãnh diện. Nhưng khi chàng đến nhà với bộ quân phục màu khaki lợt, đeo huân chương (chắc là huân chương!), đội mủ nữa, em đổi ý ngay. Em thay cái áo dài màu xanh lợt thiệt là lợt mà chị Ðoan đã cặm cụi thêu cành hoa cúc trắng nằm khiêm nhường ở tà áo. Em nghĩ: Chỉ có áo dài mới hợp với bộ quân phục oai nghiêm này. Chàng ngắm em với ánh mắt lạ quá làm em xấu hổ, em chỉ muốn trốn vô phía sau cánh cửa. Vậy chớ mà tới chiều, lúc chàng đưa em về, em dám cả gan vịn nhẹ vô hông chàng, dựa má vào gáy chàng nữa đó. Chàng chạy xe chậm thật chậm, mùi mồ hôi chàng hoà trong gió mát, em hạnh phúc quá!
Hồi nãy, lúc chàng đi về, em theo chàng ra cửa, chàng nắm tay em mạnh quá, chặt quá, rồi chàng đưa lên môi hôn thật mạnh. Em muốn khóc, khóc vì cảm động đó TT. Em muốn dựa vào chàng mà em không dám. Mặt em nóng rồi!

Ngày 20. 06. 73
Lúc này em không kể chuyện nhiều vớí Thiên Thanh nữa, TT đừng giận em nha. Em viết thư cho chàng hoài thôi, kể đủ thứ chuyện, em già chuyện lắm. Em dám viết: "Em nhớ anh, anh nhớ hôn trán em mỗi tối chúc em ngủ ngon cho em được thấy anh trong mợ" Thư nào em cũng viết thêm một câu ca dao thương nhớ, chàng nói những câu ca dao làm chàng cảm động lắm, rồi chàng đòi em viết nhiều nhiều ca dao thương nhớ vô thư cho chàng. Nhưng đâu có được, hết sao, vầy nè:
Cô thương nhớ ai ra ngẩn, vào ngơ?
Ðêm quên giấc ngủ, ngày mơ trận cười.
Ðêm năm canh, ngày sáu khắc chàng ơi!
Chàng cười nửa miệng, thiếp tôi nửa lòng.
Và:
Chim xa bầy, thương cây nhớ cội,
Người xa người, tội lắm! người ơi!
Chẳng thà không biết thì thôi,
Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi sao đành.
Còn nhiều lắm nhưng em chỉ viết một lá thư một bài ca dao thôi, hồi đó giờ cũng mấy chục bài ca dao rồi chớ bộ.
TT thấy những bức tranh em vẽ đẹp không? Chàng diễn tả cảnh Ðà Lạt, cảnh chàng lang thang để nhớ em, con đường em đã đi chơi với chàng, khu rừng phía ngoài trường buổi sáng buổi trưa buổi chiều khu rừng phía đông, khu rừng phía tây, ngọn đồi 1515... Chàng viết thư hay lắm, nên em vẽ cũng rất nhanh theo lời chàng tả. Em gởi kèm theo vài tấm hình em đã vẽ, chỉ vẽ bằng viết chì màu thôi đó, vậy mà mấy anh bạn chung phòng với chàng khen em vẽ đẹp, chàng hãnh diện, chàng còn khoe: "Tụi mày chưa nghe Mai Sương đàn nhạc classic"

Ngày 25. 12. 73
Giáng Sinh năm nay là giáng sinh đầu tiên em đi chơi ở ngoài, dĩ nhiên với chàng, hơn một giờ khuya mới về đến nhà. Trong tiệm Givral góc Tự Do và Lê Lợi có cửa kính rộng lớn, tụi em tìm được bàn nhìn ra đường, ăn chiều, ngắm thiên hạ. Càng về đêm, người ra đường càng đông, nhiều cặp tình nhân tung tăng với nhau trông thật tình tứ. Chút nữa tụi em cũng tung tăng, cũng tình tứ như ai vậy!
Phố đêm Sài Gòn rộn rịp, người đi lên, kẻ đi xuống, thường là từng cặp hoặc từng nhóm, hình như không ai đi một mình hết. Nhất là đêm Giáng Sinh, đêm của tình nhân, đêm của tuổi trẻ phải không TT. Tụi em không có đạo nhưng cũng muốn đi xem lễ ở nhà thờ Ðức Bà. Chàng phải tìm đậu xe ở sân trường Luật rồi đi bộ dọc Duy Tân là tới.
Gần tới mười hai giờ, đông người quá, em ngợp, em không chen vô nhà thờ được, em không chịu được nhiều hơi người, mồ hôi âm ẩm trán em, em níu cánh tay chàng. Chàng hoảng hốt bế xốc em lên, đi nhanh ra khỏi đám đông, khỏi nhà bưu điện. Thoát khỏi nơi đông đảo, em tỉnh hẳn lại, hú hồn! Dọc đường Ðồn Ðất hơi vắng người, cứ chốc chốc chàng lại nhìn chừng em trên đường tìm ra Hai Bà Trưng, cho tới khi tìm được một quán cà phê ngoài vườn.
Lần đầu tiên em uống cà phê, cho tỉnh người, thơm và ngon ghê đi! Và trên ghế xích đu, dưới gốc cây xoài lớn, em dựa ngực chàng, tiếng chuông nhà thờ, nhạc thánh ca, lời chàng ngọt, môi chàng ấm... Ôi đêm Giáng Sinh hạnh phúc.

Ngày 26. 12. 73
Em mừng quá! Ba má cho phép em lên Ðà Lạt dự lễ ra trường của chàng, em cám ơn bác Công, em cám ơn ba má! Chàng xin phép ba má đàng hoàng mà. Chàng khôn lắm, chàng biết tẩy ba má, chỉ cần chàng xin phép ba má là chuyện gì ba má cũng cho. Mà chàng có xin cái gì xấu xa đâu! Em phải hứa với ba là phải học bù, học ngày đêm, chuyện tình cảm phải nhường chỗ trống cho chuyện học hành nữa. Thi đậu là một chuyện mà thi vô Cao Ðẳng Mỹ Thuật hay Ðại Học Kiến Trúc còn khó hơn.
Em không mơ đi du học nữa đâu. Ba má chiều em, con út mà. Ba má cũng đâu muốn xa em, tại tự em muốn đó thôi, tại lúc đó chưa quen chàng. Em còn phải tập khiêu vũ vì tối đó có dạ vũ. Chị của nhỏ Minh Thư hứa sẽ chỉ cho cả hai đứa, em muốn chàng hãnh diện với bạn bè mặc dù chàng không quan tâm gì đến đêm dạ vũ đó. Còn ba tuần nữa. Em thương chàng quá TT ơi!

Ngày 12. 01. 74
Thiên Thanh ơi! Còn hai ngày nữa mà em bệnh trầm trọng quá, con bệnh thương hàn hành hạ em đã ba ngày rồi. Mỗi lần tỉnh, nghĩ đến ngày sẽ đi Ðà Lạt, em khóc, em sợ mình không khỏe lại kịp. Chị Ðoan cũng lo cho em. TT có cầu Phật Bà Quan Âm Thị Kính cho em không? Cho em mau khỏe. Bà bác sĩ Ngọc Hương đến nhà thăm em mỗi ngày.

Ngày 16. 01. 74
Anh Hai đã đi đánh điện tín cho chàng, em khóc cả trong cơn tỉnh lẫn cơn mê. Em nghĩ đến lúc chàng nhận được điện tín, đến lúc không có em ngồi lẫn trong số khách tham dự bên cạnh ba chàng, đêm dạ vũ... chàng cô đơn... Em cũng không khỏe để có thể viết thư cho chàng nữa. Số tụi em hẩm hiu đến vậy đó TT ơi!

Ngày 20. 01. 74
Chàng không về Phan Thiết sau lễ mãn khóa, chàng về thẳng Sài Gòn. Em thương chàng ghê đi TT ơi! Ánh mắt chàng thiết tha quá! Chàng nhắc cái ghế ngồi bên giường em, cứ xoa tay em hoài. Ba lên phòng thăm chừng em mà chàng cũng không bỏ tay em ra. Ba má lo cho em, anh Hai, chị Ðoan lo cho em nhưng không một săn sóc nào có thể so sánh với những mơn man bàn tay em, những vuốt ve trán em, thơm tay em, thơm trán em, thơm tóc em, vén tóc em, dịu dàng nhẹ nhàng. Em giữ tay chàng lại trên má em, những ngón tay xoa nhẹ môi em. Em thiếp đi trong rừng thông có tiếng cành cây cố cựa mình thật khẻ, có tiếng sáo thông văng vẳng. Em đã bắt đầu ăn cháo thịt, má em hồng từ từ trở lại trong mấy ngày chàng ở Sài Gòn.
TT thấy hình em vẽ chàng lúc chàng ngồi đọc sách cho em, dị quá hả? Vẽ chân dung không phải sở trường của em, em chỉ thích vẽ phong cảnh thôi. Chàng còn đọc mấy bài triết cho em ôn vì em nghỉ học hơn hai tuần nay. Em nằm gối đầu cao, tay nắm tay em, tay cầm cuốn tập, chàng đọc, em thiêp thiếp ngủ, mang theo Platon, Voltaire, Sokrastes... màu áo xanh lợt chàng đang mặc.

Ngày 28. 1. 74
Chàng được bổ nhiệm về Long Khánh, tiểu đoàn 43 sư đoàn 18Bộ Binh, cách Sài Gòn hai tiếng xe đò nên chàng về Sài Gòn hoài thôi. Chàng đã được phép lên phòng em nữa đó! Lần này em đâu có nghe chàng xin phép ba má, chàng lợi dụng hồi em bị bịnh, rồi sẳn đà luôn, ông này khôn lắm đó TT ơi! Nhưng bao giờ chàng cũng để cửa mở rộng và cứ hít hít hỏi: "Sao phòng em thơm thơm cái gì đó, không phải dầu thơm, vì có bao giờ em dùng dầu thơm đâụ" Chàng đâu có biết là em với chị Ðoan gom hoa khô, dồn may thành một cái túi lớn, để dưới giường cho thơm phòng." Hồi đó năn nĩ em cho lên phòng để nhìn chỗ em ngủ, để nhìn chỗ em ngồi viết thư cho chàng nhưng em đâu có dám, ba má la chết. Bây giờ thì tự do hén.
Hồi sáng em lò mò đón xe đò Long Khánh lên thăm căn cứ đóng quân của tiểu đoàn 43 Sư Ðoàn 18 Bộ Binh theo như chàng thường kể cho em nghe. Xuống xe đò, về hướng tay trái, em đi hết còn đường chính ngang qua chợ, tới ngã tư, quẹo trái, ngang ty học vụ bên trái, trường trung học Xuân Lộc bên phải, hỏi đường lên tòa tỉnh, căn cứ nằm không xa toà tỉnh mấy, em tìm tới đúng phóc.
Nghe người lính gát cổng báo tin, chàng chạy ra, chàng nhíu mày, chàng dậm chân mắng em hư. Em gần khóc. Em chỉ muốn cho chàng vui, em muốn thấy cái lều, cái giường bố chàng nằm, vậy thôi mà chàng rày em. Chàng nóng tính lắm. Em tủi, em giận, em đòi về liền. Chàng năn nĩ, chàng nắm tay em kéo em tới căn lều của chàng, chàng dổ dành, em giận lâu lắm. Chàng hôn em giữa ban ngày, không sợ người ta trông thấy, hôn mặt mũi em tèm nhem nước mắt giận hờn. Chàng nói chàng không cho em lên thăm vì đường xá nguy hiểm, chàng đi hành quân hoài, em lên không có chàng thì ai lo cho em. Chàng thấy mồ hôi em chảy ròng trên trán vì em trưa nắng đi bộ xa, chàng xót ruột nên chàng la em. Tức chưa? Lối chưa?

