Số 88
Ngày 1 tháng 8 năm 2009
Nguyệt San Giao Mùa
P.Ọ Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Giữa Hè, Trái đất bận rộn chuyển đổi mùa trên thế gian. Có những nơi mưa như trút nước, đường xá ngập lụt, nước còn chưa biết thoát hết đi đâu. Có những nơi, cái nóng và nắng như lửa, vô tình thiêu gần như sạch những ngọn cỏ còn chút màu xanh cuối cùng. Cuộc đời muôn màu, muôn vẻ làm sao. Nhìn một nơi, có thể cười. Ngó qua nơi khác, có thể ngậm ngùi. Ngó qua nơi khác nữa, có thể bật ra tiếng khóc ngay vì thương tâm quá.
Con người lắm lúc quên đi mình đã chuyển đổi trạng trái tinh thần rất nhanh, có lúc giận mọi sự thay đổi quá là nhanh chóng thì cứ muốn giữ lấy bộ mặt trơ như ngói của mình cho nó đỡ mệt vì không còn chống chọi kịp với mọi thay đổi từ cuộc đời nữa.
Nhìn ra bên ngoài và xung quanh, cũng không thể phủ nhận tuổi trẻ mọi nơi đang dần trưởng thành và gánh vác lấy sứ mệnh gìn giữ và thay đổi nhân loại theo những hướng họ nhìn ra. Tôi tự nhiên thấy mình muốn đứng lui lại, cổ vũ và động viên họ tiến nhanh về phía trước rất vô tư mà không nuối tiếc vị trí của mình, cũng không cần nhìn lại mái tóc mình đã và đang có thêm rất nhiều sợi bạc hay không.
Giao Mùa, Giao Thời hay giữa cuộc đời, một suy nghĩ chân thành cho ngày mai, cho thế hệ nối tiếp là cần thiết .
Vành Khuyên chân thành cảm ơn quý anh chị đang góp mặt với Giao Mùa làm nên và đóng góp phần nào công sức của mình trong sứ mệnh này.
Có đi đâu và làm gì, Vành Khuyên luôn trân quý sự đóng góp này từ các anh chị và mong sao từ những con chữ mang ý nghĩa về mặt tinh thần này sẽ nở những bông hoa đẹp trong nền Văn Hoá Việt tại xứ người cho chúng ta ngày mai.
Mong mọi an lành đến cùng các anh chị trên khắp mọi phần thế giới nhé.
Thân Kính
Vành Khuyên
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Còn Nỗi Ngậm Ngùi | ______Từ Tú Trinh | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Lại Một Mùa Thu | ______Hồ Thụy Mỹ Hạnh | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Hãy Ngủ Yên, Tình Yêu … | ______Ðơn Phương Thạch Thảo | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Cho Tôi... | ______Jacaranda | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Ðôi Chân | ______Nhu Nguyễn | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Tình Xa Vẫn Nhớ | ______Thylanthảo | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Bài Hát Em Buồn Như Thánh Ca | ______HồChíBửu | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Tình Chết Cuối Sông | ______ Tuyền Linh | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Tơ Lòng |
______ Khóc_Cười | 10. Lầu Hạc Vàng
|
|
______Sông Cửu | 11. Giây Phút Trầm Tư
|
|
______Hàn Thiên Lương | 12. Chiếc Bánh Pie
|
|
______ Vành Khuyên | 13. Nửa Ðời Nhìn Lại
|
|
______Ðỗ xuân Tê
|
14. Xa Nhau Ngày Hè
|
|
______
Uyên Phương Minh Nguyệt
|
15. Cho Tôi Xin |
|
______ Tôn Thất Phú Sĩ |
16. Thần Tiên
|
|
______ Kim Thành |
17. Chỉ Xin Một Lần
|
|
______Hà Khánh Phương |
18. Một Góc Quê Hương
|
|
______Nguyệt Vân |
19. Quê Hương Ngàn Dặm
|
|
______Phan Tưởng Niệm |
20. Mời Anh
|
|
______Lê Miên Khương |
21. Chia Tình |
|
______Vi Thông |
22. Tôi Ru Em Ngủ
|
|
______Nguyễn Hải-Bình |
23. Eo Biển Manche
|
|
______Ái Ưu Du |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Mùa Xuân Ðến Muộn _______ Phan Tưởng Niệm |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 42 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ái Ưu Du |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 35(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên |
| 6.Chửi Thề ___________ Vành Khuyên |
| 7.Thung Lũng Nhớ ___________ Trần Thành Mỹ |
| 8.Vũng Lầy ___________ Nguyễn Thế Hoàng |
| 9.Khói Sương ___________ Vô Ngã ( Thiện Phạm) |
| 10.Sài Gòn Còn Mưa Không Em ? ___________ Song An Châu |
| 11.Mối Tình Câm ___________ Hoa Bằng Lăng |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Website: Nhà Văn, Nhà Thơ Tôn Thất Phú Sĩ _______________________________ Giao Muà |
V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc
_______ Ban Biên Tập
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Phan Tưởng Niệm
Phan Tưởng Niệm 2. Bờ Lau Cát Lở 42 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Ðỗ Thành 3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) Ái Ưu Du
Ái Ưu Du
4. Chập Chùng Bóng Núi 35 (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Thanh Sơn
5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) Phan Thái Yên
Phan Thái Yên
Vành Khuyên
Vành Khuyên
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
Nguyễn Thế Hoàng
Nguyễn Thế Hoàng
Vô Ngã ( Thiện Phạm)
Vô Ngã ( Thiện Phạm)
10. Sài Gòn Còn Mưa Không Em ?
Song An Châu
Song An Châu
Hoa Bằng Lăng
Hoa Bằng Lăng
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
VỊ Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
1. Website: Nhà Văn, Nhà Thơ Tôn Thất Phú Sĩ
2. Thư Viện Việt Nam tại Little Sàigòn, Orange County, California
V . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Hắn trở lại Quy Nhơn – Thành phố biển mà Hắn đã sống và lớn lên với những tháng ngày ấp yêu kỷ niệm. Hắn đi trên con đường phố buổi chiều với những hạt mưa rơi rớt thấm ướt trên vai. Hắn đang mơ về những hình ảnh xa xưa của tuổi học trò.
Hắn đi bộ theo con đường Tăng Bạt Hổ, đến trước cổng trường Bồ Ðề, nhìn qua bức tường còn lớp kẽm gai, Hắn dừng bước và cố nhìn vô bên trong, Hắn đưa mắt đến những phòng lớp mà Hắn đã ngồi ở đó trong bảy năm ở bậc trung học. Những kỷ niệm xưa thoáng hiện về. Nào thầy, nào cô, nào bạn bè, nào trường lớp lần lần xuất hiện qua từng ký ức.
Ngôi trường còn đây, bàn ghế còn đó. Cảnh vật vẫn như ngày nào. Hàng me già vẫn ủ rủ đứng chơ vơ. Ngôi chùa tỉnh giáo hội Phật Giáo xây dở dang vẫn chưa có người tu sửa - buồn bã đợi chờ. Hắn đi dựa theo bờ tường qua đường Trần Cao Vân rồi rẽ vô chùa Long Khánh. Ngôi chùa vẫn như ngày xưa, chẳng có gì thay đổi.
Tiếng chuông chùa cầu kinh buổi chiều, xen lẫn tiếng tụng niệm vang vang, lòng Hắn bỗng thấy chùng xuống và một nỗi buồn xâm chiếm tâm tư.
Hắn bước lên từng bậc thềm và lần vào chánh điện, thắp ba nén hương lễ Phật. Nhìn làn khói hương quyện tỏa, nhìn gương mặt hiền từ của Ðức Thế Tôn, bỗng nhiên Hắn muốn trở về nơi chánh giác, xa lìa nhân thế đầy dãy những đua tranh, đố kỵ, tị hiềm.
Hắn quay mình bước nhẹ , giọt mưa bắt đầu rơi, từng giọt mưa thấm ướt trên vai, Hắn khẻ rùng mình vì thấm lạnh. Hắn trở lại đứng núp dưới mái hiên chùa.
Một người đàn bà từ ngoài chạy vào núp mưa, Hắn khẻ liếc nhìn, người đàn bà quay lại, đôi mắt dán chặt vào mặt Hắn:
“ Xin lỗi ! Ông có phải.... là Tường Hùng”?
Hắn thoáng bàng hoàng:
“ Ba đây là...”
“ Thục Trinh ...”
Thật là bất ngờ, Hắn đã gặp lại Thục Trinh sau gần ba mươi năm xa cách. Hắn thầm nghĩ:“ Vậy là cuối cùng mình lại gặp nhau sau hơn một phần tư thế kỷ phải không Trinh? Còn có gì để nói đây Trinh! Chúng ta đã già rồi, tóc anh đã đầy sợi bạc và da em cũng đã có những vết hằn. Những kỷ niệm xưa đã thành quá khứ, một quá khứ buồn đầy những nỗi đắng cay. Ngày xưa, anh là tên học trò nghèo nhưng anh đã đem tình yêu đến với em bằng một mối tình thánh thiện, anh đã quên hiểu tình yêu nó còn kèm theo nhiều yếu tố cần thiết, đó là vật chất, địa vị và danh vọng. Anh đã thiếu những điều kiện đó nên anh đã mất em. Ngày em lên xe hoa về nhà chồng cũng chính là ngày anh từ ngục tù Cộng Sản được trao trả trở về . Ðêm đi ngang qua con phố, nhìn vào ngôi nhà sang trọng, thấy em trong lễ phục cô dâu, anh đã nghẹn ngào nuốt từng giọt đắng cay mà trách thầm cho thân phận. Và anh đã ra đi không trở lại thành phố biển từ dạo ấỵ”
Sau giây phút ngỡ ngàng, Hắn nói với Thục Trinh:
“ Anh không ngờ, bây giờ mình còn gặp lại nhau. Gần ba mươi năm còn gì. Anh đã hơn năm mươi và Trinh đã bốn mươi bảy?. Nhưng anh vẫn thấy Trinh như ngày xưa, tuy có già hơn nhưng không thay đổi gì lắm. Vẫn đẹp như ngày nào.
Im lặng một giây Hắn hỏi Trinh:
“Trinh hạnh phúc? Anh luôn cầu chúc Trinh được mọi điều tốt đẹp.”
Người đàn bà cuối mặt, nhỏ nhẹ nói với hắn:
“ Mỗi người đều có một mệnh số, anh nào hiểu được em. Ngày em có chồng là ngày em đau khổ vô cùng. Nghe tin anh mất tích nơi chiến trường Tân Cảnh, em đã chết lịm cả người. Chờ đợi, ngóng trông –mõi mòn. Hơn một năm trời chẳng còn tin tức gì về anh, tất cả ai cũng bảo là anh đã chết trong hầm trú ẩn cá nhân, trong lúc ba mẹ em hằng ngày cứ nài ép em phải lập gia đình với Du – một người con trai của bạn ba em để có tiền giúp đở ba mẹ em trang trải nợ nần, phận làm con, em đành chấp nhận chứ biết sao hơn. Ngày biết tin anh còn sống, được trao trả trở về, em đã chết lặng, cố tìm cách gặp anh, nhưng rồi chẳng thấy anh đâu, cho đến ngày hôm nay, ba mươi năm qua rồi, ba mươi năm với bao nỗi niềm riêng nào ai biết được! Cảm ơn trời, cảm ơn Phật đã cho em gặp lại anh. Nếu ngày xưa, chúng ta đừng chia cách thì giờ này em đâu phải khổ như thế này”. Người đàn bà nghẹn ngào nói với Hắn.
“ Anh cảm ơn Trinh còn nghĩ đến anh. Thôi! Tất cả đã qua rồi, giờ chỉ còn là hiện tại. Cuộc sống của Trinh như thế nào, gia đình ra sao, và Trinh đang ở đâủ”. Hắn hỏi người đàn bà.
“Em và Du vượt biên năm 1978. Chúng em ở trại tị nạn Mã Lai đến năm 1980 thì được qua định cư tại Hoa Kỳ. Qua Mỹ được tám năm thì Du mất . Em và Du có với nhau được hai con, chúng đã lớn và đã có gia đình.”
Người đàn bà một phút im lặng rồi nói tiếp:
“ Em về Sài gòn ở chơi với ba mẹ em đã hơn nửa tháng rồi, em ra Quy Nhơn thăm lại bạn bè và tìm hiểu tin tức về anh, đã hai ngày rồi, ngày mai em phải trở vô Sàigòn vì cuối tuần này em sẽ trở lại Mỹ.
“ Vậy à!”
“ Còn anh thế nào, vợ anh và các cháu ra sao, chắc chúng cũng lớn rồi chứ?”
“ Chẳng còn gì, họ đã bỏ anh đi rồi!”
“ Sao vậy anh, tại sao họ bỏ anh?”
“ Họ bỏ anh đi về một phương trời xa thật xa – nơi đó không còn hận thù, không còn chiến tranh!”
người đàn bà bỗng thấy giao động:
“ Sao vậy anh”
Hắn thoáng một giây xúc động – nhìn về một phương trời xa. Hắn đang nhớ đến vợ con hắn:
“ Họ chết trong cơn đói lạnh – cơm không có ăn, áo không có mặc. Họ chết nơi vùng Kinh tế mới Gia Châm – Pleiku, sau một cơn bệnh sốt xuất huyết …” hắn nghẹn lời không nói tiếp được.
“ Em xin lỗi anh, đã khơi lại chuyện đau buồn”.
Người đàn bà sau giây phút im lặng hỏi hắn:
“ Bây giờ anh sống ra sao, cuộc sống của anh thế nào, em có thể giúp được gì cho anh?”
“ Eảm ơn Trinh, một thân một mình anh sống cũng không đến nỗi chật vật … có thể nói là đầy đủ ”
Cơn mưa dứt hột, trời lại quang đãng. Người đàn bà nói với hắn:
“ Ðã hết mưa, em phải về rồi, tối nay, nếu có thể mời anh đến số nhà… đường…. Em đang ở nơi đó – nhà của Hồng Tâm, bạn thân của em. Từ ngày em ra Quy Nhơn, em ở nhà nó đó. Còn anh ở đâu, em có thể đến thăm anh?”
“ Anh cũng mới ở Sàigòn ra thăm bạn bè thôi. Anh ở tại hotel Thanh Bình … nhưng thôi em đừng đến, không tiện đâu, nếu không bận gì tối nay anh sẽ đến thăm Trinh”.
Gặp lại Thục Trinh sau một thời gian dài xa cách, lòng hắn vẫn còn một chút vấn vương. Người con gái mà suốt cuộc đời hắn không thể nào quên – bởi Thục Trinh là mối tình đầu tiên của Hắn. Trong lao tù hắn luôn mong ước một ngày trở lại thành phố biển mến thương cùng người yêu dựng xây một tương lai hạnh phúc. Nhưng khi hắn được trao trả trở về thì mọi việc đã đổi thay. Hắn đã hận người, hận đời và tiếp tục lao vào cuộc chiến . Ðể rồi sau cuộc đổi đời, thêm một lần nữa Hắn phải đi vào trại tù “ cải tạo”.
Gặp lại Thục Trinh dù trong lòng hắn đã khơi lại một tình yêu của thuở thiếu thời nhưng trong tâm hắn vẫn còn buồn giận ThụcTrinh vì cuộc đổi thay. Vì vậy Hắn đã chưa cho Thục Trinh biết gì nhiều về hắn.
Buổi tối, Hắn đến thăm Thục Trinh tại nhà Hồng Tâm – bạn nàng – cũng những câu chuyện xãû giao thông thường, tuyệt nhiên hắn không một lời khơi lại mối tình ngày xưa, dù Thục Tinh nhiều lần khơi chuyện. Trước khi chia tay, hắn hỏi Thục Trinh:
“Trinh về Mỹ chuyến bay ngày nào, hãng nàỏ”
“ Dạ! ngày 8… , còn 3 ngày nữa anh, hãng Ðại Hàn. Anh cho địa chỉ để khi về Mỹ em sẽ viết thư gởi anh. À! Anh có điện thoạỉ”
“ Ởû đây không có, nhưng… thôi, Trinh cho anh số điện thoại của Trinh đi”
“ Số điện thoại của em đây” –
Thục Trinh viết, đưa cho Hắn số điện thoại của nàng.
Buổi tối trứớc khi lên phi trường Tân Sơn Nhất về Mỹ, nàng đã chờ đợi Hắn đến để có lời chia tay tạm biệt, nhưng Hắn đâu rồi?. Hắn đã biệt dạng không trở lại. Nàng buôn bã đi về phi trường.
Ðang đứng sắp hàng chờ vào phòng đợi, bỗng một bàn tay vịn vào vai Thục Trinh:
“ Thục Trinh”
Thục Trinh quay đầu nhìn lại:
“Anh! Em chờ anh mõi mắt, Sao anh không đến tiễn em? Thục Trinh mừng rỡ hỏi hắn.
“ Thì bây giờ anh đến tiễn Trinh đây… mà tiễn Trinh đến Mỹ đó” .Hắn đùa với nàng.
Thục Trinh nhìn lại hắn cũng đem theo vali, xách tay nên thắc mắc:
“ Anh mang đồ đi đâu vậy, đi Mỹ saỏ”
“ Có thể lắm ! theo Trinh mà”.
“ Vậy sao!”
Vào phòng trình vé Hắn bảo Thục Trinh:
“ Trinh đưa vé của Trinh cho anh”
“Sao anh vô được phòng nàỷ” Nàng hỏi Hắn.
“ Anh đã nói,: anh đi Mỹ với Trinh, Trinh không tin sao?
Thục Trinh im lặng.
Ðến khi máy bay cất cánh, nàng mới tin là sự thật – Hắn đã đi chuyến bay đến Mỹ cùng nàng.
Ngồi trên máy bay Thục Trinh hỏi hắn:
“ Anh qua Mỹ với diện nào, anh làm việc cho công ty nước ngoài phải không?
“ không, anh qua Mỹ đã tám năm rồi, theo diện HO – đi một mình – buồn lắm. Suy đi, tính lại – phải đi thôi, ở lại chẳng còn gì.”
Hắn im lặng, nàng im lặng.
Sau khoảng thời gian im lặng, Thục Trinh lên tiếng:
“ Anh về Việt Nam mấy lần rồỉ”.
“Mấy năm mới qua, chưa có điều kiện về, bây giờ mỗi năm dù thế nào anh cũng phải về vào ngày giỗ vợ con anh, ..”
Cả hai lại im lặng.
Qua khoảng thời gian dài . bỗng Thục Trinh lên tiếng:
“ Anh à! Em muốn nói với anh điều này…”
“Trinh nói đị”
“ Em nghĩ..”
“ Trinh nghĩ gì?”
“ Em tính rồi…”
“Trinh tính gì vậỷ”
Nàng ngập ngừng từng ý nghĩ, từng lời nói, để rồi:
“ Thôi em sẽ nói với anh khi về đến Mỹ.
Nhìn qua khung cửa, bình minh đã ló dạng – ánh sáng ban mai chiếu vào, bầu trời nước Mỹ đã hiện ra trước mặt – một ngày rất đẹp. Nhìn qua phía trái, Thục Trinh dựa đầu vào vai Hắn vẫn còn ngủ saỵ/.
Chỉ khi tất cả cùng bị lùa tập trung vào trại tù của kẻ chiến thắng thì lúc bấy giờ mới thực sự thương yêu nhau. Tay nào tay ấy đều ngẩn ngơ, không hiểu sao cùng dồn tựu về chốn này. Có người còn ngỡ ngàng không rõ tại đâu mà cả lũ bị kẹt cứng vào trại. Họ buồn vì thất trận thì ít mà hận vì bị bỏ rơi thì nhiều. Một số không dằn được sự nóng nảy thóa mạ ngay người cầm đầu guống máy chính trị của mình, gọi họ là hèn nhát, bỏ rơi thuộc cấp và vung vít chửi táng tận, còn hơn là chửi bạn đồng minh hay phía đối nghịch.
Trông mặt anh nào anh nấy dài ngoằng, thiểu não, bao vẻ oai hùng, sinh khí lặn đâu mất tiêu. Một binh lực hùng mạnh mới ngày giờ nào làm cho bạn bè nể phục, địch thủ ngại e thì giờ buông xuôi hai tay nhận chịu đày đọa, sai khiến.
Những ngày đầu, tuy chưa thực sự diễn ra cảnh khắt khe, nhưng không vì thế mà ai cũng thấy thoải mái hoặc yên lòng. Nỗi phấp phỏng, hoang mang hiện rõ trên nét mặt, dáng điệu, cử chỉ, cho đến lời ăn tiếng nói, cách cư xử với nhau cũng đều vô cùng dè dặt và nghe ngóng.
Chưa gì đã có một vài đối tượng tỏ ra nhởn nhơ vì ỷ có bà con gì đó tham gia trong hàng ngũ chiến thắng. Họ hi vọng là thời gian ở trại của họ sẽ chóng vánh chấm hết vì họ hoàn toàn đặt lòng tin vào lời của chính quyền mới tuyên bố : nhà nào có một người tham gia cách mạng thì cũng được coi như gia đình có công với cách mạng. Bởi thế, có tay đã mon men xưng hô “ đồng chí “ với các người được cử ra chăn dắt họ để rồi bị sửa sai “ ai là đồng chí của các anh “, trông họ mới tẽn tò, tiu nghỉu làm sao.
Thuở đó, việc trông tù còn do quân đội nắm giữ. Họ là những người cầm súng nên hận thù chỉ xảy ra khi giáp mặt nhau giữa trận tuyến đạn bom. Nay hòa bình thì chiêu bài gay go không còn nữa, họ cũng có phần không gay gắt như khi giao sang cho công an quản lý sau này.
Có tay cởi mở nói : chúng ta ở trận tiền đều phải giữ cho cái mạng đừng mất. Tôi không bọp anh thì anh sẽ bọp tôi, do đó chúng ta phải tàn nhẫn để loại ngay đối thủ. Còn bây giờ thì chúng ta hết dịp để sử dụng bạo lực với nhau nữa rồi, hãy xóa đi lòng căm hận.
Tuy nói như thế nhưng không hẳn là chấm hết mọi xung đột. Hằng ngày vẫn có những chiến sĩ hầm hừ khi gặp người hoạn nạn trong trại, thậm chí còn đập vỡ luôn mắt kính cận đổi màu của tù nhân vì cho là vào trại mà vẫn còn nghênh ngang diêm dúa khoe khoang.
Những sự việc này được báo lại với các người trách nhiệm thì đều được bao che xí xóa kiểu : ta chấp chi các đồng chí chiến sĩ vì phải hiểu họ có nỗi đau khi cả gia đình họ bị bom B-52 tiêu diệt, hay bị lực lượng các anh triệt hạ. Ðó là cung cách chung chung giữa người canh và kẻ bị canh.
Ngoài ra, giữa chính họ với nhau cũng phải tiết chế trong việc lân la với đám tù. Sự hỏi han có chăng cũng chỉ loáng thoáng như tình cờ gặp và phải nói to tiếng để tránh thậm thụt rỉ tai những điều dặn dò hay chỉ vẽ không cần thiết.
Thuở đó, người bị tập trung chưa phải làm gì hết. Cả ngày ăn rồi chờ tổ chức lớp học, đi ra đi vào hoặc học hát những bài ca mới. Thôi thì từ đẩu từ đâu những bài ca cũ kiểu : nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng, hoặc một mùa thu năm xưa cách mạng tiến ra sa trường…, mặc dù người làm ra ca khúc có khi giờ đang ở bên trời tây, trời mỹ thì cũng chẳng sao, miễn có từ “ cách mạng “ là ổn.
Tệ hại là ở bất kỳ trường hợp nào cũng có những tay bợ đỡ rất sớm. Họ vội vàng phân phối tài liệu “ đạo đức cách mạng “ do vị chủ tịch sáng lập đảng viết, y như họ hoạt động đâu từ lâu đời với thành phần chiến thắng vậy.
Khổ thân các bạn. Y như kẻ đắm tàu vớ được cái cọc cũng nghĩ là cái phao nên ôm chặt vào người làm lối thoát. Người quản tù cũng biết vậy, nhưng hệ trọng gì khi có người làm tai mắt miệng lưỡi bước đầu cũng cần và giúp họ đỡ rảnh tay thôi.
Mãi càng về sau, những anh xun xoe bợ đỡ càng nhận ra mình cũng chẳng khác gì hơn bạn đồng tù, ngày về cũng xa lắc xa lơ, có khi còn lâu hơn, dài hơn thì mới dần dần tỉnh ngộ. Nhất là trải qua những ngày tháng năm miệt mài đi làm lao động cực nhọc, thể xác rã rời, tinh thần tuyệt vọng, họ mới thấy ra chân lý đắng cay.
Những lúc ngồi trà nhẩm với nhau, chẳng còn ranh giới nào giữa đơn vị chiến đấu hay đơn vị chuyên môn, chẳng còn kể đến chiến công nhiều hay chiến công ít. Anh Nhảy Dù có thể là bạn tri kỷ với anh Truyền Tin, hay anh Biệt Ðộng có thể là bạn tâm giao với anh Quân Cụ.
Bởi vì chỉ có lúc này mới cần nhau nhất. Vợ con, bè bạn, cha mẹ, anh em đều ở bên ngoài vòng rào kẽm gai, chẳng với tay đến chăm lo khi xảy ra tai nạn hoặc đau yếu. Chỉ có bạn tù với bạn tù mới giúp được nhau ra khỏi bệnh tật hoặc khó khăn. Tuy vậy họ cũng phải thử nghiệm nhau để ít là không bị vướng vào những sợi “ râu “ hay “ ăng ten “ làm công cụ cho trại.
Có ở trong trại rồi mới biết đá biết vàng. Danh xưng thay nhau đổi xoành xoạch, chớp nhoáng. Mới hôm qua còn được buộc phải ghi là “ học viên “ thì sang vài bữa sau đã phải khai là “ tù tàn binh “ thư mới được chuyển.
Mỗi cái thư đi từ trại về gia đình khoảng độ vài mươi cây số mà cũng mất cả tuần. Còn phải trải qua kiểm duyệt, cân nhắc xem có dùng ám hiệu hay ẩn từ nào để thông báo cho nhau tin tức, sinh hoạt đây kia chăng.
Có điều dù khắt khe như vậy, dù có màn lưới tâng công vô hình giăng ra nhiều nơi vậy mà tin tức ở đâu vẫn lọt vào trại tới tấp. Lúc thì bấm nhau về thời gian giam nhốt kéo dài cả năm là ít, lúc lại phong phanh sắp di chuyển đến các vùng hẻo lánh, xa thành phố chẳng hạn. Chưa gì còn có tin sẽ thanh lọc để những thành phần “ nợ máu “ rồi sẽ đồng loạt đưa ra Bắc thọ hình.
Các nguồn tin làm cho chính lớp quân quản cũng không nắm được từ đâu mà có. Những buổi họp được tổ chức để nghe sửa sai là tin đồn không có, phải nhất quyết tin tưởng vào chính sách thì mới mong có ngày về. Một vài hành động lẻ loi xem chừng ngoạn mục cốt để gây tin tưởng là các tù bác sĩ, dược sĩ hay vài giới chức chuyên môn được cho về rất sớm để biện minh là họ nói thực.
Thế rồi, các bác sĩ, dược sĩ được thả về vội tìm đường vượt biên tháo chạy nhiều, nên tội các ông không đi được lại lóp ngóp trở vào trại học thêm vài lớp nữa. Những sự việc này tỏ lộ từ chuyện nói sang chuyện làm ít ra không cùng chung một nhịp. Nói cứ nói, làm cứ làm, cả hai phía đều lẳng lặng lo toan tính, chẳng màng ai tin ai cho được.
Cũng chưa gì, các anh thuộc đơn vị đụng trận nhiều đều răm rắp nhận họ sẽ là những người cuối cùng rời khỏi trại. Ðiều này làm các tay quản giáo bực, đỏ mày đỏ mặt cự nự : ai cho các anh tin đồn bố lếu bố láo này. Các anh cứ mở mắt mà xem coi dự đoán có đúng không.
Quả cũng có vài vị lớn cấp bực được ơn mưa móc cho về, nhưng họ vốn là thành phần giải ngũ từ trước, lẽ ra họ không trình diện đi tù cũng được, nhưng giữa lúc hỗn quân hỗn quan họ sợ, thì thôi vào trước khỏi phải vào sau, thế thôi. Lại nữa, ba tay nhăng nhố “ bảo hoàng hơn vua “ ở địa phương thường là mục tiêu gây phiền hà cho họ, chi bằng an tâm vào quách nằm trong trại để khỏi nhỡ ra bị “ bòm “ cho một phát bởi những tay nịnh bợ, uổng đời không phải lúc.
Cũng chưa gì xảy ra những sự việc thương tâm. Một lời vu vơ nào đó nói đùa qua quit với nhau chỉ hôm sau đã đến tai quản giáo. Một màn gọi lên xỉ vả, chèn áp nếu là nội dung vô thưởng vô phạt, còn lăng nhăng kể đến quá khứ sẽ bị khện tơi bời “ đến giờ phút này mà còn tơ tưởng thời sa đọa, đĩ điếm, làm tay sai đế quốc, chưa dứt bỏ được sao “. Ôi, oan nghiệt, ôi đắng cay, tại sao thời nào, lúc nào cũng có cảnh nuôi ong tay áo.
Thế nên mới bị nhiều chuyện đọa. Một thằng cùng tù gạ gẫm trốn trại, vài tay nghe bùi ca cẩm góp vô, đúng hôm bát nháo thì người ăn theo chịu lãnh hình phạt bằng mất thây hay chết ngỏm, còn tên đầu trò thì bị tượng trưng giam vài ba ngày rồi nhâng nháo được ra. Tội nghiệp cho ai dễ nghe lời ngon, lẽ ngọt đành gửi thân mãi mãi nơi trại, không bao giờ về nữa. Thậm chí vợ con có lên thăm cũng không được phép đến chỗ chôn xác cha, chồng mình.
Ðến bây giờ có ai tổng kết được bao nhiêu trường hợp như thế xảy ra từ khi có cái gọi là trại tù cải tạo. Bao nhiêu người đã được cải táng hay vẫn còn nằm đìu hiu nơi mé rừng già, mặc cho thời gian san bằng dần ngôi mộ ngày xưa. Hỡi những kẻ đang tâm bày trò giờ này anh ở đâu ? Có bao giờ anh nghĩ rằng vì anh mà vài bạn bè đành phải từ giã cuộc sống, hỡi anh ?
Hay là giờ đây anh đang ở đâu đó, tại Mỹ, tại Anh, tại Úc, tại Pháp, tại Ðức… hiên ngang khoác trên vai ảnh hình người tù một thuở và cũng đang nhử để tiếp tục đưa những bè bạn của anh vào chướng ác ?
(còn tiếp)
Giữa Hai Lằn Ðạn
Phần Thứ Nhì Chương 12
THẬT TÌNH CỜ
Kính tặng một người cùng tên ÐHB
Hoài nhớ những chiều năm cũ dọc theo bờ suối, nhớ tình yêu vô cớ tàn phai phi lý. Từ cánh bướm chập chờn do dự dẫn Hoài về bao ngày hái hoa bắt bướm, ép khô trong trang sách học trò nơi ngôi nhà xưa. Nàng thấy từng người thân trong gia đình qua mỗi đoá hoa pensée, hoa violette, coquelico, mimosa, forget me not, kim châm, hoa giấy trắng tím hồng, hoa ngâu, mãn đình hồng, sen địa v.v... Hoa bằng lăng màu tím luyến thương rộ nở; cánh hoa thiên lý có chú bướm nhởn nhơ bay về, đưa Hoài quay trở lại thuở nhỏ cùng ngày tháng tha hồ rong chơi bên suốị Hoài ưa vớt lục bình trôi lênh đênh nhấp nhô bên sông Bồ.
Nước chảy dưới cầu Thanh Long, xuôi về Bao Vinh, dẫn Hoài theo dòng lưu thủy,tan vào cuối nguồn. Nước từ dòng sông Thạch Hãn, Như Lệ, Phá Tam Giang, đi Trà Khúc, sông Vệ, Nghiã Hoà, ưu ái hòa thông ngoài biểnrộng bao la. Nước yêu thương luân lưu đến đầu non Minh Long, Tà Noát.Có thể nhập hội trùng dương lắm!? Rồi cánh bướm vụt bay đi, không buồn quay lại bên đoá bằng lăng yêukiều, để Hoài ngồi trơ trọi, liu riu ngu ngơ trông ngóng, bơ vơ một mình trong ca bin xe. Hoài nghĩ đến tình quê. Nghĩ đến điều bất hạnhvong gia thất thổ. Xóm, Làng nầy gánh chịu đời sống kinh hãi, khổ ải tận cùng nỗi chiến tranh đau thương chưa biết có kết thúc hay không nữa!Hoài nhìn xuyên suốt qua lũy tre xanh ẩn khuất, có dòng sông lặng lờuốn khúc nhấp nhô cánh lục bình, có bụi dừa nước tàu lá xoè to đâm thẳng lên trời. Nhà nào cũng có bụi chuối lùm tre, gốc cam cây ổi chen chân với cây cau dây trầu óng ả, quyến luyến tình thân. Trên đọt cây cau, dây trầu, dăm ba chú ve tơ dạm ngỏ duyên tình, tán tỉnh cô nàng ve mái yêu kiều. "Chàng" khoe bộ cánh mỏng tanh, đỏ rực màu lửa với"cô nàng" ưa làm le, làm dóc, cô ả ỷ mình đang độ thanh xuân xinh đẹpnhất, cứ ra rả: "Em... ve ve ve! Em... ve ve ve”...Trên rừng cây kiền kiền thân thẳng gỗ lớn, mặt lá mốc trắng rơi rào rào trước sức gió nghiêng ngã, dồn dập xô về.
Bất giác Hoài nhìn mãi lên bầu trời cao, thầm mong mình bắt gặp một trong đôi cánh diều thân thương, chao lượn trên không hết sức! Mong hết sức. Ðôi khi nàng mở to mắt nhìn đăm đăm về phía trước, mong chờ những hình ảnh không hẹn. Lúc nào đi qua chốn cũ, thốt nhiên Hoài cũng có những cử chỉ dáo dác, kiếm tìm vài em bé miền quê vừa biết, nhưng chưa quen mặt. Chìm đắm trong sự yên tĩnh như thế không biết bao lâu, thì từ phía sau hông xe, Thu Hoa mở cửa nhảy lên, với năm sáu chiến lợi phẩm đã tịch thu. Thấy bạn, Thu Hoa tươi nét mặt quay qua phía hai người lính trẻ đứng dưới đất, Hoa vui vẻ nói:
- Em xin giới thiệu: đây là Hương Hoài. Cô gái vừa rồi ngâm bài thơ“Tình Nhớ Tha Phương”, mà anh Ðan hỏi: "Ai rứa". Còn đây là anh Văn,anh Ðan, đó Hoàị
Hoài chào hai chàng trai, họ mặc áo trận bạc màu nắng gió khói sương.Bộ quần áo lính bạc phếch thời gian, họ không mang phù hiệu,cấp bậc, huy hiệu. Ai nấy có vẻ dễ nhìn và thanh lịch. Khuôn mặt rắnđanh, bất khuất kiên cường trên bờ chiến tuyến, màu đen trên mái tócngả bụi vàng đường xạ Họ đang hiên ngang đánh chiếm, giành lại, gìn giữ lại từng Ấp Chiến Lược, gò mối, lũy tre, ao làng, ruộng vườn, nhà cửa, dân cư, lính quí từng mảnh đất thân yêu trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật. Quân nhân miềnNam CỘNG HOÀ VIỆT NAM anh dũng và lẫy lừng qua chứng tích đã đạt được,với những trận không tập có cường độ oanh tạc tàn khốc, hữu hiệu, chính xác, kèm với chiến thuật quân sự lẫn chiến lược chiến tranh chính trị. Không cần huân chương, mề đay, họ đã tặng lại cho Thu Hoa, cô ta đem về nộp chiến công đó, làm thành chiến công riêng mình. Ðan đứng chống tay ngang hông, trầm ngâm hút thuốc lá. Vầng trán Ðan cao rộng thiên tài, biểu lộ con người thông minh. Dáng anh ta hiên ngang oai dũng, dưới đôi ống quần còn ướt sũng nước. Ðôi mắt Ðan kháđẹp ẩn dưới hàng mi dày cong vút, anh ta nhìn vu vơ lên giàn hoa thiên lý, rồi nhìn qua hàng bằng lăng tim tím, nhìn hoa bạch đàn nở vàng cây phía trước.Thấy ngón tay tháp bút vàng khói thuốc nơi hai ngón tay, và, không đeo nhẫn của Ðan, Hoài chợt thấy lòng nao nao, trào dâng niềm vui vui lâng lâng nao nao khó tả.Văn cầm xâu chìa khóa tung lên trước mặt, rồi đưa tay đón bắt. Sau đóVăn quay qua vỗ vỗ vào vai bạn thân, trêu đùa:
- Thế nào? Anh bắt tôi cùng lội qua sông Nghĩa Phú, cho bằng được, đểanh... có dịp làm quen, nói chuyện, với người em đồng hương của anh. Bây giờ, đứng trước mặt cô em rồi. Sao anh im lìm như gỗ đá vậy? Anh?Ðan ngẩng nhìn Hoài qua hàng mi cong che nửa giếng mắt u buồn. Nét mặtanh ta trông nghiêng như khắc trên tấm phù điêu, đầy vẻ kiên cường, bất khuất. Môi Ðan thoáng động đường răng trắng bóng, với cái nheo mắt hữu tình nhìn Hoài. Phút định mệnh thật tình cờ đọng lại, qua nụcười Ðan nhã nhặn quá đỗi:
- Ấy... đứng trước giai nhân thì... bao nhiêu dự tính đều tiêu tùng ráo trọi. Có lội qua sông rồi, tôi mới biết là sông sâu, nước lạnh.Khó dò.Bỏ thói độc hành để song hành cùng người mới gặp, Hoài nhẹ nhàng mỉm cười:
- Anh Ðan à! Nguyễn Bá Học nói câu nầy: "Ðường đi khó, không khó vìngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Theo thiển ý của em, thì anh đã vượt thắng sông núi kia rồi. Vì, dưới đôi ống quần còn ướt sũng nước đó. Anh đạt vài ý nguyện. Bằng cách là Hoài đối diện, và đối thoại với anh đây nè.Văn ngửa người ra cười ha hả, vỗ bôm bốp vào vai bạn mấy cái:- Tuyệt cú mèo chưa! Anh mình? Thu Hoa reo lên như tiếng chim. Cô nói:
- Hoài là cô bé cưng dễ thương nè! Nhưng thương không dễ à nha. Cónhiều người trồng cây mơ, cây si, cây mê. Tuy vậy, Hoài còn cô-đơn nhất.- Hai anh đừng nghe Thu Hoa nói xạo, mà bán hết gạo ăn bây giờ.- Ê! Bồ tèo. Trưa nay tui cho bồ nhịn đói à. Văn khoát tay lia liạ:
- Ðừng lo Hoài. Anh hân hạnh mời em qua doanh trại anh dùng cơm. Kể từ hôm naỵThu Hoa chúm hai môi, nguây nguẩy giây lát, nói:
- Hai anh không mời em há?
- Dĩ nhiên anh muốn mời cả em nữa chứ. Do em chỉ lối đưa đường, anhÐan mới có dịp đứng thộn ra, vì... cảm động nè. Màn đấu hót tay đôi giữa, Văn và Hoa nghe vui tai. Mặc bạn ríu rít cười nói trêu ghẹo nhau. Ðan bắt chuyện:
- Em ở Huế, đường nào vậỷ
- Dạ, nay thì ba má em về ở Mỹ Chánh. Các anh chị ở An Cựu, và GiaHội. Còn anh, ở chốn núi rừng hẳn anh nhớ nhà. Buồn lắm nhỉ?- Rồi... quen thôi em. Lâu nay em có về Huế không?- Dạ không anh à. Em ở Ðà Nẵng.
- Anh biết rồịNgạc nhiên, Hoài tròn xoe đôi mắt nhìn Ðan:
- Anh biết... Hoàỉ
- Có gì đâu. Ngày đầu tiên, anh thấy em leo lên đỉnh Núi Thần. Anhnghe bạn nói các em đặt tên núi là “Tê Tê bại bại” gì đó. Anh để ý dòhỏi, thì biết em là cô bé đồng hương. Là cánh hoa rừng biết nói. Một sơn ca. Càng không ngờ em là một hoa hậu dễ bị ngất xĩu nhiều lần,vì... bệnh tim thời đạịThoáng mắt bất ngờ giao nhanh, hai người cùng vui cười hồn nhiên, Hoài nói:
- Hẳn anh nhớ lắm người em áo trắng xa xưa, tóc thề bay trong gió, cặp ôm ngang ngực, mong manh bài thơ trên nón quai thao, tơ vàng óng ánh,xinh lịch, rồi há?
- Thời hoa mộng đó đã trôi qua. Giờ đây, anh chỉ là người lính độchành, lang thang trên ngõ cụt tình yêụ
- Sao vậy anh?- Lính tráng như anh, làm sao có cái nhìn thân mật, ngọt ngào, ấm áphương vị mùa xuân. Hở em? Anh đã đánh mất nửa hồn mình trên nẽo đường bơ vơ, lạc loài tìm kiếm. Thật khó bắt gặp nửa hồn ai đồng điệu, hợp tình hợp ý, thấu hiểu, khoan dung, rất mực yêu thương lính. Anh có đôi lần yêu; duy muốn tìm người bạn đường, phù hợp đã khó. Anh muốn tìm một người bạn đời, càng khó hơn. Em ạ!
- À... ra thế.Tiếng depart đạn súng cối giới hạn tầm bắn vùn vụt xoáy rít, khô khan sắt lạnh bay cao vút trên trời. Bỗng ùm! ùm! ùm!!! Pháo binh nã đạn vềcuối ghềnh. Nghe từ xa, giống như tiếng thủy lôi tàu ngầm nổ rầm rầm. Hoặc như trận mưa giông sấm sét rất lớn. Hay như người ta giật mìn lấy đá trong hầm núịMấy chiếc máy bay vụt qua trên không trung, giây lát sau có những tiếng nổ lớn, làm rung chuyển cả bầu trời, làm nghiêng ngả hàng cây bằng lăng, cây bạch đàn phía trước cành cây gãy lìa. Hai người lính nghiễm nhiên ngước nhìn về mấy đụn khói đen và mỉm cười, họ tiếp tục chuyện trò thân mật. Họ không thấy vẻ mặt ngờ nghệch tái xanh, run rẩy của hai cô bé khờ.Câu chuyện đang hào hứng, bỗng khựng lại đến đấy là chia tay. Ðoàn xe của Hoài lên đường trở về ngọn đồi T T 2. Ðan cùng bạn lội qua sông rộng nước sâu, họ về với làng mạc quạnh hiu ở cuối núi đầu đèo hoang dã. _ * _
Kính mời độc giả xem tiếp chương saụ
Ðôi khi anh chợt gặp mẹ lui hui vào ra chỗ anh nằm. Thấy anh thì cụ vờ như thăm chừng xem anh ăn ở có gọn ghẽ, sạch sẽ chăng. Còn nếu không thì cụ lo sắp sắp xếp xếp đồ đạc anh để bừa bãi ra đó.
Thứ kỷ luật anh học được ở quân trường bị anh để xổng mất từ ngày cam chịu làm người lính thất trận. Quần áo lính phát anh chẳng hiềm đem đi bỏ xó vì anh nghĩ có dấu vứt thì anh cũng không xóa được quá khứ tham gia chiến trận của mình. Bao năm rồi về thăm nhà anh đều nhởn nhơ với bộ quân phục trên thân, anh hãnh diện về đời trai thời chiến, cơ hồ quên luôn những bộ đồ thường phục cũ kỹ.
Không phải anh thích gì đời lính, song đất nước điêu linh lúc nào chẳng là thời cấm trại, những ngày nằm đồn, anh có mấy khi biết đến cái sơ mi hay cái quần dài bao giờ. Lúc nào cũng bộ trây di, nón sất 2 lớp, dây ba chạc, bi đông nước, súng lục, giầy sô, và đêm đêm nằm giao thông hào, phục kích nhiều hơn nằm trong doanh trại.
Hàng xóm, láng giềng, ai cũng rõ mười mươi anh là lính chiến. Bọn nằm vùng lại càng ngắm nghía dò xét anh nhiều hơn, chắc chắn từ nay bọn chúng sẽ lập công để triệt hạ anh dữ tợn. Chỉ tội các bà mẹ chân chất cứ nghĩ rằng cuộc chiến tàn là mọi việc xong xuôi, nên cụ đi nhặt nhạnh những bộ đồ trận của anh định đem vứt. Anh hỏi, cụ bảo : yên hàn rồi, mày còn giữ của quỉ ấy làm gì. Anh quí mẹ, không dám câu mâu, nhưng vẫn phải giải thích để mẹ hiểu : con còn cần dùng chúng, mẹ ạ.
Cụ có vẻ không hài lòng. Cụ trách anh : mày còn định giở quẻ gì nữa đây, đừng dại dột, khổ thân, con ạ. Chưa gì cụ đã muốn sụt sịt khóc, cụ sợ anh liều lĩnh rút vào rừng làm chuyện chi đâu. Anh phải trấn an cụ : mẹ đừng nghĩ oan cho con, sắp tới họ bắt chúng con tập trung, con cần cái món dầy dai này để làm lao động mới xuể, khi nào về, mẹ thu gom vứt cũng vừa.
Lại thêm một lần cụ trách : mày sao lẩn thẩn. Người ta bảo đi độ 1tháng là về, cốt để ai cũng hiểu đường lối, chính sách, rồi lo làm lo ăn, chứ họ nuôi các anh lâu làm gì mà lo lắng không biết. Anh thương mẹ quá, những bà mẹ ai nói cũng dễ tin, nhưng làm sao được vì có bà mẹ Việt Nam nào không mong mỏi như thế đâu.
Ðến hôm trên máy phát thanh kêu gọi trình diện, anh lo gom nhét vào cái ba lô chiếc mùng cá nhân, hai bộ đồ trận, đôi tất nhà binh, cái ca, bi đông, chút lương thực mẹ lo và chút tiền mẹ giúi, thế là đi.
Mẹ anh một hai đòi đưa anh đến tận điểm tập họp, anh cố cười vui để cụ ở lại nhà. Anh thưa thốt : ngày trước, mỗi lần con đi, mẹ chẳng tiễn đưa, mẹ sợ cảnh bịn rịn chia tay. Giờ con đi “ học “, mẹ lo gì mà đòi đến đó. Mẹ yên tâm đi, chỉ 1tháng sau con lại về rồi.
Nói xong, anh chạy đi bay biến, sợ nán lại sẽ làm mẹ buồn thêm. Anh không muốn phá vỡ hi vọng cỏn con nơi mẹ. Khi đã xa khỏi nhà, anh mới khẽ khàng như thưa với mẹ đâu đây : cầu xin con lành lặn về bên mẹ và xin mẹ ráng chờ đợi con, mẹ nhé. Anh bỗng thấy lòng cay cay, mắt cay cay. Ðó là một ngày nắng gắt ụp xuống thành phố chộn rộn.
Người ta chờ đón các anh một cách nhạt nhẽo, chỉ tay vào những lớp học bỏ trống để các anh tự tìm nơi tổ chức cuộc sống sắp tới của mình. Người trình diện đông quá, như vậy anh nhẩm tính là người đi được xem ra không nhiều. Anh nghĩ tới cảnh tranh giành chen lấn ở các bến tàu, sân bay, trên các cao ốc, anh nhớ tới tiếng phành phạch của những cánh quạt trực thăng, gương mặt lầm lì của những tay MP Mỹ cản ngăn người bò leo lên nóc sân thượng, anh lắc đầu cố rũ những nét tang thương vừa bám trong tâm.
Hình ảnh đập mạnh vào óc anh là thái độ của một người đứng ở cổng gật gù mỗi khi các anh bước vào. Hẳn nhiên ông ta thuộc vào trường hợp chiến thắng thì ông ta có quyền muốn làm gì làm, nhưng sự hằn học quá sớm cho anh thấy lời kêu gọi hòa hợp ngay từ phút đầu đã xem ra lỏng lẻo và không thật. Anh biết những ngày sắp tới sẽ còn gặp nhiều cảnh tương tự như vậy, có khi còn nặng nề và đau xót hơn.
Thời gian tập trung kéo dài luôn mấy bữa. Số người trình diện càng lúc càng dầy, thỉnh thoảng lại có vài người bị trói đưa vào, kèm du kích súng ống hung hãn. Hỏi ra mới biết họ bị tổ dân phố bắt nghiến vì nghi là trốn học tập. Có nơi, chỉ mới quá trưa của ngày kêu gội trình diện là các tay lập công đã ùa vào lục soát và áp giải anh em đi ngay. Như vậy đâu có phải là đến để nghe giải thích chủ trương rồi về như họ rêu rao. Tuồng giống như bọn anh là tội phạm phải tập trung ngay, cho dù chưa có một tòa án hay một buổi xét xử nào qui tội các anh như thế.
Sang đến ngày thứ ba thì ùn ùn những tiếng Molotova xình xịch chạy vào sân trường. Mọi người được điểm danh và chỉ lên các xe, chiếc nào đầy là phủ mui bạt chạy tức tốc. Loáng thoáng chỉ nghe tiếng người lao xao dưới đường mà chẳng một ai đoán được mình đang được chở đi đâu.
Xe chạy rất lâu, đến đoạn im im, mọi người kháo nhau đã ra khỏi thành phố và người đoán sẽ đi về miệt Phước Long, Bà Rá, người tin là sẽ đến miệt Long Khánh, Gia Rai. Chỉ đến khi xe trút đám người xuống một khu doanh trại giữa rừng sâu thì mới biết là nơi đến cuối.
Trời về chiều, mọi người được lịnh lấy thực phẩm đem theo ra ăn vì chưa kịp tổ chức việc nấu nướng. Ðây là một doanh trại quân đội bỏ trống, đồ đạc chẳng còn gì, nền nhà cũng đã bị loang lổ, một số cửa nẻo bị tháo gỡ, vách bị lấy đi. Không nói ra, ai cũng biết việc che chắn lại là việc chính họ sẽ làm để ngăn nóng, lạnh, mưa gió cũng như tìm cho họ một chút tiện nghi sơ đẳng.
Trời giữa rừng tối rất nhanh. Ai cũng được lịnh đêm không được tự động bò ra ngoài. Muốn đi, phải hô hoán xin phép và phải có đèn, nếu không bị bắn không thể qui trách nhiệm cho nhóm bảo vệ. Khổ cái, nào ai đoán biết tình trạng của nơi đến thế nào mà cụ bị đèn, diêm, dầu, hay đèn pin, đèn bão. Lại nữa, điện chẳng có, đêm tối thui, lỡ đau bụng thì làm sao đây. Anh em chỉ biết âm thầm thăm dò lẫn nhau, chứ có ai giải thích hộ khoản thắc mắc ở giữa chốn hoàng vắng này.
Chưa gì ngày đầu tiên của việc gọi là đi “ học cho thông rồi về “ xem ra gay go quá thể. Chả rõ còn những gì sẽ tiếp diễn ở mấy ngày kế theo và thời gian sẽ đến bao giờ mới hết. Có ai ngờ ở giữa chốn tối tăm này đã leo heo có lời nhắn nhủ nhau : nghe đâu bọn mình bị lưu giữ ít nhất cũng vài ba năm trở lên là ít. Lời đồn đãi ấy càng lúc càng tăng thêm, lúc khởi thủy dự đoán là 4, thì phút chốc đã thành 6 rồi 8, gây hoang mang nặng trĩu tâm tư nhau.
Chả mấy chốc, vì không sao ngủ nghê được, đám tập trung cứ ngồi lách cách tán gẫu nhau trong bóng tối. Tin về thời gian bị cầm giữ từ đẩu từ đâu lôi ra thông báo cho nhau, kẻ bảo Nga nó giữ hàng chục năm ở Tây Bá Lợi Á, Tàu giữ cả 9 năm, ngoài Bắc sau dạo 9 năm kháng chiến phải cải tạo đến 5 năm, còn bọn mình choảng nhau với họ hàng 20 năm thì bao giờ về.
Tự dưng ai cũng thấy dài dằng dặc. Có người vội thở dài. Anh chợt nhớ đến mẹ mà chép miệng bâng quơ : mẹ ơi, đừng ngóng trông 1 tháng, mong manh lắm. Ðêm càng lúc càng dầy, gió lạnh lùa vào ai nấy đều cảm thấy ơn ớn.
(còn tiếp)
8. (tiếp theo)
Sương tan... Người đàn bà trở mình trên ân cần trao thân. Bóng người đàn ông chèo đò qua đầm sông xa vời vợi. Ðồi cát lan dần theo hoang liêu, quạnh quẻ bờ phi lao. Cơ hồ tiếng gọi từ một nơi rất xa nghe như tiếng gió mùa thổi lộng nỗi hoài mong. Như tiếng thời gian đi mất, chìm xa, bãng lãng bóng con tàu trôi trên dòng sông dậy thì vọng hao tiếng sóng.
Người đàn bà trở về nhà, thẹn thùng bước chân qua giấc mơ và nỗi hạnh phúc của sóng lang thang, xa xôi mà vẫn mãi rạt rào. Hạnh phúc rướn dài qua năm tháng đời người, qua từng bước mộng du ấm ướt vào những sớm mai. Niềm hạnh phúc mong manh mà cần thiết như cảm giác khẽ khàng của cát trôi dài dưới lòng chân đã lay nàng thức dậy. Gió nồng nàn hương muối. Tiếng chim bay lưng trời. Bầy ghe cá đêm khơi trở về. Tiếng người lao xao bến sông. Buổi sáng nở ra thật thà như thân cá bạc còn quẩy mình trong thúng. Nữ vịn tay lên mạn thuyền thô nhám nghĩ về những con cá bị mắc câu vướng lưới ngoài khơi xa giữa đêm trắng lòng ngư phủ. Nàng nghĩ về bầy cá nhỏ quanh quẩn đầm sông mà tội nghiệp cho hạnh phúc nhỏ nhoi tưởng vọng của mình.
Nữ nhớ thương mà biết chẳng thể nào trông. Tuân từ giã nàng đi tuốt xuống vùng sông nước hẻo lánh Cà Mau tiếp tục tìm đường vượt biên. Hơn hai tháng sau ngày Tuân đi Nữ mới nhận được thư anh cùng lúc với giấy báo lãnh quà của chị Nhi. Mừng vui lẫn lộn Nữ rớt nước mắt đọc trang thư khéo viết để qua mắt đám công an bưu chính. Tuân đang sống bình an nơi vùng kinh tế mới ở U Minh Hạ. Nơi xuồng chạy vài giờ trên sông Trẹm mới ra tới chợ có trạm bưu chính nên thơ chẳng đề địa chỉ người gởi. Nữ nhắm mắt mường tượng. Ít ra Tuân đã cho nàng một địa danh nơi chốn để nhớ thương về. Sông Trẹm. Sông Thu. Khoảng cách giữa những dòng sông cũng dài như nỗi nhớ. Thời gian. Chia lìa. Dòng nước lung lay soi bóng người và mịt mờ đâu đó một cửa biển cuối dòng sông nặng lòng châu thổ.
Người đàn bà trao thư thương hại nhìn Nữ lau nước mắt.
- Thư ai vậy cháu ? Gia đình bên đó bình yên chớ?
- Dạ thư của anh Tuân, đang ở Cà Mau. Anh ấy vẫn bình an. Nhưng cháu làm răng mà biết được chuyện chi đã xảy ra từ ngày thư viết tới giờ?
Người đàn bà kéo Nữ ngồi xuống bên mình.
- Cầu mong sao cho cậu ấy ra đi trót lọt bình an. Chẳng biết sao hơn. Trời kêu ai nấy dạ.
Bà chìa tấm giấy báo lãnh quà của mình cho Nữ xem.
- Cháu coi đây. Hai bác cháu mình lại có dịp đi nhận quà một lần. Rất may là mình không phải vô Sài Gòn nữa. Họ bắt đầu cho lãnh ở Ðà Nẵng rồi.
Hai người ra bến xe từ rạng sớm, thế mà chiếc xe đò ì ạch mãi đoạn đường ba mươi cây số hết gần buổi sáng mới ra tới Ðà Nẵng. Thùng quà anh chị gởi cho Nữ chỉ khiêm nhường chiếc máy cassette, một máy chụp hình lạ mắt, vài chiếc quần bò, một số thuốc tây, kẹo bánh, lá thư chị Nhi viết và rất nhiều hình ảnh gởi kèm. Người kiểm soát không hào hứng gì mấy với thùng quà nhỏ bé, hắn hất tay ra hiệu cho nàng.
- Sắp hết vào thùng, khuân nhanh ra ngoài kia đóng thuế, chừa chổ cho người khác vào.
Tối hôm đó Nữ ở lại nhà người bạn của mẹ trong phố. Mọi người quây quần xuýt xoa bên thùng quà lớn vợ chồng anh Mẫn gởi về cho mẹ và gia đình. Từng tấm hình màu rực rỡ chuyền tay nhau trầm trồ khen ngợi. Về lại phòng, Nữ táy máy với chiếc cassette một lúc rồi lạ lẫm ngắm nghía hồi lâu chiếc máy chụp hình lấy liền nàng chưa hề thấy bao giờ. Nàng thích thú lật xem từng tấm hình gia đình. Vui tươi bên chồng con, chị Nhi ngày càng đẹp hơn. Nữ bật cười lúc đọc mấy chữ phân bua của anh Dõng viết về khuôn mặt “bệ vệ” của mình. Hai đứa cháu thì lớn nhanh như thổi. Thằng Bờm với mái tóc bờm dựng đứng kháu khỉnh như một chú ngựa con đang nô đùa với bé Phương trong một công viên có nhiều trẻ con bản xứ tóc óng ánh vàng tơ.
Nữ đọc đi đọc lại bức thư, cố gắng hiểu cho ra mấy câu nhắn tối nghĩa của chị Nhi… “Cháu Bờm rất thích kẹo cao su, em nhớ trao hết cho cháu”. “Thuốc sữa trị bệnh bao tử, em nhớ nhắc mẹ uống cho hết thì mới có công hiệu”. Nữ chăm chú nhìn những bịch kẹo cao su và mấy chai thuốc trên bàn. Cháu Bờm ở bên đó lấy đâu mà trao? Mẹ thì đã qua đời… Nữ mừng rỡ reo lên. Nàng náo nức làm công việc người đi tìm kho tàng. Từng miếng kẹo cao su bọc giấy bạc thơm phức mùi bạc hà được bóc ra. Thuốc sữa đổ hết ra ly chỉ còn vỏ nhựa nhẹ tênh chờ bị cắt đáy. Chú tâm “đào bới” kho tàng cả giờ mới xong. Xấp tiền đô la vuốt thẳng thớm trên tay, Nữ sảng khoái tự thưởng cho mình thỏi kẹo ngát thơm mùi quế. Nàng làm nhẩm bài tính nhân trong đầu rồi giật mình. Con số quá lớn khiến Nữ bồn chồn lo lắng về những việc phải làm sắp tới. Về thăm quê, nhờ cậu Chấn xuống trông coi việc xây lăng mộ cha mẹ cho kịp trước mùa mưa bão. Chuyến đi xa tìm đưa anh Niên về lại nhà. Nữ tự nhủ phải dồn hết nỗ lực tìm cho ra người anh thất lạc.
Buổi tối qua lúc nào không hay. Nữ đứng một mình trong khoảng sáng mờ bên lan can hiên gác nhìn xuống con phố đêm vắng lặng. Dãy mái phố rêu phong giờ đây là những mảng đen lớn nhỏ không đều chồm chống vào nhau thành chuổi kỷ hà nhấp nhô gảy đọng bóng tối. Nữ nhìn theo người mẹ trẻ dẩn con quảy gánh hàng rong về nhà sau một ngày dài vất vã. Bóng hai mẹ con quấn quít bên nhau đi qua dãy nhà cửa đóng im lìm rồi khuất sau khúc đường quanh cuối phố. Bước chân trẻ thơ và tiếng cười hồn nhiên còn vẳng vọng lòng đêm. Nữ nghĩ tới mẹ con chị Vê trên bãi sóng Chân Mây và tiếng cười hạnh phúc của họ quyện trong tiếng rạt rào của biển như đang văng vẳng đâu đây. Chấp hết và sống thương đời…Lòng nàng chợt tần ngần tiếc rẽ về một mong ước trễ tràng. Từng ngày hạ hanh hao trôi qua phả hết nồng nàn vào mùa tình héo trái tương tư. Còn lại bước chân mộng du và đêm mường tượng bao la. Còn lại cát lạnh bờ lưng và những vì sao bất động xa xăm. Còn lại Nữ ngơ ngác buồn.
Vài cánh dơi chấp choáng bay vào khoảng bóng tối mái nhà bên kia đường. Nữ chợt ước ao phải chi giờ phút này nàng đang ngồi trên đò dọc theo dòng sông đêm trở ra cửa biển. Trở về nằm lại trong căn nhà của mình. Nằm lắng nghe tiếng đêm chờ tinh mơ tới, lãng đãng tiếng bầy chim bay bỏ đầm sông.
(còn tiếp)
Lúc giận tôi chửi thề hay ra phết. Thế mà lúc hết giận, một chữ nói cũng không ra. Kỳ ! Tôi chú ý quan sát lúc sắp giận mấy chữ chửi thề nó núp chỗ nào mà cứ ngay đúng lúc giận nó ra kịp xứng đáng dễ sợ. Biết lúc hết giận nó còn trốn kỹ hơn, tôi đâu mắc công tìm chi.
Ai cũng biết cuộc đời là tấm gương. Hồi đó nghe vậy tui cứ suy nghĩ hoài. Theo nghĩa nào chớ ? Ai đối xử với bạn tốt, bạn tốt lại, dĩ nhiên. Nếu bạn được đời đối xử tốt, bạn sẽ ôn tồn hoà nhã lắm. Ai có lỡ mạnh tay, mạnh miệng với bạn chắc bạn cũng chả nỡ để bụng dễ cho qua hơn. Còn như tôi, hai năm vừa rồi, đổi hai người boss, người boss nào cũng chú ý tìm lỗi tôi và moi ra cảnh cáo tôi cho bằng được. Trời, đi làm là để kiếm tiền sinh nhai, không muốn được khen thì thôi, ai muốn cố tình làm sai chi để bị cảnh cáo. Mà có khùng nghĩ người ta làm sai phải cảnh cáo để người ta để ý công chuyện hơn thì cũng vô lý. 100 hồ sơ sai một hồ sơ nghe ra quá công bằng, sai cỡ 10 hồ sơ nhìn cho kỹ lại cũng còn ít, sai cả trăm thì không thể mà đâu phải tháng nào cũng vậy. Ai muốn lên gặp chủ để mà bị sửa chi. Một ngày 24 tiếng, 8 tiếng đi kiếm tiền sống, cho có 8 tiếng ngủ đi, thì tám tiếng còn lại con cái, cơm nước, giặt giũ, giải trí này nọ đủ hông mà bảo người ta không chịu để ý việc làm.
Thật ra thì giờ để làm cái gì tốt hơn không hay hơn sao đi canh người khác khi biết người khác không cố ý.
Tôi thì không hay để ý nhiều nhưng khi bị đối xử quá bất công, tôi bắt đầu để ý thái độ của mình sau giờ làm và thái độ mình đối xử với người khác. Tôi rất đau lòng khi thấy mình bị nhiễm cách cư xử thượng đội hạ đạp đã nhận, không ít thì nhiều. Ra đường ai ngó tui không thân thiện tui sẳn sàng ngó lại không thân thiện thay vì như lúc trước tôi vẫn cười như thường. Ai cố tình không cho tôi qua đường tôi nhìn người ta như quái vật thay vì chỉ đợi đúng lúc không xe mới đi qua. Thì đúng rồi, sinh ra làm người chứ làm thánh đâu mà cái xấu được miễn dịch.
Ðau lòng thật bạn ạ. Vậy mà người ta vẫn làm với nhau mỗi ngày trong sở tôi. Người ta vẫn thích hạch hỏi tôi này nọ cho dù mới đưa giấy khen tôi làm việc chăm chỉ và công bằng ngày hôm qua từ lời khen của một người khách.
Ủa tôi là ai chính tôi còn không nhận ra.
Cuộc đời trớ trêu vậy đó bạn. Tôi không dám làm khổ ai mà cái khổ còn đeo quanh ...
Bạn cẩn thận nhé.
Bây giờ trời đã vào hè. Nắng lên như vầng hào quang trên cành cây kẻ lá linh động hóa sinh vật thiên nhiên. Hè mà, người ta đổ xô ra phơi nắng, hứng gió núi rừng biển cả, lặn hụp trong nước mát mà Tạo hóa đã ban. Khấm khá hơn, du lịch cho thoả chí bình sinh, phỉ tình non nước. Quê hương xa hơn phần tư trái đất, mình cũng chu du qua ba miền đất nước bằng nỗi nhớ đong đưa vời vợi, hình ảnh sâu lắng chập chờn nuối tiếc khôn nguôi.
Vẫn biết nhớ nhung chỉ làm lòng người thêm ray rức nhưng đó cũng là tiềm lực thôi thúc bảo tồn. Chân muốn đi mà lòng vẫn ngại ngờ, bụng bảo dạ quên đi mà óc tim chẳng nở. Hầu dung hòa hai con đường ngược chiều quên quên nhớ nhớ ấy, nên nghiêng nhẹ sang Ðông hay thử rẽ lối qua Tây, thẳng lên Bắc hay vượt ngược xuống Nam thăm thẳm, chỉ có Trời cao mới biết rõ ngách ngõ ngọn nguồn.
Nhớ quả là thứ hương thơm gần thì nồng nặc làm ta choáng váng, ngộp thở, thẩn thờ. Thoang thoảng, xa xa, nhẹ nhàng, thắm thiết. Nhớ là kiểu tẩm quất massage đau đau mà giảm đở gây thần trí đê mê, óc tưởng tượng choàng vào hồn ta chiếc áo quàng kỷ niệm lắng sâu trong lớp bụi thời gian chồng chất.
Có sợi nhớ tất có chỉ thương giây ghét tuy mỏng manh tinh vi mà bền chắc vô cùng. Sợi tình cảm nào cũng thật khó lường, tự biến hóa sinh sôi nẩy nở. Không khéo đưa óc tim ta vào mê hồn trận, tiến thối lưỡng nan trước bước đường cùng.
Nhớ là một cách luyện tinh trí não, bộ óc con người kỳ diệu tuyệt vời. Âu cũng lằ lối làm vệ sinh kỳ cọ dũa mài phủi sơn đánh bóng, đánh thức gợi dậy cảm quan, phát giác kinh nghiệm hằn sâu trong tận cùng tâm não. Nhớ làm ta thức tỉnh giật mình, thao thức đăm chiêu, mộng mơ tiếc nuối, càng muốn quên hóa ra thêm nhớ.
Nhớ chiếc diều con đang bay lượn trên nền trời vương vướng bóng mây, tùy cơn gió tung tăng lên xuống. Tự do thay chiếc diều vô tri ấy, trong khoảng thời gian ngắn ngủi đã thoát khỏi sức hút của địa cầu, nhởn nhơ trước đôi mắt thán phục của thế nhân. Nhớ như cơn gió mát trong nắng hè gay gắt thoảng qua trên bộ ván gõ còn đẩm mồ hôi, đu đưa chiếc võng kẽo kẹt văng vẳng tiếng à ơi ầu ơ ru con của mẹ. Kỳ diệu thay nỗi nhớ, đối với ta như bóng với hình, bóng khi khuất ẩn tan chỉ có hình xuất hiện. Thủ thỉ, thì thầm mở ngõ, kinh nghiệm tích lũy quả là viên gạch bàn đạp cho tầm phóng đến ngày sau.
Nhìn những chiếc quần jean đúng thời trang, chỗ bạc màu, nơi được khoét xé dọc ngang tua sợi, sao mà thương bà mẹ nghèo ngày xưa quần áo vá nhiều phen, những trẻ em co ro trong chiếc chiếu manh tả tơi trên vỉa hè, xó ga, góc chợ. Trời âm u làm ta liên tưởng đến mưa Ngâu chia rẽ Ngưu lang Chức Nữ. Kỷ niệm đây, quá khứ đấy, thời gian qua đi mà sao ta cứ nhìn lại phía sau. Nhớ là cái chi chi mà lắm lúc như là mệnh lệnh khắt khe ta đành bó tay không tài nào xua cưỡng dược.
Nhớ phải chăng là nơi tựa nương khuyến khích, nâng đỡ ta trong cơn hụt hỏng túng quẫn tình đời, an ủi khyên lơn, thúc giục, ’ôn cố tri tân’ soi rọi ngách nguồn. Có những đêm chợt choàng tỉnh giấc, tia sáng vừa loé lên rồi phụt tắt làm ta ngẩn ngơ tiếc nuối như ngươi leo núi vừa tới mức hẹn đỉnh cao mà tuột giốc bất ngờ.
Nhớ còn là cơn mộng mị, ác mộng bâng khuâng, ray rứt cồn cào triền miên làm ta biếng ăn mất ngủ, hối hận dày vò. Ngược lại cũng là hương thơm thoang thoảng thoát tục biến khóe môi Mona Lisa nhẹ kéo góc hai bên trong bức tranh bất hủ La Joconde của họa sĩ kỳ tài Léonard de Vinci Ý quốc. Nhớ là gì gì mà chi phối đời người quá quắt, tùy tính khí cường độ như sóng ngầm chi phối biển cả đại dương.
Một câu nói bâng quơ, tiếng đàn réo rắt, con chim sẻ đậu trên cành trúc, bướm ong vờn lượn quanh hoa, đôi mắt mơ huyền, giọt mưa trên lá,...trong tíc tắc có thể gây bao biến chuyển tâm tư. Nhớ như trong ván cờ ta chợt tìm ra thế đánh, tia chớp trong đêm gây bàng hoàng , đê mê, vỡ mộng. Nhớ là tiếng đàn dạo nhạc chơi vơi du hồn mình vào võng mây ký ức len lỏi theo lối cũ đường xưa tìm lại bản chất của tâm tư.
Cũng có thể ngọn sóng thần Tsunami rút đi rồi ập tràn bất chợt biến đổi hãi hùng, thần tốc. Dân tộc ta dòng giống Rồng Tiên , 50 lên non, 50 xuống biển, nước ta bao lơn dài rộng nhìn ra đại dương lồng lộng, sống theo ảnh hưởng của gió mùa, thủy triều, hệ thống sông ngòi. Trận lũ lụt kinh hoàng nầy làm liên tưởng đến các trận bảo hằng năm ở nước ta, nhớ để biết tiên liệu đừng để nước ‘tới trôn mới nhảy’.
Từ thung lũng nhớ, bao tia hào quang tâm tư được phóng lên đủ đầy màu sắc, tầm phóng bạt ngàn, thiên hình vạn trạng. Ðó chẳng khác chi tia pháo bông trong ngày lễ hội. Có lúc muốn quên đi lại là tăng tốc độ nhớ, khi bất thần cần nhớ lại chẳng thấy tăm hơi.
Có những kỷ niệm vùi sâu chỉ mình ta biết, tưởng đâu là được khóa chặt trong tim. Có những gương mặt mà mình dù có muốn quên vẫn vấn vương chập chờn hiện rõ Thế mà chỉ cần một bóng thoáng qua, một bước chân ngập ngừng, một dáng dấp phỏng chừng, một cái nhìn hờ hững, một nụ cười lấp lửng cũng đủ là mồi lửa cho hứng nhớ cháy phừng.
Rồi những lúc bâng khuâng lần về dĩ vãng tìm lại một vần thơ cũ, một câu nói bâng quơ, bức óc nghĩ suy mà không tài nào tìm ra manh mối. Giận mình sao ngu tối cũng chẳng nặn được chữ nằo. Nhớ như người xa lạ dửng dưng thờ ơ nhởn nhơ trước nỗi bất lực của thế nhân và cũng là kẻ độc tài tự cho mình quyền uy tối thượng ban bố hoặc khước từ. Tiếng Eureka minh chứng hùng hồn nhất vì ngay cả thần đồng, bác học danh nhân, ai cũng không thoát khỏi việc đi tìm nước Cam lồ huyền diệu nầy.
‘’Nhớ đấy, đừng quên’’câu kinh nhật tụng của người liên hệ với người, câu nói đầu môi chót lưỡi. Mẹ dặn con, thầy dặn trò và trong tình yêu còn ngọt ngào sươt mướt hơn. Vì thế tội đãng trí cũng khó dung khi quên cuộc hẹn hò thân mật.
Giận, hờn, ghen cũng phát xuất từ lò nung nỗi nhớ, đó có phải là chất chàm chất lượng tối cao nhuộm đỏ thâm đen khó gỡ khó chùi. Tay đau chặt đứt được chứ cái tâm tình đó không dễ cắt, khó chữa khó chừa. Ðặt dấu ấn đâu là suốt cuộc đời không xóa được. Có mòn tưởng tiêu tan rồi rực sáng, bất ngờ chợt đến chợt đi. Không ai thoát khỏi con đường quên quên nhớ nhớ ấy. Tùy mức độ sâu thẳm phát sinh bao mũi tên tình cảm khó lường. Một cử chỉ vô tình nào đó có thể làm gãy đổ gia đình, chỉ vì không quên nên bao chuyện tình đẹp thủy chung kết thúc có hậu. Vậy nhớ là cái chi chi mà ta mãi chi chi với nhớ ?
Không biết có phải nhớ để trong đầu, thương ghét để trong tim không vì khoảng cách nầy tuy xa mà gần, tuy nhỏ mà to. Có những nỗi nhớ bâng quơ làm ta biếng ăn mất ngủ, có những nỗi nhớ ngọt ngào đưa ta lịm vào giấc mơ hoang. Ta phí bao thời gian để tìm căn nguyên sợi giây vô hình ấy, lắm lúc trở thành thi sĩ, triết gia lúc nào không biết không hay tự suy, tự diễn. Vừa thấy sao xẹt sao rơi, ta liên tưởng đến huyền thoại ngày nào nghe kể, ước mơ sẽ thành hiện thực nếu thực hiện được ngay trong khoảnh khắc bất ngờ.
Khám phá cơn sóng thần Tsunami tượng trưng uy vũ của thiên nhiên, người vượt biển mới kiểm nghiệm mình quả là có phúc. Bao kỷ niệm dồn về đong đầy ký ức mới nhận chân số mạng do Trời.
Trẻ nhỏ đồng quê ngày xưa thường gọi nhau ơi ới, mang theo giây để buộc khi nhìn thấy vòi rồng trên nền trời đen nghịt. Ở nước chưa tân tiến mà đã muốn trở thành chuyên viên săn con trốt (tornadojager), để rồi chạy đến mỏi chân mà vòi rồng vẫn biền biệt xa vời. Sau đó cơn mưa trùm xuông, ướt như chuột lột, tắm mưa là cái thú của tuổi trẻ mọi thời. Sao mà nhớ tiếng ếch kêu ‘ uệch oạc’, tiêng ‘huênh hoang’ của ảnh ương, tiếng nghiến răng của
‘Con cóc là cậu Ông Trời,
‘Ai mà trêu cậu là Trời đánh cho’
‘Hạt mưa mưa rơi tí tách’ trên bờ đất trượt trơn, thương bác nông phu bám chặt ruộng đồng dầm sương trải gió. Nhớ những chiếc vợt bằng vải thô buộc ở đầu cây tre dài chọc thủng tổ kiến vàng trên cành cây so đũa, những cần vó đong đưa trên kinh rạch xanh um cành bần đầy bầy tổ ong, đom đóm.
Làm sao quên được những thay đổi hình hài cùng những cơn đau từng hồi oằn oại của các bà mẹ lúc gần sanh vì Chúa Trời phạt bà Ê và đã quên lời cấm, dụ A dong ăn trái táo.
Nhớ những buổi chiều tan học vội tránh mưa bên phố vắng, hai xe đạp cận kề, hai đôi mắt chạm nhau lần đầu, ngại ngùng chưa quen thế mà sao hồi hộp bâng khuâng. Có những điều tầm thường vô lý chẳng tài nào hiểu được, mà hiểu để làm chi vì có bao giờ ta hiểu nổi được đâu?
Nhưng thật ra vô phúc cho những ai không còn bộ nhớ, sợ nhớ vì đó là tâm trạng chơi vơi sắp đi đến đoạn đường cùng.. Và phúc cho những ai còn biết dò đường tìm về quá khứ, phủi nhẹ lớp bụi thời gian, lần giở trong kho tàng ký ức kỷ niệm lắng đọng, sợi nhớ sợi thương cuộn ràng vết tích biến thành chỉ tơ hồng thảm lót dìu bước hướng tương lai.
Về đến nhà, tôi dựng chiếc xe đạp ở đầu hiên ngồi nghỉ mệt. Ðột nhiên, con Lài hối hả bước vào nhà, nét mặt nhăn nhó. Nó không hỏi han gì, đi thẳng vào giường kéo mền trùm kín mít. Thấy chuyện lạ, tôi hỏi :
- Con bệnh hả Lài ?
Không có tiếng trả lời, tôi bước đến giường ngồi xuống cạnh con gái :
- Con có điều gì sao không nói cho mẹ nghe ?
Hỏi xong, tôi lách mền nhìn nó, con Lài phản ứng kéo mền kín lại :
- Con không sao cả. Con hơi mệt. Con muốn nằm nghỉ một chút thôi.
- Con đi đâu từ chiều hôm qua đến nay? Suốt đêm mẹ sốt ruột không ngủ được.
- Ði chơi với mấy nhỏ bạn, tụi nó rủ đi Saigon.
- Mẹ biết con không tiền. Tiền đâu con đi. Con cứ bỏ học chừng nào mới ra nghề được ? Có đi phải nói cho mẹ biết.
Con Lài nằm im không trả lời. Dáng nó co quắp trong chiếc mền len phủ kín. Nhà nghèo, mười bốn tuổi đầu con tôi phải bỏ học vì không tiền đóng góp cho nhà trường nhiều thứ, đành phải đi học cắt may ở một tiệm may ngoài chợ Huyện. Tôi mong con gái tôi có một nghề trong tay để không phải như tôi cả đời lận đận làm thuê, buôn gánh bán bưng.
Tôi dằn lòng không được, kéo chiếc mền để nhìn mặt con. Mặt con Lài đỏ lừ lừ. Tôi nghĩ nó đang bị sốt. Trán nó nóng hầm, lấm tấm mồ hôi. Nó đang mệt, hơi thở không bình thường. Tôi hốt hoảng ôm chầm lấy con, dỗ dành :
- Con làm sao vậy hả Lài ? Có gì con nói cho mẹ nghe.
Ðột nhiên con Lài hỏi lại :
- Việc con làm, nếu con hỏi mẹ, mẹ trả lời được không ? Mẹ cũng từng nói, đời mẹ cũng đã một vài lần gì rồi đó.
Nghe con gái nói có vẻ khác thường, tôi hoảng sợ lo lắng một điều gì không ổn. Tôi vỗ về ngọt dịu :
- Con dấu mẹ điều gì ? Con không thể nói cho mẹ nghe ? Con đang bị sốt đó Lài. Hay là...
Tôi không nói hết suy nghĩ, dường như cổ họng nghẹn cứng ! Lài hiểu ý, nó nhìn tôi cười gượng :
- Mẹ !...con đã lỡ rồi !....như mẹ ngày trưóc vậỵ..mẹ đừng trách con nhé.
Tôi trố mắt nhìn con Lài. Nó nói tiếp :
- Mẹ chớ mắng chửi con. Con là đứa con nông nổi khờ dại. Mẹ...mẹ à, con đi Saigon để hút thai mẹ ạ. Con có thai đã hai tháng. Con hút chứ không nạo.
Ðiều con gái tôi vừa nói, tôi đã đoán gần đúng trước khi nó thú nhận.Tôi không giận, trách móc con. Tôi càng thương con tôi nhiều hơn. Dường như đó là hậu quả vốn đã như thế, cũng vì nghèo.
Cha mẹ tôi nghèo lắm. Ðã nghèo rớt mồng tơi mà con cái lại đông. Tôi là người chị cả của tám đứa em. Gia đình ở nhà quê không một mảnh đất cắm dùi. Từng ngày, cha mẹ đầu tắt mặt tối tất bật làm thuê gánh mướn từ sáng tinh sương đến nửa đêm để có cơm cháo cho mười một miệng ăn. Hôm nào mùa màng thất bát không ai thuê mướn, cả nhà nhịn đói dài dài. Cha mẹ nhịn để cho con cái ăn. Ðứa lớn nhịn để cho đứa nhỏ ăn. Mười một tuổi đầu, tôi mới được cắp sách đến trường. Mỗi ngày học một buổi, nghỉ một buổi, chữ được chữ mất thất thường. Có tuần lễ không đi học trọn. Tôi đang như người mẹ trách nhiệm quán xuyến gia đình, chăm sóc đàn em thay cha mẹ bươn chải bên ngoài. Thỉnh thoảng rảnh rỗi tôi lăn xả ra ngoài làm mướn để phụ giúp thêm miếng ăn trong gia đình cùng cha mẹ tôi. Công việc gì vừa sức là tôi làm, không từ nan. Nhổ cỏ lúa. Cắt rau dưới ruộng nước. Chăm sóc heo gà. Hái ớt, hái cà tại các rẫy nương. Ði gánh nước thuê cho bà con hàng xóm. Tuổi mới mười hai, mười ba tôi đã bị người lớn manh tâm dụ dỗ cưỡng hiếp nhiều lần đến rạc người để họ cho tôi gạo, ngô khoai, thực phẩm mang về gia đình. Qua nhiều lần như thế, trong người ê ẩm, đau đớn tôi lo sợ mình mang thai, quyết định chừa không dám tái diễn, thế mà cứ bị lôi cuốn. Tôi cố dấu cha mẹ mọi chuyện, sợ đòn roi. Cuộc sống va chạm với đời quá sớm đã cho tôi một nhẫn nại chịu đựng và lớn hẳn lên.
Mẹ tôi có học chút ít, chữ viết dễ nhìn và làm được bốn phép tính rành rẽ. Mặc dầu lam lũ lao động sớm nắng chiều mưa, mẹ cũng còn nét mơn mỡn của người đàn bà đang tuổi hồi xuân. Nhờ đó, mẹ xin được một chân kế toán thủ kho tại một công ty xây dựng trong Huyện. Ðược công việc làm trong mát, nhẹ nhàng thư thả, đồng lương khiêm tốn, mẹ mỗi ngày trông nõn nà ra, cả nhà mừng cho mẹ tôi bớt vất vả cực nhọc tấm thân.
Ðiều đáng nói và thật khổ tâm thời gian sau đó, mẹ tôi đã đi lại thân mật với ông trưởng phòng vật liệu của công ty. Hai người đang có sự quan hệ mà người ngoài nhìn vào không mấy tốt đẹp. Ông ta là người giàu có, lại có chút thế lực trong cơ quan nhà nước. Ông ấy thường xuyên cho mẹ tôi nhiều tiền và quà cáp. Thỉnh thoảng ông ấy và mẹ tôi có những chuyến đi công tác chung về tỉnh hay Saigon, đôi khi kéo dài cả tuần lễ, có lúc đến nửa tháng.
Tôi, lúc này cũng đã mười lăm, mười sáu tuổi đầu, có chút hiểu biết khôn ngoan và nhận định phải trái. Tôi cho việc mẹ quan hệ với người đàn ông kia là sai trái, bất chính không những với cha tôi mà còn với đàn con dại. Tôi có suy nghĩ ông ấy đã chiếm được mẹ tôi trong vòng tay ông ta, và cha tôi đang mất người vợ thân yêu của mình.
Cha tôi nào hay biết gì chuyện ấy và cứ ngỡ rằng mẹ tôi vì công tác nhà nước phải xa nhà, cho là chuyện hợp tình hợp lý, chẳng có gì phải bận tâm. Suốt ngày ông quần quật làm kiếm tiền nuôi vợ con, tối khuya về mệt, ăn xong ba hột là ngã lăn ra ngủ như chết để sáng thức dậy sớm tiếp tục trả nợ áo cơm. Khi có điều gì lấn cấn giữa cha mẹ, mẹ tôi giải thích trôi chảy, nên ông không có gì thắc mắc.
Ðối với tôi, nhìn đàn em khờ dại, và thương xót cha nên tôi đã nảy sinh những bất bình với mẹ. Ðôi lần tôi đã nói thẳng với mẹ là thà chúng con húp cháo, ăn khoai củ mà sống để không nhìn thấy mẹ đang đi lại quan hệ bất chính với người ta. Mẹ tôi hùng hổ quát tháo ầm nhà :
- Mẹ nuôi con lớn, để con dạy đời mẹ đấy hả ? Mẹ có làm như thế cũng vì gia đình mình nghèo khổ đói rách con biết chứ ? Mẹ cứu vớt gia đình, chẳng có gì là xấu.
A ! thì ra mẹ viện dẫn sự nghèo đói trong gia đình để được làm điều đó, đem đồng tiền bẩn về nuôi con nuôi chồng. Tôi tuyệt đối không chấp nhận lý do đó của bà. Nên giữa hai mẹ con đang có sự căng thẳng từng ngày trong gia đình.
Thời gian sau tôi rất buồn và uất ức nhìn thấy cha tôi ngày xanh xao gầy ốm. Có lẽ ông lao động nặng nhọc bị kiệt sức và trong lòng thầm đau khổ điều gì đó không nói ra được. Tôi chất vấn mẹ nhiều vấn đề và đề nghị mẹ tôi xin thôi việc, ở nhà coi sóc gia đình con cái. Tôi tìm việc làm phụ giúp gia đình thay cho mẹ. Chỉ chờ như vậy, bà không nói không rằng đánh tôi một trận suýt chết và hốt mớ quần áo rách của tôi ném ra đường. Mẹ tôi gầm lên đe tôi :
- Mày cút khỏi nhà, nếu bước vào tao giết mày ngay. Tám chín đứa con, có mất một cũng không sao. Nhà nghèo mày biết chớ. Tao không làm như vậy mấy năm nay cả nhà đói rục xương mày không biết à ?
Tôi nghĩ đã đến lúc tôi nên rời khỏi nhà để mẹ tôi phải trở lại gia đình mà lo con cái, để ba tôi có lại được người vợ toàn vẹn và cũng để cái hạnh phúc bèo bọt kia của bà có cơ chấm dứt. Nếu phải lấy chồng, sinh con, tôi hãy giữ lòng, chớ thả lỏng rồi cũng mẹ nào con nấy cũng chưa biết chừng. Nghĩ được như thế, nhưng bản thân tôi cũng đã nhem nhuốc vết nhơ do những người lớn bất nhân tạo nên.
Lặn lội tìm đến xứ khác thật xa để xoa dịu bớt mặc cảm vây hãm, tôi ở nhờ ở đậu nhà người dưng. Chẳng bao lâu tôi có chồng và sinh hai đứa con. Vợ chồng không cưới hỏi, gặp nhau là xáp vào sống với nhau, chỉ mong có chỗ nương tựa bên nhau và cũng vì đời con gái của tôi cũng chẳng còn tốt lành gì cho lắm để mà lựa chọn. Nghèo cũng vẫn là nghèo, nghèo trơ nghèo trấc. Nghèo có căn, có gốc rễ, có truyền thống. Nghe nhà nước hô hào ầm ỉ xóa đói giảm nghèo, nhưng chẳng thấy mốc xì gì, họ nói láo để được nói láo, nói để có chuyện nói, gạt dân, mị dân. Sống trong cái xã hội đảo điên hôm nay, con người trở nên điên đảo, cứ mạnh được yếu thua, người bóc lột người không khoan nhượng, không bác ái nhân hậu. Mặc dầu đã thống nhất đất nước từ lâu, người dân vẫn nghèo đói, bệnh tật, lạc hậu. Chồng làm vợ làm quần quật, tháo mồ hôi sôi nước mắt không nuôi nổi bốn miệng ăn ngày hai bửa, nói chi đến tấm áo manh quần cho lành lặn. Ngẫm nghĩ rồi lại thương cha, thương mẹ cũng đã trong hoàn cảnh chẳng khác gì vợ chồng tôi. Làm thì chỉ làm thuê làm mướn ngày có ngày không làm sao cất đầu lên nổi, ai cũng như ai. Thật là trần ai. Ðời sống ai ai cũng thế, đói nhiều hơn được no. Vợ chồng bàn nhau tính tới tính lui tìm phương kế. Cuối cùng chỉ còn cách xin đăng ký đi lao động nước ngoài do nhà nước đang hô hào, chủ trương mới may ra cứu vãn tình thế. Ði Ðài loan là chắc ăn nhất. Mọi người dân đang đổ xô ào ạt về hướng đó. Phong trào đi lao động nước ngoài rầm rộ từ Nam ra Bắc. Nghĩ được rồi lại lo tiền. Tiền đóng cho nhà nước. Phải đóng một khoản tiền lớn cho nhà nước để thế chân. Thêm những khoản tiền linh tinh khác mà họ tùy tiện qui định. Tiền đút lót hối lộ qua nhiều cửa ải quan quyền. Tiền qủy tiền ma dọc đường. Còn khoản tiền lớn nạp cho công ty dịch vụ lo hồ sơ, điều hành, tìm việc, phân phối từ trong nước ra nước ngoài. Ðồng tiền đi trước mọi chuyện là thế. Ngất ngư, ngộp thở, quay mòng mòng người dân đen. Ðã nghèo, thiếu cơm thiếu áo, chạy đâu rạVợ chồng hộc tốc chạy vay mượn với một đồng vốn ba đồng lời. Những nhà giàu có thế lực đổ tiền ra cho vay ngồi mát ăn bát vàng. Làm giấy cam kết qua đó gởi về trả. Ði chừng vài năm theo hợp đồng, rồi về. Nếu thuận buồm xuôi gió tốt lành mọi đàng thì may ra có của ăn của để giảm bớt cái nghèo.
Ðến việc ai đi ai ở. Một người đi, một người phải ở nhà lo cho con. Nhường qua, nhường lại không ai muốn đi. Dằn co cả tuần lễ, cuối cùng tôi phải đi. Ông chồng gà mờ khù khờ nhút nhát quá chẳng được tích sự gì. Tôi lo "sứ mệnh" đổi đời sau khi học tiếng Ðài một tháng để biết vài câu thông thường.
Mọi việc tiến hành cho chuyến đi sắp kết quả tôi lại có thai đứa con thứ ba. Thật là rủi ro cho tôi. Cái thai chưa được hai tháng tôi đành phải đi nạo. Phải nạo, phải hút, không thể chần chờ một giây nào được. Tiền vay nợ của người ta, tôi đã đem nạp hết các nơi. Giấy tờ, và cơ hội đi đang gần kề. Các chủ nợ đang nhìn vào mình để chờ trả nợ. Ði vì đang cần chén cơm manh áo của bốn mạng người. Vì cái nghèo truyền kiếp đã ăn sâu tận gốc rể, tôi đành cam tâm hủy diệt bào thai máu me ruột thịt của tôi. Tôi mang ác cảm tội lỗi khủng khiếp, bởi lương tâm dằn vặt suốt thời gian dài sau đó. Tôi chỉ vì tiền, vì nghèo đói thường trực, không vì danh lợi phú quí để hưởng thụ. Tôi đâu muốn làm giàu.
Sau khi nạo thai, tôi mất sức phải xin nán lại hai tuần lễ để hồi sức. Ngày rời khỏi nước lòng tôi quặn thắt nhìn hai đứa con và ông chồng khù khờ bơ vơ nhỏ nhoi trong cuộc sống bần cùng trước mắt. Tôi nén lòng và giữ vững tinh thần để đối mặt những khó khăn xa lạ phía trước.
Bước xuống phi trường xa lạ nào đó ở Ðài Loan tôi chới với mất đà như đang lạc trong rừng sâu và choáng ngợp trước cảnh phồn hoa ở xứ người. Nếu không có số người hướng dẫn cùng số chị em đồng cảnh ngộ đi chung, có lẽ tôi bỏ cuộc. Họ chở chúng tôi đến một dãy nhà có rất nhiều phòng riêng biệt. Mỗi người được ở riêng một phòng. Phòng rất hẹp vừa kê đủ chiếc giường một người nằm với một bàn nhỏ. Tôi có bụng mừng và nghĩ rằng có thể tôi được tạm trú trong căn phòng nhỏ này để sau đó sẽ được phân phối đi lao động theo lời hứa hẹn rất xôm tụ, hấp dẫn của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam và của công ty dịch vụ tại quê nhà.
Nhưng những suy nghĩ tốt đã bị tắt ngấm ngay trong đêm đầu tiên mới đến. Tôi và số chị em cùng đi chung chuyến đã bị cưỡng bức hãm hiếp tơi bời từng giờ suốt đêm bởi những tên đàn ông mà chính họ đã đưa đón chúng tôi lúc chiều tại phi trường với một số đàn ông xa lạ nào khác. Từng tên luân phiên hãm hiếp tôi liên tục không ngừng. Việt có, Tàu có, già trẻ đều có. Chống cự là ăn đòn nhừ tử. Tứ cố vô thân, không hiểu luật pháp, không biết đường xá, không biết nơi đâu là nơi đâu, không biết kêu cứu vào ai. Tôi đành chấp nhận buông xuôi nằm đó để chúng dày xéo thể xác tôi tơi bời không thương tiếc, và tôi nghĩ rằng tôi không còn gì nữa của giá trị làm người trong cuộc sống.
Ban ngày chúng cho ăn uống, tắm rửa, làm vệ sinh cá nhân. Tất cả chúng tôi được chúng canh giữ, không được tiếp xúc. Ban đêm nằm trong phòng chịu đựng từng tên tiếp tục hãm hiếp rồi đi. Có những tên đàn ông đến một lần rồi không thấy đến nữa. Có nhiều tên lạ mặt. Dường như chúng rũ rê thêm bạn bè, người quen đến để hưởng thụ trên thể xác rã rời của tôi và số chị em cùng đi chung chuyến. Có tên sau khi cưỡng hiếp tôi, tỏ lòng nhân đạo cho tôi tiền. Lần đầu tiên, cầm nắm đồng tiền nhơ bẩn trong tay trên xứ Ðài, tôi lại nghĩ về mẹ tôi. Tôi uất nghẹn kêu to, có đúng là mẹ nào con nấy, mẹ sao con vậy ! Tôi cảm thấy thương mẹ vô cùng. Tội cho mẹ. Tội cho bản thân tôi.
Tất cả chúng tôi và còn rất nhiều người đàn bà Việt Nam khác đang chịu những thảm cảnh đau xót đó. Chúng buộc chúng tôi phải chấp nhận như thế gọi là thủ tục ban đầu để chờ đợi một công việc làm ổn định. Qui luật là biết vậy. Muốn sống phải phục tùng. Muốn có việc làm phải vâng lời triệt để. Ai ai cũng đều như thế, nhưng nào có ai dám hé môi kể lại cho người khác nghe khi trốn được về nước. Thảm thương lắm ! Nhục nhã lắm ! Ðâu dám nói ra. Lạy Trời Ðất, mười phương tám hướng linh thiêng, xin dành cho con một phương để con còn về với chồng con đang đói nghèo ở quê nhà..
Qua hai tuần lễ thể xác rã rời, bọn chúng chuyển tất cả chúng tôi đến một địa điểm khác rất xa. Tôi nào có biết nơi nào là noi nào, và cũng chẳng cần biết để làm gì. Tôi đang bị hãm hại trong tay của bọn gian manh từ Việt Nam và sang cả đây. Người dân đang bị đối xử tồi tệ, nhưng nào thấy ai dòm ngó can thiệp. Một người được đưa ra nước ngoài không còn tính vào dân số hiện hửu của quốc gia.
Ðến địa điểm mới, tôi tiếp tục bị hãm hiếp với một lũ đàn ông khác dữ tợn, hung hăng hơn. Cơ thể tôi lúc này ê chề nhớp nhúa như một khối bùn đen hôi hám trong vũng lầy nước tù.
Lũ người thỏa mãn thú tính thấp hèn tiếp tục chuyển tôi cùng số người nữa đến bán cho một nhà chứa, ép tôi đi khách và chúng bảo rằng đó là công việc làm ổn định, ráng mà làm để kiếm tiền. Tôi lại phải chịu đựng cho bọn ma cô nhà chứa hãm hiếp tôi thêm một lần nữa mà chúng gọi là dằn mặt và ra mắt chúng. Không còn gì, giấc mơ đã lỡ cuộc, tôi chấp nhận nỗi nghiệt ngã đau đớn để bước tới, để được sống còn có ngày gặp mặt chồng con. Bây giờ tôi không còn lo sợ những điều bất hạnh xảy ra. Tôi cố gắng chịu đựng và phấn đãu để đạt mục đích dự tính. Dù sao tại nhà chứa hằng ngày cũng có được tiền cho dù ít ỏi. Cố gắng làm bất cứ việc gì để có tiền rồi trốn thoát, tìm đường về xứ. Ðem cái "ngàn vàng" để cứu mạng sống mình và gia đình thật là khốn nạn cho thân tôi !
Một lần nữa tôi lại có thai trong bao nhiêu lần bị cưỡng hiếp. Bằng mọi cách tôi phải trục cái thai quái ác đó. Một phần máu thịt của tôi lại sắp bị hủy diệt. Tôi chấp nhận tội lỗi. Lần phá thai này tôi ngã bệnh nặng và nhờ một người bạn đồng cảnh ngộ thương xót đưa tôi về nhà riêng chăm sóc. Ba tháng sau tôi mới hồi phục sức khoẻ. Tiền bạc dành dụm được đã hết sạch. Bọn gian manh vô lại đã bỏ rơi tôi trên xứ người khi thân tàn ma dại. Tôi bơ vơ giữa dòng đời nghiệt ngã, tứ cố vô thân. Tôi đang sống bất hợp pháp trên đất Ðài Loan xa xôi mù mịt. Tôi tìm mọi cách làm kiếm tiền không từ nan một điều gì. Ðĩ điếm. Cờ bạc. Hầu bàn. Chuốt rượu. Khỏa thân trình diễn trong các quán rượu. Rửa chén. Giặt quần áọ..để kiếm tiền. Tôi đã sành các loại rượu, bia. Tôi biết hút điếu thuốc này đến điếu khác cho vừa lòng khách. Tôi đang nghĩ cần phải làm những điều bất hợp pháp, càng vi phạm luật càng dễ bị bắt, bị ở tù và được trục xuất về nưóc.
Có những lúc tôi lại cảm thấy nhớ cảnh bị áp bức cưỡng hiếp, lại còn thèm khát được tái diễn. Tôi nghĩ đó là quả báo để có được hậu quả khốn nạn ấy. Nhiều lúc nghĩ thấy thương hại cho chính họ và chính bản thân mình. Tôi không ân hận việc làm của tôi. Tôi không thù ghét những kẻ đã hãm hiếp, đánh đập tôi. Nhà nghèo, những bào thai vô tội đã bị hũy diệt oan nghiệt cho tôi hậu quả, tôi chấp nhận mà không oán trách. Tôi nghĩ đến chồng con, có những lúc thật gần trong tình yêu thương để tôi ôm ấp, có lúc thật xa ngoài tầm tay.
Tôi trở về nước sau ba năm sống đọa đày tại Ðài Loan. Tôi bị bắt trong cuộc bố ráp sòng bạc lớn. Họ giam giữ và trục xuất tôi vì những thành tích bất hảo. Chính đó là cơ may tôi đang trông đợi. Một lần trót tay, tôi cảm thấy run sợ kế hoạch xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Không được gì, còn mất trắng và nhục nhã đối với người dân nghèo như tôi.
Về đến quê nhà, tôi trốn lánh mọi người kể cả cha mẹ các em, dòng họ. Tôi mang mặc cảm tội lỗi xấu hổ và nhục nhã. Tôi tìm cách liên lạc chồng con đưa nhau đến một nơi khác thật xa lập nghiệp. Tiền bạc kiếm được tôi phải trả dứt nợ vay lúc ra đi. Tay trắng hoàn tay trắng. Những năm sau vì buồn phiền nhiều cho chuyến đi lao động nước ngoài của tôi, chồng tôi qua đời sau cơn bạo bệnh không tiền chạy thuốc. Thằng con trai lớn bị nhà nước bắt đi nghĩa vụ quân sự rồi mất xác ở biên giới.
Tôi lại tiếp tục sống góa bụa với đứa con gái côi cút trong nghèo đói không còn cơ may chuyển đổi. Lắm lúc tủi thân và buồn, nhớ gia đình, tôi lại cố gắng liên lạc với cha mẹ, các em, nhưng chẳng ai hơn gì mình trong xã hội đầy bất công, nghèo đói và đảo điên này. Hằng ngày trên chiếc xe đạp đi rong khắp nẽo đường tôi bán thuốc lá lẻ và vé số để mưu sinh. Tôi gắng nuôi và chăn giữ con Lài để nó không phải như tôi. Nhưng không tránh khỏi con tôi đang buớc vào con đường mà tôi đã trải qua.
Nhìn con, lòng tôi se thắt. Nó còn quá trẻ và khờ dại. Ngày trước ở lứa tuổi nó tôi đã có những suy nghĩ và nhận xét đúng sai nên đã bất bình với mẹ trong cuộc sống tình cảm không đứng đắn của mẹ để cho tình mẹ con phân ly.
Bây giờ đến lượt con gái của tôi mới mười sáu tuổi đầu đã khởi sự sa chân vào vũng lầy. Tôi ôm con vào lòng. Cơ thể nó nóng ran. Tôi sẽ phải lo thuốc men cho nó theo sự hiểu biết của tôi đã trải qua. Tôi vuốt mái tóc con, âu yếm hỏi :
- Sao con dối mẹ đi làm chuyện không tốt. Con nói cho mẹ biết đứa nào đã ăn nằm với con.
Con Lài bật khóc :
- Con đã dối mẹ lâu rồi. Chuyện thật con có quen với một ngưòi đàn ông lớn tuổi. Ông ấy thấy con thiếu thốn nên thường cho con nhiều tiền và quần áo. Còn cho con đồng hồ đeo tay nữa. Ông ấy dụ con đến nhà nhiều lần và hiếp con đến có thai. Con sợ khóc lóc, nên ổng cho tiền hối thúc con đi phá cái thai đó.
Tôi sững sốt :
- Trời ! Con ham tiền để người ta dụ dỗ. Con nói cho mẹ biết ông ấy là ai, ở đâu ?
Con Lài ngưng khóc, chậm nước mắt, trả lời tỉnh bơ :
- Mẹ cũng chẳng cần biết ông ta để làm gì. Con cũng ghét ông ta lắm rồi. Ghét thì có ghét, nhưng con vẫn thích ông ta, vì ông ta có nhiều tiền mà mẹ.
Tôi không ngờ con tôi lại trả lời như thế, cũng chỉ vì nghèo. Vì nghèo nên con tôi bị người ta dụ dỗ để hãm hiếp. Vì nghèo đói tả tơi ngày xưa, tôi cũng bị người ta dụ dỗ hãm hiếp để có được thực phẩm mang về nuôi gia đình, và mẹ tôi cũng thế. Ðã biết như thế, muốn tránh cũng không tránh khỏi. Trách ai bây giờ ? Nói gì với con mình trong hoàn cảnh hôm nay ? Nhưng tôi vẫn cố khuyên con :
- Con nói thế không được. Bản thân con quan trọng hơn, con biết chứ ! Con phải gìn giữ bản thân. Việc như thế con đi dấu mẹ, không nói cho mẹ biết để mẹ giúp con.
Con Lài không chú ý lời tôi nói, lại bô bô trong suy nghĩ của nó :
- Ông ấy thương con lắm mẹ ơi, dự tính dẫn con lên Saigon giúp con kiếm chồng Ðại hàn đó mẹ. Ông ấy bảo lấy chồng Ðại hàn có nhiều tiền, sung sướng thích lắm. Mai mốt rồi con sẽ đem tiền về giúp gia đình mình không còn phải nghèo đói như thế này. Chồng Ðại hàn giàu hơn chồng Ðài loan mẹ ạ.
Nghe con Lài nói, tôi như đang bị lên cơn sốt, ớn lạnh và nhức nhối. Con gái tôi đang bắt đầu rơi vào vũng lầy hôi hám, nhục nhã mà tôi đã gồng hết sức mình để chui ra. Trong nỗi lo ấy, tôi lại hỏi dọ nó :
- Con thích lấy chồng Ðại hàn lắm phải không ? Ðừng mơ điều ấy. Mẹ không chấp nhận con lấy chồng nước ngoài. Mình nghèo thì chịu thôi, lấy chồng xứ mình để mẹ con mình gần bên nhau, mẹ không mất con. Ðến xứ người con sẽ nhục nhã gian khổ trăm bề có thể nguy hiểm tính mạng mà trăm người trăm nói.
Con Lài gân cổ cố cãi :
- Ai nói mẹ như thế ? Chính bạn bè cả ông ấy nói không giống mẹ chút nào. Gia đình mình nghèo mà mẹ. Người ta giàu nhờ lấy chồng nước ngoài, mẹ không thấy sao ?
- Con chỉ nghe chứ chưa thấy tận mắt. Họ thổi phồng để dễ dàng trục lợi. Xã hội hôm nay đảo điên hết cả rồi con ơi ! Thực tế không như con đã nghe. Lấy chồng Ðại hàn, Hồng kông, Ðài loan. Miên, Lèọ...gì đó đều bị chúng cưỡng bách bề hội đồng tình dục và còn hành hạ như một đứa ở đợ. Khi chán chê họ tống cổ con vào các động mãi dâm bán để lấy tiền. Hoặc tốt số sẽ lấy những ông già cọp rọp, những tên đui què mẻ sứt, bất lực, nghèo đói, ngu dốt...chứ đâu phải người giàu có tốt lành gì đâu con. Mẹ khuyên con bỏ ý định đó, lo học nghề rồi lấy chồng trong xứ mình mà làm ăn, mẹ con có bên nhau.
Con Lài gặn hỏi :
- Hồi trước mẹ nói mẹ cũng đã thất bại ở Ðài loan phải hôn ?
Ðột nhiên con Lài cắc cớ hỏi làm tôi cứng họng cảm thấy ngượng mặt với nó. Tôi đã dấu kín những điều của tôi làm ngày trước, vậy mà nó cũng biết được. Tôi chối :
- Hồi ấy mẹ đi lao động do nhà nước đưa đi con ạ.
Con Lài thở dài, than :
- Nhà mình nghèo quá, con cũng đã lớn, quần áo không có mặc thua sút bạn bè, đi xe đạp cà tàng, đạp ê ẩm cả người, không có đồng hồ, nhẫn vàng để đeọ...chỉ bao nhiêu đó thôi mẹ lo nổi cho con không ?
Tôi hứa chắc với con để nó yên tâm :
- Mẹ sẽ lo cho con. Con đừng dại nghe lời thiên hạ. Con sẽ bị hãm hiếp, rồi bị bán vào các động mãi dâm, đời con sẽ tàn tạ con ạ !
Con Lài nhắc lại ý kiến của nó vừa rồi :
- Ông ấy và bạn bè không nói như mẹ nói đâu. Mọi thứ họ nói đều hấp dẫn nghe mà ham. Nếu con làm con sẽ không thất vọng như mẹ nói. Chuyện có thai rồi phá thai là bình thường, đâu có gì mất mát. Miễn sao có tiền, tiền và tiền...nhà nghèo phải cần tiền... không còn cách nào khác. Mẹ cũng thế, và ngoại trước đây cũng chẳng khác nào.
Tôi không ngờ con Lài đang nói lên đúng ý nghĩ mà mẹ tôi đã nói ngày trước. Mẹ nào con nấy, bà nào cháu nấy, đúng là một vòng lẩn quẩn không thể xóa được. Tôi lại hứa với con gái để khuyên nó :
- Bằng mọi cách mẹ sẽ lo cho con. Ðiều duy nhất mẹ khuyên con nên nghe lời mẹ. Những điều con đã nghe không có gì tốt lành như con đã nghe và suy nghĩ.
Con Lài nhìn tôi mũm mĩm cười có ý như không tin tưởng nổi vào điều hứa hẹn của tôi. Tôi thông cảm và bao dung việc con gái tôi đã làm như tôi đã tha thứ việc làm của tôi, lòng thì cứ lo lo.
Bẳng đi một thời gian ngắn tôi luôn theo sát việc đi đứng và sinh hoạt của con tôi. Thấy chưa có điều gì khác thường, tôi có phần an tâm.
Ðột nhiên, hai ngày nay con Lài vắng mặt. Tôi bấn lên đi tìm kiếm hỏi han nhiều nơi. Tôi lục lạo trong quần áo, vật dụng của con và đã bắt gặp lá thư của con tôi để lại.
"Thưa mẹ,
"Con xin lỗi mẹ. Mẹ tha thứ cho con. Con xin tạm biệt mẹ để con đi lấy chồng Ðại hàn như con đã quyết định. Con hẹn mẹ năm sau con sẽ về và mang tiền về cho mẹ để gia đình mình không còn nghèo khổ. Vì gia đình mình nghèo, con đành phải làm, chứ con đâu có muốn. Mẹ đừng la rầy con. Con thương mẹ. Lài.
Tôi không hốt hoảng khi đọc hết những dòng chữ con tôi viết để lại. Tôi biết vấn đề sẽ phải xảy đến không sớm thì muộn dù tôi luôn quan tâm. Cái nghèo là một vấn nạn ám ảnh bao gia đình giữa một đất nước nghèo đói tụt hậu không còn cách nào để xoay chuyển. Ðời đảo điên đã nhồi nặn nên chiếc bẩy khổng lồ làm tan nát và hoen ố người phụ nữ Việt Nam dưới nhiều hình thức bằng những mỹ từ hết sức hấp dẫn.
Tôi đành bất lực và chỉ cầu xin ơn Trên ban cho con gái tôi sự bình an, để một ngày nào đó tôi còn được gặp lại con tôị(Trích từ : http://maylangdu-vnfl.blogspot.com)
Cô hàng cà phê có đôi mắt đẹp. Quán cô thoai thoải bên sườn đồi. Mái lá mát rượi soi bóng xuống hồ nước xanh trong. Cả mắt cô nàng và hồ nước đều trong veo. Các chàng trai đến uống nước nhìn mắt cô là lảng tránh nhìn xuống hồ. Các cụ già nhìn xuống hồ là vội vã nhìn vào mắt cô. Có một sự tương đồng gì đó, mà mỗi độ tuổi phải hiểu theo một phách. Chẳng biết sao lại thế?
Những con chim trời bay ngang, nghiêng ngó trông xuống hồ, thấy bóng mình dưới đó, hét lên những lời khoe khoang rằng mình đẹp. Những con sóc núi, rụt rè thò mõm xuống hồ uống nước, có khi phải giật thót mình, bởi không hiểu ai lại ghê rợn, mắt mũi láo liên hiện ra trong mặt nước thế kia. Chiều cao nguyên thường se se lạnh. Những dải sương mờ là đà trên mặt hồ, cũng nhìn xuống hồ, nhưng chúng dửng dưng. Chúng lạnh như băng.
Ðã có quá nhiều anh chàng nhìn vào mắt cô hàng cà phê như vậy. Nhìn vào mắt cô để thấy mình đẹp. Nhìn vào mắt cô để thấy mình sợ. Nhìn vào mắt cô để thấy dửng dưng.
Thế nên, cái anh chàng dửng dưng nhiều nhất là anh chàng cô hàng cà phê căm ghét nhất.
Tiếc thay, anh ta lại lịch lãm. Anh đến vào buổi chiều, lúc lớp sương đang là đà, dửng dưng bay lên mặt hồ. Anh dửng dưng quan sát hết cả, từ phong cảnh, từ mái lá che quán, từ cô hàng cà phê rồi dửng dưng phác vài nét ký họa vào tờ giấy. Ngày nào anh cũng hí hoáy. Ngày nào anh cũng lui cui. Có khi ly cà phê quên cả uống, nước đá tan hết. Cái ly thành dung dịch màu nâu đen, thâm thẫm như tóc anh. Thế mà anh vẫn gọi tính tiền. Thế mà cô hàng cà phê ngún nguẩy không thèm lấy tiền. Rõ rồi, anh ấy điên điên làm sao ấy!
Nhưng anh ta có vẽ cái gì không? Hay giả vờ, làm bộ làm tịch thế thôi?
Cô chờ mai anh đến, buổi chiều, nhưng không thấy anh. Vẫn những anh chàng nhìn vào mắt cô rồi lảng xuống hồ. Vẫn những cụ già nhìn xuống hồ rồi trông vào mắt cô. Nhưng không có anh!
Lại chiêu nữa rồi! Cô nghĩ. Những anh chàng làm bộ dửng dưng, làm bộ vẽ vẽ viết viết sẽ làm cô tò mò, làm cô để ý. Chừng đó, anh chàng sẽ lấy cớ vắng mặt ít hôm cho cô chờ, cô mong, cô thắc mắc chứ gì? Ðây hổng thèm đâu nhé! Ðây đi guốc trong bụng các anh nát ngấu trong ấy rồi. Ruột gan các anh phòi ra hơ hớ mà định gạt ai? Ðây hổng thèm đâu!
Sáng hôm sau, anh xuất hiện, lúc lớp sương mờ trên mặt hồ còn đặc quánh hơn buổi chiều hôm. Quán đông khách. Các câu chuyện lao xao vút lên mái lá, vượt qua đám sương. Khói thuốc lá ngập ngụa trong quán, quấn quít dưới mái lá còn ấm sương đêm. Ðám khói tần ngần trước khi chúng nhập vào màn sương ngoài kia.
Cô nàng chạy tíu tít. Bưng trà, bưng nước, bưng thuốc lá cho khách, cô vẫn không quên liếc xéo vào góc quán nơi có anh chàng dửng dưng nhìn xuyên qua lớp sương mờ trên mặt hồ. Vẫn như mọi khi, tay anh loáng thoáng vẽ trên tờ giấy trắng đặt trước mặt, trên bàn, cạnh ly cà phê sắp tan nước đá. Cô hàng nghĩ bụng: thì không phải cái trò vắng mặt ít hôm để toan tính chuyện bao đồng; thì lại vẽ, lại ký họa gì kìa; thì thẫn thờ nhìn ai chứ không nhìn cô. Nhắc lại, đây không thèm đâu nhé!
Rồi anh ngoắc cô trong lúc cô đang lăng xăng.
- Anh bảo gì? Tính tiền hả? Hai ngàn. Chỉ ly cà phê thôi phải không anh? Hai ngàn.
- Cô biết chèo thuyền không? Anh trả lời vô duyên, không dính dáng gì tới lời cô nói.
- Làm gì hả anh?
- Cô chở tôi đi. Tôi định vẽ cô trên hồ, qua màn sương…
- Lúc này hả?
- Ừ, lúc này…
- Trời ơi. Anh không thấy khách đông ì ì sao? Sao anh không đợi chiều? Lúc đó cũng có màn sương mờ trên mặt hồ…
- Cô hẹn chiều hở? Thế cũng được. Thì chiều. Ờ nhỉ, lúc này quán đông khách…
Rồi anh đi ra khỏi quán.
Cô hàng cà phê sững sờ trông theo. Mình vừa nói cái gì như ma ám vậy trời? Mình hẹn hắn chiều xuống bơi thuyền trong màn sương, chở hắn đi vẽ. Ai biểu mình hẹn hắn kỳ cục vậy? Cô hít một hơi dài, rảo mắt lướt nhìn khắp lượt quanh quán. Những ánh mắt khép nép nhảy ùm xuống hồ. Những ánh mắt bình thản thu về từ hồ và ném lên cô. Cô hít một hơi nữa. Ðây không thèm đâu nhé! Tưởng dễ ăn hả? Chiều nay cô sẽ giao quán cho mẹ. Chiều nay cô xuống phố chợ giả vờ mua áo mới, giả vờ đi uốn tóc. Anh cứ tới đây buổi chiều rồi ngồi đồng cho biết thân.
Buổi chiều. Những chiếc lá vàng đuổi nhau loăn xoăn quấn chân cô dưới triền dốc của phố chợ. Những làn gió nhuộm màu biếc của chiều và màu đục của hơi lạnh phả từ núi xuống. Cô đang gò lưng đạp xe lên triền dốc thoai thoải. Ðầu cô láng máng hình ảnh anh chàng ngẩn ngơ ngồi ngắm mặt hồ mà không trông thấy cô. Chỉ có con thuyền cô độc dục dặc sợi dây cột vào lan can quán… Cô định cười thì trông thấy anh. Anh đang đứng trong cái quán cà phê bên phải cô. Thấp thoáng sau những tảng đá đen nhưng nhức trang trí cho những thảm cỏ xanh nhung, những cái bàn cà phê bằng đá, lì lì, cũng bằng đá đen. Anh đang đứng cạnh bên một cô gái mặc áo hở vai, đang ngồi. Anh vuốt tóc cô gái rồi lùi ra xa. Cô kịp nhìn ra cái giá vẽ đặt khuất trong góc thông ba lá lừng lững, với lớp vỏ cây nhám xì như da cá sấu. Cô gái đang làm mẫu cho anh vẽ. Tự nhiên cô thở phào. Tự nhiên cô lùi xuống một chút, chỗ bụi dứa gai, như sợ anh trông thấy.
Vậy mà cô nghĩ anh đang ngồi ngẩn ngơ trong cái quán ngập sương chiều bên hồ nước trong veo để chờ cô! Vậy mà cô phải trốn anh, chạy từ nhà xuống phố chợ, rồi giờ cô đứng đây, như thể đi rình rập người ta! Cô cắn chặt răng lại. Cô bực bội với túm lá vàng đang theo gió lào xào dưới chân cô. Cô thấy gió biếc hơn lúc nãy. Cô thấy hơi lạnh từ núi phả xuống đục hơn lúc nãy. Mình đang làm sao vậy? Bụi dứa dại khoát khoát những cánh tay đầy gai góc của nó, như không biết phải trả lời cô như thế nào cho phải.
Ðôi mắt đẹp của cô bỗng lóe sáng. Cô bước đến chỗ anh. Chân cô hơi khuỵu đi vì đồi cỏ xanh nhung kia dốc hơn cô tưởng. Từ gốc thông ba lá, nhìn cô qua giá vẽ, anh cười.
- Ồ, tôi còn nợ tiền cà phê của cô ư?
Cô nhìn anh, cái nhìn thẳng, như muốn đâm xuyên vào màn sương mờ dửng dưng.
- Sao anh bảo chiều nay bơi thuyền, vẽ trên hồ?
Câu trả lời cũng như túm lá thông nhọn nhọn đâm vào da thịt cô.
- Giờ này cô còn đứng đây… làm sao vẽ trên hồ được?
*** *** ***
Hơn mười năm sao đó, tại một thành phố lớn, cô hàng cà phê đứng ngắm trong một gallery, một chuỗi những bức tranh “Khói và sương”. Loáng thoáng khói sương trên mặt hồ là bờ vai trần của ai đó, mềm như nước, trải trên nền núi đá cứng cỏi như sự vô tình. Những cánh chim bay bồi hồi như một nỗi nhớ nhung. Hình như trong tranh có một tiếng chim thảng thốt. Chúng làm chao nghiêng những đám mây nhuốm sắc tía phía xa xa. Một bức khác vẽ đồi cỏ lố nhố những đá đen trên triền đồi. Người vẽ tiếp cận những sợi cỏ tua tủa đâm từ đất lên nền trời xanh. Cỏ vương sương khói như tóc ai dài vướng vào răng chiếc lược ngà, bay rũ lả lơi, như mời, như gọi. Bàn tay vuốt tóc khuất sau tảng đá đen. Bụi dứa gai góc khứa vào khói, vào sương những vết cắt. Bụi dứa dại hay những chùm lá thông ba lá nhìn gần? Lại như có giận dỗi trong đó. Những chiếc lá vàng gió cuốn bay là là dưới thấp mà không ngoảnh nhìn nhau lấy một cái.
Không gian mát lạnh của gallery khiến cô bâng khuâng. Hơi lạnh phả ra từ máy này có biêng biếc, có đùng đục như hơi lạnh thốc ra từ đỉnh núi không? Cô nhìn bức tranh thứ ba cùng với thẫn thờ. Khuôn mặt ai mờ trong sương. Chắc là mặt con gái. Bàn cà phê hiện diện một phần, phía dưới tranh, bên ly cà phê nước đá đã tan. Cô muốn khóc, mắt nằng nặng. Chắc mình tô mascara đậm quá đó thôi. Cô liếc sang bức khác. Hồ vắng. Một chiếc thuyền đơn độc cột vào cái lan can gỗ. Nó dục dặc một mình. Cảm giác sợi dây cột thuyền khi ẩn khi hiện như muốn tháo, muốn bứt ra sau màn sương. Có phải vậy không hay những cơn gió núi đang tạo sóng dưới thân thuyền? Tranh đề tựa “Cô độc”. Cô bất giác nhìn quanh. Không thấy anh. Mọi người bước chậm. Những tia mắt ném ra rồi thu về. Những khuôn mặt sáng lên rồi sầm tối. Người ta nén tiếng ồn lại để thinh lặng xem tranh.
Cô nhìn đồng hồ. Sắp đến giờ ra sân bay. Chiều nay cô sẽ quá cảnh ở Séoul. Chắc hai mươi bốn tiếng sau, tính từ chiều nay, cô sẽ có mặt ở Mỹ. Anh chồng Việt kiều của cô chắc cũng đang ngả ngớn với thằng bạn, nốc bia free duty trong sân bay. Không biết anh có chờ cô không? Thường thì không. Trong đời ít ai chờ đợi cô. Cô thở dài. No one is waiting for me! Cô giật mình trước bức tranh có tựa đề đó. Chẳng ai chờ đợi tôi! Cô cắn môi. Cô có chờ anh không, cái anh chàng họa sĩ phong trần dạo nào? Cái anh sinh viên mỹ thuật nghèo rớt mồng tơi mà kiêu hãnh ra phết ấy… Cô nhìn bức tranh “No one…” Hai chiếc lá một đã rơi rồi dưới màn sương, một đang rơi xuyên qua lớp sương như đang tìm kiếm chiếc lá kia. Lá màu xanh chứ không vàng. Sương màu biêng biếc chứ không trắng. Một cảnh lờ mờ mà rõ, nếu cô đưa mắt tới gần, nhìn vào gân lá. Có quá nhiều gân lá tủa ra như dấu hỏi.
Cô ra xe, chiếc xe sẽ chạy về hướng sân bay. Bức “No one is waiting for me!” ra xe theo cô. Mẩu đối thoại giữa cô và cô nàng bán hàng trong gallery lãng đãng gõ nhịp trong đầu cô.
- Anh họa sĩ này… có số điện thoại không cô?
Cô gái bán tranh phóng tia nhìn lướt dài trên người cô, từ đầu đến chân, từ chân đến đầu. Tia nhìn ngập ngừng đậu lại trong mắt cô một thoáng rồi quét vãi ra xa.
- Ồ, thưa chị, anh Ðình Việt này gàn lắm. Bỏ cái name card chỗ tụi em ảnh cũng không làm. Sếp em là bạn ảnh, chắc biết số điện thoại…
- Thôi khỏi. Tôi lấy cái name card của gallery đây cũng được. Chẳng qua… chẳng qua tôi tò mò thôi.
- Ảnh tắt máy tối ngày, nhất là khi sáng tác. (Vậy mà cô ta bảo không có số của Ðình Việt!) Ðã lăn vô xưởng vẽ rồi là chết mê, chết mệt. Ai gọi cũng không được. Ly cà phê có khi tan thành nước luôn cũng không hay… (Cô ta không điện được nhưng cô ta tới xưởng được!)
- Ðình Việt bán được nhiều tranh không cô?
- Ðược chị ạ. Toàn tranh về sương khói. Lâu lâu ảnh đi cao nguyên một lần là lôi về một đống khói sương. Nào chùm tranh “Sương mai”, “Lòng sương”, “Gió sương”, “Hỏi sương có thấy…”, bây giờ là “Sương khói” đó chị? Chị mua về Mỹ phải không? Ðể em gói tranh cho kỹ để chị đi máy bay…
- Ðình Việt có vợ chưa cô?
- Gàn thế mà chịu lấy ai chị à! (Ðáng lý là không ai chịu lấy mới phải chứ cô!)
Tia mắt cô ta phát ra rọi vào cô rồi vội vã thu về, quét xuống sàn gạch. Cô hàng cà phê bật cười, cứ tưởng tượng mặt bàn là mặt hồ nước năm xưa. Về bên kia, bức tranh “No one…” này cũng sẽ trông xuống mặt hồ…
Cô hàng cà phê ngã người trên băng ghế nệm. Khe khẽ nhắm mắt, cô nhè nhẹ lẩm bẩm “No one is waiting for me”.
… Những loạt tranh của Ðình Việt… “Lâu lâu ảnh đi cao nguyên…”, “Sương mai”… “Gió sương”… “Hỏi sương có thấy…” “Sương khói”.
… No one is waiting for me!...
Cô hàng cà phê tên Sương.
Ðoản văn xuôi
Nghe em nói Sàigòn mấy ngày nay mưa rơi xối xả. Nước ngập cả đường. Nghe em nói mà thương, xắn quần lội nước. Xe chết máy không chạy được, phải đẩy vào lề. Anh nhớ ngày xưa Sàigòn hoa lệ. Tiếng tăm lẫy lừng hòn ngọc viễn Ðông. Anh không ngờ như không Sàigòn đổi chủ, đường phố đổi tên. Rác rưởi lềnh bềnh khi mùa mưa trút xuống. Ðường phố thành sông. Anh nghe mà đau cả lòng, nhớ ngày xưa đâu có !
Sàigòn bỏ ngỏ. Quân giặc tràn vào. Ðồng bào phải lầm than khi đời đổi mới. Vì sống không nổi trong khu “kinh tế mới”. Hàng vạn người bỏ nước ra đi, không mang theo chút gì, ngoài tấm lòng muốn tự do, hạnh phúc và không muốn sống trên quê hương mình mà chịu nhục, lòn cúi những người tự xưng mình “đỉnh cao trí tuệ”.
Em hởi! Trời Sàigòn còn mưa không em? Nhiều năm xa xứ anh còn thèm trái xoài, trái ổi. Lâu rồi, anh vẫn nhớ một buổi chiều mưa tan học về ra vườn tìm trái chin và anh vẫn nhớ, mưa đồng quê mát rượi, cây cỏ xanh tươi, ruộng vườn vàng bông, đơm trái. Chớ không phải Sàigòn ngày nay nước tràn đường lầy lội, rác rưởi bồng bềnh. Người dân sống trên lề đường tưởng mình trôi trên biển. Trông về hai đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà lòng xót xa, nay đã lọt vào tay kẻ thù truyền kiếp của đồng bào ta.
Bao năm anh xa nhà, nhưng lòng anh vẫn còn đậm đà tình quê hương, dân tộc. Nhiều đêm anh bật khóc vì nghĩ đến quê hương mình còn trong cảnh điêu linh tang tóc.
Cho anh xin, gởi về quê hương mình lời này tạ tội vì chưa làm được những gì lợi ích cho quê nhà và đồng bào ta.
Với lòng mong mỏi thiết tha: Quê hương mình và Sàigòn không còn mây đen, mưa dầm nữa.
Trích tập truyện: Mưa quê ta, nắng xứ người.
GA, tháng Sáu 2009
Ðậu vào một trường học ở Saigon, tôi rời quê lên thành phố nhập học. Không có bà con thân thuộc khi xa nhà nên tôi rất mừng khi được ba tôi dẫn đến giới thiệu trong gia đình một người anh kết nghĩa và cũng là đồng hương của ba tôi. Gia đình bác ấy cho nhiều người bà con ở trọ và toàn thanh niên trai trẻ nên rất vui. Vì vậy, chiều chủ nhật nào tôi cũng ghé qua nhà bác chơi. Trong nhà bác ấy có hai người con đang học trung học nên tôi nhận luôn trách nhiệm làm gia sư. Ôi chao người ta nói nhất quỷ nhỉ ma thứ ba học trò quả là không sai. Cả một năm học thứ nhất, những tối chủ nhật của tôi chẳng bao giờ bình yên vì hai cô học trò của mình. Con nhỏ em thì lúc nào cũng bắt bí tôi đủ thứ chuyện, con bé lớn lại làm tôi luôn dè chừng khi cô bé luôn nhìn tôi bằng ánh mắt mơ mộng. Cũng may là cuộc đời tôi đã không kịp xảy ra chuyện tình gia sư như người ta hay đồn thổi vì có sự xuất hiện của nàng…
Tôi còn nhớ rõ tối chủ nhật năm đó tôi sang nhà bác tôi chơi. Trong bữa cơm tối gia đình xuất hiện một cô bé lạ mặt đang phụ gia đình làm cơm. Bản tính tò mò khiến tôi cứ ngó nghiêng cô nàng liên tục nhưng hình như cái con người ấy dường như chẳng hề biết có một thằng con trai đang dòm cô ta chằm chặp. Cũng may bác gái tôi tinh ý nên đã cho phép cô gái ngồi chơi với tôi trong phòng khách sau giờ cơm tối. Cái cô nàng này thật kỳ lạ, mở miệng ra là một tiếng dạ một tiếng thưa làm tôi ái ngại quá. Tôi quen với cái cảnh bọn con gái trong trường học của tôi cả năm này rồị.khi mà người chưa thấy đâu đã nghe nhà cửa oang oang tiếng nói cười. Còn cái cô này cũng là dân sinh viên trường danh tiếng ở đất Sài thành mà miệng mồm im như thóc vậy nhỉ. Lạ quá đi thôi! Mà có lẽ tại số tôi trót ham thích của lạ nên cuộc đời tôi như vậy chăng…
Chính sự tò mò của một thằng con trai mới lớn ấy khiến tôi bỗng dưng trở thành vị khách thường xuyên trong gia đình người bác đồng hương. Tôi luôn tìm được cái cớ để xin phép lên phòng cô nàng. Lúc thì em nó cần giải bài tập toán, lúc thì em nó cần giải bài vật lý học...tôi luôn có lý do của một người gia sư! Còn bác tôi thì ôi thôi ..cảm động vô ngần vì sự chỉ bảo tận tình của tôi với hai người con gái của mình. Nếu mà bác ấy biết được, tôi chỉ lên nhà trên để có dịp ngồi ngắm cái cô gái kỳ lạ đó giữa chốn đô thành thì chắc là tiêu tôi từ lâu rồi. Hôm nay cũng như lệ thường, chào hỏi người lớn trong nhà xong, tôi lại tìm cách lên nhà trên nhưng bác gái nói rằng con gái bác không biết tôi qua nên đã đi chơi rồi, chỉ còn cô cháu gái ở nhà. Mặt mày tiu ngỉu, tôi giả lả nói với bác là tôi lên chào cô cháu gái của bác ấy một tiếng rồi về…Và cho đến bây giờ có lẽ tôi vẫn chưa quên cảm giác chân nọ xọ chân kia khi chạy lên cầu thang trong buổi chiều ấy…để rồi tôi đã chết đứng khi đến cửa phòng nàng. Trong căn phòng có một người con gái với mái tóc dài chấm bờ vai đang ngồi đánh đàn. Những ngón tay nàng lướt nhẹ trên 16 sợi dây của cây đàn tranh tạo ra một thứ âm thanh tuyệt vời nhất mà tôi từng nghe từ trước đến nay. Thứ thanh âm ấy đã làm cho tôi xao xuyến và cuốn hút tôi lạc bước vô thế giới thần tiên của nàng...Thứ âm thanh ấy làm cho cuộc đời tôi bước vào một ngõ cụt định mệnh kể từ sau buổi chiều hôm ấy…
Thằng này nó bị bùa yêu rồi! Mấy thằng bạn trong lớp tôi nhìn cái bản mặt của tôi rồi phán vậy. Mà nó yêu ai nhỉ? Con nhỏ Hồng lớp mình hay con nhỏ Trúc lớp bên vậy? Thằng bạn cùng phòng với tôi được bọn nam sinh trong lớp giao cho nhiệm vụ điều tra cô nàng nào đã lấy đi cái miệng láu táu nhất của lớp. Tôi càng im lặng, chúng nó càng tò mò càng gặn hỏi lung tung. Cho đến một tối thứ sáu nọ, cả ký túc xá bỗng huyên náo với tiếng huýt sáo, tiếng gõ nồi xoong, tiếng la ó ồn ào náo nhiệt. Âm thanh đó có nghĩa là một con nai tơ nào đó đang lạc vào chốn rừng hoang. Vì ký túc xá đa số là nam sinh nên mỗi lần có bất cứ đứa con gái nào lạc vô chốn này thì coi như là đi tong. Dân yếu bóng vía mà lạc lối vô ký túc xá trường tôi thì chỉ có nước khóc ròng. Vì vậy, khi nghe âm thanh đó là bọn con trai chúng tôi đứa nào cũng háo hức nhìn ra cửa xem cô nàng nào đang bị hù dọa. Lần này ba vị khách lạ kỳ kia đứng ngay trước cửa phòng chúng tôi khiến bọn con trai trong phòng càng khoái chí hơn. Một cô cất tiếng thánh thót hỏi, mấy anh ơi có biết phòng anh Hải đâu không? Chỉ cần nghe câu hỏi đó, bọn nam sinh trong phòng trở nên cuống quít lạ thường. Ngay lập tức, một thằng sẽ nhảy xổ ra ngoài tiếp khác và đóng cửa phòng lại. Bên trong phòng, mấy thằng còn lại tập trung dọn dẹp áo quần, sách vở cho gọn gàng..và mặc áo quần vào cho chỉnh tề. Cái anh tên Hải là ở trong phòng này, mời tụi em vào chơi- đó là câu báo hiệu của người đằng trong và người đằng ngoài biết là nhà cửa đã sạch sẽ, xin mời quí cô nương vào... Tội nghiệp thay cho cái thằng tên Hải ấy, hắn đang tắm nên hoàn toàn không hay biết gì về sự có mặt của quí tam nương trong căn phòng. Khoác trên mình chỉ độc một quần xà lỏn, hắn vừa nghêu ngao câu hát vì nàng đẹp như một bông hồn nên ta không dám yêu nàng vừa lững thững bước vô phòng để rồi chết đứng như Từ Hải! Nét mặt hắn dần dần chuyển qua đủ gam màu của bảy sắc cầu vòng khi hắn nhìn thấy cô nàng. Ngay lúc đó, câu hỏi của bọn “đầu trâu mặt ngựa” lớp hắn lập tức được giải đáp. Thừa thắng xông lên, bọn chúng tha hồ tung hoành….người thì hỏi tên cô nàng, người thì hỏi quê quán, người thì hỏi trường học, thậm chí có thằng bạo gan hỏi thẳng luôn là em có sẵn lòng cho anh làm bạn trai không trước mặt hắn. Ðịnh thần một lúc, hắn mới hỏi hai con nhóc này sao tối nay không đi học Anh văn mà qua đây chơi vậy. Con nhỏ em mau miệng nói tụi em được nghỉ học nên rủ nhau vô nhà thầy chơi cho biết nhà, rồi hỏi thầy có rủ tụi em đi ăn kem không? Ðúng là hai con quỉ sứ chính hiệu của mình rồi, vô nhà người ta rồi còn bắt người ta bao chầu kem nữa…nhưng đây là dịp may hiếm có để được đi chơi với nàng. Biết nàng hơn nửa năm nhưng hắn chưa bao giờ có cơ hội để hẹn hò với nàng cả. Lúc nào gặp nàng cũng có hai con nhỏ quỉ sứ ở bên nên dù có gan trời hắn cũng chẳng dám mở miệng.
Bọn con trai lớp tôi dù phá như quỉ giống hai con nhỏ học trò nhưng tụi nó là “quỉ sư phụ” nên tinh ý hơn. Tôi cũng chẳng nhớ tụi nó sắp xếp làm sao mà cuối cùng tôi được chở nàng chứ không phải chở hai con bé học trò kia. Bọn chúng tôi 5 chiếc xe đạp dung dăng dung dẻ giữa đêm hè lộng gió. Chẳng biết sao tối hôm ấy, một cái thằng miệng lưỡi sinh ra trước như tôi lại trở nên câm như hến không nói được gì với nàng. Tôi đạp xe thật chậm để tách khỏi hai chiếc xe của hai nhóc tì học trò nhưng không thể được. Tụi nó luôn kèm sát xe tôi làm tôi không thể có cơ hội múa tay múa chân gì với nàng. Tôi cảm thấy tay mình bị run lên bần bật. Nàng thấy vậy nên hỏi tôi bị gió lạnh hay sao mà run dữ vậy. Có lẽ nào nàng không cảm nhận được điều đó trong tim tôi? Sao nàng lúc nào cũng ngây thơ như một cô bé. Nàng không hiểu tôi đã không còn là tôi khi đứng trước mặt nàng. Tôi chưa nói câu gì với nàng thì đã đến quán kem mất rồị.Cơ hội của tôi đã đi qua! Dù vậy, tôi đã có một buổi tối đầy cảm giác hạnh phúc như thế khi chở nàng trên chiếc xe đạp cà tàng của mình..Tôi thầm nghĩ, sẽ có một ngày khác tôi sẽ nói với nàng điều con tim tôi cảm nhận..Nhưng thế gian này còn có một chữ duyên nợ. Tôi cứ ngỡ tôi được gặp nàng hôm ấy là một duyên nợ ở đời. Có ngờ đâu, câu chuyện chưa kịp bắt đầu thì đã đi vào hồi kết. Một buổi chiều tôi hào hứng qua nhà bác để được gặp nàng như mọi khi. Chờ mãi đến khuya mà vẫn không thấy bóng dáng 3 chị em nhà nàng, tôi buột phải hỏi bác của nàng. Câu trả lời của bác ấy làm cho tôi hiểu rằng nàng hoàn toàn không có bất cứ tình cảm gì với tôi. Nàng chuyển nhà trọ mà không hề nói với tôi một lời từ biệt. Sự dửng dưng của nàng khiến con tim tôi tan nát. Lạ thật, lúc đó mọi người trong nhà bác ấy đều rất lo cho tôi nhưng không ai cho tôi địa chỉ mới của nhà nàng. Cách xử sự của họ khiến lòng tự trọng của tôi bị tổn thương. Họ cho rằng gia quyến tôi không môn đăng hộ đối với tiểu thư canh vàng lá ngọc của họ chăng. Họ cho rằng học vị của tôi không ngang bằng gia đình danh gia vọng tộc của gia đình nàng chăng? Tôi không biết làm sao mình đã sống qua được trong quãng thời gian ấy. Khi tốt nghiệp ra trường, tôi không đi làm mà lại tiếp tục theo học cái ngành học của nàng… Cũng chẳng biết để làm gì nhưng tôi đã làm như thế. Ba mẹ tôi rất buồn. Ba tôi nói với người bác đồng hương về thằng con không ra gì của ông. Ông nói rằng chỉ vì yêu một người con gái nào đó mà nó lại quên nghĩa vụ anh cả của một gia đình, để theo thêm một trường đại học trong lúc gia đình chẳng khá giả gì cho mấy. Cho đến giờ ba tôi vẫn không biết người con gái ấy chính là nàng.
Rồi sự tình cờ nối tiếp sự tình cờ. Sau khi ra trường, hai năm sau, tôi vô tình thoáng gặp nàng khi đến thực tập ở một trường học..Gọi là thoáng gặp vì nàng thấy tôi trong sân trường và la lên ôi chao,không ngờ gặp anh Hải ở đây. Nàng có kêu tôi chờ nàng một chút để nàng trao đổi xong câu chuyện với một người bạn cùng nhóm của nàng. Nhìn nụ cười tươi trên miệng nàng khi hàn huyên với bạn học, tự dưng tôi cảm thấy ghen tị. Rồi chẳng biết trời xui đất khiến gì mà tôi bỏ vô lớp học mà không đứng chờ nàng nữa. Sau này lúc gặp lại, nàng hỏi bữa đó nói chuyện với bạn học xong em quay ra sân trường tìm anh mà không thấy. Nếu biết thế tôi đã đứng chờ??
Chín năm sau chúng tôi lại vô tình có cơ hội gặp nhau trong một buổi tiệc. Khi ấy, tôi đã có vợ và một đứa con nhưng tôi rất hồi hộp khi được biết sẽ có nàng tham dự trong buổi tiệc. Nàng vừa đến cổng là tôi đã chạy ào ra đón tiếp. Nàng ngỡ ngàng nhìn tôi và la lên như năm nào ôi chao, không ngờ gặp anh Hải ở đây làm tôi chạnh lòng. Tôi đã nhờ người nhà báo cho nàng về sự có mặt của tôi trong bữa tiệc nhưng rõ ràng nàng chẳng hề bận tâm. Còn tôi, suốt buổi tối hôm đó, tôi không thể rời mắt khỏi nàng. Tôi không ăn gì cả, chỉ nhìn nàng chằm chặp như sợ nàng sẽ biến mất đi như chín năm về trước. Có lẽ cái nhìn của tôi chín năm trước và chín năm sau vẫn giống hệt nhau nên vẻ mặt nàng thoáng chút bối rối. Hai gò má nàng ửng hồng dần lên. Nàng tránh nhìn vào mắt tôi khi tôi hỏi chuyện. Bây giờ nàng đã thành đàn bà nên nàng cảm nhận được ánh mắt của tôi? Nếu như 09 năm về trước đó, nàng hiểu được ánh mắt đó thì có lẽ suốt đời tôi sẽ không buồn đau như bây giờ ?!?
Tôi không ngờ buổi tiệc hôm đó chính là định mệnh không may cho gia đình tôi. Sau lần cuối cùng gặp cô ấy trong buổi tiệc, những hồi ức ngày xưa ùa về khiến tôi không ngày nào không nhớ đến người con gái ấỵCứ ngỡ rằng mối tình câm thời sinh viên theo gió mà bay đi, có ngờ đâu lòng tôi lại dậy sóng! Tôi tìm mọi cách liên lạc với cô ấy nhưng không được. Vẫn như ngày xưa, cô ấy không cho tôi biết địa chỉ nhà ở hay số điện thoại liên lạc dù tôi đã gặn hỏi. Có lẽ cô ấy đã có một bến đỗ bình yên. Riêng tôi, tôi không thể dối lòng mình với người vợ bên cạnh một lần nữa. Tình yêu của người vợ hiền trong ngần ấy năm dường như không thể làm tôi quên đi người con gái kia. Thật tội nghiệp cho người vợ của tôi! Thật tội nghiệp cho đứa con bé bỏng của tôi! Tôi đã lạnh lùng bỏ gia đình mình ra đi, chọn cuộc sống đơn thân và ôm theo mình một mối tình câm!
Anh Yêu Dấu
Nơi đây những nỗi buồn riêng
Nơi đây trống vắng triền miên gánh sầu
Tình ta biết sẽ về đâu
Khi cơn nắng Hạ, Ve sầu héo khô
Những nỗi buồn vẫn cứ mãi vây quanh bên em, có phải chăng vì không có anh bên cạnh ? Những cơn nắng thiêu đốt , khiến vạn vật trở nên khô cằn, vàng võ , nứt nẽ , tiếng ve kêu thật buồn bã, làm em nhớ anh thật nhiều, có xa nhau mới cảm nhận được sự cô đơn và cần có nhaụ Những nỗi nhớ miên man làm tim em se thắt lại , có bao giờ anh cảm nhận được những nỗi nhớ vô tận xâm chiếm vào tâm hồn , và anh ao ước có em bên cạnh ?
Tình buồn trong mắt em, từng giọt lệ rơi xót xa trong đêm với giấc ngủ trăn trở mong cho đêm qua mau, vì sao anh biết không ? Chỉ duy nhất một điều : là em nhớ anh ! Nhớ anh thật nhiều.
Nhớ anh, nhớ nụ cười tình
Nhớ từng ánh mắt, bóng hình thân thương
Nhớ anh, nỗi nhớ vấn vương
Nhớ từng kỷ niệm, con đường đi qua
Anh yêu dấu, em mong chờ ngày hai ta bên nhau, để vơi đi nỗi nhớ, và hai ta sẽ cùng nhau chia sẻ những nụ cười, những ngày hạnh phúc anh nhé .
Viết Cho Giao Mùa
August 2009
-DHH
Giao Muà xin trân trọng giới thiệu đến độc giả website của nhà thơ, nhà văn Tôn Thất Phú Sĩ hiện đang cư ngụ ở Pháp , cựu Sĩ Quan Hải Quân / Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà và là một cộng tác viên thường trực của Giao Muà.
http://blog.ifrance.com/phusi
THƯ VẬN ÐỘNG YỂM TRỢTHƯ VIỆN/BẢO TÀNG VIỆN VIỆT NAMTẠI LITTLE SÀIGÒN, THỦ ÐÔ NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN
Kính gởi:
- Quý vị lãnh đạo các tôn giáo, đoàn thể, hiệp hội, tổ chức cộng đồng.
- Quý cơ quan báo chí, truyền thanh, truyền hình và điện báo internet.
- Quý vị quan tâm đến sinh hoạt văn hóa dân tộc.
Kính thưa quý vị,Vào mùa hè 1999, chúng tôi gồm 5 người: nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (nay đã quá cố), nha sĩ Võ Trọng Di, ký giả Trần Lam Giang, nhà văn Nguyễn Ðức Lập và nhà báo Du Miên khởi xướng việc hình thành Thư Viện Việt Nam tại Little Sàigòn, Orange County, California, Hoa Kỳ.
Mục đích:
- Mở cửa hàng ngày để đồng bào có nơi đến đọc sách báo và nhất là giúp các sinh viên, học sinh đủ tài liệu nghiên cứu, tham khảo liên quan đến lịch sử và văn hóa Việt Nam.
I- Sưu tập, lưu giữ tất cả những sách, tài liệu:
1- Việt Nam trước 1975, nhất là những sử liệu, chứng liệu trong giai đoạn kháng Pháp kéo dài tới khi miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản.
2 - Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòạ
3- Giai đoạn tù đày trong các trại giam của CSVN.
4- Giai đoạn vượt biên, vượt biển tị nạn Cộng Sản.
5- Lịch sử cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản sau năm 1975 khắp các châu lục.
II- Sưu tập, lưu giữ và trưng bày cổ vật, thủ công nghệ, kỷ vật Việt Nam (một hình thức như một Bảo Tàng Viện).
III- Sưu tầm tài liệu Ðông Tây kim cổ liên quan đến lịch sử và văn hóa Việt Nam để dịch thuật (đa chiều), biên khảo, phổ biến.
Từ năm 1999 đến nay, Thư Viện/Bảo Tàng Viện ViBt Nam đã làm được:
- Mở cửa hàng ngày 6 tiếng, (chỉ nghỉ chủ nhật và các ngày lễ), suốt 10 năm qua .
- Sưu tập được khá nhiều tài liệu mà nhà cầm quyền CSVN liên tục tiêu hủy, cùng với trên 60.000 cuốn sách đủ mọi thể loại, xuất bản tại Việt Nam trước 30 tháng 4 năm 1975 và sau 30 tháng 4 năm 1975 tại hải ngoại .
- Trên dưới 5.000 cổ vật, thủ công nghệ, kỷ vật Việt Nam có thể trưng bày thành một Bảo Tàng Viện nhỏ, rộng chừng 20.000 sq.ft.- Ðã ấn hành 3 công trình biên khảo:
1- Bộ Cổ Tích Việt Nam, dày 1.100 trang, do ký giả Trần Lam Giang kể. In năm 2001. Tặng tất cả các trường dạy Việt Ngữ khắp nơi tại hải ngoại. Hiện đã được dịch sang Anh ngữ và chuẩn bị ấn hành song ngữ Việt/Anh.
2- Bộ cổ sử Bách Việt Tiên Hiền20Chí của sử gia Âu Ðại Nhậm viết vào triều đại nhà Minh bên Tàu. Cuốn cổ sử liên quan đến cội nguồn dân tộc Việt, đã bị các triều đại Tàu ém nhẹm, cất giấu suốt hơn 500 năm qua. Nội dung cuốn sách lên án chính sách xâm lược, đồng hóa của người Tàu đối với chủng tộc Bách Việt, cuối cùng chỉ còn lại chi trưởng là Việt Nam chúng ta. Sau hơn 10 năm tìm kiếm, so sánh, đối chứng, dịch thuật và chú thích, nhà văn Trần Lam Giang hoàn tất trách nhiệm và cuốn sách đã được ấn hành năm 2006. Chờ tái bản.
3- Cuối năm 2008, ấn hành tác phẩm Việt Nam: Suối Nguồn Văn Minh Phương Ðông của tác giả Du Miên Lê Thanh Hoa. Nội dung trưng nhiều bằng chứng lịch sử Tây Âu, Tàu, Việt để xác quyết Việt là Việt, Tàu là Tàu; vua tổ=20của nhà Chu bên Tàu cho 2 hoàng tử lớn sang Việt Nam du học và sau đó Chu công rồi đến Khổng Tử đem văn hóa Việt dạy lại cho người Tàu; người Việt là dân trồng lúa đầu tiên trên thế giới, phát minh ra giấy viết cho nhân loại, đúc các bảo kiếm lừng danh thiên hạ, vẽ kiểu và chỉ huy hàng triệu thợ xây dựng cung điện nhà Minh tức Tử Cấm Thành, Thiên An Môn còn tồn tại cho đến ngày nay... Tác phẩm được đón nhận nồng nhiệt khắp nơi. Ðã tái bản chỉ sau 6 tháng phát hành. Ðã dịch sang Anh ngữ, đang dịch sang chữ Nho, chờ xuất bản.
Kính thưa quý vị,Trước hoàn cảnh tài chánh eo hẹp, trong suốt 10 năm qua, Thư Viện/Bảo Tàng Viện chỉ dám chi tiêu giới hạn trong việc trả tiền phố, 2 nhân viên thường trực, điện thoại và điện. Tổng cộng chi phí này vào khoảng trên 2.000 mỹ kim một tháng. Bản báo cáo tài chánh chi tiết đã được thực hiện hàng năm, và nay đã có thường trực trên website: www.vnlibraryonline.comNay Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam cần:- In các tác phẩm vừa kể ở trên, tái bản và dịch sang ngoại ngữ.- Thực hiện các tác phẩm văn hóa, lịch sử Việt Nam quý hiếm, độc bản, qua CD, lưu giữ và phổ biến trên các trang mạng internet.- Phát triển cơ sở, tiến tới việc hình thành Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam tại thủ đô Little Sàigòn. Ðây là việc chưa chắc đã có thể thực hiện được nhưng thế hệ chúng ta cố gắng làm nền, để con cháu chúng ta tiếp nối. (Qua kinh nghiệm của 10 năm mở cửa Thư Viện của chúng ta, rất ít người nghĩ rằng Thư Viện sống đợc 1 năm. Nhưng may sao, Thư Viện của chúng ta đã vượt qua chặng đường dài 10 năm, có sẵn mô thức sinh hoạt để bất cứ cá nhân và đoàn thể nào cũng có thể tiếp tục điều hành vì đây là Thư Viện của mọi người Việt Hải Ngoại .)
Kính thưa quý vị,Trong suốt 10 năm qua, Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam chưa bao giờ tổ chức gây quỹ hay vận động tài chánh cũng như không nhận tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ hay bất kỳ tổ chức nào. Mọi khoản chi tiêu để Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam tồn tại đến từ một số mạnh thường quân thân hữu và nhóm sáng lập.
Kính mời quý vị đến thăm, quan sát sinh hoạt hàng ngày của chúng tôi tại thủ phủ Little Sàigòn hoặc vào trang nhà www.vnlibraryonline.comThư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam mong được sự đóng góp:
- Sách mới và cũ (không nhận sách in dưới chế độ CSVN và sách ngoại quốc)
- Cổ vật, kỷ vật, thủ công nghệ Việt Nam.
- Tài chánh: mỗi ngày 1 mỹ kim, mỗi tuần 1 mỹ kim hoặc mỗi tháng 1 mỹ kim:* Mỗi ngày 1 mỹ kim, một năm 365 mỹ kim, đóng một lần: Bạn trở thành Ân Nhân Bảo Trợ, danh tánh niêm yết trong bảng vàng Ân Nhân Bảo Trợ thường trực trên website:www.vnlibraryonline.com và trên tất cả các ấn phẩm do Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam ấn hành.
* Mỗi tuần 1 mỹ kim, một năm 52 mỹ kim, đóng một lần.
* Mỗi tháng 1 mỹ kim, một năm 12 kỹ kim, đóng một lần.
* Tùy hỉ.
Muốn trả bằng ngân phiếu, lệnh phiếu đề trả cho Nhân Ái Foundation và gởi về 10872 Westminster Avenue, suites 214 & 215, Garden Grove, CA 92843, USA hoặc P.O. Box 2051, Westminster, CA 92684, USẠ0D
Muốn trả bằng credit cards, vào www.paypal.com, trả cho nhanaifoundation@verizon.net hoặc vào trang nhà www.vnlibraryonline.com, mục “bảo trợ” có sẵn ô “Donation”, chỉ cần “click” là đủ hướng dẫn cần thiết.
Mọi đóng góp đều được cấp biên nhận và báo cáo cập nhật trên trang mạng của Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam: www.vnlibraryonline.com
Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam là của mọi ngườịThư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam là Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam ở hải ngoại. Ngoài việc bảo tồn văn hóa dân tộc, Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam còn là nơi lưu giữ tất cả tài liệu, sử liệu của thế hệ tị nạn Việt Nam để con cháu đời sau biết vì sao chúng có mặt ở hải ngoạịLâu nay đồng bào đã đóng góp rất nhiều vào các công cuộc chung.
Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam kính tường trình hoạt động 10 năm qua đồng thời trình bày dự án sắp tới để đồng bào tùy tâm đóng góp.Danh tánh ân nhân bảo trợ được loan báo trên trang nhà www.vnlibraryonline.comMọi người đều quan sát, giám sát việc chi thu, trong mục đích giới hạn như đã đề cập ở trên.
Vào ngày chủ nhật 19 tháng 7 năm 2009, lúc 10 giờ sáng, kính mời quý vị ở gần hoặc du lịch Little Sàigòn ghé qua Thư Viện/Bảo Tàng Viện Việt Nam để dự tiệc sinh nhật thứ 11 của Thư Viện/Bảo Tàng Viện. Quý vị ở xa đón xem tường trình trên trang nhà www.vnlibraryonline.com Kính mong nhận được sự hưởng ứng đóng góp vào việc chung của tất cả đồng bào.
Trân trọng,
Little Saìgòn, ngày 08 tháng 7 năm 2009
Nhóm sáng lập: Võ Trọng Di, Trần Lam Giang, Nguyễn Ðức Lập và Du Miên
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 88 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà