Số 94

Ngày 1 tháng 2 năm 2010

www.GiaoMua.com

Nguyệt San Giao Mùa
P.O. Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

GiaoMua@hotmail.com


Thư Ngỏ



Thưa bạn,

Giữa tháng ngày tuyết giá của mùa đông Bắc Mỹ là tháng chạp quê nhà rập ràng đón Tết.

Trong phòng trồng cây ở nhà, những chậu mai nhỏ nhắn sau cửa sổ quanh phòng đã được tỉa lá từ giữa tháng Mười Một âm lịch khẳng khiu trơ cành dưới vầng sáng trong hanh chiếu xuyên qua lớp kiếng mái trời. Những lần chăm chú săm soi từng mầm nụ tí hon vừa nhú lòng tôi cũng khẻ khàng nỗi vui chờ đợi. Năm nay tôi nôn nao vì hai chậu mai người thân mang về từ dịp cuối hè về thăm quê nhà. Tôi vẫn bật cười một mình mỗi khi nhớ lại câu chuyện về "hành trình xuất ngoại" của hai chậu mai bé tí teo và lời xác quyết mà vợ tôi đã lập lại mấy lần. Mai Huế đó nghe, không phải mai Sài Gòn mô. Tôi đã cười đùa với nàng lúc đó ...mai trồng bên bờ sông Ô Lâu thì phải là mai Huế rồi, O Huế cần gì phải phân bua nữa! ? Giờ thì tôi càng nôn nao hơn vì không biết chậu nào sẽ nở mai vàng, chậu nào sẽ nở ra mai trắng.

Trong gian phòng ấm cúng, nhìn mầm xanh trên những cành khúc khuỷu màu nâu nhỏ nhắn rồi nhắm mắt mường tượng cánh chim chao bay qua ngàn trời giăng mắc tuyết sương về đậu lại trên vườn xưa quê nhà. Cành mai tháng Giêng ngoan, trời ra Tết áo mới thơm ngát tuổi thơ. Nụ hoa vàng ngày mới lớn trên con đường quen mòn bước chân trong thành phố vịnh biển. Rừng mai buổi quân đi, cuối biển đầu sông, bạt ngàn châu thổ.

Mai Huế. Ngàn mưa trắng lịm trên phá Tam Giang, trắng cả nhành mai chao nghiêng bên bờ nước sông Bồ, thon thả bờ vai áo lụa. Mai Sài Gòn, mai Lục Tỉnh. Cô gái Hà Tiên má đỏ môi hường mắt ngời hải đảo, rực rỡ áo mai vàng bến nước Cô Tô.
Mai vàng quê mẹ, thấm thoát qua những ngày đông khốn khó, nở nụ chào xuân. Tự nhiên nhớ tới vần thơ cũ mà rưng nước mắt.

Chao ơi, cơn gió mùa đông cũ.
Còn thổi mưa lên mấy cửa thành?
Câu hát của người xa đất mẹ.
Hát từ những thuở có quê hương (Nguyễn Bá Trạc).

Xa rồi thuở có quê hương? Và nghìn trùng sáng hôm nay quê hương bên kia bờ đại dương mãi canh cánh bên lòng. Ngồi đọc những dòng tin từ bên nhà, lòng công phẫn buồn rầu nhưng trong tim vẫn luôn tin tưởng vào thế hệ sau mình. Tuổi trẻ Việt Nam vẫn trên đường, nạm vàng màu hoa giữ thơm quê mẹ. Những nụ mai trắng vàng vẫn rạng nở niềm tin trên khắp nẻo đường quê hương hay dù trong ngục thất cho một Việt Nam minh châu quyền sống con người.

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau (Bùi Giáng)

Xin mến chúc bạn đọc Giao Mùa một tết Canh Dần an khang.

Phan Thái Yên
Ban Biên Tập Giao Muà


Mục Lục

I . Thơ _______________________________________________________________________

1. Xuân Nhớ Mẹ ______Áo Xanh
2. Ngày Tình Yêu ______Hồ Thụy Mỹ Hạnh
3. Tìm Lại Hôm Xưa ______Nguyễn Hải-Bình
4. Xuân Mơ ______Vânhà
5. Tiếc Xuân ______Từ Tú Trinh
6. Giao Mùa cuả Ðà Lạt ______ÐàLạt
7. Lạnh ______Dòng Sông Nhỏ
8. Bất Chợt Tháng Giêng ______Khóc_Cười
9. Lạc Lõng ______Vành Khuyên
10. Xuân Ðất Khách ______ Mạc Phương Ðình
11. Xuân Ðến Lòng Em ______Thylanthảo
12. Ðầu Năm Xa Xứ ______Hàn Thiên Lương
13. Dùng Dằng ______Sông Cửu
14. Tình Người Xứ Nẫu ______ Sương Sương
15. Tôi Yêu Quê Tôi ______Hoàng Thị
16. Chập Chờn Có Ðôi ______ Jacaranda
17. Mừng Tuổi Yêu ______Vi Thông
18. Người Ở Lại Yên Bái ______Ðỗ Xuân Tê
19. Xuân Và Kẻ Vong Quốc ______Ngọc Long
20. Những Trang Ðời ______Nguyệt Vân
21. Phạt Em ! ______Nguyễn Thế Hoàng
22. Tiếng Khóc Giữa Bụi Tro(*) ______Mynh Hứa
23. Trong Mỗi Trái Tim, Xuân Về ______Nguyễn Ðông Giang
24. Tình Quê Trong Ký Ức (1) ______Phạm Nhật Quỳnh
25. Xuân Chưa Về ______Hà Khánh Phương
26. Chùm Thơ Mừng Xuân Mới ______Phạm Minh Giắng
27. Mời Em Thăm Lại Quê Xưa ______Trịnh Quang Chiếu
28. Chùm Thơ Cuối Năm ______Hồ Chí Bửu
29. Ngày Tết Thư Cho Em. ______Hoàng Yến
30. Ðoá Hoa Dại ______Giang Thiên Tường
31. Xuân Ðã Về ______Ái Ưu Du
32. Có Khi ______Lê Miên Khương
33. Mộng Du ______Phạm hy Sơn
34. Xuân Viễn Xứ ______Song An Châu
35. Thịnh - Suy ______Phan Nam Việt

II . Văn _______________________________________________________________________

1. Xuân Tình Trên Ðỉnh Lâm Viên _______ Ái Ưu Du
2. Bờ Lau Cát Lở 46 (Chuyện Dài) ___________ Ðỗ Thành
3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ) ___________ Ái Ưu Du
4. Chập Chùng Bóng Núi 40(Chuyện Dài) ___________ Thanh Sơn
5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài) ___________ Phan Thái Yên
6.Quên ___________ Vành Khuyên
7. Ðồng Cạn ___________ Bảo Giang
8.Cuộc Tình Không Chân Dung ___________ Nguyễn Thế Hoàng
9. Ðọc "Ráng Chịu" Của Trạch Gầm ___________ Ðinh Lâm Thanh
10.Chút Nhớ Ðời Tù ___________ Thủy Lan Vy
11. Tết Quê Mình ___________ Trần Thành Mỹ
12. Người Khách Lạ ___________ Trần Hồng Văn
13. Gởi Người Chưa Một Lần Diện Kiến ___________ Mỹ Ngọc
14. Chúa Tể Lên Ngôi ___________ Nguyễn Quý Ðại
15. Việc Trước Tác và Ngôn Ngữ ___________ Bùi Huy
16. Em Là Nàng Tiên Của Anh ! ___________ Hồ Thụy Mỹ Hạnh

III . Những Bức Thư Tình...________________________________________________________________

1. Thư Tình Mỗi Tháng _______________________________ DHH

IV. Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật__________________________________________________

V . Hộp Thư Toà Soạn__________________________________

1. Nhắn Tin/Trả Lời Bạn Ðọc _______ Ban Biên Tập

I . Thơ __________________________________________________

1.  Xuân Nhớ Mẹ 

 
Nhìn lịch chợt nhớ Xuân sắp sang
Lòng con không một cánh mai vàng!
Xuân này con không còn diễm phúc
Gọi Mẹ mừng tuổi Mẹ an khang...
 
 
Và được Mẹ âu yếm hỏi han
Chúc gia đình nhỏ được bình an...
Giờ trên cao thẳm Mẹ hẳn biết 
Xuân về tim con suối lệ ngàn...

(Melbourne, úc châu, xuân đầu vắng mẹ)
                                                       		
Áo Xanh  
Mục Lục


2. Ngày Tình Yêu .............................................................. Không có đóa hồng nào cho em trong ngày Valentine Cách ngăn nào khiến anh không thể tới ? Dẫu biết thế nhưng em vẫn đợi Và chiều buông , ngày đã tàn rồi Một mình em , lại mình em thôi Như chiếc lá đến hồi rã mục Như con thuyền xa bờ hạnh phúc Như con chim quên mất đường bay Không có đóa hồng nào cho em hôm nay Dù phiên bản , dù những gì rất muộn Hoàng hôn tím lạnh lùng buông xuống Vòng tay ôm khoảng trống đến vô cùng Tâm hồn anh ngày ấy thật bao dung Có còn chỗ cho tình em nương náu ? Chung quanh đây những ảnh hình yêu dấu Ðâu lẽ nào một thoáng lại qua nhanh Rồi xuân qua trời sẽ bớt xanh Cây lá úa , nắng cũng không vàng nữa . . . Hồ Thụy Mỹ Hạnh Xuân Lạnh Chỉ còn một chút hương bay Thoáng qua đời em lặng lẽ Mùa xuân đang về rất khẽ Mơ hồ như thật, như không? Chỉ còn khoảng trống mênh mông Bơ vơ những loài hoa dại Niềm vui nào còn sót lại Em dành tặng hết cho anh Mùa xuân rồi sẽ qua nhanh Có nỗi buồn nào vướng lại Trong trái tim yêu khắc khoải Trong mối tình giờ phôi phai Chỉ còn những đêm thật dài Gió trăng bên ngoài hiên vắng Bóng em vách khuya im lặng Vần thơ nhớ ai tủi hờn Có một mùa xuân cô đơn Ðang về trên cao nguyên lạnh? Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Mục Lục


3. Tìm Lại Hôm Xưa Bên tách cà phê sớm Trời Hà Nội mưa sa Tìm em trong dĩ vãng Nhung lụa tháng ngày qua: Anh ngắt một nhánh hoa Nhẹ cài lên suối tóc Em thả hồn trong mộng Ðón nhận một vòng tay Nụ hôn dài ngất ngây Ðưa nhau vào say đắm ... Cuộc tình theo năm tháng Phai dần trong mắt em Anh tìm một bình yên Bên tách cà phê sớm ... Viết cho Em, Phố Cổ - 24/12/2008 Ngày Tôi Ði Ngày tôi đi, dòng đời qua nhẹ lắm Một kiếp người thấp thoáng tựa phù du: Dĩ vãng, ân tình, hạnh phúc năm xưa Xin gởi lại luân hồi đường vô ngã; Tất cả dòng đời nhẹ nhàng buông thả, Những ngậm ngùi, thương mến đã qua đi. Một cõi đi về vắng lệ ướt mi Vòng tay gởi Phù Vân vào cát bụi. Không gian xưa qua rồi không tiếc nuối Giòng thời gian cũng hết lúc xuôi tay Tôi đi rồi thoáng nhẹ tựa mây bay Ðường vô thức dòng đời tôi giã biệt Niagara Falls ~ Dec. 2009 Nguyễn Hải-Bình
Mục Lục


4. Xuân Mơ Có ai rảnh, làm ơn cho em mượn Một cành mai để quyến rũ mùa xuân Bởi nhà em trước, sau, toàn lạnh giá Nên nàng xuân không chịu ghé vào nhà. Còn lòng tốt làm ơn xin giúp tiếp Ðặt làm dùm một cổ máy thời gian Chở em ngược về tuổi thơ hồi ấy Ðể em nghe, tiếng pháo tết rộn ràng. Cho em được, này, má may áo mới Ðược lì xì, cùng bè bạn chơi rông Ngồi xuống đặt, nè, bầu cua cá cọp Mà sợ thua, nên, hổng mất một đồng. Làm ơn nhé, giúp dùm thêm chút nữa Ghé vào thời em làm điệủbiết yêu Ngày xuân đến dạo chợ hoa, ỏng ẹo Chàng ngẩn ngơ, lẻo đẻỏcả buổi chiều. Là nói vậy chứ lòng em vẫn biết Tìm đâu ra, mùa xuân của ngày xưa Thôi thì nhớ kéo thời gian chầm chậm Ðể nàng xuân, ghé lại lúc giao thừa. Vânhà, xuân 2010 Làm Thơ Anh khuyên em đừng làm thơ buồn, Nhưng đời em có gì để vui Nửa thế kỷ làm người vất vả Ôm vào lòng kỷ niệm khôn nguôi. Em cố gắng làm thơ tình ái Vay mượn hoài nhân vật ?dấu tên Rồi một ngày phải đem trả lại Nên bây giờ em phải cố quên Thơ cho những người dân bản xứ Còn buồn hơn, lắm kẻ lầm than Ðau thêm nữa, ai làm lịch sữ? Nên quê hương còn mãi điêu tàn Thương cho mình thân phận ly hương Làm sao có thơ vui để viết Bởi chắc gì có chổ tựa nương Có những kẻ, mình không?dám biết. Dầu em có trái tim nhiệt huyết Vẫn chỉ là muối bỏ biển khơi Khắp năm châu, mọi người dân Việt Ðang chia lìa, mất, cội nguồn ơi. Thơ cho đời sống đang chộn rộn Mất việc làm, bao kẻ sầu lo Khi thời thế đang cơn nguy khốn Viết thế nào? Em mãi đắn đo. Nên kết cục thơ em vẫn thế Vẫn u buồn, chẳng có gì vui. Tặng DTL, người chê thơ buồn. Dec-2-09

Vânhà

Mục Lục


5. Tiếc Xuân Mùa xuân lần lữa vẫn như xuân Mùa xuân thoang thoảng gió xuân nồng Thấp thoáng ảnh hình tươi ngát mộng Chan hòa hương sắc cả trời xuân Mùa xuân từ thuở thắm xuân xưa Mùa xuân son trẻ mãi không già Mùa xuân vẫn cành non lộc biếc Mùa xuân ngày dĩ vãng khơi xa Bước chân dù đi khắp cùng nơi Xác thân dù tăm tắp phương trời Hồn ai đôi khi còn khắc khoải Hồn ai từng hồi còn chơi vơi Mơ hoài mơ mãi những mùa xuân Lác đác gần xa pháo râm ran Thênh thang giữa tầng không nắng lửng Én chao đăm đắm ý xuân lòng Mơ hoài mơ mãi những mùa xuân Mai đào tô điểm dáng nhân gian Cánh thiệp chúc xuân hồng hớn hở Trao tay hong ấm giấc xuân tình Mơ chỉ là mơ chỉ tiếc xuân Giữa ngày giữa tháng giữa bâng khuâng Giữa hắt hiu giữa đời tắt mộng Giữa mùa xuân đánh mất hơi tăm Từ Tú Trinh
Mục Lục


6. Giao Mùa cuả Ðà Lạt Xuân sắp giao mùa,xuân vẫn xuân Ai mang xuân đến,xuân tái xuân Mừng đón xuân sang xuân Canh Dần Ðạp bần ra cửa,nghênh đón Xuân Còn vài tiếng nữa đón xuân sang Chuẩn bị giao thừa cúng tất niên Quê nhà-nơi xa- lòng rộn rã Cung Chúc xuân lành cả thế gian Xuân đã về chưa,muôn sắc hoa Tô thắm nhân gian chốn hồng trần Xứ nguời -xứ ta quây quầy đón Canh Dần hanh thông,Phuớc Lộc Thọ ÐaLat 2009 __________________ Xuân Ta-Xuân Tây,cuả Ðà Lạt Nửa vòng trái đất bên xứ ta Còn ít tiếng thôi,đón giao thừa Chào đón canh dần vui vầy Tết Chúc Chị,Chúc Anh,xuân An Lành Xuân đến ,Xuân đi ,mãi cứ Xuân Chúc Anh nông gia lúa triũ cành Chúc Chị tiểu thuơng buôn bán đắt Giao Mùa online phát phát tài Nửa vòng trái đất bên xứ tây Chúc Anh,Chúc Chị xuân xứ nguời Hanh thông ,hỷ sự niềm vui mới Con đàn cháu đống,Xuân giao muà Dalat 2009 _________________________ Mừng Xuân cuả ÐàLạt Xuân đến,quê nhà - kẻ ở xa Huơng trầm,pháo nổ,vui đón xuân Lộc nõn hoa xuân,tung sắc thắm Chuyển giao đất trời,khai bút xuân Cung đón giao thừa nghinh chuá Xuân Ngũ quả một mâm,khí xuân lành Khóí huơng nghi ngút,cùng nhau nguyện Công việc hanh thông,Gia An Lành Lại muà xuân nữa khứ lai xuân Kỷ Sửu chia tay,Canh Dần về Như- ý-Xuân Lai,Hỷ-Cát-Tuờng Hạnh Phúc -An Khang,đến muôn nhà... Ðà Lạt 2009 ________________________ Hoa Mai cuả ÐàLạt Xứ nguời em ạ đón xuân sang Thiếu nụ cuời ngoan đã bao xuân Xuân đến mai vàng,vàng trong nắng Run rẩy cành mai đón xuân về Xuân Xa cuả ÐàLạt Mai vàng xứ lạ cũng chào xuân Ðón tết phuơng xa ,nhánh mai vàng Quê nhà bếp lửa,mừng năm mới Trời âu xứ lạnh,đón xuân xa 2009 ________________ ÐàLạt


Mục Lục


7. Lạnh Có một ngày, chiều rơi nắng lạ Vàng hoe hoe sợi nhỏ u buồn Choàng lên môi tím hồn ngây dại Ngơ ngẩn cười, nhìn gió qua truông Gió thổi thốc màn trời đậm nhạt Tôi ngồi vốc cát trên bàn tay Lắm hạt qua rồi còn đính lại Chút hiền tâm san sẻ cho ngày Quỳnh lan rụng cánh bên vườn cũ Tiếc nuối thế nào cũng vậy thôi Trắng muốt bây giờ thay áo sậm Nâu nâu hoa úa, khóc bồi hồi Trời im không nói, mà nhiều gió Gió đổ tứ bề, bạt tóc mai Gió vén sợi buồn ra phía ót Nghe lòng thêm lạnh nét xuân phai Jan 10 2010 Dòng Sông Nhỏ Chân Không Mỗi ngày, Tôi viết cho em bài thơ màu xanh Trong thơ có đàn nai đang gặm cỏ Trong thơ có bình yên bên suối nhỏ Róc rách đồng dao, gió hát đôi bờ Mỗi ngày, Tôi kể cho em nghe một giấc mơ Trong mơ loài ưng bay trên núi lớn Trong mơ rừng thông rạt rào như sóng Vỗ lời tình ca người đợi trăm năm Mỗi ngày, Tôi vẽ mây bay quanh đóa trăng rằm Màu trăng biếc như mắt em mười sáu Cho gã cuội dựa vào trăng nương náu Nhận mãnh tình vạn đại, lắm người ghen *** Nhiều quà cho em, để mỗi ngày mong Em tôi ngoan ngoan như giọt nắng hồng Mười ngón tiên hôn lên đầu ngọn cỏ Nắng hồn nhiên cười vỡ dưới chân không Jan 10 2010 Dòng Sông Nhỏ
Mục Lục


8. Bất Chợt Tháng Giêng ( Về DSN ) Gối chăn xô lệch nửa đêm Niềm vui lên tiếng bên thềm sương sa Rõ ràng vừa mới hôm qua Ta còn lạc giữa ta bà đảo điên Hải hà nghiêng nụ cười duyên Em về rót ngọt tháng Giêng vô ngần Cựa mình mầm khoác áo xuân Ðất trời tươi tỉnh bội phần cỏ hoa Ân cần một cõi người ta Vòng tay tương hội bài ca cội nguồn Ngựa xe rộn nhịp phố phường Ngày gieo phố nắng, gió luồn dáng thơm Tháng Giêng em cũng gần hơn Bồng tung tóc nhớ, dạ mơn man tình Ta giờ xếp cuộc phiêu linh Thênh thênh bờ cỏ gieo mình giấc ngoan Gót son dẫn lối địa đàng Môi hồng thắp lửa hồng hoang đón về Yêu thương giữa những bộn bề Tháng Giêng bất chợt vô đề tình ta Khóc_Cười Nhớ Quê (Tặng DSN ) Ngày buồn nhịp võng ca dao Câu ru sáo biệt phương nào đã xa Buồn loang sông khóc phù sa Vườn hoang sót lại chút tà huy xưa Nhánh nào sáo đậu, về chưa ? Bùn nào đã thấm vai mưa theo về Thị thành vừa nát chân quê Mùa trăng gió lạc ủ ê xứ người Mắt môi không khóc chẳng cười Hững hờ đi suốt nẻo đời bão giông Hoa đầu Xuân, tuyết tàn Ðông Gieo từng nỗi nhớ cho lòng đa đoan Chiêm bao xõa tóc muộn màng Trắng vùng ký ức ngỡ ngàng lạ, quen Lạnh lùng buồn tủi đất đen Âm u bóng đổ soi đèn lặng câm Nhánh sông xưa khuất mù tăm Ly hương viễn khách buồn thăm thẳm dài Tháng ngày từng trận mưa bay Bài ca dao cũ lắt lay nửa đời Lưu dân mông quạnh đất trời Niềm riêng cố quận xa khơi dặm ngàn Bầy chim di trú tan đàn Mồ côi một cánh bàng hoàng nhớ quê .

Khóc_Cười
Mục Lục


9. Lạc Lõng Tôi lạc lõng giữa dòng đời Mất thăng bằng Ðôi khi rất dễ dàng mất tự chủ Tìm một tình yêu chân thật sao mà khó thế Tôi không cần tiền Tình dục cũng không, chỉ bình thường, một người chia xẻ Không có là không có Ðiều người đời đi tìm là cái họ hay mất Khi tìm được họ lại coi thường Nhìn họ không hiểu, tôi thấy xấu hổ dùm Nếu bạn lạc lõng trong đời như tôi Nhìn được tôi bằng những suy nghĩ cùng có Vui vẻ làm quen tôi nhé Bạn chỉ cần cười tôi sẽ nhận ra Chúng ta giống nhau trong sự thành thật Của những thành viên trong đời ao ước một tình yêu chân thật Bạn Và Tôi Lost I get lost in this world Feeling unbalanced Falling down anytime Why looking for a decent love is so hard No need of money No need of sex, just being casual, no luck anywaỵ What people need is what people lost When they found, they looked down on it In front of my face, I witnessed shame If you are wandering around like me See my soul like yours Take my hands with comfort. Just smile at me when you seẹ We are the same with grace Of human beings who look for decent loves You and mẹ Con Ðường Tình Tôi Ði Con đường tình tôi đi Không có lá và hoa Chỉ có những bước chân hân hoan hay vụng về trước cửa Ðời làm thân góa phụ chán chê từng bữa Tôi quanh đi, quẩn lại cũng chỉ với những ê chề Trên đường đời, đi mãi, ráng tìm lại chút đam mê Của ngày xưa một thời tạm vụt mất Những tiếng yêu, những nụ hôn chân thật Thấy đâu? Cũng chỉ những ngỡ ngàng và chua chát Cũng chỉ những gì bàng hoàng, tan tác Ráng nhìn lại mình xem có khác ngày xưa Thể chất thì da mồi, tóc bạc, rối loạn tâm linh Từ những đổi thay của những gì đã giúp tôi là phụ nữ. Ðời như áng mây, mây trôi về đâu lữ thứ Tìm một chốn nương thân, một chỗ dựa trong đời Tìm một người san xẻ khi trong đời thấy chơi vơi Mới biết con đường còn lại quá dài, không lối thoát Thoát về đâu chỉ còn những ngày chờ bình tâm từ hoảng loạn Tiếng cười chỉ còn là ngoài miệng chắng ở trong tâm Mình là của hôm nay, ngày xưa, vẫn chỉ âm thầm Con đường tình tôi đi chỉ mình tôi một bóng . Vành Khuyên
Mục Lục


10. Xuân Ðất Khách Nỗi vui theo gió len vào cửa khẻ nhắc mùa đông cũng sắp tàn hơi lạnh dường như vừa ấm lại không chờ không đợi vẫn xuân sang Mười năm những tưởng không là mấy sao vẫn rưng rưng chút ngỡ ngàng mê mải quê người trong cuộc sống bến đời trôi giạt kiếp lang thang phương này tuyết phủ trên đầu núi quê cũ đầy sân nắng rực vàng bầy én bay về xua gió lạnh ngàn hoa rực rỡ tắm sương tan mùa Xuân ngào ngạt mùi hương cũ ôi những mùa thơm của xóm làng bầy trẻ tung tăng khoe áo mới giàu nghèo chung một nỗi hân hoan khó khăn cũng ráng ba ngày Tết nhiều của bày thêm những rỡ ràng truyền thống quê nhà không mất được dẫu nhiều khốn khổ, lắm gian nan Người đi viễn xứ lòng quay quắt giọt lệ thương hoài vẫn chứa chan nhạt nhẽo Xuân về nơi đất khách có đâu đào thắm với mai vàng ... http://macphuongdinh.blogspot.com/ Mạc Phương Ðình

Mục Lục


11. Xuân Ðến Lòng Em * Chiếc áo mùa đông không đủ ấm Gió về se sắt cây trơ cành Mười mấy năm rồi thương nhớ lắm Nhưng mà ước vọng mãi mong manh? Mộng ước hình như suốt bước đường Vẫn không tròn được chữ yêu thương Vẫn đi trên lối lầy hang hốc Ai ấm mà ta lạnh phố phường.! Chị ơi! Thuở nhỏ em bên chị Nhớ quá cảnh nhà thật ấm êm Nghèo bạc, nghèo tiền nhưng không thiếu Giọng cười vui vẽ lẫn ngày đêm? Chị hỏi em mơ gì khi lớn Thích làm tướng lãnh giữa sa trường? Thích đi dạy học hay buôn bán? -Em thích đi rong giữa phố phường!! Chị hỏi mai nầy em cưới vợ Em thích tóc dài, em thích cao? Em thích môi hồng duyên má ửng -Chị ơi! Em thích giọng ngọt ngàỏ Chị vẫn cho em tình thương trọn Lòng luôn dõi mắt bước đường em Mười mấy năm học hành dang dở Thì dễ đâu- đời sống ấm êm? Cổ lai chinh chiến em trở về Cờ xưa tơi tả nát tình quê Chị thương cho phận thằng em lắm Tù ngục xa xôi xót não nể.! Ðất người em bước đường lưu lạc Vẫn nhớ tấm lòng chị cho em Mai vàng lặt lá ai mơ tết Lư mắc tre ai chùi thức đêm.. ? Nhiều khi muốn tránh không nhìn tết Nhưng gió đông về, cúc trổ hoa Nợ áo cơm đất người thấm mệt Em nhớ Gò Công. Nhớ xót xả Mười mấy năm rồi em xa chị Nhưng lòng luôn vẫn hướng về quê Chị đốt nhang giùm cho ba mẹ Tết nầy thằng út vẫn không về? !
Thylanthảo





Mục Lục


12. Ðầu Năm Xa Xứ Năm cũ qua rồi, nỗi buồn còn trên mắt Dõi về xa biền biệt bóng quê nhà Từng bước lẻ ngập ngừng đường xứ lạ Chốn quê người sau trước vẫn bao la! Sang năm mới còn sống nơi quê tạm Từng bước dừng chân lòng ấp nỗi đau Mãi mãi xa xăm dặm ngàn thương nhớ: Mái đình xưa, chim hót, ngát hương cau! Ngày đầu năm ở đây đường tuyết trắng Rừng thông xanh bát ngát phủ sương mờ Trên đường mây cánh chim trời vắng biệt Lạnh bước chiều ngỏ quạnh thật bơ vơ! Ôi quê cũ núi sông mờ theo khói Hồn tha phương thật đau xót ngẩn ngơ Năm mới chẳng mừng vui!- già thêm tuổi Non nước trùng khơi mỏi mắt đợi chờ! Quê hương ơi, nhớ từng lời của mẹ Không phải bây giờ!- một thuở nào xạ Nay cách biệt, trọn lòng thương nhớ lắm Dẫu nghìn sau không một phút phai nhòa. Ngày đầu năm giữa mùa đông giá lạnh Thắp nén hương lòng tưởng vọng cố hương: Lớp lớp người đang sống đời bất hạnh Mất nhân quyền , khiếp đảm giữa tai ương! (Ðầu năm 2010)

Hàn Thiên Lương
Mục Lục


13. Dùng Dằng "Tặng Xuân, em gai Bentre" Dùng dằng tay nắm bàn tay dạ muốn quay mặt lòng say men nồng Dùng dằng bên bếp lửa hồng tết nướng bánh phồng quên trở. . . cháy luôn . Dùng dằng xô đuổi chiếc hôn bây giờ nghĩ lại tâm hồn ngẩn ngơ! Dùng dằng xua đuổi giấc mơ sáng ra ngồi nhớ Thẫn thờ bâng khuâng Dùng dằng bực đám mây giăng kéo ngang che khuất trăng vàng đầu thôn Dùng dằng tính thiệt so hơn một đời đơn độc giận cơn. . . dùng dằng!

Sông Cửu
Mục Lục


14. * Tình Người Xứ Nẫu Nghe nẫu nói sao mà thương chi lạ . Chợt thấy lòng xao xuyến chút thân quen . Nhớ lại ...quê xưa , lúc chập choạng ...vừa lên đèn , Hàng dừa xanh quằn mình theo cơn gió , Thấp thoáng bóng ai đợi mình nơi đầu ngõ , Hẹn nhau rồi ...nẫu tới sớm làm chi , Ðể Mẹ Cha nhìn thấy được , có hay gì ! Chắc... sốt ruột nên nẫu buồn , tới sớm . Ngày ấy nẫu đi - khi tình yêu vừa chớm . Nẫu còn nhớ không ? những kỷ niệm quê xưa . Tui cùng nẫu lớn lên bên cạnh những hàng dừa , Dừa xanh mát xứ Tuy Hòa nổi tiếng . Khi xa quê bỗng thấy lòng lưu luyến . Nẫu rời quê - Tui lỡ chuyến đò ngang . Mỗi hoàng hôn chẳng còn nẫu để ghé sang , Tui lặng lẽ một mình nghe hàng tre trở mình kẽo kẹt ... Mùa đông sang một mình tui chịu rét . Nẫu xa rồi còn ai để nhường áo cho tui ! Nghĩ đến nẫu ... bỗng dưng lòng ngậm ngùi ! Giọng nói rặt biết nẫu còn có giữ ? Kỷ niệm xưa đã chìm vào quá khứ... Nghĩ trong lòng chẳng bao giờ bắt gặp qua thơ ca . Bỗng hôm nay đọc bài thơ nẫu viết ...thật xót xa , Bao hoài niệm hiện về thân thương quá ! Gửi lòng mình từ một nơi xứ lạ . Nẫu có về thăm lại quê hương , Nhớ uống giùm tui ngụm nước dừa ngọt lịm , Nghe giọng quê mình nằng nặng những âm Ơ ... Ði dưới hàng tre nhìn bóng nắng thẫn thờ Nẫu nhớ đấy ...những điều tui nhờ vả . Sương Sương
Mục Lục


15. Tôi Yêu Quê Tôi Tôi yêu quê tôi . Là yêu cái nét hiền hoà . Con sông uốn khúc, Mái nhà lợp tranh. Rào thưa, bầu mướp leo quanh. Luống rau muống mượt, Rò hành tượt non . Quanh cọ..bờ vẽ lối mòn , Lúa mơn mởn lá , Bờ chờm cỏ xanh . Núi chồng mấy lớp, viền quanh , Én chao lượn sáng, Cò tranh về chiều. Trưa hè kẽo hẹt võng kêu , Ê ạ..chị đọc " giọng Kiều" ru em ! Cơm chiều, chiếu trải giữa sân . Xếp bằng vây chiếc mâm đồng lưu gia . Bìa sân...chó rượt lũ gà ! Tranh nhau giật miếng xương Bà vất sang . Ðêm nghe nhái dạo nhạc vàng . Dế chen điệu dế... Trăng tàn đầu non ! ....... Mỗi vùng mỗi vẻ :kém, hơn ! Quê hương chứa cả tâm hồn tuổi thơ ! Chẳng đâu đẹp hơn quê mình !!! Hoàng Thị ** Thơ Ðối Ðáp : Hoàng Thị _ Sương Sương * Dù Trong Hay Ðục Ao Nhà Vẫn Hơn ! Quê hương là nơi sanh ra và nuôi ta lớn . Dẫu chẳng còn ai , ta vẫn muốn đi về ! Canh cánh bên lòng ...gió xao xát những ngọn tre ! Thấp thoáng chòm dừa cao,mái tranh hiền hoà như dáng mẹ ! Người quê tôi quê mùa nhưng chơn chất quá ! Mỗi âm Ê cũng chỉ phát được thành Ơ ! Bao thế hệ cha ông vẫn nói "ÐI DÌA " ! Cố lận miệng đọc "ÐI QUỜ" nghe tội nghiệp ! Mình "dân nẫu" ! Thôi !_Cần gì phải bắt chước ! Nói tiếng quê mình... Nghe chứa cả ngọn gió nam khô . Có cả đồng lúa Tuy Hòa ấm no bao thế hệ . Núi Nhạn, sông Ðà...in sâu vào tâm hồn người cô lữ ! Nắng hạn, mưa khan ...mong mây phủ Ðá Bia !... Từ một phương xa hay nơi miền đất lạ . Chỉ chợt nghe có giọng rặt quê mình . Là cả một vùng quê hương cồn lên như sóng dậy ! Ôi ! thân thương, gần gũi, thiết tha !... Có những cái luôn ở bên ta . Quen thuộc quá nên chưa bao giờ ta thấy ! Chợt đến lúc nó nằm ngoài tầm tay với , Hay mong manh ...tuột thoát khỏi tầm tay , Lại nhớ mong thắm thiết , da diết cả đêm ngày ! Ðời là những chồng chất say và tỉnh (?) ! Hạnh phúc bâng quợ..!_Là quan niệm thôi ư ?! Cũng chỉ vậy thôi ! mà có lúc chán thừa ! Lúc khao khát mong tìm về lối cũ ! Ao nhà vẫn hơn dù trong hay đục ! Hãy cho ta sống lại với quê mình ! Chẳng có nơi nào đẹp bằng chỗ khai sinh ! Hoàng Thị

Mục Lục


16. Chập Chờn Có Ðôi Anh vô tình ... tôi lẻ loi Kiếp đời buồn tựa bèo trôi tháng ngày Bên nhau thế giới phân hai Như lửa với nước lạc loài tơ duyên Nhìn trời mà hỏi cao thiên Vì sao con phải triền miên nỗi sầu ? Sao phận con, chịu bể dâu ? Niềm yêu chưa cạn niềm sầu chứa chan Như lá buồn, giữa rừng hoang Mờ hơi sương lạnh muôn vàn cô đơn Còn nỗi sầu nào sầu hơn Lẻ loi nhưng vẫn ... chập chờn có đôi Nghĩa gì chút rượu giao bôi Ðể rồi năm tháng như đôi Nhạn sầu Tình con giờ chỉ là câu Thơ buồn man mác gợi sầu thâu đêm Jacaranda


Mục Lục


17. Mừng Tuổi Yêu Gặp em ngày ấy tết đang mùng Mùa xuân, lễ hội lối đi chung Bởi xinh nên lắm chàng đeo bám Duyên dáng nhìn em nét thẹn thùng Thế rồi ! Anh lẽo đẽo theo sau Chả biết làm quen bằng cách nào ? Chợt có cơn mưa về rất lạ ! Chiếc dù cho mình cớ quen nhau Xuân qua, hè đến ghé thăm nhà Ngượng ngùng, em chẳng hé đầu ra "Ông" này ! Hay nhỉ ? Sao mà vội... Cứ như ?mình??đã của "người ta" ! Thu sang, nhặt chiếc lá thu vàng Bảo rằng: -Cùng gió mới lang thang Tặng em thay nỗi niềm nhung nhớ Chợt thấy mắt ai thoáng ngỡ ngàng Bây giờ...chớm cái rét đầu đông Thương quá ! Người em má ửng hồng Kề vai, hai đứa truyền hơi ấm Em có nghe hồn xao xuyến không ? Vậy mà cũng sắp sửa tròn năm Chiều ba mươi tết, anh mơ thầm Giao thừa, nhất định !...Sau câu chúc Nụ hôn...mừng tuổi nhớ nghe em ! Vi Thông ......................................... Giấc Mơ Có lần chiêm nghiệm nỗi buồn Bỗng mơ được ghé thăm nguồn cội xưa Thấy ta ngồi dưới cơn mưa Tủi thân gió đến đẩy đưa mời chào Thiên đường nay ở chốn nào? Hãy theo chân gió mây vào mà thăm ! Thế rồi lạc cõi trăm năm Thần tiên tiếp đón âm thầm nhủ khuyên: Thôi về chốn cũ bình yên Mà nghe tiếng sóng hồn nhiên xô bờ Cứ hy vọng, cứ mong chờ Như dòng sông có con đò đợi trăng Ðêm nằm ngắm ánh sao băng Ngày theo nắng sớm...phải chăng Thiên Ðàng ? Mộng mơ gửi tới cung Hằng Chờ Ma, ngóng Phật kết bằng hữu ta Cuộc đời dẫu lắm phong ba Vẫn vui bởi có tình xa, tình gần Ta còn nán lại tần ngần Ði hay ở ? Ðáng một lần?mộng du ! Bồi hồi gió lượn vi vu Thầm thương hại gã chân tu vụng về Giật mình tỉnh giấc ê chề Nhìn quanh, ngó quẩn não nề mỗi tả Vi Thông


Mục Lục


18. Người Ở Lại Yên Bái Tên anh Lại thế Cường ba mươi tuổi lính năm lăm tuổi đời rời quân ngũ / về làm thơ nấu thịt chó / đãi bạn bè Ðất nước đổi đời người ta gọi anh / tập trung cải tạo tưởng đi ít ngày lại về mở quán Lá mơ / bán thịt chó mộng không thành người ta đưa anh / thẳng đường ra bắc Tàu qua quê anh / môt vùng xứ đạo vạc trắng cổ hồng /thường về trú đông / từ vùng Bắc Á Nhìn cánh đồng chiêm / nhìn quanh thôn vắng cảnh vật tiêu điều / chạnh lòng anh khóc tàu đậu ga cuối xuống phà Âu Lâu / rừng thiêng Yên Bái vẳng tiếng chim kêu / bắt cô trói cột Người ta bắt anh / làm thân lính thú lên rừng đốn gỗ / chặt nứa trên nương / quảy bương xuống núi ngày lại ngày qua / tội cái thân già / cuối đời khổ nạn một lần lỡ chân trượt xuống vũng lầy / lá rừng đặc quánh Ðêm ấy anh sốt / chứng sốt vàng da không thầy thiếu thuốc / số phần khó qua biết mình sắp chết hỏi anh thèm gì / thèm miếng thịt chó hói anh nhắn gì /nhắn lại vợ anh / Chúa cho chết lành trên đồi cây khế / anh mang mộ phần người tù đầu tiên / ở lại Yên bái Có điều ân hận không trở lại quê nghe tiếng chuông chiều / một thời thơ ấu ngắm bầy vạc trắng / một thuở thanh bình khi đất nước mình chấm dứt chiến chinh yên bái 76 Ðỗ Xuân Tê


Mục Lục


19. Xuân Và Kẻ Vong Quốc Xuân lại đang về phải không Em Em mừng hay tủi nói Anh xem Ơ kià sao lại ôm mặt khóc Em nói đi Em - nói đi Em. Em nói đi Em - nói đi Em Chẳng lẽ bao năm vẫn chưa quen Những đau những hận đời vong quốc Phải thế không Em - phải không Em Phải thế không Em - phải không Em Nên chi Xuân mới đã mon men Ðến kề lại thấy lòng chua xót Và chẳng muốn mà lệ vẫn hoen Và chẳng muốn mà lệ vẫn hoen Vui sao cho được phải không Em Ngàn hoa Xuân thắm tô sao thắm Cõi lòng chết tự tháng Tư Ðen. Ngọc Long AI ÐÓTRI ÂM Ðón Chuá Xuân về mà lệ rơi Nỗi niềm ai hiểu hỡi người ơi Ngóng về đất Tổ lòng chua xót Nhớ tới quê Cha dạ bời bời Trời ơi oan nghiệt sao chửa dứt Ðất hỡi tai ương vẫn chưa vơi Có ai nơi ấy tri âm hãy Giúp gióng dùm ta dẫu nửa lời Ngọc Long GỬI GIẤC HOÀNG MƠ. Mỗi độ Xuân về lệ lại rơi Niềm xưa nỗi cũ ấy người ơi Ngày qua nhấm mật lòng cay đắng Tháng lại nằm gai dạ rối bời Thâu đêm hằng đợi Trời mau sáng Suốt sáng luôn mong mộng đầy vơi Gió ơi mây hỡi cho ta gửi Người giấc hoàng mơ để thế lời. Ngọc Long


Mục Lục


20. Những Trang Ðời Tôi hiểu anh vẫn một lòng tranh đấu Trái tim hồng rỏ máu hận thiên thu Có nhiều năm gian khổ chốn lao tù Trong đói lạnh gông cùm tàn thân xác Vợ quay mặt con dạy khờ ngơ ngác Cửa nhà tan chất ngất những đắng cay Trải qua bao gian khổ kiếp lưu đày Từ Nam ra Bắc, nằm gai nếm mật Năm bày lăm, anh vừa tròn ba tám Mười lăm năm tù, tuổi trẻ còn đâu? Tuổi mộng mơ nhựa sống đã chìm sâu Thân ngất ngưởng đọa đày thua loài vật Bao kiến thừc vùi chôn trong u tối Những mộng mơ lý tưởng của cuộc đời Còn gỉ đâu niềm hy vọng rã rời Ngồi suy ngẫm lội ngược dòng dĩ vãng Anh sinh ra từ Thái Bình, Hà Nội Có sông Hồng mầu mỡ đất phù sa Lớn lên dần trong êm âm mẹ cha Ðồng ruộng lúa xanh vàng thơm ngào ngạt Từ biệt vào Nam anh còn ngơ ngác Xa gia đình, xa cha mẹ, anh em Rời trường xưa, xa bạn cũ sách đèn Theo tiếng gọi đáp trả lời sông núi Anh học khóa sáu quân trường Thủ Dức Chiến công đầu ghi dấu tại Hiền Lương ÐakNong, Kontum, Bình Giả, Hạ Lào Bốn khu chiến chân anh đều đi tới Giờ ngồi giữa bốn bức tường u tối Nhớ lại những gì quá khứ đã qua Lòng ước mơ bảo vệ nước non nhà Ôi thương lắm, thân đại bàng gãy cánh! Hổ một thuở trong rừng xưa hùng mạnh Giờ ngồi đây. Ôi nhớ lắm rừng ơi! Tim máu nóng đang sôi bừng cuộn chảy Mà chân tay bị xiềng xích gông cùm Tự bảo lòng. Ôi một thể xác chung! Giờ đau đớn tận cùng ngồi một xó Có những lúc miếng cơm thừa chẳng có Ðói rã rời lòng lạnh buốt từng cơn Ngồi co ro gặm nhấm nỗi căm hờn Chốn tù ngục ngậm ngùi cơn quốc biến Bạn sáng đó mới đêm rồi vĩnh biệt Lòng nghẹn ngào không kịp nói từ ly Nén nhang lòng trong đêm tối khắc ghi Bạn ơi bạn! Có lời gì trăn trối? Cây muốn lặng mà gió ùa thổi tới Biển muốn yên nhưng bão tố tơi bời Sau những năm dài lao tù khổ ải Không cửa nhà anh lại sống bơ vơ Nay xứ người tóc bạc trắng phơ phơ Lật trở lại những trang đời buồn tủi Bếp than hồng tưởng chừng như tàn lụi Nhưng vẫn còn âm ỉ tận tâm can Cầu mong sao sông núi được khải hoàn Việt Nam tự do, thanh bình, no ấm Atlanta, đêm 24/09/09 Nguyệt Vân