Ngày 20. 07. 74
Tiểu đoàn 43, sư đoàn 18BB lại đổi căn cứ ở một nơi nào đó xa Biên Hòa lắm. Không có xe đò, phải chờ quá giang xe nhà binh thôi. Chàng căn đi dặn lại là em không được lên thăm chàng. Chàng không kể đường đi nước biết nữa. Chàng độc đoán lắm, cái gì cũng sợ em ngã bịnh. Em bịnh có một lần mà chàng bị ám ảnh hoài. Tại má em kể: "Em Sương ít bịnh lắm, nhưng mỗi lần em bịnh là thập tử nhất sinh." Má dọa kiểu đó làm chàng sợ. Em nhớ chàng, em có quyền đi thăm, phải không TT? Tại sao chàng nhớ em, chàng có quyền liều mạng quá giang về thăm em dù chỉ vài tiếng đồng hồ? Bất công chưa?
Mỗi ngày em mân mê bộ quân phục ra trường của chàng mà chàng đã đưa cho em giữ, đủ thứ hết, huy chương, dây nhợ tùm lum... Chàng xếp ngay ngắn cái quần màu xanh có sọc đỏ bên nẹp, cái áo trắng có mấy đường sọc đỏ ngang ngực, để tận đáy tủ áo của em, chàng nói: " Cuộc đời binh nghiệp là do anh lựa chọn. Ðịnh mệnh đun đẩy anh trễ chuyến máy bay để anh được người quen giới thiệu chuyến xe của anh Hoàng, chuyến xe mình được gặp nhau đó. Cái thông minh, bản chất con người em đã kết tinh tình yêu trọn vẹn trong anh. Tình yêu chúng ta là sự dung hòa của định mệnh và sự lựa chọn. Bộ quân phục này nằm lẫn lộn trong quần áo em, trong đời sống thường ngày của em, em gìn giữ cuộc tình mình, đời hai đứa mình, em nhá!"
Chàng vậy đó, làm sao em không thương chàng được? Em thương chàng đến độ em bắt đầu lo sợ, nếu một ngày nào đó... em không dám nghĩ tới... nhưng súng đạn... sao biết được. Căn cứ của anh Hai chuyển xuống tuốt Tây Ninh. Anh Thông người yêu của chị Ðoan học trường Bộ Binh Thủ Ðức, được bổ nhiệm ngoài Trung hơn nửa năm nay. Gia đình em không dưng mà bị lôi cuốn hoàn toàn vào cuộc chiến này.
Truyền hình, radio, báo chí... ba má lo âu theo dõi. Em và chị Ðoan hồi hộp lắng nghe từng địa danh được nhắc trong tin tức, từng tên của các đại đội, tiểu đoàn, sư đoàn... Mà chắc không phải chỉ có gia đình em thôi, còn biết bao nhiêu gia đình khác nữa. Em đã biết bận tâm với mọi người chung quanh, với xã hội chung quanh mình, em không còn là cô gái kiều dưỡng nữa.

Ngày 11. 02. 75
Sư đoàn 18BB lại di chuyển lên Núi Thị một cách đột ngột, không xa Ðịnh Quán mấy. TT nhớ Ðịnh Quán nằm ở đâu không? Trên đường đi Ðà Lạt đó. Hồi trên chuyến xe đò định mệnh, nơi mà khi em chọc cái tên Tâm của chàng đó, làm chàng bỏ cái bộ mặt nghiêm nghiêm từ bến xe đò ở Ngã Bảy. Hai tháng rồi chàng không về, thư cũng thưa. Em buồn, em giận chàng, em không thèm kèm theo câu ca dao thương nhớ nào vô thư. Em viết thư ngắn ngủn. Rồi chàng lại hờn em, biểu là em không còn thương chàng như trước nữa. Em buồn quá! Sao cả tháng nay em bồn chồn lo lo đâu đâu... nhớ chàng... rồi giận chàng... không ráng về thăm em.

Ngày 04. 03. 75
Chàng về, nhấn chuông hai ngắn một dài. Em phóng từ trên lầu xuống. Vậy mà khi thấy chàng, em làm mặt lạnh, em nhường chỗ cho chàng vô nhà. Không vô hẳn, chàng đứng lại trước mặt em, nhìn em, giọng buồn buồn:
- Em không vui?
Nước mắt em ứa ra, em không chịu đựng được nữa, em dựa lưng vô cánh cửa, tay buông thỏng, nhìn xuống đất, dấu không cho chàng nhìn mặt em, dấu không thèm nhìn chàng. Dùng ngón tay cái, chàng quẹt dòng nước mắt đang chảy dài trên má em. Chàng kéo đầu em sát vào cổ chàng, cúi xuống hít mạnh tóc em, hỏi:
- Em giận anh? Anh về đây mà!
Bao nhiêu giận hờn tiêu tan, người em mềm theo cánh tay chàng kéo em ngồi xuống sô pha, vuốt ve cánh tay em để trần, mơn man đôi môi trên tóc em. Trong vòng tay chàng, em ép mặt vào bàn tay chàng chai cứng, em vuốt ve cánh tay chàng vén tay áo cao khỏi cùi chỏ. Lạ ghê Thiên Thanh nhỉ! Khi người ta yêu nhau, sao người ta lại thích vuốt ve nhau, ngồi sát bên nhau, không chán!

Ngày 17. 03. 1975
Tin phong phanh cho biết Quân đoàn I I được lệnh rút khỏi Pleiku, lệnh bỏ chiến tuyến từ Phú Yên. Anh Thông thuộc liên đoàn 4 Biệt Ðộng Quân còn ở lại phòng thủ Pleime. Chị Ðoan từ nhà anh Thông về, mắt xưng húp, nhìn má, lắc đầu. Chị đi thẳng lên phòng, ngồi bó gối trên giường, em thương chị Ðoan quá. Tính chị ít nói, bây giờ chị càng im lìm hơn khi em đem lên phòng tô cơm má làm cho chị. Em năn nĩ lắm chị mới bưng tô cơm, múc từng muổng, nhai chỉ để nhai. Tối, em qua phòng chị Ðoan, hai chị em nằm trở đầu trên cái giường nhỏ của chị, để radio cả đêm. Em ngủ hồi nào không hay.

Ngày 18. 03. 75
Tin Ðịnh Quán bị tấn công rồi Thiên Thanh ơi! Ba Má mở radio cả ngày. Ðến chiều thì nghe tiểu đoàn 2/43 đơn độc chống giữ căn cứ. Cả nhà không ai ngủ được. Em ngồi xếp bằng trên giường, em cầu Bà Chúa Thượng Ngàn, Phật Bà Quan Âm phù hộ cho tiểu đoàn. Tụi Việt Cộng đâu có tin Phật tin Trời, Trời Phật đâu có thương tụi nó. Em không dám khóc, em sợ điềm sui. Ngực em đau nhói từng hồi. Cục nghẹn cứ ứ đầy cổ họng em. Em không dám khóc mà sao nước mắt cứ lăn dài trên má. Chị Ðoan qua phòng ngủ chung với em. Hai chị em không ai dám nhắc tới Ðịnh Quán, nhắc tới Phú Bổn. Em mệt, em không viết được nữa.

Ngày 19. 03. 75
Ðài BBC loan tin Ðịnh Quán thất thủ. Nhưng rồi radio Sài Gòn đính chánh là tiểu đoàn 2/43 đang chống cự, Ðịnh Quán chưa mất. Sức em không chịu nổi. Em đi loay hoay. Em ăn chút cơm. Em mở tủ quần áo, rờ bộ quân phục. Em không biết làm gì hết. Em không biết nghĩ gì hết. Em không viết được nhiều. Ðầu óc em trống rỗng.

Ngày 20. 03. 75
Ba bỏ văn phòng, ba về nhà ngay. Ba nói với má, với em, với chị Ðoan đang lặt rau:
- Ðịnh Quán mất thiệt rồi.
Trời đất ngã nghiêng, em ngất đi. TT nghe nữa mà phải không?
Ngày 21. 03. 75
Toàn bộ liên đoàn 4, sư đoàn 25... đang rút về Nha Trang theo liên tỉnh lộ 7. Không tin tức nào đáng tin. Tin truyền miệng, tin gia đình nhận được, tin từ radio... không phù hợp nhau. Chỉ biết thiệt hại rất nặng. Mấy người em của anh Thông cứ vài tiếng đồng hồ, được tin gì mới lại đến nhà, cho chị Ðoan biết. Nghe nói Việt Cộng định tấn công Tây Ninh để bao vây Sài Gòn, đơn vị anh Hai đóng ở đó. Gia đình em như nghẹn thở. Radio mở từ sáng sớm cho tới tối khuya.
Ba lên Long Bình nghe ngóng tin tức. Tin tức đưa về: Tám mươi chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Em không muốn nghe nữa.

Ngày 23. 03. 75
Xuân Lộc bị tấn công. Ðịnh Quán mất, quốc lộ 20 bị cắt đứt. Bây giờ quốc lộ 1 cũng cũng bị cắt đứt.

Ngày... 03. 75
Xuân Lộc được tái chiến, Sài Gòn hỗn độn. Người di tản từ miền Trung, từ Ðà Lạt, từ Long Khánh mang những tin tức mà radio không chịu thuật lại, đài truyền hình không chiếu trên màn ảnh.

Ngày ... 04. 75
Không nghe tin tức gì của anh Hai, anh Thông, chàng.

Ngày 22. 04. 75
Ba đã liên lạc với vài người của bạn ba, cả gia đình sẽ xuống tàu bất cứ lúc nào. Anh Hai, anh Thông và chàng biệt tăm làm sao ba má nỡ lòng nào đem hai cô con gái đi di tản. Anh Hai, con trai trưởng của ba má. Anh Thông vừa hứa hôn với chị Ðoan. Chàng, ba thương chàng lắm, tại em là con gái cờ của ba mà.

Ngày 30. 04. 75
Ba, má, em và chị Ðoan mỗi người một công chuyện loay quay ở nhà bếp. Lúc này cả nhà cứ quay quẩn với nhau luôn thôi. Ba đi đâu cũng lo về cho lẹ, đọc báo, nghe radio, phụ má làm cơm. Má cũng không thiết tha làm bánh trái như thường lệ.
Hơn mười một giờ thì phải, Tổng Thống Dương Văn Minh yêu cầu các lực lượng quân đội bỏ súng không chống cự và rồi tuyên bố đầu hàng. Ba đập bàn, đi thẳng vô phòng làm việc. Chưa bao giờ em thấy ba giận dữ như vậy. Má, chị Ðoan, em, hoang mang, không biết làm gì hết, không ăn, không uống, không dám mở cửa, không dám ra đường.
Vậy là sao hở TT? Có nghĩa là hết chiến tranh? Có nghĩa là mình thua trận? Có nghĩa là anh Hai, anh Thông và chàng sẽ không chiến đấu nữa, sẽ về với gia đình? Chàng sẽ làm gì đây? Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa sao? Ðâu được! Chàng đã chọn binh nghiệp mà. Chàng sẽ về? Thân thể có còn nguyên vẹn? Nhưng một điều em chắc chắn là tâm hồn chàng, con người chàng đang bị thương nặng nề, không bút mực nào tả được. Tội nghiệp chàng quá TT ơi! Em lo sợ, đầu óc em lẫn quẫn với những tư tưởng:
"Người lính" trong chàng rồi sẽ mất?
Hay bập bềnh theo vận Nước nổi trôi?
Em mong em đợi chàng về với em, nhưng không phải về trong hoàn cảnh như thế này. Em thương chàng quá Thiên Thanh ơi!
Ðầu óc em đen đặc.

Viết cho tháng Tư buồn

Tài liệu tham khảo:
- Sư Ðoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại Xuân Lộc - Hồ Ðinh - 2005
- Người Ở Lại Ðịnh Quán Tháng Ba Năm 1975 - Bảo Ðịnh Nguyễn Hữu Chế - 2005
- Triệt Thoái Tây Nguyên - Phạm Huấn - 1987



Võ Thị Ðiềm Ðạm




Mục Lục


7. Chùm Cây Tầm Gửi

Trần Thành Mỹ



Thành kính cảm ơn cha Nguyễn Hùng Lân trên bước đường đầu rời quê hương

Phi trường Bruxelles Bỉ rộn rịp người trong một ngày mùa Xuân có nắng. Kiểm soát giấy tờ. Mướn xe đẩy, mang hành lý ra ngoài ngơ ngác hy vọng người đến đón nhận ra. Cha cứu tinh Lân theo sát gót trấn an luôn :
‘’ Chị đừng lo, có gì trục trặc tôi sẽ đem chị và ba cháu về nhà ba má tôi tạm nghỉ, rồi liên lạc với nhà dòng’’.
Câu nói nầy cha đã lập đi lập lại với chúng tôi như câu kinh nhật tụng, từ lần đầu ngày lên phi trường Tân sơn Nhất để làm thủ tục trình diện và xác định ngày chính thức rời quê. Cảm kích vô cùng nhưng bấy giờ mắt đã cạn khô, tôi chỉ còn biết lí nhí cảm ơn mà hàm răng cắn chặt, nhìn không rời ba con tay xách giỏ tay kia ‘cập kè’ quàng lấy chị hay em mình.
Thời gian như dài hẳn, tim tôi rưng rưng, đầu óc trống rỗng, miệng khô đắng, tay đẩy xe nặng trĩu dư hương kỷ niệm, chầm chậm đi ra sát thằng bé 7 tuổi bám chặt đùi mẹ ngẩn ngơ.
Những cánh tay vẫy vẫy từ đám người lố nhố đón người thân. Cuộc nhận diện không khó khăn vì trong chuyến máy bay nầy chỉ có sáu gia đình Việt.
Sau chuyến ‘phi hành’ dài lạ người lạ cảnh lạ quê, bốn mẹ con thừ người chào hỏi rồi vội vã theo các sơ lên xe ...chuyển bánh. Con đường sao mà dài vô tận, trời nắng ráo, mặc áo len mà vẫn ‘đánh bò cạp’ mới kỳ. Ba đứa nhỏ còn ngủ gà ngủ gật, mặt mày tái mét, ngồi sát nhau như sợ phải xa rời.
Xe dừng lại trong sân, nhận kèn báo hiệu. Tôi chưa kịp sửa lại quần áo chỉnh tề là trước mặt chúng tôi ba bốn sơ ngoại, tươi cười bắt tay niềm nở, phụ dẫn mấy đứa trẻ và mang rương giỏ vào trong. Mãy mươi sơ đổ xô lại, người đến bắt tay, sơ nựng má bé Nhất lùn xịt tròn quây trong áo mũ len dầy cộm. Nhất níu lấy tay mẹ cứng ngắc, dáo dác tìm quanh, thình lình la to :
’Bố ơi bố, bố đâu bố, tụi con đây bố ơi !’.
Hoảng hốt, ràn rụa nước mắt, tôi ôm chầm lấy con, nhìn lại hai đứa lớn khóc ròng. Các sơ chẳng hiểu chuyện gì xảy ra, nhờ dịch, chừng vỡ lẽ, im lặng như tờ, ứa nước mắt.
Thế là chúng tôi bước qua giai đoạn mới, cuộc phiêu lưu vào ‘cửa thiền’ Công giáo Bỉ, trong 8 tháng, ẫn tu.
Ðiều chúng tôi phát giác ra ngay là các sơ nầy không nói tiếng Pháp lẫn Anh, hai thứ tiếng mình có dở cũng còn bập bẹ, ‘ba xí ba tú’, ‘ ô kê, ‘oánh tù tì’, hay khảo cứu tự điển để tìm chữ ráp câu. Chúng tôi rơi ngay vào vùng nói tiếng Hòa lan nên quả là một cuộc đổi đời và nhận chân rằng tự do quí mà đắt thật.
Trong khoảnh khắc, cả một quá khứ biến dần , bao nhiêu công dồi mài kinh sử ở quê hương tiêu tan theo mây khói :
‘Dã tràng xa cát bể Ðông,
‘Nhọc nhằn mà chẳng ra công cán gì’
Bây giờ trở thành người mù chữ, dốt đặc cán mai, ‘thất học, mất dạy’, vô gia cư, vô nghề nghiệp cộng thêm ‘cái già sồng sộc nó đà theo sau’ nữa mới phiền.
Thời kỳ nầy đúng là bị sao ‘Tam không’ chiếu, không tài, không tiền, không tiếng, lại ‘không môi miếng cũng không chân đứng’ còn đèo thêm ách ‘tứ cố vô thân’, nhớ lại mà cứ tưởng chuyện... Tam quốc đời xưa.
Bỉ là một xứ quân chủ lập hiến nhỏ, diện tích bằng 1/10 nước ta, theo thể chế liên bang, không có tiếng mẹ nên chia thành ba vùng ngôn ngữ Pháp, Ðức, Hòa lan. Thế mà cũng như vài nước Âu châu khác như Anh, Pháp, Hòa lan... có thuộc địa Congo ở Phi châu. Do đó, tầm nhìn của họ dù có hào phóng thế mấy đi chăng nữa, vẫn còn đượm hình ảnh của thời kỳ vàng son tư bản cũ.
Phải công nhận người Âu châu nói chung có tinh thần tương trợ, nhân đạo, yêu chuộng tự do, hòa bình. Nhưng với làn sóng tị nạn ồ ạt tràn sang, chính trị có, kinh tế không thiếu, hợp pháp, bất hợp pháp, đủ loại giống màu, giả thật khó phân, không trách họ đề phòng và hoài nghi là chuyện dĩ nhiên thôi.
Vùng nói tiếng Hòa lan nầy là vùng nông nghiệp nên người dân ở đây rất cần cù, tiết kiệm, hiếu học, cầu tiến và ít cởi mở. Họ rất tự hào khi nghe :’ Trong bụng mỗi người flamand đều có một viên gạch’. Các bạn sẽ ngạc nhiên thích thú khi có dịp viếng nhà họ, thật sạch sẽ, ngăn nắp, láng bóng từ trong nhà cho đến ngoài vườn. Người Việt mình thường lắc đầu bảo chắc họ mắc phải ‘bệnh ở sạch’ khi thấy, vào mùa Ðông mà họ vẫn hùng hục lau rửa xe, cửa kính nhà, ở ngoài trời luôn. Khác hẵn với Paris, Bruxelles, đường sá ở đây rất sạch, khách bộ hành ít đạp phải chất thừa thãi không thơm tho, khó gỡ của đủ loại chó nuôi có ‘đính bài’.
Mặc cảm thiếu thốn, ít học của vùng bị chiến tranh tàn phá, đẩy người dân phía Bắc Bỉ phải tha phương cầu thực, đi làm thợ mỏ than, công nhân lao động chân tay ở các xí nghiệp kỷ nghệ, trui luyện ý chí và quyết tâm vùng lên xây dựng lại cuộc sống mới. Và họ đã biến vùng nghèo nàn nầy trở thành trù phú , giàu có, tiến bộ nhất Bỉ hiện nay.
Về văn hoá, ý thức được tiếng Hòa lan ít người biết đến nên vừa để không mai một tiếng mà họ xem là tiếng mẹ, củng cố phát huy vừa bắt buộc học tiếng khác của liên bang, Pháp, Ðức, vừa khuyến khích học thêm Anh văn ngôn ngữ thông dụng ngoại.
Có dịp đến vùng flamand , bạn đừng lo không ai giúp bạn tìm đường. Người già hiểu tiếng Pháp, trẻ biết tiếng Anh...Thường rất dè dặt nhưng rất hào hiệp lịch sự đối với khách du lịch nước ngoài.
Thái độ lại khác hẳn với người tị nạn hay di dân. Ðến đây là phải học tiếng họ, không bao giờ họ tiếp chuyện với mình bằng tiếng khác nếu họ biết mình cư ngụ đóng đô ở xứ nầy.
Không có chương trình đặc biệt dành riêng cho học sinh tị nạn cũng như không đặc ân nào về tài chính cả.
Sống trong vùng nầy, tôi liên tưởng đến dân tộcViệt nam, chịu khó, nhẫn nại, ham học, dám nghĩ thích làm, cạnh tranh vươn lên tìm chỗ đứng xứng đáng. Biết thế để thấy rằng không dễ gì sống với họ nếu không tự lực sẽ bị khinh miệt, chèn ép, khó tiến thân. Họ học một, con em ta phải bỏ công hai ba lần hơn, họ dùng sức, yếu ta dùng trí đối lại.
Bàn qua về tiếng Hòa lan, cùng gốc với Anh Ðức, cấu trúc câu lại rất phức tạp, khó sử dụng đúng cho người nước khác. Ngay cả người Bỉ ở vùng nói tiếng Pháp, nếu được chọn, cũng không thích cho con em mình học tiếng liên bang bắt buộc nầy.
Hơn thế nữa, cách phát âm khác nhau từ vùng nầy sang vùng kế cận, thêm nhiều thổ ngữ địa phương làm điên đầu ,’ điếc con ráy’ ‘lính mới tò te’, người lạ mới học.
Trung quốc to rộng có nhiều thứ tiếng khác nhau như Quảng đông, Phúc kiến,Tiều, Hẹ... nhưng họ cũng có tiếng quan thoại chính thức.
Bỉ không có ngôn ngữ riêng, vay mượn Hòa lan, Pháp, Ðức. Khác hẵn chẳng hạn với tiếng Việt ta, dù cách phát âm có khác đi đôi chút, nói đọc viết, ba miền đều hiểu được.
Tiếng bất đồng nên tâm khó hợp, vì thế hục hặc không thể tránh, mầm chia rẽ muốn tách rời thành nước độc lập xáo trộn tình hình chính trị Bỉ luôn.
Sống bao nhiêu năm trên đất nước nầy, tôi vẫn không quên cây thanh long, cùng họ xương rồng, uốn quận thân cành cây khác vươn cao, khoe sắc hoa, nặng trĩu quả màu hồng phơn phớt tím cài bên trên bằng những chiếc ‘kẹp’ hình vảy rồng cong cong nhòn nhọn, ruột ngọt lịm mà nhìn giống như miếng mỡ muối rắc tiêu.
Nhìn giây bầu, giây mướp bò quyện trên giàn, cột gỗ mà liên tưởng đến những chùm cây tầm gởi bám dính như thằn lằn sống tựa nhờ cây khác, thấy mà thương. Như lục bình hờ hững trôi theo dòng nước, dù có xanh tươi tự do giữa trời lồng lộng, vẫn hy vọng tìm mé cặp bờ.
Người dân tha hương cũng thế, dù đã hội nhập được ít nhiều với cuộc sống lạ, vẫn không quên được mình là thân cây tầm gởi như cuộc sống trần gian ‘sống gởi thác về’.
Thôi, nếu chẳng đặng đừng, không được là cây thanh long, mướp bầu,...rỡ ràng trong vườn nhà thì thà là cụm lục bình hay dây tầm gởi mà vẫn còn hy vọng quyết tâm giữ vững giống dòng, hơn là bị ép thành thân bạch tuộc, sứa lửa quê hương lắm vòi nhiều nhánh đốt rát gây đau nhức, hay con đỉa chỉ có biết hút máu đến khi nào phình bụng mới chịu buông tha.
Dòng đời đâu phải luôn luôn như ý, hãy cố biến cái gì mình có thành tơ sợi mắt võng tình thương, tin yêu hy vọng. Ðường trần không thiên vị một ai, sướng khổ biết sao so sánh. Ðố ai biết chắc tương lai, sao không cố sống cho trọn giờ phút mình đang hưởng để rồi đến lúc vĩnh viễn ra đi thanh thản chia tay, hay như một nhà văn Hòa lan đã viết :
‘’Als je kunt, wees een ster aan de hemel!
Als je geen ster kunt zijn, wees een vuur op de berg!
Als je geen vuur kunt zijn, wees dan de lamp op de huiskamer ! ‘’
‘Nếu có thể, hãy là vì sao sáng trên nền trời cao,
Nếu không thể là vì sao thì làm ngọn lửa hồng trên núi,
Nếu không được nữa, hãy là ngọn đèn soi ấm phòng nhà.’



Trần Thành Mỹ




Mục Lục


8. Dở Chứng

Nguyễn Thế Hoàng



-*-


Ông Cần đã góa vợ năm năm. Nay thì ông cũng đã thất thập cổ lai hy. Lứa tuổi xế bóng của ông nếu ở Việt Nam đã chống gậy nhìn cuộc đời sắp kết thúc trong chuỗi dài nuối tiếc quá khứ. Nhưng ở xứ này đời sống vật chất có dư thừa nên nom ông còn quắc thước lắm. Dáng ông dong dỏng cao, da dẻ có chút hồng hào, có điều dáng đi của ông mất vẻ khoan thai, đôi lúc bước chân như lún xuống khập khễnh bởi xương cốt trễ biếng mệt mỏi. Ông Cần cố gắng tập thể dục sáng chiều, chịu khó sửa dáng đi cách đứng cố níu kéo lại chút nào như thời son trẻ. Hàm răng thưa thớt chiếc rụng chiếc long ra không được thẩm mỹ cho lắm, khổ sở cho việc nhai thức ăn trệu trạo. Ông Cần đến nha sĩ lắp ráp bộ răng xương đều đặn nõn nà. Nhờ bộ răng ngà ngọc khiến nụ cười tuổi già héo hắt có thêm chút duyên già, ăn uống ngon lành trơn tru. Lởm chởm vài chòm tóc mây lưa thưa mong manh trên da đầu bóng lưỡng , ông Cần thấy chướng mắt, lặn lội tìm thuốc mọc tóc rị mọ xoa xoa nắn nắn đêm ngày không nản chí.

Ông Cần tốn công tìm tòi, thăm dò tìm mua nhiều loại dược thảo ngâm rượu đầy ắp chục hũ xếp hàng trong tủ chè. Sáng chiều ông siêng năng uống, cùng với những viên dược thảo, sâm nhung, tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn, lọc nhung tinh, mật gấu, thuốc sáng mắt, sáng tai, thuốc đen tóc...cho da dẻ hồng hào thêm, ăn ngon ngủ ngon, bồi bổ gân cốt, phục hồi sinh lực, cải lão hoàn đồng...Ðâu chừng thời gian ông Cần như đang trên đà hồi xuân. Mà thật, ông Cần cảm thấy mình như hồi xuân thật đãy ! Lúc nào tâm hồn ông cũng phơi phới, gặp ai ông cũng muốn gần gũi trò chuyện râm ran, yêu đời, yêu thiên nhiên cây cỏ, yêu cảnh vật quanh mình, yêu giấc ngủ nồng nàn đầy mộng đẹp...yêụ.và yêụ..để cuộc đời đâu còn xế bóng. Ông được mọi người khen tuổi già của ông đang "lột xác". Bạn bè đồng niên đồng tuế nhìn ông thèm muốn như ông. Những bà sồn sồn gặp ông ưa trêu chọc, cười duyên híp mắt, đấu hót vài câu bâng quơ. Cả lũ cháu ngoại của ông cứ xuýt xoa khi thấy ông, đứa nhỏ bá cổ bá vai, đứa lớn thì thầm khen ngoại lúc này đang độ hồi xuân trông đẹp lão lắm.

Từ ngày định cư ở xứ này, vợ ông, người đàn bà đảm đang tháo vát miệt mài cùng ông tạo nên cơ nghiệp. Ông bà tạo được ba ngôi nhà, trong đó hai ngôi đã trả dứt nợ, đang cho thuê. Một tiệm sách báo, băng nhạc, tranh ảnh, dụng cụ âm nhạc khá lớn, lợi tức hằng tháng vào cũng đậm. Hai ông bà sống đầy đủ thoải mái bằng lợi tức tiền cho thuê nhà, tiệm sách báo hằng tháng vẫn còn dư ra gởi vào ngân hàng cho đến nay cũng đã được đôi trăm ngàn.

Hai ông bà Cần sinh hạ ba người con. Hai cô con gái đem từ Việt Nam sang đã lập gia đình, có cơ sở làm ăn vững vàng với một lũ cháu ngoại hiền lành chăm học. Cháu ngoại lớn nhất cũng đã mười tám, nhỏ nhất cũng lên ba. Nay mai rồi ông cũng được lên chức Cố như bao nhiêu bạn bè cùng lứa. Thằng con trai duy nhất của ông nay đã hăm lăm, yên bề gia thất. Sau khi bà vợ qua đời, ông giao vợ chồng thằng con trai coi ngó tiệm sách báo dưới sự kiểm soát của ông hằng ngày. Tiền bạc mua vô bán ra ông Cần quản lý chặt chẽ. Ông trả lương tháng cho con trai con dâu theo qui chế công nhân. Ông lại còn giúp vợ chồng nó có nhà riêng đâu ra đó.

Hằng ngày rảnh rỗi ông lái xe loanh quanh trong thành phố. Ðôi lúc tạt qua tiệm sách báo coi trong ngó ngoài, kiểm tra công việc. Năm khi mười họa ông ghé vào hai ngôi nhà đang cho thuê xem xét, hỏi han người chủ thuê đôi câu xã giao lấy lệ. Còn lại thì giờ ông quanh quẩn với mấy bạn già xế bóng vô công rỗi nghề đàn đúm tán dóc ở mấy quán cà phê qua điếu thuốc lá phì phèo, lâng lâng nụ cưòi lão giả an chi, xem đời như giấc kê vàng đã chín. Cuộc vui còn tiếp diễn bên ly rượu đĩa mồi tại nhà hàng tửu quán chiếm gần trọn thì giờ nhàn hạ của ông với nhiều người, già có, trẻ có. Chuyện trên ngàn dưới biển lia thia. Chuyện từ Ðông sang Tây không bỏ sót một mảy may nào. Nhưng lý thú và hấp dẫn nhất thường ngày là chuyện đàn ông con trai kể cả những vị tuổi hạc gần đất xa trời, da mồi tóc bạc, tay chân run rẩy, mắt mờ răng sún đã và đang về Việt Nam cưới vợ. Ông Cần nghe ngóng từ nhiều phía, bàn bạc, góp ý, hỏi han thật hấp dẫn, xôm tụ.

Chính là một vấn đề thời sự nóng bỏng, sôi động đã và đang xảy ra bao nhiêu năm nay ở cái cộng động người Việt da vàng mủi tẹt. Nghe nhiều từ mọi nơi, nhập tâm, đã đánh động lòng ham muốn thèm khát của ông Cần. Thử bước thêm bước nữa có chết chóc gì ai, chứ tội gì phải chịu cảnh cô đơn chiếc bóng trong ngôi nhà lạnh lẽo từng đêm. Chả có gì là khó khăn, nhiêu khê, có tiền thì mộng ắt thành. Ông còn đủ sức phiêu lưu mà, chứ không phải như mấy lão già cọm rọm khi nghe ông hạ quyết tâm hành sự lại cười biếm nhẻ ông cho là ông thuộc loại già dịch, già mất nết, già bất lực, già dệ..hết xí quách rồi mà còn ham.

Ông Cần oang oang trả đủa bốp chát :

- Ai giỏi cùng tôi đọ sức nè. Gừng này càng già càng cay quắn khói. Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm mà lị. Mai mốt tôi mang về một thục nữ yểu điệu đào tơ thì mấy ông đừng có chép miệng thòm thèm đó nhen.

Một ông bạn già trong bọn cười ồ, chọc :

- Nè, già Cần, mấy mụ già trầu tèm hem đang chờ ông đưa võng lọng về rước...làm đám ma đó ông Cần, chứ gái tơ, sồn sồn thấy ông là thưa bác, thưa ông thì còn làm ăn cái nổi gì.

Ông Cần càng hênh hoang không kém :

- Ðây này... cái mác Việt kiều ! lá bùa hộ mệnh xanh xanh ! bao nhiêu cũng lọt được hết. Cần này sẽ rước sang đây một em nõn nường tuổi vừa đôi chín xinh xinh như mộng...bảo đảm trăm phần trăm ăn chắc.

Dứt lời, ông cười hì hì khoái chí thao thao thuyết giảng cho đám bạn già đang nghểnh cổ ngóng nghe :

- Từ ngày bà má bầy nhỏ mất, nghe được chuyện này, tôi cũng đã nghĩ kỹ rồi. Thà cưới một cô trẻ đẹp nõn nà ở Việt Nam qua, dễ dạy, dễ sai khiến, còn dễ bắt nạt ăn hiếp, dễ làm tình làm tội, nó còn chiều chuộng hầu hạ hết mình, lại gái tơ thơm phức, ngon lành. Còn đàn bà ở đây hả ? thì như mấy cụ cũng biết, quả là ăn hiếp bắt nạt lên mặt hà rầm với chồng ghê gớm. Ðâu có dễ gì khơi khơi cưới mấy bả được. Chằn ăn trăng quấn lắm các cụ ơi ! Phải có nhà nè, có xe xịn nè, tiền bạc đầy ắp trong ngân hàng họ mới chịu. Tôi hãi sợ tính kiêu kỳ hách dịch, vòi vĩnh, đua đòi, treo cao giá ngọc lên chín tầng mây của họ đó mấy ông ơi ! Thôi thì cho họ ế suốt đời nằm queo, rong rêu phủ kín là vừa. Ai biểu ?

Một ông bạn già mắt mủi hom hem lên tiếng phản đối :

- Già Cần nói tầm bậy. Người ta lấy nhau ào ào ông không thấy sao ? Nồi nào vung nấy. Tại cái vung của ông chụp không vừa, còn than thở cái nỗi gì. Ở đây chưa ai thấy cái nạn trai thiếu gái thừa. Trai thừa thì có. Nên mới xảy ra cái tệ nạn đàn ông con trai kể cả mấy lão tuổi hạc xế bóng hoàng hôn đang sắp hàng rồng rắn võng lọng nghênh ngang tiến mạnh về hướng Việt Nam rước nàng thục nữ về dinh hú hí. Thật là ngon ơ !

Nghe ông bạn già lẩm cẩm nào đó vừa mới nói chắc giọng, ông Cần như thấm ý quá chừng, miệng cười toe toét phô bộ răng xương vừa mới cấy cho bàng dân thiên hạ chiêm ngưỡng :

- Này này ông bạn già ơi, điều đó mới là thể hiện tấm lòng bác ái, xả thân cứu giúp. Bao nhiêu trăm ngàn đàn bà con gái Việt Nam mới tuổi mười bốn mười lăm trở lên bị bán đi làm đĩ, đi làm cô dâu nô lệ tình dục ở xứ người để cho bọn đàn ông xứ Ðài, xứ Hàn, xứ Ma, Hồng Kông, Căm Bốt...gì đó, dày xéo nhớp nhơ bao tấm thân ngọc ngà trinh tiết...thật uổng thiệt, ông lại không biết. Mình làm ơn làm phước cứu giúp được người nào hay người đó. Tôi cũng đang là một thành viên đây. Có ông bạn già nào nữa làm kẻ đồng hành không ?

Cả bọn ngồi ngóng mặt nghe vỗ tay rôm rốp, tán thưởng cho cái mắc dịch dở chứng của ông già Cần độ tuổi thất thập hiếm hoi. Họ nhao nhao giễu cợt ông là loại già mất nết sắp chui xuống lỗ mà còn ham. Ông Cần không giận còn vui miệng bảo rằng còn sống còn thở là còn yêu, yêu cho đến giây cuối cùng chun vô hòm mới goodbye my love. Có ai cấm mình yêu đâu. Già thì già chân tay, già mặt già mày nhưng quả tim thì vẫn phơi phới xuân tình mấy ông ạ.

Ông Cần nói sao có đó. Ông mất hai đêm bóp trán thảo lá thư dài mùi mẫn, kể rõ sự tình, nỗi cô đơn góa bụa để gởi cho một người bạn già đồng niên tuế thân thiết cùng đơn vị ngày xưa đang ở Việt Nam tìm giùm mối hàng. Thư gởi đi ít ngày, ông ra dịch vụ chuyển tiền một ngàn mỹ kim làm quà ông bạn, và hứa hậu tạ bạn hiền khi công việc kết

thúc.

Ông chờ đợi từng ngày kết quả lá thư gởi đi và hơn tháng sau ông mới nhận được tin vui. Thư người bạn báo đã tìm được đóa hoa hàm tiếu nõn nà. Nàng tên Hoa, vừa tròn mười chín xuân xanh phơi phới, nhan sắc óng ả như ánh trăng rằm. Dân miệt vườn miền Tây Nam bộ. Nhà nghèo lắm nên mới chỉ học đến lớp chín, nàng phải ở nhà phụ giúp cha mẹ công việc trong nhà. Ăn không ngồi rồi trong lúc cha mẹ đầu tắt mặt tối kiếm cái ăn cái mặc, nàng nảy sinh muốn lấy chồng xứ Ðài cứu gia đình thoát cảnh nghèo đói và được cha mẹ chấp thuận ý định.

Người bạn già viết tiếp. Ông được người quen mách bảo ông tìm đến nhà Hoa, sau khi kể lể ý định cùng gia cảnh của bạn cho họ nghe, Hoa và cha mẹ nàng vui mừng chấp thuận ngay cuộc hôn nhân, miễn sao ông con rễ thương vợ và giúp đở gia đình thoát cảnh nghèo đói là được rồi. Ông già vợ tương lai hối thúc ông con rễ tiến hành việc cưới xin càng sớm càng tốt. Nếu chậm ông ta sẽ gả con gái mình cho Ðại Hàn cũng đang có người đến mai mối.

Thư viết tiếp báo cho ông Cần là còn rất nhiều mối ngon hấp dẫn vô cùng tuổi mới tròn trăng hơ hớ dậy thì. Ðề nghị ông có ai giới thiệu nhiều nhiều dẫn về Việt Nam cùng chuyến để rước các nàng về bên đãy mà hú hí tuổi già. Chậm chân là tụi Hàn, Ðài, Nhật, Hón Kón...chúng nó bợ hết uổng lắm.

Ông Cần đọc đi đọc lại lá thư nhiều lần lòng mừng khấp khởi. Thế là bao nhiêu thục nữ Việt Nam đang ngóng chờ lấy chồng ngoại được sung sướng cuộc đời. Lòng ông đang trẻ lại như tuổi xuân được yêu. Tim ông rộn ràng thúc giục phải nhanh tay nhanh chân. Ðời còn bao lăm mà chần chờ uổng phí, mau hưởng thụ, không thì chết đi lại tiếc hùi hụi. Ông Cần mơ mơ màng màng hình dung cô vợ trẻ đẹp tương lai của mình. Hoa ơi ! nàng ơi ! nàng kiều nữ xinh đẹp bé nhỏ của ta ơi ! Anh quyết sẽ rước em về ngự trị trong ngôi nhà hạnh phúc của chúng ta tràn ngập màu hồng.

Trong đám bạn già ông biết còn số các cụ cũng thèm của lạ, cũng thấp thỏm mơ về Việt Nam cưới vợ trẻ đẹp cùng giấc mơ như ông. Nếu ông vận động thì khối cụ tháp tùng cùng ông về cùng chuyến. Nhưng, thì giờ quá gấp, rũ rê bàn tính các cụ kéo sẽ dài thời gian lỡ mất cơ hội nghìn vàng. Ông Cần âm thầm đi một mình sau khi thu xếp công việc.

Về tới Saigon ông Cần tìm ngay đến người bạn mai mối ở tận ngã 4 Bình Hoà. Lâu ngày hai bạn già gặp nhau, ôm nhau mừng rỡ. Ông thúc bạn ông là ông Hàn ngày mai đi gặp cha mẹ vợ tương lai ngay, xem mặt cô vợ trẻ. Ðêm đến, hai lão già gân khề khà tâm đắc bên mâm rượu thịt, chuyện trò râm ran kéo đến quá khuya.

Sáng hôm sau ông Cần thuê xe 7 chỗ ngồi cùng vợ chồng ông Hàn trực chỉ Mỹ Tho đến Chợ Gạo, tiếp tục đi sâu vào vùng quê Thanh Bình. Gần trưa, xe ngừng trước ngôi nhà tôn vách đất. Thấy có khách lạ đi xe hơi đến, vợ chồng chủ nhà bỡ ngỡ, nhưng khi nhìn thấy vợ chồng ông Hàn họ đoán biết ngay sự việc. Mọi người chào nhau vài câu xã giao trong lúc ông Cần đang sửa lại áo quần cho tươm tất. Hôm nay ông lên bộ veston màu than tím, cà vạt thẳng nếp, đi giày bóng, tóc tai cũng đã mọc thêm lún phún vài sợi chải ép ra sau, nét mặt núng nính vui, cúi đầu chào vợ chồng chủ nhà trông ông rất đởm dáng.

Chủ khách vào nhà an tọa trên những chiếc ghế mộc tróc sơn, chiếc bàn gỗ trầy vết loang lổ. Ông Hàn lên tiếng giới thiệu :

- Chú thím tư Ngàn, đây là anh Cần, đại thương gia từ Mỹ vừa về hôm qua. Hôm nay đến ra mắt chú thím để bàn chuyện hôn nhân của anh Cần đây xin cưới cháu Hoa con gái chú thím như tôi đã có lời với chú thím tháng trước.

Lời giới thiệu của ông Hàn như rơi vào thinh không nào ai có chú ý vì cả ba người đang lung túng trong suy nghĩ về cách xưng hô. Ðối với chú thím tư Ngàn nay chỉ mới trên bốn lăm, còn vị khách trước mặt, chàng rễ tương lai của gia đình xấp xỉ bảy mươi tròn. Loay hoay vài giây, nhìn nhau ngượng nghịu không biết phải xưng hô sao đây. Ông Cần nghĩ có nên xưng con, hay tôi với cha mẹ Hoa. Cuối cùng bởi con tim mù quáng thúc giục, ông thưa :

- Dạ...thưạ..thưạ..anh chị Tự..đường xá xa xôi vạn dậm, công ăn việc làm, lần về lần khó...cuộc sống bận rộn cu ky một mình. Hôm nay được anh chị Hàn giới thiệu... tôi đến xin cầu hôn với em Hoạ..làm vợ. Anh chị Tư chấp nhận và miễn thứ cho những sơ sót cũng như lễ lộc...cần gì, anh chị cứ nói để...tôi lo.

Ông Cần cố gắng chỉ nói được chừng ấy. Nói mà ngượng mồm thấy mồ. Mồ hôi rịn hai bên thái dương, trống ngực xập xình, quá ư là ngưọng ngùng, không còn tự nhiên trước mặt cha mẹ vợ chỉ bằng tuổị..con gái mình. Ông Cần đâu phải dân nhút nhát. Ông đã bao lần vào sinh ra tử trước bom đạn kẻ thù. Ông đã từng va chạm bao cú ''sốc'' trong cuộc sống. Ông đã từng là xui gia đàng trai, rồi đàng gái hênh hoang nói đạo lý, lễ nghi với mọi người. Vậy mà hà cớ gì hôm nay lại bấn loạn tinh thần trước mặt mấy người nhà quê chân chất.

Thím tư Ngàn và bà vợ lão Hàn bụm miệng cười khanh khách khi nghe lão chàng rễ tương lai mặt mày đỏ lưỡng, ngượng nghịu tỏ bày. Chú tư Ngàn nét mặt bình thản nghiêm nghị, đáp lời :

- Cám ơn ...ông... anh Cần. Tháng trước hai vợ chồng bác Hàn đến đây đánh tiếng trước xin con Hoa nhà tôi về làm vợ anh. Vợ chồng tôi chấp nhận. Mọi việc thì nên giản tiện thôi. Anh lo tổ chức Tiệc Ra Mắt họ hàng, dòng họ, bà con thân quen. Ðồng thời dẫn nhau ra Xã làm giấy kết hôn để anh mang về Mỹ lập hồ sơ bảo lãnh con Hoa về bên đó với anh. Vậy thôi.

- Mình làm gọn nhẹ như vậy là tốt phải không chú thím tư và ông bạn già của tôi ? Ông Hàn tiếp lời - Này anh Cần, dù gì anh cũng là con rễ cưng của chú thím tư rồi đó. Từ lúc này anh phải gọi chú thím tư là ba là má mới phải phép. Còn e lệ gì nữa. Muốn có vợ trẻ thì phải uốn lưỡị..uốn lưỡi cong thêm chút nữạ..có được không ? Ông không nghe tôi là...mất vợ đấy.

- Ðược rồi. Tôi nghe ông. Ông Cần vừa trả lời vừa quắc mắt trừng lão già Hàn xí xọn lắm chuyện.

Ông rút trong túi áo xấp đô la năm ngàn dày cộm đặt trên bàn trước mặt cha mẹ vợ, lúng túng thưa :

- Thưạ..ba,,má..! tôi có chút ít gởi... ba má. Còn Tiệc ra Mắt... tôi sẽ... chi trả.

Mọi người lại một phen cười nghiêng ngửa nhìn lão chàng rễ xế bóng ăn nói lập bập thấy mà thương hại. Ông Cần sượng chín người. Một lần trong đời con tim quái ác nó hành hạ ông khắc nghiệt quá. Ông nhìn qua lão Hàn như dọ hỏi là sao không thấy Hoa thì cũng vừa lúc Hoa từ sau nhà bước ra chào mọi người. Giây phút đầu tiên nhìn thấy mặt cô vợ tương lai son trẻ mà ông Cần đang mơ nghĩ đến. Ông sững sờ ngất ngây dáng sắc của Hoa. Ông nghĩ gái miệt vườn sao mà đẹp lồng lộng vậy kìa ! Tuy Hoa không son phấn, quần là áo lượt, chỉ quần vải áo thô sao trông quyến rũ lạ đời. Dáng nàng thon cao, đôi chân dài hấp dẫn ghê, nước da trắng như bông bưởi, cơ thể no tròn nở nang đầy đặn, suối tóc đen xõa dài quá thắt lưng, e ấp mấp mé khuôn mặt trái soan, đôi mắt to đen long lanh, đôi lông mày rậm đậm đà...ố là là ! đẹp ôi là đẹp..! ông Cần lâng lâng cảm giác thèm khát. Ðúng là lão Hàn đã nói Hoa là hoa khôi của trường những năm còn học lớp 9 trung học cơ sở MP thành phố Mỹ Tho. Ðiệu này khi về bên Mỹ mà chưng diện vào, vợ ta sẽ làm cho bao nhiêu lão già dịch ngẩn ngơ nhảy đổng, rồi ùn ùn sắp hàng một về Việt Nam cưới vợ hết không ai cản nổi cho mà xem.

Ông Cần đứng dậy thập thò trước mặt kiều nữ miền sông nước Tiền Giang, chúm chím đôi môi run run :

- Chàọ..em Hoa. Anh là Cần đến để xin ba má cưới em về Mỹ với anh.

- Dạ. Chào ông. Hoa cúi đầu lí nhí đáp. Ba má đã nói chuyện này.

- Em bằng lòng chứ Hoa ?

Cô gái mười chín xuân xanh mơn mỡn thơm như múi mít tố nữ chau mày lộ vẻ chẳng mấy thích thú trước lão già đáng tuổi ông ngoại, ông nội sẽ là chồng của mình trong suốt cuộc đời. Nàng hời hợt đáp :

- Chẳng biết nữa. Do ba má quyết định. Ông hỏi ba má.

Mọi người tiếp tục trò chuyện trong bầu không khí chẳng mấy tự nhiên. Ông Cần mời mọi người lên xe ra thành phố Mỹ Tho làm một chầu ăn tối giao hửu để cố tạo sự gần gũi thân mật. Ba ngày sau Tiệc Ra Mắt diễn ra với hơn ba trăm thực khách tại một nhà hàng sang trọng trong thành phố Mỹ Tho. Mọi người chúc tụng lão chàng rễ có duyên vớ được cô vợ quá trẻ quá đẹp, bên cạnh những lời dèm pha biếm nhẻ đôi đủa lệch chiếc vắn chiếc dài. Già mắc dịch, già dê xồm, già bất lực hết xí quách...Chồng già vợ trẻ là duyên. Mai kia ông chết của tiền về tôi... Mặc họ bình phẩm khen chê chẳng làm cho ông nhụt chí khí. Ông chỉ cần biết ông đã vớ được cô vợ trẻ nõn nà, và lâu đài hạnh phúc tràn đầy của ông ở cái tuổi xế bóng hoàng hôn. Có điều ông hết sức bực mình họ đã phung phí quá lố cho cái Tiệc Ra Mắt khiến ông đã phải trả hơn chục ngàn mỹ kim đau ơi là đau !

Làm giấy kết hôn xong, ông Cần xin ba má vợ đưa Hoa đi Saigon mua sắm nữ trang, quần áo, son phấn. Bà mẹ Hoa không muốn để con gái đi một mình, cứ bám sát Hoa làm lão Cần chẳng sơ múi gì được với cô vợ trẻ hơ hớ ngay cả cái nắm tay cũng chưa được, lại còn tốn thêm mớ tiền khá đậm sắm sửa cho bà mẹ vợ kỳ đà cản mủi.

Chỉ trong một tuần lễ ông Cần đã lo xong công việc cưới vợ. Ông trở lại Mỹ gấp lập hồ sơ gởi Sở Di Trú Hoa Kỳ bảo lãnh cô vợ trẻ. Ông cũng đã ủy thác lão Hàn lo giấy tờ dịch vụ cho Hoa tại Việt Nam, và hai người sẽ liên lạc khi cần thiết. Cũng phải chi mất một số tiền không nhỏ cho lão Hàn. Chưa chi ông Cần đã mất trọn ba mươi lăm ngàn mỹ kim mang theo. Ông ước tính cũng sẽ mất thêm một khoản tiền kha khá nữa và thời gian chờ đợi độ năm, vợ ông mới đến được với ông trên đất Mỹ.

Ông Cần thức giấc sau giấc ngủ chập chờn mệt mỏi. Khuya hôm qua ông phải thức suốt đón Hoa tại phi trường từ Việt Nam sang. Gặp lại Hoa, sự mệt mỏi và bệnh tật trong người ông tan biến. Ông vui mừng khôn xiết, nói cười huyên thuyên, vì từ đây Hoa đã thực sự ở trong vòng tay của ông. Nhưng khi nhìn dáng vẻ bơ phờ, đôi mắt nai tơ thờ thẫn vì say sóng ói mửa, vì mệt mỏi từng chặng đường, vì đã bị cảm thương hàn trước mấy ngày ra đi, ông lo lắng đưa vợ về nhà ngay, cạo gió, uống thuốc và nằm nghỉ ngơi trong phòng ngủ. Ông nằm bên cạnh trên giường với Hoa, vì bệnh hành ngất ngư, vừa mệt mỏi quá độ, ông lả người thiếp đi trong giấc ngủ.

Bây giờ thức dậy, Hoa vẫn còn ngủ mê trong chăn ấm. Ông Cần ra ngoài làm vệ sinh, đi bách bộ mươi phút, trở lại ngồi tại phòng khách uống ly sữa tươi. Ông suy nghĩ thân phận mình. Gần nửa năm nay sau khi ở Việt Nam về, ông bị bệnh tiểu đường hành hạ đến kiệt sức. Ông còn mắc thêm chứng đau bao tử mà bác sĩ bảo rằng ông uống quá nhiều các loại thuốc ngâm rượu, các loại thuốc viên bồi bổ sinh lực nên bao tử đã bị loát trầm trọng. Hai chứng bệnh mắc dịch này hành hạ ông Cần ngày đêm đau đến nỗi có lúc kêu trời không thấu. Tuổi già sức yếu, tiết trời thường thay đổi, ông hay bị cảm cúm, nhức mỏi rũ liệt cơ thể, đôi lúc ông nằm liệt giường không còn thiết gì nữa. Ông Cần đau khổ không ngờ sức lực ông độ này giảm sút trầm trọng, da dẻ nhăn nheo, chân tay thường khi lập cập run rẩy, giảm sút năng lực ham muốn như năm vừa rồi. Những bất hạnh dồn dập xảy ra trong lúc vợ ông vừa Việt Nam qua, ông cảm thấy buồn buồn tức tối cho mình không còn cảm thấy hứng thú bên cạnh cô vợ tràn trề sinh lực. Lúc gặp nhau ở phi trường Hoa đã ngỡ ngàng hỏi sao lúc này trông anh ốm và già dễ sợ.

Nghĩ vơ nghĩ vẩn rồi tự an ủi dù sao mình cũng có được cô vợ trẻ đẹp bên cạnh trong cuộc sống chấp nối cuối đời. Có điều chuyện về Việt Nam cưới vợ ông Cần giữ kín, con cháu và người ngoài chưa hề hay biết. Bây giờ công việc ông đã làm và sự có mặt của Hoa trong nhà này ông phải nói sao với lũ con cháu. Ông suy đi tính lại rồi gật gù cho cái lý thân già góa bụa, cần một người đàn bà sớm hôm kề cận chăm sóc nhau vui cảnh xế chiều, con cháu chấp nhận hay không rồi cũng đâu vào đó cả. Tuổi tác có chênh lệch là chuyện thường. Tình yêu đâu phân tuổi tác. Hai kẻ yêu nhau có sự đồng cảm bằng lòng là đủ. Luật pháp Hoa Kỳ chẳng bắt bẻ chuyện này. Ông bước thêm bước nữa là quyền của ông, ai có quyền cấm cản. Con cháu thông cảm lại nỡ làm tình làm tội ông sao ?!

Hoa từ phòng ngủ đi ra dáng bơ phờ mệt nhọc ngồi xuống ghế đối diện. Ông Cần hăm hở bước đến vồn vã vuốt mái tóc vợ chảy dài xuống lưng đen mướt :

- Em có khỏe được chút nào không ? Anh đưa em đi bác sĩ. Ði đường xa, thay đổi khí hậu, lại đang cảm thương hàn...anh lo lắm.

Hoa lắc đầu :

- Em đem thuốc uống mỗi ngày đây. Em cần nghỉ ngơi vài ngày em khỏe lại hà.

Nói xong, Hoa vít đầu ông Cần hôn phớt trên gò má hóp của ông. Ông ôm ghì Hoa thật chặt vào lòng vuốt ve âu yếm. Cơn đau bao tử râm rang lại hành hạ khiến ông mất hứng thú lần đầu tiên trước cơ thể đầy đặn căng cứng, thơm phức của vợ đang thách thức cảm giác mời gọi. Mùi hương trinh nữ từ cô gái dậy thì thoang thoảng áp vào mặt mủi, khiến ông Cần đê mê chết cứng chịu không nổi. Ông ráng cả sức lực trong người ghì Hoa thật chặt vào lòng vuốt ve, mân mê, nắn bóp bấn loạn cùng khắp cơ thể săn cứng của Hoa để cố tạo sinh lực ham muốn thể xác... Nhưng sức lực của ông chồng già chỉ đến chừng đó.... chừng đó...ngưng lại... rồi giảm dần như quả bóng xì hơi, đến không còn tiếp tục làm ăn được gì khác nữa. Ông xịu mặt tủi thân cho sức khỏe tàn tạ với hai căn bệnh trời ơi của mình đã trên đà bất lực. Hoa thì đã nhìn thấy rõ nỗi đau khổ chán chường của lão già hết xí quách này. Ðáng thương hại cho ông ta !

Mới chỉ một phút bên vợ mà ông đã muốn đứt hơi. Ông trở lại ghế ngồi thở hổn hển. Hoa nheo mắt liếc tình ông, nhõng nhẽo :

- Chưa chi anh đã phờ người rồi. Ráng sức không chừng đứt gân máu, em sống với ai đây ? Có muốn gì thì cứ thủng thẳng...khỏe khoắn trong người.

Ông Cần phác tay :

- Ðâu có sao. Anh ráng chữa dứt bệnh, bồi bổ lại sức khỏe là em sẽ "mệt" với anh dài dài nghe chưa ?

Hoa bụm miệng cười sằn sặc :

- Ðược rồi. Em chờ anh. Coi ai mệt với ai cho biết.

Hoa rảo mắt nhìn quang cảnh nhà, buột miệng khen :

- Nhà anh đẹp quá, ở Việt Nam làm gì có được nhà như thế này.

Ông Cần phồng mủi :

- Nhà này là của em không phải một mà là ba ngôi nhà như vầy đều của em. Tiệm sách báo là của em. Tiền bạc trong ngân hàng là của em...và tất cả là của em. Tính ra cũng hơn triệu rưởi đô la đó cưng.

Nghe ông Cần đon hót, Hoa nghĩ thầm mai mốt ông chết của tiền về tôi, là cái chắc, khỏi cần ông phải giới thiệu. Cứ giữ cái giấy hôn thú cho kỹ là chắc ăn.

Hoa nói bâng quơ :

- Anh nói thế. Em biết thế. Còn lũ con của anh nữa, phải chia cho chúng chứ ?.

Ông Cần khoát tay ngoài ngoạy :

- Không. Không bao giờ. Ở Mỹ không có chuyện để của, chia của cho con cái. Ai làm nấy ăn, đâu như ở Việt Nam. Anh chết, anh viết di chúc giao toàn bộ tài sản này cho em. Anh muốn cho đứa nào tùy ý, không cho cũng được, không đứa nào có quyền tranh giành. Nếu em không nhận, anh giao cho Hội từ thiện.

Có tiếng xe hơi ầm ỉ trước nhà. Ông Cần nhìn ra hướng cửa sổ. Ba chiếc xe của ba gia đình ba đứa con đang đậu dọc trước nhà. Lũ chúng nó đủ mặt đang ào ạt xuống xe tiến vào nhà. Ông Cần sững sờ, mặt biến sắc... chợt nhớ rạ..chết rồị.! hôm nay sinh nhật của ông. Tuần trước chúng nó hẹn đưa ông đi biển, đãi ăn nhà hàng, mua quà tặng...mừng sinh nhật thứ 72 của ông. Cứ mãi lo cô vợ trẻ ông quên khuấy đi mất. Hai tay giựt giựt, đôi môi run run, ông lắp bắp tiếng được tiếng mất với Hoa :

- Lũ...lũ...con cháụ..nó đến đủ mặt. Hôm naỵ..sinh nhật của anh...chúng...chúng nó đến...dẫn anh đi mừng sinh nhật... luôn dịp anh...anh giới thiệu em...với tụi nó.

Lũ con cháu ùa vào đứng đầy phòng khách. Chúng thấy Hoa, nhìn trân trối. Hoa đang mặc bộ quần áo ngủ mỏng hở hang, nhầu nát, tóc tai lòa xòa. Chúng thi nhau hỏi cha :

- Ai vậy ba ? Ba đem cô này về làm gì vậy ? Bồ à, bồ của ba..?

- Cô nào đây hả ba ? Trông giống nhự..ở ngoài đường...

- Ba đem gái ăn sương về nhà đây.

- Hai cô con gái lớn hỏi tới tấp. Lũ cháu ngoại chạy đến bá cổ ôm tay ông ngoại líu lo vòi vĩnh, hỏi han. Riêng Diễm, đứa cháu ngoại gái tuổi đã mười tám nhìn Hoa không chớp mắt, bĩu môi khinh khỉnh có lẽ nó nghĩ Hoa là gái điếm. Thằng con trai tên Mẫn và cô vợ cũng như hai chàng rễ cứ cười tủm tỉm nhìn Hoa rồi nhìn ông Cần với những ý nghĩ không mấy tốt.

Ông Cần lấy lại bình tĩnh, líu lưỡi :

- Ðây là...Hoạ..là má...má...của các con. Ba cưới ở Việt Nam vừa sang. Các con mừng cho ba.

Cả bọn đồng ồ lên thảng thốt, bĩu môi khinh bĩ :

- Má gì...mà trẻ măng ? Miệng còn hơi sữạ..vậy ba ?

- Má chỉ bằng tuổi con Diễm cháu ngoại ba.

- Con không chấp nhận. Con phản đốị..con phản đối.

- Già rồi ba lại dở chứng, không sợ thiên hạ cười.

- Còn cái cô này (Hoa) thèm đi Mỹ, dụ dỗ ông già hả ?

Cứ thế, đứa một câu ào ào như vỡ chợ. Hoa cảm thấy chóng mặt đến khiếp đảm những lời dèm pha chửi mắng và hỗn hào của lũ con cháu ông Cần, đôi mắt nai tơ thất thần nhìn ông Cần cầu cứu. Nàng bật khóc rấm rứt, rồi vụt chạy vào phòng. Mẫn dõi theo chân Hoa có ý để trấn an nhưng nàng đóng mạnh cửa phòng ngủ.

Thấy lũ con cháu phản ứng mạnh, ông Cần nạt :

- Tụi bay im đi, không chấp nhận thì thôi. Ði, đi về hết.

Lũ con cháu đâu cần nghe, chúng cứ lầy nhầy câu này câu kia với cha già, hăm he đòi đuổi Hoa ra khỏi nhà tức khắc. Không thì chúng xởn tóc, rạch mặt, trùm bao bố thả sông, chặn đường bêu xấu cho biết mặt.

Mẫn lần bước sát cửa phòng ngủ, nghe tiếng khóc rấm rứt bên trong. Mẫn nói vọng vào :

- Cô đừng khóc nữa. Chẳng có gì mà sợ.

Lũ con cháu ra rả một hồi chán chê, đồng kéo nhau ra xe. Kỷ niệm sinh nhật của ông Cần như hủy bỏ, chẳng ai nhắc đến vì tai ách dở chứng của cha già trái tai gai mắt. Ông bị cú sốc quá đậm, không còn nói được lời nào, ngồi chết trân trong lòng ghế như một pho tượng đá.

- Họ về hết rồi. Tiếng Mẫn giục. Mở cửa ra đi cô Hoa.

Hoa hé cửa nhìn ra ngoài rồi nhìn sững Mẫn cũng đang nhìn nàng. Hai ánh mắt chạm vào nhau như tia sáng phản hồi thoáng chút bâng khuâng ngỡ ngàng thẹn thùng. Mẫn đang bị cuốn hút trước nhan sắc rực lửa của cô gái xa lạ qua lớp áo mỏng dính sát, hở hang. Vừa lúc vợ Mẫn đến giục chồng đi về.

Bi hài kịch trình diễn được ông chồng thủ vai chính làm cho Hoa khốn đốn, mất ăn mất ngủ, khóc rấm rứt suốt ngày. Ông Cần đau đớn tột cùng thêm hai căn bệnh quái ác hành hạ liên miên, ông nằm liệt giường chẳng buồn ngồi dậy.

Ngày tháng đi qua, cứ đôi ba hôm lũ con ông thay phiên gọi điện thoại đến hăm he, nhiếc mắng cô vợ trẻ của ông, còn dọa ông không đuổi Hoa ra khỏi nhà là chúng sẽ từ ông, vì ông đã làm vẩn đục hưong linh người mẹ của chúng.

Ông Cần vẫn ngày ngày chữa bệnh, chăm chỉ bồi dưỡng sức khỏe hy vọng được tái phục hồi để một lúc nào đó đủ sức thỏa mãn nhu cầu với cô vợ trẻ hơ hớ. Cứ vài hôm ông lái xe đến bác sĩ khám, mua thuốc trị bao tử. Bác sĩ yêu cầu ông phải mổ, ông lại sợ không dám. Rồi ông đến đông y cắt thuốc trị tiểu đường. Cơ cực, càng uống thuốc, ông Cần vẫn cứ gầy rạc ra. Bệnh tiểu đường ngày thêm trầm trọng gần như tê liệt. Thời gian đó Mẫn vẫn thường canh chừng ông Cần lái xe ra khỏi nhà là ập vào tán tỉnh, hú hí với Hoa từng giờ.

Ông Cần cưng chiều Hoa rất mực. Ông đưa Hoa dạo phố, mua sắm, ăn uống, dự tiệc tùng, hội hè đoàn thể...Ông vênh vênh hãnh diện đi bên cạnh cô vợ trẻ đẹp duyên dáng. Những bạn già của ông Cần cứ trố mắt nhìn ông và cô vợ trẻ bàn tán, khen chê trước một pha thời sự quá "hot" đang xảy ra rất ư là hấp dẫn.

Ngày Hoa thi đậu bằng lái xe, ông Cần mua tặng vợ chiếc BMW láng cón gần năm chục xấp. Có xe Hoa lái một mình vào các chợ, mall, shop, nhà hàng để ăn uống mua sắm chưng diện theo ý thích, đồng thời có cơ hội tiếp xúc làm quen rất nhiều người. Nhờ thế, Hoa đang có được những cố vấn, những thầy đời bảo trợ tinh thần và tiếp nhận những hiểu biết mới trong cuộc sống. Hoa càng siêng năng học tiếng Anh lớp đêm, lớp ngày rút ngắn thời gian, tạo thế đứng tự lập không nhờ vã vào ai. Giờ thì Hoa đâu còn lo ngại lũ con cháu của lão Cần. Chúng mà hung hổn làm bậy là cứ gọi cảnh sát.

Một hôm ông Cần thấy vợ mình có sự khác thường, nhan sắc giảm sút, ói ọe, chê cơm chê cá. Ông sinh nghi vặn hỏi, Hoa trả lời là không biết tại sao nữa. Do kinh nghiệm, ông biết Hoa đang có thai. Ông bấn loạn xây xẩm khi nghĩ rằng từ ngày Hoa về với ông đến nay tròn năm chưa một lần ông "chăn gối" với vợ cũng chỉ vì sức khỏe sa sút, bất lực. Có chăng, ông chỉ ôm ấp, vuốt ve vợ bên ngoàị..làm sao vợ mang bầu. Ông Cần đau khổ tức tối.

Bụng Hoa ngày un cao rõ nét. Ông Cần càng điên tiết. Ông dấu kín sự thể đâu dám phân trần cùng ai. Ông ôm Hoa vào lòng, đôi tay run run xoa xoa bụng vợ âu yếm than vắn thở dài :

- Anh chưa một lần ăn nằm với em mà, sao em lại có thai, nghĩ cũng lạ.

Hoa lắc đầu không biết. Ông nhẫn nại :

- Em cứ nói thật cho anh nghe. Dù gì đi nữa, anh không làm tình làm tội em. Anh cưng chiều em hết mình. Anh lại đang lo cung cấp tiền bạc cho ba má ở Việt Nam, gởi tiền cho ổng bả cất nhà. Em là vợ của anh. Em thấy không ? Nói đi em.

Trầm ngâm một lúc, Hoa ứa nước mắt. Lòng cảm thấy tội nghiệp ông chồng già. Nàng không thể dấu được, đành nói :

- Thằng ...thằng con trai của anh...đó anh. Nó luôn đến đây tán tỉnh và hãm em nhiều lần em ngất ngư, em sợ muốn chết. Nó làm dữ quá...không như anh đâu.

Ông Cần choáng váng mặt mày gần muốn xỉu. Ông gầm lên :

- Trời ơi là trời ! Mẫn ơi là Mẫn ! Màỵ..mày là thằng trời đánh thánh đâm. Tao sẽ diệt mày. Thứ đồ loạn luân. Mày cả gan lấy vợ tao, cưỡng hiếp mẹ kế của mày....

Ông thả Hoa ra, ngồi ôm đầu bứt tóc,gầm thét tức tối thãm hại. Kiểu này thì đâu còn mặt mủi nào. Thiên hạ họ cười cho thúi đầu. Thôi thì hãy vục mặt xuống vũng bùn nhơ im hơi lặng tiếng chứ biết làm sao. Ðổ bể ra thì ôi thôi chịu sao cho nỗi búa rìu dư luận kể cả lũ con cháu quỷ quái kia. Ông đành ngậm hột vịt ăn tiền. Ông hận thằng con khốn kiếp phỏng tay trên. Ông chưa làm gì là nó đã làm rồi. Khốn nạn ! Nhiều lần ông muốn tống cổ nó khỏi tiệm sách báo của ông. Ông căn dặn Hoa chuyện lỡ làng, đừng cho ai biết. Xấu anh thì xấu em. Thôi thì, cứ coi là con của anh.

Ðến ngày sanh, ông Cần túc trực bên vợ mãi đến nửa đêm Hoa mới sanh một bé trai. Mặc dù trong người ê ẩm mệt mỏi, Hoa nhìn ông Cần chọc quê :

- Thằng nhỏ này là con trai của anh, hoặc cũng là cháu nội của anh đều đúng cả. Anh ráng mà nuôi nó để nối dõi.

Ông Cần cúi gầm mặt nhìn thằng bé đỏ hỏn thấy mà ghét, muốn bóp mủi cho nó chết phứt cho rồi. Nghĩ mà ông không dám làm.

Thằng bé ba tháng đã lật. Lúc này Hoa đẹp dữ dội, ai nhìn cũng trầm trồ mơ ước, đúng là gái một con trông mòn con mắt, đã thiệt. Hoa càng ăn mặc chưng diện, xài phí và thường lái xe đi rong nơi này nơi khác. Ông Cần thì chả còn ham muốn gì nữa vì bệnh già cùng hai chứng bệnh quái ác kia, đành chịu lép.

Một hôm Hoa tính nhẩm mình đã đến Hoa Kỳ tròn hai mươi sáu tháng rồi. Ðến lúc này đã là thời điểm "giã từ quán trọ". Hoa nhờ luật sư - cũng chính là người tình đở đầu của Hoa vừa quen được, đẹp trai, hào hoa, phong độ - đưa đơn ra Tòa án xin ly dị ông chồng già bất lực.

Ông Cần nhất quyết không ký đơn. Tòa phán quyết cuộc hôn nhân gượng ép, bất cân xứng, loạn luân, tác hại luân thường đạo lý cần giải tán. Tài sản chia hai. Ðứa nhỏ giao Hoa nuôi nấng. Ông Cần trách nhiệm cấp dưỡng đứa bé đến 18 tuổi tròn. Truy tố Mẫn tội loạn luân, cưỡng dâm mẹ kế.

Ðơn ly dị kết thúc. Hoa được nhận ngôi nhà ông Cần đang ở và Tiệm Sách Báo cùng với số tiền trong ngân hàng được chia đôi vào khoảng bốn mươi lăm ngàn mỹ kim.

Ông Cần vật vã mình mẩy, ngất xỉu chết đi sống lại. Ông dậm chân dậm cẳng, khóc lóc, nghiến răng, than thở, rên rỉ kêu Trời không thấu. Vợ với con, khốn kiếp ! Ðang sống thảnh thơi an nhàn trong tuổi già xế bóng, vật chất đầy đủ, con cháu thương yêụ..đâu còn thiếu thốn gì nữạ..hà cớ gì dở chứng thèm khát để đến nông nỗi này. Ông bậm môi, đấm ngực, nghiến răng trèo trẹo hầm hè :

- Cũng tạị..cái thằng nhóc ó đâm nàỵ.mà ra cả! Thằng nhóc con rững mỡ này, có làm gì được đâu. Ðã bảo cứ ngủ yên cho thằng già này nhờ ! Mẹ kiếp ! Ðồ mắc dịch..!

Nguyễn Thế Hoàng




Mục Lục


9. Những Bậc Thềm Rêu

Ngũ Lang




Ðây chính là tựa đề cho một CD của Nữ Nhạc Sỹ Ðào Nguyên. Chỉ với cái tựa thôi cũng đã đủ mang đến cho tôi một thiện cảm lúc ban đầu. “Những Bậc Thềm Rêu” hình như đưa ta về một quá khứ bị đánh mất, và nay không còn ghi lại một chút vết tích nào. Bước chân về nơi cũ, những bậc thềm đã phủ lớp rêu xanh của thời gian!
Khi cùng viết script cho nhạc phẩm này với Hoàng Lan Chi, tôi nhủ thầm “Lại thêm một Ðào Nguyên…”. Tôi từng quen biết với hai nhà thơ đều mang bút hiệu Ðào Nguyên. Và tôi nghĩ lại thêm một “ông nhạc sĩ” Ðào Nguyên. Nhưng thật bé cái lầm Ðào Nguyên lần này lại là một người nữ!
Tôi rất dốt về âm nhạc, có thể nói chẳng biết chút kỹ thuật nào về âm nhạc. Ðiều tréo cẳng ngỗng là tôi rất mê nhạc và nhất là đang phụ trách một chương trình nhạc trên Ðài Phát Thanh. Tôi cũng thích hát nhưng trong đời chỉ thuộc bài “Quốc Ca Việt Nam” thêm mấy bài Quân Hành phải học lúc còn ở trong quân trường. Cũng dễ hiểu vì nếu không thuộc thì “hít đất, nhẩy xổm và nhất là tờ giấy phép cuối tuần không cánh mà bay…!” Có điều hình như cái lỗ tai của tôi cho phép tôi cảm nhận được những cung bậc mang đến cho tôi những rung động đến rợn người.
Thực vậy, tôi ngồi ngẩn ngơ khi nghe Luis Amstrong hát bài “What a wonderful world”. Nhìn gương mặt và giọng hát của ông ở đoạn “And I say to myself: What a wonderful world!” Tôi phải thú thật lần đầu tiên nghe đoạn nhạc này cả tâm hồn tôi rung lên cuồn cuộn! Hoặc một nhạc phẩm của Phạm Ðình Chương “Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển” Tất cả những gì xung quanh hầu như chìm nghỉm biệt tăm “…Ðời lưu vong không cả một nấm mồ…” Tôi biết đây là một bài thơ của Du Tử Lê, nhưng tất cả những bài thơ trở thành bất tử dường như đều nhờ một phần vào các nhạc sĩ nâng niu lời thơ vào cung bậc.
Trong “Tạp Ghi” này tôi chỉ xin đề cập đến những dòng nhạc của Ðào Nguyên. Tôi trân quý tất cả những công trình sáng tác của tất cả các nghệ sỹ. Những tâm hồn vẫn còn rung động được và vẫn còn thao thức để viết lên những vần thơ, những truyện ngắn, dài và cả những nhạc phẩm nói lên cái đẹp của cuộc đời, thật đáng trân quý. Một vài bạn bè nhận định là thời gian này sao lắm văn, thi, nhạc sĩ đến thế! Và tôi cũng không mấy tán thành quan niệm “khăn đống áo dài” xưng tụng nhau. Biết bao những tài năng mới đang vươn lên như những mầm non đâm chồi nẩy lộc giữa mùa xuân dường như bị bỏ quên một cách vô tình hay cố ý. Thật đáng tiếc vậy.
Bây giờ tôi xin trở lại với những nhạc phẩm của Ðào Nguyên vì hầu như tôi đang lạc hướng mất rồi!
Ngay từ nhạc phẩm đầu, NẮNG MƯA CUỘC TÌNH đã đẩy người nghe vào một cảm xúc tiếc nuối vì những mất mát, những hụt hẫng cho một cuộc tình vừa chấp cánh bay đi. Dòng nhạc vẫn kéo người nghe trở về với những kỷ niệm ngày tháng cũ khi cuộc tình thăng hoa. Dù lời thơ của Phạm Ngọc không tránh được những ước lệ, nhưng thật tha thiết. Dòng thơ đã quấn quýt ghì chặt lấy từng cung bậc trong nhạc phẩm này. Tôi chợt nhớ đến nhạc phẩm nền trong phim LOVE STORY. Tôi coi cuốn phim này cách nay cũng đã 38 năm nhưng những âm thanh cuống cuồng mất mát trên từng bước chân vội vã, cuồng nhiệt trên khắp các ngã đường kiếm bóng dáng người tình. Rồi hạnh phúc đến nghẹn ngào khi thấy nàng đang ngồi cô đơn ở một nơi thường hò hẹn.
Tôi thích những câu thơ như… “còn vương vấn dòng sông trôi, xoá tan đi hoặc thành phố buồn lất phất hơi sương…” Những câu thơ gợi tôi nhớ lại những đêm ngồi ở nhà thuỷ tạ Hồ Xuân Hương chờ sương lên trong những ngày tháng của quá khứ thật xa!
Tiếng hát Don Hồ diễn tả nhạc phẩm khá tốt. Nếu nhạc đệm nhẹ hơn một chút có lẽ tạo cho nhạc phẩm khởi sắc hơn.
Vừa dứt cái lê thê của nuối tiếc, mất mát vẫn còn phản phất chưa nguôi. Bỗng giọng reo vui của Hồng Hạnh trong nhạc phẩm KHI TA CÓ NHAU như kéo ta ra khỏi màn sương đêm vào vùng ánh sáng chói lòa của của ánh bình minh.
Ðiệu Tango như vẫn còn vương vấn những ngày hạnh phúc… Khi ta có nhau. Giọng hát Quang Tuấn chạy theo những cung bậc của nhạc phẩm TRỐN thật khéo. Những nốt nhạc như cuồn cuộn một lần bỏ lại sau lưng những gì chợt mất trong đời. Ðể vẫn nuối tiếc với hy vọng tìm lại chút dáng xưa dù có là thân ốc trốn tận dười nước sâu của đảo hoang nào đó.
Thế rồi cung bậc chuyển thành lê thê với qúa nhiều mất mát. Tháng tư đen vẫn mãi như vết thương đau của những người đang lạc nhau trên từng bước đường lưu xứ. Ta đã lạc nhau trong đời để cho cuộc tình cùng nỗi nhớ rong rêu. EM KHÔNG CÒN QUA NỮA BẬC THỀM RÊU như một thét gào của thất vọng. Tất cả hiện tại không sao xóa mờ được những kỷ niệm ngày tháng cũ. Vì “Em đi qua tôi mất từng nụ cười…” để “Vẫn còn tôi trên dòng đời hiu quạnh…” và “Tháng tư giăng đầy góc nhớ…!” Lời thơ thật rung động.
CHIỀU KHÔNG EM, tựa đề thật lạ cho một nhạc phẩm. Giọng hát Ý Lan như lê thê cho nỗi buồn bốn mùa qua đi trên những nẻo đường ly hương. Những đổi thay của thời gian và cảnh vật xung quanh như càng làm cho nỗi buồn trong nét nhạc Ðào Nguyên thêm thắm thiết, réo rắt niềm đau mất mát. Trong tĩnh lặng của đêm đen Ðào Nguyên như được trở về với quá khứ tình yêu. Dòng nhạc của Ðào Nguyên càng ngày thêm tròn trịa và cô đọng như niềm xúc cảm nghẹn nghẹn mà chẳng thể bộc lộ… Một nhạc phẩm hay!
Dòng nhạc trở nên tha thiết đi ngược thời gian về lại quê hương. Từ cuộc sống lưu dân rủ rê nhau về với đồng lúa, với lũy tre nơi đó mang dáng dấp hình ảnh người yêu. Tình yêu ấy dành cho người hay dành cho cả một quê hương bỏ lại. QUÊ HƯƠNG NGƯỜI TÌNH hay chính quê hương tôi. Có phải chăng Ðào Nguyên đã gửi cả nỗi nhớ quê vào nhạc phẩm này?
Có tuổi nào đẹp hơn dòng sông tuổi thơ. Tuổi thơ được nuôi dưỡng bằng tiếng ru của mẹ hiền, bằng tiếng ca dao đậm đà tình tự dân tộc. Nhưng tuổi thơ của quê hương Việt Nam đã không còn trong một chế độ phi nhân. Tuổi thơ đã bị tước đoạt để sớm bước vào nỗi nhọc nhằn tủi nhục của kiếp nô lệ. Quê hương nào của em để nhớ! Xung quanh em là xa lạ giữa quê người,người không ai xót thương. Tuổi thơ Việt Nam đã bị bán đi bởi những loài ác qủy mang hình người. CÒN ÐÂU TUỔI THƠ, nhạc phẩm chắc chắn đã được viết bằng nước mắt, bằng nỗi xót xa của Ðào Nguyên. Âm thanh đã làm cho người nghe phải xúc động là thành công của nhạc phẩm. Và giọng hát thật buồn của Cam Thơ đã đưa nhạc phẩm CÒN ÐÂU TUỔI THƠ của Ðào Nguyên vào vị trí xứng đáng của những nhạc sĩ hải ngoại bây giờ.
Tình yêu vẫn là đề tài vô tận. Nếu gom lại những tác phẩm thơ, văn, nhạc của thế nhân chắc chắn trái đất này đã phủ kín. Khóe mắt, nụ cười, mái tóc và cả búp tay thon thả đã là NGÔN NGỮ TÌNH YÊU bất thành lời. Ngôn ngữ thật thừa thải khi hai tâm hồn đã trao nhau trọn vẹn. Tiếng hát nào hòa nhịp với tiếng dương cầm như hai trái tim cùng trỗi khúc yêu đương. Nhưng lỡ mai này không còn giọng hát thì chắc hẳn tiếng đàn cũng trở nên lỗi nhịp tình, như đôi kẻ yêu nhau bỗng chia lìa.
Cuộc tình bỗng mệt nhoài trong cõi vô thường. Chặng dừng chân nơi cõi ta bà đã gây nên bao khổ lụy vì những tham sân si mang nặng. Cuộc tình không đạt là nỗi khổ, và khi cuộc tình tan vỡ cũng gây biết bao khổ đau. Cuộc nhân sinh là bể khổ. Cung bậc trầm buồn trong dòng nhạc Ðào Nguyên như tiếng chuông Chùa nhẹ buông man mác trong chiều tà. Khi giã biệt nơi này cũng chẳng mang theo được gì nên CHẶNG DỪNG chỉ là cõi tạm. Lâu lắm mói lại nghe lại dòng thơ Song Nhị. Lời thơ và ý nhạc như cùng chấp cánh bay lên trên cõi trần gian một lần dừng lại.
Nhạc phẩm cuối của CD cung bậc mang niềm vui của tuổi thơ. Âm thanh như đưa mọi người trở lại niềm vô tư của tuổi măng non. Nhạc phẩm cũng mang nội dung giáo dục rất bổ ích cho các cháu nhỏ trong cuộc sống xa quê hương. HÀI TIÊN đã chấm dứt dòng nhạc của Ðào Nguyên bằng giọng hát trẻ thơ chưa vướng mắc gì vào cuộc đời này.

Sau khi nghe mười nhạc phẩm trong CD, NHỮNG BẬC THỀM RÊU đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc. Dĩ nhiên có những nhạc phẩm vươn lên thật cao về phối âm dẫn giắt người nghe phải buồn, giận, thương, ghét vượt trội như EM KHÔNG CÒN QUA NỮA BẬC THỀM RÊU, CÒN ÐÂU TUỔI THƠ hay NẮNG MƯA CUỘC TÌNH và CHẶNG DỪNG. và nhạc phẩm dành cho tuổi thơ như HÀI TIÊN. Những nhạc phẩm khác trong CD tuy không nổi bật nhưng cũng là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật nhất định.
Bài tạp ghi này là một nhận định đầu tiên của cá nhân về một bộ môn tôi chỉ có thể đánh giá bằng “đôi tai” và với một tấm lòng. Bộ môn văn nghệ tôi mù tịt về kỹ thuật ký âm pháp cũng như kỹ thuật sáng tác. Chắc chắn có những thiếu sót. Mong Nhạc Sĩ Ðào Nguyên và quý vị thức giả châm chước và chỉ giáo.
Mời quý vị thưởng thức thêm những nhạc khúc của Nữ Nhạc Sỹ Ðào Nguyên xin vào website: WWW.daonguyenmusic.com

Vùng gió xoáy – xuân không chín

Ngũ Lang




Mục Lục


III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dâ’u

Từ những tiê’ng yêu, như lời mời gọi kê’t hợp hai tâm hồn lạc lõng đê’n gần nhau, để lă‘ng nghe, chia sẻ những hơi thở, nhịp đập của con tim, chă‘c hẳn đã che lâ’p đi một phần nào của sự trô’ng vă‘ng trong cuộc sô’ng buồn tẻ này anh nhỉ .

Từ mỗi buổi sa’ng vơ’i những tiê’ng chim ca bên song cửa, em cảm thâ’y mùa xuân như đang tiê’n dần đê’n chu’ng tạ Những hạt mưa đầu mùa cũng đã bă‘t đầu rơi hạt như đang lột trần những thảm cỏ khô cằn, và mang lại màu xanh tươi vơ’i những bông hoa đủ să‘c hương cho loài người . Và cũng như anh, từ những nụ hôn đã lột đi những khô he’o, buồn phiền trên gương mặt em, những ca’i nhìn âu yê’m, những nụ cười chia sẻ tạo nên một hạnh phu’c mãnh liệt . Bên anh, em quên hê’t tâ’t cả những mệt nhọc của cuộc sô’ng .

Dễ thương từ những cội nguồn
Dễ yêu từ những tiê’ng chim gọi tình
Từ con tim co’ bo’ng hình
Từ nơi hoang vắng trở mình co’ nhau

Sẻ chia từ những cơn đau
p Dễ yêu từ những ngày đầu vâ’n vương
Từ anh, bo’ng ma’t che đường
Từ anh, em biê’t nhơ’ thương mỗi ngày

Xin cảm ơn, anh đã yêu em, và đã đo’n nhận em vào trong vòng tay thương yêu của anh .

Viê’t cho Giao Mùa
Mùa Xuân 2009
-DHH
~~~/~~((@

Mục Lục


VI. Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________



1. Sách mới " Thiên Thanh " - nhà văn nữ Võ Thị Ðiềm Ðạm






Giao Muà xin giới thiệu sách mới " Thiên Thanh " do nhà văn nữ Võ Thị Ðiềm Ðạm, một cây bút thường trực của Giao Muà vưa được phát hành. Giá Bán $20.00 US.

Xin liên lạc với:

diemvost@yahoo.no





















Mục Lục


V . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 85 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua@hotmail.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

Web Counters
Web Site Hit Counter

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors