Số 90
Ngày 1 tháng 10 năm 2009
Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Thư Ngỏ
Mùa Thu lại về,
Mùa Thu trên quê hương này chỉ mới bắt đâu từ mươi ngày nay. Cái nóng của mùa Hè vẫn còn quanh quẩn trên những sân trường đầy những bước chân rộn ràng của học trò, như khua động những kỷ niệm cũ, những tháng ngày xa xôi trong dĩ vãng mà không một ai trong chúng ta không bước qua. Ít nhiều cũng còn có một lớp người vẫn còn váng vất trong hồn những lời văn nhẹ nhàng của Thanh Tịnh, ..”hôm nay trời vào thu, lá ngoài đường rụng nhiều.., trên không, những đám mây bàng bạc …, mẹ tôi nắm lấy tay tôi dắt đi…”
Tựu trường năm nay trên quê người, ở các trường đại học số sinh viên giảm sút, nhưng ở bậc trung tiểu học, lớp trẻ vẫn hàng ngày tung tăng đến trường. Nhìn về quê hương mình, những hình ảnh hàng trăm, hàng ngàn trẻ em Việt Nam mãi bương chải trên những đống rác để kiếm sống, lang thang trong thành phố bán vé số, đánh giày, hoặc ngửa chiếc nón cời rách nát để xin tiền khách qua đường. Ngược lại với hình ảnh những công tử con nhà tư bản đỏ, ăn chơi trác táng, vung tiền qua cửa sổ, với những model xe hơi mới nhất ngang dọc trên phố nghèo.
Vẫn không muốn nhắc đến những bất hạnh mà đồng bào ta vẫn hàng ngày gánh chịu, nhưng lòng sao yên khi đêm đêm dường như tiếng kêu than của bà con dân oan vẫn vang vọng trong giấc ngủ, hình ảnh của viên bộ trưởng giáo dục với khuôn mặt bóng nhẵn sẵn sàng ký lệnh tăng học phí để đẩy đám con em nhà nghèo vào đường thất học. Trên trang web bauxite hàng ngàn trí thức trong và ngoài nước ký tên phản đối việc dành cho Trung quốc khai thác tài nguyên, đe doạ đến an ninh của Tổ Quốc. Những người trẻ Việt Nam đã lặng lẽ dấn thân, những blogger gọi nhau lên tiếng, những thằng hèn khiếp nhược trước kẻ thù truyền kiếp phương Bắc, lại tàn bạo dập tắt những tiếng nói yêu nước thương nòi.
Chào những bạn Văn trong cũng như ngoài nước,.
Mùa Thu 2009 lại về với những trăn trở, thao thức với quê hương. Phải chăng Giao Mùa là đây, từ những nóng bức của muà Hè sang mây trắng dịu dàng mùa Thu, rồi mưa Ðông buốt giá, hãy góp lời, góp tiếng cho thành đạt một ước mơ, ước mơ muà Xuân thật sự sẽ trở về mãi mãi trên đất Việt với đầy đủ Dân Chủ, Tự Do.
Mạc Phương Ðình
Ban Biên Tập Giao Muà
I . Thơ _______________________________________________________________________
| 1. Những Nụ Cười - | ______Trọng Văn | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 2. Trăng Sáng Vườn Xưa . | ______Hoàng Yến | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 3. Tháng Sáu Trời Mưa | ______Ðỗ Xuân Tê | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 4. Tình Vụng Dại | ______Phạm Nhật Quỳnh | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 5. Anh Hiểu | ______Phan Nam Việt | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 6. Thu Vẫn Ðây ... | ______Jacaranda | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 7. Ðất | ______Sông Cửu | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 8. Anh Xa Nhà, Sống Bằng Thơ | ______ Nguyễn Ðông Giang | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| 9. Lại Thương Nỗi Buồn |
______ Vi Thông | 10. Tình Sầu
|
|
______ Hàn Thiên Lương | 11. Tấm Lòng Con Vẫn Nhớ
|
|
______Thy Lan Thảo | 12. Chiếc Lá Thu Mưa
|
|
______ Nhu Nguyễn
| 13. Tiếng Hờn Sông Núi
|
|
______Nguyễn Thế Hoàng
|
14. Shooting Star
|
|
______
Vành Khuyên
|
15. Nếu Chúng Mình |
|
______ Ái Ưu Du |
16. Thì Ðã Ðành Tình Bay Vút Hư Không
|
|
______ Từ Tú Trinh |
17. Dấu Vết Thời Gian
|
|
______Mạc Phương Ðình |
18. Trong Bệnh Viện |
|
______Tuyền Linh |
19. Bâng Khuâng
|
|
______Nguyễn Hải-Bình |
20. Qua Màn Sương Thương Nhớ
|
|
______Trần Kiêu Bạc |
21. Ðà Nẵng - Phố Biển tôi thương tôi nhớ biết bao !
|
|
______Nguyễn Hữu Viện |
22. Nơi Anh ở ... Thu Về
|
|
______Song An Châu |
23. Chim Quốc
|
|
______Nguyệt Vân |
24. Tháng Tám Cali
|
|
______Phan Tưởng Niệm |
25. Một Nửa Thân Mình
|
|
______Lê Miên Khương |
26. Chiều Thu Ðưa Tiễn
|
|
______Uyên Phương Minh Nguyệt |
27. Cho Người Tình Lỡ
|
|
______Mynh Hứa |
|
II . Văn _______________________________________________________________________
| 1. Mùa Thu Của Anh _______ Lê Miên Khương |
| 2. Bờ Lau Cát Lở 44 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành | 3.Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ái Ưu Du |
| 4.Chập Chùng Bóng Núi 37(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn |
| 5.Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên |
| 6.Như Biển Thái Bình ___________ Nhật-Quỳnh |
| 7.Gió Lộng ___________ Trần Thành Mỹ |
| 8.Danh ___________ Vành Khuyên |
| 9.Ðời Chẳng Là Mộng Mợ.! ___________ Nguyễn Thế Hoàng |
| 10.Chút Tình Chút Ý Mấy Vần Thơ ___________ Túy Hà |
| 11.Như Giọt Sương Rơi Trên Tóc Mẹ, ___________ Cư sĩ Liên Hoa |
| 12.Người Ðàn Bà Ðiên ___________ Khiêm Nhu – |
III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________
| 1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH |
IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________
| 1. Nhà văn Nguyễn Thụy Long qua đời _______________________________ Giao Muà |
V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________
1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc
_______ Ban Biên Tập
I . Thơ __________________________________________________
II . Văn___________________________________________________________
Lê Miên Khương
Lê Miên Khương 2. Bờ Lau Cát Lở 44 (Chuyện Dài) Ðỗ Thành
Lại nói tới những bài học cốt hiểu cho rõ rồi về, thực ra vỏn vẹn chỉ có 10 lần lên lớp. Thế nhưng họ kéo dài dây dưa vì còn xen kẽ những buổi thảo luận, mổ xẻ, phê bình giữa những người được tập trung với nhau. Người chiến thắng xem ra tự hào, hãnh diện vì họ cho rằng đã dầy công nghiên cứu, đúc kết, nghiền ngẫm, đánh giá để trở thành những khuôn vàng thước ngọc, những viên kim cương tư tưởng dẫn dắt đám người vừa thất trận xong nhập được vào tâm. Ðỗ Thành 3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) Ái Ưu Du
Ái Ưu Du
4. Chập Chùng Bóng Núi 37 (Chuyện Dài) Thanh Sơn
Vào trại, hai tiếng ngắn ngủi, nghe đơn giản mà phập phồng lo sợ. Ngày trước, nói vào trại là ai cũng nghĩ đến một cuộc đi chơi ngắn, dăm ba bữa rồi về, cốt để thư giãn sau một thời gian dài bận công bận việc. Có người còn hăm hở đi lấy được vì vui quá, có ca xang, có lửa trại, có tựu họp, có bạn bè. Còn bây giờ vào trại là vào một cõi mông lung, mờ mờ mịt mịt. Người ta hứa đó và quên ngay. Một tháng hơn đã trôi qua, nhưng cái trại vẫn đủng đỉnh không hẹn ngày giỡ lều, trái lại còn làm thêm nơi chờ đón người sắp đến. Thanh Sơn
5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) Phan Thái Yên
9. (tiếp theo) Phan Thái Yên
Nhật-Quỳnh
Nhật-Quỳnh
Trần Thành Mỹ
Trần Thành Mỹ
Vành Khuyên
Vành Khuyên
Nguyễn Thế Hoàng
Nguyễn Thế Hoàng
10. Chút Tình Chút Ý Mấy Vần Thơ
Túy Hà
Túy Hà
11. Như Giọt Sương Rơi Trên Tóc Mẹ,
Cư sĩ Liên Hoa
Cư sĩ Liên Hoa
- Khiêm Nhu –
- Khiêm Nhu –
III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________ DHH
VỊ Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật
___________________________________________________
2. Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (www.vktnvn.com) thăm Galang.
V . Hộp Thư Toà Soạn
___________________________________________________
Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà:
1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
Ðịa Chỉ Liên Lạc:
Nguyệt San Giao Muà
Copyright
2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors
Một sáng mùa thu, đứng bên hàng dậu trà nhà em, anh thấp thoáng nhìn em không dám gọi. Chỉ thấy em đi qua đi lại nhẹ nhàng dưới giàn hoa thiên lý. Mùi hoa tinh khiết dịu dàng tỏa thơm cả một vùng trời, gọi bướm ong về hút nhụy, đem hương dâng cho đời tươi đẹp.
Nhà em ở cạnh con sông, có dậu trà xanh để anh đứng đó gieo lòng theo gió cuộn. Làm sao em biết được tiếng gọi của tim anh ?
Một chiều mùa thu, đứng dưới bóng hàng cau, anh thấy em soi gương chải tóc. Tóc em mượt mà, bồng bềnh như mây đang trôi trên bầu trời. Anh muốn cài lên tóc em một nài hoa hướng dương, như để níu kéo mặt trời không cho lặn xuống cuối chân trời bên kia triền núi.
Nhà em ở cạnh con sông, có hàng cau cao vút để anh đứng đó dâng hồn theo mây trôi. Làm sao em hiểu được tiếng thổn thức của lòng anh ?
Một tối mùa thu, đứng bên hàng hoa râm bụt, anh thấy em thong gót trên bờ sông quê mình. Ánh trăng rằm soi từng bước em đi. Giọng em hát lên, như nói chuyện với các vì tinh tú trên cao xa đang chiêm ngưỡng em. Những con đom đóm như bị em thu hút, bay vờn quanh chân em, soi đường cho em đi vì chúng sợ ánh trăng cô liêu không đủ sáng.
Nhà em ở cạnh con sông, có hàng râm bụt đỏ để anh đứng đó dâng lời ước nguyện cho trăng sao. Làm sao em biết được có một người đang khóc dưới bóng trăng ?
Họ quan niệm như đây là một tập đại thành của chủ nghĩa xã hội khắp trên hành tinh loài người, hoặc là một tổng kết chói lòa thành tích của phong trào xã hội chủ nghĩa trên hoàn vũ. Có thể họ lượng giá đám quân nhân miền Nam hời hợt nên có phần tự mãn, tự cao. Nhưng vừa qua bài thứ nhất, thấy cung cách ngồi nghe và những lời phát biểu, họ có phần hơi chựng. Họ nghe ngóng, tìm hiểu, cân nhắc, bàn bạc và lo điều chỉnh lại.
Về phía người thụ học, phần đầu óc còn duềnh dang chuyện nhà chuyện cửa, chuyện mẹ cha, anh em, vợ con, việc làm, nên hoặc là lơ đãng im lìm, hoặc là lơ mơ nghĩ tưởng. Ai cũng được phát vài quyển vở, cây bút, cũng thấy ghi ghi chép chép, còn kết quả tới đâu chẳng đoán ra.
Lúc đầu, lập tờ lý lịch trích ngang, yêu cầu rất ngắn, miễn là khai đầy đủ, tên họ, số quân, đơn vị, cấp bậc, chức vụ là hết. Sang đến phần lý lịch từng người mới bắt đầu có sự phiền. Quản giáo không đưa ra một mẫu mực rõ rệt nên mặc ai tha hồ phóng túng múa bút làm văn. Cùng lọt vào một rọ như nhau, anh này tỉ tê ca thuở giờ anh chẳng hề ưa đời lính hoặc chẳng muốn đánh đấm ai.
Nếu chỉ có thế nói làm gì, lắm anh để tỏ ra chân thật cà kê dê ngỗng khai nào là trừ bị, chứ không chuyên nghiệp như hiện dịch. Từng chút, từng chút, những người khai thác vỡ lần ra, bắt khai đi khai lại, càng ngày càng đi sâu vào chi tiết, càng móc máy nhau ra. Chẳng trách được cảnh nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại, lo tìm phương gỡ gạc, thế nhưng nếu từng anh cứ từ lãnh vực mình muốn vung vít khai báo thế nào tùy còn nói làm gì.
Ðằng này lại đi kẻ vạch bạn bè mới chết cả lũ. Anh thì rêu rao cả đời lính tôi chẳng hề nhận huy chương vì đơn vị chuyên môn, hiền khô, dễ bảo. Anh thì ca củm tôi chưa ra trận một lần nên hạng ác ôn tôi chẳng dây vào. Thế là lạy ông tôi ở bụi này, ban chỉ huy trại mừng hết lớn vì nắm được những điều họ vốn chưa hiểu.
Lôi thôi, lốc thốc những hầm ngầm, bản đồ pháo, bay rà soát lộc ngộc khai ra. Cứ nghĩ nói tận, nói cùng một lần để chẳng còn thắc mắc, tơ vương gì nữa. Tội nghiệp cái ngây thơ của người lính bơ phờ. Thượng cấp thì xa xôi, con rắn mất đầu ngo ngoe chui vào bụi, lại gặp đầy gai cào cấu.
Những buổi lên lớp, những câu trao đổi chính thức ở lớp xem ra chẳng thu thập gì nhiều. Song song với chương trình thuyết giảng, những tay chính trị bủa ra thâm nhập anh em. Tiếng là hỏi han cảnh nhà, cảnh sinh hoạt, nhưng lâu lâu tình cờ đá vào một vấn đề khác. Chính ở đó cả hai phía mới tìm học lẫn nhau. Trên đời chẳng có gì gọi là bí mật tuyệt đối, lao xao đã nghe anh em bàn tán ngành nào phải ở lâu dài, ngành nào hi vọng có ngày về sớm.
Quản giáo nạt nộ, đính chính, song cái đinh của sự việc đã đóng sâu vào tim óc chúng tôi. Tự với nhau, chúng tôi đoán định người này bóc 3 cuốn lịch, anh kia ôm đúng chục năm. Cả trại nhìn im im lìm lìm, nhưng trong lòng như vạc dầu sôi đậm. Quà gia đình gửi vào lác đác đã có thuốc chống sốt rét, bệnh gan, dạ dày, trĩ, phổi, tim và quần áo dầy chống rét. Chỉ huy trại hỏi nguyên do thì ai cũng đáp lửng lơ : nhỡ có đổi đi nơi lạnh, có sẵn không bị cóng.
Quản giáo hét ỏm tỏi, ai nói mặc ai, ai làm cứ làm, cả trại rùng rùng tựa sắp xảy cơn động đất. Giữa tình trạng căng thẳng phập phồng, trại đi một đường lả lướt, hào phóng tha tào một mớ gồm đủ cấp : trung tá, đại úy, thiếu úy, gọi là thành phần ưu tú để chứng tỏ lời họ thành thực. Ðây có thể nghĩ là một biện pháp trấn an, hóa giải cơn hừng hực nhen nhúm dâng lên vì lảng vảng đã có tay trốn trại.
Người nào về thì về, lếch thếch lê tấm thân mệt mỏi và gióng gánh đồ đoàn lỉnh kỉnh. Người ở lại được tập trung lên lớp hoặc tổ chức thảo luận để không bàn tán, gửi gấm vớ vẩn về cho nhà. Lại nói, từ các buổi thảo luận này, dần dà người ta bày ra các buổi đọc lý lịch của nhau để mọi người cùng hạch hỏi, phân tích. Chu choa, thôi thì đầu cua tai nheo đều bị lục tung, đào xới, bươi bày ra choảng tới tấp nhau.
Anh này hỏi anh kia ở đơn vị biệt kích có khi nào nhảy toán ra Bắc chưa. Anh nọ kháo anh kia là quan sát viên L-19 đã khi nào gọi B-52 bỏ bom bộ đội. Lạy Chúa, tòa án chắc cũng kém chặt chịa hơn những buổi dằn vặt này. Nỗi hận người gây ra thảm cảnh không trút vào đâu thì đổ vấy lên đầu nhau, vạch áo cho người xem lưng, có bao nhiêu vốn liếng đều xài xả láng thành vằn, thành vện.
Lắm khi nằm qua đêm tôi loáng thoáng giật mình. Trách ai đây nếu chẳng tự trách mình nông nỗi. Các ông, các bà ăn như hổ, thở như sấm giờ đây đã vi vút nơi đâu, công hầu khanh tướng thi nhau chạy bỏ bầy bỏ lính. Tôi lênh đênh nhớ đến giờ thứ 25 mà còn có tay táng tận lương tâm bắt chẹt đồng đội mình. Xú danh của hắn tưởng ngàn đời không gột nổi. Giữa lúc ùng oàng đạn pháo, thập tử nhất sinh, hắn nỡ nào đóng chịt cổng đòi chi mới cho người lọt vào lên tàu chạy trốn. Ðã vậy hắn còn đành rành mang cái cấp bậc trên cổ áo, cứ như tự hắn văng tục vào mặt hắn dửng dưng.
Tôi chán ngán biết bao về cái gọi là cùng hàng, cùng đơn vị. Liệu một ngày nào gặp nhau, ai sẽ ngượng với ai đây ? Hơn 3 năm dài dằng dặc trong tù, tôi cám cảnh biết bao trò đời dâu bể. Buồn cũng nhiều mà đau cũng thấm thía tâm can. Nói ra nghe phũ phàng mà câm nín thì lịm tan từng khúc ruột. Ơi những người anh em trôi nổi khắp nơi, ai được may mắn thoát đi những ngày giông gió ấy liệu có xót xa cho đám bị kẹt lại trong lồng.
Nói gì, nhiều anh ra về, lòng còn nặng hơn đeo đá. Căn nhà của mình vẫn đó mà ai khác đã dọn vào ở điềm nhiên. Người bạn đời ngày xưa vẫn thấp thoáng ra vào, nhưng ngày nay là sở hữu của người lạ. Họ đã bỏ quên nghĩa tào khang để chăm chăm tìm một chút thảnh thơi theo thời theo thế.
Cũng phải ngả mũ nghìn lần chào ca tụng các bà mẹ, bà chị, bà vợ, bà em, ky cóp nhặt từng đồng, từng viên thuốc, nhịn từng miếng ngon dành dụm cho con, em, chồng, anh của những ngày tù rạc. Bất cứ ở đâu, các bậc nữ lưu vẫn dò hỏi, mò tìm cho bằng được, trèo đèo, vượt suối, làm thân cò gánh gạo sang sông, làm hòn vọng phu chờ chồng hóa đá, làm lá trầu xanh quấn lấy thân cau.
Nước non vẫn ca “ ra ngõ gặp anh hùng “, nhưng đó chỉ là thứ thời trang được thổi phồng giai đoạn. Còn ru rú trong xó nhà tuềnh toàng, ốm đói có biết bao anh hùng thực sự bị đời nỡ bỏ quên. Tôi chẳng có dấu hiệu đau tim mà chẳng đêm nào còn ở trại không nhận ra tim mình đang bị giằng xé.
Hơn 34 năm rồi, giật mình vẫn nghĩ mình đang trong giấc mộng dữ. Có những chèn ép, trả thù, ân oán và lũ bầy người giết người không chút nương tay. Ngày nay, những bà mẹ có người đã ra đi về cát bụi, có bà vợ đã mất đi một thuở xuân xanh, một người chị lưng còng như tôm luộc, một người mắt mở không lên, nhưng lòng họ, tâm họ vẫn lồng lộng trời cao và chói lòa mặt nhật. Tôi vẫn phải trăm lần, nghìn lần giở nón bái phục vì nếu không có họ, liệu ngày nay tôi còn sống được chăng nhỉ ?
Buồn thay, những cái miệng loe rông rỗng vẫn xun xoe trâng tráo, chẳng hề biết nhục chút nào. Bài học ở trại xem ra chưa thông, càng nịnh thì càng bị cho vào xiếc, tỉnh ra ngơ ngáo co mình, trông mà kinh, mà tởm…
(còn tiếp)
Giữa Hai Lằn Ðạn
Phần Thứ Nhì
Chương 14
Kiều Nữ Quân Nhân
Ðoàn 5 đóng tại Thị-xã Quảng Ngãi, rồi sẽ phân phối đi quanh mấy vùng lân cận như: Sa Huỳnh, Mộ Ðức, Tân Thạnh. Tư Nghĩa. Lao xá Phú Châu thuộc liên khu V thời xưa, và về hướng Tây Quận Nghĩa Hành. Cuối cùng, đoàn 5 sẽ đóng ở cận sông Trà Khúc. Không lên Minh Long. Các cô có bạn ở chốn giang đầu, tha hồ nhớ nhung và bâng khuâng nha.
Buổi tối, tất cả anh chị em vào ngủ trong Tiểu-khu cho an toàn. Giăng mùng xong, Trúc, Hoài, vừa chui vào một giường bố chiếc, đứa nằm xuôi, đứa nằm ngược cho đỡ chật, thì điện cúp.
Hội Trường chứa khoảng ngàn người, lính tráng ở đâu về tạm dừng chân qua đêm nay, đông kinh khủng. Hội trường có đòn dong, cột, kèo, đều làm bằng nhiều cây sắt to kinh khủng, tương tự như loại nhà tiền chế của Mỹ, rộng lớn. Tứ bề không có cửa, chỉ phủ kín bằng những tấm bạt to thay tường. Nóc nhà lợp tăn.
Những đêm di hành thường ăn bờ ngủ bụi luôn luôn, may mắn lắm, mới có chỗ ngã lưng tốt thế nầy. Thật qúy hiếm. Hoài, từ hồi còn nhỏ đã ngủ riêng quen rồi, nay nằm ngủ chung như vậy, nên nàng mất ngủ luôn.
Mai Hồng, Thu Hương, Lan Anh, đã chiếm cái bàn rộng, họ dùng nơi nầy làm thành cái giường ngủ, coi thật thoải mái. Ba cô ấy mến thương nhau, giận hờn và xoi tì xoi tướng nhau một cách thân ái; như các chấp chính quan ở thời kỳ La Mã, hay trong triều đình vua Tự Ðức vậy.
Nhắm mắt mơ màng dĩ tưởng về dĩ vãng, bỗng có ai nhẹ nâng tấm bạt lên, Hoài ngỡ là cô bạn nào tìm chỗ ngủ, nên nói:
- Hết chỗ rồi, bạn ơi!
Một lúc khá lâu, bàn tay kia nhẹ nhàng rờ lên hai đầu gối nàng thò ra quá nửa ghế bố. Tưởng con chó Xệ cuả anh Thái, nó thích ngoạm mùng mền như mọi khi. Nàng lấy tay hất ra, liền bị bàn tay khô cứng, sần sùi chai cứng kia chộp lấy, cùng tiếng thở hổn hển, phì phò gần bên. Nghe rất dễ sợ. Hoài vùng mạnh tay ra, thất thanh hét tướng lên:
- Trời ơi! Ai làm cái gì đây?
Cùng với tiếng kêu to, bóng đen hất tấm bạt qua một bên, vụt chạy biến vào đêm tối mất dạng. Cả hội trường nhốn nháo vì tiếng la hét rít lên đột ngột. Ðiện vụt sáng. Sau phút kinh ngạc, tiếng ồn ào lẫn trong tiếng cười nói đồng loạt lao nhao nổi lên. Mấy cô gái và Hoài, Trúc sợ quá, nhảy dựng tót lên bàn Thu Hương đã chiếm, dồn nhau ngồi chung không dám hó hé.
Mặt Hoài, Trúc, tái xanh như nhuộm chàm, khiến các anh chị cùng ban không nhịn được cười. Quả thật, hai cô sợ bị “bắt vô bưng”! Ấn tượng về bàn tay lạnh ngắt kia vẫn còn nguyên. Trước khi ngủ các anh nói chuyện ma, chuyện quỷ. Bây giờ bị một vố mất hồn mất vía, Hoài sợ điếng người! Sao lại cười nhỉ! Không thể cười đâu. Thế là suốt đêm Hoài mở mắt tháo láo nhìn bóng tối, mà run.
Sáng sớm hôm sau, đoàn Quân Tiếp Vụ lên Minh Long. Trúc, Hoài, gửi theo xe của anh tài xế Bốn mang cho Ðan, Trọng: Gói trà. Cà phê chồn. Ðường cát. Hai cây thuốc lá Ruby Queen. Bịch khô nai. Kèm theo mấy lời thăm hỏi, viết chung trong tờ thư xinh xinh, hai cô gửi đến hai người anh ở chốn giang đầu.
* * *
Ngày thứ Bảy, Trúc, Hoài đi làm xa, lúc chiều về, họ nghe Lân nói:
- Có một thanh niên mặc thường phục đến tìm hai em đó.
Ban đầu Trúc nghĩ người đó là Chiêu, bạn trai thân thiết của Trúc, nhưng anh ấy có ra đây, thì phải mặc quân phục, chứ đâu có lè phè mặc đồ cevil?
Còn Trọng? Chắc không thể. Vùng đó đang giao tranh dữ dội. Làm gì có chuyện người binh thư nhàn nhã về dạo phố phường Quảng Ngãi? Trúc chợt nhớ lạ lùng bài ca: Biệt Kinh Kỳ của nhạc sĩ Lê Dinh, mà Ðan, Trọng, người chiến sĩ gió sương can trường muôn dặm quan hà, họ có mái tóc sớm bạc màu nắng mưa khuya sớm. Họ đi giữa hai lằn đạn, trong suốt tháng năm qua, trên vùng Mộ Ðức, Sa Huỳnh, Nghĩa Phú, Tà Noát, Ba Tơ, mà đã có lần Trọng, và Ðan đã hát cho Trúc nghe say sưa.
Phải không hở Trọng? Hẳn anh không muốn làm chàng trai phong trần, vai đeo cung tên, ngồi trên mình con tuấn mã, ruỗi dong ngàn dặm, để tìm hương cố nhân. Anh cũng không thích làm Quan Vân Trường râu dài, quắc thước, tính tình cương trực, ông cưỡi con xích thố, sử dụng cây thanh long đao tuyệt hảo.
Anh càng không là chàng Kim Trọng tình si, hào hoa phong nhã, say đắm nhan sắc Thúy Kiều. Anh Trọng không bắt chước Ðan lội qua sông đi tìm "cô gái Huế" ở bên kia bờ song Trà Khúc. Mà, anh là Lê Văn Trọng, ở ngàn chốn sơn khê, nơi cuối núi đầu ghềnh xa tít tắp. Tay anh luôn cầm súng dài, báng súng carbine M2, lưng anh cõng đầy đạn, cùng lựu đạn, mặt nạ chống hơi ngạt có mắt kính lồi bằng nhựa đục. Thì việc anh bắt chước Ðan, lội sông rộng nước lớn, để đi tìm người em nhỏ bên tê sông. Hay anh vượt biên thùy xa xôi ngàn dặm sơn hà, về đây tìm gặp Trúc, là điều chỉ có ở trong mơ. Nghĩ mà thêm trĩu nặng góc hồn.
Lúc trời dịu mát, năm cô gái rủ nhau đi "pát phố", dạo cảnh đồng quê. Cô nào cô nấy mặt hoa da phấn. Môi thắm má hồng. Áo quần xum xoe. Họ xức nước hoa thơm ngát, đi bên lề lòng phố còn thoang thoảng mùi thơm. Các cô như năm con công lạc giữa đám gà vịt bát nháo.
Người dân quê lam lũ một nắng hai sương, cần cù cày sâu cuốc bẫm với đồng áng ruộng vườn cằn cỗi. Chưa khố rách áo ôm là điều đại phước. Ở đâu ra có thì giờ nhởn nhơ tung tăng trên đường nhựa với quần là áo lụa. Họ chống cuốc ngẩn ngơ đứng nhìn. Cô thôn nữ mộc mạc áo lận quần xăn bạc phếch màu gian khổ, ngại ngần kéo vành nón lá sờn rách che nghiêng. Hai hình ảnh đó đối lập nhau, không phù hợp với thực tế chút nào. Chẳng thích ứng với vùng trời nơi chiến tranh đang gay gắt diễn ra, chỉ cách đó vài mươi cây số là cao.
Vậy thì, các cô gái thị thành ỏng ẹo “lấy le” ai đây? Sao mà lố bịch quá! Nên các cô vội vàng trở về con phố chính. Ở đó, dẫu sao còn thấp thoáng khuôn mặt cư dân thị thành. Quảng Thành mất dần dần nét mộc mạc hồn nhiên ngày trước. Các quán ăn, Snack bar, phòng khiêu vũ đèn mờ, nhạc kích động đã mọc lên như nấm.
Người Mỹ vừa đưa những tên cố vấn đến trên quê hương nghèo nàn của chúng ta, mang theo bầu sinh khí sôi nổi, ồn ào sống động, hội hè đình đám, phức tạp nhất là ở các bar, luôn náo nhiệt tưng bừng trong các thành phố đông vui. Không hiểu người ta đi đâu mà chen lấn chuyển động như kiến trên mặt nhựa nóng? Lòng phố xuất hiện những chàng lính Mỹ trắng, Mỹ đen lạ mắt, họ đi lố nhố nghênh ngang trong lòng đại lộ. Tuy vậy, họ khá sợ Quân Cảnh Mỹ luôn lái xe jeep đi rà soát quanh vùng. Họ chấp hành luật pháp nghiêm minh. Ít khi thấy Mỹ hung hăng bạo động ở thời điểm nầy. Nếu có, chẳng qua là... sự thật có mấy nhúm choai choai dé dé ở nước mình, rat ay trước vì… ghét “bọn da trắng da đen” đã đến vùng đất chúng ta “xâm nhập lãnh thổ” và “thả tiền cua gái” mà thôi.
Cha mẹ sanh thành, nưng niu con từ tấm bé không tiếc công, rứa mà tiếc chi tên cúng cơm cua con, cha mẹ đặt tên cho các cô quá khó nghe vậy hổng biết! Ở trong nhà hay ra ngoài ngỏ, mẹ cha oang oang réo tên con quê mùa, thật khó chịu mỗi khi có người réo gọi. Mắc cỡ muốn độn thổ. Nên các cô khi đã ra trường đời thì tự ý làm cuộc cách mạng gia phong, cãi lời bố tổ, ông cha. Thôi thì ta tự đặt cho mình những cái tên thật kêu, thật đẹp, thật mê ly, đầy hoa mỹ, du dương êm ái ngọt ngào như mật rót vào tai. Gọi lên ngày đêm nghe bàng hoàng, thương nhớ đời ca sĩ... đến rụng rời… đuôi con nòng nọc!
Các bạn thả bước thong dong trên phố, mấy cô cùng ngắm cửa tiệm chưng bày mỹ phẩm, giày mũ, áo quần. Chợt có tiếng gọi:
- Hương Hoài!
- Tuyết Ngọc Trúc!
- Mai Hồng!
Mai Hồng vụt quay đầu lại, reo lên:
- Aí chà chà. Anh Ðan, anh Ðan kìa!
Hoài nhận ra anh. Thoáng nhìn hai người giao nhanh, reo vui bằng mắt. Thấy Hoài nhìn, khuôn mặt Ðan sạm nắng gió phong sương khuya chiều nhuốm vẻ ưu tư, dịu hẳn đi trong nụ cười ấm nồng trìu mến. Nàng nhìn anh đăm đăm, và cảm thấy lòng thích thích sợi tóc ương ngạnh, bỏ mái lòa xoà trên trán Ðan không đội chiếc nón sắt (như mấy lần trước). Hoài thương thương viền mi dày dài và cong vút chơm chớp mắt nhìn trìu mến, ưa ưa nụ cười Ðan rộng mở. Thích từng khóa sol in rải rác trên chiếc áo sơ mi màu vàng nhạt, cùng cái cà vạt nâu lủng lẳng kẹp cài. quần tây mầu biển đậm, và anh mang đôi giày da thời trang đen bóng.
Biết nói thế nào cho trung thực nhỉ! Lần đầu tiên, Hoài thấy Ðan mặc thường phục; Dễ thương ư? Hoài không chối cãi điều đó. Tuy nhiên, Hoài nhận thấy hình như Ðan mất đi một nửa, dáng dấp hùng tráng của chàng trai đượm phong trần rùi. Ðiều đó cũng đúng thôi. Nếu các anh ra trận, mà mặc áo sơ mi ca rô hoa hòe, quần nhung dạ hội. Thì các anh có cầm súng cối súng trường, lưng nịt đầy đạn, mang giày tây, đầu đội nón bành nhung, như thời xa xưa đi chăng nữa. Coi bộ dạng anh vẫn yếu xìu... Còn đánh đấm gì ai cơ chứ.
Hoài thấy phục người vẽ mẫu đầu tiên, đã sáng tạo ra loại quân phục cho quân nhân mặc. Sao mà hợp tình, hợp lý, hợp thời và… hợp gu thế không biết!
Ðan đến bên các cô, cười thân ái. Anh hỏi:
- Các em có bận đi đâu không hở?
Tuyết Ngọc, hay tên Ngọc Thanh Trúc (Trúc đặt đủ thứ biệt hiệu mà) nhanh miệng đáp:
- Không anh. Tụi em đi tà tà nè.
- Vậy thì tốt. Mời các em vào tiệm ăn tô bún, uống ly nước nhe.
Các cô í dà… ỏn ẻn quay bén gót theo sau lưng Ðan vào tiệm cho lẹ lẹ. Rủi mà… sợ Ðan đổi ý, thì buồn trăm phút và xúi quẫy hết biết.
Bữa ăn dẫu tình cờ nhưng đầy đủ các món. Khung cảnh ấm cúng thanh lịch. Nhạc chọn lọc mở nhè nhẹ êm êm, với bình hoa lys cắm trên bàn phủ khăn trắng, thì còn gì bằng trong buổi chiều nắng còn oi nồng ngoài khung cửa.
Ðã có các anh ngồi trong tiệm với nhau: Thọ, Văn, Quân, Bảy, Hộ, Tí, Hà, Ðan. Không hiểu sao hôm nay đã thiếu vắng Lê Văn Trọng???
Ðêm nằm anh mới nghiệm ra thời gian trôi hun hút. Tiếng gió lao xao từ vùng đèo núi đổ về, nghe u u như địa đàng dưới lòng đất. Từng bầy quỉ âm binh, la sát đang tra khảo người vừa rời thế gian, cân đong tội lỗi, để định ai nấu vạc dầu, ai nuốt sắt, ai đội chậu máu, ai vác gông.
Loáng thoáng trong cái u tịch lặng câm, râm ran còn có tiếng súng rời rạc từ phía đèo vọng về. Hôm sau đồn đoán với nhau quân Fulro quậy và tên một tay tướng nào đó cầm đầu bọn họ đánh phá. Anh mỉm cười vu vơ cho là nỗi ủi an không có thật. Các cụ kéo nhau chạy, sút cả quần, chẳng kịp vơ cả áo, ở ngay trong nước chẳng làm ra trò trống gì, giờ bảo về “ kíu cuốc “ nghe quá huyễn. Cái ông bạn đồng minh thiên hô vạn ủng mà cũng cuốn vội cờ thì đánh đấm gì với bàn tay không cơ chứ.
Thôi thì để cho ăn cho nói hầu đỡ sốt ruột. Thật chân anh sẽ không quên cái mặt vênh váo của tay bộ đội đứng trước cửa đón người nhập trại. Nụ cười của hắn trông thật đểu, sung mãn, tự kiêu. Hắn lom lom nhìn ai cũng như tìm xem tên nào cứng đầu, bướng bỉnh. Ngữ này hẳn là trị bọn tù các anh đến tận cùng.
Sự bao dung mà người dân chờ đợi xem như rơi lả tả hết. Nhận được ra thì mọi việc đã rồi. Ngày xưa, có người còn rêu rao, đánh nhau giữa người mình chi cho khổ, ai cầm quyền thì đã sao, trong nhà đóng cửa bảo nhau là tốt nhất. Cái tốt chưa kịp lấp ló thì đã rụi tàn. Chấp chỏm đã có nhà bị lấn chiếm, có kẻ bị bứng về quê, cái quê xa họ đã bỏ đi tam đời tứ kiếp, giờ trở về cũng chẳng ai nhận ra nữa là.
Anh chợt thấy cái gọi là “ ngày xưa “ đó mới đây có lâu đâu mà sao vời vợi tầm tay. Con đường đèo hôm nào quân anh chẳng rải, chẳng mở đường, giờ hoàn toàn xa lạ. Dáng thác nước in trên vách núi đá thành vệt trắng xóa, nào anh còn lạ gì, vậy mà giờ anh thấy dòng chảy vô cùng chậm rì uể oải. Phải chăng vì ngày về của lũ anh biền biệt còn lâu ?
Ðột nhiên trong đêm tối anh bật lên tiếng than rất khẽ : Nia ơi, thứ lỗi cho anh. Ðời thuở nào đến tiếng nói cũng phải bưng phải bít. Người ta có thể kết án anh ủy mị hoặc chê trách anh còn mơ tưởng thuở nào. Nhưng anh luôn ân hận vì đi mà không kịp nói một lời từ giã với cô gái bản buôn nặng lòng nặng dạ với anh.
Nia, bông hoa rừng lẻ loi ấy liệu có chống chỏi nổi phong ba bão táp. Một ngày nào tìm về, liệu còn gặp được nhau. Hay là… anh rũ phắt đầu để hắt đi những ý tưởng đau lòng vừa nhen nhúm.
Bây giờ cuối tháng 6 rồi, mon men lại sắp đến mùa Vu Lan nở rộ. Ôi mẹ, đứa con bất hiếu lại một phen để mẹ vò võ một mình. Bát cơm xiếu mẫu dâng lên mẹ không sao nuốt đặng vì lửa thế gian còn ngun ngút đốt cháy thành lửa than. Hồi nào anh còn tự hào cài chiếc hoa hồng đỏ lên túi áo trận, liệu khi về mẹ còn nữa hay không. Chỉ nghĩ đến phải rưng rưng cái lên túi chiếc hoa hồng trắng anh muốn xửng cả người.
Chẳng riêng gì mẹ anh ngậm ngùi mà hầu như bà mẹ Việt Nam nào cũng vậy. Ở bên này chiến hào, các bà mẹ lặn lội vì con, ráng đơm cho nó chút hương hoa của lòng từ mẫu để nó cố trả xong món nợ mà về. Nhưng ở bên phía kia chiến hào nào cũng có hơn chi. Hai mươi năm chờ chờ đợi đợi, tiếng súng ngừng, song con vẫn biệt dạng đâu đâu. Hỏi han, nhờ vả, câu đáp vẫn lặng tờ im ắng.
Không một tin, không một mảnh giấy nào, thậm chí đến cái bằng liệt sĩ cỏn con cũng không được cấp. Có biết bao gia đình phải gánh chịu đớn đau này, khi con họ chưa rõ rành thấy chết có xác thì tình trạng mất tích vẫn bảo lưu mãi mãi. Lương bị treo, chế độ không được hưởng, ôi các bà mẹ Việt Nam, bình đẳng nào, công bằng nào ở chỗ này, mẹ nhỉ ?
Từ hôm xảy các vụ bị gọi tập trung giũa mịt mờ, anh đâm sợ. Chẳng biết ai còn là bạn, ai đã chia tay. Chế độ mới đào tạo những con người tâng công nhanh quá, làm xáo trộn hết cả lên, phải nói họ thành công tột đỉnh. Cho nên ăn cùng nơi, ngủ cùng lán, mà phải ké né nhau để sống còn. Hơi đâu thở than hay buồn phiền, tự đưa đầu vào họa.
Không dưng anh thấy mình trở nên mụ mị rất nhanh. Ấy là mới qua hơn 1 tháng, chứ càng về lâu chắc con người anh thành đụt mất. Anh trở nên ít nói, ít cười, mặt lúc nào cũng đăm đăm như bị táo bón. Anh thả lời tâm sự vào ngọn suối xa xa, anh lẩm nhẩm tạo thành một bài thơ vu vơ mà cũng chẳng dám ghi ra giấy.
Anh nhẩm mỗi ngày, lâu dần nhớ vanh vách từng câu chữ : nhìn lên ngọn suối xa xa, hỡi ơi da diết nhớ nhà làm sao. Ðêm nghe gió thổi rì rào, lung linh bóng mẹ dạt dào ngoài sân… Anh lặng đi đau đớn.
Bắt đầu người ta cho tù đi lao động. Tốp chặt cây, tốp đào ao, tốp gieo trồng, tốp rèn rựa, rèn dao, cuốc, xẻng, tốp vào rừng lấy gỗ. Những lúc ra ngoài, loáng thoáng gặp dân anh thấy nguôi bớt lẻ loi. Cả một vùng quân trấn ngày nao, bỗng sụp đi, lương không còn, nhà bị đuổi, giờ ai cũng gióng gánh nấu nồi chè chạy theo bọn “ cải tạo “ bán.
Gặp tay bảo vệ dễ dãi làm ngơ, bọn anh có chút ngọt giặm vào thấy tỉnh tỉnh con người, chẳng may gặp tay hắc búa đuổi xua đành nhịn. Bọn tù im thin thít, song đám con buôn nào biết sợ là gì. Anh đã từng nghe họ trả treo với các tên dắt tù : bác vẫn nói không có gì quí hơn độc lập, tự do, sao anh lại cấm cản, đẩy xô bọn tôi thế.
Cũng do những lần như vầy, dù chặn ngăn, vây kín, những tin tức vẫn lọt vào tai bọn anh, lẫn lộn đủ chuyện. Thậm chí có sự nhờ vả lẫn nhau giữa gia đình tù với các chị buôn để chuyển đến tay các lá thư. Bởi vậy các anh mới bị xỉ vả liên tục vì có tên nỡ đi báo cáo để lập công.
Thế mới biết chẳng ở đâu thiếu những tên bát nháo hại người mà bản thân bọn chúng cũng chẳng được xem có công cán. Có trải qua cuộc bể dâu này mới hiểu ra nhiều điều bổ ích.
Thời gian thả lỏng đến cả năm. Phía chiến thắng nghe ngóng, băn khoăn, vạch ra kế hoạch xử thế sao với bọn thất trận nên tương đối việc liên lạc giữ được bình thường. Có hôm anh em tù được gặp thân nhân, vợ lẫn lộn với các chi bán chè. Hẳn nhiên các cuộc hẹn phải lén lút, nhờ các chị dẫn đường mách lối ém thân nhân vào một chỗ rồi nhỏ to nháy nhó để đi gặp.
Vì đó, các tin rục rịch phân tù thành các nhóm đã được kháo với nhau. Ðám quản giáo khăng khăng bảo tin đồn thất thiệt. Vậy rồi đùng cái, nhân viên hành chánh, cảnh sát, biệt phái, được thanh lọc và đưa đến một mật khu ngày trước, quân trường chỉ còn rặt quân nhân cũ, nhưng cũng được phân chia theo cấp bậc trước kia.
Chẳng còn nghe ai bàn tháng nào hi vọng về, vì đơn vị tính bây giờ không còn là mốc giới tháng nữa mà tiến lên đến lũy số từng năm. Cũng từ cái danh xưng học viên nghe hiền từ, êm ái, một sáng đẹp trời rùng rùng loan tin chuyển trại, để rồi ai cũng ngỡ ngàng khi bị cải danh thành tù tàn binh trơ khấc. Cả bọn tiu nghỉu tựa chuột bị hun, mặt dài ngoằn móp méo.
Hết thực rồi, sự lừa lọc vuốt ve. Chỉ còn trơ lại sự bàng hoàng tê tái.
(còn tiếp)
Cuộc sống gia đình êm đềm trôi theo từng mùa nước lớn ròng. Chị sinh thằng Lai rồi con bé Lụa. Cánh đồng vẫn bao la vắng ngắt, nhất là vào buổi trưa. Bầy vịt đẻ vẫn xúm xít bên đám ruộng nước mãn mùa, có khi chúng ngưng rỉa tìm nghiêng đầu hồi lâu nhìn đàn vịt trời đang sải cánh bay. Cánh đồng bất tận biết đâu phương hướng mà về.
Chị ở yên với gia đình chồng con chẳng để ý chi tới tình hình đất nước ngày càng chộn rộn. Anh em ông Diệm bị đảo chánh, chết bất đắc kì tử. Chiến tranh ngày càng lan rộng. Chồng chị phải vô đồn ngủ thường hơn. Rồi tai họa chụp xuống gia đình. Một bửa trưa chống xuồng mang cơm vô chòi vịt cho chồng thì thấy anh nằm hấp hối trong đống rơm. Lưởi mã tấu ngập sâu vào bụng, máu thấm ướt loang chiếc áo trây-di. Bản án cách mạng trừng trị tên trưởng đồn tay sai mỹ ngụy cũng bê bết máu. Chị hốt hoảng khóc ròng lúc anh gượng tỉnh dặn dò trăn trối. Chị cuống quít đẩy chồng máu me ra tới kinh Xáng rồi theo xuồng máy mới nửa đường tới bến đò An Long thì anh qua đời.
Chị nuốt đau thương chôn cất chồng. Buổi sáng sau ngày mở cửa mả, chị dắt con đến khu Hai gặp người trưởng đồn. Ông Thiếu Úy già giật mình tỉnh rượu. Chiếc xuồng máy chở ba mẹ con phóng thẳng ra Chợ Mới cho kịp chuyến xe qua bắc Năng Gù về Sài Gòn. Qua màn nước cuộn chị thoáng thấy ông Thiếu Úy đang hối hả tập họp lính dẩn vào đồn kinh Ngang. Trên đầu chị bầy le le bay tan tác giữa khoang trời mang mang châu thổ.
Người đàn bà thắp nhang đứng vái lạy trước bàn thờ. Chị kính cẩn nhìn vầng hương khói lung linh trước bài vị hồi lâu rồi thở dài mở hé liếp cửa lách mình ra đứng trước sân nhà. Chiếc thau nhôm cũ đầy nước mưa đọng nằm chênh vênh cuối hiên. Thủ phạm của tiếng lanh canh suốt đêm. Chị thầm nghĩ. Hơi nước còn đọng kín mặt sông và khoảng cửa biển đâu đó ở cuối dãi cát cũng mờ chìm trong sương. Bỏ lại phía sau màn sương trắng đục bầy chim chấp chới bay về biển trong khi xóm nhà còn biếng lười ngủ nướng trong buổi sớm cuối hè.
Cửa biển hiện dần trong sương tan thấp thoáng vài cánh buồm về bến. Người đàn bà cố mường tượng hình ảnh người anh họ đứng trên thuyền cá vất vã vào ra cửa biển những sớm hôm và dáng ông mệt mỏi bước qua dốc cát về nhà. Cùng lúc, bóng dáng nghiêm trang phong thái của ông bước qua cổng nhà vào những buổi trưa hơn hai mươi năm trước từ trong trí nhớ ập đến chiếm lĩnh, tràn lan vuốt mặt. Chị bâng khuâng nghĩ tới vợ chồng người bà con tốt bụng đã qua đời mà bàng hoàng thương đứa cháu gái phải sống đơn độc trong căn nhà sau cửa biển bất trắc cảnh đời. Tội nghiệp cho lớp tuổi trẻ phải sống lầm lủi xác xơ. Thằng Lai, thằng Niên, con Nữ, con Lụa…Sóng gió biển dâu chẳng chừa một ai. Và cả những tình cờ gặp gỡ trên đường đời cũng trở thành định mệnh trớ trêu.
Sau hơn hai năm cam khổ trên vùng kinh tế mới, cuộc sống của chị và con Lụa càng bi đát hơn lúc thằng Lai bị bắt đi bộ đội làm nghĩa vụ quốc tế ở Miên. Ngày đứa con trai bỏ lại một phần bàn tay trên chiến trường giải ngũ trở về chị mừng như sống lại mà Lai thì chỉ hàng ngày câm lặng cày cuốc, sống bơ phờ xa cách trong một thế giới riêng rất buồn.
Nhiều tháng sau, trong một cơn say Lai đã kể cho mẹ và em nghe đoạn đời máu me khốc liệt của mình. Chặng đường địa ngục mà sự lựa chọn chỉ còn là nỗi tuyệt vọng và tình thâm bằng hữu.
Nghĩa vụ quốc tế của bộ đội Việt Nam lan dần về phía biên giới Campuchia Thái Lan với những cuộc truy quét lính Khmer Ðỏ lủi trốn qua những cánh rừng rậm dần về phía sông Mekong. Hi vọng của một số bộ đội Sài Gòn bị bắt đi nghĩa vụ trên đất Miên cũng lớn dần khi vệt quanh co như con rắn xanh trên bản đồ ngày một gần hơn. Lai và người bạn đồng đội trong một tổ tam tam được giao công tác đi kích trong khu rừng gần bờ sông cũng thuộc trong lớp thanh niên này. Dòng sông biên giới giữa hai quốc gia đã bao lần chảy qua giấc mơ họ cũng chính là lằn ranh giữa sự sống và chết. Qua sông về hướng tương lai là động lực duy nhất giúp họ chịu đựng gian nguy, bệnh tật, chết chóc. Nhiều người trong số họ đã bỏ cuộc, qui hàng số phận lúc mắt chưa thấy được ánh nắng lấp lánh nhảy múa trên dòng sông chảy xiết.
Người bạn chống súng đứng nhìn khúc sông ngầu đục phù sa, rời rã lục bình. Anh quay nhìn định nói điều gì đó nhưng vội nghiêm nét mặt khi thấy Lai quắt mắt về phía người tổ trưởng đang lúi húi đào hố cá nhân. Như rất nhiều tổ tam tam khác trong quân đội CSVN, người bộ đội miền Bắc là tổ trưởng chỉ huy hai tổ viên gốc miền Nam. Họ thường là đảng viên hay người đã kiên định tư tưởng.
Một lúc lâu sau, lợi dụng lúc tổ trưởng không để ý, người bạn lại gần Lai nói vừa đủ nghe.
? Ba ngày kích ở vùng này tụi lính Pol Pot thế nào cũng đi qua. Chuẩn bị sẳn sàng. Lợi dụng lúc nổ súng, thấy tình hình thuận tiện là mình bỏ chạy ra bờ sông, lội qua bên kia ngay. Cứ chạy theo tao. Nhớ quàng theo lương khô trong bọc ni lông.
Phiên gác cuối đêm chậm chạp trôi qua trong mệt lã, chập chờn thức ngủ. Lai ngồi trong hố cá nhân nhầy nhụa sình, mí mắt nhấp nhem sụp nhướng, tai mơ hồ tiếng côn trùng và những hạt mưa len lẩy qua nhánh lá ngụy trang cắm trên nón cối. Cuối cùng Lai rơi vào cơn mơ nhập nhòa những vòng nước vầng lan và tiếng nước quẩy nhịp chèo khua. Con đò mẹ chèo tần tảo kiếm sống bên bến Thủ Thiêm lật chìm và bóng mẹ cuốn theo. Tay mẹ gầy trên dòng nước cuộn, câm sặc âm thanh, chới với chìm sâu… Lai giật mình tỉnh giấc. Dòng sông xa xa, lờn vờn lá rừng xanh. Một đêm vừa qua, thấp thom tiếc rẻ. Ðêm định mệnh sắp tới, hụt hẩng đợi chờ. Lai nhớ mẹ vô ngần.
Ngày thứ ba. Vạt nắng cuối ngày còn đọng nhấp nhô trên sông mà cánh rừng bờ Miên đã nhá nhem mặt người. Toán lính Pol Pot di chuyển qua vùng kích vào lúc chẳng ai dự tính. Bất ngờ ập đến cho cả hai phía. Lai chỉ kịp nhìn thấy lùm cây phía đường mòn chợt lay động, mặt người thấp thoáng, và những tia đạn đạo đan chéo nhau cùng một lúc.
Người tổ trưởng và ba trong số bốn tên lính Miên gục chết ngay sau loạt đạn đầu. Người bạn của Lai ném lựu đạn về phía tiếng rên la. Tiếng nổ chát chúa vang lên thanh toán trận chiến trong tích tắc. Khu rừng im lặng rợn người.
Người bạn lục soát xác lính Miên. Anh vội vã chạy ngược về phía Lai, vai ba lô, tay súng.
- Lẹ lên. Chạy theo tao xuống bờ sông. Tụi đại đội nghe tiếng súng xuống tiếp ứng bây giờ.
Người bạn hối hả nói rồi sửng sốt khi nghe Lai từ chối.
- Ð.M. Mầy có khùng không? Ở lại chỉ từ chết tới chết mà thôi. Chỉ cần lội qua sông. Trại tị nạn Liên Hiệp Quốc không xa đâu.
Ðầu óc tỉnh táo lạ thường, Lai nói với người bạn đồng đội đang bối rối đứng nhìn.
- Muốn tao sống thì ráng bắn cho chính xác.
Anh lấy dãi băng cứu thương quấn nhiều lớp thật chặt một phần bàn tay phải rồi cầm súng đứng nép sát thân cây như trong tư thế chiến đấu. Hai ngón tay ở ngoài lớp vải băng cong cong run rẩy. Lai nghiến răng nhắm mắt chờ tiếng đạn nổ. Im lặng. Có tiếng nấc nghẹn của người bạn cố kềm giữ xúc động.
- Ð.M. Bắn lẹ lên. Tụi nó sắp tới rồi.
Tiếng nổ chát chúa cùng lúc với cảm giác bàn tay bị nhấc lên đau xé, khẩu AK rớt thịch xuống đất. Lai ôm cánh tay buốt nhói ngồi dựa lưng vào gốc cây. Người bạn nhào tới ôm Lai, vừa khóc vừa luống cuống băng lại bàn tay mất hai ngón bê bết máu. Lai vỗ vai bạn rồi đẩy hắn ra.
- Mầy chạy đi. Phải tự tay tao băng bó mới được. Mày đã bị tụi lính Pol Pot bắt đi rồi… Chạy lẹ đi.
Người bạn chạy mất hút vào bóng đêm. Lai nghiến răng chịu đau, ngồi băng lại vết thương của mình. Ðêm ập xuống bủa vây. Anh nhắm mắt định thần, cố gắng giữ lòng trấn tỉnh nghĩ về người bạn giây phút này có lẽ đang lội qua sông. Anh khấp khởi mừng phía bờ sông vẫn vắng lặng. Ðêm bao la rờn rợn tiếng rừng. Hơi thở mệt rã từng cơn kéo anh rớt chìm vào trạng thái chập chờn nửa thức nửa mê. Ðêm nhẹ tênh. Lai thấy mình trở về nhà. Ðám mây bềnh bồng trôi trắng lòng sông. Giọt mồ hôi lấp lánh trán mẹ. Tiếng đứa em cười...
(còn tiếp)
( Viết về một chuyện có thật )
- - - o0o - - -
Nhìn ngôi mộ của mẹ đã sơn xong sáng hẳn lên trong nắng sớm ngày rằm tháng chạp, cây mai trước mộ cũng được suốt xong những chiếc lá cuối cùng, tôi lại đứng tần ngần hồi lâu, tôi mong thời gian dừng lại để không đến ngày hai mươi ba tháng chạp, ngày mà hai mươi năm về trước tôi phút chốc bổng trở thành một đứa trẻ mồ côi mẹ khi vừa tròn bảy tháng tuổi.
Tôi tảo mộ mẹ tôi sớm hơn thường năm, vì năm nay tôi bận đi làm, không thể hoà nhập vào dòng người trong ngày trẩy hội thanh minh . Suốt gần hai mươi năm, ngày thanh minh tôi luôn có mặt sửa sang phần mộ, việc mà từ khi có trí khôn tôi chưa hề nhường cho ai dù người ấy là ông bà ngoại của mình.
Thuở nhỏ tôi thường nhìn những vệt khói nhang bay trước di ảnh mẹ, ngồi bên mộ thủ thỉ với mẹ về thân phận cút côi của mình, cầu xin mẹ phù hộ tôi có đủ nghị lực, có đủ điều kiện học hành đến chốn, ngày sau có việc làm dù ổ định để đển đáp công ơn ông bà ngoại đã dưỡng nuôi dạy bảo. rồi xin mẹ phù hộ sức khoẻ ngoại thật tốt để làm chổ dựa cho đứa con thơ dại.
Năm ấy 1981, khi mẹ tôi vừa mười tám tuổi, sống ở quê nhà để giữ ruộng vườn sau ngày đất nước thống nhất, cuộc sống giao thời sau chiến tranh chấm dứt ai cũng gặp khó khăn, mẹ sống từ đồng tiền sinh lợi của mảnh vườn miếng ruộng. Vì sợ mẹ tôi lẻ loi nên ngoại định duyên phận cho mẹ, hai năm sau tôi được sinh ra đời.
Ba tôi cũng còn rất trẻ, chưa biết lo toan, uống rượu vui chơi với bạn bè suốt đêm, mẹ tôi khuyên mãi không được, không thể chia sẻ cùng ai cho vơi nỗi niềm, tuổi trẻ nông nổi, cuộc sống khó khăn bế tắt, trong giây phút thiếu suy nghĩ dùng thuốc ngủ tự kết liễu đời mình thật êm ái trong ngày hai mươi ba thang chạp, lúc mọi người mọi nhà đưa ông táo về trời, chuẩn bị đón xuân về. Mùa xuân năm ấy ông bà tôi ăn cái tết đầy nước mắt đau thương. và hai mươi năm theo sau những ngày xuân không còn ý nghĩa.
Tôi sống với ông bà ngoại với dì và cậu từ bé thơ cho đến lúc trưởng thành, dì và cậu lần lượt lập gia đình sống gần nhà ngoại, các anh em bạn dì cũng lần lượt ra đời xấp xỉ tuổi tôi, cũng lớn lên trong nghèo khó trong tất bật của cuộc sống, không ai khá giả để có thể cưu mang đứa cháu mồ côi như tôi, biết phận mình lớn lên bằng tình thương yêu vô vàng của ông ngoại, tôi rất ngoan, luôn chăm chỉ học hành.
Ðiều tôi thật sự đau lòng vì suốt hai mươi năm sống với ngoại, nuôi gia đình và tiền nuôi tôi ăn học bằng đồng tiền vai mượn trước rồi góp từ từ mỗi ngày có trả có lãi, với nghề thợ may đắp đổi, nhiều khi ban đêm cả khu phố yên giấc tôi thức học bài, ngoại vẫn ngồi bên chiếc máy may vang đều những âm thanh cộc cạch , tôi xót xa lòng lắm.
Có lần tôi và bà ôm nhau khóc khi tôi kể là tôi phải khó khăn thế nào để làm bài văn với đề tài hãy nói về tấm lòng mẹ của em, tất cả các bạn đều viết thật trôi chảy, kể nào là tình thương thật bao la sự hy sinh thật to lớn, mẹ là biển trời, mẹ là tất cả… chỉ có tôi là ngồi cắn bút ngăn cho dòng nước mắt chực rơi, không viết được vì xúc cảm dâng tràọTừ khi lớn lên chưa được cảm nhận được sự vỗ về thương yêu, được nằm trong vòng tay âu yếm của mẹ, để có được xúc cảm viết như các bạn tôi đã viết. Tôi chỉ có bà ngoại thôi, bà cho tôi những gì mà các bạn tôi có, tôi nghĩ mình hãy còn được diễm phúc nhiều với tình thương trời biển đó. Hay là mình cứ viết bà ngoại là người mẹ thứ hai của mình, nhưng tuổi thơ tôi bấy giờ không dám vì sợ bài văn sẽ lạc đề.
Tôi thường đứng ở một góc khuất trong nhà nhìn mợ tôi , dì tôi chăm sóc các con , tôi rưng rưng thèm vòng tay mẹ biết bao. Thế mà các anh chị
em con dì và cậu đều bỏ học dở dang. Còn tôi ý thức được công khó nhọc của ngoại nên gắng công học.Tôi đậu tú tài rồi tốt nghiệp đại học. Năm nay là năm đầu tiên tôi làm việc , lảnh đồng lương bằng sức lao động của mình. Tôi vui mừng lắm vì rồi đây ngoại tôi sẽ bớt khổ nhọc.
Cảm ơn mẹ đã không chố i bỏ lời cầu nguyện của con , con cảm ơn ngoại đã hết lòng chăm sóc đứa cháu trẻ mồ côi, để con tự hào có được kết quả ngày hôm nay. Tết nầy đốt nhang trước bàn thờ mẹ, tôi và ngoại sẽ là người vui nhất, vì ngoại đã xong nghĩa vụ đưa tôi vào đời, không như hai mươi năm qua khi thắp nhang ánh mắt ngoại mãi đượm u buồn.
Lảnh lương tháng lương dầu tiên tôi đưa hết tiền cho bà ngoại , chỉ giữ lại một ít để chi tiêu, nhưng ngoại tôi đâu chịu vậy, ngoại nói:
- Ngoại già rồi , có xài gì đâu , ăn tiêu dè xẻn đã quen, con hãy giữ lấy để mai nầy còn có gia đình , còn lo cho con cái nữa.
Ngoại già rồi , câu nói ấy của ngoại đâu phải bây giờ tôi mới biết , mà đã nhiều đêm tôi thấy ngoại cậm cụi bên bàn máy may, chiếc quạt thổi bay mái tóc sớm bạc phơ vì chịu nhiều gian khổ, lo học phí cho tôi nhất là những năm cuối đại học .
Ngoại nói sau nầy còn lo cho con cái nữa… Nhất định là thế ngoại ơi, chừng ấy con càng cảm nhận sâu sắc hơn tấm lòng của bậc làm cha mẹ đề hiểu rằng con đang sống những ngày ấu thơ và ngay cả bây giờ trong lòng ngoại, một lòng biển rộng bao la như biển Thái Bình.
10-5-08
Vào những ngày lộng gió, nhìn lá cờ phần phật phất phới reo vang như cánh tay vẫy chào đưa tiễn hay buổi trình diễn đồng loạt lộ thiên, tà áo dài bay bay đùa quyện đôi chân thiếu nữ, mái tóc thề buông xỏa vờn như đuổi bắt quanh vai, chiếc nón bài thơ xuýt bay bổng nếu không kíp giữ kềm kéo lại, chiếc lá vàng rơi xào xạt, lá me khô lả tả như confettis đầy sân, ta cảm nhận sức sống tự do đang trào dâng trong tạo vật.
Sung sướng thay cánh đồng mạ xanh mượt mà gợn sóng như mái tóc uốn buông lơi của các vũ nữ say sưa hòa mình quay cuồng theo điệu nhạc, thảm lúa vàng nặng trĩu hạt nhấp nhô đang múa khúc gặt hái cấy trồng. Kìa là cánh diều đủ hình màu lượn quay lên cao xuống thấp, bong bóng chen chúc nở rộ sau buổi lễ kết thúc mở màn. Bao tai hoa tan tác rời cành, nhụy phấn tả tơi. Hàng dừa cau lắc đầu nguầy nguậy như bị cù thọc lét nhột nhạt hả hê. Cây cối như được tháp cánh rướm bay gần bật gốc rung rinh nghiêng ngả.
Bụi đường có cơ may bám chặt đùa ghẹo khách đi qua cho giác quan nếm thử biết tài cao thấp. Gió vờn má hây hây các cô gò mình trên xe đạp theo đuổi mây trôi, chắp cánh mộng đẹp bay lên Thiên thai huyền ảo. Như thân mật hơn, gíó luông tuồng luồn vào quần áo, mơn man da thịt không ngại ngùng làm thanh niên thiếu nữ tự nhiên cười khúc khích mà xin đừng cắt cớ hỏi nguyên nhân.’’Ðôi mảnh quần hồng bay phất phới’’ của cô gái đánh đu, má ngây ngây căng phồng sức trẻ, những cột quạt chạy bằng sức gió quay tít thi đua sản xuất điện năng.
Hình ảnh của đoàn ngựa phi rầm rập, bờm dựng đứng, như vó câu qua cửa sổ, bóng dáng các chiến sĩ trên chiến trường sôi sục, nhanh như
’’Bát nước gát cây kim, ngựa chạy mau như chim, chạy qua chạy lại cây kim chưa chìm’’. Hay ví như
‘’Lò lửa bỏ cái lông, ngựa chạy mau như dông, chạy qua chạy lại cái lông chưa phồng’’.
Gió lộng làm ‘’kìa chiếc diều ai nó lộn lèo’’ đứt giây rách nát mà không có gì ngăn cản nỗi . ‘’Ta muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi’’cũng đành thúc thủ đứng nhìn. Hướng mắt theo dõi chiếc ballon tung dù bật lửa nhẹ lướt không trung vòng quanh thế giới, mộng vá trời cũng sẵn gió bay cao. Người Việt ta đã chẳng bảo ‘’Nam vô tửu như kỳ vô phong’’, cờ không gió ‘xếp de’ như cờ rũ, chút rượu vào chẳng mấy chốc lời ra.
Hãy lắng nghe tiếng gió bên hàng thông hay phi lao vi vút như tiếng roi quật trên lưng trần rướm máu của dân nô lệ thời xưa. Cơn gió hú làm ngay cả rừng cây cổ thụ trên núi đồi cao quằn quại vặn mình run rẩy. Nhìn trùng dương mênh mông cuộn sóng, thuyền tàu như chiếc lá vàng lên cao xuống thấp theo nhịp thôi thúc của phong ba. Gió lồng mang tiếng hát chơi vơi trên sông vắng của chàng đánh cá Trương Chi làm tim nàng Mỵ Châu thổn thức mê say. Hình ảnh những ngư phủ lực lưỡng với ngực nở bắp thịt căng phồng ra sức chống chèo hò dô ta quăng chài kéo lưới.
Sức gió làm bung mái tóc buông lơi, bật tung nón dù mặc cho tay ai nắm cán quai giữ chặt, tà áo dài quận lấy đôi chân trì bước, thổi khô thắm mặn giọt mồ hôi đọng trên trán vai thân mình nhễ nhại như ‘thuốc đắng đã tật, lời thật mất lòng’. Những cơn sóng thần tsunami, con trốt xoáy người tàn phá trong khoảnh khắc như đoàn quân Mông cổ một thời bách chiến bách thắng, đi qua đâu rồi ngay cỏ dại cũng không còn mọc nổi. Mảnh nhung chân trời đang sậm màu lủng lẳng một vài cột vòi rồng đen trắng, phút chốc biến thành cuồng phong vũ bão san bằng bình địa.
Gió ngàn phương, bao tâm tư bao lối mộng, hạt lìa hoa rơi rụng, bay xa tạo mầm thêm giống, những mũi tên nghĩ suy sáng tạo hay của Cupidon bất chợt lao vút cấm phập vào bia vô hình, hồng tâm nào đó khó ngờ, như cả mây bay cũng nhờ gió tải đi hội ngộ. Quả đúng ‘Gió mưa là bệnh của Trời’ và‘mưu sự tại nhân ,thành sự tại thiên’.
Nghĩ rộng hơn, sức hút của tự do cũng như thế đấy. Cơ thể ta được kích thích tột cùng, bay bổng. Tim đập mạnh, máu hồng lên đôi má, mắt rực sáng, mộng căng bườm trí tuệ, đời đáng sống biết dường nào.
Tự hào được đắm hồn trong ánh sáng của ngọn đuốc tự do, dù không chắc thời gian thụ hưởng ngắn dài, ai ai cũng tưởng chừng như được tháp cánh tung bay. Lắm lúc chính cái hào quang tự do đó cũng làm ta mù quáng, vô tình phá đổ bao thứ phải giữ gìn, truyền bá.
Giải phóng quê hương khỏi ách nô lệ ngoại xâm chẳng hạn đáng quí nhưng cọng thêm ‘cõng rắn cắn gà nhà’ thì cần xét lại đề phòng. ‘Không gì quí hơn độc lập tự do’ tuy nhiên nhãn hiệu tự do cũng là cập bài trùng với lệ thuộc. Vòng quạt tự do ngày nay không chỉ để phe phẩy ví von như trong thơ Hồ Xuân Hương mà là cánh của nhiều loại quạt trần, quạt điện, chong chóng...đủ ngành. Tất nhiên bất cứ cái gì quá trớn, phung phí bừa bãi, sử dụng vô trách nhiệm, quá giới hạn vô kỷ luật là tự mình đưa đầu vào thòng lọng tự hủy tự tiêu.
Cách mạng 1789 Pháp, phá ngục Bastille, biến chế độ quân chủ thành Cộng hòa, đó là một cuộc đổi đời. Nhưng không phải bất cứ cuộc cách mạng nào cũng thành công, như cuộc Cách mạng xã hội, nếu không có đường lối chính sách lý tưởng mục tiêu rõ rệt, thiếu lãnh đạo tài đức, không hợp thời đúng chỗ, lắm lúc cũng trật đường rầy mất hướng tuột dốc khó dừng.
Gió lộng ! Xin phó gửi rắc rối buồn phiền ray rứt để gió dệt thành tơ sợi yêu thương, biến mộng mơ thành chăn êm thảm ấm ấp ủ tình người. Hơi thở gió là tiếng hát đồng ca đoàn kết, dây tơ hồng chỉ thắm gieo hạt nẩy mầm. Sức gió trộn hương truyền sinh lực, khơi gọi ý tình tự lập, xẻ chia. Tập đưa tay cao lên tìm hướng định chiều, nương theo gió hay quyết tâm tiến ngược. Cơn gió lồng qua, cuộc đời tiếp diễn.
Thân tặng những bạn viết trẻ, xin đừng dùng cái danh làm đích đi tới, cứ viết hết lòng, sống hết mình, bạn sẽ để lại trong lòng những người yêu quý bạn chân thành những tài sản tinh thần vô giá và bạn ơi, điều đó đáng quý gấp trăm lần cái danh bạn mang nếu vô tình người ta muốn quàng vào bạn.
Bạn biết không, bạn không cần ai biết mình là ai chi đâu.
Sáng sớm thức dậy, bạn chịu nổi cái áp lực nhìn tên mình trên báo với bao điều nghi kỵ, đàm tiếu hông. Bạn chịu được tôi thua. À mà bạn có mong thế đâu. Trong thâm tâm bạn chỉ mong bài viết này, bài viết nọ của bạn được đăng đâu đó cho thế giới này biết đến bạn thôi đó hả. Ðơn giản vậy thôi thì cũng không sao, nhưng cũng là cả vấn đề đó nhé.
Một ngày, một người vô tình thấy bài tôi viết trên báo thường kỳ ở Úc. Ở đây, bài đăng trên mạng thiếu gì, người ta lấy không cần hỏi, gặp tôi ở Mỹ, họ ở Úc, cơ hội tôi biết ra rất ít, nên cần hỏi chi, vả lại họ nghĩ đó là có lợi cho tôi chứ bộ, một con người vô danh tiểu tốt. Vậy mà không nha, một người biết tôi họ méc lại, làm tôi tò mò quá cũng tìm ra cho bằng được địa chỉ mail của tờ báo đó và xin tờ báo có bài của tôi được đăng làm kỷ niệm. Ý tôi là tôi trân trọng con mình được chưng thôi, nhuận bút lẽ ra họ phải trả nhưng họ mất tiền cước gửi qua tờ báo từ Úc qua Mỹ thế đã tốt lắm rồi vì trong thâm tâm họ, họ nghĩ tôi làm gì biết được. Nhưng mà từ đây nó ra vấn đề. Cái chuyện bài bạn đi Úc là do người ta thiếu bài, thấy bài bạn tàm tạm, họ đăng cho qua ngày tháng thế thôi, đưa bạn lên ngai vàng hay đỉnh điểm chi đâu. Nhưng những người biết tôi, thử lòng háo danh tôi tới đâu, họ đã viết thư tâng bốc tôi lên bằng trời, yeah, nổi tiếng này, nổi tiếng nọ, rồi nói này nói kia. Tôi cũng chưa bao giờ quen với chuyện tên tuổi, thì thử hỏi bạn đọc một truyện ngắn của ai mà thấy tâm đắc bạn nhớ tên tác giả lúc đó là bạn hay lắm rồi. Người nào có lòng thì gọi lại Ban Biên Tập khen cái bài viết một tiếng làm quà chứ cũng ít ai nhớ tên tác giả. Chuyện là vậy mà từ sau khi cho tôi biết tin và thử lòng háo danh tôi xong, cái người mách tôi họ đẩy đưa với tôi và tâng bốc tôi tận mây xanh, tôi biết họ sạo mà cũng ráng ậm ừ cho qua chuyện. Tưởng vậy là xong ai dè sau đó tôi quen với chuyện tâng bốc thật sự bạn ạ . Ngày nào không có ai báo bài đăng tận Canada hay Cali, tôi buồn lắm nhá. Hahha thế có chết không chứ. Bịnh này không cần thuốc, bạn chỉ cần chữa cho bạn, coi bạn tầm thường hơn chút, coi mọi chuyện giản dị hơn chút là xong. Bạn chẳng thể nào bắn giết hết ba cái người sạo đi tâng bốc người khác làm trò vui làm chi. Họ làm thế để tìm con mồi nào sẽ dẫy chết dưới sự háo danh và để họ có thể cười bạn sau này.
Ðàng sau những chuyện đã xảy ra trước mặt bạn đều có một ý nghĩ, ý định thú vị từ người khác mà bạn chưa lường được đó thôi.
Tôi chưa từng có ý định thành ông này bà nọ. Chỗ nào người ta xưng danh nhiều quá tôi tránh hết. Tôi cần chi à. Danh nó ra cái quái gì hả bạn nếu không muốn nói nó làm hư bạn. Trong cuộc đời, dù chỉ được nói chuyện với vài ba người nhưng nói thành thật và có thể chia xẻ được tâm tư của bạn với họ là hạnh phúc lắm rồi dù họ cũng vô danh tiểu tốt như tôi.
Tôi không cần đến gần những người tự cho chính họ có hào quang, vì hào quang đó là do họ mang vào mình họ, người khác biết họ mang vào thêm dùm cho họ chứ tôi có biết họ là ai đâu. Nếu vô tình tôi tìm tới cái hay của họ và chợt nhận ra họ từng có hào quang và họ hay thật thì đúng là tôi biết họ vì thấy họ hay chứ không tìm đến họ vì họ có hào quang.
Nên bạn đừng lầm khi đến gần tôi mà xưng danh chi, bạn xưng danh với tôi, tôi buồn cười lắm. Bạn không có danh mà trong những gì bạn viết tôi nhìn ra cái tâm của bạn thì danh của bạn đã có chỗ đứng trong lòng tôi rồi đó.
Người đời dùng danh để phân loại dù loại nào ra loại nào là do họ nghĩ chứ chẳng phải ai cũng nghĩ như họ đâu.
Bạn thấy tôi nói có phải không?
Trên ba mươi tuổi rồi đâu còn trẻ nữa. Gái trên ba mươi người đời đã gọi là già. Trai ba mươi tuổi còn xoan, gái ba mươi tuổi đã toan về già, về với đời sống bồng bềnh, chiếc bóng như thuyền không lái, như ngựa không cương, như khối bèo giạt lang thang vô định giữa dòng nước trôi ra biển Ðông mênh mông. Người đời ví von, vẻ vời châm biếm như thế, nhưng tôi không là như thế. Tôi là một phụ nữ năng động, vững vàng trong nếp sống tình cảm chừng mực từ tuổi dậy thì. Tôi không yêu cuồng sống vội, không đam mê ngớ ngẩn. Tôi độ lượng, hiểu biết, giữ tình cảm chừng mực không phiêu lưu quá trớn. Tôi sinh ra như thế nào, tâm hồn tôi ra sao, bản chất của tôi có điều tốt, có cái xấu, vốn đã tự có từ bẩm sinh lúc lọt lòng mẹ, và tôi biết tôi như thế không thể thay đổi. Tôi lựa chọn, tìm kiếm với mình được hạnh phúc an lành như mơ ước. Tôi không ước mơ mọi thứ có được ngoài tầm tay. Chỉ một tình yêu chân thật, quí trọng, hiểu nhau, và chung thủy. Người tôi yêu cần nhất phải hiểu tôi, phải biết tôi đang nghĩ gì, tôi đang muốn gì, thích làm gì khi sống bên nhau và phải sống như thế nào để được tóc bạc răng long có nhau. Ðó là cứu cánh hạnh phúc con người đạt đến. Tôi cũng là người đàn bà vẹn toàn công dung ngôn hạnh chưa đến nổi nào. Tôi không kênh kiệu, kiêu căng để người đời chê trách bình phẩm. Tôi cũng có được chút duyên sắc, có được chút học thức hiểu biết, đủ cuốn hút những anh chàng thích tán tỉnh trồng cây si, có được dịp bốc thơm xu nịnh, để được đến gần vòi vĩnh chút tình yêu. Họ vẫn hoài công khi họ đến với tôi, vì chỉ muốn chiếm đoạt tôi nhất thời, vì chỉ muốn tôi trở thành nô lệ trong hạnh phúc của họ ban phát khi họ có được tôi trong tay. Tôi xin lỗi ai đó chớ phiền lòng vì tôi khi những lần tìm đến như thế trong thất vọng. Họ nói gì, làm gì muốn bắt tôi phải tuân phục, đâu phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là sự đồng cảm chấp nhận từ con tim và dâng hiến cả tâm hồn và thể xác cho nhau bởi con tim chỉ đạo thật tình, không dựa trên vật chất, không gượng ép, áp đặt. Người tôi yêu không những là người yêu, người chồng thuần nhất, còn là người bạn tâm đắc, người anh, người thầy cùng chia xẻ, thảo luận trong từng cuộc sống. Bạn bè tôi đông, có đứa hạnh phúc vuông tròn theo ước mơ, có đứa đổ vỡ nửa chừng trong đắng cay phũ phàng. Tại sao ? Những lý do của muôn ngàn lý do. Mỗi người thích giải lý theo lý riêng để tự bào chữa cho một chấp nhận đúng. Tôi không mô phỏng, không rập khuôn theo chúng nó, tôi có lý cho sự gạn lọc lựa chọn của đời sống tự do cá nhân tôi.
Trên ba mươi tuổi rồi, tôi vẫn biết cái tuổi lập thân của đời người và vững vàng được chăm chút trong mái ấm gia đình hạnh phúc, vậy mà tôi mãi long bong cô đơn trong tình cảm cũng là như vậy. Bạn bè chế diểu, nói cạnh nói khóe, xiên xỏ ngang dọc tôi. Loại gái lỡ thời, mi vói chi cho cao để không thấu, vói thấp quá không vừa tầm cở, thôi thì đi tu quách ở xó xỉnh nào đó cho xong một kiếp người. Tôi đâu ước vọng đi tu để đắc đạo cứu rỗi chúng sanh trầm luân trong bể khổ. Tôi không kén chọn, tìm kiếm. Tôi không thích sống trong mộng mơ như luôn chụp bắt ảo ảnh. Tình yêu chẳng chờ đợi, nó đến thật bất ngờ như một tên trộm chẳng ai hay biết. Tôi chưa đến nổi chán đời để đánh mất hạnh phúc tương lai của mình như bạn bè lầm tưởng. Tôi vẫn có thể còn suy nghĩ. Tôi vẫn còn xây dựng hạnh phúc theo lòng mơ ước mà tôi đang suy nghĩ để chọn lựa. Tôi nhẫn nại chờ đợi một điểm tựa tình cảm cho cuộc đời mình đúng theo ước muốn. Trời không phụ lòng khi tôi gặp được anh, người đàn ông mà tôi mơ ước trong một tình cờ ở cuộc họp mặt sinh nhật tại nhà người bạn. Anh là người đàn ông chững chạc, đứng đắn, hoạt bát, dễ dàng hòa đồng trong mọi tình huống. Với dáng vẻ bề ngoài của anh, tôi rất ưng ý. Tâm hồn, lối sống, cách xử thế của anh thích hợp mẫu người với tôi. Chúng tôi quen nhau, một thoáng yêu nhau như một thôi thúc con tim đồng cảm. Con tim chọn lựa là điều kỳ diệu nhất trong tình yêu khi gặp được người mình yêu vừa ý để cùng thú vị đồng gật đầu chấp nhận hiến dâng trọn vẹn. Hơn ba mươi tuổi rồi tôi mới được và cảm nhận yêu thực sự một người đàn ông đúng theo ý mình muốn. Tôi yêu anh đắm say, cuồng nhiệt và chỉ một lần yêu duy nhất trong đời.. Tình yêu không lựa chọn, đến với tôi thật bất ngờ rất ư là tự nhiên một sớm một chiều. Tôi được cơ hội xây dựng hạnh phúc bên anh. Bên anh tôi cảm thấy hình ảnh, dáng vẻ, và tâm hồn tôi rõ nét. Tôi không tự dối lòng, để tình yêu của tôi thực sự diễn tiến theo từng giây phút khi nắm bắt được nó. Ở bên anh, tôi mới cảm thấy tôi chính là tôi. Duy nhất chỉ có anh biết được tôi nghĩ gì, muốn gì, cần gì, ước mơ gì trong hạnh phúc lứa đôi để tôi được thỏa lòng vừa ý. Chúng tôi thân quen từng hơi thở, say đắm theo mỗi nụ cười, bằng lòng thỏa hiệp từng lời nói, nhớ nhau những cử chỉ âu yếm khi bên nhau. Tôi và anh không những là tình yêu say đắm, mà còn là tình bạn mật thiết tương kính hiểu biết trong cuộc sống dành cho nhau, bổ sung cho nhau trọn vẹn. Không ai hiểu tôi hơn anh. Anh rất tế nhị khi tôi giải bày tâm sự, khi tôi thảo luận một vấn đề gì được anh góp ý hết sức trang trọng . Chúng tôi rất thỏa hiệp trong từng suy nghĩ, trong tư tưởng, trong từng cung cách làm việc, trong niềm vui, nổi buồn, trong cách nhìn ngắm cả những sở thích riêng tư. Tất cả anh dành riêng cho tôi không mặc cả đòi hỏi. Tôi tin anh. Lòng tin như dấu ấn kết hợp cuộc đời hai người thành một. Mặc dù tôi biết anh đã ly dị người vợ trước. Chuyện ấy chẳng là vấn đề quan tâm đối với tôi. Dưới mắt tôi, anh là người đàn ông lý tưởng, người tình tuyệt vời mà tôi đang có được để tôi được yêu, để tôi được dâng hiến tất cả cho anh, để tôi trang trọng nhận anh là người chồng tuyệt vời bên cạnh mình, cùng đi trọn cuộc đời.
Tôi yêu anh bằng con tim rung động nhiệt thành, bằng trí óc suy xét trong hành động. Tôi chẳng ham giàu sang phú quý, cho dù người tôi yêu là một đại thương gia giàu có. Tiền bạc của cải đối với tôi không đem lại hạnh phúc, cho dù hôm nay tôi đang sở hửu của riêng mình một thẩm mỹ viện bề thế. Lúc nhỏ tôi không hẳn sống trong nhung lụa giàu sang. Bước vào đời, tôi đã phải bương chải, dầm mưa dải nắng vật vã trong cuộc sống. Nghị lực và sự nhẫn nại đã trưởng thành trong từng chặng đời với tôi. Một người đàn ông với vỏ bọc giàu sang, quyền cao chức trọng không hẳn là mẫu người thích hợp mà tôi lựa chọn để yêu thương. Quan niệm này đối với tôi không biết có khác đời hay không, mà bạn bè chúng ưa xỉa xói. Mi quá cao thượng. Không lẻ mi yêu nhau nhìn nhau uống nước lã cười trừ để bao tử không làm reo. Có tiền mới có hạnh phúc. Có tiền mới duy trì được hạnh phúc bền lâu. Mi cũng đã thấy,biết bao nhiêu hạnh phúc đã đổ vỡ cũng vì tiền ! Ðồng tiền là núm ruột, có được tất cả kể cả tình yêu.
Tôi không phản đối nhưng tôi cũng chưa hẳn chấp nhận tiền bạc tạo nên hạnh phúc. Khi yêu nhau, người ta thích đòi hỏi người mình yêu những nhu cầu vật chất cao sang để đánh đổi cái giá của tình yêu đang có Tiền bạc, sắc đẹp trang điểm cho tình yêu, tình nghĩa vợ chồng, vẫn hay không có thể tồn tại. Biết rằng có tiền được sung sướng bản thân. Nhưng nếu đem sự sung sướng có được từ đồng tiền đánh đổi đời mình thì tôi không chấp nhận. Ðồng tiền sai khiến mọi việc, làm mờ mắt người đời, làm hư hỏng chân giá trị của hạnh phúc để chỉ còn sự quỵ luỵ phục dịch. Tôi không thích thà rằng đừng vướng mắc chứ không muốn sống với người mình không yêu, đem tiền bạc cân đo đong đếm hạnh phúc.
Tiền bạc có thể dễ dàng làm ra, nhưng tìm kiếm một hạnh phúc chân chính không hẳn là chuyện dễ. Tôi yêu anh, chúng tôi tạo được hạnh phúc mà tôi đã mong đợi. Chúng tôi không sử dụng đồng tiền để mua hạnh phúc cho nhau. Vì ở bên người đàn ông của tôi, tôi cảm nhận tâm hồn mình thật bình yên, thanh thản, cổi mở, sự hiểu biết cùng nhau, sẳn sàng chia xẻ tâm tư, niềm vui nỗi buồn. Ðích thực là hạnh phúc mà tôi suy nghĩ đến, dang tay nắm bắt.
Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên bởi số mình phải chấp nhận một sự thật phũ phàng xảy ra với tôi và người tôi yêu có thể vĩnh viễn xa nhau. Anh bị bắt can trọng tội có thể phải lảnh án nhiều năm, có thể chung thân. Một đau khổ mất mát đột nhiên phũ chụp xuống đầu tôi. Ðiều ấy xảy ra tinh thần tôi rũ liệt. Tôi ngộp ngạt suy sụp khũng khiếp. Dư luận đồn đãi, bêu rếu tôi không còn kẽ hở. Rằng tôi ham tiền, ham của cải, nhà lầu, xe hơi, danh vọng, quyền thế. Tôi nằm vật xuống giường không ngốc lên nổi cả thời gian dài trong nổi tủi thân thân phận. Ðói chẳng buồn ăn, khát không muốn uống. Tôi mê sảng qua những cơn ác mộng dài khủng khiếp. Người rạc đi, ê ẩm nhức nhối toàn thân. Khi gượng người dậy được tôi lảnh nhận những trận đòn dư luận tới tấp quất vào mặt mủi thân thể tôi thật khắc khe đay nghiến.
Tôi đến với anh thế nào, khi tôi xa anh như thế ấy. Trong sạch tinh tuyền, không tiếc tham lợi dụng. Chỉ có được tình yêu chân chính, chỉ vỏn vẹn nguồn hạnh phúc trong trắng hòa hợp hai tâm hồn chúng tôi. Tôi chưa nhận một tài sản, tiền bạc mà anh dành riêng cho tôi. Chỉ là người nhà của anh thâu tóm trọn hưởng sau khi anh bị bắt. Tôi gánh nhận hàm oan bởi miệng lưỡi người đời quái ác Tôi gượng dậy phản kháng búa rìu dư luận khắc nghiệt. Ai chửi mắng tôi, tôi chửi mắng lại. Ai đánh tôi, tôi chẳng nhịn. Tôi phản kháng để tự bảo vệ niềm tin và danh dự cho chính mình trong cuộc sống vững vàng đạt sự cố gắng hồi phục. Ðến bây giờ thời gian đã dài phải xa anh, tôi nghĩ cần được cuộc sống yên ổn, an bình, không gây oán hờn, phiền trách. Từ đó là tình yêu của tôi với anh vĩnh viễn, mặc dầu anh không ở bên tôi.
Tôi đứng lên, vươn tới để mãi mãi là tôi. Tôi không oán trách đời, không nguyền rũa thân phận mình. Tôi nhận ra dư luận, lời bình phẩm có cho tôi một bài học suy gẫm. Ly nước đầy tôi trân trọng gìn giữ, không châm thêm giọt nước để tràn ly. Tôi cám ơn họ giúp tôi nhìn rõ cuộc đời để tôi vươn tới, cho tôi được sống, được yêu tha nhân, được yêu chính bản thân. Yêu chính bản thân mình, không vong ơn cha mẹ sinh thành dưỡng nuôi. Nhưng khó nổi không ai có thể đánh thức trong tôi tình yêu mà tôi dành trọn cho người đàn ông tôi đã yêu cho dù hai ngã cách xa. Vài người đến với tôi sau này phải nhận sự thất vọng. Họ nào đã đem đến cho tôi tình yêu chân thật để thay thế được anh trong trái tim tôi. Tôi không gàn dỡ. Tôi khiến họ đã buồn về tôi. Tôi có lời xin lỗi những ai đó thật tình. Tôi xin họ hãy hiểu tình yêu là những gì dễ tìm kiếm, nhưng hiểu nhau, hòa hợp nhau, trân trọng nhau trong cùng bản tính đâu có thể là dễ dàng.
Với tôi, anh không những là người tình mà còn là người bạn thân thiết, là vị thầy khả kính để tôi yêu quí trân trọng. anh đã cho tôi kiến thức, sự hiểu biết sâu sắc, lòng bác ái nhân hậu, tấm lòng vị tha và một cuộc sống đơn giản, cho dù anh là một đại thương gia kếch xù.
Ðến bây giờ, tôi vẫn là tôi yêu anh say đắm. Chưa ai đủ bản lĩnh đưa tôi ra khỏi tháp ngà, chưa ai cất đi được lòng chung thuỷ của tôi với người tôi đã yêu. Tình yêu đến với tôi chỉ một lần duy nhất. Nếu vì lẽ gì để nghĩ đến một tình yêu thứ hai chẳng qua cũng chỉ là sự gượng ép không thật lòng, cũng chỉ là sự lừa dối con tim mình. Nhưng nếu chuyện có xảy ra chỉ là một ảo tưởng bởi tâm cang tôi hằn vết chai cứng.
Ðời chẳng là mộng mợ.!! Nhưng mơ mộng nào chiếm lĩnh cố hửu trong tôi. Tôi đứng lên, bước tới, ngẫng mặt nhìn đời với những bước đi vững chắc, đủ bình tĩnh với lòng can đảm nhìn vấn đề một cách sâu sắc rõ nét hơn, vì đời chẳng là mộng mơ hay saọ.!
http://maylangdu-vnfl.blogspot.com
Tình cờ tôi gặp chính tôi
Trên dòng sông cũ dật dờ khói sương
Chút tình chút ý còn vương
Trên từng con chữ ghét thương cũng liều .
Quả thật tôi đã gặp lại chính tôi , gã đàn ông phiêu bạt một thời ở rể đất Gò Công sau ngày mất nước . Tôi ở làng Tây vẫn thường vượt đồng xa sang làng Ðông đong rượu. - Ðế Gò Công một thời lừng lẫy tiếng đồn gần xa khắp lục tỉnh Nam kỳ.Giới lưu linh chưa thử qua thì chưa phải là người lịch lãm. Chính vì điều nhỏ nhoi ấy trong tôi vẫn còn mãi một Gò Công dầu đang hành thiền khất thực xứ người .
Thực sự ra thì tôi chẳng gặp ai trên dòng sông cũ cả , mà chỉ là gặp tôi trên dòng Thơ Thy Lan Thảo . Cái âm hưởng Gò Công và tên tác giả làm tôi liên tưởng đến một tà áo vờn bay ở bến đò qua Chợ Gạo , một vành nón che nghiêng mái tóc ai vượt cầu Quay những chiều hanh nắng. Tôi tò mò , tôi tìm hiểu với tất cả nôn nao háo hức và tôi lạc vào thơ . Cũng từ thơ tôi vỡ mộng như ly rượu cuối cùng quật tôi ngã xuống khi tiệc chưa tàn và bằng hữu vẫn đang vui . Tôi vỡ mộng bởi lẽ Thy Lan Thảo môt cái tên hết sức tượng hình nhưng không là hình ảnh của một cô gái Gò Công chân chất thật thà mà lại là một anh chàng lính thú như tôi .
Thế nhưng vẫn là chữ nhưng khó chịu dịu êm , thường lai vãng trong đời của những phận người trôi nổi . Tôi không gặp lại Cô gái Gò Công của tôi thì luật bù trừ cho tôi cái may mắn kết giao với một người thơ không kém phần dịu dàng đôn hậu, đó là Thy Lan Thảo .
Mới gặp lần đầu , sẽ không ai nghĩ Thy Lan Thảo đã từng là một người lính cũ , là một cựu tù , có lẽ thời gian như dành riêng một biệt lệ cho Thy Lan Thảo , ở anh tôi không thấy nét khắc khổ phong sương , nỗi dày vò cơm áo cũng không hiện ra những vết khắc của đời .
Ở anh tôi bắt gặp dáng dấp của một nhà giáo , xa hơn một tí có thể là bản sao của môt linh mục , mà đằng sau tròng kính trắng là đôi mắt rất đổi hiền lành . Chỉ khi nào bắt gặp nụ cười rất hiếm trên môi anh tôi mới thấy có chút gì khinh bạc , khác người .
Tôi vốn là gã phàm phu , một đôi lúc cố ẩn mình trong dòng chảy của thơ như tìm một cứu cánh dịu êm để quên đi những cơ hàn nghiệt ngã .Nhưng thú thực tôi vẫn thường thất vọng và đôi khi nghĩ quẩn thơ thẩn chẳng là cơm cháo gì giữa đời thường vốn rất cần thực tế.
Và tôi hờ hững , tôi lãng quên tôi không còn quyến luyến cùng thơ, cho đến một ngày :
* ...Ðêm nay chợt thấy trăng len lén
Rất lẽ loi nhợt nhạt đất trời
Bỗng nhớ quê mình trăng rất sáng
Trắng lòng nhớ quá bé thương ơi !...
Dường như trăng vàng chỉ vén mây mang chút ánh sáng mờ ảo cho riêng tôi , mà sao ai đó chỉ
đôi câu lại gợi nhớ cả một trời tâm sự . Tôi lịm người . tôi rũ xuống và thổn thức cùng thơ.
Thy Lan Thảo chỉ gởi đến tôi chút tình chút ý , nhưng xuyên suốt những vần thơ bình dị nhưng không kém mượt mà kia,dù là gởi cho ai , viết cho ai vẫn là lãng đãng đôi bờ , đã trắng bông những hàng cây So đủa ,một chiếc thuyền con trên dòng sông quê hương mập mờ nhân ảnh vén bức màn sương về với người thơ . Thời tiết chỉ là cái cớ , hàng cây chỉ là kỷ niệm nhưng lời thơ hiền hòa lại chuyên chở cả một trời tưởng nhớ :
* ...Tháng mười hai hàng cây So đủa
Trổ trắng bông đùa gió đong đưa
Như áo lụa vờn mây nhảy múa
Gío chướng về tung bụi nắng trưa ...
Thy Lan Thảo vẫn nhớ và luôn luôn vẽ lại đậm nét cho chính mình những góc nhỏ của toàn cảnh quê hương yêu dấu . Trong cái nhỏ nhoi bình dị vẫn ngầm chứa những ray rứt khôn nguôi, như từng vi ti huyết quản vẫn thường xuyên theo máu về tim :
* ...Van xin cho nước thôi đừng chảy
Gío thổi làm sao sóng ngược dòng ...
Hôm ấy , tôi hạnh ngộ Thy Lan Thảo ở một tiệc cưới ,cùng bàn cùng mâm. Tôi lãng đãng chút rượu cay Thy Lan Thảo nhẹ nhàng hơn ly bia giải khát, với bộ complet xanh đen cắt khéo may đúng cở , chemise màu thiên thanh ,cà vạt đỏ thời trang . Mái tóc chải gọn , cặp kính trắng và nụ cười hiền . Ở anh tôi không thấy dấu vết nào của một thời tù tội , của những tháng ngày vật lộn với sình lầy, cũng chẳng còn vương mùi tử khí của những dặm dài lộ máu 7B . Anh đã hồi sinh trở lại nguyên mẫu một nhà giáo thuở nào . Bên cạnh anh thay vì một phu nhân thì lại là một cô bé đang tuổi dậy thì, một búp hoa chưa nở hết, đôi mắt sáng mái tóc mềm và đôi môi hồng như vừa nhắp quả Ô môi . Thy Lan Thảo tinh ý nói nhỏ với tôi:-là con gái tôi đấy và cũng là nàng thơ của riêng tôi , đi đâu cũng phải đưa cháu theo .Tôi gã đàn ông bạt mạng . không quen với những lịch lãm thượng lưu , nhất là gò bó trong những tiệc tùng, lại thêm có tí rượu nóng phổi, bèn đi một đường nham nhở :- Thế bạn là gà trống nuôi con à ?! Thy Lan Thảo cười cười :- Vâng , và gà mái nuôi gà trống .Thì ra hiền muội trong thơ Thy Lan Thảo bận đi làm ca hai để lo cho gà trống . Và anh không muốn để cháu gái ở nhà một mình , anh nói thêm ;- cháu còn là nhiếp ảnh viên và thư ký riêng của tôi nữa đấy . Nhà tôi dạy cháu học tiếng Việt và khuyến khích bằng cách nhờ cháu sửa chính tả cho tôi . Thế đấy , Thy Lan Thảo ở hoàn cảnh nào cũng hướng về quê hương với tất cả mến yêu , lại vô cùng thực tế như ai đó đã nói tiếng Việt còn ,nguời Việt còn . Anh đã tuân giữ lời nhắc nhỡ ấy bằng cách trên khá hữu hiệu nhất là với con mình . Thử hỏi mấy ai có tấm lòng như thế , tôi lại hiểu thêm một chút về Thy Lan Thảo :
*... Mười năm em vẫn đùa bụi phấn
Dạy học mà lòng thỏa ước mong ?!..
Hoặc sâu hơn :
*...Câu thơ xưa viết còn buông lửng
Rồi gió giông mưa chợt ngỡ ngàng ...
Vâng , Thy Lan Thảo luôn còn luyến nhớ một thời dạy học và bây giờ vẫn tiếp tục trong âm thầm .Thế mới biết xen lẫn giữa thơ Thy Lan Thảo vẫn còn nguyên vết khắc nữa đời với chút tình chút ý rất đổi Viêt Nam .
Sau đó , một thời gian dài tôi lưu lạc ta bà , chạy giông chạy bão , chạy quên cả đường về. Tôi trở lại Houston khi thời tiết đã bắt đầu se lạnh , tôi lại lang thang truy tìm bằng hữu , bất ngờ gặp được gã bạn lưư linh giang hồ thứ thiệt chữ nghĩa không đầy một chiếc lá vàng rơi , thế mà đang hùng hồn giảng thuyết về một.... tập thơ mới ?! Tôi sà vào bàn nhậu tuy trong lòng không vui vì những gã phàm phu say khướt lại bày điều bình thơ xướng họa . Nhưng , lại vẫn là chữ nhưng tai quái , trên tay bạn tôi là tập Thơ bìa hoa tiên màu xanh lá mạ với đôi dòng thư pháp ghi : Chút Tình Chút Ý thơ Thy Lan Thảo . Tôi mừng vui còn hơn nhận được món quà qua đêm vợ tặng sau những ngày biền biệt xa nhà .
Chịu một chầu bia đãi bạn , tôi mươn Chút ý chút Tình vừa chiêu bia vừa để tâm hồn trôi theo dòng thơ Thy Lan Thảo . Càng đọc lại càng say , không hiểu bia rượu dậy men hay là thơ Thy Lan Thảo đang đẩy tôi bềnh bồng về với một thuở nào xa , quả là :
*... Chữ nghĩa văn chương thời Chiến quốc
Vài tờ nhàu nát bụi thê lương ...
Trước khi biết Thy Lan Thảo tôi vốn không mấy mặn mà với thơ , nhất là những tay làm thơ tài tử , đến một độ tuổi nào đó tự dưng chợt nhớ mỗi người Việt sinh ra đã là một nhà thơ , bèn lôi vợ con mình vào cuộc , tô son trát phấn .Vẽ cánh thêm râu cho bằng hữu rồi tung hứng và mặc áo thụng vái nhau cứ như là thơ tiên văn thánh. Ðó là những gã học làm sang , nịnh đầm không đúng cách và chính những người ấy đã phần nào làm thui chột thi ca vốn là của trời cho xuất phát từ tim óc vô cùng thâm thúy diệu kỳ .
Thy Lan Thảo cũng làm thơ cho người yêu , cho vợ , cho con cho bằng hữu , nhưng khi thơ phổ biến thì mỗi người đọc đều ngỡ rằng chính mình là tác giả và đối tượng thơ của Thy Lan Thảo trở thành hình tượng chung cho những người đồng cảnh . Nói rỏ hơn Thy Lan Thảo đã đem được cái tâm tư riêng của mình biến thành cái chung của quần chúng . Ðại danh từ ngôi thứ nhất đã biến thành ngôi thứ ba . Với riêng tôi Thy Lan Thảo đã thành công ở điểm này.
Từ đó đã có câu trả lời chính xác và rõ nét cho những người yêu thơ và làm thơ rằng : những kỷ niệm , những niềm riêng phải trở thành cái chung cho mọi người cùng buồn vui thương ghét thì thi ca mới dồi dào sinh lực để sống .
Qua thi tập mới với tựa đề ? Chút Tình Chút Ý ? Thy Lan Thảo dã khiêm tốn theo phong cách của một nhà giáo , và chỉ là một cách nói biết lựa lời .Thật ra Chút Tình Chút Ý đã trở thành muôn tình ngàn ý , Bởi lẻ dù anh nói về người yêu , người vợ , một kỷ niệm tù , một chíến hữu hay một người mẹ . Tất cả đã được vẽ thành một bức tranh toàn cảnh cho tất cả những người Việt ly hương ,ï trở thành một mẫu số chung không thừa không thiếu cho bất kỳ ai còn nặng nợ với thơ . Thế nhưng Thy Lan Thảo đã khiêm cung biết dường nào khi đặt tựa cho thơ mình , một chút , chỉ một chút thôi nhưng là tất cả nhiệt tình tim óc của một người thơ .
Qua thơ , Thy Lan Thảo tự vẽ chân dung mình dù chỉ là hai màu đen trắng , tôi không thể tô thêm bất kỳ một chút màu nào , bởi hai màu thật ra không sắc ấy đã trở thành rực rỡ gấm nhung thất thể , là bảy sắc cầu vồng tỏa sáng từ cõi thơ riêng của Thy Lan Thảo ,chắc chắn sẽ góp thêm sắc màu cho thi ca hải ngoại .
Về sau , có lần tôi liên lạc được với Thy Lan Thảo bằng phone ,tôi không hề nhắc gì về tập thơ tôi vừa đọc . Anh vồn vã mời tôi hôm nào ghé nhà làm một chầu cho đã và sẽ cho tôi một bất ngờ , thói quen hiếu khách và hào phóng của người dân Nam bộ vận còn trong anh .
Tôi vốn quý bạn và trong lòng cũng thích lắm , Nhưng ,tôi lại nghĩ , thôi cứ để cho bạn ta có thời gian và hứng khởi làm thơ dâng hiến cho đời . Không hẹn mà gặp thế mới hay , Tôi đành ởm ờ hẹn lần hẹn lữa và nhủ thầm thôi thì hẹn ngày nào sẽ :
Rượu Gò Công ai đong nấy uống ,
Chờ hoa Mai nở , hóa cờ vàng
Ta về thăm lại phương trời cũ
Thắp nén hương trầm tạ tứ phương .
Và riêng với những bằng hữu của tôi khi đọc đươc những dòng này , vui lòng tìm đến :Chút tình chút ý ? của Thy Lan Thảo , ở đó sẽ thấy những điều các bạn cần tôi viết mà tôi vẫn mãi say nên chưa viết được gì .
viết từ Hội Quán Bụi Vàng
(*) Trích thơ Thy Lan Thảo
- Kính dâng lên các bậc Cha Mẹ,
- Thương tặng hai con với diễm phúc còn Mẹ.
Mùa Báo Hiếu 2009…
Giọt mưa nước mắt,
nụ cười héo hon
thương con
mắt mỏi tóc dòn
bàn tay gầy héo
lòng son vẫn còn
chân con
trần thế long đong
yêu con che dấu
trong tâm nổi niềm
cuộc đời
dù có đổi thay
lòng con khắc nhớ
lời ru ân tình….
Sau thời Kinh buổi sáng, tôi cảm thấy trong lòng thật nhẹ nhàng, thanh khiết.
Mỗi sáng đều như vậy. Tôi vẫn thiền và tụng thời Kinh ngắn, để rửa tâm chào đức Phật cho một ngày mới, dù là những ngày đi làm hay được nghỉ ở nhà, như một thói quen cần thiết, không thể bỏ.
Ngày nào vì bắt buộc phải đi làm sớm, để chạy đuổi kịp thời gian, tôi cũng vẫn vào phòng được dành riêng để vừa là thư viện nhỏ, chỗ tập viết lách chút chút và chánh là chỗ thờ Phật, để thắp hương, thỉnh kệ chuông, đảnh lễ đức Phật một cách vội vàng …. khi đó, dù không có ai chung quanh, nhưng mắt làm bộ nhắm lại lim dim như là để chú tâm, nhưng thật ra để tránh lên nhìn đức Phật. Cũng may, việc làm biếng nầy chỉ Phật với tôi biết mà thôi, nên đở phải mắc cỡ và như thế, mọi người khi nghĩ đến mình mới tưởng mình là thứ thiệt, có chất liệu tu học. Ðức Phật bằng tượng đồng cổ xưa, cao, to lớn và đức Phật trong tôi cùng nhau, vẫn cười xoà, tha thứ….
Ba tôi đã mất từ lâu, những hình bóng cũ ấn tượng về người mờ nhạt trong vùng ký ức, nhiều khi cố moi lại để tìm về một khoảng thời gian nào đó trong cuộc đời, nhưng, có chăng là những lời dạy còn rơi sót lại lúc tôi còn nhỏ. Tôi xa gia đình, xa cha mẹ khi tuổi đời còn non nớt, khi còn thèm kẹo, thèm bánh, chơi banh, chơi đá cầu … của tuổi hồn nhiên tinh khiết …. Lúc còn là một đứa bé, tôi cũng như những đứa trẻ con khác, vẫn ao ước có những gì của tuổi thơ đẹp, nhưng đã không có. Cho nên, đó là khoảng trống vắng trong vùng kỷ niệm, của ký ức mà tình thân thương giữa gia đình không có nhiều, nhưng tự trong chiều sâu của tâm, tình cha mẹ là một thứ tình cảm thiêng liêng, nên trong lòng bất cứ người con nào khi nghĩ đến mẹ cha, mà không dâng trào lên những nổi niềm xúc động, ấm áp.
Do vì hoàn cảnh, và là con người phiêu bạt, nên nay dù còn lại mẹ già thì người ở tận phương trời xa… nhưng, với tôi dù là người lớn rồi, sao trong lòng cũng vẫn còn mong muốn, ước ao được chăm sóc, được chia sẻ, được nâng niu, được vuốt tóc, xoa đầu (dù tóc đã rụng nhiều, ai cha.. nên khi vuốt hoặc xoa đầu mạnh vì cưng mà, thì rất nguy hiểm lắm vì sẽ rụng tóc thêm nữa), được sà vào lòng người khi gặp cơn mưa nắng của cuộc đời…
Như khi mấy năm về trước, trở về lại thăm Mẹ. Mắt Mẹ không còn sáng như xưa, mái tóc lưa thưa bạc trắng, gương mặt nhăn nhiều, đôi tay run run, bước chân chậm của tuổi già….Tôi chạy vội đến Mẹ khi vừa bước vào nhà, lặng nhìn Mẹ mình để tìm lại hình ảnh cũ, nhưng nay đã khác xưa rất nhiều, nước mắt tuôn rơi, tôi ôm chắc lấy Người và im lặng … Sự im lặng đôi khi lại nói đủ cả một trời thương nhớ, kính dâng của một tâm tình người con … “Má à… Má đừng nói gì hết, con đây nè, con đây nè Má. Cứ khóc đi Má, cứ khóc đi tôi ơi… Hạnh phúc là những gì rất đơn giản như một tấm lòng chân chất vừa tuôn trào ra, nắm bắt được, sống vực dậy… Má vẫn là người đẹp nhất trên trần gian nầy với tấm lòng cao cả của người phụ nữ, người Mẹ mà suốt cuộc đời đi ban phát một cách dư thừa, phung phí tình thưong cho mỗi người con”.
Bây giờ, thì lại ở xa xôi quá. Vì thế, nay tôi chỉ còn biết lấy đức Phật và gần gũi với Ngài thường ngày như người cha thân thương, luôn đùm bọc đàn con dại, chỉ dẫn đường đi nước buớc trên con đường trưởng thành, học tâm, học làm người và cũng để được chào hỏi Ngài lúc đi hoặc về, trong mỗi ngày, cho gia đình có thêm niềm vui, ấm áp.
Bước chân ra sân sau nhà, có mảnh vườn nhỏ với nhiều loại cây cảnh, có cây uốn éo mang hình dáng bonsai, cây Nguyệt quế, Mai chiếu thủy, Lộc vừng, Ngọc lan thơm ngát hương … Bước chân tôi đã vô tình làm giật mình vài con bướm đang say lim dim trên các loài hoa có hương, bay vội chập chờn đi xa và cũng làm cho những con chim đang gật gù say ngủ thức giấc, vụt tung bay, để rơi lại vài tiếng chim con ríu rít, réo gọi ….
Có phải chăng khi “một tâm niệm vừa khởi, có thể làm đảo lộn môt vòng nhân sinh hoặc có thể tạo thành cảnh luân hồi, biến thiên, chuyển xoay”. Lời Kinh Phật vẫn luôn rõ ràng, rõ nét, trong sáng khi đối cảnh và nhìn lại, chợt giật mình thấy từng mỗi một câu Kinh trong giáo Pháp của đức Phật là những bài Pháp ngắn ứng dụng cho cuộc đời, đó là bài học Sống. À, quên nữa, phiá sau nhà cũng vừa mới bưng thêm về được cây hoa Phượng vĩ, để nhớ về một khoảng không thời gian nào đó trong ký ức lúc còn cắp sách đến trường. Quang cảnh chung quanh thật đẹp.
Trời đã ngủ, ráng chiều còn rơi lại
bếp lửa hồng vừa chín một giấc mơ
Mẹ lặng yên, thân còm cõi đợi chờ
giọt nước mắt chảy theo đời ước vọng….
Ước vọng của Mẹ của Cha là gì, có phải chăng là những tấm lòng, đôi mắt dõi bước chân con trên bước đường làm ngưòi? Lời tâm tình chất ngất, đong đầy trong từng giọt nước mắt như những cơn mưa da diết chờ mong, đượm màu hy vọng.
Trong bài Lá Thư Mùa Báo Hiếu được tập tểnh viết từ năm...lâu lắm rồi. , tôi có viết rằng “Vu Lan năm nào chẳng có mưa rơi, những giọt thiết tha, âm thầm, nhưng đâu có ai biết đó là những giọt nước mắt của bà mẹ già luôn tuôn chảy, huớng nhìn theo các con dù ở bất cứ phương trời xa lạ nào…”
Ðêm vội sụp xuống, bóng tối tràn lan, kéo nhanh màn đêm chung quanh. Gió hôm nay bổng thổi nhiều, từng hàng cây, lá xao động. Có vài giọt mưa lất phất rơi. Tiết trời hơi lành lạnh, rồi đám mây trên cao xanh lại xê dịch, tránh qua bên để lộ ánh trăng vàng lung linh trên bầu trời. Ðẹp quá….thanh khiết, huyền ảo quá..
Có những khoảng cuộc đời, khi tâm trong vắng, đơn thuần … thì bầu trời, cảnh vật chung quanh vô tình như biến ảo thật đẹp, để hiện hữu cùng con người. Giữa không gian tịch mịch nầy, hình như mỗi cây cảnh, một một chút nhỏ không gian cũng thơ thới vun đầy vần điệu thơ, thả từng nét nhạc để tô điểm cho vũ trụ môt màu sắc vô cùng kỳ diệu. Có ai nắm bắt được những vẻ đẹp kỳ ảo của từng sớ thịt mầu nhiêm của cảnh vật, của đất trời… để thấy mình luôn luôn là người hạnh phúc đuợc hưởng tận tất cả những gì mà vũ trụ ban tặng cho..
Là người quê mùa với cái tâm tư chân chất, người ta thường nói khi muốn cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc đời, cần phải có cái tâm quê mùa, chất phác … vì hình như là với cái “tâm ngây thơ, hồn nhiên” của trẻ nhỏ, ta mới ngạc nhiên trước bao sắc diện của cuộc đời, của cảnh vật và lang thang như trẻ nô đùa chạy theo đuổi bắt những con diều của ước mơ, của giấc mộng, của hy vọng…
Bao ngày trôi qua, đời sống tôi bỗng có nhiều xáo trộn. Trong tâm dậy sóng, mênh mông là biển nước, biển nghiệp tràn lan. Tư tưởng chợt hoàn toàn bế tắc, không một suy tư khởi hiện, đầu óc dày đặc lại. Tôi đã chạy đi tìm tôi, có nước mắt, có khổ đau, có hụt hẫng… nhìn vào tâm thấy trống không như một thung lũng chập chờn sương khói, không phải vì tâm đuợc thanh tịnh, trong sáng để khởi đầu cho một tiến trình tâm linh gì mới lạ… mà chất mầu mỡ, tư lương dành dụm bao ngày của tâm như bị khô lại, cạn kiệt.
Khi tôi sống trong bóng mờ nào đó, được che phủ trong vùng mông lung ảo ảnh, dù là không chứng tỏ được một hình thái gì ra hồn, không nói đủ hết về mình với nhân cách, với nội tâm toang mở và dù là một người quá dỡ, tệ ơi là tệ….thì được gọi là người hiền, có đạo đức. Nhưng khi muốn mình lộ diện ra dưới ánh mặt trời, để nhìn mình rõ hơn, không sơn phết, màu mè, thấy tâm với những biến động thường trực, thấy tôi trong tôi, thấy được một con người thực bị bóc lột ra, để soi mói, đi tìm tòi trong những ngả ngách của tâm, một sự thật phơi bày ra, được nhìn thật kỹ luỡng, thì được gọi mang danh là “anh là con người không ra gì”. Có người nào đó, đã nói với tôi rằng “anh thật sự đã làm cho tôi lầm anh, lầm thật to ??”…. Ôi chao ơi! Sao vậy cà, tôi có thật là như vậy không? Tôi có thực là một sai lầm của ai đó hay sao, khi tiếp cận, chia sẻ hay nhìn về tôi? Có phải con người thật của mình là những gì mà mọi người không thể chấp nhận, và chỉ nhìn mình qua con người của diễn kịch, đóng vai… làm sao cho được gọi là tốt đẹp, cao siêu. Sao không nhìn tôi là con người bình thường, có biết chút ít gì về Phật Pháp đem ứng dụng vào đời và là con người thì phải có suy tư, quyết định, nhận thức…dù là đúng hay sai, nhưng đó là cái quyết định nhân bản để hãnh diện làm người. Mà suy nghĩ lại, thấy đúng và hay ghê vậy đó, không hiểu vì sao con người của mình kỳ lạ thiệt, có thể do vì mình là con người bất toàn, nhiều khuyết điểm nên có cái nghiệp dĩ gì nặng nề cưu mang, và cứ thuờng hay bị người ta chê trách, phê bình. L’enfer c’est les autres = địa ngục là tha nhân (Jean Paul Sartre).
Có phải rằng tôi đã mất tôi, đã đánh rơi mình trên lộ trình đi tìm lại mình, để sống thực nhất…. Tôi phải vưọt qua, kinh qua con đường gồ ghề, nặng nhọc nầy. Tôi phải tháo gở gút mắt nghiệt ngã nầy, để tôi được là tôi, là chính mình với cuộc sống, cuộc đời. Tôi đã ôm vào mình lời tự tình xưa cũ đầy chất liệu sống để nhìn lại, thấy “diệu pháp biểu lộ trên từng da thịt của các biến động cuộc đời, dù khổ đau hay hạnh phúc” để nhận thức rằng “ thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt….”. Vì nếu không nhờ đến câu chân ngôn ở trên, nhờ quán chiếu về mình.. có lẽ, tôi đã chết, tôi đã ngã quị trên đường đi …. Ðức Phật trong tôi vẫn còn đó, trổi dậy, dù trong bất cứ lúc nào, trong mọi hoàn cảnh, dù cô đơn cùng cực, dù lẻ loi đơn độc … như trong Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chư Phật mười phương luôn thương chúng sanh như người Mẹ thương con, nếu con luôn chạy trốn thì làm sao có thể tiếp cận, dù lòng Mẹ vẫn luôn mở rộng, bao dung. Nếu con chỉ vừa nhớ đến Mẹ, Mẹ tức thời đã có mặt, không còn có sự xa lìa …” (Thập phương Như Lai mẫn niệm chúng sanh như mẫu ức tử, nhược tử đào thệ tuy ức hà vi. Tử nhược ức mẫu như mẫu ức thời, mẫu tử lịch sinh bất tương vi viễn…).
Ta đi tìm Phật giữa đời
tìm trong thanh sắc,
tìm vào vị hương
tìm trong quá khứ vị lai
tìm trong từng thoáng ngỡ ngàng ngày qua
tìm trong vọng niệm sơn hà
giật mình vẫn thấy Phật cười cùng ta …
Ðời sống càng bám vào nhiều vật chất, đã gây nhiều xáo trộn quá rồi, tất cả mọi sinh hoạt, tất cả mọi vấn đề, từ xã hội, văn hoá, thời tiết, cuộc sống, môi sinh đều bị đặt thành vấn đề vì sự sinh tồn của loài người trước những thử thách đang được đặt ra, dối diện v.v.. Ôi! cuộc đời quả là kỳ diệu, luôn luôn có sự thăng bằng dù là trong vỡ vụn, xáo trộn, mất mát như để điều hoà, chấn chỉnh lại như “vạn vật bồng âm cõng dương” hay trong “vô thường nhìn ra chân thường”, hoặc trong chân thường tìm được “Thường Lạc Ngã Tịnh”… và phải chăng do chính nhờ có những vấn nạn (problems) xung đột (conflicts) mà con người mới quay lại, vì thấy mình hay bất cứ ai trên mặt đất nầy cũng đều bị liên hệ, nên cần phải đối diện các vấn đề, phải dám nhìn thẳng.. và cũng chính là điều kiện tối cần thiết khiến cho con người bình tâm lại, trăn trở, nhìn lại chính mình, suy tư vì lẽ sống còn, làm sao cho sự tồn vong của nhân loại có ích lợi cho chính con người, cho nhiều thế hệ hiện tại và sau nầy, mà dấn thân tranh đấu, đòi quyền được sống trong thanh bình an lạc.
Trái đất trở nên nhỏ bé lại, vì mọi sự, mọi pháp đều liên hệ chằng chịt lẫn nhau, thu nhỏ khoảng cách không gian giữa quốc gia nầy với quốc gia khác, và đời sống của mọi nguời trở nên gần gũi hơn như lời Phật dạy “Pháp bất cô khởi”.
Nếu chúng ta không bị những vấn nạn nêu trên trêu chọc, cần giải quyết vì liên hệ đến mọi sinh mạng, thì có lẽ, chúng ta vẫn ù lì, tìm ẩn náu trong một chốn nào đó mà gọi là an toàn, để lãng tránh, vì xem như là mình không có dính dáng gì đến… thì có lẽ, chính chúng ta sẽ bị tiêu diệt từ từ, ngay tức thời chứ không phải chờ khi những sự việc xảy ra.
Những vấn đề nêu trên vừa khởi hiện trong tâm, tôi lại chợt nhận ra rằng: “Ồ… sao ngộ quá! Vui quá! Chỉ có hôm nay, vừa mới đây thôi, gương mặt của tôi mang mùi vị ảm đạm, nặng nề của buổi chiều về, như những vệt nắng hắt hiu còn sót lại trong ngày, nhảy chập chừng trên mặt, trán, mũi, miệng…. làm lung lay, gãy vụn, để cúi chào đón bóng đêm. Dù rằng cũng cố gắng làm điệu bộ để tự mỉm cười, nhưng vô vọng.
Nhưng lạ thật, sao giờ nầy, tôi thấy mình chợt có nụ cười … vì hình như vạn vật đang thay đổi, xung quanh đây đang mỉm cười với tôi. Chúng tôi được chia xẻ nhau nụ cười, một nụ cười tươi mát nhỏ bé thôi, dù là hiếm hoi trong bao ngày qua, nhưng nếu được nở ra trên đôi môi nứt nẻ khô trong mọi biến động cuộc đời, trong lúc gay gắt nhất tưởng chừng như không chịu đựng được, thì cũng là điều hạnh phúc kỳ diệu mà chúng ta có thể gặt hái được.
Mây ngập ngừng khiêng từng ánh nắng
Trên vai em, vừa chở cánh xuân hồng
Khi đồng tàn lặn núi ở vùng xa
bóng dáng đã từng đời qua, thay sắc
ta tìm lại trái tim xưa đánh mất
trong vô thường, nhìn rõ được mặt nhau
màu thời gian chỉ còn cơn gió thoảng
cánh sen hồng rơi ngọc suốt thiên thu
mùi hạnh phúc ta bà vừa ươm hạt
có bao giờ cạn được giống tử sanh
một lần giữ, từng giọt tâm tuôn chảy
bao lần buông mà hạnh phúc son màu….
Ôi một nụ cười dù là mỉm chi hay cười rộ, cười bung xung, hớn hở, ha hả, cười tức nước vỡ bờ, cười lung lay ánh nguyệt? …. Nhưng sao chúng ta lại thường hay tiết kiệm nụ cười cho chính mình, huống chi là dâng tặng cho người khác. Ðôi khi ta sở hũu nụ cười, mà lại đem dấu nụ cười cất kỹ ở một chốn nào đó trong thân tâm để làm của gia bảo, như ôm đồm một nội kết riêng mình, không chịu giải toả. Chúng ta không biết rằng là dù sao thì một nụ cười cho ra, dù là méo xẹo, dù là cười ruồi? vẫn hay hơn, thú vị hơn vì có cuời là được ăn tiền rồi, còn hơn là nhăn nhăn nhó nhó như là con k.h….? Không dám nói, tùy ai đoán sao cũng được, vì đó chính là gương mặt của tôi những ngày vừa qua.
Giữa đời, ta nhập thất
Lênh đênh chốn chợ người
Ðể thấy ta và em
về nơi không trú xứ
Giữa người, ta nhập thất
Im lặng suốt thiên thu
Ðể thấy ta và người
Một cõi đời không lưu.
Bốn mùa, ta nhập thất
cùng em hái bồ đề
làm áo từ che thân
để đôi chân không nặng
Giữa tâm, ta nhập thất
Trong sát na quán niệm
không thấy ta và ta
dạo bước đời rong chơi….
Phải thấy ta và em, thấy những vọng niệm trùng trùng duyên khởi, trong chốn chợ người, trong bốn mùa lần lượt trôi qua, trong sát na quán niệm, trong cõi lòng u tịch thiên thu…nơi đó không còn nơi trú xứ, không còn đất đứng cho những hoài cảm, vọng cảm, nội kết do tâm tạo, tâm cưu mang….….ta mới tránh được khổ đau khi xúc cảm với từng lời nói thô bạo, từng quyết đoán, phê phán của người nầy hay người kia hay do chính tâm mình ảo tưởng tạo ra. Khi tìm ra được lối thoát để bước trên bến bờ sinh tử của niệm, khái niệm, tri thức.. thì mới mong cho ta được mở lòng rong chơi, thảnh thơi trên cõi đời phù du như một cuộc “thần thông du hý”.
Trên bầu trời, vài cụm mây quấn quít bên nhau, bồng bềnh, tạo ra nhiều hình dáng, có lúc tượng hình như một dãy rặng núi cao vời vợi, lúc rõ nét, lúc mờ ảo. Lúc như hình dáng như cánh chim tung cánh rộng xoè ra như đôi tay của bà Mẹ, lúc như hình dáng trái tim mở rộng….
Từ sự nhận thức về một con người, dẫn chúng ta đi tìm đến sự liên hệ vì sao có sự hiện hữu của con người đó. Vẫn biết rằng “thân xác phàm được sinh ra là do cha mẹ, nhưng thân huệ mạng có được là do Thầy Tổ”. Nhưng không có thân xác phàm, thì làm sao có thể nói đến những vấn đề khác hơn, cao xa hơn. Ở đây, chỉ muốn đề cập đến cái thân thường tình có mặt để nói lên công lao sanh thành, dưỡng dục của Cha Mẹ.
Cuộc sống của một con người được có mặt khi tượng hình trong bụng mẹ, cấu tạo nên thân xác, hình hài và cái tâm hồn.. tất cả mọi hành trạng sau đó, đều khởi đầu từ khi có mặt trên trần gian, liên hệ đến cuộc sinh tồn của mỗi cá nhân. Tâm vật đã hình thành, trưởng thành theo thời gian và cũng là những khoảnh khắc dài thâu lượm, chiêu cảm hoặc ứng xử v.v… cho đến cuối cuộc đời và tiếp nối.
Các trạng thái đau khổ hay hạnh phúc vẫn luôn là những quyết định, lựa chọn cho và do chính mình cùng những gì liên hệ thiết yếu, và nghiệp là những dẫn giải, lý giải để trả lời cho từng câu hỏi, từng dữ kiện, sự kiện xẩy ra của cuộc sống..
Văng vẳng đâu đây, tôi như nghe được tiếng gọi của cha mẹ, nghe được lời ru của năm nào, ngày còn bé bỏng. Những câu ca dao được mời gọi trên đôi môi của mẹ, được dịu dàng đưa đến giấc ngủ của trẻ thơ, những vần điệu bốc lên cao khỏi các tầng khí quyển để là dưỡng khí nuôi dưỡng, truyền hơi ấm cho tâm hồn của bao thế hệ tiếp nối vào đời.
Gió có qua đây buổi sớm nay
chở mây về tận cuối chân trời
cho trăng sót lại đêm hôm trước
lấp lánh mờ trăng dẫu muộn màng
ta ngắm mây trời bổng nhớ nhung
nhớ nguời chập chững bước chân đời
nhớ cha đã khuất bao năm trước
nhớ mẹ mắt mờ vẫn ngóng trông
nhớ con diều chở bao mộng ước
nhớ nguyện vào đời lúc mở tâm
dù cho đời trải bao sóng gió
xin mẹ yên lòng, con vẫn đi…..
Con diều nhỏ chở những ước mơ lúc còn bé thơ, ngày nào đã được thả tung bay trên bầu trời. Nhìn con trẻ cười vui khúc khích khi cánh diều tung bay cao, và cha mẹ cũng hoà lẫn trong niềm vui đó, dệt những ước vọng về từng đứa con một trong tấm lòng bể cả trời cao.
Tấm lòng thương yêu con của cha mẹ, được nhân lên khi tiếp xúc với dòng sống tâm linh vi diệu của đạo Phật, vì qua giáo Pháp của đức Phật, nhìn thấy mỗi con người dù là còn bé bỏng, sơ sinh … cũng đều mang hạt giống Phật cần nuôi dưỡng, hướng dẫn, chăm sóc, để làm truởng dưỡng cho một vị Phật sẽ thành.
Ðạo Phật xuất hiện gắn liền với con người, vì con nguời và cho con người, và khai mở một lối sống nhân bản đầy ý nghĩa cho con người. Khó có thể tìm ra những hình ảnh đẹp về tình thiêng liêng của cha mẹ hay các mẩu hình về hiếu hạnh sống thực trong các tôn giáo khác… nhưng riêng với đạo Phật, trong rừng giáo lý từ bi của Ngài, chúng ta bắt gặp vô vàn những hạnh hiếu của chính đức Phật, của các vị Thánh Tăng đương thời hoặc về sau nầy.
Ðọc trong Kinh Ðạo Báo Phụ Mẫu Trọng Ân, nghe lại lời Kinh nói về một hình ảnh rất tuyệt vời, cao đẹp, sáng ngời của đức Phật như :
“ Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô-độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía Nam, thấy đống xương khô chất cao như núi. Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy.
A-Nan thấy vậy, bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
- Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
- Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
- Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thường lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
A-Nan nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
- Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
- Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
- Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm
còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
- Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
- Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô
giác.
- Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
- Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
- Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình
và ý.
- Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những
cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
- Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu
mới thông.
- Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát
uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực
tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba
là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan: công ơn từ mẫu, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
* Những gì là mười điều?
- Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
- Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
- Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
- Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
- Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
- Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
- Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam
chịu .
- Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút
chẳng ngơi .
- Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
- Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi. ….”
Tôi nghĩ rằng không một người nào dù có phải là người con Phật hay không, khi đọc đến đoạn Kinh trên mà không nghẹn ngào, xúc động. Có bao giờ, chúng ta nghe được một vị Giáo chủ của bất cứ một tôn giáo trên thế gian nầy nói đầy đủ, chi tiết về những công lao sanh thành của người mẹ với những khó nhọc khi bụng cưu mang nặng nề và khi lâm bồn, sanh con. Những ân đức của Cha của Mẹ lớn quá, cao cả quá, mà mỗi người con đều khó lòng để trả hết được trong một kiếp, điều nầy thì chúng ta ai nấy đều biết, nhưng, bắt gặp dòng sống của đạo Phật, thì càng làm cho những ân trọng đó cất cánh bay cao, vì trong tình cha mẹ, trong ân nghĩa sanh thành, trong mỗi người con … còn hàm chứa những chất liệu tánh Phật trong mỗi một con người, cần được hoàn thiện qua những tri ân và báo ân. .
Tôi đã từng đọc những lời Kinh nầy khi mới chập chững học Phật Pháp, từng xúc động, chảy nước mắt khi nhận ra được tấm lòng của đức Phật. Một vị Thầy của trời người, một nhà văn hoá tư tưởng lớn của nhân loại, một nhà giáo dục tâm linh hiếm quí chưa từng có … Ngài đã đi sâu vào đời sống của con người và nhận thức sự liên hệ giữa cha mẹ và con cái, nó không chỉ đơn giản trong huyết thống, trong hiện đời, nhưng còn liên quan đến bao nhiêu nhân quả trùng trùng điệp điệp trong dòng sống của con người.
Cho nên, Ngài nói rằng:”Gặp thời không có Phật, nếu chúng ta kính hiếu với cha mẹ hiện tiền, thì cũng như cúng dường lên đức Phật” hoặc giả “Cha mẹ tại tiền như Phât tại thế”.
Những câu nói, lời dạy chân tình của Ngài bàng bạc trong nhiều Kinh sách, như Kinh Thiện Sanh, Kinh Vu lan v.v… nói rõ được tư tưởng trong sáng của đạo Phật, vì con người, cho con người và chưa bao giờ tách ra khỏi cuộc đời, mà đạo Phật còn nhập cuộc vào cuộc đời để chuyến hoá mọi loài dù bất cứ là màu da, huyết thống, sắc tộc hay mang hình dạng khác nhau… với mục đích duy nhất là đưa đến một hướng đi đích thực có giá trị nhân bản cao đẹp trong tình người, mà không có tôn giáo nào có được.
Hình ảnh của Ngài Mục Kiền Liên (Moggallana)- một vị Thánh A La hán, vì lòng thương mẹ, biết mẹ khi còn sống trên dương trần đã gây nhiều điều sai lầm, nên khi chết tức phải chịu quả báo do những hành động mà mình tạo ra, cũng làm cho chúng ta suy tư đến.
Tháng bảy mưa nhiều, trời se lạnh
hạt mưa thấm ướt chiếc y vàng
con đi tìm mẹ, qua bao cõi
bóng dáng hao gầy, mẹ ở đâu?
mắt con đỏ lệ khi nhìn mẹ
đáy lòng đau xót quá mẹ ơi..
đây cơm, đây cả trời thương nhớ
đây cả tâm tình con kính dâng
lửa cháy, bát cơm tàn theo lửa
mẹ đói, lòng con cũng ngỡ ngàng
ví thử bàn chông, con ngồi được
hay trái tim con, mẹ đở lòng……
Khi nghĩ đến hình ảnh của Ngài Mục Liên đi tìm Mẹ và tận mắt trước cảnh Mẹ mình đang bị đọa đầy, ngồi trên bàn chông do quả báo đến từ nghiệp đã gây ra lúc còn sống và bát cơm trắng đầy vừa nhận được bổng hoá thành than lửa…do tâm còn bỏn xẻn… tôi đã xúc động, như thấu được tấm lòng hiếu thảo Ngài Mục Liên trước cảnh tượng đó, lòng xốn xang dâng trào, nức nở … và 8 câu thơ trên như được xuất phát từ trong tấm lòng nghĩ đến mẹ, chia sẻ …. Ðó là những giọt nuớc mắt với lòng báo ân trước thâm tình của Mẹ, đem ba cõi gom lại, đem trời đất về đây, mở toang tâm tình, mở bung cửa ngục lòng, cửa ngục của tâm thức, làm cuộc “giải đảo huyền”, bỏ xuôi những khổ cảnh vì lòng từ, vì tâm của chư Phật thương muôn loài.
Trong bài viết “Trái tim bà Mẹ”, tôi nghĩ rằng “Mẹ ơi! Con biết rằng mẹ là bà Tiên, người trên cõi trời, vì để rơi trái tim xuống trần gian, nên mẹ lưu lạc nơi chốn bụi trần đề tìm lại trái tim của mình và cho đến suốt đời của Mẹ, cho dù là tìm lại được trái tim bị đánh rơi, nhưng Mẹ không bao giờ lấy lại và thệ nguyện ở trần gian nầy, vì trái tim của Mẹ đã sống trong từng tâm hồn của các người con rồi”
Xin cám ơn Ngài Mục Liên, vì qua hình ảnh hiếu hạnh của Ngài đã làm sống động tinh thần Mùa Vu Lan Báo Hiếu trong suốt chiều dài lịch sử phát triển Phật giáo đã trên 2500 năm rồi và qua đó, làm thấm đậm ân tình và nêu cao lòng hiếu thảo của con người.
Ai đã một lần hiện hữu làm người, có mặt trên cuộc đời nầy, đều không do Cha Mẹ sanh ra, dù là Thánh nhân hay phàm tục. Cho đến khi khôn lớn, trưởng thành, nghĩ đến xuất nguồn của mình, không ai lại không chạnh lòng nhớ đến công lao sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.
Từ khởi đầu khi xuất hiện trên đời …. Trong Lá thư Mùa Báo hiếu, trong vòng tay bà mẹ, trong trái tim bà mẹ, trong ân nghĩa trời cao biển rộng, trong bầu sữa cam lộ, trong tiếng mẹ gọi đâu đây, trong tấm lòng bà mẹ, trong lòng mẹ dìu con vào giấc ngủ, nơi bình yên trong trái tim mẹ, trong bàn tay gầy ôm cả trời thương, trong nước mắt mẹ rơi thành trái tim hồng, hoặc mẹ là nước hay là non, hay Mẹ- lời nói của trái tim… những bài được viết xuyên suốt trong chiều dài xúc cảm trước lòng biển cả của Mẹ, chúng ta đã bơi lội không phải trong ngôn ngữ hay thi ca về mẹ, hoặc đắm chìm trong những ảo tường về Mẹ… nhưng mà may mắn thay, chúng ta sống thưc, hiện hữu, được tắm mình trong tấm lòng cao cả, rạt rào, tràn lan của đại dương tình yêu, mỗi sóng biển là mỗi tâm tình của mẹ vì con.
Nơi biển lòng đó, thơm nồng hương lúa chín mật của cõi tình chân chất, nơi chốn bình yên ru con ngủ ngon giấc, chỗ gánh vác chịu đựng hy sinh, đã nuôi dưỡng trái tim con từ lúc còn nhịp đập non nớt, lớn khôn, đi vào đời. Cha Mẹ đã biến những cưu mang, các gánh nặng khổ cực để lo cho con, dù là có chịu trăm ngàn đắng cay, biến tất cả những gánh vác đó như đang chở loài hoa tươi thắm dâng cho cuộc đời, vì đó là tấm lòng, là tình thương yêu vô bờ bến…
đường đi trăm mối
gánh nặng trên vai
chở con thơ dại
dốc đứng cuộc đời
như thể chở hoa
dâng cho nhân loại
màu hoa sặc sỡ
do công nuôi dưỡng
không có trái tim
cây không thể lớn
không có tình yêu
cây không lá hoa
không có tấm lòng
cây sẽ tàn phai…..
Vâng, nếu không có tấm lòng, không có trái tim, không có tình yêu thương, chúng ta đã mất đi chất liệu cao quí để đi vào đời, và sẽ không bao giờ khôn lớn, vì từng lời ru, từng câu ca dao, từng ánh mắt, niềm vui của cha mẹ đều tùy thuộc vào bước chân của con. Ðôi khi, chúng ta không chấp nhận, lãng tránh trước những lời khuyên răn, dạy bảo vì cho đó là những bài học rỗng… nhưng,
nói nói nói,
vạn lần mẹ nói
nghe nghe nghe,
ngàn tiếng đã nghe
nhưng mẹ ơi! lời nói và lắng nghe
không nói đủ hết nhiệm mầu thực tại
đường không phẳng, dấu chân dẫm bước
áo bạc màu, trải nắng dẫu dầm mưa
sợi chỉ mẹ may lòng nhẫn, lòng từ
con trải nghiệm trên bước đường sương gió…
có những lúc, bước chân trên đầu sóng
nước mắt rơi như gục ngả bên đời
văng vẳng đâu đây, bản tình ca lòng mẹ
bài nhẫn - từ, con vừa thuộc Mẹ ơi…..
Vâng, phải qua trải nghệm, thăng trầm trong đời sương gió, có lúc bơ vơ lạc lõng, có khi không còn hơi sức, mất hướng đi do vì thất vọng, ê chề, chán chường … ta mới chợt giật mình nghe thấm lại lời ru khi xưa của mẹ, lòng cảm thấy được những lý giải những bài học sóng gió cuộc đời.
Trong một bài viết lúc trước, xin được nhắc lại nơi đây:”Là con nguời, có cội có nguồn, có tổ tiên, có ông bà, cha mẹ v.v..và càng văn minh, trưởng thành, có sự hiểu biết …thì ý thức về cội nguồn càng tô đậm nét trong tâm tưởng. Cho nên, mỗi lần cảm thấy hơi dáng của Mùa Vu Lan- thì lòng chúng ta lại chợt dấy lên những bồi hồi, xúc động.”
Chúng tôi thường uớc mong rằng ngày Vu Lan Báo Hiếu sẽ được phổ cập khắp nơi chốn trên hành tinh nầy, không phải vì lý do tôn giáo mà mình đang theo, nhưng vì qua Ngày Lễ Lớn nầy của con người, biểu lộ tình người, tình cảm thiêng liêng của cha mẹ, đem chúng ta ý thức về nguồn gốc, nhận thức về tình yêu, sự hy sinh và tấm lòng cao quí của cha mẹ. Ðó là những bước khởi đầu của con người, vì qua tình mẹ nghĩa cha, chúng ta đã học đuợc bài học vỡ lòng đầu đời, chính là lòng từ lòng bi, lòng yêu thương, sự nhẫn nhục, sự chia sẻ…
Với người Phật tử, học theo hạnh Phật mà đạo Phật lại đề cao hạnh Hiếu. Qua đó, trên vai người con Phật còn mang nặng lòng hiếu thảo qua Bốn ân: Ơn của trời đất, khí hậu, mùa màng…đã giúp cho chúng ta ổn định cuộc sống, được an cư, lạc nghiệp. Ơn của quốc gia mà nơi đó ta sống, đã lớn lên, trưởng thành, cưu mang chúng ta . Ơn của thầy, của cha mẹ- người đã sinh thành, dưỡng dục, dạy dỗ chúng ta nên nên vóc nên hình, nên người biết tôn trọng lẽ phải, yêu việc thiện. Ơn của tất cả mọi người đã làm nên lúa gạo, vật thực, những vật chất hay tinh thần hữu dụng cho chúng ta thọ huỡng hàng ngày v.v…
Không phải vì vội vàng cho mình được gánh nặng bốn ân đó trên đôi vai, nhưng vì tấm lòng của mẹ, giáo dưỡng của cha… như một xúc tác cực mạnh đã thấm nhuần trong từng mạch máu, trong con tim của con người từ thưở bé đến khi nên người, và vì sự liên hệ của những ân đó ảnh huỡng và chi phối từng con người một, dù chúng ta có biết, có nhận thức được hay không.
Từ góc độ tình yêu của mẹ, chúng ta được đánh thức để bay bổng trên tâm tư của người con Phật thấm nhuần giáo Pháp, và trưởng thành trong tâm Phật. Cho nên, mỗi ân đó, suy cho cùng đều nặng, đáng cưu mang như để cho nguời Phật tử sống sao cho xứng đáng là nguời nhân bản, hiếu hạnh, mang cả tâm hồn và trái tim Phật vào đời. . Con của Bậc Ðại Tỉnh Thức cũng phải mang dáng dấp của Tỉnh thức- dù ít hay nhiều tùy theo thời gian tu học. Và Mùa Vu Lan Báo hiếu cũng là dịp để sống với một trong Bốn Ân, đó là Sự báo hiếu.
Tôi thường nói với hai đứa con của tôi rằng: “Người phụ nữ, tâm tư của người mẹ là người chịu nhiều cực khổ nhiều nhất, lo toan, gánh vác, chia sẻ… Cho nên, hai con phải nên thương yêu mẹ. Ðừng nghĩ đến ba, đừng thương ba vì ba là đàn ông, cá tánh của rất khác, hay hời hợt, sống riêng mình. Sự trưởng thành, làm người tốt, là công dân tốt, có sự nghiệp … chính là đủ để báo đáp công ơn của cha mẹ…” .
Hai đứa nhỏ đều im lặng. Nói là nhỏ nhưng cả hai đều đã lớn. Con trai tôi ít nói, nên nói rất là ít: “Suốt đời con, con cũng kính yêu ba”. Còn đứa chị nó, con gái lớn của tôi, vừa nói vừa ràn rụa nuớc mắt:” Dù ba ra sao, dù hoàn cảnh có như thế nào hay bất cứ ở phương trời nào, chúng con rất hiểu ba nhiều. Suốt đời con, con vẫn luôn luôn kính yêu ba…”.
Vu Lan đã thực sự trở về, không phải trong không gian tràn ngập hương vị của giọt mưa tháng bảy, không phải gió rải bàng bạc trên từng cây lá, trong một nơi chốn nào đó ..mang dáng dấp của lời nói, của tình thuơng yêu… nhưng lại nằm ẩn chứa trong tâm mỗi con người có ý thức, có tâm tình của mỗi một người con.
Ðừng làm cho cha mẹ buồn, đừng để những giọt nước mắt hạnh phúc vì con của mẹ lại đổ ra vì những khổ cảnh, xáo trộn của con. Ðừng cho mẹ phải lo lắng vì con, khi chúng ta có thể hoàn thiện, gặt hái được những gì của mơ ước, được thành hình. Những ao ước của mẹ rất nhỏ nhoi, tầm thường, giản dị, đó là hạnh phúc mà con có được.
Chúng ta không cần những lời nói hoa mỹ để thêu dệt làm đẹp cho ngày Báo Hiếu, hay ca tụng một chất liệu nào đó mà mình thực sự không có hay chưa thấm nhuần, hiểu biết được hoặc giăng hoa kết trái tô điểm, làm hình cho những biểu tượng, vì Vu Lan là ngày không phải của biểu tượng, mà là ngày của trái tim, của lòng từ, nhẫn nhục, là tất cả tâm hồn bà mẹ… mà qua đó, chúng ta học được bài học để làm người.
Tôi đọc đâu đó, có một định nghĩa về Mẹ, rất là thú vị, xin được chia sẻ:
Million là hàng triệu điều mẹ trao cho con...
Old là nghĩa là mẹ sẽ vì thế mà ngày càng già đi...
Tears là những giọt nước mắt mà mẹ đã đổ vì con...
Heart là trái tim vàng của mẹ...
Eyes là đôi mắt mẹ luôn dõi theo con...
Right là những gì đúng đắn mẹ hay khuyên bảo...
Sưu tầm
Trong chỗ thân tình, có một vài người bạn đã hỏi tôi rằng: « Biết anh đã lâu, nghe anh nói, thấy anh sống và những gì anh viết ra để chia sẻ… Có lẽ, anh hiểu nhiều về Phật Pháp, có tu tập, có thực hành, nên toả sáng, mượt mà trong từng lời văn và anh có thể là một con người gương mẩu, hạnh phúc, đạo đức v.v… ? »
Những lời nói đó làm tôi mắc cở quá chừng, vì tôi vừa quê mùa, chất phác, ít học, tu tập nửa vời, lừng chừng … mà làm gì được khen đến như vậy. Tôi chợt nhớ đến một câu chuyện đã được đọc từ lâu.
« Có một đứa bé mồi côi mẹ, cha lấy vợ khác và nó có vài đứa em sau. Không ai biết cuộc sống nó ra sao, nhưng đi học thì rất giỏi, ngoan ngoản, luôn đứng đầu lớp. Dù ăn mặc quần áo có nhiều chỗ vá, người ốm nhom, gầy còm… nhưng khi gặp ai hỏi chuyện, nó đều khoe và nói nó là đứa bé rất có phước, vì được ba mẹ đều thương yêu, lo lắng, ăn uống đầy đủ và không ai có được hạnh phúc bằng nó đâu. Nhưng sao nhìn trên đôi mắt của đứa bé 6 – 7 tuổi lại mang nhiều nổi buồn sâu lắng, man mác có nhiều dáng vẻ suy tư, không thật, chứ không có hồn nhiên, vui vẻ của số tuổi bé thơ đó.
Cô giáo là người rất thương nó, vì Cô không có con, nên lo lắng và do đó, muốn biết hoàn cảnh thực hư của nó ra sao, để mà giúp đở.
Một hôm, bất ngờ Cô giáo đến nhà để thăm nó. Từ ngoài cửa, Cô đã nghe tiếng mắng chửi của người đàn bà, rất cay nghiệt. Cô thấy đứa học trò mình bị bà mẹ ghẻ tát mấy tát tay, bên cạnh nó là đống quần áo dơ để nó giặt, kế đó là đứa em đang nằm võng mà nó phải lo đút cơm… Nó vừa làm vừa khóc thút thít dưới trận mưa đòn và lời chửi rủa. Cô giáo đã đứng lặng yên, xúc động vì tội nghiệp, rồi vừa khóc, vừa chạy trốn ra khỏi bi cảnh đang xẩy ra cho đứa bé học trò của mình.
Hôm sau, khi dạy học, Cô đã gọi đứa bé lại và nói rằng : « Cô đã biết hết rồi con ạ. Tại sao con lại nói láo Cô là con sống rất sung sướng, may mắn, hạnh phúc, được cha mẹ lo lắng, săn sóc, hở ? »
- Thưa Cô, vì đó là lòng mong muốn, ao ước của con. Con ước mong con đuợc thương yêu giống như bao đứa trẻ khác. Cho nên, những gì mà con không có, con phải che dấu đi để cho mọi ngưòi chỉ biết là con là đứa bé rất được thương yêu, được chăm sóc… như bao nhiêu đứa bé khác, Cô à.. »
Xa cha mẹ từ khi còn nhỏ, tôi đã không có tuổi thơ như những đứa bé khác, nên cảm thức về tình cha mẹ trong tôi như những «giọt suơng rơi trên tóc mẹ» mơ hồ, mông lung, ảo hoá. Nhiều khi cố khơi, gợi trong ký ức để tìm lại những hình ảnh thân thương của tuổi thơ, nhưng tìm hoài không thấy bóng dáng của tuổi thơ đâu. Cho nên, tình cha mẹ đối với tôi là một xa xí phẩm, với hoài không tới vì ở trong túi kỷ niệm chứa đựng của thời gian qua, để có thể mà hoài niệm, suy tưởng về, lại không có, trống rỗng.
Vì lẽ đó, những gì tôi viết ra, đi sâu vào lòng mẹ, khám phá tận nguồn gốc để khởi đầu cho một đứa bé để thành người, trưởng thành v.v.. và tô đậm thêm những chất liệu của tấm lòng, những cảm xúc, những tình cảm ngập lòng trong chất thơ tình mẹ… Tất cả, vâng tất cả, đó chỉ là những uớc vọng, những mơ tưởng, những mong muốn hay đúng ra là những gì mà tôi không có trong đời sống, tôi xin đuợc nói ra để chia sẻ và mong rằng mọi người đều có đuợc, và đừng để vô tình quên lãng, không quí trọng kho tàng thương yêu đó trong đời sống.
Còn những gì viết ra có chất liệu của Phật Pháp, thực ra, chỉ là những góp nhặt của người nầy hay người khác, chỉ mong muốn như một tâm tình của tôi và cũng như một ước vọng, chia sẻ. Nên, nếu đánh giá tôi là người như thế nào đó, qua ngòi viết bộc bạch, tâm tình, chân thành, thì đó là một sự sai lầm, không đúng.
Có một nhà văn Edith Wharton nói rằng:
“ There are two ways of spreading light: to be candle or the mirror that reflects it”.
Xin được dịch:
‘Có hai cách để toả ánh sáng, hoặc bạn phải là ngọn nến hoặc bạn phải là tấm gương để phản chiếu =
Căn bản Phật Pháp tôi không có nhiều, thiếu sự tu tập, học hạnh yếu kém… cho nên, tôi không thể tự là ngọn đèn nến để có thể toả ánh sáng lan ra chung quanh… nhưng, may mắn chỉ được là tấm gương, tấm kiếng phản chiếu lại những chất liệu ánh sáng đó, thì cũng là một phần nào được an ủi lắm rồi.
Xã hội đã thay đổi rất nhiều, bao nhiêu sự xáo trộn đang giăng bủa mọi người vào vòng xoáy của cuộc đời, để chụp giựt thời gian, tiền tài, danh vọng trước bao nghiệt ngả, khổ đau của những người chung quanh. Do nhu cầu vật chất, do đòi hỏi của cuồng vọng…chúng ta dễ quên đi những chất liệu làm nên con người sống có tình, có nghĩa, những yếu tố được nuôi dưỡng từ thưở lọt lòng mẹ … và đang bị chúng ta thu hẹp lại trong cái không gian nhỏ bé của đời mình, quên đời, quên người. Lương tâm, tình cảm, nhận thức yêu thương bị chai sạn, dẫn tâm trong mênh mông bể khổ, liên đới, ảnh hưỡng đến mọi người, cho xã hội. .
Vu lan Báo Hiếu lại là chất liệu làm sống lại cái tâm hồn bị chai sạn, vô cảm trước những bất hạnh của người khác. Ý thức về Báo Hiếu, cũng là ý thức về trách nhiệm, san sẻ, nhẫn nhục, tình thương… Những yếu tố hình thành và đến từ tự tình cha mẹ, đem chúng ta sống trong chánh niệm, sẽ rửa sạch cái tâm ô nhiểm, để làm sáng lên tình yêu thương nhân bản, được định nghĩa là làm người.
tấm lòng mẹ là thơ, buồng chuối
là hương thơm chất ngất, chở đời con
là mộng đẹp cuộc đời con dấn buớc
là tình người, ngày tháng được chắt chiu
nếu một khi mất mẹ, chắc con buồn
cánh hạc thân gầy, bầu trời bỗng vắng
gió nhẹ đưa về, sợ mắt con cay
con khóc mẹ, khóc lời xưa đã mất
mẹ có biết không là con thuơng mẹ
thương bao lời mẹ dạy dỗ con thơ
thương những lúc, mẹ nhìn con khẻ nói
con ra sao, vẫn có mẹ đi cùng ……
Thưa bạn, tình mẹ nói hoài không hết, viết bao nhiêu cũng không đủ, vì đây là cái Tình cảm thiêng liêng. Có ai nắm được hương vị của tình mẹ, tiếng gọi mẹ vẫn là những điệp khúc muôn đời thật đẹp, tạo thành nền văn hoá sống hướng thượng của con người, cho con người được thành người. Nền văn hoá nhân bản nầy được nuôi sống từ cái tâm sáng của mỗi người có được ý thức, là những tế bào làm nên vẻ đẹp, rõ nét con người.
Do đó, khi đã là điều kiện để sống tình cảm, là hơi thở, là tấm lòng… thì văn hoá Vu Lan Báo Hiếu sẽ sống mãi với thời gian và không gian, vì bất cứ ai cũng đều được sanh ra từ cha mẹ, nên là con người có nhận thức, có suy tư, không ai lại không có tình cảm, có trái tim rung nhịp đập.
Ðời sống là những gì ngắn hạn, vô thường, hữu hạn…Còn chúng ta là những người đi tìm những gì dài hạn, chân thường trong cái vô thường … đó là chân tâm bất sinh bất diệt, là trái tim bà mẹ.
Vu Lan ( Ullambana ) là như thế, không phải là khoảng ráp lại những mảnh vụn của thời gian, của tâm tình, của trái tim … nhưng Vu Lan là đất sống, được giải thoát, được « đảo huyền » khỏi ngục tù của vọng niệm, khổ đau và đem lại hơi ấm hạnh phúc cho con người và miên viễn tồn tại. . Ðó là những hình ảnh cao đẹp như những bài thơ, êm ả, chân chất. mộc mạc, bình dị, ngọt ngào như cánh đồng lúa vàng, như là biển rộng với tiếng sóng rì rào hay như là nải chuối buồng cau, hoặc là tất cả những gì cao đẹp nhất để nói đến tấm lòng của bà mẹ.
Hình ảnh của cha mẹ là bóng dáng nối dài của Tổ Tiên, tiếp nối đến các người con, thế hệ sau nầy và là nhịp cầu, biểu tượng sinh động của nhân loại, khi con người biết đến giá trị của tâm tình, của văn minh tâm linh của con ngườị…..
Sự xuất hiện của Ðức Phật, qua tấm gương hiếu hạnh của Ngài lúc còn tại thế đối với cha mẹ hiện đời và nhiều đời, với hình ảnh của Ngài Lục Kiền Liên mang lòng hiếu đã tác động mạnh, đẹp tuyệt vời trên hành trình cứu Mẹ…đã làm hiện sinh tinh thần nhân bản sinh động đầy tình người, nêu cao giá trị của tâm linh, tình cha mẹ, lòng người…
Thưa bạn, là người đi gom lời thơ, ghi lại tâm tình…vẫn ước mong ngày Lễ Vu Lan- Mùa Báo Hiếu được phổ cập khắp mọi nơi trên hành tinh nầy, vì đó biểu tượng cuộc sống thật đẹp, với tấm lòng của Ðức Phật, nói lên Văn hoá tình người, nâng cao giá trí tấm lòng của Mẹ Cha, và để xác định rằng «mọi người, mọi loài đếu có tánh Phật » dù mang màu da, sắc tộc hay bất cứ hình tướng nào».
Văn hoá đó không phải chỉ có giá trị trong một ngày, trong một mùa báo hiếu, mà là miên viễn khi con người còn nhận mình là người, ý thức được giá trị cao đẹp của con người…
Xin đừng hỏi tôi
đoá hoa hồng nào đẹp
là hồng non hay hồng trắng nỏn nà
muôn loài hoa có khoát áo mặn mà
vạn màu sắc còn chăng là hương vị
sẽ uá tàn theo ngày tháng vội qua
đã bao lần nâng cành hoa thưở đó
tìm lại màu thanh sắc của năm xưa
có còn chăng từng cánh nhạt phôi pha
rồi kết thành trái tim hồng của mẹ
không phai tàn, dù vưọt sóng thiên thu
vì tim được nuôi bằng tấm lòng… mẹ…
Thưa vâng, hoa hồng hay hoa hồng trắng, cũng chỉ là màu sắc của hoa, chỉ là biểu tượng đẹp để khơi lại tấm lòng, tình yêu cha mẹ, mà đôi khi trên vạn nẻo đường, trong cơn gió bụi, chúng ta đã để cho bụi thời gian phủ lấp, xoá nhoà, quên lãng. Hoa sẽ tàn, cánh hoa sẽ rụng, màu sắc hoa sẽ phôi pha … nhưng trong sự bất diệt, trong tấm lòng, trong tình thương, trong Muà Vu Lan Hiếu Hạnh, chúng ta lại có đoá hoa bất diệt toả sáng, ngập tràn tình yêu thương, đó là trái tim của Mẹ.
Với những ý kiến thiển cận, suy nghĩ đơn sơ, chân thành, xin được đemnhững suy tư, tư tuởng chân chất nầy dâng cúng đến Mùa Vu Lan như một tấm lòng chung Báo hiếu và cầu xin mọi người đều sống trong tinh thần nầy- không phải một ngày, hai ngày, mà là mãi mãi.
Cũng xin được dâng tặng đến mọi người .. đoá hoa được kết bằng trái tim của mẹ, như một sự chia sẻ thân tình, quí trọng, thân thương trong Mùa Lu Lan Báo Hiếu, để chúng ta cùng chung tắm mình trong hạnh phúc an lạc vô biên….
Viết xong lúc 12 giờ khuya
ngày 29.08.2009
Mùa Vu Lan Báo Hiếu
Bãi rác nằm cạnh sông hôi thối meo mốc, chua mùi nước cặn.
Sông rộng quá, không biết bên kia sông là gì. Những đứa bé vẫn hay hỏi ba mẹ chúng bên kia sông là gì. Thì người chứ gì. Rồi chúng lại hỏi, người bên kia sông có giống người bên này sông không. Tất nhiên là giống. Cũng có có mắt có mũi có đầu có tai có yêu có ghét có đói có no. Hàng chục câu hỏi như thế đôi khi làm người lớn bực bội, người lớn đôi khi trả lời được, đôi khi lắc đầu.
Bên kia sông không vọng đến bên này sông. Có lẽ vậy.
Cứ mãi ở đây thì buồn tẻ lắm.
Những con cá mặt quỷ bơi lặn khắp sông, theo mùa lũ mà sinh sôi, mà cắn xé nhau bằng hàm răng gớm giếc với đôi mắt trợn lồi.
Lũ người nhếch nhác theo ráng chiều mất hút để lại dòng sông buồn lặng lẽ. Chỉ có tiếng những người đàn bà giục con đi tắm vang vang lanh lảnh. Bài vọng cổ quen thuộc cất lên, buồn đứt ruột. Không có những âm thanh này, chắc chẳng ai ở bãi sông này làm gì.
***
Người đàn bà điên điên khùng khùng bới rác lên ăn. Ban ngày thì cười. Ðêm thì khóc. Tiếng cười lẫn tiếng khóc đều kinh hoàng. Những đứa trẻ ví tiếng khóc của chị với tiếng chó sói. Ai mở nhạc thì hát theo, hát cũng hay, lạ thật, bài gì cũng thuộc. Hát chán lại khóc. Khóc chán thì cười. Không theo một nguyên tắc nào hết, đơn giản.
Bà Tám nói, đừng những thứ đó. Rác. Ðó là rác mà, đừng ăn. Lời nói ít ai dám nói của Bà Tám chỉ vô ích, đáp lại là những câu nói vừa cốc lốc vừa khó hiểu, những nắm đất đá tung lên, rác gì mà rác. Cút. Cút. Không được bắt con tôi…
Ðừng nói tôi điên. Người đàn bà điên múc nước bẩn dưới mương đem lên miệng uống. Nắng chang chang. Mọi người chỉ biết nói tội nghiệp tội nghiệp hay cùng lắm kéo người đàn bà điên vào nhà cho một bộ quần áo cũ, ăn một miếng cơm. Như vậy cũng đủ thấy mình nhân hậu rồi.
Những buổi tối không trăng, người ta thấy một vài bóng người tóc tai bù xù vật vờ trên bờ sông.
***
Mọi người nháo nhào di dân, chẳng ai buồn để ý đến hai mẹ con bà điên làm gì cho mệt. Mặc kệ đi. Biết sao được. Nước lớn quá. Ðiên nói cũng vô ích mà. Chiếc thuyền nhà chị Sáu chỉ muốn chìm.
Chị Sáu ơi, cho tôi lên thuyền với.
Tiếng đàn ông mệt nhọc đáp lại, không được đâu. Nước lớn quá. Thuyền lại bé quá nữa, đầy hết rồi, thêm một ki lô gam cũng chìm mất.
Tôi trả công một chỉ vàng.
Ðã nói không được mà.
Thôi thì cố gắng, hình như ông ta có đắn đo. Không được, người đàn ông quắc mắt nhìn người đàn bà bơi trong bộ quần áo lùng bùng. Không được, có bầu thì bằng hai người còn gì. Hai chỉ thì qua sông. Không thì thôi.
Người đàn bà nhăn mặt nhìn dòng nước, xoa bụng. Muốn rên la. Muốn quỳ xuống năn nỉ. Bì bạch trong nước như một con vịt bầu, chị rút trong tay hai khâu vàng, thôi được. Có từng này tài sản, đưa cho ông anh hết. Ông anh giúp em qua bên kia.
Mưa liên miên, ròng rã mấy tháng. Bọt bong bóng nổi trên mặt sông dày đặc. Trước mùa mưa, sông đã lắm cá, sau mấy không biết cá nhiều đến mức nào nữa.
Dự báo thời tiết cho biết nước lũ sẽ dâng ở mức báo động.
Các cán bộ thủy lợi bơi thuyền đến tận nơi vận động dân sơ tán đến mùa nước rút lại về. Lúc đầu họ không nghe. Họ không muốn bỏ những gì đã tạo dựng được, từ những lồng nuôi cá đến cái cột làm nhà. Cán bộ nói có lý quá, những năm trước, nước không lớn như năm nay, ai muốn xua đuổi dân đâu. Họ sẵn sàng. Ngậm ngùi luyến tiếc.
Chỉ một tuần sau, mặt sông vắng tanh những ngôi nhà, vắng tanh những cái bè trôi nổi, vắng tanh những giây phơi quần áo giăng mắc ngang dọc. Không có một mống người. Bãi rác kia không một dấu vết cho thấy nó đã từng tồn tại. Nó bị xóa nhòa trong nước, như nó là một phần của sông.
Rác rến, bao bóng lộm chộm. Có cả xác heo gà trôi dạt. Váng dầu nổi lềnh bềnh.
Mênh mông nước. Và nước. Gió. Và gió. Và mưa.
***
Người đàn bà, cứ tạm gọi là người đàn bà điên vì chị ta không có tên. Chị bảo chị tên Hoài, tên Ngọc Lan, có lúc nói cả tên đàn ông, Minh Hùng, Hoàng Biên, có lẽ một trong số đó có cả tên của chị, hay chỉ là nghe ai nói, hay là tên những người yêu của một mối tình nồng thắm cay đắng nào đó. Cứ gọi chị là người đàn bà điên, mụ điên, bà điên như mọi người vẫn gọi.
***
Chiều chạng vạng. Ánh hoàng hôn lả lơi vắt trên mặt sông. Chỉ có dòng nước. Dòng nước đùng đục màu đỏ của phù sa pha lẫn những váng dầu rò rĩ, pha lẫn dòng nước thải từ cống rãnh thải xuống sông.
Mọi người quanh xóm chài nghèo nàn, lạc hậu, ấu trĩ ngạc nhiên nhìn hai mẹ con người đàn bà điên hục hoạy bới đống rác dưới chân cầu. Những thứ kiếm được trong buổi chiều kết thúc một ngày của họ. Họ trở về nhà như không hề kết thúc một ngày.
Người đàn bà điên nhặt nhạnh không biết mấy trăm tờ vé số đã dò và tuồn trong một bao ni lông, không biết để làm gì. Cứ như vậy, cái bao ni lông chặt cứng. Mọi người đùa, hay trước bà ta đã từng trúng số độc đắc. Mặc kệ. Họ đi vội vàng, tay kéo những đứa trẻ, đừng nhìn người ta, mặc kệ con mụ đó đi.
Ăn đi con, bàn tay với những lớp da tróc như vảy cá. Ðôi bàn tay, liên tưởng đến lớp da sần sùi của những con cá mặt quỷ ăn tạp và xấu xí.
Ứ ứ.
Ðứa con nhỏ xíu, da trắng tái mặc chiếc áo quá cở, hình như không mặc quần, nhưng chiếc áo quá cở dài tới chân. Các ngón đầy đất, gót chân có cả chục vết sẹo. Ði mấy bước lại chúi mặt xuống đất. Nó thích được mẹ bế chứ không hoạt bát và hiếu động như những đứa trẻ chưa học đi đã đòi chạy. Khi thì ngồi trong lòng mẹ, khi thì được cõng sau lưng, khi theo sau, khi nằm gọn trong chiếc giỏ mây nhặt ngoài bãi rác, nó chỉ biết khóc và cười hoặc ngủ hoặc ăn, thỉnh thoảng nói mấy tiếng gọi mẹ khi cần. Cơm cơm. Bú. Bú miếng đi. Mẹ mẹ. Mẹ. Mẹ ơi. Ngứa quá. Ðói, chơm chơm. Hôi hôi quá. Khát. Ngủ. Ði ngủ. Không ăn. Nóng. Nhăn mặt, ngậm cứng miệng mỗi lần người mẹ nhét thứ thức ăn có mùi hôi vào miệng. Cái mũi bé tẹo nhăn nhó. Nhăn cả nhân trung, cả mắt. Ngon. Ngon. Ngon quá. Ăn đi con. Miệng nó ngậm cứng lại. Xua tay. Không. Oe oe. Mẹ.
Mình muốn đi học. Không được. Mình phải lấy chồng. Con lớn con cũng lấy chồng như mẹ, con cũng lấy vợ như cha. Con ơi, con lớn nhanh lên. Con lớn rồi con sẽ đi được, mẹ sẽ không bế con nữa. Chán quá, buồn quá, con không biết hát như mẹ, ví dầu cầu ván đóng đinh, ví dầu, í à, con lớn nhanh lên.
Xác những con cá mặt quỷ trên bãi cỏ bốc mùi, thân cá thâm đen sùi bọt, lũ ruồi bay vo ve nháo nhào. Cả những con chó cũng chê, không buồn rớ đến. Ðó chỉ là thứ đồ chơi cho mấy con cún non choẹt, vầy vò chán lại về nhà bú mẹ. Người đàn bà lao ập người xuống nhặt lấy những con cá, vội vàng như sợ ai cắp mất. Mày không thoát đâu. Ðây rồi. Ha ha.
***
Một người đàn ông có bước chân huỳnh huỵch, đá những con cá chết ươn hôi, la lối chán quá, toàn là cá mặt quỷ. Chuyến này cả nhà treo miệng. Tèo ơi, về thôi, tối rồi. Muỗi không à, có nghe không? Ba đợi môt chút đã. Ngay thôi. Hai cha con nhà kia thu lưới về cái bè chồng chành giữa sông. Trên bè, khói bếp tỏa ra mùi dầu Diesel khai khai, của nhiên liệu cháy không hết. Những can dầu màu vàng dự trữ lung lay theo chiều nước, chiếc bè không muốn đứng yên, di chuyển nhịp nhàng.
Tiếng hai cha con họ không át được tiếng cười ha ha của người đàn bà điên trên bờ sông.
Hai người, một người lớn một người bé dắt tay nhau về ngôi nhà, tạm gọi là nhà cho đỡ tủi. Người cha quay lại nhìn người đàn bà điên một lát, nhưng chị ta chẳng hề biết, cứ cười.
Ðứa trẻ tội nghiệp khóc. Nó sợ tiếng cười của mẹ. Mỗi lần như thế, nó gào khóc giãy giụa. Nó không lên cơn điên, không có dấu hiện điên khùng, không di truyền căn bệnh thần kinh của mẹ. Mặc dù rất thích bầu ngực mẹ nhưng lúc này, đôi tay nó cứ bơi ra khỏi vòng tay ấy, bầu ngực ấy. Người đàn bà điên không tức giận, không đánh con khi nó hư, đái dầm hay ngấu nghiến cắn vú mẹ. Người đàn bà điên. Người đàn bà điên, mỗi lúc cười một lớn, một dài, những tràng cười thật buồn và ma quái.
Hai mẹ con lăn ra ngủ trên đống bao tải phập phồng, tiếng máy nổ tạch tạch. Ánh đèn soi rõ những cần câu trăng trắng, cả những bóng người cao thấp lom khom ngồi chênh vênh trên thuyền.
***
Ðội xe vệ sinh môi trường chậm chầm dừng lại và trút một lượng rác ngất ngưỡng. Ào ào. Ðoạn sông này lại đông hơn một chút, có lẽ tới một trăm người.
Tiếng máy nổ phì phò. Những con người chạy nháo nháo theo. Của tao cái bao màu xanh. Tao màu đỏ. Mình thấy mình đã khổ mà mẹ con nhà kia khổ gấp ngàn lần mình. Họ xúm nhau đuổi hai mẹ không bình thường đi. Người mẹ không chịu đi, lấy một nắm vữa ném lia lịa. Bọn bới rác chạy toán loạn. Chạy đi, con mẹ điên. Ðụng đến nó là chết. Bà Hằng mới chết đó, mày không biết à, vì bị thằng điên nào ném, chạy nhanh thôi. Xóm bới rác kia có một người chết vì bị ông điên mém đá. Không bênh tật, không thương tích, tự nhiên, lúc chết cái lưng hằn dấu vết của viên đá tím rịm lở loét lan ra cả nửa lưng. Mấy người điên đáng sợ quá!
Bóng họ khuất theo ánh nắng chiều.
Người mẹ hui hui, đuổi mấy con ruồi đậu trên má con. Vạch vú cho bú. À ơi! Á ới! Hư hư hư hư hư… con mẹ xinh này, con mẹ đẹp này, ư ư ư ư ư ư. Ru con chán lại hát, anh ơi, anh ơi anh đâu rồi làm sao em hôn bờ tóc rối. Anh ơi anh đâu rồi làm sao ta có đôi. Anh ơi anh đâu rồi. Anh ơi anh đâu rồi.
Âm thanh của nước dạt bờ dào dạt dào dạt.
Người đàn ông hôm qua lại lên bờ. Chuột cống chuột đồng chạy nháo nhác làm những ống lon kêu lóc cóc xủng xoảng. Hắn hỏi người đàn bà điên có ăn không? Chị nói ăn. Hắn đưa cho người đàn bà một bọc ni lông đen đen và nhìn người đàn bà điên, nhìn đống rác bốc mùi. Nhìn người đàn bà điên, chị không nhìn lại, miệng hát một bài hát lạ hoắc, không biết từ đâu ra. Không phải của ca sỹ Phi Nhung hay Như Quỳnh hát.
Con sông này, từ bao giờ được gọi là sông.
Ðừng hẹn em, con sông mùa nắng.
Ðừng nói em bướng bỉnh.
Anh có bao giờ nghĩ nếu trái tim này không còn yêu, em sẽ chẳng sống không?
Những thứ hoa dại, những bông điên điển kia có được gọi là hoa không?
Làm sao em biết, em chỉ thấy mình em giữa sông. Nơi những con sóng không bạc đầu. Ðục ngàu và bội bạc.
Lại sắp mưa. Những cơn mưa trên đất này lúc nào cũng bất chợt, cũng vội vàng, cũng thảnh thơi rồi ráo kiệt. Không để ý đôi mắt em ướt. Không cần thấy em cô đơn.
Hong khô em, hong khô anh.
Nước sông dâng từng ngày.
Ngày mai anh không còn đây. Anh không ngắm dung nhan em mỗi khi thức dậy. Anh vẫn cười, anh vẫn nói, màu tóc em nhuộm hết dòng sông.
Lừa dối là cách em tự thấy mình không kém ai.
Bằng những lời nói chua ngoa ư?
Không.
Làm sao em nói lời anh không chân thật!
***
Mặt trời lên, khuất sau những nóc nhà cao chót vót đến mấy chục tầng lầu. Trận mưa xối xả hôm qua biến mất, phố trở thành lãnh địa của rác. Ðừng đi đến đó, những người mẹ vẫn dặn con của mình như thế, thừa biết chúng sẽ không nghe lời mình.
Trẻ con. Màu da nhợt nhạt. Ðôi mắt. Cả đôi mắt chúng cũng nhợt nhạt, đói kém.
Những chiếc máy ủi, máy múc, xe tải ào ào đến. Tiếng máy trộn xi măng át hết mọi âm thanh quen thuộc, nhộn nhạo hơn, có lẽ chỉ có ông Tấn là vẫn giữ được nguyên bản. Khu chợ cách nó năm phút đi bộ vẫn tràn ngập thủy hải sản, rau quả tươi sống. Không thiếu thứ gì. Người ta cấm đổ rác ra đường, xuống kênh rạch. Không bọ gậy. Không long quăng. Không sốt rét. Không dịch hạch. Ðó là mục tiêu sở y tế đề ra. Ai cũng hứng khởi nghe để không đau ốm bệnh tật. Tất nhiên rồi. Tốt quá. Ðây sẽ là khu đô thị mới. Cạo vét kênh mương và rửa sạch những chất gây ô nhiễm môi trường, vớt dầu loang, …
Tôi không đi đâu. Tôi ở đây. Nhà tôi ở đây. Người đàn bà người ta vẫn gọi là bà điên không chịu đi. Làm sao bây giờ, họ thảo luận, thôi kế hoạch đạt rồi, cho chị ta ở lại. Không lẽ nỡ lòng đánh đuổi một người điên.
Công nhân lấy xi măng ra khỏi máy trộn, mẻ khác, mẻ khác, cứ như vậy hàng chục chiếc máy trộn quay đều, quay đều.
***
Ðàn ông, người chủ gia đình vất vả dựng lại nhà cửa. Rất nhiều chiếc ba gác chở không biết bao nhiêu cây tầm vông dài ngoằng đến, cả những tấm bạt màu cà rốt, màu đen bằng chất liệu tổng hợp xếp ngay ngắn chuẩn bị lợp ngôi nhà mới.
Chỉ có trẻ con, lúc nào chúng cũng đùa nghịch với nhau bằng nụ cười hồn nhiên. Một tháng trời xa nhau. Tao nghĩ không gặp lại mày. Về quê mà nhớ tụi mày muốn chết. Xạo quá ông nội ơi…
Người lớn nhìn và cười chúng, bảo chúng nói chuyện như người lớn.
Chúng hỏi nhau về thằng bé ốm tong teo con của bà điên ở đâu sao không thấy. Không có ai để trêu ghẹo, chắc chúng buồn lắm, nhưng chúng cũng rất vui là gì, chẳng có ai nói những câu điên khùng và vác đá ném chúng nữa.
À ơi à ơi, con mẹ xinh đẹp, con mẹ môi hồng môi thơm nào con ngủ đi. À ơi à ơi, con mẹ xinh đẹp, con mẹ môi hồng môi thơm nào ngủ đi.
Lâu lắm rồi, bà Tám không buồn nói với người đàn bà điên đừng nhặt rác cho vào miệng. Bà Tám bận rộn với mùa cá.
Bãi rác X. nằm trên bờ sông X. Nghe khô khan và bình thường quá.
Người đàn bà cắp đứa con như cắp một con thỏ non. Những vết sẹo đen thui lồi lên dày đặc những ngón tay, lòng bàn tay, cánh tay, cả mặt, lưng… Một mảnh rơi từ trên cao xuống trúng ngay đầu đứa trẻ làm đứa bé tội nghiệp thức giấc và khóc lên dữ dội. Người đàn bà đứng dậy, ngơ ngác nhìn xung quanh.
Ðứa bé cứ thé lên. Chỉ biết khóc, nó không cần ngậm bầu vú mẹ. Dòng máu tươi chảy mạnh, cứ phun lên như mạch nước ngầm dưới sông. Khóc càng lớn, máu càng chảy. Người đàn bà ôm con vào lòng khóc. Ðứa con bú ngấu nghiến để quên cơn đau. Nó nuốt ừng ực từng ngụm sữa, tiếng nấc vơi dần. Trên má, những cục máu khô cứng, đen bầm. Khuôn mặt đứa con của người đàn bà điên trắng và xanh hơn. Bầu ngực người đàn bà có sức nóng lan tỏa, khuôn mặt người đàn bà điên buồn úp xuống bầu ngực mình.
***
Hai vợ chồng họ lại đem cơm cho mẹ con người đàn bà điên. Người đàn bà không bình thường vồ lấy như một con hổ đói ăn ngấu nghiến. Những người điên luôn ăn uống xấu. Ngon. Ngon. Ăn vội vã. Mớm cho đứa con bé xíu chưa ăn cơm, đứa bé liên tục nhổ ra, phun cả lên mặt mẹ. Ðứa con thiu thiu ngủ. Hai vợ chồng họ kiên nhẫn quạt cho người đàn bà điên, còn mình mồ hôi vã ra như tắm.
Tiếng vọng cổ của ca sỹ Phi Nhung lại cất lên. Chỉ có những chiếc máy nghe nhạc mới có quyền ăn to nói lớn trong những buổi trưa nóng ngột ngạt tháng sáu. Một vài người hát theo bài hát quen thuộc.
Bài hát được bấm đi bấm lại, chập tối, máy đĩa vẫn chưa tắt. Nhịp điệu êm ả, buồn rười rượi bởi giọng hát nam cao trên nền đàn tranh và mandolin nhè nhẹ du dương xen lẫn bài hát của ca sỹ Phi Nhung.
Người đàn bà điên nhìn hai vợ chồng kia ra về với vẻ lưu luyến và biết ơn. Sự mất trí, sự ngu dại, sự điên khùng của người điên không đánh vần từ cám ơn, xin lỗi, đau khổ hay hạnh phúc.
Người đàn ông lạnh lùng, thí nghiệm thành công rồi. Giàu to rồi. Họ bước ra khỏi túp lều ngột ngạt và đi thẳng.
***
Lũ cá quỷ lóc bóc nhảy hòng thoát ra những mắt lưới dày đặc. Khổ thân. Chán quá. Lưới dày đặc cũng chẳng ích gì. Ông bắt chúng ra khỏi lưới ném mạnh lên bờ, chỉ ăn hại thôi, chẳng biết làm sao để sống. Những con chép, con rô thưa thớt, những con mè chán chết. Ðàn ông đàn bà uể oải ngáp.
Tháng cá mặt quỷ lên. Những con cá mặt qủy mắt lồi, những con cá có cái mặt giống quỷ. Cái mặt luôn chứa đựng những điều xấu, cái mặt rắp tâm hại con người, hại cả đồng loại, hại cả nòi giống. Cái mặt gườm gườm, mũi hểnh, những cái răng hàm trên vừa vêu ra vừa khoằm, cong coắp như những lưỡi dao găm hoắt nhọn tua tua đâm thấu mọi thứ trong dòng nước.
Mùa mưa này, những con cá mặt quỷ đã sinh ra không biết bao nhiêu đàn cá mặt quỷ con và lớn nhanh như ăn phải cám tăng trọng của heo. Chúng ngốn hết những con cá bống cá kèo cá chép của sông cho vào cái bụng căng cứng nhỏ dần về phía đuôi. Vứt lưới xuống, kéo lên chỉ toàn là cá mặt quỷ. Mặt nhăn nhó, ném lên bờ cho chết. Loài cá mặt quỷ phá hoại và ăn mồi điên cuồng điên cuồng đó đáng ghét thật.
Ðó là nhịp sống buồn tẻ của những dân đánh cá, phải đến ba tháng chứ ít gì. Quán cóc cũng ế ẩm theo, vắng vẻ theo. Trẻ con không dám đòi mẹ mua cái này cái khác, có lẽ chúng cũng thấy ba mẹ chúng buồn vì khó khăn. Ngủ dậy đôi lúc mọi người mơ tưởng một chút cho đỡ buồn như nghe nhạc, nói chuyện tục tỉu lăng loàn để lấp đầy những lo toan của miếng cơm manh áo chật vật.
Nhớ lại kinh khủng quá! Giờ chẳng ai nỡ vứt những con cá mặt quỷ ăn tạp cho kiến nữa. Ðó là tiền, họ cười với nhau, sao phải buồn chứ. Rồi giấc mơ, không rõ là giấc mơ hay thứ gì đã thành hiện thực.
Bản nhạc buồn của ca sỹ Phi Nhung lại cất lên. Lại bấm đi bấm lại từ sáng đến tối bằng nút repeat trên đầu VCD. Bản nhạc đó buồn thật, nhưng tâm hồn họ không đến nỗi buồn theo. Một giọng đàn bà khàn khàn như vịt đực xen lẫn làm cho bản nhạc mất hay.
Những lát cá quỷ, cá mặt quỷ róc hết xương xắt mỏng trắng như thịt cá hồi nằm trên bàn những nhà hàng sang trọng trong thành phố. Chúng chẳng rêu mốc và dính đầu bùn đất trên đầu trên mắt, chẳng sần sùi xấu xí và đáng sợ như trước nữa. Họ cầm lấy tờ báo X trên tay, sung sướng đọc: “….”
Có ai đó nhắc lại về việc người đàn bà điên đã ăn sống cá mặt quỷ. Ăn cả mật cá mặt quỷ. Ăn cả gan cá mặt quỷ. Cả đầu cá mặt quỷ có hàm răng khoằm và nhọn. Hay bụng tốt, ăn rác mà còn không bị gì nữa là…
Bãi rác X. trên dòng sông X. thấp xuống một chút vì một lượng nó chìm dưới sông.
Sáng hôm sau, bước chân ra đường, rác rến quấn lấy nhau. Là rác. Là xe. Là buôn bán. Là người. Không có một người điên nào lang thang trên đường phố, không có người điên nào bới rác trên bãi rác X. hay chân cầu khóc cười như hù dọa trẻ con nữa. Có lẽ chẳng ai nhắc làm chi người đàn bà điên rách rưới không rõ vì thất tình hay uẩn ức đó nữa.
Con sông này, từ bao giờ được gọi là sông.
Ðừng hẹn em, con sông mùa nắng.
Ðừng nói em bướng bỉnh.
Anh có bao giờ nghĩ nếu trái tim này không còn yêu, em sẽ chẳng sống không?
Những thứ hoa dại, những bông điên điển kia có được gọi là hoa không?
Làm sao em biết, em chỉ thấy mình em giữa sông. Nơi những con sóng không bạc đầu. Ðục ngàu và bội bạc.
Lại sắp mưa. Những cơn mưa trên đất này lúc nào cũng bất chợt, cũng vội vàng, cũng thảnh thơi rồi ráo kiệt. Không để ý đôi mắt em ướt. Không cần thấy em cô đơn.
Hong khô em, hong khô anh.
Nước sông dâng từng ngày.
Ngày mai anh không còn đây. Anh không ngắm dung nhan em mỗi khi thức dậy. Anh vẫn cười, anh vẫn nói, màu tóc em nhuộm hết dòng sông.
Lừa dối là cách em tự thấy mình không kém ai.
Bằng những lời nói chua ngoa ư?
Không.
Làm sao em nói lời anh không chân thật!
Hà Nội năm 2009
Anh Yêu Dấu
Những chiếc lá trên cành lại bắt đầu uốn mình, chuyển sắc theo thu, phối hợp với những hạt mưa day dẵng, rỉ rã làm bầu trời trở nên ảm đạm lạ thường, đâu đây có tiếng hát : " Em có nghe mùa thu, mưa giăng lá đổ, em có nghe, nai vàng hát khúc yêu đương ? " Vâng, em đã nghe, tiếng lá thì thầm gọi nhau về cội, cái lạnh se sẻ làm lòng em trống vắng và nhớ anh vô vàn. Có phải chăng, mùa thu là mùa đem lại nguồn cảm hứng cho nhiều thi sĩ, nhạc sĩ ? Họ đã thả hồn thơ, tiếng nhạc bay bổng theo các lá vàng óng ã bên song cửa ? Và rồi, chúng thi nhau tàn úa, lịm chết, theo thu vàng ...
Một làn gió mong manh
Gọi thức lá trên cành
Bâng khuâng chào thu đến
Hạt mưa buồn rơi quanh
Em cùng thu nhớ anh
Em cùng lá trên cành
Héo hon vàng nỗi nhớ
Rơi rụng tàn uá nhanh
Dáng thu đẹp dịu dàng, thu sầu trong hiu hắt, với những cơn mưa tỉ tê, làm em cảm thấy những nỗi buồn xếp hàng thi nhau chiếm ngự vào tâm hồn của mình.
Thu sang lá đổ bên song
Ngập tràn nhung nhớ cõi lòng tha hương
Mưa rơi, rơi ướt con đường
Cho cây nhớ lá, niềm thương chất chồng
-Dâu đây là những hoài mong
Người về sưởi ấm tình đông thuở nào
Những xanh xao của lá vàng vẫn lần mò theo gót thu, lây lất lang thang khắp nơi, thu nào người đến ? Thu nào người đi, thu nào để lại trong nhau từng nỗi nhớ thương ca ….
Viết Cho Giao Mùa
Oct 2009
-DHH
1. Nhà văn Nguyễn Thụy Long qua đời
Ðược tin buồn nhà văn Nguyễn Thụy Long qua đời tại Sài Gòn, hưởng thọ 71 tuổi,
Giao Muà xin chia buồn cùng tang quyến của anh Nguyễn Thụy Long. Nguyện cầu hương linh của anh sớm về cõi bình an.
KÍNH CHUYỂN:
Kính thưa quý Anh Chị,
Ngày 12-10-2009 một phái đoàn người Việt hải ngoại từ Hoa kỳ và Úc do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (www.vktnvn.com) tổ chức sẽ lên đường về thăm trại Galang, một địa điểm vừa là di tích tỵ nạn vừa là di tích nhân đạo của những con người đầy lòng bác ái từ tâm trên thế giới. Galang là nơi đã có gần 250.000 người đã dừng bước chờ đợi thủ tục đi định cư, trong số đó cũng có hàng ngàn người bị cưỡng bức hồi hương sau nhiều năm chờ đợi mõi mòn.
Ðể hỗ trợ cho phái đoàn VKTNVN kính mong quý thân hữu, quý Anh Chị đồng hương vui lòng dành vài phút vào trang web Thỉnh Nguyện Thư để ký vào tờ Thỉnh Nguyện yêu cầu gìn giữ trại Galang làm di sản thế giới. Thỉnh Nguyện Thư này sẽ kết thúc ngày 5-10-2009. Danh sách người ký tên kèm theo bản Thỉnh Nguyện Thư rút gọn sẽ được chính thức đệ trình cho chính phủ Nam Dương.
Nếu quý Anh Chị đã ký Thỉnh Nguyện Thư rồi, quý Anh Chị có thể không cần ký thêm. Xin ghi nhận lòng biết ơn của chúng tôi.
Nếu chưa ký, kính mời quý Anh Chị đồng hương click vào link này Thỉnh Nguyện Thư
- đi xuống gần cuối trang, click vào Sign the petition
- ghi các chi tiết vào ô trống. Những ô có dấu hoa thị đỏ ( * ) là những ô không được bỏ trống, Quý đồng hương không cần ghi số nhà và tên đường nhà mình vào ô địa chỉ.
- trong ô comments, quý đồng hương có thể ghi ý kiến của mình vào
- trong ô Verification code, xin ghi vào ô trống 4 chữ hiện trong hình bên trên
- click vào Sign
Việc ký tên hoàn tất. Chúng tôi thành thật biết ơn.
Quý đồng hương có thể dành thì giờ xem comments của những người đã ký. Tất cả các comments đều rất đáng quý mến và đầy lòng yêu thương đối với Galang.
Hiện nay Galang là di tích tỵ nạn đẹp nhất còn sót lại trong khu vực Ðông Nam Á, ngoài ra Galang còn là công viên đẹp duy nhất của quận hạt Batam, tỉnh Riau, nước Cộng hòa Nam dương.
Nếu điều kiện cho phép, kính mời quý đồng hương cùng chúng tôi tham dự chuyến hành trình 7 ngày 6 đêm về lại Galang với lịch trình như sau:
- Chủ nhật 11-10-09: đến Singapore. Nghỉ ngơi.
- Thứ hai 12-10-09: đi phà qua Batam, thăm thị trấn Batam.
- Thứ ba 13-10-09: viếng Galang, tắm biển và ăn trưa nhẹ tại trại, ăn tối tại nhà hàng ven sông.
- Thứ tư 14-10-09: đi Tanjung Pinang, viếng Tanjung Pinang, thủ phủ của tỉnh Riau.
- Thứ năm 15-10-09: về Singapore, thăm hải đảo nổi tiếng Sentosa.
- Thứ sáu 16-10-09: thăm vườn Lan, công viên chim và đi xem thú hoang dã ban đêm (night Safari), những cảnh này rất được khách du lịch tại Singapore ưa chuộng.
- Thứ bảy 17-10-09: ra về.
Ðây là hành trình thăm Galang có rất nhiều ý nghĩa:
- Lần đầu tiên dành nhiều thời gian tại Galang để ghi nhận các di tích lịch sử
- Lần đầu tiên thăm Tanjung Pinang, nơi mà ngày xưa cựu thuyền nhân Galang rất thèm được đến
- Kết hợp với cuộc thăm viếng nhiều thắng cảnh tại Singapore trong thời gian ngắn nhất.
Xin vào trang web của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (www.vktnvn.com )để xem thêm chi tiết và hình ảnh 7 chuyến đi về Bidong - Galang - Palawan từ năm 2005 đến nay và nhiếu hình ảnh, tài liệu khác về tỵ nạn Việt Nam.
Kính nhờ các Anh Chị phổ biến bản tin này đền càng nhiều người càng tốt.
Trân trọng.
TRẦN ÐÔNG
Giám đốc
ARCHIVE OF VIETNAMESE BOAT PEOPLE
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam
www.vktnvn.com
www.vnbp.org
'+61 403 578 467 ' 403 578 467 (Australia only)
Other email: dongtran.vktn@gmail.com
Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 90 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe),
xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về:
GiaoMua@hotmail.com
Nguyệt San Giao Muà
Homepage: http://www.GiaoMua.com
Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà:
1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet)
(dùng cách bỏ dấu như trong trang này)
2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu
muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM.
3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ
email ở cuối bài hay không.
4. Bài vở xin gửi đến
GiaoMua@hotmail.com
5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc,
xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com
P.O . Box
378
Merrifield, Virginia
22116
USA
Trang Nhà