Mục Lục


21. Phạt Em ! (Cho Dạ Lan/Hoàng Lang) Ðã mấy hôm rồi chả thấy thư ! Ngóng chờ dài cổ ứ ừ ư.. ! Mê ca mê hát em quên tuốt Anh phạt em nè ! cho đã nư.. ! Ðiện thoại những lần muốn gọi em Ðường dây cứ bận suốt ngày đêm ! Em mê tâm sự cùng ai nhỉ !? Anh phạt em nè ! anh ghét em ! Em bảo yêu anh đến ngút ngàn ! Quên ăn, quên ngủ, chẳng lang thang Tìm em, anh đến nhà chả thấy Anh phạt em nè ! em chớ than ! Thư tay em viết đã xong rồi Chỉ thiếu tiền tem, đành chịu thôi ! Thôị.! hẹn thư anh vào dịp khác Anh phạt em nè ! chẳng chịu chơi ! Em gõ email mệt ứ lừ ! Ngu ngơ bấm lộn, mất tiêu thư Anh yêu, thông cảm lần sau nhé? Anh phạt em nè ! em ngất ngự.! Yêu em, yêu mút chỉ cà tha ! Lầm lỡ là anh phạt tối đa Hình phạt đê mểem thích chứ !? Suốt đời thọ phạt?chớ kêu ca ! Nguyễn Thế Hoàng http://nguyenthehoang.blogspot.com Mimosa Mimosa ! Mimosa ! thôi nở... Người tôi yêu thẩn thờ Tình chỉ thắm trong mơ Khi đêm về tưởng nhớ Lòng chạnh thấy bơ vợ.! Người tôi yêu muôn thuở Ra đi tự bao giờ...! Còn riêng tôi bỡ ngỡ Hình bóng quá nên thơ ! Ðàn năm xưa tiếc nhớ, Réo rắt buồn vu vơ ! Mimosa ! Mimosa ! hững hờ ! Tình ta xa trong mợ.!! Ngắm hoa, lòng vụn vỡ? U buồn trong tuổi thợ.! Nguyễn Thế Hoàng TUỔI CHANH CỐM (Cho Dạ Lan/Hoàng Lang của tôi) Tuổi chanh cốm em đang còn vụng dại Lại biết yêu anh tha thiết dại khờ Bước đầu đời em xây dựng ước mơ Sao anh biệt tăm thời gian sau đó ? Nỗi khắc khoải mối tình đầu bỏ ngỏ Hơn bốn mươi năm mòn mõi trông chờ Giờ gặp lại anh, em đã không ngờ ! Cám ơn Trời cho chúng ta sum họp Vượt thời gian niềm nhớ thương xếp lớp Em một mình lặng lẽ đếm Xuân qua Chờ đợi anh là khoảng trống bao la Anh có thấu cho quãng đời chờ đợi Em long bong như loài cây chùm gởi Bám thời gian theo gió dạt mây trôi Mặc cho thị phi - Mặc cho tiếng đời Luôn ôm ấp đợi chờ anh gặp lại Em chẳng khác nào như loài hoa dại Nhớ nhớ, thương thương biết mấy cho vừa Trời tình buồn trời cũng nhỏ giọt mưa Gương lược phấn son không hề hay biết Tình đơn phương nỗi cô đơn rên xiết Cố nén lòng cho tim bớt xót xa Tình một chiều đầy mộng ảo đã qua Tuổi chanh cốm mãi suốt đời vụng dại Dấu chân chim theo vũng buồn mặc khải Ðược anh trở về duyên thắm tình nồng Bao Xuân qua trong gối chiếc phòng không Hạnh phúc đến như cơn mưa sa mạc..! http://mienluuniem.blogspot.com Nguyễn Thế Hoàng


Mục Lục


22. Tiếng Khóc Giữa Bụi Tro(*) Ðất chuyển rung đất thành cơn ác mộng Người khóc người tiếng khóc giữa bụi tro Nhà tan cửa nát, tâm những dày vò Bao người chết co ro không kịp trối Bóng đêm chập chùng mờ giăng khắp lối Thân phận con người bèo dạt mây trôi Giàu sang đấy thành tay trắng mấy hồi Thân cát bụi chung nấm mồ tập thể(1) Trí kiêu ngạo trí tạo nhiều dâu bể Lòng cách lòng như vết nức địa cầu Tình nhân loại cứ thế mãi chôn sâu Vào tử địa của hận thù tranh chấp Mong sao người biết trí mình bất cập Ðể hồi tâm hòa nhịp sống thế nhân Lấy yêu thương trải mộng khắp xa gần Người bốn bể thành anh em cốt nhục Xuân Canh Dần tươi màu xuân hạnh phúc Trái tim yêu dũng mãnh cọp rừng hoang Xây tình người trên đổ nát hoang tàn Dựng cho đời một mùa xuân vĩnh cữu. (*) Cảm tác từ cơn động đất ở Haiti (1) Tin từ Haiti cho biết người chết quá nhiều nên phải chôn mồ tập thể. 16/1/2010 Mynh Hứa


Mục Lục


23. Trong Mỗi Trái Tim, Xuân Về Những ngày tháng chạp , rồi cũng qua mau Mùa xuân về chơi , như người bạn cũ Như cô gái mười sáu , tuổi đời vừa đủ Khoe với đất trời , những nụ tầm xuân Những ngày tháng chạp , tự nhiên tưng bừng Em giống nàng xuân , đẹp in như hệt Nhoẽn miệng cười hiền , lòng vui như tết Anh nhủ thầm : sao khỏi nhớ Việt Nam Chiếc áo dài em , rực rở mai vàng Óng ánh hồn anh , lá cờ Tổ quốc Lá cờ thân yêu , bao năm lưu lạc Một thời bay cao , ngạo nghễ cổ thành Lá cờ vàng , lồng lộng giưã trời xanh Mùa hè bảy hai , giữa thành Quảng trị Mỗi mùa xuân , cờ vẫn bay ầm ỉ Trong tim ta , ngày lạc xứ xa nhà . . . . . . . Xuân sẽ về , trong mỗi trái tim ta Ðã bao năm , anh hằng mong đợi . Cali , canh dần 2010 - NGUYỄN ÐÔNG GIANG LƯU VONG RƯỢU NGOẠI ? NGẬM NGÙI XUÂN XƯA Gở tờ lịch thấy ngày xuân Ngày xuân ở Mỹ cũng buồn như ta Thêm mùa xuân xa quê nhà Tuyết rơi đất khách , lạnh ta phương nầy Mưa xuân ? sao buồn ? ô hay ! Ca li ? quê Mẹ ? bên ngày bên đêm Sáng nay tự nhiên ta thềm Vài ly rượu đế , xưa em rót mời Miếng củ kiệu , đưa một hơi Cùng em nghiêng ngửa , giữa trời quê hương Rượu xưa em , đậm tình thương Rượu nay cô độc , bên đường lưu vong Xuân hề ! Cố quốc ai mong ? Ta xuân hải ngoại , hề ! dòng mây trôi Rượu xưa sóng sánh , bồi hồi Rượu nay lạnh lẽo , xa xôi vô cùng Cầm ly rượu nhớ mùa xuân Nhớ ly rượu gạo , tưng bừng phổi gan Rượu đưa ta thăm xóm làng Ba hoa lời chúc , huênh hoang tiếng chào Bây giờ ta xa đồng bào Ðâu còn nghiêng ngửa , lao xao rượu mời Mùa xuân uống rượu lưu vong Rưng rưng từng giọt , ròng ròng lệ đau Tha hương uống rượu tiêu sầu Ngờ đâu rượu khuấy , động đau trong hồn . Cali Xuân Nguyễn Ðông Giang


Mục Lục


24. Tình Quê Trong Ký Ức (1) Xa quê hương nhớ mấy cho vừa Nhớ dừa lã ngọn gió đong đưa Những đêm sao sáng và trăng sáng Giả gạo đêm trăng dưới bóng dừa Biết bao giờ về thăm chốn xưa Luỹ tre xanh mượt gió đong đưa Có đám mạ non, dồng lúa chín Chao ngọn đùa theo ngọn gió lùa Tôi nhớ dòng sông thuở ấu thơ Bên bồi bên lở ở hai bờ Chiếc xuồng ba lá chồng chành quá Câu cá trên sông nước lửng lờ Giọt sương khuya làm mềm ngọn cỏ Vầng dương còn khuất ở nơi nào Từng hàng trai gái trên ruộng lúa Xao động tiếng hò cao vút cao Những buổi trưa hè nắng chỉ vừa Tiếng võng nhà ai kẻo kẹt đưa Bên hè ngọn gió hiu hiu thổi Chân đất áo phèn ngon giấc trưa Có những chiều quê nắng nhạt nhoà Cánh diều tung gió cuối trời xa Hoàng hôn tím thẩm chân trời tím Diều vẫn còn say trong gió êm Mặt trời nghiêng bóng ngã về tây Lao động hăng say suốt cả ngày Trở về nấu vội cơm canh nhạt Vạt khói lam chiều toả mái tranh Nhớ đêm xuân ấy qua xóm nhỏ Chiếc cầu tre lắc lẻo đong đưa Gót chân nhỏ lần theo cầu nhỏ Cùng bạn thân dốt pháo giao thừa Tuổi thơ ngày ấy đã xa rồi Cánh diều ngày ấy quá xa xôi Xót xa ghi lại trong tiềm thức Ký ức ngày thơ chẳng nhạt nhoà Bây giờ chỉ còn trong giấc mơ Tôi đang phiêu bạt chốn xa mờ Trăng xứ người vẫn chưa đủ sáng Cho lòng thêm thắm nỗi bơ vơ Phạm Nhật-Quỳnh TÌNH QUÊ TRONG KÝ ỨC - 02 Quê hương tôi có hai mùa mưa nắng Có dòng sông sâu bên lở bên bồi Chiều mênh mông nước lớn lục bình trôi Hòa huyện cùng mây trời soi bóng nước Quê hương tôi chẳng nơi nào có được Núi thắm sông xanh mây trắng bềnh bồng Hoa cải vàng cùng đùa với bướm ong Mãi say sưa giửa trời chiều gió lộng Bình minh quê tôi tràn dâng sức sống Già trẻ gái trai khuya sớm đã ra đồng Ngọn cỏ mềm thấm lạnh giọt sương đông Mục đồng đã lùa trâu xa xóm nhỏ Quê hương tôi những tháng năm xưa đó Mảnh trăng vàng soi sáng liếp dừa xanh Xuyên cành lá sáng trải dài nền đất Giã gạo đêm trăng khoan nhặt cuối làng Chiều chân trời một vùng tím mênh mông Hoàng hôn vội buông mình sau vách núi Mặt trời một thoáng đỏ bầm hấp hối Vẫn còn sáng soi lối nhỏ đường mòn Dân quê tôi không quen nhiều phố chợ Những bữa cơm đạm bạc đến từng ngày Con cá đồng bắt được mới sớm mai Củ sắn, ngô, khoai ngọt ngào từng bữa Sáng bát cơm nguội sơ sài vui lót dạ Trưa cá khô, mo cau cơm nắm no lòng Trong chòi lá giửa đồng ê a hát Giửa trưa hè ru giấc ngủ bềnh bồng Tất cả êm đềm của quê tôi ngày đó Ðã xa rồi theo nhịp bước thời gian Ðất nước tôi chuyễn mình cùng khắp Xóa nhòa nhanh những buổi chiều vàng Nhà máy công trình xây dựng hàng hàng Quán xá mọc lên xôn xao xóm nhỏ Những cột khói theo mây trời lan tỏa Ngày tối vây quanh bay phủ vùng trời Ðất qui hoạch làm khu công nghiệp Nhà cao tầng cũng xây dựng quê tôi Trai gái bây giờ công nhân hội nhập Có lẽ quên rồi một mảnh trăng quê Tôi, ngày hai buổi ruộng đồng cực nhọc Kiếp cần lao thoáng chốc luống tuổi đời Dòng thời gian vô tình mãi êm trôi Chợt ngoảnh lại đầu xôn xao sợi bạc Chợt thèm lắm nghe câu ca tiếng hát Thợ cấy ngày nào già trẻ phân hai Cất tiếng trong veo đối đáp thật tài Giọng hò dân gian thắm tình lao động Thèm những buổi nhìn mặt trời khuất bóng Ðường chân trời cứ tím thẩm màu mây Lưng trời cánh chim vội bay về tổ Chiều chậm trôi như còn lưu luyến ngày Chợt thèm lắm nhìn vườn trầu vàng mượt Những ngọn cau xanh lơi lã gió chiều Ðồng lúa vàng trải rộng đất phì nhiêu Con nước lớn bìm bịp kêu hối hã Chợt thèm lắm những chiều thoi thóp nắng Nhìn dân quê lao động kéo nhau về Trâu đủn đỉnh...mục đồng về xóm nhỏ Sống đôi phút bâng khuâng ngọt lịm hồn !... Phạm Nhật Quỳnh TÌNH QUÊ TRONG KÝ ỨC( 3 ) Quê hương ngày đó bao niềm nhớ Phiến mạ non cuộn ngọn gió lùa Lúa xanh vờn gió đùa trong nắng Lơi lã ngọn dừa soi bóng trăng Quê hương ngày đó nơi tiềm thức Dấu kín trong đời những ước mơ Phiêu bạt xứ người lòng nặng nhớ Mảnh trăng lồng bóng nước lững lờ Chiều nay trở lại trời quê cũ Chợt thấy ngỡ ngàng giửa cơn mơ Ðâu cây cầu khỉ từng dò bước Bên hàng dừa nước lá đong đưa Quê vẫn hai mùa nắng với mưa Mà vắng xanh xanh những ngọn dừa Ðường làng ngày ấy giờ trải nhựa Cầu đúc thay cho cây cầu dừa Nhà tranh mái lá thay nhà phố Chen chút mọc lên ngợp khoảng trời Xe cộ lại qua người tấp nập Hàng trên quán dưới khắp nơi nơi Quê tôi bây giờ đô thị hoá Ánh trăng góc phố khuất xa mờ Con sông cũ chiếc xuồng ba lá Ðã thay vào ghe máy đuôi tôm Rất nhiều thay đổi ở quê tôi Dẫu có nhớ quê đến ngậm ngùi Lòng vẫn vui vì quê thay đổi Vững tiến bộ lên ngang với đời Xa quê ngần ấy mùa xa cách Vẫn đậm trong lòng bức tranh quê Mai nầy xa xứ lòng vẫn nhớ Góc trời xưa ấy giửa hồn tôỉ Phạm Nhật Quỳnh


Mục Lục


25. Xuân Chưa Về Tìm mãi chút nắng hồng Bao năm vẫn chưa thấy Tuyết băng còn đong đầy Gió xuân lạc mất rồi. Phút giây chợt bối rối Cứ ngỡ là cung điệu Dìu tim vào tình yêu Nhưng chỉ là niềm đau. Cung tình vạn sắc màu Cho đi mà chẳng nhận Còn lại sầu tủi thân Lệ trào bao nỗi nhớ. Chỉ tại mình mộng mơ Tình cảm không đúng hướng Cũng đâu trách người thương Thôi đành nuốt đắng cay. Chợt tỉnh giấc mộng dài Qua ngày tháng tình thơ Không còn đợi ? chẳng chờ Tình ảo vào cơn mê. Hà Khánh Phương


Mục Lục


26. Chùm Thơ Mừng Xuân Mới TRÂU Trâu cười bụng vẫn còn vơi Ðít rời ghế, để trời mời Hổ lên Cởi xong cái rợ quan quyền Xuân về đầy ắp khắp miền cỏ non HỔ Hổ gầm lên một tiếng chơi Chim muông nhảy nhót hót cười rộn vang Uy phong đầu óc sẵn sàng Nhuộm râu, mài vuốt, lên đàng học khôn. HOA Ðất trời đua khỏa mình tươi Hoa đua hội chợ, thơ chơi hội đình Mai già khí dưỡng trường sinh Lòng xuân bật dậy say tình đào non. VỀ HỘI XUÂN Mốt kia là mốt chưa chồng Nõn nà cây lá, má hồng thành hoa Phởn phơ mớ bẩy mớ ba Thắt lưng xanh trễ, hở ra yếm điều Mốt kia là mốt nịnh chiều Giàu nghèo thì cũng có nhiều để khoe Này này khăn xếp áo the Mưa bay đây có ô che xòe tròn Chưa chồng trông mắt hai con Thèm thương chi kẻ nghe còn lạnh thân Trời cho vài hạt mưa xuân Xòe ô che khéo kẻo gần người ta. Trung tâm Bảo trợ xã hội Vũ Thư - Thái Bình - Việt Nam đt: 0362497559 đd: 0987736365 Email: phamigia@gmail.com Phạm Minh Giắng


Mục Lục


27. Mời Em Thăm Lại Quê Xưa ******* Mời em ghé lại làng xưa Vườn cau quê ngoại hàng dừa ngả nghiêng Xuân về mai nở dịu hiền Lúa vàng bát ngát hương duyên thắm tình * * * Mời em thăm lại quê mình Ðôi hàng phượng thắm bờ kinh ven làng Ve sầu cất tiếng than van Trường xưa tình cũ còn mang mối sầu * * * Mời em nối lại tình đầu Thu sang hoài niệm đôi câu ân tình Lá vàng phủ kín sân đình Ðếm sao hết lá mối tình đôi ta * * * Ðông về giá lạnh phương xa Tuyết rơi phủ kín lòng ta u sầu Chuyện tình khép kín từ lâu Nhưng lòng vẫn nhớ buổi đầu quen nhau trịnh quang chiếu canada LÁ THƯ XUÂN VIẾT TỪ CANADA ***** Thư xuân viết vội mùa đông Gởi đi với cả tấm lòng thiết tha Bạn bè khắp chốn phương xa Gọi tôi chúc TẾT mới hay xuân về Hoa xuân nở rộ bên nhà Bên nầy hoa tuyết la đà vườn sau Nhớ xuân quê mẹ năm nào Rựơu nồng pháo đỏ xiết bao vui mừng Sông TIỀN sông HẬU quê mình Lục bình hoa tím đậm tình quê hương Mai vàng nở khắp muôn phương Ðiểm tô hương sắc nẻo đường làng quê Ðình chùa tiếng mõ cầu kinh Cầu cho quốc thái an bình xuân sang Nhớ đàn chim sáo HẬU GIANG Quay về đón TẾT với ngàn tình thương SÓC TRĂNG tình đẹp quê hương Chùa DƠI điệu vũ " lam thôn " nhịp nhàng BẠC LIÊU ruộng muối xuân sang Lúa vàng muối trắng tiếng vang khắp miền Xuân về đất mũi CÀ MAU Hoa tràm nở rộ hương sao ngọt ngào Miền TÂY xinh đẹp biết bao Hai mùa mưa nắng thương sao quê nhà Ðông về đất khách phương xa Nhờ đôi cánh nhạn mang quà thư xuân Gởi lời chia xẻ vui mừng Chút tình vương vấn hương xuân năm nào Chiều đông đứng lặng cửa sau Gió lay thông động ngỡ là pháo xuân Lòng tôi gợi nhớ bâng khuâng Lá thư viễn xứ xin đừng quên tôi CANADA Trịnh Quang Chiếu


Mục Lục


28. Chùm Thơ Cuối Năm RƠI TỰ DO ta là gã hát rong mà lúc nào cũng buộc phải mang khẩu trang nên trong một cơn say nhừ tử tự cắt lấy thanh quản mình ta là chiếc lá cho gió cuốn muôn chiều không là viên đá cuội buộc phải rơi đúng mục tiêu thơ không phải là con trâu mà xỏ mũi dắt về phía nào cũng được thơ không phải là lương y mà bốc thuốc theo toa làm thơ không giống như làm tình sao lúc nào cũng phải làm cho em vừa ý một điều ta không thể giấu em ta làm thơ bởi không biết làm gì khác sự linh hiển muộn màng ta tìm thấy trong thơ hãy trả ta về làm chiếc lá thu phai và cho nó rơi tự do.. NÍN THỞ anh cày đặt hình nền ảnh em trên điện thoại di động nhưng vài giây sau thì nó tự khóa ảnh em chìm vào bóng đen anh cày đặt ảnh em trên nền hình máy tính máy treo anh nín thở ngồi chờ em hiện ra cười ngạo nghễ anh nhớ em xin mở webcam anh nhìn lại nín thở ngồi chờ không biết lúc nào em tắt sao yêu nhau mà khổ quá vậy ta ? hồi họp, nín thở, ngồi chờ đi siêu âm bác sĩ phát hiện thêm anh bị bệnh đau tim giả vờ như không nhớ thỉnh thoảng lại hỏi em em yêu anh vì cái gì ? em đang suy nghĩ anh nín thở ngồi chờ sợ em bảo mình không nhớ và cứ nín thở đợi chờ bao giờ em mua cho ô tô ?! 9 LẦN 9 = 81. ghé tám mốt ? sẽ nghe toàn pháo nổ góc trái, góc xa, góc phải, góc gần ở hướng nào pháo cũng nổ râm rang từ pháo chuột đến hàng pháo đại anh bạn pháo chuột ? sửa đôi kính cận nhếch môi cười như alen đờ lông chị sồn sồn câu lạc bộ thơ ngân bên trong châu á nhưng bên ngoài châu mỹ tít đằng kia, có anh chàng thy sỹ đang ba hoa về giải thưởng múa lân ngồi chung bàn có cây súng cà nông nổ một phát, làm chàng im phăng phắt xịt đằng kia, có nhà văn tóc ngắn đù má tết nầy không có bài đủ để in làm mấy thằng em chửi bới quá chừng tớ phải đóng cửa để tưởng mình đi vắng bàn kế bên, có anh vừa tằng hắng vỗ ngực khoe mình hát chung với Út Trà Ôn cũng vẫn tuồng Tôn Tẩn giả điên suốt hai hiệp làm trâu cho Tôn Tẩn cởi vào tám mốt, chẳng thấy gì đổi mới cũng tự biên tự diễn tự cười sâu khấu đời, mời ghé vào chơi múa một chập rồi con ai về nhà nấy.. GIẼ RÁCH 1. ta à ? như một nùi giẽ rách ?!? muốn lau gì cũng được hết em ơi ta hả ? giống như nùi giẽ rách vất nơi nào cũng tốt cả em ơi ! chốn quan trường ta tên lính hầu cầm lộng chốn văn chương ta tên bồi bút dễ sai chốn giang hồ ta hữu danh vô thực chốn thương trường ta trốn nợ trót vay.. còn với tình yêu ta ngu ngơ khờ khạo bị dụ hoài cứ lẻo đẽo theo sau với bạn bè ta là thằng dễ gạt cho leo cây rồi đốn gốc coi chơi.. gẫm lại, tại mình bất tài vô tướng giống như trái banh ai đá cũng lăn vậy mà tử vi nói mạng ta ốc thượng thổ đất trên cao ai dám bước qua.. 2. ta bái phục em, mọi người coi ta như giẽ rách em lượm lên giặt giũ để dành ta chỉ giỏi có tài uống rượu uống mặt vàng qua tới mặt xanh vậy mà em tôn ta làm thần tượng và nhận mình là kẻ ngu si không phải Từ Hải nhưng ta chết đứng vì ngượng thôi trân mình uống đại vài ly thây kệ, lây lất, lất lây ráng sống nhìn bạn bè diệu võ giương oai còn có em là ta còn hy vọng cứ nhịp giò ngồi nhậu lai rai..hahaha. Hồ Chí Bửu


Mục Lục


29. Ngày Tết Thư Cho Em. Tết nầy chị vẫn chưa về được, Buồn lắm em ơi ở xứ người, Thương quá quê nhà và nhớ Mẹ. Nhớ thời thơ ấu: Những ngày vui. Mỗi lần Ðông đến Mẹ hay mua, Chiếc áo len mặc buổi giao mùa, Từng cơn gió bấc se se lạnh, Thềm trước vàng sợi nắng lưa thưa. Xuân về rực rỡ cành mai thắm, Mẹ nấu bánh chưng, lửa bập bùng, Khơi bếp than hồng, lòng khắc khỏai, Một người đi nỗi nhớ mênh mông. Cha quen chinh chiến Tết xa nhà, Mái ấm gia đình nhớ thiết tha, Tiếng súng tạch đùng thay pháo nổ, Núi rừng hái vội mấy cành hoa. Thế rồi đất nước thôi binh lửa, Cha tiếc thay mãi mãi không về, Tóc mẹ mỗi mùa Xuân mỗi bạc, Ðôi mắt buồn xa xăm, não nề. Chị không về được, em thay chị, Chăm sóc mẹ già, tuổi hạc cao, Như trái chín vàng chờ gió nhẹ Lay cành: Sẽ rụng đến phương nào! Hoàng Yến


Mục Lục


30. Ðoá Hoa Dại Ngày xưa vừa mới quen nhau Em thường đến rủ anh vào dạo chơi Công viên đường nhỏ nên thơ Với hàng hoa dại, phất phơ đón chờ Em yêu hoa dại ngây thơ Cài lên mái tóc cho đời trinh nguyên Nhưng sao hoa chẳng giử yên Bay theo làn gió về miền xa xa Nhìn theo hoa dại phôi pha Em cười khẻ nói đóa hoa vô thường Hôm nay vắng bóng người thương Mình tôi thơ thẩn, vấn vương chốn nào Bổng dưng lòng thấy nghẹn ngào Bao nhiêu hoa dại, đâu nào cố nhân Trăm năm duyên số sầu đau Chuyện tình dang dở, biết đâu vô thường Tay nâng hoa dại ben duong Ngậm ngùi tưởng nhớ người thương năm nào Giang Thiên Tường


Mục Lục


31. Xuân Ðã Về Tết năm nầy, anh đã nhớ rủ rê: Phone bàn cùng bạn chuyện trở về quê. Anh chị em sớm hôm đều có thể. Mang tình thương đi vun vén bốn bề. * Dù xa xôi qua ngàn dặm sơn khê. Sóng bạc đầu nắng gió mưa chiều quê. Mình xe gạo, rau tươi, khô, đường thẻ. Ðủ thứ! Nhiều quà bánh? kéo lê thê. * Tay mang tay xách dõng dạc ta về. Rủng rỉnh túi tiền nặng trịch quà nhe. Có tiền, quà: mình phát hết bên hè. Hoa nở đầy sân. Vui bầy con trẻ: * Áo mũ vòng vàng tím xanh đỏ choé. Anh Cả ung dung đi mời bạn bè. Tu hết vò rượu. Họ say xĩn ghê! Mẹ già móm mém mỉm nụ cười, khoe: * Làng xóm ơi! Có con về. Tui khỏe! Cô vợ tươi; hỉ hả chạy le te ra chợ cô bưng thịt cá ê hề? Bà con đón xuân về mãi no nể *** Ái Ưu Du


Mục Lục


32. Có Khi Có khi lòng khô như đá Mong làm lúa non đồng mạ Tìm màu xanh tuổi hai mươi Gắn lên tóc mình ngả bạc Có khi ngâm nga điệu nhạc Mùi trầm hương cũ thoáng qua Lời em còn vang tình tự Ðưa hồn về nơi xưa xa Có khi nhìn mưa nhớ suối Một dòng sông lặng bên đời Chở chuyên bao nhiêu lời nguyện Nặng lòng châu thổ biển ơi ! tháng 12 / 2009 Lê Miên Khương


Mục Lục


33. Mộng Du Mộng du du suốt đêm trường Sáng ra mộng tản tịnh không lối về Chập chờn cơn tỉnh cơn mê Ði thì chẳng đặng về thì cũng không . Phạm hy Sơn


Mục Lục


34. Xuân Viễn Xứ Sao nhớ quá những mùa xuân quê mẹ Cảnh rộn ràng chào đón chúa xuân sang Người người cùng vui lên khắp mọi đàng Chim ríu rít trên cành mai nở rộ. Nơi thành thị tưng bừng mua bán Tết Chốn thôn quê sắm sửa dựng nêu mừng Khắp mọi nơi vui hưởng những ngày xuân Lân, pháo nổ, bạc bài chơi suốt sáng. Nơi viễn xứ, xuân về trong giá lạnh Lạnh ngoài trời và lạnh cả trong tim Vui không đến mà buồn đâu có tìm Tự nhiên đến, làm lòng se thắt lại. Có gì vui, xuân về nơi hải ngoại Mắt đăm nhìn, tờ lịch cứ dần bay Ngày tháng hết, thêm sầu nơi viễn xứ Nhớ quê cha, đất mẹ tính từng ngày. Xuân đã mất, bao giờ xuân trở lại ? Cho muôn người viễn xứ hưởng niềm vui Ba mươi lăm năm vuột khỏi tay rồi Sẽ có lại, khi quê hương bừng sáng ! Song An Châu GA- Xuân xứ người 2010 CHIỀU XUÂN ÐẤT KHÁCH Chiều 30 Tết, con nơi đất khách Ðốt nén hương, vọng bái quê nhà Mùa xuân nữa, không về thăm mẹ Bao năm rồi, chưa viếng mộ cha. Nay lòng con buồn không thể tả Nỗi niềm riêng chan chứa sầu thương Ngày ra đi, nuốt hận lên đường Con đâu muốn giã từ Tổ Quốc ! Ngày cuối năm, sầu lên chất ngất Nhìn quanh. Ồ! Ðất địa người ta Nương thân cho ngày tháng trôi qua Ðâu phải thiên đàng hay đất hứa !? Tuy xa cách, lòng con luôn nhớ Quê hương mình là nước Việt Nam Chiều nay cuối năm, nơi đất khách Ðốt nén hương, cầu cho đất nước: - Ðược BÌNH AN ! Song An Châu USA, chiều cuối năm 2010 XUÂN NÀY GỞI CẢ CHO EM Thư gởi em từ nửa vòng trái đất Chở ngàn thương từ xứ sở đất lành Qua Ðông rồi cây lá nẩy mầm xanh Xuân hy vọng gởi về cho em đó. Gởi em vần thơ thơm mùi hoa cỏ Nắng Xuân về hoa lá trổ đầy sân Gởi đến em lời thăm hỏi ân cần Ngàn thương nhớ với đôi lời tình tự. Gởi cho em hương nồng thay ngôn ngữ Của yêu thương và nhạc khúc mừng Xuân Gởi cho em lời thương mến chúc mừng Trong vị ngọt cùng vòng tay nồng ấm. Gởi cho em cành hoa Xuân hồng thắm Tượng trưng tình nồng ấm với niềm vui Gởi cho em lời thương nhớ không nguôi Ngàn cánh hoa trong dòng sông tình ái. Song An Châu GA, Xuân Canh Dần, 2010 XUÂN NÀY EM CÓ VUI KHÔNG Xuân này em có vui không? Em có mua được pháo hồng mừng Xuân Mua hoa quả bánh để chưng Ngày ba mươi Tết đón mừng tổ tiên Xuân này nếu em có tiền Mua dùm anh chút oan khiên trong đời Cho người dân được thảnh thơi Cho muôn người nở nụ cười ngày Xuân Xuân này anh cũng chúc mừng Em vui đón Tết, mừng Xuân thanh bình Vui Xuân phải nhớ quê mình Mấy Xuân chưa được hồi sinh ngày nào Xuân này mình phải làm sao Chia vui xẻ đắng đồng bào mình thương Bao năm gánh chịu tai ương Sống trong nghèo đói trăm đường khổ đau Vui Xuân em nhớ năm nào Lìa xa Tổ Quốc còn đau đớn lòng Xuân này mẹ đợi em mong Bạn bè dăm đứa cũng trông mình về Mừng Xuân vui Tết nơi quê Cả nhà đoàn tựu trăm bề vui Xuân. Xuân tha hương 2010 Song An Châu


Mục Lục


35. 1. Thịnh - Suy 1. Thịnh - Suy Trèo lên đỉnh dốc khó sao Vừa leo tới đỉnh đã mau xuống rồi Thịnh-suy kiếp một con người Bình minh thấp thoáng, sụt - trồi hoàng hôn... Ðường xa "gối mỏi, chân chồn" Càng về phía cuối càng dồn nhịp tim Buồn-vuị..cứ mãi đi tìm Vượt qua con dốc người in bóng tàn... Ðỉnh cao đâu chỉ vinh quang Kẻ cười, người khóc ngổn ngang cảnh đời Trên cao vẫn một mặt trời Ðường xa, dốc đứng... rả rời, vẫn theo... 2. Trả Và Xin Trả Gần trong gang tấc mà xa Ðưa tay nắm lấy chỉ là mơ thôi Tưởng hoa trong mắt - môi cười Ngờ đâu giọt đắng tim người-lắng im Giữa trời sải rộng cánh chim Nặng đôi chân bước nổi chìm thế nhân Cũng đành trả hết si sân Trần gian vốn cõi phù vân thôi mà ! Xin Trả xong... Cho hết, rồi đi Phù vân nuối tiếc làm gì, hỡi em ! Chỉ xin một nửa trái tim Dành riêng giữ lại để tìm thấy nhau... Trả về cho sóng xôn xao Lắc lư khoảng lặng trôi vào cõi yên Dẫu tình hai nửa rất riêng Khéo tay ghép lại, nên thuyền tái sinh 3. Một Thuở Trong Ngần Vần thơ giọt đắng loang đầy Giọt thương thổn thức, giọt cay ngập tràn Giọt tình hoen lệ chứa chan Giọt yêu buồn bã... tan hoang tứ, lời... Giọt nhân ở giữa lưng trời Mờ trông giọt nghĩa... Người ơi - muộn màng! Diêu bông nức nở, bẽ bàng Một lần vuột mất, thiên đàng tìm nhau... Trầu về chẳng được với cau Hẹn ngày trùng thất qua cầu ái ân Ði qua một thuở phong trần Tình xưa một thuở...trong ngần thiết tha... (Email: htth_pvn@ymail.com) Phan Nam Việt


Mục Lục


II . Văn___________________________________________________________

1. Xuân Tình Trên Ðỉnh Lâm Viên

Ái Ưu Du




Truyện Ngắn:



- Tháng 4 năm 1949 có một hội-nghị đồng thuận bãi bỏ chế độ thuộc địa, (do Pháp cai trị ở nước Việt Nam).

- Tháng 5 năm 1950 quốc hội Pháp thông qua dự luật: Cho phép hình thành một đội quân Việt Nam. Thế nên bước khởi đầu có một số trường quân đội ra đời. Trong đó có Trường Sĩ Quan Việt Nam ở Huế đã chính thức thành lập năm 1948.

- Sau ngày 20-07-1954 khi hiệp định đình chiến ký kết tại Genève, Thụy Sĩ; thì Trường Sĩ Quan Việt Nam ở Huế đã được chuyển dời lên Ðà Lạt. Và, sát nhập vào trường Võ Bị Liên Quân Ðặc Biệt của Pháp.

- Ngôi trường Võ Bị Liên Quân Ðặc Biệt của Pháp ấy, nay đương nhiên phải trao trả lại cho Việt Nam. Ðất và Trường rộng mênh mông tọa lạc giữa giáp vùng khu ấp Chi Lăng và khu Thái Phiên. Ðầu tiên ngôi trường nầy lấy tên là: Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt. Sau nầy trường chính thức đổi tên trường lại là: Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt.

Muốn gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, thanh niên phải có:

- Học lực tú tài.

- Có sức khỏe tốt, tráng kiện (hầu theo học chương trình huấn luyện của trường Võ Bị Ðà Lạt).

- Ban đầu thì sinh viên thụ huấn hai năm. (Sau nầy trường Võ Bị Ðà Lạt đã tăng thời gian cho sinh viên Sĩ Quan thụ huấn lên bốn năm học).

Bao gồm các bộ môn học như: Văn Học. Quân Sự. Thể Chất.

Gần cổng trường là doanh trại sinh viên, khu Văn Học, khu Bộ Chỉ Huy... Cổng trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt Việt Nam còn có tên là cổng "Nam Quan", nơi nầy luôn náo nhiệt trong những ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật, ngày hội, ngày lễ. Tại Cổng Nam Quan trở nên vui vẻ náo nhiệt như ngày hội lớn, hân hoan tưng bừng với bao tà áo dài tha thướt e ấp tung bay trong gió lộng.

Thỉnh thoảng ở phòng trực trong trường gọi tên sinh viên Sĩ Quan, được phát ra từ loa phóng thanh vang vang lên, thì sinh viên Sĩ Quan nào có tên, hớn hở vui vẻ rảo bước ra Cổng Nam Quan: Ðấy là nơi "gặp gỡ của tình thương".

Khu doanh trại Sinh Viên ở gồm: bốn dãy ba-ti-măng có ba tầng lầu. Mỗi ba-ti-măng có hai đại đội sinh viên Sĩ Quan cư trú. Hai bên nầy là sân cỏ của Trung Ðoàn. Gần dưới thung lũng là khu vườn luôn luôn đầy hoa và cây cối xanh tươi, do sinh viên chung góp công sức làm nên, tạo thành một khu vui tươi trông thật ngoạn mục.

Chương trình sinh viên Sĩ Quan học gắt gao, rất nặng, ấn định có quy củ rõ ràng. Mỗi ngày, sau giờ học đầy căng thẳng trí óc; và sau bữa cơm chiều, là sinh viên có hai giờ: > từ 6 giờ tối đến > 8 giờ tối, thì sinh viên Sĩ Quan tự do đi những nơi giải trí tùy thích như:

- Bên trái là Hội Quán Sinh Viên có nhiều sofa và bàn ghế tươm tất, để cho mọi người ngồi với nhau thoải mái hàn huyên tâm sự; nghe nhạc sống do ban văn nghệ sinh viên Sĩ Quan đảm nhận, hay tập dượt văn nghệ.

- Hoặc giả sinh viên Sĩ Quan vào Thư Viện đọc sách. Hay sinh viên đi Câu Lạc Bộ ăn uống. Nhóm sinh viên khác đến Hội Quán thụt bi-da, uống cà-phê. Có người đi tới sân sau để chơi bóng rổ, bóng chuyền bóng tròn, bóng bàn, vân vân?

Sau đó là giờ tự học. Tiếng kèn 10 giờ đêm là giờ báo đi ngủ. Một số sinh viên khác lo chuẩn bị đi gác. Trường có tám đại đội sẽ luân phiên nhau để đi gác mỗi đêm.

Khi các sinh viên Sĩ Quan đi chinh phục đỉnh Lâm Viên về trường; là ngày lễ gắn Alpha cho tân khóa sinh. Các Sinh Viên Cán Bộ đến tại phòng của tân khóa sinh để trao: mũ cát kết, đai lưng màu đỏ, thắt lưng đại lễ, đôi găng tay trắng. ?Tân sinh viên Sĩ Quan? sẽ đọc lời hứa:

- Tôn trọng lá cờ của Trung Ðoàn sinh viên Sĩ Quan. Bảo vệ danh dự cuả Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam: "Tổ Quốc. Danh Dự. Trách Nhiệm";

thì khoá sinh ấy mới được chấp nhận đúng là sinh viên Sĩ Quan của Trường Võ Bị Ðà Lạt.

* * *



Hôm nay là ngày tất niên. Tôi cùng Vân, Lan, Tâm, bao chiếc taxi chạy thẳng vào ngoài cổng Nam Quan của trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt - Việt Nam, thăm bạn thân. Ðúng lúc đó, tôi gặp Oanh cùng Biên. Hồng cặp tay Ðáo. Thúy Mai và Tiến Tấn ở Phạn Xá, (còn gọi là nhà ăn). Chúng tôi hân hoan khôn xiết, nói cười tíu tít biết bao chuyện buồn vui xếp lớp lăn tăn. Chưa dứt câu nầy, bạn đã hỏi câu kia dồn dập. Oanh chỉ vào bạn trai của cô:

- Oanh đã hứa hôn với Biên rồi.

- Hồng sắp làm đám cưới với Ðáo.

- Cả Oanh và Thuận nữa. Ôi thật là vui quá vui.

Oanh mở miệng:

- Nầy, Ngân Thụy thì sao?

Tôi cười buồn:

- Oanh có bao giờ ghé qua ngỏ nhà thăm tui đâu, mà biết hỉ!

- Xin lỗi nha. Tại Biên hết đó.

- Thì phải mà. Có bồ, hổng đi đâu là đúng. Thụy chúc các anh chị sớm thành đạt trong tất cả ý nguyện. Nghe.

Họ cười tươi cám ơn tôi với hạnh phúc hân hoan ùa về. Tôi đến điểm hẹn hò với Cảnh. Chàng nở nụ cười hồng rõ tươi, hớn hở đón tôi nồng nhiệt lắm. Trên khuôn mặt, qua ánh mắt Cảnh hiện rõ sự mãn nguyện, khi chàng giới thiệu tôi với bạn cùng khóa. Cảnh hãnh diện vì có bạn gái xinh tươi, hồn nhiên mộc mạc, duyên dáng không thua những bông hồng biết nói khác trong đêm hội tưng bừng nầy.

Cảnh nhẹ nhàng nắm bàn tay tôi nóng hổi, tôi run run như con chim gãy cánh. Nửa ngập ngừng chịu siết tay chàng, nửa tôi toan muốn rút tay về. Ðây là cái nắm tay thân tình đầu tiên, từ khi chúng tôi quen biết nhau. Cảnh tinh ý nhìn thấy sự vô cớ dằng co và trầm mặc nơi tôi, chàng cố tìm hiểu nguyên nhân vì sao có sự thay đổi kia.

Nhưng, tôi sẽ không kể cho Cảnh nghe, (kể cả những người thân yêu ruột thịt), về nỗi buồn đau vô hạn. Dù tôi rất muốn ngỏ lời tâm sự với ai đó, hầu vơi đi nỗi niềm dày vò, cay đắng ấy đang bóp thắt trái tim tôi. Sung sướng xiết bao, nếu tôi có thể viết lên trời tất cả suy tư của mình, mà có người khác đọc và thông cảm nhỉ!

Còn ít ra trong giai đoạn ngắn ngủi nầy, Cảnh là người xứng đáng nắm bàn tay tôi đang run rẩy (vì giá rét?!). Chàng có hiểu phần nào về tâm tư, nguyện vọng, tình yêu của tôi? Chàng có thể lấp được khoảng trống ráo hoảnh trong tâm hồn rét mướt, mà tôi hằng ngất ngây mong đợi cùng "ai đó" xe mộng tương phùng chăng?

Dọc hai bên đường dẫn lối vào chính điện, những sinh viên Sĩ Quan ứng chiến đứng gác rải rác dưới những chòm cây thông cao ngất và tối đen. Họ đội mũ lưỡi trai, mặc áo jacket, quần treillis xanh lá cây sậm, áo quần hồ ủi thẳng nếp, giày đinh cao cổ ôm hai ống quần thon gọn.

Trên sân, những sinh viên Sĩ Quan thân hình thẳng tắp, mặc quân phục dạ hội mùa đông, nổi bậc găn tay trắng nõn, gù vai màu đỏ, dây biểu chương màu vàng nghệ, súng dài bồng lên tay, đôi khi tạo ra âm thanh do sắt thép khua vào nhau, nghe rập ràng và chuẩn xác. Súng lại được vài phen kêu lên đều đặn, rập khuôn lúc bắt chào, khi nào có những qúy khách đi vào khu đại lễ.

Ðến giờ khai mạc đại hội, thì buổi lễ long trọng được diễn ra tuần tự từng nghi thức bắt đầu và thủ tục cuối đã xong. Trước mặt các khán đài đang trình diễn các phân binh chủng: Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến. Biệt Ðộng Quân. Thiết Giáp. Pháo Binh, diễn hành các xe hoa, vân vân? Những hàng ghế ở khu khán đài B kêu răn rắc, suýt gãy dưới sức nặng của khách ngồi xem mê mãi. Giàn quân nhạc sống vang lên rộn ràng làm huyên náo góc trời u tịch và giá rét.

Tiếng hợp xướng, tiếng đơn ca, đồng ca, làm cho người đứng tuổi nghĩ nhiều về mình, đồng thời hồi tưởng lại quá khứ oanh liệt vàng son một thuở. Làm cho người vào độ tuổi tráng niên tạm lãng quên phiền nhọc, bực bội, lo toan, để ôn tồn thoải mái, vui vẻ hoà đồng với đám thanh niên trẻ trung tuấn tú, phong lưu hào hoa trong ngày hội lớn.

Một số sĩ quan lão luyện tay bắt mặt mừng chào hỏi nhau, họ ung dung đi rải rác từng điểm hội, tuổi tác họ khác nhau. Ða số đàn ông có khuôn mặt đượm phong trần, sương khuya gió chiều khiến mái tóc lấm tấm muối tiêu và thân thể càng rắn rỏi. Họ mặc quân phục đại lễ mùa đông trông càng khác nhau, lịch lãm oai hùng, phong độ theo mỗi dáng kiểu của từng binh chủng riêng. Có những bộ râu quai hàm, râu mép, kính trắng đạo mạo, tô điểm cho vầng trán cao, khuôn mặt thêm phần trí thức và trang trọng. Miệng nhiều ông ngậm thuốc lá thơm, xì gà, hay ống điếu.

Ðó là những cấp lãnh đạo, những cấp chỉ huy, có đôi mắt sắc sảo tinh tường, họ giàu kinh nghiệm, bản lĩnh để hướng dẫn thuộc quyền. Kiễu dáng họ ung dung thư thả pha chút cao ngạo, đôi khi vướng một chút bình dị, để hoà đồng vào cuộc vui chung. Họ cũng biệt lập về kinh nghiệm chiến trường, và cách điều binh khiển tướng khi xung trận.

Bên cạnh họ là những người thân, các mệnh phụ phu nhân, cùng phụ huynh của sinh viên Sĩ Quan. Nhìn chung quan khách chưng diện cao sang, thanh lịch qua nhiều kiểu cách hợp thời khác nhau.

Thỉnh thoảng vọt lên trời những ngọn pháo bông đủ màu sắc rực rỡ, đủ hình thể khác nhau. Trông rất đẹp khi có mục biểu diễn nhảy dù tiếp theo. Bao cánh dù hoa bung nở, đủ màu bay lơ lửng trên không trung, lủng lẳng nhiều anh chàng Nhảy Dù bay bướm, trông quá tuyệt vời trên cao tít lưng trời bàng bạc hơi sương, và gió rét căm căm cùng tiếng thông reo rì rào vi vu thoảng lại.

Không Quân Việt Nam Cộng Hòa biểu diễn những đường bay quá điệu nghệ với dáng vẽ oai dũng riêng: Bay solo, bay ba, bay năm? bay vòng cung, bay vút lên và bay lộn ngược đầủ Ôi! Ðủ thứ đường bay oai dũng mà lả lướt, kèm những làn khói đủ màu vẽ những hình ảnh lạ mắt, kéo dài sau đuôi tàu bay, rồi tỏa rộng trong bầu trời lấp lánh ánh sao. Trông thật vô cùng hứng khởi, duyên dáng và ngoạn mục hết biết.

Mọi người ngẩng đầu nhìn lên trời cao, mắt họ mở lớn, miệng xuýt xoa trầm trồ, vui vẻ khen ngợi. Bỗng một tiếng nổ giòn tan xé màn đêm, nghe như tiếng súng cối bắn đi đâu đó. Hay như tiếng lọ thủy tinh gián mạnh xuống nền gạch. Khiến tôi giật nẫy người, nép sát vào lòng Cảnh. Chàng nhìn quanh cũng thảng thốt giây lát, vòng tay Cảnh vội ôm qua thân thể tôi lúc nào, không nhớ.

Mọi người đứng lên đồng loạt vỗ tay và la to:

- Ố!

- Ấy dá dà?

- Tuyệt vời quá!

Họ cười vang, có nhiều tiếng hét to:

- Giao thừa.

- Tiễn biệt năm cũ, chào mừng năm mới.

- Chúc mừng năm mới.

- Mừng xuân đến.

- Tết Nguyên Ðán đến rồi.

- Happy new year.

Giờ phút linh thiêng nầy thật trang nghiêm, trân trọng. Họ nhìn lên bầu trời sáng rực pháo bông đủ mọi màu sắc và hình dáng. Ồ! Thì ra bây giờ đúng là giờ giao thừa: Súng lớn bắn đi để đón chào dáng xuân hồng thắm ngự trên vạn vật. Chỉ có rứa, mà cũng khiến tôi giật mình mất hồn mất vía, run rẩy!

Mươi phút sau bắt đầu thủ tục khai hội dạ tiệc trong những đại sãnh sang trọng. Những thức ăn bốc khói nóng sốt thơm ngon. Chuyện trò râm rang khắp nơi. Ðêm dạ vũ tưng bừng và long trọng đã khai mạc. Họ khoản đãi mọi người đến dự tiệc tất niên "tống cựu nghinh tân". Vui vẻ náo nhiệt tưng bừng biết chừng nào.

Chúng tôi dìu nhau đi trong đêm giao thừa rộn ràng những tiếng pháo nổ rền vang khắp mọi nơi. Người người hứng khởi đón chào năm mới vui ơi là vui quá chừng chừng. Lòng tôi vui thích, say say theo cung đàn yêu thương, ngất ngây với nổi ngọt ngào lâng lâng từ đâu ập đến. Một giao thừa tuyệt vời nhất đời mình.

Chúng tôi dìu nhau đi thật chậm giữa khuya muôn trùng, bên tai tôi tiếng pháo rộn rã nghinh xuân tưng bừng. Lòng tôi cảm thấy bình yên vui vẻ kỳ lạ, khi bước chân hai người líu ríu đặt lên từng bậc cấp để vào nhà. Trước thềm năm mới, Cảnh êm đềm trao tặng tôi nụ hôn phớt nhẹ trên mái tóc nồng ấm hương xuân đầu năm.

Tôi cảm thấy hạnh phúc len lén nhè nhẹ và lâng lâng đến trong chân tơ kẽ tóc và trong đời sống riêng mình. Tình cảm ấy tuy nhẹ nhàng đơn sơ, mà trĩu nặng ân tình trìu mến, vẫy gọi nhau thiết tha biết mấy. Niềm vui thật ngọt ngào và trong sáng, cùng sự liên đới kỳ diệu của Trời giao hoà tuyệt vời với Ðất gợi tình. Giữa muôn hoa ngát hương, cỏ cây hoa lá đâm chồi nẩy lộc giữa thiên nhiên cẩm tú.

Ðà Lạt thoáng mát thi vị nên thơ, tuyệt diệu ươm mộng xuân tình từ trên đỉnh Lâm Viên, êm đềm rót xuống lòng thế nhân niềm vui chất ngất xiết bao!




Ái Ưu Du

Mục Lục




2. Bờ Lau Cát Lở 46 (Chuyện Dài)

Ðỗ Thành



Thức lâu mới biết đêm dài, bọn tù chúng tôi càng ở với nhau lâu càng nhạt mờ ngày về với vợ. Lâu dần chẳng ai còn nghĩ tới bất chợt một ngày nào đó được gọi riêng ra để chuẩn bị làm hồ sơ được thả. Tất cả đều an phận, ngày làm quần quật, tối ngủ chập chờn, ăn chẳng no, nghỉ chẳng đủ, lúc nào cũng thiếu đủ thứ.

Lắm hôm ngồi buồn, anh em đem các món ăn đã từng thưởng thức ngày trước ra kể nhắc với nhau, mục đích để tưởng tượng một chút cho qua cơn thiếu thốn dằn vặt. Bỗng dưng thành ra có nhiều tay kể vanh vách, rất có duyên, làu làu thông suốt.

Ði lao động, những lúc nghỉ trưa một tẹo, hò nhau khuyến khích một tay nào đó kể lại truyện của Kim Dung cho đỡ thấy mệt và đói. Mới hay có nhiều anh chẳng những đọc truyện chưởng để giải trí mà lại thuộc từng chi tiết lạ lùng. Giọng anh kể lôi cuốn làm sao, ai ngồi nghe cũng lặng im, châu hẫu như uống từng lời, từng tình tiết.

Lắm bữa, cao hứng, anh bạn kể, tụi tôi say sưa đến chẳng lưu ý, đến chừng nghe mấy cậu chiến sĩ tằng hắng gọi tập họp mới giật mình nhìn lại. Tưởng rằng cả bọn sẽ bị hắn mắng mỏ, nào dè hắn chỉ la sơ sơ : các anh thật linh tinh và hối đi làm lao động vì đã hết giờ. Thế nhưng, từ đó trở đi, giờ bọn tù nghỉ là y như tay chiến sĩ ghé ngồi gần cận đó, ý chừng canh gác để anh em khỏi huyên thuyên, nhưng thực ra hắn cũng đã bắt đầu say cái truyện của anh bạn tù kể.

Sau này, có lần một anh bạn làm sao còn dấu được quyển truyện ? Một thời để yêu, một thời để chết ?, dấm dúi đọc một mình. Bất đồ bị tay chiến sĩ vớ được, hầm hè, anh em bọn tôi sợ dùm cho bạn, chỉ lo hắn báo cáo, chẳng những anh bạn sẽ bị rầy rà, mà đến chúng tôi cũng sẽ bị một màn ? đột xuất ? khám tư trang và nghe lời sỉ vả.

Ấy vậy nhưng mấy ngày trôi qua vẫn lặng như tờ. Chỉ lâu lâu nghe tay chiến sĩ tiểu di : truyện lãng mạn mà ham xem thế. Cho đến ngày hắn hết hạn, được gọi là phục viên, hắn bỗng đến chia tay anh em, lúc ấy hắn mới hé lời phê chí lý : truyện các anh đọc sướng thật, nhưng sao mà hôn lắm thế, bạ chỗ nào cũng hôn nhau được.

Bọn tôi nhìn nhau trao đổi một ánh mắt ngầm cười. Ðó là thời chúng tôi còn chịu sự canh quản của đám bộ đội, sau này chuyển sang bên công an thì còn đâu những sự phớt lờ như thế. Chỉ cần vớ được một trang truyện hay một trang báo mà đám tù chúng tôi nhín cất để dùng khi đi vệ sinh, bị thóp được cũng là đầu đề cho họ chửi xiên chửi xéo.

Càng ngày bọn chúng tôi càng rộc người. Quần áo đem theo bắt đầu sờn rách, có anh cả đời chưa hề biết cây kim, sợi chỉ, vậy mà giờ ạch đụi cũng xoay ra tự vá được chỗ rách. Óc chế biến bắt đầu được phát huy. Nhặt nhạnh mớ bao cát còn sót, chúng tôi đổ cát ra và dùng nó chế thành mũ, thành áo.

Tháo kèm gai làm vành, bọc bao cát níu chằng níu đụt làm nón, chíp hai bên thành thân áo, sam viền cổ, viền tay là thành ngay chiếc áo đơn sơ, cứ thế cả bọn nhủng nhỉnh đội rung rinh như kiểu mũ cao bồi rộng vành, hay mũ của người Mễ. Mỗi lần ra vào cổng lấy làm chướng tai gai mắt bọn gác, nhưng họ cũng chẳng bắt bẻ được.

Chính những chiến tích này khiến khi các bà/chị lên thăm nuôi chồng, anh/em đều rơm rớm nước mắt vì thương xót. Các bà/chị đâu ngờ có một ngày chồng, anh/em mình phải chịu cảnh bệ rạc đến thế.

Cùng chung cảnh ngộ nên anh em chúng tôi rất mực thương yêu nhau. Trừ một vài kẻ táng tận lương tâm, xun xoe tâng bốc lập công những mong được thả về sớm, còn lại đều thấm đẫm hoàn cảnh của nhau. Bởi vì nếu không thương yêu, đùm bọc, san sẻ cho nhau thì còn ai thay thế được.

Cha mẹ, vợ con, anh em, bè bạn, người còn kẻ mất, có khi thất tán nơi đâu, khi đau yếu nếu không dựa vào nhau thì còn trông cậy vào đâu được. Ðối với trại giam, thêm hay bớt đi một người nào có hệ trọng. Hào quang chiến thắng đang lồng lộng vượt trỗi, chúng tôi sống dưới con mắt họ như cái gai cần phải nhổ bỏ.

Họ vẫn tự hào tha tội chết cho chúng tôi, họ rêu rao không đánh kẻ chạy lại, thế nhưng thực tế họ hận căm chúng tôi dữ lắm. Lúc nào họ cũng gườm gườm, chỉ chực hở ra là họ mắng nhiếc, hành hạ.

Ðối với những anh có chức vụ lớn, họ luôn muốn tách riêng vì họ sợ chúng tôi quấn quít nhau sẽ làm họ khó bề chăn dắt. Thế nên, thỉnh thoảng lại nghe tin vị này, vị kia khi khổng khi không bị giam vào cô nếch và cùm chân chỉ vì anh em đã chia xẻ với nhau nỗi niềm nhớ nhà.

Họ không tin chúng tôi chỉ bàn bạc với nhau như thế mà họ nghĩ là chúng tôi to nhỏ cho nhau những tin tức từ ngoài lọt vào. Lúc nào họ cũng răn đe ? phải thành thật khai báo, phải dốc tâm học tập khi nào tốt thì về ?, nhưng chúng tôi biết ngày về của từng người đều có mức giá của nó.

Chúng tôi thương an ủi khuyên nhau hãy cố giữ gìn sức khỏe, hãy cố vững tâm đừng để họ khinh dễ. Ðôi lần họ hé ra một vài lời căn vặn, khiến chúng tôi biết họ ngại, rất ngại anh em chúng tôi. Họ luôn dặn dò phải khai lại với họ những gì bạn bè hay thuộc cấp nói, kể cả khi còn ở trong trại hay về lại nhà.

Lúc ăn, lúc ngủ, lúc sinh hoạt, lúc làm lụng, người khỏe đỡ người yếu, hoặc nhận làm hộ phần chỉ tiêu của nhau. Mỗi khi có người ốm, anh em tận tình chăm sóc và những mong bạn chóng qua khỏi cơn bệnh.

Ngày trước, khi còn thịnh thời, có khi anh em còn câu mâu nhau vì màu áo, sắc lính. Có thể người này nhìn người kia hơi có phần nhẹ vì thuộc vào ngành này ngành nọ, quân/binh chủng nổi tiếng hay không. Bây giờ những thứ phân biệt đó đều lãng phai, ai ai cũng là người tù đáng thương như nhau hết.

Mỗi khi có anh chẳng rõ từ đâu nhận được tin vợ yếu, con đau, rầu rầu trong ruột. Ðánh bạo anh làm đơn xin được về chăm sóc và lấy danh dự người quân nhân hứa sẽ quay lại ngay vài hôm sau. Hẳn nhiên, cái danh dự đó nào được ai sá kể. Bị dồn nén tột độ, anh bốc lên như điên, như cuồng. Buổi tối tự vác thân đi la rầm rĩ quanh trại, lôi hết tên ai mà anh biết, từ quản giáo đến lính canh chửi inh lên.

Khốn khổ làm cả trại nhốn nháo lo, chỉ sợ bọn canh tù đoàng bừa một phát là uổng mạng. Lệnh ai nhà nấy ở, tiếng lên đạn lách cách nghe ớn kinh, tiếng chân chạy dập dồn, tiếng ra lệnh oang oang, cũng may không có gì nghiêm trọng xảy ra vì dù sao quân nhân cũng hiểu được tâm trạng người tù nên không nỡ bắn bỏ.

Sau này sang phần công an canh giữ thì các trường hợp tương tự không thấy xảy ra nữa. Có thể hằng mấy năm tù dài người ai cũng rõ có kêu cũng chẳng được, huênh hoang chỉ thiệt thân nên đành nhẫn nhục cho qua.

(còn tiếp)

Ðỗ Thành

Mục Lục


3. Giữa Hai Lằn Ðạn (chuyện dài nhiều kỳ)

Ái Ưu Du




Giữa Hai Lằn Ðạn
Phần Thứ Nhì
Chương 18
Nghĩa Tương Giao

Thời gian tiếp nối nhau ngày qua ngày, đêm qua đêm, trôi đi, trôi đi. Ðan, Nữ, có dịp làm chung nhiều công tác. Nữ hỏi Ðan về chuyện "Hoàng Tộc của anh".
Ðôi khi cao hứng, chàng nói sơ qua về:
-* đời vua Gia Long, Vua Minh Mạng ra lệnh xiềng mã của ông Lê Văn Duyệt ở đường Hiền Vương, ông Duyệt rất linh thiêng. Cụ cố Hường Thuyền là bọ đỡ đầu của tổng thống Ngô Ðình Diệm.
-* Vua Thiệu Trị. Ông Tôn Thất Thuyết làm Binh Bộ Thượng Thư dưới Triều Vua Tự Ðức, năm 1883 Tự Ðức băng hà. Khâm sứ Georges Mahé bị cách chức, vì cho đào mồ vua Tự Ðức, ông ta lấy nhiều châu báu vàng bạc.
-* Tiếp sau là Joan Charles cho đào Tử Cấm Thành, điện Minh Viên của vua Minh Mạng, vơ vét ngọc ngà. Hai ông Thuyết và Tường, đổi di chiếu phế bỏ Dục Ðức là con nuôi của Tự Ðức, hai ông tự quyền đưa em của Tự Ðức, là Lạc Quốc Công lên ngôi, lấy hiệu là Hiệp Hòa.
Họ đưa Dục Ðức đi biệt giam, sau đó bắt Hiệp Hòa uống thuốc độc tự sát. Kiến Phúc lên ngôi 6 tháng thì chết không rỏ nguyên nhân.
-* Hai ông lại đưa Ưng Lịch lên ngôi vua lúc 12 tuổi, niên hiệu là Hàm Nghi. Ngày 22 tháng 5 năm 1885 bị thất trận đồn Măng Cá, ông Thuyết rước Vua Hàm Nghi và đoàn tùy tùng chạy đến Tân Sở. Băng rừng vượt suối ra Quảng Trị, đi Hà Tỉnh. Qua Trung Quốc. Ông Thuyết thất chí thành cuồng điên, lấy gươm chém vào đá. Người đương thời gọi ông là "Trảm thạch Tôn Tướng quân". Pháp đày ông Nguyễn văn Tường. Lập Chánh Mông lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Ðồng Khánh.
-* Bây giờ Việt Nam có hai vua. Vua Ðồng Khánh xe pháo ra Quảng Bình, dụ Vua Hàm Nghi về hàng Pháp. Năm 1888 vua Hàm Nghi bị bắt đày qua Algerie. Bửu Lân là con Dục Ðức và mẹ bị biệt giam, được triều đình rước về, tôn lên vua lấy hiệu là Thành Thái. Khi 18 tuổi Pháp biết Thành Thái có chân đứng với Phong Trào Ðông Du, đã truất ngôi lưu đày sang đão Réunion.
-* Lập Vĩnh San lên ngôi lúc 8 tuổi, lấy hiệu là Duy Tân. Trần Cao Vân và Thái Phiên: Lập Việt Nam Quang Phục nước bại lộ. Vua Duy Tân bị bắt ngày 6.5.1916 ở Nam Giao. Pháp giam vua ở đồn Măng Cá, rồi đày vua qua Réunion. Hai ông Vân và Phiên bị chém ở pháp trường. Pháp lại chọn con trai của Ðồng Khánh, là Bửu Ðảo lên ngôi, lấy hiệu là Khải Ðịnh. Thượng thư Bộ Lại và Cơ Mật thời vua Khải Ðịnh, là Phước Môn Nguyễn Hữu Bài đảm nhận.
-* Vua sau cùng là Nguyễn Phước Vĩnh Thụy, niên hiệu Bảo Ðại. Ông Lê Phát An, một cự phú ở Saigon là con trai trưởng ông Huyện Sĩ. Ông An được Vua Bảo Ðại quý mến, phong cho chức An Ðịnh Vương. Ông gã cháu gái là Nguyễn Hữu thị Lan, (con ông Nguyễn Hữu Hào) cho Vua Bảo Ðại, tức Nam Phương Hoàng hậu. Bảo Ðại có chính thức ba quý phu nhân: Lý Lệ gốc Tàu. Mộng Ðiệp ở đường Graffeille, số 7, Dalat. Và Gernie bà Tàu lai Pháp. Ba Ðan nhìn thấy "lịch sử kinh dị" từ trước đời vua Gia Long đến đây, không mong gì hơn, là cho Ðan du học, tránh xa cảnh đau lòng.
Ðan đưa Nữ xem những tấm ảnh, chụp thắng cảnh Kinh Thành ánh sáng Ba Lê. Xem bà con anh em trong Hoàng tộc. Tuy nhiên anh chỉ thích ngắm nhìn bức danh hoạ lừng danh Leonardo de Vinci vẽ Mona Lisa, người đàn bà anh thư tuyệt vời, bà kín đáo có nụ cười khó hiểu bên trời Tây.
Tựu trung, Ðan chỉ nói với Nữ những chuyện từ đời... ông cố lũy. Chuyện tào lao xịt bộp. Tuyệt đối chàng không hàn huyên tâm sự chuyện tình riêng, hay thân mật ngọt ngào hơn. Ðan xem Nữ như nghĩa tương giao. Mặc dù vậy, Nữ yêu thầm trộm nhớ Ðan, đến rã rời héo hon. Nữ thấy Ðan thật dễ thương, lúc nào cũng trầm tư, ung dung, đứng đắn và nhã nhặn. Ðan khác Thắng. Thắng nhanh nhẹn vui tươi, hồn nhiên và lém lỉnh. Nàng muốn chinh phục anh bằng mọi cách. Khổ một điều, hình như Ðan không lưu tâm đến mình. Nữ không là đối tượng. Ðồng thời Nữ cũng mến yêu Thắng, và Quân. Không biết như vậy nàng có đa tình, lãng mạn, bậy bạ lắm không? Chỉ có một trái tim, mà chứa hai ba bóng hình?
Không có cách gì quyến rũ thu hút họ, Nữ đâm ra tức giận, thù ghét Hoài:
- ?Tên thật của mình thật xí. Còn tên thật con ?qủy xứ" đó, nghe chi mà ngứa tai. Cái gì mà Hương Hoài? Ủa, cả biển nước mắt khóc đầy vì nó, hay là nó khóc nhớ ai thành biển khói hương hoài? Cầu cho nó khóc ai, nước mắt thành sông thành biển đi. Hèn gì cả đại dương bao la, cũng rì rầm sóng vỗ đêm ngày vì... si nó. Con nhỏ nầy có cái gì hơn ta nào? Nó thật thà ngố ngáo, lù đù quê một cục, quê mùa cù lần hết chỗ nóỉ.
Nếu Nữ muốn xỉ vào mặt nó mà nói:
- ?Mi cù lần số một. Trong khi tau đẹp thua kém chi mi, tau ăn nói có duyên, khôn khéo, từng trải, có kiến thức sâu rộng ngang ngữa mi. Mi tú tài đôi, thì tau cũng tú tài toàn chứ bộ?!
Nữ bực dọc:
- Hứ! Không hiểu mấy tên đàn ông, mê con nhỏ cái nỗi gì, mà ngẩn ngơ, bơ phờ, hốc hác hết trọi dzậy cà?
* * *
Trong giờ làm việc, bạn bè dốc toàn lực vào đó. Họ ít nói, lầm lì, mệt nhọc với giọt mồ hôi đọng bụi đường bẩn thỉu. Công việc giải quyết nhanh chóng. Toàn ban đứng phắt dậy. Ðầu đội nón sắt, nai nịt gọn gàng. Chân mang giày saut, áo quần đồng mầu. Ba lô nặng trĩu mập ú sau lưng.
Họ chạy ra bãi đậu xe leo lên. Xe GMC từ từ rồ máy. Vài anh lè phè chậm chạp lon ton chạy theo. Miệng anh la ơi ới, tay ngoắt lia liạ, nói câu chọc ghẹo nhau. Mấy anh bông đùa:
- Chờ tui ga guộng dới. Tui lấy cái bâu, đựng xí gậu nấu en, ren?
- Ðịnh bỏ rơi tôi lại với ai đây? Ở với bầy khỉ à?
- Cho tui ngó ông đi goa, boà đi lợi, chớ có mô mờ khét khe, dậy cà.
Vui thế đấy! Dù đi với đồng đội đến vùng trời xa xôi, hẻo lánh gần đầu đạn mũi tên. Chết chóc không biết sẽ đến lúc nào. Vậy mà họ tươi cười, cố bám riết theo đồng bạn. Mấy anh đang ngồi trên xe chồm xuống, giơ tay ra đón chụp, củng nhau kéo bạn lên.
Anh lính cười thoải mái, thân hình đeo lủng lẳng trên thành cửa, lắc lư như chú khỉ chuyền cành. Cây súng va lách cách vào băng đạn. Cái bi đông nước lắc qua lắc lại, quai đeo ba lô sờn uá, rách lỗ chỗ.
Bên doanh trại lộng gió và đầy sa mù, là tiếng quát dõng dạc:
- Ai đó. Yêu cầu đứng lại. Vui lòng trình giấy tờ.
Nhiều tiếng nổ ầm ì pằng? pằng? pằng... Tạch? tạch? tạch? vang vọng từng hồi như dịp sấm. Lửa tóe ra trên đầu như vì sao băng đổi ngôi. Bià rừng hiu quạnh, có tiếng vạc vỗ cánh lạnh lùng đi ăn đêm, vọng vào căn lều ẩm lạnh.
Hơn một tuần trôi qua tốt đẹp, cho đến một hôm Ðoàn làm việc xa Tiểu Khu. Nữ băn khoăn thấp thỏm, lo lắng muộn phiền, nhớ nhung ngập lòng. Nàng gọi phone về Ðà Nẵng kể Thắng nghe nỗi buồn thương ray rứt, và hỏi Thắng:
- ...Có phải em đã yêu người lính phong trần, nơi ngàn chốn sơn khê Minh Long rồi không?
Nữ dám hỏi Thắng câu đó. Kể cũng lạ!
Nhóm tiếp liệu trợ y của Nữ lên đường, khi sương ướt đẫm cỏ cây. Bầu trời chìm đắm trong khí lạnh mùa xuân ve vuốt ban mai, ẩm ướt giá lạnh và buồn bã vô vàn. Duy có hình ảnh đáng nhớ nhất, trong lần tiễn đưa giờ phút đầu tiên, trên lưng đồi ngập tràn gió lạnh sương mai: Khuôn mặt đẹp, dáng dấp oai hùng, phong sương, trầm tư và chững chạc. Gió sớm thổi phồng lưng áo trận bạc màu, đôi giày đinh lấm lem bụi đỏ, khi Ðan đứng trên thềm doanh trại, đầu đội mũ sắt, một tay chàng cầm ca nước nóng đưa cho Hoài uống. Một tay Ðan chống ngang hông. Nhìn Ðan và Hoài đứng trên thềm doanh trại từ giã nhau. Bỗng dưng Nữ bừng nhớ quắt quay, vì... "người ấy" đã xa tôi rồi.
Phiá sau trại tù (nay có lẽ bỏ hoang) từ thời Pháp thuộc, là đỉnh Núi Thần Phong, và dòng suối bạc uốn khúc lấp lánh xa xa, ẩn hiện dưới tàng cây xơ xác, không um tùm lá đỏ như thuở nào. Hình ảnh đó, khiến Nữ gợi nhớ đến Thái Tử Ðan nước Yến, (dùng Kinh Kha như con cờ) với chung rượu quan hà. Thái Tử Ðan tiễn đưa Kinh Kha quê nước Vệ, sang bên bờ Dịch Thủy. Theo kế của lương sư Ðiền Quan tiên sinh, Kinh Kha mang sứ mạng giết bạo Chúa Tần Thủy Hoàng, cứu lục quốc. Bạo chúa Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, độc ác vô song. Ông mê tiếng đàn tuyệt vời của Cao Tiện Ly, mà vẫn ác tâm chọc mù đôi mắt người ca sĩ. Tráng sĩ Kinh Kha đệ nhất kiếm tuyệt luân, khí khái phi phàm, một lòng trung quân ái quốc. Kinh Kha có người yêu đúc Lũ Tuấn kiếm, cô hy sinh tình yêu, để Kinh Kha quyết tâm ra đi, mưu cầu việc lớn cho Quốc Gia đại cuộc. Còn Nữ? Chẳng có gì! Chẳng được gì tất cả, ngoài nỗi cô đơn kinh hoàng, giữa khói lửa chiến tranh tàn khốc, phủ chụp xuống góc trời, và riêng góc đời mình.
Trời hừng sáng, lớp mây mù trắng xóa dày đặc, càng lúc càng tỏa nhạt và bốc lên cao, lộ ra ngọn núi hiểm trở, chen cánh những ngọn đồi, vòng rào kẽm gai, giao thông hào giăng mắc chằng chịt, hốc đá cheo leo, vòm cây cổ thụ già nua sần sùi, lượn suối khe thung. Nhà sàn vách đất tan nát, loang lổ xơ xác đìu hiu, còn thao thức, băn khoăn trước bình minh thấp thoáng, uể oải dần dần vươn lên cao.

Kính mời quý độc giả xem tiếp chương sau.
Trân trọng

Ái Ưu Du




Mục Lục


4. Chập Chùng Bóng Núi 40 (Chuyện Dài)

Thanh Sơn

Như đoàn lữ hành đi trong sa mạc, đi mãi, đi mãi chẳng thấy đâu là tận cùng. Nước uống một ngày một cạn, cổ khát khô, bụng đói, vất vả, nhiều lúc tưởng gục dọc đường, vậy mà vẫn phải cố gượng. Những người tù ngầm dặn dò nhau không thể chết uổng phí và lặng thầm như thế này, phải sống, nhẫn nhục mà sống để chứng nghiệm nỗi đau của người bại trận.

Tất cả phải trở thành nhân chứng của thời cuộc, thẩm thấu tất cả mọi lọc lừa, dối trá, bỏ quên, phản bội, để sau này ai viết được thì viết lại, ai không viết được thì kể khi đã thoát khỏi tối tăm, mục đích để hậu duệ thấy được nỗi đau của một thời khóc hận. Bọn trẻ có thể sẽ không màng đến nguyên ủy của cuộc chiến, có khi còn chấp nhặt người đã sinh thành ra và cho rằng họ còn nuối tiếc bấu vào quá khứ, nhưng lịch sử chắc chắn là không quên sót cái thời thế thổ tả này.

Chờ đợi cho lắm cũng không chuyển xoay được hoàn cảnh, thôi thì cứ ăn, cứ làm, cứ khổ sai, cứ nghe mắng mỏ, chửi bới, xiên xỏ để nín thở qua sông. Mặc cho ai bùi tai nghe lời hứa hẹn đang tâm đi làm cái máy nghe lén chuyện anh em để rồi ton hót đi tâu, cầu mong một lần được về sớm. Mặc ai cậy mình có chút người nhà tham gia phía họ để huênh hoang tưởng rằng mình cũng là công thần nên đòi hỏi nọ kia.

Anh chỉ biết làm thân con phượng hoàng gãy cánh đành vùi sâu mỏ nhọn vào lòng đất cứng. Anh dửng dưng với những lời khuyến tấn bỏ trốn, những lời ve vãn để mong anh rút ruột lộ ra những gì anh muốn cất kín. Anh ít tham gia vào các bàn luận của bạn bè khi nhiều người cho rằng họ chẳng mưu đồ gì lúc bị gọi vào quân trường, làm như họ hờ hững với chuyện còn mất, được thua.

Thật tình mà nói, cho tới giờ mà sự ngây thơ vẫn chưa dứt bỏ được. Người ta vẫn còn tranh chấp nhau vì lý tưởng có hay không, thế nào là chính hay tà. Thậm chí có anh còn chê bai hết những người đã từng cho anh và gia đình sự bằng an, sinh sống, cho dù giữa thời buổi chiến tranh đang cực kỳ căng thẳng.

Anh chỉ buồn một điều là đến gần cận lúc tàn cuộc rồi mà giữa chiến hữu vẫn dối quanh, dối quẩn nhau. Có thể vì quính quáng và thất thần lo sợ nên ai cũng lo chạy giữ lấy cái mạng mình, nhưng quân đội nào đâu cần phải gặp tận mặt nhau mới thông tin cho nhau một lời ngắn ngủi.

Hằng ngày trên mạng lưới truyền tin, biết bao làn sóng vi ba giao thoa nhau, tiếng rè rè của các loại máy VCR-34, PRC-25, G-5, GRC-105 bao trùm chẳng sót một vuông phân lãnh thổ nhỏ nhoi nào. Thời thịnh trị, có lần chính anh đã nghe vanh vách trên tần số lời bao trùm khắp giải đất chủ quyền, như vậy dù hốt hoảng tới đâu, sao chẳng một ai gọi báo được cho nhau một lời ngắn ngủi.

Dạo còn tuân lệnh giữ chặt đồn, anh chỉ mong có ai đó chõ miệng vào nhắn nhủ : này bọn tớ bắt đầu bỏ cuộc lúc này đấy, các cậu liệu sao thì tùy. Vắn tắt thế thôi để anh và các đàn em không phải ở lì cố thủ, để suýt mất mạng vào giờ thứ 25 của cuộc chiến vỡ hàng.

Nghĩ tới nỗi vất vả phải lướt càn bụi gai rừng thẳm để thoát ra khỏi căn đồn chênh lênh trước khi bị bọn Y Sê kéo về làm thịt. Cũng may anh không hổ thẹn khi bảo toàn được tất cả anh em để khi tuyên bố chia tay, ai cũng bùi ngùi lưu luyến.

Chính anh cũng gay gắt lên án mình vì trách người thì anh cũng có toàn vẹn chi đâu. Nia quí anh nhất, đã bao lần ngong ngóng hỏi anh khi gặp gỡ nhau bên bờ suối : liệu có sao không anh ? Em thấy lo lắng quá. Ðêm đêm nghe đại bác nổ rền, sao em sợ bất đồ có chuyện.

Bấy giờ anh còn hùng hồn trấn an cô : em chỉ lo hoảng, em không thấy lính Dù ta đã áng ngữ trên đèo đó sao ? Vì anh nghĩ tới trăm lần, vạn lần gay go thuở trước. Một Cổ Thành Quảng Trị, một An Lộc, một Bình Long, một Kontum, một Quảng Ðức, một Tam Quan, một Bồng Sơn v.v? vạn nhất cũng bấp bênh, tàn khốc, nhưng rồi khi những chiếc mũ Xanh, mũ Ðỏ tung ra, hiệp cùng với mọi quân, binh chủng khác thì chông chênh lại hoàn vững chắc.

Nào đâu, đến lúc bọn anh bỏ đồn thì cũng chẳng kịp nói để Nia biết một lời. Bây giờ người con gái từng theo học trường sơ đó trôi giạt nơi đâu, hay là chính cô cũng đang như anh hãm vào vòng tù tội vì bọn Y Sê cho là cô bán đứng buôn làng cho giặc để hành hạ, tra vấn cô.

Lắm đêm anh đã ứa nước mắt vì dằn vặt bạo liệt đó. Anh buồn cho Nia và buồn cho Mẹ, cũng như buồn cho đất nước, bà con, bạn bè, chiến hữu. Những người từng một thời sống có nhau, cùng hiểm nguy, cùng nô nức, cùng bị cái chết rình rập đêm ngày, cùng bị vây quanh bởi muôn ngàn đe dọa. Bây giờ họ tản mác về quê cũ, phiêu dạt khắp mọi nơi, liệu địa phương có dung chứa hay lại mè nheo hành hạ họ vì đã một lần theo giặc.

Anh rất sợ miệng lằn lưỡi mối của những kẻ đầu hôm sớm mai ? cách miệng ? giàng trời, người chiến thắng có khi chưa kịp bày tỏ ý định gì thì bọn bát nháo này đã tự vung vít quàng lên vai ông thần công lý để muốn bắn ai thì bắn, giết ai thì giết, chỉ cần vu cho một tiếng ? phản động ?, rất dễ thôi.

Càng lúc, người ta càng đưa anh đi thật xa, thật sâu, thật ngặt nghèo để cắt đứt mọi dây dưa của bọn anh với xã hội. Một mặt họ lịnh cho địa phương ngăn chặn sự thăm nuôi, gây khó khăn mỗi khi mẹ, vợ, chị, em xin giấy đi nuôi người tù, một mặt họ vuốt ve các anh đừng làm cho gia đình xao xuyến, hãy lo thành khẩn học rồi về.

Ðối với họ, trên bảo sao dưới thực hiện răm rắp. Có khi họ cũng không hiểu nội dung lệnh lạc như thế nào. Họ nghe nói bọn anh rất nguy hiểm, chớ tơ hào vào mà bị đọa thì họ cũng biết thế thôi. Cho nên họ luôn nhìn các anh như vi trùng, như dịch bệnh.

Có người hằn học với các anh, tự dưng ngứa tay quạng cho cái báng súng chẳng vì bất cứ một lý do nào hết. Họ nguyền rủa người bị đánh là cái mặt câng câng muốn ghét (khốn nỗi đã thân tù ai còn dại câng câng đâu chứ !) Vậy rồi cũng qua. Các anh có thưa gửi thì cũng chỉ nhận vớt vát một câu : các anh chấp chi cậu chiến sĩ ấy, hoặc là các anh được nhắn gửi : các anh cũng thông cảm, tại cả gia đình cậu ấy bị ăn bom B-52 chết sạch.

Ủa, vậy lão nào tương bom thì nhằm lão ấy mà khện báng súng vào chứ sao lại giận cá chết thớt khơi khơi như vậy. Thế nhưng, ấm ức mà chơi, bực dọc mà chơi, chứ cái bọn thất trận lêu bêu thì làm gì còn có thân phận để ăn để nói. Phương chi hàng chục ngàn người bị giam trong các trại tập trung thì đến riêng cái số tù cho mỗi người cũng chẳng có. Thế mới thảm, trên danh nghĩa là người đi học tập mà việc hành nhau thì chẳng khác bọn khổ sai.

(còn tiếp)

Thanh Sơn




Mục Lục


5. Căn Nhà Sau Cửa Biển (chuyện dài)

Phan Thái Yên





Vì lý do kỹ thuật xin tạm nghỉ một kỳ. Xin chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc.





Phan Thái Yên




Mục Lục


6. Quên

Vành Khuyên



Trong đời, từ trước đến giờ tôi muốn quên rất là nhiều thứ.

Hồi nhỏ đọc cái câu châm ngôn " cố quên là cố nhớ " tôi cười khẩy, tính ngạo mạn không bỏ, được, để bà xem sao.

Rớt đại học lần đầu, cái tin đó ném tôi vào đời, những buổi sáng không còn thức dậy sớm tới trường, thấy vui làm sao, nhưng ba tôi thì không vui. Ông bảo tôi đi đăng ký học rua, học thêu mai sau phục vụ chồng con. Bụng dạ tôi nghĩ " chồng con con mà cần cái bàn tay cần mẫn trên miếng vải nhỏ xíu đó á. Trời ! Thôi cho ổng làm luôn đi, tính con không thích mấy cái đó ". Ba tôi đâu có chịu. Mỗi sáng, ông lôi đầu tôi dậy, bắt tôi xách xe ra đường học cảnh ngoài đời, đi tìm chỗ nương thân, làm gì cũng được, trưa về báo cáo ông xem đã làm gì.

Có ngày dang nắng, tôi bực ba tôi dễ sợ, nhức đầu thấy má, đời đưa đẩy sao, tôi vào trường các bà sơ dạy học rua, học móc. Ðời mới đá, tôi nghĩ vô đây là yên nhất. Ngày nào tôi cũng dậy sớm, đứng trước cổng nhà thờ đợi mở cửa, vào ngồi bên ghế đá rua, móc, đợi tới giờ vào học. Cuộc đời mới êm đềm làm sao, học cho có học. Biết thế đã học may, giờ may được thì kiếm khối tiền, rua móc bây giờ quên mợ nó mất, đồng bạc kiếm không ra, nên coi như ba tôi công toi. Tôi muốn quên chuyện đó lắm mà cứ nhớ hoài, nhục không chịu nổi.

Chả phải đời đá không, ngay sau khi thi rớt, bồ tôi cũng đá tôi. Mà cha này kỳ thiệt nha, đá cũng không lựa lúc đá, đá ngay khi tôi vừa bị đời đá, hận đời một, hận thằng chả hai. Ngay trong khuông viên nhà thờ, tôi hí hửng mở thư thằng chả ra đọc mới đưa tôi tối qua, không dám đọc trong nhà, hôm sau đến trường học rua, thêu, sớm lấy ra đọc, tay tôi run run , mắt tôi mờ đi. Thằng chả nói chẳng muốn dính dáng gì tới tôi và không hẹn hò gì nữa. Một bà sơ đi ngang, thấy tôi như là mất hồn, lại nắm vai, tôi chỉ khóc quay đi . Ví như chuyện có xảy ra lúc này, tôi vẫn bình chân như vại, tôi sẽ vỗ nhẹ vào vai sơ trấn an " everything will be ok "

Chuyện đó cũng nhục, muốn quên mà vẫn nhớ.

Từ đó, tôi hết dám yêu ai, hết dám tới nhà thờ vì bình an tìm không có mà tôi chỉ mang những điều không vui vào những nơi tôi nghĩ là thanh tịnh nhất trong cuộc đời.

Tôi hiểu tôi phải đi tìm một nơi thanh tịnh vĩnh cữu nhất ở ngay trong tâm lòng mình, nơi đó, chỉ có tôi, không ai có thể quấy rầy, ngay cả ngoài đời ngang dọc, bất an, tôi vẫn thấy mình thanh thản.

40 năm trôi qua, tôi ráng giữ lòng mình thanh tịnh như lòng của cô gái ngày nào cấm mình đừng dại yêu ai nữa và đừng khóc trước mặt ai.

Nhiều lúc tôi đã tin tôi thóat khỏi cô gái đó, nhưng trong tôi, thật sự tôi cố gắng rất nhiều để mong quên được cô gái đó đi mà tập đối đầu với cuộc đời. Nhưng trớ trêu sao, cố quên là cố nhớ, ờ phải, càng muốn quên, hình ảnh cô gái đó vẫn về trong ký ức của tôi đến thường lệ, nhắc tôi mỗi ngày không được khuấy động cái thanh tịnh trong lòng mình .

Tôi hiểu tôi vẫn là cô gái đó, vẫn cố quên nhưng thật ra bắt mình nhớ lại từng chi tiết một của bao nổi nhục, những ê chề tôi trải qua.

Quên, muốn chứ mà dễ làm sao ...

Thôi đừng bảo mình quên gì nữa nhé ...

Vành Khuyên




Mục Lục


7. Ðồng Cạn

Bảo Giang




Chương Một.
Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:
- Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ. Yêu cầu làng nước tranh thủ trở lại lao động đi cho!

Tiếp theo tiếng nói và nhịp điệu gần như quen thuộc của Bảng, các xã viên thuộc hợp tác xã Xuân Thủy, chỗ tụm năm nơi túm ba, bắt đầu lom khom làm các động tác cần thiết khi đứng dậy. Người, với tay cầm lấy cái nón rách tả tơi đội lên đầu. Kẻ khác, đưa tay lại phía sau lưng, vỗ bèn bẹt trên đít quần vài ba cái cho rơi bớt bụi cát, uể oải chống tay trên cán cuốc, cán cào, lững thững bước từng bước chậm rãi trở lại nơi làm việc. Lại có người vẫn ngồi lỳ trên bờ cỏ, hút cho xong điếu thuốc dở, trước khi bước hẳn xuống cánh đồng cạn đang kỳ nắng hạn.
Theo cùng một nhịp điệu nhưng nhanh nhẹn hơn, Bảng cúi xuống xăn cao ống quần lên trên đầu gối, rảo bước dọc theo các bờ ruộng phân chia trên cánh đồng. Khi đi, Bảng ngửa cổ lên nhìn giời, rồi nhìn các xã viên bằng ánh mắt đầy mãn nguyện. Bảng mãn nguyện bởi vì:
- Thứ nhất, trải rộng dưới tầm mắt Bảng và trên khắp cánh đồng kia, chỉ có một màu xám đen. Một loại màu rất khó phân biệt giữa da người và màu đất bùn! Như thế, nhờ cách mạng, cái phồn vinh gỉa tạo không đồng đều, lắm màu sắc của Xuân Thủy trong thời trước đã thực sự bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Ngày nay, nó được thay thế bằng màu nâu xòng, màu xám đen, màu đất bùn của xã hội mới. Nói cách khác, nhờ xã hội chủ nghĩa, màu da của nhân dân đã được đánh bóng ngang với màu đất. Có khác, chỉ là sự biết di động.
- Thứ hai, Xuân Thủy ngày nay có một dạng thức tiêu điều đói rách bằng nhau. Xuân Thủy không thể trở lại, hoặc tái diễn cảnh sức lao động của bần nông bị các tay địa chủ, phú hào bóc lột như xưa. Lý do, dọc theo cánh đồng từ người xa đến kẻ gần, người cày hay kẻ cuốc, đàn ông hoặc đàn bà, đều nằm trong danh sách bảo quản lao động chính hay phụ của nhà nước.
- Thứ ba, nhờ Việt Minh làm giải phóng, Xuân Thủy ngày nay đã xuất hiện một bản trường ca mới. Rồi nhờ bản trường ca mới này mà các xã viên trong hợp tác xã của nhà nước đã biết kéo cày thay trâu, dĩ nhiên, phần công điểm được tính ngang hàng với trâu bò, không được tính ngang hàng với bác.
Khi nhìn những hình ảnh vui mới lạ này, Bảng thích chí bật cười rồi thêm phục nhà nước. Bởi lẽ, nhà nước đã khôn ngoan giao cái cày, cái cuốc cho những người làm chủ đất nước. Và biết trao con dao mã tấu vào tay những kẻ đầy tớ, nô bộc của nhân dân là các cán bộ, đảng ủy viên. Từ dạo đó, bất kể ngày đêm đi đâu người ta cũng thấy cảnh dép râu, mã tấu, ồn ào, tấp nập như mở hội vào thiên đường cộng sản. Khi vào thiên đường người ta thấy ánh cờ đỏ như máu dính trên tay đảng và hồng lên trên mặt bác. Nhưng xuyên suốt nửa chiều dài của đất nước từ ải Nam Quan cho đến bờ vĩ tuyến 17, hầu như người dân không thể tìm ra được một niềm vui nào, ngoại trừ một cảnh tiêu điều, nhà hoang, chợ trống, đường vắng, đồng khô không bóng trâu cày. Riêng phận người làm chủ đất nước thì lặng lẽ như những bóng ma biết di động cả ngày lẫn đêm.

Nói thì như thế, nhưng thật ra, nhà nước cũng biết sáng chế ra một vài trò chơi vui mới lạ để thay thế cho những sinh hoạt buồn nản trong xóm thôn. Trước hết, một lũ trẻ là con cháu các nhà cách mạng Việt cộng được nhà nước quàng cho cái khăn đỏ, rồi xua chúng đi hết từ đầu trên đến xóm dưới hò hét, hô vang các khẩu hiệu lẫy lừng của nhà nước. Nếu bất cứ ai nhỡ mồm chống lại chúng, lập tức chúng sẽ đeo cho kẻ dại dột ấy một cái tội danh họ chưa một lần nghe thấy trong đời. Tội phản động, tội phản cách mạng. Nghe xong tội danh ấy, người dân lành kia có thể an tâm mà về nước... thiên đàng!

Kế đến, hộ khẩu nào có vài sào ruộng, con trâu, cái cày thì rủ nhau lên nằm như ăn vạ ở văn phòng hành chánh xã để khẩn thiết xin... dâng tài sản cho nhà nước. Khổ một nỗi, cán bộ nhà nước là những kẻ chỉ thuộc nằm lòng năm ba câu giáo điều láo lếu của bác đảng, rồi nhờ đường dao mã tấu để nên quan, còn phần chữ nghĩa thì rặn cả ngày không ra. Kết qủa, có người đi lên đi xuống hàng trăm lần, lá đơn tình nguyện xin biếu không tài sản cho nhà nước vẫn chưa được duyệt xét. Ðơn từ chưa xong thì đi ra đi vào lo lắng. Kẻ nào may mắn làm xong lá đơn thì mặt mày hớn hở như vừa trúng số.

Sự vui mừng của người bất hạnh khá đơn giản. Bởi vì đất đai nhiều đời của họ từ nay thuộc về tay nhà nhà nước quản lý. Riêng người chủ cũ được nhà nước đền ơn, trao vào tay họ cái cuốc cái cày đi làm công. Hơn thế, nhà nước còn ưu ái, gạt cái tên của họ ra khỏi danh sách phú nông địa hào và ghi tên họ vào bảng vàng bao gồm những người làm chủ đất nước và lãnh đạo đảng. Từ đó, chả cần phải giải thích thêm, những người đã làm chủ đất nước thì lo gì thiếu lộc để mà hưởng.

Lý luận sắc bén vững chắc là thế, những tưởng mọi người sẽ hồ hởi tham gia vào chính sách. Nào ngờ, hơn một năm sau khi làm đúc kết, cán bộ Xuân Thủy mới phát hiện ra được một hộ có của ăn, của để nên không muốn ghi tên vào danh sách hưởng lộc của nhà nước. Người đó là ông Trần Lục.

Sở dĩ, ông Lục lờ đi trước việc phải hiến dâng tài sản cho nhà nước. Hoặc giả làm ngơ, không hay biết gì đến chính sách cải cách ruộng đất của nhà nước, cũng như chưa gia nhập vào hợp tác xã Xuân Thủy là vì ông có cái lý của ông:

- Thứ nhất, nhà nước đã phạm sai nhầm lớn trong chính sách cải cách ruộng đất. Tài sản nhiều đời của người ta nhà nước không thể dùng con dao và đến lấy một cách nhưng không như vậy được. Vẫn biết thời nào có luật lệ chơi của thời ấy. Nhưng lấy của nhân dân như thế thì không thể được. Ngay như bản thân ông, vài ba sào ruộng ông có là do chính mồ hôi của vợ chồng ông đổ ra trong một nửa đời người mới mua được. Nay bảo ông làm đơn biếu không thì cứ? từ từ rồi tính, đi đâu mà vội.

- Thứ hai, việc gia nhập hợp tác xã, theo lời cán bộ hướng dẫn trong học tập là do sự giác ngộ, và tự nguyện của quần chúng nhân dân. Việc ông chưa gia nhập hợp tác xã chắc không phải là một cái tội. Bởi lẽ, ông chưa gia nhập vì ông chưa giác ngộ.

- Cái lý do thứ ba quan trọng hơn. Ông Lục thuộc diện gia đình liệt sĩ của nhà nước. Ông có người con lớn và người em ruột đã hy sinh trong kháng chiến đánh tây. Ðánh tây xong rồi, lộc ông chưa được hưởng, có lý nào nhà nước lại vơ hết ruộng đất của ông?

Theo đó, đã nhiều lần ông nghe biết chuỵện các cán bộ trong chi bộ Xuân Thủy bắn tiếng xa, tiếng gần về trường hợp của ông, ông vẫn không một thắc mắc. Trái lại, ông còn cười thầm trong bụng vì cái khờ khạo, ngu dốt của lớp cán bộ nhà nước. Chúng làm cán bộ nhưng không thông suốt chính sách bằng ông.

Trong khi đó, Nguyễn văn Bảng, đại diện đảng, chủ nhiệm hợp tác xã Xuân Thủy lại cho rằng ông Lục lập luận như thế là sai nhầm, là kém hiểu biết. Bởi lẽ, dân không thể hơn cán. Nếu ông ta không thuộc diện có công với đảng, với nhà nước, Bảng đã đóng gông vào cổ ông ta lâu rồi, chứ có lẽ nào Bảng phải hạ mình đến tận nhà ông ta để giảng giải, cắt nghĩa cho ông ta nghe về cái đường lối, cái chính sách cải cách ruộng đất của nhà nước đôi ba phen. Bảng tử tế như thế, ông ta đã không chịu nghe lời khuyên bảo, còn làm cho Bảng thêm bực mình. Và Bảng có khi nào quên được câu chuyện hôm nào vợ chồng ông ta đã ương ương giả nhời Bảng:

- Ông chủ nhiệm tính như thế cũng là phải, để rồi từ từ tôi sẽ bàn lại với nhà tôi. Vì thưa thật với ông, lúc này nhà tôi đơn chiếc lắm. Tôi cần đến con Mễ (tên ông Lục đặt cho con trâu) trợ giúp tôi đôi ba phần việc trong ngày mùa thôi, còn chính sách của nhà nước đề ra, ai mà dám chống. Tôi nói như thế có đúng không hả ông chủ nhiệm?
Nghe xong câu hỏi, Bảng đứng phắt dậy, rời nhà ông Lục. Gã lẩm bẩm một mình:

- Lão ỷ mình là gia đình liệt sỹ để chống đối ta chăng? Há lão ta không biết rằng đã sống trong thời đại của bác thì diện liệt sỹ, hay liệt... dương có khác gì nhau? Ðảng chưa ra độc chiêu với lão ta không phải vì sợ, nhưng vì không muốn cho người ngoài nghĩ nhầm, đánh gía sai lạc là đảng vắt chanh bỏ vỏ đấy thôi. Tuy nhiên, Bảng vung một cánh tay lên cao, gằn dọng: Ðể xem lão ta còn gỉơ thói ngoan cố này được bao lâu nữa? Cứ gọi là sẽ biết tay ông chủ nhiệm này.

Ông chủ nhiệm này chính là Nguyễn văn Bảng. Bảng leo lên đến chức chủ nhiệm hợp tác xã Xuân Thủy, không phải vì Bảng là người có văn bằng phó tiến sỹ, hay phó tướng chỉ huy tại mặt trận. Gã vốn dĩ là một phục viên sau chiến dịch Ðiện Biên. Gặp thời cải cách ruộng đất, gã được nâng lên chức đội trưởng đội đấu tố ở Xuân Thủy. Rồi nhờ đường dao đấu tố, Bảng đã thênh thang bước vào con đường hoạn lộ với bác, với đảng.

Dĩ nhiên, khi bước vào con đường hoạn lộ này, Bảng sẽ không khi nào quên một trong những người bị đấu tố đã đưa Bảng đi vào lịch sử của đảng Vẹm (Vẹm là chữ ghép của hai chữ V và M. Nó chính là chữ viết tắt của tổ chức mang cái tên là Việt Nam cách mạng đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh. Các làng tề, làng chống cộng ở ngoài bắc đã nhất loạt gọi tổ chức này là bọn Vẹm. Nó vừa là ngụy ngữ để ám chỉ bọn Việt Minh, vừa có ý cho người ta thấy được cái mặt thật của bọn bất lương, thổ phỉ, cướp của giết hại nhân dân, đối kháng trực tiếp với những tổ chức cứu quốc của người quốc gia, nhưng lại tự mạo danh là cách mạng). Người đưa Bảng vào vinh quang với đảng Vẹm nói trên là ông Bính, bố vợ của Bảng.

Cái chết của ông Bính, có nhiều người nói ra nói vào mai mỉa. Nhưng, theo lý luận của nhà nước mà đội trưởng Bảng là đại diện, ông Bính, bố vợ Bảng phải chết như thế là đúng sách. Lý do:
- Ông Bính là một phú hộ có tới năm mẫu ruộng cấy lúa và ba dàn trâu cày. Ông Bính đã dùng năm mẫu ruộng này cho tá điền thuê mướn với gía cao. Dùng ba dàn trâu kia để bóc lột sức lao động của các bần cố nông, trong đó có chính bản thân Bảng.
- Lý do thứ hai quan trọng và đáng tội chết hơn. Trước đây ông ta dám phản đối việc gả con gái của ông ta cho cán bộ của nhà nước.

Bảng còn nhớ, trước ngày từ gĩa con trâu cái cày để đi làm cách mạng, Bảng đã phải lòng con gái ông Bính. Là thân tá điền, Bảng tự biết không thể nhờ người mai mối đến hỏi cưới Nụ theo kiểu thách cưới của ông Bính. Ðến khi tình yêu vụng trộm của Bảng, Nụ lên men và bốc khói dưới chân đống rơm thì đổ bể. Khi đổ bể, ông Bính đã thiếu... suy nghĩ, gọi Bảng đến mắng nhiếc rồi đuổi Bảng ra khỏi hàng ngũ tá điền của ông.

Sau khi nghe rõ nhời chói tai của ông Bính, Bảng ra đi biệt xứ. Không ngờ, sau ngày Việt Minh chiếm được miền Bắc, Bảng trở về quê cũ như một anh hùng trong chiến dịch Ðiện Biên. Khi ấy, dầu không muốn, nhiều người đã phải nhìn Bảng bằng con mắt đầy tôn kính. Riêng ông Bính lại như người không có mắt. Ông ta ỷ mình có chút tiền của, tiếp tục miệt thị khinh khi, nhất định không chịu gả con gái cho nhà cách mạng Nguyễn văn Bảng. Bảng phải nhờ một người trong chi bộ đến động viên, ông Bính rét nên đành gật đầu. Việc làm của ông, theo Bảng, rõ ràng là một hành động cố ý áp bức các bạn bè tốt của bác. Do đó, bác không tha và Bảng chẳng khi nào quên.

Kịp đến lúc chính sách đấu tố phú nông địa hào ra đời, Bảng đã kiên quyết đề bạt tên ông Bính vào danh sách cường hào ác bá. Kết qủa, ông Bính đã nhận một nhát mã tấu ân huệ của nhà nước. Sau ngày ông Bính nhắm mắt lìa đời, Bảng đại diện ủy ban đến kiểm tra tài sản của ông để giao nộp cho hợp tác xã. Khi đi đến chân đống rơm cuối vườn, Bảng tần ngần đứng lại. Gã nhớ đến chuyện xưa, chuyện một đêm không trăng không sao với thị Nụ, trước ngày lên đường làm cách mạng.

Hôm ấy, khi màn đêm vừa buông xuống, Bảng vội vã ra khỏi nhà với một gánh hành trang khiêm tốn gồm cái điếu cày, cái đèn bật và gói thuốc lào bên mình. Sau khi đứng nhìn trời đen thẳm với những vì sao đêm lấp lánh, Bảng thẳng đường đến nhà ông phú Bính. Ðến nơi, thay vì vào gõ cửa thăm Nụ, Bảng lại vòng ra phía sau vườn, lách mình qua hàng rào thô sơ và đến ngồi dưới chân một đống rơm chờ Nụ. Khi chờ, cái điếu cày của Bảng đã từng cơn kêu lên roong roóc giống như tiếng kèn thúc quân của đảng, nhưng vẫn không thấy bóng dáng người yêu dấu đâu. Càng về khuya, muỗi càng nhiều. Mặc, Bảng vẫn một tay đập muỗi, một tay vê thuốc lào cho vào cái nõ.

Ðến gần nửa khuya, lòng buồn rời rợi, Bảng thu dọn hành lý và toan cho đống rơm mồi lửa trườc khi rút lui thì cánh cửa sau nhà ông Bính hé mở. Gã đứng lên, hồi hộp nhìn bóng người lách mình ra ngoài khung cửa. Lát sau, thay vì co chân bỏ chạy, Bảng nhảy ra khỏi đống rơm, ôm ghì lấy cái no tròn đẫy đà của Nụ:
- Sao mà ?nâủ thế, để người ta chờ mãi.
Nụ đẩy Bảng ra, mắng yêu gã:
- Gớm, chờ có một tý thôi mà cũng khéo trách. Người ta phải chờ cho thày u ngủ kỹ rồi mới dám ra đấy.
Bảng ngớ ngẩn hỏi lại:
- Thật à, thế khi ra đây niệu có ai nom thấy không?
- Không, cả nhà đã ngủ say rồi.
Bảng quên lo âu, gã kéo Nụ ngồi xuống chân đống rơm. Bàn tay chai cứng của gã, nửa hấp tấp nửa ngập ngừng luồn vào phía bên trong lớp áo của Nụ. Làn da bánh mật của Nụ run lên từng cơn dưới bàn tay hoạt động không ngừng nghỉ của Bảng. Bảng tham lam cúi xuống, tìm nụ hôn xã hội chủ nghĩa trong lúc Nụ bảo gã:
- Ấy từ từ thôi... kẻo tôi run qúa lắm.
Bảng mạnh tay hơn:
- Có việc gì mà phải run chứ?
Tiếng Nụ rên khe khẽ trong vòng tay tá điền:
- Tại... tại hở cái vạt áo, gío lùa vào lạnh lắm.
Bảng như nhớ ra một điều gì, gã bảo:
- Thế... thì tôi đặt vào cái... chỗ này, cứ gọi là ấm phải biết...
Bàn tay Bảng diễn tiến theo lời nói. Lát sau, gã bạo dạn đề nghị với Nụ bằng một thứ ngôn từ ngắn gọn, đầy tính đảng:
- Này, mai tôi đi rồi, mình... ủng hộ tôi một tý nhá?
- Ủng với lại chẳng... ủng. Lỡ mà có chửa thì khó sống với thầy u đấy.
- Tưởng gì chứ việc ấy thì chả phảị..?nỏ. Có chửa đã có nhà nước no.
Nụ chống cự cho có lệ, rồi bảo:
- Vậy thì tùy ý đấy. Liệu làm sao cho gọn thì làm. Tôi thấy khó chịu lắm rồi.
Bảng không nói thêm một lời, gã cúi xuống làm công tác. Sau khi giải quyết xong cơn khẩn trương của bác, Bảng ôm cứng lấy thị Nụ và ngủ quên đi lúc nào gã không hay biết. Lúc gà gáy sáng trong chuồng, Bảng giật mình thức dậy. Gã tưởng nằm mơ khi thấy thị Nụ ngồi khóc rưng rức bên cạnh. Gã gắt nhẹ:
- Có việc gì mà phải khóc với lóc chứ?
Nụ úp mặt vào lòng đôi tay, khóc to hơn:
- Thế là tôi đã cho hết rồi đấy. Liệu mai này có mới, rồi bỏ người ta, hu... hu...
Bảng nói như thật:
- Sao lại nói nhời bạc như thế? Tôi thề độc là khi nào cách mạng thành công, tôi sẽ về và động viên chi bộ làm lễ tuyên bố cho.
Ðược lời thề, Nụ lau khô hai hàng nước mắt:
- Có nhớ nhời không đấy?
Bảng trả lời giống Hồ nhân:
- Ðã là một nhà cách mạng nhớn, có khi nào tôi nuốt nhời.
Nụ xoay người về phía Bảng:
- Liệu mà gĩư lấy lời thề, nếu không thì chết với súng đạn đấy. Mà ngày mai anh đi xung công rồi phải không?
- Phải, sáng nay tôi đi rồi. Nhưng tự nhiên tôi thấy tiếc và không muốn đi nữa. Nếu biết trước thế này, có các... vàng tôi cũng chẳng đi.
- Ăn nói đến hay nhỉ. Có gì mà phải tiếc?
Nói xong câu ấy, chính Nụ cũng thấy quyến luyến gã tá điền khỏe mạnh này. Nhớ lại từ ngày gặp Bảng, rồi đem lòng thương yêu Bảng đến nay, Nụ thấy chẳng được mấy ngày vui. Ðã thế, vì mối tình vụng trộm này, ông Bính đã mắng nhiếc và đuổi Bảng đi.

Thật tội cho Bảng phải đi vào khúc đường long đong. Nhưng nếu phải trách ông Bính là người khắc nghiệt đã đẩy Bảng vào đường cùng, khiến gã phải xung công theo Việt Minh, đi vác súng đạn để kiếm miếng cơm hẩm và manh áo rách thì Nụ không dám. Tuy nhiên, mỗi lần nghĩ đến chuyện phải chia tay với Bảng, Nụ thấy buồn. Buồn vì ông Bính không hiểu lòng Nụ. Tệ hơn thế, ông lại cấm cản, không cho Nụ có quan hệ tình cảm với nhà cách mạng Nguyễn văn Bảng để Nụ lỡ mối... lương duyên.

(Còn tiếp)


Bảo Giang




Mục Lục


8. Cuộc Tình Không Chân Dung

Nguyễn Thế Hoàng




Ðang mãi mê ghi nhanh những ý kết thúc bài viết, có tiếng điện thoại reọ..Hơi bực mình tôi thẫn thờ cầm ống nghe :

- Alô ! Alô !

- Alô ! Anh đó hả ? Em đây.

- Ngọc đó hả ? Anh đây nè. Có gì không em ?

- Anh đang làm gì ?

- Viết bài.

Giọng của Ngọc nhõng nhẽo ướt nhè vang lên trong máy :

- Anh cứ lo viết. Lúc nào cũng viết...viết...viết...chẳng còn thì giờ đâu để nghĩ đến em phải không ?

- Có chứ ! Anh đang nhớ em, em đâu có biết ?!

- Nhớ em sao không gọi điện thoại cho em. Em giận anh đó ! Anh có biết không ? Em bắt đền anh. Hì...hì...hì...Em bắt đền anh ! Anh Thế ! Anh đâu có biết nỗi nhớ của em ? Em không chơi với anh nữa đâu !

Tiếng Ngọc khóc nhè trong máy. Tôi cảm thấy vui mỗi lần Ngọc làm nũng hết sức đáng yêu.

- Anh xin lỗi em. Ðừng khóc nữa. Anh sẽ đền bù ! Lỡ quên một lần, đừng giận anh nhé.

Tiếng Ngọc lại lè nhè trong máy :

- Mãy lần rồi anh có nhớ không ? Lúc nào anh cũng nói với em như thế, nhưng chẳng thấy gì. Anh chỉ lo viết bài mà không viết thư cho em đọc. Anh lấy cớ là anh đã bẻ gẫy cây viết của anh rồi ! Vậy mà anh vẫn viết. Em ghen mấy tờ giấy mà anh đang viết đó, anh có biết không ?.

Tôi cười hòa dịu :

- Em biết là cây viết anh đã bẻ gẫy, giờ nó trở lại như cũ rồi. Ðể làm gì, em biết không ? Ðể viết thư cho em đọc.

- Ừa ! Phải như vậy em mới yêu anh ! Anh phải nhớ lời và viết thư cho em đi.

- Anh viết. Em đang làm gì vậy ?

- Ðang nằm trên giường trùm chăn. Ðọc thư của anh. Gọi điện thoại cho anh xem anh đang làm gì cho biết.

Tôi cười ngất trong máy:

- Em kiểm soát anh....kỹ ghê đi.

- Ơ ! chuyện của người ta, khéo nói ! Thả lỏng anh là có chuyện ngay.

- Ai bảo em không dọn về ở với anh. Nhiều lần anh nhắc, em nói chờ bán được nhà. Mãy năm rồi, em biết không, từ ngày chúng mình quen nhau ?

Tiếng Ngọc thở dài :

- Anh cứ nhắc mãi chuyện ấy. Anh biết không, em đang lo, bực bội muốn ngộp thở rồi đây.

Ðược thể, tôi dọa :

- Em thả lỏng anh có ngày thiên hạ bắt cóc anh, chừng đó em đừng nhảy đổng, la hoảng nhé.

- Ghê thế à ! Mà ai dám bắt cóc anh, anh thử cho em biết có được không ?

Tôi đùa :

- Khi họ bắt cóc anh đem nhốt kín một chỗ thì làm sao em biết được.

Ngọc xẵng giọng :

- Em cấm anh không nói với em chuyện lẩn thẩn đó nữa nhé ! Em đang buồn lắm đây. Anh thích ghẹo em không phải lúc.

- Buồn gì vậy, nói anh nghe. Mới gặp nhau hôm qua, trông em vui lắm mà.

- Thôi không nói nữa. Em hỏi nè ! Tối nay rảnh, anh đến em nhé. Em làm cơm chờ anh. Dẫn bé Thư đến cho em, em nhớ con bé quá.

- Mãy giờ anh đến được ?

- Bảy giờ. Em có chuyện muốn nói với anh. Thôi nhé. Em đi chợ đây. Bye ! anh.

Tôi gác điện thoại. Nhìn đồng hồ, mới bốn giờ. Sắp sửa đến trường đón bé Thư, rồi tắm rửa, nghỉ ngơi. Chiều nay không phải lo cơm nước. Hôm nào mệt và lười tôi và bé Thư ra tiệm mua fast food về hai cha con ăn tạm cho qua bữa.

Tôi ngồi thẫn thờ trước tập bản thảo đang viết dở dang, đầu óc loay hoay suy nghĩ về "có chuyện muốn nói với anh??của Ngọc trong điện thoại. Mới hôm qua, hai đứa ở bên nhau vui vẻ trò chuyện thoải mái đâu có gì cần phải nói. Gần ba năm tôi và Ngọc quen nhau, yêu nhau, chờ ngày sống chung với nhau. Tính Ngọc thẳng thắn, có sao nói vậy, nói ngay, không chờ đợi, dù nửa đêm, Ngọc cũng gọi điện thoại để nói. Thế mà, bây giờ lạị..vẫn có chuyện muốn nói.


Tôi quen Ngọc trong tiệc cưới tại một nhà hàng năm ấy. Không hiểu vô tình hay cố ý người bạn mời tôi và Ngọc đứng chụp hình chung với cô dâu chú rễ trong lúc hai người chưa hề quen biết. Ðến lúc vào bàn tiệc, tôi lại được xếp ngồi cạnh nàng.. Ðêm đó Ngọc thật vui trong những câu chuyện trao đổi rất chân tình. Tôi đã bị cuốn hút nhan sắc kiều diễm, và phong cách lịch sự của Ngọc từ giây phút đầu tiên. Ðến lúc dạ vũ tôi mời Ngọc ra sàn nhảy và được nàng chiều ý ngay. Rồi trong một bản valse êm dịu, Ngọc đã tựa đầu vào vai tôi rất tự nhiên. Nàng bảo nàng cảm mến tôi nên mới nhận lời khiêu vũ. Tôi lịch sự cám ơn Ngọc đã dành cho tôi vinh dự ấy. Khi ra về, Ngọc bịn rịn bên tôi ra đến bãi đău xe, và nàng hy vọng sẽ có được những lần gặp nhau sau này.

Tình yêu đến với hai người sau thời gian dài quen nhau. Ngọc tâm sự ngày mất nước chồng Ngọc vào tù như bao nhiêu người khác của chế độ cũ. Trước cảnh đất nước đang bị thống trị dưới bạo lực của việt cộng, Ngọc lo sợ nên theo bạn bè tìm đường vượt biên, gởi hai đứa con thơ bên ngoại chăm sóc. Nàng bảo tìm đường ra đi để cứu bản thân, gia đình, cha mẹ, chồng con đang kiệt quệ do chiến dịch đánh phá tư sản của giặc. Ngọc khôn ngoan, thông minh, chịu khó đã hội nhập cuộc sống xứ người thành công nhiều mặt. Ngoài giờ phút bận rộn cuộc sống, Ngọc để lòng nhớ thương hai đứa con đang ở quê nhà. Vì thế, khi có bé Thư bên cạnh, Ngọc rất vui và chăm sóc yêu thương như con ruột. Ngọc xin tôi hãy để nàng chăm sóc bé Thư. Tôi chấp nhận vì bé Thư cũng cần tình mẫu tử, mà bảy năm qua con tôi không có mẹ, vì người mẹ thân yêu không còn nữa trong một cuộc sinh khó. Nhưng con bé không làm vừa ý người lớn, nó chỉ thích vui đùa với Ngọc chốc lát rồi đòi về lại với tôi. Tôi phải thường xuyên đưa con tôi đến cho Ngọc khi nàng cần đến sự có mặt của nó để nàng được yêu thương chăm sóc và cũng là lý do tôi và Ngọc đến với nhau thường hơn.

Có lần tôi đề cập đến việc bảo lãnh chồng con, Ngọc xì xò :

- Anh ấy ở tù mười năm đủ tiêu chuẩn ra đi tái định cư. Em muốn để anh ấy tự lo, cần gì em sẽ giúp. Việc đi ở do anh ấy quyết định, em không khuyến khích, hối thúc hoặc ngăn cản.

- Nhưng hai đứa con em phải lo cho chúng qua với em.

- Trước sau gì con em cũng qua. Có anh ấy em bớt phần lo, chúng cũng đã lớn rồi. Em vẫn chu cấp tiền bạc hằng tháng đãy chứ anh. Vã lại, anh thấy không, có bé Thư bên cạnh là an ủi em nhiều lắm. Em cưng và thương nó ghê lắm. Anh mà hất hủi bé Thư là em...nghỉ chơi với anh ngay.

Nghe Ngọc giải bày, tôi nghĩ rằng chồng con của Ngọc vẫn còn đó, sớm muộn gì họ cũng sang định cư ở Hoa Kỳ, nếu chồng của Ngọc quyết định đi. Vậy thì cuộc tình của hai người hôm nay sẽ kết thúc ra sao ? Ðôi lần tôi đưa ý kiến, Ngọc bảo :

- Em yêu anh, chẳng ai cấm được em yêu anh. Anh đừng nghĩ vẩn vơ. Còn chồng con, em đã có cách giải quyết êm đẹp, nếu họ qua đây.

Tôi gặn hỏi cách giải quyết, nàng lắc đầu và chẳng bao giờ thố lộ, khiến tôi cũng chẳng còn quan tâm. Với tôi, tôi cũng sợ mất nàng khi chúng tôi đã đến với nhau.

Thú đam mê của Ngọc là đọc sách. Phải nói nàng là mọt sách. Ðọc nhiều và lãnh hội nhiều trong sách vở. Nàng bảo có những quyển sách đọc đến hai ba giờ sáng cũng chưa muốn đi ngủ. Có lúc đọc đến trắng đêm. Ai tặng em món gì không bằng tặng sách. Vì vậy, thỉnh thoảng tôi phải ra tiệm bê nhiều sách về cho Ngọc.

Thấy tôi có thú vui ưa viết lách lăng nhăng những lúc rảnh cho vui cuộc đời trống vắng chứ chẳng làm nên trò trống gì, Ngọc bảo tôi :

- Em yêu anh có lý do, anh biết không ? Một trong những lý do đó là em thích đọc văn của anh, trong sáng, giản dị, dễ tiếp nhận. Em lại còn mê mẩn cuốn hút bởi những lá thư của anh viết cho em, tình tứ, dễ thương và lãng mạn làm sao ! Em cất giữ và trân qúi những lá thư ấy như một báu vật mà em có được. Thế đấy anh.

Rồi Ngọc ướm hỏi :

- Em thích viết lách lai rai như anh cho vui mà không biết phải làm sao ? Phải học viết như thế nào hả anh ? Anh biết không, trong người em cũng có dòng máu văn nghệ đấy anh ạ. Em cũng có thể viết được chứ ?

- Ai cấm em làm chuyện đó. Ðam mê tạo cho em một nghị lực để thực hiện ước muốn. Em khởi sự đi.

Tôi ra tiệm sách gom một số tuyển tập truyện của các nhà văn nữ mang về và bắt nàng đọc để xem người ta viết văn như thế nào. Từ đó, tìm cho mình một hướng đi riêng trong nghệ thuật viết.

Tôi giải thích cho Ngọc những gì tôi hiểu theo ý tôi để nàng thử có được một ý niệm :

- Không ai biết viết văn từ trong bụng mẹ đâu. Cững chẳng ai học hành nhiều ở trường lớp để dạy viết. Ðể viết được phải cần sự nhẫn nại bền bĩ, chịu khó và chịu khó...đừng bao giờ chán nản bỏ cuộc...cứ viết...và viết cho thật nhiều. Ban đầu khó khăn lắm, chưa hay lắm, dần dần sẽ đạt. Cần đọc nhiều, đi nhiều, hiểu nhiều, va chạm, tiếp xúc trải đời nhiều để có chất liệu dự trữ trong tiềm thức. Mỗi người có một lối viết riêng không ai giống ai. Em phải vận dụng giác quan, tâm và trí để nghe, nhìn, ghi nhớ và cảm nghiệm sâu sắc một vấn đề thật chín chắn rồi chuyển tải ý ra trang giấy. Nghe thì dễ, nhưng làm được là cả một vấn đề.

Ngọc cười đắc ý, khoe :

- Chuyện ấy em thấy cũng chẳng có gì là khó, em nhất định làm được mà anh.

- Anh thấy em thừa sức làm. Em cứ viết. Khi viết phải thật với lòng mình. Ðược như thế, bài viết dễ dàng đi vào tâm tư người đọc. Không phải em ngồi vào bàn trước tập giấy, trước computer mà em viết dễ dàng đâu. Có lúc ngồi suốt không viết ra được một câu. Nguồn hứng đến bất chợt không báo trước như tên trộm, em phải chộp nó ngay, nếu không nó biến mất khó còn cơ hội.

Sau khi nghe tôi giải thích lăng nhăng cái gọi là " kỹ thuật viết lách" không đầu, không đuôi, không theo trường lớp mô phạm nào, vậy mà Ngọc tỏ ra hứng thú rồi bắt đầu cuộc hành trình chữ nghĩa. Hai tuần lễ sau Ngọc chuyển cho tôi một xấp giấy dày cộm đầy chi chít chữ với lời căn dặn thật ngọt :

- Anh à, em viết được rồi đó. Anh chịu khó "lắp ráp, sửa chữa" lại cho em. Ðiều cần nói là cấm anh cười. Phải như thế. Anh mà cười là em giải nghệ liền liền cho mà xem. Xem được, email báo nào đó để xin trình làng đứa con đầu lòng. Ngọc trở giọng... thầy của em, thầy giúp em, em sẽ yêu thầy nhiều hơn..

Tôi cười, phác tay :

- Không được. Học trò mà...yêu thầy là...mang tội chết, thiên hạ cười quê lắm.

Thế là tôi hân hoan nhận lãnh nhiệm vụ ??ăn cơm nhà vác ngà voi ?? tốn khá nhiều thì giờ cho nàng của tôi. Tôi cố gắng từng đêm chắt chiu làm công việc "tỉa cành, ngắt ngọn" thật công phu. Thật tình mà nói, viết thì dễ, nhưng sữa là chuyện không mấy dễ dàng. Còn Ngọc bỏ nhiều thì giờ mỗi ngày hăng say kỹ thuật "vò đầu, bóp trán", chừng năm bảy tháng sau gì đó, thơ văn của Ngọc cũng lai rai có mặt trên vài tờ báo dưới đất cũng như trên trời.

Ngọc tiếp tục ??hành hạ?? tôi :

- Anh là chuyên viên điện toán, anh phải hướng dẫn em thêm computer ở những phần khó hơn để em có thể chu du khắp mọi miền trái đất, tóm bắt thiên hạ trong tầm tay mình. Ðồng thời em còn có thể làm được những gì em thích trên computer có sẳn.

Tôi luôn chiều người yêu cho nàng vừa ý. Ngọc thủ thỉ bên tai tôi :

- Em càng học càng cảm thấy ngu ghê đi. Dốt là phải học. Em còn phải học các lớp Anh văn chuyên ngành, chứ khả năng tiếng Anh căn bản của em giờ không làm được gì khi phải đối diện với những bộ môn văn học nghệ thuật, khoa học, chính trị, kinh tế...mà em thích. Ðược chứ anh ?

- Ðược lắm chứ ! chẳng có gì là khó. Anh khuyến khích em.

Tôi thích nhất ở Ngọc khi nói chuyện, hoặc thảo luận một vấn đề gì. Nàng thích đặt vấn đề, phân tích, lý luận sâu sắc sự việc. Ngọc có những ý kiến hay, hợp lý để giải quyết công việc, phương cách hành xử. Tôi rất hài lòng đã gặp được đối thủ. Chúng tôi không từ một vấn đề gì, dù lớn, dù nhỏ xảy ra chung quanh mình, khắp nơi, và ngay cả cuộc sống cá nhân. Gặp nhau chúng tôi thường có chuyện để nói do Ngọc hoặc tôi mở đầu. Khi vào vấn đề là say sưa đấu lý, đến khi tìm được đồng nhất mới thôi.

Nàng bảo :

- Thảo luận với nhau một vấn đề gì là nhu cầu bổ sung kiến thức, như con người cần khí trời để thở. Em muốn lồng ngực của em căng phồng đầy không khí, đồng thời cũng là cách tập ăn tập nói.

Ngọc lại kể lể :

Ngày trước sống trong gia đình với chồng, em thật là chán. Em là người thích nói, thích thảo luận, ưa lý sự. Còn anh ấy không bao giờ nói hoặc bàn thảo một vấn đề gì. Suốt đêm ngày ngậm tăm. Chán ghê đi. Anh ấy và em đối nghịch nhau. Ði làm về hoặc những lúc ở nhà cứ lầm lỳ, có nói thì chỉ nói những gì cần, ngắn, gọn. Hình như anh ấy cần nghe hơn cần nói. Nhiều lúc không hiểu anh ấy nghĩ gì, thích gì, muốn gì. Không khí gia đình tẻ nhạt, mỗi người là một thế giới riêng, suy nghĩ riêng không đồng cảm. Anh biết không, mỗi lần em ra ngoài là có dịp nói thoải mái, cuộc sống rất vui, rất nhộn, thích thế nào đãy !



Tôi vừa tắt máy xe đã thấy Ngọc từ trong cửa ùa ra. Nàng nhìn tôi trong ánh mắt mừng vui với nụ cười tươi tắn. Ngọc duyên dáng trong nét đẹp thầm kín của người phụ nữ Á Ðông đang độ tuổi hồi xuân đang cuốn hút tôi. Ánh mắt, nụ cười đó luôn thôi thúc và thách thức khối tình cảm trong tôi. Bây giờ là điểm tựa cuộc đời để tôi yêu và thích Ngọc khó có thể xa rời dầu biết rằng chồng con của nàng rồi cũng sẽ sang định cư.

Ngọc chạy vội đến mở cửa xe, chui vào ôm chầm bé Thư vào lòng nựng nịu, hôn lên má, lên trán cháu, khiến con bé ngộp thở đến dẫy dụa.

- Này, dì Ngọc hỏi, bé Thư nhớ dì Ngọc không nào ? Dì Ngọc nhớ bé Thư quá trời ! Con ở với dì nhé, đừng ở với Ba.

Ngọc xốc bé Thư vào lòng bế ra khỏi xe, nhắc lại ngọt ngào :

- Dì Ngọc nhớ bé Thư nè, thương bé Thư nhiều lắm !

Bé Thư ôm choàng qua cổ Ngọc nũng nịu, hỏi cắc cớ :

- Dì Ngọc thương bé Thư lắm hả ? Vậy dì thương bé Thư dì để ở đâu hả dì Ngọc ?

- Dì để trong tim dì đây này, bé chịu không ?

- Không phải đâu, dì phải để trên đầu mà.

- Ai lại để trên đầu, không được đâu.

- Ba bé Thư bảo hễ thương ai thì phải để trên đầu.

Bé Thư vừa nói vừa chỉ chỉ vào cái đầu của nó. Ngọc cười ngoặt ngoẹo nhìn bé Thư rồi quay nhìn tôi :

- Anh dạy con là để trên đầu phải không ?

Tôi giải thích :

- Bé Thư, ba nói con nhớ. Con thương dì Ngọc thì con để trên đầu, còn dì Ngọc thương con thì dì để trong tim của dì.

- à há !...bé Thư hiểu rồi.

Con bé lại hỏi gặn tôi :

- Ba à, dì Ngọc thương ba thì dì để ở đâu hả ba ?

Tôi đáp nhanh :

- Dì Ngọc để trong tim của dì con ạ !

- Sao lạ vậy hè ! Bé Thư thắc mắc.

- Thôi , con đừng hỏi lẩn thẩn nữa.

Ngọc lườm tôi, bế bé Thư đi nhanh vào nhà :

- Vô nhà dì Ngọc lấy đồ chơi cho bé Thư nhé ! Ðừng thèm chơi với ba nữa. Ba không thương bé Thư đâu. Dì Ngọc thương con. Bé Thư ở với dì Ngọc, dì mua cho con nhiều đồ chơi, chịu hôn ? Ba không có đồ chơi cho bé Thư đâu.

- Bé Thư ở với dì Ngọc, bé Thư nhớ ba lắm. Hay là dì Ngọc về ở với ba đi.

Nghe bé Thư nói, tôi gặn hỏi :

- Em nghe con bé nó nói gì không ? Bé Thư bảo em, em nghĩ sao ?

Ngọc không trả lời câu hỏi, nét mặt thoáng buồn. Ngọc xếp đồ chơi ra trước mặt bé Thư. Con bé thấy đồ chơi nhiều, nó vui mừng, cầm nắm mân mê ngắm từng món đồ chơi mới lạ. Tôi đứng nhìn đứa con bảy tuổi, thơ ngây, mồ côi mẹ đang ở cạnh Ngọc, người đàn bà tôi yêu có thể là người mẹ của con tôi không ?

Bé Thư say sưa các món đồ chơi mới lạ tíu tít hỏi Ngọc cách sử dụng. Ngọc nhẫn nại chỉ dẫn thỉnh thoảng cả hai cười đùa thật hồn nhiên. Lòng tôi tràn ngập niềm vui, ước mơ có được mái ấm gia đình mà tôi đã mất mát trong bao nhiêu năm qua. Ngọc rất đáng được thay thế và lấp đầy vào khoảng trống ấy. Nhưng nỗi ước mơ có thành không ?

Nhà cửa vật dụng luôn sạch sẽ, ngăn nắp dưới đôi tay khéo léo của Ngọc tôi rất ưng ý. Ngôi nhà này đối với tôi rất quen thuộc từ khi hai đứa yêu nhau. Trên bàn ăn hôm nay có thêm bình hoa hồng màu đỏ sẩm tươi mát, một chai sâm banh, hai cái ly. Thức ăn Ngọc như đã làm sẳn đâu đó chỉ chờ mang lên. Tôi hỏi :

- Hôm nay có gì đặc biệt mà em thết đãi anh trang trọng thế ?

Nghe tôi hỏi, Ngọc bỏ dở trò chơi với bé Thư, đứng dậy đến đứng đối diện dang hai tay choàng qua lưng tôi, cử chỉ quen thuộc của chúng tôi mỗi lần gặp nhau. Ngọc xiết chặt tôi trong vòng tay yêu thương và ngẩng lên nhìn tôi trong đôi môi chờ đợi. Một nụ hôn say đắm kéo dài cho đến lúc cả hai rã rời ngất ngây.

Ngọc nói trong hơi thở dồn dập sau nụ hôn say đắm :

- Anh của em ! em yêu anh nhiều lắm ! em nhớ anh quay quắt, em ngơ ngẩn những lúc vắng anh, mặc dù mới gặp nhau hôm qua, anh có biết không ? Em không muốn mất anh, anh của em. Anh có hiểu em nói không ? Em không muốn mất anh...dù có trở ngại nào chăng nữa cũng vượt qua anh nhé.

Tôi trấn an đồng thời khuyến khích Ngọc :

- Ngọc à, anh hiểu em. Chúng mình vẫn luôn bên nhau, vẫn yêu nhau, vẫn gặp nhau mỗi ngày. Anh có bao giờ muốn mất em. Em dứt khoát thu xếp, dọn về ở với anh và bé Thư. Ngay hôm nay, ngày mai, ngày mốt...nhen em...đừng kéo dài thời gian nữa.

Hai tay Ngọc vẫn ôm choàng qua lưng tôi, ngã người ra phía sau nhìn tôi. Nét mặt không được vui :

- Có lẽ...chưa thể được anh ạ, mà em chưa biết tính thế nào và cũng chưa biết phải làm sao đây ? Thôi, thủng thẳng rồi hẳn hay.

Nghe Ngọc nói, tôi ngạc nhiên :

- Anh không hiểu em muốn nói gì. Chịu thôi. Em không thể nói được điều gì mà em chưa thể nói cho anh nghe sao ?

Ngọc buông tôi ra, cười giòn giã :

- Thôị..không nói nữa, để chuyện ấy qua một bên. Bây giờ anh giúp em mở chai rượu chúng mình uống cho vui anh nhé. Dường như hôm nay em cảm thấy thích uống rượu với anh. Anh có thích không ?

- Anh sẽ uống với em.

Tôi cầm chai rượu để khui. Tôi đang có suy nghĩ Ngọc đang có điều gì không bình thường. Mong đừng có điều gì không hay xảy đến tình yêu của tôi và Ngọc. Tôi rót hai ly rượu và đưa Ngọc một ly. Ngọc uống trọn một hơi, cười sặc sụa, nét mặt hồng hào. Nàng nhìn đăm đăm giục tôi :

- Sao anh không uống mà nhìn em khủng khiếp thế ?

- Thì anh uống. Em xem.

Tôi cũng uống một hơi hết ly rượu. Ngọc nhìn tôi tình tứ :

- Hôm nay anh ăn cơm với em, và hai đứa mình phải uống hết chai rượu này. Em không đãi anh món ngon vật lạ nào đâu, mà chỉ các món anh ưa thích hằng ngày. Anh phụ với em một chút mang thức ăn ra bàn. Chúng tôi ngồi vào bàn ăn. Ngọc đặt bé Thư ngồi cạnh nàng và chăm sóc thức ăn cho nó. Bé Thư trịnh trọng :

- Con mời ba ăn cơm. Con mời dì Ngọc ăn cơm.

Ngọc cười vừa ý :

- Anh dạy con lễ phép, em thích lắm.

- Chưa có gì, mai mốt anh sẽ cần đến em chỉ vẻ dạy dỗ con nhiều hơn.

- Anh giao cho em, tốt hơn anh để bé Thư ở với em có được không ?

- Tại con bé, không phải tại anh. Chỉ cần chúng ta sống chung một nhà là bé Thư ở bên em ngày lẫn đêm.

Tôi dặn bé Thư :

- Từ nay con nhớ gọi dì Ngọc là má, bé Thư nhớ lời ba dặn.

Bé Thư thỏ thẻ nói một hơi dài :

- Thưa ba con nhớ. Con gọi dì Ngọc là má. Con có ba, con có má. Ở trường bạn con đứa nào cũng có ba có má. Mỗi ngày ba nó không đến rước, thì má nó đến rước mấy đứa bạn của con.

Rồi con bé quay sang Ngọc nhắc chừng :

- Ba con bận không đến rước con, thì má đến truờng rước con nhen má.

Ngọc vui vẻ hứa :

- Ừ ! má sẽ đến trường ruớc bé Thư. Con cố gắng học giỏi, má thương con.

Nàng nhìn tôi, nói tiếp :

- Em không sinh bé Thư nhưng nó hết sức gần gũi với em như con ruột.

- Bây giờ nó là con của em, Ngọc ạ.

Bữa cơm đi qua thật vui, thoải mái, ấm cúng. Tối nay tôi và Ngọc uống khá nhiều rượu, mặt nàng ửng hồng, duyên dáng đáng yêu. Ngọc và tôi huyên thuyên nói chuyện cười đùa, còn thảo luận những vấn đề là thói quen của hai người khi ở bên nhau. Tôi gần như quên đi điều suy nghĩ trước bữa ăn cũng chỉ vì Ngọc đang rất hồn nhiên vô tư trong lúc ăn uống trò chuyện. Ngọc dọn dẹp lặt vặt vài công việc rồi đưa bé Thư vào phòng cho nó ngủ. Ðêm đã gần khuya, vắng lặng. Trong ngôi nhà nhỏ ấm cúng của Ngọc tôi cảm thấy lòng thơ thới an lành. Công việc xong, Ngọc trở lại bàn với hai tách cà phê nóng. Nàng bảo :

- Anh uống cà phê với em nhé. Hôm nay anh phải ở lại đây suốt đêm với em. Em có việc cần muốn bàn với anh.

Tôi hỏi dồn :

- Lại chuyện cần. Có lẽ em dự tính chuyện chúng mình sống chung một nhà như anh đã thường nhắc nhở với em ?

Ngọc không trả lời câu hỏi của tôi, nàng lại hỏi :

- Anh yêu em nhiều không ? yêu em mãi chứ ?

- Lúc nào em cũng hỏi như thế để làm gì ?

- Nếu có gì phức tạp thì anh có đủ can đảm nhận sự thiệt thòi về mình không ? Em hỏi thật đãy.

Tôi trố mắt nhìn Ngọc, trước câu hỏi nàng vừa hỏi tôi. Nhìn nét mặt của Ngọc lộ vẻ chán chường, tôi nói hối hả với sự bực dọc :

- Em nói vậy có nghĩa là gì ? Lần đầu tiên, anh nghe em nói. Anh tin tưởng không có gì phức tạp. Qua gần ba năm chúng mình ở bên nhau anh nhận thấy không có gì là phức tạp như em vừa hỏi.

Giọng Ngọc trầm xuống thật xót xa :

- Có chứ ! anh ạ. Nhưng anh à, từ lâụ..em dấu anh, cũng vì em yêu anh, yêu say đắm, không muốn mất anh, không muốn tạo những bóng mờ trong tình yêu của chúng mình khi anh đã đặt trọn vẹn niềm tin vào em, vì tình yêu của chúng ta thật đẹp khó ai bì được. Anh của em, anh đừng giận em. Lỗi do em cả.

Tôi bàng hoàng hụt hẫng khi nghe Ngọc nói. Tôi cảm thấy như đang rơi vào một khoảng trống không để có thể sắp mất những gì mình đang có. Tôi lấy lại bình tĩnh :

- Ngọc ! điều gì em cứ nói. Anh đủ sức chịu đựng để nghe em nói. Em nói đi.

Ngọc thở mạnh nói nhanh :

- Anh ạ ! Từ lâu em vẫn dấu kín anh. Chồng và hai đứa con của em sắp qua rồi.

Tôi cố cười gượng mà cổ họng như uất nghẹn :

- Anh cứ ngỡ...ờ ! ờ ! là chuyện gì...quan trọng !! Chồng con em qua là vui cửa vui nhà. Anh chúc mừng em...được sum họp một nhà...

Ngọc ngắt lời :

- Anh Thế, sao anh cứ nói được là nói. Em cấm anh không được nói với em như vậy. Anh biết không, anh thường khuyên em về ở chung với anh, em lần lữa chần chờ chưa biết tính sao. Chồng em, anh Tạo ở tù về, lập hồ sơ H.O. xin tái định cư tại Hoa kỳ cùng với hai đứa con. Anh ấy hỏi ý kiến em và bảo phải lo cho anh ấy, đồng thời làm sponsor cho anh ấy về Florida. Ðối với em, em không thể nào từ chối lời yêu cầu của Tạo, cũng chỉ vì em bị kẹt hai đứa con của em, nên em đành chấp nhận để hai đứa con qua với em. Tất cả công việc em đều dấu kín anh từ trước đến giờ. Anh Thế, anh hiểu cho em. Vì vậy, em phải lo, phải chu cấp mọi thứ cho anh ấy hoàn tất chuyến đi. Nói đúng ra, vì hai đứa con, nên phải lo như thế. Trong lúc đó, em yêu anh, yêu chết người, mất anh em mất tất cả. Chỉ có anh, mới đem hạnh phúc cho em. Từ lúc lập gia đình, ngoài Tạo, người chồng không tình yêu dành cho em, em chưa hề yêu một người đàn ông thứ hai, nhưng bây giờ yêu anh, yêu tha thiết, yêu không thể rời xa, có lẽ duyên nợ tiền kiếp phải trả kiếp này vào cuối đời. Em tin như vậy, anh có tin không ?

Tôi cảm thấy choáng váng đầu óc không còn nghe thêm được gì nữa. Tôi hy vọng những lời Ngọc nói với tôi không phải là sự thật. Ngọc đang nói đùa với tôi chăng ? Tình huống này, nếu đúng, tôi có thể xa Ngọc và mất nàng. Trước đây khi nghe vấn đề chồng con của Ngọc trước sau gì cũng sang định cư tại Hoa Kỳ, nhưng tôi vẫn đinh ninh rằng họ sẽ đến định cư ở một tiểu bang khác, chứ không về đây. Không lẽ cuộc tình của hai người sắp kết thúc ? Tôi có thể có những phản ứng nào khi sự việc phức tạp đang và sắp diễn ra trong một cuộc tình. Hạnh phúc. Ðau khổ ! Người ta bảo rằng tình đẹp nhất khi còn dang dở, nhưng với tôi ngay bây giờ nó không đẹp mà đau đớn vô cùng.

Tôi gượng cười trong niềm chua xót, lại lập lại điều đã nói :

- Anh vui mừng cho em sắp được đoàn tụ với gia đình chồng con. Anh thực sự chúc mừng em, Ngọc ạ ! Phần anh, như em biết, em chớ có gì phải bận tâm nơi anh. Có những cái mình phải hy sinh cho nhaụ..và anh....anh sẽ xin nhận sự thiệt thòị.! Em được trọn niềm vui là đủ cho anh vui rồi. Cứ như thế đi em.

Tôi cố gắng trong sự can đảm để nói được với Ngọc như thế, rồi nghĩ rằng tại sao tôi lại nói được những điều đó, mà khi nói ra rồi, cả tôi, cả Ngọc sẽ xót xa, sẽ đau khổ chua xót vô cùng.

Ngọc mím chặt môi, tái mặt, gằn từng tiếng :

- Anh Thế, em cấm anh...cấm anh không được nói nữa. Anh lại có thể nói được với em những lời cay đắng xót xa ấy sao ? Anh tự do muốn nói mà không nghĩ sẽ đau lòng, xúc phạm tự ái em sao ? Những điều anh nói ra có lẽ anh không còn nghĩ đến em. Anh Tạo và con em có qua là một việc, mà em yêu anh là một việc. Em không đánh đổi cái này để được cái khác. Anh phải hiểu cho em.

Ngọc lại khóc, khóc sướt mướt :

- Em không chơi với anh nữa đâu ! Em ghét anh ! Em ghét anh lắm ! Anh đi về đi. Anh tàn nhẫn dằn vật em trong khi em đang bực bội chuyện nhà. Anh đâu có thực sự yêu em.

Tôi cố gắng trong nổi chán chường đến ngộp thở :

- Anh xin lỗi em, Ngọc ạ ! Em đừng khóc. Vấn đề chúng ta phải giải quyết. Em nên bình tĩnh.

Ngọc vẫn khóc rấm rứt. Nàng đang khóc thật, khóc cho hoàn cảnh đang phải khó xử. Gần ba năm yêu nhau đã có bao nhiêu kỷ niệm, những thói quen, lề lối trong cuộc sống, niềm vui nổi buồn, những ưu tư suy nghĩ, được kết giao quen thuộc, gần gũi, gắn bó giữa hai con người như hình với bóng. Là người đàn ông, tôi có đủ can đảm và sức chịu đựng để nhận sự thiệt thòi. Ðối với Ngọc thì không dễ dàng như thế, tôi hiểu.

Tôi hỏi để xua tan bầu không khí nặng nề khó thở :

- Bao lâu nữa thì chồng con em mới qua ?

Ngọc ngẩng nhìn tôi đôi mắt đỏ hoe, gay gắt gằn từng tiếng :

- Chẳng có chồng, có con gì cả. Ðừng hỏi thế. Chỉ có ông Tạo và hai đứa con của em mà thôi. Ba hôm nữa họ sẽ qua, em phải ra phi trường đón họ. Hôm đó, anh phải đi với em.

- Anh cũng thích đi, nhưng ngại lắm, có thể sẽ gây sự hiểu lầm nào đó cho người mới đến. Ðáng tiếc.

Ngọc lại hỏi :

- Anh còn yêu em nữa không, anh Thế ?

Tôi khựng lại vài giây :

- Vẫn yêu em như ngày nào. Tuy nhiên, anh nghĩ rằng đã đến lúc tình yêu chúng ta không có diện mạo, không còn hình dáng, không mang bản sắc thiết thực. Nó mong manh như làn khói bốc cao rồi tan biến, như bọt nước giữa đại dương vỡ òa trong bao la. Một tình yêu không chân dung chỉ còn giá trị cưu mang để nâng niu ấp ủ qua những giây phút suy tư, tạo nét ảo ảnh cho tình cảm theo từng lúc nhìn ngắm để tưởng nhớ.

Ngọc sững sờ, nức nở :

- Anh có thể nói với em những điều anh suy nghĩ như thế sao ? Thật chua như dấm, đắng như bồ hòn ! Em không nghĩ như anh nói. Em vẫn yêu anh, yêu thiết thực, không bao giờ xa nhau, không bao giờ như anh nói là tình yêu không dáng sắc, không chân dung. Nếu em không có anh, em sẽ phải sống như thế nào ? Anh có tội nghiệp cho em khi phải thân tàn ma dại ?

Khi chưa nói ra được, tôi quyết định cần phải nói, và khi nói được rồi tôi cảm thấy đau lòng cho điều suy nghĩ mình nói ra. Thực trạng dằn vặt, nhưng tôi lại không thể đánh mất lý trí suy xét. Tôi cân nhắc vấn đề :

- Anh không chối bỏ tình yêu của anh đối với em, nhưng anh phải có một cư xử công bằng và cao thượng. Em phải hiểu cho anh. Anh đề nghị với em phải có sự thu xếp khôn ngoan hơn để bảo vệ sự yên vui và hạnh phúc gia đình khi anh ấy qua. Ðó là một quyết tâm đứng đắn mà cả anh và em phải làm.

Ngọc nói :

- Em đã thu xếp đâu vào đó. Khi Tạo qua đây, em lo công việc làm cho anh ta. Em giúp đở tiền bạc bước đầu cho Tạo. Ngôi nhà này em giao cho Tạo và hai đứa con của em, để sau đó, em về ở với anh, vì em không thể sống thiếu anh. Anh Thế, anh chấp nhận sự thu xếp của em. Với anh là tình, với Tạo là nghĩa, đôi bên em giải quyết cân bằng và hợp lý. Anh nhớ rằng, em phải có sự tự do lựa chọn cuộc sống cho riêng em. Gần hai mươi lăm năm em xa Tạo, coi như không còn gì nữa. Anh có biết không ? Anh phải trả lời cho em bằng cách nào để em vui và tình yêu của anh và em vẫn không mất.

Tôi không có quyền ngăn trở, mà tôi phải khuyên nhũ, khuyến khích Ngọc. Sự quyết định của Ngọc thể hiện một tình yêu chung thủy với tôi. Tôi không thể tự dối lòng mà cảm thấy rất đồng tình khi nghe sự dàn xếp của Ngọc. Nhưng tôi có được an vui trong cuộc sống hạnh phúc bên Ngọc không ? Tôi nghĩ đến những chỉ trích, phê phán, những búa rìu của dư luận, của người đời, sự đau khổ cùng cực của Tạo, tình mẫu tử của hai đứa con của Ngọc và nàng. Tôi không thể phó thác lương tâm mình trong đay nghiến ray rứt để lòng tôi không ổn, tâm không yên, cuộc sống chỉ là chuỗi thời gian tràn ngập mặc cảm tội lỗi. Tôi đang dằn co giữa lý trí và con tim.

Tôi khuyên giải Ngọc, tìm sự trì hoản :

- Dự tính của em có vội vàng đãy Ngọc ạ ! Lúc này, em chưa thể tính như vậy được. Anh khuyên em làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ sau khi đón chồng con về trong ngôi nhà này. Anh xác nhận với em, anh vẫn yêu em như ngày nào với tình yêu chung thủy và cao thượng. Anh tin chắc rằng một thời gian nào đó qua đi, sẽ tạo cho em một an bình trong tâm hồn, một sự yêu đời trong cuộc sống bên chồng con. Ðối với bé Thư, em không bao giờ mất nó. Nó là con của em....

Tôi ngừng nói, lòng nghẹn ngào như muốn khóc khi phải nói như thế với người mình hết dạ yêu thương. Tôi cố gắng dằn lòng, tiếp tục :

- Có thể bé Thư là con nuôi, nếu em muốn. Anh vẫn ở bên cạnh em khi em cần sự giúp đở. Chúng mình có yêu nhau nhưng không bao giờ được sống chung nhau. Lòng chúng ta vẫn hướng về bên nhau suốt cuộc đời. Nếu em yêu anh, phải chìu theo ý anh một tí nhé, nghe lời anh. Mình chớ bao giờ làm điều gì phải bi lụy đến người khác. Gìn giữ hạnh phúc cho người khác có nghĩa là mình đã sống trong hạnh phúc đó em.

Ngày tháng đi qua, Ngọc chìu theo ý tôi bằng quyết tâm nhẫn nại chịu đựng để thực sự đi vào cuộc sống bên chồng con, và bây giờ đã tìm lại được sự yên vui trong mái ấm gia đình mà trước kia đã đánh mất. Thỉnh thoảng Ngọc thường ghé đến với tôi để tâm sự, để được nói chuyện, thảo luận những vấn đề này nọ và nhất là để cùng chia xẻ niềm vui trong đam mê văn chương chữ nghĩa mà nàng đã quyết định tiếp nối con đường đi. Ngọc đã dành rất nhiều thì giờ để đọc và viết để như cố quên thời gian đi qua. Chính đó là niềm vui để Ngọc dễ dàng vượt qua trong ngày tháng sống bên Tạo. Tôi vẫn yêu Ngọc bằng cuộc tình trong sáng, nhẹ nhàng, thánh thiện, không lợi dụng, không gây nhiễu loạn lương tâm. Ngọc luôn xác nhận tình yêu của chúng tôi đã có được từ tiền kiếp và trói buộc đến đời này, kiếp này để phải nợ, để phải có trách nhiệm hoàn trả vào cuối cuộc đời mỗi người trong oái oăm duyên kiếp, bằng những tấu khúc chào mời, bằng những cho nhau hương tình sung mãn, ươm lầu Mộng Hoa cho tình được rạng ngời. Nếu phải trắc trở, ngăn cách thì nguyện ước chờ nhau... chờ nhau mãi nghìn năm sau. Kiên nhẫn chờ đợi đến những nghìn năm sau cho duyên lại thắm, tình lại nồng trong sự chúc phúc của Ðất Trời bền vững đến tóc bạc răng long :

Hương xưa tình đã trao tình,
Oái oăm duyên kiếp chúng mình gặp nhau.
Anh đan tâm sự tuổi sầu,
Ngấm sâu ánh mắt ươm lầu Mộng Hoa.
Gót hài duyên dáng mượt mà,
Phút giây sung mãn tình ta rạng ngờị.!
Hồng trần trong nửa cuối đời,
Uy nghi tấu khúc chào mời gọi nhau...
Chờ nhau nhé..! mãi nghìn saụ..!!
Hoàng thiên chúc Phúc bạc đầu lứa đôị..!

http:maylangdu-vnfl.blogspot.com

Nguyễn Thế Hoàng




Mục Lục


9. Ðọc "Ráng Chịu" Của Trạch Gầm

Ðinh Lâm Thanh




Ðối với Trạch Gầm, chỉ có hai cái đáng quý và đáng nhớ trong đời anh : Bạn và Rượu. Hai lãnh vực nầy tuy xa nhưng mà gần, vì uống rượu thì phải có bạn mà gặp bạn thì cần phải có rượu ! Rượu và Bạn được Trạch Gầm trang trọng nhận làm hành trang kể từ lúc anh bước chân vào quân trường Thủ Ðức, rồi theo chân anh trên khắp các nẽo đường đất nước. Và cho đến ngày nay, đối với anh, vẫn còn là một cái gì trang trọng và đáng quý nhất đời. Ðọc ?Vụn Vặt? những người yêu thơ Trạch Gầm sẽ cảm thông được thế nào là ?tình huynh đệ? của những ai đã một thời chiến đấu bên nhau, cũng như để tưởng nhớ những chiến hữu đã an nghỉ trong lòng đất hay đang còn lây lất dưới chế độ cộng sản ?Vụn Vặt? là những kỷ niệm tình người, được Trạch Gầm dệt thành thơ với lối gieo vần ân tình và giản dị.

Trạch Gầm dùng chữ ?Vụn Vặt? làm tựa đề cho tập thơ đầu tay, có lẽ do bản tính khiêm tốn của anh, nhưng tôi cho đó những giòng thơ lớn và chân tình phát xuất từ con tim?vì nó bộc lộ tấm lòng bao la của anh đối với tình yêu quê hương, với bạn bè đồng đội, và cũng trong đó, chính là nỗi uất ức của một người lính đã tức tưởi bỏ súng giữa đường?

Hơn một năm sau anh cho xuất bản tập thơ thứ hai. Lần nầy Trạch Gầm mượn hai chữ ?Ráng Chịủ để làm đề tài cho 85 bài thơ và 8 bản nhạc do Quang Lăng, Nguyễn Hữu Tân, Hoa Sông Kiên, Quốc Anh và Yên Ly phổ nhạc. Ðặc biệt trong tập thơ nầy, nhiều bài anh viết từ năm 1966 (Tuổi Trẻ Bây Giờ Là Quê Hương), 1970 (Không Ðề - Nói Với Người Tình Tuổi Dưới 20 ? Viết Từ Lai Khê)?không ngoài mục đích ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu thầm kín của tuổi thanh xuân đồng thời nói lên cái thân phận con người trước và sau một cuộc chiến tương tàn.

Ta có một ngàỷmột ngày ngồi khóc
Ta có một ngày gãy đổ ước mơ
Mười năm lính tưởng đâu là sỏi đá
Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa
? ?
Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận
Nhận lịnh đầu hàng?rời rã tai ương
Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác
Thân xác không hồn?điếng ngắt cô đơn
? ?
Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ
Mất hết cả rồỉmất dễ như chơi
Lịch sử sang trang?sang trang lịch sử
Mất cả vinh quang, mất cả ngậm ngùi

Mỗi lần nhắc đến quá khứ anh đều đề cập đến rượu và những người bạn đã một thời cùng chia sẻ sống chết với nhau. Nhưng những ai quen biết đều thấy tội nghiệp cho Trạch Gầm : Rượu lúc nào vẫn còn đó nhưng anh chỉ được phép ngồi nhìn mà thôi :

Xin lỗi mầy, ừ tao xin lỗi
Một giọt bây giờ tao uống không vô
Cái gan tao đã thành gan phá lấu
Mầy không tin, cứ nhậủngon ơ !

Bốn câu thơ trên trong bài ?Ngồi Nhìn Bạn Bè Uống Rượủ mà Trạch Gầm đã đọc cho tôi nghe lúc anh vừa viết xong, trong một đêm, khi hai đứa nằm dài giữa salon tại nhà ở Anahem. Nghe đọc, tôi không can đảm nhìn vào mắt anh, dù dưới ánh đèn đỏ trên bàn thờ Cụ Bà thân mẫu của anh, tôi vẫn thấy những giọt nước mắt cứ theo lời thơ tuông xuống. Tôi rùng mình và lòng bỗng dưng chùng lại. Những hình ảnh chia sẻ ?ngụm rượu tình nghĩả với đồng đội trong những lúc ngồi chờ giặc dưới giao thông hào đang hiện về trước mắt và làm tôi bật khóc?

Ngày xưa, mầy tới đâu, tao tới đó,
Nhắc lại à?mà nhắc lại làm chi
Mình rượt giặc, giặc rượt mình?tung tóe
Khi quay về lại chan chát?cụng ly

Ly mầy, ly tao, ly cho thằng chết
Thằng chết rồi mình uống thế được sao
Lính bọn mình toàn những tay hào kiệt
Xô lệch trời đất, xô lệch thương đau

Làm quan, nghèo, mình chơi bằng rượu đế
Lại cợt đùa uống nước mắt Quê Hương
Nước mắt Quê Hương, uống sao cho hết
Ngập núi, ngập rừng ngập cả gió sương

Ðã chết rồi giờ tao lại muốn sống
Sống để nhìn chung cuộc một trò chơi
Mầy còn sức cứ mình ênh ngồi uống
Ly cuối, dành chỏthân phận ngậm ngùi.

Xong bài thơ, cả hai đều qua một đêm thức trắng trong tố ấm gà trống nuôi con. Chúng tôi không nói gì thêm, yên lặng và buồn cho vận nước, cho số phận con người cũng như cuộc đời nổi trôi của những kẻ tha phương không có ngày về. Rồi những lần gặp gỡ tiếp theo, anh không được phép uống nhưng ngồi nhìn bạn bè nâng ly, có thể cảnh nầy giúp anh sống lại một thời sống chết với bạn bè đồng đội :

Uống đi mầy cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say, còn nghĩ đến anh em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Ðổi mạng mình?để lấy sự bình yên
? ?
Mầy nhắc trước hay là tao kể trước
Mỗi dấu giày mình khép một mùa xuân
Bù Ðăng, Phó Bình, Suối Ngô, Xóm Ðược
Mười ngón tay, cứ mất từng thằng

Rồi giữa đường gãy cánh, bạn bè thất lạc nhau, kẻ vô tù người ra đỉ

Súng trên tay bỏ xuống
Rõ ngu hơn người ngu
Rồi ôm nhau khóc lóc
Còn rủ nhau vô tù?

Hai chữ ?Ráng Chịủ, có lẽ anh dùng để tự an ủi cái thân phận thiệt thòi của tuổi trẻ trước vận nước đảo điên, trước cuộc chiến khốc liệt hay để vỗ về những người bạn đã nằm xuống, chết gục trong tù, chìm sâu dưới biển hay dở sống dở chết nơi đất khách quê ngườỉrồi hôm nay được gì hay chỉ còn lại những niềm đau bất tận :

Với Quê Hương, ta một đời ráng chịu
Người thương ta rồỉcũng ráng chịu theo
Lỡ yêu tính năm vài tuần?níu kéo
Chụp giựt không bằng mà vẫn cứ yêu
??
Ta vào lính, bài học đầu ráng chịu
Cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng?đổi đuợc vài ba phút
Chiến trường đau, ngập lút, lút cả đầu
??
Cứ ráng chịu. Tin có ngày mai đẹp
Bỏ nụ cười người vào túi rong chơi
Ta xin cả những gì người thua thiệt
?đốt từng trang. Thắp sáng lại cuộc đời

Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầỷcòn ráng chịu nổi không
? ?

Và ?Ráng Chịủ cũng có thể là một nuối tiếc những gì mà con tim thời loạn hằng ước mơ nhưng phải buộc lòng giã vờ làm kẻ ngây-thơ-vô-tình để chấp nhận khoác lên vai món nợ núi sông ! Rồi quả đất tròn, ước mơ trở về nhưng cuộc đời đã rẽ làm đôi, đầu tóc đổi màủthôi thì đành ?ráng chịủ !

Hồi mới quen
Em bảo ta đừng bao giờ xin lỗi
Cắm đầu yêu thì làm gì nên tộỉ
Một trăm năm có rảnh phút nào đâu

Ta hẹn lung tung, hẹn lần hẹn lữa
Ðời ta xuôi ta có lắm bạn bè
Những thằng bạn chia cả trời khói lửa
Chân đạp mòn cả vạn sơn khể

Có lẽ vì thế mà anh đã vuột mất tình yêủCho đến một ngày :

Ðêm ngồi nghe em hát
Rối bời sương Cali
Tóc thời gian bạc trắng
Em mang buồn?giấu đi
? ?
Cứ hờn anh em nhé
Bằng gợi nhớ đau thương
Anh xa rời cuộc chiến
Nhửmột chuyện hoang đường

Rồi Trạch Gầm đành phải thú nhận :

Anh kể em nghe tháng ngày phiêu bạt
Ðốt đuốc quạnh hiu, tìm kiếm mỏi mòn
Phân nửa mặn nồng lạc từ ký ức
Tặng cho cuộc đờỉvượt suối trèo non

Cuộc sống nơi quê người và nguồn yêu thương duy nhất của anh, bây giờ chính là :

Sáng vào trường?
Con ăn hamburger, hot dog
Chiều về nhà?
Con ăn rau luộc chấm tương
Ngồi cùng cha, con ngồi tận Quê Hương
Việt Nam mình?
Một ngày bỏ đi, một đời thương nhớ
Ðất Mỹ tư do, cửa đời rộng mở
Con muốn hụt hơỉ
Chạy tìm kiếm tương lai
Con đủ khôn ngoan, ôm trọn tháng ngày
Như lòng con?
Vẽ vời trăm điều mơ ước

Rau luộc chấm tương
Cha mong con còn nhớ được
Con có một đoạn đờỉ
Rất nghiệt ngã, rất đau thương
Ðầu óc chết khô
Lúc con đứng giữa thiên đường
Cái thiên đường tối thui của bọn người cộng sản

Con đủ kiến thức chưa,
Hãy soi gương thân phận
Ðổi được màu da không đổi được tâm hồn
Cũng thời gian nầy, con cười
Nhưng tại Quê Hương,
Việt Nam mình, bằng tuổi con?
Có triệu người đang khóc

Cha không giải bày, nhưng con hiểu được
Ai bạn, ai thù, ai mở cửa lầm than
Tại sao cha con mình?
Thành những kẻ lưu vong

Xếp tập thơ lại vì cảm thấy đôi mắt hơi cay. Trước mắt tôi, Trạch Gầm với cái điếu cày mà giờ đây anh xem như bình rượu để an ủi trong những ngày còn lại. Ðặt ?Ráng Chịủ lên ngực và cố dỗ giấc ngủ nhưng những lời thơ của anh vẫn ám ảnh tôi như muôn ngàn tiếng thở dài của người lính bị buộc phải buông súng giữa đường một cách nhục nhã.

Paris, 14.01.2010


Ðinh Lâm Thanh




Mục Lục


10. Chút Nhớ Ðời Tù

Thủy Lan Vy




*
- Viết để nhớ những tháng ngày trong lao tù CS, gửi các anh em trong đội chăn nuôi và đội rau trại Hà Tây


Cô em gái đọc mấy bài ký của tôi viết nhớ lại những ngày tháng sống trong lao tù Cộng sản, đã không dẳn được nhiều thắc mắc nên gọi phone nói chuyện với tôi thật lâu, đại để cô bé hỏi tôi tại sao viết chuyện lao tù mà người đọc thấy cảnh sống thoải mái quá vậy, hay là huynh muốn đề cao chế độ lao tù của Cộng Sản....!?

. Ðừng vội đội nón cối cho huynh muội ạ! Một câu nói đã có không biết từ bao đời :"Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại " thì có người tù nào được sống cảnh sung sướng đâu, nhất là ở tù Cộng Sản. Bạn bè của tôi vượt thoát qua Mỹ ngay sau ngày trời sập, nói chung những người không bị Cộng sản giam cầm khi đọc những bài văn tôi viết đều đã có nhận xét giống như nhau, ở tù Cộng Sản sao mà ?vui thế!!

Ngày 30 tháng tư đã đến với người miền Nam như một cơn đại hồng thủy,Biết bao thảm cảnh đã xãy ra, nhà nào không có người đi cải tạo, nhà đó không là Cộng Sản nằm vùng thì ? cũng là gia đình ?không giống ai.

Trong Cung Óan Ngâm Khúc có hai câu mà tôi càng đọc càng thấy thấm thía trong những tháng ngày sống trong lao tù Cộng Sản:

? Giết nhau chẳng phải Lưu Cầu

? Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa

Trong cảnh tù ngòai tâm lòng buồn đau thương nhớ, người tù cải tạo còn bị hành hạ về tâm trí lẫn thể xác, biết bao nhiêu lần tự khai, bao nhiêu lần tự kể tội mình, nhiều người có cha tử trận phải đau đớn tủi nhục viết nên câụ?Bị cách mạng trừng trị? Ôi! Còn gì đau tủi cho bằng. hàng ngày phải lao động khổ saỉ Tôi nhớ tới những bài học lịch sử khi còn ngồi dưới mái nhà trường?. Quân Tàu tàn ác bắt dân ta lên rừng tìm ngà voi, xuống bể mò ngọc trai, hay thực dân Pháp tàn ác giết hại dân lành vô tộỉTôi cười trong nỗi đau đớn thấm thía, Tàu và Tây là người ngọai quốc, tụi nó có chung huyết thống với mình đâu mà bảo chúng phải thương dân mình, Cộng sản, hay giặc Bắc phương, cùng chung một huyết thống mà họ lại có trái tim, suy nghĩ khác hẵn người miền Nam, có thể gọi họ là bọn người dã man, man rợ, thú đội lớp ngườỉ đều đúng cả.

Có vào sống trong địa ngục trần gian mà tặc quyền Cộng Sản gọi bằng cái ngụy danh Trại cải tạo, mới thấy được nỗi lòng của những người tù không bản án, không được xét xử, không được tự biện hộ cho mình?đếm tháng ngày trong tù trôi qua bằng những ngày lao động khổ sai, làm hơn trâu mà bụng lúc nào cũng đóỉ

Tất cả những chuyện khổ nhục trong tù đều đã được anh em đồng cảnh viết lại dưới đủ mọi hình thức?Trong cảnh sống tội tù như vậy mà cứ ?ngồỉrù, gãi háng?? thì trước sau gì cũng phát uất mà chết?chỉ sớm ra an nghỉ nơi hàng dương( nghĩa trang tù) Nên trong cảnh khổ cần phải tìm thấy cái vui, phải xây niềm tin và hy vọng, được như vậy mới có đủ sức chịu đựng mà đếm ngày tháng trôi qua ? Có người mới vô tù một vài tháng đã ra người thiên cổ, Có người gỡ từ tờ lịch , gỡ hơn 17 cuốn mà khi giặc thả về vẫn sống bình yên cho tới ngày nay, điển hình như Thiếu tá Phan tấn Ngưu, trưởng F Tây Ninh, Nguyễn Ðức Thắng, Phủ đặc ủy Trung Ương Tình báo, Tướng Lê Minh Ðãỏcái tâm, cái chí của người sống trong tù Cộng sản một phần nào quyết định mạng sống của người tù? Trong cảnh khổ nào cũng có cái vui dù là? vui ra nước mắt.

Tôi vào tù năm 28 tuổi, ở cái tuổi tương đối đẹp nhất của đời người, rồi cũng thong thả lật từng tờ lịch, lật hơn 8 cuốn giặc mới thả về? Cho tới ngày hôm nay, sau gần 30 năm cảnh sống trong tù vẫn còn đến với tôi trong nhiều giấc mơ đầy kinh dị, tỉnh giấc mà trán và lưng còn đẫm mồ hôi, để rồi biết mình đang nằm cạnh vợ trong căn phòng ấm cúng? lòng thật sự biết mừng vui.

Cô em kết nghĩa rất ý họp tâm đồng,Cô bé tiểu muội thường thêm bớt một vài chữ trong bài viết làm cho câu văn sáng và rõ nghĩa hơn ra,tiểu muội thường bảo tôi kể lại cảnh sống trong tù cho cô nghẻ Thời gian nơi đất tạm dung nầy quá sít sao, nợ áo cơm, tuổi ngày càng chồng chất, thể xác đã quá mệt mỏi sau những biến động quá lớn lao trong đời người, trí nhớ một phần nào đã suy giãm, đó cũng là sự tự nhiên của đời sống con ngườỉ Tôi vẫn hứa hòai mà không có dịp kể? Bây giờ ngồi viết lại một khỏang thời gian ngắn tôi đã trải qua trong trại tù Hà Tây ( Trại nằm tại xã Mỹ Hương, trong phủ Quốc Oai, thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gần con sông Nhuệ?)

Trong trại Hà Tây có 3 đội tương đối được no đủ, đó là đội nhà bếp, đội xay xát và đội chăn nuôi, đội nhà bếp( khỏang 25 người) có no đủ thật nhưng ăn no trong sự bớt phần của bạn tù đói, đội xay xát( chỉ có 3 người): thường được bồi dưỡng bằng gạo hay tấm, đội chăn nuôi no đủ là nhờ sự tháo vát của người tù, chăn nuôi có 2 nhóm ( khỏang 20 người) Một nhóm nuôi heo, một nhóm nuôi cá, nhóm nuôi heo chỉ quẩn quanh bên chuồng heo, tóan cá trông coi 5 ao cá trại, phải kiếm rong, cắt cỏ hàng ngày cho cá ăn nên được đi thong thả trong trại để tìm cỏ, hết cỏ được đi ra ngòai làng dân , vào mùa đông nhiều hôm phải lên tới Thường Tín mới có rong, cỏ?Mùa hè nước cạn sửa lại bờ ao,trám lại những chỗ rò rỉ, dưới lòng ao là cát , trong lớp cát nầy có nhiều con trai , luôn vỏ mỗi con trên kí lô,ruột trai thường được nấu cháo ? món ăn rất ngon khó tìm trong tù?Trai ẩn mình dưới lớp cát mỏng rất dễ bắt Nhờ đi đây đó tìm cỏ, nhóm nuôi cá nầy được biết nhiều làng chung quanh trại như làng Phượng, làng Rùả Những ngôi làng mà thuở còn đi học đọc tiểu thuyết của Thanh Thủy hay của các tác giả ngòai Bắc, bây giờ mới được tận mắt nhìn thấy ..Chung quanh làng cũng lủy tre bao bọc, có ngỏ vào, có trạm canh, đường đi có nơi lát gạch tàu, tôi thấy thật quen, Ðất Hà Tây lại có nhiều di tích lịch sử,do khí hậu ở Hà Tây tương đối tốt nhất đất Bắc, lại cách Hà Nội chưa tới 30 km, nên khi quân Tàu sang đánh chiếm được Thăng Long thường trú quân ở hà tây, nhờ biết chút đỉnh chữ Hán, nên tôi biết được nhiều ngôi cổ mộ của một vài vị tướng thời xa xưa, nhiều cái giếng nước có từ xưă giếng thơi), cứ 2 tù dẩy một xe cải tiến, ra tới ruộng đồng thì anh em thương lượng chia ra một tù cắt cỏ, một tù đi bắt rắn, cá, ốc?/ Thu gom quần áo của anh em tù ra bán ngòai dân, mua trà, gạo, đường đem về bán lại cho anh em, trót lọt vài chuyến cũng bị bắt một chuyến, dù đã đút lót cán bộ an ninh trại cũng như võ trang, các vụ mua bán linh tinh bị bắt thì làm kiễm điểm, hàng bị tịch thu, móc nối với dân nhờ ra Hà nội bỏ thư sau khi thu gom chừng vài chục lá thư, chuyện nầy rất nguy hiễm, bị phát giác là bị biệt giam ngaỷDân ngòai đó nghèo, nên đồng tiền cũng rất dễ mua chuộc\. Tóm lại các cách kiếm sống của tù đội cá đều tự lực làm bằng công sức, nhiều khi bị trả giá cũng rất đắc, biệt giam,cấm nhận quà hàng quý, cấm thăm nuôỉ

Cuối năm 1981, đội chăn nuôi giải tán, bàn giao cho hình sự, anh em bị phân tán về nhiều đội khác nhau, tôi và gần 10 anh em khác bổ sung về đội 3 rau xanh do Anh Trung tá Nguyễn Hữu Hải, nguyên trường E vùng 2 làm đội trưởng?Anh Hải rất khéo léo trong đời sống thường ngày, cán bộ không bắt bẻ, anh em không phiền hà

?Tay cặp chiếc chiếu kèm theo một xách trĩu nặng, tay còn lại cũng một xách cồng kềnh, tôi đứng trước vị trí mà anh buồng trưởng đã chỉ định chỗ nằm, hai chiếc chiếu còn liền sát mí nhau, một anh đang ngồi tay cầm ống diếu cày, tôi biết tên, Anh Riệp khóa 10 Ðà lạt,cạnh chiếu của anh, dưới mắt tôi là một chú bé con đang say sưa ngủ, thế nằm cong như con tôm càng kho, mặt áp xuống chiếu, tôi đo thử bằng mắt, chú bé nầy cao chưa tới 1m55, lòng tôi lại thắc mắc, sao lại có chú bé con trong đội nầy?? Anh Võ văn Ca, đội phó đang ngồi cạnh chiếu nầy với tay khều chú bé

-Dậy, Dậy xích chiếu cho thằng em đội cá nằm, ngủ hòai mậy.

Tôi thấy chú bé trở mình ngồi dậy hết sức gọn gàng, tay dụi mắt , mặt tự nhiên:

-Ðại Úy Khanh, bộ Tổng Tham Mưu chào thằng em mới về đội.

Thì ra tôi lầm, người mà tôi tưởng là chú bé đã có gương mặt già dặn, lớn hơn tôi cũng phải bốn năm tuổi, tôi nghe cách chào hỏi hơi lạ trong cảnh tù, sau giây phút ngỡ ngàng, tôi khẻ gật đầu chào lại anh :

-Tôi là thằng Mỏng, đội cá bây giờ là láng giềng của anh. Anh Riệp xích một chút, Khanh xích một chút, một khỏang trống khỏang 3 tấc hiện ra, vẫn thường quen với cảnh đổi phòng, tôi cũng chẳng cần thắc mắc về bề mặt quá hẹp cho một thằng cao 1m72 dù là thật ròm, thật mỏng như tôi, cứ trải chiếu rồi ?đâu cũng vào đấy thôi.

Ðời ở tù có hai điều khổ, thứ nhất tự khai, thứ hai đổi nhóm? nỗi khổ thứ nhất không ảnh hưởng tới tôi nhiều, với gần 7 năm lính, qua 3 quân trường và 2 đơn vị, qua 3 cấp bậc và duy nhất một chức vụ, nên bản tự khai của tôi chưa kín hết 2 trang giấy học trò. Ðiều khổ nầy chỉ thực sự đúng với mấy anh trong ngành tình báo và với số tuổi lính trên 10 năm, bởi phải thận trọng trong lời khai, bút sa gà chết?Còn chuyển nhóm thì gia tài tù chẳng có gì đáng giá nhưng lại đều là những vật dụng cần thiết, những vật bén nhọn cất dấu nay phải mang ra, cán bộ thấy là tịch thu phải bỏ công tìm lại cái khác, người bạn tù láng giềng đã quen hơi nay phải nằm gần người lạ , lại phải mất một khỏang thời gian dài mới hiểu được tâm tính nhau, trời sinh mỗi người mỗi tính, gặp phải người khó chịu, không vệ sinh, làm ăn ten? thì rất phiền cho cuộc sống đời tù?

Chỉ trong vòng gần nửa giờ, vật dụng chiếu mền đâu rồi cũng ra đấy, tôi cầm bao thuốc rê ra vấn, mắt nhìn quanh buồng, buồng nào cũng vậy, cũng người nằm ngủ dật dờ, người lăng xăng bếp núc, cũng có nhiều kỳ thủ đang khom lưng ghìm nhau từng nước cờ, từng trên là sòng xì phé, tôi nhận thấy hầu hết người trong sòng là những tay dân cử thuộc hai nền nhất nhị Cộng Hòa, như dân biểu họ Vũ, dân biểu họ Lý, dân biểu Mô Lô Tu, nghị viên bắp sú? Dãy đối diện với tôi là Quốc vụ Khanh Phạm Thái, nhạc sĩ Vũ Thành An , dân biểu Trần cảnh Chung?Tôi thả từng ngụm khói, đã hơn 5 năm trong lao tù? Lòng tôi bỗng thấy nhớ rất nhiều về những ngày sống ở Sài Gòn?Cô bạn mắt nâu bây giờ đi dạy học, chữ thủy chung của thời mạt vận nầy biết có còn giá trị hay không, ở đây tình vợ chồng mà người ta còn dứt bỏ được huống chi chỉ mới là tình yêu ?Trong cảnh tù cải tạo, viễn ảnh tương lai thật mịt mờ bởi người tù không có bản án, ngày trở về thật mờ mịt.

Hiện trường đội rau, nằm bên hông phải trại, cách một cái ao là khuôn viên của các đội mộc, rèn và cưa xẽ, từ ngày trại cho thăm nuôi, cho nhận quà thỏai mái thì cảnh tù cũng trở nên dễ chịu hơn, những cơn đói không còn kéo dai dẳng nữa, với lại đã hơn 5 năm rồi, người nào cũng tự nhận được vị trí của mình, lè phè được lúc nào hay lúc đó, lao động tà tà, có chút quà cáp quản giáo cũng trở nên dễ tính;tôi và anh Riệp với anh Ca chung tổ hai, Khanh thuộc tổ một,về đội nầy tôi biết thêm rất nhiều cán bộ trong phủ đặc ủy trung ương tình báo, cũng như sĩ quan cao cấp bên ngành Cảnh Sát, tháng 10 trời Hà Tây còn nóng lắm, bầu trời trong veo chưa có nét gì biểu hiệu mùa thu sẽ đến, tôi thấy Khanh đang cuốc trở mấy luống rau muống, làm đất chuẩn bị trồng su hào, hôm nay trông Khanh vui lắm, vừa cuốc vừa hát liền miệng, anh Hải đội trưởng và cán bộ Bội ( Trunh Úy) quản giáo đang đứng bên cạnh ao rau cần, cạnh luống của Khanh, bàn tính vét ao trồng rau cần cho mùa đông sắp tớỉgiọng Khanh hát càng lúc càng lớn, từ Trường Sơn Ðông Trường Sơn Tây, Khanh bắt qua Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh, Tôi nghe Khanh lái sang Tiếng chày trên sóc Băm Bỏ. ?Người dân Băm Bo, cái bụng không no, chỉ lo đánh giặc? Khanh chống cuốc nhìn tôi cười cười rồi hát tiếp?.?đánh như con kẹt??. Bội quản giáo đang vui vẽ với Anh Hải bỗng nghiêm sắc mặt

-Anh Khanh hát bôi bát gì thế, không có văn hóa chi cả vào ngay văn phòng viết kiễm điễm?, mấy anh em tôi đang cuốc đều ngưng tay cười thỏai mái.

Khanh là vậy đó, tôi nằm cạnh nên có dịp chứng kiến nhiều cảnh vui bất ngờ, nhiều buổi tối Khanh đang nằm chèo queo, chợt ngồi lên ngay ngắn, tay khỏ khỏ vào không khí làm động tác như đang thử micro rồi diễn giảng:

-Ðây là bài diễn văn của chủ tịch mặt trận tổ quốc tỉnh Tiền Giang đọc trong ngày lễ Phật Ðản, Khanh cười cười :

-Thằng Mỹ nó đi rồi mà nó còn cài lại nhiều cái độc địa, bàn máy đánh chữ thì không có dấu, bọn cán ngố thì luôn tỏ ra thông manh?

??Kính thưa quý vị!

Hôm nay là ngày lễ Phát Ðạn, trước mặt chúng tôi có rất nhiều Dao như Dao Phát,dao Thiến Chúa, Dao Cạo Dái, dao Cò Dọc, dao Bà HaỉDao Củ Sì?cũng đều là Dao.

Anh ba Ca khều tôi thắc mắc

-Ê Dao Củ Sì, Dao Cò Dọc là đạo gì vậy Mỏng

-Tịnh độ Cư Sĩ và Cơ Ðốc đó Anh Ca. Anh đang uống nước chợt cười ngang, sặc sụa nước văng đầy mặt Khanh.

Trời mùa Ðông Hà Tây có đêm xuống 3, 4 độ C, Anh em tù thường lấy mùng may cập vào mền , sau vài đợt thả, mùng mền dư nhiềủ tối mùng giăng 2 lớp, phủ mền trùm kính, phải nửa giờ mới tìm được hơi ấm, vài tiếng đồng hồ phải đi tiểu, hí mền chun ra để khi chun vào còn giữ được hơi ấm, có đêm, tôi đang thả hồn về Sài Gòn, Honda đang lên dốc cầu chữ Y thì bị Khanh khèo cẳng dậy

-Ê Mỏng dậy coi ban nhạc Cảnh Sát đang hòa tấu, còn gì bực mình cho bằng đang ngon giấc mà bị khều dậy nhưng nghe đề tài cũng lạ nên không càm ràm, Khanh ra vẽ bí mật chỉ lên tầng trên.. thì ra tầng bên nầy là thiếu Tá Trân, trưởng F áo quần lùm xùm tay cầm chai thuốc bơm mũi đang ngước mặt lên trời thở rò re vì cơn suyển, bên kia là Cò Ngưu, trưởng F Tây Ninh cũng không khá gì hơn, đang lấy hơi lên..Cũng từng trên góc cuối là Thiếu Tá Nguơn trưởng E vùng 3 cũng đang thở như kéo đờn cò;thật tình giận cha Khanh hết sức , đang ngủ ngon mà bị phá, trở lại dỗ giấc không phải dễ giữa đêm trường lạnh như cắt dạKhanh còn bình luận nho nhỏ

-Tuổi còn trẻ mà có nhiều quyền hành dễ sinh ra sa đọa, hậu quả bây giờ là?đủ thứ bệnh

Tôi để ý thấy Khanh ít giao du với ai, thường lủi thủi một mình, miệng thì nghêu ngao đủ đề tài, lúc đầu mới về đội, tôi hơi bực mình vì cái miệng của Khanh, rồi thời gian cũng quen đi, Khanh thường hát những bản nhạc với lời thay đổi nghe ngồ ngộ

-? Anh đi đâu về mà lòng thòng trên cu dưới dái, Anh đi đâu về mà lòng thòng dưới dái trên cu, chỉ 2 câu mà Khanh láy đi láy lai cả chục lần , mắt mơ màng ngó về hướng trời xa bên ngòai cửa sổ, anh Ca nhiều khi phải lên tiếng

-Thôi Khanh nó thòng xuống tới đầu gối rồi mà mầy còn ca hòaịChưa chịu im, Khanh hát tiếp:lặng nghe tiếng pháo tiễn ai qua cầu, đời lắm phong trần?cu có gai. Hát xong Khanh còn cười hi hí rồi tự diễn giải, trơn lui mà còn bắt chuồn chuồn , có thêm gai thì ?hết sẩy hén Anh Ca

Tô Ngọc Riệp nói thều thào vừa đủ tôi nghe; Bác Hồ chết nhằm giờ thiêng, cho nên con cháu đứa điên đứa khùng. Bác Hồ chết nhằm giờ trùng- Cho nên con cháu đứa khùng đứa điên

Ðổi đề tài, Khanh kể chuyện ..dài Cộng Ngố, thường Khanh mở đầu câu chuyện bằng 1 nụ cười rồi đến 2 chữ vui lắm.

-Thằng cán bộ vào Nam tham quan trở ra khoe với anh em tù.

-Tôi mới vào Lam, trong đó cũng chả có gì ( Thói dóc láo không chừa)?

-Thế cán bộ vào Nam có xơi trái cây trong Nam không? Một anh tù hỏi

-Có xơi, nhưng trái cây trong Lam cũng tàm tạm..Kể tới đây Khanh cười, Anh Du giận lắm , mới hỏi từng lọai trái, sầu riêng thì chê thối bỏ mẹ, măng Cụt, lôm chôm, ổi , bười 5 Roi, sơ rỷ Thằng cán bộ đều cho tàm tạm. Anh Du hỏi tiếp

-Thế cán bộ có xơi Trái Dứng không? Hà trái lầy cũng tàm tạm?tên cán bộ trả lời.

Trời mùa đông, buổi tối trong phòng thường yên ắng hơn mùa hè vì lạnh nên anh em vô mùng sớm? nằm đó chớ đâu có ngủ nghê gì, chốc chốc lại vén mùng làm một bi thuốc làỏ năm bảy năm xa nhà ai không thương không nhớ, nầy cha mẹ, anh chị em, người vợ đầu ấp tay gối, rồi những đứa con? cảnh cũ biết còn không? Người xưa biết lòng có thay đổỉ?trong ánh sáng nhá nhem, có người lấy hình vợ con ra xem lén lút trong mùng, thỉnh thỏang cũng nghe tiếng thở dài não nuột? Tôi thấy Khanh vén mùng , vạch chiếu lấy cây đóm, nhồi thuốc vào nỏ, Khanh không hút ngay mà nhìn qua ngó lại, mặt trông buồn lắm? sau khi kéo 1 hơi ém khói rồi chiêu một ngụm nước, Khanh treo ống điếu vào đinh ? Khanh đang ngồi yên như say thuốc ?.Ðột nhiên Khanh không nói lối mà xuống ngay một câu vọng cổ?? Không, Hòang hậu Tô Nương không phải là người mang dú dã, vì chính ta đây đã thấy bả thay ?.đồ - Và ta cũng trông rõ mặt Bác ..Hồ.Tôi thấy Anh Riệp nằm cạnh lồm còm ngồi dậy vạch mùng hỏi Khanh:

-Ê, Bác có nhiều râu không mậỷ!

Tôi với ba Ca nghe hỏi mà cười ngất.

Con trai mụ Sửu ( thượng sĩ) năm đó 9 tuổi chơi quanh quẩn làm sao lọt xuống giếng, tụi nhỏ la lên, Thuần( thiếu úy ANQÐ) đang nấu cám heo trong đội chăn nuôi gần trại gia đình, nghe tiếng ồn ào chạy ra xem, biết chuyện Thuần nhảy xuống vớt thằng nhỏ lên, nó đà bất tỉnh, Thuần vác lên vai chạy mấy vòng xóc nước cho thằng nhỏ nhờ vậy chú nhỏ mới tỉnh dậy, Thượng sĩ Sửu cám ơn rối rít sao đó có mang 2 cần đường cho Thuần bồi dưởng nhưng Thuần nhất quyết không nhận.. Từ việc đó anh em trong đội gọi Khanh là con trai bà Sửu( có lẽ mụ tuổi sửu sinh năm 1949) vì tướng tá nhỏ con của Khanh. Nghe gọi như vậy Khanh cũng chẳng phản đối gì.

Khanh là vậy đó, tôi cũng ít khi nghe anh nhắc chuyện gia đình, thỉnh thỏang thấy anh có nhận quà , anh sống rất giản dị,ăn uống dễ dàng, những bản nhạc anh hát thường không có bản nào đúng lời.. với Những Ðồi Hoa Sim anh đã hát?? những người con gái, ôi những người con gái nghèo mà ham làm bà?Chuyện một hôm nàng mê ông Thiếu úy mang bầu nên phá thaỉVới thơ TTKh thì anh ngâm: Nếu biết rằng em đã có chồng, anh về lắt kẹt thả trôi sông, kẹt anh trôi giữa dòng sông lạnh , em đứng trông theo nát cửa lòng?

Có khi anh nghiêm trang ngồi thẳng lưng giả giọng cụ Hương đọc bài diễn văn bàn giao chức tổng thống cho Dương văn Minh,giả giọng già chậm rảỉ? vận mệnh quốc gia không phải là cái khăn mu soa mà muốn giao cho ai thì giao; có lúc anh nhái giọng tông tông Thiệu làm nguyên bài diễn văn Tổng Thống đã đọc trước ngày ngưng bắn?? Cộng Sản dùng dao, ta dùng súng, chúng dùng súng ta dùng trọng pháo, chúng dùng trọng pháo ta cho máy bay dội bom lên đầu chúng.

Thường buổi tối chúa nhật anh em tù thường vô mùng sớm vì phải dưởng sức cho thứ hai còn đi lao động, Khanh thì cả ngày ngủ gà ngủ gật, đêm anh em vô mùng Khanh thức nằm đó, mắt ráo hỏanh..Có lần Khanh khều tôi kể chuyện lính sinh Bắc tử Nam.

-Ê thằng Mỏng biết không, tụi lính chính quy Bắc Việt xâm nhập vùng bốn, có giao liên dẫn đường, mà vùng bốn có rất nhiều sông, kinh đào, một lần tới kinh Dương văn Dương gần khu trù mật Mỹ Phước Tây, mấy anh sinh Bắc mới hỏi giao liên làm sao qua sông

-Thì lội qua chớ còn làm sao nữa.

Thế là mấy anh sinh Bắc xoắn ống quần, vác ba lô từ từ lội xuống nước, kinh sâu trên 2 thước cha con chúng té uống nước lớp ngớp bò lên. Tới bờ liền xổ tiếng Ðan Mạch

-ÐM. Sâu bỏ mẹ không bảo bơi mà bảo lộỉKhanh cười thỏai mái, rồi khóat tay ra hiệu bảo tôi nằm yên

-Chưa hết đâu, tối trời chúng cần xử lý nhu cầu khóai thứ tư, bò ra đồng trật quần ngồi nhìn sao trời, xong việc bức cỏ chùi, đứng dậy còn nghe thoang thỏang mùi thơm?bèn chặc lưởi:

-Trong Nam, cả cơm lắm tiền, tới cỏ chùi đít cũng thơm. Thằng Mỏng mày biết tại sao không? Chúng ra ngồi trúng chỗ rau mò om mọc?Miệt Ðồng Tháp Mười có nơi rao om mọc kín cả khu ruộng.

Một buổi chiều chúa nhật, Khanh ra hội trường xem anh em trang hòang chuẩn bị cho ngày lễ 2 tháng 9, tối đêm đó Khanh có đề tài mới:

-Chiều nầy ở ngòai hội trường vui hết sức, Mỏng mày biết không, khi Anh Ry họa sĩ đang khắc mấy chữ dưới hình Bác Hồ, anh mới khắc chữ chưa bỏ dấu câu Ðời đời nhớ ơn Bác; mày biết Trung Tá Ðào Mỹ Ngọc, chỉ huy trưởng pháo binh sư đòan vùng 3, chấp tay sau đít đứng nhìn một hồi, ông cười cười đọc chậm chậm mà lớn

-Ðói đói nhớ ớn Bác.

Mắc cười lắm, mấy tay yếu bóng vía đứng gần ông Ngọc bỏ lãng đi hết, tiếng Việt mình hay thiệt, chỉ khác dấu là nghĩa trái nhau liền.

Trại Hà Tây có một điều làm anh em tù thắc mắc và có lẽ tới giờ phút nầy cũng không ai tìm ra dược giải đáp đó là những số hiệu của mỗi tù viên. Tất cả tù cải tạo đều có số tù, trước con số là 2 chữ , phần nhiều là CT rối tới 3 số, cũng có nhiều anh mang 2 chữ CP, có anh CU, CR? mà những tù có cùng số chữ giống nhau cũng đều thuộc ngành nghề khác nhau nên không thể nào đóan ra ngầm ý của 2 chữ tắt nầy, Chữ CT tạm thời giải thích là cải tạo. thế thì những chữ kia có nghĩa là gì.bản thân người viết bài nầy mang số CT 919, số nầy được đóng vào lưng áo khổ cao khỏang 2 tấc.Trại cả mấy ngàn tù cán bộ chỉ nhìn và ghi tên số tù là truy ra tên tù ngay chứ làm sao cán bộ trại biết tên hết được.Trong một buổi tối, Khanh nghe anh em thắc mắc chuyện nầy, đang nằm đắp mền, Khanh ngồi dậy

-Chuyện nầy có gì đâu mà không hiểu, CT là cá tra, CU là cá út, CR là cá rô, CP là cá phi, tụi mình là cá đang ở trên thớt Cộng sản?Nói xong Khanh cười hí hí rồi nằm xuống tiếp tục kéo mền đắp như không có chuyện gì xảy rả

Ngày tháng cứ dần trôi, thỉnh thỏang trong năm, trại cũng có thả năm mười người, cứ sau mỗi đợt thả là anh em uể ỏai ra thấy rõ, thừa dịp khai bệnh ở nhà cũng thỏai mái được ít hôm,nhớ hôm thả tướng Lâm Văn Phát, cán bộ giáo dục đọc quyết định thả ? Lâm văn Phát can tội thiếu tướng, có tiến bộ trong quá trình học tập cải tạo ?Anh em tù ngồi nghe đều cười rút rít, mới có hơn 5 năm mà tướng được thả còn hàng hà cấp úy ngồi đây, Cộng sản là vậy đó, nhiều cái nghịch lý Cộng Sản vẫn làm được, tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh chia tay, có người nằm cạnh chiếu, có bạn đồng hương, cùng khóa, ăn cơm chung, cùng đơn vị, nếu chia tay là vui thì Quốc văn Giáo Khoa Thư không viết? Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậỷ,Cứ sau mỗi đợt thả, gia tài tù của tôi có thêm vài món, khi thì cái cgảo, lúc là cái mền? Năm tháng chất chồng đời tù cứ trôi, người tù đều đã biết rõ mình là ai, một số làm ăn ten nay cũng hồi chánh trở về với chính nghĩa quốc gia, những tay cần cù lao động để được hưởng mức ăn cao nay đều thấm mệt một số bị cụp lưng, rồi thấy lòng hối hận vì đã trót ngu nghe lời lao động tốt, tiến bộ tốt để được tha về sớm.. Từ mất lòng tin( Trong lúc Tổng thống đã từng nói ?Ðừng nghe những gì CS nóỉ?) trở nên lao động lè phè ? cảnh sống tù trở nên thỏai mái nhiều nhờ diệt bớt ăn ten.

Mỗi ngày ra lao động là cũng có ý đồ, ít ra cũng có dịp tìm rau, củi, đóm để tối về nấu nướng?trưa chiều thu quân, sau khi báo cáo số tù, anh em xếp hàng đôi lột nón cầm tay bước qua cổng trại với cặp mắt công an nhà nghề của cán bộ trực trại, nhìn từng người một, bởi ở lâu năm nên nhóm cán bộ trực rành rẻ từng cá tính tù viên, thường nhửng ngày cuối tuần hay trước khi có lễ lớn là các đội đều bị nhóm thi đua khám xét từng người. Ở trại Hà tây anh em không thể nào quên được tên trưởng ban thi đua Ðổ Công Thành ( Quốc gia hành chánh). Ðây là một tên chó săn rất thính mũi, tổ chức hệ thống báo cáo dày đặc, và tên Thành sau hơn 5 năm được giặc thả về?Sau nầy có Triệu râu, Trung tá trưởng một phòng thuộc Quân Trấn Sài Gòn, xin xỏ cán bộ an ninh mấy lần để được đề cử làm nhân viên thi đuảđây là một con người bần tiện nhất trại tù Hà Tây, không thể nào kể hết những việc làm nhơ nhớp của tên nầy.

Trại xét mặc trại, anh em lận vào cứ lận ?Anh em thường nóỉ?qua không qua thì hóat

Một buổi trưa đi làm về , cán bộ Từ trực trại ( thượng sĩ) và trung sĩ Hùng an ninh cùng với 4,5 nhân viên ban thi đua chận ngang cửa xét từng tù viên, Tùng thuộc đội ngói, lận trong lưng một vật gì khá lớn, cán bộ Hùng chộp ngay anh ra khỏi hàng, thò tay vào áo lôi rảTất cả anh em tù chứng kiến đều bật cười ?, thì ra một con truyền giống nam mà ngòai Bắc gọi là con Bùi Giái được nắn rất công phu trong trạng thái hùng dũng thuộc lọai ?đai gia trông rất sống động, có cả hai trứng vịt thật gồ ghề, cán bộ Hùng giận xanh mặt bắt Tùng vào ngay phòng an ninh viết kiễm điểm..Trưa đó Khanh thích lắm ngồi cười hòai, chốc chốc lại khen Tùng có hoa tay nắn thật giống , thấy cả gân. Ðất sét hầm chín màu đỏ gạch nặng khỏang 1 kilô. Khanh kết luận câu chuyện bằng hai chữ ?quá đã?

Qua tin tức thăm nuôi, người nhà cho biết ở Hàm Tân mới thiết lập trại tù mới, đã có nhiều nhóm anh em tù ngòai Bắc được chuyển về Nam bằng xe lửa và nhốt tại trại Z30D thuộc Hàm Tân, nghe tin nầy anh em thấy phấn khởi, tù đâu cũng là tù, nhưng dù sao về Nam không khí cũng dễ chịu hơn, gia đình gần gủi hơn, dễ thăm nuôi hơn, đề tài trong câu chuyện hàng ngày của anh em tù là việc chuyển trại, bao nhiêu ?thầy bàn ? trong trai được dịp bình luận, nào là về Nam để chuẩn bị cho Mỹ bốc đi, nào là về Nam để rồi sẽ thả hết?

Sáng thứ hai, ra sân chờ đi lao động, anh em thấy có 1 cái bàn đặt trước sân ( cái bàn nầy mỗi khi xuất hiện được an hem gọi là bàn hương án, lập bàn nầy thường để cán bộ giáo dục nói chuyện hay trai trưởng muốn dặn dò với tù ,đọc lệnh tha, đọc quyết định kỷ luật, thế là anh em nhao nhao bàn tán, có đợt tha ? có anh nào bị kỷ luật?...

Tới giờ kẻng đáng xuất trại, anh em tù ngồi chồm hổm theo thứ tự từng đội trước cửa hội trường như thường lệ, cổng trại mở ra, anh em thấy thiếu úy Bốn, cán bộ giáo dục( tên Bốn nầy là cán bộ giáo dục có giọng nói ngọng, thường bị anh em nhái giọng nhạo báng), thượng úy Nhận, Trại phó ( tên nầy ốm, cao da thâm đen, mặt lúc nào cũng đằng đằng sát khí, anh em tù gọi hắn là Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cù Thiên Nhận, tên một nhân vật võ lâm của kim Dung)) Anh em bàn tán xù xì, chỉ có hai tên nầy mà không có Ðại Tá Mô trưởng trại thì chắc không có gì quan trọng.

Sau một vài thủ tục nghi thức, Bang Nhận bắt đầu nói, Nhận khẳng định với anh em là trại nào chuyển về Nam chứ trại Hà Tây nầy không có, và sau một vài câu quen thuộc về nội quy và lao động, anh em bắt đầu xuất trại.

Ðêm tối chờ đánh kẻng ngủ, thường trong buống có nhiều hình thức sinh họat, chỗ thì bàn thời cuộc, chỗ thì cờ tướng, giải đóan tử vi xem trong tuần có quà không? Ðêm nay gần đi ngủ mà tôi chưa thấy Khanh có mục gì mới, vẫn mãi miết cầm tờ báo xem say sưả Tôi không phải chờ lâu, tôi thấy Khanh ngồi bật dậỷ ngó qua ngó lại rồi bắt đầu đọc lớn;

-Cuộc họp quốc phòng tối cao được tổ chức tại thủ đô Mút Ku giữa Nhật và Liên Sô, Trưởng phái đòan Liên Sô là Nguyên Sóai Móoc-Ku-Ra-Ðốp, trưởng phái đòan Nhật là Ðại Tướng Ðút-Ku-Dzô-Mu-Kô, ngòai ra còn có phó thủ tướng Liên Sô, đồng chí móoc-Ku-dra- Koỉ Phải có một màn trật trờ Khanh mới chịu đi ngủ.

Hai ngày sau, trưa thứ tư tan tầm buổi trưa trời bắt đầu đổ cơn mưa lớn, mưa dai dẳng cho tới giờ lao động chiều, anh em vui vẻ, mưa khỏi lao động, khỏang 3 giờ chiều trời còn đang mưa, cán bộ giáo dục đi vào từng buồng kêu gọi anh em yên lặng nghe đọc tên chuyển trại về Nam và không quên dặn dò anh em nào có tên phải khẩn trương gọn nhẹ đồ đạc chuyển đến buồng 8( Buồng mà trước đây anh em Biệt Kích ờ , tù hình sự cũng thường ở đây) .

Ðội rau có 2 anh có tên :Thiếu tá Minh( Phi công vận tải) Ðại Úy Khanh( Bộ Tổng Tham Mưu), Ðại úy Phạm Văn Quý( phi đòan Thần Phong) bên đội Phạm Thái

Anh em phụ sắp xếp đồ đạc cho mấy anh di chuyển, Khanh vừa xếp đồ vừa nói:

-Mới thứ hai Bang Nhận nói không chuyển trại mà nay lại chuyển, Ông Thiệu nói không trật được,đã bảo đừng nghe những gì?Khanh bỏ lững câu không nói tiếp mà nhìn anh em cười

Trời ngớt hột mưa và dần tạnh hẳn, anh em lao nhao bàn tán, rồi cũng biết được chính xác con số chuyển về Nam, tất cả có 100 anh, bạn bè phụ khuân giúp, cảnh trông ồn ào rộn rịp, cán bộ trại cũng không nói gì, khỏang hơn 1 giờ sau, các anh em chuyển về Nam đều đã yên vị khu vực bị cách ly. Anh em đứng bên nầy tường rào, trèo lên nóc nhà tắm nhìn sang khu buồng 8, tôi thấy anh Nguyễn Phu, chỉ huy trưởng Trung Tâm 3 tuyển mộ đang hướng về Anh Trung tá Hùynh Hữu Ðức, trưởng ban quân kỷ bộ tổng tham mưu, xá dài 3 xá từ giã, người đi, người ở dặn dò từ giã nhau, trời mới tạnh mưa , cảnh vật còn ủ rũ lắm, cảnh chia tay lại càng thêm buồn, buồng 8 cách ly hẳn với các buồng còn lại, chỉ có anh em thi đua mới được ra vào, chiều hôm đóThếng ( đại úy trong ban thi đua) mang đến cho tôi một gói thực phẩm , anh trung tá Ðức nhờ chuyển lại cho tôi, tôi mở ra thấy có nhiều lạp xưởng, gạo và vài lọai thức ăn khác?

Ðêm đó trong buồng thật yên ắng, anh em âm thầm hút thuốc, ít tiếng cười giỡn,mọi động tác trở nên nhẹ nhàng cẩn trọng, hầu hết cùng chung tâm trạng, ngày mai rồi đời mình sẽ ra sao??

Sáng hôm sau, ngày thứ năm, một trăm anh em xách hành lý ra cổng, anh em còn lại bị nhốt trong buồng,toán về Nam cứ 2 người chung một còng ( đồng hồ xã hội chủ nghĩa)?Tới gần 9 giờ sáng cửa buồng mở , xe đã chở anh em đi mất, tù còn lại tiếp tục chuẩn bị xuất trại như thường ngày.

Khanh đi rồi , đêm nằm tôi thấy vắng vẻ, thấy nhớ từng câu hát của Khanh, mọi xáo trộn trong cảnh tù phải năm mười ngày sau mới bình thường lại.

Sau ngày ra tù, thỉnh thoảng tôi có gặp lại bạn tù năm xưa, riêng Khanh tôi chưa một lần gặp lại, không biết Khanh có vượt biên, có đi theo diện HO hay là ở lại Việt nam sống với lũ gặc cuồng?

Mười năm sau hay cả cuộc đời, cảnh sống trong tù tôi không thể nào quên được, rất nhiều đêm trong giấc mơ tôi thấy tôi đang lao động trong trại khổ sai, tôi thấy tôi đang bị công an địa phương hạch hỏi tôi, tôi thấy bạn tôi bị thương mình đầy máu trên con đường di tản trên tỉnh lộ 7B?tôi thấy tôi đang bốc vác cải cà trong chợ Trương Quốc Cường, công việc làm kiếm sống của tôi sau tù, đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi vừa đủ nuôi thân. Những lúc tỉnh giấc biết mình đang nằm yên ấm trong nhà trên đất tự do, tôi không khỏi cám ơn Phật Trời đã hộ trì tôi thoát khỏi cảnh sống kinh hoàng?mà tôi vẫn nghĩ cuộc sống đó là? Ðịa ngục trần gian.

Bây giờ nơi xứ lạ quê người, nhìn lại cuộc đời đã qua tôi thấy mình đã đi trên đọan đường quá nhiều chông gai, hơn tám năm trong lao tù Cộng sản tôi còn sống tới ngày hôm nay cũng là điều may mắn trong cuộc đời. Mẹ của tôi, chị của tôi đã thăm viếng nuôi nấng tôi suốt trời gian tù tội, người đàn bà Việt Nam thật đáng trân quý, bỏ qua một thiểu số không giữ được lòng kiên trinh, gió xóay cờ xoay, lòng người chao đão.. còn lại hầu hết là những người mẹ, người chi, người em gái, người vợ?sống đạm bạc chắc chiu từng đồng bạc để nuôi con, nuội em, nuôi anh, nuôi chồng trong những trại khổ sai xa xôi mịt mù đầy nguy hiễm ?Vĩnh Phú, Nam Hà, Hà Tây, Tân Kỳ, Thanh Phong?

Những người mẹ già thương quý đó nay còn đâu, nỗi thương, nỗi nhớ, lòng khắc khỏai trông chờ?những người mẹ đó đã mang theo bao nhiêu thương nhớ sang cõi vĩnh hằng. Người đàn bà thương tôi nhất trên cõi đời nầy là mẹ, mẹ bây giờ ở đâu? trong cõi vĩnh hằng bên ba, mẹ có hiểu được lòng con, đất người tuy nắng tự do, đời sống vật chất tuy đủ đầy nhưng làm sao nhìn lại đựơc dáng mẹ hiền thân thương cũng như những ảnh hình kỷ niệm mà ngày ra đi phải đọan đành bỏ lại, để nơi xứ người vẫn luôn mong có một ngày quang phục, được trở về sống những ngày cuối đời nơi quê cha đất tổ, nhìn lại lá cờ vàng phất phới bay trên khắp nẻo đường quê hương?!!

(Kỳ Ðà Ðộng- Hè 2005)


Thủy Lan Vy




Mục Lục


11. Tết Quê Mình

Trần Thành Mỹ




Hằng năm nhìn ngắm những chiếc lá trở màu vàng nâu cam đỏ rất nên thơ trong màn sương mờ trắng đục, tiết trời se lạnh, lò sưởi mở ra, đèn đuốc sáng hơn, người phương Tây biết rằng thu tàn đông đến, ngày ngắn dần đêm tối dài hơn, năm củ sẽ qua năm mới sắp tới. Tết Tây theo dương lịch tính theo mặt trời và luôn bắt đầu vào mùa Ðông. Thấy tờ lịch cuối cùng tất niên, ngày tân niên Âu Mỹ bắt đầu, báo hiệu cho Tết ta sẽ đến không xa mấy.

Người nước ngoài thường chỉ để ý đến Tết Trung quốc hơn, không phân biệt Tết của các nước Á châu khác trong đó có Việtnam, có lẽ vì phần đông người Tàu thuộc giới buôn bán nổi tiếng kinh tài truyền thống lâu đời có mặt khắp thế giới, nên việc tổ chức lễ hội rất có qui cũ, rầm rộ, phô trương phong tục tập quán, vui tươi, đẹp đẻ, độc đáo, lôi cuốn. Tây phương có câu ? Ở đâu có khói là có người Hoa ?. Thêm vào đấy, điểm trội đặc biệt của họ vẫn là bằng mọi cách luôn bảo tồn nền văn hóa, truyền thống và nhất là ngôn ngữ. Sống ở nước ngoài, với óc thực tế, họ tích cực học tiếng ngoại để hội nhập tiến bộ, nhưng giao dịch trong cộng đồng Hoa vẫn là Hán tự. Người Trung hoa quả là thành phần có khả năng sinh tồn nhất thế giới.

Thật ra, nước nào cũng mừng năm mới ?tống cựu nghinh tân?, duy trì truyền thống. Ngày đầu năm khác nhau, nhưng thường dễ nhớ nhất là của hai nhóm, phe tính theo dương lịch lấy ngày 1 tháng 1, phe âm lịch ngày mồng một tháng giêng, điển hình là nước ta. Năm mới Âu Tây tính từ năm bắt đầu Công nguyên đến nay bao nhiêu năm được ghi bằng số, như 2010. Còn tên của năm ta thì do một cầm tinh, theo một chu kỳ 60 năm thì mới trở lại tên cũ, bằng cách ghép tên một trong Thập Can với một của Thập nhi Ðịa Chi. Mười Can đó, theo thứ tự, là Giáp Ất Bính Ðinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý, Mười hai Chi là 12 con giáp Tý Sửu Dần Mẹo Thìn Tỵ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi. Khởi hành là Giáp Tý, rồi kế tiếp là Ất Sửu cho hết chu kỳ 60 năm thì trở lại Giáp Tý?Năm 2009 là năm Kỷ Sửu chẳng hạn, năm 2010 là năm Canh Dần mà dân gian truyền khẩu về 12 con giáp :

Tuổi Tý con Chuột trong nhà, tha gạo, tha nếp, tha dồn xuống hang.

Tuổi Sửu con Trâu kềnh càng, cày chưa hết buổi đã mang cày về.

Tuổi Dần con Cọp dữ ghê, bắt người ăn thịt đem về non cao.

Tuổi Mẹo là con Mèo ngao, hay quấu hay quào ăn vụng thành tinh.

Tuổi Thìn ông Rồng ở trên thiên đình, hô phong hoán vũ ỷ mình trên mây.

Tuổi Tỵ con Rắn ở với cỏ cây, nằm khoanh trong bọng không hay điều gì.

Tuổi Ngọ con ngựa ô đen xì, ỷ mình sức mạnh kể gì đường xa.

Tuổi Mùi là con Dê chà,có sừng, có gạc râu ria um tùm.

Tuổi Thân con Khỉ ở lùm, chuyền qua chuyền lại té ùm xuống sông.

Tuổi Dậu là con Gà vàng, có mồng, có tít gáy ò ó o.

Tuổi Tuất là con Chó cò, nằm khoanh trong lò lỗ mũi lọ lem.

Tuổi Hợi là con Heo ăn hèm, ăn no rồi ngủ chẳng thèm lo chi.

Âm lịch tính theo mặt trăng, nên luôn luôn những ngày đầu và cuối không có bóng chị Hằng và trăng tròn ngày thứ 15 giữa tháng ta gọi là ngày rằm, tháng 1 gọi là tháng giêng và tháng 12 là tháng chạp. Vì dựa trên dương lịch nên ta nhận thấy ngày mồng một Tết ta hằng năm thay đổi không trùng ngày năm cũ trên lịch Âu Mỹ, khi lúc ở tháng giêng lúc hay tháng hai.

Ðể mừng năm mới thì ở khâu chuẩn bị nói chung nước nào cũng thế, tùy theo khí hậu phong tục riêng, người người nhà nhà già trẻ gái trai đều nghĩ về đến Tết với một hy vọng thầm kín nào đó, năm tới hơn năm qua. Cũng lịch đủ loại, báo Xuân kèm Tử vi, bói toán, tiên đoán vận mệnh thế giới, trong nước, hiện tượng lành dữ đặc biệt trong năm. Thiệp chúc Xuân, quà Tết đủ loại từ đồ chơi đến thực phẩm, tâm lý của mọi người là hướng về tương lai sung túc may mắn hơn.

Chẳng hạn ở các nước Âu Mỹ, nhà nào cũng có một cây thông thật hoặc nhân tạo trang hoàng thật đẹp tùy theo túi tiền của chủ nhân để đón chào Noel Ðêm Chúa sinh ra đời 24 rạng ngày 25 tháng 12. Theo truyền thống các nước theo dương lịch, có nước như Mỹ chọn mua trước một cây thông to cao đẹp trang trí thật lộng lẫy để được trồng trước Tòa Bạch Ốc, hoặc như Bỉ ở công trường chánh thủ đô Bruxelles Place Royale hay Palais Royal trước Tết, hay trước đền Thánh Phê rô ở Vatican Rome.

Ra đường đâu đâu cũng được chỉnh trang mang bộ mặt mới, mặt tiền nhà cửa, phố phường đường sá. Con người mà, ai cũng muốn tỏ vẻ ?sạch mặt sạch màỷ để quên đi phiền muộn đã qua và mạnh dạn bắt đầu tiếp tục hành trình sắp tới. Cuối năm là tổng kết, đầu năm là bắt đầu cuộc sống trên mọi mặt tâm linh thể xác để tiến lên như sự tuần hoàn vũ trụ thiên nhiên. Nhìn các em bé hân hoan, lưỡng lự trước những hàng Tết mỗi năm mỗi cải tiến theo thị hiếu nhu cầu càng ngày càng đòi hỏi cao của người tiêu thụ tràn ngập xa xí phẩm, sản xuất công nghiệp hàng loạt đâu phân biết tốt xấu, độc hại khó lường, sao mà gợi nhớ đến Tết quê mình ngày chưa xa xứ, không có ông già Noel râu tóc bạc như tuyết hay như Sint Niklaas và Hắc Tiểu đồng Zwarte Piet ở Bỉ, phân phát quà cho các trẻ còn mơ mộng chuyện thần tiên.

Thế ra, « đi một ngày đàng học một sàng khôn » là có thật, thế nhưng cái túi càn khôn nhân loại thật vô cùng. Ngay cả cái chu kỳ vận chuyển bốn mùa xuân hạ thu đông bình thản, vô tư quen thuộc không lạc nhịp bao giờ ấy thôi cũng cho ta thấy không có hiện tượng nào giống hiện tượng nào, luôn luôn biến thể, đố ai biết trước chính xác tận tường, Notradamus hay Trạng Trình, Khổng Minh Gia Cát Lượng ? Có ai tiên đoán đúng Bức tường Bá linh sụp đổ ngày 9-11-89 thống nhất hai miền Ðông Tây Ðức chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới, hay sự đắc cử của Tổng thống Mỹ, người da màu đầu tiên Barack Obama năm 2009 đâu.

Phải công nhận Tết quê mình quả là sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người. Khí hậu cũng đãi ngộ ngày Xuân thêm màu sắc âm thanh hương thơm nồng ấm vui tươi thân thiện. Thêm vào đấy nền văn hóa đa nguyên Á Âu điểm xuyết bằng tính siêu nhiên của nhiều tôn giáo khác nhau đã tô son thếp vàng nét độc đáo của phong tục truyền thống từ ngàn xưa mà dù phải trải qua bao thời kỳ lệ thưộc mất tự do ông cha ta luôn quyết giữ ? ôn cố tri tân ? ? cây có cội nước có nguồn ?.

Theo bước tiến của thế giới, các thế hệ tiếp nối nhau luôn cố gắng gìn giữ duy trì tập tục căn bản đặc thù văn minh dân tộc, đề cao tình yêu quê hương, bổn phận của mỗi công dân bảo tồn đất nước và đoàn kết để phát triển mọi mặt theo dòng chảy toàn cầu.

Khác hẳn với người Trung hoa chẳng hạn, lễ tảo mộ vào Tiết Thanh minh tháng ba, còn dân ta đặc biệt là trước Tết. Ông cha ta đã phải gian nan từng bước, tả xung hữu đột, chiến đấu không ngừng với thiên tai nhân tai, giặc trong giặc ngoài mới có được giang sơn chữ S xinh đẹp còn giàu tài nguyên quí chưa khai thác, bao lơn nhìn xuyên qua biển Ðông ra Thái Bình dương. Tổ tiên ta từ bao thế hệ nầy sang thế hệ khác là những nhà tiên phong khai phá vùng đất mới hoang rừng thiêng nước độc để định cư và truyền lại cho con cháu chẳng những cái di sản vật chất hữu thể mà đặc biệt hơn thấm nhuần những đức tính căn bản con người mà lòng tri ân là nòng cốt.

Biết ơn chứng minh là có nguồn cội, giống dòng, văn hóa văn minh dân tộc, xã hội, gia đình, đồng hương. Hiện tại là giây liên lạc giữa hai cái vô cực, cực trừ không ai biết rõ lúc nào khai thiên lập địa, cực cộng ngày tận thế hay tương lai về đâu. Hiện tại quả là tương lai của quá khứ và trở thành quá khứ của tương lai. Ông cha ta rất khôn ngoan đánh động vào tính và tình người nhắc nhớ rằng dù cá nhân là độc nhất không ai giống ai, tự do nhưng không thể sống biệt lập, luôn luôn cần người khác. Do đó cần phải sống quây quần liên kết giúp đỡ nhau, đoàn kết là sinh khí sức mạnh để sống còn.

Tri ân còn khơi dậy lại lịch sử dân tộc hầu rút tỉa kinh nghiệm, những bài học từ những trang sử khi thì oai hùng khi thì uất hận để dựng và giữ nước, gương sáng chói của các bậc anh hùng liệt nữ, những lời dặn dò của tiền nhân. Cụ Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt làm tù biệt viễn xứ sang tận bên Tàu đã bảo với con trai Nguyễn Trải khóc biệt tiễn cha ở cửa Ải Nam quan hãy quay về ? trả thù nhà đền nợ nước ?.Vua Trần Nhân Tông trong lời di huấn của Ngài đã cảnh giác : ? Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạỏKhông thôn tính được ta, thì gặm nhấm tả.Vậy nên các ngươi phải nhớ lời ta dặn :?Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không đuợc để lọt vào tay kẻ khác.? Ta để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu. ?

Tri ân còn nhắc cho người đương thời bổn phận của mình, những người kế thừa hưởng thụ di sản thiêng liêng nầy tất cũng sẽ trở thành những công dân tiếp bước tiền nhân truyền gương cho các thế hệ sau. Tri ân thuộc tâm linh cần phải truyền đạt bằng hành động qua nhiều hình thức cụ thể đa dạng. Nếu chúng ta không duy trì tỏ lòng biết ơn ông cha ta ngày trước thì làm sao con cháu ta hiểu rõ được cội nguồn. Hơn thế nữa, với sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của xã hội, ánh sáng chói lòa các nền văn minh của bao nước lớn khác làm lung lay dễ dàng niềm tin vào lòng tự hào dân tộc, sự đoàn kết cần thiết sống còn, để rơi nhanh vào ảo ảnh muôn màu vọng ngoại, nếp sống cực kỳ xa hoa ích kỷ, nhất là hiện nay thế giới đang lâm vào thời kỳ khủng khoảng kinh tế thị trường.

Một tập tục đẹp thể hiện lòng biết ơn là lễ Tảo mộ. Hầu như nước nào cũng có, như Âu châu ngày Lễ Các Thánh 1-11 hằng năm, Lễ Tạ ơn Thanksgiving ngày thứ năm cuối tháng 11 ở Mỹ và Canada thứ hai thứ nhì tháng 10. Phần mộ là bằng chứng cụ thể đánh dấu lai lịch thành phần xả hội của người thân quá cố để thế hệ sau kế thừa gìn giữ bảo tồn phát huy. Ðây còn là nơi tập trung con cháu có dịp gặp gỡ tiếp nối vòng liên hệ dòng tộc càng ngày càng rộng lớn hơn. Cũng vì cái gì liên quan đến con người nên vì thế mà mồ mả cũng có cấp bậc như Kim tự Tháp ở Ai cập, Lăng Tần Thủy Hoàng và Binh Mã Dõng, Lăng tẩm như Lăng Gia long, Mệnh Mạng, Tự Ðức ở Huế, Lăng Hoàng gia ở Gòcông, Ngôi mộ Chiến sĩ Vô Danh (Tombe du Soldat Inconnu) ở Pháp,? Nếu ở trần gian có những ngôi nhà từ đường, tổ đình, nhà thờ ông bà cho mỗi dòng họ thì phần mộ tượng trưng điểm hẹn đi về hằng năm của ông bà không ranh giới giữa thế giới hữu và vô hình, chẳng cần thẻ thông hành visa và hoàn toàn tự do mang theo, không sợ bị phạt vì quá ký lô qui định, đồ quốc cấm, tất cả quà biếu Tết, tiền bạc cả đô la Mỹ, nhà lầu, xe xịn, phi cơ,? hàng mã bằng giấy.

Hơn thế nữa, do theo quan niệm hữu thần, chúng ta còn có lễ đưa rước trang trọng Táo quân, vị đại sứ thiêng liêng mỗi năm trước Tết ta, về chầu Thượng đế dâng sớ tấu trình gia sự của mỗi gia đình trần thế. Ông cha ta khôn ngoan đã biết liên kết quan niệm thờ cúng thần linh và người khất mặt khuất mày bên kia thế giới áp dụng vào việc thờ cúng tổ tiên một cách tự nhiên không gượng ép đầy nghĩa tình người. Khác hẳn với Âu Tây, Trung quốc, chúng ta chọn thời điểm cho lễ Tảo mộ theo tinh thần truyền thống và nghi lễ Việt nam.

Bắt đầu sau ngày rằm tháng chạp, ngày tước lá mai để mai vàng nở rộ đươm hoa đúng ngày năm mới, khi mùa vụ đã xong thu lúa về nhà, lễ tảo mộ nhắc nhở con cháu thời kỳ nghỉ ngơi vui chơi giải trí bồi dưỡng sau một năm dài cực nhọc. Trước sự chuyển giao cũ mới của trời đất, ta nhận ra thời gian qua vĩnh viễn, hiện tại mới đó chưa bằng được cái tíc tắc đồng hồ mà cũng đã trở thành dĩ vãng ngay rồi. Cái chết của con người là kết thúc cuộc đời như đêm trừ tịch cuối năm trôi qua tự nhiên không cưỡng được nhưng cũng là điểm giao hòa và bắt đầu một năm mới, tương lai trang bị kinh nghiệm vật chất tâm linh của quá khứ đầy hứa hẹn hy vọng. Vậy thì chúng ta người đương thời đang sống thật cũng sẽ qua đi như tổ tiên ta, thế giới bên kia là cõi về tất nhiên của mọi con người không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tuổi tác, và từ đó chúng ta phải biết bổn phận và nhiệm vụ của kẻ kế thừa của mình trong gia đình dân tộc.

Ðiểm độc đáo ở đây là ông cha ta rất sâu sắc thâm trầm trong việc giáo dục truyền thụ tình yêu qua nội tâm bình thản và lòng biết ơn. Người qua đời vẫn ?sống khôn thác thiêng? luôn luôn phò trợ cho con cháu và sự hiện diện như phảng phất qua khói trầm hương nghi ngút trước phần mộ trong ngày tảo mộ hay trên bàn thờ gia tiên trong ngày trọng đại cưới xin, ma chay giỗ Tết.

Chỉ có thời gian trước Tết như mặc nhiên ấn định từ xưa, người ta mới được đến sửa sang lại ngôi mộ mà thôi, lau chùi quét dọn, nhổ cỏ, sơn phết, đấp đất cao lên mộ lài vì ngoài thời gian tảo mộ, việc trùng tu sửa chữa cần phải có sự đồng ý về hợp hay nghịch tuổi tác của tất cả các chi liên hệ mới được thực hiện.

Việc duy trì lễ tảo mộ chẳng những là một tập tục đẹp mà đối với người Việt còn mang nhiều ý nghĩa đặc biệt. Ðây là con đường hành hương về quá khứ cội nguồn, tìm lại niềm tin vào lòng yêu thương che chở của người tại thế và nhất là người khuất mày khuất mặt để rồi hy vọng được trang bị kinh nghiệm hơn hầu tiếp tục cuộc sống xứng đáng là con người.

Ðây cũng là cơ hội chứng tỏ lòng biết ơn qua cách chia sẻ chung hưởng, không phải chỉ với những người còn sống mà cả với người quá cố vì thân xác có thể bị tiêu hủy nhưng cái hồn thiêng không mất. Con cháu trong dịp nầy đến tận phần mộ trân trọng mời ông bà về vui chơi ăn Tết với gia đình, ?báo cáỏ cho biết thực trạng cuộc sống, trình bày dự án mơ ước của mình năm tới. Ông bà được phục vụ như người thân xa nhà về thăm do con cháu hiếu thảo, không ai được làm phiền lòng khách quí nên trong những ngày Tết kiêng cử cải cọ rầy rà. Bà con từ nhiều đời xa nhà còn có dịp trở về quê đất tổ quây quần bên bàn thờ tổ tiên chứng giám con cháu vui ăn Tết. Một tình cảm sâu sắc thấm nhuần tình gia đình sẽ làm ấm lòng thệ trước sang thế hệ sau và nhận ra rằng tình yêu phải có hai chiều, từ tình yêu chân thành cội nguồn gia đình mới có thể yêu rộng lớn hơn xã hội tổ quốc và ngược lại nếu mất tình người, thế giới trần thế nầy sẽ trở thành robot vô cảm vô hồn, đáng thương.

Nhìn nhà nhà ai ai cũng nghĩ như nhau về tảo mộ, gặp nhau trên đường về nghĩa trang hay bên phần mộ của người thân, nghĩa xóm làng như được xẻ chia hưởng ứng cùng ý hướng, tình đồng hương như được thăng hoa hơn vì câu ? nhất cận thân, nhì cận lân ? được bổ túc bằng ? bà con xa không bằng láng giềng gần ?.

Bài học còn đáng nêu ra thêm ở đây là không có gì là bất di bất dịch trên cõi hồng trần nầy, mất còn, kết thúc bắt đầu liên quan xoay vần nhau là chuyện không có gì phải quá lo nghĩ bận tâm. Như vậy sự chuyễn động bình thường đều đặn đó cho ta thấy có ? bôn ba cũng không qua thời vận ?, hay ? Ton bras est invaincu mais non pas invincible ? Corneille - Le Cid (Cánh tay anh chưa bị thua nhưng không phải là không thể bị đánh bại được) chứng minh rằng không có chỗ sống cho kẻ độc tài vì là con người

? Nul ne peut se vanter de se passer des hommes.? Sully Prudhomme.

(Không ai có thể khoe mình là bất cần mọi ngườị).

Thật ra, Tết ở nơi nào phù hợp với phong tục tập quán, khí hậu của nơi đó, Tết quê mình thì quen thuộc hơn mang ý nghĩa riêng dấu vết lịch sử tâm linh của chính dân tộc mình. Càng được tiếp cận với thế giới phóng khoáng rộng mở văn minh, ưu điểm là biết chọn lọc điều hay tân tiến để sử dụng thích nghi với mình, tránh du nhập những phù phiếm hời hợt xa hoa xa vời thực tế lạ lùng không thích ứng đời sống vật chất và tinh thần dân tộc.

Tết quả là thời gian thích hợp nhất để chúng ta rà kiểm điểm lại những thành quả trong năm qua, rút tỉa kinh nghiệm cần thiết làm bàn đạp tiến lên trên mọi bình diện cho năm mới. Tết với lễ tảo mộ chẳng hạn, cũng nhắc rõ chúng ta có nguồn cội đã được tổ tiên từ thế hệ nầy sang thế hệ khác bất khuất kiên cường dựng và giữ nước. Chúng ta hiện tại là chủ nhân gia sản vô giá nầy, phải ý thức bổn phận và nhiệm vụ kế thừa của mình chẳng những là cần bảo tồn và phát huy cái tinh thần quốc hồn quốc túy yêu nước nòi giống mà còn cả cái giang san gấm vóc nguyên vẹn từ Ải Nam quan đến Mũi Cà mau đã có trên bốn nghìn năm văn hiến cho thế hệ tương lai.



Trần Thành Mỹ




Mục Lục


12. Người Khách Lạ

Trần Hồng Văn




Truyện Ngắn Tây Ban Nha



* phóng tác

Không biết bố mẹ chị biết trước hay sao mà đặt tên cho chị là Vui. Quả thực như vậy, nét mặt chị lúc nào cũng rạng rỡ, tính tình chị hòa nhã vui vẻ với mọi người. Người ta thường phê bình chị như sau: "Có lẽ chị ấy sinh ra để cười chứ không biết khóc như người khác". Một người đang buồn với bất cứ nguyên do nào, nếu gặp và nói chuyện với chị thì sẽ quên cái buồn đi ngay. Thật là tốt hơn cả một thang thuốc bổ.
Khi còn trẻ, chị giúp việc nhà cho một ông nhà giầu tốt bụng, ông trả lương hậu nên chỉ vài năm dè sẻn, chị để dành được một món tiền đáng kể. Với món tiền này, chị kiếm được một ông chồng và một trang trại nhỏ. Người trong gia đình cũng như người quen chẳng ai thèm ganh tị với chị về trang trại cũng như ông chồng của chị. Trại nằm ở ngoại ô cách tỉnh lỵ 5 kilô mét, gồm một mảnh đất cằn cỗi, ở cuối miếng đất là cái lều tranh lụp xụp. Người chồng của chị có tên là Tư Nổ mà cả tỉnh đều biết anh ta là một tên 1êu lổng, ươn lười và cờ bạc. Trong ngày cưới, một người phê bình:
- Mọi người sẽ không ngạc nhiên khi thấy cặp này tan rã nhanh chóng.
Một người khác phát biểu:
- Thật tội nghiệp cho con Vui lấy phải thằng chồng vô lại, lại sống ở một nơi quá hẻo lánh. Mà nó lúc nào cũng vô tư, nụ cười lúc nào cũng tươi. Thật là tội cho nó.
Nhưng mọi người đã lầm to, mọi việc không xẩy ra như người ta nghĩ. Sau ngày cưới, có lẽ do ảnh hưởrng tính tình của chị hay sao mà Tư Nổ trở nên siêng năng làm việc. Trong khoảng thời gian ngắn, hắn đã sửa sang lại chiếc lều xiêu vẹo, nới rộng ra được một gian nữa, tạo ra được một khoảng đất trồng cây ăn trái, trồng rau và mua được chiếc máy bơm mới. Nhờ chiếc máy bơm này mà nuớc ngọt được đem về để trồng trọt. Tư Nổ cũng cày một mảnh đất trồng lúa và bắp. Ngoài ra, hắn cũng mua về một cặp heo và khoảng trên chục con gà mái nữa. Chỉ trong khoảng một năm, không những thực phẩn dư dùng trong nhà mà còn đem bán ngoài chợ nữa.
Mội tuần hai lần, Tư Nổ đem rau quả và trứng ra tỉnh bán. Vào những ngày đó, hắn trở về nhà rất khuya. Hắn tụ tập bạn bè cũ khi còn độc thân để đánh bài. Nhiều người thấy vậy thì lắc đầu than:
- Tội cho con Vui, chắc là bao nhiêu tiền dành dụm bay đi hết. Thật là tội nghiệp.
Nhưng họ lại lầm lần nữa. Tư Nổ đánh bạc gặp hên mãi. Hầu như lần nào cũng thắng. Hắn im lặng đưa hết tiền cho vợ. Chị Vui thì chẳng nói năng gì mà chỉ im lặng cộng thêm món tiền đó vào số tiền dành dụm được mà thôi. Trong một góc nhà, phía dưới những chiếc thùng gỗ kê làm giường ngủ, Tư Nổ đào một 1ỗ hổng, một chiếc hộp thiếc đựng bánh qui đã cũ là ngân hàng của hai vợ chồng. Tiết kiệm là tính tự nhiên của chị Vui. Thói quen cần kiệm, hơn nữa, nhu cầu của hai vợ chồng thật ít nên mỗi tuần 1ễ chị để dành hết số tiền bán được, do đó tiền tiết kiệm mỗi ngày một lớn dần, chiếc hộp bánh qui bằng thiếc mỗi tuần một nặng thêm lên.
Nhưng mọi việc trên đời này không phải đều diễn tiến như mình muốn cũng như số hên của Tư Nổ cũng có ngày phải chấm dứt. Một đêm nọ, một tên bạn nói Tư Nổ chơi bài gian lận. Thế là một trận ẩu đả xẩy ra và một mũi dao nhọn oan nghiệt đã xuyên thấu tim hắn.
Trong tang lễ, chị Vui nghiêm nghị, không có dấu hiệu cảm xúc nào hiện trên nét mặt cả. Sau khi tang lễ chấm dứt, chị cúi đầu chào cả những tên đã dự vào trận ẩu đả với chồng, rồi chị trở lại đời sống thường nhật. Sàn nhà bằng đất được quét sạch sẽ, thịt, rau, gạo được sửa soạn cho bữa ăn như thường lệ, những hạt bắp khô ném vung cho đàn gà và mấy con heo được xua vào chuồng khi trời bắt đầu tối rồi cho ăn no.
Nét mặt chị Vui vẫn tươi mặc dù bây giờ chị thường mặc đồ đen và choàng một chiếc khăn cũng màu đen trên đầu. Vẫn một tuần hai lần, chị dậy sớm mang những giỏ rau và trứng ra chợ bán. Việc buôn bán của chị có vẻ thành công hơn chồng trước kia. Thói đời, người ta thích giao dịch với người vui vẻ. Vào lúc chạng vạng tối, chị thường đem về những món tiền không thua gì Tư Nổ mang về do việc đánh bạc ăn cả. Người ta lại bắt đầu bàn tán về chị Vui, một người đàn bà vui vẻ, khéo léo.
Một vài lần, người anh rể khuyên chị:
- Dì phải gởi tiền vào nhà băng đi, chứ để ở nhà nguy hiển lắm.
Chi cãi lại:
- Nhà băng chỉ là những kẻ cướp có giấy phép vậy thôi. Em không muốn ai giữ tiền của em cả. Món tiền nhỏ xíu của em phải do chính tay em giữ. Mở một trương mục với món tiền nhỏ thì chẳng bõ gì. Chỉ có Chúa biết mà thôi.
Mọi người cười lắc đầu. Không ai tin chị cả, họ thì thầm với nhau:
- Dĩ nhiên là cô ta giầu rồi. Cô ta cười với thế giới này và cả thế giới cười với cô ta. Một ngày nào đó, cô ấy sẽ làm cho một người đàn ông may mắn vui vẻ.
Mẹ một số thanh niên độc thân còn xúi con trai mình tới làm quen với chị, làm bộ khi thì mua cái này, khi thì mua cái kia, nhưng chị chẳng bao giờ chú ý tới họ. Chị cố chứng tỏ là một người đàn bà nhiều nghị lực và chẳng cần phải nhờ ai mang hạnh phúc tới cả.
Thế rồi một buổi chiều khi trời đã chạng vạng tối, nhìn qua khung cửa nhà bếp, xa xa nơi cuối cánh đồng cỏ với ba vòm cây đang run rẩy dưới bầu trời hè nóng bức, chị cảm thấy một cảm xúc dâng trào khó diễn tả, một mối cảm xúc của sự cô đơn, thiếu vắng, trống trải và bất an. Kể từ hơn một năm qua, từ ngày Tư Nổ chết đi, chị chưa bao giờ có một cảm xúc như trên, thế mà bây giờ chị lại rơi vào tình trạng như vậy. Ðời sống chẳng có gì thay đổi, nhưng không hiểu sao chị chợt nghĩ là cuộc sống không thể kéo dài mãi như thế này được. Một người đàn bà không còn ở tuổi xuân nữa mà sống một mình thui thủi, không người giúp đỡ, không người che chở, một mình phải quần quật quán xuyến mọi việc trong cái trại nhỏ từ năm này qua tháng kia. Việc đó phải là việc của đàn ông hay nói rõ hơn phải là việc của người chồng trong nhà. Tuy vậy, khi nghĩ đến việc tái giá lại làm chị lúng túng.
Một ngày lại sắp nặng nề trôi qua. Bầu trời lúc này giống như giải lụa xám nhạt phủ hờ hững lấy vạn vật. Tay chân chị bải hoải hẳn khi đi ra phía sau nhà bửa mấy thanh củi, Chị tự nghĩ:
- Có lẽ bão sắp tới, hèn chi mình thấy hồi hộp lạ.
Tiếng bửa củi làm chị không nghe thấy tiếng động của một con ngựa đang tiến lại gần. Khi chị trở vào gần tới cửa, một người đàn ông đã xuống ngựa đứng dưới gốc cây liễu cách đó không xa. Chi Vui thốt lên một tiếng kêu hoảng hốt và thủ chiếc rìu trước ngực. Tại sao mình lại không nghe tiếng chó sủa nhỉ? Chị nghĩ vậy nhưng rồi chợt nhớ ra là con chó vện đã chết cách nay đã hơn một tháng rồi mà chưa kiếm được con nào thay thế.
Người đàn ông đứng thẳng, mặt quay về hướng ánh đèn. Hắn ta cao lớn, khoác một chiếc áo choàng bạc màu. Một chiếc mũ rộng vành chụp xuống tận gần đôi lông mày chổi xể. Nhìn dáng điệu phong sương, người ta có thể đoán là hắn đã dong duổi đoạn đường dài trong nhiều giờ mà không ngừng nghỉ. Râu ria mọc ra tua tủa khắp mặt, có lẽ cả tuần lễ chưa cạo.
Trong tâm hồn chị dâng lên một cảm giác kỳ lạ khi đối diện với người đàn ông này. Chị đặt bó củi xuống đất, nhưng một tay vẫn thủ chiếc rìu, tay kia phủi bụi cát vào tấm khăn choàng trước ngực. Chị hỏi người lạ mặt:
- Ông cần gì?
Người lạ nhìn chị, im lặng trong giây lát. Ðôi mắt màu nâu và sáng nhưng mí mắt nặng chĩu vì mệt mỏi:
- Thưa cô, con ngựa của tôi đau chân nên không đi xa hơn được nữa. Tôi cần một chỗ ngủ qua đêm nay và một chút ít thực phẩm. Tôi sẽ trả ơn cô.
Chi Vui cắn đôi môi lại, giọng chị gay gắt:
- Không, không thể được. Ông không thể ở lại nơi đây được.
- Tai sao không được? Tôi có thể nằm ngủ ở bất cứ chỗ nào và chỉ cần một mẩu bánh mì là đủ. Bão lại sắp kéo đến nơi rồi.
Như để trợ giúp cho lý do hắn đưa ra, một chuỗi sấm vang vọng lại từ một góc trời.
- Tôi không chịu trách nhiệm gì về trận bão cả. Tôi chỉ là một người đàn bà sống cô độc ở đây mà thôi, thưa ông. Chòm xóm sẽ nói gì nếu tôi chứa chấp một người đàn ông lạ mặt trong nhà vào đêm khuya khoát như thế này?
Quay một vòng, nhìn quanh cánh đồng cỏ hiu quạnh, người lạ nói:
- Tôi không thấy nhà nào quanh đây cả.
- Có một nông trại gần đây, ngay đằng sau nhà tôi. Tai mách vạch rừng, bức tường có tai có mắt cả đấy, ông ạ.
Nét mặt hắn chẩy dài xuống vì thất vọng, hai bàn tay hộ pháp xoa vào nhau như thể bị co cứng vì cầm vật gì quá lâu.
- Thưa cô, cô hãy chứng tỏ là một con chiên của Chúa ra tay cứu giúp người trong cơn ngặt nghèo. Như đã trình bày với cô, con ngựa của tôi không thể đi xa hơn được nữa. Tôi tin là cô mở chút lòng từ thiện ra cứu giúp người trong cơn hoạn nạn này.
Lời cầu khẩi của hắn làm chị xúc động. Nhìn thẳng vào mắt gã và do dự. Rồi như không cần suy nghĩ gì thêm, với một quyết định dứt khoát, chị nói:
- Ðược rồi, không còn làm gì khác được, ông theo tôi.
Chị quay đầu lại và đi vào nhà bếp. Không cần nghe tiếng chân chị cũng biết là người lạ đang đi theo sau. Khi hai người đã vào nhà, ngọn lửa còn âm ỉ trên bếp. Chị bỏ thêm vài khúc củi vào và đặt ấm nước lên. Một lúc sau, chị bảo hắn:
- Nước sôi rồi đó. - Chị mở trạn lấy ra một ổ bánh mì và một hộp thịt nguội. Khi mọi thứ đã dọn xong trên bàn, chị chỉ vào một chiếc ghế rồi nói như ra lệnh:
- Ngồi xuống đi. Ông tự pha cà phê lấy đi, lọ đường kia kìa. Mà ông thích uống cà phê đen không hay có đường?
Người lạ mặt lúng túng một lát rồi khẽ cười nhẹ:
- Tôi thích uống cà phê bỏ ít đường thôi. Tôi thường uống như vậy.
Chỉ vào khoảng một giờ sau, trận bão kéo tới. Vào buổi sáng hôm sau khi chị Vui thức dậy, người lạ vẫn còn nằm ngủ co quắp ở nhà bếp. Chị cảm thấy một niềm an toàn do sự hiện diện của một người đàn ông trong nhà. Chị im lặng đứng nhìn nét mặt hắn một chút rồi vào nhà trong thay quần áo. Sáng nay là buổi phải ra chợ bán hàng. Cố tránh những tiếng động có thể làm hắn tỉnh giấc, chị quơ vội những món đồ cần thiết cho phiên chợ ngày hôm nay rồi ra khỏi nhà. Con ngựa được cột nơi cổng, một làn hơi nước mỏng bốc lên từ lưng nó. Chị lấy một cái sô, đổ đầy nước rồi đem lại để gần miệng nó sau đó lấy một bó cỏ để bên cạnh. Chị quay vào trong nhà lần nữa, gã lạ mặt vẫn ngủ say, bây giờ mặt quay vào tường để lộ chiếc cổ to lớn sạm nắng. Chị nhìn hắn một chút nữa như chờ hắn mở mắt ra, nhưng hắn vẫn ngủ li bì, chẳng hề biết là có người đàn bà đang đứng nhìn. Chị Vui nhún vai rồi hối hả trở ra ngoài. Buổi chợ đã trễ rồi.
Chị Vui nghĩ là khi chiều về thì người lạ đã bỏ đi rồi. Nhưng khi gần đến nhà, chị thấy khói bốc lên từ ống khói nhà bếp. Khi mở cổng, con ngựa hơi chồm về phía chị. Khẽ đặt bàn tay lên mõm nó, chị hỏi với một giọng nhỏ nhẹ:
- Tên mi là gì?
Rồi chị phá lên cười khiến con ngựa giật mình lui lại sau hai bước.
- Tên mi là gì, nói nghe coi.
Chị lập lại câu hỏi trên mà trong đầu lại nghĩ đến gã đàn ông đang đợi trong nhà. Chị thầm nghĩ:
- Lạ thật, mình cũng không nghĩ tới việc hỏi tên hắn nữa.
Gã đàn ông đang ngồi bên bàn ăn, chân mang đôi dép cao su. Nhìn thấy hắn, chị nói:
- Tôi tưởng là ông đã đi rồi chứ.
Hắn ngước lên nhìn chị:
- Con ngựa của tôi đau chân chưa đi được.
- Tôi thấy nó khỏe rồi mà.
- Nó còn đau, chưa đi xa được đâu. - Hắn cúi đầu nhìn xuống bàn.
Một lúc sau hắn hỏi chị:
- Tôi ở lại đây một hai ngày có làm phiền cô lắm không?
Chị Vui nhún vai không trả lời. Ðứng trước bàn, chị lấy chiếc ví nhỏ dấu dưới chiếc áo ngoài ra rồi dốc ngược xuống bàn. Tiền giấy, tiền cắc đổ ra mặt bàn. Hắn đăm đăm nhìn khi chị đếm tiền. Cầm một nắm tiền, chị đưa cho hắn:
- Nè, cầm lấy đi, ông cần tiền để đi đường.
Gã lạ mặt cười thật tươi rồi lắc đầu nói:
- Không cô ạ, cô thật tử tế, nhưng tôi có đủ tiền sài rồi. Cô cất tiền đó đi.
Thấy chị đứng không nhúc nhích, hắn nói thêm:
- Tuy nhiên, tôi vẫn cám ơn cô nhiều lắm.
Chị cầm chiếc ví vào trong buồng ngủ rồi dồn hết số tiền vào trong chiếc hộp bánh qui. Bất chợt chị nghĩ: "Mình không nên vào đây liền như vậy, phải đợi một lát nữa chứ. Bây giờ thì hắn biết mình dấu tiền ở đây mất rồi".
Khi chị trở ra ngoài nhà bếp, hắn vẫn ngồi im bất động, rồi một lúc sau đứng lên, nhìn ra cánh đồng cỏ mênh mông. Chị nghĩ là hắn sắp sửa ra đi. Một cảm giác kỳ lạ chợt đến. Chị nói với hắn.
- Tôi có mua một miếng thịt heo, đủ để làm món thịt nướng đó.
Hắn nói mà không quay đầu lại:
- Tốt lắm, tôi đang đói đây. Ðể tôi làm cho.
- Trong cái giỏ đi chợ kia kìa, treo ở hàng rào gần cổng đó.
Trong khi chuẩn bị thức ăn, chị nhận ra hắn không phải là người lười biếng. Phòng đã được quét dọn sạch sẽ, một đống củi đã bửa và được xếp gọn ghẽ trong một góc bếp. Khi đi qua chuồng heo, đàn heo đã được nhốt trong đó và no nê rồi. Hắn đứng bên cạnh chị, nói:
- Ðàn heo này tốt thật, nếu cho ăn đầy đủ thì chúng chóng lớn lắm.
Trong bữa ăn, hắn bắt đầu nói tự nhiên như người cư ngụ tại đây lâu lắm rồi:
- Vườn cây ăn trái của cô cần phun thuốc trừ sâu đấy. Sáng nay tôi thấy một con sâu bò trên cành táo đó.
Chị mỉm cười:
- Tôi nghĩ là kẻ giang hồ như ông sao lại quan tâm đến những việc nhỏ nhặt như vậy.
- Cái đó còn tùy. Trước đây mẹ tôi cũng có một vườn cây ăn trái. Lúc còn nhỏ tôi thường giúp mẹ làm vườn, vì vậy tôi học hỏi được nhiều lắm.
- Mẹ ông ... bà ấy còn sống chứ?
- Không, mẹ tôi mất lâu rồi. - Tới đây hắn đổi đề tài. - Cánh đồng của cô chưa bao giờ được cày, phải vậy không?
- Chưa. Tôi không có nhiều thì giờ.
- Thật là uổng, đất ở đây không xấu lắm. Thật là uổng nếu không sử dụng nó. Mình có thể mượn một cái máy cày, có lẽ phải cày trước khi mùa đông tới.
Câu nói của hắn làm chị giật mình. Như vậy hắn định ở lại đây luôn hay sao đây.
Một lúc sau, hắn hỏi chị:
- Gần đây có nông trại nào lớn không? Mùa thu hoạch sắp tới rồi, các nông trại thường cần rất nhiều nhân công vào lúc này. Nếu đến đó kiếm việc thì rất dễ.
Chị vẫy hắn ra cửa rồi chỉ về phía xa xa:
- Nông trại Vĩnh Hòa ở đằng kia kìa, từ đây đi về hướng đông, không xa lắm đâu, chỉ khoảng chừng một giờ đi ngựa thôi.
- Tốt lắm, ngay mai tôi sẽ đi tới đó, hy vọng sẽ kiếm được một việc làm ở đó,
Chị cười nhẹ nhàng:
- Nhưng con ngựa của ông đau chân mà.
- Thì đi chầm chậm vậy. Vả lại cô nói cũng không xa đây mà.
Sáng hôm sau, hắn đi thực. Khi nhìn hắn chỉ còn là chiếc bóng mờ phía xa, chị chép miệng lẩm bẩm:
- Hắn đi thực rồi và không bao giờ trở lại nữa. Không bao giờ trở lại nữa.
Ngày hôm đó sao dài quá, căn nhà trở nên trống trải lạ thường. Chi Vui lục lọi khắp nơi xem hắn có để lại vật gì không, nhưng chẳng tìm được gì cả. Chị nói lớn một mình: " Ðáng lẽ mình phải hỏi tên hắn chứ". Rồi chị phá lên cười. " Có gì quan trọng đâu. Cuối cùng thì hắn cũng đi. Nhưng ... nhưng, ít nhất mình cũng nên biết tên hắn chứ. Ðể cho biết, vậy thôi".
Trong khi sửa soạn bữa ăn tối, chị hát bản tình ca quen thuộc. Trời trở nên tối dần, có tiếng ngựa ngoài cổng làm chị hồi hộp. Bóng dáng quen thuộc của hắn sừng sững trước cổng. Im lặng, hắn tiến vào bếp và lặng lẽ ngồi vào bàn. Chị Vui đốt cây đèn dầu rồi đặt bát đũa trước mặt. Hắn chúi mũi ăn ngấu nghiến như bị đói lâu ngày.
Sau khi ăn no nê, hắn mới lên tiếng:
- Ông chủ nông trại là người khó khăn quá. Ông ta đặt quá nhiều câu hỏi.
- Ông ta hỏi gì vậy?
Ðôi lông mày nhíu lại như có vẻ khó chịu về những câu hỏi của người chủ trại. Trước khi trả lời, hắn gắp miếng thịt 1ớn bỏ vào miệng:
- Rất nhiều câu hỏi, nào là tôi từ đâu tới, trước kia làm những công việc gì, đại loại như vậy. Tôi có cảm tưởng như ông ta là người chẳng tin ai cả. Tôi không thích người chủ mà không tin tưởng vào người làm.
- Nhưng ... còn nhiều nông trại khác nữa.
- Ðúng vậy, vài ngày nữa tôi sẽ đi hỏi chỗ khác xem sao.
Nhưng những ngày sau đó, hình như hắn không có hứng thú gì đi kiếm việc cả. Chị cũng tảng lờ không nhắc nhở gì tới chuyện này. Còn rất nhiều việc lặt vặt trong trại cần phải giải quyết mà chị không thể làm được. Một buổi tối từ chợ trở về, chị thấy cánh đồng đã được cày thật kỹ, mặc dù hãy còn hơi sớm chưa tới mùa trồng.
Hắn bảo chị:
- Tôi mượn chiếc máy cày của gia đình ở cuối đường. Họ là láng giềng tốt.
- Ông không nên làm như thế. Tuy họ tốt bụng thật đấy, nhưng những lời đàm tiếu ...
- Kệ họ, mình chẳng thiệt hại gì cả. Việc mình thì mình lo, hơi đâu mà lo những chuyện không đâu.
Không hẳn là hắn đã nói đúng. Vài ngày sau ra chợ bán hàng, chị thấy những khách hàng quen không còn mua hàng của chị nữạVài người cùng bán hàng nhìn chị với con mắt khác thường, đầy soi mói và nói những câu bóng gió xa gần. Chị thấy mọi người thì thào bàn tán, nhìn lén chị rồi gật đầu hay lắc đầu.
Một buổi sáng, khoảng một tháng kể từ ngày gã xuất hiện lần đầu, trong khi chị Vui đang đứng bán rau quả, người chị ruột xồng xộc chạy đến quầy hàng của chị, hai hàm răng nghiến lại, gằn giọng hỏi chị:
- Chị nghe người ta đồn là em sắp lấy chồng, phải vậy không?
Chị Vui đặt chiếc bắp cải xuống, nhỏ nhẹ đáp:
- Có lẽ ... có thể lắm, chị ạ.
- Bỏ ý tưởng đó đi, em ạ. Em lại mắc một lỗI 1ầm nữa rồi.
Nhìn thẳng vào mắt nguời chị, chị Vui hỏi ngược lại:
- Chị nói vậy là làm sao? Chị muốn nói điều gì với em đây? Sao lại lỗi lầm?
- Hồi nãy, có hai người vào nhà chị để hỏi về hắn. Hai người cảnh sát đó. Bây giờ chắc là họ đang đi đến nhà em đó.
Chi Vui muốn nghẹt thở, giọng nói như khóc:
- Không, không thể nào như vậy được. Tại sao cảnh sát lại đi kiếm anh ta? Em không tin đâu.
- Một người cảnh sát nói là tháng trước hắn cướp nhà băng, lấy tiền rồi đi trốn. Họ theo dõi hắn tới đây đó. Nghe lời chị đi, em phải về nhà xem sự thể ra sao.
Chị Vui nhìn người chị cầu khẩn:
- Nhưng xạp hàng ở đây ... những món hàng này không thể không có người coi được. Chị là chị ruột của em ...
- Không ? không được đâu. Chị không thể ở đây lâu được, chị phải về săn sóc anh ấy và mấy đứa con của chị nữa chứ.
Lời nói bất nhân, phũ phàng và độc địa của người chị làm chị Vui thấy miệng đắng ngắt. Nhưng chị không có thì giờ cãi lại. Không một lời, quơ vội lấy hộp đựng tiền lẻ, chị phóng vội ra khỏi chợ.
Khi về đế gần hàng rào ranh giới quanh khu đất, bà hàng xóm chạy ra, nắm tay chị hấp tấp nói như mếu:
- Cám ơn Chúa, cô đã về. Tôi đi kiếm cô cả buổi sáng mà không thấy đâu. Nhưng đừng lo gì nữa cả, mọi người đã bỏ đi hết rồi.
Chi Vui thở ra một hơi dài:
- Ði hết cả rồi hả chị?
- Ừ, họ đã đến quá trễ. Hắn đã bỏ đi từ sáng sớm, cả một giờ sau họ mới tới. Hắn là một con cáo. Nếu muốn bắt hắn thì phải đến sớm chứ.
- Chị nói gì em chẳng hiểu gì cả.
Bà hàng xóm cười rạng rỡ kể lể:
- Nói ra cô tuyệt đối không được nói lại với ai nhé. Tối qua ông nhà tôi ra tỉnh. Ông ta nghe lời bàn tán trong quán rượu về việc hai người cảnh sát tới tỉnh này để bắt hắn. Sáng sớm hôm nay, sau khi em đi khỏi, ông ấy và chị bàn với nhau rồi sang nhà em để báo cho hắn biết. Chị nghĩ đó là quyết định đúng của chị đó.
- Nhưng tại sao chị lại làm như vậy?
- Tại sao không? Tình chòm xóm với nhau đó mà em. Ngoài ra hắn là một người tốt, hắn làm gì ở đâu đâu minh không cần biết. Hắn thật rộng rãi, nhất là vấn đề tiền bạc. Lúc mượn chiếc máy cày nhà chị, hắn trả tiền thật là hậu hỹ. Chị không muốn lấy nhưng hắn cứ nài ép mãi, chị nhất định không chịu nhận. Thế mà hắn cứ để tiền trên bàn rồi bỏ đi, lúc đó chị quay lưng lại nên không thấy. Sau khi hắn đi rồi chị mới thấy đó em. Mà sao mặt em tái mét vậy? Ðể chị đưa em về nhà nhé.
Chị lắc đầu và lấy lại nụ cười tươi như thường 1ệ:
- Không sao đâu chị ạ. Em đi một mình được mà. Em cần nghỉ ngơi một chút. Chị tốt với em quá, em cũng gởi lời cám ơn chồng chị nhé.
Chị Vui quay về hướng căn lều. Những bước chân nặng nề như không mang nổi mối ưu tư nặng chĩu trong đầu. Chiếc sân trước nhà như trống trải hẳn vì thiếu vắng con ngựa. Một cơn gió bốc theo cát bụi thổi qua những luống đất mới được cày. Chị thầm nghĩ: " Miếng đất này cày sớm quá, anh ấy phải biết là nên đợi mùa thu đến đã chứ".
Căn nhà bếp như tối và có vẻ lạnh lẽo hẳn. Chị ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn ăn. Mùi những khúc cây mới bửa chất trong góc bếp xông lên ngột ngạt căn phòng. Áo ướt đẫm mồ hôi khiến chị rùng mình.
Ngồi im một lúc, chị đứng lên vươn vai rồi đi vào phòng ngủ. Ðiều đầu tiên chị nhận thấy là chiếc thùng gỗ trong góc phòng bị xê dịch. Ðôi mắt chị mở tròn xoe, tay run lẩy bẩy. Có người đã biết chỗ dấu tiền rồi.
"Rộng rãi tiền bạc". Lời bà hàng xóm chợt vang trong đầu. Bà ấy muốn nói gì đây. ?Rộng rãi tiền bạc, nhưng là tiền của ai đây mà rộng rãi chứ??
Chị vội qùi xuống sàn nhà. Phải một lúc sau chị đưa hai tay ra như cầu nguyện, rồi cố gắng lắm để tự kiềm chế, chị với tay kéo chiếc hộp bánh qui bằng thiếc ra khỏi lỗ hổng. Ôm nó vào ngực, tim đập thình thịch, chị cảm thấy trời đất như tối sầm lại.
Mệt mỏi đứng dậy, chị quay trở lại nhà bếp rồi đặt chiếc hộp 1ên bàn. Nắp hộp chặt quá, chị phải lấy mũi dao nạy mới mở ra được. Chiếc nắp bật tung xuống đất.
- Ðối với hắn thì quá dễ đi. - Chị nói lớn một mình nhưng không dám nhìn vào chiếc hộp đựng tiền.
Nhưng kìa, số tiền chị dành dụm bao năm vẫn còn nguyên vẹn. Chậm chạp, chị bắt đầu đếm xem có thiếu hụt gì không. Thình lình, chị ngưng tay đếm, mắt mở tròn xoe. Dưới tận đáy hộp, một miếng giấy ghi vài hàng chữ và ba lượng vàng cuộn trong một mảnh giấy dầu màu vàng. Chưa bao giờ chị có hay được nhìn thấy vàng như bây giờ.
Chị Vui cầm một lượng vàng lên, nhìn thật kỹ vào thoi vàng làng lạnh, óng ánh và có một vẻ đẹp mà chưa bao giờ chị được thưởng thức. Những nét chữ nghệch ngoạc viết bằng bút chì của hắn nhắn nhủ chị lần chót. Chị gục đầu xuống bàn.
Một lúc sau, chị chạy vào trong buồng ngủ, nằm vật xuống giường. Lần đầu tiên trong đời, chị bắt đầu khóc, trước còn nhỏ, sau đó chị gào 1ên như một con thú gào thét trong cơn đau đớn cùng cực:
- Hắn là một tên cướp đã lấy hết những gì mình có. Niềm hạnh phúc này, sự yên bình này. Hắn đã cướp đi hết của ta rồi. Lấy đi hết của ta rồi.
*Trần Hồng Văn.
Tác giả: Robert Culff viết truyện bằng hai thứ tiếng: Tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, đôi khi dịch truyện từ tiếng này sang tiếng kia. Ông đã cống hiến rất nhiều cho kho tàng văn học thế giới. Tuy theo học tại Mỹ Châu La Tinh, ông tự coi mình là công dân của mọi quốc gia. Lớn lên và làm việc tại Barcelona, nơi ông sinh ra đời.

(Trích trong ?Hoa Với Lá Chỉ Một Màu Trắng Ðục?, tuyển tập truyện ngắn quốc tế chọn lọc, tập 1)

.

Trần Hồng Văn




Mục Lục


13. Gởi Người Chưa Một Lần Diện Kiến

Mỹ Ngọc




(tập thơ H.C.B, NXB Văn Nghệ - 2009)

*Trong một lần trò chuyện với Ngô Nguyên Nghiễm, Hồ Chí Bửu đã nói ? Thơ tôi có được từ những trải nghiệm đau đớn và sung sướng của bản thân? (Phần Thay Lời Bạt).
Ðọc qua tập thơ ? gởi người chưa một lần diện kiến?(NXB Văn Nghệ 2009), thấy quả đúng ?như thế? thật.
Có lẽ vì bản thân ?ngộ? ra ? thơ là không, người là không, không cũng là không? nên ngôn ngữ của Hồ Chí Bửu tha hồ tung tẩy, bông đùa cả những cái trang nghiêm, đặc biệt là bông đùa trong thơ tình:
?Nếu thấy kiếp nầy không duyên không nợ/
Thì xin xù luôn cái kiếp lai sinh?
(Liên Khúc Xuân)
hay
?Em dụ khị bảo ta là sư tử/
Còn em chỉ là một chú dê non/
Ôi sư tử đã đến hồi tự tử/
Mầy sắp chết rồi trong tay chú dê con?
(Nhầm nữạ.)
Nhưng đừng vội nắm lấy những câu thơ bông đùa ấy mà cho rằng cái tình của Hồ Chí Bửu nếu có cũng chỉ là cái tình nông nổi. Cái bông đùa trong thơ Hồ Chí Bửu giống như một người vì không còn gì để có thể khóc được nữa nên đành phải cười.
?Ðời lắm ngả/nên người đi dễ lạc
/ta yêu em/là đã lạc đường rồi
/muốn quay lại/nhưng đường xưa đã xoá
/ta một mình/trên thuyền nhỏ ra khơỉ
(gởi người chưa một lần diện kiến).
Nếu Hồ Chí Bửu thực lòng muốn ?xù? kiếp lai sinh chỉ vì kiếp nầy không duyên nợ thì hà cớ gì cái kiếp không duyên nợ nầy mà chao chát kiếm tìm để hằn vào lòng mình những nỗi đau ?
Hồ Chí Bửu là một gã ?hư hỏng?, hư hỏng theo cái lí
?sá gì đâu một cuộc đời ô trượt
/mai mốt rồi cũng về với cỏ cây
/ta đâu phải thánh hiền mà sống đời mực thước
/giống như thơ ta bay bổng theo mâỷ
(Tới bây giờ mới nói).
Hồ Chí Bửu sống tự nhiên như ? ngườỉ, hư hỏng như ? ngườỉ, và trần tục như ? ngườỉ.
Có nhiều cái sẽ mai một theo thời gian nhưng hình như cái chất bụi bặm, phong trần không chút phôi pha trong thơ Hồ Chí Bửu. Ừ, thì thế, thế mới là Hồ Chí Bửu.


Mỹ Ngọc




Mục Lục


14. Chúa Tể Lên Ngôi

Nguyễn Quý Ðại




Năm cũ trôi qua năm mới lại về, chúng ta sửa soạn nghênh đón tên con vật mới, từ trước đến nay việc chọn tên các con gia súc và thú vật hoang dã làm biểu tượng mỗi năm gọi là 12 con giáp. Theo thời gian có sự liên hệ 12 cung Hoàng đạo cần phải nói đến Ngũ Hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Người Tây phương tính theo chu kỳ sao Jupter (?? Mộc tinh) quay quanh mặt trời là 12 năm. Mỗi năm nó xuất hiện ở một phương vị nhất định, nơi đó do một trong 12 con giáp đang trấn giữ. Mười hai con vật được gọi là 12 địa chi tượng trưng cho chu kỳ một năm. Trong số các con giáp này mỗi con vật đại diện 2 giờ đồng hồ trong một ngày 24 tiếng. Con rồng là con vật thần thoại và Tí, Dần, Tỵ, và Thân là những con vật sống hoang dã và thường tránh gặp con người. Bảy con còn lại là gia súc, theo chu kỳ 12 năm thì lại mang tên con vật cũ.
Ðời sống Việt Nam ảnh hưởng nông nghiệp nên sử dụng cả Âm Lịch và Dương lịch. Trong dân gian tính ngày âm theo phong tục: tế tự, lễ hội, ma chay, cưới gả, dựng nhà.. Năm 2010 theo Âm lịch ngày 14.2.2010 Dương lịch là ngày Mùng Một Tết năm Canh Dần. Hổ đứng thứ 3 trong 12 con giáp lên ngôi. Nhìn lại 12 tháng qua con Trâu siêng năng, làm việc mệt nhọc suốt ngày đêm, từ từ đưa cơn suy thoái kinh tế vượt qua vực thẳm, thế giới nhiều thay đổi, Tổng thống đầu tiên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là người da đen.

Hổ trong thiên nhiên

Trên rừng núi Hổ là một trong nhiều loài thú dữ, nhưng Hổ (cọp, hùm) to lớn di chuyển nhẹ nhàng có sức mạnh phi thường, có thể nhảy cao 2 m, dài 8 m nhanh nhẹn, bơi lội giỏi nên được gọi là Chúa Tể Sơn Lâm. Nhưng ngược lại Hổ có trí nhớ rất kém.
Thời xa xưa đời sống con người ở các vùng đồi núi chưa có vũ khí để chống lại Cọp, đành bó tay sợ hãi, làm miếu thờ đôi khi thần thánh hóa gọi Cọp là ông Ba Mươi, Hổ không thích ánh sáng, ban ngày lẩn trốn trong bụi cỏ, lùm cây hay ngủ, khi mặt trời lặn. Hoàng hôn về Hổ thường xuất hiện tìm mồi, mắt rất sáng trong đêm tối có thể thôi miên những con mồi nhỏ bé ăn cỏ như nai, hươu..
Một trăm năm trước trên thế giới có khoảng 100.000 con sống rải rác trên núi rừng, ngày nay Hổ (Cọp) không là mối đe doạ nữa, mà còn bị con người bắt giết lấy xương da, còn lại hơn 5000 con, nhiều loại bị diệt chủng! Cọp đứng chi thứ 3 trong 12 con giáp nên gọi là Dần ?, giờ Dần chỉ thời gian từ 3 đến 5 giờ sáng. Cọp nay còn nhiều hay ít, hình ảnh và truyền thuyết về loài Cọp vẫn nằm trong tâm tý và văn hóa các dân tộc Á Ðông.

Phân loại Hổ trong đời sống và khoa học

Giới (regnum), Animalia động vật
Ngành (phylum), Chordata loại có xương sống
Lớp (class), Mammalia động vật có vú
Bộ (ordo), Carnivora động vật ăn thịt
Họ (familia), Felidae họ mèo
Chi (genus), Panthera Beo báo

Hổ lớn nhất trong họ nhà mèo, nhưng có nhiều loại Hổ có một số đặc trưng khác nhau. Ðuôi dài giúp nó quân bình thân thể khi lèo lái lúc rượt bắt mồi, râu dài giúp nó tìm mồi, đánh hơi như mèo. Hổ đực trọng lượng nặng từ 150 đến 310 kg và Hổ cái từ 100 đến 160 kg. Hổ đực dài từ 2,6 đến 3,3 m Hổ cái từ 2,3 đến 2,75 m. Trong các loại Hổ, giống Corbetts nhỏ, loại Hổ Amur lớn nhất. Màu của chúng có thể là bất kỳ màu nào trong khoảng từ vàng đen đỏ-da cam. Sau tai có đốm trắng, cằm và họng màu trắng, trên ngực, cổ, cũng như phần bên trong của chân màu trắng nhạt. Bộ lông có nền vàng màu da bò, vàng nhạt có nhiều sọc (vằn) màu đen hoặc màu nâu đen. Ðuôi có vòng nâu đen không đều từ trong đến nút đuôi, một biến thể ?gen? là Hổ trắng,

Các loài hổ khác nhau

*Panthera tigris altaica Hổ Siberia hay Hổ Amur, còn gọi là Hổ Mãn Châu (Trung Hoa gọi là hổ Ðông Bắc ??), gần như toàn bộ sống trong những khu vực rất hạn chế của miền đông Nga, ở đó hiện nay chúng được bảo vệ. Trong thiên nhiên có ít hơn 400 con. Hổ Siberia là giống Hổ to con, con đực thường dài trung bình 2,7 mét và nặng khỏang 290 kg, với bộ lông dày và những đường vằn lớn màu vàng nhạt.

*Panthera tigris amoyensis - Hổ Hoa Nam.??, chữ amoyensis tên khoa học của nó xuất xứ từ tên địa danh Amoy, còn gọi là Xiamen tức Hạ Môn, đang nằm trong tình trạng nguy hiểm nhất, sẽ tuyệt chủng ?

*Panthera tigris corbetti - Hổ Ðông Dương Indochina-Tiger (còn gọi là hổ Corbet), được thấy ở Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanma, Mã Lai, Trung Hoa. Tại Việt Nam phần lớn hổ đã bị giết để lấy da xương nấu cao hổ cốt .

*Panthera tigris jacksoni Hổ Mã Lai đồng nghĩa: Panthera tigris malayensis), tiếng Mã Lai: Harimau Malaya, chỉ tìm thấy ở khu vực phía nam của bán đảo Mã Lai .

*Panthera tigris sumatrae - Hổ nầy sống ở đảo Sumatra (Indonesia) đảo hoang dã có khoảng 400 đến 500 con.

*Panthera tigris tigris Hổ Bengal sống trong rừng già và đồng cỏ của Bangladesh, Bhutan, Trung Hoa, Ấn Ðộ và Nepal. Còn từ 3.000 đến 4.600 con, phần lớn sống ở Ấn Ðộ và Bangladesh.

Ba loại Hổ đã tuyệt chủng:

*Panthera tigris balica Hổ Bali-Tiger,
*Panthera tigris sondaica Hổ Java-Tiger
*Panthera tigiris virgata loại Hổ Caspi-Tiger

Hổ sống trong môi trường thiên nhiên có tuổi thọ tối đa 25 năm, phần lớn chỉ sống tới 17 hay 21 năm, tuy nhiên vì nạn săn bắn không tính được tuổi thọ! Hổ có thể sống thích hợp với thời tiết thay đổi theo từng điạ phương nóng +40 hay lạnh -40 độ Celsius, trên núi cao đến 3000m. Mỗi ngày đêm có thể di chuyển 30km, ít hoạt động ở một chỗ trong nhiều ngày, nó thường đi một mình, thích thịt bò, nai, heo rừng? mỗi ngày ăn từ 8 đến 50 kilo, phần thịt còn lại cất dấu một nơi, sau khi ăn no nó uống rất nhiều nước và nằm ngủ, răng Hổ còn dính thịt thường được các con công xiả răng, Hổ có mùi hôi vì ăn thịt sống máu còn dính hai bên miệng, râu mép. Bởi vậy râu Hổ rất độc có chất ptomaine, khi săn hay bẫy được Hổ, người ta thường đốt râu, sợ người khác lấy râu Hổ bỏ vào bẹ măng sẽ sinh ra loại sâu có phân rất độc tác dụng giết người.

Tuổi trưởng thành của Hổ từ 3-4 năm, Hổ cái động dục 5 ngày theo chu kỳ 50 ngày, sau thời gian giao phối có chửa kéo dài khoảng trên dưới 100 ngày, sinh từ 2 đến 6 con, mỗi con lúc vừa sinh nặng chừng 900 Gramm đến 1400 Gr dài 40 cm. Từ 4-12 ngày thì mở mắt, 2 hay 3 tuần sau mọc răng sữa, một tháng rưỡi Hổ con bắt đầu ăn thịt. Chúng bú sữa mẹ tới 6 tháng và theo mẹ tập săn mồi từ 2 đến 3 năm. Thời gian nuôi con Hổ mẹ không giao phối, tuy nhiên nếu tách Hổ con ra, thì Hổ mẹ tiếp tục giao phối sinh đẻ. Bạch Hổ là loại Hổ lông màu trắng có vằn đen rất hiếm, năm 1951 người ta phát hiện trong rừng của tiểu vương Rewa người ta bắt được 4 chú Hổ con, 3 con màu vàng đặc biệt, một con màu trắng lúc 9 tháng. Con Hổ màu trắng tên là Mohan đem về nuôi dưỡng ở lâu đài Govindgarth, khi truởng thành, người nuôi cho giao phối với con Hổ lông vàng tên Begun, sinh 4 con cái tên Radha được nuôi lớn cho giao phối với Mohan sinh ra 4 con Bạch Hổ là Raja, Rani, Mohine, Sukheshe. Hổ Radha sinh thêm 4 lứa được 11 con Bạnh Hổ. Chính phủ Ấn Ðộ tài trợ cho việc nuôi dưỡng, các con Bạch Hổ sinh sản nhiều hơn. Ngày nay các con Bạch Hổ ở sở thú hay các đoàn xiếc đều là giống từ Ấn Ðộ.

Hổ trong lịch sử và văn chương Việt Nam

Giai thoại ngày xưa Tả quân Lê Văn Duyệt cùng với sứ thần Xiêm La (Thái Lan) hay Chân Lạp ngồi trên vọng đài xem các võ sĩ đấu với Hổ. Dân chúng chen chúc đứng chung quanh đài. Tả quân truyền lệnh thả hổ ra để võ sĩ biểu diễn bắt sống hổ cho sứ thần xem. Lê Văn Khôi mình trần mặc quần cụt, tay cầm đùi heo. Không ngờ gặp con Hổ quá dữ tấn công ngay, ông né mình đánh ra một côn trúng Hổ ngã lăn một lúc rồi tắt thở. Sứ thần Xiêm La tấm tắc khen ngợi, nhưng Tả Quân nổi trận lôi đình truyền đao phủ bắt trói Lê Văn Khôi đem chém, vì theo lệnh đấu với hổ chỉ được bắt sống chứ không được đánh chết. Lê Văn Khôi đến trước vọng đài xin tha tội vì không biết, xin được bắt sống Hổ khác để chuộc tội. Tả quân đồng ý ra lệnh thả Hổ ra, bên ngoài trống thúc vang trời. Cuộc tỷ thí lần này thật là gay go Lê V. Khôi đá trúng hàm dưới của Hổ. Hổ nằm bất tĩnh ông trói hổ và đặt dưới vòng đài làm lễ xin chuộc tội. Sứ thần Xiêm la thấy vậy khen không dứt lời. Tả Quân ung dung nói: Bọn tiểu tốt dưới trướng tôi đều như vậy cả, có chi đáng cho đại nhân khen. Ðây là hình thức phô trương nhân tài về võ nghệ cao cường của người Việt Nam, dằn mặt quân Xiêm đừng sang quấy phá nước ta.

Ngày xưa các Vua Chúa còn thích xem Hổ đấu với Voi, ở cố đô Huế còn lại phế tích trường đấu Hổ Quyền xây dựng năm 1830. Trường đấu gồm hai vòng tường thành hình tròn đồng tâm xây bằng gạch vồ, trát vôi vữa. Tường dày 1,1m ở nền và 0,5m ở đỉnh. Ðường kính của vòng tường ngoài là 45m, chu vi 140m, cao 4,5m. Vòng tường trong có đường kính 35m, chu vi 110m, cao 6m. Hai vòng tường cách nhau 4m. Từ dưới chân tường có hai cầu thang để đi lên con đường đất. Cầu thang thứ nhất có 20 bậc dành cho vua và hoàng gia. Khán đài là một khu đất hình chữ nhật, diện tích 96m² cao 1,5m so với mặt đường đất. Từ trên khán đài nhìn xuống người ta thấy khu lòng chảo của trường đấu. Cầu thang thứ hai có 15 bậc dành cho lính và dân xem. Khoảng giữa hai cầu thang là một lối vào rộng 1,9m, cao 3,9m dành cho voi vào trường đấu. Ðối diện với khán đài dành cho vua, ở phía bên kia của đấu trường là 5 chuồng Hổ và Báo. Phía trên chuồng ở chính giữa có một tấm biển bằng đá chạm hai chữ Hán ?Hổ Quyền?, trận đấu cuối cùng giữa Voi và Hổ ở Huế dưới thời vua Thành Thái năm 1904.

Thi ca được truyền tụng trong dân gian về hình ảnh Chúa Tể Sơn Lâm:

-Chớ thấy hùm ngủ vuốt râu, đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng còn
-Vuốt râu hùm - xỉa răng cọp: làm các việc nguy hiểm
-Rừng già lắm voi, rừng còi lắm hổ - kinh nghiệm của thợ săn
-Hùm chết để da, người chết để tiếng - nói lên ích lợi của loài hổ và con người ngay cả sau khi chết
-Hổ đội lốt thầy tu, ám chỉ kẻ giả đạo đức, thành phần lợi dụng tôn giáo để được vinh thân.
-Trời sanh hùm chẳng có vây
Hùm mà có cánh hùm bay lên trời
-Ðiệu hổ ly sơn dụ cọp ra khỏi núi, một sách lược để đối thủ yếu đi
-Hổ ngọa phùng nhân thực, nhân thực cùng khởi đạo tâm/con cọp đói gặp người bắt ăn, cũng như người nghèo khổ sinh ra lòng trộm cắp?
-Nam thực như hổ, nữ thực như miêu/ đàn ông ăn nhiều đàn bà ăn ít.

-Hùm mất hươu hơn mèo mất thịt/ giống như trèo cao té nặng.
-Ðuổi hùm ra cửa trước rước sói cửa sau! chống kẻ ác nầy nhưng rước kẻ ác khác vào.
-Hổ phụ sinh hổ tử/ hổ cha sinh ra hổ con.

Trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đã chỉ cái uy của con Hổ (hùm)
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn.
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này
Râu hùm, hàm én mày ngài

Giai thoại về câu đối, ngày xuân khách viếng Chùa (ông Hoàng Phan Thái? ) bị nhà sư ra câu đối, ông đã đối lại rất chỉnh:
Cái là tượng, tượng là voi, voi chầu cửa cái
Tu là hổ, hổ là cọp, cọp bắt thầy Tu
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Phạm đình Hổ tức Chiêu Hổ ngày nọ đến chơi, chỉ có một mình Xuân Hương ông muốn giở trò suồng sã bị Xuân Hương mắng vốn:

Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay

Hùm là Hổ tức tên Chiêu Hổ cũng không thua họa lại

Này ông tỉnh, này ông say
Nay ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Hang hùm ví bằng không ai mó,
Sao có hùm con bỗng chốc tay?

Trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến bài Nhớ rừng của Thế Lữ diễn tả tâm hồn thi nhân rất phóng khoáng, hoà vào thiên nhiên với những tiếng thở than trong khoảng không vắng lặng! bài nầy cũng là nỗi lòng của những Sĩ quan, Công chức miền Nam sau biến cố đổi đời 1975, hàng loạt người bị nhà cầm quyền mới tập trung vào các trại cải tạo mất tất cả tự do:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm?.
???????..
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thuở tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cõi sơn lâm, bóng cả, cây già
Tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
???????
Hổ sống trên rừng cao, trong sở thú, nhưng hình ảnh Hổ quen thuộc, gần gũi trong sinh hoạt con người. Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam phát hành ngày 25.8.1972 loại 500 Ðồng màu vàng cam đen, mặt trước là Dinh Ðộc Lập mặt sau là con Hổ. Biệt Ðộng Quân mũ nâu với phù hiệu đầu cọp trên ngôi sao 5 cánh màu trắng. Biệt Cách Dù mũ xanh phù hiệu con cọp vàng nhảy qua chiếc dù trắng, Thủy quân lục chiến là cọp biển. Trong quân đội có chuồng Cọp để nhốt phạt quân nhân vi phạm kỷ luật. Bọn thực dân Pháp gọi ông Hoàng Hoa Thám là con Hùm Yên Thế. Trong các đền, miếu thường thờ tranh Ngũ Hổ: Hoàng hổ, Hắc hổ, Bạch hổ, Xích hổ, Thanh hổ. Ngoài ra có bia hay tranh điêu khắc hình, tượng cọp thật oai. Trong các phái Võ lâm có các bài Quyền về hổ: Mãnh Hổ quyền, Xà Hổ Hạc quyền, Long Hổ quyền, Phục Hổ quyền, Hổ quyền dưỡng sinh khí công?..
Hổ khẩu là tên huyệt đạo nằm giữa ngón cái và ngón trỏ huyệt nầy rất quan trong trong ngành châm cứu. Ngoài ra còn rất nhiều từ về hổ: Hổ cứ, Hổ lĩnh, Hổ môn, Hổ bộ, Hổ mang, Hổ thẹn, Hổ mặt, Hổ tướng, Hổ giấỷTết có môn chơi Bầu, Cua, Cá, Cọp. Cười mỉn chi cọp, đọc sách cọp, xem hát cọp, Chùa cọp Watpa Luang bua nổi tiếng ở Thái Lan đã có công thuần hoá 50 con cọp sống trong vườn Chùa hiền như những con chó, tiền nuôi đàn cọp nầy nhờ du khách (hàng ngày mỗi con ăn hơn 6 kilo thịt). Nuôi cọp cũng không tránh được ? sinh nghề tử nghiệp? như đoàn xiếc nổi tiếng của Sigfried and Roy ở Las Vegas, ngày 03.10.2003 ông Roy Horn điều khiển cọp trình diễn, bổng dưng con cọp trắng hằng ngày được ông huấn luyện tấn công ông ngay trên sân khấu. Ông bị trọng thương dù được chửa trị, nhưng ông trở thành phế nhân, đoàn xiếc 30 năm hoạt động phải ngưng!
Thế vận hội năm 1988 ở Seoul dùng biểu tượng con cọp, hãng dầu cù là Tiger Balm Singapore với hình cọp đang chạy. Năm 1945 hãng bia BGI có ?Bière Laruẻ ở Việt Nam sản xuất bia nhãn hiệu đầu Cọp màu vàng, chai cao (0.66 lit). Singapore năm 1932 có hãng bia con cọp Tiger Beer. Truyện tranh Calvin and Hobbes của Bill Watterson. Tác giả A A. Milne trong truyện Winnie the Pooth diễn tả hổ luôn đem lại may mắn? tiểu thuyết Life of Pi/ cuộc đời của Pi viết về cậu bé sống sót trên Thái bình dương với con Hổ Bengal. Tuy nhiên con Hổ Shere Khan trong tác phẩm The Jungle Books là con vật nguy hiểm nhất của Mowgli. Tác phẩm cọp trắng của Aravind Adiga. Chuyện Khổng Tử trả lời Tử Lộ ?nắm đuôi cọp mà giết? hay chuyện ?Cọp Mặc Tử? là những triết lý rất hay nói về thế thái nhân tình. Trong dân gian còn khá nhiều truyền thuyết về Cọp như: Cọp mẹ chửa trị cho cọp con bằng lá đa (sự tích chú Cuội bay lên trời) Cọp 3 chân, Cọp một mắt, tại sao Cọp vằn, Cọp mắc bẫy không ai thèm cứu, Cáo mượn oai hùm, thác hang Cọp có nhiều huyền bí ở Ðà Lạt hay còn có tên là thác Ðạ Sar. Ngày nay ở Hà Nội đất hẹp người đông nên có khu phố chuồng Cọp??.

Thảo dược mang tên Hổ

* Hổ Cao hay Hy Thiêm tên khoa học Siegesbeckia orientalis L. họ cúc có nơi người ta gọi là cỏ của trời, hái lúc cây chưa ra hoa, phơi khô dùng để chữa chân tay tê, lưng, đầu gối đau vì bệnh phong thấp.
*Hổ Kế hay Ô Rô còn gọi là đại kế tên khoa học Cnicus japonicus Maxim, họ cúc là loại cỏ mọc hoang ở Á Châu, hái cây đang lúc nở hoa, phơi khô. Trong dân gian dùng cây nầy để chữa chảy máu cam, thổ huyết, phù thận người ta dùng cây tươi giã vắt nước uống hay cây khô sắc nuớc uống như trà .
* Hổ Trượng Căng còn gọi là củ cốt khí Polygonum Cuspidatum họ rau răm, trong rể cây nầy có chất antraglucosid dùng làm thuốc chữa tê thấp do té ngã bị thương.
*Ðơn lưỡi Hổ hay lưỡi cọp. Sauropus rostatus, họ thầu dầu còn gọi là cây Cam Xũng mọc hoang ở rừng núi, lá rễ hái về sấy chữa dị ứng tiêu chảy..
* Hổ Thiệt còn gọi là lưỡi hổ hay Lô Hội, (lô là đen hội tụ lại nhựa cây cô đặc có màu đen) tên khoa học Aloe Vera họ hành tỏi, loại cây thông dụng chế biến trong ngành mỹ phẩm, làm kem thoa da, dầu gội đầủ người ta cắt lá lấy nhựa, tinh dầu, nhựa, chất Aloin. Ðây là vị thuốc dùng trong Ðông và Tây Y, giúp tiêu hoá kích thích niêm mạc ruột??
* Hoa Hổ Ngươi là Hoa Trinh Nữ, còn gọi là Hoa Mắc Cở, nấu lấy nước uống theo Nam Y trị bệnh cao máu?
* Hổ phách được gọi là huyết phách, minh phách, hồng tùng chi, tên khoa học là succinum, là nhựa của các loài cây lá kim đã hóa thạch,
* Thạch anh mắt cọp (Tiger?s Eye) người ta sử dụng như đá phong thuỷ và làm trang sức
* Hoa móng cọp tên khoa học strongylondonmacrobotrỵL, còn gọi là hoa cẩm thạch (Jade Vine)
* Ngũ Hành Sơn Ðà Nẵng có loại cây hạt tròn (tigridies) là hổ vĩ thảo còn gọi là cây đuôi cọp
Những động vật có tên hổ đều nguy hiểm như : các loại rắn hổ, muỗi hổ Á Châu, kỳ nhông hổ, nhện hùm, cá mập da hổ, nhái cọp?.
Ngoài ra xương Hổ dùng nấu Cao hổ cốt tên khoa học Panthera tigris L, dùng toàn bộ xương con Hổ, không thể thiếu miếng xương nào. Do đó phải có người biết xem và chọn lọc xương. Xương hổ quý nhất là xương tay (hổ hình cốt) rồi xương chân, xương đầu, xương sống liền với xương đuôi (không thể thiếu những xương này được). Xương tay hơi vặn ở khuỷu, có một lỗ ?thông thiên?; đặc điểm này dùng phân biệt xương hổ, xương beo với các xương khác: răng hàm có hình chữ ?tam sơn?. Hổ chết trong rừng lâu ngày xương trắng bợt, nếu ngâm nước lâu thì bị ải, hổ săn bắn được thì xương dính liền nhau, trắng ngà, để hơi vàng. Xương hổ tốt nhất nặng 10 - 15kg. Nếu có đủ 5 bộ xương cùng nấu thì tốt nhất. Một kg xương đã chế nấu được độ 230g cao mềm, cho nên nấu Cao hổ cốt người ta thường nấu lẫn với xương Sơn dương (tỷ lệ 1/5). Nếu được "ngũ dương nhị hổ" thì càng có lực mạnh. Xương sơn dương nấu với xương Hổ cũng phải làm sạch như gạc (sạch tuỷ, gân, thịt theo kinh nghiệm của Ðông y sĩ thầy Ba Quế Sơn ở Bảy hiền cho biết). Ngày nay xương cọp hiếm nhiều người nấu cao hổ cốt giả để trục lợi.
Ngành Y học Tây phương chưa khám phá ra các chất bổ dưỡng trong Cao hổ cốt, họ chưa dùng các loại dược phẩm ngâm rượu hổ cốt như ở bên Tàu hay Việt Nam nhưng tuổi thọ họ rất cao. Chúng ta cần phải xét lại quan niệm của người Tàu ăn, uống để cường dương bổ thận ngay cả thai nhi? điều nầy không thể nào chấp nhận được.

Các quốc gia Á Châu ăn Tết Canh Dần

Mỗi quốc gia có một phong tục riêng về quan niệm 12 con Giáp. Ðại Hàn, Nhật, Hoa họ gọi là: Chuột-Bò-Cọp-Thỏ-Rồng-Rắn-Ngựa-Cừu-Khỉ- Gà- Chó-Heo. Người Việt thì chọn con đứng thứ 4 là Mèo là và thứ 8 là Dê. Ðón Tết giống nhau về ngày Âm lịch, nhưng Nhật là quốc gia chọn Tết Dương lịch theo các nước Tây Phương từ khi cuộc Duy Tân Minh Trị do Thiên Hoàng Meijig năm 1868. Người Nhật chuẩn bị năm mới từ ngày 31.12 có tên gọi là Omisoka và đón mừng năm mới Oshogatsu, vui chơi 3 ngày Tết theo phong tục truyền thống của Nhật.

Thái, Lào, Campuchia ăn Tết theo Phật lịch năm mới bắt đầu bằng ngày Ðản sinh của Ðức Phật 15/4 và ngày lễ chính thức được mở đầu bằng lễ tắm Phật từ 13 đến 15 tháng 4. Ngày xuân với lễ hội té (tạt) nước người ta tin nước sẽ giúp gột rửa điều xấu xa, bệnh tật và cầu chúc năm mới sống lâu, sạch sẽ và mạnh khỏe, để cầu may, bình yên cho cả năm, người dân sẽ té nước lên nhau bằng cách xổ người được té nhiều nước càng may mắn. Tuy nhiên mỗi nước có nghi thức lễ hội và sinh hoạt khác nhau: Thái Lan ăn tết gọi là Songkran. Sau lễ tắm Phật trên chùa, bắt đầu mừng năm mới bằng lễ té nước. Các món ăn đặc trưng của Thái: cà ri xanh nấu với gà (gaeng kiao wan gai), canh chua tôm (tom yam), bánh gạo thịt gà và tôm, xôi ngọt sầu riêng? Tết Campuchia gọi là Chol Chnam Thmay (Chôl Chnăm Thmây). Ngày tết gia đình quây quần bên nhau, cùng thưởng thức món cà ri. Lào tết gọi là Bunpimay, món ăn Tết là Lạp được làm bằng thịt gà hay thịt bò, trâu tươi bằm nhuyễn với rau bạc hà xắt nhỏ và nước cốt chanh, không dùng đường, vị chua cay. Người ta thường dùng Lạp chung với các loại rau như húng lủi, ngò gai ăn với xôi nóng?trong những ngày tết thường có lệ phóng sanh .
Người Philippines ăn Tết theo Dương lịch là dịp để những người trong gia đình suy ngẫm về những chuyện diễn ra trong năm qua, và cùng hướng về tương lai với những hy vọng tươi sáng. Ðối với người Philippines ngày tết biểu tượng cho sự thay đổi, hy vọng, cơ hội sửa sai và làm những điều tốt đẹp. Giao thừa bàn tiệc ?Media Nochẻ để cả gia đình cùng thưởng thức vào đúng nửa đêm. Bàn tiệc thường có trái cây xếp theo hình vòng tròn, biểu thị những đồng tiền xu, với ước vọng đem lại may mắn về tài chính cho gia đình.
Dân tộc Indonesia và Malaysia là quốc gia, ảnh hưởng Hồi giáo có nhiều tôn giáo và sắc tộc, do đó cách chào đón tết cũng rất đa dạng và khác biệt. Ðó là tết của người Hồi giáo (Tahun Baru Hijriah), tết của người Hindu tại đảo Bali (Tahun Baru Saka) và tết cổ truyền theo kiểu Trung Quốc (Tahun Baru Imlek) hay còn được gọi là Imlek, chính thức được công nhận là ngày lễ quốc gia tại Indonesia.
Tuổi Dần tốt xấu
Người tuổi Dần thường có nét uy quyền tính can đảm, thích mạo hiểm. Họ có tính tập trung cao, luôn đem hết cả sức lực, tinh thần để làm việc. Ðời sống tình cảm của họ rất phong phú, nên khi còn trẻ họ có lối sống khá lập dị, ham bay nhảy, du lịch đó đây. Người nữ tuổi Dần rất có duyên, hoạt bát, linh lợi, thanh lịch, họ không bao giờ hài lòng với bất cứ việc gì. Người tuổi Dần hợp với người tuổi Hợi, vì người tuổi Hợi điềm đạm, từ tốn, họ sẽ bổ túc, kiềm chế sự nóng nảy của người tuổi Dần. Dần ý hợp tâm đầu với người tuổi Tỵ vì cả hai đều rất đa nghi. Sự khác biệt là ở chỗ người tuổi Dần liều lĩnh trong khi người tuổi Tỵ thì thận trọng. Người tuổi Dần sẽ nếm hậu quả nếu đối đầu với người tuổi Thân vì người tuổi Thân nhanh nhẹn, tháo vát, lắm mưu nhiều kế. Người tuổi Dần mệnh Mộc có tài ngoại giao trọng danh dự, có thể tạo dựng nên sự nghiệp lớn.
Ðời sống con người thăng hoa tốt đẹp cần giàu lòng vị tha chia sẻ buồn vui với đời, tính tốt con người rất hiếm trái lại thói hư tật xấu khá nhiều, những kiêu căng, oán giận tham tiền, háo danh, háo sắc? là những tật xấu đưa con người đến bại hoại thanh danh?như tục ngữ có câu ?cọp chết để da người ta chết để tiếng ?. Chúa Tể Sơn Lâm lên ngôi, nhưng con người thông minh là con của Thượng Ðế, là Chúa của muôn loài, nhưng chúng ta phải bảo vệ thiên nhiên, để thú rừng còn nơi để sinh sống. Kính chúc đọc giả mùa Xuân An Bình và nhiều Ân Phúc.
Tài liệu tham khảo
Tiger im Natur Lexikon và Wikipedia


Lịch Julius do hoàng đế Julius Caesar đưa ra vào năm 45 trước Công nguyên. Lịch Julius chia thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm một ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận. Vì vậy theo lịch Julius thì một năm có 365,25 ngày. Nhưng độ dài của năm mặt trời là 365,242216 ngày cho nên lịch Julius dài hơn khoảng 0,0078 ngày trong một năm, tức là khoảng 11 phút 14 giây. Ðể bù vào sự khác biệt này thì cứ 400 năm ta sẽ bỏ bớt đi 3 ngày năm nhuận. Cho đến năm 1582, thì sự sai biệt đã lên đến 10 ngày. Giáo Hoàng Gregory XIII quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng tương ứng trở lại. Sau ngày 4 tháng 10 năm 1582 là ngày 15 tháng 10. Và để tránh sai biệt, lịch lấy năm nhuận là năm có số thứ tự chia chẵn cho 4 (như năm 1964, 1980, 2004, ...) và các năm tận cùng bằng 00 phải chia chẵn cho 400 mới là năm nhuận (năm 2000 chia chẵn cho 4 và 400 nên là năm nhuận, những năm 1700, 1800 và 1900 chia chẵn cho 4 nhưng không chia chẵn cho 400 nên không phải là năm nhuận, ...). Lịch đã sửa mang tên lịch Gregory và được áp dụng cho đến bây giờ.
Dương lịch là loại lịch mà ngày tháng của nó chỉ ra vị trí của Trái Ðất trong chuyển động của nó xung quanh Mặt Trời. Trong ngôn ngữ giao tiếp thông thường của người Việt nói tới lịch Gregory mặc dù trên thực tế có nhiều loại lịch khác có cách thức tính toán ngày tháng như đã nói trên.



Nguyễn Quý Ðại




Mục Lục


15. Việc Trước Tác và Ngôn Ngữ

Bùi Huy




qua tác phẩm Tiếng Hát Của Người Dân Chài của Trần Hồng Văn

Houston Tháng 10, 2009

Kính thưa quý vị, và thưa các bạn:

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến tác giả Trần Hồng Văn đã vì chút cảm tình riêng mà dành cho tôi cái vinh hạnh đứng ở đây để được nói đôi điều, thưa dăm chuyện cùng quý vị trong buổi ra mắt sách ngày hôm nay. Tôi không có cái may mắn quen biết thân thiết với tác giả Tiếng Hát Của Người Dân Chài lâu năm như các vị diễn giả vứa đứng ở đây trước tôi. Hầu hết những gì tôi biết về tác giả THV người ta đều có thể tìm thấy qua những tác phẩm của anh. Chứ giữa anh và tôi, gặp gỡ nhau thì duyên đã dăm lần bẩy lượt, nhưng chưa bao giờ chúng tôi có dịp ngồi nói chuyện với nhau về văn chương chữ nghĩa, hay thi ca nghệ thuật. Vì thế, những điều mà tôi, trong tư cách của một người đọc sách, sắp trình bầy cùng quý vị ở đây, những điều ấy là do tôi đoán mò, nó có thể đúng mà cũng có thể không đúng với quan niệm của tác giả. Mà có lẽ, trong những điều tôi sắp thưa cùng quý vị, những gì hàm hồ thô lỗ, trái tai gai mắt thì là ý kiến của riêng tôi, còn những gì đẹp đẽ, hay ho thì là quan điểm của anh Trần Hồng Văn.

Thưa quý vị, tôi tin là giữa tác giả THV và tôi, cả hai chúng tôi đã cùng mê chung một nhan sắc, tuy là mỗi người mê một cách. Cái cảm giác đê mê khi được đọc một câu văn hay, khi được nghe một lời nói đẹp, đối với chúng tôi đôi khi còn day dứt hơn là cái xao xuyến đến từ một đôi môi thơm. Trong một e-mail gửi cho tôi, anh THV có nói công việc anh làm là phóng tác, chứ không phải là đơn thuần ?dịch?, và sự khác biệt giữa 2 việc ấy, theo anh, có lẽ ít người hiểu rõ. Tôi rất lấy làm thú vị câu nói ấy của anh, và xin dành một nửa phần nói chuyện của tôi ngày hôm nay để thưa với quý vị về sự tình ?dịch? và ?phóng tác?. Vì chỉ như thế, chỉ khi hiểu được điều ấy, chúng ta mới hiểu được vai trò của sự chuyển ngữ và sự đóng góp của người dịch, mới biết được sự trầy da sứt vẩy mà người vận công dồn sức là anh THV đã phải đoạn trường kinh qua. Thế nào là sự khác biệt giữa dịch và phóng tác? Cái ranh giới ấy nó nằm ở đâu? Hay là thử đẩy nó lên một nấc cao hơn, thử hỏi là không chỉ giữa dịch với phóng tác, mà cả giữa dịch với sáng tác, cái biên giới ấy nó nằm ở chỗ nào? Xin mời quý vị nghe Bùi Giáng luận về chữ dịch.

?Từ trong tinh thể của nó, dịch là tái tạo. Sự ấy dường như quá hiển nhiên. Ông Nguyễn Du, ông Nguyễn Khắc Hiếu đều tái tạo triệt để trong các bản dịch ? của các ông? Tôi có cảm tưởng rằng lúc thật sự ?sáng tạỏ tôi lại cũng đang dịch. Tôi viết vần thơ ?độc đáỏ nào cũng là đang dịch. Tôi dịch lại ông Nguyễn Du, ông Hồ Dzếnh. Cũng như ông Nguyễn Du ông Hồ Dzếnh đã từng dịch người đi trước, và người trước đã từng dịch người xưa, hoặc dịch một cái gì đó đang hiển hiện liên tồn trong âm thanh ngôn ngữ. Và những người cho rằng kẻ dịch không có tinh thần sáng tạo, những người ấy cũng đang dịch. ?Trời có nói gì đâủbốn mùa vẫn vận chuyển?Trời có nói gì đâụ?

Thưa quý vị trời vốn chẳng nói gì, nhưng qua mấy giòng ấy, Bùi Giáng nói nhiều lắm, mà thật ra cũng chẳng nói gì cả. Nhưng ông đã soi sáng cái tinh thể của dịch.

Rằng dịch là sáng tạo. Ở trong nghệ thuật, trong phạm trù của cái đẹp, ranh giới giữa ?sáng tác? và ?dịch? thật khó nói. Lấy thử ngay vở kịch được xem là tuyệt tác, là đã ảnh hưởng sâu đậm đến văn chương Tây Phương từ lúc nó xuất hiện cách nay trên dưới 400 năm là vở kịch Hamlet của cụ Shakespear ra mà xét, thì 30 năm trước khi Shakepear viết Hamlet bằng tiếng Anh thì ở bên trời Tây đã có một người tên là Francois de Belleforest viết câu chuyện ấy bằng tiếng Pháp, mà vở kịch bằng tiếng Pháp ấy lại dựa trên một tác phẩm của soạn giả người Ðan Mạch là Saxo Grammaticus viết bằng tiếng La Tinh trước De Belleforest những mấy trăm năm. Ấy thế mà đâu có ai bảo là Shakespear dịch Hamlet từ vở kịch Pháp Histoire Tragiques. Vả lại, dù là lúc Shakespear viết Hamlet, cả hai tác phẩm của Saxo và De Belleforest đều thịnh hành ở Âu Châu, nhưng ngày nay, những người đang sống trên trái tinh cầu này, dù là nói tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng nào chăng nữa, thì hoặc là chẳng để ý gì đến chuyện anh chàng hoàng tử vốn âu sầu lãng đãng mà sao lại biết giả điên giả khùng để giết chú ruột, trả thù kẻ đã đổ thuốc độc vào tai vua cha mà soán ngôi cướp vợ, mà nếu có biết đến anh chàng hoàng tử ấy thì chỉ biết qua vở kịch của Shakespear, chứ còn cái gọi là nguyên tác tiếng Latin hay tiếng Pháp ấy thì mấy ai còn tán dương thưởng thức nữa. Tại sao vậy? Xin thưa là bởi vì trong thế giới của cái đẹp, của nghệ thuật, ý hay nghĩa, dù là nghĩa đen hay nghĩa bóng, đều đóng một vai trò rất phụ thuộc. Cách nói mới là cái tài tình cốt tuỷ của nghệ thuật. Và mỗi một ngôn ngữ có một cách nói, một cách chơi tài tình riêng biệt. Việc chuyển ngữ một tác phẩm văn chương đòi hỏi sự tái tạo cái tài tình, cái tinh hoa ấy. Và cũng không chỉ bên trời Tây mới có chuyện như vậy. Quay lại nước Nam ta, từ lúc nó xuất hiện hai trăm năm nay, có ai lại bảo là cái tác phẩm nọ là do Nguyễn Du dịch từ truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tầu, mặc dù là không những chỉ tình tiết, nhân vật nhiều khi theo nhau san sát, mà cả chữ dùng đôi khi cũng như hình với bóng. Thế nhưng không phải là cái cốt truyện, không phải là những cái như ?Nhân sự bách niên kham thế lệ, Toán lai tăng mệnh vị tài đa, Kỷ kinh thương hải tang điền biến, Thức mục linh nhân bất tận sầủ vv và vv?mà lại là những câu như ?Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau, Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng?, chính những câu ấy đọc lên mới nghe xót xa tê tái cả cõi lòng. Chính những câu như thế, chính cái cách nói ấy, mới là cái làm nên cái đẹp, cái giá trị muôn đời của truyện Kiều. Chứ còn cái tuồng Kim Vân Kiều của ông TTTN ấy còn ai biết đến nó. Truyện Kiều vì thế là một áng văn chương Việt Nam, viết bằng tiếng Việt, bằng tâm tư, máu và nước mắt của người dân nước Việt vốn đã chịu nhiều khổ luỵ đắng cay. Thành thử ra khi đọc ?Tiếng Hát Của Người Dân Chàỉ xin quý vị đừng đọc nó bằng con mắt dùng để xem một tài liệu dịch thuật. Mà nên đọc nó bằng con mắt thưởng thức nghệ thuật, văn chương. Văn chương của Trần Hồng Văn. Nghệ thuật ấy, qua cái cách nói ấy, hay dở thế nào, đáng khen chê thế nào là do tự nó. Gần đây tôi có 2 cuộc gặp gỡ thú vị liên quan đến anh THV, xin kể hầu quý vị. Một là cách đây hơn một tháng, GS Nguyễn V Sâm từ Port Arthur ghé chơi Houston và tặng tôi cuốn tự điển chữ Nôm do anh và một số người trong Viện Việt Học biên soạn, sắp ra mắt ở Houston. Trong câu chuyện chúng tôi có nhắc đến anh THV. Anh Nguyễn Văn Sâm kể tôi nghe là đã có lần anh ấy thích một truyện ngắn ngoại quốc, đã đọc rất kỹ và định dịch sang tiếng Việt. Nhưng chưa làm thì đã thấy bản dịch của anh THV. Và vì đã đọc kỹ nguyên tác nên anh NVS thấy rõ cái chế biến, cái sáng tạo, cái cách mà anh THV uyển chuyển tình tiết, chứ không phải cứ mot-a-mot, thấy chữ nào thì dịch chữ ấy. Tôi không được đọc nguyên tác nên không biết trong THCNDC anh THV đã múa phép ra sao. Nhưng ít ra cũng có một chữ mà tôi có thể chia sẻ kinh nghiệm bản thân với quý vị. Số là sau khi đọc hết truyện ngắn đầu tiên, có tựa là ?THCNDC?, mà cũng là tựa của toàn tập, tôi tự hỏi: nào có ai hát đâu? Cái anh chàng dân chài nhân vật chính, anh ta chỉ cầu nguyện, hay nói rõ hơn chỉ xin ơn Chúa một điều và nguyện nếu được ơn thì anh sẽ đưa thân mình ra trong khoảng thời gian một ngày, từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, để hiểu và cảm nhận sự đau đớn mà Chúa đã chịu khi bị đóng đinh trên Thập Tự Giá. Chứ từ đầu đến cuối anh ta đâu có hát hò gì. Và tôi tự hỏi chữ ?Tiếng Hát? ấy trong nguyên tác tiếng Anh là chữ gì. Tuần trước, không hẹn mà tình cờ gặp anh THV ở nhà một người bạn, tôi hỏi ngay anh về cái chữ ?tiếng hát? ấy. Tôi hỏi anh là tôi đoán chữ ấy nguyên tác của nó là danh từ hay động từ ?chant? vừa có nghĩa là cầu kinh, là xướng to lên, vừa có nghĩa là hát, là tiếng chim hót. Anh cười bảo với tôi là không, tựa trong nguyên tác không có ca hát mà cũng không có ?chant.? Cái tựa ?Tiếng Hát Của Người Dân Chàỉ là do anh đặt ra. Tôi tò mò hỏi thế tựa trong nguyên tác là gì? Anh THV trả lời là anh cũng chẳng nhớ nữa. Tôi lại hỏi thế hà cớ gì mà anh lại đặt cho nó cái tựa như vậy, tại sao anh lại bảo là ?Hát?. Anh trả lời tôi là anh cảm thấy như thế, cảm thấy nó là cái tiếng hát vang lên tự đáy lòng. Vừa nói anh vừa khoa tay, từ bụng đưa lên trời. Tôi hiểu ngay, và hoàn toàn đồng ý với anh. Dịch là sáng tạo là thế ấy, thưa quý vị. Và quý vị cũng thấy đấy, chúng tôi đôi khi mê chữ hơn mê một đôi môi cũng là vì thế. Và cũng vì thế, thương hay ghét ?Tiếng Hát Của Người Dân Chàỉ thì thật tôi không dám nói ra nói vào, không dám mạo muội mà khuyên ai nên thương ai ghét ai, chỉ xin quý vị thương hay ghét thì thương hay ghét cả anh THV.

Nhà văn Lý Trác Ngô trong phần lời tựa tập Mái Tây của Vương Thục Phủ đã bảo: ?Việc viết văn, để tấc lòng lại nghìn đời sau, đáng thương biết mấỷ. Những tác giả được tuyển chọn trong THCNDC chẳng có ai là người xưa cả, họ là những người đang sống cùng thời đại chúng ta. Không biết là nghìn sau những tấc lòng ấy có được ai thương cảm, nhưng hẵng biết là nhờ những cặm cụi của anh THV mà những tấc lòng đang sống cùng chúng ta trên trái tinh cầu thơ mộng này, nơi những miền láng giềng lân cận hay những bến bờ muôn dặm xa xôi mà có lẽ chúng ta không bao giờ có dịp đặt chân đến, những tấc lòng ấy trở nên thân thiết với chúng ta, bằng cái ngôn ngữ quen thuộc với chúng ta. Tôi yên tâm hơn khi thấy ở Trung Hoa vẫn còn những người yêu mến lẽ phải, yêu mến những con chim bồ câu, thương những kẻ cô thân, yếu thế. Tôi cảm thấy an ủi hơn khi thấy ở bên trời Hồi Quốc, những sự gian trá, tham nhũng, những sự bịp bợm vẫn được những tiếng nói dân chủ như ở Việt Nam lên tiếng đòi hỏi công bằng. Thì ra con người ta, dù là ở đâu trên thế giới, vẫn còn những kẻ âm thầm tranh đấu cho lẽ phải.

Công việc viết và đọc tiếng Việt, trau chuốt nó là một điều cần thiết. Tôi có nghe một người Việt nói là mình cứ thành thật, nghĩ sao thì nói vậy, là đủ rồi, đâu cần gì phải đắn đo câu cú. Theo tôi thật không có gì tai hại bằng câu nói ấy. Nói dại, nếu tiền nhân chúng ta mà cũng suy nghĩ như thế thì bây giờ có lẽ chúng ta nếu không thắt bím thì cũng mặc áo xường xám hết cả. Tôi yêu mến tiếng Việt của dân tộc chúng ta. Và tôi mong là quý vị khi đọc THCNDC sẽ không chỉ háo hức xem tình tiết câu chuyện diễn tiến đến đâu mà cũng nên ghé mắt, để tâm đến câu cú, chữ nghĩa Việt Nam. Chúng ta có cái trách nhiệm ấy không những với tiền nhân mà với cả con cháu chúng ta. Mong sao là tiếng Việt, ở hải ngoại cũng như ở trong nước, sẽ không mất đi cái đẹp mà bằng một phép lạ đã hiển hiện trong Cung Oán, trong Chinh Phụ, và trong Ðoạn Trường Tân Thanh. Và việc làm của những người như anh Trần Hồng Văn, anh Nguyễn Văn Sâm và những người tuy là có thể viết văn bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ðức vv?vẫn chọn viết bằng tiếng Việt, may ra những việc làm ấy có thể làm nên mùa xuân.

Xin cảm ơn sự theo dõi của quý vị.

Bùi Huy





16. Em Là Nàng Tiên Của Anh !

Hồ Thụy Mỹ Hạnh




Truyện vui

Bị lay gọi, nàng vùng dậy với tư thế của một con hổ đang chuẩn bị tấn công con mồi. Hai bàn tay xòe ra rồi từ từ co những ngón lại vươn thẳng hai cánh tay về phía trước, cùng với vẻ mặt căng thẳng, mắt lừ lừ nhìn vào ?đối phương?, quai hàm bạch ra, tiếng nói nghẽn giữa hai hàm răng:

-Gửửửgừ! anh giải thoát cho nó phải không? Tui sắp bắt được quả tang thì anh phá đám phải không? Nó đâu rồi hả?

Chàng ngơ ngác hỏi lại;

-Cái gì bắt quả tang? Nó nào?

Nàng òa lên khóc:

-Tui thấy rõ ràng anh và ?nó? ôm nhau tình tứ, tui núp trong bụi cây, sắp nhảy ra bắt tại trận thì anh giải thoát cho nó?

Chàng càng sửng sốt:

-Hồi nào? Ở đâu?

-Vừa mới tức thì! Tui nằm mơ thấy rõ ràng?

Chàng ngẩng lên trần nhà, mắt nhắm lại, vẻ mặt nhăn nhó, như khẩn thiết cầu xin đáng tối cao ban cho điều gì:

-Trời ơi! Ngó xuống mà coi, đã đến nước này rồi.

Nhưng ngay tức khắc chàng đủ thông minh để chuyển tình hình sang hướng có lợi, chàng sực nhớ ra một cách để vỗ về nàng, mà chàng biết sẽ làm nàng hạ hỏa, dù chàng đã xử dụng nhiều lần nhưng kết quả bao giờ cũng thành công:

- Như vậy là em vừa nằm mơ thấy anh có mèo đúng không? Thảo nào em dãy dụa la lối quá xá nên anh phải gọi em dậy. À! Anh nhớ ra rồi, người ta nói giấc mơ thường ngược lại với đời thật, có nghĩa là em thấy anh ngoại tình, ngược lại là anh không?ngoại tình! Em thấy bắt được quả tang tức là ?không bắt được quả tang! Túm lại ngược với giấc mơ em vừa thấy thì anh là người chồng chung thủy, còn em vẫn là nàng tiên của anh?

Vừa nói chàng vừa quan sát vẻ mặt của ?Nàng tiên! Ðược vuốt ve bởi hai tiếng ngọt ngào ấy, con hổ bỗng biến ngay thành con mèo (Không biết bắt chuột) hiền lành, quẹt nước trên đôi mắt ràng rụa, nàng còn tỏ ra ngờ vực một chút nên hỏi lại:

-Thật chứ? Mơ là ngược lại đời thật, vậy em thấy em còn sống là em ?chết ư?

-Ồ! Ðiều đó thì lại khác, bởi vì em là ?nhân vật chính! Em làm sao mà chết được. Giống như trong phim ấy, nhân vật chính mà chết là hết phim sao?

Nàng lại nghe có lý, nên gật gù:

-Nhưng anh cũng phải hứa với em không được để mắt đến aỉ

-Tất nhiên rồi, nhìn mỗi mình em đã đầy hai con mắt, còn nhìn ai được nữa!

Nàng lại có vẻ muốn?vùng lên:

-Ý anh muốn ám chỉ là em mập quá phải không?

Hơn ai hết, chàng là người biết phải đối phó với vợ của mình ra sao, trong bất cứ tình huấn nào:

-Phụ nữ mập mới đẹp, mới lâu già. Chứ ốm á? Nhìn khô khan hổng có tí nhựa sống. Anh chỉ thích nhìn phụ nữ?mập thôi!

Nàng sửa lại:

-Nhìn vợ chứ cấm nói chung chung là nhìn phụ nữ!

Chàng cao giọng:

-Ðúng! Vợ anh nói rất chính xác, anh vừa nói lộn. Phải nói là chỉ thích nhìn vợ thôi!

Nàng nhoẻn miệng cười, rồi sực nhớ ra một điều quan trọng, nàng hỏi:

-Trong ví anh chưa để tấm hình nào của em phải không? Sao em vô ý thế cà?Sáng mai anh đưa em đi chớp một tấm hình chân dung, anh phải cất trong ngăn đầu trong ví, để mỗi lần mở ví ra là anh nhìn thấy em ngay, cũng là để nhỡ có ai nhìn vào cũng biết là anh có vợ rồi, các cô đừng hòng tơ tưởng, mơ mộng đến anh nữả

Vế cuối cùng trong câu nói của nàng chợt làm chàng thấy mình còn có? triển vọng! nghĩa là nếu chàng chưa có vợ, thì các cô ( tức là số nhiều nhé) tha hồ mà tơ tưởng, mơ mộng được chàng ghé mắt đến. Rồi chàng sẽ ứng phó sao nhỉ? Tha hồ mà lựa chọn chứ sao! Tuyệt thế đấy, khi ấy hẳn là chàng sẽ bận tâm lắm vì biết chọn ai, bỏ ai? Bỏ thì thương mà vương thì tội, thôi thì cứ tuyển ra vài cô xinh nhất ( nhưng hổng có tính ghen tuông giống như cái cô nàng đang bên cạnh chàng đây) thế rồi chàng sẽ ?bố trí ? cho mỗi nàng ở một chỗ, gió mát trăng thanh chàng thích ghé đến cô nào thì ghé, còn các cô thì tranh nhau để lấy được lòng yêu thương của chàng, chẳng cô nào dám làm phật lòng chàng, chàng thích đi đêm về hôm tùy thích. Tan sở thay vì về thẳng nhà chàng sẽ tụ họp bù khú với bạn bè, rượu chè thâu đêm cũng chả bị ai điện thoại gọi về hay lùng xục tìm kiếm. Chàng cũng không bị bạn bè gọi là anh chàng ?râu quặp! chàng cũng chả cần vận động đầu óc để nghĩ ra cách ?đối phó? với những cơn tam bành vì cái máu hoạn thư của vợ.

-Anh nghĩ gì mà thích chí cười hớn hở vậy?

?Hồi tỉnh? khỏỉ giấc mơ! Chàng nói trớ đi bào chửa cho sự tưởng tượng của mình, vì không khéo, nó có thể trở thành tưởng?voi!

-Ờ?ờ ! Anh đang nghĩ có tấm hình của em trong ví, cô nào nhìn thấy cũng quay khỏi anh một trăm tám mươi độ, anh khỏi cần tìm cách mời đi nơi khác đó mà?

Nàng vỗ hai tay vào nhau một cái đầy vẻ dứt khoát:

-Thế nên không chần chờ gì nữa, sáng sớm là phải đi chớp bóng ngay!

Chàng gật gù:

-Phảỉphải, còn bây giờ thì yên cho anh ngủ. Sáng mai anh còn phải đi làm, đến công ty mà ngủ gục thì còn ra gì. Mấy cô ở đó là chúa lắm chuyện, lại xì xào nọ kia.

Chàng cố tình ngoác miệng ngáp dài một cái, rồi kéo chăn trùm kín (chủ yếu là hai lỗ tai) giả vờ ngáy đều đều. Nàng cũng không muốn chàng bị lỡ giấc ngủ, nàng cũng hiểu sức khỏe là thứ rất cần thiết đối với chàng, vì chàng là trụ cột của gia đình, cơm áo gạo tiền đều từ cái sức khỏe đó mà ra, ôi nghĩ mà thương quá, chàng đâu thể tưởng tượng rằng nàng yêu chàng quá chừng. Nếu không có chàng thì đời nàng vô nghĩa, nên lúc nào nàng cũng sợ một cô ả xấu xa nào đó cướp mất chàng đi. Phải giữ gìn sức khỏe cho chàng để chàng có thể vừa làm việc kiếm tiền nuôi nàng, vừa sống đến răng long đầu bạc với mình. Nên nàng thôi không nói nữa để chàng ngủ, còn nàng nằm yên mà không ngủ được thì tư tưởng lạỉlàm việc rất tích cực. Nàng nhớ lại giấc mơ vừa rồi, cố nhớ lại nét mặt của ?cô ả? nhưng không thể nào nhớ được, dường như nàng chưa từng gặp ả ở bất cứ đâu, vậy mà giờ đây ả bất ngờ xuất hiện trong giấc mơ của nàng còn cả gan kề vai, cận má với chàng, thật đáng ghét, nếu có một phép lạ nàng sẽ ước trên đời này biến mất hết không còn giống cái, à! Như vậy không ổn, biến mất hết giống cái thì tất nhiên mẹ, chị, em gái, con gái và thậm chí cả nàng cũng không phải là ngoại lệ! Thôi vậy, chỉ ước biến mất những người con gái đẹp chung quanh chàng, còn bi nhiêu cứ tự nhiên mà ?tồn tại! Và bỗng nhiên nàng chợt sực nhớ câu nói vừa rồi của chàng ?Mấy cô ở đó là chúa lắm chuyện?? Á à , vậy là chỗ làm việc của chàng có đến mấy cô, mấy cô phải rất thân mật với chàng thì mới có thể tán chuyện với chàng chứ, thậm chí còn quan tâm, để ý mới biết chàng ngái ngủ. Hừm! Nàng lay mạnh vai chàng:

-Anh nói mấy cô ở nơi làm việc của anh là chúa lắm chuyện, như vậy là trước đây họ thường la cà nói chuyện gì với anh lắm nên anh mới biết như vậy phải không???

Chàng cựa mình, lè nhè đáp:

-Ai thèm nói gì chứ?Nghe nói đến vợ của anh là ai cũng xanh mặt liền?

Nàng vùng dậy :

-Cái gì ?Tại sao phải xanh mặt? Em dễ sợ lắm sao?

Chàng tỉnh người, vội vàng bào chửa:

-Không phải em dễ sợ mà là anh dễ sợ, bởi vì cô nào có ý định ?xáp? vô anh là anh bảo ngay rằng, tui có vợ rồi đi chỗ khác dùm cho, chứ vợ tui biết tui nói chuyện với mấy cô là?là..tui không được tiếp tục nói nữả, bởi vậy các cô hay nói rằng chỉ đi ngang qua anh thôi cũng?sợ! Ðâu ai còn dám đến gần anh..

-Thật chứ?

-Thề với em!

-Ðược rồi anh ngủ tiếp đi, phải ngủ nhiều thì mới khỏe anh ạ.

Mắt của chàng đã díp lại, thầm mong nàng thôi đừng nhớ ra điều gì nữa trong vô số điều trong đầu mà đối với nàng thì điều gì cũng quan trọng.Còn nàng thì tiếp tục nằm suy nghĩ. Nhớ lại những ngày còn trăng mật, trong những câu chàng nói, nàng thích nhất là câu ?Nếu sau này em chết trước anh, anh thề không lấy ai nữa, sẽ nguyện sống độc thân thờ em ...?. Dường như lâu lắm rồi nàng không nghe chàng nhắc lại câu này, một câu quan trọng như vậy mà sao nàng lại quên nhỉ? Phải hỏi chàng ngay bây giờ rằng chàng có còn nhớ câu nói hay nhất thế kỷ ấy không, chứ sáng mai lỡ quên mất. Nàng lại lay chàng, nhất định hỏi thêm một lần này nữa rồi sẽ để yên cho chàng ngủ, sức khỏe là quan trong nhất đối với con người mà.

-Này anh ơi dậy em hỏi một câu này nữa thôỉ

Chàng vẫn nhắm mắt,nhưng sử dụng miệng rất nhuyễn:

-Gì nữa hả nàng tiên của anh?

??????????????..

Tôi (Người nghe chuyện của họ) mới nghe đến đây đã xanh mặt. Hú hồn! May quá, vì tôi là phụ nữ, chứ nếu là nam nhi? Thì tôi phải làm sao nếu gặp được một nàng tiên ?quá yêu chồng như thế. Trời ơi! Chắc là tôi đành phải chọn cách thờ chủ nghĩa độc thân tới già, không dám lấy vợ?

Nhưng tôi lại là phụ nữ? À?ờ?Thì ?thì nếu lập gia đình tôi cũng giống như ?Nàng? vậy thôi. Phụ nữ ai chả thế.

(24.9.2009)

Hồ Thụy Mỹ Hạnh





Mục Lục

III . Những Bức Thư Tình_____________________________________________

Thư Tình Tháng Này

DHH



Anh Yêu Dấu

Mùa xuân chim én bay về tổ
Cất tiếng ca vang đón nắng hồng
Mai nở mừng vui khoe sắc thắm
Mĩm cười, áo mới mắt vương trông

Trông một nụ cười từ ở nơi anh, để cho lòng em ấm lại, trông vòng tay ấm nồng để cảm thấy hạnh phúc dâng tràn . Những ngày trống vắng, u buồn sẽ tan dần để nhường chỗ cho những thương yêu, nồng cháy .

Nàng xuân của muôn loài về đây thêm một lần nữa, trông thật duyên dáng, mượt mà bên những cánh hoa mai vàng rực rở, những mầm non đầy nhựa sống bỗng trổi dậy xanh tươi, như thầm tô điểm thêm nét đẹp của mùa xuân.

Mùa xuân người người chúc nhau, trao nhau những điều may mắn, riêng em, em cầu chúc anh, yêu em nhiều thêm nửa, để em còn có thêm nghị lực chờ đợi, và tin tưởng nơi tình yêu của anh.

Nụ mai vàg hé nở
Cánh Én đã về đây
Nắng xuân hồng rực rở
Xuân tươi thắm sum vầy

Yêu xuân, yêu xuân mãi
Ngắm cúc vàng hoa mai
Nụ tầm xuân ta hái
Ươm mộng ước lâu dài

Viết cho Giao Mùa
Xuân Canh Dần 2010
-DHH

Mục Lục


VỊ Giới Thiệu - Tin Tức, Văn Học, Nghệ Thuật ___________________________________________________




V . Hộp Thư Toà Soạn ___________________________________________________



Nguyệt San Giao Muà xin cám ơn những thân hữu đã dóng góp bài vở cho Nguyệt San Giao Muà số 94 . Một số bài khác sẽ được đăng dần vào số tớị Mong mỏi sẽ nhận được những sáng tác của các bạn bốn phương để cho Nguyệt San Giao Muà thêm phần hương sắc trong tương laị

Mục Lục


Thể lệ để nhận Nguyệt San Giao Muà: 1) Ðể vào danh sách của NSGM (subscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
2) Ðể rút ra danh sách của NSGM (unsubscribe), xin gửi email về GiaoMua@hotmail.com
3. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com 4. Mọi bài vở, đóng góp, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com Nguyệt San Giao Muà Homepage: http://www.GiaoMua.com Thể lệ gửi bài cho Nguyệt San Giao Muà: 1. Xin các bạn gửi bài theo dạng VIQR (Vietnet) (dùng cách bỏ dấu như trong trang này) 2. Xin liên lạc với NSGM hay trực tiếp tới tác giả nếu muốn trích dịch hay đăng lại các bài trên NSGM. 3. Xin cho biết nếu các bạn muốn để tên và diạ chỉ email ở cuối bài hay không. 4. Bài vở xin gửi đến GiaoMua@hotmail.com 5. Mọi chi tiết, thể lệ, thắc mắc, xin gửi về: GiaoMua@hotmail.com

Ðịa Chỉ Liên Lạc:

Nguyệt San Giao Muà
P.O . Box 378
Merrifield, Virginia 22116
USA

Trang Nhà 

Web Counters
Web Site Hit Counter

Copyright 2002 by Giao Muà e-magazine and respective authors